Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

Ngày 03/4/2014 - TBT Kim Quốc Hoa: “Chúng tôi có đủ chứng cứ ông Truyền sai phạm”

TIN LÃNH THỔ


TIN XÃ HỘI


TIN KINH TẾ

TIN GIÁO DỤC

TIN ĐỜI SỐNG

TIN CÔNG NGHỆ

TIN VĂN HÓA GIẢI TRÍ


TIN THẾ GIỚI

TBT Kim Quốc Hoa: “Chúng tôi có đủ chứng cứ ông Truyền sai phạm”

Tổng biên tập Kim Quốc Hoa cho rằng, báo Người Cao Tuổi có đầy đủ căn cứ, tên và số quyết định của số cán bộ ông Trần Văn Truyền bổ nhiệm ồ ạt trước khi nghỉ.
Theo thông tin trên báo Người Cao Tuổi đăng tải vào ngày 28/2/2014, ông Trần Văn Truyền trước khi về hưu đã kí ồ ạt bổ nhiệm hàng loạt cán bộ, rất nhiều người không có quy hoạch, hoặc non kém về năng lực phẩm chất.
Cụ thể: “Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, ông Trần Văn Truyền không còn được tái ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương, biết mình sau kì họp thứ I Quốc hội Khóa XII sẽ rời khỏi “Phủ Khai Phong” ở đất Thăng Long, ông chỉ đạo Vụ Tổ chức Cán bộ (do ông Ngô Văn Cao là Vụ trưởng) cấp tập, dồn dập làm nhân sự một cách ồ ạt. Từ tháng 3/2011 đến ngày 3/8/2011 ông Trần Văn Truyền kí quyết định bổ nhiệm gần 60 cán bộ cấp vụ (và tương đương) tại cơ quan TTCP, chỉ trong 2 ngày (1/8 và 3/8) kí bổ nhiệm 26 người, riêng ngày 3/8/2011 kí bổ nhiệm 22 người”. Tờ Người Cao Tuổi viết.


Những đồn đoán về căn nhà mới xây của ông Trần Văn Truyền còn chưa được làm rõ thì thông tin về việc bổ nhiệm cán bộ ồ ạt của vị này lại gây xôn xao dư luận

Cũng theo thông tin của tờ báo, trong ngày 3/8/2011, ông Trần Văn Truyền đã kí bổ nhiệm 3 hàm Vụ trưởng ở Văn phòng, 3 hàm Phó Vụ trưởng ở Trường Cán bộ Thanh tra, 3 hàm Cục phó ở Cục III, 2 hàm Phó Vụ trưởng, hàm Vụ phó ở Cục I, 2 hàm Vụ trưởng, hàm Vụ phó ở Tạp chí, nhiều Phó Cục trưởng, Phó Vụ trưởng, hàm Vụ trưởng, hàm Phó Vụ trưởng ở các cục, vụ, đơn vị trực thuộc. Các cục, vụ, đơn vị có đủ cấp trưởng, cấp phó rồi thì ông đưa chuyên viên lên cấp “hàm” mà cấp này chưa thấy quy định điều khoảng nào trong Luật Cán bộ, công chức.
“Đáng chú ý là sau khi ông Truyền kí bổ nhiệm nhiều người không có trong quy hoạch, ông thấy “giật mình” liền kí Quyết định số 2100/QĐ-TTCP ngày 3/8/2011 về bổ sung quy hoạch nhằm hợp thức hóa việc làm trái với quy trình, quy chế về công tác cán bộ của chính TTCP. Việc làm trên của ông Truyền là chống lại Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 3/12/2007. Tại Điều 15 Nghị định này quy định cấp cục, vụ, đơn vị thuộc bộ cấp phó không được vượt quá 3 người.
Trong khi đó, sau đợt ông Truyền bổ nhiệm năm 2011, nhiều cục, vụ, đơn vị ở TTCP có từ 4 – 6 cấp phó. Cục I có 7 cấp phó và 1 hàm cấp phó. Có một sự thật là, một số cán bộ ngay sau khi được ông Truyền quyết định bổ nhiệm đã mắc sai lầm, khuyết điểm, bị kỉ luật thậm chí bị đi tù như ở Cục I, Trung tâm Thông tin hay ở Vụ III”, báo Người Cao Tuổi thông tin.


TBT Kim Quốc Hoa

Trước những thông tin được nêu trên, trao đổi với chúng tôi vào chiều ngày 1/3, ông Kim Quốc Hoa cho biết:
“Chúng tôi đã những đưa thông tin việc ông Trần Văn Truyền trước khi nghỉ hưu ký cấp tập, bổ nhiệm hàng loạt cán bộ cấp vụ và tương đương trong số báo cách đây 2 ngày. Việc bổ nhiệm này, trước hết là trái với Nghị định 178/2007 của Chính phủ.
Tại khoản 3 Điều 15 Nghị định này quy định cấp cục, vụ, đơn vị thuộc bộ cấp phó không được vượt quá 3 người. Và đến thời điểm năm 2010, khi ông Truyền đang làm thì các cục, vụ, đơn vị thuộc Thanh tra Chính phủ đã đủ các cấp phó theo quy định.
Nhưng khi không còn được tái ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương, tức là không tiếp tục tái ứng cử vào chức Tổng thanh tra Chính phủ nữa thì do “nhu cầu” nào đó, ông Truyền đã chỉ đạo cho Vụ tổ chức cán bộ dồn dập, nhất là vào tháng 7 và đầu tháng 8/2011, ký bổ nhiệm hàng loạt cán bộ vào chức danh cấp phó và tương đương. Điều này dẫn đến nhiều đơn vị có tới 4 – 7 cấp phó.
Thứ hai, ông Truyền bổ nhiệm rất nhiều người hàm Vụ phó, hàm Cục phó mà theo Luật cán bộ công chức thì bên chính quyền hầu như không có từ “hàm”. Từ việc này đã để lại hậu quả hiện nay là bộ máy của Thanh tra Chính phủ phình ra, cán bộ lãnh đạo thì nhiều. Không những thế, nhiều cán bộ cấp phó còn đùn đẩy, tranh chấp nhau để đi làm các trưởng đoàn thanh tra vụ việc.
Đồng thời, việc bổ nhiệm diễn ra trong bối cảnh, những người này có nhiều người không có trong diện quy hoạch. Khi nhận ra không có trong diện quy hoạch mà vẫn bổ nhiệm thì ngày 3/8/2011 là ngày kết thúc vai trò Tổng thanh tra Chính phủ của ông Truyền tại Quốc hội và ông Huỳnh Phong Tranh đã làm Tổng thanh tra rồi nhưng ông Truyền vẫn ký bổ nhiệm và còn tự tiện kí văn bản bổ sung quy hoạch.
Như trong bài viết chúng tôi đã nói thì những ngày đó, Vụ tổ chức cán bộ phải bò ra làm. Bởi vì phải đi xác minh hồ sơ, về nơi cư trú tại khu dân cư của cán bộ đó để làm thủ tục, sau đó bổ nhiệm. Việc làm của ông Truyền đã tạo ra tâm lý cho nhiều cán bộ Thanh tra Chính phủ phải “chạy” để có tước vị đó, dẫn đến việc lộn xộn. Cũng có nhiều câu hỏi được đặt ra là tại sao ông Truyền lại làm như vậy và không ít người cũng cho rằng, không loại trừ khả năng là do vụ lợi…”
Ông Hoa cũng khẳng định, tất cả những thông tin về việc bổ nhiệm gần 60 cán bộ cấp phó trước khi nghỉ hưu của ông Truyền mà báo Người Cao Tuổi nêu ra đều có căn cứ, thậm chí là có đủ tên và số quyết định cụ thể cho từng người được bổ nhiệm.
“Báo Người Cao Tuổi trong nhiều năm qua đưa ra bất cứ vụ việc nào đều có chứng cứ, bằng chứng chứ không bao giờ đưa thông tin không có cơ sở. Về việc ồ ạt bổ nhiệm các cán bộ của ông Truyền mà chúng tôi thông tin đều căn cứ vào chính các tài liệu mà cơ quan Thanh tra chính phủ quản lý” , ông Hoa nhấn mạnh.
Ông Hoa cũng cho hay, sau khi thông tin được báo đưa ra cho đến nay, tòa soạn vẫn chưa hề nhận được phản hồi của cơ quan Thanh tra Chính phủ cũng như ông Truyền.
“Ngay kể cả, thông tin cách đây hơn một tuần, báo Người Cao Tuổi phản ánh về bất động sản, biệt thự khủng của ông Truyền chúng tôi cũng chưa hề nhận được phản hồi của ông ấy…”, ông Hoa nói.
THEO TRÍ THỨC TRẺ

Thủ tướng nói gì về nghi án nhận hối lộ từ JTC?


“Đối với nghi án hối lộ từ JTC, chúng ta phải hết sức thận trọng, trước hết là phải tin người của mình đã. Pháp luật Việt Nam trước hết phải bảo vệ người Việt Nam. Khi nào bảo vệ hết nổi, tức là sai phạm đã rõ, khi đó sẽ tính đến xử lý nghiêm minh”.
Chỉ đạo nói trên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liên quan đến nghi án nhận hối lộ của quan chức ngành đường sắt từ Tập đoàn Tư vấn giao thông Nhật Bản (JTC), được Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Nên truyền đạt tại buổi họp báo Chính phủ, chiều tối 1/4.
Bộ trưởng Nên cho biết, những ngày gần đây, công luận nói rất nhiều về nghi án nhận hối lộ từ JTC, tuy nhiên đây mới chỉ là nguồn tin, chưa biết thực hư như thế nào. Mặc dù vậy, Thủ tướng đã chỉ đạo cần kịp thời phối hợp với phía Nhật Bản để xử lý nghiêm, nếu vụ việc có thực.
“Trước thông tin báo chí nêu, đã có hai phó thủ tướng chỉ đạo trực tiếp với các bộ, ngành. Trong cuộc gặp mới đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định với Thủ tướng Nhật Bản: “Chúng ta hãy phối hợp chặt chẽ, điều tra thận trọng, xử lý nghiêm minh. Nếu điều đó là có thật thì phải rút kinh nghiệm liền, để ngăn chặn những gì có thể xảy ra sau này”, Bộ trưởng Nên cho biết.
“Điều đó nói lên quyết tâm của Việt Nam, dù chưa rõ thực hư vụ việc thế nào”, Bộ trưởng Nên nói.
Theo người phát ngôn Chính phủ, hiện các cơ quan chức năng được giao nhiệm vụ của Việt Nam cũng đã vào cuộc. Trước đó, một thứ trưởng của Bộ Giao thông Vận tải đã trực tiếp sang Nhật để nắm thông tin. Chính phủ Nhật cũng đã chỉ đạo các cơ quan vào cuộc điều tra.
Tuy nhiên, theo ông Nên: “Thông tin đến giờ này chưa có gì mới, chưa có động thái gì vì chưa biết kết quả như thế nào. Thủ tướng đã chỉ đạo hết sức thận trọng nhưng cũng phải kiểm tra quyết liệt, có trách nhiệm, đảm bảo theo quy định của pháp luật”.
Ngoài ra, theo Bộ trưởng Nên, đồng vốn ODA vào Việt Nam thường qua hai cách, một là theo cách thông thường, nhưng cũng có những dự án theo phương thức STEP (vốn ưu đãi đặc biệt).
Dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội đang dính nghi án hối lộ được thực hiện theo phương thức STEP, do đó có một quy định đặc biệt là chỉ nhà thầu Nhật mới tham gia được. Nhưng qua tìm hiểu, lúc đầu dự án có nhiều nhà thầu tham gia, nhưng sau đó chỉ còn lại một nhà thầu. Điều này cũng làm mất tính cạnh tranh.
Bên cạnh đó, Thủ tướng cũng nhấn mạnh, phải lấy pháp luật của chúng ta để làm quy trình điều tra, làm đúng, làm đủ, thận trọng, khách quan và không được sĩ diện.
“Người đưa hối lộ là người Nhật, rồi nêu thông tin cũng là từ Nhật, nên câu chuyện này rất dài. Hiện vẫn đang trong quá trình điều tra, nhưng chúng ta làm đầy đủ, quyết liệt, rồi sau đó ra cái gì sẽ xử lý tiếp”, Bộ trưởng Nên kết luận.
THEO NGUYỄN TẤN DŨNG

Giáo sư Nguyễn Lân: “TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÃ NHỔ ĐƯỢC HAI CÁI GAI”

Vietstudies

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2014/04/nguyenlan.jpg<<<===  Nguyễn Lân (1906-2003)
Báo NHÂN DÂN
Chủ nhật, ngày 18-5-1958, trang 3

Đấu tranh vạch mặt bọn phá hoại “Nhân văn – Giai phẩm”
NHỮNG NGƯỜI TRÍ THỨC TRUNG THỰC LÊN TIẾNG
Giáo sư Nguyễn Lân: “TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÃ NHỔ ĐƯỢC HAI CÁI GAI”
http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2014/04/TDT_TT.jpg
Trường Đại học Sư phạm đã nhổ được hai cái gai của nhà trường. Đó là Trương Tửu và Trần Đức Thảo.
Trần Đức Thảo (1917 – 1993) và Ô. Trương Tửu (1913 – 1999). Nguồn: OntheNet
Trường Đại học sư phạm có nhiệm vụ đào tạo những người giáo viên nhân dân tốt, nắm được những tri thức khoa học tiên tiến và thấm nhuần những phẩm chất cao quý của nền đạo đức xã hội chủ nghĩa, để toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, toàn tâm toàn ý rèn luyện thế hệ trẻ thành những người thợ tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nhưng trong mấy năm vừa qua kết quả của nhà trường đã phần nào không đáp ứng được những yêu cầu của xã hội và tấm lòng kỳ vọng tha thiết của nhân dân: một số sinh viên tốt nghiệp ở trường ra, về địa phương, đã dạy xằng, làm bậy, khiến cho các cấp lãnh đạo bực mình, phụ huynh học sinh chán ghét, và một số học sinh chịu ảnh hưởng xấu xa. Có người khi dạy về Cách mạng tháng Tám đã tuyên bố ở giữa lớp rằng lòng biết ơn của nhân dân đối với Đảng và Hồ Chủ tịch là một công thức (!), có người đã dùng bài “Người khổng lồ không tim” làm một bài giảng văn thay cho những bài thần thoại trong chương trình; có người đã cả gan dám nói với học sinh rằng chế độ ta đã như cái trôn chảo thì bôi đen cũng là vô ích; có người lại còn phát triển tự do cá nhân đến nỗi yêu đương nữ học sinh một cách bừa bãi; còn có người tự cao tự đại đến mức coi khinh tất cả các bạn đồng nghiệp dạy trước mình, thậm chí khi cấp trên cử dạy ở một trường cấp II thì không nhận và nói rằng: “Tôi dạy những người dạy cấp II chứ không dạy học sinh cấp II”…
Thực ra trong số sinh viên tốt nghiệp trường Đại học sư phạm, có những kẻ dạy xằng, làm bậy như thế chỉ là một thiểu số, bên cạnh những người đã tỏ ra cần cù và khiêm tốn trong nghề. Nhưng con sâu bỏ rầu nồi canh, nên đã xảy ra tình trạng đáng buồn là các khu, các ty rất e ngại khi được tin có những sinh viên tốt nghiệp Đại học sư phạm được bổ nhiệm về địa phương mình.
Những kết quả tai hại trên đây do đâu mà có? Phải chăng vì trường Đại học sư phạm đã không làm tròn cái nhiệm vụ quang vinh mà Đảng mà Đảng và Chính phủ đã giao cho? Phải chăng vì sinh viên không chịu tiếp thu sự giáo dục của nhà trường?
Không phải thế: Nhà trường vẫn cố gắng rất nhiều và đã đạt nhiều thành tích trong công tác giáo dưỡng và giáo dục, còn anh em sinh viên thì nói chung rất tích cực, rất chăm chỉ học tập và tu dưỡng.
Sở dĩ có những lệch lạc ở một số sinh viên khoa Văn và khoa Sử là vì họ đã chịu cái ảnh hưởng tàn khốc của Trương Tửu và Trần Đức Thảo.
Trong vài năm vừa qua ở trường Đại học sư phạm có cái hiện tượng “trống đánh xuôi, kèm thổi ngược”:
Nhà trường đòi hỏi các cán bộ giảng dạy trước khi lên lớp phải soạn giáo trình và giáo án; nhưng Tửu và Thảo thì không chịu viết giáo trình, lấy cớ là môn mình phụ trách khó quá chưa thể cho in thành tài liệu được. Sự thực là họ sợ mực đen giấy trắng dễ biểu lộ những tư tưởng phản động của họ. Họ thường tay không lên lớp rồi nói lung tung, không theo một phương pháp sư phạm nào. Vì không có giáo án nên đã có lần Trương Tửu không chuẩn bị, phải nhai lại một bài đã giảng kỳ trước, làm cho sinh viên hết sức công phẫn. Cũng vì không chuẩn bị nên Trần Đức Thảo giảng rất khó hiểu, nhiều sinh viên đã phàn nàn là không hiểu y muốn nói gì. Có người tưởng rằng y dạy khó hiểu là vì y dạy cao quá. Sự thực thì dù nội dung có cao, có sâu đến đâu mà nắm vững phương pháp sư phạm, người ta vẫn có thể giảng một cách dễ hiểu được. Còn như định tâm nói ra những ý phản động lại dùng chủ nghĩa Mác Lê-nin để làm cái bình phong thì tất nhiên phải diễn đạt một cách úp úp, mở mở, nên giảng khó hiểu không phải là lạ lùng gì!
Một yêu cầu quan trọng mà nhà trường đề ra là giáo sư lên lớp phải quan tâm đến việc giáo dục tư tưởng cho sinh viên, phải khiến cho sinh viên thấm nhuần chủ nghĩa xã hội khoa học, dùng chủ nghĩa duy vật biện chứng mà giải thích mọi hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội, đứng trên lập trường Đảng, lập trường của giai cấp vô sản mà nhận định mọi vấn đề. Đó là điều tâm niệm của mọi cán bộ giảng dạy yêu nước, yêu nghề và tự trọng. Nhưng Trương Tửu và Trần Đức Thảo thì ngược lại, chỉ âm mưu dùng cái diễn đàn của trường đại học để đả kích chế độ, đả kích Đảng và xuyên tạc chân lý. Thí dụ: Tửu đã say sưa giảng về Vũ Trọng Phụng để chứng minh rằng Vũ Trọng Phụng sáng suốt hơn Đảng. Còn Thảo thì trong hai năm dạy lịch sử tư tưởng chỉ cố ý dừng lại ở Hê-ghen, không hề giảng đến Mác, Thảo luôn luôn dùng cái “hạt nhân duy lý” để xóa nhòa ranh giới giữa duy vật và duy tâm, xóa nhòa ranh giới giữa ta và địch. Quả là Tửu và Thảo đã dụng tâm làm tan rã lòng tin tưởng của sinh viên vào Đảng, vào chế độ.
Chính vì Trương Tửu và Trần Đức Thảo có manh tâm chống Đảng, chống chế độ nên trong hai năm nay, họ đã gây nên ở trường Đại học sư phạm một không khí nặng nề, khó thở: Họ là giáo sư, là chủ nhiệm khoa, nghĩa là những người có cương vị trong hội đồng lãnh đạo của nhà trường. Nhưng thực ra họ luôn luôn tìm cách biến những buổi họp hội đồng lãnh đạo thành những cuộc cãi vã, thành những dịp để họ công kích ban giám đốc, công kích các đảng viên. Cho nên trong các buổi họp hội đồng lãnh đạo, ít khi người ta đi được đến những kết quả cụ thể về xây dựng chuyên môn, xây dựng tổ chức, mà phần lớn thời gian chỉ là để giải quyết những vấn đề tủn mủn, vụn vặt do họ nêu lên hoặc là để họ gây thêm mâu thuẫn trong nội bộ nhà trường. Có người đã cho rằng Tửu và Thảo luôn luôn dùng cái thủ đoạn “đảo nghị” mà nghị sĩ Pác-nen đã dùng ở nghị viện nước Anh hồi cuối thế kỷ thứ 19, để hội đồng lãnh đạo nhà trường không làm trọn nhiệm vụ mà nhân dân giao phó cho.
Không những Tửu và Thảo chĩa mũi dùi vào các đảng viên mà họ thường mạt sát với những lời sống sượng, thô bạo, họ còn tìm cách dèm pha tất cả những người ngoài Đảng không ăn cánh với họ. Riêng đối với những kẻ nghe theo họ thì họ đề cao, tâng bốc, đòi cho được hưởng quyền lợi nọ kia. Với cái óc bè phái ấy, họ đã phá hoại tinh thần đoàn kết rất cần thiết cho việc xây dựng nhà trường.
Thái độ hung hăng, phá phách của Tửu và Thảo ở trường Đại học sư phạm có phải là do sự bất mãn hay không? Chúng tôi thiết nghĩ họ không có lý do gì bất mãn cả, vì Đảng và Chính phủ đối đãi với họ thật là đã quá hậu.
Nhiều người đã ngạc nhiên không hiểu vì sao Trương Tửu mà có thể là giáo sư đại học được. Không những y có cái quá khứ chẳng hay ho gì, mà ngay đến cái vốn tri thức của y cũng rất là nông cạn, như người ta đã phân tích nhiều lần trên báo chí. Ấy thế mà Tửu vẫn được làm giáo sư trường Đại học sư phạm thì còn bất mãn nỗi gì?
Còn Trần Đức Thảo thì từ khi hòa bình lập lại được cử làm Phó giám đốc trường Đại học Văn khoa rồi làm chủ nhiệm khoa Sử, có quyền điều khiển nhiều giáo sư khác, trong đó có những đảng viên như ông Trần Văn Giàu; Thảo lại được sử dụng một cái quỹ mua sách cho khoa hàng mấy chục triệu đồng, thậm chí đã mua cho khoa Sử một bộ “Địa chất học” giá hai triệu đồng mà cũng không ai ngăn cản được; Thảo lại còn buộc nhà trường phải công nhận những việc rất vô lý, thí dụ như đòi giữ lại ở khoa Sử môn Tâm lý học là một môn ở bất cứ trường Đại học sư phạm nước nào cũng phải đi liền với môn giáo dục học. Ấy thế mà trong mấy năm không ai có thể thay đổi cái tình trạng bất hợp lý đó. Ngoài ra Thảo còn có những đòi hỏi rất nhiều về phương diện vật chất; trong khi anh em cán bộ giảng dạy khác không có nhà ở hoặc phải ở chen chúc bốn năm người trong một phòng nhỏ thì Thảo được ở một cái nhà lầu cao ráo, rộng rãi; thế mà vẫn cứ luôn luôn mè nheo, bắt dọn đi dọn lại, sửa đi sửa lại. Thảo dồn ép đồng chí phụ trách quản trị đến nỗi đồng chí này đã phải thốt ra lời nói rằng: “Đứng trước ông Thảo, tôi như người cố nông đứng trước địa chủ trong thời phong kiến!”. Thảo được chiêu đãi như thế, còn có lý gì bất mãn nữa?
Vấn đề này, chúng tôi vẫn cứ tự đặt ra trước khi học tập hai văn kiện, nhưng không sao giải quyết được..
Phải chờ đến khi đã học tập, anh em các tổ được giác ngộ, yêu cầu Tửu và Thảo phải kiểm thảo, rồi anh em góp thêm nhiều hiện tượng, chúng tôi mới hiểu được rằng Trương Tửu và Trần Đức Thảo không phải chỉ là những người trí thức bất mãn mà rõ ràng là những kẻ có mưu đồ xấu xa về chính trị. Trước những hiện tượng cụ thể anh em nêu lên mà Tửu và Thảo không thể chối cãi được, chúng tôi mới thấy được những tư tưởng phản động có thể hạ phẩm giá con người đến mức độ nào. Một số sự việc đã khiến chúng tôi phải sửng sốt không ngờ những người vẫn mệnh danh là đại trí thức như Tửu và Thảo mà có thể ti tiện, đê hèn như thế.
Quả đợt học tập hai văn kiện là một cơn gió lành mạnh đã thổi bạt được những rác rưởi của chủ nghĩa xét lại, đã lật được mặt nạ một số người trước đây người ta vẫn cho là thượng lưu trí thức, và riêng đối với trường Đại học sư phạm, đã nhổ được hai cái gai gây ra bao nhiêu vướng víu trong việc xây dựng nhà trường.
Gai đã nhổ rồi, không khí trường Đại học sư phạm trở nên khác hẳn: mọi người, mọi thành phần, sau đợt học tập, đã cùng đứng trên một lập trường, cùng thống nhất một ý chí, nên tình đoàn kết càng ngày càng chặt chẽ. Trên cơ sở của mối đoàn kết đó, mọi công tác của nhà trường như tổ chức, giảng dạy, học tập, lao động… đều tiến hành được đều đặn, với một đà phấn khởi chưa từng có.
Từ nay nhà trường như một thân thể đã cắt được cái ung thư trở nên lành mạnh, khỏe khoắn. Nhất định trong một tương lai ngắn, trường Đại học sư phạm của chúng ta sẽ xứng đáng là một trường Đại học xã hội chủ nghĩa, xứng đáng với nhiệm vụ đào tạo những người giáo viên tốt cho nền giáo dục phổ thông đương một ngày một vươn lên mạnh mẽ.
GS Nguyễn Lân 

Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh: Vụ cán bộ và gia đình cán bộ chiếm đoạt trắng trợn tài sản công dân

Nguoicaotuoi

Bà Hồ Thị Lệ, sinh năm 1944, hiện  trú  tại số 5 Lê Văn Tách, phường Linh Tây, quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh liên tục có đơn kêu cứu khẩn cấp gửi đến Tổng Biên tập Báo Người cao tuổi, phản ánh: “Tôi được chồng (ông Hoàng Đôn Thận) ủy quyền khiếu nại đòi đất bị chiếm đoạt và yêu cầu cấp chủ quyền sử dụng 64ha đất tại phường Long Bình, quận 9, TP. Hồ Chí Minh. Mặc dù các cơ quan có thẩm quyền của Trung ương xem xét, kiến nghị, nhưng UBND quận 9 và TP. Hồ Chí Minh vẫn không giải quyết”. Quyền sử dụng đất của gia đình bà Lệ bị chiếm đoạt như thế nào? …
Nguồn gốc đất
Năm 1964, ông Hoàng Đôn Thận (khi đó còn độc thân) mua của bà Phạm Thị Dung 71 ha đất tại xã Long Bình, tổng Long Vĩnh Hạ, tỉnh Gia Định với giá 120.000 đồng, được chứng thư thị phần tại xã Long Bình ngày 30/5/1964, trước bạ tại Gia Định ngày 20/5/1968, đăng kí ngày 27/6/1968. Trên đất này gia đình ông Thận trồng 446.000m2 cây cao su, số diện tích còn lại 259.600m2 trồng bạch đàn (hiện vẫn còn một số cây bạch đàn cổ thụ trên đất). Tháng 5 năm 1974 ông Thận làm giấy giao ước giữ đất với ông Cao Văn Tư để ông Tư trông nom chăm sóc phần đất 71ha, hàng tháng trả tiền trông nom cho ông Tư. Toàn bộ phần đất 71hađược kê khai theo Chỉ thị 299/TTg.
Một phần đất thuộc 64ha có nguồn gốc của gia đình ông Hoàng Đôn Thận đang bị đưa vào quy hoạch mà không đền bù.
Năm 1991, UBND TP. Hồ Chí Minh chấp thuận quy hoạch địa điểm xây dựng Nhà máy Bê – tông thuộc Công ty Khai thác nước sông Sài Gòn, diện tích đất của gia đình ông Thận bị giải tỏa khoảng 7ha. Để được đền bù 7ha đất này, gia đình ông Thận phải làm thủ tục xác nhận chủ quyền đất của mình. Cụ thể: ngày 30/12/1991, UBND phường 15, quận 11 xác nhận ông Hoàng Đôn Thận không thuộc diện cải tạo; ngày 01/4/1992, cơ quan quản lí ruộng đất TP. Hồ Chí Minh có Công văn số 246/CV-TTCP đề nghị Công ty Khai thác nước sông Sài Gòn đền bù 7ha đất; ngày 19/9/1992, Chủ tịch UBND huyện Thủ Đức có công văn 741/CV-UB đề nghị đền bù đất đai, hoa lợi cho gia đình ông Thận; ngày 19/5/1993, Chủ tịch xã Long Bình, quận Thủ Đức xác nhận đất đang khiếu nại thuộc chủ quyền của gia đình ông Thận; ngày 20/10/1993, Ban Vật giá Thành phố có Công văn số 647/VGTP-VB xác định đơn giá đền bù đất cho gia đình ông Thận là 3.200đ/m2. Đến tháng 3/1995, Công ty Khai thác nước sông Sài Gòn chi trả tiền đền bù 7ha đất cho gia đình ông Thậnbằng ủy nhiệm chi qua Ngân hàng Công thương Thành phố.
Như vậy, rõ ràng toàn bộ 71ha đất trên thuộc chủ quyền sử dụng hợp pháp, đủ điều kiện để Nhà nước công nhận chủ quyền sử dụng. Nhưng …
Phớt lờ kiến nghị của cấp trên!
Suốt từ năm 1995 trở lại đây, gia đình ông Thận nhiều lần đi lên đi xuống UBND quận Thủ Đức và sau này là UBND quận 9 đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần diện tích còn lại 64ha nhưng đều không được giải quyết. Suốt từ đó đến nay, UBND quận 9 cũng chưa ban hành quyết định giải quyết đơn khiếu nại của gia đình ông Thận. Ròng rã 19 năm (từ năm 1995 tới nay) hai vợ chồng (ông Thận, bà Lệ) đã gửi đơn nhiều nơi như: Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, Trụ sở Tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước nhưng các nơi này đều có văn bản trả lời đơn đã được chuyển về Thanh tra Chính phủ hoặc chuyển về UBND TP. Hồ Chí Minh.
Một trong những phần đất thuộc 64ha có nguồn gốc của gia đình ông Hoàng Đôn Thận đang bị chiếm dụng làm cơ sở sản xuất.
Ngày 20/5/1998, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Công Tạn kí Quyết định số 496/QĐ-TTg về việc giao đất xây dựng Công viên Lịch sử Văn hóa Dân tộc tại phường Long Bình (trong đó có một phần diện tích đất của gia đình ông Thận) nhưng cho tới thời điểm này Dự án này vẫn chưa được triển khai. Và, việc đền bù cho các hộ dân bị ảnh hưởng khi thu hồi đất thực hiện Dự án này đã không được chủ đầu tư đề cập tới.
Bà Lệ trao đổi với phóng viên: “Gia đình tôi quá bức xúc, mệt mỏi vì “dự án treo”, đất không làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng, chúng tôi liên tục làm đơn khiếu nại mà chưa được giải quyết dứt điểm theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo. Thậm chí, Trung ương đã xem xét và có văn bản yêu cầu giải quyết đơn của gia đình chúng tôi. Năm 2007, cơ quan Thanh tra Chính phủ đã thành lập Đoàn thanh tra số 2567/QĐ-TTCP về làm việc 4 vụ khiếu nại tại quận 9, trong đó có vụ việc khiếu nại của gia đình tôi. Tại biên bản làm việc với UBND quận 9 ngày 25/2/2008, ông Nghiêm Sỹ Minh, Trưởng đoàn Thanh tra đã có ý kiến:“Việc sử dụng đất của gia định ông Thận là có quá trình sử dụng, ông Thận có kê khai đăng kí nhưng chưa được cấp giấy. Đề nghị UBND quận 9 xem xét về việc bồi thường, hỗ trợ theo đúng quy định pháp luật”. Và, sau đó Thanh tra Chính phủ đã có 2 công văn đề nghị UBND TP. Hồ Chí Minh xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, nhưng mọi việc vẫn rơi vào im lặng.”
Và tự tung tự tác để chiếm đoạt!
Đơn kêu cứu, bà Lệ viết: “Ngày 8/1/2008, UBND TP. Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND về việc thu hồi đất 978.491m2 đất tại phường Long Bình, quận 9 để chỉnh trang và phát triển đô thị. Qua tìm hiểu, gia đình tôi được biết một số hộ dân đã lấn chiếm, làm nhà trên diện tích 18,5ha thuộc phần đất 64ha đang có khiếu nại nói trên (trong đó có nhiều hộ là người thân của lãnh đạo quận 9 đã có tên trong danh sách nhận tiền bồi thường do Ban bồi thường Giải phóng mặt bằng quận 9 lập và chi trả. Trong đó, có trường hợp ông Cao Văn Tư, người mà gia đình tôi kí hợp đồng trông coi khu đất và cũng là người đại diện Hội Nông dân tập thể kí vào biên bản xác nhận khi gia đình tôi đăng kí kê khai theo Chỉ thị 299/CC-TTg, cùng 5 người con và một người cháu có tên trong danh sách nhận đền bù đất của gia đình tôi tới 51 tỉ 707 triệu đồng. Riêng gia đình và người thân của ông Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch UBND quận 9, chiếm giữ đất của gia đình chúng tôi (phía sau 3 biệt thự là hàng chục ngàn m2). Ngoài ra, gia đình ông Thành còn chiếm đất của gia đình chúng tôi để khai thác đất làm lò gạch với diện tích cũng hàng chục ngàn m2. Tại phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư số 86/PABT-HĐBT do Phó Chủ tịnh UBND quận 9, kiêm Chủ tịch HĐBTGPMB Nguyễn Văn Thành kí duyệt thể hiện có nhiều hộ là người thân của ông Thành chưa bao giờ sử dụng đất nhưng cũng có tên để nhận nhiều chục tỉ đồng. Tôi cực lực lên án và phán đối việc làm trái với quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi. Tôi đã làm đơn ngăn chặn khẩn cấp trực tiếp gửi UBND quận 9, Trung tâm Phát triển quỹ đất TP.Hồ Chí Minh, yêu cầu tạm dừng việc đền bù không đúng đối tượng, nhằm làm giảm thiệt thòi, rủi ro cho gia đình tôi. Là người dân lương thiện, gia đình tôi chỉ muốn bảo vệ thành quả, công sức và tiền bạc mà chúng tôi đã gửi gắm vào đất. Tôi không tin quan điểm của Nhà nước ta thay đổi sau 15 năm, bởi năm 1993, ông Huỳnh Phú Sang, Trưởng Ban quản lí ruộng đất TP Hồ Chí Minh, đại diện cho Nhà nước công nhận đất này là của gia đình tôi, đã đền bù cho tôi khi Công ty khai thác nước sông Sài Gòn lấy làm Dự án Bê – tông dự ứng lực. Tôi thiết tha mong ông Tổng Biên tập hãy bằng uy tín của mình, cùng các cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ nội dung sự việc tôi trình bày trong đơn này để trả lại công bằng cho gia đình tôi.”
Như vậy, có nhiều vấn đề đặt ra: phần đất 64ha có nguồn gốc gia đình ông Thận có quá trình sử dụng, có kê khai đăng kí, nhưng tại sao chưa được Nhà nước công nhận chủ quyền?; quyền sử dụng đất này đã và đang bị “chia 5, xẻ 7” là do ai? Việc đền bù không đúng đối tượng là do ai? Trong khi, điều dễ thấy là tự thân các hộ dân (kể cả người thân của lãnh đạo quận 9) không thể tự ý vào chiếm giữ đất và có tên trong danh sách nhận tiền đền bù, nếu như không có việc tự tung tự tác của một số cán bộ ở quận 9 (kể cả lãnh đạo có thẩm quyền)!
Đây là vụ xâm phạm quyền công dân một cách trắng trợn, Báo Người cao tuổi kiến nghị các cơ quan bảo vệ pháp luật khẩn trương vào cuộc để thanh tra toàn diện vụ việc trên đây. Qua đó, giải quyết, kết luận những vấn đề phản ánh trong nội dung bài viết này theo quy định của Luật Báo Chí.
Dương Bình

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét