Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Trung Quốc Và Nỗi Lo Trăm Tuổi

-Nguồn:-Trung Quốc Và Nỗi Lo Trăm Tuổi
Thành Chung - Việt Báo Xuân Nhâm Thìn 

Trung Quốc Tái Kiến Lịch Sử


Chúng ta đều biết người dân Trung Hoa mê sử. Văn hóa Trung Hoa còn coi lịch sử là tấm gương. Riêng lãnh đạo Trung Quốc ngày nay lại sợ... ngó vào gương.... Họ thấy gì trong đó?


Tờ lịch trăm năm trước. Ba lãnh tụ, năm lá cờ: Tôn Dật Tiên giữa hai "lãnh chúa cách mạng" Hoàng Hưng và Viên Thế Khải. Năm lá cờ gồm có hai lá "Tỉnh điền" ở hai góc, biểu tượng của việc phân chia ruộng đất; ở giữa là lá quốc kỳ ngũ sắc của Dân Quốc lúc ban đầu; bên trái là cờ thập bát tinh của cuộc khởi nghĩa Vũ Xương, bên phải là cờ "Thanh thiên Bạch nhật Mãn địa hồng" của Tôn Dật Tiên, nay là quốc kỳ của Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan. Hình trên lịch là những chiến công của cuộc khởi nghĩa. 


Ngày 10 Tháng 10 năm 1911, cuộc "Cách mạng Tân Hợi" bùng nổ với vụ khởi nghĩa Vũ Xương ở tỉnh Hồ Nam. Những biến cố dồn dập sau đó dẫn đến một chuyển động có thể gọi là lịch sử.

Cách đây đúng 100 năm, mùng một Tháng Giêng năm 1912, Tôn Dật Tiên đến Nam Kinh tuyên bố thành lập nền cộng hòa, sự ra đời của Trung Hoa Dân Quốc – Republic of China. Ngày 12 Tháng Hai năm đó, Hoàng đế Tuyên Thống Phổ Nghi đành thoái vị và 268 năm lãnh đạo của nhà Mãn Thanh tại Trung Quốc thực tế chấm dứt.

Nghĩa là từ khi Tần Thủy Hoàng Đế sáng lập nhà Tần vào năm 221 trước Công nguyên, chế độ quân chủ chuyên chế của Trung Quốc tồn tại được 2132 năm. Sau đó, kể từ 1912 thì người dân đã "làm chủ đất nước Trung Hoa". Đúng là một biến cố lịch sử.

Nhưng sau đó lại là trăm năm hoạn nạn của một cường quốc xưa nay vẫn tự xưng là trung tâm thế giới. Xin quý độc giả vui lòng tìm lại, Giai phẩm Xuân Tân Mão của Việt Báo năm ngoái đã có bài viết của cùng tác giả về 100 năm đó: "100 Năm Nước Tầu – Điểm Giờ Bể Bóng", ở trang 20.  

Tháng 10 năm 2011, lãnh đạo Bắc Kinh cho tổ chức rầm rộ những sinh hoạt kỷ niệm trăm năm của cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911 và còn cho dựng chân dung vĩ đại của Tôn Trung Sơn tại Quảng trường Thiên An Môn. Họ cho thần dân ăn mừng biến cố cách mạng là sự kết thúc của chế độ quân chủ, khởi đi từ Tần Thủy Hoàng, thần tượng của Mao Trạch Đông.

Thế rồi Bắc Kinh nghĩ lại!

 Tôn Trung Sơn chân co chân duỗi trong bộ Âu phục - Ảnh của nhà sách Tam Dân


Vở nhạc kịch ngợi ca cuộc đời và sự nghiệp của Tôn Trung Sơn, vị Tổng thống đầu tiên của Trung Quốc, bỗng dưng bị hủy. Lý cớ được thông báo là vì hậu cần, tiếp vận. Cũng lạ. Ly kỳ hơn vậy, cuộc hội thảo do các học giả Nhật Bản chuẩn bị từ nhiều tháng trước về "Cách mạng Tân Hợi" cũng bị cấm, mà không cho biết lý cớ.

Lý do thì chúng ta có thể rất dễ đoán ra, nếu chịu khó nhìn vào trăm năm lịch sử đó. Dù là ngày Xuân, bài viết này vẫn xin tổng kết cái chuyện trăm năm của họ....


***


Dân Quốc Cộng Hoà Vạn Tuế - Viên Thế Khải và Tôn Dật Tiên



Trăm năm qua, Trung Quốc thật ra có hai "Cách Mạng Tháng Mười".

Một là Cách mạng Cộng hoà năm 1911 và sự ra đời của Trung Hoa Dân Quốc. Hai là Cách mạng Cộng sản và sự ra đời của Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc ngày mùng một tháng 10 năm 1949. Cả hai cuộc cách mạng đều không là điểm son của dân chủ!

Ban đầu, nhà cách mạng Tôn Trung Sơn (Tôn Văn hay Tôn Dật Tiên, v.v...) chưa muốn lập Quốc hội và chỉ làm Tổng thống vài tháng là bị cướp mất quyền hành, xứ sở lâm nội loạn triền miên với vai trò của các sứ quân lãnh chúa. Trong cảnh hỗn loạn ấy duy nhất có một yếu tố xứng danh cách mạng là trào lưu tự do tư tưởng và khuynh hướng lập hội lập đảng để canh tân xã hội.

Khi nói đến sự nghiệp cách mạng Tôn Trung Sơn, Thiên triều đỏ tại Bắc Kinh ngày nay giải thích và giải quyết thế nào về trào lưu tự do tư tưởng đó của xã hội Trung Quốc cách đây một thế kỷ? Giải thích thế nào về chế độ kiểm duyệt thông tin và đàn áp dân chủ hiện vẫn áp dụng?

Đã vậy, khi nói đến nỗ lực quốc tế vận của Tôn Trung Sơn, Bắc Kinh còn kẹt lớn.

Tôn Văn là một người thí thức, theo Công giáo, có hậu cứ vận động từ hải ngoại là... Hoa Kỳ. Và nhiều lần tìm nguồn yểm trợ tại Nhật Bản, một quốc gia phú cường, tiến bộ và tự do hơn Trung Quốc gấp bội. Nhật Bản còn đại thắng trong cuộc chiến Hoa-Nhật năm 1894-1895, góp phần đáng kể cho sự sụp đổ của nhà Đại Thanh.

Chính vì vậy mà Tháng 10 năm 2011, các học giả Nhật mới sốt sắng tổ chức cuộc hội thảo về Các mạng Tân Hợi và bị Bắc Kinh kịp thời hạ màn! Trong hoàn cảnh của 2012, nhắc đến Tôn Trung Sơn là lòi ra vai trò cách mạng hoặc diễn biến thiếu hoà bình của Hoa Kỳ và Nhật Bản....

Mà nào lý do chỉ có vậy!


Lịch sử bằng tranh của Trung Quốc, dưới nét họa của Frank Dorn, nghệ sĩ và họa sĩ Hoa Kỳ sau này là Chuẩn tướng trong ban tham mưu của Đại tướng Joseph Stilwell thời Đệ nhị Thế chiến. Tấm hý họa có chi tiết về cậu bé hoàng đế Phổ Nghi và những lầm than của "Cách mạng".


Sự sụp đổ của nhà Mãn Thanh là niềm tự hào chính đáng của Hán tộc. Khi Mãn tộc tiêu diệt nhà Đại Minh năm 1644 thì đấy là nỗi nhục khó rửa cho người Hán. Vì vậy, "Phản Thanh - Phục Minh" là khẩu hiệu đã huy động nhiều thế hệ ái quốc. Và một chủ trương cách mạng của Tôn Trung Sơn là tinh thần dân tộc, để đánh đuổi nhà Mãn Thanh. Chính đáng lắm.

Nhưng cũng là dị tộc Mãn Thanh xấu xa tồi bại ấy đã bành trướng lãnh thổ, cho Thiên triều đỏ ngày nay ở Bắc Kinh có thể viện lẽ chính danh từ đời Thanh mà đòi thống trị Tân Cương và Tây Tạng, hai khu vực tự trị đang có vấn đề toé máu với dân Hồi giáo và Tây Tạng!

Chế độ Cộng sản Trung Quốc mà kế thừa di sản Đế quốc của ngoại tộc Mãn Thanh sao?

Huống hồ, kẻ kế thừa di sản Tôn Trung Sơn lại là Tưởng Trung Chính!

Sau khi Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc được Mao Trạch Đông thành lập ở Hoa lục năm 1949, Trung Hoa Dân Quốc của Tôn Văn được Tưởng Giới Thạch đem qua Đài Loan. Đảo quốc mang tiếng là lãnh thổ ngàn đời của Trung Hoa lại gợi nhớ đến những tranh chấp về chủ quyền từ đời Thanh. Mà hậu thân của cái gọi là ngụy quyền Trung Hoa Dân Quốc lại xây dựng được một nền kinh tế tiên tiến với một chế độ chính trị thật sự dân chủ.

Công lao chuyển hoá đó tại Đài Loan thuộc về Tưởng Kinh Quốc, con trai Tưởng Giới Thạch. Và lần đầu tiên trong lịch sử mà người dân Trung Hoa trực tiếp đi bầu ra lãnh đạo thật - một Tổng thống - là tại Đài Loan vào Tháng Ba năm 1996. Bất chấp hỏa tiễn của Trung Quốc bay qua đầu!

Và "tam dân chủ nghĩa" vẫn là khẩu hiệu hấp dẫn vì là khát vọng của người dân Trung Quốc. Khát vọng chưa được vẹn toàn tại Hoa lục, 100 năm sau.

Khi nhìn vào cuộc cách mạng thứ nhì, Cách mạng Cộng sản năm 1949, lãnh đạo Bắc Kinh phải cố tẩy xóa ba chục năm đầu – của Mao Trạch Đông. Và tô hồng ba chục năm sau, từ khi Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách, cách nay đúng 33 năm.


Tranh cổ động của "Bước nhảy vọt vĩ đại" Đại Dược Tiến: "Dĩ cương vi cương", lấy sắt làm lưới, toàn diện tiến lên! Kết quả là mấy chục triệu người chết đói



Ba chục năm đầu là thời hoang tưởng chết người, một chuỗi dài chiến dịch như "Đại dược tiến", "Bách hoa tề phóng" hay "Đại văn cách" khiến Trung Quốc có sự ổn định của bãi tha ma, trên xương máu của mấy chục triệu nạn nhân. Ba chục năm sau mới là bước nhảy vọt vĩ đại nhờ Đặng Tiểu Bình, khiến Trung Quốc hy vọng tái xuất hiện như một cường quốc đáng nể trọng.

Đấy là hoàn cảnh khiến Bắc Kinh phải phủ khăn hồng trên tấm gương lịch sử của trăm năm cũ....



***


Hoà giải 1945: Tưởng Giới Trạch giữa Mao Trạch Đông và Patrick J. Hurley, nhà ngoại giao... Hoa Kỳ!



Thật ra, sau khi hạ màn Cách mạng Tân Hợi vì quá nhiều lý do nhạy cảm với lịch sử ở sau lưng, Thiên triều đỏ lại lo sợ một vụ cách mạng khác ở trước mắt.

Mùng ba Tháng Chạp năm 2011, Chu Vĩnh Khang tuyên bố là phải cải tiến chế độ quản lý xã hội để nâng cao khả năng ứng phó của các tỉnh với những thay đổi kinh tế. Tin vặt này có gì mà đáng nói vào buổi đầu Xuân?

Chu Vĩnh Khang là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Chính trị và Pháp luật của Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc. Cầm đầu "ban Chính pháp", họ Chu là trùm cớm của chế độ và có quyền hạn trên cả hai bộ trong Quốc vụ viện là Công an bộ (Nội vụ) và Quốc gia An toàn bộ (An ninh, Tình báo và Phản gián).

Khi một lãnh tụ có thẩm quyền như vậy mà công khai cảnh báo rằng phải phát huy sáng tạo trong quản lý - kiểm soát  xã hội để đối phó với tác dụng tiêu cực của kinh tế thị trường, chúng ta đoán là Thiên triều thấy bất an.

Kinh tế thị trường là cái gì đó đã giúp Đặng Tiểu Bình và hậu duệ kéo được mấy trăm triệu dân ra khỏi nạn cơ hoang - chết đói - thời Mao và đưa Trung Quốc lên hàng đại cường kinh tế chỉ thua có Hoa Kỳ. Nhưng ba chục năm sau bước nhảy vọt vĩ đại ấy, cũng kinh tế thị trường lại đe dọa quyền lực của đảng với biến động xã hội ngày càng nhiều và càng bạo động khiến Chu Vĩnh Khang phải báo động.

Năm Tân Mão vừa qua là cao điểm, có lẽ là cực điểm, của thế lực Trung Quốc trước những hoạn nạn kéo dài từ nhiều năm nay của ba khối kinh tế đáng nể nhất địa cầu là Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản.

Cái thế của Trung Quốc là nền kinh tế đông dân nhất, có đà tăng trưởng cao nhất trong mấy thập niên, có khối dự trữ ngoại tệ hơn 3.200 tỷ Mỹ kim, số một của thiên hạ. Cái lực của Trung Quốc là một bộ máy ngoại giao, tuyên truyền và quân sự có khả năng chi phối quyết định của thế giới. Từ Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đến các tổ chức hay diễn đàn quốc tế, từ khủng hoảng tại Trung Đông như Iran hay Syria, đến Trung Á như Pakistan hay A Phú Hãn, cho tới an ninh ngoài Đông hải - của Trung Quốc lẫn các lân bang từ Đông Bắc Á đến Đông Nam Á - tiếng nói của Bắc Kinh là một thế lực đáng kể.

Đấy là điều chưa từng có từ trăm năm nay, từ hai trăm năm nay, hoặc từ mấy ngàn năm nay.

Nhưng vì sao trên đỉnh cao của thời "Quang diện Trung Hoa", Thiên triều đỏ lại xanh mặt?



***


Vì kinh tế Trung Quốc có thể hạ cánh trong năm Nhâm Thìn này. Nhiều phần là hạ cánh thiếu an toàn, nặng nề, hoặc tan tành.

Đà tăng trưởng có thể sụt dưới cái ngưỡng tử sinh là 8% một năm. Với lãnh đạo Bắc Kinh, sản xuất mà không tăng quá 8% là động loạn xã hội bùng nổ. Trong khi kinh tế trôi vào đà suy sụp ấy, một chuỗi bong bóng đầu cơ có thể bể và trong khi cả nước lo sợ lạm phát, một sắc thuế bất công nhất vì đánh vào túi tiền của những người nghèo khốn nhất, và nạn cường hào ác bá cướp đất của dân lại là khẩu hiệu huy động biểu tình có tác dụng nhất.

Trong khi ấy, cả ngàn xí nghiệp loại vừa và nhỏ của tư nhân đã rụng như sung, phá sản hàng loạt và dẫn đến những vụ xù nợ khổng lồ ở khắp mọi nơi, cũng bi thảm như chuyện có người tự sát để thoát nợ.

Suốt năm Tân Mão, người dân đã biểu tình và đặt bom các công thự của đảng và nhà nước để phản đối nạn đất đai bị cướp vì tiến trình đô thị hóa của chế độ. Trong cảnh bất ổn chung, mũi nhọn của bạo động lại là thành tích của các tổ chức Hồi giáo đòi độc lập ở Tân Cương. Khi tăng ni Tây Tạng lại xuống đường và tự thiêu từ vùng đất lưu tán ở Tứ Xuyên về tới Đặc khu Tự trị Hành chánh Tây Tạng, chuyện hợp tan ngàn đời của Trung Quốc lại trở thành thời sự....

Nhìn vào ruột gan chế độ, người ta còn phát giác ra chuyện kinh hoàng: từng tỉnh của Trung Quốc là những nước Hy Lạp!

Quốc gia Âu Châu này bị nguy cơ vỡ nợ vì vay quá sức trả, các tỉnh của Trung Quốc cũng vậy. Theo đúng chủ trương kích thích kinh tế của đảng từ cuối năm 2008, doanh nghiệp nhà nước ở các tỉnh đã đầu tư rất mạnh – nhân đó các đảng viên cán bộ cướp đất mà bồi thường không thoả đáng – và thổi lên bong bóng đầu cơ.

Khi được yêu cầu hạn chế, các tỉnh hết vọc tay vào công quỹ bèn lập ra công ty đầu tư địa phương để vay tiền các ngân hàng nhà nước ở địa phương và tích lũy một núi nợ khổng lồ. Các ngân hàng có thể sẽ sụp đổ dưới núi nợ đó, chẳng khác gì vụ khủng hoảng Âu Châu.

Đó là chuyện năm Thìn nếu người ta để ý đến việc lãnh đạo Bắc Kinh đã vừa cho phép thành phố Thâm Quyến - sau Thượng Hải, Quảng Đông và Chiết Giang - được phát hành trái phiếu để huy động tiền trả nợ.

Chuyện thứ ba còn đáng xanh mặt hơn: trong năm Thìn này, đảng sẽ phải tổ chức Đại hội khoá 18, để đưa một thế hệ mới lên lãnh đạo sau thế hệ thứ tư là Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Dù chưa về hưu, Tổng lý Quốc vụ viện là Ôn Gia Bảo đã dám nói thật về lẽ "bốn không" của kinh tế Trung Quốc: không cân đối, không công bằng, không phối hợp và không bền vững. Cuối Tháng 11 năm ngoái, Hồ Cẩm Đào cũng chẳng nói khác. Vì vậy, đảng sẽ phải chuyển hướng qua Kế hoạch Năm năm sắp tới, nếu không là sẽ gặp loạn.

Nhưng, chính là vào lúc chuyển hướng ngặt nghèo này, các lãnh tụ lại lâm trận chuyển tiếp lãnh đạo, với chín người mới sẽ vào Bộ Chính trị, bảy người trong Thường vụ, và 70% Ủy viên Trung ương đảng phải thay thế.

Trong năm Nhâm Thìn này, trận đấu nội bộ ấy càng khiến cho việc chuyển hướng cực kỳ sinh tử thêm khó khăn. Nhiều phần sẽ là không kịp! Một trăm năm sau, có khi ta sẽ thấy mặt trời chảy nước.

Nhiều phần sẽ là chảy máu khi Trung Quốc tái kiến lịch sử!


_________________________________________________________________
(Bài viết này của Thành Chung xuất hiện trên Việt Báo Xuân Nhâm Thìn 2012. Đọc kỹ thì dường như Thành Chung là... cả một Thùng Chanh! NXN)



– Năm điều hoang tưởng về sức mạnh của Trung Quốc –  (x-café). - Five myths about China’s power(Washington Post). Nguồn: Minxin Pei - Washington Post
Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ -26.01.2012
Trong khi Trung Quốc đang đuổi kịp những nền kinh tế tiến bộ nhất trên thế giới, quốc gia này đã kích động niềm hứng khởi cũng như lo ngại - đặc biệt là tại Hoa Kỳ, nơi nhiều người e rằng Trung Quốc sẽ qua mặt Hoa Kỳ để trở thành cường quốc của thế kỷ 21. Nhiều người hỏi rằng làm thế nào Trung Quốc lại tiến nhanh tiến mạnh đến thế, liệu Đảng Cộng sản có thể nắm giữ quyền lực và việc Bắc Kinh mở rộng ảnh hưởng trên thế giới mang ý nghĩa gì cho mọi người chúng ta. Nhưng để hiểu vai trò mới của Trung Quốc trên trường thế giới, thật hữu ích khi xem xét lại những nhầm lẫn đang thống trị trong suy nghĩ của phương Tây.

1. Sự đi lên của Trung Quốc đang hạn chế ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại châu Á
Ngược lại thì có. Rõ ràng, sức mạnh của Trung Quốc tại châu Á đang tăng trưởng; nền kinh tế của nó hiện đang lớn nhất trong khu vực,và Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất đối với mọi quốc gia ở châu Á. Và việc hiện đại hoá quân đội đã biến Quân đội Giải phóng Nhân dân thành một lực lượng chiến đấu hiệu quả hơn.
Nhưng thay vì giới hạn hoặc hất cẳng ảnh hưởng của Hoa Kỳ, sự bành trướng quyền lực của Trung Quốc đang đẩy hầu hết các quốc gia châu Á gần Washington hơn - và nâng cao vị thế của Hoa Kỳ trong khu vực. Sự hiện diện của chú Sam vẫn được hoan nghênh vì nó ngăn chặn một cường quốc rong khu vực thống trị những nước láng giềng và phát huy tính cân bằng chiến lược. Hiện nay, Trung Quốc càng có thêm sức mạnh, sự cam kết của Hoa Kỳ trong khu vực càng thêm quan trọng, và Washington càng gây thêm nhiều ảnh hưởng. Không gì ngạc nhiên khi chính phủ Obama vừa thông báo chuyển hướng chiến lược về châu Á thì Trung Quốc đã bực bội, trong khi đa số các nước trong khu vực lại cảm thấy được trấn an và đã âm thầm hoan nghênh. Hiện nay, quan hệ an ninh giữa Hoa Kỳ và những quốc gia châu Á quan yếu - Ấn Độ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và thậm chí Việt Nam - đang tốt hơn bao giờ hết.
2. Quỹ dự trữ ngoại tệ khổng lồ của Trung Quốc tạo cho nó một thanh thế vô cùng lớn
Trung Quốc sở hữu khoảng 2 nghìn tỉ Mỹ kim trong Ngân khố Hoa Kỳ, nợ thế chấp bằng bất động sản và 800 tỉ công phiếu châu Âu. Sự sở hữu khổng lồ này có thể tạo lo lắng cho phương Tây và cho phép Bắc Kinh quyền ưu tiên và hãnh diện - nhưng nó vẫn không tạo ra nhiều ảnh hưởng ngoại giao cho Bắc Kinh. Kịch bản đáng sợ nhất là việc Trung Quốc bán tháo nợ công của Hoa Kỳ ra thị trường thế giới để bắt buộc Washington làm theo ý mình vẫn chưa thành hiện thực - và có thể sẽ không xảy ra. Quỹ tài sản công của Trung Quốc, vốn được dùng để đầu tư vào một phần của những nguồn dự trữ này, thường muốn đầu tư vào tài sản kém rủi ro (ví dụ như những cổ phần thiểu số tại dịch vụ cung cấp nước của Anh) và đã tìm cách tránh né những mâu thuẫn địa chính trị. Và trước cơn khủng hoảng nợ của châu Âu, Trung Quốc rõ ràng là đã tránh mặt.
Việc vơ vét tiền mặt của Trung Quốc cũng chẳng làm tăng trọng lượng đối với quyền lực địa chính trị của mình vì thành quả của nó có được là từ chiến lược tăng trưởng dựa trên đồng nội tệ bị kềm giá để tăng sức cạnh tranh của xuất khẩu. Nếu Trung Quốc đe doạ sẽ giảm bớt đầu tư vào nợ của Hoa Kỳ, nó sẽ phải tìm môi trường đầu tư khác (không phải là việc dễ dàng dạo này) hoặc giảm xuất khẩu vào Hoa Kỳ (không phải là một điều tốt cho các nhà sản xuất Trung Quốc). Hơn nữa, với việc đầu tư quá nhiều vào nợ của phương Tây, Trung Quốc sẽ phải chịu đựng nạn thua lỗ tài sản thảm hại nếu nó khuấy động thị trường tài chính.
3. Đảng Cộng sản đã kiểm soát được Internet.
Bất chấp việc đầu tư khổng lồ vào kỹ thuật và nhân sự, Đảng Cộng sản vẫn đang gặp khó khăn trong việc thuần phục không gian mạng đầy năng động. Trong khi kỹ thuật ngăn chặn Internet của Trung Quốc thì tân tiến hơn và qui định sử dụng thì nhiêu khê hơn những chính quyền độc tài khác, sự tăng trưởng của dân số mạng trong nước (hiện đang vượt qua 500 triệu) và những tiến bộ kỹ thuật (những micro-blog kiểu Twitter) đã khiến cho việc kiểm duyệt hầu như không hiệu quả. Chính quyền liên tục nằm trong vị thế đuổi bắt; nỗ lực mới nhất của họ là bắt buộc những người sử dụng micro-blog phải đăng ký tên thật. Những qui định loại này thường quá phí tổn để thực hiện, thậm chí trong một chính thể độc đảng.
Cùng lắm là đảng chỉ có thể lựa chọn kiểm duyệt những gì mà họ cho là “nhạy cảm” khi việc đã rồi. Mỗi khi có một tin nóng - một vụ tham nhũng tai tiếng, một tai nạn an toàn công cộng hoặc một biểu tình chống chính quyền lờn - thì mạng Internet nhanh chóng tràn ngập tin tức và những chỉ trích mạnh mẽ đối với chính quyền. Cho đến lúc cơ quan kiểm duyệt có thể tái lập việc kiểm soát, thiệt hại chính trị đã xảy ra.
4. Chính quyền Trung Quốc đã mua chuộc hẳn giới trung lưu.
Không hẳn thế. Ba thập niên tăng trưởng kinh tế với con số hàng chục đã nâng cấp khoảng 250 đến 300 triệu người dân Trung Quốc - chủ yếu là dân thành thị - lên vị thế trung lưu. Kể từ khi chính quyền đàn áp phong trào dân chủ ở Thiên An Môn vào năm 1989, giới trung lưu đã bận rộn làm giàu và không đòi hỏi tự do chính trị. Nhưng điều đó không có nghĩa là thành phần này đã hậu thuẫn đảng cầm quyền. Có một cách biệt khổng lồ giữa những người có cảm tình chính trị và giới trung thành cố hữu. Cùng lắm là giới trung lưu Trung Quốc chỉ chấp nhận tình trạng hiện tại bởi vì nó đã là một tiến bộ lớn so với sự độc tài trong quá khứ - và bởi vì hiện vẫn chưa có một giải pháp thực tế và cấp bách nào khác. Nhưng như cuộc cách mạng Mùa xuân Ả Rập cho thấy, chỉ cần một sự kiện đơn lẻ hoặc một sai lầm của chính thể độc tài cũng đã có thể chuyển hoá những công dân trung lưu đồng cảm trở thành những nhà cách mạng cấp tiến.
Điều này có thể xảy ra mà không cần đến một cơn khủng hoảng kinh tế cấp thời. Ngày nay, giới trung lưu Trung Quốc đang trở nên bất mãn với tình trạng bất công, tham nhũng, nhà ở đắt đỏ, ô nhiễm môi trường và dịch vụ yếu kém. Vài năm trước đây ở Thượng Hải, hàng nghìn người dân trung lưu đã phát động một cuộc “tuần hành chung” và ngăn chặn dự án mở rộng tuyến đường cao tốc trong thành phố vì dự án này đã đe doạ giá trị nhà cửa của họ. Một cuộc biểu tình tương tự vào năm ngoái tại Đại Liên đã dẫn đến việc đóng cửa một nhà máy hoá dầu gây ô nhiễm.
Đảng biết rằng họ không thể dựa vào sự ủng hộ của giới trung lưu. Sự bất an này nằm sau việc họ liên tục cứng rắn hơn với sự chống đối chính trị.
5. Quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc không có dấu hiệu chậm lại.
Nhịp độ tăng trưởng đã nguội lại phần nào - từ mức trên 10,3% vào năm 2010 xuống còn 9,2% vào năm ngoái - và hướng đi xuống này sẽ còn tăng tốc trong những năm tới.
Như Hàn Quốc và Đài Loan, vốn đã đạt được thành quả tăng trưởng to lớn trong ba thập niên nhưng cũng từ từ chậm lại kể từ những năm 1990, nền kinh tế Trung Quốc sẽ đối diện với những cơn gió ngược mạnh mẽ. Dân số hiện nay đang già đi; những người dân tuổi 60 hoặc già hơn đang chiếm 12,5% tổng dân số trong năm 2010 và đang hướng đến mức 17% vào năm 2020. Điều này sẽ làm giảm việc tiết kiệm và nguồn lao động cũng như gia tăng chi phí hưu trí và y tế. Nếu Trung Quốc muốn giữ mức tăng trưởng cao, nó phải bắt đầu sản xuất những mặt hàng kỹ thuật cao cấp và có giá trị cao do Trung Quốc thiết kế. Nó sẽ phải cần sáng tạo thêm, việc này đòi hỏi bớt đi sự kiểm soát của chính phủ và nhiều tự do trí tuệ hơn nữa.
Điều tối trọng hơn hết là khuôn mẫu kinh tế thiên về đầu tư do nhà nước chỉ đạo đối với việc tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc phải nhường bước cho một khuôn mẫu kinh tế hiệu quả hơn, thiên về tiêu thụ và do thị trường định hướng. Một chuyển đổi như thế sẽ không thể xảy ra nếu không giảm bớt vai trò của chính phủ và bắt đảng phải chịu trách nhiệm trước người dân Trung Quốc.


– Trung Quốc sẽ gia tăng đàn áp trong năm 2012?  –  (x-café). Dịch từ bài: Will China Dragon Bite in 2012? (The Diplomat).- HRW kêu gọi Bắc Kinh điều tra các vụ bắn người biểu tình Tây Tạng  –   (RFI). –Trung Quốc phải làm sáng tỏ vụ người Duy Ngô Nhĩ bị trục xuất khỏi Cam Bốt   –   (RFI).
Tổ chức nhân quyền: Chớ nên ngừng chế tài Miến Điện cho đến khi nào tất cả tù chính trị được tự do   –  (VOA).


 -Ai sợ sức mạnh kinh tế Trung Quốc? -(Tamnhin.net) – Tại Davos, biên tập viên kinh doanh Tim Weber của BBC News đã nêu ra câu hỏi “Ai sợ sức mạnh kinh tế Trung Quốc?” và cố tìm kiếm những câu trả lời khả dĩ.-
Đề cập đến chủ đề này, người ta sẽ nghe thấy những lời phàn nàn về việc Trung Quốc bán phá giá hàng rẻ tiền, lấy đi công ăn việc làm và các nguồn tài nguyên của các nước khác. Các chính trị gia và kinh tế gia sẽ nghe thấy lời phàn nàn rằng Trung Quốc giữ đồng tiền của mình dưới giá trị thực. Cũng có quan ngại về kích cỡ kho dự trữ ngoại hối của Bắc Kinh - hiện đang gần tới ngưỡng 4.000 tỷ USD.Và những lo lắng này có xu hướng gia tăng.

Trung Quốc giàu hay nghèo?

Nền kinh tế của Trung Quốc, với 1,3 tỷ dân, vẫn tiếp tục phát triển nhanh, với tốc độ khoảng 10% một năm.
Kinh tế Trung Quốc đã đứng hàng thứ hai thế giới về kích cỡ. Một số người tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos tự hỏi liệu có nên vẫn gọi Trung Quốc là một nền kinh tế đang phát triển hay không.
Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới, ông Pascal Lamy, nói rằng Trung Quốc cần có “một cách giải trình tốt hơn" và cần nói với thế giới những gì thực sự đang diễn ra. Ông nói: “Thế giới bên ngoài Trung Quốc vẫn đang tự hỏi liệu Trung Quốc là một nước nghèo với rất nhiều người giàu, hay một nước giàu với rất nhiều người nghèo”?

Trung Quốc đang thay đổi quá nhanh và cũng khó tự biết được chuyện gì đang xảy ra.

John Zhao, giám đốc điều hành của công ty đầu tư tư nhân lớn nhất Trung Quốc là Hony Capital, nhắc nhở giới có ảnh hưởng lớn tại Davos rằng cách đây không lâu, chính phủ Trung Quốc còn nói với người dân Trung Quốc đi ra nước ngoài rằng "chúng ta sẽ may được cho người dân bộ vét đẹp để khỏi bị coi là người nghèo ". Còn ngày nay, phương Tây chỉ thấy toàn người Trung Quốc rất giàu đi du lịch ở nước ngoài. Ông John Zhao giải thích: “Điều đó cũng gây ấn tượng sai lệch là Trung Quốc toàn người giàu có. Họ chỉ là thiểu số mà thôi. Hầu hết người Trung Quốc vẫn còn nghèo”.

Thế còn sự thiếu rõ ràng của Trung Quốc khi kinh doanh ở nước ngoài?

Ông Zhao đổ lỗi cho những sai lầm của những bước đi ban đầu. Chính phủ Trung Quốc không biết phải làm gì với tất cả dự trữ ngoại hối của mình, vì vậy họ đã làm những gì nước khác đã làm: mua trái phiếu chính phủ Mỹ.

Trong khi "có vài công ty xấu cố ý gian lận”, hầu hết các công ty Trung Quốc đều cố gắng học hỏi và tôn trọng luật pháp. Ông Zhao thừa nhận: “Chúng tôi không có lịch sử cả trăm năm trong quản trị doanh nghiệp".

Robert Greifeld, giám đốc điều hành của thị trường chứng khoán Nasdaq, lưu ý mọi người rằng phương Tây cũng có “lịch sử phong phú về các sai phạm của giới công ty - từ Parmalat tới Enron," và rằng các công ty Trung Quốc "có nhu cầu lớn tìm hiểu chuẩn mực báo cáo của giới công ty phương Tây".

Mất cân đối lớn

Tuy nhiên, Stephen Roach - cựu Chủ tịch Morgan Stanley châu Á và nay làm việc cho Đại học Yale - lập luận rằng những rắc rối đối với Bắc Kinh không chỉ là vấn đề về báo cáo của công ty hoặc nhận thức chung về Trung Quốc, Đó là do có sự mất cân bằng kinh tế thực sự khi người tiêu dùng Trung Quốc và các công ty Trung Quốc tiết kiệm quá nhiều, trong khi phương Tây lại tiết kiệm quá ít.

Đã đến lúc chính phủ Trung Quốc nên sử dụng một phần nào đó trong kho dự trữ ngoại hối của mình để đầu tư cho chính người dân nước này, bằng cách tạo dựng hệ thống an sinh xã hội, đầu tư cho hệ thống lương hưu trong bối cảnh có áp lực vì một bộ phận dân đang đến tuổi già ngày càng nhanh.

Một trong chủ đề được coi là “nhạy cảm” và phía Trung Quốc không muốn nói tới là tỷ giá giữa đồng nhân dân tệ và đồng đô la Mỹ.

Quan điểm của Trung Quốc là không thể thả nổi tỷ giá và vấn đề là công chúng Trung Quốc sẽ nghĩ sao nếu kho dự trữ đô la đột nhiên bị mất giá do vấn đề thay đổi tỷ giá.

Một số người Trung Quốc tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos không hoàn toàn đồng ý với lập luận cho rằng Trung Quốc có cách hành xử bất thường. Một người lập luận: “ Trung Quốc đâu có vơ vét tài nguyên. Dó là việc đầu tư vào các nguồn tài nguyên mà nếu không thì sẽ không được khai thác, bất kể ở Brazil hoặc Australia hoặc Châu Phi. Trung Quốc đang đầu tư rất nhiều ư? Không, ít chứ đâu có nhiều. Nếu xem Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, thì Trung Quốc đầu tư như vậy đâu có đủ”.

Một nhân vật khác nhắc nhở đại biểu tham dự Diễn đàn Davos rằng "thành kiến" ngày nay đối với Trung Quốc cũng giống như "cách đây 50 năm, khi người Mỹ đã cho hàng hóa của họ tràn ngập thị trường Châu Âu".

“Hẹn hò trước khi kết hôn”

Và điều gì sẽ xảy khi các công ty Trung Quốc mua lại các công ty phương Tây?

Ngày càng có nhiều công ty Trung Quốc đang nhòm ngó các công ty như Coca-Cola và General Electric... để học hỏi từ họ và muốn trở thành công ty đa quốc gia. Nhưng làm như vậy không phải là lúc nào cũng thành công.

Ông Zhao kể về câu chuyện của một công ty của Đức đã quyết định bỏ thỏa thuận mà một công ty Trung Quốc mời chào với điều kiện tốt hơn để rồi bán công ty này cho một chủ sở hữu Pháp. Ông nói: “Họ đã quyết định đúng. Nếu họ cảm thấy không thể hoạt động trong các công ty Trung Quốc, thỏa thuận đó kể như là một thảm họa. Vì vậy, đó là lý do tại sao chúng tôi đang nói với công ty Trung Quốc: hãy hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp của các bạn”.
Giám đốc điều hành John Zhao Trung Quốc đã so sánh mối quan hệ giữa doanh nghiệp Trung Quốc với phương Tây như trai gái tán tỉnh, timd hiểu lẫn nhau: "Trước khi kết hôn, bạn nên đi lại hẹn hò. Vì vậy tôi hy vọng các công ty Trung Quốc sẽ mở văn phòng trên khắp thế giới để tìm hiểu về văn hóa".


Đôi bên cùng có lợi

"Hãy sẵn sàng để có thêm đầu tư của Trung Quốc, điều đó sẽ xảy ra", ông Pascal Lamy nói với các chính khách và ông chủ doanh nghiệp phương Tây tại Davos. Và quay sang khán giả khu có nhiều người Trung Quốc, ông cảnh báo rằng "để đôi bên cùng có lợi thì Trung Quốc phải giải quyết vấn đề nhận thức trên cả hai phương diện, ở phương Tây và ngay tại Trung Quốc”. Nếu không, uy tín của Trung Quốc sẽ kết cục như những gì xảy ra trong mậu dịch toàn cầu, tức là kết quả “là rất lớn, nhưng trong chính trị (thì bị coi) là tồi tệ".

Thế giới bên ngoài nên hiểu rằng Trung Quốc đang thay đổi. Đây là lời thỉnh cầu đầy nhiệt huyết của Michael Wong, một doanh nhân trẻ, có công ty TouchPal làm phần mềm ứng dụng điện thoại đa tính năng hiện đang có sự hiện diện trên 20% tổng số máy dùng hệ điều hành Android của Google. Các hãng như công ty của ông đang vận động để có sự thay đổi, nỗ lực nhiều nhằm tuân thủ qui định bảo vệ sở hữu trí tuệ.

Ông Wong nói: “Cách nhìn dập khuôn về Trung Quốc có thể là đúng cho quá khứ, thậm chí có thể là đúng vào lúc này, nhưng nó sẽ thay đổi, nhanh hơn nhiều so hơn bạn nghĩ, trong 3-5 năm tới. Chúng tôi là tương lai của Trung Quốc”.

Và có thể là tương lai của thế giới. Lẽ ra, ông Wong đã có thể nói thêm câu này.

Minh Bích (theo BBC)
- Tim Weber  Biên tập viên Kinh doanh, BBC News: Ai sợ sức mạnh kinh tế Trung Quốc?  –  (BBC). – Du khách Trung Quốc đổ xô đến Australia  –  (VOA).


Trung Quốc và nghịch lý của thịnh vượng: China and the paradox of prosperity (Economist 28-1-12)
Bài này rất nguy hiểm: In China's Shoes (National Interest 23-1-12) -  Amitai Etzioni quá ngây thơ!  Bênh Tàu! This article is truly DISGUSTING!   Now, listen to Gideon Rachman, a much more intelligent guy: The End of the Win-Win World (FP 24-1-12) -- "Why China’s rise really is bad for America -- and other dark forces at work"

-Khi đồng nhân dân tệ ló dạng
Tổng thống Obama quảng bá kế hoạch kinh tế tại các bang dao động  –  (VOA). –Tổng thống Obama vận động cho chương trình làm việc về năng lượng   –  (VOA). –Kinh tế Mỹ có những dấu hiệu cả tốt lẫn xấu   –  (VOA).






Đón Phó tổng thống Joe Biden: ông tập làm quen với vai trò ngoại giao cao cấp
Mô hình Trung Quốc, con rồng đỏ phun lửa  Việt Nguyên 
LTS - Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa... do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston. 

Ðầu năm dương lịch 2012, Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào đã chào mừng năm mới bằng lời kêu gọi dân Trung Hoa đồng lòng giữ vững truyền thống 5,000 năm chống lại làn sóng văn hóa Tây phương đang lan tràn khắp nước. Mặt trận văn hóa được ông Hồ đặt nặng từ tháng 10, 2011 khi Ðảng CSTQ ấn định làn ranh rõ rệt giữa văn hóa Tây phương và Trung Hoa. Ðảng CS đặt nặng vấn đề kiểm duyệt thông tin báo chí và mạng lưới, ngăn chận tự do dân chủ. Ðầu năm ngoái, ông Hồ Cẩm Ðào đi thăm Hoa Kỳ, viếng Viện Khổng Tử lớn nhất ở hải ngoại tại Chicago, tự hào về “xã hội hài hòa” của CSTQ, nay chương trình của Ðảng CS nhắm vào phát triển các viện Khổng Tử cùng với thông tin tuyên truyền của Tân Hoa Xã và Ðài Truyền hình CCTV khắp nơi trên thế giới trong khi ngân sách các đài BBC Anh quốc và VOA bị cắt giảm tối đa. Trong khi cả thế giới đang nhìn về Bắc Hàn với ông hoàng bé Kim Chánh Ân lên ngôi thì ông Hồ Cẩm Ðào âm thầm chuẩn bị cho Hoàng Ðế Tập Cận Bình lên ngôi thống trị thiên hạ thiết lập một “xã hội hài hòa” giả tạo nguy hiểm cho thế giới trong năm 2012. 
Xây dựng xã hội hài hòa? 
Xã hội hài hòa của Ðảng CSTQ đang được quảng cáo rầm rộ là một xã hội đang tự hủy. Con rồng Trung Hoa cũng như những con rồng Á Châu phun nước (khác với con rồng Âu Châu phun lửa) đem lại phúc lợi cho mùa màng và hạnh phúc cho người dân nay đã trở thành con rồng phun lửa độc hại. Từ người Trung Hoa cho đến mọi người trên thế giới đều tự thấy phải cần Thánh George ra tay cầm ngọn giáo tiêu diệt con “rồng đỏ” vào năm Nhâm Thìn đang đến.
Người Trung Hoa ngày nay đang sống trong một quốc gia thiếu đạo lý. Ngày 20 tháng 11, 2011, cả thế giới chứng kiến cảnh em bé hai tuổi bị chiếc xe minivan cán qua cán lại 2 lần, khách bàng quan đi qua nhìn không can thiệp cho đến khi có người kéo em bé lên (4 ngày sau đó em chết). Thông tin cộng sản cố giấu nhẹm nhưng Youtube đã cho thấy những cảnh khác như một ông lão té ở chợ, người đi chợ đứng dửng dưng không ai đỡ ông dậy. Xã hội thiếu lòng nhân là kết quả của xã hội pháp trị, luật pháp khắc nghiệt từ thời Thượng Ưởng che chở cho người quyền thế. Năm 2006, tòa án ở Bắc Kinh đã phán xét một trường hợp về một người ra tay cứu giúp kẻ bị nạn ở giữa đường, ông phải trả tất cả chi phí bệnh viện và xe cứu thương cho nạn nhân! Từ đó người Trung Hoa không giúp người lâm nạn, Trung Hoa không có luật “Good Samaritan” như ở Hoa Kỳ để che chở cho những người tốt bụng giúp người lâm nạn. CSTQ tự hào với Trung Quốc, vương quốc ở giữa thế giới, cái rốn của thiên hạ, của vũ trụ, nay “Trung Quốc” đã mất chữ “Trung.” Nguyên nhân của sự tự hủy bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 19 khi Trung Hoa bị tổn thương nặng từ chiến tranh quân sự đến kinh tế với Tây phương và Nhật. Khoa học và kinh tế của xã hội phong kiến Khổng Tử giả tạo nhắm chữ “Trung Hiếu” đễ tự bảo vệ chế độ thiếu tính dân chủ thật của Khổng Mạnh đã thua kỹ thuật Tây phương. Các cuộc cải tổ đã thất bại vì không thay đổi từ nền móng. Ðến thời cộng sản sau năm 1949, Ðảng CS xây dựng Xã hội Chủ nghĩa, con người mới XHCN đập phá tất cả tàn tích chế độ cũ phong kiến và tư bản, xóa sạch những cái đẹp kể cả ngôn ngữ, nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo, y phục, âm nhạc v.v... Xây dựng xã hội mới dựa trên hận thù và dối trá cũng như trên sự ngu dốt trên 60 năm, nay Ðảng CSTQ lại đang khoe đảng bảo vệ văn hóa cổ truyền Trung Hoa!
Thành công sau cuộc cách mạng năm 1949, Ðảng CS phản bội giai cấp công nhân, xây dựng các đô thị, bỏ quên các vùng thôn quê. Mỗi năm có 10 triệu người đổ về các thành phố lớn. Nhưng Bắc Kinh và các thành phố lớn là nguồn gốc của những bất ổn xã hội trong 20 năm qua. Trong những năm gần đây, giá nhà giá đất gia tăng, những người dân thường chỉ có thể ở trong các chung cư lớn. Giá nhà và vật giá leo thang giờ đây trở thành những câu chuyện hằng ngày của người dân Bắc Kinh. Bắt chước Tây Phương, dân Trung Hoa bắt đầu thưa kiện tập thể, trong năm qua hơn 10,000 vụ kiện, chính quyền CS phải ra lệnh cấm nhưng họ thiếu hẳn cái nhìn hiện đại hóa đất nước ngoài chuyện phô trương bên ngoài.
Năm 2003, ông Wang trong cuốn sách xã hội nổi tiếng “Hồ sơ thành phố” nay trở thành “Hồ sơ Bắc Kinh” bán chạy nhất trong 8 năm qua, gọi kiến trúc Bắc Kinh là kết quả của sự tấn công từ các “lãnh chúa” cộng sản. Dân chúng không còn tin vào cán bộ “chiếm đất giành nhà.” Thành phố cổ không được bảo tồn. Cơ quan chính quyền dọn xa ra về phía Tây, ra xa Cấm thành, xây đại lộ Trường An. Khi mới bắt đầu xây lại Bắc Kinh, ông Mao Trạch Ðông không nghe lời cố vấn Xô Viết giữ văn phòng, cơ sở chánh quyền ở khu Bắc Kinh cổ, đảng CSTQ muốn xây tất cả cơ sở “vĩ đại” như sự “vĩ đại của Ðảng CS.” Quảng trường Thiên An Môn phải được xây dựng, đại lộ Trường An và 10 tòa nhà đảng và chính quyền phải được xây “nhanh hơn, tốt hơn và rẻ hơn” để kịp mừng ngày 10 năm chiến thắng. Các di tích lịch sử được phá nhanh, phá chùa, phá cổng Tây Môn nổi tiếng trong truyện Tây Môn ký, phá khu hẻm nổi tiếng “Hutong.” Chuyên gia về Trung Hoa, GS Simon Ley phê bình nặng: “tên tuổi của chế độ CSTQ gắn liền với những phá hủy Bắc Kinh, di sản của nhân loại.” Sự phá hủy vẫn tiếp tục không ngừng vì đối với CS kiến trúc không quan trọng. Ðô thị ở Trung Hoa xây lên thiếu một tình người khác với những thành phố ở Ba Lan, với những câu thơ của thi sĩ đối kháng thời CS Zagajewski:
“Tôi nghĩ, thành phố được xây dựng,
Không bằng những căn nhà, những công trường,
Những đại lộ, những công viên
Mà bằng những gương mặt rạng rỡ như những ngọn đèn
những ngọn đuốc, của con người...”
Bắc Kinh trở thành một địa điểm “đấu tranh giai cấp” mới, thành phố toàn cầu của Ðảng CS và con ông cháu cha ở trung tâm và thường dân ở ngoại ô. Chính quyền đổ 70% ngân quỹ điều nghiên ngoại ô. Các tòa nhà đồ sộ của chính quyền có mục đích tuyên truyền vinh quang cho chế độ như những xây cất cho Thế vận hội năm 2008 nay bị bỏ hoang. Dân Bắc Kinh tự hỏi, “nếu chính quyền quan tâm đến họ tại sao không tân trang nhà của họ thay vì đuổi họ ra khỏi thành phố?” Kết quả của xã hội hài hòa trong mấy năm qua là dân mất đất mất nhà và các thành phố cổ bị hủy hoại vì lòng tham của cán bộ đảng. 
Văn hóa ô nhiễm? 
Ông Hồ Cẩm Ðào cảnh cáo dân Trung Hoa về một nền văn hóa ô nhiễm Tây phương khiến người ta nghĩ lời cảnh báo của ông Lưu Hiểu Ba, người đoạt giải Nobel “Ông Hồ Cẩm Ðào và Ðảng CS là một Hitler và Nazi mới của thế kỷ thứ 21,” họ Hồ xem người Hán ưu chủng, dân Hán siêu việt giống như quan niệm của chế độ phong kiến Trung Hoa trong 5 ngàn năm, tự xem mình là Trung Quốc văn minh còn các nước lân bang là man rợ “Bắc Rợ, Nam man.”
Chữ Rợ nguyên từ chữ Hy Lạp, Barbarian, xuất từ chữ barbaros những người ngoại quốc không nói được tiếng Hy Lạp bập bẹ: bar-bar-bar như những người Việt lúc mới đến Mỹ. Chữ được sử gia đầu tiên trên thế giới Herodotus dùng 2,500 năm trước không có nghĩa kỳ thị như những người Hán dùng cho dân tộc ngoài biên cương của họ. Ông Hồ Cẩm Ðào đi ngược thời gian ngược cả thời sử gia Herodotus “phong tục giống như sản phẩm trong thị trường, con người có quyền chọn lựa,” dĩ nhiên là dân tộc nào cũng thích chọn phong tục tập quán của xứ sở quê hương mình nhưng ở vào thời đại nào, nhất là thời đại toàn cầu hóa này, vấn đề ô nhiễm là điều không thể tránh và văn minh Trung Hoa trong suốt dòng lịch sử 5,000 năm không bao giờ “thuần túy,” chính họ đã học được những bài học chua cay.
Trong các năm qua, các lãnh tụ Ðảng CSTQ đã cố trở về phong tục cổ truyền, mỗi năm đi lễ bái tổ tiên, lên ngọn Hoàng Lĩnh tế hoàng đế. Trên núi Hoàng Lĩnh vẫn còn bia tưởng niệm hoàng đế, bia đề: “Nơi đây hoàng đế lập ra triều đại nhà Hán, ngài từ đâu đến không ai biết, chỉ biết ngài đến từ phương Tây.” Tổ tiên, nguồn gốc của người Hán chính họ cũng không biết rõ!
Tục lệ thờ cúng tổ tiên từ mấy ngàn năm được Khổng Tử làm sáng lại. Ngài chỉ có công san định lại Ngũ Kinh chứ chính Khổng Tử không viết. Luận ngữ được học trò ghi chép lại. Chính quyền cộng sản muốn dùng Khổng Tử để dạy dân. “Trung với đảng” “Hiếu với Hoàng Ðế Tập Cận Bình” bỏ đi những lời dạy dân chủ, “dân vi quý” không khác gì nền dân chủ Tây phương. Khổng Tử của Ðảng CSTQ là Khổng Tử nguyên tắc, cùm kẹp, hạn chế tự do cá nhân của con người vì vậy lịch sử Trung Hoa khác với lịch sử Hoa Kỳ, dân đi ra ngoài làm ăn buôn bán không về nhiều hơn là số di dân đến Trung Hoa. Khổng Tử của đảng CSTQ là Khổng Tử của thời quân chủ chuyên chế, một Khổng Tử bị Lão Tử phê bình “cái sắc của ông ngạo mạn, cái lòng của ông đầy dục.”
Khổng giáo và Lão giáo (500 năm trước Thiên Chúa) ở Trung Hoa sau bị đạo Phật từ Ấn Ðộ tràn qua lấn át. Những người dân bị áp bức tìm được lối thoát qua đạo Phật. Những người Trung Hoa hiện nay muốn phục hưng lại tinh thần đời nhà Ðường. Thời đại kéo dài gần 3 thế kỷ từ năm 618 đến 907. Thời đại thịnh vượng, hòa đồng tôn giáo Khổng, Lão, Phật. Thời đại của văn học với thơ đường Ðỗ Phủ, Lý Bạch. Thời kỳ Phật giáo hưng thịnh nhất Trung Hoa. Thời mà cái đạo của Khổng Tử “thiên thời, địa lợi, nhân hòa,” con người sống hòa với trời đất. Trung Hoa sống hòa bình với các nước láng giềng nhất là với Hàn Quốc và Việt Nam. Thời đại nhân tài được trọng dụng qua các kỳ thi chứ không lấy thúng đong tiền mua quan bán chức như trong thời cộng sản.
Chính ở thời đại huy hoàng của đời nhà Ðường, văn hóa Trung Hoa cũng bị ô nhiễm. Con đường tơ lụa đem văn hóa Trung Ðông và Trung Á đến. Ngày nay người Trung Hoa ăn mặc, cắt tóc như Tây phương còn ở thời nhà Ðường phụ nữ từ bỏ y phục bó sát thay vào những xiêm y lộng lẫy, ghế trường kỷ nhập cảng từ Trung Ðông, dụng cụ âm nhạc, đàn tì bà, đàn dây đến từ Khotan, Trung Á. Vua Ðường Minh Hoàng mê “vũ khúc Nghê thường,” mơ lên cung Quảng, yêu Dương Quý Phi bốn mươi phần trăm quan trong triều là người Trung Ðông, Trung Á đưa đến loạn tướng An Lộc Sơn (gốc Trung Á, Ubekistan hiện nay) vua phải chạy về hướng Tây, Dương Quý Phi treo cổ tự vẫn giữa đường.
Tự hào với dòng Hán, xem các nước ngoài biên cương là bọn rợ nhưng những bức Ðại Thành không ngăn được rợ, các triều nhà Nguyên, nhà Thanh gốc từ bọn rợ Mông cổ đến cai trị. Người Trung Hoa tự hào phát minh ra giấy cùng với chữ viết nên giỏi tuyên truyền. Giấy do ông Thái Luân phát minh năm 105 (được xem là phát minh của người Hán đang được tranh cãi, Thái Luân quê ở Quế Dương phần đất Việt Nam cũ) quan trọng cho sự tuyên truyền của người Hán, giấy nhẹ hơn tre, hơn gỗ để truyền bá được người Trung Hoa giữ bí mật nghề nghiệp trên 600 năm, nhưng ở trong Vạn Phật Ðộng trên con đường lụa các nhà khoa học đã tìm thấy kinh Phật in trên giấy 100 năm trước khi người Hoa phát minh.
Ðến thế kỷ 20, Trung Hoa lại bị văn hóa ô nhiễm từ phương Tây, lần này văn hóa Marx độc hại hơn, tiêu hủy tất cả truyền thống của quốc gia họ.
Mùa Thu năm 2011, Trung Cộng kỷ niệm Cách Mạng Tân Hợi 1911, 100 năm sau khi nhà Thanh, chính quyền quân chủ cuối cùng, sụp đổ. Cuộc cách mạng ấy dẫn đến sự chiến thắng của CS năm 1949. 100 năm này đánh dấu sự sụp đổ tinh thần của người Trung Hoa. Tinh thần tôn giáo, đạo thờ cúng ông bà Tổ tiên, bắt đầu từ ngày Tết, ngày mồng một bắt đầu một năm mới, ngày mà trời đất hài hòa, con người sống tử tế với nhau, nhân hòa, đất trời mở rộng, mùa màng gặt hái bị triệt từ đời nhà Thanh. Cuối thế kỷ 19, Trung Hoa có hơn một triệu chùa và miếu. Bắt đầu năm 1898, bà Từ Hy Thái Hậu thấy “bọn thầy chùa lười biếng” đã phá tất cả chùa để biến thành trường học. Triều nhà Thanh biện minh: “Tôn giáo phải bị hủy bỏ vì Trung Hoa cần hiện đại hóa.” Ðến khi ông vua cuối cùng Phổ Nghi mất ngôi, Trung Hoa bước qua những thập niên khủng hoảng, người Trung Hoa theo văn hóa Tây phương, hệ thống cũ không còn giá trị để đối đầu với kỹ nghệ và quân sự của Tây phương. Trung Hoa bị Ngũ cường chia cắt. Ðến thời CS sau 1949, tôn giáo lại bị đàn áp, một triệu chùa, miếu bị đập đổ, nhất là sau cách mạng văn hóa, đến năm 1982, Trung Hoa chỉ còn ít chùa, nhà thờ và đền thờ Hồi giáo trong một quốc gia hơn 1 tỷ người. Tinh thần quốc gia được Tổng thống Tưởng Giới Thạch xây dựng trong chương trình “Ðời sống mới” qua sinh hoạt Hướng Ðạo bị cấm ngay sau khi CS cầm quyền.
Ðời sống tinh thần của người Trung Hoa hiện nay trong chế độ CS đang được dân phục hồi bằng các tôn giáo khác hơn Khổng giáo. Cái đời sống tinh thần trống rỗng ấy được nhà văn Fiel Xiaotong mô tả: “Từ đầu thế kỷ 20, người dân quê chỉ còn biết và quan tâm đến chính gia đình và bạn bè của họ, họ không hề quan tâm và lo lắng đến người ngoài.” Những người trẻ tuổi sống và lớn lên trong chế độ hiện nay lại xem: “Những người già không thể tin được, các ông ấy lớn lên trong xã hội CS chẳng biết lễ giáo, luân lý là gì!”
Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào năm 2007, đi ngược về thời nhà Thanh, bắt đầu cho phép các tổ chức từ thiện giải quyết những vấn nạn xã hội. Tôn giáo là chỗ nương tựa cho 10 triệu người bỏ quê lên tỉnh. Tôn chỉ “Tôn giáo là thuốc độc của quần chúng” nay được Ðảng CS thay đổi, họ dùng “độc dược” này để dân chúng quên đấu tranh chính trị chống bất công đặc quyền đặc lợi. CS chủ trương khi vật chất đầy đủ, kinh tế phát triển dân không cần tôn giáo nhưng trong 30 năm qua, trường hợp Trung Hoa đã cho thấy quan niệm ấy sai. Hiện nay Ðảng CS chấp nhận 5 tôn giáo Phật, Lão, Hồi, Công Giáo và Tin Lành. Dân Trung Hoa tập khí công ở các công viên chỉ có Pháp Luân Công bị cấm, bắt và tra tấn vì chính quyền CSTQ cho rằng Pháp Luân Công đã chỉ trích đảng qua tập Cửu Bình, 9 bài bình luận về Ðảng CSTQ. Tôn giáo bùng phát ở Trung Hoa, hiện nay Trung Hoa là quốc gia có nhiều Phật tử nhất trên thế giới, là nước in Thánh Kinh nhiều nhất trên thế giới với hàng ngàn linh mục và mục sư mới. Ðền thờ Hồi giáo mọc lên nhiều nơi. Mỗi Chúa Nhật có từ 60 đến 80 triệu người đi nhà thờ. Ðạo Lão cũng trở lại với những đoàn hát dạo đi khắp Bắc Kinh, chỉ có Ðảng CS và Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào nói chuyện Khổng Tử!
Hồ Cẩm Ðào đang sửa soạn con đường lên ngôi cho Hoàng Ðế Tập Cận Bình, họ đang muốn con rồng Trung Hoa phun lửa, đe dọa các nước láng giềng. Con rồng độc hại của mô hình Trung Quốc ấy giống như lời phê bình của nhà độc tài CS Xô Viết Stalin, khi là người tù trẻ tuổi, đã phê bình chế độ Sa Hoàng: “Con rồng đen ấy đã đánh cắp mặt trời từ tay nhân loại!”
Ngày 9 tháng 1, 2012



--Năm quan trọng cho ông Tập Cận Bình

Trước chuyến thăm của Phó Chủ tịch nước Trung Quốc, ông Tập Cận Bình sang Hoa Kỳ vào tháng 2/2012 trong một năm quan trọng với cả Bắc Kinh và Washington, BBC Tiếng Việt xin giới thiệu với quý vị chân dung của ông nhìn qua một số trang quốc tế và khu vực châu Á
Tiểu sử ông Tập theo đài Trung Quốc (CRI):

Ông Tập Cận Bình, sinh tháng 6/1953, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 1/1974. Đi lên từ chức Bí thư Chi bộ Lương Gia Hà, Công xã Văn An Dịch, huyện Diên Xuyên, tỉnh Thiểm Tây, ông về Bắc Kinh học Đại học Thanh Hoa.
Từng công tác tại tỉnh Hà Bắc và Phúc Kiến, ông lên giữ chức Bí thư Thành ủy Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến trong thập niên 1990, rồi làm lãnh đạo Đảng và chính quyền Chiết Giang trong thập niên 2000.
Ông cũng làm Bí thư Thành ủy Thượng Hải (2007) và về Trung ương phụ trách Trường Đảng sau đó.
Hiện ông là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Giám đốc Trường Đảng Trung ương.
Báo Mỹ Bấm ew York Timesmục nhân vật:
"Đa phần sự nghiệp của ông Tập, năm nay 57 tuổi là lo lãnh đạo tại khu vực duyên hải phía Đông vốn bùng nổ về kinh tế, và là tuyến đầu của cuộc thí nghiệm Trung Quốc thực hiện với chủ nghĩa độc đoán mang tính thị trường.
Đây là môi trường thu hút đầu tư nhưng cũng gài các chi bộ Đảng vào công ty tư nhân, và bành trướng sự hỗ trợ của chính quyền cho những doanh nhân hình mẫu.
Đây chính là kinh nghiệm chính trị và kinh tế mà ông Tập có, còn ông Hồ Cẩm Đào không có khi leo lên chức vụ cao nhất.
So với ông Hồ, thì ông Tập là một ông quan đỡ cứng nhắc hơn (nguyên văn: dour mandarin).
Người cao và chắc nịch, ông Tập thuộc nhóm ‘thái tử đảng’, tức con ông cháu cha của tầng lớp quan chức Đảng cao cấp, và ông cũng có vợ là ca sĩ, thiếu tướng Quân Giải phóng, bà Bành Lệ Viện.
Không ‘người máy’ như ông Hồ, ông Tập đã đập thẳng tay Phương Tây trong một số bài diễn văn gần đây. Ông cũng cảnh báo những ai chỉ trích sự vươn lên của Trung Quốc là đang “chỉ mặt’ vào nước này.
Nhưng cùng lúc, ông cho con gái đăng ký vào học ở Harvard bằng tên giả.
Ông Tập, đã lên bậc thang quyền lực nhờ xây dựng vây cánh trong số các quan chức cao cấp của Đảng, nhất là những người thuộc phe nhóm ông Giang Trạch Dân, đồng thời ông chăm lo tạo hình ảnh khiêm tốn, tự lực chứ không tỏ ra là có quan hệ thân thuộc cao cấp, theo lời các quan chức biết ông..."
Trang Al-Jazeera trong bài của Bấm Melissa Chan:
"Năm nay là năm Rồng, con vật biểu tượng của Trung Quốc nhưng cũng đem lại đầy điềm xấu và một năm thách thức…Những tháng tới, mối lo ngại lớn nhất là Đảng Cộng sản Trung Quốc có cuộc chuyển đổi quyền lực một lần trong cả một thập niên.
Chúng tôi nghĩ thật hợp lý khi bắt đầu năm mới bằng chuyến về xem người sẽ lên đỉnh cao quyền lực là thế nào: ông Tập Cận Bình.
Chúng tôi đến tỉnh Thiểm Tây, nơi ông sống bảy năm thời Cách mạng Văn Hóa. Bản thân tôi thấy câu chuyện về giai đoạn đó trong đời ông đầy ấn tượng: nó là chuyện về một cậu bé sinh ra nơi đô thị bị gửi về quê. Chúng ta cùng biết rằng cậu bé Tập Cận Bình hồi nhỏ chăm đọc sách và đọc cả đêm sau khi đã xong việc đồng áng. Rồi chuyện Tập được bầu làm chủ tịch xã và chỉ rời đi sau khi được người dân hoàn toàn ủng hộ.
Nhưng chúng tôi đã không thu được nhiều video. Quan chức chính quyền thường cáo buộc truyền thông nước ngoài là thiên vị, rằng chúng tôi thường vẽ ra bức tranh đen tối về Trung Quốc.
Tại đây tôi muốn kể về một câu chuyện thật tích cực nhưng chỉ sau một giờ trong làng, chúng tôi bị quan chức địa phương tống cổ đi. Xem ra Trung Quốc không muốn làm cách nào khác ngoài chuyện ngăn chặn thông tin, kể cả khi gây hại cho chính mình..."
Ông Tập bắt tay Đại sứ Gary Locke, gốc Hoa, người phê phán tình hình nhân quyền ở TQ
Trang Bấm Jamestown.orgtrong bài của Bruce Gilley:
"Chân dung những người sẽ vào Bộ Chính trị cuối năm 2012 là điều trọng yếu cho ông Tập Cận Bình. Vì nếu không có đồng minh trong cơ quan này, ông Tập sẽ không thể nào thúc đẩy được nghị trình chính trị của mình. Đặc biệt, ông Tập cần có ba đồng minh, những người nhiều khả năng sẽ vào Thường vụ Bộ Chính trị: Bạc Hy Lai, Bí thư Trùng Khánh, Vương Kỳ Sơn, Phó Thủ tướng phụ trách ngoại thương và tài chính, và Trương Đức Giang, Phó Thủ tướng nắm ngành giao thông, năng lượng và công nghiệp.
Các chức vụ này được bổ nhiệm ra sao còn tùy vào cuộc chơi quyền lực và mọi dấu hiệu của khúc mắc cho cuộc kế thừa sẽ được theo dõi chặt.
Một yếu tố nữa là liệu ông Lý Khắc Cường, hiện là Phó Thủ tướng thường trực, đối thủ của ông Tập, có giành được ghế để cho ông ta hay là ghế thủ tướng sẽ phải nhường cho Vương Kỳ Sơn. Và như thế, ông Lý có thể phải nhận chức Chủ tịch Quốc hội.
Nếu phương án này xảy ra thì cán cân quyền lực gồm hai phái vốn được duy trì 10 năm qua sẽ bị lung lay, gây ra các chuyển biến cho chính sách.
Ngoài ra, yếu tố thứ ba còn là chuyện liệu có xảy ra cuộc chuyển giao tới ‘thế hệ lãnh đạo thứ sáu’ hay không.
Giá trị của việc chuyển quyền êm thắm sẽ còn ý nghĩa với các đảng viên cùng sự thăng tiến của ông Tập trong năm 2012. Nhưng đây có thể chỉ là một lần duy nhất, nhờ có sự phối hợp của phong cách đồng thuận của Hồ Cẩm Đào và quyết định của ông Giang Trạch Dân chọn ông Tập làm người kế vị.
Nếu không rõ ‘lãnh đạo thế hệ sáu’ là gì thì cuộc đấu giành ghế sẽ có nguy cơ mang tính cạnh tranh hơn và bất ổn hơn trong năm 2012.
Phái ‘lãng mạn Marxist’ như ông Lý Khắc Cường thu hút sự ủng hộ trong các cơ quan Đảng và vùng nội địa nghèo khó.
Phái thực tiễn Leninist như ông Tập lại lên nhờ các vị trí mang tính kỹ trị trong hệ thống chính quyền, chủ yếu ở vùng ven biển giàu có.
Phe ông Lý chú tâm đến công bằng xã hội và ý thức hệ, còn phe ông Tập quan tâm nhiều đến quyền lực quốc gia và kỷ luật Đảng.
[Thế nhưng] cả hai phe đều mị dân và có gốc gác con ông cháu cha.
Nếu tới đây ông Tập có thêm đồng minh, ông sẽ có nhiều cơ hội hơn để thúc đẩy nghị trình Leninist dân tộc chủ nghĩa về trong các chính sách công..."
Phó Chủ tịch Tập Cận Bình nói chuyện với thanh niên Việt Nam tại Hà Nội
Tạp chí Bấm Đảng Cộng sảncủa Việt Nam:
Trong bài viết của tác giả Minh Châu, báo Đảng của Việt Nam nhấn mạnh đến vai trò giáo dục thanh niên Trung – Việt của ông Tập trong chuyến thăm sang Hà Nội tháng 12/2011 như sau:
“Đồng chí Tập Cận Bình, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hy vọng thanh niên hai nước sẽ kế thừa và phát triển tình hữu nghị truyền thống Trung - Việt, sẽ tự giác hơn để gánh vác trọng trách lịch sử, đóng góp trí tuệ và lực lượng vào việc làm phong phú thêm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung - Việt,”
“[Đồng chí] hy vọng thanh niên hai nước trở thành sứ giả của tình hữu nghị đời đời bền vững giữa Trung Quốc và Việt Nam, tìm hiểu nhiều hơn về lịch sử của tình hữu nghị Trung - Việt, kề vai, sát cánh thúc đẩy cây hữu nghị Trung - Việt không ngừng đơm hoa kết trái.”


--Chuyện xưa chuyện nay: “Đường lưỡi bò” của Trung Quốc (PLTP). –  Hun Sen Affirms Neutrality in South China Sea Conflict (VOA English). –  South China sea—The new Persian gulf ? (Indian Defence Board). – VN nhận trực thăng cho hải quân  –  (BBC).--Trung Quốc xuyên tạc lịch sử, gây căng thẳng ở Biển Đông  (NCBĐ/ VnExpress).– Phỏng vấn Giáo sư Thayer và Tiến sĩ Valencia:  Đĩnh đạc Việt Nam. -




Vợ con của một nhân vật bất đồng chính kiến Trung Quốc đến Mỹ   –  (VOA).

Công an Trung Quốc đàn áp người Tây Tạng : Ít nhất một người chết  –  (RFI). –Trung Quốc chỉ trích các tin ‘phóng đại’ về đụng độ ở Tây Tạng  –  (VOA). – Công an TQ bắn người biểu tình Tây Tạng  –  (BBC).  - Hoa Kỳ lên án bạo động tại khu vực người Tây Tạng ở Trung Quốc - (VOA). – Trung Quốc không phải là melting pot  – (VOA’s blog).-Chinese vice president Xi to visit White House February 14 -WASHINGTON (Reuters) -Vợ con của một nhân vật bất đồng chính kiến Trung Quốc đến Mỹ - VOA -Thân nhân của một nhân vật bất đồng chính kiến có tên tuổi của Trung Quốc đang bị giam về tội lật đổ chính quyền đã trốn sang Mỹ.
Trung Quốc chỉ trích các tin 'phóng đại' về đụng độ ở Tây Tạng - VOA -Trung Quốc hôm nay tố cáo các tổ chức nhân quyền nước ngoài đã phóng đại tin tức về những cuộc đụng độ giữa người biểu tình Tây Tạng và cảnh sát ở tây nam Trung Quốc. Các tổ chức ủng hộ Tây Tạng và những người được chứng kiến hôm qua cho  biết cảnh sát trong tỉnh Tứ Xuyên đã nổ súng vào mấy ngàn người Tây Tạng không có vũ khí tại một huyện mà người Trung Quốc gọi là Lư Hoắc và người Tây Tạng gọi là Draggo. Nhưng phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi hôm nay gọi các bản tin đó là 'phóng đại' và nói rằng cuộc đụng độ chỉ có liên quan đến 'mấy chục người biểu tình'.

Giáo sư TQ gọi dân Hong Kong là ‘đồ chó’   –  (BBC).  – Giáo sư TQ mạ lỵ người Hong Kong  –  (BBC)-Điểm sách về cuộc sống hiện đại ở Trung Quốc: The Fat Years (LAT 22-1-12)-LEAD: Toll from Tibetan protests rises to five in China, exiles say DPA
-- Điệp viên Hàn Quốc “hối lộ” 500 triệu USD cho Triều Tiên tị nạn ở Mỹ (GDVN).

 

Trung Quốc đã “đánh bại” Mỹ trên 8 lĩnh vực quan trọng

-Nguồn: -Trung Quốc đã “đánh bại” Mỹ trên 8 lĩnh vực quan trọng

Đến cả trong lĩnh vực công nghệ cao và tài chính vốn là thế mạnh của Mỹ bao năm nay, Mỹ cũng đã thua Trung Quốc.
Người Mỹ đã quen với việc đứng đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực. Thế nhưng trong nhiều ngành và lĩnh vực kinh doanh, nước Mỹ đã để mất vị thế đứng đầu, thường là về tay Trung Quốc.
Dù việc Trung Quốc đứng đầu về sản xuất than đá không khiến nhiều người ngạc nhiên, việc nước Mỹ để mất vị trí số 1 trong nhiều ngành khác sẽ làm người ta không khỏi kinh ngạc.
Đã vài năm nay, các chuyên gia kinh tế dự báo kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trong khoảng từ 20 đến 30 năm tới. GDP Trung Quốc được tính toán ở mức khoảng 6,5 nghìn tỷ USD, đứng thứ 2 trên thế giới. GDP của Mỹ trên 15,2 nghìn tỷ USD (theo IMF).
Dù tất nhiên kinh tế Trung Quốc sẽ còn phải nỗ lực rất nhiều mới đuổi kịp Mỹ, tốc độ tăng trưởng GDP của 2 nền kinh tế chênh lệch rất lớn. Năm 2011, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng hơn 8% trong khi GDP Mỹ tăng trưởng chỉ hơn 2% một chút.
Một lý do Trung Quốc đang mạnh lên so với Mỹ chính là việc chi phí lao động và sản xuất tại Trung Quốc ngày một cải thiện. Trên thực tế, chi phí sản xuất tại Mỹ đã tăng quá nhanh đến mức cao hơn cả nhiều nước phát triển khác. Lợi thế về giá lao động đã giúp Trung Quốc trở thành nước sản xuất thép lớn nhất thế giới và đứng đầu trong sản xuất ô tô.
Chi phí lao động thấp không phải yếu tố duy nhất giúp Trung Quốc vươn lên vị thế đứng đầu. Trung Quốc đã trở thành nước tiêu thụ nhiều nhất nhiều loại hàng hóa. 1,3 tỷ công dân Trung Quốc tiêu thụ mạnh hàng hóa, nhiều người thuộc lĩnh vực sản xuất đã vươn lên tầng lớp trung lưu. Chính phủ Trung Quốc đã quyết định nước này sẽ có khả năng tài chính tốt hơn nếu tự cung cấp hàng hóa nguyên liệu thô cho các nhà máy hơn là nhập khẩu từ nước ngoài về.
Dưới đây là 8 lĩnh vực mà Trung Quốc đã vượt Mỹ:
Thép

Tổng sản lượng ngành thép năm 2010 của Trung Quốc: 627 triệu tấn


Tổng sản lượng ngành thép năm 2010 của Mỹ: 80 triệu tấn


Xếp hạng của Mỹ: 3
Năm 1973, nước Mỹ đứng thứ 3 trên thế giới về sản xuất thép, Mỹ sản xuất khoảng 136 triệu tấn thép thô (theo Hiệp hội sắt thép quốc tế). Trước thời điểm đó, nước Mỹ đã thống trị ngành thép suốt nhiều thập kỷ, trọng tâm tập trung xung quanh thành phố Pittsburgh. Năm sau đó, sản xuất thép của Nga vượt Mỹ, Nga sản xuất được 136,2 triệu tấn so với sản lượng 132,2 triệu tấn của Mỹ. Ngày nay, đã có nhiều cường quốc mới thống trị thị trường thép. Đứng đầu thế giới, Trung Quốc sản xuất 627 triệu tấn thép. Nhật đứng thứ 2 với 110 triệu tấn. Mỹ đứng thứ 3, sản lượng khoảng 80 triệu tấn.
Bông
Tổng sản lượng bông của Trung Quốc năm 2011: 7,3 triệu tấn
Tổng sản lượng bông của Mỹ năm 2011: 3,4 triệu tấn
Xếp hạng của Mỹ: 3
Năm 2000, nước Mỹ sản xuất 4,2 triệu tấn bông, mức cao nhất trên thế giới. Trung Quốc không thua mấy, tổng sản lượng đạt 3,81 triệu tấn. Đến năm 2008, sản lượng của Trung Quốc không chỉ vượt Mỹ mà còn gấp đôi. Trung Quốc sản xuất 8,1 triệu tấn còn sản lượng của Mỹ chỉ đạt 4,2 triệu. Trước đó 1 năm, Mỹ để mất vị trí thứ 2 vào tay Ấn Độ do Ấn Độ đưa ra nhiều đột phá công nghệ về hạt giống và sản xuất. Năm 2011, Trung Quốc sản xuất 7,3 triệu tấn trong khi Ấn Độ sản xuất 6 triệu còn nước Mỹ chỉ sản xuất được 3,4 triệu tấn.
IPO
Tổng vốn huy động qua IPO ở Trung Quốc năm 2011: 73 tỷ USD
Tổng vốn huy động qua IPO ở Mỹ năm 2011: 30,7 tỷ USD
Xếp hạng của Mỹ: 2
Ngay cả trong lĩnh vực tài chính, nước Mỹ cũng đang để mất sự thống trị về tay Trung Quốc. Theo Cơ quan nghiên cứu kinh tế (NBER), tổng vốn huy động được qua các đợt IPO tại Mỹ đã giảm từ mức 27% của toàn thế giới vào thập niên 1990 xuống 12% vào thập niên 2000. Trong khi đó, thị phần của Trung Quốc ngày một lớn. Trung Quốc hiện là thị trường IPO lớn nhất thế giới. Năm 2011, các công ty huy động 73 tỷ USD qua các đợt IPO ở Thượng Hải, Thâm Quyến và Hồng Kông; con số này cao cấp đôi so với lượng vốn huy động qua NYSE và Nasdaq. Lần gần nhất Mỹ đứng đầu IPO thế giới là vào năm 2008.
Thuốc lá
Tổng sản lượng của Trung Quốc năm 2010: 3 triệu tấn
Tổng sản lượng của Mỹ năm 2010: 0,33 triệu tấn
Xếp hạng của Mỹ: 4
Mãi cho đến năm 1976, nước Mỹ vẫn sản xuất thuốc lá nhiều nhất thế giới. Ngày nay sản lượng của Mỹ chỉ tương đương 6% tổng sản lượng toàn thế giới (theo Globalist). Số liệu gần nhất từ Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc cho thấy Mỹ hiện là nước sản xuất thuốc lá nhiều thứ 4 trên thế giới. Trung Quốc đứng đầu với sản lượng hơn 3 triệu tấn vào năm 2010. Nhóm nước sản xuất nhiều thuốc lá khác bao gồm Braxin và Ấn Độ.
Ô tô
Tổng sản lượng của Trung Quốc năm 2010: 18,3 triệu chiếc
Tổng sản lượng của Mỹ năm 2010: 7,8 triệu chiếc
Xếp hạng của Mỹ: 3
Ngành sản xuất ô tô được coi như một trong những ngành mũi nhọn của Mỹ. Những năm gần đây, nước Mỹ lại thua nhiều nước khác và rơi xuống vị trí thứ 3 trên thế giới. Năm 2008, ngành ô tô Mỹ suýt sụp đổ và chính quyền liên bang phải hỗ trợ General Motors và Chrysler. Đến năm 2010, Mỹ sản xuất 7,8 triệu ô tô và phương tiện thương mại. Nhật sản xuất 9,6 triệu chiếc, Nhật có nhiều thương hiệu nổi tiếng bao gồm Toyota, Honda, Nissan và Mazda.
Sản xuất bia
Tổng sản lượng của Trung Quốc năm 2010: 443,8 triệu hectolit
Tổng sản lượng của Mỹ năm 2010: 227,9 triệu hectolit
Xếp hạng của Mỹ: 2
Nước Mỹ để mất vị thế đứng đầu ngay cả trong ngành bia. Năm 2000, ngành bia Mỹ có quy mô lớn nhất thế giới, sản xuất 232 triệu hectolit trong khi sản lượng Trung Quốc đạt 220 triệu hectolit. 1 thập kỷ sau đó, Trung Quốc lên vị thế đứng đầu, sản xuất 443,8 triệu hectolit so với con số 227,8 triệu hectolit của Mỹ. Tiêu thụ bia tại Trung Quốc cũng tăng mạnh những năm gần đây. Theo WHO, năm 1961, trung bình mỗi người Trung Quốc uống nửa chai bia. Đến năm 2007, con số này đã lên tới 103.
Xuất khẩu hàng công nghệ cao
Tổng giá trị hàng công nghệ cao Trung Quốc sản xuất năm 2009: 348 tỷ USD
Tổng giá trị hàng công nghệ cao Mỹ sản xuất năm 2009: 142 tỷ USD
Xếp hạng của Mỹ: 2
Ngân hàng Thế giới cho rằng xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao liên quan trực tiếp đến sản phẩm có được do hoạt động nghiên cứu và phát triển tập trung, ví như công nghệ hàng không, máy tính, chất hóa học, hàng điện tử. Mỹ vẫn là nước sản xuất nhiều dược phẩm nhất thế giới. Tính toán của Ngân hàng Thế giới cho thấy Trung Quốc bắt đầu thu được nhiều tiền từ xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao hơn so với Mỹ từ năm 2005. Năm 2009, tổng giá trị hàng hóa công nghệ cao xuất khẩu của Trung Quốc đạt 348 tỷ USD.
Sản xuất than đá
Tổng sản lượng của Trung Quốc năm 2010: 3,24 tỷ tấn
Tổng sản lượng của Mỹ năm 2010: 985 triệu tấn
Xếp hạng của Mỹ: 2
Mỹ đứng đầu thế giới về sản xuất than đá cho đến năm 1984 và nay thua xa Trung Quốc. Mỹ sản xuất chưa đầy 1 tỷ tấn than đá năm 2010. Trung Quốc có được sản lượng gấp 3 lần Mỹ. Tổng sản lượng của Trung Quốc và Mỹ chiếm hơn nửa tổng sản lượng của thế giới.
Ngọc Diệp
Theo TTVN




Bài đáng đọc của Lưu Hiểu BaBehind The Rise of the Great Powers (Guernica Feb 2012)
Khó khăn của Nhật vì đồng Yen: Japan becomes land of the rising yen (Globe & Mail 28-1-12) -- Có nói đến VN
Francis FukuyamaFrancis Fukuyama on the Financial Crisis (The Browser 28-1-12) -- Fukuyama is always interesting!  Ông ta phân tích tại sao cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hoàn toàn là do Wall Street cố ý gây ra! ◄Global Risks 2012 - Seventh Edition
The World Economic Forum (WEF) is a Geneva-based non-profit organization best known for its Annual Meeting in Davos, Switzerland, the Annual Meeting of New Champions in China (Summer Davos) and the Su...- Extreme volatility in energy and agriculture prices
- Land and waterway use mismanagement
- Pervasive entrenched corruption
- Mismanaged urbanization

-Nước Mỹ có suy tàn không? Whether or not the U.S. is declining is the wrong question (FP 24-1-12) -- Stephen Walt xía vô!
"Tổn phí" của iPad: In China, Human Costs Are Built Into an iPad
 (NYT 25-1-12) -- Bad for users too!:

Harvard study finds the iPad can be a pain in the neck (LAT 25-1-12)  --Why the United States Will Never, Ever Build the iPhone (Atlantic 23-1-12) -- Tóm tắt bài trên New York Times


Năng lượng biển của Việt Nam nhiều hay ít?-Loại bỏ bóng ma lợi ích nhóm TP - Hội nghị Trung ương 3, Khoá XI, đã bắt đúng bệnh, khi chỉ mặt đặt tên ba cản trở lớn nhất của tái cơ cấu nền kinh tế là lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ, tính cục bộ. Nhưng cuộc chiến này không đơn giản.-Bộ máy Chính phủ: “Tôi tin là họ đang tạo được niềm tin” -Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành bày tỏ một số quan điểm về cách điều hành chính sách của bộ máy Chính phủ mới.. - Đầu năm đi chợ, choáng váng với giá thực phẩm (VTC).

Việt Nam cần cải cách để vượt “bẫy thu nhập trung bình” (DT). Không còn đường lùi (TP 27-1-12) -- P/v Trần Xuân Giá
-Xuân Quê hương và "chiếc áo đẹp" của vị Thứ trưởng Ngoại giao (TVN 18-1-12) --  "Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn đã mặc chiếc áo vét rất đẹp (mà ông đã hứa với các phóng viên)" Xuân này khởi động phong trào "người-mẫu-hóa" của nền ngoại giao Việt Nam? (Tiếp tục truyền thống của "đại sứ" Lý Nhã Kỳ năm 2011?)

--Thơm ngát hành phi (NLĐ 28-1-12)- Nguyên phó vụ trưởng Bộ Tài chính chiếm đoạt trên 80 tỉ đồng-
- Vào cuộc tái cấu trúc ngân hàng (PLTP).“Thoái vốn đầu tư ngoài ngành chính là sửa sai” Nhiều ý kiến đổ tất cả “tội vạ” cho các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước về hoạt động đầu tư tràn lan, đầu tư ra ngoài ngành..- Tái cơ cấu: Sáng tạo để tiếp tục đổi mới (VEF).- Thu hút đầu tư nhìn từ những dự án tỷ USD (VEF). - “Cách làm giàu khôn ngoan nhất là làm theo người giàu” (Dothi.net).
Khu kinh tế Định An – Trà Vinh  – Thu hút 3 dự án đầu tư 24.500 tỷ đồng (SGGP).  – Hơn 1.200 hộ nghèo được gác kèo ong ở rừng tràm U Minh Hạ.  ”Đây là lần đầu tiên nghề gác kèo ong lấy mật được hợp thức hóa sau hơn 20 năm tạm dừng do đề phòng cháy rừng tràm trong mùa khô.”

---
--Giá trên giấy -Luật sư Việt Nam đòi tư hữu hóa đất đai -Tái cấu trúc BĐS: Phải giảm được giá nhà (Vef).
-- Kinh tế năm 2012: Cần có quyết tâm, cách làm và tư duy mới (ĐCSVN). Có lẽ duy nhất báo ĐCSVN khen ngợi những con số VN đạt được trong năm qua là “ấn tượng”, và thấy “thắng lợi” của nền kinh tế năm 2012.

 

Ba Sương, những ngày trong sóng dữ

Bà Trần Ngọc Sương ngày 11-8 khi vừa nhận cáo trạng. ảnh Sáu Nghệ


Nguồn: --Ba Sương, những ngày trong sóng dữ (VNN ĐV 20-1-12)Gặp lại người phụ nữ Ấn tượng châu Á – Thái Bình Dương, từng được TAND huyện Cờ Đỏ (TP. Cần Thơ) gọi là “quyền lực tối cao” ở Nông trường Sông Hậu, bị can trong vụ án “Lập quỹ trái phép” ở nông trường này, những giáp ngày Tết.
Đình chỉ mọi hoạt động tố tụng với bà Ba Sương 
Trao đổi với Đất Việt qua điện thoại ngày 19/1/2012, bà Ba Sương cho hay Tết Nhâm Thìn này bà vẫn tiếp tục làm mứt khô để bán cho khách kiếm ít tiền tiêu Tết như đã làm trong nhiều cái Tết gần đây. Nhưng sau nhiều năm, đây có lẽ là cái Tết bà thảnh thơi nhất bởi quyết định đình chỉ vụ án “Lập quỹ trái phép” ở NTSH vừa được VKSND TP. Cần Thơ ban hành. Tuy nhiên, bà nói bà sẽ tiếp tục có ý kiến về lý do để đình chỉ vụ án mà VKSND TP. Cần Thơ viện dẫn trong quyết định 56/QĐ/KSĐT do ông Hồ Thanh Long ký.
Quyết định đình chỉ vụ án của VKSND TP.Cần Thơ ghi rõ: “Trần Ngọc Sương đã có hành vi “Lập quỹ trái phép” nhưng xét hoàn cảnh lịch sử xảy ra sai phạm và những tình tiết giảm nhẹ, công lao đóng góp của gia đình và của cá nhân Trần Ngọc Sương nên miễn truy cứu trách nhiệm hình sự ( khoản 1 điều 25 Bộ luật hình sự).
Đất Việt đăng lại loạt bài “Ba Sương, những ngày trong sóng dữ” trên báo bạn để bạn đọc có thể có cái nhìn toàn diện hơn về hoàn cảnh của người từng là "Người phụ nữ ấn tượng Châu Á-Thái Bình Dương”, Anh hùng lao động thời kỳ Đổi mới, đã vướng vòng lao lý như thế nào?
Cuộc điện thoại của một người quen những ngày cận Tết Canh Dần khiến tôi giật mình “Thấy hình như cô Ba Sương đang bán hàng ở vỉa hè trong TP.HCM”. Liên lạc lại, bà Trần Ngọc Sương (Ba Sương, nguyên Giám đốc NTSH) xác nhận: “Cô đang được tạm hoãn thi hành án. Tết này làm ít mứt khô ra vỉa hè bán kiếm đồng ra đồng vào tiêu Tết cho mấy sắp nhỏ. Cũng để kiếm chút tiền thuốc chữa bệnh”.
Trong tiếng ồn ào của khói bụi, còi xe huyên náo giữa thành phố đông dân nhất nước, thấy tiếng bà vẫn trong trẻo, dù thi thoảng ho hắt ra, mà thấy lòng nghèn nghẹn.
"Quỹ trái phép" từ đâu ra?
Năm 2009, bà ra tòa, trong vụ án “Lập quỹ trái phép” tại NTSH, bị cáo buộc phải đền bù hơn 4,3 tỷ đồng, bị cả tòa sơ thẩm và phúc thẩm tại Cần Thơ tuyên phạt 8 năm tù giam. Hiện, bà vẫn đang được tại ngoại với cái tuổi 61 và một mớ bệnh trên người (huyết áp, tiểu đường…), không nhà cửa, đang phải đi thuê trọ.
Năm 2009, khi 60 tuổi, bà Trần Ngọc Sương, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, nguyên Giám đốc NTSH ra tòa (ảnh chụp tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19/11/2009 ở trụ sở TAND TP. Cần Thơ) trong một vụ án gây rúng động dư luận: Lập quỹ trái phép, bị tuyên phạt 8 năm tù giam và buộc bồi thường hơn 4,3 tỷ đồng. Đầu tháng 4/2010, VKSNDTC ra kháng nghị đề nghị TANDTC tuyên hủy toàn bộ án sơ thẩm, phúc thẩm tuyên phạt bà để điều tra lại vụ án từ đầu. Ảnh: GVT.
Người phụ nữ từng có 28 năm gắn bó, xây dựng và lãnh đạo một nông trường được xem là điển hình của nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn thành công nhất (và duy nhất cả nước thành công đến thời điểm này), từng có những năm xuất-nhập khẩu hàng trăm triệu đô la tiền hàng hóa nông sản phẩm; từng chỉ đạo hàng ngàn công nhân nông nghiệp; từng lãnh đạo hơn 16.000 người dân thoát nghèo và làm giàu…, nay đang trở lại điểm xuất phát thuở nào của những người từng là “lính” của bà: mưu toan kiếm từng bữa cơm qua ngày bên hai thúng quà bánh vỉa hè, với hơn 3 triệu đồng tiền lương hưu ở một thành phố đắt đỏ nhất cả nước, và một bản án tù giam 8 năm đang treo lơ lửng.
Có thể xem năm 2009 là cơn sóng dữ lần thứ 4 ập đến cuộc đời bà. Người phụ nữ không chồng, không con, không nhà cửa…, từng vui vẻ trả lời những lời dạm tiếng duyên phận “Tôi đã có 2 người chồng, một ngừoi tên CÔNG và một người tên VIỆC. Chừng đó cũng đã quá đủ mệt rồi”.
Người phụ nữ từng nói với một nhà báo ở miền Tây sông nước “Tôi sẽ trọn đời ôm cục đất sống với nông dân”, nay đã phải rời xa, và rất có thể phải mãi mãi rời xa, mảnh đất mà bà từng hứa “ôm cục đất trọn đời sống” ấy, một mình về chốn thị thành, để mưu sinh những ngày cuối đời trên những vỉa hè con phố đầy bụi khói và tiếng còi xe.
Người phụ nữ năm nay đã 61 tuổi, là “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” từ năm 2000, là “Người phụ nữ ấn tượng Châu Á – Thái Bình Dương” năm 2002, là người từng nhận đủ huân huy chương Lao động Nhất, Nhì, Ba hiếm hoi ấy, nay vẫn đang miệt mài kêu oan lên cấp cao nhất của ngành Tư pháp cả nước: Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, về bản án “Lập quỹ trái phép” mà Tòa án Cần Thơ đang cáo buộc bà.
Ông Hoàng Ngọc Vĩnh (nguyên Vụ trưởng Vụ Kinh tế – Ban Kinh tế Trung ương Đảng) giật mình khi được hỏi về vụ án “Lập quỹ trái phép” ở NTSH. Ông nói ông biết cái quỹ đó từ những ngày còn đương chức (ông Vĩnh về nghỉ hưu năm 2008-NV).
Ông cũng biết rằng cái quỹ đó được thành lập trước cả khi quyết định 25-CP của Hội đồng Chính phủ ra đời, cho phép nền kinh tế 3 phần (Nhà nước - tập thể - cá nhân) được Phó Thủ tướng Đỗ Mười ký ban hành, theo Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị.
Theo lời bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19/11/2009 của luật sư Nguyễn Đăng Trừng, thì nguyên cố giám đốc NTSH, ông Trần Ngọc Hoằng (Năm Hoằng, cha của bà Ba Sương) đã thực hiện việc lập quỹ được gọi là trái phép này từ năm 1979.
Chỉ vài tháng sau khi cùng 16 chàng trai, cô gái vào vùng đất chua phèn, lung bào ở huyện Cờ Đỏ (tỉnh Hậu Giang cũ, nay là TP. Cần Thơ) khai hoang phục hóa hơn 3.500 ha đất của nông trường Quyết Thắng (về sau là NTSH), ông Hoằng đã cho làm kinh tế thêm, tận dụng đất bờ vùng bờ thửa nuôi trồng các sản phẩm phụ.
Đến khi xuất vốn mua cây bạch đàn về trồng, ông từng nói một câu mà đến nay ông Vĩnh còn nhắc lại “Sẽ cho mỗi cán bộ công nhân viên nông trường 10 lượng vàng từ nguồn thu này” (thời điểm giá vàng những năm 80 thế kỷ trước - NV). Bà Ba Sương cũng xác nhận với chúng tôi điều này.
Trường Trung học phổ thông - kỹ thuật Trần Ngọc Hoằng, ngôi trường mang tên cố Giám đốc là người có công gầy dựng, khai phá mảnh đất sình lầy hoang hóa thành nông trường trù phú hiện nay. Đây cũng là ngôi nhà bê tông đầu tiên được xây dựng tại nông trường Sông Hậu và bằng tiền vốn của nông trường. Ảnh: GVT.
Bà Trần Ngọc Anh (56 tuổi, khu 3 NTSH), năm 2009, chỉ tay vào gian nhà nay đã được xây cất khang trang, nói rằng những cột chính, vì kèo đang sử dụng trong nhà hiện nay, chính là bộ khung nhà được ông Năm cho ngày trước để dựng nhà, từ chính cây bạch đàn nông trường trồng được.
Nguồn thu từ cây bạch đàn trồng trên đất NTSH, và các sản phẩm bàn ghế xuất khẩu sau này dưới thời giám đốc Trần Ngọc Sương (Ba Sương), cũng là nguồn tiền lớn nhất trong số tiền “Lập quỹ trái phép” mà các cơ quan hành pháp, tư pháp ở Cần Thơ cáo buộc bà cùng các cộng sự trong vụ án gây rúng động dư luận cả trong và ngoài nước tại NTSH năm 2009 vừa qua.
Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cũng xác nhận “Đây không phải là quỹ trái phép, mà phải gọi là quỹ đời sống. Tôi có biết quỹ này” trong thời gian bà Bình thay mặt Văn phòng Chủ tịch nước đi kiểm tra, xem xét việc phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho tập thể và cá nhân ở NTSH.
Đây có thể nói là nông trường hiếm hoi trong cả nước 2 lần tập thể được phong tặng Anh hùng lao động thời kỳ Đổi mới, cả cha và con cùng vinh dự được nhận danh hiệu cao quý này của Nhà nước phong tặng cá nhân.
Những cơn sóng dữ trong đời
Trong một lần trả lời phỏng vấn báo Doanh nhân Sài gòn cuối tuần, bà Ba Sương thừa nhận, lần gặp sóng dữ đầu tiên của cuộc đời bà là năm 1993, khi hàng ngàn hộ dân tập trung khiếu kiện đòi đất nông trường.
Ông Huỳnh Ngọc Ba (Đại tá quân đội, nguyên Phó Chánh văn phòng Bộ tư lệnh Quân khu 9, nguyên Phó phòng điều tra hình sự BTL QK 9) lúc bấy giờ trực ban tác chiến quân khu cho hay, mấy km quốc lộ 91 gần như tê liệt nhiều ngày liền vì dân tập trung phong tỏa nông trường đòi đất theo bằng chứng khoán chế độ cũ cấp cho họ.
Quân khu 9 đã phải can thiệp giải tỏa trong một đêm, sau khi sàng lọc đối tượng. Nhiều kẻ cầm đầu đã phải ra tòa sau vụ việc đó.
16 tỷ đồng, đó là số tiền NTSH đã phải đứng ra vay ngân hàng, thay mặt cho địa phương, chi trả tiền đền bù đất cho những hộ có văn bằng chứng khoán đất chế độ cũ cấp, theo chủ trương của tỉnh Hậu Giang lúc bấy giờ. Số tiền đó phải chịu lãi suất theo quy định.
Nhiều năm sau, khi Bộ Tài chính mới quyết định chi trả lại số tiền 16 tỷ này cho NTSH, theo đề nghị của địa phương, thì số tiền đó đã lên tới 54 tỷ đồng cả gốc lẫn lãi.
Mấy chục tỷ tiền lãi đó, nông trường phải gồng mình gánh chịu… Lý do, luật tín dụng lúc bấy giờ không cho phép doanh nghiệp Nhà nước mua đất nông nghiệp nên phải đành phải chấp nhận vay theo lãi suất thương mại.
Cuộc lao đao đó của NTSH kéo dài ảnh hưởng cho tới năm 2003, khi Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Cần Thơ đệ trình kế hoạch “khoanh nợ”, chuyển từ vốn vay ngắn hạn sang dài hạn giúp cho nông trường.
Ông Lê Phước Thọ (Sáu Hậu), nguyên Trưởng ban Tổ chức Trung ương nói với phóng viên rằng ông chỉ tin Ba Sương "có lỗi, chứ khó có thể có tội" vào tháng 11/2009. Ảnh: GVT.
Và cơn sóng dữ thứ 3 ập đến NTSH là vào thời điểm khoản nợ trên 200 tỷ đồng kéo dài, xuất phát cũng từ việc vay vốn ngắn hạn tập trung vào đầu tư dài hạn (hệ thống hạ tầng nông nghiệp và hạ tầng giao thông, xã hội).
Với một doanh nghiệp với doanh số hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm, đó không phải là dư nợ quá lớn. Nhưng như bà Ba Sương nói, việc đầu tư trong nông nghiệp thu lãi rất ít, và là thu lâu dài, thì việc trả các khoản “lãi chồng lên lãi” cũng khiến nông trường nghiêng ngả.
Ông Lê Văn Thơ (Sáu Thơ, Giám đốc chi nhánh ngân hàng NN&PTNT, chủ nợ lớn nhất của NTSH) vào tháng 11/2009 vẫn khẳng định “tôi ở trong ruột tôi biết. Tội của bà Ba Sương là “tội hào phóng” quá, “rộng rãi” quá. Chứ bà Sương làm không tốt, làm sao tôi thu được nợ. Dự kiến của tôi là sau 10 năm sẽ thu hết nợ, nông trường sống. Nếu nhìn như thanh tra, công an thì con số trên sổ sách có thể thành tội hình sự hết. Còn nhìn dưới góc kinh doanh thì anh sẽ thấy cân đối dễ lắm. Hạ tầng ngon rồi, chỉ còn tổ chức sản xuất cho tốt thì nông trường cứ thế đi lên”.
Bà Sương cũng xác nhận, thuở bà còn đương chức, hằng năm nông trường luôn dập dìu đón khác tới thăm. Mỗi dịp lễ tết, thì các ban ngành trong tỉnh cũng luôn ghé lại. Tuy nhiên, bà nói rằng bà chả phải “hào phóng” hay “rộng rãi” gì quá mà thành “tội” như ông Sáu Thơ nói. Những đoàn khách tới thăm, khi về nông trường cũng chỉ có chút cây nhà lá vườn làm quà, bởi “làm nông nghiệp lãi rất ít và rất lâu mới có lãi”.
Ông Thơ còn cho hay, khi bắt đầu thanh tra nông trường từ năm 2006, ông được mời vào làm thành viên, nhưng ông phản đối vì “không có gì phải thanh tra hết. Và tôi cũng không có chức năng đó”. Ngoài ra, từ năm 2003, ông đã đưa nhân viên ngân hàng vào nông trường “cắm chốt” giám sát nguồn vốn, và khẳng định tình hình tài chính đã bắt đầu khỏe mạnh trở lại.
Ba lần trước, NTSH đều vượt qua. Nhưng dường như “thuận bất quá tam”, đến cơn sóng dữ 2009, sau nhiều năm thanh tra, rồi tới điều tra, rốt cuộc thì AHLĐ Trần Ngọc Sương phải ra trước vành móng ngựa với bản án 8 năm tù giam mà bà đến tháng 11/2009 vẫn sửng sốt không hiểu vì sao bản thân chi tiêu tới số tiền nhiều như vậy?
Bà Ba Sương cho hay, trong khi đi công tác vẫn phải “ăn mắm mút giòi”, tiết kiệm từng đồng chi phí tiền khách sạn, quà cáp. Bản thân không hề có tên trong ban chấp hành công đoàn…
Ông Lê Phước Thọ (Sáu Hậu, nguyên Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng) khi trả lời TS về NTSH và cá nhân bà Trần Ngọc Sương, đã nói rằng “không phải Ba Sương làm gì cũng đúng hết đâu”.
Nhưng khi được hỏi “Vậy cá nhân ông, là người đã biết cha con ông Năm Hoằng hàng chục năm nay, có cho rằng bà Ba Sương có tội không?’, ông khẳng định dứt khoát “Tôi tin Ba Sương có lỗi, nhưng khó có thể có tội”.
-Vụ Ba SươngBa Sương, những ngày trong sóng dữ (VNN ĐV 20-1-12) -- Ba Sương, những ngày trong sóng dữ (2) (ĐV 28-1-12) 
61 tuổi, bà bật khóc vì đã không giữ được lời hứa giao lại NTSH trọn vẹn cho một lễ kỷ niệm 30 năm xây dựng, tồn tại và phát triển đúng như những gì công sức của hàng chục ngàn con người đã phải bỏ ra đáng được tưởng thưởng.

Trao đổi với Đất Việt qua điện thoại ngày 19/1/2012, bà Ba Sương cho hay Tết Nhâm Thìn này bà vẫn tiếp tục làm mứt khô để bán cho khách kiếm ít tiền tiêu Tết như đã làm trong nhiều cái Tết gần đây. Nhưng sau nhiều năm, đây có lẽ là cái Tết bà thảnh thơi nhất bởi quyết định đình chỉ vụ án “Lập quỹ trái phép” ở NTSH vừa được VKSND TP. Cần Thơ ban hành. 

Tuy nhiên, bà nói bà sẽ tiếp tục có ý kiến về lý do để đình chỉ vụ án mà VKSND TP. Cần Thơ viện dẫn trong quyết định 56/QĐ/KSĐT do ông Hồ Thanh Long ký.
Quyết định đình chỉ vụ án của VKSND TP.Cần Thơ ghi rõ: “Trần Ngọc Sương đã có hành vi “Lập quỹ trái phép” nhưng xét hoàn cảnh lịch sử xảy ra sai phạm và những tình tiết giảm nhẹ, công lao đóng góp của gia đình và của cá nhân Trần Ngọc Sương nên miễn truy cứu trách nhiệm hình sự ( khoản 1 điều 25 Bộ luật hình sự).
Đất Việt đăng lại loạt bài “Ba Sương, những ngày trong sóng dữ” trên báo bạn để bạn đọc có thể có cái nhìn toàn diện hơn về hoàn cảnh của người từng là "Người phụ nữ ấn tượng Châu Á-Thái Bình Dương”, Anh hùng lao động thời kỳ Đổi mới, đã vướng vòng lao lý như thế nào?

Người phụ nữ từng nặng 54kg, ngày ra tòa chỉ còn 38kg, với hàng loạt bệnh tật trong mình, sau 28 năm lội ruộng, sống cùng nông dân.
28 năm lội ruộng, nguyện "trọn đời ôm cục đất sống với nông dân", nay bà Ba Sương đang phải rời xa và có lẽ sẽ mãi rời xa NTSH. Trong phiên xử phúc thẩm ngày 19/11/2009, khó có người có thể hình dung được tâm tư của bà khi vị đại diện VKS giữ quyền công tố tại tòa đang luận tội. Ảnh: GVT.
110 người dân từng ký vào đơn xin đi tù thay bà, sau một vài lý do, động tác xác minh, chỉ còn hơn 20 người vẫn cương quyết khẳng định chữ ký trong đơn của họ. Họ đâu biết rằng, nguyên tắc của pháp luật không cho phép điều đó.
Người đàn bà của đất
Nhà báo Duy Tương (bút danh Sáu Nghệ) từng viết trên báo Tiền Phong rằng, với việc 110 người dân đứng đơn "xin ở tù thay", là những bông hoa đẹp nhất mà bà Ba Sương từng nhận, vào những giây phút tột cùng cay đắng của cuộc đời mình. Dù, cuộc đời bà từng nhiều lần ôm hoa tôn vinh trước đó.
Nhưng ít người từng có cơ hội đọc kỹ hồ sơ diễn tiến vụ việc để biết rằng, trong số hơn 300 người dân từng ký chung vào bản kiến nghị xin giảm án cho bà Ba Sương sau phiên tòa sơ thẩm từng gửi đi trước đó, một bản kiến nghị chưa từng thấy có động tác “xác minh sự chính xác” của địa phương, có nhiều người trong đó trước đây từng tố cáo cha con bà Ba Sương “thu sai thu vượt” định mức nhà nước quy định.
Nếu nói “Cố ý làm trái…”, có thể cũng phải xem xét tới “trách nhiệm” của cố giám đốc, Anh hùng lao động Trần Ngọc Hoằng. Thuở mới mở mang, cải tạo nông trường, ông cho người đi kiếm những người dân nghèo tận khổ mọi miền làng quê, thậm chí cả những người từng vượt biên trái phép… về dạy cho cách làm giàu trên mảnh đất nông thôn.
Những ngày đó, ai có sức nhận bao nhiêu đất, ông giao bấy nhiêu. 2,5 ha cũng được, 5 ha cũng xong, thậm chí 10 ha, 20 ha… Cứ đủ sức làm và làm có lãi là ông ký giao khoán đất, gắn bó quyền lợi của người lao động với chính mảnh đất họ kiếm sống, nuôi sống gia đình.
Rồi ông đặt ra khái niệm “Công nhân nông nghiệp” với 5 tiêu chí; rồi ông trả lương cao gấp 2 – 2,5 lần theo quy định của nhà nước cho giáo viên về NTSH giảng dạy.
Rồi ông Năm Hoằng, sau đó tới bà Ba Sương cho xây dựng trường học, điện lưới, đường sá, cầu cống, trạm xá…
Tất cả từ vốn vay ngân hàng và tiền sinh lời, tiền đóng góp theo hợp đồng ký quỹ của người nông dân, mà đến năm 2004, khi bàn giao toàn bộ hệ thống hạ tầng về cho địa phương, được định giá 42 tỷ đồng mà mãi đến năm 2009 nông trường vẫn chưa nhận được đồng nào trả lại từ ngân sách.
Đường vào Nông trường Sông Hậu (xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ) hôm nay. Ảnh chụp tháng 11/2009. Ảnh: GVT.
Thậm chí, trẻ học từ mẫu giáo tới phổ thông tại nông trường được miễn học phí, đi học xa được hỗ trợ mỗi tháng 16kg gạo… và được cấp học bổng 100 ngàn - 150 ngàn - 200 ngàn/ người/ tháng tùy theo kết quả học tập của từng học sinh.
Những điều đó, chưa từng có tiền lệ. Nếu xét theo quy định hiện hành về chế độ học phí, tiền trường…, cũng hoàn toàn có thể là “Cố ý làm trái…” nếu đưa điều mà Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường nói về vụ án tại NTSH “có thể chưa áp dụng nhuần nhuyễn luật vào cuộc sống” khi trả lời bên hành lang Quốc hội tháng 11/2009 vừa qua.
Ông Hoàng Ngọc Vĩnh còn nhớ: Chính cách giao khoán đất của NTSH là bài học thực tiễn, để Đảng sau khi nghiên cứu nhiều bài học, đã ra Nghị quyết khoán 100 trong nông nghiệp-nông thôn.
Ông Vĩnh cũng xác nhận rằng chính ông là người trực tiếp đi nghiên cứu tại NTSH để tham mưu cho Ban Kinh tế TƯ trong Nghị quyết này.
Nếu chiếu theo quy định cũ về quản lý đất đai trong nông nghiệp, thì cách làm của ông Năm Hoằng, bà Ba Sương cũng hoàn toàn có thể là “Cố ý làm trái các quy định…” tại thời điểm bấy giờ.
Chính vì điều đó mà từng có nhà báo đặt câu hỏi: “Trong cùng một thời điểm, cùng một con người, cùng một hành vi, chẳng lẽ lại vừa là Anh hùng, vừa là Tội phạm?”
Tuy nhiên, điều này đã được kết luận trong một văn bản khác “Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Không trông chờ, ỷ lại cấp trên”.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng từng thốt lên với những người trong cuộc “Tôi chịu cha con anh lắm, chỉ biết xin việc, không xin gì khác”.
… Vừa thu vén xong NTSH, ông Năm Hoằng đã về miệt An Biên (Kiên Giang) xây dựng mô hình NTSH 2. Rồi đến năm 1986, ông lại ngược về Cù Lao Dung (Sóc Trăng) tìm kiếm đường đi mới của đất và cách trồng cây lúa mới.
Bà Ba Sương còn nhớ, để xây dựng nông trường 30-4 ở Sóc Trăng, ông Năm Hoằng đã rút khỏi NTSH những cán bộ giỏi nhất lúc bấy giờ.
Chưa hết, ông mang theo 5 ngàn tấn lúa “làm vốn”. Nếu theo thời giá hiện hành, mỗi kg lúa trị giá 4.000 đồng, tính ra ông đã rút đi của NTSH 20 tỷ đồng để xây dựng một nông trường mới, mà về sau đã phải giải tán.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt và cố Giám đốc NTSH Trần Ngọc Hoằng. Nhìn bức ảnh này, dễ hiểu tại sao đến những tháng cuối đời, cố Thủ tướng vẫn trăn trở đặt nhiều câu hỏi về lý do xảy ra vụ án ở NTSH. Ảnh tư liệu.
Trong suốt 14 năm làm giám đốc nông trường 30-4, ông Năm Hoằng không nhận một đồng tiền lương ở đây, bà Trần Ngọc Sương cho biết.
Nhưng đó lại là một câu chuyện khác….
Ba ước mơ, hai cuộc đời
“Trong cuộc đời ba tôi, tôi biết ít nhất có ba mô hình mà ông không nguôi trăn trở, lao tâm khổ tứ với mong muốn được cống hiến cho Đảng và Nhà nước:
Một là, mô hình vùng trũng sản xuất lúa mùa nổi: đã cải tạo và khai hoang đất thành “bờ xôi ruộng mật”; trong đó sản xuất chắc ăn 2 vụ lúa + 1 vụ màu + 1 vụ thủy sản; chưa kể tận dụng đất để trồng rừng phân tán, trồng cây ăn trái (mà chủ lực là cây xoài cát Hoà Lộc) và phát triển chăn nuôi theo một mô hình hoàn toàn mới và đầy tính sáng tạo, mà ông gọi là mô hình “RRRVAC”(ruộng-rẫy-rừng-vườn-ao-chuồng) tại NTSH.
Hai là, mô hình vùng biển ngập mặn: khai hoang, cải tạo để trở thành mô hình 1 vụ lúa + 2 vụ màu, kết hợp nuôi trồng thủy sản và trồng rừng lấn biển tại nông trường 30/4 ở Sóc Trăng.
Ba là, mô hình nông - công nghiệp tại vùng đất cao nguyên: với mô hình này, ông có ý định xây dựng tại khu vực Suối Nhung, Mã Đà (thuộc tỉnh Sông Bé cũ). Sau khi khai hoang và cải tạo xong, sẽ trồng cây công nghiệp, cây ăn trái, trồng rừng và phát triển chăn nuôi cũng như công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, mô hình này chưa kịp triển khai thì ông đã mất….”, bà Trần Ngọc Sương cho hay.
Gặp bà Trần Ngọc Sương, người đối diện dễ nhận thấy trong thân hình nhỏ nhắn của người phụ nữ năm nay đã 61 tuổi một sự hiểu biết về đất đai nông nghiệp và các vấn đề về nông thôn với một nội lực và niềm say mê không mệt mỏi, cộng với tính cách ăn nói thẳng thắn, khí khái rất Nam Bộ.
Cái khí chất miền Tây Nam Bộ của bà, mà đến nay nhà báo Sáu Nghệ ở miền Tây vẫn nhớ tiếng “hừ” của ông Năm Hoằng ít lâu trước khi ông mất “Tui chết rồi, chỉ sợ tụi nhỏ sẽ bị người ta làm khổ”, cũng rất có thể là một nguyên do đưa đến nhiều biến cố trong cuộc đời bà.
Năm 2009, người con gái yêu thương của ông ra tòa trong một vụ án gây rúng động dư luận xã hội.
Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười trong một lần về thăm NTSH, chụp ảnh chung với cha con ông Năm Hoằng. Khi là Phó Thủ tướng, ông Đỗ Mười là người ký quyết định 25 cho phép kinh tế ba phần, quyết định được xem là "cứu cánh" cho nền kinh tế lúc bấy giờ. Ảnh tư liệu.
Cũng những ngày cuối tháng 11/2009 khi phiên phúc thẩm sắp diễn ra đó, bà Ba Sương vẫn nghiêng nghiêng cuốn sổ tay để mô tả về địa thế, địa hình của mảnh đất gần 7.000 héc-ta của NTSH, lý giải tại sao ở NTSH có thể trồng được 2 vụ lúa, 1 vụ màu, kết hợp nuôi trồng thủy sản trên đồng ruộng….
Tại sao gọi là “Ao cá Bác Hồ”, tại sao gọi là Khu nông nghiệp công nghệ cao… Tại sao cả việc “tôi chưa “ăn” mà nông trường còn khó khăn như vậy, tôi mà “ăn” thì nông trường sập tiệm lâu rồi”…?
Rồi bà lý giải tại sao phải cổ phần hóa, lý do tại sao phải nâng tầm thành tập đoàn kinh tế nông nghiệp tiền thân từ NTSH ở thế hệ thứ ba…, những dự định mà bà còn dở dang khi cơn sóng dữ thứ 4 trong đời ập tới.
Thiếu một người lãnh đạo hiểu về đất NTSH như Ba Sương, liệu NTSH có thể giữ để phát triển, mãi là niềm tự hào về một mô hình kinh tế nông nghiệp-nông thôn như trước đến nay? Đó là một câu hỏi mà mấy ai dám khẳng định trả lời vào thời điểm này.
… Nhiều năm trước, sau khi xây dựng xong điện, đường, trường học, trạm xá…, NTSH mới “dám” làm tới việc xây dựng lại trụ sở Nông trường Bộ cho sạch sẽ, tươm tất hơn. Ngày khánh thành, trên đường từ Cần Thơ về, Ba Sương có ghé chợ mua ít hoa tươi về trang trí cho tươm tất một ngày trọng đại.
Cũng hôm đó, Ba Sương khóc hết nước mắt tức tưởi rồi cắm cúi viết “Đơn xin nghỉ việc”. Lý do: Ông Năm Hoằng chỉ mặt đứa con gái quát ầm ầm trong cơ quan vì “lãng phí tiền của nông trường”.
Chưa hết, ông còn yêu cầu triệu tập gấp một cuộc họp Chi bộ nông trường để “kiểm điểm đồng chí Ba Sương vì lãng phí của công”.
Cuộc họp đó đã không bao giờ diễn ra, vì người biết câu chuyện này sau khi nhìn thấy những giọt nước mắt tức tưởi của Ba Sương đã tìm tới ông Năm Hoằng để giải thích việc “nên có ít hoa tươi trong ngày này cho tươm tất”.
Lá đơn xin thôi việc của Ba Sương sau đó được kẹp lại trong cuốn sổ công tác, và ông Năm Hoằng cũng “lờ” đi như chưa từng có chuyện yêu cầu cuộc họp kiểm điểm xảy ra.
NTSH những ngày đầu mới khai phá. Ba Sương là người phụ nữ gầy gò ngồi ngay cạnh tay trái ông Năm Hoằng (người đứng, mặc áo đen) trong một cuộc họp. Bà đã mất 28 năm của cuộc đời để theo bước cha, góp phần gây dựng nên một vùng đất trù phú như hôm nay. Ảnh: Tư liệu.
Hơn 10 năm sau, người từng khuyên nhủ Ba Sương “không nên nghỉ việc”, trong những ngày cuối tháng 11/2009, khi ngồi tại Cần Thơ trong giờ phút chờ tòa phúc thẩm tuyên án vụ “Lập quỹ trái phép” tại NTSH, lắc đầu “Nếu ngày đó, tui không lỡ miệng hòa giải giữa hai cha con ổng, thì có lẽ, cuộc đời chị Ba Sương nay đã chuyển theo hướng khác”.
Đêm 21/11/2009, khi hàng chục ngàn người dân NTSH đang say trong giấc nồng no ấm, thì cô Ba Sương của họ lầm lũi, cặm cụi ra xe đò về gấp TP.HCM tìm một chỗ tá túc.
Chỉ hơn một tháng sau, bà Ba Sương ôm di ảnh ông Năm Hoằng lặng lẽ chuyển khỏi căn nhà trong một hẻm nhỏ trên đường Điện Biên Phủ (Quận Bình Thạnh, TP. HCM) với lý do phải chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn theo yêu cầu của Ban giám đốc mới NTSH.
Căn nhà này, trước ông Năm Hoằng mua để cán bộ nông trường có nơi đi về nghỉ ngơi khi lên TP.HCM công tác. Và ông, rồi con gái ông, là 2 trong số rất nhiều người từng lưu lại, gắn bó với nơi này.
Trong văn phòng Nông trường Bộ (cách gọi quen thuộc của những người ở NTSH), căn phòng làm việc năm xưa của cố giám đốc Trần Ngọc Hoằng, rồi sau này là nguyên Giám đốc Trần Ngọc Sương, có một bàn thờ nhỏ thờ di ảnh và bài vị của ông.
Giáp Tết Canh Dần 2010, cách đó hơn 200 km, bên một vỉa hè đầy khói bụi và tiếng còi xe, người con gái yêu thương của ông đang lụi cụi bên gánh mứt khô để “lo cái Tết cho mấy sắp nhỏ”.
Nếu ngày đó, lá đơn xin thôi việc của Ba Sương đã được cố Giám đốc Năm Hoằng ký, rồi cuộc họp kiểm điểm vì tội “tiêu xài hoang phí” diễn ra, thì biết đâu được…!
Nếu như vậy, thì công luận sẽ không bao giờ phải đặt câu hỏi “Bỏ tù một người như Ba Sương, chúng ta được gì?”.
“Trong vụ này chúng ta phải làm cho rõ ra để xã hội có đồng thuận cao hơn. Bỏ một người vào tù không quan trọng, quan trọng hơn là để những người ở ngoài tìm được những giá trị sống tốt hơn (...) Phải thấy rằng giữa công và tội có một mối liên hệ với nhau trong cuộc sống liên tục của một con người. Cái gì khiến một người từ có công trở thành có tội? Phải trả lời câu hỏi đó”.
Nhà sử học, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc nói với báo Tuổi trẻ.
theo Trường Minh (VietNamNet)

- Nhìn lại vụ án Nông trường Sông Hậu: Một lần viết báo nói dối
(Tamnhin.net) - Ngày 19/1/2012, Viện KSND TP Cần Thơ đã trao quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can đối với bà Trần Ngọc Sương, cựu GĐ Nông trường Sông Hậu và 4 người khác. Nhân dịp này, tôi xin có lời đính chính một chi tiết cố ý viết sai sự thật trong lần đưa tin TAND TP Cần Thơ xử phúc thẩm ngày 19/11/2009.

Bà Trần Ngọc Sương được cựu Phó thủ tướng Đoàn Duy Thành đến thăm tại Cần Thơ ngày 19-11-2011. Người đứng là luật sư Nguyễn Trường Thành, bảo vệ quyền lợi cho bà trong vụ án Ảnh: Sáu Nghệ
Tin ấy, đoạn kết như sau: “Suốt buổi sáng xét xử, bà Sương bị bệnh, không thể đứng nên được phép ngồi trả lời. Khi Hội đồng xét xử nghị án, bà Sương bệnh trở nặng, phải vào cấp cứu ở Bệnh viện Hoàn Mỹ - Cửu Long, nên khi tòa tuyên án không có mặt. Bà Sương đã được xe cấp cứu chuyển lên Bệnh viện Thống Nhất ở TPHCM trong đêm”. Thực tế, đêm hôm ấy và mấy ngày sau, bà Trần Ngọc Sương, cựu Giám đốc Nông trường Sông Hậu, vẫn ở Cần Thơ.

Cố ý viết sai sự thật, tôi xin phép được trình bày nguyên nhân như sau. Từ khi mở ra vụ án ở Nông trường Sông Hậu, nỗi lo sợ lớn nhất của nữ Anh hùng Lao động Trần Ngọc Sương là bị bắt vào tù. Cũng dễ hiểu nên nhiều người và tôi chia sẻ. Nên những lần bà phải tiếp nhận các văn bản tố tụng của vụ án, bà đều tìm cách để không bị bắt giữ, sau mỗi lần như thế, tôi cùng nhiều người thầm chung vui cùng bà.


Nhưng ra tòa phúc thẩm, bản án tuyên là có hiệu lực thi hành ngay, làm sao tránh được bị bắt vào tù? Suốt buổi sáng căng thẳng, tình hình đã rất rõ là tòa sẽ y án sơ thẩm 8 năm tù với bà Sương. Lúc đó khoảng 13 giờ 20 phút, tòa nghỉ để nghị án và cho biết, 15 giờ sẽ tuyên án. Bản thân tôi lúc đó rất mệt mỏi, còn bà Sương chắc chắn mệt mỏi gấp bội phần. Nhưng về nhà người em của bà cách tòa án chừng cây số, bà vẫn không dám nghỉ mà còn phải suy tính làm sao để không bị bắt. Cho đến giờ, tôi không hiểu được sức mạnh ở đâu cho bà như vậy, trong một cơ thể nhỏ bé, già yếu lại bệnh tật mà một nhà thơ đã viết “ngoài hiên trát gọi, thân còm chị đi”. Luật sư Nguyễn Trường Thành đề xuất, khi tuyên án, bà giả ngất xỉu. Bà lắc đầu, mình là Anh hùng không thể gục ngã như thế được. Tính toán 36 chước, chỉ thấy bỏ chạy trước là hay.


Bà trùm khoăn kín mặt, đeo kính, để một người em chở bà chạy theo Quốc lộ 91 ngược mạn Trà Nóc, xuống một bến phà để sang sông Hậu và lên bờ tỉnh Đồng Tháp rồi kiếm xe chạy về thành phố Hồ Chí Minh. Bà phải trùm kín mặt, và không đi đường qua phà Cần Thơ đông người (lúc đó còn phà, chưa có cầu Cần Thơ) để tránh bị phát hiện. Vì nếu bị phát hiện, biết đâu bà sẽ bị chẹn bắt giữa đường? Tôi xót xa cho bà vô cùng, hồi nào đi đâu cũng được long trọng đón tiếp, nhiều hoa và tiếng vỗ tay. Nhưng nom bà vẫn rắn rỏi, nhẹ nhàng bình tĩnh như không, chỉ có nước da tái nhợt càng tái nhợt trong nắng gắt quá trưa.


Sau này, tôi biết, bà một mình lủi thủi xuống chiếc phà cũ kỹ, người bà đã nhỏ còn phải cố thu mình để khuất lấp giữa nhiều người khác, vượt sông Hậu mênh mông. Không biết sông Hậu lúc đó xanh hay bạc, sóng lớn hay nhỏ, chỉ biết sông Hậu muôn đời rộng mênh mông, chiếc phà cũ kỹ đi mãi rồi cũng qua, lên được bờ, bà nhìn quanh rất nhanh và bước đến một ông xe ôm luống tuổi, nhờ chở đến bến xe cách đó mấy chục cây số. Từ sáng bà chưa ăn gì, chắc lúc ấy bà đói và sắc mặt nhợt nhạt lắm nên ông xe ôm luống tuổi phải giật mình, khi được nhờ đã vội chạy mua cho bà ổ bánh mì và chai nước. Không dám nấn ná lâu ở bến phà, vừa ngồi sau xe ôm, bà vừa gặm ổ bánh mì. Chiếc xe đang chạy thì điện thoại di động của bà đổ chuông, bà ngừng nhai bánh mì. Người em cho biết, tòa tuyên y án sơ thẩm nhưng không bắt ai, cho tất cả về nhà. Bà hỏi lại, có thật không bắt ai? Người em khẳng định lần nữa, những người bị kết án không bị bắt và họ đã về nhà hết rồi. Bà nói nhỏ với người chạy xe ôm, cho bà quay lại bến phà để trở về Cần Thơ.


Nhưng khi viết tin, tôi và vài đồng nghiệp cùng luật sư của bà suy tính, biết đâu đêm nay hay ngày mai, ngày kia sẽ bắt bà? Nên bàn với nhau, viết bà bị bệnh nặng, đang phải cấp cứu ở bệnh viện nào đó. Nhưng hôm sau, có một tờ báo làm phóng sự ảnh, chụp bà ngồi trên ghế bố ở nhà người em của bà ở Cần Thơ và chú thích, chụp đêm 19-11. Tựa như “lạy ông tôi ở bụi này”, chúng tôi lại nơm nớp lo. Nhờ trời, tất cả vẫn êm.


Chi tiết cố ý viết sai sự thật không hại ai nhưng tôi rất băn khoăn, mong có dịp nói lại. Nay đã có sự khoan dung, vụ án được đình chỉ, cũng là dịp cho phép tôi giải trình và kính gửi lời xin lỗi quý bạn đọc về chi tiết viết sai.


Đến đây, tôi chợt nhớ chuyện khác về bà Sương, liên quan một người bạn của tôi ở một tạp chí nghiên cứu lý luận. Anh bạn này biết bà Sương khi bà đã lâm nạn, nhưng ngày bà phải rời ngôi nhà của Nông trường Sông Hậu ở thành phố Hồ Chí Minh để đi kiếm nhà trọ, vợ chồng anh lại có mặt giúp đỡ. Đồ đạc của bà hầu như chẳng có gì và anh bạn kể, có giá trị nhất là chiếc va li lớn đã cùng bà đi nhiều nước trên thế giới. Va li trống rỗng, nhận biết được đã qua nhiều cửa khẩu hàng không quốc tế vì có tem dán chi chít, và giá trị cũng chỉ ở dấu vết tem dán ấy, dấu vết của một thời vang bóng!


Nhưng thời không vang bóng mấy năm qua, bà lại được nhiều người làm thơ đề tặng, những người đã gặp lẫn chưa từng gặp bà. Bài Về một người anh hùng của Đoàn Xuân Hòa, tháng 12 năm 2010, với lời đề “Kính tặng chị Ba Sương” có những câu: “Hậu Giang gió nổi bời bời/ Người ta một nắng, chị thời … Ba Sương/ Theo cha đi mở nông trường/ Sáu mươi tóc vẫn còn vương mùi phèn/ Giữa bùn lòng mở cánh sen/ Thương bao phận khó mà quên phận mình/ Không gia cư, chẳng gia đình”. Ôi, mọi hành trình đều có kết thúc! Sự kết thúc hành trình của bà vẫn trọn vẹn trở về trong tình yêu thương, quý trọng của rất nhiều người, có lẽ ông hoàng bà chúa cũng chỉ mong được vậy mà thôi.

Sáu Nghệ

--Đình chỉ tố tụng với Anh hùng Trần Ngọc SươngĐài Tiếng Nói Việt Nam

9h sáng 19/1, Viện KSND thành phố Cần Thơ đã tống đạt quyết định về việc “Đình chỉ mọi hoạt động tố tụng” đối với nguyên Giám đốc Nông trường Sông Hậu.  

Quyết định số 56/QĐ/KSĐT do Viện trưởng Viện KSND thành phố Cần Thơ Hồ Thanh Long ký ngày 17/1/2012.
Viện KSND thành phố Cần Thơ căn cứ khoản 1, điều 25 của Bộ Luật hình sự để ban hành quyết định mang nội dung “miễn truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với bà Sương.


Như vậy, kiến nghị đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra đối với bà Trần Ngọc Sương sau hơn 5 tháng kể từ ngày 12/8/2011, khi Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam có công văn gửi Viện trưởng VKSND Tối cao và Chánh án TAND Tối cao nay đã có kết quả.
Bà Sương nói vì có niềm tin mãnh liệt và vững chắc vào sự sáng suốt của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tin tưởng vào lẽ công bằng của đạo lý nên rất vui khi đón nhận quyết định đình chỉ vụ án
Trao đổi với báo chí ngay sau khi nhận quyết định, bà Trần Ngọc Sương cho biết bà cảm ơn Đảng và MTTQ Việt Nam; các vị nguyên là lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước; các luật sư, các cơ quan báo chí cả nước và dư luận xã hội rộng rãi đã mạnh dạn đấu tranh, chứng minh và minh oan cho bà.
Trả lời câu hỏi của phóng viên “bà có bất ngờ?”, bà Sương nói vì có niềm tin mãnh liệt và vững chắc vào sự sáng suốt của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tin tưởng vào lẽ công bằng của đạo lý nên rất vui khi đón nhận quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ mọi hoạt động tố tụng đối với mình.
Bà Trần Ngọc Sương cũng cho biết thêm “lý do đình chỉ vụ án, tôi chưa hoàn toàn thỏa mãn” nên trước khi ký vào Biên bản bàn giao quyết định, bà đã ghi thêm ý kiến của mình “Tôi sẽ có ý kiến trình bày về nội dung quyết định đình chỉ, sau”.
Luật sư Nguyễn Trường Thành - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Ngọc Sương cho biết: Như vậy, kể từ ngày ký Quyết định 56, mọi hoạt động tố tụng đối với thân chủ của ông là bà Trần Ngọc Sương đã kết thúc.
Bà Trần Ngọc Sương trở lại là một công dân Việt Nam bình thường với đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Quyết định 56 không nêu biện pháp hành chính nào đối với bà Trần Ngọc Sương, nên vụ án “Lập quỹ trái phép” ở Nông trường Sông Hậu đã khép lại./.

Hà Trường/Vietnamnet
Đình chỉ vụ án Nông trường Sông Hậu (NLĐ). – Tư pháp Việt Nam đình chỉ điều tra vụ bà Ba Sương  –  (RFI). – Vụ Nông trường Sông Hậu: TS Tô Văn Trường: Cái gì đến sẽ đến   —  (Người lót gạch). – Nửa mùa xuân đến từ Ba Sương – (Cu Làng Cát).Bà Ba Sương được đình chỉ điều tra (VnEx 19-1-12)
Tư pháp Việt Nam đình chỉ điều tra vụ bà Ba Sương
RFI
Theo tin từ báo chí trong nước, hôm qua, 18/01/2012, Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Cần Thơ đã ra quyết định đình chỉ vụ án « lập quỹ trái phép » đối với và Trần Ngọc Sương, thường được gọi là bà Ba Sương, nguyên giám đốc Nông trường Sông Hậu. ...
Đình chỉ vụ án bà Ba SươngBBC Tiếng Việt
Đình chỉ vụ án Nông trường Sông HậuNgười Lao Động

Dân Trí -Tuổi Trẻ -Thanh Niên

Vụ án Nông trường Sông Hậu: VKSND TP Cần Thơ triệu tập các bị can để làm việc(PLTP).




-Kiến nghị đình chỉ vụ án đối với bị can Trần Ngọc Sương
Kính gởi: Giáo sư Nguyễn Huệ Chi
Tôi là luật sư Trịnh Minh Tân, là người bào chữa cho bị can Trần Ngọc Sương, nguyên giám đốc Nông trường Sông Hậu (bào chữa miễn phí).
Năm hết tết đến rồi mà số phận pháp lý của chị Ba Sương vẫn chưa được định đoạt. Vì vậy tôi đã viết thư kiến nghị gởi đến cấp có thẩm quyền yêu cầu đình chỉ vụ án và đình chỉ vụ án đối với bị can Trần Ngọc Sương bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh: “tội lập quỹ trái phép” theo Khoản 4 Điều 166 BLHS.
Về vụ án này, tháng 11/2009 tôi đã có văn bản THÔNG BÁO gửi cho cấp có thẩm quyền đề nghị kháng nhị theo thủ tục giám đốc thẩm.
Xin gởi đến giáo sư và Ban biên tập trang mạng Bauxite Việt Nam toàn văn thư kiến nghị của tôi để Ban Biên tập tham khảo. Nếu Ban biên tập cho đăng trên trang mạng thì tôi cũng đồng ý.
Nhân dịp năm mới Nhâm Thìn sắp tới, kính chúc giáo sư và Ban Biên tập nhiều sức khỏe, hạnh phúc và bình an.
Kính thư,
Luật sư Trịnh Minh Tân



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
clip_image001
Tp Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 01 năm 2012
THƯ KIẾN NGHỊ
Yêu cầu đình chỉ vụ án đối với bị can Trần Ngọc Sương bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh: “tội lập quỹ trái phép”
Kính gởi:
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Cần Thơ
Chánh án Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ
Đồng kính gởi:
Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ủy ban Tư pháp của Quốc hội
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao
Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao
Bí thư Thành ủy thành phố Cần Thơ
Chủ tịch Hội đồng nhân dân Tp Cần Thơ
Tôi là luật sư Trịnh Minh Tân, Trưởng Văn phòng luật sư Trịnh Minh Tân thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh,
Địa chỉ : 09 đường 44, phường 10, quận 6, Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: (08) 66781699 ĐTDĐ: 0903 709 078
Là người bào chữa cho bị can Trần Ngọc Sương, nguyên Giám đốc nông trường Sông Hậu (Giấy chứng nhận người bào chữa số 01/KSĐT ngày 10/03/2011 do VKSND TP Cần Thơ cấp) bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ truy tố về “tội lập quỹ trái phép” theo Khoản 4, Điều 166 Bộ luật hình sự (Cáo trạng 28/KSĐT-KSXXSTHS-KT-CV ngày 28/7/2011).
Tôi được biết Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã có văn bản kiến nghị gởi lên các cấp cao nhất yêu cầu chỉ đạo đình chỉ “vụ án Nông trường Sông Hậu”. Tôi nhận thấy những nội dung cơ bản của kiến nghị trùng hợp với quan điểm của các luật sư nhận bào chữa cho bà Trần Ngọc Sương, nguyên Giám đốc Nông Trường Sông Hậu bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “lập quỹ trái phép”. Tôi tin là những kiến nghị này sẽ được xem xét.
Là một trong số các luật sư nhận bào chữa cho bà Trần Ngọc Sương, tôi tin tưởng các cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương, với trách nhiệm của mình sẽ chỉ đạo xem xét lại vụ án một cách khách quan để đi đến một kết cục đúng đắn là đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can Trần Ngọc Sương và những bị can khác trong vụ án với lý do: họ không phạm tội danh: “tội lập quỹ trái phép”.
Thế nhưng, đã hơn 5 tháng kể từ ngày Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, Tp Cần Thơ ban hành bản Cáo trạng số 28/KSĐT-KSXXSTHS-KT-CV ngày 28/7/2011;
Đã gần 5 tháng kể từ ngày Ủy ban Trung ương MTTQVN gởi văn bản đến Viện trưởng VKSND Tối cao và Chánh án TAND Tối cao kiến nghị “đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bà Trần Ngọc Sương về tội danh lập quỹ trái phép”
Đến nay các cơ quan tiến hành tố tụng thành phố Cần Thơ vẫn chưa có một quyết định nào đối với số phận pháp lý của công dân Trần Ngọc Sương và những người có liên quan.
Ngày 06/01/2012, tôi đến thăm bà Trần Ngọc Sương, hiện đang ở đậu nhà người em dâu. Bà đang bệnh, sức khỏe giảm sút nhiều, nhưng vẫn phải lao động chân tay (làm các loại dưa chua) để mưu sinh và đang mòn mỏi chờ đợi công lý.
Bức xúc trước số phận một con người, một phụ nữ đã có nhiều đóng góp cho quê hương, xứ sở của mình, đã xây dựng một hình mẫu làm ăn hiệu quả, đầy tính nhân văn mà giờ này bà vẫn phải đau đáu chờ đợi một sự giải oan. Vì thế, tôi mạnh dạn viết lá thư kiến nghị này, trước hết với tư cách một công dân, cũng như bao nhiêu người dân khác ngưỡng mộ bà Ba Sương, sau đó là với trách nhiệm của một luật sư nhận bào chữa cho bị can Trần Ngọc Sương, tiếp đến là trách nhiệm của một đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam gửi tới các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cơ quan tiến hành tố tụng để bày tỏ quan điểm của mình, trên cơ sở đó kiến nghị phải xem xét ngay không chậm trễ số phận pháp lý của công dân Trần Ngọc Sương – Anh hùng lao động.
Tôi đồng tình với quan điểm của Ủy ban Trung ương MTTQVN, với ý kiến kiến nghị của hai đồng nghiệp (cũng là người bào chữa cho bị can Trần Ngọc Sương) đã gởi đến các cấp có thẩm quyền. Do đó tôi không lặp lại những vấn đề mà tôi có chung quan điểm. Tôi xin bổ sung một số ý kiến thuộc về nhận thức cá nhân để quý cấp xem xét.
Quan điểm của tôi về vụ án:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, bản kết luận điều tra của CQCSĐT công an TP Cần Thơ và bản cáo trạng của VKSND huyện Cờ Đỏ cho thấy, vấn đề đặt ra là đã có đủ các căn cứ để xác định hành vi của bà Trần Ngọc Sương cấu thành tội danh “tội lập quỹ trái phép” hay chưa? Theo tôi, để kết luận hành vi của bà Trần Ngọc Sương có phạm tội “lập quỹ trái phép” hay không thì phải:
- Định hình và định tính mô hình Nông trường Sông Hậu cho đúng với bản chất của nó, có đúng Nông trường Sông Hậu là “nông trường quốc doanh” thuần túy như các văn bản quy phạm pháp luật qui định không? Có nên lấy mô hình hình thức cứng nhắc để quy kết cho nội dung vận hành của một mô thức kinh tế có hiệu quả lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam?
- Xác định quỹ bị gọi là “quỹ trái phép” đó được hình thành như thế nào và hình thành nhằm mục đích gì?
- Hành vi của bà Trần Ngọc Sương (như mô tả trong cáo trạng) đã hội đủ các yếu tố cấu thành của tội danh này, có nghĩa là phải chứng minh được đầy đủ các yếu tồ về mặt khách thể, mặt khách quan và chủ quan của tội phạm có tên là “tội lập quỹ trái phép” hay chưa?
Để trả lời được các câu hỏi trên cần phải có một cái nhìn tổng quát, dựa trên quan điểm lịch sử cụ thể về mô hình nông trường quốc doanh nói chung qua từng thời kỳ, để từ đó làm rõ tính đặc thù của tổ chức kinh tế mang tên gọi “Nông trường Sông Hậu” được coi là NÔNG TRƯỜNG QUỐC DOANH. Vậy “nông trường quốc doanh” được hiểu như thế nào và quá trình hình thành của loại tổ chức kinh tế này ra sao? Nông trường Sông Hậu có cùng chung khái niệm “nông trường quốc doanh” về mặt bản chất như các văn bản quy phạm pháp luật qui định không?
1. Khái niệm nông trường quốc doanh
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các nông trường quốc doanh (NTQD) được hình thành xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng, lực lượng lao động lúc đầu chủ yếu là các quân nhân giải ngũ sau chiến tranh, sau này mới dần thu hút lực lượng lao động trẻ ở các vùng nông thôn đồng bằng đến làm nông trường viên, được trả lương từ ngân sách; địa bàn sản xuất của các NTQD chủ yếu là các vùng trung du, miền núi; hoạt động sản xuất chủ yếu là trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi bò sữa. NTQD hoạt động như một xí nghiệp nông nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế. Hàng năm, NTQD sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh do nhà nước phân bổ, sản phẩm tiêu thụ do Nhà nước chỉ định và bán theo giá qui định của nhà nước.
a) Định nghĩa
Có thể định nghĩa Nông trường quốc doanh theo qui định tại Thông tư số 348-TTg ngày 30/08/1961 của Thủ tướng Chính phủ như sau:
“Các nông trường quốc doanh là những đơn vị xí nghiệp của Nhà nước, quản lý theo chế độ kinh tế hạch toán, được Nhà nước cấp vốn để sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước”.
Thông tư nói trên cũng qui định rõ: “Toàn bộ sản phẩm của nông trường làm ra (không kể phần do nông trường viên có thể tự sản xuất riêng) thuộc quyền sở hữu của Nhà nước do Nhà nước phân phối theo kế hoạch. Nông trường có trách nhiệm giao nộp sản phẩm cho Nhà nước theo số lượng đã quy định, và cho các cơ quan, đơn vị được phân phối, theo giá cả điều động nội bộ và Ủy ban kế hoạch Nhà nước đã công bố. Quan hệ giữa các nông trường và các cơ quan tiêu thụ giải quyết theo chế độ hợp đồng kinh tế Chính phủ đã quy định.”
Phải nói rằng NTQD là một điển hình của nền kinh tế quản lý theo chế độ kinh tế hạch toán bao cấp, tổ chức kinh tế không được chủ động trong họat động sản xuất kinh doanh. Đó là một đặc điểm mang tính lịch sử mà ngày nay gọi đó là “thời kỳ bao cấp”.
b) Sự phá sản của mô hình Nông trường quốc doanh.
Từ sau năm 1954 đến trước năm 1975, nhiều nông trường quốc doanh đã được thành lập ở miền Bắc, thu hút hàng chục vạn lao động từ nông thôn vào nông trường. Nông trường quốc doanh hoạt động theo phương thức: sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh, giao nộp sản phẩm cho Nhà nước hoặc bán sản phẩm theo chỉ định của nhà nước, giá cả do Nhà nước qui định. Điều này có nghĩa là nông trường không được tự chủ trong hoạt động sản xuất, sản xuất không theo nhu cầu của thị trường, do đó đã triệt tiêu tính chất kinh doanh của doanh nghiệp. Thực ra ở nước ta thời kỳ đó chưa có khái niệm “doanh nghiệp” (nên cũng chưa có khái niệm “doanh nhân”), sản phẩm làm ra mang nội hàm của mệnh lệnh, không mang nội hàm của thị trường và lẽ đương nhiên là nó chẳng phải cạnh tranh với đối thủ nào cả. Sản xuất và phân phối sản phẩm mang tính áp đặt đã tạo nên hội chứng thừa hoặc thiếu sản phẩm cung cấp cho xã hội.
Sau năm 1975, sau khi thống nhất đất nước về mặt nhà nước, tiến trình cải tạo nền kinh tế được tiến hành ở miền Nam, trong đó có cải tạo nông nghiệp với các phong trào đưa nông dân vào làm ăn tập thể với các mô hình HTX và tập đoàn sản sản xuất nông nghiệp. Mô hình nông trường quốc doanh cũng được áp dụng trong nông nghiệp, vì thế mà nhiều nông trường quốc doanh ở miền Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng đã được thành lập dập khuôn theo loại hình nông trường quốc doanh ở miền Bắc vốn đã hoạt động không hiệu quả và đi vào bế tắc, chỉ khác một điều là đối tượng cây trồng không phải chủ yếu là cây công nghiệp, cây ăn quả, mà ở đồng bằng sông Cửu Long, đối tượng sản xuất là cây lúa.
Việc sản xuất lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long mang những nét riêng có do đặc điểm thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng và phụ thuộc vào thiên nhiên nên người nông dân khi sản xuất mang tính thụ động nhiều hơn. Các nông trường quốc doanh được thành lập về mặt tổ chức bước đầu cũng như ở miền Bắc những năm 60, 70 của thế ký 20, lúc đầu cũng do các đơn vị quân đội quản lý hoặc được thành lập bởi lực lượng thanh niên xung phong, và lẽ tất nhiên là các nông trường này đều được cấp vốn từ ngân sách nhà nước. Thời kỳ đầu, được Nhà nước cấp vốn 100%. Tuy nhiên, nền kinh tế kế hoạch (bao cấp) đã ngày càng bộc lộ những yếu kém, ngân sách không thể chu cấp để bù lỗ. Do đó cùng với sự tan rã của các HTX và tập đoàn sản xuất nông nghiệp, các nông trường quốc doanh cũng lâm vào tình trạng khó khăn và nhiều nơi đã giải thể. Các mô thức kinh tế như HTX nông nghiệp, nông trường quốc doanh hoạt động bởi chính sách “bao cấp” bị tan rã là tất yếu vì nó trái với quy luật của nền kinh tế khi được vận hành theo cơ chế thị trường.
Vậy tại sao Nông trường Sông Hậu vẫn tồn tại và phát triển? Đây là một thực tiễn mà các nhà khoa học cần nghiên cứu. Với vai trò là một luật sư, tôi có thể đưa ra những ý kiến trong môi trường pháp lý cho phép.
Chính sự phát triển không theo “khuôn mẫu” sẵn có đã giúp cho người nông dân NTSH làm ra nhiều lúa gạo, bắt tiềm năng thành hiện thực, từ nghèo khổ thành khá giả, biến cả một vùng đất hoang hóa, chua phèn thành một vùng đất trù phú với ngút ngàn màu xanh của lúa và cây. Đây là một thực tế không thể chối bỏ. Nhưng thực tế này đã đẩy bà Ba Sương vào những hệ lụy đau lòng, những oan khiên đến nay chưa được giải.
Vì vậy, phải phân tích mô thức kinh tế Nông trường Sông Hậu trên nền tảng tư duy đổi mới nhằm xác định bản chất pháp lý của sự việc, từ đó quy chiếu hành vi của lãnh đạo nông trường Sông Hậu với quy định của pháp luật hình sự về “tội lập quỹ trái phép” để xác định có hay không có tội phạm và người phạm tội “lập quỹ trái phép” ở tổ chức kinh tế này.
2. Sự hình thành và phát triển của Nông trường Sông Hậu – một mô thức kinh tế không giống mô thức nông trường quốc doanh vốn có.
Theo nghiên cứu của tiến sĩ Triều Hải Quỳnh (biên tập viên Tạp chí Cộng sản tại miền Nam), Nông trường Sông Hậu đã trải qua 3 giai đoạn xây dựng và phát triển. Đó là:
- Giai đoạn 1: từ 1979 – 1989
- Giai đoạn 2: từ 1990 – 1995
- Giai đoạn 3: từ năm 1996 trở đi
Những số liệu thông kê, phân tích và đánh giá của tiến sĩ Triều Hải Quỳnh đã mô tả bức tranh toàn cảnh rất sát thực quá trình xây dựng và phát triển của NTSH. Tuy nhiên, tôi xin được chia giai đoạn 3 là từ năm 1996 đến năm 2004 và thêm giai đoạn 4 là từ 01/01/2004 đến nay. Vì từ ngày 01/01/2004 trở về trước, NTSH gắn liền với đơn vị hành chính cấp tỉnh. Đó là:
Tỉnh Hậu Giang: được sáp nhập từ hai tỉnh: Cần Thơ và Sóc Trăng theo Nghị định số 03/NĐ-76 ngày 24/3/1976
Tỉnh Cần Thơ: tháng 12/1991, tại kỳ họp thứ 10, Quốc Hội khóa 8 đã ra Nghị quyết tách tỉnh Hậu Giang thành 2 tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng
Thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương: từ 01/01/2004 tỉnh Cần Thơ được tách ra thành hai là thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và tỉnh Hậu Giang
Nêu ra các mốc thời gian sáp nhập và tách tỉnh để trong phần trình bày của mình, tôi sẽ đề cập đến những hệ lụy mà bà Trần Ngọc Sương phải chịu đựng trong suốt mấy năm qua có nguyên nhân từ lãnh đạo thành phố Cần Thơ, sau khi được tách ra từ tỉnh Hậu Giang.
Giai đoạn 1:
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Trần Ngọc Hoằng, Ban giám đốc NTSH đề ra quyết tâm phải xây dựng NTSH với tinh thần “ba tự”: tự lực, tự cường, tự làm.
Mặc dù đang ở thời kỳ mà nền kinh tế được vận hành bởi chính sách bao cấp, nhưng NTSH không được Nhà nước cấp vốn từ ngân sách, người lao động của nông trường không được hưởng lương “biên chế”. Giám đốc Trần Ngọc Hoằng đã đưa ra “phương cách tự cân đối, tự trang trải”, gắn kết ba lợi ích: Nhà nước, tập thể và nông dân, mà hạt nhân của nó là phương thức giao khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động. Chính phương thức này đã tạo ra một lượng lương thực và sản phẩm nông nghiệp gấp nhiều lần thu nhập của người nông dân trước đó, giúp nông dân thoát nghèo, có tích lũy và làm nền tảng vật chất cho sự phát triển của nông trường.
Ở thời điểm năm 1979 – 1980, về hình thức tổ chức, NTSH là một nông trường quốc doanh nhưng lại chủ yếu là chuyên canh cây lúa, nên tổ chức kinh tế này không giống như hợp tác xã nông nghiệp, lại càng không giống các NTQD đã được thành lập bởi vốn ngân sách Nhà nước cấp. Sự trì trệ trong các HTX nông nghiệp đã được một số nơi “phá rào” bằng cách khoán sản phẩm cho nông dân. Thực tế đó đã dẫn tới việc Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp, còn được gọi là “khoán sản phẩm”.
NTSH được coi là nông trường quốc doanh, việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, các chế độ hạch toán, kế toán – tài chính không thoát ra được cơ chế “bao cấp”, trong khi hoạt động của nông trường là “tự cấp” – tự lo vốn, vật tư, thu nhập của nông dân … nhưng lại không thể vận hành như một HTX nông nghiệp. Cái khó đó đã buộc NTSH phải có những bước chuyển động tự thân với mục tiêu là xây dựng một tổ chức kinh tế vững mạnh bằng chính “đôi chân trần” của mình. Ảnh hưởng của Chỉ thị 100 cũng có tác động tích cực đến sự phát triển của nông trường. Không phải là HTX nông nghiệp về mặt tổ chức, nhưng từ năm 1981, NTSH cũng đã có cơ sở để yên tâm với chế độ KHOÁN quy định trong Chỉ thị 100 mà NTSH đã thực hiện trước khi có nội dung khoán trong chỉ thị này.
Việc xây dựng và phát triển thành công của NTSH ở giai đoạn đầu không tách rời sự lãnh đạo, chỉ đạo, động viên, ủng hộ, khuyến khích của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Hậu Giang.
Giai đoạn 2:
Ngày 05/04/1988, Bộ chính trị Khóa VI ra Nghị quyết 10 về cải tiến chế độ khoán trong sản xuất nông nghiệp. Nghị quyết có nội dung mang tính đột phá, tạo bước phát triển mới rất quan trọng cho nông nghiệp và nông thôn trong thời kỳ đổi mới. Đối với NTSH thì tính đột phá đó thực sự đã được Ban giám đốc Nông trường thực hiện từ khi chưa có Nghị quyết 10 (mặc dù đặc điểm về cơ cấu tổ chức, về qui mô không giống như các HTX nông nghiệp được tổ chức và hoạt động theo các văn bản quy phạm pháp luật về HTX nông nghiệp). Cho nên ở giai đoạn này, NTSH đã tạo ra lượng của cải vật chất dồi dào, có tích lũy để tái sản xuất mở rộng, từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc, chuẩn bị cho những bước phát triển chiều sâu, mở rộng ngành nghề sản xuất, kinh doanh.
Giai đoạn 3:
Đây là giai đoạn NTSH tiến hành đầu tư chiều sâu, mở rộng ngành nghề sản xuất kinh doanh, nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng cường xuất khẩu, đặc biệt là mặt hàng nông sản chế biến có chất lượng cao. Sản phẩm của nông trường đã có uy tín trên thị trường nội địa và quốc tế. Qui mô sản xuất, kinh doanh của NTSH đã mang dáng dấp của môt tập đoàn kinh tế nông nghiệp
Giai đoạn 4:
Ngày 01/01/2004, tỉnh Cần Thơ được tách làm hai: thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang.
NTSH nằm trên địa bàn huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Những năm đầu của giai đoạn này NTSH vẫn trên đà phát triển. Do mở rộng sản xuất, phát triển nhiều ngành nghề nhưng những quy định về tổ chức bộ máy, chế độ kinh tế - tài chính theo mô hình nông trường quốc doanh không thích hợp với qui mô và nội dung của các hoạt động sản xuất kinh doanh mà nông trường đã và đang tiến hành.
Ngày 21/03/2006, UBND Tp Cần Thơ ra quyết định thanh tra NTSH, mốc thời gian thanh tra là từ năm 1993 đến năm 2005.
Giai đoạn này nông trường gặp phải những khó khăn khách quan do thành phố tiến hành thanh tra nông trường. Cuộc thanh tra kéo dài, không đúng với mục đích của thanh tra đã gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nông trường. Mục đích thanh tra được qui định tại Điều 3, Luật Thanh tra năm 2004 như sau:
“Hoạt động thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”
Đây cũng là thời điểm phải thực hiện Nghị định của Chính phủ số 170/2004/NĐ-CP ngày 22/09/2004 về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông trường quốc doanh, Nghị định được đăng trên Công báo số 38 – 28 – 9 – 2004. Như vậy Nghị định có hiệu lực từ ngày 13/10/2004. Tất nhiên là các địa phương chưa thể triển khai thực hiện được ngay khi Nghị định có hiệu lực, mà phải đợi hàng loạt các văn bản khác có liên quan được ban hành mới triển khai thực hiện được. Đó là:
- Công số 3256/VPCP-NN ngày 13/6/2005 v/v triển khai Nghị định 170/2004/NĐ-CP;
- Nghị định 135/2005/NĐ-CP ngày 09/11/2005 v/v giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản;
- Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13/11/2006 của Bộ NN & PTNT hướng dẫn Nghị định 135/2005/NĐ-CP;
- Thông tư số 46/TT-BTC ngày 08/6/2005 của Bộ Tài chính hướng dãn về tài chính khi sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh
- Thông tư số 16/2005/TT-BLĐTBXH ngày 19/4/2005 của Bộ LĐ TB XH hướng dẫn về chính sách lao động theo Nghị định 170/2004/NĐ-CP
v. v.
Việc tiến hành thanh tra kéo dài để cuối cùng lãnh đạo Tp Cần Thơ chỉ đạo cơ quan điều tra khởi tố vụ án “cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng.” (công văn số 91-TP/VPTU ngày 20/3/2008, do ông Đinh Công Út là Phó chánh Văn phòng ký thay Chánh văn phòng).
Chủ trương trên được chính thức hóa bằng Công văn số 1575/UBND-NC ngày 25/3/2008 của UBND TP Cần Thơ do Phó Chủ tịch Nguyễn Thanh Sơn ký: “Giao Công an thành phố, sau khi Thanh tra thành phố chuyển một số nội dung sai phạm của Nông trường Sông Hậu sang Cảnh sát điều tra thì tổ chức họp báo, để công khai vớibáo chí (...) Trước mắt khởi tố vụ án về tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng”.
Thay vì phải tập trung chỉ đạo thực hiện Nghị định 170/2004/NĐ-CP thì lãnh đạo thành phố lại “tập trung” chỉ đạo thanh tra NTSH kéo dài, gây nên nhưng thiệt hại cho NTSH chưa thể tính toán được.
Điểm b, Khoản 1, Điều 38 Luật Thanh tra năm 2004 quy định: “Cuộc thanh tra do Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ tiến hành không quá bốn mươi lăm ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài, nhưng không quá bảy mươi ngày”.
Cuộc thanh tra NTSH đã kéo dài 02 (hai) năm.
Mặc dù kết quả thanh tra không chỉ ra được những vi phạm pháp luật rõ ràng, nhưng lãnh đạo thành phố vẫn chỉ đạo các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi “cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng”. Thế nhưng quá trình tố tụng kéo dài đến nay vẫn chưa đến hồi kết, gây thiệt hại cho nông trường và cá nhân Giám đốc Trần Ngọc Sương và những người có liên quan cả về vật chất lẫn tinh thần.
3, Quy chiếu hành vi của bà Trần Ngọc Sương với các yếu tố cấu thành “tội lập quỹ trái phép”.
Theo Quy định tại Điều 166 BLHS, để cấu thành tội danh “Tội lập quỹ trái phép” phải thỏa mãn đủ 2 dấu hiệu, đó là :
- Có hành vi lập quỹ trái phép
- Đã sử dụng quỹ trái phép đó gây hậu quả nghiêm trọng
Nếu không thỏa mãn một trong 2 dấu hiệu trên thì không thể cấu thành tội Lập quỹ trái phép.
Như vậy, trong vụ án này xác định:
+ Quỹ Công đoàn có phải là quỹ trái phép hay không?
+ Xác định hậu quả từ hành vi sử dụng quỹ này gây ra?
Thứ I: Quỹ này có phải là quỹ trái phép không?
Quỹ trái phép là quỹ được lập “nhằm rút tiền của Nhà nước ra khỏi sự giám sát tài chính của Nhà nước”. Theo quan điểm cá nhân, quỹ này không phải là quỹ trái phép, bởi lẽ:
Một là, xét về quá trình thành lập và hoạt động của NTSH, Ngân sách Nhà nước đầu tư rất ít, gần 100% vốn ban đầu và trong suốt 30 năm hoạt động là tự vay ngân hàng. Đây là thực tế ai cũng biết và thừa nhận. Do cơ chế chính sách kinh tế của những năm sau giải phóng là đề cao mô hình kinh tế quốc doanh, tập thể, không thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, nên dù là doanh nghiệp tự lực về mặt tài chính, nguồn vốn nhưng NTSH vẫn hoạt động dưới danh nghĩa là Nông trường quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước).
Hai là, về nguồn thu hình thành quỹ Công đoàn không phải có được từ việc thực hiện các chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh theo giấy đăng ký kinh doanh chính thức của NTSH, cho nên nó không có cơ sở hoạch toán trong tài sản của NTSH. Quỹ này được lập từ năm 1979, nguồn hình thành từ hoạt động sản xuất của Công đoàn. Cụ thể:
- Thu từ bán cây bạch đàn, keo, tràm (do công đoàn nông trường trồng trên các tuyến đê bao dài 200km và những diện tích đất không trồng lúa được) là trên 14 tỷ, nộp vào nguồn vốn ngân sách nông trường trên 12 tỷ, còn lại 2,066 tỷ đưa vào quỹ công đoàn.
- Thu từ tiền thuê đìa cá, quản lý công trình điện, quản lý, thu khác: 2,247 tỷ đồng là những khoản phụ thu không có cơ sở hoạch toán vào tài sản của NTSH, nên được đưa vào quỹ Công đoàn nhằm mục đích cải thiện đời sống của CB-CNV của nông trường.
- Khoản vay từ các cá nhân bên ngoài 3,188 tỷ đồng cũng nhằm phục vụ các hoạt động của NTSH. Các khoản vay cá nhân này thuộc lĩnh vực dân sự, nên việc dùng số tiền trên để truy cứu trách nhiệm hình sự trong tội danh Lập quỹ trái phép là không có căn cứ.
- Khoảng thu từ tiền bán 5 lô đất, trong đó 3 lô được mua từ tiền công đoàn nên trả vào quỹ công đoàn là hợp lý và được mua trước khi bà Sương về giữ chức giám đốc NTSH. 2 lô còn lại ( lô 6.500 m2 và lô 1058 m2 đều do sai xót của cán bộ nghiệp vụ và bà Nhung xử lý) Bà Sương không biết và không hề chỉ đạo, cũng như không được đối chất với 10 người có liên quan đến việc mua bán 2 lô đất này.
Thứ II: Xác định có hay không hậu quả nghiêm trọng từ hành vi sử dụng quỹ Công đoàn?
Từ năm 2001 đến 2006 vào dịp tết, sinh nhật của bà Trần Ngọc Sương, Công đoàn chủ trương chi tiền mua quà tặng cho bà Sương với tổng số tiền là 129.325.000đ00. Khoản chi này do công đoàn đề xuất và bà Nhung duyệt chi, bà Sương không yêu cầu cũng như không chỉ đạo trong việc chi khoản tiền này, do đó không có căn cứ pháp lý buộc bà Sương chịu trách nhiệm về khoản tiền trên. Việc tặng quà sinh nhật không chỉ tặng riêng cho giám đốc Trần Ngọc Sương, mà hàng năm công đoàn tặng quà cho cả hơn 200 CBNV nông trường.
Một số khoản chi khác như: chi bồi dưỡng, lương kiêm nhiệm cho Ban giám đốc, trong đó chi cho bà Sương là 77,4 triệu đồng/7 năm, như vậy chưa đến 01 triệu/ tháng là khoản tiền quá nhỏ so với công sức bà Sương bỏ ra, làm việc không có ngày nghỉ. Việc xuất chi cho một số cá nhân nguyên trong Ban giám đốc đã mất (trên 381 triệu), các khoản chi này mang tính chất hỗ trợ cho gia đình họ, Giám đốc Trần Ngọc Sương không vụ lợi cá nhân trong khoản chi này (câu chữ của người lập phiếu có sai sót, bà Nhung ký). Do đó, cáo trạng quy buộc bà Sương sử dụng cá nhân là không có căn cứ.
Chi biếu tặng các cá nhân, ngành TW, địa phương, các đoàn kiểm tra (khoảng 911 triệu đồng). Tuy nhiên, trong khoản chi đó, bà Sương chỉ thừa nhận đã chi 10 triệu đồng để tiếp đoàn kiểm toán, và 131 triệu đồng chi lì xì tết 2005 và 2006 cho cán bộ, nhân viên nông trường mà danh sách được tặng do các phòng ban, đoàn thể lập đề nghị. Đây là khoản chi mang tính chất thông lệ hàng năm, bà Sương cũng không dùng nó vào mục đích vụ lợi cá nhân. Số tiền còn lại, CQ ĐT cũng không chứng minh được có sự chỉ đạo chi, mà chỉ căn cứ vào lời khai của Nhung, Hưng, Hoan… là những người trực tiếp nhận và chi các khoản trên.
Khoản chi đi công tác 2.277.713.000đ00 cũng không đủ cơ sở chứng minh là chi cho bà Sương đi công tác, vì không có chữ kí nhận của bà Sương, cũng như nội dung chi cho ai cũng không được thể hiện đầy đủ trong tài liệu.
Chi lấp âm quỹ số tiền 729.690.000đ00 là khoản tiền trả nợ thay cho một số cá nhân đã vay của nông trường. Đó là những khoản nợ khó đòi do một số cá nhân đã chết, một số không xác định nơi cư trú… Nếu hoạch toán vào nợ khó đòi sẽ làm tăng chi phí quản lý, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của Nông trường. Quỷ Công đoàn hình thành trên nguồn vốn nông trường, việc dùng tiền trong quỹ này chi lấp âm quỹ, xét cho cùng là nhằm bảo toàn vốn, có lợi cho Nông trường, nên không thể xem đây là khoản chi gây thiệt hại tài sản cho Nông trường. Một số khoản chi khác như chi hoàn tiền tạm ứng, thanh toán 2 lần cho công trình nạo vét kênh khu vực IV, tuy có sai về chế độ tài chính kế toàn nhưng có thể điều chỉnh và xác định trách nhiệm dân sự.
Khoản chi cho bà Sương mang tính cá nhân như: mua nhà số 22 đường Định Tiên Hoàng, Tp Cần Thơ (246.460.000đ00). Theo bản cáo trạng thì chi mua ngôi nhà này là do Trương Hồng Nhung chỉ đạo thủ quỹ Nguyễn Văn Sơn chi mua nhà hóa giá cho bà Sương, dựa trên chính sách hỗ trợ nhà ở cho cán bộ của Nông trường. Không phải do bà Sương trực tiếp chỉ đạo việc này.
Tóm lại, Quỹ này không có cơ sở để quy kết là “quỹ trái phép”, bởi nó được hình thành từ hoạt động của công đoàn, không có nguồn gốc từ vốn của Nhà nước. Mặt khác, quỹ này được lập từ những năm 1979 khi Nông trường đi vào hoạt động (phù hợp với Quyết định 25/CP ngày 21- 01-1981 của Chính phủ được ban hành sau đó), bà Sương không phải là người sáng lập quỹ này và cũng không trực tiếp quản lý, sử dụng quỹ (bà Sương học xong đại học và về NTSH công tác năm 1981). Nhìn chung, mục đích sử dụng của Quỹ công đoàn là nhằm cải thiện và nâng cao đời sống cho cán bộ, công nhân viên của Nông trường và phục vụ, hỗ trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của Nông trường Sông Hậu. Dù rằng trong hoạt động tài chính kế toán của nông trường còn có những bất cập do cơ chế trói buộc, nhưng đó không phải là dấu hiệu của “tội lập quỹ trái phép”.
Những lập luận mà kết luận điều tra và cáo trạng đưa ra đều dựa trên lời khai của các bị can, không đưa ra được những chứng cứ có giá trị chứng minh để buộc tội bà Trần Ngọc Sương. Lập luận của VKS mang tính chủ quan, áp đặt, không xem xét sự việc trên quan điểm lịch sử và thực tiễn về quá trình xây dựng và phát triển của NTSH cũng như những thành quả, đóng góp của bà Trần Ngọc Sương cho Nông trường, cho xã hội. Không những vậy, CQĐT và VKS còn đưa ra những tình tiết không liên quan đến hành vi của bà Sương bị quy kết là “lập quỹ trái phép” như: tình hình kinh doanh không hiệu quả, dân làm đơn khiếu nại gây mất trật tự xã hội, v.v. nhằm làm xấu đi hình ảnh của cá nhân giám đốc Trần Ngọc Sương nói riêng và NTSH nói chung.
Các nội dung trên cho thấy không hội đủ các yếu tố về khách thể, mặt khách quan và chủ quan của “tội lập quỹ trái phép” ở hành vi của bà Trần Ngọc Sương.
Khách thể của “tội lập quỹ trái phép” là hành vi xâm phạm đến chế độ quản lý tài chính, kế toán ở cơ quan, đơn vị nhà nước được cấp phát vốn, kinh phí hoạt động[1]
Các tài liệu điều tra cho thấy NTSH không phải là đơn vị kinh tế được cấp phát vốn, kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước nên yếu tố về mặt khách thể của “tội lập quỹ trái phép” là không có.
Mặt khách quan của tội phạm. “Tôi lập quỹ trái phép” được thực hiện bởi hành vi lén lút, không công khai; nguồn thu của loại “quỹ đen” này phải là nguồn thu không hợp pháp[2]. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã không thu thập được các chứng cứ để chứng minh yếu tố này. Thực chất đây là quỹ công đoàn, được lập ra từ năm 1979.
Mặt chủ quan của tội phạm: tội lập quỹ trái phép “được thực hiện do lỗi cố ý. Người phạm tội biết hành vi lập quỹ trái phép của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm”[3]
Quỹ công đoàn này đã được hình thành và duy trì từ năm 1979, trước khi có Quyết định của hội đồng chính phủ số 25 - CP ngày 21-1-1981 về một số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh. Tại phần 4 của Quyết định quy định:
“b) Đối với phần kế hoạch tự làm của xí nghiệp:
Phần lợi nhuận xí nghiệp được phân phối như sau: nộp vào ngân sách Nhà nước 20%; phần còn lại được sử dụng cho ba quỹ theo tỷ lệ sau đây: 20% cho quỹ phát triển sản xuất; 60% cho quỹ khen thưởng; 20% cho quỹ phúc lợi tập thể.
c) Đối với sản xuất phụ:
Phần lợi nhuận còn lại sau khi nộp các loại thuế và thu quốc doanh theo chế độ hiện hành, được phân phối như sau:
- Nộp vào ngân sách Nhà nước 15%;
- Xí nghiệp được sử dụng 85%, trong đó sử dụng cho quỹ phát triển sản xuất, cho quỹ khen thưởng và cho quỹ phúc lợi tập thể theo tỷ lệ do giám đốc xí nghiệp bàn bạc thoả thuận với công đoàn để quyết định.”
Như vậy, ở thời điểm đó, mặc dù chế độ bao cấp còn nặng nề, các xí nghiệp nhà nước hoạt động từ vốn ngân sách cũng đã được phần nào “cởi trói” để đảm bảo quyền lợi của người lao động, kích thích người lao động hăng hái sản xuất.
Xin nhắc lại là “Các nông trường quốc doanh là những đơn vị xí nghiệp của Nhà nước, quản lý theo chế độ kinh tế hạch toán, được Nhà nước cấp vốn để sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước” (Thông tư số 348-TTg ngày 30/08/1961 của Thủ tướng Chính phủ). NTSH hoạt động theo cơ chế một nông trường quốc doanh nhưng không được “Nhà nước cấp vốn”. Cứ cho rằng NTSH là đơn vị được cấp vốn từ ngân sách nhà nước thì việc lập quỹ như trên cũng không thể là “hành vi nguy hiểm cho xã hội được”.
Khi đã không xác định được một trong 4 yếu tố về: mặt khách quan, khách thể, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm thì không thể kết luận một người phạm một tội nào đó. Đối với vụ án “Nông trường Sông Hậu”, chúng tôi phân tích là không hội đủ 3 yếu tố: mặt khách quan, khách thể và mặt chủ quan của tội phạm có tội danh là “tội lập quỹ trái phép”. Do đó không có tội phạm này xảy ra tại NTSH.
Việc “cắt khúc” giai đoạn để quy kết bà Trần Ngọc Sương phạm tội là không khách quan. Vì quỹ bị gọi là “quỹ trái phép” đã hình thành trong suốt 30 năm xây dựng và trưởng thành của NTSH. Quỹ đó đã góp phần làm nên kỳ tích mà chưa có một đơn vị kinh tế nông nghiệp quốc doanh cũng như tập thể nào đạt được.
4. Kiến nghị:
Kính thưa các cấp lãnh đạo,
Nghĩ về ông Nguyễn Kim Ngọc, người được truy tặng danh hiệu Anh hùng lao động sau khi qua đời, tôi chạnh lòng nghĩ về cố Anh hùng lao động Trần Ngọc Hoằng và người con của ông, Anh hùng lao động Trần Ngọc Sương. Mỗi người một số phận, nhưng họ có điểm chung là đã suy tư, trăn trở, quên mình vì cơm ăn, áo mặc, vì hạnh phúc của người nông dân chân lấm tay bùn, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”.
Người dân tỉnh Hậu Giang, tỉnh Cần Thơ trước đây và Tp Cần Thơ ngày nay tự hào về Nông trường Sông Hậu, nhân dân Việt Nam nói chung và giai cấp nông dân Việt Nam nói riêng cũng tự hào về điểm sáng của một phương thức làm ăn mới ở Nông trường Sông Hậu, về những con người có tâm và có tài, “chí công vô tư” như cố giám đốc Trần Ngọc Hoằng và nguyên giám đốc Trần Ngọc Sương.
Hệ lụy đã đến với NTSH từ sau khi tách tỉnh năm 2004, và năm 2005 có lãnh đạo mới ở địa phương khác được điều về Tp Cần Thơ. Những ý kiến trung thực, tâm huyết của các vị lãnh đạo tiền nhiệm đã không được lắng nghe nên đã có một “vụ án Nông trường Sông Hậu” làm triệt tiêu những ấp ủ, những dự án dựa trên nền tảng sẵn có của một mô hình kinh tế có qui mô sản xuất lớn, đã được khẳng định về tính hiệu quả, đang chuẩn bị có những bước điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển chung của đất nước và hội nhập quốc tế theo tinh thần và nội dung của Nghị định số 170/2004/NĐ-CP ngày 22/09/2004 của Chính phủ.
Đã bắt đầu năm 2012, chuẩn bị đón tết nguyên đán Nhâm Thìn, trên tinh thần thượng tôn pháp luật, tôi viết thư kiến nghị này kính đề nghị các cấp có thẩm quyền, mà trực tiếp là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ xem xét, áp dụng Khoản 2 Điều 107, Khoản 1 Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự để ra quyết định đình chỉ vụ án và đình chỉ vụ án đối với bị can Trần Ngọc Sương (và những bị can khác) về “tội lập quỹ trái phép”.
Nhân dịp năm mới 2012 và tết nguyên đán Nhâm Thìn, kính chúc các Cấp lãnh đạo nhiều sức khỏe và bình an để cùng toàn dân xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trân trọng cảm ơn!
Người viết thư kiến nghị


Nơi gởi:
- Như trên
- Báo Đại đoàn kết
- Báo Tiền phong
- lưu



Luật sư Trịnh Minh Tân
[1] Bình luận Bộ luật Hình sự, tr. 214 – NXB Tư pháp, Hà Nội, năm 2008
[2] Bình luận Bộ luật Hình sự, tr. 214 – NXB Tư pháp, Hà Nội, năm 2008
[3] Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999, tr. 290 – NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2001


-UBMTTQVN kiến nghị đình chỉ điều tra bà Trần Ngọc Sương(Tamnhin.net) - Ủy ban Trung ương MTTQVN vừa có công văn số 1594 kính gửi Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án TANDTC, kiến nghị về vụ án tại Nông trường Sông Hậu “đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bà Trần Ngọc Sương về tội danh lập quỹ trái phép” để “xử lý hành chính và dân sự”.
Công văn do Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Vũ Trọng Kim ký ngày 12-8, trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án, tham vấn ý kiến các chuyên gia pháp luật của Mặt trận và “thảo luận tập thể ý kiến của VKSNDTC”. Nội dung chính như sau:

“Một là, vụ án “lập quỹ trái phép” ở Nông trường Sông Hậu, việc quy buộc bà Trần Ngọc Sương “lập quỹ trái phép” gây thiệt hại nghiêm trọng là một vụ án phức tạp, có những tình tiết chưa rõ ràng, làm nảy sinh những vấn đề pháp lý còn có những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Các sự việc đề cập trong vụ án xảy ra trong một thời gian dài, ít nhất từ năm 1994 đến năm 2007, với nhiều thay đổi trong lĩnh vực pháp luật, kinh tế-kinh doanh, quản lý nhà nước về kinh tế-kinh doanh.

Điều đó đòi hỏi phải có quan điểm lịch sử để xem xét, xử lý vấn đề, đồng thời vận dụng đúng đắn pháp luật, các quy định của pháp luật trong từng giai đoạn đổi mới nền kinh tế và cơ chế kinh tế tài chính ở nước ta.

Cần làm rõ, xác định đúng trách nhiệm của bà Trần Ngọc Sương đối với quỹ tại Nông trường Sông Hậu.

Hai là, việc quy buộc bà Trần Ngọc Sương “lập quỹ trái phép” không có cơ sở pháp lý và thực tiễn:

1/ Căn cứ vào hồ sơ vụ án, cái gọi là “quỹ trái phép” tại Nông trường Sông Hậu đã có từ năm 1994, 6 năm trước khi bà Trần Ngọc Sương được cử làm GĐ Nông trường. Như vậy, rõ ràng bà Sương không đưa ra chủ trương thành lập quỹ, không đứng ra thành lập quỹ và cũng không được giao trách nhiệm quản lý, điều hành quỹ tại Nông trường Sông Hậu từ năm 1994 đến năm 2000.

2/ Quỹ tại Nông trường Sông Hậu đã hình thành từ hoạt động của Ban đời sống Công đoàn của Nông trường ngay từ ngày thành lập Nông trường năm 1979, do Ban chấp hành Công đoàn Nông trường quản lý và chịu trách nhiệm trước các khoản thu, chi của quỹ trong thực tiễn. Các nguồn thu của quỹ đều không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước mà bắt nguồn từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công đoàn. Các nguồn chi chủ yếu là hỗ trợ cho hoạt động của Nông trường. Chúng tôi chưa tìm được bất kỳ quy định nào vào thời điểm đó cấm, quy định việc thành lập một quỹ tương tự.

Trong điều kiện đối với một hành vi mà pháp luật không cấm và không có quy định thì không được coi hành vi đó là trái phép. Theo các chuyên gia pháp luật, có một nguyên tắc pháp lý được công nhận là “công dân được quyền làm những gì mà pháp luật không cấm”.

Từ lập luận nói trên, chúng tôi cho rằng hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và thực tế nào để quy buộc bà Trần Ngọc Sương “lập quỹ trái phép” theo Điều 166 Bộ luật hình sự.

3/ Bà Trần Ngọc Sương tất nhiên chịu trách nhiệm về các khoản chi mà quỹ giao cho để bà thực hiện các công việc, nhiệm vụ mà Nông trường giao cho bà. Các sai phạm và các khoản chi này không mang tính hình sự, không thể coi là gây thiệt hại phải truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ mang tính hành chính, dân sự.

Bà Trần Ngọc Sương có trách nhiệm rà soát lại từng khoản chi quỹ đã giao cho bà, nộp lại cho quỹ những phần tiền chi vượt các quy định của pháp luật hoặc thỏa thuận hợp pháp với quỹ.

Do chưa có đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn để xác định quỹ đã hình thành và hoạt động liên tục nhiều năm tại Nông trường Sông Hậu là trái pháp luật; do chưa có đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn nào để quy buộc bà Trần Ngọc Sương có dấu hiệu phạm tội “lập quỹ trái phép”, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQVN cho rằng không có cơ sở để truy tố, đưa ra xét xử tại tòa án bà Trần Ngọc Sương với tội danh “lập quỹ trái phép”.

Vì vậy, theo chúng tôi, biện pháp tối ưu xử lý trong vụ này là:

a, Đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bà Trần Ngọc Sương về tội danh “lập quỹ trái phép”.

b, Xử lý các sai sót của bà Trần Ngọc sương trong lĩnh vực tài chính bằng các biện pháp hành chính và dân sự.

Cách xử lý này vừa phù hợp với các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự; vừa có tình và có tính tới cống hiến to lớn của bà Trần Ngọc Sương và gia đình đối với Nông trường Sông Hậu, vừa giữ được trọn vẹn đạo lý trước sau ở đời theo truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, vừa giải tỏa được những bức xúc của đông đảo nhân dân, các vị lão thành cách mạng lâu nay luôn dành tình cảm tốt đẹp cho Nông trường Sông Hậu-Một biểu tượng tiêu biểu nhất của mô hình nông trường XHCN còn lại và phát triển vững chắc trong thời kỳ đổi mới”.

Sáu Nghệ

Nguồn: -UBMTTQVN kiến nghị đình chỉ điều tra bà Trần Ngọc Sương

-
TLQ:
-

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét