Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

Dân chủ là gì? - KÝ SỰ HOA KỲ 4: VÌ DÂN, DO DÂN VÀ CỦA DÂN - Thứ nhân quyền mà giới độc tài yêu thích

KÝ SỰ HOA KỲ 4: VÌ DÂN, DO DÂN VÀ CỦA DÂN

Bài đọc liên quan:
+ Ký sự Hoa Kỳ 1: Người Việt và Hoa Kỳ
+ Ký sự Hoa Kỳ 2: Sự khác biệt của Hoa Kỳ
+ Ký sự Hoa Kỳ 3: Giải quyết những bất cập

Để hiểu tại sao người dân Hoa Kỳ sẵn sàng làm việc điên cuồng, đóng thuế nhiều và ăn chơi hết mình tôi xin tiếp tục chuỗi ký sự phần 4 này. Quyền của người dân được sống và mưu cầu hạnh phúc như hiến định ở Hòa Kỳ được xem là tối thượng. Cái hiến pháp mà cụ Hồ đã sao y bản chính để làm tuyên ngôn độc lập cho nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng chưa bao giờ thực hiện được trong 69 năm qua ở Việt Nam.

Câu chuyện Tôn Dật Tiên đưa ra chủ nghĩa Tam Dân - dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc - để làm nên nền Cộng Hòa ở Trung Hoa, kết thúc chủ nghĩa Phong Kiến kéo dài hàng ngàn năm, cũng chỉ là một cách sao chép lại hiến pháp Hoa Kỳ theo một hệ quả của nền Cộng Hòa của dân, do dân và vì dân làm ra.
Bất kỳ ai đến Hoa Kỳ cũng thấy thể chế Hoa Kỳ đúng mực của dân, do dân và vì dân. Trẻ sinh ra đi học đến 18 tuổi - là tuổi trẻ có thể tự lập làm ra tiền - thì được xã hội lo ăn học không tốn tiền. Người già trên 65 tuổi thì được lãnh tiền trợ cấp xã hội đủ để sống riêng hoặc ở các Dưỡng Lão Viện, dù người đó chưa bao giờ phải đóng một đồng thuế nào cho xã hội hoặc không thu nhập - no income - suốt cả đời, nhưng con cái họ vẫn được học hành đến thành đạt.
Để minh chứng rõ ràng cho cái vì dân của thể chế ở Hoa Kỳ, tôi xin ví dụ cụ thể một trường hợp. Tôi có người bạn đồng nghiệp thân thiết, từ thời ở Việt Nam di cư sang Hoa Kỳ. Vì không chịu hội nhập, nên gia đình anh thuộc dạng không có thu nhập - no income - chứ không phải thu nhập thấp - low income - nhưng 5 đứa con anh đã có 2 đứa vào Harvard với học bổng toàn phần. Hiện một đứa con đầu đang là năm cuối dược sỹ, và đứa thứ hai là học năm đầu bác sỹ. Ba đứa còn lại học phổ thông không tốn tiền. Anh ta hằng ngày chỉ lo đưa đón con cái học hành, và chăm sóc chúng nhờ vào sự giúp đỡ của các em của anh ta. Đây là một bi kịch, nhưng cũng là một minh chứng cho thể chế Hoa Kỳ quá tốt đẹp. Có nằm mơ anh ta ở Việt Nam cũng không thể lo cho con cái như hiện tại, dù anh ta là bác sỹ có tài ngày ấy và cả bây giờ, anh ấy về Việt Nam cũng không thiếu chỗ mời mọc anh đi làm với mức lương không dưới 3.000USD/tháng. Tôi năn nỉ anh về, nhưng anh từ chối. Vì đã quen sống với một xã hội công bằng, minh bạch, và nhân bản, không thể về để sống ở nước Việt, nơi trăm nhớ, ngàn thương, chôn nhau cắt rốn của anh. Anh tâm sự: "Nước Việt mình là nơi đi để mà nhớ, chứ không phải nơi ở để mà thương!". Đứt ruột.
Hình 1: Nơi đánh dấu các hình xanh đỏ là nơi cần phải mở một con đường nối từ Freeway 210 ở phía Bắc đến freeway 710 ở phía Nam Los Angeles, nhằm giải quyết ách tắc giao thông lượng xe tải đi từ các bang trong đất liền chuyển hàng hóa sang Califonia để đi đến toàn cầu. Đoạn này khoảng hơn 20km. Chính phủ California đã đề nghị dân cư thuộc các thành phố Pasadena, Monterey Park đền bù giải tỏa để làm đường từ 2010 đến nay nhưng dân không đồng ý.
Còn của dân và do dân xin đơn cử trường hợp dân vùng Nam Los Angeles và Bắc Los Angeles có hai xa lộ liên Bang:  Freeway 10 xuyên bang Đông Tây. Freeway 5 xuyên bang Bắc Nam. Các bến cảng của Los Angeles như Long Beach, Hungtinton Beach, Seal Beach, San Pedro, Rancho Palos Verdes, Palos Verdes Estase, Newport Beach, v.v... ở phía Tây là trung tâm luân chuyển hàng hóa đi khắp toàn cầu. Nhưng sau chuyến di dân 30/4/1975, California trở thành nơi đất lành chim đậu của các cư dân toàn cầu. Mặc dù, diện tích Califonia hơn 2 lần lãnh thổ Việt Nam, và dân số chưa đến một nửa Việt Nam - 38 triệu. Nhưng với xa lộ như mạng nhện của Califonia cũng không thể giảm ách tắc giao thông theo kiểu Mỹ. Chính quyền Los Angeles đã đưa ra đề nghị mở một con đường nối thông từ Freeway 5 sang Freeway 10, qua 2 freeway 210 và 710 của tiểu bang để cho xe tải vận chuyển hàng hóa xuống bến cảng, mà không gây ách tắc giao thông. (xem hình 1)

Hình 2: Làm rõ đoàn đường màu xanh dương nối từ xa lộ 210 ở phía Bắc đến xa lộ 710 ở phía Nam Los Angeles, chỉ khoảng 20km, nhưng dân không đồng ý và chính phủ California đành ngậm bồ hoàn làm ngọt 4 năm qua. Dân chúng California phải đi đường vòng xa hơn 30km, và chịu cảnh tắc giao thông trên xa lộ được phép chạy 70miles/h, nhưng phải chịu còn chỉ 20 - 35miles/h vào giờ tan tầm.
Nhưng những đề đạt của chính phủ California đã 4 năm nay mà dân cư 2 thành phố Monterey Park và Pasadena không đồng ý, nên chuyện quy hoạch để giải quyết ách tắc giao thông, và rút ngắn đoạn đường đi từ Bắc Los Angeles xuống Tây Nam Los Angeles xuống ngắn hơn 30km đường đi vẫn chưa thực hiện được(xem hình 2). Nhà cửa ở khu vực cần giải phóng, đền bù của dân khu vực này trung bình nhà giá thấp khoảng vài trăm ngàn đô la, trung bình khoảng 1.8 - 2 triệu đô la Mỹ, cao thì đến hơn chục triệu đô la Mỹ. Dù chính phủ sẵn sàng đền bù, nhưng khó khăn nhất là khu vực Pasadena là dân trí thức có các trường đại học danh tiếng như UCLA - University of California, Los Angeles - không muốn khu vực này nhiều xe đi qua, ồn ào và mất cảnh quang thiên nhiên quá đẹp đã có từ thập niên 1950 đến nay.

Người dân thành phố Pasadena của Hạt Los Angeles thuộc bang California không muốn ở gần con đường đi qua những căn nhà yên tỉnh và thơ mộng như thế này, mặc dù chính quyền California quy hoạch để giúp tránh kẹt xe và giảm ngắn đường đi cho dân chúng, và chính phủ thất bại trong dự án làm đường.

Ở Hoa Kỳ, đơn vị hành chánh quan trọng nhất là thành phố. Giống như ở Việt Nam đơn vị hành chánh quan trọng nhất là cấp phường xã. Thành phố của Hoa Kỳ là cấp thấp nhất như phường xã ở ta, nhưng là nơi quyết định vận mệnh của từng quốc gia - tiểu bang - và lớn hơn là toàn liên bang. Nếu ở cấp thành phố Hoa Kỳ mà không đồng ý thì tổng thống Hoa Kỳ cũng chịu thua. Mà mọi nhân viên từ thấp đến cao của chính phủ tại thành phố là người làm công ăn lương của dân đóng thuế, nên mọi ý kiến của thành phố là ý của dân - hay nói cách khác, ý dân là ý trời bang ra.

Nếu như ở Việt Nam thì làm sao có được những cái thật sự vì dân, của dân và do dân như thế. Chúng ta thấy nhan nhản cảnh chính quyền nhà nước Việt Nam ức hiếp dân lành chiếm đất, đến nỗi dân phải tự chế bom xăng để tự vệ và phải vào tù như trường hợp của Vi Văn Tùng, Vi Văn Thế, hay của anh em Đoàn Văn Vươn. Hình ảnh cướp giết hiếp này đang diễn ra ở nơi mà chúng ta tự sướng bằng cách tự thủ dâm tinh thần là, nước ta hạnh phúc gấp ngàn lần bọn "tư bổn giãy đành đạch" hoài mà chưa chết. Nhưng chúng ta lại đang thấy chỉ có các xứ hạnh phúc ngàn lần như chúng ta là, đang lo sợ cái chết đang đến như Liên Xô, Đông Âu trong quá khứ, và hiện tại của Ukraina trong những ngày qua.

Dân chủ là gì?

Phan Thành Đạt
Định nghĩa đơn giản về dân chủ: Dân chủ là chế độ chính trị thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân. Người dân thực hiện các quyền của mình bằng cách trực tiếp hoặc bằng cách chọn ra các đại biểu để đảm nhiệm các công việc trong bộ máy nhà nước. Dân chủ gồm hai loại dân chủ trực tiếp thể hiện quyền tham gia trực tiếp của các công dân vào các công việc quan trọng. Dân chủ gián tiếp thông qua bầu cử những người đại diện.
clip_image002
So sánh ba thể chế dân chủ ở Na Uy, Pháp và Bắc Triều Tiên.
Na Uy và toàn bộ các nước thuộc khu vực Bắc Âu được đánh giá là những nền dân chủ tiêu biểu nhất và là mô hình lí tưởng cho nhiều nước học theo. Các quyền tự do cơ bản như tự do ngôn luận, quyền bình đẳng, quyền tự do đi lại... được Nhà nước đặc biệt chú ý. Chỉ số phát triển về con người và mức độ tự do báo chí của Na Uy luôn đứng ở đầu bảng xếp hạng.
Pháp được xếp là nền dân chủ lâu đời, nhưng trên bảng xếp hạng của các nước, Pháp không đứng ở vị trí đầu, tự do đồng nghĩa với việc làm tất cả những gì mà luật pháp không cấm. Điều 4 của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền, ngày 26 tháng 8 năm 1789 quy định: “Tự do là làm tất cả những gì không hại đến người khác, nghĩa là quyền tự nhiên của mỗi người cần có những giới hạn. Những giới hạn đó nhằm đảm bảo cho những người khác trong xã hội cũng được hưởng các quyền tương tự. Những quy định về giới hạn chỉ có thể được luật pháp quy định”.
Bắc Triều Tiên không phải là chế độ dân chủ, đây là chế độ gia đình trị và đã truyền ngôi được ba thế hệ. Người dân Triều Tiên phải sống theo nhịp sống của gia đình nhà họ Kim. Khi gia đình này muốn nhân dân nhảy múa, chào mừng sinh nhật các lãnh tụ, người dân sẽ nhảy múa, ca hát. Khi nhà họ Kim có chuyện buồn, người dân phải khóc thương lãnh tụ. Ở Triều Tiên, dù người dân bụng vẫn đói nhưng vẫn phải nhảy múa và hát ca để tỏ lòng biết ơn lãnh tụ. Người dân không có quyền bầu cử, không được bàn luận chính trị, không hiểu rõ các quyền cơ bản của mình. Mọi việc đã do lãnh tụ anh minh tính hết.
clip_image004
Tổng thống Obama nói với các nhà độc tài châu Phi: “Hãy nói cho tôi biết dân chủ đang suy thoái ở nơi nào ở châu Phi?”. Họ trả lời: “Sẽ có lí và suy nghĩ nhanh hơn, khi chúng tôi cùng trả lời ông, dân chủ đang có những bước tiến ở đâu”.
Trong các chính thể độc tài, sẽ thật buồn cười khi bàn về dân chủ, khi chính họ thích sử dụng bạo lực để đàn áp mà không cần đối thoại (hình tượng thanh kiếm), hoặc không có dấu hiệu nào hứa hẹn cho dân chủ từ phía họ.
clip_image006Dân chủ ở Mỹ: Nhân dân muốn tôi (Tổng thống Mỹ là người được nhân dân tín nhiệm, thông qua bầu cử cạnh tranh). Dân chủ ở Trung Quốc: Nhân dân sẽ có tôi (thông qua sự sắp xếp của Đảng Cộng sản Trung Quốc, dù nhân dân có muốn hay không, Chủ tịch Nước đồng thời là Chủ tịch Đảng vẫn có quyền lãnh đạo nhân dân. Nhân dân không có quyền phản đối hay phế truất).
Dân chủ ở Mỹ gắn với quyền dân, còn dân chủ ở Trung Quốc gắn với quyền đảng, cao hơn cả quyền dân. Việt Nam vẫn theo cách lãnh đạo của Trung Quốc hay theo thể chế dân chủ trong tương lai? Câu trả lời xin dành cho những nhà lãnh đạo đang chèo lái con thuyền Việt Nam.
clip_image008
Bức tranh Tự do dẫn đường cho nhân dân (La liberté guidant le peuple) của Eugène Delacroix, 1830
Tự do dẫn đường cho nhân dân là bức tranh sơn dầu nổi tiếng của họa sĩ Eugène Delacroix, được vẽ năm 1830, miêu tả sự kiện chính trị ở Paris diễn ra trong ba ngày 27, 28, 29 tháng 7 năm 1830, vào thời điểm đó, quần chúng Paris nổi dậy, nhằm xóa bỏ chế độ quân chủ thiết lập nền cộng hòa. Họ dựng các chiến lũy trên đường phố, chiến đấu chống lại quân đội. Vua Charles X và toàn bộ gia đình phải bỏ chạy.
Bức tranh nổi tiếng này hiện được trưng bày tại bảo tàng Louvre. Nó được coi là biểu tượng của nền cộng hòa và cũng là biểu tượng của nền dân chủ ở Pháp. Bức tranh được triển lãm ở nhiều nơi trên thế giới, mới đây, Trung Quốc đã đề nghị Pháp mượn bức tranh này để trưng bày. Nhiều người lo ngại cho việc bảo quản bức tranh, mỗi khi nó bị chuyển ra nước ngoài để triển lãm.
Để xây dựng thành công nền dân chủ, nước Pháp phải đi qua một chặng đường dài: Từ khi nền cộng hòa được thiết lập năm 1793, sau đó đến đế chế của Napoléon được thiết lập năm 1799, người Pháp lại trở về với chế độ quân chủ, nền cộng hòa được thiết lập trở lại tử năm 1873. Sau gần một thế kỷ, nền cộng hòa thực sự mới được thiết lập bằng nền móng dân chủ vững chắc. Trong khi đó, nền dân chủ ở Mỹ và Anh được thiết lập từ khá sớm. Ở Mỹ, quyền lực được tổ chức hợp lí nhờ thương lượng và có cơ chế giám sát từ sớm; quyền lực ở cấp quốc gia và các bang được Hiến pháp phân công cụ thể. Nền dân chủ ở Anh cũng được xây dựng và củng cố trong ổn định nhờ kết hợp hài hòa giữa quyền lực mang tính biểu tượng của hoàng gia và quyền lực thực tế của Nghị viện. Ở Pháp, ít có thương lượng vì mỗi khi một thế lực lên nắm quyền đều muốn xây dựng một thể chế theo ý mình, thế lực nắm quyền phủ định những nguyên tắc được chế độ cũ xây dựng. Do vậy con đường đến với dân chủ lâu hơn vì mọi xung đột và bất đồng không được giải quyết triệt để, hoặc giải pháp đưa ra lại là biện pháp bạo lực.
clip_image010
“Độc tài có nghĩa là hãy im miệng đi, dân chủ là thoải mái được nói” là câu nói nổi tiếng của nghệ sĩ Jean-Louis Barrault, sau này nghệ sĩ hài Coluche cũng nhắc lại câu này khi bàn về dân chủ. Coluche là người sáng lập ra các tiệm ăn vì tấm lòng (les restaurants du coeur), dành cho người nghèo và những người vô gia cư. Ông cũng là người đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, với câu nói nổi tiếng: “Đừng đụng đến bạn tôi” (ne touche pas à mon pote).
Dân chủ đồng nghĩa với quyền tự do ngôn luận, mỗi người được nói ra những suy nghĩ của mình mà không sợ bị bắt bớ đe dọa. Điểm khác biệt trong chính thể dân chủ và độc tài hay độc đoán ở chỗ con người được nói theo suy nghĩ của mình và con người nghĩ một đằng nhưng phải nói một nẻo. Người Trung Quốc có câu tục ngữ: “Ở triều đình người ta hát, sau đó được thưởng rượu để uống, còn ở vùng quê, người ta uống sau đó tự hát”. Báo chí tự do thuộc quyền sở hữu tư nhân và thông tin đa chiều sẽ đảm bảo tốt các giá trị dân chủ và nâng cao trình độ hiểu biết cho con người.
P. T. Đ.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Thứ nhân quyền mà giới độc tài yêu thích

Liệu khái niệm “nhân quyền” còn có ý nghĩa trong một thế giới mà ở đó mọi thứ đều phù hợp với khái niệm này hay không?

Người dịch: Lê Anh Hùng
Trông kìa! Kobe Bryant có thể đang vi phạm quyền con người của bạn đấy!
Farida Shaheed, báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về quyền văn hoá, mới thông báo là cô đang khởi xướng một nghiên cứu mới nhằm giải đáp vấn đề: Liệu các thói quen quảng cáo và tiếp thị có ảnh hưởng đến sự đa dạng văn hoá và quyền của người dân trong việc lựa chọn lối sống hay không? Bài bố cáo đăng một tấm ảnh chụp bức quảng cáo khổng lồ về bóng rổ Mỹ (với hình ảnh cầu thủ ngôi sao Kobe Bryant), bức quảng cáo choán hẳn một góc của một sân bóng rổ ở Trung Quốc.

Đây là hoạt động bình thường của văn phòng LHQ về quyền văn hoá. Khi Shaheed thăm Việt Nam tháng trước, trong cuộc thảo luận về những lo ngại liên quan đến quyền tự do ngôn luận, cô đã tranh thủ nêu bật một cuộc khủng hoảng khẩn cấp khác: đó là cồng chiêng, một chủ đề nhạy cảm. Để độc giả nào chưa nghe nói tới dễ hình dung, cồng chiêng là loại dụng cụ văn hoá độc đáo mà một số bộ tộc bản địa ở các cao nguyên xa xôi ở Việt Nam vẫn sử dụng. Giờ đây, Shaheed lưu ý, cồng chiêng đang phải đối mặt với một mối đe doạ mới: người ta “biểu diễn cồng chiêng để đáp ứng nhu cầu của du khách ở một số nơi, từ đó làm mất đi ý nghĩa văn hoá độc đáo của loại nhạc cụ này”. Cô hối thúc chính phủ bảo vệ hoạt động biểu diễn cồng chiêng trước hiện tượng “dân gian hoá” (folklorization) – mà rõ ràng là một sự vi phạm nghiêm trọng về “quyền văn hoá” của các sắc tộc bản địa.
Cần lưu ý rằng Việt Nam là một quốc gia cộng sản độc tài, hoàn toàn phớt lờ quyền tự do tôn giáo, thường xuyên tống giam các thầy tu và nghệ sỹ chỉ vì họ bày tỏ quan điểm của mình, và đã bị vô số tổ chức nhân quyền chỉ trích về tình trạng tra tấn và lạm dụng quyền lực đối với những người bị giam giữ. (Trong bức ảnh trên, cảnh sát đang ngăn cản một phóng viên ảnh chụp hình bên ngoài một phiên toà ở Tp Hồ Chí Minh.)
“Việt Nam đang nhanh chóng trở thành một trong những nhà tù lớn nhất Đông Nam Á dành cho những người bảo vệ nhân quyền và các nhà hoạt động khác”, Robert Abbott, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam thuộc Tổ chức Ân xá Quốc tế (IA), nhận xét. Vậy nhưng, dưới nhãn quan của Shaheed, những vụ vi phạm như thế lại ngang bằng với tình trạng các phẩm vật văn hoá bị sử dụng một cách tệ hại trong ngành du lịch. Những vi phạm khác, nghiêm trọng hơn lại chỉ được dành cho một đoạn chỉ trích trong bản báo cáo của cô; rõ ràng là chúng không nằm trong phạm trù với định nghĩa mơ hồ: “quyền văn hoá”. Giờ đây, chính phủ Việt Nam có thể phớt lờ phần lớn những gì mà Shaheed đã phải lên tiếng; và gạt phăng những chỉ trích của cô, coi đó là hiệu ứng phụ của hoạt động du lịch.
Trong những năm qua, giới chỉ trích đã chế nhạo thái độ của Hội đồng Nhân quyền LHQ khi họ sẵn sàng lắng nghe những ý kiến ngược đời của các nhà độc tài tồi tệ nhất thế giới, những kẻ vẫn xuất hiện nổi bật giữa các thành viên khác của Hội đồng. (Số thành viên này thậm chí còn tìm cách cấm từ “độc tài” xuất hiện trong các văn bản hội họp của Hội đồng Nhân quyền.) Tuy nhiên, tấn hài kịch mang tên “quyền văn hoá” lại chỉ là một triệu chứng của một vấn đề trầm trọng hơn nhiều mà một số người gọi là “hiện tượng lạm phát quyền văn hoá” (human rights inflation). Các tổ chức càng ngày càng nêu tên nhiều thứ mà họ cảm thấy mình đáng được hưởng – từ phòng ngủ dự phòng cho đến viện trợ nước ngoài – là một “quyền”. Một nhóm lợi ích đặc biệt thậm chí còn đang lớn tiếng đòi trao vị thế “quyền” chính thức cho “cơ hội truy cập Internet”, như thể quyền tự do ngôn luận vẫn còn chưa đủ. Trong khi đó, nhiều đảng phái khác nhau lại khẳng định “quyền” của mình đối với dịch vụ tư vấn việc làm, nghỉ phép hưởng lương, giáo dục miễn phí đến bậc đại học, và một loại thuế tài chính toàn cầu để chống lại cuộc khủng hoảng kinh tế.
Ngày nay, chúng ta đã được chứng kiến hiện tượng lạm phát quyền con người – và tất cả chúng đều được khẳng định là quan trọng như nhau và không thể chia tách. Các quyền con người không biến đi đâu. Chúng đã đánh mất giá trị của mình.
Khi Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) được ký kết vào năm 1948, nó giới hạn thế giới nhân quyền trong 30 điều khoản mà thôi. Các nhà soạn thảo cảm thấy bị thúc bách phải giữ danh mục nhân quyền sao cho ngắn gọn và mạnh mẽ. Trong số đó, 18 điều khoản được coi là quyền, những điều khoản áp đặt nghĩa vụ trực tiếp lên nhà nước ở bình diện cá nhân; 12 điều khoản về kinh tế, văn hoá và xã hội được coi là khát vọng. Loại điều khoản thứ hai này gây tranh cãi ngay từ đầu và đó là một trong những lý do giải thích tại sao UDHR không mang tính ràng buộc và không kèm theo cơ chế thực thi nào. Năm 1976, để giải quyết những vấn đề này, các quyền được chia tách một cách đúng đắn thành những hiệp định riêng rẽ mang tính ràng buộc và áp đặt lên nhà nước thông qua các cơ quan giám sát: Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) và Công ước Quốc tế về Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá (ICESCR).
Đây là thoả hiệp chính trị ra đời từ cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa Hoa Kỳ và Liên bang Soviet toàn trị, quốc gia ủng hộ các quyền xã hội, kinh tế và văn hoá với cái giá của các quyền dân sự và chính trị. Đến nay Hoa Kỳ vẫn chưa phê chuẩn ICESCR.
Hậu quả từ cuộc thoả hiệp yểu mệnh đó đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Trước năm 2014 đã có 676 điều khoản, từ quyền cá nhân cho đến quyền tập thể và thậm chí là cả quyền về môi trường. Một số quyền thậm chí còn không áp đặt nghĩa vụ trực tiếp lên nhà nước – thay vì thế, chúng được thiết lập thông qua “quá trình hiện thực hoá từng bước”, theo đó nhà nước, với nguồn lực và khả năng hữu hạn của mình, hứa hẹn là sẽ hoàn thành chúng vào một thời điểm nào đó trong tương lai.
Hiện tượng sinh sôi nảy nở lạ lùng này bắt nguồn từ thực tế nhân quyền là một công cụ hữu ích trong tay bất kỳ nhóm áp lực[i] nào ở vào vị thế được hưởng lợi từ sự mở rộng quyền con người – và điều đó còn bao gồm cả các nước phi tự do.
Quyền tiếp cận lương thực, chẳng hạn, đã trở thành một quyền khả dĩ phán xử trên bình diện quốc tế kể từ năm ngoái với việc thông qua nghị định thư không bắt buộc cho ICESCR. Động thái này nhận được sự ủng hộ nhiệt thành từ nhiều nước, trong đó có Iran, quốc gia đã lặp đi lặp lại trong nhóm công tác rằng “nghị định thư này đã đem lại cơ hội để tái khẳng định vị thế bình đẳng của tất cả các quyền con người”. Trong khi đó, tiếng nói tỉnh táo và mang âm hưởng tự do chủ nghĩa của Vương quốc Anh lại gần như bị phớt lờ: “Vương quốc Anh vẫn hoài nghi về lợi ích thiết thực của nghị định thư, với cân nhắc rằng các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá không phù hợp với sự phân xử theo cùng cái cách mà người ta vẫn phân xử các quyền dân sự và chính trị.”
Một số người có thể cho rằng, nhìn chung, nhà nước không muốn sinh ra nhiều quyền bởi lẽ điều đó sẽ áp đặt thêm nhiều nghĩa vụ. Tuy nhiên, chính xác là bởi tình trạng nhân quyền cứ sinh sôi nảy nở này mà nhiều nước lại có thể lựa chọn những quyền mà họ có thể hứa hẹn hoàn thành nghĩa vụ vào một thời điểm nào đó trong tương lai – và qua đó phô bày một hồ sơ nhân quyền “tốt đẹp”, ngay cả khi họ không bảo vệ được những quyền dân sự và chính trị cơ bản nhất. Những kết quả đáng mong muốn như nhà ở hay chăm sóc sức khoẻ – cần được hiểu là những mục tiêu chính trị – được ẩn giấu trong thứ ngôn ngữ nhân quyền hòng khiến chúng trở nên chính đáng hơn. Quyền tiếp cận một phòng ngủ dự phòng chỉ còn cách đó một bước chân nữa mà thôi.
Các tổ chức nhân quyền nghiêm túc đã mở rộng pháp luật về nhân quyền để bao hàm quyền của phụ nữ và quyền của dân tộc thiểu số cho các dân tộc bản địa, các cá nhân LGBT (đồng tính luyến ái nữ, đồng tính luyến ái nam, lưỡng tính và chuyển giới), người già và người tàn tật. Các nhóm phụ nữ và tổ chức nhân quyền ở Saudi Arabia, chẳng hạn, đã huy động lực lượng để ủng hộ “quyền lái xe”. Tất nhiên, các nhóm này cần được tôn trọng và nỗ lực của họ cần được ca ngợi – nhưng không cần phải soạn thảo những hiệp định mới hay tạo ra các quyền mới. Chỉ cần các công cụ nhân quyền truyền thống là đủ. UDHR quy định rõ ràng rằng không ai cần phải chịu đựng sự phân biệt đối xử vì “chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, xuất thân, hay địa vị khác” của họ. Bạn không có những quyền đặc biệt bởi vì bạn là một người đồng tính luyến ái nữ, một người già, một phụ nữ sống ở Saudi Arabia; bạn có quyền bởi vì bạn là con người.
Mặt trái của hiện tượng nhân quyền cứ sinh sôi nảy nở là ở chỗ, nó cho phép các nhà độc tài san bằng sân chơi. Hội đồng Nhân quyền LHQ bị tai tiếng là chạy theo mong muốn của các chế độ độc tài vốn háo hức với việc che đậy tai tiếng của mình. Năm 2007, sau khi từng từ chối các chuyến thăm của các đại diện đặc biệt LHQ trong hơn 18 năm, Cuba đã chào đón Jean Ziegler, báo cáo viên đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền LHQ về quyền tiếp cận lương thực. Ziegler đã ca ngợi chính phủ Cuba vì đã bảo vệ quyền tiếp cận lương thực như một “quyền con người cơ bản”, rồi đi đến đổ lỗi cho lệnh cấm vận của Hoa Kỳ trước bất kỳ sự thiếu hụt lương thực nào. Các chính sách của chế độ độc tài cộng sản 55 tuổi này – vốn không cho phép tư hữu, tư doanh, tự do đi lại và tự do ngôn luận – dường như không liên quan gì đến vấn đề lương thực. Ziegler đã xem xét quyền tiếp cận lương thực một cách biệt lập, bỏ qua cả những vụ vi phạm nhân quyền phi lương thực liên quan, và cuối cùng là giúp nhà cầm quyền Cuba thoát tội. Cuba có thể ca ngợi thành công của họ trong việc bảo vệ một quyền con người trong khi lại khéo léo phớt lờ toàn bộ nhiều thất bại khác. Những chế độ chuyên vi phạm nhân quyền quan tâm đến việc làm cho các quyền con người trở nên mờ nhạt tới mức độ mà ở đó toàn bộ khái niệm nhân quyền mất đi ý nghĩa của nó.
Jacob Mchangama, đồng sáng lập viên kiêm giám đốc điều hành của Freedom Rights Project, một tổ chức tìm cách đưa tự do trở lại với nhân quyền, nhận xét: “Thật đáng buồn, chuyện này hiện đã trở thành chuyện thường ngày mất rồi.” Gần đây, tổ chức của ông đã tổ chức một cuộc hội thảo tại Quốc hội Đan Mạch về chủ đề: Chuyện gì đã xẩy ra với nhân quyền quốc tế và cách thức giải quyết.
Một trong những chủ đề trọng tâm của cuộc hội thảo là xu hướng đáng lo ngại của hiện tượng nhân quyền cứ sinh sôi nảy nở. Các diễn giả đã thách thức sự đồng thuận giáo điều về tính bất khả chia tách (indivisibility) của nhân quyền và học thuyết về tính cân xứng (proportionality). Emilie Hafner-Burton trình bày một nghiên cứu cho thấy là có ít ví dụ về việc một nhà nước phi tự do cải thiện nhân quyền kể cả sau khi các nhà lãnh đạo của nó ký kết một hiệp ước về nhân quyền. Tại phần lớn các nước độc tài, việc ký kết Công ước Chống Tra Tấn ít tác động đến số vụ tra tấn, và cho phép các chế độ đó tồn tại lâu hơn.
“Khi mọi thứ đều có thể được định nghĩa là quyền con người thì cái giá để vi phạm những quyền như thế lại rẻ”, Mchangama nhận xét với tôi ở Copenhagen. “Bằng cách cho thấy mình là kẻ cổ suý nhiệt thành cho những quyền con người thuộc thế hệ thứ ba này, các nước phi tự do đang tìm cách để vừa tước bỏ vị thế đạo đức cao quý của các quyền dân sự và chính trị, vừa đạt được tính chính danh chính trị. Hiện tượng các quyền con người cứ sinh sôi nẩy nở đang được các chính thể độc tài lạm dụng để ca tụng lẫn nhau, và làm mất đi sự rõ ràng về đạo đức mà các quyền con người trước kia từng có.”
Có thể chúng ta đang được chứng kiến hiện tượng bong bóng nhân quyền dần dần bị vỡ. Nếu tôi đầu tư vào giá trị của nhân quyền như một khái niệm vào năm 1996 (khi ICCPR được thông qua) thì giá trị cổ phần của tôi sẽ đạt đỉnh vào khoảng năm 1993. Đây là năm mà Tuyên ngôn và Cương lĩnh Hành động Vienna 1993 (Vienna Declaration and Program of Action of 1993) tuyên bố rằng tất cả các quyền con người đều khả dĩ phân xử và bất khả chia tách như nhau, một tuyên bố khiến cho sự khác biệt giữa các quyền dân sự và chính trị với các “quyền” kinh tế, xã hội và hoá trở nên vô nghĩa.
Ít nhất thì tôi cũng có thể luôn tìm thấy sự thoải mái khi chơi món cồng chiêng của mình – tức là, chừng nào không có du khách nào lấp ló gần đấy cả. Có phải vậy không, cô Shaheed?
IAN TIMBERLAKE/AFP/Getty Images
Nguồn: Foreign Policy / Defend The Defenders

Mồm loa mép dãi

Ông bà ta ngày xưa thường dùng câu “mồm loa mép dãi” để chỉ những hạng người có hành động gian manh, thâm độc nhưng lại dùng những lý lẽ kiểu như hạng lưu manh để biện minh cho hành động đốn mạt của mình. Hiện nay, nhìn lại thì chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng là lũ Tàu Cộng đang có cái kiểu “mồm loa mép dãi” bù lu bù loa, vừa ăn cướp vừa la làng ở trên vùng biển Nhật Bản cũng như vùng biển Đông.

Khi khổng khi không, chúng hô hoán lên là vùng quần đảo Senkaku do Nhật Bản kiểm soát là thuộc chủ quyền của chúng. Chúng đã vẽ nên vùng nhận dạng phòng không tại vùng biển này, chồng lấn lên vùng không phận quy nước của những nước trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan. Chúng thường xuyên cho tàu thuyền của chúng đến vùng đảo Senkaku để quấy phá. Hành động lưu manh như vậy nhưng chúng vẫn thường xuyên la làng rằng Nhật Bản đã có những động thái “làm xấu đi tình hình khu vực”. Thật là miệng lưỡi của quân mặt dày.



Tình hình vùng biển Đông thì lại càng tệ hại hơn. Nếu ở vùng  biển Nhật Bản chúng vẫn phải “dè chừng” người Nhật vì dù sao  trong quá khứ chúng cũng đã từng “nếm đòn Nhật Bản”. Còn ở vùng biển Đông thì chúng hung hăng hơn, ngang ngược hơn, tham tàn hơn và có những hành vi đốn mạt hơn. Đối với ngư dân Việt Nam thì khỏi phải nói. Những hành xử của chúng đối với những ngưừi ngư dân Việt là “trên mức” tưởng tượng của mọi người. Không hiểu là nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam có “mắc nợ” gì với Tàu Cộng hay là không mà chúng cũng chỉ phản đối những hành động tàn ác của Tàu Cộng với ngư dân Việt một cách yếu ớt. Người dân Việt vì quá bất bình và căm phẫn hành động gian manh của Tàu Cộng đối với ngư dân Việt Nam đã biểu tình phản đối thì Cộng Sản Việt Nam lại đàn áp, bắt bớ, đánh đập, giam cầm người biểu tình một cách thô bạo. Rõ ràng là Cộng Sản Việt Nam đã sợ Tàu Cộng một phép. Thật là nhục nhã, còn thua cả nước Philippine.

Philippine là một nước không có quân đội hùng mạnh, vũ khí tân trang cũng không đầy đủ, thế nhưng Philippine lại là nước lên tiếng phản đối Tàu Cộng mạnh mẽ nhất. Chính Philippine còn kiện Tàu Cộng ra tòa án quốc tế vì những hành xử ngang ngược của Tàu Cộng tại vùng biển Đông. Khi  lũ Tàu Cộng giở thói côn đồ ra với ngư dân Philippine thì chính phủ Philippine cũng mạnh dạn lên tiếng phản đối. Cho nên tại vùng biển Đông chỉ có Philippine “đơn thương độc mã” lên tiếng phản đối Tàu Cộng về mọi phương diện.

Nếu như các nước trong khu vực ở vùng biển Nhật Bản cũng như ở vùng biển Đông cùng mạnh dạn lên tiếng phản đối Tàu Cộng thì chắc chắn một điều là bè lũ tham tàn Tàu Cộng cũng sẽ dè chừng và sẽ giảm dần đi cường độ gian tham của chúng.

Việc này sao mà “khó” còn hơn “mò kim đáy biển “ vì bè lũ Tàu Cộng vẫn còn một thằng đệ tử ngu xuẩn “cúc cung tặn tụy”!

Phi Vũ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét