Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

NHÌN LẠI NHỮNG NĂM CON RỒNG TRONG LỊCH SỬ

Sưu tầm của GS Nguyễn Lý-Tưởng
Trong tác phẩm “VANG BÓNG MỘT THỜI” nhà văn Nguyễn Tuân (thời tiền chiến 1945) đã giới thiệu các biến cố của năm 1916 (Bính Thìn) với lời mở đầu hết sức trịnh trọng: “quyển lịch năm đó, màu vàng, bìa đỏ, có mang kim ấn niên hiệu Duy Tân Thập Niên...” Năm đó, vua mất ngôi, quan mất việc, thiên tai bão lụt, mất mùa, dân đói khát nằm chết dọc đường...Trước khi nhìn lại những năm Thìn trong lịch sử, chúng ta thử tìm hiểu quan niệm của người Trung Hoa xưa về năm Thìn tốt, xấu như thế nào?

Ảnh minh họaNăm THÌN là Năm CON RỒNG, đứng hàng thứ 5 trong 12 con giáp... Người Tàu, người Nhật, Đại Hàn hay Việt Nam đều tin rằng tuổi con rồng là tuổi may mắn. Rồng tượng trưng cho con vật linh thiêng, bay cao trên mây, ít ai thấy được rồng xuất hiện. Gần như rồng là con vật tưởng tượng của người Tàu... Rồng là biểu tượng của nhà vua, thấy được mặt vua thì gọi là thấy “long nhan” (mặt rồng), “long sàng” là cái giường của vua nằm, “long vị” là chỗ vua ngồi, địa vị của vua. Chôn trúng chỗ “hàm rồng”, “long mạch” là chỗ kết phát, con cháu sẽ giàu sang, phú quý. Những câu chúc tụng như: “Long đằng, vân phi” (rồng lên thì mây bay) ý nói sự nghiệp vẻ vang đến, thỏa chí vẫy vùng... Nam Nhâm, Nữ Quý... nếu là con trai mà sinh năm Nhâm Thìn thì rất tốt, đường xuất ngoại hanh thông, “sống ở làng, sang ở nước” thoát được cảnh chân lấm tay bùn nơi quê nghèo, để ra đi làm quan ở nơi quyền thế, vẻ vang... Người ta cũng nói “Nam: Đinh, Nhâm; Nữ: Quý, Giáp”, con trai sinh vào năm Đinh, năm Nhâm; con gái sinh vào năm Quý,năm Giáp... là số tốt, học giỏi, tài cao, khôi ngô, tuấn tú, làm nên giàu sang, phú quý... Dân tộc Việt chúng ta cho mình là con cháu “Tiên, Rồng”, xuất thân từ một tổ tiên anh hùng, linh thiêng hơn giống người khác. Biểu tượng con rồng rất được người mình ưa thích, thường trang trí hình con rồng, con phượng...
Năm 2012 là năm NHÂM THÌN, l năm tốt theo quan niệm: nam Đinh, Nhâm; nữ Quý, Giáp ...Thực tế có đúng như vậy hay không thì những người mang tuổi Đinh, Nhâm, Quý, Giáp mới có kinh nghiệm về vấn đề nầy.
Theo chúng tôi, thì tuổi THÌN cũng có người tốt, người xấu... Nói chung, người Việt Nam trong thế kỷ 20 này, không gia đình nào tránh khỏi hoạn nạn vì chiến tranh, vì thay đổi chế độ, thay đổi nếp sống xã hội, phải ly tán, mất quê hương, xa bà con họ hàng, bè bạn... Theo Sấm Trạng Trình: (trích lại tài liệu được phổ biến trứơc 1975 tại Miền Nam VN cho rằng do Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm viết vào năm Nhâm Tý, 1552 từ  cu 398 như sau):
   “Long vĩ, xà đầu khởi chiến tranh

Can qua, xứ xứ động đao binh.


Mã đầu Dương cước anh hùng tận


Thân Dậu niên lai kiến thái bình.
(Cuối năm Thìn, đầu năm Tỵ bắt đầu chiến tranh
 Nơi nơi đều xảy ra cuộc đao binh
 Đầu năm Ngọ, cuối năm Mùi thì anh hùng hết số
 Năm Thân, năm Dậu sẽ thấy cảnh thái bình)

Tiếp theo, từ câu 410 như sau:
   “Cửu cửu càn khôn dĩ định
   Thanh minh thời tiết hoa tàn
   Trực đáo dương đầu mã vĩ
   Hồ binh bát vạn nhập Trường An”
(số 9 là số càn khôn đã định
 Tiết Thanh minh mà hoa tàn
  Đầu năm Mùi cuối năm Ngọ
  Quân Hồ tám vạn vào Tràng An)
Tràng An được hiểu là Kinh đô củaViệt Nam ngày xưa. Hồ binh bát vạn được hiểu là quân Tàu khoảng 8 vạn xâm nhập kinh đô...Câu “Trực đáo dương dầu mã vĩ” nếu nghĩ về tương lai thì cuối năm Ngọ (Mã vĩ: Giáp Ngọ, 2014) và đầu năm Muì (Dương dầu: Ất Mùi: 2015) và năm Bính Thân: 2016 là năm có con số 9 “cửu cửu càn khôn dĩ định” (2+1+6=9). Năm đó mới là năm kết thúc...
Các con số 9 mà chúng ta biết là 1945, 1954, 1963, 1972, 1981, 1999, 2009, 2016, 2018...là những năm có số 9 hoặc cộng lại thành số 9...Năm Thìn 2012 nằm trong “Cửu cửu càn khôn dĩ định” và “Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh” như nhiều người hiểu phải là năm Nhâm Thìn 2012 nầy...sẽ có nhiều biến cố xảy ra cho nước Việt Nam. Năm 2012 đối với Mỹ Châu là năm kỷ niệm 500 năm Đức Mẹ hiện ra tại Guadalupe. Đức Mẹ Guadalupe là bổn mạng của Mỹ Châu. Lễ kính vào ngày 12/12 hằng năm. Nhưng năm 2012 là năm có 03 con số 12 nên nhiều người tiên đoán sẽ có biến cố lớn xảy đến cho Mỹ Châu và thế giới.

Chng tôi cũng được biết có một nhóm người tại Việt Nam (vùng Long Khánh-Bình Tuy) thường họp nhau cầu nguyện và nhận được những tin tức qua một người chỉ có trình độ học vấn lớp 3 tiểu học. Người nầy cho biết đ được Đức Mẹ  Maria mạc khải cho biết năm 2012 là năm bắt đầu có biến cố (từ 1972 đến 2012 là 40 năm) khởi đi từ năm 1972 biến cố xảy ra tại Quảng Trị với “Đại lộ kinh hoàng tại Quảng Trị” là ‘biển máu” và 40 năm sau 2012 là kết thúc ...trong vòng 40 năm (1972-2012)....Năm 2012 là năm Nhâm Thìn sẽ có biến cố lớn cho nước Việt Nam...Điều nầy cũng phù hợp với “Sấm Trạng Trình”: “Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh” (cuối năm Thìn đầu năm Tỵ...sẽ có chiến tranh). Năm 2012 là năm Thìn...cuối năm Thìn (2012) đầu năm Tỵ (2013) nằm trong “Cửu cửu càn khôn dĩ định” ...năm 2016 là năm có số 9 : 2+1+6=9 là năm có số 9...

Cách nay mấy năm, Đức Giám Mục Nguyễn Thanh Hoan ở Phan Thiết (nay đã về hưu) có ra một thông cáo nhắc nhở giáo dân không nên nghe theo những tin đồn do nhóm nầy đưa ra.

Sau đây, xin ghi lại một vài năm THÌN có nhiều biến cố trong lịcch sử với mục đích giúp mọi người biết lịch sử nước nhà trải qua thời cổ đại, cận đại cũng như hiện đại để mà “ Ôn cố, tri tân.”


- GIÁP THÌN (257 trước Công Nguyên): An Dương Vương lập ra nước Âu Lạc.
Theo truyền thuyết, Quốc Tổ nước ta là Hùng Vương, họ Hồng Bàng, truyền được 18 đời, binh hùng tướng mạnh, độc lập một phương, lân bang kính nể.  Hùng Vương có người con gái tên là Mỵ Nương, nhan sắc tuyệt trần. Vua nước Thục muốn hỏi làm vợ mà không được, nhiều lần đem quân đến đánh đều thất bại nên trước khi chết dặn con cháu phải trả thù. Vua Hùng Vương thứ 18 vì ham mê tửu sắc, ăn chơi không lo bảo vệ giang sơn nên bị cháu vua Thục là Thục Phán đem quân đánh lấy mất nước. Năm Giáp Thìn (257 trước Công Nguyên), Thục Phán tự xưng là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc (tức Âu Việt và Lạc Việt), đóng đô ở Phong Khê (nay là huyện Đông Anh, tỉnh Vĩnh Phú). Thục Vương xây Loa Thành, có hình trôn ốc (Loa là con ốc) và chế ra được nỏ thần rất lợi hại. Hiện nay còn dấu tích ở làng Cổ Loa, huyện Đông Anh.
Triệu Đà là quan của nhà Tần (221-206 trước Công Nguyên) lợi dụng lúc nhà Tần suy yếu bèn tự xưng làm vua, đặt tên nước là Nam Việt. Triệu Đà cho con là Trọng Thủy hỏi con gái của An Dương Vương Thục Phán làm vợ và đi lại để ý dò xét bí mật Nỏ Thần của Âu Lạc. Sau đó Triệu Đà mới đem quân đánh lấy nước Âu Lạc của Thục Phán.
Thục Phán không ngờ nên bị thua, một mình lên ngựa đem theo con gái là Mỵ Châu bỏ chạy. Trọng Thủy, con Triệu Đà đem quân đuổi theo. Thục Phán cùng đường bèn rút gươm giết con gái rồi nhảy xuống biển tự tử. Trọng Thủy đến nơi, thấy xác vợ nằm chết giữa đường, quá hối hận bèn nhảy xuống giếng tự tử... Triệu Đà đem nước Âu Lạc nhập làm một với nước Nam Việt dưới quyền cai trị của mình.
- GIÁP THÌN (137 trước Công Nguyên): Triệu Đà tức Triệu Vũ Vương mất, thọ 121 tuổi. Cháu đích tôn (con của Trọng Thủy) là Triệu Hồ lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Triệu Văn Vương.
Thời nhà Tần, Triệu Đà được lệnh đem quân lính vượt Ngũ Lĩnh đi về phương Nam để mở rộng lãnh thổ. Ngoài ra Triệu Đà còn đem theo cả những người bị án tù tội, những người con trai ở gởi rể và những người thất nghiệp đi theo để khai phá Miền Nam Ngũ Lĩnh. Quân lính được lệnh đem theo cả vợ con gia đình, định cư luôn không được trở về quê cũ. Triệu Đà còn gởi thư về cho vua Tàu xin thêm một số đàn bà góa, con gái ế chồng để cho lính cưới làm vợ hầu tăng thêm dân số tại vùng đất mới. Chính sách đó gọi là “thực dân” (thực nghĩa là trồng cây).
Tần Thủy Hoàng (tên thật là Lữ Chính, do Thái Hậu tư thông với Lữ Bất Vi mà sinh ra ông). Sau khi Tần Thủy Hoàng mất, nhà Tần suy yếu, Lưu Bang và hạng Võ tranh hùng, Triệu Đà bèn tuyên bố độc lập, chiếm cứ một phương, không đóng thuế cho nhà Tần. Lưu Bang thắng Hạng Võ, lên ngôi tức Hán Cao Tổ (nhà Hán), bèn cho Lục Giả qua Nam Việt thuyết phục Triệu Đà về với nhà Hán.
Triệu Đà hỏi sứ nhà Hán rằng: “Trong thiên hạ, ta và Hán Cao Tổ, ai anh hùng hơn ai ?”. Lục Giả trả lời: “Ngài cũng là một anh hùng trong thiên hạ, nhưng làm sao so sánh được với Hán Cao Tổ Lưu Bang, ngồi trên mình ngựa mà thu phục được cả giang sơn”. Triệu Đà bèn đáp lại rằng: “Vì ta ở xa chứ nếu ta có mặt tại Trung Quốc trong thời điểm đó, thì chưa biết giữa ta và Hán Cao Tổ Lưu Bang, ai sẽ là người thu phục được cả thiên hạ”.
Triệu Đà quả là một người có chí lớn, tự tay tạo dựng được một giang sơn hùng mạnh. Nhưng sau khi ông mất, con cháu không nối được chí lớn của tổ tiên, nên nước Nam Việt lại bị nhà Hán cai trị và thời kỳ Bắc thuộc kéo dài cả ngàn năm.
- MẬU THÌN (248 sau Công Nguyên): Bà Triệu (tức Triệu Thị Trinh) khởi binh đánh nhà Ngô (Ngô Tôn Quyền, thời Tam Quốc).
Bà Triệu quê ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa bây giờ, là người có sức mạnh, chí khí và mưu lược, đã quy tụ được cả ngàn người, chiếm một vùng rừng núi để chống lại quân Tàu. Bà thường nói với mọi người rằng: “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm chìm, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong cưng để làm tì thiếp người ta”.
Năm Mậu Thìn (248), bà đem quân giúp anh là Triệu Quốc Đạt khởi binh đánh quận Cửu Chân. Quân sĩ tôn bà lên làm người chỉ huy của họ. Khi ra trận, bà cưỡi voi, mặc áo giáp và xưng là “Nụy Kiều Tướng Quân”. Bà chống nhau với tướng nhà Ngô là Lục Dận, Thứ Sử Giao Châu, được 6 tháng thì bị thua, phải đem quân chạy vào xã Bồ Điền (nay là xã Phú Điền, huyện Mỹ Hóa, tỉnh Thanh Hóa) rồi tự tử. Vua Lý Nam Đế phong cho bà là bậc anh hùng và nhân dân đã lập đền thờ bà ở xã Phú Điền, tỉnh Thanh Hóa.
- MẬU THÌN (458): Sau khi Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục bèn xưng vương để chống lại quân Tàu.
Truyện xưa chép rằng, Triệu Quang Phục lập chiến khu ở Đầm Dạ Trạch, chống với quân Tàu nhiều năm mà không thắng được. Nhân bên Tàu có loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương phải triệu Trần Bá Tiên về để dẹp loạn, thành Long Biên chỉ còn lại tên Phó Tướng là Dương Sàn. Nhân đó, Triệu Quang Phục mới đem quân về đánh chiếm được thành này.
- CANH THÌN (860): Nhà Đường sai Lý Hộ sang làm Đô Hộ Sứ ở Giao Châu.
Nước Nam Chiếu (nay thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) cũng có tên là là Đại Mông, Đại Lệ hay Đại Lý là một dân tộc hùng mạnh thời ấy, đem quân đánh Giao Châu chống lại nhà Đường, hai lần chiếm thành giết hại hơn 15 vạn người Giao Châu (Giao Châu xưa là đất của người Việt, nay là vùng Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc). Đến đời Cao Biền ( 865) qua cai trị nước ta mới diệt được Nam Chiếu.
- GIÁP THÌN (944): Ngô Quyền mất, thọ 47 tuổi.
Ngô Quyền đánh được quân Nam Hán, giết thái tử Lưu Hoằng Thao trên sông Bạch Đằng (938), năm sau (939), Ngô Quyền tự xưng làm vua, đóng đô ở Cổ Loa (huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên nay là Vĩnh Phú) được 6 năm thì mất. Con là Ngô Xương Ngập nối ngôi bị cậu ruột là Dương Tam Kha cướp mất quyền. Từ đó trong nước loạn lạc, các anh hùng nổi lên mỗi người chiếm một địa phương, độc lập gọi là loạn 12 sứ quân.
- MẬU THÌN (968): Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, sử gọi là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (thuộc tỉnh Ninh Bình nay là Hà Nam Ninh). Lần đầu tiên nước ta được Trung Quốc thừa nhận là một quốc gia độc lập và phong cho Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ Quận Vương, phải tuân theo lệ triều cống như các nước khác đối với Trung Quốc.
- BÍNH THÌN (1076): Vua Lý Nhân Tông (1072-1127) lập trường Quốc Tử Giám dành cho các hoàng tử và con các quan đến học và chọn những người có trình độ văn hóa cao vào dạy.
Cũng trong năm đó, quân nhà Tống vào xâm phạm vùng biên giới nước ta. Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh, giết hơn 1000 quân Tống ở sông Như Nguyệt (thuộc địa phận tỉnh Bắc Ninh, tức sông Cầu bây giờ). Tướng của nhà Tống là Quách Quỳ phải rút quân về phía Tây, đóng ở bờ sông Phú Lương (thuộc huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên xưa). Quân Tống quyết phá quân Lý Thường Kiệt nên dồn hết lực lượng và dùng máy bắn đá vào thuyền quân ta làm cho quân ta bị tổn thất rất nhiều. Lý Thường Kiệt bèn đọc lên bốn câu thơ, nói là của thần thánh ban cho, mục đích kêu gọi tinh thần tự chủ, độc lập của quân ta để cương quyết bảo vệ giang sơn của Đại Việt:
Nam quốc sơn hà, Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Núi sông nước Nam, vua Nam ở,
Sách trên Trời đã quy định rõ ràng như vậy rồi.
Tại sao bọn giặc chúng bây lại dám đến đây mà xâm phạm?
Bọn chúng mày chắc chắn sẽ thất bại mà thôi)
Quân sĩ Đại Việt nghe bài thơ đó thì lên tinh thần và cương quyết giữ nước, quân nhà Tống không xâm phạm được. Để duy trì hòa bình giữa hai nước, vua nhà Lý sai sứ qua Trung Quốc điều đình xin hoãn binh. Quân Tống thấy không thắng được Đại Việt nên rút lui.
- NHÂM THÌN (1171): Từ 1171-1772, vua Lý Anh Tông đi thăm trong nước, xem hình thế núi sông, đường sá, đời sống của dân và sai quan vẽ bản đồ nước ta, ghi rõ mọi chi tiết dâng lên nhà vua biết.
- NHÂM THÌN (1232): Trần Thủ Độ, Thái sư của vua nhà Trần lập mưu đào hầm, làm nhà lá ở trên, mời những con cháu vua nhà Lý đến làm lễ tế Tổ Tiên nhà Lý rồi cho sụp xuống hầm giết hết, không còn một ai sống sót. Trước đó, Trần Thủ Độ cho cháu là Trần Cảnh lấy công chúa nhà Lý là Lý Chiêu Hoàng rồi buộc Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng và Lý Chiêu Hoàng được phong làm Hoàng Hậu. Từ đó ngai vàng nhà Lý đã về tay nhà Trần. Lý Chiêu Hoàng không có con nối dòng nên Trần Thủ Độ bắt Trần Cảnh (Trần Thái Tông) phế bỏ Lý Chiêu Hoàng mà lấy chị dâu là vợ của Trần Liễu (cha của Trần Hưng Đạo) lúc đó đang có thai để có con nối dòng. Trần Liễu bị cướp mất vợ nên đem quân chống lại Trần Thủ Độ... Sau đó, Trần Liễu xin hàng Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Sau khi giết hại con cháu nhà Lý, Trần Thủ Độ bắt người họ Lý đổi ra họ Nguyễn để trong thiên hạ không còn họ Lý nữa.
Cũng trong năm Nhâm Thìn (1232) này, nhà Trần mở khoa thi Thái Học Sinh (Tiến Sĩ) để tuyển chọn nhân tài ra giúp nước.
- BÍNH THÌN (1316): Vua Trần Minh Tông (1314-1329) xét lại cấp bậc của quan văn, quan võ trong nước để có quy cũ, ngạch trật chính thức.
- BÍNH THÌN (1376): Đời vua Trần Duệ Tông (1374-1377) quân Chiêm Thành vào quấy phá ở Hóa Châu (Thừa Thiên, Huế bây giờ). Vua nước Chiêm là Chế Bồng Nga, một người anh hùng mưu lược, đem 15 mâm vàng qua nhờ quan Trấn Thủ Hóa Châu là Đỗ Tử Bình trình lên vua. Đỗ Tử Bình lấy vàng đó và nói dối với vua rằng Chế Bồng Nga ngạo mạn vô lễ, xin vua cử binh sang đánh nước Chiêm. Các quan can gián, vua không nghe. Vua kéo quân đến tận thành Đồ Bàn, kinh đô của Chiêm Thành, Chế Bồng Nga lập mưu bỏ thành trống và cho người ra hàng nói rằng vua Chiêm sợ quân Đại Việt nên đã bỏ trốn rồi. Trần Duệ Tông khinh địch, kéo quân vào thành bị phục binh của Chế Bồng Nga giết chết. Quân ta tổn thất rất nhiều, Hồ Quý Ly cũng bỏ chạy, các tướng đều chạy thoát thân, không ai lo cứu vua. Sau đó, quân Chế Bồng Nga nhiều lần vào đánh phá kinh đô Thăng Long của ta. Về sau quân ta biết được thuyền của Chế Bồng Nga nên đã tập trung lực lượng, tấn công vào thuyền đó, Chế Bồng Nga bị bắn chết.  Từ đó, quân Chiêm Thành không còn quấy phá Kinh đô Thăng Long nữa.
- CANH THÌN (1400): Hồ Quý Ly truất phế vua nhà Trần là Trần Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua. Nhà Trần làm vua được 175 năm, truyền được mười hai đời, có công chống quân Nguyên xâm lăng, giữ độc lập, lấy đất Chiêm Thành, mở mang bờ cõi, chỉnh đốn việc học hành, tổ chức hành chánh cai trị, lập ra luật pháp, mở mang kinh tế làm cho dân giàu nước mạnh. Các vua cuối đời nhà Trần kém cõi, ham chơi, không giữ được giang sơn của tổ tiên nên bị Hồ Quý Ly cướp ngôi.
- GIÁP THÌN (1424): Bình Định Vương Lê Lợi đem quân lấy đất Nghệ An. Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hóa) từ 1418, trải qua mấy năm gian khổ, có khi phải rút quân vào rừng, ẩn náu và phải hòa với giặc để củng cố lực lượng. Năm 1424, Bình Định Vương bàn với các tướng sĩ quyết chiếm cho được đất Nghệ An mới có thể tiến ra Đông Đô (Hà Nội) được. Quân của Lê Lợi đánh thắng được Lương Nhữ Hốt ở đồn Đa Căng, chém tướng nhà Minh là Trần Trung ở núi Bồ Điệp (phủ Quý Châu), Trần Trí, Phương Chính thua chạy, thắng quân Minh ở Ải Khả Lưu... bao vây thành Nghệ An. Dân chúng nghe tin quân Bình Định Vương kéo đến liền đem trâu bò rượu, thức ăn ra đón mừng, khắp nơi dân chúng nổi dậy theo Lê Lợi nên thế quân càng mạnh. Bình Định Vương đánh thắng được quân Trần Trí và Lý An. Lý An bị bao vây trong thành phải đầu hàng còn Trần Lý kéo quân chạy về thành Đông Quan (Hà Nội). Sau 10 năm kháng chiến chống quân Minh, năm 1428, Lê Lợi đại thắng, thu lại giang sơn Đại Việt và lên làm vua, tức Lê Thái Tổ.
- MẬU THÌN (1448): Dưới đời vua Lê Nhân Tông (1443-1459), nước Bồn Man xin nội thuộc nước ta. Bồn Man là một phần của nước Lào ngày xưa, phía Đông Nam giáp tỉnh Nghệ An, tỉnh Quảng Bình, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hưng Hóa và Thanh Hóa.
- CANH THÌN (1580): Con cháu nhà Lê chiếm được đất từ Thanh Hóa trở vào phía Nam để chống nhau với họ Mạc từ Nam Định trở ra Bắc, đến năm Canh Thìn (1580), nhà Lê mở khoa thi tại Thanh Hóa (Tây Đô) để tuyển dụng nhân tài ra giúp nước. Việc học trong thời kỳ này vẫn còn đơn sơ, chưa có tổ chức quy mô.
- GIÁP THÌN (1644): Sau khi Trịnh Tùng đã diệt được nhà Mạc, đưa vua Lê về Thăng Long (Hà Nội) rồi thì đến đời Trịnh Tạc, năm 1664, Giáp Thìn, mới tổ chức thi Hội (lấy bằng Tiến Sĩ). Cứ ba năm một lần có tổ chức thi Hương (Tú Tài, Cử Nhân) và năm sau thi Hội (Phó Bảng, Tiến Sĩ).
Ông Phạm Công Trứ định lại mức đo lường cứ 1.200 hột thóc là một thược, 10 thược là một hạp, 10 hạp là một thăng, 10 thăng là một đấu, 10 đấu là một hộc.
- Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần ở Đàng Trong (Nam Hà) ra lệnh bắt giam và xử tử những nhà truyền giáo ngoại quốc và những người Việt Nam theo đạo, tiếp tay đi truyền đạo Thiên Chúa tại Quảng Nam (Đà Nẵng).
- BÍNH THÌN (1676): Vua Lê Hy Tông (1676-1705) ra lệnh cho Lê Hy và Nguyễn Quý Đức tiếp tục chép sử từ vua Huyền Tông (1663-1671) đến Gia Tông (1672-1675).
- BÍNH THÌN (1746): Trịnh Doanh ra luật thuế muối, cứ 50 mẫu ruộng muối thì phải nộp 40 hộc muối, mỗi hộc muối giá 180 tiền đồng.
- NHÂM THÌN (1752): Tháng 6, quân Xiêm (Thái Lan) vào chiếm Nam Vang, Vua Miên (Kampuchia) kêu cứu, chúa Nguyễn sai Nguyễn Cửu Đàm đem quân đánh Nam Vang. Quân ta tiến vào Nam Vang, quân Xiêm bỏ chạy về Hà Tiên. Lúc bấy giờ Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên thường bị quân Xiêm đánh phá nên phải xin theo chúa Nguyễn để nhờ thế lực của chúa Nguyễn chống lại quân Xiêm.
- Trịnh Cương bắt những người theo đạo Thiên Chúa (Công Giáo) phải khắc vào trán bốn chữ “Học Hoa Lan đạo” tức đạo của người Tây Phương (Hòa Lan).
- GIÁP THÌN (1784): Quân Tam Phủ thường gọi là lính Kiêu Binh là những người gốc Thanh Hóa, Nghệ An được tuyển làm lính canh gác cung vua Lê và phủ chúa Trịnh ở Thăng Long (Hà Nội) nổi loạn ủng hộ Trịnh Tông (con trưởng của Trịnh Sâm) chống Trịnh Cán (con thứ của Trịnh Sâm, mẹ là Đặng Thị Huệ).  Chúng kéo nhau đi phá nhà quan Tham Tụng Nguyễn Khản (anh Nguyễn Du). Nguyễn Khản phải chạy lên Sơn Tây nương nhờ người em là quan Trấn Thủ Nguyễn Điều, bàn mưu đem Trịnh Tông (Khải) ra ngoài rồi gọi binh các trấn về dẹp loạn Kiêu Binh. Nhưng việc bị lộ nên quân Kiêu Binh bao vây phủ chúa, không cho Trịnh Tông ra ngoài... Dân chúng trong kinh đô vua Lê rất khốn khổ... Nhân cơ hội đó, Nguyễn Hữu Chỉnh trốn vào Quy Nhơn mựơn tay anh em Tây Sơn về trả thù cho chủ là Hoàng Đình Bảo (phe Đặng Thị Huệ bị Kiêu Binh giết).
- Giám Mục Bá Đa Lộc (Pingeau de Béhaine) đem Hoàng Tử Nguyễn Phúc Cảnh (con chúa Nguyễn Phúc Ánh) qua Pháp cầu viện. Nguyên từ đêm 30 tháng Chạp năm Giáp Ngọ (đầu năm 1775), khi quân Trịnh tiến vào Phú Xuân (Huế) thì Nguyễn Phúc Ánh, lúc đó mới 14 tuổi, chạy theo người chú ruột là chúa Nguyễn Phúc Thuần cùng gia đình vào Gia Định. Sau khi quân Tây Sơn dàn xếp được với quân Trịnh, yên được mặt Bắc (Huế), họ kéo vào đánh chúa Nguyễn ở Gia Định. Chúa Nguyễn bị hại, Nguyễn Phúc Ánh được các tướng nhà Nguyễn tôn lên làm Nhiếp Chính Vương (khi đó mới 17 tuổi) để lãnh đạo quân Nguyễn chống Tây Sơn. Nguyễn Ánh đã nhiều lần bị quân Tây Sơn đánh bại, phải trốn chạy nơi này nơi khác ở ngoài biển vùng Vịnh Thái Lan, gặp được nhà truyền giáo Tây Phương là Bá Đa Lộc và gởi Hoàng Tử Cảnh đi theo Giám Mục Bá Đa Lộc qua Pháp cầu viện...
- CANH THÌN (1820): Thái Tử Nguyễn Phúc Đảm lên nối ngôi vua Gia Long lấy niên hiệu là Minh Mạng.
Nguyên Thế Tử Nguyễn Phúc Cảnh, con trưởng vua Gia Long chết sớm vì bệnh đậu mùa. Con trai của Thế tử còn nhỏ nên vua Gia Long chọn con thứ là Nguyễn Phúc Đảm lên nối ngôi. Các đại thần như Lê Văn Duyệt, Lê Chất khuyên vua nên chọn cháu đích tôn nối ngôi để giữ chính thống nhưng vua không nghe và đã chọn con thứ là Minh Mạng nối ngôi, lúc đó đã ngoài 30 tuổi. Sự việc này về sau đã gây nên chuyện tranh chấp giữa con cháu của Nguyễn Phúc Cảnh và vua Minh Mạng khiến cho con cháu Hoàng Tử Cảnh về sau bị vua Minh Mạng giết hại.
- BÍNH THÌN (1856): Dưới thời vua Tự Đức (1848-1883), tháng 8, tàu thủy của Pháp đến gây hấn, bắn phá cửa Đà Nẵng rồi bỏ đi.
- MẬU THÌN (1868): Sau khi mất ba tỉnh Miền Đông Nam phần là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường (hòa ước 1862), đến năm 1868, Việt Nam lại ký thêm hòa ước nhường cho Pháp ba tỉnh Miền Tây... Như vậy là toàn Miền Nam đã thuộc về người Pháp. Các cuộc kháng chiến do các nhà trí thức, nho sĩ và quan của triều đình ly khai chống lại Pháp, không chấp nhận hòa ước, đã kéo dài nhiều năm.
- Ngô Côn là một đảng cướp từ bên Tàu qua, đánh chiếm thành Cao Bằng, triều đình sai Phạm Chi Hương đi đánh dẹp. Phạm Chi Hương viết thư cho quan nhà Thanh xin quân Tàu giúp. Nhà Thanh sai Phó Tướng Tạ Kế Quý đem quân sang phối hợp với quân của Ông Ích Khiêm, Nguyễn Viết Thành đánh phá quân Ngô Côn ở Thất Khê. Tháng 7 năm Mậu Thìn (1868) quân ta thua, Tham Tán Nguyễn Lệ, Phó Đề Đốc Nguyễn Viết Thành tử trận, Tổng Đốc Phạm Chi Hương bị bắt... Vua Tự Đức sai Võ Trọng Bình làm Hà Ninh Tổng Đốc kiêm Quân Thứ Khâm Sai Đại Thần 3 tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn hợp với Đề Đốc Quảng Tây là Phùng Tử Tài đánh Ngô Côn, lấy lại được thành Cao Bằng (1869) đến năm 1870 Ngô Côn bị Ông Ích Khiêm bắn chết. Đàn em của Ngô Côn là Hoàng Sùng Anh (cờ vàng), Lưu Vĩnh Phúc (cờ đen) và Bàn Văn Nhị (cờ trắng), Lương Văn Lợi (cờ trắng) vẫn còn quấy nhiễu. Về sau bọn nầy được triều đình chiêu dụ về hợp tác để đánh Pháp.
- BÍNH THÌN (1916): Năm của thiên tai, bão lụt (lụt năm Thìn), mất mùa, dân mất việc, vua mất ngôi... Nửa đêm 3 tháng 5-1916, vua Duy Tân trốn ra khỏi kinh thành Huế cùng với hai người hộ vệ là Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu để đi gặp hai nhà cách mạng Thái Phiên và Trần Cao Vân... khởi nghĩa chống Pháp. Kế hoạch khởi nghĩa bị bại lộ, vua đi thuyền về Hà Trung, tạm trú tại nhà ông Mai Trí, rồi theo hướng núi vào trốn trong một ngôi chùa phía sau Ngự Bình, gần Nam Giao. Sáng 6-5-1916, vua bị bắt về giam tại Bộ Hình (Tam Tòa) sau đưa vào giam tại Đồn Mang Cá trong thành Huế. Ngày 3-11-1916 thì vua bị đày sang đảo Réunion.
Các nhà cách mạng Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị xử tử, chém đầu. Hàng trăm, hàng ngàn người theo đảng Cách Mạng ở các tỉnh bị bắt, bị tù đày, bị chết...
Ngày 30-1-1916, trước Tết Bính Thìn chừng ba hôm, vua cưới bà Mai Thị Vàng (con quan phụ đạo Mai Khắc Đôn, thầy dạy của vua). Bà sống với vua được hơn ba tháng thì xảy ra biến cố vua bị đày. Bà theo vua qua đảo Réunion được hơn hai năm. Vì không hợp khí hậu, bà bị đau ốm hoài nên vua cho phép bà trở về quê ở làng Kim Long (Huế).
Thời gian ở trong cung, khoảng tháng 4-1916, thỉnh thoảng bà thấy một ông già vào câu cá ở Hậu Hồ sau Điện Kiến Trung. Bà có hỏi vua rằng: “Đây là khu vực cấm, tại sao để cho người ta vào câu như thế?”. Vua trả lời:“Người ta nghèo, vào câu kiếm ăn cũng không có hại gì”. Không ngờ người đó chính là một trong hai nhà cách mạng Trần Cao Vân và Thái Phiên, đã ước hẹn gặp vua ở nơi đây.
Sau gần 30 năm bị lưu đày biệt xứ, ngày 26-12-1945, vua bị tử nạn máy bay ở Bangui, trên đường từ Pháp trở về Phi Châu. Ngài có 5 người con, bốn người với Fernande Antier (đảo Réunion) và một bé gái với Maillot Marie Ernestine.
- CANH THÌN (1940): Thế giới đại chiến lần thứ II từ 1939-1945, đang ở trong giai đoạn khởi đầu. Lợi dụng thời cơ lúc thế lực của Pháp đang suy yếu, quân Đức chiếm Paris, quân Nhật bành trướng thế lực ở Đông Á và Việt Nam. Các phong trào chống Pháp, dành độc lập hoạt động mạnh dựa vào thế lực của Nhật hoặc theo phe Đồng Minh (Mỹ và Tưởng Giới Thạch) chống Nhật.
- NHÂM THÌN (1952): Chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh tại Đông Dương đã đến hồi quyết liệt. Sau khi Mao Trạch Đông đánh bại Tưởng Giới Thạch và chiếm trọn vẹn Trung Quốc thì các chiến khu của Việt Minh ở vùng biên giới Việt-Trung được tiếp tế súng ống, đạn dược của Trung Cộng và Liên Xô. Việt Minh đã mở những mặt trận lớn ở các tỉnh biên giới và dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ 7-5-1954 quyết định số phận Việt Nam với hiệp định Genève 20-7-1954, chia đôi lãnh thổ, từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc thuộc về Hồ Chí Minh (Việt Minh-Cộng Sản), từ vĩ tuyến 17 trở vô Nam thuộc Bảo Đại và Ngô Đình Diệm sau này là Việt Nam Cộng Hòa.
- GIÁP THÌN (1964): Năm có nhiều biến cố xảy đến cho Miền Nam Việt Nam (VNCH). Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị thảm sát do Dương Văn Minh và phe tướng lãnh tổ chức đảo chánh vào ngày 1-11-1963, ngày 30-1-1964, Nguyễn Khánh lật đổ Dương Văn Minh với sự tham gia của một số sĩ quan và tổ chức chính trị tại Sài Gòn. Tháng 2-1964, Nguyễn Khánh trình diện Nội Các với sự tham gia của hai chính đảng lớn là Đại Việt (Nguyễn Tôn Hoàn) và Việt Nam Quốc Dân Đảng (Vũ Hồng Khanh). Ngoài ra còn có sự hợp tác của các nhân sĩ tôn giáo v.v... Nhưng sau đó, Nguyễn Khánh chủ trương độc tài, quân phiệt làm ra Hiến Chương Vũng Tàu (tháng 8-64), đưa Nguyễn Khánh lên làm Quốc Trưởng kiêm Thủ Tướng, kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội, không tổ chức bầu cử Quốc Hội, không cai trị bằng Hiến Pháp... Sinh viên học sinh và Phật tử biểu tình ngay tại Sài Gòn, gây xáo trộn toàn Miền Trung... đòi xử tử Ngô Đình Cẩn, Phan Quang Đông... Dân Công Giáo di cư (1954) ở hai làng Thanh Bồ, Đức Lợi Đà Nẵng bị phe tranh đấu quá khích tấn công. Dân di cư ở Biên Hòa, Sài Gòn do LM Hoàng Quỳnh lãnh đạo biểu tình phản đối vụ án Đặng Sĩ... Tình hình an ninh nông thôn rất trầm trọng, nhiều trận đánh lớn ở Bình Giã (Bà Rịa-Vũng Tàu), Đỗ Xá, Dakto, nhất là Vùng I Chiến Thuật từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi... Quân Mỹ để bộ lên Đà Nẵng, Chu Lai... Nhiều Bộ Trưởng từ chức, mấy lần cải tổ Chính Phủ trong một năm...
- BÍNH THÌN (1976): Nhân dân Việt Nam từ Nam chí Bắc dưới quyền cai trị của Đảng Cộng Sản độc tài. Hàng triệu người thuộc quân đội và chính quyền Miền Nam (VNCH) bị tập trung trong các nhà tù cải tạo, tài sản bị tịch thu, vợ con bị đày đi “vùng kinh tế mới”. Cải tạo công thương nghiệp, hàng vạn người bị tịch thu tài sản bị tù tội... Các cuộc vượt biên tìm tự do, hàng triệu người bỏ nước ra đi, đa số chết trên sông, trên biển, trong rừng, làm mồi cho cá mập, cho thú dữ, đàn bà con gái bị hải tặc hãm hiếp, bị công an bắt, bị lấy hết tài sản còn bị tù, bị cưỡng ép phải lấy những tên có quyền thế, các nhà tu hành bị bắt, bị chết trong nhà tù, bị đày đi những nơi khí hậu khắc nghiệt. Dân cả nước đều đói khổ chỉ trừ bọn công an, cán bộ đảng viên có quyền thế tha hồ vơ vét bóc lột...
- MẬU THÌN (1988): Do sự can thiệp của Mỹ và Liên Hiệp Quốc, một số tướng lãnh và sĩ quan cao cấp, viên chức quan trọng thuộc các cơ quan trung ương của VNCH bị tập trung cải tạo đã được tha về vào dịp Tết Mậu Thìn (1988).
- CANH THÌN (2000) năm cuối cùng của thế kỷ 20, năm chờ đợi những biến cố xảy đến cho nhân loại mà người ta tin rằng sẽ “lành ít, dữ nhiều”. Nhiều người cho rằng năm 2000 là năm tận thế. Nhưng năm Canh Thìn 2000 đã qua với nhiều biến cố nhưng không phải là năm tận thế như nhiều người lo sợ.
-NHM THÌN (2012) Chuẩn bị với năm Thìn 2012, người ta đã thấy quá nhiều biến cố xảy ra rồi: thiên tai, bão lụt, động đất, chiến tranh, vua mất ngôi, quan mất chức, dân mất việc...Khắp nơi, người Việt Nam báo động “Trung Cộng đang xâm lăng Việt nam dưới nhiều hình thức và sẽ xâm lăng bằng quân sự...” Vậy số phận Việt Nam và thế giới trong tương lai sẽ như thế nào? Chờ xem...





-

Sấm tận thế của người Maya và sự thật

21/01/2012 10:00:00 AM (GMT+7)
(Khoa học) Các nhà khoa học đã "bật lại" một số giả thuyết về ngày tận thế của người Maya trên trên tạp chí National Geographic.
Theo lời sấm dựa trên bộ lịch nổi tiếng cổ xưa của người Maya, ngày tận thế đang gần kề - ngày 21/12/2012. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã "bật lại" một vài giả thuyết này trên trên tạp chí National Geographic.
Vũ trụ sẽ bắn phá trái đất
Theo thuyết này, năm 2012 Trái đất sẽ lâm nguy khi 2 cực của nó đổi chỗ. Các tiểu hành tinh sẽ va vào trái đất, bức xạ mặt trời làm mất ổn định lớp nhân của trái đất dẫn đến các thành phố bị nhấn chìm xuống biển.
Tuy nhiên, theo nhà địa chất Adam Maloof thuộc Đại học Princeton (Mỹ), người nghiên cứu rất sâu về sự thay đổi 2 cực Trái đất, những chứng cứ từ tính bên trong lớp đất đá của trái đất cho thấy hành tinh của chúng ta sẽ trải qua một sự sắp xếp lại rất mãnh liệt. Nhưng tiến trình này phải mất hàng triệu năm, đủ lâu để con người có thể tìm nơi khác sinh sống.
Hành tinh X sẽ va vào trái đất
Kính viễn vọng không gian Hubble năm 2002 đã chụp được bức hình ngôi sao V838 Monocerotis và những đám mây bụi xung quanh. Đây được cho là chứa đựng bằng chứng về một thế giới ma quái hay còn gọi là hành tinh X đang trên đường tiến đến trái đất.
Tuy nhiên, nhà sinh vật học vũ trụ của NASA, David Morrison, cho rằng không có hành tinh nào ở đó cả. "Nếu có một hành tinh đang tiến vào hệ mặt trời trong khoảng 3 năm nữa thì các nhà thiên văn học đã phải tìm hiểu chuyện này từ hàng thập kỷ trước và hiện tại bằng mắt thường cũng có thể nhìn thấy nó".
Dải ngân hà thẳng hàng
Nhiều người thích ngắm bầu trời tin rằng năm 2012 dải ngân hà sẽ thẳng hàng, một sự kiện chỉ xảy ra sau 26.000 năm.
Người ta sợ điều này sẽ khiến trái đất phải đối mặt với những thế lực bí hiểm, có thể gây nên tận thế sớm do sự thay đổi 2 cực hay sự xáo trộn lỗ đen khổng lồ ở trung tâm dải ngân hà.
Tuy nhiên, theo David Morrison, không có chuyện dải ngân hà xếp thẳng hàng, mà chỉ có một  hiện tượng xếp thẳng hàng là khi đông chí, từ trái đất chúng ta sẽ thấy mặt trời xuất hiện gần trung tâm của dải ngân hà.
Thông thường, ngày đông chí sẽ rơi vào ngày 21/12 hàng năm, trùng với ngày theo dự đoán của người Maya. Hiện tượng thẳng hàng này không có bất cứ tác động nào tới sự sống trên trái đất.
Người Maya biết trước ngày tận thế
Lịch của người Maya không kết thúc vào năm 2012. Nhưng ngày 21/12/2012 lại quan trọng đối với người Maya. Đó là lúc vòng tuần hoàn lớn nhất trong lịch của Maya, khoảng 5.100 năm kết thúc và một vòng tuần hoàn mới bắt đầu.
Theo nhà khảo cổ Anthony Aveni, trong suốt thời kỳ cực thịnh, người Maya đã phát minh ra lịch Long Count, loại lịch tuần hoàn dùng để truyền tải văn hoá của người Maya cho thế hệ mai sau.
Ngày đông chí năm 2012 là thời điểm kết thúc một kỷ nguyên trong lịch Long Count, vốn bắt đầu từ 11/8 năm 3114 TCN và người Maya gọi mốc này là ngày số không. Tháng 12/2012 là thời điểm kết thúc của lịch và bắt đầu một kỷ nguyên.
Dự đoán thực sự của người Maya
Nếu người Maya không nghĩ thời gian sẽ kết thúc ở năm 2012, vậy chính xác họ dự đoán gì cho năm này?
Nhiều học giả miệt mài tìm tòi các chứng cứ nằm rải rác trong các công trình của người Maya cho rằng đế chế Maya không để lại ghi chép rõ ràng nào dự đoán có gì đặc biệt xảy ra năm 2012.
Nhưng người Maya đã để lại một biểu đồ về kịch bản ngày tận thế, dù không ghi ngày. Nó mô tả thế giới sẽ bị ngập lụt, tương tự kịch bản của các nền văn hoá khác. Kịch bản này không phải dùng để đọc theo nghĩa đen, mà chúng được dùng như một bài học dạy về cách cư xử của con người.
Phúc Nguyễn
NASA: “2012 - Thế giới sẽ không tận thế”
Rất giống với vụ Y2K năm 2000, năm 2012 rộ lên tin đồn về Ngày tận thế. Liệu có thể xảy ra điều đó? Câu trả lời của các nhà khoa học NASA là: Không.
Thêm dấu hiệu bí ẩn về ngày tận thế?
Những cái chết hàng loạt chưa thể giải thích của cá trích, chim và ngựa ... phải chăng là một dấu hiệu nữa báo hiệu ngày tận thế?
Bắt đầu đếm ngược đến ngày tận thế
Các thầy tu Maya o vừa bắt đầu nghi lễ đếm ngược kéo dài đúng một năm đến ngày 21/12/2012, ngày mà nhiều người cho là "Ngày tàn của thế giới".
-


Năm 2012 trong những lời tiên tri Tận thế

Năm 2012 - thời điểm của những lời tiên đoán về Ngày tận thế đang tới gần. Dù thiếu cơ sở khoa học, các nhà tiên tri và dự báo của các hệ tư tưởng lớn trên thế giới vẫn khiến chúng ta phải "giật mình". Sau đây là 10 dự đoán nổi tiếng nhất về ngày xảy ra thảm họa với loài người.



Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

1. Tiên đoán của người Maya

Cách đây hơn 5 nghìn năm, người Maya - một dân tộc ở Trung Mỹ đã xây dựng nên một nền văn minh phát triển rực rỡ với nhiều thành tựu về cả khoa học và xã hội.


Họ đã tính được độ dài của một tháng âm lịch là 29,53025 ngày, chênh lệch 34 giây so với con số mà khoa học ngày nay tính được và chính xác hơn nhiều so với hệ lịch Gregory mà chúng ta đã đã dùng 500 năm nay.


Người Maya quan niệm, giống như vạn vật, thế giới loài người cũng hoạt động theo một chu kỳ, nghĩa là có khởi đầu thì sẽ có kết thúc. Và điểm kết thúc của thế giới loài người là ngày 21/12/2012 - ngày cuối cùng của chu trình lịch thứ 13, kỷ thứ IV trong bộ lịch Long Count của họ.


Tiên đoán của người Maya cho rằng, vào năm 2012, ban ngày sẽ kết thúc, bóng đêm bao trùm Trái đất; Loài người sẽ trải qua một thảm họa nhưng không bị tiêu diệt hoàn toàn mà sẽ bước vào một thời kỳ phát triển mới, hưng thịnh và văn minh hơn.



2. Truyền thuyết về Ragnarök của người Bắc Âu


Không giống như người Maya, tương lai trong tín ngưỡng Bắc Âu khá u tối. Theo truyền thuyết của họ, sẽ tới một thời điểm các lực lượng bóng tối thoát khỏi xiềng xích, chiếm lấy thế giới của các vị thần đại diện cho trật tự (được gọi là sự kiện Ragnarök). Thế giới sẽ chìm trong chiến tranh, loạn lạc, thiên tai liên miên và dần bị nhấn chìm trong biển nước.


Tuy nhiên, cũng có những dị bản cho rằng, sau thảm họa, vẫn còn một số vị thần sống sót và bắt tay xây dựng lại một thế giới mới tốt đẹp hơn.



3. Ngày Phán xét trong Kinh thánh

Sách Khải huyền 16:13 -16 trong Kinh thánh đã đề cập đến một trận chiến được gọi là Ngày phán xét. Trận chiến này diễn ra giữa một bên là những người chấp nhận Chúa Jesus và một bên không chấp nhận Chúa. Đây được miêu tả là cuộc chiến một mất một còn với kết thúc là một trận đại hồng thuỷ.

Tuy nhiên, Kinh thánh không đề cập một cách trực tiếp đến thời gian cụ thể của ngày tận thế. Gần đây, dựa trên một nghiên cứu của ba nhà toán học Do Thái về việc phân tích các ký tự trong sách Sáng thế đăng trên một tạp chí khoa học rất uy tín, kết luận của cuốn sách bán chạy nhất thế giới "Mật mã kinh thánh II" của M.Drosnin là: "Thiên chúa sẽ huỷ diệt Trái đất vào năm 2012".


Với những hình ảnh ẩn dụ của các vị thần, các mãnh thú, câu chuyện trong Kinh thánh có thể “biến hóa” thành rất nhiều “kịch bản” với các lực lượng tham chiến khác nhau tùy theo trí tưởng tượng của mỗi người.



4. Lời tiên đoán từ Kinh dịch


Kinh dịch của Trung Quốc là đại diện cho một trong những hệ tư tưởng lớn nhất thế giới từ thời cổ đại và vẫn được áp dụng đến ngày nay. Nhiều nhà nghiên cứu đã bỏ công sức tìm tòi và lý giải những điều viết trong Kinh dịch.


Trong đó, nhà nghiên cứu T.McKenna tin rằng, Kinh dịch biểu diễn dòng chảy thời gian và 64 quẻ của Văn Vương tương ứng với bộ lịch âm 384 ngày đã từng được người Trung Quốc sử dụng. Mỗi quẻ có 6 hào, lấy 64 quẻ nhân với số hào sẽ ra số 384. Số này chính là tích của 29,53 (số ngày trong một tháng âm lịch) nhân với 13 (số tháng trong một năm âm lịch).


Ông thấy rằng, các điểm lồi lõm của "sóng thời gian" xuất hiện lặp đi lặp lại tuy nhiên tần số của của chúng tăng dần chứ không phải cố định. Dựa trên các phân tích đó, McKenna đưa ra giả thiết về ngày kết thúc của thế giới vào 22/12/2012, chậm hơn 1 ngày so với dự đoán của người Maya.



5. Dự đoán của Thần học Ấn độ


Dựa vào hoạt động của sao Kim, Kalki Bhagavan - một nhà hoạt động tôn giáo nổi tiếng người Ấn Độ - đã tiên đoán rằng năm 2012 sẽ là năm khổ đau và nhiễu nhương của loài người mà đỉnh điểm sẽ là ngày 6/6/2012, khi sao Kim cắt ngang Mặt trời. Trong thần học Hindu, sao Kim quản số 6, do đó, việc sao Kim cắt ngang Mặt Trời vào ngày 6/6/2012 (chú ý: 12 = 6 + 6) sẽ gây biến cố lớn cho nhân loại.


Tuy nhiên, Bhagavan cho biết, thế giới sẽ không bị hủy diệt hoàn toàn mà bước sang một thời kỳ mới, con người và các sinh vật sẽ tồn tại ở một cách thức khác.



6. Nhà tiên tri Nostradamus


Michel de Nostredame, được biết đến với cái tên Nostradamus, sinh ngày 14/9/1503 tại tỉnh St Remy, miền nam nước Pháp, là con trai của một nhà buôn lúa mỳ gốc Do thái nhưng gia đình ông đã cải sang đạo Thiên chúa.


Ngay từ khi còn nhỏ, Nostradamus đã bộc lộ năng khiếu toán học, thiên văn và chiêm tinh. Năm 1555, ông đã cho ra đời cuốn "Lời tiên tri", tập hợp những lời sấm truyền của mình dưới hình thức các bài thơ ngắn và trở thành những lời sấm truyền nổi tiếng.


Trong số những lời sấm truyền, ông đã dự báo về những sự kiện nổi tiếng diễn ra sau này như cái chết của vua Henry II năm 1559, vụ hỏa hoạn ở London năm 1666, các phát kiến khoa học của Louis Pasteur, sự trỗi dậy và thất bại của Napoleon và Hitler.


Nostradamus đã có một lời tiên tri về “một thế lực vĩ đại và đáng sợ sẽ xuất hiện trên bầu trời” vào những năm 2000.



7. Sấm Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm


Sống cùng thời đại với Nostradamus, Nguyễn Bỉnh Khiêm của Việt Nam sinh năm 1491 tại làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương (nay thuộc Hải Phòng) trong một danh gia vọng tộc. Năm 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên, được phong tước Trình Tuyền hầu nên dân gian gọi là Trạng Trình.


Nguyễn Bỉnh Khiêm am hiểu sâu sắc Kinh Dịch, tinh thông Thái Ất Thần Kinh của Dương Hùng đời Hán, chuyên sâu quan điểm duy vật (quan sát sự vật) và tác phẩm Hoàng Cực Kinh Thế của Thiệu Ung thời Bắc Tống.


Trạng Trình đã có những dự đoán về tương lai được viết dưới dạng Sấm ký, thường được gọi là Sấm Trạng Trình. Hiện nay ở kho sách Viện nghiên cứu Hán – Nôm còn giữ được bốn bản, trong đó có đoạn: "Long Vĩ Xà đầu khởi chiến tranh/ Can qua xứ xứ khởi đao binh /Mã dề Dương cước, anh hùng tận/ Thân Dậu niên lai kiến thái bình."


Theo nhiều nhà diễn giải, 4 câu trên ám chỉ khoảng thời gian từ năm 2012 đến 2017: Long vĩ là đuôi rồng, tức cuối can là Nhâm Thìn (năm 2012) , Xà đầu là đầu năm Tỵ, tức là năm 2013 xảy ra đại chiến, năm Mùi (2015) thì các anh hùng đều hy sinh và đến năm Dậu (2017) thế giới mới trở lại hòa bình.



8. Dự đoán của Isaac Newton


Isaac Newton - nhà vật lý học, nhà toán học, thiên văn học, triết học, nhà giả kim và thần học nổi tiếng người Anh, cha đẻ của Định luật vạn vật hấp dẫn - đã dự đoán rằng thế giới sẽ trải qua một cuộc biến động lớn vào 2060.


Dù không phải là một tín đồ mê muội của Thần học nhưng ông đã dành thời gian cuối đời để giải mã lời tiên tri trong Kinh Thánh.


Ông đưa ra nhiều con số xác định thời điểm hình thành quyền lực Giáo hội (năm 609, 774, 788 và 841), và thời gian tồn tại của họ (1260, 1290, 1335, 1869, 1899 và 1944); nhưng không có kết luận nào với các con số này và chỉ trong những dòng chữ run rẩy cuối đời, Newton mới miễn cưỡng viết ra con số 2060.


Điều đáng chú ý là Newton không nói trái đất bị hủy diệt hoàn toàn, mà sau những biến động (trước hoặc sau 2060), một thiên đường mới, một trái đất mới sẽ hình thành và tồn tại đến một ngàn năm.



9. Vanga - nữ tiên tri kỳ lạ thế kỷ 20


Bà Vanga tên thật là Vagelia (1911 - 1996 ) không biết chữ, bị mù từ năm 12 tuổi và suốt cuộc đời không ra khỏi thành phố Petrich thuộc vùng Rupit, Bungari. Tuy nhiên, với những tiên đoán chính xác về nhiều sự kiện nổi tiếng, bà đẫ trở thành nhà tiên tri được biết đến nhiều nhất trong thế kỷ 20.


Lời tiên tri nổi tiếng nhất diễn ra năm 1980, khi bà khẳng định: "Trên ngưỡng cửa thiên niên kỷ, vào tháng 8/1999 hoặc năm 2000, Cuốc-xcơ sẽ bị nhấn chìm trong nước, và cả thế giới sẽ cùng trục vớt nó". Rất ít người nhớ tới những câu nói định mệnh đó, phải đợi 20 năm sau, đúng vào tháng 8/2000, thế giới ngỡ ngàng trước việc tàu ngầm hạt nhân Cuốc-xcơ của Nga bị chìm tại biển Bắc.


Năm 1989, bà nói: "Kinh hoàng, kinh hoàng! Những người anh em Mỹ ngã xuống vì bị các con chim sắt tấn công. Lũ sói đang tru lên trong bụi cây, còn máu của những người vô tội đang chảy". Hơn 10 năm sau, sau ngày 11/9/2001, khi tòa tháp đôi lớn nhất nước Mỹ bị đánh sập, người ta mới giật mình vì lời tiên đoán của bà Vanga.


Nhưng có lẽ tiên đoán đáng quan ngại nhất của bà là về Chiến tranh thế giới thứ 3. Nhiều lời tiên tri của bà liên quan tới xung đột vũ trang tại Nam Ossetia và trong thế giới của những người Hin-đu, những vụ mưu sát các nhà lãnh đạo các quốc gia... để rồi dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ xảy ra vào khoảng đầu thập niên thứ 2 của thế kỷ 21.



10. Lời tiên đoán trong thế kỷ 21 của Juselino


Ông Juselino sinh năm 1960, sống cùng 1 vợ và 4 con gái tại thành phố Maringa thuộc tiểu bang Parama của Brazil, là giáo sư dạy Anh văn nhưng đã có khả năng tiên tri qua các giấc mộng từ năm lên 9 tuổi (1969).


Ông từng dự đoán nhiều sự kiện và các thảm họa lớn đã xảy ra trên thế giới bao gồm: sự kiện 11-9-2001 tại Mỹ; chiến tranh Iraq 2003 và sự bại trận của Tổng thống Saddam Hussein cùng kết cục bị bắt giữ và xử tử ông ta; trận động đất gây ra sóng thần tại quần đảo Indonesia 2004; cái chết thảm thương của công nương Diana; sự ra đi của đức Giáo hoàng John Paul Đệ nhị năm 2005...


Theo các dự đoán của ông, từ năm 2008, thế giới sẽ liên tiếp xảy ra các thiên tai (núi lửa, sóng thần, nhiệt độ tăng vọt, các tiểu hành tinh va vào Trái đất…), dịch bệnh và đến năm 2026, một thảm họa lớn sẽ xảy ra với toàn thể loài người.


Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=320736#ixzz1kIcqr5Zr 
http://www.xaluan.com/


-
--Những danh nhân tuổi Rồng trong lịch sử Việt Nam VTC - ‎Sau 11 năm, năm nay Rồng trở lại với mọi người theo tiếng gọi tâm linh Nhâm Thìn. Nhân dịp năm mới Nhâm Thìn, xin được giới thiệu những danh nhân tuổi Thìn trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Mạc Đĩnh Chi (tuổi Canh Thìn, 1280-1350).--Lịch sử dân tộc: Những năm Thìn đáng nhớ24 giờ
Những danh nhân và năm Thìn trong lịch sử Việt Nam
Zing News
-VNExpress
-Nói và làm: Nhâm Thìn và khát vọng hóa Rồng---Vì sao phải cúng giao thừa giữa sân?
-
Đua nhau sinh con năm rồng, vui hay lo? (BBC, Manilatimes/Tuổi Trẻ/ GDVN)



NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG HOA DƯỚI THỜI NHÀ NGUYỄN VUA THIỆU TRỊ TIẾP SỨ NHÀ THANH TẠI HÀ NỘI 1842

--NGOẠI  GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG HOA DƯỚI THỜI NHÀ NGUYỄN
VUA THIỆU TRỊ TIẾP SỨ NHÀ THANH TẠI HÀ NỘI 1842

QUÂN ĐỘI VIỆT NAM BIỂU DƯƠNG LỰC LƯỢNG

“Bang giao là việc lớn, người nước xa đến quan chiêm. Chỉnh đốn binh sĩ, phô bày binh uy, chính là lúc này” (Thiệu Trị)

GS Nguyễn Lý-Tưởng

Dưới thời quân chủ, Trung Hoa là nước lớn, tự cho mình là trung tâm văn minh của thế giới, tự xưng mình là giống người Hoa (giống người văn minh) và xem các nước nhỏ chung quanh chỉ là Man di, mọi rợ, văn hoá thấp kém. Vua Tàu là Thiên Tử (con Trời), thay mặt Trời cai trị muôn dân và đặt tên nước mình là Trung Quốc. Tất cả các nước nhỏ đều phải thần phục Thiên Tử. Dòng họ nào được Thiên Tử thừa nhận và phong vương thì có quyền cha truyền con nối, cai trị dân của nước mình. Nếu có ai chống lại hay gặp trường hợp nước khác đem quân gây hấn thì Thiên Tử sẽ can thiệp hoặc các chư hầu cũng có thể nhân danh Thiên Tử, đem quân đội đến giúp tái lập trật tự cho nước đó. Dân có bổn phận trung thành tuyệt đối với vua, còn vua thì chịu trách nhiệm với Trời.

Trải qua gần một ngàn năm, dân tộc Việt chúng ta bị Trung Quốc xâm chiếm, trực tiếp cai trị...Năm 938, Ngô Quyền thắng được quân Nam Hán, dựng cờ độc lập nhưng mãi đến đời Đinh Bộ Lĩnh, Trung Quốc (nhà Lương) mới chính thức thừa nhận nền độc lập của nước ta và cho Đinh Bộ Lĩnh làm An Nam Quốc Vương. Dưới các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê và Nguyễn, các vua Việt Nam, bên ngoài vẫn theo lệ triều cống, thừa nhận vua Trung Quốc là Thiên Tử. Nhưng bên trong vẫn là vua một quốc gia độc lập. Cứ ba năm một lần, vua nước ta vẫn tổ chức tế Nam Giao, tự xưng mình là Thiên Tử đối với con dân trong nước. Bảo Đại là vị vua cuối cùng của Việt Nam tổ chức tế Nam Giao.

Năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà, lần đầu tiên, Việt Nam có một lãnh thổ rộng lớn từ Nam Quan đến Cà Mau với một dân số đông nhất và tất nhiên binh lực của ta cũng mạnh nhất so với các triều đại trước đó. Dù là một nước hùng mạnh trong vùng Đông Nam Á thời bấy giờ (thế kỷ 19) nhưng so với nhà Thanh (Trung Quốc), chúng ta vẫn còn là một nước nhỏ bên cạnh nước lớn! Vì thế các vua nhà Nguyễn từ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức vẫn phải xin nhà Thanh “phong vương”. Các vua đầu nhà Nguyễn, vẫn phải từ Huế ra tận miền Bắc để tiếp đón sứ nhà Thanh và lễ phong vương đã được tổ chức tại Hà Nội. Đến đời vua Tự Đức, nhà Nguyễn nhất định đòi sứ nhà Thanh phải đến tận thủ đô của Việt Nam là kinh thành Huế để phong vương mà không chiụ đích thân ra Hà Nội như trước đó.

Sau khi vua Minh Mạng qua đời (1840), vua Thiệu Trị nối ngôi, triều đình Huế đã cho sứ
bộ qua nhà Thanh báo tang và cầu phong. Sứ bộ của ta gồm có Lý Văn Phức (tham tri bộ Lễ) làm Chánh sứ và Nguyễn Đức Hoạt (hữu thị lang) làm Phó sứ và Bùi Phụ Phong (quang lộc tự khanh), bồi sứ.

Mùa Xuân năm Nhân Dần (1842) nhân dịp ra Hà Nội đón sứ nhà Thanh là Bảo Thanh đến phong vương, vua Thiệu Trị cũng làm một chuyến du Xuân “thăm dân cho biết sự tình”.

(1) Chuẩn bị chuyến đi xa của vua

-Tế Nam Giao sớm hơn thường lệ : Trước đây lễ Tế Nam Giao thường được tổ chức vào tháng thứ hai mùa Xuân, có khi được tổ chức vào tháng cuối Xuân vì phải chờ thời tiết bớt mưa lạnh, khí trời ấm áp. Nhưng năm nay, vì vua có việc phải ra Bắc nên đã tổ chức lễ nầy vào đầu mùa Xuân. Suốt tháng Chạp trước Tết năm đó, mưa lạnh kéo dài khiến cho mọi người đều ái ngại. Hôm tế Nam Giao, gặp thời tiết mưa lạnh nên phải dùng một thứ màn đặc biệt được chế ra từ đời vua Minh Mạng để che khi cử hành nghi lễ.  Cũng may mà mọi nghi lễ đều hoàn tất tốt đẹp. Vua Thiệu Trị rất mừng, từ hoàng tử, hoàng thân và các quan văn võ tham dự việc tế lễ nầy đều được thưởng tiền bằng vàng (kim tiền) và tiền bằng bạc (ngân tiền) đến các binh lính đi theo và dân các xã có bày hương án để đón tiếp xa giá vua đi qua cũng được thưởng tiền quan (tiền đồng). (1)

-Bảo vệ Kinh Thành trong thời gian vua xuất cung:Việc vua đi ra khỏi cung là việc quan trọng đến an ninh quốc gia nên vua đã cho Hoàng tử Hồng Bảo (con trưởng) và các quan Tạ Quang Cự (trung quân), Hà Duy Phiên (Thượng thư bộ Hộ), Lê Văn Phú (Thống chế doanh Thần cơ), Tôn Thất Bạch (thự Thượng thư bộ Lại),v.v...ở nhà giữ kinh thành. Vua đem hoàng tử thứ hai là Hồng Nhậm đi theo. Vua ban bố cho toàn dân biết việc Bắc tuần như sau:

“Trẫm kính nối nghiệp lớn, có việc bang giao, tuy còn ở trong hạn cư tang 27 tháng, cũng phải tạm xa nơi bàn thờ, trong lòng có chỗ không được yên, nhưng vì điển lễ quan trọng, không thể bỏ thiếu, vậy sai hữu tư tra kỹ điển lệ, rồi xa giá ra Bắc Kỳ, nhân để thăm coi địa phương, xem xét phong tục. Ngày mùng 9 tháng này đã đến kính cáo Thái miếu, sai quan đến kính cáo Triệu miếu, ngày mùng 10, thân đến kính cáo Thế miếu, sai quan đến kính cáo Hưng miếu, dâng  lễ điện Phụng tiên, ngày 13, thân đến kính cáo điện Phụng tiên, ngày 14, thân đến kính yết Hiếu lăng và Hiếu đông lăng, ngày 15, thân đến hầu thăm cung Từ thọ, ngày 16, sắc dụ hoàng tử và đại thần lưu kinh đổng lý mọi việc. Đến ngày 20, đại giá khởi hành. Phàm hoàng tử, hoàng thân và các đại thần văn, võ cho chí bọn thân biền đi theo xa giá đều phải hộ vệ xe kiệu, dọn dẹp đường đi, quản thúc đội ngũ cho nghiêm cẩn, theo đúng quân luật, đừng làm nhiễu dân các địa phương. Những hoàng tử, hoàng thân, hoàng đệ và thân biền lớn nhỏ, ai nấy phải giữ chức sự, cho phép theo sự cắt đặt của hoàng tử và đại thần lưu kinh” (2)

(Chú thích: Thái miếu: thờ Nguyễn Hoàng; Triệu miếu: thờ Nguyễn Kim; Thế miếu: thờ vua Gia Long; Hưng miếu: thờ Nguyễn Phúc Luân cha của vua Gia Long. Hiếu lăng: lăng vua Minh Mạng. Cung Từ thọ: nơi mẹ vua ở.)

(2) Trên đường ra Bắc:

Xa giá của vua đi qua sông Hương, dọc đường những nơi vua đi qua, chỗ nào cũng đặt hương án, các phụ lão các địa phương lạy mừng, vua đều ban thưởng 10 quan tiền. Ngoài trâu và gạo nếp do dân dâng lên để mừng, vua không nhận bất cứ lễ vật gì khác mục đích tiết kiệm cho dân. Những nơi vua đi qua, cho phép dân được gởi đơn khiếu nại các việc oan ức tại địa phương. Từ kinh đô Huế ra Bắc, các địa phương phải xây dựng các nhà tạm trú để vua quan nghỉ ngơi dọc đường, đều được thưởng tiền.  Thuyền của vua ra đến làng Trung Đơn (Quảng Trị) vì sông cạn nên các quan lính phải phụ sức mà đẩy. Các quan bắt tội địa phương không chịu vét sông cho thông nên quan tỉnh Quảng Trị là Đặng Đức Thiêm và Nguyễn Văn Đạt rất sợ hãi không dám vào chầu vua. Nhưng vua cũng bỏ qua cho việc đó và cho hai vị quan nầy vào hầu. Sau khi rời kinh thành ba ngày, xa giá vua đến tỉnh thành Quảng Trị. Các quan đến chầu, vua hỏi việc làm ruộng trong tỉnh. Vua đi qua các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị tìm hiểu dân tình và ra lệnh tha bớt thuế cho dân 30%. Vua sai đem lễ vật đến tế tại chùa Long phúc  ở Quảng Trị. Vua nói với bộ Lễ rằng: “Đất Quảng Trị là chỗ Thái tổ Gia dụ hoàng đế ta bắt đầu dựng đô, dân trong hạt, ở 3 phường An Định, An Hướng, Phương Xuân truy nhớ công đức, dựng lên chùa này, trong năm Minh Mạng thánh giá tuần hành qua đó, sai quan vào tế, nay quên sao được!” Vua bèn sai quan lang trung là Tôn Thất Cáp và quan tỉnh đến làm lễ tế. Vua cũng sai quan mang lễ vật đến tế “ thần Trảo Trảo linh thù”. Vua nói:“ Sông Ái Tử là chỗ khi xưa Thái tổ Gia dụ hoàng đế ta đã giết tướng Mạc tên là Lập Bạo, mà thần sông Trảo Trảo đã hiển linh ứng mộng ở đấy. Vẫn hay trời sinh thánh nhân, chỉ một lữ quân, một thành ruộng, rồi cũng có cả nước, đánh giặc dẹp loạn, quyết không phải nhờ một điềm mộng rồi mới thành  công, những sông núi giúp thiêng, bách thần trợ thuận thì từ đế vương đời xưa phần nhiều vẫn có. Đó cũng là lẽ không thể cho là không đáng tin được. Còn sử nhà Minh có chép người Minh là Trương Phụ đuổi theo vua Trùng Quang nhà Trần đến sông Ái Tử, thì e chưa được xác thực, vì tên đất xưa nay phần nhiều giống nhau, lẫn nhau, đem tên đất ngày nay mà chứng với sách cổ, thì khó lòng tin cả được” (3)

Rời kinh thành Huế được 5 hôm thì xa giá của vua đến trạm Trị Lập, vua phải bỏ thuyền lên bộ để đến bến đò Thuận Trạch, vào địa giới tỉnh Quảng Bình. Từ Hồ Xá (Quảng Trị) đến Thuận Trạch (Quảng Bình) có thể đi bằng đường thủy được. Nhưng có một đoạn sông hẹp mà lắm cát, quan tỉnh dâng sớ xin đào sông cho thuyền vua qua. Vua nói “Nay không đi theo đường cảng, đổi đi đường bộ, dù một mình có mệt nhọc, nhưng dân ta được yên vui thì ta cũng quên sự mệt nhọc” Rồi vua không cho đào sông vì sợ vất vả cho dân. (4)

Khi vua đi ngang qua chùa Hoằng Phúc thuộc huyện Lệ Thủy, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình là ngôi chùa do Nguyễn Hoàng (tức Thái tổ Gia dụ hoàng đế nhà Nguyễn) xây dựng, đặt tên là chùa Kính Thiên. Công tác xây cất được nửa chừng thì bị hỏa hoạn đời sau tiếp tục sửa lại. Năm Minh Mạng thứ 2, vua ra Bắc, có đến thăm chùa và đặt tên là chùa Hoằng Phúc. Vua Thiệu Trị cấp cho chùa 300 quan tiền và dụ rằng “Chùa nầy do Liệt thánh đời trước dựng lên, nét chữ của tiên thánh còn chói lọi lưu mãi tại ngôi chùa. Trong năm Minh Mạng, thưởng cấp bạc lạng, đặt cho tên hay, thực là một thắng tích của cảnh Phật. Nay qua đất nầy, truy nghĩ đến việc hay đời trước, cấp cho tiền 300 quan”. (5)

Ngày hôm sau, ngự giá của vua đến bên bờ sông Quảng Bình, tại đây có 3 chiếc thuyền bọc đồng: Định Hải, An Hải và Vĩnh Hải. Vua ra lệnh cho 3 chiếc thuyền nầy thao diễn , nhận thấy người điều khiển và binh lính đều thành thạo, vua liền ban thưởng và ra lệnh cho thuyền ra biển đi trước đến Hà Nội. Ngày đinh sửu (27 tháng 2 Nhâm Dần) vua vào nghỉ tại hành cung tỉnh Quảng Bình, có hai cụ già trên 90 tuổi đến ra mắt vua. Vua hỏi: “Hai ông già  đến đây là do lòng chân thành hay là vì phủ huyện thúc đẩy bắt phải đến?” Hai cụ già trả lời “Bọn chúng tôi sinh ở bãi biển, được thấm nhuần ơn trên đã lâu, nay nghe Đại giá tới đây, xiết bao trông ngóng, cho nên khúm núm ra ngay, không có ai bắt buộc cả”. Vua lại hỏi: “Gíống tôm ở thôn Động Hải cứu vớt được người, chuyện ấy có thực không?” Hai cụ già thưa rằng: “Có câu chuyện ấy”. Vua nói: “Đó cũng là một chuyện lạ! Hoàng Quýnh năm trước làm việc ở đây đã biết việc nầy, có chép ở tập Văn Kiến tùng thoại.”  

Câu chuyện xảy ra như sau: Năm Minh Mạng thứ 7, ở thôn Động Hải, thành Quảng Bình, có người đánh cá, bắt được một con tôm to, dài tới vài thước, khắp mình có vết như gấm, râu mọc cứng, dài và lớn bằng thân mà cụt mất một cái. Đem tôm ra chợ bán ai cũng lấy làm lạ. Có người nhà Thanh, họ Tạ, kiều cư tại đấy mua về sắp đem làm thịt, một người họ Dương, ở gần nhà,  can rằng: không nên ăn, rồi bỏ tiền ra chuộc đem thả xuống sông, con tôm nhảy luôn ra biển. Sau đó, người họ Dương làm nghề buôn bán, đáp thuyền ra biển, bỗng gặp cơn sóng, gió thuyền đắm, họ Dương sắp bị chìm xuống đáy biển, chợt biú (bám vào) được một tấm ván, theo sóng trôi giạt, may được vào bờ. Dương nhìn ra thì vật để cho mình bíu (bám vào) chính là con tôm ngày trước mình đã thả, râu cụt y như xưa, có thể nhận rõ. Dương cuí đầu vái tạ, con tôm liền ẩn mình xuống dưới sóng, rồi không trông thấy nữa. (6)

Vua lên trên thành Quảng Bình xem xét lũy Trường Dục, địa thế nuí sông hiểm trở. Vua nói với bộ Công rằng:“Một dãi trường luỹ, trên tiếp núi Đâu Mâu, dưới đến tận bờ biển, Liệt thánh ta trước đây mưu sâu tính xa, gia công gây dựng, đức Thánh tổ Nhân hoàng đế ta lại sửa sang thêm, làm cho vĩnh viễn hữu hình. Nay nhân coi khắp hình thế, nên sửa sang thêm một lần nữa để cho bờ cõi vững vàng. Về xưởng súng ở trên thành, nên theo   theo cách thức ở kinh thành mà làm” Vua lại nói thêm “Việc đắp ra trường lũy, bắt đầu từ đời Hiếu Văn hoàng đế ta, do một công thần khai quốc là Hoằng quốc công Đào Duy Từ bắt đầu mưu tính việc ấy. Sau Thaí tông Hiếu Triết hoàng đế ta 2 lần đánh được quân Bắc và Thế tổ Cao hoàng đế ta đại thắng giặc Bắc, đều ở chỗ nầy. Nên đặt tên cho lũy là “Định Bắc trường thành” để cho danh nghĩa được chính đáng” (7)

Khi vua đến hành cung Quảng Khê (Quảng Bình) thì ở lại và bộ Công làm bè để qua sông Linh Giang (sông Gianh) nhưng khi  cho thí nghiệm thử thì gặp gió lớn, dây buộc bè bị đứt nên phải lấy thuyền công, dựng mui lên để sang. Các đại thần và đoàn hộ vệ đều được thưởng; dân, quân làm việc cũng được thưởng. Riêng bộ Công, quan tỉnh và những người trách nhiệm đều bị phạt...Vua đi qua tỉnh Quảng Bình đã ra lệnh tha bớt 30% thuế thân cho dân. 

Xa giá vua đi qua Đèo Ngang (Hoành Sơn) là ranh giới giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh. Khi vua đến hành cung, không có tiếng trống báo hiệu, các quan đều bị phạt. Khi xa giá đến thành Hà Tĩnh, vua cho 2 người già 100 tuổi vào hầu, cho mỗi người một đồng kim tiền (tiền vàng). Những người có con làm quan nên cha mẹ được ân phong cũng đã đến yết kiến vua như Trương Quốc Hiền (Hàn lầm viện thị độc) là thân phụ của Trương Quốc Dụng (thi lang bộ Lễ), Phạm Diệu là thân phụ của Phạm Thế Hiển (thị lang bộ Binh), Đỗ Đình Thư là thân phụ của Đỗ Khắc Thư (bố chính Bắc Ninh), Vũ Phạm Đàm, thân phụ của Vũ Phạm Khải (hồng lô tự khanh) đều được ban thưởng. Người thiểu số ở Cam Môn, Cam Cá Kính cũng đến dâng lễ vật địa phương lên vua. Vua ban cho tiền vàng và áo, rồi cho về.

Thuyền vua đến sông Đại Nại, qua núi Hồng Lĩnh, vua hỏi về thắng tích núi ấy. Quan tỉnh là Vũ Đức Nhu thưa rằng “ Núi nầy khởi đầu từ huyện Nghi Xuân, qua huyện Thiên Lộc (nay là Can Lộc) quanh co, liên tiếp 99 ngọn. Tương truyền có đàn chim hạc đậu trên  nuí, cho nên đặt tên là Hồng Lĩnh. Phiá Nam núi có ngôi chùa cổ tên gọi là Hương Tích”

Hai hôm sau, xa giá vua đến sông Lam tỉnh Nghệ An, ngự doanh bắn súng, các đội lính trong tỉnh cũng vội vàng bắn súng rối rít nên quan đem chuyện nầy ra đàn hặc (phê bình). Suất đội trong tỉnh là Tống Đắc Thịnh bị phạt đánh đòn và bị các chức, các quan trong tỉnh cũng bị giáng chức. Khi xe của vua đến thành Nghệ An, thân hào nhân sĩ và dân trong thành ra đứng hai bên đường chào mừng. Vua rất vui và nói với đại thần Trương Đăng Quế “Lòng người mong trẫm đến như thế nầy, hành trình có nên chậm lại không?”Trương Đăng Quế thưa: “ Sứ thần nhà Thanh phải đến thượng tuần tháng 3 mới qua cửa ải. Kỳ hạn đi đường của ta cũng đủ chỉnh bị, vậy thong thả cũng được”. Vua bèn sai đóng quân lại vài ngày và cho gọi các quan địa phương là Vũ Tuấn và Hồ Hựu đến hỏi han tình hình và cho mỗi người một đồng tiền vàng.  Vua hỏi “Có bắt dân làm hành cung và nhà trạm không?” Hai người tâu: “Hành cung ở tỉnh lỵ do binh lính ở tỉnh làm, còn hành cung ở các trạm thì do dân địa phương làm”. Vua nói: “Binh lính thì có lương, còn dân thì lấy gì mà cung ứng? Bất đắc dĩ mà bắt dân làm, ý trẫm không muốn thế. Tính theo giá các vật liệu mà trả tiền lại cho dân”. Hai ông ấy thưa: “ Bóng cờ của vua đi tới, ngàn năm mới một lần được gặp, đem sức làm ruộng phục vụ người trên là phận sự của dân, mà cũng là ý muốn của họ, chứ không muốn lĩnh giá”. Vua nói: “Kính vua, mến người trên, vẫn là cái tính rất hậu của dân ta, nhưng trẫm đối với việc yêu dân, chưa từng một chút xao lãng, há nỡ khinh dị dùng sức của dân sao? Tất phải thưởng cấp cho dân nhiều hơn”. Vua  nói với quan bộ Hộ rằng: “Hạt này lúa mạ tốt tươi, trộm cướp dẹp hết, nhân dân đều yên, trẫm rất lấy làm khen ngợi, bằng lòng. Về những thân biền thuộc tỉnh, gia ơn thưởng cấp cho mọi người theo thứ bậc”. Người thiểu số ở vùng Trấn Ninh ,v.v. đem lễ vật (ngà voi, sừng tê giác...) đến mừng. Vua ra lệnh ban thưởng...Khi đi qua đền thờ An Dương Vương, vua ra lệnh cho quan Thượng thư bộ Công là Nguyễn Trung Mậu sắm lễ vật đến tế.  (8)

Ngự giá đi qua Thiết cảng, tương truyền: ngày xưa nhân có các sông chảy xuống thông qua các núi, người ta mới lựa theo hình thế, đào ra, từ Hà Nội có thể đi suốt đến phiá Nam tỉnh Nghệ An. Bây giờ cảng này đã bị phù sa mỗi ngày một bồi thêm nên bị lấp, thành ra đất bằng. (9)

-Vua đến Thanh Hóa: Các kỳ lão trong hạt ra bái yết. Vua nói “Hạt nầy là quê hương nhà vua, không thể xem như các nơi khác được”. Vua ra lệnh trợ cấp  cho các kỳ lão rất hậu. Có Lê Văn Linh là người Định Tường trứơc theo vua Gia Long qua Vọng Các, nay định cư tại Thanh Hóa, đến yết kiến. Vua thưởng cho 3 đồng tiền bạc hạng lớn và một đồng tiền bằng bạc “Tam đa”. Người thiểu số vùng Sầm Sơn đem ngà voi, sừng tê giác đến ra mắt. Vua ban cho tiền bằng vàng, tiền bằng bạc và  áo xiêm, rồi cho về. Các tỉnh vua đi qua đều được bớt 30% tiền thuế cho dân. Riêng tỉnh Thanh Hoá được bớt 50% các thứ thuế. (10)

Vua vào yết Nguyên miếu rồi đến núi Triệu Tường, lăng Trường Nguyên. Sai quan đến tế cao miếu Trừng quốc công. Vua nói: “Gia Miêu ngoại trang ở huyện Tống Sơn là quê hương nhà vua, được thấm nhuần giáo hoá và yên ổn đã lâu năm, lần nầy trẫm ra Bắc tuần, được tới yết kiến Nguyên miếu, hôm nay xa giá đến hành cung Thanh cao, những người kỳ lão, chức mục ở qúi hương đón xe lạy yết, lòng thành khẩn đáng khen. Lại thấy người còn thật thà, tục vẫn thuần  hậu, trẫm rất lấy làm khen ngợi, bằng lòng. Nay thưởng cho những người trong tôn thất, công tính và các kỳ mục ở quí hương: bạc, ngân tiền và đồ mặc, có thứ bậc”(11)

Vua thăm núi Triệu Tường ở Thanh Hoá, tương truyền là nơi có ngôi mộ của Nguyễn Kim (tức Triệu Tổ của nhà Nguyễn).  Nguyễn  Kim có công giúp con cháu nhà Lê chống lại họ Mạc (cướp ngôi nhà Lê). Ngăm 1546, Nguyên Hoà (niên hiệu Lê Trang Tông) thứ 14 đời nhà Lê, Nguyễn Kim bị  Dương Chấp Nhất, tướng nhà Mạc trá hàng đầu độc chết. Khi đem chôn, thầy địa lý chọn huyệt mã nơi miệng con rồng, khi linh cữu vừa đặt xuống thì bỗng nhiên trời làm mưa to gió lớn, sấm sét làm cho mọi người kinh hải bỏ chạy. Khi mưa tạnh gió yên, mọi người trở lại thì thấy đá núi tiếp liền, cây cối xanh rậm, không biết chỗ nào mà tìm. Xem như mộ đã được “thiên táng”. Vì thế, gia đình chỉ trông vào núi mà tế, chỉ thấy núi cao chót vót, hơn hẳn các núi khác, cho nên gọi là núi Thiên Tôn. Sau khi Nguyễn Kim chết, binh quyền về tay con rể là Trịnh Kiểm. Nguyễn Hoàng (Thái tổ Gia dũ hoàng đế nhà Nguyễn) tìm đường vào Nam lập nghiệp, về sau mở mang đất mới thành giang sơn lâu dài của con cháu nhà Nguyễn sau nầy. Đến thăm nơi đây, thấy gnôi đình làng (qúy hương là quê của vua) vẫn còn lợp tranh, vua ban cho 500 quan tiền để lợp lại. Vua Thiệu Trị làm bài thơ (ngự chế): “Đẹp thay giang sơn chỗ này! Tạo hoá đúc thiêng, nước nhà chứa phúc, khác gì đất Thai, Mân của nhà Chu, đất Phong, Bái của nhà Hán xưa”(Thai, Mân là hai nơi phát tích của nhà Chu. Thai là nơi tổ nhà Chu được phong nay là Thiểm Tây; Mân là đất Chu Thái Vương ở, nay cũng thuộc tỉnh Thiêm Tây, Trung Quốc). Sau khi lên ngôi, vua Gia Long   đã truy tôn đế hiệu cho Nguyễn Kim là Triệu Tổ, đặt tên lăng là Trường Nguyên lăng, dựng miếu Triệu Tổ và thờ ở Thái Miếu (Kinh thành Huế). Vua Minh Mạng khi đến yết kiến lăng Nguyễn Kim đã phong cho núi ấy là núi Triệu Tường, và sai đắp thành chung quanh để bảo vệ miếu gọi là thành Triệu  Tường. Hôm ấy trời mưa, vua rất mừng nói: “Lễ thăm yết lăng vừa xong, liền ứng trận mưa qúy hóa, mưa này là điềm tốt, là triệu được mùa” “ Tống Sơn là đất phát tích, quốc gia ta thánh nối, thần truyền, cơ nghiệp ức vạn năm thực bắt đầu gây dựng ở đấy. Nay Trẫm ra Bắc, kính yết Nguyên miếu, vọng bái lăng tổ, nhìn thấy núi sông rạng đẹp, cây cối xanh rườm, lòng luyến mộ không kể sao xiết!” Khi mới lên ngôi, vua Thiệu Trị đã tha hết các thuế ruộng, thuế thân cũng như mọi sưu dịch cho dân trong huyện. Nay nhân dịp nầy lại tha cho thêm một năm nữa. Và còn thưởng thêm 300 lạng bạc, 100 tấm lụa màu, 10 con trâu và 10 chĩnh rượu. Có một toà nhà do dân làm ra, trước đây thưởng 300 quan nay lại thưởng thêm 300 quan nữa. Vua viết thư và gửi các sản vật tại quê hương tức Quý hương
(huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá) gưỉ về cho Thánh Từ là mẹ của vua để báo tin. (12)

Vua đi qua núi Tam Điệp để vào tỉnh Ninh Bình. Vua lên núi Dục Thúy đọc các thơ văn người xưa đã khắc vào đá, bài nào không hay thì sai đục bỏ đi. Nguyên tên núi nầy ngày xưa do Thái phó nhà Trần là Trương Hán Siêu đặt tên, là nơi có phong cảnh sơn thủy rất đẹp, ai đi qua đó cũng có  đề thơ vịnh cảnh...Vua Thiệu Trị đặt tên núi là Hộ Thành và sai dựng pháo đài phòng thủ. Vua ra lệnh tha bớt 3 phần 10 thuế cho dân tỉnh Ninh Bình. Tổng đốc Hà –Ninh (Hà Nam-Ninh Bình) là Phạm Hữu Tâm đến yết kiến. Vua ban cho một chiếc áo nhung phục (tức áo ra trận) của vua, màu đỏ thêu hình rồng cuốn. Vua nói: “Ngươi là bề tôi cương trực, hoàng khảo ta để lại cho Trẫm, năm ngoái xét công, đã thưởng cho một chiếc đai dát vàng, chạm ngọc là đồ vật khi ta còn ở tiềm để, cốt tỏ cái ý vật cũ, người xưa, suy lòng thể dạ mà trao cho. Ngày nay ban áo, tức là cởi áo mặc cho ngươi, cốt muốn cho ngươi nối mãi được sự tin yêu, giữ vững lâu dài nơi tỉnh lớn, ngươi nên cố gắng lên” (13)

Rời Ninh Bình, ngày Ất mùi, hai ngày sau vua đến Hưng Yên, tha 3 phần 10 thuế cho dân. Những nơi về hưũ ngạn sông Cưủ An được bớt 5 phần 10 tiền thuế. Những xã thôn ở ngoài đê vì nạn mất mùa lụt bão,còn thíếu nợ nhà nước thì được tha bớt 8 phần 10. Xa giá vua đến gần sông Hà Nội. Vua ra lệnh cho lính nghỉ ngơi. Từ khi ra khỏi kinh thành Huế đến nay là 27 ngày, đi đường mất 15 ngày và nghỉ ngơi 12 ngày.

-Vua đến Hà Nội: Vua rời Hưng Yên đến Hà Nội vào ngày Mậu tuất (2 tháng 2 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842). Xe vua đến bờ sông vào một buổi sáng đẹp trời mùa Xuân. Hàng vạn người kéo nhau đến đón chào vua . Vua ngự tại điện trong thành, các quan vào chầu. Vua sai ban bao gấm cho mọi người. Phái bộ đi sứ nhà Thanh đã trở về gồm có: Lý Văn Phức (hữu Tham tri bộ Lễ), Nguyễn Đức Hoạt ( hữu Thị lang), Bùi Phụ Phong (Quang Lộc tự khanh) đều có mặt đông đủ để vào chầu vua. Vua thưởng cho văn võ đại thần và các quan địa phương mỗi người một đồng tiền vàng (kim tiền) có dây đeo. Từ quản vệ, lang trung khoa đạo trở xuống thì thưởng tiền theo thứ bậc. Các hoàng đệ (em vua) đi theo vì trời lạnh được ban áo mặc rét. Riêng Kiến An công vì là người thân với nhà vua nên được ban áo cẩm bào. Theo lệ, các quan Tổng đốc các tỉnh đem dâng ngọc. Nhưng vua cho phép được dâng phẩm vật điạ phương thay vì ngọc và vua chỉ nhận một số lễ dâng tượng trưng mà thôi. Số còn lại được trả về cho các địa phương. Ngoài ra, vua còn thưởng tiền cho họ nữa. Ngày Canh Tý, vua tiếp các bô lão từ các tỉnh đến. Mỗi tỉnh một người đại diện được vua hỏi về tình hình tại các địa phương. Sau đó, vua tiếp các vị hưu quan, các vị tiến sĩ, cử nhân và tú tài...  Dân tỉnh Hà Nội được giảm thuế  4 phần 10, các tỉnh khác vùng núi 2 phần 10, các nơi có bệnh dịch, mất mùa được tha nay thêm 3 phần 10 nữa.

3. Duyệt binh lớn để phô trương thanh thế khi tiếp sứ nhà Thanh

Vua ra lệnh tập họp binh lính 5 tỉnh lớn ở Bắc Kỳ để duyệt binh. Hiệp biện đại học sĩ Lê Đăng Doanh và Hành doanh đại thần Mai Công Ngôn sung chức Tổng lý duyệt binh. Vua dụ bảo rằng: “Bang giao là việc lớn, người nước xa đến quan chiêm. Chỉnh đốn quân sĩ, phô bày binh uy, chính là lúc này. Trẫm sẽ một phen duyệt cả các quân để làm cho uy thế của nước mạnh mẽ. Các ngươi đều nên kiểm soát, sắp đặt tâu lên cho kịp biết ngay” Vua còn dụ cho bộ Binh như sau: “Việc binh có thể trăm năm không dùng đến, nhưng không thể một ngày không giảng tập, voi, ngựa, thuyền, tàu đều quan hệ về binh chính, nên gồm duyệt cả, Trẫm sẽ thân tới xem”. Trước hết là tập trận voi, sau đó đến trận ngựa. Nước ta từ xưa dã dùng trận voi là một lợi khí mà các nước khác không có. Vua Thiệu Trị đã nhận xét: “ Khi ra trận ở đồng bằng, có quân bộ giúp sức, có súng lớn đặt lên, hoặc cưỡi đi trước, hoặc kéo xe đi sau, xông bên tả, đánh bên hưũ, tới đâu cũng làm cho tan nát, xưa nay các nước dùng binh ít thấy như thế. Cho nên chính sách dùng voi của triều Nguyễn rất quan trọng. Các nước đều khen ngợi, muốn bắt chứơc mà không thể bằng được”. Vua còn lưu ý các quan về lợi thế của ngựa. “Có 10 điều lợi:  1-đón giặc lúc mới đến, 2-thừa lúc giặc hư không, 3-theo quân giặc đánh bừa bộn, 4-đón giặc đánh đàng trước, 5-chặn giữ lương thực, tuyệt lương đi của giặc, 6-phá các bến đồn, hủy bỏ cầu đập, 7-đánh úp khi giặc không phòng bị, đánh thình lình khi giặc chưa chấn chỉnh, 8-đánh lúc giặc trễ nải, thừa lúc giặc không ngờ,  9- đốt những chỗ chứa lương của giặc, 10- dẫm xéo nát ruộng nương làm hệ lụy cho con em của giặc. Đó là những cái lợi của kỵ chiến. Quân kỵ có thể rời ra, tan ra, có thể tụ tập ở xa nghìn dặm mà về tới chỉ bằng một trăm dặm, ra vào được luôn luôn, cho nên gọi là quân ly hợp. Xưa kia kỵ sĩ chỉ có cung tên là món sở trường nay thì có các súng điểu sang, tiêu sang, gươm trường súng ngựa, công đánh phá giặc  hơn biết chừng nào. Vả lại người dùng binh giỏi, không cần phải đánh, người đánh giỏi không cần phải bày trận. Thế nhưng trời sinh ra 05 (năm) hành, binh (binh khí thuộc về hành Kim) không thể bỏ được, thì về phép đánh trận, người làm tứơng không nên không biết. Trận có 4 thế “chính”, chuyển làm 4 thế “kỳ”. Thiên trận ở phương Càn, gọi là cửa Thiên; địa trận ở phương Khôn, gọi là cửa Địa; phong trận ở phương Tốn, gọi là cửa Phong; vân trận ở phương Khảm, gọi là cửa Vân; phi long ở phương Chấn, gọi là cửa Phi long; vũ dực ở phương Đoài, goị là cửa Vũ dực; điểu tường ở phương Ly, gọi là cửa Điểu tường; xà bàn ở phương Cấn goị là cửa Xà bàn. Thiên, Địa, Phong, Vân là 4 cửa chính; long, hổ, điểu, xà là 4 cửa kỳ. Càn, Khôn, Cấn, Tốn là cửa đóng; Khảm, Ly, Chấn, Đoài là cửa mở. Trong ngoài tiếp ứng thành một cái thế nương tựa. Bốn “chính”, bốn “kỳ”, đó là bát trận, nhưng cốt yếu, lại chỉ ở ba. Xưa vua Cao Tông nhà Đường ngự diện Vũ Thành, hỏi: “Nhà binh có ba trận là thế nào?” Viên Bán Thiên nói: “Tôi nghe đời xưa theo các sao, các ngày xấu là thiên trận; theo sông núi đối diện hay quay lưng lại là địa trận; theo tổ chức các đội ngũ, là nhân trận, nhưng tôi trộm cho là không phải thế. Hành binh theo chính nghĩa như trận mưa qúy hoá đổ xuống, hợp với thiên thời, ấy là thiên trận; đủ lương ăn, ít tiêu phí, vừa  làm ruộng vừa chiến đấu hợp với địa nghi, ấy là địa trận; đem quân đi, quân sĩ như con em theo cha anh, được sự nhân hòa, ấy là nhân trận: nếu bỏ những điều đó, thì đánh thế nào được?” Vua Cao Tông khen là phải. Đó tức là trận tam tài mà là cốt yếu của nhà binh”. Các quan nghe vua nói như vậy đều cúi đầu xin chiụ kém vua về kiến thức mà vua đã đọc trong sách vở. Vua lại hỏi các quan: “Trận ngựa với trận voi, đàng nào khó hơn?” Phạm Hưũ Tâm thưa: “Trận ngựa khó hơn” Vua nói: “Phải đấy! Trận voi chỉ là chiếu theo phép luyện tập thường, còn trận ngựa thì quân kỵ bắn tên, cầm đao, xông pha vào trận, nếu không quen thạo thì mình bị bại trước, còn giết giặc được sao? Thế cho nên khó hơn. Nay đợi duyệt binh xong ban thưởng, sẽ lấy khó, dễ làm thứ bậc cốt cho đúng mức công bằng để tỏ ra sự ban khen và khuyến khích”. Vua cũng quan tâm đến thuỷ chiến và tự mình đặt ra những luật lệ, điều khoản về thế trận của thủy chiến và  sai Tôn Thất Bật và Vũ Văn Trứ lo thao diễn về trận thủy chiến. (14)

Qua tường thuật của các sử gia triều Nguyễn trong Quốc Sử Quán mà chúng tôi đã trích dẫn trên đây, chúng ta nhận thấy rằng trách nhiệm của người lãnh đạo đất nước thời xưa (vai trò của một ông vua) không phải chỉ biết ăn chơi, trụy lạc mà chính là phải có trách nhiệm đối với tổ qúôc và đồng bào. Đó là bổn phận bảo vệ tổ quốc và đồng bào, bảo vệ đất nước của tổ tiên để lại. Vua Thiệu Trị được biết đến như là một con người học rộng, có tài văn chương...Nhưng kiến thức của nhà vua không phải chỉ trong lãnh vực văn chương, triết học, đạo lý thánh hiền mà nhà vua còn quan tâm đến lãnh vực quân sự, ngài đọc sách, nghiên cứu cả về nghệ thuật điều binh, khiển tướng, cách đánh giặc thế nào để có những lời khuyên bảo nhắc nhở các quan, các tướng về vai trò của quân đội trong việc bảo vệ tổ quốc, bảo vệ đồng bào.

4. Sứ nhà Thanh đến Hà Nội phong vương cho Thiệu Trị

Các quan nhà Nguyễn được lệnh tổ chức tiếp đón sứ nhà Thanh một cách chu đáo. Khi qua cửa ải, sứ Tàu là Bảo Thanh thấy quán xá đều có treo đèn ngoài cửa, đường sá sửa sang, thành quách bền vững, quân đội nghiêm chỉnh, dân cư đông đúc, làng xóm phồn thịnh nên tấm tắc khen ngợi không dứt. Bảo Thanh đến Gia Thụy, vào công quán, bèn hỏi viên quan của Việt Nam là Trần Văn Trung rằng: “Quán nầy sau khi làm lễ xong còn có để nguyên như cũ không?” Trung đáp: “Xong việc thì triệt bỏ đi ngay”. Thanh nói: “Như vậy há chẳng uổng mất bao nhiêu công khó nhọc và phí tổn?” Trung đem những lời ấy tâu lên vua. Vua nói: “Hắn thật là ngây thơ!” Vua liền sai bộ Lễ  đem những chi tiết về nghi lễ bang giao trao cho Thanh duyệt . Hai bên đã trao đổi và đồng ý những điều đã được sắp xếp trong chương trình.

Lễ sách phong

Quyết định Lễ Sách Phong vào ngày Bính Tý. Sáng sớm hôm ấy, từ cửa Chu Tước đến bến sông Nhị Hà, binh lính và voi dàn thành hàng. Trên thành, cờ xí rực rỡ. Các phố đều treo đèn, kết hoa, mỗi nhà đều đặt hương án, cắm hoa, dân đứng trước cửa, hai bên hương án, đốt nhang trầm để đón rước. Theo lệ cũ, vua đội mũ Cưủ Long, mặc áo màu hồng , đeo đai ngọc (trước đây vua thường mặc áo màu vàng gọi là hoàng bào). Vua đến cửa Chu Tước đứng đợi. Hoàng tử thứ hai là Hường Nhậm (về sau được nối ngôi là vua Tự Đức) và em vua là Tương An công Miên Bảo giúp vua về các trang phục. Thọ Xuân công Miên Định, Phú Bình công Miên An làm ngự tiền thân thần. Văn minh điện Đại học sĩ Trương Đăng Quế làm Ngự tiền thị lập. Hiệp biện Đại học sĩ Trương Đăng Doanh giữ chức nghi lễ. Thống chế Tôn Thất Bật, Tổng đốc Mai Công Ngôn làm hỗ tất đại thần. Thống chế Nguyễn Trọng Tính, Vũ Văn Giải làm thị vệ đại thần. Các quan văn võ đều mặc triều phục, đứng hầu hai bên điện Long Thiên. Vua sai Tổng đốc Thanh Hoá là Tôn Thất Lương mặc áo bào tía, mũ mãng, đi đến công quán Gia Thụy đón tiếp sứ Tàu. Giờ ngọ, sứ nhà Thanh đến, làm lễ sách phong. Kiến An công Miên Đài, Định Viễn công Miên Bính nhận sắc phong. Lễ xong, mời Bảo Thanh uống trà, Thanh từ chối. Vua sai đưa sứ trở về công quán nghỉ ngơi.

Ngày hôm sau (Đinh Sửu), Lễ Dụ Tế ở điện Thị Triều (Lễ đọc tờ Dụ của vua nhà Thanh gửi sang tế vua Minh Mạng). Sứ nhà Thanh đã mang đến 50 tấm lụa, 100 lạng bạc làm lễ vật gửi đến trước. Vua Thiệu Trị cũng đã sai quan Hưũ tư bổ túc thêm một số lễ vật nữa cho đầy đủ và nhà vua đã mặc lễ phục đến trước bàn thờ vua Minh Mạng (thần ngự) kính cáo trước. Khi sứ nhà Thanh đến, vua sai Định Viễn công Miên Bính và Diên Khánh công Miên Tấn bưng rượu và Đông các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn bưng tờ dụ (của vua Thanh), Thượng thư Nguyễn Trung Mậu và Phan Bá Đạt bưng hương, Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai, Thống chế Tôn Thất Đường, Tham tri Lý Văn Phức, Lê Bá Tú, Buì Qũy, Thị lang Nguyễn Trạch bưng lụa cùng dâng lễ tế. Lễ xong, sứ nhà Thanh chắp tay cuí đầu lui ra, vua cũng đưa tay lên trán để đáp lại. (15)

Điều đáng lưu ý: Trong việc tiếp đón sứ nhà Thanh và diễn tiến các nghi lễ đều theo điển lễ của Việt Nam. Bảo Thanh cũng như những viên quan thông dịch đi theo ông ta đều nhất nhất tuân theo luật lệ của nước ta. Vua Thiệu Trị rất hài lòng và ngỏ lời khen ngợi, tặng quà rất hậu.  Riêng sứ nhà Thanh chỉ nhận có 8 thứ (01 chiếc tê giác dát hoa bằng vàng, 01 đôi tê giác, 02 cân kỳ nam, 10 cân trầm hương, 01 cặp ngà voi, 02 cân nhục quế, lụa và vải, mỗi thứ 100 tấm).

Vua sai Đào Trí Phú tiển đưa Bảo Thanh ra tận cửa ải. Vua cũng dự trù sẽ cho một phái đoàn qua tạ ơn vua nhà Thanh nhưng vua Thanh cho phép sẽ tạ ơn vào dịp  mang cống phẩm qua cũng được.

Ban thưởng cho những người có công. Phạt những người thiếu trách nhiệm.

Vua ban thưởng cho những người có công tuỳ theo cấp bực lớn nhỏ. Riêng dân phu tỉnh Lạng Sơn vì có công làm đường sá cho sứ bộ đi qua nên được thưởng thêm 750 quan tiền. Một số các quan vì không làm tròn nhiệm vụ nên đã bị phạt là hưũ Tham tri bộ Lại Vũ Đức Khuê, Bố chính Nam Định là Nguyễn Quốc Hoan và Lãnh binh Hà Nội là Phùng Hưũ Hóa bị bãi chức. Nguyên hôm làm lễ Tuyên phong, sứ nhà Thanh  ngồi trên kiệu đi thẳng vào cửa Chu Tước, bị Thọ Xuân công Miên Định thét bắt phải dừng lại, Bảo Thanh mới chịu xuống kiệu. Vua cho rằng các quan có trách nhiệm nói trên đã không chịu đi theo sứ nhà Thanh để hướng dẫn họ nên mới xảy ra chuyện tới lui trái phép. (16)

Vua hồi loan, trở về cung

Xe của vua hồi loan trở về cung, các quan ra đón vua ở Trấn Bình Đài. Vua đến cung Từ Thọ lạy mừng Thái hậu, sau đó mới ngự về điện Cần Chánh. Hoàng tử lưu kinh (ở lại giữ kinh đô) và các quan đến lạy mừng, đem cờ, ấn nộp. Trên kỳ đài treo cờ Khánh hỷ (cờ mừng có đủ các màu sắc). Hai hôm sau, vua đến điện Hiếu Tư làm lễ tạ ơn và báo cáo với tổ tiên việc bang giao đã xong. Vua lập đàn chay ở chùa Thiên Mụ, ban tờ Dụ cho toàn dân: “Năm nay, đại giá Bắc tuần, đường đi qua 9 quận, trước ngày khải loan, trẫm ở trong cung, mật cầu trời, tổ ban phúc khiến cho Thánh tổ mẫu thái hoàng thái hậu ta lành mạnh, đó là điều mong ước nhất. Từ đầu Xuân khải loan đến đầu Hạ hồi tất, thường thường nhận được tin mừng ở kinh: Thánh từ ngày càng mạnh khoẻ. Vả lại, lúc đi thì mưa Xuân tạnh ráo đón xe ra, lúc về thì mùa Hạ thuận tiết hộ vệ đường về, trẫm thấy trong mình càng khoẻ, những người đi theo cùng đều được lành mạnh. Nay cờ rồng đã tiến về kinh, kính yết Từ cung, bà cháu sum họp vui vẻ; tới triều, các quan tấp nập mừng vui, lòng trẫm mừng rỡ khôn kể xiết! Vậy lập đàn cầu phúc, sai thự thống chế doanh Kỳ vũ Tôn Thất Đường, thị lang bộ lễ Trương Quốc Dụng coi việc ấy”

Mấy hôm sau, ngày Bính Thân, vua ban tờ Chiếu cho toàn dân biết:
“...Trẫm kính nối nghiệp xưa, theo sự được nghe, ghi lời đạo đức, lo sâu xa, tĩnh mật để nối sáng người xưa, xem xét chế độ, kính cẩn việc làm, nghĩ nối chí theo việc tức là đạo hiếu. Vì thế, kính tuân hiến pháp sẵn định, làm việc bang giao. Ngày 22 tháng Giêng năm nay, xa giá Bắc tuần, ngày 18 tháng hai đến hành tại Hà Nội. Cờ đi tới đâu cũng xét quan lại, chỉnh binh nhung, làm tốt, gia ơn khắp tới dân chúng. Già trẻ nơi làng mạc thấy bóng cờ đều vui mừng; quan chức các địa phương họp lễ cống đến triều yết. Xét các lệ xưa nay để làm điển lễ, hợp mọi tình trên dưới để tiếp phúc trời. Lần nầy sứ Thanh vâng mệnh sang đây, trong khi tới, lui, kính cẩn theo lễ độ; sự hoà thuận vui vẻ hợp với tình văn, quốc thể càng thêm tôn, thần dân đều mừng rỡ. Thật là nhờ về hoàng tổ Thế tổ Cao hoàng đế và hoàng khảo Thánh tổ Nhân hoàng đế ta uy đức đã rộng khắp, nên được như thế. Ngày 28 tháng trước, lễ lớn khánh thành; ngày 29 hồi loan; ngày 12 tháng này, tới kinh. Từ mình trẫm cho chí các hoàng đệ, hoàng thân và các quan đi theo, mọi sự đều được tốt lành cả. Nhận thấy sự được phúc lớn lao, khắp trong ngoài vui vẻ, lòng trẫm mừng, cảm kể sao cho xiết! Ngày 14, đã thân đến kính tạ điện Hiếu tư; ngày 15, thân đến mừng sức khoẻ cung Từ thọ; ngày 17 thân đến kính tạ Thái miếu, sai quan đến kính tạ Triệu miếu; ngày 18, thân đến kính tạ Thế miếu, sai quan đến kính tạ Hưng miếu. Nay ban chiếu khắp thiên hạ để vui lòng mọi người. Than ôi! noi điển cũ để trọn việc thân thiện với nước khác, làm tỏ mưu mô, công nghiệp người xưa; giữ phúc trước để tiến tới yên định cho dân sinh, cốt đón mừng vui lâu dài của vận mệnh. Bá cáo cho mọi người, xa gần đều nghe, biết”. (17)

Trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn và các vua đầu nhà Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng) đều cho sứ qua  Trung Quốc xin vua Tàu phong vương.  Vua Việt Nam được vua Tàu cấp cho một chiếc ấn đúc bằng vàng. Dưới thời nhà Nguyễn, mặc dù Huế là kinh đô của Việt Nam, nhưng các vua nhà Nguyễn vẫn phải ra tận Hà Nội nhận sắc phong. Sứ Tàu cũng thích đến Hà Nội vì nơi đây gần Trung Quốc hơn, tránh được  cảnh đi lại đường sá xa xôi, vất vả nhọc nhằn, khí hậu khắc nghiệt. Hà Nội là nơi đời sống vật chất, tinh thần cao hơn các nơi khác nên được xem là chốn ngàn năm văn vật. Vua Thiệu Trị là vua cuối cùng của nhà Nguyễn ra Hà Nội nhận sắc phong. Nhưng kể từ vua Tự Đức,  nhà vua muốn chứng tỏ rằng, Huế mới là kinh đô, là nơi nhân tài tụ hội, là nơi văn vật không thua kém gì Hà Nội, đời sống tinh thần, vật chất ở đây cao hơn các nơi khác. Vua Tự Đức lấy lý do Hà Nội không phải là kinh đô của nước Việt Nam để từ chối ra Bắc  và buộc sứ  nhà Thanh là Lao Sùng Quang (18) phải đến kinh đô Huế để phong vương vào năm Kỷ Dậu (1849). Trong việc ngoại giao với nhà Thanh, các vua Việt Nam, nhất là các vua nhà Nguyễn luôn luôn bảo vệ chủ quyền quốc gia và danh dự của dân tộc.



Chú thích:
(1)   Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ tam kỷ, quyển XV, bản Hán Văn, Quốc Sử Quán triều Nguyễn, bản dịch Viện Sử Học Hà Nội 1971 tr.5..
(2)   ĐNTLCB, sách đã dẫn, tr.21...
(3)   (4) (5) (6) (7) ĐNTLCB, sđd, tr.29...32
(8) (9) (10) (11) ĐNTLCB sđd, tr...36...40 núi Triệu Tường, lăng Trường Nguyên là nơi có mộ Nguyễn Kim. Trừng Quốc Công là Nguyễn Hoàng Dụ, cha của Nguyễn Kim.
(12) ĐNTLCB, sđd, tr...40
(13) ĐNTLCB, sđd, tr...44
(14) ĐNTLCB, sđd, tr...52-59
(15) ĐNTLCB, sđd, tr. 91, 95, 96
(16) ĐNTLCB, sđd, tr.98
(17) ĐNTLCB, sđd, tr.108
(18) Lao Sùng Quang, người huyện Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, thi đỗ đệ nhị giáp Tiến sĩ, làm quan án sát sứ tỉnh Quảng Tây được vua Sùng Quang nhà Thanh cử làm Khâm Sứ qua nước ta vào tháng 6 năm Kỷ Dậu (1849) phân ưu việc vua Thiệu Trị mất và phong vương cho vua Tự Đức tại Huế. (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, sđd, tr. 186)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét