Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 17 tháng 3, 2014

Phong trào Dân Chủ Việt Nam trước vận hội lớn - “Quan tiến sĩ” giúp gì cho việc trị nước? - Cứu hộ, cứu nạn hay phô diễn sự lạc hậu?

Nguyễn Vũ Bình - Phong trào Dân Chủ Việt Nam trước vận hội lớn

Phong trào Dân chủ Việt Nam đã có sự phát triển và mở rộng vượt bậc trong mấy năm vừa qua. Sự phát triển của phong trào Dân chủ (PTDC) cả về số lượng người tham gia, cũng như những bước tiến về chất đã làm nức lòng cả những người khó tính nhất. Những biến đổi lớn của PTDC đã đến kịp lúc tình hình của đất nước có những dấu hiệu cho một sự chuyển đổi cơ bản và toàn diện: sự cạn kiệt nguồn lực để duy trì hệ thống độc tài toàn trị của chế độ Cộng sản Việt Nam. Phong trào Dân chủ Việt Nam sắp sửa hiện thực hóa lý tưởng theo đuổi trong mấy chục năm qua, tự do cho người dân và Dân chủ cho toàn xã hội.

I/ NHỮNG BƯỚC TIẾN LỚN CỦA PHONG TRÀO DÂN CHỦ NHỮNG NĂM QUA 

Trong những năm qua, PTDC Việt nam đã có những bước tiến lớn, vượt bậc. Có thể nhận thức được quá trình phát triển của PTDC qua các phương diện sau.

1/ Sự bùng nổ số lượng người tham gia vào PTDC Việt Nam

Có thể nói, điều dễ nhận biết nhất về sự phát triển của PTDC là việc bùng nổ số lượng người tham gia vào PTDC. Bất kể ai, từ những người tham gia phong trào dân chủ, hoặc chỉ quan tâm tới PTDC cũng đều hết sức vui mừng vì số lượng người tham gia vào PTDC có sự tăng trưởng vượt bậc, đột biến. Từ những năm 2000, số lượng người tham gia vào PTDC rất ít. Không có một sự thống kê nào, nhưng trong phạm vi quan sát của tôi khi đó, địa bàn Hà Nội có khoảng vài ba chục người. Đó là những người có bài viết ghi rõ họ tên, địa chỉ và họ thường xuyên qua lại gặp gỡ nhau trao đổi quan điểm, bài viết. Số lượng người quan tâm, ủng hộ nhiều hơn rất nhiều, thể hiện bằng số lượng các bài viết đã được phát tán trong thời kỳ đó.

Một thời điểm khác trong quá khứ, cũng có sự gia tăng về số lượng người tham gia, đó là giai đoạn 2005-2006. Rải rác theo các năm sau đó, số lượng người tham gia ngày càng tăng lên. Nhưng sự đột biến, bùng nổ về số lượng người tham gia PTDC, phải từ năm 2011 trở lại đây. Có thể nói, ngoài sự bùng nổ về số lượng người tham gia PTDC thì thành phần tham gia cũng vô cùng đa dạng, phong phú và hầu như không thiếu một khía cạnh, lĩnh vực nào của cuộc sống: nam, nữ; già trẻ, trí thức, công nhân, nông dân, thanh niên, sinh viên, cán bộ, viên chức người của các tôn giáo…Một điểm nhấn về thành phần tham gia PTDC Việt Nam trong mấy năm vừa qua, đó là giới trẻ, thanh niên sinh viên. Đây là thành phần rất quan trọng bởi sự sáng tạo và sức lan tỏa của thanh niên trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay… không nghi ngờ gì nữa, đó là sự thức tỉnh của toàn dân tộc mong muốn tự do cho cá nhân và cho toàn xã hội.

2/ Sự kết hợp trong PTDC rất đa dạng, phong phú và có bước tiến về chất

Gia đoạn ban đầu của PTDC, mối liên hệ, sự kết hợp của những người đấu tranh dân chủ chỉ là sự kết hợp của quan điểm, của lý luận và một phần rất nhỏ sinh hoạt trong cuộc sống. Các chiến sĩ dân chủ gặp gỡ nhau, trao đổi các bài viết, các quan điểm, tình hình xung quanh các vấn đề lý luận và đấu tranh chính trị. Sự kết hợp có mục đích của những người đấu tranh là những sự kết hợp về chính trị, hoặc có khuynh hướng chính trị rõ rệt. Ví dụ, thời kỳ 2001 là việc chuẩn bị tổ chức thành lập Hội Chống Tham nhũng….hoặc giai đoạn 2006, đó là việc thành lập các đảng phái, tổ chức Công đoàn, các Khối xã hội như 8406….thành phần tham gia khi đó, phần lớn là những người có khuynh hướng chính trị và cũng tập trung vào các mục tiêu chính trị. Cũng chính vì số lượng người hạn chế, mục tiêu khi tham gia và đấu tranh mang khuynh hướng chính trị, trong bối cảnh người dân chưa thức tỉnh được bao nhiêu, nên những sự kết hợp chưa thực sự mang lại hiệu quả. Một phần PTDC bị đàn áp, một phần những mục tiêu kết hợp đó chưa đi vào cuộc sống, nên PTDC đã có những khó khăn nhất định, và có những giai đoạn trầm lắng. Tuy nhiên, giai đoạn sau này, bắt đầu từ cuối năm 2007 trở lại đây, bằng việc khởi phát việc biểu tình chống lại nhà cầm quyền Trung Quốc âm mưu thôn tính Hoàng Sa, Trường Sa, PTDC đã bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn của những kết hợp dân sự. Quá trình thai nghén cho những kết hợp dân sự cũng là giai đoạn PTDC gặp khó khăn và trầm lắng. Những kiến nghị tập thể có số lượng lớn người tham gia, kết hợp tất cả các thành phần xã hội trong và ngoài Đảng, Nhà nước; người ở trong nước và người Việt hải ngoại,….đó là các kiến nghị như Bô-xít; Kiến nghị 72…đồng thời có sự kết hợp dân sự như các Câu lạc bộ bóng đá FC Hoàng Sa, Trường Sa, Viện IDS (Viện nghiên cứu xã hội độc lập). Đó là những bước đầu manh nha cho các kết hợp dân sự. Từ những bước đi cơ bản đó, sự kết hợp dân sự dần lớn mạnh từng bước, mạng lưới Bloger, nhóm Nhật Ký Yêu nước ra đời… và sau này có sự bùng nổ những kết hợp dân sự: Hội Anh Em Dân chủ, Phụ Nữ Nhân Quyền, Hội Bầu Bí tương thân, Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm, sắp tới còn có Hiệp Hội Dân Oan, Văn Đoàn độc lập… đó là bước tiến tuyệt vời của PTDC. Những sự kết hợp này, rút kinh nghiệm giai đoạn trước đây, được thành lập lặng lẽ, kín đáo và quan trọng nhất là không tổ chức bộ máy ngay từ đầu, không trụ sở, ban đầu chủ yếu trên mạng và hướng tới các mục tiêu dân sự. Như vậy, với sự kết hợp này, PTDC đã tránh được sự đàn áp và đã có những hoạt động thiết thực, hiệu quả đi vào cuộc sống của người dân. Đây là bước tiến quan trọng của PTDC, nó có biến đổi về chất so với giai đoạn trước đây, đó là công cuộc đấu tranh dân chủ đã đi vào cuộc sống của người dân. Sự kết hợp trong phong trào dân chủ còn được thể hiện bởi những liên hệ, liên kết giữa các thế hệ đấu tranh, sự hợp tác liên kết giữa các thành phần đấu tranh. Đó là sự liên kết giữa trí thức và công nhân, nông dân, thanh niên sinh viên, giữa những người theo và không theo tín ngưỡng, giữa các tôn giáo cũng có sự kiên kết, hợp tác đấu tranh.

3/ Sự sáng tạo trong các hoạt động đấu tranh Dân chủ

Không chỉ sáng tạo trong sự kết hợp, những người tham gia PTDC còn rất sáng tạo trong các hoạt động đấu tranh. Trước đây chúng ta chứng kiến những hoạt động đấu tranh thực tế, trực diện như căng băng rôn, khẩu hiệu, tờ rơi truyền đơn. Tuy nhiên, những hoạt động có khuynh hướng chính trị đó vừa không có hiệu quả cao, vừa bị đàn áp nặng nề. Một vài năm trở lại đây, các hoạt động thực tiễn, trực diện cũng thay đổi nội dung và cách thức tiến hành. Đó là việc phát bóng bay Nhân quyền, Cẩm nang Nhân quyền đến tận tay người dân. Một hoạt động rất sáng tạo và vô cùng hữu ích, ý nghĩa đó là hoạt động “đòi người”. Khi một người hoặc một nhóm người bị bắt, câu lưu những người ở bên ngoài tập hợp đến địa điểm công an giam giữ đề nghị được gặp gỡ, đòi thả người và các yêu cầu chính đáng theo pháp luật hiện hành. Hoạt dộng này thực sự sáng tạo và ý nghĩa. Trước hết, làm yên tâm những người đấu tranh Dân chủ đang bị cầm giữ, họ biết họ không lẻ loi, không bị bỏ rơi và có sự tương trợ kịp thời, hữu hiệu của những người cùng đấu tranh. Mặt khác, hoạt động này tạo áp lực rất mạnh lên nhà cầm quyền và những người thực thi việc bắt giữ, hạn chế rất nhiều những sự đàn áp phi pháp như trước đây. Một hoạt động rất sáng tạo và ý nghĩ nữa cũng được những thành viên trẻ tuổi tham gia PTDC thực hiện, đó là trao các bản kiến nghị phản đối các điều luật phi nghĩa (như 258) tới các cơ quan, tổ chức nhân quyền quốc tế. Cùng với sự lên tiếng của nhiều người,, nhiều tổ chức trong và ngoài nước, hoạt động của mạng lưới Bloger đã góp công lớn để thế giới đánh giá chính xác hơn tình trạng nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam. Còn rất nhiều những hoạt động của PTDC thể hiện sựu sáng tạo trong đấu tranh Dân chủ như: dã ngoại nhân quyền, thảo luận nhân quyền, đồng hành tuyệt thực cùng tù nhân lương tâm, tổ chức những buổi Thánh Lễ cầu nguyện cho tù nhân lương tâm, tham gia các buổi xử án những người đấu tranh Dân chủ, biểu tình chống Trung Quốc, tưởng niệm liệt sĩ trong cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung… có thể nói, khi công cuộc đấu tranh Dân chủ đi vào được cuộc sống của người dân, chúng ta sẽ còn tiếp tục được chứng kiến những hoạt động vô cùng sáng tạo và ý nghĩa của những người tham gia mà số lượng ngày càng tăng với thành phần ngày càng rộng mở.

4/ Định hình một Xã hội Dân sự ngay trong lòng chế độ độc tài toàn trị

Xã hội Dân sự là khái niệm chỉ sự kết hợp tự nguyện của người dân (không liên quan tới hệ thống chính quyền) để chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau hoặc bảo vệ, đòi hỏi quyền lợi chính đáng của các thành viên tham gia. Trong các xã hội bình thường, sự kết hợp này hoàn toàn tự do và rất phổ biến, tự nhiên. Trong các chế độ độc tài quân sự hoặc độc tài cá nhân thì sự kết hợp của người dân cũng chỉ bị hạn chế một phần chứ không bị cấm đoán hoàn toàn hoặc bị đàn áp và tiêu diệt. Tuy nhiên, dưới các chế độ Cộng Sản, hệ thống độc tài toàn trị thì Xã hội Dân sự bị ngăn cấm triệt để và tất cả các biểu hiện, dấu hiệu của sự kết hợp tự nguyện của người dân đều bị đàn áp và xóa sổ ngay lập tức. Lý do là các chế độ Cộng sản không muốn người dân quan tâm, yêu thương và chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau. Họ ngăn chặn từ gốc rễ các kết hợp dân sự, cơ sở và nền tảng của các kết hợp xã hội, chính trị. Chính vì vậy, trong mấy năm vừa qua, PTDC đã thiết lập và định hình được một xã hội Dân sự trong lòng chế độ độc tài toàn trị là một thành công vượt bậc, nằm ngoài dự liệu của mọi người. Sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau giữa những người đấu tranh dân chủ, giữa người đấu tranh dân chủ với Dân Oan, giữa các thành viên trong các hội, nhóm sẽ ngày càng phát triển và lan tỏa ra toàn xã hội. Điều quan trọng nhất, những kết hợp của người dân, trên cơ sở của Xã hội Dân sự vừa manh nha sẽ ngày càng phát triển và không thể đảo ngược.

Trong giai đoạn hiện nay, sự kết hợp, sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau trong PTDC còn là bà đỡ cho những đột biến trong nội bộ đảng Cộng sản VN. Khi một cá nhân, hoặc một nhóm trong đảng, thức tỉnh và đứng về phía nhân dân sẽ nhận được sự hoan nghênh, ủng hộ, quan tâm và giúp sức của truyền thông “lề trái” và PTDC. Ngoài ra, một ý nghĩa rất quan trọng về lâu dài, xã hội dân sự phát triển là nền tảng cho một xã hội dân chủ lành mạnh sau này.

Đi vào tìm hiểu nguyên nhân của những thay đổi quan trọng, bước tiến lớn về chất của PTDC trong những năm qua, chúng ta thấy có sự tương tác của những phương diện và hoàn cảnh sau.

- Sự bùng nổ thông tin và khả năng truyền dẫn thông tin. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất, cốt lõi nhất, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Chúng ta đều biết, các xã hội Cộng sản nói chung và Cộng sản Việt Nam nói riêng, sự tồn tại, tác oai tác quái của họ dựa trên bạo lực và tuyên truyền, bưng bít thông tin, bịp bợm và dối trá. Đối với các chế độ Cộng sản, sự thật như ánh sáng ban ngày đối với lũ yêu ma, quỷ quái. Họ tìm mọi cách, mọi giá và mọi thủ đoạn để xuyên tạc, bóp méo sự thật phục vụ cho mục tiêu tuyên truyền của chế độ. Chính vì vậy, sự bùng nổ của Internet, và nhất là sự bùng nổ của Facebook (phương thức truyền dẫn thông tin đặc biệt) như những ánh chớp xé tan màn đêm u tối của chế độ độc tài toàn trị, phơi bày tất cả những ngóc ngách tối tăm nhất của hiện thực kinh hoàng mà chế độ cố gắng che dấu. Khi sự thật đã không còn che dấu được nữa, các chế độ Cộng sản chắc chắn sẽ phải đối diện với hai khả năng, tự thay đổi hoặc sẽ bị đào thải.

- Hiện thực tiêu cực và nghịch lý cuộc sống đã tác động tích cực tới nhận thức của người dân. Một số lượng không nhỏ những người tham gia vào PTDC chính là nạn nhân của chế độ dưới nhiều hình thức. Đó là những người bị mất đất đai, bị oan khuất, nạn nhân sự lạm dụng quyền lực…vv. Mặt khác, sự bùng nổ thông tin, sự thật được phơi bày, đến lượt nó tác động trực tiếp tới nhận thức của người dân, trước hết là tầng lớp trí thức. Điều này làm thức tỉnh phần lớn những người có lương tâm, dẫn dắt họ tìm hiểu và tự nhận thức ra được vấn đề. Khi đã nhận thức được vấn đề, sự quan tâm, tham gia vào trào lưu tiến bộ của xã hội chỉ còn là vấn đề thời gian.

- Những cố gắng nỗ lực trong nội bộ PTDC Việt Nam. Nói gì thì nói, sự phát triển của PTDC có công đóng góp quan trọng và quyết định của bản thân PTDC. Những cố gắng không biết mệt mỏi của rất nhiều người đấu tranh trong nước, hải ngoại, các tổ chức hải ngoại và tất cả các thành phần tham gia âm thầm vào PTDC đã đem lại sự phát triển vượt bậc của PTDC những năm qua. Những trào lưu của thế giới và sự quan tâm, hỗ trợ của các tổ chức nhân quyền quốc tế cũng là động lực quan trọng thúc đẩyquá trình phát triển của PTDCVN. Sự sáng tạo trong kết hợp, trong các hoạt động đấu tranh dân chủ của những người đấu tranh dân chủ là điểm nhấn quan trọng giúp tạo ra sự biến đổi về chất của PTDCVN.

Những thành tựu của Phong trào Dân chủ Việt nam trong những năm qua đã tạo ra những điểm nhấn và ý nghĩa lớn để phong trào tiếp tục phát triển và hoàn thiện. Cần ghi nhớ những ý nghĩa quan trọng này.

* Phong trào Dân chủ Việt Nam đã bén rễ vào cuộc sống, ngày càng phát triển và không thể đảo ngược

* Xã hội dân sự hình thành và phát triển làm nền tảng cho việc xây dựng thể chế dân chủ sau này

* Sự phát triển của phong trào Dân chủ và xã hội dân sự thúc đẩy sự thức tỉnh và biến động trong nội bộ đảng Cộng sản VN

II/ PHONG TRÀO DÂN CHỦ VIỆT NAM TRƯỚC VẬN HỘI LỚN 

Vận hội lớn đã được trình bày trong các bài viết trước đây, chúng ta không nhắc lại. Phong trào Dân chủ Việt Nam phải chuẩn bị và làm gì, khi những diễn biến thuận lợi của tình hình đất nước sẽ đưa tới những khả năng như: nền kinh tế sụp đổ, sự biến động trong nội bộ ĐCSVN dẫn tới khả năng tự vỡ, chia tách trong đảng, hoặc đột biến xã hội dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của chính quyền Cộng sản. Dựa vào những nghiên cứu về PTDC và những diễn biến tình hình, PTDC cần chú ý hoàn thiện trên những phương diện sau.

1/ Thống nhất nhận thức về lý tưởng, mục tiêu và phương thức chung của PTDC

Không cần nói nhiều về lý tưởng, chúng ta đều biết, những người tham gia đấu tranh dân chủ trước hết là tự giải phóng mình “nói những điều mình nghĩ, làm những gì mình cho là đúng”. Sau đó là lý tưởng giải phóng cho toàn thể người dân được tự do, đất nước có dân chủ. Mục tiêu cuối cùng, hay mục đích là phấn đấu cho một xã hội Dân chủ và giàu mạnh, thể chế dân chủ cũng chỉ là phương tiện cho mục đích cuối cùng này. Tuy nhiên, khi đi vào phương thức đấu tranh của PTDC có rất nhiều sự khác biệt, nhầm lẫn và mâu thuẫn. Mọi người đều thống nhất, cần phải thay đổi chế độ Cộng sản, độc tài toàn trị ở Việt Nam bằng một thể chế dân chủ, đa nguyên đa đảng và tam quyền phân lập. Như vậy, PTDC thực hiện việc đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ Cộng sản, đồng thời xây dựng thể chế dân chủ. Ở vế thứ nhất, xóa bỏ chế độ độc tài là vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất. Trước hết là việc xác định vai trò của PTDCVN, sau đó là phương thức để thực hiện vai trò đó. Có thể có hai vai trò trong tiến trình xóa bỏ cơ chế độc tài toàn trị: 1- PTDCVN là chủ thể, có tác động quyết định tới việc giải thể chế độ; 2- PTDCVN có những tác động quan trọng trong việc giải thể, sụp đổ của chế độ CSVN.

Trong trường hợp PTDCVN là chủ thể, có tác động quyết định tới việc giải thể chế độ CSVN thì đương nhiên, PTDC phải được tổ chức tốt, động viên được quần chúng nhân dân, đấu tranh bằng nhiều biện pháp, phương pháp và dồn ép chế độ CSVN phải đi tới chỗ thỏa hiệp, bắt buộc phải chấp nhận sự hiện diện của PTDC như một lực lượng chính trị, đồng ý chuyển sang chế độ dân chủ, đa nguyên đa đảng. Muốn làm được điều này, PTDC phải có một hoặc nhiều tổ chức chính trị, đảng phái theo đúng nghĩa ngay trong nước, và các tổ chức đó phải được đông đảo người dân tham gia và động viên được người dân tham gia vào công cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức như biểu tình, bãi công, bãi thị,v.v… và một quá trình đấu tranh lâu dài với nhà cầm quyền, kết hợp với sức mạnh ủng hộ của quốc tế dồn ép chế độ, bắt buộc phải thỏa hiệp và thay đổi chế độ. Đối chiếu với PTDCVN hiện nay, chúng ta chưa có một tổ chức chính trị đúng nghĩa nào, và cũng chưa biết đến khi nào sẽ có. Mặt khác, khi có tổ chức chính trị rồi, chúng ta cũng phải tập hợp được quần chúng, phải đấu tranh lâu dài, cam go và toàn diện. Như vậy, có thể kết luận PTDC hiện nay không thể là chủ thể và có tác động quyết định tới việc giải thể chế độ hiện thời. Có nhiều ý kiến cho rằng, chỉ cần người dân không sợ hãi, đứng lên giải thể chế độ là xong. Đây là ý kiến quá hời hợt và giản đơn. Chúng ta cần hiểu rằng, chế độ CSVN là một thể chế chính trị, là một lực lượng vật chất. Họ có trong tay một đảng CS với kinh nghiệm trên 80 năm đấu tranh chính trị trong mọi hoàn cảnh, có quân đội, có cảnh sát, công an, có lực lượng 30-40 triệu người hưởng lợi từ thể chế này. Chỉ có một lực lượng vật chất mới đánh đổ được một lực lượng vật chất khác. Quay ngược lại quá khứ, thời điểm năm 1945, đảng CSVN khi đó thành lập được 15 năm, có trên 5000 đảng viên, ngoài ra còn có sự ủng hộ, giúp sức của người dân. Vậy mà cũng phải chờ đến khi Nhật đảo chính Pháp, và cũng phải dựa vào sự “nhanh mắt, nhanh tay”, biến cuộc biểu tình của công chức, viên chức Hà Nội vào ngày 19/8 thành cuộc Tổng khởi nghĩa, họ mới giành được chính quyền từ tay một chế độ vừa thành lập chưa được một năm. Có một khả năng có thể xảy ra, chúng ta cũng không nên ngộ nhận. Đó là, có những biến động về kinh tế hoặc xã hội, người dân vùng lên lật đổ chế độ. Trong quá trình này, có sự giúp sức của PTDC Việt Nam hiện thời, ví dụ kết nối, kêu gọi và tham gia cùng người dân thì chúng ta cũng không thể nói đó là PTDC có tác động quyết định đến sự sụp đổ của chế độ được. Đó là quá trình tự sụp đổ của chế độ, do sự rữa nát từ bên trong, và đến giờ phút cuối cùng, cũng không duy trì được quyết tâm và kỷ luật để khống chế được tình hình, chứ không phải do PTDC tổ chức được người dân đứng lên lật đổ chế độ.

Như vậy, chúng ta buộc phải công nhận với nhau một điều, PTDC Việt Nam có tác động quan trọng tới quá trình sụp đổ của chế độ Cộng sản VN hiện nay. Thực tế sự vận động của PTDC trong mấy năm qua cũng xác lập xu hướng này. Trước đây, các hoạt động của PTDC thường có mục tiêu hoặc khuynh hướng chính trị rõ rệt. Nhưng những năm gần đây, PTDC đã chuyển hướng sang các hoạt động dân sự, những sự kết hợp hướng tới các sinh hoạt dân sự. Đây là hướng đi đúng đắn, phù hợp với thực tiễn chính trị Việt Nam hiện nay.

Trên cơ sở nhận thức vai trò của PTDC Việt Nam, phương thức hoạt động của PTDC cần tập trung vào những vấn đề chính yếu sau.

- Tiếp tục phát triển các hoạt động của PTDC, thúc đẩy phát triển xã hội dân sự trên nhiều phương diện, khía cạnh của cuộc sống.

- Trên cơ sở xã hội dân sự định hình và phát triển, chúng ta cũng hướng các tổ chức, các hoạt động tới khuynh hướng chính trị, bởi vì việc hình thành và phát triển các tổ chức chính trị còn cần thiết cho cả tiến trình xây dựng thể chế chính trị dân chủ sau này.

- Thiết lập mối liên hệ giữa các hoạt động của Xã hội dân sự với các lực lượng tiến bộ trong nội bộ đảng CS và hệ thống nhà nước VN. Thúc đẩy sự thức tỉnh và sự ủng hộ các sinh hoạt, tiếng nói tiến bộ trong hệ thống đảng, chính quyền hiện nay.

2/ Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc trong tiến trình đấu tranh và xây dựng thể chế Dân chủ

Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc là việc nhận thức điểm chung của chúng ta đều là người Việt Nam và mong muốn có một tương lai tốt đẹp cho người dân và đất nước Việt Nam. Trong quá khứ, với những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, những người Việt Nam đã chia rẽ, mâu thuẫn và tàn sát lẫn nhau. Sau khi trải qua những thăng trầm lịch sử, chúng ta hiểu rằng, đó là những giai đoạn đặc thù, những người Việt Nam có chung nguồn gốc, tổ tiên và một quốc gia, dân tộc cùng phấn đấu cho một tương lai chung, tốt đẹp cho con người và đất nước Việt Nam. Chúng ta bắt tay hòa giải để xây dựng tương lai chung đó. Tiến trình hòa giải và xây dựng tương lai chung sẽ tạo ra sự hòa hợp dân tộc đưa tới những kết quả tốt đẹp nhất. Thời gian vừa qua, chúng ta nhận thấy cả hai phía PTDC và nhà cầm quyền VN đều đề cập tới vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc. Phải khẳng định rằng, đối với nhà cầm quyền Việt Nam, đó là chiêu bài để thu hút các nguồn lực của người Việt hải ngoại, phục vụ cho mục tiêu duy trì thể chế độc tài toàn trị. Còn về phía PTDC, hay các tổ chức đối lập tại hải ngoại, đó là tư tưởng mới, tiến bộ. Tuy nhiên khi đề cập tới vấn đề này, các nhà lý luận mới chỉ đề cập tới khía cạnh lý thuyết, lý tưởng của triết lý hòa giải và hòa hợp dân tộc. Nếu như đặt vấn đề tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc chính là nhu cầu của thực tiễn, phân tích và đối chiếu với thực tế, thì sẽ có sức thuyết phục cao hơn. Trong tiến trình đấu tranh dân chủ, chúng ta cần sự hòa giải, hòa hợp ngoài lý tưởng cao đẹp và đúng đắn, thì thực tế tình hình cũng đòi hỏi như vậy. Những người trong nội bộ ĐCS và nhà nước VN thức tỉnh, tham gia vào công cuộc đấu tranh chung của PTDC, chúng ta hoan nghênh, ủng hộ và hợp tác với họ. Chúng ta không thể nói rằng, họ là Cộng sản, họ xuất phát trong lòng chế độ Cộng sản mà không hợp tác với họ. Ngược lại, những người này, cũng không thể nói rằng không hợp tác với những người Việt hải ngoại vì quan điểm xưa cũ của cộng sản, những người hải ngoại là ngụy quân, ngụy quyền…vv.

Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc rất quan trọng trong quá trình xây dựng thể chế dân chủ sau này. Xuất phát từ đòi hỏi, nhu cầu của thực tiễn, chúng ta buộc phải hợp tác, làm việc cùng nhau giữa các lực lượng chính trị, con người với những quá khứ mâu thuẫn, thậm chí là kẻ thù của nhau. Một viễn cảnh của tương lai, khi chuyển đổi chế độ từ độc tài sang dân chủ, nếu xảy ra trong tương lai gần, hệ thống chính trị dân chủ chắc chắn phải sử dụng và hấp thụ một số lượng không nhỏ những người trong hệ thống chế độ cũ, bởi vì chế độ mới chưa thể chuẩn bị đủ nhân sự cho một hệ thống chính quyền trên toàn quốc. Mặt khác, nếu sự thay đổi diễn ra, các lực lượng chính trị mới nếu tập trung ngay vào việc thanh toán quá khứ, sẽ dẫn tới tình trạng hoảng loạn, hỗn loạn và là trở ngại rất lớn cho việc xây dựng thể chế dân chủ của đất nước.

Như vậy, nhu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn bắt buộc phải có tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc. Điều quan trọng là, nếu chúng ta nhận thức và thấm nhuần tinh thần cao đẹp này, thì việc thực hiện sẽ dễ dàng, thuận lợi và tự nhiên hơn rất nhiều. Điều đó đồng nghĩa với việc, tương lai của đất nước sẽ sáng sủa hơn trong tiến trình phát triển sau này.

3/ Xác định tương quan lợi ích của sự nghiệp chung với đoàn thể và cá nhân

Trong quá trình đấu tranh dân chủ, rất nhiều người đã gia nhập các tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nước. Việc đấu tranh sẽ là kết hợp mối quan tâm, tương quan lợi ích của cá nhân, với đoàn thể và PTDC nói chung. Có nhiều sự việc, công việc khi sự tham gia của cá nhân luôn bảo đảm hài hòa các lợi ích của bản thân, đoàn thể cũng như sự nghiệp chung của PTDC. Tuy nhiên, có những sự việc, công việc mà khi chúng ta tham gia hoặc không tham gia sẽ có những khác biệt hoặc mâu thuẫn về lợi ích. Ví dụ như, có một cá nhân hay một tổ chức không phải của mình, đưa ra các dự án, công việc chung cho PTDC mà các dự án, công việc đó có lợi cho PTDC, chúng ta có tham gia không và tham gia như thế nào? Hoặc chúng ta có tiếp tay phổ biến những sự kiện, bài viết của các cá nhân, tổ chức khác có lợi cho PTDC một cách vô tư hay không? Có một tình trạng, tuy không phổ biến nhưng rất điển hình, nếu các dự án, công việc của các tổ chức, cá nhân khác không phải của tổ chức mình thì nhiều tổ chức, cá nhân khác không quan tâm, tham gia hoặc hỗ trợ, giúp đỡ. Chúng ta cần có quan điểm đúng đắn về vấn đề tế nhị này. Trước hết, việc chúng ta tham gia đấu tranh dân chủ xuất phát từ mối quan tâm cho mục đích chung, mong muốn xóa bỏ độc tài, dân chủ hóa đất nước. Vậy thì, khi có những công việc, sự việc có lợi cho sự nghiệp chung, chúng ta cần tham gia, thực hiện hoặc hỗ trợ, giúp sức tùy vào khả năng của mình. Những lợi ích của đoàn thể hoặc cá nhân cần phải được đặt trong lợi ích to lớn của sự nghiệp chung. Nếu chúng ta không chung tay, góp sức (trong những việc không phải của tổ chức mình khởi xướng, thực hiện) thì người khác hoặc tổ chức khác cũng sẽ làm như vậy với các công việc của tổ chức mình. Và khi đó công việc chung, sự nghiệp chung sẽ bị ảnh hưởng. Một khi sự nghiệp chung không tiến triển được, sự tồn tại và hoạt động của các tổ chức không còn nhiều ý nghĩa.

Một trong các việc quan trọng, vì sự nghiệp chung của PTDC đối với các cá nhân và đoàn thể, đó là giữ gìn sự đoàn kết. Chúng ta đều biết, đoàn kết là sức mạnh, nhà cầm quyền VN cũng biết điều đó và họ chủ trương phá hoại sự đoàn kết trong PTDC từ rất sớm và rất thâm hiểm. Nếu chúng ta, vì sự nghiệp chung của PTDC, thì không bao giờ chúng ta đặt vấn đề nghi ngờ công khai một cá nhân, một đoàn thể nào khi mà chúng ta không có đầy đủ bằng chứng xác thực. Chúng ta cũng không thể công khai đặt nghi ngờ cá nhân, đoàn thể hoặc hoạt động của họ bằng những suy luận không có căn cứ xác đáng. Ví dụ, có người nói rằng, an ninh cài người này, người kia hoặc an ninh xui khiến làm việc này việc kia để từ đó họ có cớ, có lý do để đàn áp. Nếu chúng ta không có chứng cứ xác thực, chúng ta không được phép công khai những nghi ngờ, chỉ trích sẽ gây chia rẽ và mâu thuẫn trong nội bộ PTDC, trực tiếp làm suy yếu PTDC. Một vấn đề nữa, chúng ta biết rằng, việc cài cắm người và không chế những người đấu tranh dân chủ làm việc cho an ninh là có thật và không phải là ít. Nhưng khi chúng ta không biết đích xác, không có chứng cứ xác đáng, chúng ta không được phép công khai nêu lên những nghi ngờ đối với những cá nhân, tổ chức nào đó. Tóm lại, đặt sự nghiệp chung lên trên các lợi ích cá nhân, đoàn thể chúng ta sẽ có được phương thức ứng xử, hoạt động phù hợp, không làm ảnh hưởng tới lợi ích chung của PTDC.

4/ Trang bị kiến thức, nhận thức về tự do, dân chủ và phương thức xây dựng thể chế dân chủ

Đây là vấn đề rất quan trọng, đối với mỗi cá nhân tham gia PTDC cũng như các tổ chức đoàn thể và PTDC nói chung. Trên bình diện chung, khi nhiều người trong chúng ta có kiến thức, nhận thức đúng đắn về tự do, dân chủ về phương thức tổ chức xây dựng thể chế dân chủ, chúng ta sẽ lựa chọn được những dự án hiệu quả và những con người có đầy đủ trình độ để thực hiện các dự án đó. Xét dưới góc độ cá nhân, vấn đề trau dồi kiến thức, nhận thức về tự do, dân chủ cũng vô cùng quan trọng. Nếu một cá nhân tham gia đấu tranh dân chủ, sau này có điều kiện và cơ hội tham gia trực tiếp vào xây dựng thể chế dân chủ tương lai, thì những kiến thức, nhận thức đúng đắn về tự do-dân chủ đó sẽ giúp cho cá nhân đó tìm ra được những phương pháp, phương thức, các nội dung đúng đắn, thiết thực và hiệu quả để xây dựng nên thể chế dân chủ tốt đẹp trong tương lai. Nếu cá nhân không có điều kiện và cơ hội tham gia trực tiếp xây dựng thể chế dân chủ, thì với các kiến thức, nhận thức có được cũng giúp cá nhân hỗ trợ, lựa chọn và ủng hộ những dự án hợp lý, khả thi.

Một điều cần nhấn mạnh, PTDC có những thành viên đấu tranh rất mạnh mẽ, tích cực và hiệu quả. Tuy nhiên, khía cạnh tự trau dồi kiến thức, nhận thức rất hạn chế và khó khăn (chúng ta rất lười đọc, lười nghiên cứu). Những hạn chế này sẽ có tác động tiêu cực trong tương lai, nếu chúng ta không kịp thời khắc phục. Chúng ta cần trang bị kiến thức về các vấn đề tự do, dân chủ và phương thức xây dựng thể chế dân chủ không chỉ đem lại những lợi ích nêu trên, mà quan trọng hơn, chúng ta sẽ phổ biến cho người dân những kiến thức này. Một thể chế dân chủ vững mạnh và hiệu quả chỉ khi người dân thường tham gia xây dựng thể chế dân chủ và tự bảo vệ các quyền con người của mình. Muốn vậy, họ phải có được các kiến thức về tự do, dân chủ và phương thức xây dựng tự do dân chủ. Người dân chỉ có được những kiến thức và nhận thức này, nếu chúng ta, những người đi đầu và đấu tranh cho một thể chế dân chủ trong tương lai có được các kiến thức và phổ biến lại cho họ một cách chủ động và có ý thức./.
Hà Nội, ngày 17/3/2014
Nguyễn Vũ Bình
Theo blog Nguyễn Vũ Bình

“Quan tiến sĩ” giúp gì cho việc trị nước?

Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 24.300 tiến sĩ. Trong đó chỉ có hơn 9.000 tiến sĩ đang giảng dạy tại các trường.
Như vậy 15.000 tiến sĩ còn lại không ít người đang làm quan chức. Vấn đề đặt ra ở đây là tấm bằng tiến sĩ giúp gì cho việc lãnh đạo, quản lý đất nước hay nó chỉ làm tăng thêm nạn “tiến sĩ giấy”? Các chuyên gia, nhà phê bình am tường về lĩnh vực nghiên cứu cũng như hành chính công để cùng bàn thảo.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Tán thành tách rời học vị với địa vị

Tôi cho rằng cái việc đề ra mục tiêu phấn đấu có 20.000 tiến sĩ trong thời gian từ nay đến năm 2020 cũng là xuất phát từ cách hiểu sai quan niệm đào tạo tiến sĩ. Nguy hơn nữa là đòi hỏi “tiến sĩ hóa” đội ngũ công chức của bộ máy nhà nước.
Tiến sĩ là phải nghiên cứu khoa học. Tìm ra được một đề tài, đối tượng có tính khoa học để nghiên cứu không phải là việc dễ dàng, đơn giản. Cho nên tiến sĩ thường gắn với các trường đại học, các viện nghiên cứu - là những nơi có chức năng chính là làm khoa học để giảng dạy và công bố. Việc đòi “tiến sĩ hóa” công chức lại có nguồn gốc từ một quan niệm sai khác nữa: Coi bằng cấp là một căn cứ quan trọng, có tính quyết định trong việc bổ nhiệm quan chức. Người Việt Nam háo danh, càng có chức quyền càng háo danh và ở thời loạn bằng cấp như hiện nay, khi các loại bằng cấp từ thấp đến cao đều có thể kiếm được và mua được thì các quan chức càng thích trưng tên họ, chức vụ mình kèm theo học vị thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư.
Tôi tán thành ý kiến của GS Trần Văn Thọ về việc cần phải kiên quyết tách rời học vị và địa vị, chức vụ, không nên chỉ nhìn vào bằng cấp mà bổ nhiệm. Tại sao có những nước trên thế giới bộ trưởng quốc phòng lại không phải là một nhà binh, cũng như bộ trưởng giáo dục lại không phải là một người có bằng cấp cao? Tại vì những người đứng đầu các bộ đó là lo về quản lý nhà nước lĩnh vực đó, còn các vấn đề chuyên môn đã có các hội đồng chuyên gia. Chừng nào ở ta chưa chấm dứt được việc bổ nhiệm theo bằng cấp thì chừng đó bệnh “loạn tiến sĩ” còn có nguy cơ gia tăng và thêm trầm trọng.
GS Nguyễn Đăng Hưng: Quái trạng của nền hành chính
Việc các quan chức đua nhau làm bằng tiến sĩ là tình trạng quái dị của nền hành chính Việt Nam. Bằng tiến sĩ thực sự đòi hỏi trình độ thâm sâu, khả năng nghiên cứu khoa học thiên bẩm, được hướng dẫn bởi các nhà khoa học thực thụ. Người có bằng tiến sĩ đúng nghĩa phải can qua thời gian dài tôi luyện, quá trình động não liên tục và bền bỉ. Các quan chức làm gì có điều kiện và trình độ như vậy. Họ kiếm bằng tiến sĩ bằng các thủ thuật xấu hổ dựa trên một nền giáo dục đã băng hoại và tha hóa. Và dĩ nhiên là họ chỉ có được bằng dỏm hay nếu bằng thật thì trình độ chỉ có thể là dỏm. Tôi cho đây là một trò đùa xấu hổ và dĩ nhiên là nó chẳng đem lại gì cho xã hội mà ngược lại là một sự phí phạm vô lối, phí phạm thì giờ và ngân sách.

Việc đặt ra tiêu chí bằng cấp một cách chung chung để xác định lương tiền là một sai lầm khó hiểu. Lẽ ra tiêu chí phải chính xác hơn: trình độ nào cho công việc ấy. Và muốn chọn người chính xác phải qua xét tuyển độc lập và thời gian thử nghiệm. Các cơ quan quản lý sẽ không cần trình độ tiến sĩ mà chỉ cần người có trình độ tối thiểu cần thiết và khả năng làm việc hiệu quả.
Chẳng hạn tại Bỉ, các cơ quan nhà nước hay các công ty tư nhân không có chỉ số lương cho bậc tiến sĩ. Chỉ có chỉ số lương cho các bậc thấp hơn: tốt nghiệp cao đẳng, cử nhân, kỹ sư.
Tại các nước tiên tiến, phải có trình độ và kinh nghiệm mới được thu nhận và lương bổng tùy thuộc vào các giá trị cụ thể ấy. Việc tuyển chọn phải công khai, mở ra cho mọi thành phần. Còn Việt Nam ta thì không giống ai: Được bổ nhiệm theo lý lịch thành phần, tín nhiệm theo thân hữu gia tộc rồi mới đi học, học tại chức, học chuyên tu. Trên thực tế là học cho lấy có, đáp ứng yêu cầu hình thức, chẳng thu thập được gì gọi là chuyên môn…
Ông Trần Đức Cảnh, nguyên thành viên Hội đồng Liên trường ĐH vùng Đông Bắc bang Massaschusetts: Học vị không làm tăng năng suất, giá trị thì vô bổ!
Tôi từng làm việc cho một cơ quan cấp bộ của một bang ở Mỹ, có khoảng 4.500 nhân sự các cấp. Trong đó khoảng 15% có bằng thạc sĩ, luật sư và bác sĩ, 60% có bằng cử nhân, 25% dưới bậc cử nhân. Có khoảng 10 nhân viên có bằng tiến sĩ nhưng nhu cầu công việc không đòi hỏi bậc tiến sĩ nên chỉ có hai người làm công tác quản lý, còn lại là nhân viên thường thôi.

Điều đó cho thấy tính ứng dụng của nước Mỹ rất cao, đòi hỏi học vấn phải đi đôi với năng lực và công việc cụ thể. Học vị chỉ có giá trị khi có giá trị cộng thêm trong công việc được giao phó, nếu không thì sẽ không được dùng, bất kể là ai hay ở vị trí nào.
Ở Mỹ, học lấy bằng thạc sĩ thì chỉ 1-2 năm. Riêng chương trình tiến sĩ ở Mỹ phải mất đến 4-5 năm. Nó đòi hỏi người học phải bỏ công sức rất nhiều cho việc học, thi và làm nghiên cứu cho luận án. Thống kê cho thấy chỉ có 57% hoàn tất chương trình tiến sĩ sau thời gian 10 năm, riêng ngành xã hội và nhân văn thì chỉ có 49%. Người học phải thật khá và đam mê theo đuổi nó. Do đó không ai bỏ công sức đi học lấy bằng tiến sĩ chỉ vì mấy bậc lương hay một chút hư danh. Tôi nghĩ ở Việt Nam những người có khả năng và đam mê học thuật cũng vậy thôi.
Hầu hết các nước đào tạo bậc tiến sĩ chỉ cho hai mục đích giảng dạy và nghiên cứu, hai lĩnh vực này có sự tương quan một cách tự nhiên. Do đó số lượng tiến sĩ trong các cơ quan nhà nước rất ít, ngoại trừ một số cơ quan liên quan đến việc nghiên cứu như y tế, năng lượng, quốc phòng...
Nếu yêu cầu học vị không gắn liền với nhu cầu công việc, làm tăng năng suất và giá trị thì học vị cao có ích lợi gì. Theo tôi, hầu hết nhu cầu công việc quản lý trong lĩnh vực công và tư chỉ đào tạo đến trình độ thạc sĩ theo mặt bằng của thế giới là tốt lắm rồi. Thậm chí hiệu trưởng các trường đại học và giám đốc bệnh viện cũng chỉ đòi hỏi trình độ thạc sĩ, còn nếu có học vị cao hơn mà có khả năng quản lý thì tốt.
TS Alan Phan: Mỹ: Muốn có tiền và có quyền thì đừng làm nhà nước
Có một nghịch lý giữa Việt Nam và Mỹ là ở Việt Nam muốn vô nhà nước là để kiếm tiền và kiếm quyền. Còn ở Mỹ thì cực chẳng đã mới vào làm trong cơ quan nhà nước. Bởi ở đây quyền chẳng có nhiều mà tiền cũng chẳng có. Muốn có được quyền và nhiều tiền thì phải đi ra ngoài làm việc và thành công.

Trong một nền kinh tế sáng tạo thì bằng cấp không có ý nghĩa gì mà cái chính là năng lực. Tất nhiên khi muốn làm công tố viên của chính phủ thì phải có bằng luật sư… nhưng không nhất thiết phải là tiến sĩ. Việc lương cao hay thấp là do năng lực chứ không dựa trên tiêu chí của bằng cấp đại học hay thạc sĩ, tiến sĩ. Bởi cái quan trọng lànếu có bằng tiến sĩ ông ta làm gì với cái bằng đó mới là quan trọng. Còn nếu có bằng tiến sĩ mà ông ấy không làm gì thì cái bằng chẳng có ý nghĩa gì. Nhìn vào Bill Gates, ông ấy có cần bằng tiến sĩ đâu nhưng vẫn đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của đất nước…
Mặc dù bên Mỹ tuy không có tiêu chuẩn gì cho tất cả bằng đại học nhưng ở sáu bang đều có các cơ quan kiểm định xác nhận chất lượng của trường đó. Thường các viện đại học lớn sẽ có khoa thẩm định để bảo đảm chất lượng giáo dục theo đúng tiêu chuẩn tốt. Các hội đồng thẩm định này không do chính phủ kiểm soát mà do các trường đại học kiểm soát lẫn nhau. Vì thế các hội đồng lại càng làm hăng say hơn, vì nếu để lọt trường dở vào thì giá trị thẩm định của các viện đại học đó bị ảnh hưởng. Nên thành ra có ích lợi rất ích kỷ nhưng rất tốt bởi nó phải nâng cao tiêu chuẩn lên.
Và như vậy trường nào ở bang nào thì phải xin đăng ký do ban kiểm định ở bang đó. Nếu không đăng ký hoặc bị các hội đồng này từ chối vì chất lượng thấp thì… bằng đó cũng không có giá trị.
Theo Dân Trí

Cứu hộ, cứu nạn hay phô diễn sự lạc hậu?

Thanh Quang, phóng viên RFA
000_Hkg9595727-305.jpg
Máy bay trực thăng MI-17 thuộc không quân Việt Nam do Liên Xô chế tạo trước đây trở về sân bay Cà Mau sau một đợt tìm kiếm máy bay Malaysia Airlines mất tích, ảnh chụp ngày 13 tháng 03 năm 2014.  -AFP PHOTO / DUY KHÔI
Sau khi chiếc Boeing 777-200 mã hiệu MH370 của hãng Hàng không Malaysia biến mất khi trên đường bay từ thủ đô Kuala Lumpur đến Bắc Kinh hôm mùng 8 tháng Ba vừa rồi, thì, cho tới giờ, tin tức nóng sốt nhiều kiểu cùng các giả thuyết khác nhau tiếp tục dồn dập liên quan chuyến bay định mệnh với 239 nhân mạng này.

Sự ngoan cố không còn giới hạn?

Theo blogger Cánh Cò, nếu trong một quán cà phê cóc nhỏ xíu ven đường từ vùng Đất Mũi ở tận Cà Mau của quê hương, “những chàng trai chất phác trở thành những quan sát viên đói tin nơi cái xã cuối cùng của đất nước”, thì tất cả quán cà phê Saigòn “thừa mứa” tin này “một cách tội nghiệp”. Nhưng “sự thừa thải” ấy lại thể hiện khả năng chuyên môn hạn chế của báo chí cùng sự thiếu chuyên nghiệp của các cơ quan cứu hộ VN, từ Phòng không, Không quân, Hải quân, Bộ binh, Cảnh sát biển, Cục Viễn thám cho tới cả Bộ Giao thông-Vận tải; và, blogger Cánh Cò nhân tiện lưu ý, không ai hiểu vai trò của “cái bộ cầu sụp, đường hư, tàu chìm liên tiếp này như thế nào”. Qua bài “Bịt mắt bắt… máy bay”, blogger Cánh Cò nhận xét:
“Qua sự kiện máy bay Malaysia, người dân Sài Gòn học được nhiều bài học, mà bài học thứ nhất là cái điều gọi là khoa học kỹ thuật của Việt Nam quá tệ hại, đến nỗi khó mà tin nỗi trong thế kỷ 21 mà bộ phận tìm kiếm cứu hộ cứu nạn của Việt Nam không khác gì vào đầu thế kỷ 20 lúc người ta mơ ước hệ thống định vị toàn cầu qua những máy móc hiện đại của không quân và hải quân – hai cơ quan xung yếu nhất trong việc bảo vệ quốc gia cũng như cứu hộ cứu nạn.”
Trích dẫn lời Trung tướng Võ Văn Tuấn, phó Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, kiêm phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cựu nạn, khi khẳng định với báo Soha một cách “dễ thương rằng phía VN chỉ có một cái thuyền cứu hộ thôi thì chúng ta cũng vẫn quyết tâm tìm kiếm, cứu hộ”, hay “chúng ta (tìm) bằng cái tâm của mình”, blogger Cánh Cò nhận xét:
Khó mà tin nỗi trong thế kỷ 21 mà bộ phận tìm kiếm cứu hộ cứu nạn của Việt Nam không khác gì vào đầu thế kỷ 20.
-Blogger Cánh Cò
“Một cái thuyền cứu hộ thôi” nói lên mức độ duy ý chí không có điểm dừng. “Bằng cái tâm của mình” phô diễn sự ngoan cố không còn giới hạn. Một chiếc thuyền có đại diện cho tự hào Việt Nam hay không? Mặc dù đất nước vẫn còn nghèo nhưng lòng tự trọng dân tộc không cho phép một cán bộ cấp cao nắm trong tay nguồn khí tài quan trọng chống xâm lăng lại “hờn dỗi” một cách dễ thương như vậy. Không ai giận ông khi nói lên sự thực, người ta chỉ cười cho cái sự so sánh khá … cộng sản của ông… Chiếc máy bay bị nạn của Malaysia cần kết quả của sự tìm kiếm và do đó mọi cái được gọi là “tâm” xem ra không mấy phù hợp với xã hội chuộng sự thật…”
Thật vậy, có lẽ chính vì việc VN giúp tìm chiếc máy bay lâm nạn ấy dù chỉ “ một cái thuyền cứu hộ thôi” hay “bằng cái tâm của mình” khiến, theo tờ Washington Post, “ Malaysia chỉ trích VN quá hấp tấp tung ra những hình ảnh về mảnh vỡ” (cho là có thể từ chiếc phi cơ này). Vẫn theo tờ báo, thì những tin tức chưa được kiểm chứng như vậy tạo nên dư luận bất lợi cho cuộc điều tra. Đó là chưa kể, blogger Cánh Cò lưu ý, một bà xẩm đã “lớn tiếng” trước ông kính truyền hình quốc tế rằng bà ta “không tin tưởng chút nào vào khả năng tìm kiếm của VN”, và “chiếc máy ảnh (không chuyên) được báo chí cố tình ghi nhận trên người các cán bộ (VN) ngồi trên chuyên cơ đã làm công dân mạng khắp nơi, nhất là TQ, dè bỉu”. Cuối cùng rồi, vào sáng 12 tháng Ba vừa rồi, blogger Cánh Cò kết luận, “cuộc chơi bịt mắt bắt… máy bay thời hiện đại cũng phải kết thúc” do VN “có thể tự ái, cũng có thể hết tiền (vì mỗi ngày tốn 1 triệu mỹ kim), và cái có thể nhất là không lẽ cứ bay vòng vòng hết ngày này sang ngày khác như kẻ mù trên vòm trời bao la của biển cả để đổi lấy lời chì chiết nhức xương…”.

Cuộc trình diễn không hề rẻ?

000_Hkg9599921-250.jpg
Máy bay AN-27 do Nga chế tạo trong một chuyến bay tìm kiếm máy bay Malaysia Airlines mất tích, ảnh chụp ngày 14 tháng 3 năm 2014. AFP PHOTO / HOANG DINH NAM.
Qua bài ‘Thấy gì trong họat động cứu hộ máy bay Mã Lai của VN”, blogger Nguyễn Tấn Thành đề cập tới tình trạng “Biểu diễn là chính, lại có cả quan chức cấp cao là thứ trưởng bộ GTVT đi theo không biết để làm gì”. Tác giả nhận xét rằng sự tham gia cứu cứu hộ này của VN quả là cơ hội để Hải quân, không quân, Cảnh sát biển VN “thể hiện năng lực với các nước” khi VN “thừa kinh nghiệm về sự cẩn trọng các nguồn tin quân sự cũng như việc cung cấp thông tin cho báo chí”. Nhưng, tác giả lưu ý, “nhìn cuộc cứu hộ này chúng ta làm như một cái chợ vỡ. Các báo cứ nhao nhao đăng bài, tường thuật lung tung, để rồi ta liên tục bị muối mặt”. Blogger Nguyễn Tấn Thành không quên nhắc tới “nổi nhục lớn nhất” của phía VN là khi máy bay “lộn bãi cạn với dấu dầu tràn”. Như vậy là cả một đội bay VN mà không nhận ra một bãi cạn hay dòng cát chảy trong lãnh hải thì đây, theo blogger Nguyễn Tấn Thành, đã là “một điều thậm tệ” rồi, nhưng thông tin đó vẫn được truyền về mà “bao nhiêu cơ quan ban ngành cấp trên vẫn không phát hiện, lại để cho lên mặt báo”. Tác giả xem chừng như không dằn được bực tức qua một loạt câu hỏi:
- Hải quân của chúng ta quản lý vùng biển như vậy chăng?
- Bộ đội biên phòng chúng ta quản lý vùng biển như vậy chăng?
- Không quân chúng ta quản lý vùng biển như vậy chăng?
- Cảnh sát biển chúng ta quản lý vùng biển như vậy chăng?

Chúng ta kém về năng lực, thiết bị, không kinh nghiệm, chúng ta có thể sai. Nhưng chúng ta không chấp nhận các hoạt động sai lầm đó của mình bị phơi bày trên báo như một cái chợ. Không những đó là tử huyệt, là an ninh Quốc gia mà kẻ thù đang phân tích, mà đó là một sự huênh hoang, chạy theo thành tích là đội tìm kiếm đầu tiên khi nước ngoài nhìn vào ta.
Qua sự tham dự cứu hộ vừa qua của VN, nhiều bloggers nhận thấy đông đảo viên chức quân sự cao cấp của VN “chạy đôn chạy đáo” cho công tác này khi VN huy động cả chục phi cơ đủ lọai cũng như các tàu hải quân, cảnh sát biển, kiểm ngư với sự tham dự của lực lượng hùng hậu, từ hải, lục, không quân, phòng không, cục hàng không cho tới Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn…Và lập cả trụ sở chỉ huy trực tiếp công tác cứu hộ này tại đảo Phú Quốc.
Nhưng, theo blogger Song Chi qua bài “Chuyện một chiếc máy bay mất tích và sinh mạng con người ở VN!”, thì mọi người vẫn biết rằng VN có trách nhiệm tham gia công tác này với các nước láng giềng, nhất là khi chiếc máy bay Malaysia bị cho là lâm nạn trong không phận và hải phận VN, trong khi hành động góp phần cứu nạn của VN có tích cực hay không hẳn được cả thế giới theo dõi. Nhưng, blogger Song Chi chua xót:
“Là người VN, chứng kiến sự nhiệt tình, không tiếc công tiếc sức, huy động lực lượng tối đa của nhà cầm quyền trong chuyện này, rồi nhìn lại mới đây, ngày 8.3, một tàu cá của ngư dân VN lại bị “tàu lạ” (hai chữ “tàu lạ” hèn hạ quen dùng) tấn công, khống chế, cướp tài sản vì không được bất cứ lực lượng nào bảo vệ khi ra khơi, mà chạnh lòng.”
Tại sao ngư nhân Việt Nam gặp nạn, mất tích trên biển nhiều lần chẳng có ma nào tìm kiếm, chỉ tuyên bố là bị “tàu lạ” uy hiếp?
-Blogger Viết Từ Saigon
Trong khi những chiếc “tàu lạ” ấy ngày càng xâm lấn lãnh hải, biển đảo VN, bắt bớ đòi tiền chuộc, đánh đập, thậm chí bắn giết như dân VN bằng hành động chẳng khác nào hải tặc, thì blogger Song Chi nêu lên câu hỏi rằng “có mấy khi ngư dân Việt được các lực lượng hải quân, cảnh sát biển, tàu chiến VN hỗ trợ hoặc cứu hộ không?  Hay như báo Thanh Niên từng đưa tin “ngư dân phải tự thuê tàu đi cứu nạn?”, hoặc khi ngư dân cầu cứu chính quyền thì “mọi chuyện vẫn như cũ? ”. Trong khi đó, “ Hàng ngày hàng giờ, trên khắp mọi lĩnh vực, mọi miền đất nước, chúng ta đều có thể nghe, xem, đọc, hoặc tận mắt chứng kiến, hoặc từ trải nghiệm của chính bản thân, về tình trạng tính mạng người VN đang bị rẻ rúng như thế nào”. Và tác giả kết luận:
“Khi nhà cầm quyền VN tỏ ra tích cực, thậm chí “ồn ào” trong việc tìm kiếm chiếc máy bay Malaysia mất tích, nhiều người dân, thông qua các trang blog, trang mạng xã hội, đã lên tiếng chỉ trích. Trong mắt họ, hành động của nhà cầm quyền có cái gì đó như phô diễn, muốn chứng tỏ với các nước, thậm chí, muốn “lấy điểm” với Trung Quốc, quốc gia có nhiều người nhất đi trên chuyến bay định mệnh. Và đáng nói nhất, cuộc trình diễn này lại không hề rẻ!”
Trong khi đó, blogger Viết Từ Saigon “càng ngẫm càng thấy lố bịch và máy móc”, rồi xem chừng như bực tức nêu lên câu hỏi với giới hữu trách VN, rằng:
“Tại sao phải tuyên bố lung tung cà cuống lên nào là “tìm kiếm bằng cả trái tim, tấm lòng…”, “một cái thúng rái vẫn bơi đi tìm…” trong khi phô diễn những trò cũ rích, lạc hậu ra trước mắt thế giới? Tại sao ngư nhân Việt Nam gặp nạn, mất tích trên biển nhiều lần chẳng có ma nào tìm kiếm, chỉ tuyên bố là bị “tàu lạ” uy hiếp? Phải chăng bên trong trò tìm kiếm, cứu nạn này tiềm tàng một âm mưu?”
Cái “âm mưu” ấy xem chừng như đáng ngại lắm khi blogger Viết Từ Saigòn báo động rằng tàu chiến của TQ đã “chính thức vào cuộc”; và tác giả nêu lên câu hỏi, “nếu chỉ tìm kiếm, cứu nạn, tại sao Trung Quốc không đưa tàu chuyên dụng tìm kiếm cứu nạn đến mà lại đưa tàu hải quân hạng nặng đến? Song hành với việc này là một ông tướng hải quân Trung Quốc đưa ra đề xuất cần xây sân bay trên quần đảo Trường Sa, như vậy là ý đồ gì?”. Và “tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại chấp nhận cho tàu chiến Trung Quốc tiến vào vùng biển Việt Nam, lại lăng xăng đủ các trò không đâu vào đâu, diễn không ra diễn, thật cũng không ra thật, gọi là phối hợp tìm kiếm cứu nạn?”.
Qua bài “Đỉnh cao của múa lửa lắc vòng”, blogger Viết Từ Saigòn nhắc  đến biến cố hồi năm 1945 khi Hitler cho máy bay quân sự ngụy trang cờ nước Áo đến dội bom các khu cư xá của nước Đức gây tử vong cho hàng ngàn sinh viên để rồi Hitler tuyên chiến với nước Áo. Và, trong hiện tình Trung Quốc đầy bất ổn, người dân đã mất hết niềm tin vào nhà cầm quyền Cộng sản Trung Quốc, bạo lực đã nổ ra, đặc biệt có liên quan đến người Duy Ngô Nhĩ (Uighur), tác giả hình dung ra rằng:
“Bây giờ, nhà cầm quyền Trung Quốc chỉ cần thí tốt bằng 239 mạng người, sau đó tập trung mũi dùi vào người Duy Ngô Nhĩ gọi là trừng phạt để duy trì quyền lực trong nước bằng bạo lực, và bên ngoài, mượn cớ tìm kiếm cứu nạn, họ bắt tay với chính quyền Cộng sản Việt Nam cắm luôn tàu chiến ở vùng biển phía Đông Nam Việt Nam. Như vậy, mọi vấn đề về Biển Đông coi như tạm giải quyết xong, Việt Nam cúi đầu dâng biển cho Trung Quốc vì tinh thần Cộng sản anh em!”
Thanh Quang cảm ơn quý vị vừa theo dõi Tạp chí Điểm Blog hôm nay, và mong gặp lại tất cả quý vị kỳ tới.

Khu bảo tồn bán đảo Sơn Trà đang bị đe dọa

Khu bảo tồn bán đảo Sơn Trà, TP Đà Nẵng. Photo courtesy of danang.gov.vn
Qui hoạch phát triển đô thị một cách bừa bãi không chú trọng đến công tác bảo tồn tự nhiên lâu nay được xem như là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hủy diệt các loài động và thực vật đặc chủng, quí hiếm của nhiều nơi.

Nghe tường trình
Bán đảo Sơn Trà của thành phố Đà Nẵng cũng đang trong tình trạng đáng ngại đó với diện tích khu bảo tồn bị thu hẹp và các loài đặc hữu như khỉ, vooc mất nơi sinh sống.
Đây là đề tài trong chuyên mục Khoa học- Môi trường kỳ này.
Mất rừng
Tiếng là khu bảo tồn, thế nhưng bán đảo Sơn Trà lâu nay đang bị chia cắt làm khu du lịch sinh thái, khu nghỉ dưỡng, khu giải trí với những tuyến đường chằng chịt.
Các dự án phát triển được tiến hành trên đất rừng của bán đảo Sơn Trà bị cho đang gây ảnh hưởng lớn cho khu bảo tồn này.




Bây giờ xung quanh ven bán bảo Sơn Tra thành khu du lịch, mấy resort cao cấp lắm. Còn khỉ hồi xưa đi lên núi có thấy.

-Một người địa phương
Truyền thông trong nước trích dẫn phát biểu của ông hạt trưởng Hạt Kiểm Lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn- Nguyễn Văn Minh nói rằng hệ thống đường sá chạy bao quanh và từ chân lên đến đỉnh núi Sơn Trà đã chia cắt, biệt lập nhiều khu vực rừng nguyên sinh.
Một người dân địa phương tại Sơn Trà nói về tình hình thực tế hiện nay ở đó như sau:
“Hồi xưa có đi núi nhưng bây giờ ít đi lắm. Hồi xưa dân cực phải đi núi, đi củi nhưng họ cấm lâu lắm rồi, cấm mấy chục năm nay rồi. Bây giờ xung quanh ven bán bảo Sơn Tra thành khu du lịch, mấy resort cao cấp lắm. Còn khỉ hồi xưa đi lên núi có thấy.”
Một người khác cũng cho biết các khu du lịch sinh thái, những khu nghỉ dưỡng đắt tiền hiện phục vụ cho các đối tượng có tiền từ nơi khác đến chứ dân chúng địa phương mấy khi được đặt chân đến:
“Nay đi vào đó có hướng dẫn, còn dân đi lẻ chỉ ở phía dưới này thôi, lên trên người ta không cho.
Khu du lịch lớn dân chỉ đi ngang qua chứ đâu có thể đi vào mấy khu đó được.”
Mất động vật đặc hữu

Lực lượng kiểm lâm trong Khu bảo tồn bán đảo Sơn Trà, TP Đà Nẵng. Photo courtesy of danang.gov.vn
Đối với nhiều người dân thành phố Đà Nẵng và cả những lực lượng nước ngoài đến tại khu vực này, thì bán đảo Sơn Trà ngoài tên gọi đó còn được những người ngoại quốc gọi tên là ‘Monkey Mountain’. Lý do vì trên bán đảo Sơn Trà có rất nhiều khỉ.
Tiến sĩ Vũ Văn Triệu, cựu đại diện của tổ chức bảo vệ môi trường WWF tại Việt Nam, cho biết về các loài động vật đặc hữu tại bán đảo Sơn Trà như sau:
“Nhiều nơi có điều kiện tương tự nhưng không xuất hiện được loài đặc hữu như ở Sơn Trà. Nơi này có thể do trong một thời gian dài tương đối biệt lập nên tồn tại được. Nhưng theo đánh giá của các nhà khoa học thì số lượng hiện nay không còn nhiều lắm, cho nên phải đưa vào danh sách nhóm nguy cơ khẩn cấp, tức số lượng các thể còn rất hạn chế. Tất nhiên có trong sách đỏ rồi nhưng phải đưa vào danh mục ‘bảo vệ khẩn cấp’.

Thực tế hiện nay do quá trình đô thị hóa, quá trình di dân nông thôn ra thành thị ngày càng nhiều, đầu tư nước ngoài vào khu vực đó cũng nhiều, cho nên môi trường sống của mấy loại đặc hữu này bị thu hẹp dần. Thành ra nói chung các nhà khoa học vẫn lo ngại.”
Tuy nhiên hiện nay, những loài vật đặc hữu như thế trên bán đảo Sơn Trà không còn như trước. Chính ông hạt trưởng Hạt Kiểm Lâm liên quận Sơn Trà- Ngũ Hành Sơn phát biểu với báo chí rằng tại những khu vực rừng trồng được giao cho các đơn vị kinh doanh du lịch thì khỉ và vooc chà vá hiếm khi xuất hiện.
Ngoài lý do các khu du lịch và nghỉ dưỡng phá hỏng môi trường tự nhiên cho các loài động vật sinh sống, nhiều tay thợ săn lâu nay cũng tìm những loài như khỉ, vooc để bắt kinh doanh kiếm lời.




Có những tin đồn thực sự không có chứng cứ khoa học lắm như công dụng của sừng tê giác hay mật gấu, xương hổ… khiến cho các động vật quí hiếm đi đến chỗ ngày càng tuyệt chủng.

-TS Vũ Văn Triệu
Tiến sĩ Vũ Văn Triệu nói về tình trạng bắt các loài động vật để phục vụ nhu cầu con người như sau:
“Có những tin đồn thực sự không có chứng cứ khoa học lắm như công dụng của sừng tê giác hay mật gấu, xương hổ… khiến cho các động vật quí hiếm đi đến chỗ ngày càng tuyệt chủng.

Đối với linh trưởng thì chưa có những tin đồn đến mức, hay những bằng chứng cho rằng ăn thịt linh trưởng thì chữa được bách bệnh…; tuy nhiên trong xã hội hiện nay cũng có những tầng lớp đại gia, nhiều khi họ không muốn ăn những thức ăn bình thường, họ muốn tìm cảm giác mạnh hơn như ăn những loài mà người khác không thể với tới được chẳng hạn. Vì thế họ sẵn sàng trả giá rất cao và thợ săn cố gắng có được những cá thể đó, chứ không phải người ta hoàn toàn tin rằng có thể chữa được bệnh nọ, bệnh kia mà nhiều khi những người nhiều tiền họ muốn thể hiện đẳng cấp của họ. Đó gọi là một thị hiếu không lành mạnh lắm!”
Cách thức bắt giữ được cho biết là rất kỹ càng, một khi con vật bị rơi vào bẫy của người đi săn thì không thể nào thoát khỏi. Các kiểm lâm viên tại Hạt Kiểm Lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn cho biết những đối tượng săn bắt trái phép tại khu bảo tồn Sơn Trà dùng hai loại bẫy: bẫy đạp và bẫy treo. Bẫy đạp là loại bẫy đặt dưới đất, còn bẫy treo là bẫy thong lọng mắc trên cây. Dây được dùng cho bẫy là loại dây thắng xe đạp làm bằng kim loại rất chắc và nhỏ.
Tiến sĩ Vũ Văn Triệu cho biết một số biện pháp mà chính quyền đưa ra nhằm có thể ngăn chặn tình trạng săn bắt động vật hoang dã:

Một con Voọc Chà Và tại Khu bảo tồn bán đảo Sơn Trà, TP Đà Nẵng. Photo courtesy of danang.gov.vn
“Về các trại gấu, bên Kiểm lâm người ta đã lần lượt vào niêm phong, gắn chip cho các con gấu. Nay các chủ chỉ tiếp tục nuôi cho khách tham quan, còn nếu luân chuyển hay giết hại gấu sẽ bị kiểm soát nghiêm ngặt. Việc đó có mạnh tay hơn. Ngoài ra bên Kiểm lâm và Cảnh sát Môi trường thỉnh thoảng họ cũng đi kiểm tra đột xuất. Họ cũng có phạt tương đối mạnh tay đối với những chủ trang trại mà nuôi gấu để hút lấy mất nên tình trạng này có đỡ hơn. Ngoài ra Nhà nước có một số khu để cứu hộ gấu để nơi nào mà khai thác quá mức thì cảnh sát có thể cưỡng bức đưa vào đó. Rồi Nhà nước bỏ tiền ra để nuôi phục hồi dần lại. Dần dần nếu có điều kiện thì có thể thả lại vào rừng; chứ còn nuôi nhốt mãi đến khi thả vào rừng có khi cũng chết, không tự kiếm ăn được.

Đối với các loài linh trưởng thì Nhà nước cũng có một số khu cứu hộ. Nếu phát hiện thì cho thu gom, tập hợp lại. Đối với linh trưởng, quá trình để thuần hóa cho trở lại rừng dễ hơn đối với gấu. Gấu bị nuôi nhốt khá lâu rồi, còn linh trưởng mới gần đây thôi.

Ngày trước không có mấy vị nuôi linh trưởng đâu. Nuôi cọp, nuôi gấu thì có.

Thực sự ra số cá thể các loại linh trưởng quí hiếm của Việt Nam không nhiều lắm, thành ra tình trạng nuôi nhốt của các đại gia không phổ biến lắm.”
Đối với những loài linh trưởng có các khu cứu hộ.
Ảnh hưởng môi sinh
Đối với dân chúng tại Đà Nẵng, dù không biết nhiều về khí tượng, thủy văn, nhưng hiện tượng mây phủ Sơn Trà cho họ biết trước thế nào cũng có mưa gió đến. Qua bao đời, họ cho rằng bán đảo Sơn Trà được thiên nhiên tạo nên như là tấm bình phong chắn bớt gió cho Đà Nẵng.
Thực tế phá rừng cho họ thấy một số hiện tượng thay đổi có thể nhận biết như sau.
Một người dân Đà Nẵng trình bày:
“Vịnh để trú mưa bão cho thuyền bè thì ổn, tốt rồi. Mấy năm gần đây mở ra khu du lịch, mở eo rộng ra hơn để khai thác tàu bè vào tránh bão. Về thời tiết gần đây có thay đổi. Bão năm 2006 và gần đây nữa nói chung tàn phá dữ lắm.”
Không chỉ riêng tại khu vực Sơn Trà và ven biển thành phố Đà Nẵng mà nhiều vùng khác nhau tại Việt Nam đang phải đối diện với những đổi thay thời tiết, khí hậu và cả thổ nhưỡng khiến cho hoạt động canh tác, nuôi trồng gặp khó khăn.
Giới khoa học cảnh báo Việt Nam là một trong năm quốc gia trên thế giới chịu tác động nhiều nhất do tình trạng biến đổi khí hậu gây nên. Những cảnh báo này được chính quyền đưa vào các kịch bản vạch ra chương trình đối phó. Dân chúng cũng được tuyên truyền. Thế nhưng dường như những cảnh báo như thế vẫn chưa có thể khiến con người dừng tay không tiếp tục xâm hại môi trường vì lý do cuộc sống hiện tại khó khăn.
Mục Khoa học - Môi trường kỳ này tạm dừng tại đây. Hẹn gặp lại quí vị và các bạn kỳ tới.

Gia Minh chào tạm biệt.
Gia Minh,
PGĐ Ban Việt ngữ RFA

Việt Nam và lệnh cấm đánh cá Biển Đông - Nguy cơ từ việc Trung Quốc gia tăng đầu tư vào Việt Nam

Việt Nam và lệnh cấm đánh cá Biển Đông


Ở nơi tôi sống, Milton Keynes, cứ đến gần ngày 15/3, nhân viên quản lý lại đến, đi quanh hồ, và treo những tấm biển No fishing (cấm câu cá).

Ở đây, thời gian cấm câu cá từ 15/3 đến 15/6, năm nào cũng như năm nào.

Đó là mùa cá đẻ, họ cấm câu vì muốn cá có thời gian sinh sôi, quả vậy, tôi đi bộ quanh hồ, và nhìn xuống những con suối, dễ dàng thấy vô số cá con.

Và tuyệt nhiên không thấy những lều câu cá của các anh mê câu, mặc dụ họ chỉ câu lên rồi lại thả xuống.

Hôm trước, một anh bạn tôi ở Lạng Sơn hay làm ăn với người Trung Quốc cho biết, các thương gia Trung Quốc đang tràn sang mua cá biển, hóa ra lệnh cấm đánh cá ở Biển Đông đã có hiệu lực.

Có vẻ như năm nay, họ ban lệnh sớm hơn lệ thường. Mọi tàu cá của họ đều đắp chiếu.

Trung Quốc và hầu hết các quốc gia có biển, đều có một lệnh cấm đánh cá mùa cá sinh sản, bỏ qua những xung đột về chính trị hay chủ quyền, đây rõ ràng là chủ trương đúng, cá đẻ rất quan trọng, hãy tạm nghỉ đánh cá, để cá con kịp lớn và sinh sôi, như vậy, nguồn cá sẽ không bao giờ cạn.

Tôi đã đọc một tàu tuần duyên của Mỹ tại Honolulu bắt giữ một tàu cá Trung Quốc vì nghi ngờ tàu này đánh bắt trái phép 40 tấn cá bằng loại lưới bị cấm.

Những người Trung Quốc trên thuyền đã sử dụng tấm lưới 12,8 km và vét lên tất cả những gì vướng vào đó.

Vậy là, khi đánh cá sai quy định chung vì sử dụng lưới mắt nhỏ, thì ai cũng có quyền bắt giữ.

Về lưới mắt nhỏ, thì tôi đã xem rất nhiều lần ở bãi biển Sầm Sơn, khi đi nghỉ mát, tôi thích dậy sớm đi dọc bãi biển và thấy họ kéo bằng những tấm lưới dài cỡ gần một nghìn mét và mắt lưới bé như vải màn, họ lôi lên những con cá bé đến nỗi tôi phải ghé sát vào mới nhìn được.




Khi Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông, Việt Nam lập tức bác bỏ và tuyên bố lệnh cấm đó vô giá trị"
Những con mực chỉ nhỏ như ngón út, và nhưng con bạch tuộc con còn bé hơn nữa, họ ném cho bọn trẻ con chơi trong một cái lỗ đào trên cát ven biển. Tôi cũng không biết họ sẽ làm gì mới những con cá chỉ bé như đầu đũa kia?

Dân Việt Namcũng thích đánh cá bằng điện, không khó để thấy một anh đeo cái bình ắc quy ở lưng, một bộ kích điện rẻ tiền để thúc dòng điện 12 vôn ắc-quy thành trên một nghìn vôn, lang thang khắc các kênh mương hồ ao và dùng hai cái sào dài gí hai cực đó xuống nước, tất cả những con gì ngọ nguậy được đều bị điện giật chết nổi lên, và bị vớt.

Tôi cũng xem một phóng sự ở đảo Lý Sơn, nhiều người dân ở đây đánh cá bằng…. mìn, theo như phóng sự, trên 100 tầu cá ở Lý Sơn chuyên đánh cá bằng chất nổ và lực lượng biên phòng đã thu giữ một tấn thuốc nổ một năm.

Đánh bằng thuốc nổ nhàn hạ và năng suất hơn đánh bằng lưới 10 lần, ném một cục thuốc nổ xuống, là tha hồ vớt cá, tuy nhiên, khối thuốc nổ đó hủy diệt cả rặng san hô, và giết toàn bộ cá, tôm, cua, ốc, bạch tuộc…tất cả.

Một tấn thuốc nổ chỉ là con số thu giữ được, còn bao nhiêu tấn chưa thu, và không ít dân đi biển Lý Sơn vẫn ra khơi vào lộng với những con thuyền chứa đầy thuốc nổ như những chiến binh cảm tử?

Và họ cũng phải đối mặt với nguy cơ bị tàu của bất kì quốc gia nào bắt giữ, do đánh cá phạm luật.

Đánh cá tận diệt

Việt Nam là bán đảo, và nguồn lợi từ biển rất quan trọng, nhưng với kiểu đánh cá tận diệt, Việt Nam đang tự mình đánh mất đi những tài nguyên từ biển.

Khi Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông, Việt Nam lập tức bác bỏ và tuyên bố lệnh cấm đó vô giá trị.

Bỏ qua những tranh chấp về biển đảo, thì lệnh cấm đánh cá mùa cá đẻ theo người viết là hoàn toàn cần thiết, để bảo vệ nguồn lợi cho tương lai, không thể chỉ đánh hôm nay mà quên đi miếng cơm cho con cháu mai sau bằng cách đánh tận diệt.

Một lệnh cấm đánh cá mùa cá sinh sản là cần thiết và sẽ giữ cho Biển Đông luôn dồi dào cá, Việt nam, nếu bác bỏ lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc, thì cần có một lệnh cấm đánh cá của riêng mình, để cá có thời gian phát triển trong ít nhất ba tháng vào mùa sinh sản.

Khi Việt Nam đã kí kết vào Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông còn gọi là Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Nam Trung Hoa, viết tắt là DOC, là một văn kiện được các nước ASEAN và Trung Quốc ký kết ngày 4/11 năm 2002.

Điều 6 của Tuyên bố có câu cần chung tay Bảo vệ môi trường biển và đấu tranh chống hoạt động buôn bán trái phép vũ khí gồm cả thuốc nổ.

Và nếu đã kí kết, Việt Nam cần tôn trọng luật chơi chung.

Biển Đông rộng lớn không phải của riêng Việt Nam, mà chung với tất cả các quốc gia như Malaysia, Phillipinnes, Bruney, Đài Loan, Trung Quốc...khi có lệnh cấm đánh, tất cả các quốc gia kia với hàng vạn tàu thuyền đều nằm bờ chờ hết lệnh cấm, thì riêng một mình Việt Nam ra khơi đánh cá là một việc, với tôi, hơi lố bịch.

Để làm bạn với các quốc gia láng giềng, thì tôn trọng lẫn nhau là điều cần thiết. Những tấn cá được đánh trong mùa cá đẻ không làm Việt Nam giàu hơn.

Theo tôi, Việt Nam cần có lệnh cấm đánh cá mùa sinh sản, không liên quan đến lệnh cấm của bất kì nước nào, hãy bỏ qua những tranh chấp về lãnh thổ để giữ lại nguồn lợi thủy sản ở Biển Đông cho con cháu sau này, và mãi mãi.
Nguyễn Quảng
(BBC)

Nguy cơ từ việc Trung Quốc gia tăng đầu tư vào Việt Nam

Dây chuyền sản xuất tại một xí nghiệp xe máy Piaggio tại Vĩnh Phúc, 11/06/2011.Tăng trưởng của Việt Nam phần lớn là nhờ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Dây chuyền sản xuất tại một xí nghiệp xe máy Piaggio tại Vĩnh Phúc, 11/06/2011.Tăng trưởng của Việt Nam phần lớn là nhờ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.  – REUTERS/Kham

Thanh Phương  – RFI

Việc Trung Quốc gia tăng đầu tư vào Việt Nam đang gây lo ngại cho các chuyên gia về nguy cơ Việt Nam mất quyền kiểm soát kinh tế, đặc biệt với việc các công ty Trung Quốc dần dần thâu tóm các công ty Việt Nam.
Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, trong năm 2013, vốn đầu tư ngoại quốc trực tiếp FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam đã tăng đột biến, lên đến mức hơn 2,3 tỉ đôla so với 345 triệu đôla của năm 2012, đặc biệt là đầu tư vào hai lĩnh vực bất động sản và dệt may. Ngoài ra, doanh nghiệp Trung Quốc còn đẩy mạnh tiếp cận các lĩnh vực: khai khoáng, sản xuất và chế biến, xây dựng và cơ sở hạ tầng…
Trong bối cảnh đó, vào tuần trước, Thông tấn xã Việt Nam loan tin là Ủy ban Nhân dân tỉnh Nam Định vừa cấp giấy chứng nhận đầu tư cho một công ty dệt may của Trung Quốc xây dựng một nhà máy với tổng vốn đầu tư 68 triệu đôla (tương đương hơn 1.400 tỷ đồng) tại khu công nghiệp Bảo Minh (huyện Vụ Bản). Thời hạn sử dụng đất 46 năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đầu tư.
Dự án này được loan báo vào lúc mà các doanh nghiệp dệt may Trung Quốc đang gia tăng đầu tư vào Việt Nam, với hy vọng sau này được hưởng những điều kiện ưu đãi khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), với thuế suất xuất khẩu may mặc của Việt Nam sẽ được giảm xuống đến mức có thể chỉ còn 0% khi nhập vào Mỹ, thị trường lớn nhất của Việt Nam trong số các nước tham gia TPP.
Điều này đang gây lo ngại cho các doanh nghiệp may mặc của Việt Nam, hiện có sức cạnh tranh còn rất yếu, vì chủ yếu vẫn là gia công và phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc. Các nhà phân tích tại Việt Nam đã cảnh báo rằng dù sau này là thành viên của TPP, Việt Nam cũng không thể tận hưởng toàn bộ những lợi thế của một thành viên và phần ngon nhất của « chiếc bánh » TPP sẽ vào tay Trung Quốc.
Nhưng không chỉ trong lĩnh vực may mặc, Trung Quốc cũng đang gia tăng đầu tư vào lĩnh vực bất động sản của Việt Nam. Theo báo Đất Việt ngày 18/01/2014, cùng với các nhà đầu tư Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, một số nhà đầu tư Trung Quốc đang đổ tiền đầu tư bất động sản tại khu vực miền Trung. Báo cáo mới nhất của Công ty dịch vụ bất động sản CBRE cho biết, các nhà đầu tư Hồng Kông, Trung Quốc đang ngấp nghé nhiều dự án nghỉ dưỡng kèm theo loại hình kinh doanh giải trí ở Đà Nẵng.
Cách đây không lâu, nhiều người đã lên tiếng báo động về việc Trung Quốc trúng thầu và thâu tóm hơn 90% các công trình trọng điểm quốc gia ở khắp Việt Nam. Nay các công ty Trung Quốc cũng đang dần dần thâu tóm các công ty Việt Nam.
Lợi dụng lúc nhiều công ty Việt Nam đang gặp khó khăn về mặt tài chính, phải bán một phần vốn cho doanh nghiệp nước ngoài, công ty Trung Quốc tham gia mua cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhiều. Các chuyên gia trong nước lo ngại là sau một thời gian, những công ty đó có nguy cơ biến thành công ty Trung Quốc, không còn là công ty Việt Nam, nếu như họ mua được nhiều cổ phần và chiếm đa số ghế trong hội đồng quản trị.
Trang mạng Diễn đàn Doanh nghiệp ngày 14/02 vừa qua đã có bài báo động về nguy cơ này với hàng tựa: « Trung Quốc “âm thầm” thâu tóm doanh nghiệp Việt ». Tiêu biểu là vụ công ty Firstland (Trung Quốc) mới đây đã trở thành cổ đông lớn của Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh (BMI) với tỷ lệ sở hữu 5,63%. Cuối tháng 12/2013 vừa qua, Gaoling, một quỹ của nhà đầu tư Trung Quốc, cũng đã chi 40 triệu đôla để mua 6,2 triệu cổ phiếu và trở thành cổ đông lớn thứ 2 của công ty Vinacafe Biên Hòa.
Tại hội thảo “Triển vọng kinh tế và tầm nhìn chính sách năm 2014″ mới đây, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho biết rằng, không chỉ doanh nghiệp Trung Quốc, mà hiện các doanh nghiệp nước ngoài khác cũng tham gia ngày càng sâu vào nền kinh tế Việt Nam. Theo bà Phạm Chi Lan, hoạt động của doanh nghiệp FDI có thể có lợi trước mắt, nhưng về lâu dài Việt Nam lại đang đẩy kinh tế vào tay các nhà đầu tư nước ngoài.
Bà Phạm Chi Lan đặc biệt lo ngại về việc ở Hà Tĩnh thời gian vừa qua, « mức độ có mặt của người Trung Quốc nhiều đến mức có thể cắt Việt Nam làm đôi », đặt ra những thách thức không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Tuy nhiên, đối với một số chuyên gia kinh tế như tiến sĩ Nguyễn Quang A, việc Trung Quốc gia tăng đầu tư vào nước láng giềng Việt nam là chuyện bình thường. Nguy cơ ở đây chính là do bản thân nền kinh tế Việt Nam còn quá yếu kém, doanh nghiệp tư nhân thì không được tạo điều kiện phát triển, doanh nghiệp Nhà nước thì hoạt động thiếu hiệu quả, nên phải dựa ngày càng nhiều vào đầu tư nước ngoài. Sau đây mời quý vị nghe bài phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Quang A.

TS Nguyễn Quang A
14/03/2014

Sụp cầu treo – Hệ lụy của tham nhũng

Tác giả gửi cho Dân Luận

Tai nạn giao thông ở nước ta xảy ra thường ngày như cơm bữa, nhưng vụ tai nạn sập cầu treo Chu Va 6 ở Lai Châu ngày 24-2-2014 làm chấn động dư luận và thu hút sự quan tâm của xã hội trong suốt gần nửa tháng qua. Xem video-clip, thật đang thương tâm, vì máu của gần 50 người vừa bị chết và bị thương nhuộm đỏ cả một khúc sông cùng những tiếng kêu gào, khóc than thảm thiết của bà con vùng miền sơn cước. Tang thương chồng chất nỗi tang thương, ai chứng kiến mà không não ruột đau lòng.
Vừa sau khi xảy ra thảm họa, hầu như các vị lãnh đạo chính quyền địa phương tỉnh Lai Châu đều đổ nghiêng vào luồng dư luận cái nguyên nhân là do: Tại người dân địa phương đưa tang đi quá sức chịu đựng cây cầu có trọng tải 1,5 tấn. Thậm chí, vị phó giám đốc công an tỉnh Lai Châu còn đổ thừa trước công luận báo chí nghe rất buồn cười và phi lý: ”… bà con người Mông có tật đi nhanh“ gây nên cầu sụp. Tất cả quan chức chính quyền địa phương hình như muốn né tránh trách nhiệm hoặc bao che lẫn nhau trong sự việc này.
Khi các nhà chuyên gia xây dựng của bộ GTVT đến thanh tra vào cuộc thì nguyên nhân mới được hé mở, mọi bí ẩn được lôi ra trước ánh sáng. Con ốc neo, chiếc tăng – đơ đã bắt đầu biết nói, vì thân hình của chúng bị gãy đứt làm đôi và những viên gạch mà đáng lẽ chúng cũng không được phép có mặt trong thiết kế xây dựng cũng phản ảnh lại cho sự biện minh của ông thứ trưởng GTVT Nguyễn Hồng Trường là “Xây gạch bên ngoài đế cho đẹp“. Những kết luận của các kỹ sư chuyên gia là hoàn toàn phù hợp trên cơ sở khoa học. Mới đây, các chuyên gia tư vấn xây dựng của JICA Nhật Bản lập tức phủ nhận ý kiến của lãnh đạo tỉnh Lai Châu. Trước chân lý khoa học thì không có lời giải thích mù mờ, suy diễn nào có thể che đậy được dụng ý xấu xa của con người nên buộc các vị quan chức chính quyền tỉnh Lai Châu phải ngậm miệng lại để nghe tiếng phán kết luận: ”Đó là thảm họa từ con chính người“ mà không phải là những con người bản xứ vô tội như các vị đã qui kết khi chưa được làm sáng tỏ nguyên nhân mà chính là những con người có chức, có quyền ở tỉnh Lai Châu. Số tiền xây dựng chiếc cầu là 1,247 tỷ đồng, là tiền quĩ của lãnh sự Đan Mạch tặng cho địa phương thông qua bộ tài chính Việt Nam, đi qua sở tài chính tỉnh Lai Châu rồi về đến huyện Tam Đường. Với một cơ chế hành trình khúc khỷu, qua nhiều cửa, chẳng hay số tiền làm cầu kia về đến nơi có được trọn vẹn mà không bị “sứt lông, sứt cánh“? Ấy là chưa tính đến những hành trình công đoạn từ chủ đầu tư đến nhà thầu số, nhà thi công, số tiền đó còn bị hao hụt bao nhiêu phần trăm giữa bên A và bên B, hoặc C theo “luật ngầm“ nữa.
Theo lời của giáo sư Nguyễn Đình Cống (Cựu giảng viên trường ĐH xây dựng Hà Nội) nói thẳng: “chất lượng kém trong thi công bắt nguồn từ tệ nạn tham nhũng đang tràn lan, nạn bớt xén tiền trong xây dựng dẫn đến chất lượng vật liệu và thi công đều không bảo đảm“. Bởi thông thường những chiếc cầu dây treo dạng này có tuổi đời thiết kế 50-100 năm. Giả dụ, cầu treo Chu Va 6 thuộc dạng cầu tạm thì tuổi đời ít nhất cũng phải được 20 năm, chứ không thể mới “tạm” 01 năm đã ngã bệnh và chết.
Thảm họa cầu treo Chu Va 6 là hệ lụy là quả báo nhãn tiền của hành vi tham nhũng của các quan chức nhà nước khi cơ chế nhà nước thiếu minh bạch, thiếu công khai thông tin và khi người dân không thật sự được quyền tham gia làm chủ tài chính chiếc cầu mà Đan Mạch cho họ, để họ có cái quyền giám sát các hoạt động từ các khâu: Thiết kế, đấu thầu, giám sát, thi công và nghiệm thu công trình. Chính cái cơ chế khép kín trong các cấp chính quyền nhà nước là mãnh đất màu mỡ cho các quan chức vừa nắm quyền, vừa cầm quyền có điều kiện tham nhũng, trục lợi, ăn chia nhau và cùng ngồi với “nhau trên con thuyền“ đồng tình bao che cho nhau khi đổ bể sự việc, để rồi tất cả những hệ lụy hậu quả tổn thất đổ lại trên đầu người dân vô tội.
Bà Phó CT nước Nguyễn Thị Doan phát biểu “Bây giờ người ta ăn của dân không từ một cái gì. Từ tiền thương binh- liệt sĩ đến tiền trẻ em vùng cao, tiền dành cho người nghèo….ăn hết,…”. Theo lời bà Doan thì liệu rằng cây cầu treo Cha Vu 6 bị ăn xén bớt bao nhiêu phần trăm và còn lại thực chất là bao nhiêu để đưa vào xây dựng cây cầu tử thần ấy. Câu hỏi này xin chờ trả lời…. Vì Bộ trưởng GTVT Thăng đang bắt buộc phải có kết luận công khai với công luận báo chí cả nước trước ngày 10-3-2014 và đề nghị khởi tố vụ án. ”Trên thì bảo vậy nhưng dưới không nghe“. Đến nay công an Lai Châu vẫn chưa thực hiện lời ông đề nghị ông bộ trưởng. Đó là điều còn ở phía trước mà nhân dân cả nước đang chờ đợi nghe ngóng từng ngày và sự mất mát thiệt hại của người dân bởi sự tham nhũng gây ra có được đền bù lại một cách tương xứng hay không? Và cho dù có khởi tố hình sự những cá nhân quan chức tỉnh Lai Châu liên quan đến vụ sập cầu Cha Vu 6 cũng chỉ là giải quyết phần ngọn của tham nhũng mà cái gốc của nó là cơ chế quản lý nhà nước.
Đất nước chúng ta còn rất nhiều cây cầu đã được làm, đang làm và sẽ làm là mạch máu giao thông để phát triển kinh tế đất nước, nhưng vấn nạn tham nhũng trong xây dựng cầu đường vẫn còn nhức nhối ảnh hưởng đến chất lượng, tuổi thọ công trình. Khi bài toán giải quyết nạn tham nhũng chưa xong thì hệ lụy những hiểm họa vẫn còn “Treo” trên đầu nhân dân. “Hãy làm chuồng trước khi mất trộm bò“ – Cha ông ta để lại kinh nghiệm rất thực tiễn qua câu thành ngữ này. Nếu quốc nạn tham nhũng vẫn còn tồn tại trong hệ thống quản lý nhà nước của Đảng CS, thì những chiếc cầu, cho dù đó là công trình thế kỷ vẫn còn có thể là những hiểm họa đang rập rình và nó xảy đến bất cứ lúc nào mà không ai biết trước được.
Gia Lai, ngày 10/3/2014

Thách thức của xã hội dân sự VN - Không có đồng bào, không có đồng chí, chỉ có đồng lõa

Phạm Chí Dũng - Thách thức của xã hội dân sự VN

Các nhóm dân sự ở Việt Nam còn hoạt động lẻ tẻ và manh mún
“Xã hội dân sự và các mối quan hệ giữa nhân dân hai nước là một trong những mảng thú vị nhất của mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ” - nữ chính trị gia kiêm thứ trưởng Ngoại giao phụ trách về chính trị của Hoa Kỳ Wendy Sherman đã bình phẩm một cách ý nhị trong chuyến làm việc với các quan chức cao cấp Hà Nội vào đầu tháng 3 năm 2014.
Lối nói bóng bẩy nhưng không kém tính thực tế của những người đang cầm cân nảy mực về số phận TPP, gắn liền với mưu cầu thực dụng của chính quyền Việt Nam, đã gần như hợp thức hóa và mở toang cánh cửa xã hội dân sự trong một cơ chế vừa trải qua cuộc kiểm điểm định kỳ về nhân quyền đầy dị nghị tại Geneva vào đầu tháng 2 năm 2014.
Cuộc gặp gặp gỡ công khai của Wendy Sherman với nhóm dân sự “Hội anh em dân chủ” ngay tại thủ đô của một chế độ đang bần thần giữa hai dòng đối lưu nhất nguyên và đa nguyên có thể là một ví dụ thú vị nhất, khi một năm trước đó đã không có sự “cho phép” nào từ phía Nhà nước Việt Nam, còn cách đây vài ba năm điều đó chỉ có hàm ý như một giấc mơ.
Cửa đã mở?
Những hội nhóm dân sự độc lập ở Việt Nam cũng đang mơ màng về một giấc mộng giữa đời thực. Trùng với chuyến công du của Wendy Sherman, một hội đoàn văn nghệ có tên “Văn đoàn độc lập Việt Nam” đã được khởi xướng và bắt đầu giai đoạn vận động các hội viên. Chỉ ít ngày sau, một ý tưởng khác được khơi bật: tại sao không thể thành lập hội nhà báo độc lập Việt Nam?
Những ý kiến thuộc về giới bất đồng chính kiến thâm niên cũng cùng lúc hướng đến một số hội nhóm nghề nghiệp khác như hội luật sư độc lập, hội mỹ thuật độc lập, hội điện ảnh độc lập… và tất nhiên không thể thiếu một nghiệp đoàn độc lập dành cho người lao động, hay cụ thể hơn là nghiệp đoàn công nhân, tương ứng với một trong những tiêu chí đầu bảng nằm trên bàn đàm phán về TPP giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Áp lực quốc tế đã khiến Việt Nam cởi mở hơn về xã hội dân sự?
Không phủ nhận là cửa đã mở. Không chỉ hé mở mà đã vượt qua chế độ khép hờ, nếu nhìn lại việc chỉ đến cuối năm 2013, sau cuộc làm việc không tuyên bố tại Hà Nội của một quan chức Bộ ngoại giao Hoa Kỳ là Phó trợ lý ngoại trưởng Scott Busby, Nhà nước Việt Nam mới bắt đầu lấp ló cái nhìn khiên cưỡng - như thái độ dần phải thừa nhận về vai trò của xã hội dân sự trong một tương lai mà thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã úp mở về “cải cách thể chế”, “cơ chế phản biện” và “người dân được quyền làm những gì pháp luật không cấm”.
Hiển nhiên nếu tham chiếu Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và bản hiến pháp mới nhất có hiệu lực vào đầu năm 2014, việc một nhóm trí thức nào đó tự nhiên thành lập hội là không thể vi phạm pháp luật. Vào ngày 18/2/2014 và trùng với thời điểm phiên tòa xử phúc thẩm luật sư Lê Quốc Quân cùng cái chết quá khó để minh bạch của viên Thượng tướng kiêm Thứ trưởng Bộ công an Phạm Quý Ngọ, một hội đoàn độc lập rất đặc biệt có tên “Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam” đã ra đời.
Thành lập suôn sẻ
Một trong những điểm khởi thủy thú vị nhất của hội đoàn này chính là tính chất dân sự và độc lập của nó đã được biểu hiện ngay từ lúc phôi thai: không trải qua bất cứ một thủ tục “xin phép” nào đối với chính quyền. Cũng không tốn kém thời gian vào giai đoạn “ban vận động”, mà như một mặc định, những người từng chịu cảnh tù đày đã tổ chức sinh hoạt với nhau một cách bài bản và chặt chẽ. Một điểm khác thú vị không kém là cho đến nay, chưa có bất cứ thành viên nào của Hội cựu tù nhân lương tâm VN bị chính quyền “thăm hỏi”, cho dù ai cũng biết không ít thành viên của hội đoàn này từng chịu án tù “phản cách mạng” đến vài chục năm.

Các nhóm dân sự ở Việt Nam thường bị chính quyền sách nhiễu
Khách quan và tế nhị, có thể cho rằng “thời kỳ sợ hãi” đang dần trôi qua. Sắc mùa của xã hội dân sự ở Việt Nam đang chuyển sang thời đoạn mà mỗi hội sinh ra đều là một thách thức đối với chính nó. Với những chỉ dấu chuyển từ hệ thống nhất nguyên sang đa nguyên đang phát lộ một cách thầm kín nhưng ngày càng dày hơn, giới chính kiến độc lập không còn quá phải lo lắng về chuyện có thể bị sách nhiễu hoặc bị bắt bớ như vào những năm trước. Nhưng cũng vào chính lúc này, sức ép tinh thần kèm trách nhiệm lại hiện hình trên con đường của họ: làm thế nào để các hội đoàn độc lập thể hiện đúng tinh thần “tự do biểu đạt”, và trên hết là là biểu đạt một cách có ý nghĩa nhất, thiết thực nhất đối với đời sống dân trí, dân sinh và dân quyền?
Thực ra, những tiền lệ trứng nước về hội nhóm dân sự độc lập đã hình thành từ năm 2009 với sự ra đời của trang mạng Bauxite Vietnam. Đến năm 2013, nhóm Kiến nghị 72 là một bước chuyển tiếp chưa từng thấy về những đề nghị cải cách Hiến pháp và chế độ một đảng - hiện tượng có thể so sánh với phong trào Hiến chương 77 ở Tiệp Khắc năm 1977 và phong trào dân chủ đối lập của Viện sĩ Sakharov ở Liên Xô vào năm 1986.
Bất ngờ chìm lắng
Rất khó hiểu là lại xuất hiện một hiện tượng kỳ quặc vào nửa cuối năm 2013, trong bối cảnh áp lực quốc tế dâng cao khiến chính quyền và ngành công an không xúc tiến bắt giam thêm một nhân vật bất đồng chính kiến nào, thậm chí vài thành viên trẻ của phong trào dân chủ ở Việt Nam còn được trả tự do, bầu không khí thực chứng của xã hội dân sự lại chìm lắng một cách đáng ngạc nhiên. Chỉ có thể giải thích: tình cảnh này xem ra khá đồng cảm với nạn suy thoái trầm kha của nền kinh tế Việt Nam.

Hiện chưa có sự tương thân giữa các thành viên các nhóm dân sự?
Người ta có thể chứng nhận sự xuất hiện khá nhanh chóng của một số hội nhóm vào nửa cuối năm 2013 như Mạng lưới blogger Việt Nam, Diễn đàn xã hội dân sự, Hội bầu bí tương thân, nhóm Phụ nữ nhân quyền Việt Nam… Tuy nhiên giới quan sát cũng không tránh khỏi cảm giác không mấy an tâm về thái độ thiếu bền vững về chiến lược và cả sách lược hành động của một vài hội nhóm dân sự. Điều chứng thực là cho đến nay có nhóm dân sự vẫn chỉ tồn tại trên danh nghĩa mà gần như chưa có bất cứ một hoạt động xứng đáng nào với tên gọi của nó.
Tình hình có vẻ trái khoáy như thế đã dẫn đến một câu hỏi nan giải: cho dù xã hội dân sự là một “mảng thú vị” trong đời sống của giới trí thức và các bạn trẻ không cùng quan điểm chính trị với chính quyền, song sự thật không thể chối bỏ là phong trào hình thành hội nhóm dân sự đã chuyển dịch theo hướng thiên về số lượng chứ không phải chất lượng trong ít nhất từ tháng 9/2013 đến nay.
Thiếu khuôn mặt mới
Thậm chí, việc vận động thành viên mới ở nhiều hội nhóm vẫn là một thách thức quá lớn. Với khá nhiều hội nhóm dân sự, người ta vẫn chỉ nhìn thấy những khuôn mặt quen thuộc. Sự thiếu vắng những gương mặt mới cũng phần nào cho thấy tâm lý dè dặt và sợ sệt vẫn nổi lên trong số đông quần chúng, lồng trong bối cảnh đa phần hội nhóm dân sự chưa thể thiết lập kế hoạch hành động liên tục và gắn kết với cuộc sống của các tầng lớp dân nghèo.

Mỹ đang trông chờ có những chuyển biến tích cực về nhân quyền ở Việt Nam
Không những thế, một lần nữa lịch sử nền văn hóa tiểu nông lặp lại. Trong thời kỳ manh nha của xã hội dân sự ở Việt Nam, tình trạng xa cách giữa các hội nhóm và xa biệt giữa các thế hệ đã biến thành cái dằm xốn xang trong mắt những người nhiệt tâm. Với một số hội nhóm dân sự, bài toán hiệu quả hoạt động chỉ nằm ở một mắt xích đơn giản nhất: nếu thành viên của họ đa phần là những người từ sáu chục tuổi trở lên, liệu ai sẽ là lớp trẻ để gánh vác những hoạt động cụ thể?
Đó là một thực tế không thể phủ định, cũng như hiện trạng mà công luận đang nhìn thấy ở vài hội nhóm dân sự như Văn đoàn độc lập Việt Nam. Cho dù được cho là một hội đoàn tập hợp trí tuệ và nhiều trí thức có tên tuổi, song chừng đó vẫn là quá ít ỏi cho tương lai xã hội dân sự nếu hoạt động chủ yếu của những hội đoàn như vậy chỉ nhằm tung ra những bản kiến nghị trên mạng và tổ chức hội thảo khoa học.
Một thực tế khác là hiện tượng “lão hóa” và thiếu kết nối với giới trẻ có lẽ đã khiến nhóm Kiến nghị 72, sau nửa đầu năm 2013 chiếm vị trí số một về cách tân dân chủ, cho đến nay chỉ tồn tại chủ yếu bằng vào hoạt động của nhóm Diễn đàn xã hội dân sự.
Vận động công khai
Trong tâm tư nhiều người trẻ tuổi, đã đến lúc các nhóm dân sự, đặc biệt những nhân sĩ và trí thức có tên tuổi, cần chuyển hành động phản biện từ “online” sang “offline”, từ hình thức kiến nghị đang giảm dần sức hút trên mạng Internet sang những hoạt động sinh hoạt, vận động công khai và tất nhiên mang tính ôn hòa ngoài đời.

Các hội nhóm nên chuyển từ trên mạng sang vận động công khai?
Khác hẳn với hình thức hội đoàn nhà nước, các thành viên của hội đoàn dân sự độc lập xuất phát từ sự khác biệt chính kiến với đảng và chính quyền. Do vậy, trong một hoàn cảnh và ở một mức độ nào đó họ có thể bị đe dọa bởi mối rủi ro như những can thiệp của chính quyền đối với họ về công ăn việc làm, kinh tế gia đình, an ninh cá nhân… Từ tâm trạng này, thật dễ hiểu khi nhiều người trẻ tuổi trong phong trào dân chủ xướng lên một câu hỏi rất thiết thực: nếu một thành viên trong lớp “cận vệ già” bị chính quyền bắt giữ hoặc bị bắt giam vì lý do nào đó, liệu đội cận vệ ấy có đồng lòng kéo đi đòi trả tự do cho người bị bắt hay không?
Câu trả lời đang trở nên khó hiểu và càng khó xử. Thực tế chưa cho thấy nhiều bằng chứng về tính đoàn kết ngay giữa những trí thức gạo cội. Thậm chí khá ngược ngạo, một số trí thức vẫn mang nặng tình cảm cái tôi tuyệt đối và vai trò “lâu đài”, đặt quyền lợi và danh tiếng cá nhân vượt trên mục tiêu chung của con đường đấu tranh dân chủ cho dân tộc. Tâm thế này đã triệt tiêu không ít động lực tương thân tương ái trong khối trí thức và gây ảnh hưởng không nhỏ về tâm lý đối với các thành viên trẻ và khối cảm tình viên.
Năm 2014 đã sang trang. Bản thông điệp đầu năm của thủ tướng có thể không mang nhiều dấu ấn về lòng thành chính trị, nhưng lại có ý nghĩa như một tính toán đầy quyết tâm và quyết liệt, đặc biệt gợi cảm cho “phe lợi ích”. Điều trớ trêu là không khí dân chủ cũng phát tác chủ yếu từ động thái chạy đua với thời gian ấy.
Xu hướng hình thành các hội đoàn độc lập đang và sẽ lan dần, cùng triển vọng năm nay số hội nhóm dân sự ra đời có thể gấp đôi so với năm 2013. Tuy nhiên hàng loạt câu hỏi lại nảy sinh một cách gay gắt và đòi hỏi tính quả quyết: làm thế nào để tạo dựng tính cách độc lập riêng biệt cho khối hội đoàn dân sự - độc lập với nhà nước về quan điểm, nội dung hoạt động, nhân sự, tài chính? Làm thế nào để các nhóm dân sự không bị rơi vào quán tính mài mòn đũng quần và ù lì sáng tạo như các hội đoàn nhà nước, không trở thành một cơ quan “định hướng tuyên truyền” hoặc đơn giản là không bị biến thành một chỗ vui chơi hội hè và xài tiền đóng thuế của dân chúng? Và làm thế nào để trong tương lai gần, các hội đoàn dân sự độc lập sẽ không quá “độc lập” với nhau về mối quan hệ và các trách nhiệm dân sự?
Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một nhà báo tự do sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ts Phạm Chí Dũng

Thành quả và tương lai quỹ VEF

Quỹ giáo dục VEF có nhiều chương trình, dự án hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu cho Việt Nam.

Vietnam Education Foundation (VEF) là quỹ giáo dục được khởi xướng năm 2003 qua một đạo luật của Quốc hội Mỹ với mục đích cấp học bổng cho sinh viên từ Việt Nam sang Hoa Kỳ theo học cấp thạc sĩ, tiến sĩ và đưa các giáo sư, học giả Việt và Mỹ đến nghiên cứu, giảng dạy tại các đại học của hai quốc gia.
Sau hơn 10 năm hoạt động, đến nay đã có trên 450 suất học bổng VEF cấp cho sinh viên Việt Nam. Ngân sách VEF hiện nay là 5 triệu đôla để tài trợ cho 40 sinh viên mỗi năm. Quỹ sẽ chấm dứt hoạt động vào năm 2018 nếu không được quốc hội gia hạn.
Cuối tuần qua, một phái đoàn VEF đã đến California để gặp gỡ và trình bày với cộng đồng người Mỹ gốc Việt về quá trình hoạt động và giải đáp những thắc mắc về quỹ.
Buổi gặp gỡ đầu diễn ra tại Westminster ở Quận Cam, Nam California và buổi thứ hai ở San Jose, miền Bắc California.
Tiến sĩ Lynne McNamara, giám đốc điều hành VEF, nói về sự hình thành của quỹ và phương cách tuyển chọn sinh viên. Theo bà, đó là một quá trình minh bạch, công bằng để chọn những sinh viên xuất sắc nhất.
Các ứng viên phải có bằng cử nhân hay thạc sĩ, giỏi anh ngữ (điểm TOEFL cao), được sự giới thiệu của ba người và sau đó phải qua một cuộc phỏng vấn để trình bày về nhân thân, quá trình học tập, việc làm và mơ ước cũng như dự tính đóng góp tương lai cho nước Việt Nam sau khi hoàn tất học trình tại Mỹ.




Đã có những ứng dụng tại Việt Nam của sinh viên VEF trong việc trồng cà chua, trồng nho từ kiến thức học được ở Mỹ, cụ thể là từ Đại học U.C. Davis hay những nghiên cứu về vùng Delta ở Louisiana có thể áp dụng cho vùng Mekong ở Việt Nam"
Theo lời bà Lynne, hiện nay nhiều cơ sở giáo dục Mỹ đã biết đến trình độ giỏi của du sinh Việt là qua sinh viên VEF có mặt tại nhiều đại học danh tiếng của Hoa Kỳ.
Sau phần trình bày của bà giám đốc, ba thành viên người Mỹ gốc Việt trong hội đồng quản trị VEF là ông David Dương, bà Lan Anh Phúc Nguyễn và bà Quyên Ngọc Vương cũng đã nói về quỹ học bổng.
Giải thích của các thành viên VEF nhằm làm sáng tỏ nghi ngờ cho rằng các suất học bổng thường dành cho con cháu cán bộ hay những ai quen biết với giới chức quyền, còn dân nghèo không có cơ hội.
Bà Quyên nói về tính minh bạch và mở trong việc VEF tuyển chọn. Bà kể lại một chuyến đi Việt Nam quan sát cuộc phỏng vấn của đại diện VEF, là những giáo sư hay chủ nhiệm khoa từ đại học Mỹ, với các ứng viên trong tiến trình tuyển chọn để trao học bổng. Mỗi sinh viên có 45 phút trả lời trực tiếp những câu hỏi do ban tuyển chọn đưa ra.
Trả lời một câu hỏi của người tham dự, bà Lynne nói những năm đầu của chương trình có đến 1200 sinh viên cho biết họ có ý định xin học bổng VEF, nhưng sau khi xem các điều kiện, con số giảm xuống chừng 400 thực sự nộp đơn. Qua tiến trình xét đơn, khoảng 100 được mời tham dự phỏng vấn để cuối cùng VEF chọn ra 40 sinh viên.

'Cơ hội đồng đều'

Đại diện VEF (từ trái) bà Ngọc Vương, ông David Dương, bà Lan Anh và TS Lynne McNamara trao đổi với cử tọa.
Tiến sĩ Lynne McNamara nói mọi sinh viên đều có cơ hội đồng đều vì việc nộp đơn học bổng VEF chỉ được thực hiện trên mạng. Ba năm gần đây các ứng viên còn phải qua kỳ thi GRE – bài thi trắc nghiệm trình độ của sinh viên Mỹ khi xin học ban thạc sĩ tại những đại học Hoa Kỳ – vì thế số sinh viên nộp đơn giảm xuống còn khoảng 300. Như thế cho thấy những ứng viên VEF phải là sinh viên thực sự giỏi.
Một khách dự nêu vấn đề sinh viên sau khi tốt nghiệp Mỹ trở về không được tin tưởng, trọng dụng chỉ vì họ được học bổng VEF hay Fulbright ở Mỹ. Theo lời khách, muốn có những ảnh hưởng lâu dài, các đại học Mỹ có quan hệ với đại học Việt Nam cần định chế hoá các quan hệ để sinh viên tốt nghiệp trở về có cơ hội mang kiến thức ra phục vụ.
Vị khách nói thêm đó có lẽ là nguyên do khiến một số sinh viên, mà cá nhân cô có biết, sau khi hoàn tất chương trình với học bổng VEF đã không ở lại Việt Nam làm việc.
Tiến sĩ McNamara cho biết một sinh viên sau khi hoàn tất chương trình học tại Hoa Kỳ, phải trở về nước làm việc hai năm. Rất là khó nếu muốn ở lại vì chính phủ Mỹ không cho phép. Sau hai năm, họ có thể sống và làm việc ở bất cứ nơi nào.




Một sinh viên sau khi hoàn tất chương trình học tại Hoa Kỳ, phải trở về nước làm việc hai năm. Rất là khó nếu muốn ở lại vì chính phủ Mỹ không cho phép. Sau hai năm, họ có thể sống và làm việc ở bất cứ nơi nào"

TS. Lynn McNamara
Còn chuyện ganh tị, theo bà có lẽ là giữa người có bằng tiến sĩ từ Mỹ với những người trong nước không có bằng tiến sĩ. Bà cũng thừa nhận dự án cho một đại học Mỹ (American University) ở Việt Nam vẫn chưa đi đến đâu.
Trả lời câu hỏi về kết quả cụ thể cựu sinh viên VEF đã đem lại cho Việt Nam, bà Lynne nói vì mất đến 7 năm để hoàn tất bằng tiến sĩ, các sinh viên về nước làm việc chưa được lâu nên kết quả còn ít. Tuy nhiên đã có những ứng dụng tại Việt Nam của sinh viên VEF trong việc trồng cà chua, trồng nho từ kiến thức học được ở Mỹ, cụ thể là từ Đại học U.C. Davis hay những nghiên cứu về vùng Delta ở Louisiana có thể áp dụng cho vùng Mekong ở Việt Nam.
Trong buổi nói chuyện đã có sự hiện diện của hai sinh viên VEF đang theo học Đại học U.C. Berkeley là Nguyễn Trà Mi, người gốc Nha Trang, và Nguyễn Đức Giang gốc Bắc Ninh.
Nữ sinh viên Trà Mi học tiến sĩ khoa xây dựng và môi trường, nam sinh viên Đức Giang học tiến sĩ vật lý. Đại học Berkeley từ năm 2004 đã đón nhiều sinh viên VEF.
Bạn Giang trình bày dự án xuất bản một tạp chí khoa học trên mạng bằng song ngữ Việt-Anh, có tên Vietnam Journal of Science, với mục đích phổ biến thông tin khoa học của người Việt, ứng dụng nghiên cứu hấp dẫn, những bài viết khoa học đã được đồng nghiệp phê chuẩn và cũng để giới thiệu với thế giới những nhà khoa học của Việt Nam. Số đầu tiên dự định ra mắt vào tháng 4 này.

Một lưu học sinh Việt Nam trong chương trình VEF giới thiệu công trình nghiên cứu tập thể.
Qua con đường của tạp chí này, nhóm chủ trương sẽ bước xa hơn bằng cách chọn ra những bài giá trị để xuất bản một tạp chí khoa học có chuẩn mực cao [ISI scientific journal] bằng Anh ngữ để góp phần với các nghiên cứu khoa học quốc tế.
'Để giúp Việt Nam'
Nhìn vào danh sách mấy trăm sinh viên VEF đã tốt nghiệp trong hơn 10 năm qua với hàng trăm bài nghiên cứu được phổ biến, như thế việc có một tạp chí để những nhà khoa học Việt công bố công trình nghiên cứu là cần thiết vì nó sẽ giúp đưa trình độ khoa học Việt Nam lên mức cao hơn.
Từ ngày khởi xướng, quỹ VEF nhắm đến các lãnh vực học tập và nghiên cứu thuộc về khoa học tự nhiên, khoa học vật lý, môi trường, công nghệ và y tế công cộng.
Ngoài việc tài trợ cho sinh viên đến Mỹ học thạc sĩ và tiến sĩ, VEF còn có chương trình dành cho những học giả Việt Nam sang Hoa Kỳ nghiên cứu ngắn hạn và đưa giáo sư Mỹ sang Việt Nam giảng dạy tại các đại học.




Càng mở rộng thì càng giúp được nhiều hơn cho bà con ở quê nhà có cơ hội học tập tại Hoa Kỳ, nâng cao trình độ giáo dục, giúp phát triển công nghệ, kinh tế và sẽ đem đến thay đổi nhiều mặt cho đất nước"

Ông David Dương
Ban tổ chức VEF gửi lời nhắn đến cộng đồng hãy khuyến khích bạn bè, con em hay người quen có quốc tịch Việt Nam nên nộp đơn xin học bổng này. Hạn chót nộp đơn cho năm nay là ngày 10/4/14.
Nhiều đại học danh tiếng như Cornell, Rutgers, University of Utah, Michigan State U., Washington State U., University of Texas in Houston, U.C. Berkeley v.v.. đã có thư ca ngợi thành quả học tập của các sinh viên VEF và lên tiếng ủng hộ học bổng này.
Trong quan hệ giúp đỡ giáo dục Việt Nam để phát triển, VEF là một mảng của chương trình này. Theo thống kê, hiện có khoảng 17 nghìn sinh viên từ Việt Nam, đứng thứ 8 trong số sinh viên nước ngoài tại các đại học Mỹ.
Sau buổi gặp gỡ, người viết bài hỏi ông David Dương về tương lai VEF và được biết hội đồng quản trị cũng như ban điều hành quỹ mong tiếp tục có sự hỗ trợ từ quốc hội Mỹ, từ phía chính phủ Việt Nam, từ những cá nhân, công ty đang đầu tư ở Việt Nam và từ cộng đồng người Mỹ gốc Việt để mở rộng quan hệ giữa hai quốc gia.
Ông nói quỹ càng mở rộng thì càng giúp được nhiều hơn cho bà con ở quê nhà có cơ hội học tập tại Hoa Kỳ, nâng cao trình độ giáo dục, giúp phát triển công nghệ, kinh tế và sẽ đem đến thay đổi nhiều mặt cho đất nước.
Bài báo thể hiện quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một nhà báo tự do đang sinh sống và làm việc ở Hoa Kỳ.
Bùi Văn Phú

Không có đồng bào, không có đồng chí, chỉ có đồng lõa

Chuacuuthe

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận
số 191 (15-03-2014)
VRNs (17.03.2014) – Thừa Thiên Huế - Trong cuộc sống của loài người, có nhiều mối dây liên kết diễn tả qua chữ “đồng”, như đồng môn, đồng hương, đồng đạo, đồng nghiệp…, nhưng có lẽ hai mối dây liên kết được người Cộng sản đề cao nhiều nhất là đồng bào và đồng chí, không những tại Việt Nam mà ở toàn thể các nước phe xã hội chủ nghĩa.

Ta hãy nghe lại một đoạn trong lá thư của ông Hồ Chí Minh viết vào tháng 10-1944: “Toàn quốc đồng bào! Toàn thể đồng chí! Tháng 8 năm 1942, tôi vâng lệnh Đoàn thể đi cầu ngoại viện. Chẳng may gặp sự hiểu lầm ở ngoài, làm cho đồng bào, đồng chí lo phiền cho tôi hơn một năm giời. Vậy, một mặt thì tôi phải thừa nhận vì tôi hành động không đủ khôn khéo để đồng bào, đồng chí phải phiền lòng, một mặt thì tôi rất cảm ơn lòng thân ái của đồng bào, đồng chí đối với tôi. Trong sự rủi lại có sự may. Nhân dịp ở ngoài mà tôi hiểu rõ tình hình thế giới và chính sách của các hữu bang, trước hết là Trung Quốc. Nay tôi mang về cho đồng bào, đồng chí một món quà cực kỳ quý báu, tức là lòng đồng tình sốt sắng của 450 triệu đồng bào Trung Quốc đối với 25 triệu đồng bào Việt Nam về cái tin Trung Quốc sẽ tích cực giúp đỡ cuộc dân tộc giải phóng của chúng ta….” (Hồ Chí Minh toàn tập, t.3).

Ngoài ra, ông Hồ còn vô số thư gởi đồng bào các giai tầng, các sắc tộc và các tôn giáo. Sau cuộc chia đôi đất nước, ông ta lại luôn nói về đồng bào miền Nam. Tác giả Phạm Thị Thắng, trong bài “Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà”, có kể câu chuyện như sau: “Năm 1962, đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, do giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu đến thăm Bác. Hôm đó đoàn tặng Bác rất nhiều quà quý… Khi nhận quà, Bác rất xúc động, một đồng chí trong Ban bí thư Trung ương thưa với Bác: “Thưa Bác, Bác có quà gì tặng miền Nam không ạ?”. Tất cả mọi người hồi hộp chờ đợi xem Bác tặng quà gì cho miền Nam. Bác vẫn đứng im nhìn mọi người âu yếm, rồi Bác nói: “Bác chẳng có cái gì để tặng cho đồng bào miền Nam cả. Bác chỉ có cái này”. Bác đặt tay lên ngực của mình, nơi con tim đang đập và nói: “Quà Bác tặng cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam đây! Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn trong trái tim tôi”. Ngỡ như lãnh tụ CS họ Hồ chỉ có hai tâm tình sâu đậm là tình đồng chí và tình đồng bào!

140317004Thế nhưng chính con người ấy lại đã ra tay tàn độc đối với các đồng chí thân thiết: nào thủ tiêu những người từng là cộng tác viên đắc lực hay từng vào sinh ra tử với mình như chiến hữu Lâm Đức Thụ, đại biểu Dương Bạch Mai, đại tướng Nguyễn Chí Thanh… nào tống vào tù đại công thần đã đem cả cuộc đời hi sinh chiến đấu dựng lên đảng và nhà nước cộng sản: người hùng Điện Biên Phủ tướng Đặng Kim Giang, nhà cách mạng tiền bối kiêm thư ký riêng Vũ Đình Huỳnh, viện trưởng viện triết học Mác-Lênin Hoàng Minh Chính… nào đày đọa cho đến chết những nhà trí thức uyên bác đã theo mình về nước làm cách mạng: thạc sĩ Trần Đức Thảo, luật sư Nguyễn Mạnh Tường… hay những văn nhân nghệ sĩ đã từng phục vụ chế độ và tô hồng xã hội cộng sản trong nhóm Nhân văn Giai phẩm. Chưa kể biết bao đồng chí và đồng đảng CS đã là nạn nhân của chính lãnh tụ tàn độc có một không hai này. Còn đối với đồng bào ruột thịt miền Bắc thì Hồ Chí Minh đã ra lệnh tàn sát trực tiếp và gián tiếp nửa triệu điền chủ và nông dân trong cuộc Cải cách Ruộng đất (trong đó có bà Cát Hanh Long là đại ân nhân của đảng), đối với đồng bào ruột thịt miền Nam thì hàng vạn vạn dân thường đã chết trong cái gọi là “cuộc chiến tranh giải phóng”, đặc biệt trong cuộc tổng công kích tết Mậu Thân mà chính Hồ Chí Minh phát động.

Đang khi đó, bên các “nước anh em”, Lênin, Stalin và Mao Trạch Đông cũng mở những cuộc đại thanh trừng đối với các đồng chí thân thiết, đại tàn sát đối với các đồng bào thân yêu mà con số nạn nhân phải tính là hàng chục triệu (nói chung, các lãnh tụ CS đã đưa về chín suối 100 triệu đồng bào của mình). Chưa nói đến chuyện cùng chung lý tưởng Cộng sản, nhưng các đồng chí Đệ III Quốc tế đánh nhau chí tử với các đồng chí Đệ IV Quốc tế, các đồng chí Liên Xô đánh nhau chí tử với các đồng chí Trung Hoa, với các đồng chí Nam Tư; đến lượt các đồng chí Trung Hoa đánh nhau chí tử với các đồng chí Việt Nam, các đồng chí Việt Nam lại đánh nhau chí tử với các đồng chí Khmer đỏ….

Những kẻ kế tục Hồ Chí Minh cho đến hôm nay cũng không làm gì khác. Điển hình là Lê Đức Thọ và phe cánh đã thủ tiêu các đồng chí như đại tướng Lê Trọng Tấn năm 1986, đại tướng Hoàng Văn Thái cũng năm 1986, thượng tướng Đinh Đức Thiện (em ruột của Thọ) năm 1987, trung tướng Phan Bình cũng năm 1987… Mới đây là thượng tướng Phạm Quý Ngọ cũng bất ngờ qua đời, mà dư luận cho rằng đã bị các đồng chí thủ tiêu để bịt đầu mối, chỉ một ngày sau khi có quyết định sẽ điều tra và khởi tố việc Ngọ nhận 1.5 mỹ kim từ Dương Chí Dũng. Ngoài ra còn bao nhiêu cuộc thanh trừng nội bộ, thủ tiêu đồng chí chưa bị lộ trong đảng Cộng sản. Đó là chưa kể vô vàn đồng chí chết trong trận chiến Biên giới 1979, trận chiến Gạc Ma 1988 mà đã bị chôn vùi ký ức, bị đục bia tưởng niệm, bị cấm cản truy điệu…

Còn cái gọi là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam” thực chất chỉ là cuộc tàn sát đồng bào (theo kế hoạch của Mao: đánh Mỹ cho tới người Việt cuối cùng để mở rộng đế quốc Tàu đỏ), khiến gần 4 triệu dân Việt ở cả hai miền phải tan thây. Rồi cái gọi là cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa (mà theo Nguyễn Phú Trọng thì tới cuối thế kỷ này chưa chắc đã thành công) thực chất chỉ là cuộc hăm dọa đồng bào tận mức, bóc lột đồng bào tận xương và đàn áp đồng bào tận lực.

Hăm dọa đồng bào miền Nam tận mức qua chính sách kỳ thị ngụy quân ngụy quyền, chủ trương cải tạo tư sản, chương trình di dân kinh tế, kế hoạch chỉnh trang đô thị, khiến hàng triệu người phải điêu đứng cuộc sống vốn an lành, phải liều mạng vượt biên vượt biển ra hải ngoại.

Bóc lột tận xương hàng triệu đồng bào công nhân trong các công ty xí nghiệp quốc doanh lẫn tư doanh, qua bàn tay của các chủ nhân nội quốc lẫn ngoại quốc được đảng o bế, của các công đoàn lao động được đảng điều khiển. Bóc lột hàng vạn đồng bào xuất khẩu lao động ra nước ngoài qua việc tước đoạt gia sản của họ để làm tiền ký quỹ, qua việc bỏ mặc thân phận của họ cho các đại gia cá mập nước ngoài. Bóc lột hàng triệu đồng bào nông dân qua điều khoản Hiến pháp chết tiệt và điều luật Đất đai trời đánh: “Đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện sở hữu”, qua những cuộc cấu kết giữa bộ máy nhà nước và tập đoàn kinh doanh (VN hoặc ngoại quốc) để đẩy các thường dân vô tội đến cảnh khốn cùng, xuống hố tuyệt vọng.

Ta hãy nghe Nhóm phóng viên RFA tường trình trong bài “Đất Quảng Trị tràn ngập người Trung Quốc” ngày 03-03-2014: “Thời gian gần đây, hầu như mọi mảnh vườn ở làng Hà Tây, xã Triệu An, huyện Triệu Phong đều lâm vào nạn xâm lăng một cách trắng trợn của người Tàu và nhà cầm quyền địa phương. Nghĩa là khi người Tàu đến đây, việc đầu tiên họ làm là tìm đến các cơ quan, các quan chức để bằng mọi giá liên kết, đút lót và mua chuộc bằng được các quan chức này. Để rồi sau đó là những hành động xâm lăng…. Thay vì thỏa thuận với nhân dân để mua đất, người Tàu lại mua chuộc và biến quan chức địa phương thành tay sai của họ, các quan chức địa phương nghiễm nhiên trở thành con rối trong cuộn dây giật của người Tàu. Thay vì bảo vệ cuộc sống đồng bào và bảo vệ quyền lợi quốc gia, quan chức địa phương lại bằng mọi giá bảo vệ người Tàu, xem họ như những quan thầy. Và bất chấp nỗi tủi nhục, đau khổ của nhân dân, họ dùng thủ đoạn này đến thủ đoạn khác để biến đất canh tác, đất vườn của nhân dân thành công trình của người Tàu”.

Đàn áp tận lực toàn thể đồng bào qua nền pháp chế hà khắc, bóp nghẹt mọi quyền tự do; qua những chủ trương chính sách vừa duy ý chí, vừa thậm ngu dốt, vừa vô hiệu quả; qua hệ thống cai trị vừa gian manh, vừa tham nhũng, vừa tàn bạo; qua bộ máy công an (và trợ thủ như dân phòng, côn đồ, đoàn thanh niên CS…) chỉ biết vâng lời mù quáng, hành hung tàn nhẫn, cướp đoạt thẳng tay. Sự mù quáng này sẽ càng gia tăng qua chế độ chính ủy cho ngành công an vừa được thành lập, sự tàn nhẫn này sẽ thêm tầm mức nhờ pháp lệnh mới ban hành cho phép bắn bỏ kẻ bị gọi là chống nhân viên công lực. Đàn áp tận lực toàn thể đồng bào qua hệ thống tư pháp gồm những điều tra viên, công tố viên và quan tòa chỉ biết cúi đầu tuân lệnh cấp trên từ trung ương hay địa phương, đặc biệt trong các vụ án chính trị xét xử các công dân yêu nước, hoặc chỉ biết nhắm mắt vâng lệnh đồng tiền đút lót trong nhiều vụ án kinh tế, hình sự… Rồi còn đàn áp đồng bào qua chủ trương trấn dẹp mọi cuộc biểu tình, xuống đường đòi công lý quyền lợi, đòi tự do dân chủ, đòi tưởng niệm tử sĩ, đòi chống lại ngoại xâm, bằng những cách thức hoặc tàn nhẫn hoặc thâm độc, đê tiện hoặc lố lăng…

Thật ra, đối với người Cộng sản, chỉ có một dây liên kết quan trọng, đó là đồng lõa. Nghĩa là cùng chung tay làm chuyện bất lương, chung sức thực hiện tội ác, thường là đối với đồng bào bị trị của mình. Và bao lâu còn chia sẻ quyền lực lẫn chia chác quyền lợi với nhau, còn bao che cho nhau sai lầm lẫn tội lỗi (trước quốc dân lẫn quốc tế), thì còn song hành sánh bước, thì còn đồng chí đồng rận, thì còn tình quốc tế vô sản. Bằng chứng là lãnh tụ các nước cộng sản chỉ kết thân với nhau hay với lãnh tụ các nước độc tài, ôm hôn nhau thắm thiết khi gặp gỡ, bênh vực và bốc thơm nhau tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc, viện trợ cho nhau tài lực vật lực bóc lột từ đồng bào của mình, đàn áp chính quốc dân đang tố cáo hay phản đối mưu đồ xâm lược của “nước lớn đại huynh”… để giúp nhau củng cố ngai quyền lực, ghế thống trị. Còn nếu tranh chấp quyền lợi, rắp tâm tố cáo lẫn nhau, hoặc tiểu đồng chí hết chịu nổi đại đồng chí thì thanh toán, thủ tiêu trong nội đảng, giữa hai đảng (như bao thí dụ trưng dẫn trên kia) hay rộng hơn thì gây chiến giữa hai quốc gia, hai dân tộc mà có thể đã từng thề thốt với nhau là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, từng đề cao với nhau chuyện “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, từng xưng tụng với nhau đặc tính “sơn thủy tương liên, văn hoá tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương quan”.

Bất biết nghĩa đồng bào, tình đồng chí, một chỉ quan tâm đến mối đồng lõa, đó là bản chất của những con người cai trị, của những chính đảng lãnh đạo đặt quyền lợi của mình lên trên quyền lợi dân tộc, và dùng quyền lực của mình không phải để phục vụ mà là để bóc lột quốc gia đất nước. Và lịch sử nhân loại đã cho thấy Cộng sản chính là mẫu hình đặc trưng, tiêu biểu cho thực thể này.

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận

số 191 (15-03-2014