Tổng số lượt xem trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn dân chủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dân chủ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016

Có quyền nhưng bất lực

Phạm Duy Hiển


NGỌC VIỆT

(GDVN) - Một lãnh đạo khi có quyền nhưng bất lực thì mọi cố gắng cũng chỉ như bèo bọt.

Tình hình chính trị sau bầu cử tại Venezuela không nằm ngoài dự đoán của giới quan sát, khi phe đối lập giành chiến thắng áp đảo và kiểm soát Quốc hội lần đầu tiên sau 17 năm, đảng cầm quyền rơi vào vị thế đối lập tại cơ quan lập pháp nước này.

Tuy nhiên, căng thẳng ở chỗ Tổng thống Nicolas Maduro đang nắm quyền hành pháp mâu thuẫn với Quốc hội lập pháp do phe đối lập chi phối. Sau hàng thập kỷ với tâm trạng ấm ức vì những chiến thắng luôn như bị đánh cắp bởi Hugo Chavez và hậu bối của ông, nên nay phe đối lập đã thể hiện sự phấn khích quá mức.

Với Tổng thống Maduro dù đang nắm quyền bính nhưng vị thế lại rất yếu vì niềm tin của người dân dành cho ông đang ở mức thấp nhất. Nguyên nhân chính là do ông kém tài, làm cho cuộc sống của người dân khốn khó, gây nên bất ổn xã hội và đó cũng là nguyên nhân khiến đảng cầm quyền của ông thất bại trong cuộc bầu cử Quốc hội vừa qua.

Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro. Ảnh: newsnow.gy

Trước khi diễn ra bầu cử Quốc hội Venezuela, giới quan sát hy vọng ông Maduro sẽ hành động theo tinh thần của “một Thein Sein thứ hai”, đặt lợi ích của người dân và đất nước lên trên để có những hành xử phù hợp với thời và thế của mình. Nhưng đến nay thì xem ra điều đó đã không trở thành hiện thực.

Nhiều người cho rằng ông Maduro đang trong nhiệm kỳ Tổng thống hợp hiến, hợp pháp thì ông có quyền sử dụng sức mạnh nhà nước để khẳng định vai trò của mình. Tuy nhiên, với ông Maduro bây giờ chức vụ Tổng thống của ông chỉ là vị thế, là chức năng mà thôi.

Lúc này ông Maduro không còn đóng vai trò tương xứng với vị thế Tổng thống – nghĩa là người dân không còn trông chờ ông sẽ làm được gì tốt hơn cho họ với tư cách tổng thống được nữa.

Làm gì tốt hơn được nữa khi trước đây ông và đảng của ông nắm quyền hành pháp, điều hành lập pháp và chi phối hệ thống tư pháp mà cũng chẳng làm nên được điều gì tốt cho người dân. Tất cả những hành động của Tổng thống Maduro lúc này nếu không biết kiềm chế sẽ gây họa cho người dân, cho đất nước và rước họa cho chính bản thân ông.

Còn quyền nhưng bất lực

Trong chính trị học khái niệm quyền lực gắn với hai vế của một mệnh đề. Một định chế được xác lập, hình thành hay tồn tại chỉ có quyền khi mọi tiến trình đi đến việc nắm quyền, trao quyền phải phù hợp với Hiến pháp và pháp luật. Nghĩa là quyền hành chỉ có khi nó được xác lập phù hợp với hệ thống quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, quyền ấy sẽ không có lực, nghĩa là không thể là công cụ điều hành và quản lý xã hội nếu nó không tụ hợp được sức dân. Nghĩa là cán cân quyền và lực sẽ do sức mạnh của luật pháp và sức mạnh của lòng dân quyết định. Lực sẽ không được phát huy nếu không có quyền, nhưng quyền sẽ chẳng là gì cả nếu không có lực.

Ông Maduro được bầu làm Tổng thống Venezuela trong một cuộc bầu cử tự do, nghĩa là ông đã được có quyền bính một cách hợp hiến, hợp pháp. Tuy nhiên, do kém tài nên càng ngày ông càng bị mất niềm tin trong mắt người dân Venezuela, và sức mạnh lòng dân đã không còn được hội tụ về với quyền năng của ông nữa. Kết quả cuộc bầu cử Quốc hội đã chứng minh cho ông biết điều ấy.

Tình thế của ông Maduro lúc này là còn quyền nhưng bất lực. Có thể ông hiểu rằng ông đang đứng đầu chính phủ, là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang nên quyền lực của ông còn rất mạnh. Đây là một sai lầm. Chính phủ của ông không còn được người dân tin tưởng. Còn sức mạnh quân đội là để bảo vệ đất nước và duy trì luật pháp.

Phe thắng cử nắm quyền tại Quốc hội không vi hiến thì ông không thể dùng quân đội để thể hiện sức mạnh với họ. Nhưng nếu ông sử dụng sức mạnh quân đội không phải bảo vệ thể chế mà chỉ là bảo vệ cho cá nhân ông thì có thể ông sẽ bị truất quyền. Còn với người dân Venezuela sức mạnh của chế độ không nằm ở quân đội, mà nằm ngay trong lòng họ.

Vậy một người cầm quyền, có quyền mà không thể sử dụng quyền năng thì nên phải làm gì? Chắc ông Maduro cũng nghĩ tới điều ấy, nhưng ông chưa thể rời bỏ quyền bính có lẽ ngoài việc chưa trọn lời di huấn của Hugo Chavez.

Chừng nào còn tiếp tục ăn bám quá khứ, chừng đó khó hy vọng có tương lai tốt đẹp cho ông Maduro.

Còn một điều ông lo sợ nữa là có thể ông không còn cơ hội phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước Venezuela của ông nữa, nếu ông rời bỏ quyền hành lúc này.

Tuy nhiên, sự thể sẽ không là như vậy. Hiện tại ông Maduro và đảng của ông không còn được lòng dân chúng nên việc đầu tiên và quan trọng nhất là củng cố sức mạnh trong lòng dân. Khi đảng của ông lấy lại được uy tín với nhân dân thì lúc đó tự nhiên quyền lực sẽ về lại với ông và chính đảng của ông.

Nói cách khác nghĩa là ông hãy tập trung vào củng cố tổ chức vì đó là nhân tố đưa ông lên vũ đài chính trị và đảm bảo cho ông giữ được vị thế của quyền năng.

Nếu Maduro chỉ tập trung vào việc níu giữ quyền bính thì càng ngày ông càng mất quyền uy. Quốc hội sẽ không cần đảo chính ông vì có thể vi hiến. Người dân sẽ không biểu tình gây bạo loạn lật đổ ông vì họ sẽ thấy nguy cơ đổ máu. Nhưng nếu ông không sáng suốt thì sẽ tới lúc ông phải tự rời bỏ quyền hành trong một tư thế rất kém cỏi.

Tình thế của ông Maduro lúc này giống như tình thế của ông Mikhail Gorbachev khi cuộc đảo chính lật đổ ông ta vào ngày 19/8/1991 bị thất bại.

Lúc đó Gorbachev vẫn là Tổng thống Liên Xô, nhưng ông và chính phủ của ông không còn được người dân để ý tới. Khi đó nếu như Gorbachev từ chức Tổng thống Liên Xô, để tập trung củng cố lại Đảng Cộng sản Liên Xô với vai trò là Tổng bí thư thì sự nghiệp chính trị của ông ta chắc chắn sẽ không lụi tàn nhanh như vậy, theo nhận định của BBC ngày 26/12/1991.

Tuy nhiên Gorbachev đã làm ngược lại, cố bám giữ chức Tổng thống Liên Xô và đến ngày 25/12/1991 ông buộc phải tuyên bố từ chức vì quyền và lực của ông ta đều mất hết. Từ đó trở đi, ông Gorbachev vĩnh viễn không còn bất cứ cơ hội nào trở lại chính trường mà ông luôn khao khát.

Hy vọng đó là bài học cho ông Maduro trong việc quyết định tương lai chính trị của mình.

Muốn phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước thì không bao giờ là muộn

Nếu thực sự ông Maduro còn muốn cống hiến sức mình cho người dân, cho đất nước ông thì không bao giờ mất cơ hội nếu ông khẳng định được cái tâm và cái tầm của mình.

Nghĩa là Maduro phải thể hiện được ông là người tổ quốc Venezuela của ông cần tới. Trong hoạt động chinh trị thì không bao giờ sợ muộn mà chỉ sợ cơ hội chưa chín muồi.

Quốc hội Vnezuela giờ đã nằm dưới sự kiểm soát của phe đối lập. Ảnh: Reuters.

Những nhà chính trị có phương châm “lùi một bước để tiến hai bước” được xem là cẩm nang hành động cho những ai khát khao cống hiến nhưng không kịp thời vì chưa hội đủ điều kiện. Điều đó cũng khẳng định không có sự lỡ nhịp với thời cuộc. Phương châm đó đã giúp cho rất nhiều chính khách thành công trong cuộc đời làm chính trị của mình.

Với thất bại của đảng cầm quyền trong cuộc bầu cử Quốc hội vừa qua, với những thất bại của chính phủ trong quản lý và điều hành đất nước những năm qua, đã làm cho quyền lực của Tổng thống Maduro bị thách thức nghiêm trọng. Và ông Maduro có nguy cơ phải rời bỏ chính trường mặc dù ông không muốn.

Có lẽ lúc này với ông Maduro, việc ông có thể làm là tận dụng hình ảnh của cố Tổng thống Hugo Chavez để cứu vãn sự nghiệp chính trị của ông. Và ông Maduro đã làm điều ấy. Nhưng đây là một hành động hết sức sai lầm.

Thứ nhất, nó khẳng định Maduro quá bất tài – không xứng tầm lãnh đạo. Thứ hai, nó khẳng định Maduro quá nhẫn tâm – vì ông kéo cả thanh danh của người đã chết vào sự nghiệp chính trị đang xuống dốc của ông.

Hình ảnh của cố Tổng thống Hugo Chavez có thể sẽ nhạt nhòa trong lòng người dân Venezuela không phải vì họ phán xét lại lịch sử mà vì người được ông Hugo Chavez “chọn mặt gửi vàng” đang hủy hoại thanh danh của ông.

Maduro luôn thể hiện sự trung thành và tôn kính đối với Hugo Chavez nhưng thực ra ông chỉ xem vị cố Tổng thống là bàn đạp cho bước đường chính trị của mình.

Có thể khẳng định rằng, với tình thế hiện nay, không có bài học nào của cố Tổng thống Hugo Chavez cho ông Maduro học hỏi để vượt khó.

Tổng thống Nicaragua Daniel Ortega – tấm gương sáng cho ông Maduro. Ảnh: Dailysignal.

Tuy nhiên, ngay tại Châu Mỹ Latinh , trong lực lượng những nhà lãnh đạo cánh tả như ông vẫn có tấm gương sáng cho ông nhìn vào và học tập, nếu ông không muốn sự nghiệp của mình lụi tàn theo những cách thức tồi tệ nhất.

Đó là Tổng thống Daniel Ortega của Nicaragua. Ông Ortega từng là vị Tổng thống trẻ tuổi của Nicaragua trong nhiệm kỳ 1985-1990. Tuy nhiên, sau đó ông đã bị đánh bật khỏi chính trường vì mất đi sự ủng hộ của người dân đất nước này.

Nguyên nhân chính là ông Ortega có sai lầm và yếu kém trong quản lý và điều hành chính phủ, không mang lại cuộc sống tốt như kỳ vọng của người dân Nicaragua.

Nhưng Ortega đã không nản chí, ông đã quyết tâm làm lại từ đầu, mà việc quan trọng nhất là ông củng cố lại Mặt trận Giải phóng Quốc gia Sandinista (FSLN), tổ chức mà ông là lãnh đạo. Ông Ortega đã từng nói: "Tôi đã thay đổi và rút ra được những bài học rất quý giá từ quá khứ", theo BBC ngày 8/11/2006.

Và sau 16 năm, ông Ortega đã thành công khi giúp cho FSLN lấy lại được uy tín trong lòng người dân Nicaragua, còn bản thân ông được người dân đặt trọn niềm tin khi bầu chọn ông làm Tổng thống đất nước này hai nhiệm kỳ liên tiếp 2006 -2011 và 2012 – 2017.

Có thể thấy rằng, những thành công và thất bại của Tổng thống Nicaragua Daniel Ortega là một bài học quý giá nữa cho Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro lúc này.

Một lãnh đạo khi có quyền nhưng bất lực thì mọi cố gắng cũng chỉ như bèo bọt. Nhưng nếu ai thật sự khát khao cống hiến cho người dân, cho đất nước thì sẽ không bao giờ hết cơ hội nếu như không tự mình đánh mất đi những cơ hội ấy bởi những suy nghĩ thiếu sáng suốt và những việc làm thiếu nhân văn.
Nguồn: Báo Giáo dục.

Nói xấu, xúc phạm, căn cứ pháp lý nào chế tài?

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức
7-1-2016
Joschka Fischer là một chính khách Đức tên tuổi. Phát ngôn của ông tại một phiên họp Quốc hội Đức năm 1984 được cho là nổi tiếng nhất trong lịch sử chính trường Đức. Ông có nhân thân khá đặc biệt, sinh năm 1948, làm đủ nghề, kể cả lái tắc xi đến phụ việc cho hiệu sách. Trải qua tới 5 đời vợ êm thấm, đều nhan sắc, trẻ trung, sinh viên, phóng viên, làm phim. Năm 1983, là thành viên Đảng Xanh, ông trúng cử nghị sỹ Quốc hội. Rồi làm Phó Thủ tướng, Bộ trưởng ngoại giao Đức niệm kỳ 1998 – 2005. Rời chính trường ông chuyển sang nghề tư vấn, quảng cáo cho các tập đoàn tên tuổi Siemens, BMW, RWE.
Tại phiên họp Quốc hội nói trên, ông bị phó Chủ tịch Quốc hội Stücklen chủ toạ nhắc nhở nhiều lần do phát biểu chen ngang. Tới lúc thấy một nữ đồng nghiệp Đảng Xanh của mình bị phó Chủ tịch cắt ngang không cho phát biểu tiếp, ông liền nổi nóng to tiếng phản đối. Theo đúng Nội quy Họp Quốc hội, ai cắt ngang, xúc phạm hoặc gây mất trật tự, chủ toạ có quyền xử lý, buộc im lặng hoặc đuổi ra khỏi cuộc họp, lập tức phó Chủ tịch tuyên bố: “Ngài nghị sỹ Fischer, tôi không cho ngài tham gia tiếp tục phiên họp“. Fischer phản ứng: “Tốt nhất ngài hãy đuổi luôn tất cả nghị sỹ đi“. Stücklen kiên quyết: “Tôi xin tuyên bố tạm dừng cuộc họp cho tới khi ông Fischer ra khỏi hội trường“.
Mọi người lục tục đứng dậy giải lao. Fischer phẫn nộ, buột miệng chửi tục, xúc phạm: “Ngài Phó Chủ tịch như lỗ đít, nếu được phép nói thế (từ tục này tương tự như “cái con củ c…“ ở Việt Nam)“. Rất may cho Fischer, do giải lao nên câu nói đó không bị đưa vào biên bản cuộc họp, tức không bị chế tài bởi Nội quy, mà chỉ mang quan hệ cá nhân 2 bên. Ngày hôm sau, Fischer tuyên bố rút lại phát ngôn, xin lỗi đối phương, kết thúc vụ xúc phạm cá nhân. Ở họ, tội xúc phạm không có gì to tát gớm ghê, có thể tránh được chế tài, nếu biết phục thiện xin lỗi.
Quyền hiến định khen, chê, phê bình, chỉ trích, nhắm vào ai?
25 năm sau, ngày 13.12.2009, camera trích đoạn phát ngôn của Fischer quay cảnh phiên họp đó được đưa lên mạng, tới nay có hàng trăm nghìn người đọc và trên trăm bình luận khen chê chỉ trích đủ kiểu. Gậy ông đập lưng ông, Fischer thậm chí bị miệt thị bóng gió mang nghề tắc xi vào nghị trường, mà ông không làm gì được. Bởi, khác xúc phạm hay vu khống cá nhân, việc khen, chê, nói xấu, nói tốt, chỉ trích, phê bình, thuộc chuẩn mực quyền tự do tư tưởng (nằm trong đầu, không hại được ai), quyền tự do ngôn luận, biểu đạt (tiếng nói chẳng hại ai ngoại trừ xúc phạm vu khống) được hiến định.
Theo đó, (1) nhà nước không được phép ngăn cấm, nếu không bản thân nhà nước bị chế tài, hiến pháp sinh ra chính vì chức năng tối thượng đó; (2) quyền tự do ngôn luận biểu đạt ở đây được hiểu là biểu đạt về nhà nước, tức khen, chê, phê bình, chỉ trích nhân sự bộ máy của nó; chứ không phải trong phạm vi tình cảm gia đình, riêng tư với nhau vốn không thuộc phạm trù pháp lý. Hai nguyên tắc (1) và (2) lý giải tại sao ở các nước được xếp hạng dân chủ đầu bảng thế giới, các chính khách, quan chức, đảng phái, cơ quan nhà nước kể cả quyền lực cao nhất như Quốc hội, nguyên thủ như Tổng thống, luôn bị người dân soi mói, phê bình chỉ trích nói xấu sôi sục trên truyền thông, thậm chí thiêng liêng như đất nước, dân tộc cũng không ngoại trừ.
Như vụ ông bà Nguyễn cùng 3 con đã ở Đức 20 năm, nhưng không đủ điều kiện ở Đức theo luật cư trú, sau bao năm xét đi xét lại, tới năm 2011 mới trục xuất nổi về nước. Nhưng cực chẳng đã, ngay sau đó, Chính phủ tiểu bang Niedersachsen lại buộc phải đón trở lại trước áp lực bị dân chúng phản đối, phẫn nộ chấn động truyền thông, chỉ trích nhà nước và cá nhân bộ trưởng nội vụ không tim khi trục xuất 1 gia đình đã sống ở Đức lâu hoà nhập như người bản điạ. Thậm chí không ngần ngại chỉ trích cả dân tộc họ, “tôi thật xấu hổ là công dân Đức“.
Ngược lại, nhà nước không có quyền tự do đó đối với từng cá nhân người dân vốn được ràng buộc bởi quyền riêng tư và nhân phẩm được hiến pháp bảo vệ. Báo chí truyền thông có quyền chụp ảnh ghi âm bất cứ quan chức chính khách viên chức nào thực thi công vụ, bởi lúc đó họ không còn là cá nhân mà là công bộc nhà nước, ngược lại không được chụp ảnh cá nhân nào khi họ không cho phép, kể cả bị cáo trước toà.
Như mới đây, tại Bonn, Đức, một người dạo bộ thả chó chạy tự do trong một khu bảo tồn cấm chó rông, bị một người thiện nguyện bảo tồn thiên nhiên trông thấy lén chụp ảnh gửi tới cảnh sát tố cáo. Nhận được công văn thành phố nhắc nhở, đương sự lập tức kiện ra toà đòi cấm chụp ảnh cá nhân họ. Với án số AZ. 5 S 47/14, Tòa án Landgericht Bonn đứng về nguyên đơn với lập luận bị đơn xâm phạm quyền riêng tư của nguyên đơn vốn chỉ được phép chụp khi để bảo vệ lợi ích của mình liên quan. Nhưng ở đây thực thi luật bảo vệ thiên nhiên là trách nhiệm của cơ quan nhà nước chứ không phải của người thiện nguyện (không phải cứ của nhà nước ai cũng được phép làm, dù động cơ tốt).
Tự do ngôn luận là động lực phát triển của xã hội loài người
Tự do ngôn luận, khen chê, nói xấu, nói tốt, phê bình chỉ trích không chỉ mang nghĩa quyền cơ bản mà ý nghĩa sâu xa hơn thế nhiều, thiếu nó dân tộc, quốc gia, xã hội loài người không thể cân bằng, phát triển; thậm chí không có cả khoa học vốn bắt buộc phải có phản biện, bác bỏ hay khẳng định. Ngay mới đây, chính Thủ tướng Merkel, Đức, cũng bộc lộ ý kiến cá nhân mình đối với dân tộc bà, khi phát biểu, nước Đức này không còn là của bà nữa, “nếu người dân Đức gặp người tỵ nạn bằng bộ mặt kém thân thiện“.
Đối với EU cũng vậy, tại cuộc họp nguyên thủ các quốc gia EU cuối tháng trước, Thủ tướng Merkel bảo vệ quan điểm xích lại gần Thổ Nhĩ Kỳ: “Một khi không nói được với nhau, người ta có thể thể hiện ý kiến chỉ trích của mình qua truyền thông vốn hiệu qủa nhất. Nhưng như vậy thường cũng chưa đủ giải quyết vấn đề. Đã hợp tác chiến lược với nhau thì chúng ta phải thẳng thắn công khai đặt ra câu hỏi, hoặc nhấn mạnh vấn đề cần giải quyết hay chỉ trích trực diện“. Hay gần đây, ở Mỹ, ứng cử viên Tổng thống Donald Trump trong một cuộc vận động tranh cử, lên tiếng chỉ trích Tổng thống đương nhiệm Obamar là “người nhu nhược, không dành đủ tâm sức bảo đảm an ninh đất nước“.
Ranh giới giữa quyền tự do ngôn luận và xúc phạm
Còn ở ta đang có vấn đề, khi vừa qua liên tiếp xảy ra các vụ xử lý, phạt công dân phát ngôn chỉ trích quan chức, cơ quan công quyền. Chỉ với câu: “Ông chủ tịch này cái mặt kênh kiệu, xa lánh dân nhất trong các thời chủ tịch An Giang“, so với từ ở Đức “bộ trưởng không tim“, hay “người nhu nhược“ chẳng thấm vào đâu, chưa nói từ “lỗ đít“ Fischer dùng để xúc phạm, mà 2 người, cô giáo Lê Thị Thùy Trang, tổ trưởng ngữ văn Trường THPT Long Xuyên là người viết, ông Nguyễn Huy Phúc, nhân viên Điện lực An Giang có tài khoản Facebook đăng, bị phạt 5 triệu đồng, còn bà Phan Thị Kim Nga vợ ông Phúc, Phó Văn phòng Sở Công Thương “câu like“ bị kỷ luật cảnh cáo về đảng và chính quyền. Tới trường hợp cô Dương Hải Âu, giáo viên mỹ thuật trường tiểu học Tân Hiệp, Thạnh Hóa, Long An, bị Đảng ủy xã yêu cầu kiểm điểm sau khi chê một cây cầu của xã trên Facebook, “Trưa nay, một cán bộ quản lý trường tôi trên đường đi công tác về thì gặp tai nạn khi qua cầu. Thử hỏi có ai nhìn thấy được cảnh nơm nớp lo sợ hay mọi nguy hiểm luôn đe dọa với người dân đi trên con đường này“. Căn cứ xử phạt được viện dẫn văn bản dưới luật, khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013 của Chính phủ: Nếu cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì bị phạt 10-20 triệu đồng.
Điều khoản trên đã sử dụng những khái niệm khó định lượng nên dễ bị vận dụng khác nhau tùy thuộc nhận thức của người hành xử, như từ kênh kiệu liệu có xúc phạm hay không, gây phân biệt, bất công, oan sai; người này nói không sao người kia nói bị tội.
Có thể so sánh với tội xúc phạm ở Đức, được quy định bởi Bộ luật hình sự, chứ không phải dưới luật như ta, tại Điều §185, §194. Theo đó, hình phạt có khung từ phạt tiền hoặc tù tới 1 năm, nếu kèm cả hành động tới 2 năm. Khái niệm xúc phạm được giới hạn, đó là dùng những từ ngữ chỉ đối phương kém giá trị nhân phẩm như thằng ngốc, thằng ngu…, con chó con lợn, cái lỗ đít…, với điều kiện người đó nghe rõ hiểu được. Nghĩa là nếu cũng phát ngôn xúc phạm nhưng (1) đối phương không nghe được hay thông qua người khác, hoặc (2) có nghe nhưng không hiểu từ ngữ đó, hoặc (3) xảy ra trong phạm vi tình cảm thân nhân, gia đình, đều không thuộc tội xúc phạm. Tội xúc phạm chỉ bị xử phạt khi và chỉ khi có đơn của nạn nhân kiện lên toà án, bởi đây là quan hệ giữa 2 cá nhân, ngay cả khi họ ở cương vị nhà nước. Nếu công chức bị xúc phạm khi hành xử thì đơn đó phải do cấp trên họ đệ trình. Vụ xử phạt 3 công chức ở An Giang tội nói xấu chủ tịch tỉnh vừa sai khái niệm PHỔ QUÁT về chỉ trích phê bình nói xấu nhầm sang khái niệm xúc phạm, vừa sai cả thủ tục tố tụng khi chủ tịch An Giang không hề lên tiếng kiện cáo; không mang tính răn đe vốn chỉ cần xin lỗi là kết thúc như trường hợp Fischer. Tố tụng như vậy gây thiệt hại uy tín cho đất nước, mang tiếng với thế giới cản trở quyền tự do ngôn luận, trong khi chỉ do hành xử của những cá nhân chức quyền trên gây ra.
Tham khảo cơ chế xử lý tội xúc phạm ở Đức
Đã gọi là tội thì phải theo trình tự tố tụng do luật hình sự quy định, các cơ quan hành chính nhà nước không được quyền xử phạt, mà thuộc thẩm quyền ngành tư pháp. Còn nếu áp dụng biện pháp hành chính thì đương sự phải được quyền chống lại bằng cách viện tới toà. Có thể tham khảo vụ kiện 1 tổ chức hội đoàn người Việt, mang tên Liên hiệp người Việt ở Đức đăng lên trang mạng họ một bài viết dùng lời lẽ xúc phạm, vu khống cá nhân diễn ra năm 2013. Nạn nhân là bà TTM Chủ tịch Hội đồng thành viên, đòi BCH Liên hiệp gỡ bỏ, nhưng họ không có bản lĩnh của Fischer để nhận lỗi, tỏ ra bất cần. Chỉ lúc này pháp luật mới cần đến để chế tài.
Luật sư của nạn nhân lập tức đệ đơn lên toà án Amtsgericht Berlin-Lichtenberg đòi toà chiểu theo Điều § 935 ff, § 91 Luật ZPO ra án quyết khẩn cấp: 1) Cấm Liên hiệp, đại diện bởi ông NVT Chủ tịch và ông VQN Phó Chủ tịch, đăng tải xúc phạm, vu khống cá nhân người bị hại trên trang web Liên hiệp: “Bà TTM, Chủ tịch Hội đồng Thành viên đã luôn cản trở các hoạt động của BCH, gây rối, làm mất đoàn kết trong nội bộ và cộng đồng“. Nếu không sẽ bị phạt tiền tới 250.000 Euro hoặc phạt tù đến 6 tháng. 2) Án quyết có hiệu lực tức thì. 3) Bị đơn phải gánh chịu án phí. Theo luật định về án quyết khẩn cấp, toà phải thụ lý ngay, lên lịch xét xử. Sau 2 tuần, phiên toà mở xét xử chỉ mất 15 phút với án quyết số 3 C 1004/13, nội dung (lược trích): “Bài viết xúc phạm bị phản đối đã được gỡ bỏ. Bên bị cam kết sẽ không đưa lên truyền thông nữa, nhất là trên trang mạng của Liên hiệp“. Vụ xúc phạm kết thúc như trường hợp Fischer, chỉ khác phải nhờ cậy tới công đường – biện pháp cuối cùng bất đắc dĩ, nhà nước cần đến để bảo đảm công lý khi người dân cần, chứ không nhằm mục đích trừng phạt.
Thực ra loài người, ai ai cũng có mồm miệng, nên chắc chẳng ai chống nguyên lý tự do ngôn luận cả, mà chỉ chống sự tự do đó của người khác khi thấy nó gây bất lợi cho mình vốn dễ dàng thực hiện khi nắm quyền lực. Vì vậy để quyền tự do ngôn luận đóng vai trò động lực phát triển của xã hội loài người không bị kìm hãm bởi người nắm quyền lực biến nó thành xúc phạm, ở ta cần cải cách cả Bộ luật Hình sự liên quan, lẫn trình tự tố tụng đối với tội xúc phạm theo chuẩn mực PHỔ QUÁT của các nước văn minh từng đi trước chúng ta đã tích lũy được.
(Xem bài cùng chủ đề đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn)

Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

Câu Chuyện Đầu Năm: Thoát Khỏi Sợ Hãi

Viet-studies
Nguyễn Quang Dy
2-1-2016
Không phải quyền lực làm tha hóa mà là sợ hãi. Sợ mất quyền lực làm tha hóa những người nắm quyền và sợ cái gậy quyền lực làm tha hóa nhữg người bị nó cai trị…” (Aung San Suu Kyi, diễn văn nhận giải thưởng Sakharov về Tự do Tư tưởng, 7/1991)
“Thóat khỏi sợ hãi” không phải là một ý tưởng mới, nhưng Aung San Suu Kyi đã làm mới và đúc kết nó lại thành một lý thuyết mới và niềm tin vững chắc, không những dựa trên triết lý Phật giáo và các tri thức phổ quát khác, mà còn dựa vào trải nghiêm của chính bản thân minh đã bị chính quyền độc tài quân sự đầy đọa suốt hai thập kỷ bằng quản thúc biệt lập. Lý thuyết này đã được Suu Kyi trình bày rõ trong bài luận “Thoát khỏi sợ hãi” (1990) và các bài viết, bài giảng, bài phỏng vấn khác trong những năm qua, để chia sẻ với người dân Miến Điện và thế giới bên ngoài, trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ vì tự do, dân chủ và nhân quyền, bằng đấu tranh bất bạo động. Muốn học hỏi kinh nghiệm của người Miến Điện (do Suu Kyi va NLD lãnh đạo) đã giành được thắng lợi to lớn trong cuộc tổng tuyển cử vừa qua, điều cần thiết là phải hiểu rõ “Thoát khỏi sợ hãi” thực sự có ý nghĩa gì, và chúng ta phải làm thế nào để ứng dụng đươc lý thuyết và kinh nghiệm đó vào thực tế của mình.

Động lực và nguồn cảm hứng
Các bậc tiền bối cách mạng Việt Nam (như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chi Minh, v.v.) đã đi tìm đường cứu nước để giành độc lập tự do bằng cách vượt biển sang Phương Tây (và Phương Đông) để tìm lối thoát “từ thế giới bên ngoài”. Ít nhất lúc đó họ còn được tự do đi lại. Nhưng Aung San Suu Kyi (cũng như Martin Luther King và Nelson Mandela) đã bị giam cầm biệt lập với thế giới bên ngoài. Nhưng họ đã không chịu khuất phục và bất lực trước hoàn cảnh, đã không bỏ phí thời gian, họ nghiền ngẫm tìm lối thoát “từ thế giới bên trong”, trước hết là giải phóng tư tưởng cho chính mình (ngay khi đang bị giam).
Suu Kyi kể lại, chính trong nhũng năm tháng bị quản thúc mà bà đã có thời gian tìm hiểu về bản chất “Sáu Nỗi khổ Lớn” (trong Đạo Phật): Sinh, lão, bệnh, tử, xa cách những người thân, và buộc phải sống chung với những người mình không thích. Chính hai điều cuối đã làm bà giác ngộ về nỗi khổ của chính bản thân mình và trách nhiệm của mình đối với nỗi khổ của người dân Miến Điện, quyết tâm dấn thân để giải thoát khỏi những nỗi khổ đó. Suu Kyi tin rằng “bất cứ nơi nào nỗi khổ bị bỏ qua thi nơi đó có mầm mống xung đột bởi vi nỗi khổ sẽ làm con người sa đọa, thù hận và bạo hành”
Không phải Suu Kyi chỉ đi tìm nguồn cảm hứng và lối thoát từ triết lý đạo Phật mà còn từ những tri thức phổ quát khác. Có lẽ bà đã tìm thấy mẫu số chung giữa triết lý đạo Phật và Tuyên ngôn Nhân quyền của LHQ. “Bỏ qua và coi thường nhân quyền đã dẫn đến những hành đông man rợ làm lương tri loài người phẫn nộ, nên LHQ tuyên bố rằng việc tạo ra một thế giới trong đó con người được tự do ngôn luận, tự do tin ngưỡng, thoát khỏi sợ hãi và thiếu thốn là nguyện vọng cao nhất của con người”. (Lời nói đầu của Tuyên ngôn Nhân quyền của LHQ)
Không thể thoát khỏi ngu dốt nếu chúng ta không được tự do đi tìm sự thật không bị khống chế bởi sợ hãi. Với mối liên quan chặt chẽ giữa sợ hãi và tham nhũng, không có gì là khó hiểu trong một xã hội mà sợ hãi bao trùm thì mọi hình thức tham nhũng sẽ ăn sâu bám rễ. Nếu chúng ta không thoát khỏi sợ hãi, chúng ta sẽ không thể để lại cho con cháu một tương lai mà chúng ta muốn chúng được hưởng.
Suu Kyi cũng tin rằng một cuộc cách mạng chỉ nhằm thay đổi chính sách và thể chế chỉ để cải thiện điều kiện vật chất thì sẽ không có cơ hội thành công thực sự. “Tầm nhìn của chúng ta về một thế giới phù hợp với loài người văn minh và có lý trí sẽ làm cho chúng ta dũng cảm chịu hy sinh để xây dưng một xã hội không thiếu thốn và không sợ hãi. Không thể coi thường những tiêu chí như sự thật, công lý và cảm thông vì những giá tri này thường là chỗ dựa duy nhất chống lai cường quyền”.
Trong số những quyền tự do cơ bản mà con người vươn tới, thì quyền thoát khỏi sợ hãi là cao nhất, vừa là phương tiện vừa là mục tiêu. Một dân tộc muốn xây dựng đất nước mình trên cơ sở những thể chế dân chủ lành mạnh được thiết lập vững chắc như một đảm bảo đối với quyền lực nhà nước, truớc tiên phải giải phóng tư tưởng cho chính mình khỏi vô cảm và sợ hãi. Muốn thoát khỏi sợ hãi, phải dũng cảm. Có người được trời phú cho “không biết sợ” (fearless), nhưng có lẽ chúng ta cần hơn cả lòng dũng cảm được tôi luyện qua thử thách, lòng dũng cảm bắt nguồn từ thói quen không chịu để sợ hãi điều khiển hành động của mình, có thể gọi đó là “sự bình thản trước thách thức”
Cơ sở lý luận
Trong bài “Thoát khỏi sợ hãi”, Suu Kyi phân tích, “Trong một chế độ phủ nhận sự tồn tại của nhân quyền, sợ hãi có xu hướng trở thành quy luật. Sợ bị bỏ tù, sợ bị tra tấn, sợ bị chết, sợ mất bạn bè, gia đình, tài sản hay phương tiện sống, sợ nghèo đói, sợ bị cô lập, sợ thất bại. Nhưng có một loại sợ khó nhận diện nhất núp dưới cái vỏ hiểu biết, thậm chí khôn ngoan, là mọi hành động dũng cảm nhỏ bé hàng ngày giúp ta duy trì lòng tự trọng và nhân cách con người thường bị lên án là dại dột, khinh suất, tầm thường, hay vô ích. Rất khó để những người bị sợ hãi khống chế theo nguyên tắc cai trị là “chân lý thuộc về kẻ mạnh” có thể tự giải phóng mình khỏi nỗi sợ ngột ngạt làm con người hèn yếu. Nhưng ngay trong bộ máy nhà nước hà khắc nhất thì lòng dũng cảm vẫn không ngừng trỗi dậy, vì sợ hãi không phải thuộc tính của con người văn minh”.
Suu Kyi chưa bao giờ nói rằng nền dân chủ là một hệ thống hoàn hảo, bởi vì con người chúng ta không hoàn hảo. Chúng ta không có khả năng sản sinh ra một hệ thống hoàn hảo. Nhưng Suu Kyi cho rằng sự không hoàn hảo đó cũng là điều hay và là một thách thức. Nếu chúng ta đều hoàn hảo cả thì thế giới này sẽ nhàm chán vô cùng. Điều quan trọng là chúng ta phải khắc phục sự không hoàn hảo của xã hội, của pháp luật và tập quán đã làm khổ chúng ta và làm xói mòn nhân phẩm.
Suu Kyi tin rằng “lòng nhân ái có thể thay đổi cuộc sống con người” và bà kêu gọi hãy “chung tay tạo ra một thế giới yên ổn trong đó mọi người có thể ngủ yên giấc và thức dậy trong hạnh phúc”. Theo Suu Kyi, lòng vị tha trong đạo Phật là tâm điểm của quá trình dân chủ hóa. Có lẽ bà chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các lãnh tụ dân quyền chủ trương bất bạo động như Martin Luther King và Mahatma Gandhi.
Ý tưởng đấu tranh bất bạo động của họ thực ra không khác tư tưởng của các bậc hiền tài trong lịch sử Việt Nam như Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại cáo” (1248), “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Suu Kyi cũng lập luận tương tự, “Khi người ta không có súng trong tay thì phải cố gắng sử dụng cái đầu của mình, phải dùng cảm xúc và trí tuệ để tìm ra giải pháp”. Có lẽ đây chính là ý tưởng “sức mạnh mềm” (hay sức mạnh thông minh).
Dường như các quan điểm chính trị này đã được giới khoa học và nghiên cứu lâu nay chia sẻ hoặc thừa nhận. Darwin nói (1872) sợ hãi là cảm xúc trầm cảm nhất trong mọi cảm xúc… Einstein cũng nói (1938) rằng mọi hành động có ý thức của chúng ta đều bắt nguồn từ ham muốn và sợ hãi…Như vậy, sợ hãi là cảm xúc nguyên thủy nhất trong mọi cảm xúc và có vai trò chính trong sự phát triển của bộ não, từ khi sinh ra cho đến suốt cuộc đời còn lại.
Trong cuốn sách “Tổ chức Không có Sợ hãi” (The Fear-free Organization, Kogan Page 2015), giáo sư Paul Brown, một nhà khoa học Anh, đã nghiên cứu yếu tố sợ hãi trong bối cảnh 8 cảm xúc cơ bản (Sợ hãi, Buồn phiền, Giận dữ, Kinh tởm, Thích thú, Vui vẻ, Yêu thương, Ngạc nhiên) để xem tại sao con người lại dễ sợ hãi và tại sao có thể vận dụng nó như một công cụ quản trị, bởi vì sợ hãi có vai trò lớn trong việc phát triển “cái tôi”. Nhưng ông cũng nói rằng tuy sợ hãi là thiết yếu để chúng ta tồn tại nhưng sợ hãi quá có thể hủy diệt chúng ta, bởi vì sợ hãi sẽ thôi thúc chiến đấu hoặc bỏ chạy…
Ông cho rằng, “Tất cả chúng ta sinh ra đã biết sợ: đó là do một phần cấu trúc thần kinh. Có một số thứ đáng sợ mà có lẽ về di truyền chúng ta đã được chuẩn bị từ trước để sợ…” Các nhà khoa học gọi đó là “thuyết chuẩn bị” (LeDoux, 1996). “Nhưng lại có những thứ chúng ta phải học mới biết sợ…” Vì vậy, chủ đề chính trong cuốn sách mà ông và các cộng sự viết là nhằm tạo ra một lý thuyết mới về con người và tổ chức, dựa trên việc sơ đồ hóa dòng chảy của năng lượng của con người trong tổ chức (thông hay tắc), để tìm cách quản trị nó một cách có lợi trong hệ thống tổ chức đó.
Paul Brown lập luận rằng những người lãnh đạo tạo ra sự khác biệt thường dũng cảm và có lòng tin, họ tin vào chính mình và tin vào những nhân sự chủ chốt trong tổ chức. Nó dựa trên sự tin cậy chứ không phải sợ hãi. Sợ hãi là trở ngại, còn quan hệ nhân ái là giải pháp. Bằng chứng nghiên cứu về thần kinh học cho thấy sợ hãi sẽ hủy diệt trong khi tin cậy sẽ sáng tạo. Ông tin rằng phát triển đột phá của khoa học trong thê kỷ 21 là từ ngành thần kinh sinh vật học (neurobiology)
Thực vậy, ngày 2/4/2013, tại Nhà Trắng, Tổng thống Barack Obama đã công bố chương trình nghiên cứu về bộ não (The BRAIN Initiative) với cam kết kinh phí ban đầu cho năm tài khóa 2014 là 110 triệu USD. Ông gọi chương trình này là “dự án lớn tiếp theo của Mỹ” (the next great American project) sau dự án nghiên cứu về “Sơ đồ Gien” (Genome Mapping project) để giúp các nhà khoa học tìm hiểu nguồn gốc và lý giải các hoạt động bí ẩn của bộ não (enigmatic brain activities).
Kinh nghiệm thực tế
Bài học Miến Điện
Miến Điện từng là thuộc địa của Anh, nhưng có lẽ người Miến Điện không căm thù và bài xích người Anh. Sau khi giành độc lập, người Miến Điện không phải chống người Anh như người Việt Nam phải chống người Pháp (vì chúng “muốn chiếm nước ta một lần nũa”). Cũng như Ấn Độ, người Miến Điện chịu ảnh hưởng nhiều của ngôn ngữ Anh và văn hóa Anh. Tuy Miến Điện có nhiều mâu thuẫn sắc tộc và tôn giáo nên cần một chính quyền trung ương và quân đội mạnh để giữ gìn an ninh trật tự, nhưng có lẽ chế độ độc tài quân sự chỉ là ngoại lệ, chứ không phải là truyền thống.
Việc hiến pháp (do quân đội soạn thảo) cấm người có vợ chồng con cái là người nước ngoài làm tổng thống chỉ là một thủ đoạn chính trị để đối phó tình huống (với Aung San Suu Kyi), chứ có lẽ không phải là truyền thống văn hóa bài ngoại. Điều khoản này chắc sẽ phải bỏ, vì sau tuyển cử thắng lợi Suu Kyi đã tuyên bố thẳng thừng là sẽ “ở trên tổng thống”. Đa số các sỹ quan cao cấp, trí thức, và doanh nhân Miến Điện đều học các trường của Anh, nên việc lấy người nước ngoài không phải hiếm.
Việc đa số lãnh đạo quân đội và phe đối lập đều là trí thức là một tiền đề quan trọng và may mắn để hai phía có thể hòa giải. Tuy lãnh đạo quân đội trở thành độc tài, tham nhũng, mất lòng dân, nhưng vì họ là trí thức có hiểu biết nên có thể nhận ra sai lầm để chấp nhận đàm phán và thỏa hiệp. Đạo Phật và trí thức là hai yếu tố thuận lợi cho đấu tranh bất bạo động và hòa giải dân tộc ở Miến Điện.
Khi đàm phán có hai tiền đề quan trọng là phải xây dựng lòng tin (không nuốt lời hứa và không trả thù) và hai bên phải theo luật chơi (dựa trên luật pháp hay quy tắc ứng xử). Nếu hai bên tiếp tục lo sợ, nghi ngờ, thù hận thì không thể có lòng tin. Nếu hai bên không ứng xử có văn hóa thì sẽ không tôn trọng luật chơi (sẽ chơi theo luật rừng). Nói cách khác, muốn hòa giải và thỏa hiệp, thì phải từ bỏ cực đoan và thù hận. Người Miến Điện có thể làm đươc, liệu người Việt Nam có làm được không?
Bài học Trung Quốc
Tâm lý lo sợ, nghi ngờ thường dẫn đến hành động cực đoan, bạo liệt. Đó không phải chỉ là đặc thù của chế độ độc tài cộng sản Trung Quốc, mà còn là hệ quả của dân trí thấp, do bị kiểm duyệt chặt chẽ bởi những người cộng sản vô học và vô đạo, luôn hành xử một cách cực đoan và cuồng tín. Tại sao họ lại tra tấn và tàn sát lẫn nhau không thương tiếc trong Cách mạng Văn hóa? Tại sao họ lại đàn áp sinh viên một cách dã man không thương tiếc tại Thiên An Môn? Họ bị xô đẩy bởi tâm trạng lo sợ và tư duy cực đoan.
Vụ đàn áp hàng loạt phái Pháp Luân Công (từ năm 1999) và chiến dịch “Thu hoạch Đẫm máu” (Bloody Harvest) mổ lấy nội tạng sống của họ đem bán lấy tiền (dưới thời Giang Trạch Dân và những kẻ khác) đã bị dư luận lên án là tội ác khủng bố chống loài người, như “quả bom nổ chậm” trong hồ sơ nhân quyền Trung Quốc. Tại sao người ta có thể đối xử mất nhân tính như vậy đối với đồng loại (như thời Trung cổ)? Có lẽ lo sợ và lòng tham đã đã xô đẩy những lãnh đạo cực đoan phạm tội ác man rợ này.
Trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc cũng bị xô đẩy bởi mối lo sợ (tiềm ẩn) và cơ hội thực dụng (trước mắt). Một lãnh đạo TQ đã nói thẳng thừng, “Phải chống đế quốc Mỹ đến cùng, nhưng cách chống tốt nhất là hợp tác với họ”. Đó là quan điểm thực dụng theo kiểu “mèo trắng mèo đen, miễn là bắt được chuột” của Đặng Tiểu Bình. Về chiến lược lâu dài, Mỹ vẫn là kẻ thù chính, nhưng về lợi ích trước mắt, Trung Quốc có thể trục lợi bằng hợp tác với Mỹ theo chính sách “tham dự một cách xây dựng” (constructive engagement) để phát triển kinh tế (nhưng không thay đổi chính trị), cho đến khi đủ mạnh để trở mặt thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ và thay đổi nguyên trạng, bằng chia sẻ hay tranh giành quyền lực.
Trong vụ Vương Lập Quân chạy vào Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô (năm 2012, vì lo sợ đến tính mạng) người Mỹ đã hợp tác với Tập Cận Bình để giúp ông ta xử lý các đối thủ chính trị (như Bac Hi Lai và Chu Vĩnh Khang cùng đồng bọn, được Giang Trạch Dân ngầm ủng hộ) trong chiến dich “đả hổ diệt ruồi”. Tập Cận Binh đã lợi dụng chống tham nhũng để củng cố quyền lực, vì lo ngại nếu không diệt đối thủ thì sẽ bị đối thủ tiêu diệt. Đấy là bản chất của đấu tranh quyền lực cực đoan.
Nay Tâp Cận Binh đã củng cố xong quyền lực của mình, và Trung Quốc đã trở thành siêu cường kinh tế thứ hai trên thế giới, nên ông ta quyết định thực hiện “Giấc mộng Trung hoa” bỏ qua lời khuyên của Đặng Tiểu Bình là phải chờ thời. Ông ta cho rằng đã đến lúc trở mặt thách thức Nhật Bản (ở phía Đông) và thách thức Mỹ và ASEAN (ở phía Nam) vì tin rằng Biển Đông vừa là cơ hội tốt vừa là nguồn lợi lớn, cần dùng sức mạnh thách thức vị trí đứng đầu của Mỹ tại khu vực. Ông ta lo sợ cơ hội tốt tại Biển Đông có thể tuột mất nếu không hành động ngay (trước khi Mỹ và Việt Nam trở thành đồng minh chiến lược). Tập Cận Bình muốn kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan để rửa nỗi nhục trong quá khứ, và làm giảm áp lực căng thẳng trong nước bằng cách gây căng thẳng bên ngoài để bành trướng.
Trong thập niên 1950 và 1960 khi Việt Nam và Trung Quốc còn gắn bó như “môi với răng”, Việt Nam đã bắt chước đường lối cực đoan và quá khích của Trung Quốc trong “Cải cách Ruộng đất” và đàn áp “Phong trào Nhân văn Giai phẩm”. Việt Nam đã bị xô đẩy bởi chủ nghĩa Mao cực đoan và bạo liệt, nhầm lẫn giữa ý thức hệ và lợi ích dân tộc. Đầu năm 1979, Trung Quốc đã quyết định “dạy Viêt Nam một bài học”, xô đẩy người Việt Nam vào vòng tay người Nga (cũng như đang xô đẩy VN vào vòng tay người Mỹ hiện nay). Đến 9/1990, Viêt Nam lại bị xô đầy vào vòng tay Trung Quốc một lần nữa (tại Thành Đô), cũng bởi vì quá lo sợ và nhầm lẫn về ý thức hệ với lợi ích dân tộc. Còn bây giờ, sau vụ dàn khoan HD 981 sẽ là cái gì tiếp theo thì chưa ai biết rõ. Chỉ biết Việt Nam vẫn đang mắc kẹt ở ngã ba đường.
Bài học Việt Nam
Trong khi tại Miến Điện (hay Thái Lan) Phật giáo vẫn là quốc giáo, được cả chính quyền và người dân tôn trọng, thì tại Việt Nam (hay Trung Quốc) Phật giáo bị chính quyền thao túng để kiểm soát vì lo sợ. Kết quả là Phật giáo bị xâm nhập, phân hóa, thương mại hóa, ngày càng suy thoái trở thành “mạt pháp”. Do đó, Phật giáo không còn là nền tảng văn hóa cho tập quán và hành xử tử tế của con người trong cộng đồng, nên ngày càng nhiều người hành xử một cách vô đạo (bạo lực và dối trá)
Vì thiếu nguồn đào tạo bài bản và có nhân cách trí thức, nên giới trí thức nhỏ bé và phân tán của Viet Nam càng dễ bị vô hiệu hóa và phân hóa, có vai trò khá mờ nhạt trong xã hội. Số lượng bằng cấp và học vị thì rất nhiều và rất cao, nhưng đáng tiếc đa số đều là học dối và bằng gian, hoặc chất lượng thấp. Đặc biệt là trong giới lãnh đạo và quan chức thì điều này lại càng phổ biến, rất hiếm trí thức thực thụ. Đây là một khoảng cách trí thức (intellectual gap) giữa Việt Nam với các nước khác (kể cả Miến Điện). Nhiều người cho rằng hầu như không thể tìm được một nhân vật nào như Aung San Suu Kyi.
Vi lý do này (và những lý do khác) Viêt Nam không phải chỉ là một chế độ độc tài, mà còn là một xã hội bị phân liệt, vì cả dân thường lẫn các các thành phần chính trị ưu tú cũng không theo một chuẩn mực ứng xử nào đàng hoàng hay rõ ràng (mà như “luật rừng”). Nó phản ánh tâm lý lo sợ, bất an, nghi ngờ, xô đẩy họ ứng xử với thói quen đối phó tình huống trước mắt, chỉ để tồn tại (chứ không phải để phát triển), dẫn đến những hành động bất thường, cực đoan, và bạo liệt.
Trong quan hệ với Mỹ, mối lo “diễn biến hòa bình” khá nặng nề, vừa do Trung Quốc xúi bẩy (từ bên ngoài), vừa do “tâm trạng cố thủ” (từ bên trong), như một hệ quả của chiến tranh. Mối lo này còn tăng lên gấp đôi vì mối đe dọa (vừa thật vừa phóng đại) của “các thế lực thù địch và phản động” trong cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ và phương Tây, như “Mặt Trận” do Hoàng Cơ Minh cầm đầu (trước đây) cũng như “đảng Việt Tân” (hiện nay) mà cả hai được nói đến trong phim “Terror in Little Saigon”.
Ngay cả khi Việt Nam rất cần hợp tác với Mỹ để tham gia sân chơi TPP và nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ để tái cân bằng với Trung Quốc và đối phó với mối đe dọa ngày càng lớn tại Biển Đông, thì mối lo sợ Mỹ can thiệp vẫn còn ám ảnh. Tâm lý này được giải tỏa một phần khi Tổng Bí thư Đảng CSVN đến thăm chính thức Washington gần đây, được tổng thống Mỹ đón tiếp long trọng, với những lời đảm bảo chính thức không can thiệp vào nội bộ. Nhưng mối lo ngại về Trung Quốc và Mỹ vẫn tiếp tục làm lãnh đạo Việt Nam lúng túng, không dám quyết định dứt khoát đi theo hướng nào.
Trong nước, chính quyền lo đối phó với bất đồng và phản kháng ngày càng nhiều của người dân, do bị các nhóm lợi ích thân hữu (được độc quyền nhà nước che chở) chiếm đoạt ruộng đất và tài sản, và do kinh tế suy thoái vì quản lý yếu kém và tham nhũng tràn lan, lại bị ám ảnh bởi những thay đổi rung chuyển gần đây tại Trung Đông và Miến Điện. Tất cả tạo nên sức ép ngày càng lớn lên giới lãnh đạo và các thể chế chính trị đang bị phân hóa sâu sắc bởi lợi ích nhóm và tranh cãi về ý thức hệ, làm cho đấu tranh phe phái và tranh giành quyền lực càng bị phân hóa và trở nên cực đoan hơn trước.
Tuy đấu tranh phe phái và tranh giành quyền lực là chuyện bình thường tại các nước, nhưng nó trở nên bất bình thường tại Việt Nam vì hiểm họa Trung Quốc đã chuyển từ tiềm ẩn thành hiện thực kể từ khi họ quyết định lấn chiếm và kiểm soát Biển Đông bằng cách đem dàn khoan HD 981 vào vùng biển của Viêt Nam (nên 5/2014 là một bước ngoặt). Họ san lấp các đảo và xây dựng các công trình quân sự trên các đảo tại khu vực Trường Sa và Hoàng Sa, thách thức ASEAN, Mỹ và cộng đồng quốc tế.
Đại hội XII đứng trước một thách thức lớn vì nó diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Trung đang khủng hoảng và Biển Đông đang trở thành thùng thuốc súng. Nó đòi hỏi lãnh đạo Việt Nam phải quyết định chọn con đường nào: Đổi mới cơ bản và toàn diện vì lợi ích quốc gia để mạnh lên từng bước “thoát Trung”, hay tiếp tục mù quáng đi theo con đường mòn Thành Đô lệ thuộc vào Trung Quốc theo “định hướng XHCN”. Trong khi cương lĩnh chính trị và kinh tế của Đảng chẳng đưa ra được cái gì mới, thì lãnh đạo chỉ chúi đầu vào vấn đề nhân sự để tìm mọi cách giành giật cái ngôi báu đã mục nát. Tại hội nghị trung ương 13 (và 14) trước Đại hội Đảng (từ 20-28/1/2016) tuy họ ráo riết giành thế thượng phong nhằm chiếm vị trí cao nhất, nhưng vẫn bế tắc chưa thỏa thuận được phương án về “bộ tứ”, không biết vì yếu tố bên trong (do không thỏa hiệp được với nhau) hay vì yếu tố bên ngoài (do Trung Quốc can thiệp). Chỉ biêt rằng thù hận, lo sợ và tham lam sẽ tiếp tục đẩy họ vào ngõ cụt, nguy hiểm cho chính họ và cho đất nước.
Dù phái nào giành được thế thượng phong trong trò chơi quyền lực nhơ bẩn và cực đoan “một mất một còn” này, và dù ai trong số “bộ tứ” đang cầm quyền sẽ giành được vị trí đứng đầu tại Đại hội XII sắp tới, thì nhân dân sẽ thua và đất nước này sẽ còn khổ, nếu chẳng có ai trong số họ thực sự muốn cải cách cơ bản và “thoát Trung”. Trong khi đó, Trung Quốc một lần nữa lại đang trùm cái bóng đen lên sân khấu chính trị Việt Nam khi Chủ tịch Quốc hội VN đột ngột đi thăm Trung Quốc (21/12/2015), làm dấy lên lo ngại là Trung Quốc có thể can thiệp trực tiếp vào nội bộ Việt Nam để ủng hộ phái thân Trung Quốc khi trận đấu cuối cùng sắp diễn ra tại Hà Nội vào cuối tháng này. Một bức tranh thật ảm đạm!
Những diễn biến nguy hiểm này đang là tâm điểm thời sự, nhưng là vùng “nhạy cảm” đối với “báo chí lề phải”, ngày càng trở nên bất lực do bị kiểm duyệt chặt chẽ. Vì vậy, các phe phái đang lợi dụng cả báo chí “lề trái” để đánh nhau, vì hiệu quả hơn. Việc xuất hiện trang mạng bí ẩn “Chân dung Quyền lực” là một ví dụ. Sự phát triển nhanh chóng của truyền thông kỹ thuật số và các mạng xã hội đang trở thành mối lo đối với bộ máy tuyên giáo lạc hậu của Đảng, đang lúng túng không biết kiểm soát thế giới mạng như thế nào. Hiện nay, mối lo “tự diễn biến” là sự nối tiếp của mối lo “diễn biến hòa bình” trước đòi hỏi về dân chủ và nhân quyền đang tăng lên (sau thỏa thuận TPP) sẽ trở thành thực tế trong 2016.
Nói cách khác, người Việt Nam đã “sống trong sợ hãi” quá lâu nên sợ hãi trở thành một phần cuộc sống và họ có thể thấy khó sống nếu thiếu sợ hãi (giống như những người nghiện xem phim ma). Khi người Miến Điện bắt đầu “thoát khỏi nỗi sợ” để hòa giải, như thoát khỏi một đường hầm dài, thì người Việt nam vẫn đang mắc kẹt trong đường hầm tối đen. Hà Nội càng chìm đắm vào những mưu đồ chính trị trước Đại hội Đảng, thì nó lại càng giống “thung lũng sợ” với đủ mọi loại sợ trên đời.
Muốn chơi với Mỹ thì sợ mất lòng Trung Quốc và sợ “diễn biến hòa bình”; Muốn tham gia TPP thì sợ dân chủ và nhân quyền; Chấp nhận xã hội dân sự thì sợ “tự diễn biến”; Thích nhận kiều hối nhưng sợ “các thế lực thù địch”; Chống tham nhũng (đánh chuột) thì sợ “vỡ bình”; Phải minh bạch thì sợ “lộ bí mật nội bộ”; Tiếp dân thì sợ “dân khiếu kiện”; Kêu gọi dân góp ý thì sợ “trí thức phản biện”; Sử dụng mạng thì sợ truyền thông “lề trái”; Thích đấu đá nội bộ, nhưng lại sợ mất ghế…
Tóm lại là chúng ta sợ tất cả, sợ một cách cực đoan và tiêu cực. Không phải chỉ có người dân mà cả chính quyền vẫn đang “sống trong sợ hãi”. Vì vậy, nếu không “thoát khỏi sợ hãi” thì đất nước này không thể “thoát Trung”, dân tộc này không thể thoát khỏi nghiệp chướng “tù binh của quá khứ”, tiếp tục mắc kẹt trong đường hầm và hang tối của ý thức hệ, không có lối thoát.
Thay cho lời kết
Sợ hãi và cực đoan là bạn đồng hành, và là hệ quả của nhau, như câu chuyện “con gà và qủa trứng”, không biết cái nào có trước hay có sau. Sợ hãi và cực đoan là hai mặt của một vấn đề, như “âm bản và dương bản”, một cái phản ánh trạng thái cảm xúc, một cái phản ánh trạng thái tư duy. Cả hai luôn tương tác với nhau trở thành nguồn năng lượng tiêu cực, có khả năng phá hủy khôn lường. Cả hai kết hợp với nhau thành một tai họa kép, là nguyên nhân sâu xa của mọi tai họa trên đời.
Muốn chống cực đoan phải thoát khỏi sợ hãi, và muốn thoát khỏi sợ hãi phải chống cực đoan, không phải chỉ từ bên ngoài mà còn từ bên trong (chính mình). Muốn chống bạo lực, khủng bố, chiến tranh, và muốn hòa giải, hòa hợp, hòa bình và hợp tác, trước hết phải thoát khỏi tâm trạng sợ hãi và hận thù , phải thoát khỏi tư duy cực đoan và cuồng tín, để thực sự thay đổi trước khi quá muộn.
Hãy tự hỏi tại sao thừa nhận nỗi sợ hãi lại khó đến thế. Có lẽ còn khó hơn là thừa nhận sai lầm và thất bại. Tuy nỗi sợ hãi có thể là thuộc tính của Con người Nguyên thủy, nhưng không phải là thuộc tính của Con người Văn minh. “Thoát khỏi sợ hãi” là giải phóng mình khỏi hang động tối tăm (như “Tù binh của Qúa khứ”) để ra bên ngoài hưởng ánh sang mặt trời.
Tham khảo
“Freedom from Fear” essay, Aung San Suu Kyi, 1990
“Freedom of Thought” speech, Aung San Suu Kyi, July 1991
“Nobel prize acceptance lecture”, Aung San Suu Kyi, Oslo, June 16, 2012
“Sakharov prize acceptance speech”, Aung San Suu Kyi, Strasbourg, October 22, 2013
“Obama announces huge Brain-Mapping project, Stephanie Pappas, Live Science, April 2, 2013
“The Fear-free Organization”, Paul Brown, Joan Kingsley, Sue Paterson, July 2015
NQD. 2/1/2016
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 2-1-16

Nhà nước và xã hội dân sự VN cùng bước

image
Xã hội dân sự Việt Nam trong năm 2016 có nhiều nhân tố hứa hẹn tăng rộng quy mô và chiều sâu của các hoạt động, tổ chức và sự 'chuyển biến' đáng kể trong nhận thức của lãnh đạo chính quyền, nhà nước và người dân.

Đó là ý kiến của một số chuyên gia, nhà quan sát và vận động cho xã hội dân sự chia sẻ với BBC ngày 31/12/2015, ngày mà Việt Nam cùng các quốc gia thành viên Asean chứng kiến cộng đồng kinh tế Asean (AEC) chính thức thành lập.

Trước hết, đánh giá chung về phát triển của xã hội dân sự ở Việt Nam trong năm 2015, Tiến sĩ Phạm Quang Tú, Trưởng nhóm Chương trình Hỗ trợ Liên minh Vận động Chính sách của Tổ chức Oxfam Việt Nam, nói:

art education vincent van gogh van gogh art history
"Trong năm 2015, chúng ta thấy một điểm quan trọng nhất đó là xã hội dân sự của Việt Nam tăng rộng hơn về quy mô. Tức là các hoạt động, cũng như các tổ chức được thành lập nhiều hơn. Và các tổ chức dân sự cũng đã tham gia một cách tích cực hơn vào những vấn đề trọng đại của đất nước.

"Bên cạnh những hoạt động truyền thống của xã hội dân sự là các công tác thí dụ như xóa đói giảm nghèo, phát triển cộng đồng, thì các tổ chức xã hội dân sự trong thời gian qua, trong năm qua, tập trung nhiều hơn vào các vấn đề ví dụ như quản trị nhà nước, rồi vấn đề về nhân quyền."

Tín hiệu đáng mừng

image
Xã hội dân sự ở Việt Nam đã có chiều hướng phát triển đi lên trong ít nhất 5 năm trở lại đây, với nhiều thay đổi nhận thức khá tích cực ở giới lãnh đạo, theo ý kiến quan sát.

Tiến sĩ Phạm Quang Tú cho rằng trong năm 2015 đã có những 'tín hiệu đáng mừng' về xã hội dân sự Việt Nam, mà trong đó có phát huy vai trò trong lĩnh vực hỗ trợ xây dựng luật pháp và đảm bảo quyền con người. Ông nói:

"Đặc biệt cùng với việc ban hành Hiến pháp năm 2013 và thực thi Hiến pháp năm 2013, thì các tổ chức xã hội dân sự đã tham gia khá là tích cực vào trong việc đóng góp để hoàn thiện khung thể chế, khung pháp lý của Việt Nam, trong việc thực thi Hiến pháp của Việt Nam năm 2013.

"Mà đặc biệt các quy định liên quan đến các vấn đề về quyền con người, bao gồm những việc ví dụ ban hành luật, một số đạo luật có liên quan, ví dụ như Luật tiếp cận thông tin, Luật về Hội, rồi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật."

image
"Như vậy, trong năm vừa qua, về cơ bản, xã hội dân sự tiếp tục phát triển cả về quy mô, cũng như các hoạt động của họ, cũng đi vào rộng hơn và có chiều sâu hơn.
"Và đặc biệt một tín hiệu rất đáng mừng là các hoạt động của xã hội dân sự không chỉ bó hẹp ở những hoạt động mang tính chất truyền thống, là xóa đói giảm nghèo mà nó mở rộng ra các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến quyền con người."
Cũng hôm thứ Năm, Tiến sĩ Trần Tuấn, chuyên gia phản biện chính sách và nhà quan sát xã hội dân sự từ Liên hiệp hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (Vusta), nhận xét:

"Về điểm son mà nhận thấy, chúng ta thấy rằng xã hội dân sự cũng đã tạo ra những dấu ấn, mà tôi cho rằng những dấu ấn ấy cũng đã tạo ra được những kết quả thực tế để cho mọi người nhìn nhận vào cái lợi ích thiết thực đem lại cho xã hội khi chúng ta công nhận xã hội dân sự.

way educational ailane photographs propellers
"Đấy là hiện tượng chặt cây xanh vừa rồi của Hà Nội. Tôi cho rằng đấy là một tiếng nói cụ thể, rõ ràng và đưa lại hiệu quả, tốt, từ đó nó có thể tạo ra một niềm tin rằng là nếu chúng ta biết tận dụng xã hội dân sự, đứng về phía (góc nhìn) chính quyền, thì chúng ta có thể đưa lại kết quả, lợi ích cộng đồng lớn, đồng thời phía xã hội dân sự, cũng có thể nhận thấy một sự đồng lòng và cùng hợp tác, đáp ứng nhanh những vấn đề nóng của xã hội."

Triển vọng năm 2016

Về triển vọng 2016 của xã hội dân sự ở Việt Nam, ông Phạm Quang Tú nói:
"Thực ra bức tranh của xã hội dân sự Việt Nam trong năm 2016, thì nó cũng chưa có những tín hiệu mà được gọi là phát triển một cách đột phá hay là nó sáng sủa hơn và chủ yếu thì có lẽ nó vẫn tiếp tục duy trì cái đà và hoạt động của năm 2015.

image
TS Trần Tuấn (giữa) cho rằng xã hội dân sự Việt Nam có xu hướng phát triển đi lên nếu nhìn lại ít nhất trong năm 5 vừa qua.

"Tuy nhiên cũng có những tín hiệu, tôi nghĩ rằng nó có một số cơ hội mà để cho xã hội dân sự của Việt Nam tiếp tục tăng cường hoạt động của nó, đặc biệt trong năm 2016 có mấy điểm quan trọng như thế này:

"Thứ nhất là Quốc hội và Chính phủ tiếp tục ban hành và hoàn thiện các luật, các thể chế, các luật pháp mà để thể chế hóa Hiến pháp 2013, dự kiến ví dụ như là luật tiếp cận thông tin sẽ được ban hành vào khoảng tháng Ba, luật về Hội sẽ được ban hành vào tháng Mười, và các luật như Luật Biểu tình cũng sẽ được thảo luận trong năm tới.

"Đấy là cái đà mà tiếp tục phát huy những hoạt động của năm 2015, thì xã hội dân sự có lẽ vẫn tiếp tục tham gia đóng góp vào trong các lĩnh vực, các luật pháp quan trọng như vậy.

future black and white design 3d education
"Bên cạnh đó năm 2016 là năm đầu tiên đánh dấu Cộng đồng Asean sẽ chính thức trở thành một cộng đồng từ ngày hôm nay (31/12/2015), thì có lẽ đó cũng là một tín hiệu tốt để cho tổ chức xã hội dân sự của Việt Nam tham gia với các xã hội dân sự ở trong khu vực, để làm sao đấy thúc đẩy, tiếp tục thúc đẩy tiếng nói của người dân, của cộng đồng lên, không chỉ là riêng với chính phủ, với lãnh đạo của Việt Nam, mà nó lại lên ở tầm mức cao hơn.

"Đó là cộng đồng Asean mà chúng tôi cũng rất trông chờ về việc là Asean khi mà chính thức hóa, thì nó sẽ có cơ chế cấp khu vực, để bên cạnh cơ chế cấp quốc gia, thì sẽ có cơ chế cấp khu vực, để có thể ghi nhận và thúc đẩy các quyền, rồi những vấn đề của người dân."

Tiến sĩ Trần Tuấn từ Vusta nêu quan điểm:
"Chúng ta vẫn luôn đặt hy vọng tích cực, tôi vẫn cho rằng một hy vọng tích cực, mặc dù bây giờ chúng ta tương đối khó đoán, nhất là khi mà Đại hội Đảng (CSVN) còn chưa diễn ra và Quốc hội khóa mới sẽ được thiết lập thế nào, nhưng mà qua quá trình, chúng tôi gọi là nhìn chiều hướng diễn tiến của xã hội dân sự, trong vào khoảng 5 năm vừa qua, thì có thể thấy rằng sự diễn tiến đó vẫn theo chiều hướng đi lên, nếu chúng ta so với trước đây."

Chuyển biến nhận thức

Về nhận thức của người dân, cộng đồng và nhiều tổ chức xã hội dân sự về chính thiết chế này, Tiến sĩ Phạm Quang Tú nói:

image
Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng đã có chuyển biến trong nhận thức của giới lãnh đạo và chính quyền ở Việt Nam về xã hội dân sự.

"Một trong những điểm mà chúng tôi nhận thấy rằng sự chuyển biến trong nhận thức của người dân và cộng đồng đối với xã hội dân sự thì thực ra chưa chuyển biến nhiều lắm, qua đánh giá về 'Không gian xã hội dân sự' mà được thực hiện vừa rồi, cũng như qua việc khảo sát ở dân chúng về Luật về Hội, thì cho thấy rằng, phần lớn là giới tinh hoa của xã hội dân sự quan tâm đến vấn đề phát triển xã hội dân sự, thúc đẩy phát triển của xã hội dân sự và làm sao đấy tạo ra một sự cân bằng, hài hòa giữa xã hội dân sự với hai trụ cột kia (nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường).

"Thế tuy nhiên, còn lại phần lớn người dân, cũng như kể cả các tổ chức xã hội dân sự họ vẫn chưa nhận thức được đầy đủ về vai trò, vị trí của xã hội dân sự trong mối tương quan với nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường. Cho nên trong thời gian vừa qua, khi Luật về Hội được thảo luận, cũng chỉ có một số bộ phận tinh hoa của xã hội dân sự tham gia đóng góp tích cực, phần lớn người dân vẫn chưa có một sự chuyển biến rõ nét nào.

animation science zombie original math
"Thì hy vọng rằng trong năm 2016, các giới tinh hoa của xã hội dân sự cũng như của nhà nước sẽ tiếp tục thúc đẩy, để đưa vào trong nhận thức của xã hội, của người dân và cộng đồng về xã hội dân sự và vai trò của nó trong phát triển, để từ đó khi cộng đồng dân cư, người dân mà nhận thức được đầy đủ về vai trò của xã hội dân sự, thì tôi tin rằng sự thúc đẩy của xã hội dân sự phát triển nó càng tốt hơn và nó đúng với bản chất của nó hơn," tiến sĩ Phạm Quang Tú nói.

Cũng hôm 31/12, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà quan sát và vận động cho xã hội dân sự ở Việt Nam, bình luận với BBC về nhận thức của lãnh đạo và người dân Việt Nam về thiết chế xã hội này trong năm 2015. Ông nói:

"Tôi nghĩ rằng nó không có bước chuyển biến đột phá gì trong năm vừa qua, nhưng mà cứ từ từ, dần dần, thì tôi thấy rằng những người ở trong giới chính quyền, thí dụ như là trong các Đại biểu Quốc hội, những người ở trong hành pháp, ngày càng nhiều người hiểu hơn rằng xã hội dân sự không phải là cái mà nó chỉ có đối lập, chỉ có muốn dẹp bỏ chế độ.

"Nó là một nhân tố rất cần thiết cho sự phát triển xã hội và là một nhân tố cần thiết cho bản thân nhà nước này và có thể giúp họ giải quyết rất là nhiều vấn đề gay cấn của xã hội mà việc cản trở nó phát triển thì chỉ làm cho bản thân công việc của họ khó khăn mà thôi. Tôi nghĩ rằng sự hiểu biết dần, sự tiệm tiến đó, tôi nghĩ rằng rất là quan trọng, nguyên Viện trưởng Viện phản biện độc lập (IDS), ông Nguyễn Quang A

art education vincent van gogh van gogh art history

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2016

Ông Vũ Ngọc Hoàng bàn về kiểm soát quyền lực

“Khẩn trương nghiên cứu để sớm có các bước đi phù hợp, cụ thể, tích cực nhằm  đổi mới về chính trị, như việc kiểm soát quyền lực bằng quyền lực nhà nước, bằng cơ chế dân chủ, thông tin đại chúng và tự do ngôn luận, đổi mới quản lý nhà nước và phương thức lãnh đạo của Đảng,…”
___
TuanVietNam
1-1-2016
Ông Vũ Ngọc Hoàng. Nguồn: TVN
Ông Vũ Ngọc Hoàng. Nguồn: TVN
LTS: Tuần Việt Nam/báo VietnamNet trân trọng giới thiệu tới quí vị bài viết đầu năm của ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung Ương có tựa đề: Ba mươi năm đổi mới: Nhìn lại và suy ngẫm.
Cần sớm đổi mới về chính trị, như việc kiểm soát quyền lực bằng quyền lực nhà nước, bằng cơ chế dân chủ, thông tin đại chúng và tự do ngôn luận, đổi mới quản lý nhà nước và phương thức lãnh đạo của Đảng,…
Công cuộc đổi mới do Đảng CSVN lãnh đạo đã giành được những thành tựu đáng kể, cải thiện tình hình nhiều mặt của đời sống xã hội; đưa đất nước vượt qua thời kỳ hết sức khó khăn và nghèo đói, trở thành một nước có thu nhập trung bình, thế và lực đã tăng nhiều.
Mặt khác, so sánh với thế giới và khu vực, đến nay, nước ta vẫn còn nhiều mặt tụt hậu, có mặt đã tụt hậu xa hơn so với một số nước. Cần khách quan và cầu thị, nhìn lại và suy ngẫm, để sắp tới tiếp tục công cuộc đổi mới một cách toàn diện, đồng bộ và căn bản hơn, nhằm tạo sự phát triển vượt bậc, hiệu quả cao và bền vững hơn.
Đã có các tổng kết, các con số, khá đầy đủ về 30 năm đổi mới, kể cả thành tựu, yếu kém và nguyên nhân, bài học. Tôi không nhắc lại mà chỉ xin nêu mấy suy nghĩ chắt lọc từ thực tiễn đổi mới để bạn đọc tham khảo.
Suy ngẫm cho thấu đáo, chắt lọc kỹ, nhiều người cùng thảo luận, dân chủ và công khai, thì cũng có nghĩa là, đổi mới còn cho ta một kết quả nữa, đó là kết quả trong sự phát triển tư duy của con người, nhất là những người lãnh đạo, quản lý và tầng lớp tri thức, để từ đó mà tiếp tục đi tới, xa hơn, bền hơn.
Nhìn thẳng sự thật
Để chuẩn bị tư tưởng cho cuộc đổi mới, lãnh đạo đất nước ngày ấy đã chủ trương phải nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật. Đây là chủ trương rất quan trọng, không né tránh thực tế, đối diện với nó để tìm cách giải quyết, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, không che dấu khuyết điểm mà công khai nó để mọi người cùng thấy, cùng khắc phục. Việc đó không làm Đảng mất uy tín như cách nghĩ cũ, mà ngược lại nhân dân và đảng viên thấy tăng niềm tin vì nghĩ rằng như vậy là bản lĩnh, là một Đảng mạnh và chắc chắn.
Đổi mới tiếp theo cũng vậy, trước tiên phải nhìn thẳng sự thật, để thấy cái sai, cái yếu kém và tụt hậu của nước ta. Không nhìn thấy những yếu kém và tụt hậu thì không thể khắc phục chúng. Muốn khắc phục tụt hậu thì trước tiên phải nhìn thấy mình tụt hậu. Sự thật là năng suất lao động xã hội, thu nhập đầu người, hiệu quả đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học công nghệ… của nước ta còn nhiều yếu kém và tụt hậu. Đổi mới không thể không tập trung giải quyết các vấn đề nêu trên.
Tư duy về giữ nước
Bước vào đổi mới, Đảng chủ trương trước tiên phải đổi mới tư duy. Đây là bước đi rất đúng. Không đổi mới tư duy sẽ không thể đổi mới trong công việc, trong hành động, hoặc nếu có chỉ là ngẫu hứng, bất chợt, cảm tính, không đủ cơ sở khoa học, có kết quả cũng không chắc chắn, hoặc kết quả mặt này lại trở ngại cho mặt kia.
Hoạt động đổi mới là hoạt động có mục đích, có tư duy, không thể tự  phát, phản ứng tức thì từng việc một, mà cần có cái nhìn tổng quát, có chiều rộng và tầm xa, chủ động trong nhiều bước đi nối tiếp nhau, tiến về phía trước, vượt lên phía trước, vượt lên chính mình.
Tất nhiên tư duy của con người không phải cùng lúc nghĩ hết được mọi việc, mà phải quan sát thực tiễn và nhìn ra thế giới, để tư duy được điều chỉnh và bổ sung liên tục. Tuy nhiên, đổi mới tư duy phải đi trước, có hệ thống, có cơ sở khoa học để bảo đảm thắng lợi, chứ không phải là để làm khác. Lúc đầu quả thật chúng ta có quan tâm việc dổi mới tư duy, rất tiếc là một thời gian sau đó tư duy bị chựng lại không tiếp tục đổi mới, cứ sợ “chệch hướng”, không dám đổi mới tiếp.
Người Việt Nam, từ cha ông để lại, tư duy về giữ nước  rất giỏi, không như thế thì làm sao ta có thể thắng được các đội quân lược từ phương Bắc và phương Tây mạnh hơn ta rất nhiều lần. Nói như vậy để tự hào, để thấy mặt mạnh của ta, và tất nhiên không được chủ quan, ngày nay sự phát triển về kỹ thuật công nghệ của thế giới đã có bước tiến rất xa, dẫn đến nhiều thay đổi về phương thức hoạt động của con người.Mặt khác, tư duy của người Việt Nam về sự phát triển thì không giỏi, chưa giỏi, còn nhiều mặt yếu kém. Nếu không phải thế thì tại sao cho đến nay, sau mấy ngàn năm lịch sử, thời kỳ hòa bình nhiều hơn chiến tranh, đất nước ta vẫn chưa phải là nước phát triển, thậm chí còn không ít mặt tụt hậu xa so với nhiều nước trên thế giới và khu vực.
 
Từ nay, trong đánh giá tình hình nên thường xuyên so sánh với các nước, và trên nền tảng của văn hóa dân tộc, văn hóa giữ nước mà chủ động và tích cực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, văn hóa phát triển.
“Lắng nghe” thực tiễn
Công cuộc đổi mới của chúng ta lúc đầu xuất phát từ thực tế, sau đó khái quát lên, bổ sung vào hoặc biến thành lý luận mới. Thực tế ấy cho phép nghĩ rằng, đổi mới phải bám sát vào thực tiễn, “đọc” kỹ thực tiễn, “lắng nghe” thực tiễn, từ trong đó mà nhìn cho rõ yêu cầu bức thiết của cuộc sống.
Cuộc sống luôn đặt ra cho chúng ta những vấn đề phải phúc đáp, đồng thời trong cuộc sống cũng luôn manh nha những câu trả lời, dù chưa đầy đủ, chưa toàn diện, nhưng có sức sống, bám rễ từ thực tiễn. Thực tiễn cũng là thước đo của chân lý.
Thực tiễn là người phản biện những lý thuyết, những chủ trương, từ đó mà vượt qua giáo điều, để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện và phát triển lý thuyết. Đó là người thầy giúp ta giàu có vốn kiến thức và còn giúp ta phương pháp tiếp cận để đi xa, vượt qua thời gian, vượt qua chính mình, vươn về phía trước.
Đem lại lợi ích cho dân
Cuộc sống và hoạt động của đại đa số nhân dân, đó chính là thực tiễn. Công cuộc đổi mới phải xuất phát từ những mong muốn thiết thực và chính đáng của nhân dân, đáp ứng những mong muốn ấy, từ đó mà tập họp rộng rãi mọi người, thành những phong trào tự nguyện. Trong đấu tranh giành lại đất nước, chiến tranh vệ quốc, với ngọn cờ dân tộc và dân chủ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành người lãnh đạo nhân dân.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, cũng phải phát huy truyền thống ấy, với ngọn cờ dân tộc và dân chủ để tiếp tục tiến lên. Vai trò lãnh đạo vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn đường hướng. Nhưng đổi mới phải là sự nghiệp của “trăm họ”, muôn dân. Nhân dân là mục tiêu và lực lượng của đổi mới. Đổi mới phải phục vụ nhân dân, đem lợi ích về cho nhân dân, từ đó mà có lực lượng lớn lao ở nhân dân.
Khi có lực lượng lớn lao thì mới có thể đạt kết quả to lớn, từ đó mà đáp ứng nhiều hơn cho mục tiêu phục vụ nhân dân. Những việc chẳng có lợi cho dân mà vẫn làm, gây phiền hà và tốn phí tiền thuế của dân thì đó không phải đổi mới, thậm chí là cản trở đổi mới.
Kiểm soát quyền lực
Xã hội và cuộc sống là một tổng thể gồm nhiều mặt có quan hệ hữu cơ với nhau. Không thể đổi mới lĩnh vực này mà không đổi mới lĩnh vực khác, gây gập gềnh và cản trở lẫn nhau. Nước ta chủ yếu mới đổi mới về kinh tế, mà cũng mới đi nửa đường, còn văn hóa và chính trị thì cơ bản chưa đổi mới, sắp tới cần đồng bộ và toàn diện trong công cuộc này.
Trung ương đã có Nghị quyết về đổi mới căn bản nền giáo dục, chuyển từ giáo dục truyền thụ kiến thức sang xây dựng nhân cách, phát triển năng lực và xây dựng một nền giáo dục mở, thực học. Đó là việc đúng, nhưng triển khai chậm và chưa chắc, có việc nửa chừng, có việc phải điều chỉnh nhiều mới có thể đi đến thành công. Các cơ quan có trách nhiệm cần tập hợp các chuyên gia để thực hiện cuộc đổi mới căn bản nền giáo dục này, gắn với xây dựng nền văn hóa giàu tính nhân văn và phát triển khoa học – công nghệ.
Khẩn trương nghiên cứu để sớm có các bước đi phù hợp, cụ thể, tích cực nhằm đổi mới về chính trị, như việc kiểm soát quyền lực bằng quyền lực nhà nước, bằng cơ chế dân chủ, thông tin đại chúng và tự do ngôn luận, đổi mới quản lý nhà nước và phương thức lãnh đạo của Đảng,…
Những ý kiến trên đây chắc chắn là chưa đủ, và cần phải thảo luận để điều chỉnh và bổ sung…
Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung Ương.  

Nhà nước và xã hội dân sự VN cùng đi

BBC
31-12-2015
Photo: Hoang Dinh Nam/ AFP
Photo: Hoang Dinh Nam/ AFP
Xã hội dân sự Việt Nam trong năm 2016 có nhiều nhân tố hứa hẹn tăng rộng quy mô và chiều sâu của các hoạt động, tổ chức và sự ‘chuyển biến’ đáng kể trong nhận thức của lãnh đạo chính quyền, nhà nước và người dân.
Đó là ý kiến của một số chuyên gia, nhà quan sát và vận động cho xã hội dân sự chia sẻ với BBC ngày 31/12/2015, ngày mà Việt Nam cùng các quốc gia thành viên Asean chứng kiến cộng đồng kinh tế Asean (AEC) chính thức thành lập.
Trước hết, đánh giá chung về phát triển của xã hội dân sự ở Việt Nam trong năm 2015, Tiến sỹ Phạm Quang Tú, Trưởng nhóm Chương trình Hỗ trợ Liên minh Vận động Chính sách của Tổ chức Oxfam Việt Nam, nói:
“Trong năm 2015, chúng ta thấy một điểm quan trọng nhất đó là xã hội dân sự của Việt Nam tăng rộng hơn về quy mô. Tức là các hoạt động, cũng như các tổ chức được thành lập nhiều hơn. Và các tổ chức dân sự cũng đã tham gia một cách tích cực hơn vào những vấn đề trọng đại của đất nước.
“Bên cạnh những hoạt động truyền thống của xã hội dân sự là các công tác thí dụ như xóa đói giảm nghèo, phát triển cộng đồng, thì các tổ chức xã hội dân sự trong thời gian qua, trong năm qua, tập trung nhiều hơn vào các vấn đề ví dụ như quản trị nhà nước, rồi vấn đề về nhân quyền.”

Tín hiệu đáng mừng

Xã hội dân sự ở Việt Nam đã có chiều hướng phát triển đi lên trong ít nhất 5 năm trở lại đây, với nhiều thay đổi nhận thức khá tích cực ở giới lãnh đạo, theo ý kiến quan sát. vn civil society archive.
Xã hội dân sự ở Việt Nam đã có chiều hướng phát triển đi lên trong ít nhất 5 năm trở lại đây, với nhiều thay đổi nhận thức khá tích cực ở giới lãnh đạo, theo ý kiến quan sát. vn civil society archive.
Tiến sỹ Phạm Quang Tú cho rằng trong năm 2015 đã có những ‘tín hiệu đáng mừng’ về xã hội dân sự Việt Nam, mà trong đó có phát huy vai trò trong lĩnh vực hỗ trợ xây dựng luật pháp và đảm bảo quyền con người. Ông nói:
“Đặc biệt cùng với việc ban hành Hiến pháp năm 2013 và thực thi Hiến pháp năm 2013, thì các tổ chức xã hội dân sự đã tham gia khá là tích cực vào trong việc đóng góp để hoàn thiện khung thể chế, khung pháp lý của Việt Nam, trong việc thực thi Hiến pháp của Việt Nam năm 2013.
“Mà đặc biệt các quy định liên quan đến các vấn đề về quyền con người, bao gồm những việc ví dụ ban hành luật, một số đạo luật có liên quan, ví dụ như Luật tiếp cận thông tin, Luật về Hội, rồi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.”
H1 
“Như vậy, trong năm vừa qua, về cơ bản, xã hội dân sự tiếp tục phát triển cả về quy mô, cũng như các hoạt động của họ, cũng đi vào rộng hơn và có chiều sâu hơn.
“Và đặc biệt một tín hiệu rất đáng mừng là các hoạt động của xã hội dân sự không chỉ bó hẹp ở những hoạt động mang tính chất truyền thống, là xóa đói giảm nghèo mà nó mở rộng ra các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến quyền con người.”
Cũng hôm thứ Năm, Tiến sỹ Trần Tuấn, chuyên gia phản biện chính sách và nhà quan sát xã hội dân sự từ Liên hiệp hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (Vusta), nhận xét:
“Về điểm son mà nhận thấy, chúng ta thấy rằng xã hội dân sự cũng đã tạo ra những dấu ấn, mà tôi cho rằng những dấu ấn ấy cũng đã tạo ra được những kết quả thực tế để cho mọi người nhìn nhận vào cái lợi ích thiết thực đem lại cho xã hội khi chúng ta công nhận xã hội dân sự.
“Đấy là hiện tượng chặt cây xanh vừa rồi của Hà Nội. Tôi cho rằng đấy là một tiếng nói cụ thể, rõ ràng và đưa lại hiệu quả, tốt, từ đó nó có thể tạo ra một niềm tin rằng là nếu chúng ta biết tận dụng xã hội dân sự, đứng về phía (góc nhìn) chính quyền, thì chúng ta có thể đưa lại kết quả, lợi ích cộng đồng lớn, đồng thời phía xã hội dân sự, cũng có thể nhận thấy một sự đồng lòng và cùng hợp tác, đáp ứng nhanh những vấn đề nóng của xã hội.”

Triển vọng 2016

Về triển vọng 2016 của xã hội dân sự ở Việt Nam, ông Phạm Quang Tú nói:
“Thực ra bức tranh của xã hội dân sự Việt Nam trong năm 2016, thì nó cũng chưa có những tín hiệu mà được gọi là phát triển một cách đột phá hay là nó sáng sủa hơn và chủ yếu thì có lẽ nó vẫn tiếp tục duy trì cái đà và hoạt động của năm 2015.
TS Trần Tuấn (giữa) cho rằng xã hội dân sự Việt Nam có xu hướng phát triển đi lên nếu nhìn lại ít nhất trong năm 5 vừa qua. corenarm.org.vn
TS Trần Tuấn (giữa) cho rằng xã hội dân sự Việt Nam có xu hướng phát triển đi lên nếu nhìn lại ít nhất trong năm 5 vừa qua. Ảnh: corenarm.org.vn
“Tuy nhiên cũng có những tín hiệu, tôi nghĩ rằng nó có một số cơ hội mà để cho xã hội dân sự của Việt Nam tiếp tục tăng cường hoạt động của nó, đặc biệt trong năm 2016 có mấy điểm quan trọng như thế này:
“Thứ nhất là Quốc hội và Chính phủ tiếp tục ban hành và hoàn thiện các luật, các thể chế, các luật pháp mà để thể chế hóa Hiến pháp 2013, dự kiến ví dụ như là luật tiếp cận thông tin sẽ được ban hành vào khoảng tháng Ba, luật về Hội sẽ được ban hành vào tháng Mười, và các luật như Luật Biểu tình cũng sẽ được thảo luận trong năm tới.
“Đấy là cái đà mà tiếp tục phát huy những hoạt động của năm 2015, thì xã hội dân sự có lẽ vẫn tiếp tục tham gia đóng góp vào trong các lĩnh vực, các luật pháp quan trọng như vậy.
“Bên cạnh đó năm 2016 là năm đầu tiên đánh dấu Cộng đồng Asean sẽ chính thức trở thành một cộng đồng từ ngày hôm nay (31/12/2015), thì có lẽ đó cũng là một tín hiệu tốt để cho tổ chức xã hội dân sự của Việt Nam tham gia với các xã hội dân sự ở trong khu vực, để làm sao đấy thúc đẩy, tiếp tục thúc đẩy tiếng nói của người dân, của cộng đồng lên, không chỉ là riêng với chính phủ, với lãnh đạo của Việt Nam, mà nó lại lên ở tầm mức cao hơn.
“Đó là cộng đồng Asean mà chúng tôi cũng rất trông chờ về việc là Asean khi mà chính thức hóa, thì nó sẽ có cơ chế cấp khu vực, để bên cạnh cơ chế cấp quốc gia, thì sẽ có cơ chế cấp khu vực, để có thể ghi nhận và thúc đẩy các quyền, rồi những vấn đề của người dân.”
Tiến sỹ Trần Tuấn từ Vusta nêu quan điểm:
“Chúng ta vẫn luôn đặt hy vọng tích cực, tôi vẫn cho rằng một hy vọng tích cực, mặc dù bây giờ chúng ta tương đối khó đoán, nhất là khi mà Đại hội Đảng (CSVN) còn chưa diễn ra và Quốc hội khóa mới sẽ được thiết lập thế nào, nhưng mà qua quá trình, chúng tôi gọi là nhìn chiều hướng diễn tiến của xã hội dân sự, trong vào khoảng 5 năm vừa qua, thì có thể thấy rằng sự diễn tiến đó vẫn theo chiều hướng đi lên, nếu chúng ta so với trước đây.”

Chuyển biến nhận thức

Về nhận thức của người dân, cộng đồng và nhiều tổ chức xã hội dân sự về chính thiết chế này, Tiến sỹ Phạm Quang Tú nói:
Tiến sỹ Nguyễn Quang A cho rằng đã có chuyển biến trong nhận thức của giới lãnh đạo và chính quyền ở Việt Nam về xã hội dân sự. vepr.edu.vn
Tiến sỹ Nguyễn Quang A cho rằng đã có chuyển biến trong nhận thức của giới lãnh đạo và chính quyền ở Việt Nam về xã hội dân sự. vepr.edu.vn
“Một trong những điểm mà chúng tôi nhận thấy rằng sự chuyển biến trong nhận thức của người dân và cộng đồng đối với xã hội dân sự thì thực ra chưa chuyển biến nhiều lắm, qua đánh giá về ‘Không gian xã hội dân sự’ mà được thực hiện vừa rồi, cũng như qua việc khảo sát ở dân chúng về Luật về Hội, thì cho thấy rằng, phần lớn là giới tinh hoa của xã hội dân sự quan tâm đến vấn đề phát triển xã hội dân sự, thúc đẩy phát triển của xã hội dân sự và làm sao đấy tạo ra một sự cân bằng, hài hòa giữa xã hội dân sự với hai trụ cột kia (nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường).
“Thế tuy nhiên, còn lại phần lớn người dân, cũng như kể cả các tổ chức xã hội dân sự họ vẫn chưa nhận thức được đầy đủ về vai trò, vị trí của xã hội dân sự trong mối tương quan với nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường. Cho nên trong thời gian vừa qua, khi Luật về Hội được thảo luận, cũng chỉ có một số bộ phận tinh hoa của xã hội dân sự tham gia đóng góp tích cực, phần lớn người dân vẫn chưa có một sự chuyển biến rõ nét nào.
“Thì hy vọng rằng trong năm 2016, các giới tinh hoa của xã hội dân sự cũng như của nhà nước sẽ tiếp tục thúc đẩy, để đưa vào trong nhận thức của xã hội, của người dân và cộng đồng về xã hội dân sự và vai trò của nó trong phát triển, để từ đó khi cộng đồng dân cư, người dân mà nhận thức được đầy đủ về vai trò của xã hội dân sự, thì tôi tin rằng sự thúc đẩy của xã hội dân sự phát triển nó càng tốt hơn và nó đúng với bản chất của nó hơn,” tiến sỹ Phạm Quang Tú nói.
Cũng hôm 31/12, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, một nhà quan sát và vận động cho xã hội dân sự ở Việt Nam, bình luận với BBC về nhận thức của lãnh đạo và người dân Việt Nam về thiết chế xã hội này trong năm 2015. Ông nói:
“Tôi nghĩ rằng nó không có bước chuyển biến đột phá gì trong năm vừa qua, nhưng mà cứ từ từ, dần dần, thì tôi thấy rằng những người ở trong giới chính quyền, thí dụ như là trong các Đại biểu Quốc hội, những người ở trong hành pháp, ngày càng nhiều người hiểu hơn rằng xã hội dân sự không phải là cái mà nó chỉ có đối lập, chỉ có muốn dẹp bỏ chế độ.
“Nó là một nhân tố rất cần thiết cho sự phát triển xã hội và là một nhân tố cần thiết cho bản thân nhà nước này và có thể giúp họ giải quyết rất là nhiều vấn đề gay cấn của xã hội mà việc cản trở nó phát triển thì chỉ làm cho bản thân công việc của họ khó khăn mà thôi. Tôi nghĩ rằng sự hiểu biết dần, sự tiệm tiến đó, tôi nghĩ rằng rất là quan trọng, nguyên Viện trưởng Viện phản biện độc lập (IDS), ông Nguyễn Quang A, nói với BBC.