Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2011

VIỆT NAM: CẢI CÁCH NGÂN HÀNG

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

VIỆT NAM: CẢI CÁCH NGÂN HÀNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ bảy, ngày 17/12/2011
(Đài RFA 7/12)
Hội nghị hàng năm của nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 6/12. Dưới chủ đề “Thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế và giảm nghèo”, nghị trình có một hồ sơ nóng mà cũng là mối quan tâm của nhiều người là hồ sơ tái cơ cấu khu vực tài chính và ngân hàng của Việt Nam. Nhân dịp này, Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về các vấn đề nổi cộm trong hệ thống ngân hàng Việt Nam qua phần trao đổi sau đây cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.
Tái cơ cấu tài chính

+ Xin chào ông. Sau khi lãnh đạo Việt Nam đề ra chủ trương cho 5 năm tới là tái cơ cấu hệ thống đầu tư, ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước, hội nghị năm nay của các nhà tài trợ cho Việt Nam cũng nêu trong nghị trình hồ sơ tái cơ cấu khu vực tài ‘chính và ngân hàng. Trước khi tìm hiểu hồ sơ đó, đề nghị ông trình bày bối cảnh về hội nghị của Nhóm Tư vấn các Nhà tài trợ cho Việt Nam.
- Từ khi Việt Nam được quốc tế tái cấp phát viện trợ vào năm 1993 nhờ đã bắt đầu tiến hành đổi mới thì hàng năm, các nhà cung cấp viện trợ gồm các định chế tài chính quốc tể và các chính quyền vẫn họp vào Tháng 12 để cứu xét yêu cầu và quyết định về khoản viện trợ cho tài khoá tới. Sau đó họ có thêm hội nghị giữa năm để rà soát lại việc sử dụng viện trợ. Các cơ quan cung cấp viện trợ còn định chế hóa việc này qua bộ phận gọi là Nhóm Tư vấn, gồm đại diện các cơ quan cấp viện trợ, chủ yếu là Ngân hàng Thế giới, và các tô chức ngoài chính phủ cùng với đại diện của Chính phủ Việt Nam. Hội nghị năm nay đáng chú ý ở hai điểm.
Thứ nhất, không thảo luận nhiều về số lượng viện trợ mà tập trung vào chất lượng của tăng trưởng và số phận của dân nghèo. Thứ hai, cả phiên họp chỉ diễn ra trong một ngày và thời gian thảo luận về các hô sơ thật ra không nhiều. Nghị trình có hai cuộc họp then chốt là: 1) cải cách tài chính và ngân hàng; và 2) nguy cơ nghèo khó mới, như đô thị hóa* di dân và nạn nghèo đói, cùng các chính sách đối phó. Bên cạnh đó, cần nói thêm rằng nhân dịp này đại diện Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cảnh báo rằng Việt Nam không nên vội nới lỏng tiền tệ vì sẽ lại gây bất ổn mà phải nhanh chóng và triệt để bảo đảm sự lành mạnh của khu vực tài chính ngân hàng.
+ Ngân hàng Thế giới có chức năng viện trợ tài chính và kỹ thuật với điều kiện ưu đãi để phát triển các nước nghèo, còn Quỹ Tiền tệ Quốc tế là định chế có chức năng bảo đảm sự ổn định tài chính và ngoại hối của các nước trong luồng giao dịch toàn cầu. Khi hai định chế này đều quan tâm đến hệ thống tài chính và ngân hàng của Việt Nam, phải chăng họ đã nhìn thấy vấn đề và cũng nêu ra nhiều khuyến cáo?
- Họ thường nêu ra một cách lịch sự để khỏi xúc phạm lòng tự ái của các nước xin viện trợ. Riêng về Việt Nam, theo dự trù họ sẽ nghe giới hữu trách trình bày kế hoạch cải tổ của Việt Nam gồm có sáu bảy biện pháp và một tin vui là có ba ngân hàng vừa tự nguyện sáp nhập! Một số người sẽ phát biểu về kinh nghiệm cải cách của các nước châu Á cho Việt Nam chọn lựa. Nhưng rốt cuộc thì quyết định tối hậu vẫn thuộc Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Các định chế cung cấp viện trợ có biết rõ về hoàn cảnh khó khăn, thậm chí là khủng hoảng của hệ thống ngân hàng Việt Nam hay không?
- Tôi tin là họ biết và từ lâu đã cảnh báo về loại rủi ro có thể gặp phải. Có lẽ ta nên trở lại nguyên thủy của vấn đề tồn tại bây giờ mới phát tác thành nguy cơ khủng hoảng. Mười năm trước, người ta đã nhận thấy vấn đề “nợ không sinh lời” của các ngân hàng Việt Nam. “Nợ không sinh lời” là các khoản tín dụng ngân hàng bất trắc, loại nợ khó đòi và có thể mất. Khi thấy tỷ lệ nợ xấu này quá lớn so với dư nợ tín dụng, nhà cầm quyền cũng nói đến yêu cầu tăng vốn và tái cơ cấu, thậm chí giảm số ngân hàng hoạt động cho đúng với quy mô cửa thị trường. Nhưng Hiệp định thương mại tự do song phương ký kết với Mỹ đã mở ra một trào lưu lạc quan và ngân hàng lại có thêm tiền nhờ bán thêm cổ phần và cả sự hồ hởi hùn vốn từ nhiều ngân hàng lớn của nước ngoài. Vì vậy, hệ thống ngân hàng lại tăng thêm cơ sở và nhờ số vốn nhiều hơn, nên không còn ai nói đến tỷ lệ nợ xấu quá cao nữa. Nhưng trong khi đó chất lượng quản lý và nhất là khả năng thẩm định rủi ro của các ngân hàng vẫn không có nhiều cải tiến. Lần thứ hai, khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007, thật ra lại không bền vì sau đó là lạm phát và khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008 rồi suy thoái toàn cầu.
Khi ấy, Ngân hàng Trung ương cũng nói đến cải cách ngân hàng và cấp tốc đối phó với nạn sụt giá cổ phiếu của ngân hàng. Chúng ta không quên rằng thời gian đó, Việt Nam đã gặp bài toán lưỡng nan là vừa “đạp phanh” đế hãm đà lạm phát vừa “rú ga” để đẩy mạnh tăng trưởng trong khi các ngân hàng được yêu cầu kiểu hành chính là trong vẻn vẹn hai năm phải nâng vốn pháp định lên mức tối thiểu là 3000 tỷ đồng Việt Nam, tương đương với 142 triệu USD.
+ Như vậy có phải là vấn đề đang gặp ngày nay đã manh nha từ nhiều năm trước rồi?
- Vấn đề ngày nay thật ra còn nguy ngập hơn mấy năm trước vì còn phải gánh chịu hậu quả của chính sách quản lý vĩ mô bất cập và bất nhất trong hai năm qua. Lạm phát trên dưới 20% gây áp lực cho các ngân hàng và gieo họa cho các doanh nghiệp khi phải đi vay với lãi suất từ 20-22%. Doanh nghiệp bị ách tắc tín dụng là khó đi vay, dù phải trả lãi cắt cổ; ngân hàng thì thiếu thanh khoản và phải tạm vay nhau qua ngày trong thị trường liên ngân hàng với lãi suất quy ra toàn năm tới 40%. Các ngân hàng lớn thì có lời còn ngân hàng nhỏ và tư nhân thì gặp khó khăn. Nạn đầu cơ bất động sản vì sự lạc quan trước đây đã không còn và thị trường bất động sản đóng băng, ngân hàng mất nợ… Ngoài ra, quyết định có vẻ chính đáng nhằm trấn an khách hàng ký thác là không để ngân hàng nào bị vỡ nợ lại gây hậu quả khó lường là nuôi thói ỷ thế làm liều vì tin rằng khi có chuyện thì ai đó sẽ cứu. Hiện chưa rõ núi nợ xấu này cao chừng nào. Ngân hàng Trung ương thì nói là khoảng 3% dư nợ tín dụng trong khi nhiều giới chức khác đưa ra con số gấp ba.… Và bây giờ thì mọi người đều đồng ý rằng Việt Nam có quá nhiều ngân hàng mà thiếu ngân hàng lành mạnh nên sẽ phải mua, bán hoặc sáp nhập để có ít ngân hàng hơn mà đa số là đáng tin cậy hơn.
Nạn khủng hoảng ngân hàng
+ Sau khi mô tả tình hình u ám như vậy, ông có tin rằng người ta hiểu ra căn nguyên vấn đề là tại đâu không?
- Tôi thật khó trả lời cho câu hỏi này vì căn nguyên nằm bên trong cơ cấu xã hội và chính trị của Việt Nam. Trước hết, dù Việt Nam khẳng định sự hữu ích của doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất và ngân hàng, thì vân duy trì vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước, gồm có doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại của nhà nước. Không gian kinh doanh của tư nhân thật ra vẫn bị méo mó và thu hẹp khiến tư nhân vẫn phải xây dựng quan hệ tốt với quan chức nhà nước. Và đấy là đầu mối của những quyết định kinh doanh lệch lạc, nhất là trong môi trường lạc hậu và thiếu minh bạch của luật lệ vốn dĩ lại đổi thay thất thường. Trong môi trường đó, nhiều cơ sở có tiếng là tư nhân thật ra chỉ là cánh tay nối dài của hệ thống kinh tế nhà nước hoặc thân tộc của quan chức nhà nước. Các cơ sở này không tính toán về rủi ro kinh doanh như ở nước khác vì đặc tính tôi xin gọi là “tư bản thân tộc” hay của nền kinh tế và tổ chức chính trị.
Đi vào lĩnh vực ngân hàng thì hiện tượng đó dẫn tới sự xuất hiện của nhiều ngân hàng cồ phần tiếng là của tư nhân, mà thực chất là vệ tinh của tập đoàn nhà nước, được lập ra để giải quyết nhu cầu tài chính của doanh nghiệp nhà nước. Song song, nhờ cậy quyền cậy thế, không ít người có thể lập ra nhiều ngân hàng một lúc để dẫn khách cho nhau trong một quan hệ tài chính chằng chịt đa số là mờ ám. Sau khi linh động khai thác kẽ hở luật lệ và ưu thế về đất đai đế kiếm lời rất nhanh, loại ngân hàng gọi là tư doanh đó mà thật ra là “bán tư” lại có nhiều thủ thuật đổi nợ, gán nợ làm bảng kết toán tài sản là tài liệu kế toán không đáng tin. Dĩ nhiên, không phải ngân hàng cổ phần nào cũng vậy nhưng một số không nhỏ các ngân hàng có vấn đề đều đã làm như vậy, chưa nói đến trình độ nghiệp vụ chung là vẫn còn rất kém. Kết quả thì chính các doanh nghiệp sản xuất tư nhân mới là nạn nhân.
+ Như vậy thì làm sao giải quyết được một vấn đề có những nguyên nhân sâu xa từ cơ câu kinh tế, xã hội và chính trị thiêu minh bạch như ông vừa phân tích?
- Tôi cứ hay nói ngược nhưng vẫn cho rằng việc cải cách hệ thông ngân hàng phải bắt đầu từ trên xuống, từ cái đầu tàu là vai trò của nhà nước trong nền kinh tế Một thí dụ là phải kiểm tra tình hình tài chính và đầu tư thật của các tập đoàn kinh tế nhà nước, kể cả ngân hàng thương mại của nhà nước, để thấy được mối quan hệ tài chính với các ngân hàng và công ty tài chính gọi là tư nhân này. Việc chấn chỉnh nên khởi sự từ đó để tính ra phí tốn của việc cứu trợ là bao nhiêu, ai sẽ thanh toán, nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hay nhà đầu tư tư nhân dựa vào hệ thống nhà nước, theo tỷ lệ nào? Đấy là một tín hiệu về thực tâm cải tổ. Chuyện thứ hai, ai cũng biết việc cải cách sẽ mất nhiều năm chứ không giải quyết nhanh chóng bàng một quyết định hành chính. Trong thời gian trung hạn ấy, câu hỏi cần nêu ra là doanh nghiệp tư nhân, từ nông thôn tới thành thị, sẽ giải quyết nhu cầu tín dụng ra sao để duy trì sản xuất và tránh được nạn đi vay lãi cắt cổ trên thị trường chợ đen là chuyện đang xảy ra.
+ Thế còn các khách hàng ký thác, họ có cần được bảo vệ trong đợt cải tổ chăng?
- Người ta nghĩ đến các khách hàng ký thác và mức bảo đảm ký thác hiện nay quả là vẫn quá thấp. Nhưng, dân có tiền tiết kiệm mà không tin ngân hàng hoặc không gửi tiền ký thác vì lãi suất thấp thì còn biết cách nào khác để gìn giữ giá trị tài sản, kể cả bằng vàng và USD. Khi ấy nhà nước có bảo đảm cả các khoản ký thác bằng ngoại tệ không? Đây là câu hỏi không dễ có lời giải khi Việt Nam muốn tránh nạn đôla hoá và nhà nước muốn gom đôla vào trong tay. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ rằng giới sản xuất thấp cổ bé họng cần đi vay để sản xuất, nếu họ gặp khó khăn thì doanh nghiệp sẽ phá sản và thất nghiệp tăng. Và nạn nghèo đói lại tái diễn.
+ Nhiều nhà lý luận cho rằng nếu các cơ sở kinh doanh thua lỗ, kể cả ngân hàng, thì nên giải tán vì khoảng trống của nhu cầu đó sẽ do doanh nghiệp khác đảm nhiệm. Ngoài ra, nhân kỳ họp vừa qua của Phòng thương mại châu Âu, một số doanh nhân quốc tế cũng nói đến triển vọng tham gia của giới đầu tư nước ngoài. Liệu đấy có phải là một giải pháp chăng?
- Đó là lý luận về “sáng tạo trong hủy diệt”, là nên cho doanh nghiệp kém hiệu quả giải thể để nhường không gian kinh doanh cho các cơ sở có khả năng hơn. Sự thật tại Việt Nam lại chưa được như vậy vì tiềm năng thay thế của doanh nghiệp tư nhân thật ra còn bấp bênh, yếu ớt do không được nuôi dưỡng hay yểm trợ từ nhiều năm nay. Đấy là một vấn đê thực tế. về hướng đề nghị của Phòng Thương mại châu Âu thì tôi e rằng sự thật lại trái ngược. Lý do thứ nhất, giới doanh nhân châu Âu cảnh báo nếu Việt Nam không cải cách thật sự thì họ sẽ rút vốn chuyển sang các thị trường khác và cách đánh giá nghiêm khắc của các công ty thẩm định tài chính cũng nói ra điều ấy. Nói tóm lại là sau khi thất vọng quá nhiều, các nhà đâu tư nước ngoài sẽ bỏ thị trường Việt Nam chuyển sang Thái Lan hay Inđônêxia! Lý do thứ hai, chưa chắc là Việt Nam sẽ vui vẻ đón nhận giới đầu tư nước ngoài tham gia thị trường ngân hàng vì phản ứng bảo hộ mậu dịch vẫn còn quá mạnh, nhất là khi được lãnh đạo trình bày như tinh thần độc lập dân tộc. Còn lại, vẫn là cách xoay trở của người Việt với người Việt, ở trong và ngoài chính quyền trong một thị trường đầy bất trắc vì châu Âu bị suy thoái và Mỹ có thể bị suy trầm. Tôi thật không mấy lạc quan về cách xoay trở đó của nhà nước nêu ra ở trên, do sức cản quá mạnh của các nhóm lợi ích./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét