Phát triển các nước phương Nam? Không có
điều gì dễ hơn, IMF và Ngân hàng Thế giới khẳng định: các chính sách tự do,
quản trị tốt và thế là xong. Bằng chứng: đây là cách thức mà nước Anh, ngày hôm
qua, và Hoa Kỳ, ngày nay, đã trở thành bá chủ của thế giới. Hoàn toàn sai,
Ha-Joon Chang, một nhà kinh tế tại Đại học Cambridge, đáp lại.
Từ lâu, các nước công nghiệp hóa lớn đã không chỉ coi thường chủ nghĩa tự
do, mà đã tỏ thái độ từ một cấp độ phát triển các thể chế của họ mà ngày nay
được coi là thảm hại. Thử lấy ví dụ của nước Anh. Cho đến giữa thế kỷ XIX, các
ngành công nghiệp đã được xây dựng từ các chính sách thuế quan đặc biệt cao,
như nhà sử học Paul Bairoch đã chỉ ra, và là người mà Chang lấy cảm hứng nhiều
nhất. Và việc bãi bỏ Luật ngũ cốc (Corn
Law) nổi tiếng vào năm 1846 (mở đường cho việc nhập khẩu nông sản) là bước
đầu tiên cho một sự mở cửa dần dần nền kinh tế... một điều bị bắt đầu đặt lại
vấn đề từ những năm 1880.
Paul Bairoch (1930-)
Cũng tương tự đối với Hoa Kỳ, nước chỉ thực sự bắt đầu mở cửa nền kinh tế
sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Trước đây, nền kinh tế Mỹ là một nền kinh
tế phát triển nhanh nhất trong giai đoạn 1800-1920, trong khi vẫn là một nền
kinh tế bảo hộ nhất. Và sự can thiệp của nhà nước không dừng lại ở đó: tài trợ
cho công tác nghiên cứu nông nghiệp, phát triển các cơ sở hạ tầng giao thông
vận tải, v.v.. Người ta còn xa lạ với các khái niệm
Nhà nước tối thiểu và mở cửa thương mại bắt buộc mà IMF và Tổ chức Thương mại
Thế giới đã yêu cầu!
Ngoài ra, một khi đã thiết lập được ưu thế, nước Anh tìm cách ngăn cản sự
phát triển của các nước thuộc địa của họ (đặc biệt là Hoa Kỳ) bằng cách làm cho
những nước này quanh quẫn trong việc xuất khẩu các sản phẩm sơ cấp. Đối với
những nước độc lập hơn, nước Anh đã sử dụng quyền lực chính trị của mình để
buộc họ ký kết các hiệp định thương mại tự do, áp đặt các mức thuế quan thấp
đối với các sản phẩm của nước Anh (điều mà ngày nay Hoa Kỳ đòi hỏi qua sự trung
gian của các định chế quốc tế...). Đối với các nước đối thủ cạnh tranh, nước
Anh tìm cách ngăn chặn sự ra đi của các kỹ sư và các máy móc thiết bị của họ
sang các nước khác (để đáp trả lại phát triển hoạt động gián điệp công nghiệp, mua
chuộc các nhân viên kỹ thuật bỏ việc...). Từ đó mà phát sinh ý tưởng chủ đạo
của Chang: các nước giàu nhất luôn tìm cách rút cầu thang dưới chân những nước
có thể leo lên con đường giống họ để bắt kịp họ.
Ha-Joon Chang (1963-)
Điều này đúng với các chính sách thương mại: các nước phương Nam bị ngăn
cản thực hành chủ nghĩa bảo hộ và sự can thiệp của một Nhà nước mạnh, điều đã
giúp các nước lớn hiện nay phát triển. Điều này cũng đúng ở cấp độ thể chế.
Lướt qua trạng thái của các thể chế chính của các nước giàu có tại thời điểm
phát triển của họ, Chang chỉ ra một nền dân chủ không có thật hoặc mang tính
cục bộ, vị trí thẩm phán được mua bán bởi những người giàu nhất, quyền sở hữu
trí tuệ chỉ mới trỗi dậy, sự hình thành các tập đoàn nhiều vô kể, hầu như không
có các ngân hàng, các ngân hàng trung ương tối thiểu và chịu ảnh hưởng nặng nề của
thế lực chính trị, nguồn thu về thuế thấp, v.v.. Toàn những điều trái với các chuẩn mực của quản trị giỏi! Theo nguyên
tắc "làm theo những gì tôi nói và
không làm theo những gì tôi làm", người ta muốn các nước phương Nam
tái tạo lại – và gần như tức thì – những thể chế mà các nước giàu ngày nay đã
mất hàng thế kỷ để xây dựng và nay hiện lên như là kết quả hơn là nguyên nhân của
sự phát triển đó. Vì sao? Tác giả cho biết: Lại một cách khác nữa để rút cầu
thang dưới chân các nước phương Nam.
Ha-Joon Chang vẫn tỏ ra khiêm tốn. Ông chưa bao giờ quên nhấn
mạnh đến những điểm yếu của dữ liệu này hay, của một so sánh khác, và đến tầm
quan trọng của các lịch sử quốc gia. Nhưng quan điểm lịch sử về các điều kiện
mà các thể chế quốc tế đã áp đặt cho các nước phương Nam, theo những chính sách
hoàn toàn ngược lại với những gì mà các nước giàu ngày nay đã thiết lập ưu thế
của họ, là một luận cứ then chốt trong cuộc tranh luận.
Đặc biệt “quái dị”, là trong khi tính giá cho khối FDI bình quân chỉ
khoảng 1.000đ/KWh thì EVN lại tính cho người dân Việt Nam bình quân
khoảng 1.700đ/KWh. / Tù mù, không minh bạch
5. Ai bù lỗ và tiền đâu bù lỗ cho EVN?
Theo
cách hạch toán “kỳ lạ” của EVN, thì suốt bao nhiêu năm nay EVN không hề
lỗ xu nào, mặc dù giá điện của EVN bán ra rẻ hơn 3 lần giá thực.
Từ
điều này có thể khẳng định rằng EVN hằng năm lỗ rất nặng. Dù EVN lỗ rất
nặng triền miên, nhưng EVN vẫn “sống” được, vẫn không bị phá sản. Điều
“kỳ lạ” này vẫn tồn tại được, là nhờ ai, nhờ đâu? Nó phi kinh tế thị
trường không?
Câu trả lời đơn giản và rõ ràng là
EVN đã thường xuyên được Nhà Nước bù lỗ. Nhà nước lấy tiền ở đâu bù lỗ
cho EVN? Đơn giản và rõ ràng là lấy tiền ngân sách Quốc gia
Ngân
sách Quốc gia có tiền là nhờ đâu? Chủ yếu là từ thuế và lệ phí mà người
dân và doanh nghiệp nộp vào, là từ tiền bán tài nguyên khoáng sản, thực
chất đều là từ tiền của người dân.
Thu ngân
sách còn bao gồm lợi nhuận của doanh nghiệp Nhà nước, nhưng rất đáng
tiếc hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước đều lỗ, chỉ có một số ít doanh
nghiệp Nhà nước là có lời, với khoản tiền lời không đáng kể, và nếu hạch
toán đầy đủ minh bạch sẽ thấy rõ chỉ là “lời giả, lỗ thật”.
6. EVN dùng tiền thuế của dân bù tiền điện cho doanh nghiệp FDI
Cái này là điều thậm tệ vô lý. Nhất là với một nước nghèo như nước ta lại đi "vỗ béo" cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
Tất
cả các Doanh nghiệp tư bản nước ngoài đầu tư tại Việt Nam (FDI) đều
được hưởng giá điện rất rẻ của EVN, nghĩa là tiền mồ hôi nước mắt của
người dân Việt Nam đóng vào ngân sách được EVN chuyển vào lợi nhuận của
giới tư bản nước ngoài thông qua giá điện rẻ của EVN.
Điều
“quái dị” là EVN tính tiền điện cho doanh nghiệp khối FDI với giá bình
quân chỉ khoảng 1.000đ/KWh, tương đương 4,5 cents USD/KWh, so với giá
điện thực 25 cents USD/KWh thì chỉ bằng 4,5/25 = 18%.
Cũng
có nghĩa là các doanh nghiệp FDI cứ xài mỗi KWh điện thì EVN đã lấy
tiền thuế của dân VN tặng cho họ 25 = 4,5 = 21,5 cents USD. Hiện nay
Khối FDI xài mỗi năm khoảng 40 tỷ KWh điện, tương đương EVN đã lấy tiền
thuế của người dân VN nghèo khổ lam lũ tặng cho giới tư bản giàu có nước
ngoài mỗi năm:
21,5 cents USD/KWh x 40 tỷ KWh = 8,6 tỷ USD.
Giời hỡi! Nhìn thấy con số mà xót xa lòng!
Đặc
biệt “quái dị”, là trong khi tính giá cho khối FDI bình quân chỉ khoảng
1.000đ/KWh thì EVN lại tính cho người dân Việt Nam bình quân khoảng
1.700đ/KWh. Người dân Việt Nam từ vị Nguyên thủ Quốc gia đến anh thợ hồ,
chị ve chai đều phải trả tiền điện cho EVN đắt gấp 1,7 lần so với các
ông tư bản nước ngoài giàu sụ, thế mà EVN vẫn bảo là bù giá điện cho
dân!
Hành vi này được EVN giải thích là “hỗ trợ giá điện cho sản xuất công nghiệp”.
7. EVN loanh quanh lấp liếm và đánh lừa công luận bằng câu chuyện giời ơi “3 phương án bậc thang giá điện”
Bức
xúc chính của câu chuyện giá điện ở Việt Nam hiện nay là EVN phải minh
bạch cách tính giá điện, tính đúng, tính đủ, nhưng EVN vẫn không chịu,
không dám làm việc này.
Khi giá điện được minh
bạch, sẽ không còn nỗi xót xa vì 8,6 tỷ USD của người dân Việt Nam nghèo
khổ lam lũ hàng năm bị EVN đem tặng cho các ông tư bản giàu sụ. Tại sao
EVN thản nhiên làm việc đó, mà không đau lòng? Không nghĩ ra “3 phương
án mới”, như đã nghĩ ra “3 phương án bậc thang giá điện” cho dân?
Cả
thế giới chỉ có ở Việt Nam có cái bậc thang giá điện. Bản chất và mục
đích của bậc thang giá điện VN là: người nghèo được bù nhiều, trả tiền
điện ít theo giá bậc thang thấp, còn người giàu được bù ít, trả tiền
điện nhiều theo giá bậc thang cao.
Chúng tôi
thấy hết sức lạ lùng khi nghe EVN giải thích về 3 phương án mới. Ví dụ,
điều chỉnh sao cho người dùng nhiều điện thì trả gia thấp. Điều này đúng
theo những nguyên lý kinh tế vĩ mô, nhưng trái ngược hoàn toàn với mục
đích của bậc thang giá điện Việt Nam là hỗ trợ người nghèo.
Hoặc
EVN đưa ra một nguyên tắc mà đông tây kim cổ chưa bao giờ có: khách
hàng phải trả tất cả tiền điện theo hợp đồng với EVN, cho dù họ xài điện
ít hơn so với hợp đồng.
EVN còn bày trò yêu cầu
công luận góp ý cho 3 phương án, để công luận quên đi những điều bức
xúc nhất, và bị lạc hướng vào chuyện giời ơi vô bổ của EVN.
Nếu
EVN thực lòng muốn lắng nghe ý kiến công luận, thì hãy công khai phương
pháp tính giá điện của mình, nhất là phương pháp tính giá điện cho
doanh nghiệp FDI, cho doanh nghiệp nhà nước.
(TBKTSG) - Tỷ trọng của khu vực tư nhân trong nền kinh tế vẫn “y chang”
trong 10 năm nay, và họ đang còn phải đối mặt với hàng loạt rủi ro khi
hội nhập. Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam trao đổi với TBKTSG.
TBKTSG: Thưa ông, nói ngắn gọn về khu vực kinh tế tư nhân mà ông vẫn luôn trăn trở, ông có thể nói gì?
- Ông Vũ Tiến Lộc: Tỷ trọng của khu vực tư nhân trong
nền kinh tế vẫn y chang trong 10 năm nay. Trong khi khối doanh nghiệp
nhà nước (DNNN) lùi xuống, thì khoảng lùi đó được chiếm lĩnh, lấp đầy
bởi khu vực FDI, chứ không phải khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước.
Khu vực FDI đã tận dụng cơ hội tốt để phát triển, còn doanh nghiệp tư
nhân lại chưa.
Thực ra, trong suốt thập kỷ qua, doanh nghiệp tư nhân chững lại so với
sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, chứ không phải so với
chính nó. Đến nay, khu vực FDI đã chiếm tới 70% xuất khẩu, và đóng góp
tới 20% GDP. Như nhiều chuyên gia nhận xét, trong bốn động lực của tăng
trưởng là hộ gia đình và nông nghiệp, doanh nghiệp tư nhân, DNNN và
doanh nghiệp FDI, thì chỉ có khu vực FDI hoạt động tốt. Đặc biệt, gần
đây khi chúng ta ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) thì dòng
FDI sôi sục lên, nhiều đoàn vào liên tục. Trong khi đó, chúng ta vẫn
lặng như tờ và làm kiểu “du kích” chứ chưa tập hợp làm theo ngành hàng,
theo chuỗi liên kết.
TBKTSG: Vì sao ông lại cho rằng doanh nghiệp tư nhân trong nước “cô đơn”?
- Chính phủ ngập ngừng trong cơ chế, doanh nghiệp ngập ngừng trong làm
ăn. Khi doanh nghiệp cô đơn trong nền kinh tế thì sẽ không trở thành
động lực được.
Nhà nước cần tạo chính sách phát triển tốt nhất cho danh nghiệp Việt
Nam, chứ không phân biệt doanh nghiệp tư nhân, hay DNNN, hay FDI nữa.
Phải đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử. Đối với nhà làm chính
sách chỉ có một tư duy duy nhất, đó là doanh nghiệp Việt Nam.
Thừa nhận kinh tế tư nhân là động lực sẽ là thông điệp thúc đẩy toàn
dân làm kinh tế. Làm kinh tế phải là sự nghiệp của toàn dân.
TBKTSG: Thưa ông, ở những ngành nghề như dệt may, giày dép hay nông
sản, nơi các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đang có thế mạnh, ông có băn
khoăn gì không, nhất là khi hội nhập đã đến rồi?
- Tôi nghĩ, với công nghiệp dệt may, giày dép thì không đáng lo. Nếu
thiếu hụt nguyên liệu, các doanh nghiệp FDI, và cả doanh nghiệp Việt Nam
sẽ đầu tư để đảm bảo nguyên tắc xuất xứ từ sợi trở đi, và chắc chắn sản
phẩm các ngành này tiếp tục thâm nhập mạnh vào EU và Mỹ. Các doanh
nghiệp trong nước cũng đã xây dựng được chuỗi sản xuất, hiện đại hóa quy
trình. Thách thức hiện nay của dệt may, da giày là phát triển lên nấc
trên của chuỗi giá trị.
Nhưng tôi đặc biệt lo lắng cho nông nghiệp, ngành mà chúng ta cứ tưởng là điểm mạnh nhất.
TBKTSG: Vì sao?
- Nông nghiệp là đại vấn đề. Nông sản được sản xuất bởi các hộ gia đình
thì không thể nào sản xuất với giá thành thấp để cạnh tranh được, không
cách nào triển khai công nghệ hiện đại được. Nông sản chúng ta không có
thương hiệu, và điều đáng lo ngại nhất là vệ sinh an toàn thực phẩm.
Chúng ta coi gạo là niềm tự hào của Việt Nam, nhưng hơn 20 năm xuất
khẩu gạo mà chúng ta không có thương hiệu, không chiếm lĩnh được phân
khúc cao của thị trường. Giá và chất lượng vẫn luôn ở phân khúc giá rẻ.
Chúng ta có nhà buôn gạo chứ chưa có doanh nghiệp sản xuất gạo.
Về cá ba sa và tôm, trước đây chúng ta tự hào khi chiếm lĩnh được thị
trường khó tính như EU và Mỹ. Nhưng hiện giờ cá ba sa và tôm đang mất uy
tín trên hai thị trường này vì không kiểm soát được chất lượng. Giờ cá,
tôm Việt Nam đang phải đưa sang các thị trường khác như Trung Quốc,
châu Phi, là những thị trường dễ tính và có giá trị thấp hơn. Tức là
chúng ta đang thụt lùi cả về phẩm cấp, chất lượng, và uy tín.
TBKTSG: Ông có nhiều chuyện để kể chứ?
- Ông Hạnh Nguyễn muốn đưa hàng thủy sản Made in Vietnam sang các nước.
Lô đầu ổn, bán được nhiều và ông ấy rất vui. Nhưng ngay sau đó, những
lô hàng tiếp theo không đảm bảo chất lượng.
Singapore có quan hệ tốt với Việt Nam, và không có thuế nhập khẩu,
nhưng hoa quả Việt Nam chưa bao giờ vào được đây. Với Hồng Kông cũng
vậy. Hoa quả chúng ta không vượt qua được hàng rào kỹ thuật. Khi vượt
qua được yêu cầu về chất lượng thì lại không thể cạnh tranh được về giá.
Trong khi đó người Thái làm được. Campuchia cũng âm thầm lặng lẽ làm từ
giống, phân phối, đến bán lẻ nhiều năm nay, và bắt đầu thành công. Vấn
đề là do tổ chức sản xuất thôi.
Chính phủ đang tạo đột phá về thể chế, doanh nghiệp cũng phải nâng cấp
mình lên để trở thành các đối tác tin cậy trên thế giới. Các FTA chỉ
giúp dỡ bỏ thuế, còn hàng rào kỹ thuật vẫn còn nguyên, thậm chí còn cao
hơn. Doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng, và rất khó khăn với hàng rào
này. Thoát khỏi tư duy làm ăn tiểu nông thì chúng ta mới có thể biến
nông sản trở thành lợi thế được.
TBKTSG: Điểm nghẽn nhất này cần được tháo gỡ ra sao, thưa ông?
- Chúng ta phải sửa Luật Đất đai để doanh nghiệp làm ăn trong ngành
nông nghiệp phát triển được. Người nông dân không thể hội nhập theo cách
sản xuất nhỏ lẻ được, mà phải là doanh nghiệp.
Đất đai là tài nguyên lớn nhất, vậy mà hiện nay đất đai đều được phân
phối theo cơ chế xin - cho. Những nơi cần thì không sao có được đất để
tích lũy sản xuất. Đất đai phải thị trường hóa chứ.
Chúng ta đang có hơn 11 triệu hộ nông dân, 5 triệu hộ kinh doanh nên
không thể tổ chức sản xuất nông nghiệp lớn được, không phát triển thành
chuỗi được. Một khi còn sản xuất manh mún thì mới có tình trạng nông dân
làm một luống rau cho nhà ăn, các luống khác để bán.
Những cách đó đang tự giết mình với tư cách một dân tộc, một nền kinh tế.
TBKTSG: Nhưng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư bài bản, thì đó là câu chuyện lớn?
- Tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh là một việc, nhưng đảm bảo an
toàn là một việc khác quan trọng không kém, ý tôi là phải bảo vệ được
quyền sở hữu. Vấn đề an toàn đang nổi lên là vấn đề quan trọng nhất,
không chỉ là an toàn về sở hữu, mà còn an toàn trong quan hệ với Nhà
nước. Nền tư pháp phải mạnh lên, khi có tranh chấp thì tư pháp phải đảm
bảo xét xử công bằng. Chúng ta vẫn chứng kiến sự yếu kém trong các thiết
chế tư pháp.
Trong bối cảnh thị trường còn bấp bênh và khó khăn, và chúng ta đang nỗ
lực thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, thì các rủi ro khác phải giảm
thiểu bởi các thiết chế của Nhà nước. Không có thiết chế tốt bảo vệ, họ
rất khó làm ăn, nhất là làm ăn lớn.
“Thể chế và con người là hai nhân tố quyết định cho phát triển đất nước” - Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Bùi Quang Vinh.
Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Bùi Quang Vinh không chỉ là
người quyết liệt, nói thẳng, nói thật về thực trạng kinh tế và những
lĩnh vực liên quan của đất nước, mà còn là người quyết liệt ngay cả
trong những định hướng đổi mới.
Pháp Luật TP.HCM
đã có cuộc trao đổi với ông về những trăn trở khi chẳng còn bao lâu nữa
ông sẽ rời chức vụ bộ trưởng Bộ KH&ĐT mà công cuộc đổi mới vẫn còn
nhiều điều dang dở.
Trăn trở đất nước phát triển chậm
. Phóng viên:
Thưa Bộ trưởng, gần đây hai từ “hội nhập” được nhắc đến rất nhiều nhưng
để hội nhập thành công hẳn nhiên sẽ không chỉ đến từ người dân và doanh
nghiệp?
+ Bộ trưởng Bùi Quang Vinh:
Bộ KH&ĐT đang trình Chính phủ đề án thành lập các trung tâm ươm mầm
doanh nghiệp, hỗ trợ sáng tạo để thu hút sáng tạo, nhất là từ giới trẻ.
Bởi trên thực tế nhiều ý tưởng đang bị thui chột vì không có nơi khuyến
khích, đỡ đầu. Đồng thời, cũng sẽ có chính sách đầu tư mạo hiểm để
khuyến khích tinh thần phát triển doanh nghiệp.
Tuy
nhiên, một mình Bộ KH&ĐT hay cá nhân tôi không thể làm hết được mọi
việc. Tôi rất trăn trở về điều này. Nhiệm kỳ tới, tôi mong có nhiều
lãnh đạo quan tâm hơn tới doanh nghiệp, vì doanh nghiệp là tương lai đất
nước.
. Như vậy thì cần rất nhiều sự đổi mới, sáng tạo trong việc hoạch định chính sách. Bộ trưởng có đồng ý với điều đó không?
+
Việc hoạch định, xây dựng chính sách, chiến lược cho đất nước là một
công việc cực kỳ hệ trọng nên đòi hỏi tư duy đổi mới phải hiện hữu và
cập nhật liên tục. Tôi cho rằng Việt Nam không thể cứ mãi “một mình một
đường”, mà phải đi con đường chung nhân loại.
Muốn
vậy, chúng ta phải biết nhân loại đang làm gì, các quốc gia phát triển
đã làm gì để thăng tiến mỗi ngày và vị trí thực của chúng ta trên lộ
trình phát triển ấy. Điều quan trọng nhất là tâm huyết với đất nước. Mỗi
người, kể cả lãnh đạo, phải trăn trở tại sao nước mình còn phát triển
chậm thế, tại sao người dân ca thán nhiều thế. Sự trăn trở ấy mới sản
sinh ra được chiến lược tốt, chính sách tốt.
Bộ trưởng Bùi Quang Vinh: “Kinh tế thị trường là tinh hoa nhân loại”.
Cái mới thì luôn bị phản đối
. Bộ
trưởng được nhiều người ca ngợi vì tinh thần đổi mới, ngay cả trên diễn
đàn Quốc hội. Vậy cá nhân ông có bị sức ép vì tinh thần này?
+
Về cơ bản tôi không chịu nhiều sức ép lắm, vì cạnh tôi có nhiều lãnh
đạo cấp cao ủng hộ và khuyến khích sự đổi mới này. Tôi nghĩ nếu đổi mới
được kiểm chứng là thực sự có lợi cho dân tộc, cho đất nước thì sẽ được
ủng hộ.
Chúng ta cần phải suy nghĩ khác đi: Đổi
mới là phải thực hiện những công việc không giống với hiện tại và ý thức
rằng: Cái mới thì luôn bị phản đối. Đổi mới thì không thể tránh được
việc đụng chạm lợi ích của từng ngành, từng cá nhân. Đổi mới mà không bị
phản ứng thì không phải là đổi mới. Vì khi đổi mới, minh bạch thì nhiều
người không thể lợi dụng để tư lợi, nên họ phải phản ứng.
Tuy
vậy, có người ban đầu chưa hiểu thì phản ứng quyết liệt, như vấn đề đầu
tư công nhưng giờ thì thấy tốt. Hơn nữa, muốn đổi mới thì bản thân mình
vượt qua chính mình mới làm được.
. Nhưng
việc từ bỏ lợi ích nhóm, lợi ích ngành, lợi ích cục bộ… là không thể một
sớm một chiều. Chẳng hạn những điều kiện kinh doanh vẫn được “đẻ” ra
sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, thưa Bộ trưởng?
+
Đây là một quá trình, không thể một quyết định trong luật mà dỡ bỏ được
tất cả. Bởi cơ chế xin-cho đã ăn sâu bám rễ trong đầu nhiều cán bộ.
Luật
đã quy định chỉ có từ nghị định của Chính phủ trở lên mới có thể hạn
chế quyền kinh doanh của người dân và doanh nghiệp. Nhưng tôi thấy nhiều
giấy phép con làm trái tinh thần này. Nhiều thông tư của các bộ, ngành
vẫn được ban hành để áp đặt các điều kiện kinh doanh. Do đó, cái nào
mang tính cấm đoán quyền của người dân, trái luật thì phải hạn chế và
tiến tới bỏ hẳn.
Từ năm 2016 sẽ có tổng rà soát những điều kiện kinh doanh được “đẻ thêm” để báo cáo Chính phủ.
Thị trường đất đai đang rất méo mó do chưa phân tách được quyền
.
Chắc hẳn ông có rất nhiều trăn trở khi môi trường kinh doanh cũng như
những định hướng phát triển kinh tế khi nghĩ về 30 năm đổi mới?
+
30 năm đổi mới vừa qua, chúng ta có nhiều thành tựu nhưng có một thành
tựu xuyên suốt, nguyên nhân mọi nguyên nhân đó là chúng ta đổi mới được
từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nhưng sau 30 năm, dư địa và các tác
động phát triển đã dần cạn đi. Chúng ta đã chững lại trong vài năm vừa
qua, nếu không cẩn thận có thể còn đi xuống và nguy cơ tụt hậu là không
thể tránh khỏi.
Theo tôi, vấn đề sống còn và căn
cơ nhất là chúng ta phải tiếp tục thay đổi và hoàn thiện thể chế kinh
tế bằng việc xây dựng những nhân tố thị trường đầy đủ hơn. Chúng ta mới
chớm chân vào kinh tế thị trường và chưa xây dựng được các nhân tố thị
trường nền tảng.
Đất đai là thí dụ. Chúng ta cứ
tưởng đất đai là thị trường nhưng thực ra không có thị trường, hay đúng
hơn là thị trường đất đai đang rất méo mó do chưa phân tách được quyền
sử dụng và quyền sở hữu. Nhìn rộng hơn, việc phân bổ nguồn lực của đất
nước thường chỉ theo hành chính, chưa theo thị trường. Theo thị trường
là cứ anh nào sử dụng hiệu quả vốn, đất đai, tài nguyên… thì được tiếp
cận. Chúng ta có cơ chế này chưa? Chưa.
Hoặc nói
đến thị trường lao động. Chúng ta phải hiểu rằng nếu là thị trường thì
lao động, kể cả bộ máy công quyền, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp
tư nhân… nếu anh làm tốt thì được sử dụng và đãi ngộ cao; nếu không đáp
ứng được yêu cầu thì phải bị sa thải. Nhưng chúng ta nhận vào thì dễ, sa
thải lại rất khó.
Từ đó, tôi cho rằng Việt Nam cần phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường vì kinh tế thị trường là tinh hoa nhân loại.
. Vậy theo Bộ trưởng, đâu là yếu tố then chốt để đất nước phát triển bền vững?
+
Thể chế và con người là hai nhân tố quyết định cho phát triển đất nước.
Phải chọn được những người tài năng, tâm huyết nhất, có trách nhiệm
nhất để lãnh đạo đất nước này. Những người như vậy phải được trọng dụng
trong tất cả tầng nấc của xã hội.
Nhiều quốc gia
không có tài nguyên nhưng họ coi nhân tố con người là năng lượng vô
cùng lớn lao để quốc gia đó phát triển và họ đã thành công. Những con
người tài năng, tâm huyết, có trách nhiệm chắc chắn sẽ cho ra đời thể
chế tốt.
Việt Nam cần phát triển thông qua những
thể chế phù hợp nhất với thế giới và điều kiện hoàn cảnh chúng ta, để
khơi dậy tất cả tiềm năng thế mạnh của mình, khơi dậy trí tuệ người
Việt.
Trách nhiệm với đất nước phải được đặt lên trên
.
Bộ trưởng trải qua nhiều chức vụ, có nhiều năm gắn bó với với cộng đồng
doanh nghiệp, địa phương... Trong suốt thời gian đó, Bộ trưởng trăn trở
điều gì nhất và kỷ niệm nào đáng nhớ nhất?
+
Nhiều kỷ niệm lắm. Tôi làm lãnh đạo sớm, chưa tới 30 tuổi đã lãnh đạo
một doanh nghiệp nông nghiệp lớn, sau đó làm lãnh đạo ở nhiều vị trí
khác nhau. Kỷ niệm lớn nhất là những năm công tác tại Lào Cai, khi đó
tôi dốc toàn bộ sức lực, trí tuệ để cùng với tập thể ở đó đưa một tỉnh
bị tàn phá hoàn toàn sau chiến tranh thành điểm sáng ở Tây Bắc.
Tôi
cũng xúc động khi trở về thì người dân, doanh nghiệp, cán bộ ở Lào Cai
vẫn đón chào tôi như một người yêu quý nhất. Khi làm ở Bộ KH&ĐT cũng
vậy, tôi được làm việc với một tập thể rất trí tuệ. Anh em đã đồng
lòng, đã sát cánh cùng bộ trưởng để đổi mới.
.
Ông là bộ trưởng được báo chí và người dân yêu mến. Nhưng nhiều tư
tưởng đột phá mà ông đưa ra trong nhiệm kỳ của mình gặp không ít khó
khăn và vẫn còn dang dở?
+ Tôi nghĩ rằng
trách nhiệm với đất nước, với dân tộc phải được đặt lên trên lợi ích của
bản thân, của ngành mình. Nếu lúc nào cũng nghĩ tới và vun vén cho
quyền lợi ngành mình thì khó có thể thực hiện được đổi mới. Tôi luôn tâm
niệm như thế.
Không ít vấn đề đổi mới còn dang
dở. Có điều đổi mới là việc lâu dài, không thể giải quyết ngay trong một
nhiệm kỳ. Tôi không dám chắc nhiệm kỳ sau thế nào, vì không còn làm
nữa. Nhưng tôi tin lãnh đạo cấp cao sẽ chọn được những người tiếp tục
giương cao ngọn cờ đổi mới.
Tôi hy vọng nhiệm kỳ sau sẽ tiếp tục đổi mới. Còn bây giờ chỉ có một điều chắc chắn là tôi sẽ nghỉ hưu!
. Xin cám ơn Bộ trưởng.
Đáng lẽ ta còn có thể làm tốt hơn thế
Việt
Nam đã đi những bước đi rất lớn. Tuy nhiên, đó là chúng ta so với chúng
ta, còn so với các quốc gia có cùng điều kiện thì mới thấy ta tụt hậu
so với họ. Chúng ta không hài lòng về điều này, vì đáng lẽ ta còn có thể
làm tốt hơn thế.
Trong cuộc đua hiện nay, không
thể nghĩ là chúng ta đã hơn ta trong quá khứ mà lấy làm bằng lòng.
Nhiều nước bên cạnh đang chạy nhanh hơn mình.
Thị
trường chứng khoán Trung Quốc có sự khởi đầu u ám. Theo tin từ
Bloomberg, tất cả các giao dịch tại thị trường chứng khoán Trung Quốc
đại lục đã ngừng giao dịch vào lúc 1:34, chiều nay theo giờ địa phương.
Trước
đó, thị trường đã tạm dừng giao dịch sau khi CSI 300 chỉ còn 5%. Sự sụt
giảm mạnh của chỉ số này đã khiến cho thị trường một phiên chao đảo, áp
lực bán thảo cổ phiếu tiếp tục ồ ạt, khiến cho chỉ số CSI 300 sụt 7%.
Đây là những thông tin tồi tệ nhất cho thị trường kể từ 4 tháng qua. Theo số liệu của Bloomberg, giá
trị giao dịch đạt khoảng 595 tỉ nhân dân tệ, tương đương 90 tỉ đô la
Mỹ, thấp xa so với giá trị giao dịch bình quân hàng ngày của năm 2015 là
1 ngàn tỉ nhân dân tệ trên quy mô thị trường 7,1 ngàn tỉ nhân dân tệ. Theo
luật mới được ban hành, nếu chỉ số CSI 300 mất 5%, thị trường sẽ ngừng
giao dịch trong 15 phút. Và nếu mức giảm lên 7%, thị trường sẽ đóng cửa
đến hết ngày.
Số liệu của Bloomberg
CSI 300
gồm cổ phiếu các công ty có vốn hóa lớn niêm yết trên cả 2 sàn Thượng
Hải và Thâm Quyến. Đến lúc đóng cửa, chỉ số này đã mất 7,02%. Trong khi
đó, Shanghai Composite Index mất 6,85%.
Trong phiên sáng nay,
Shanghai Composite Index cũng đã mất 3,9%. Đây là mức giảm ngày đầu năm
mới lớn nhất từ khi chỉ số này được lập ra năm 1990.
Hang Seng
Index trên sàn Hong Kong (Trung Quốc) cũng mất 2,1%. Còn giá NDT trên
thị trường thế giới xuống thấp nhất từ tháng 5/2011.
Tình hình thị
trường cũng không lấy làm sáng sủa khi thông tin của Tổng cục thống kê
nước ngày cho hay, chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) Trung Quốc giảm
tháng thứ 5 liên tiếp khi chỉ đạt 49,7 trong tháng 12. Nhà đầu tư dự báo Chính phủ sẽ dỡ bỏ lệnh cấm các cổ đông lớn bán ra cổ phiếu.
Nhà đầu tư lo lắng
Đà bán tháo trên các
TTCK Thượng Hải và Thâm Quyến cũng tác động sang TTCK Hồng Kông dù Hồng
Kông không có cơ chế tự động ngừng giao dịch. Vào lúc 2g12 phút chiều
4-1 giờ địa phương, chỉ số HSCE phản ánh giá cổ phiếu các công ty Trung
Quốc niêm yết tại Hồng Kông đã giảm 4,1% và đang tiếp tục giảm.
Trong
đợt chứng khoán lao dốc hồi tháng 7 năm ngoái, Ủy ban Chứng khoán Trung
Quốc đã ra lệnh cấm các cổ đông có tỷ lệ sở hữu trên 5% và các lãnh đạo
công ty bán ra trong 6 tháng.
Bắc Kinh đang ra sức ngăn không cho biến động của thị trường tài chính gây thêm áp lực suy giảm tăng trưởng.
Chứng
khoán châu Á cũng hướng đến phiên giảm điểm mạnh nhất trong 3 tháng.
Các nhà đầu tư đang tìm kiếm một kênh an toàn sau dấu hiệu sụt giảm của
nền kinh tế Trung Quốc và căng thẳng leo thang ở Trung Đông. Nam Hải Nguồn:http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/282551/hoang-loan-toan-trung-quoc-chung-khoan-ngung-giao-dich.html
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhận
định: "Nếu chúng ta vẫn cho rằng kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ
đạo thì không có được kinh tế thị trường đầy đủ và đúng nghĩa".
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã có cuộc trao đổi với báo điện tử Một Thế Giới xung quanh chủ để tổng kết lại nền kinh tế Việt Nam trong năm 2015 và dự báo cho năm 2016.
Chưa có nền kinh tế thị trường đúng nghĩa
Bà có thể đưa ra đánh giá tổng quan về nền kinh tế Việt Nam năm qua?
- Năm 2015, nền kinh tế Việt Nam có
những chuyển động theo hướng bình ổn hơn, phục hồi dần tốc độ tăng
trưởng. Các con số thống kê về kinh tế năm qua đều cho thấy sự tăng
trưởng cao mà những năm gần đây chưa có được.
Hạ tầng có sự phát triển khá tốt với
việc hoàn thành được nhiều dự án giao thông lớn, làm cho bức tranh giao
thông Việt Nam có được một dấu ấn. Kinh tế vĩ mô Việt Nam tăng trưởng ổn
định, kiểm soát được lạm phát ở mức thấp, trong khi đó tăng trưởng lại
được duy trì ở mức độ cao, cơ cấu nền kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch
tích cực...
Xét về tổng cầu của nền kinh tế, chỉ số
tiêu dùng tăng 9,12%, cao nhất trong 5 năm trở lại đây. Hoạt động của
các doanh nghiệp cũng có những chuyển biến tích cực, số doanh nghiệp
đăng ký thành lập mới và số vốn tăng cao.
Xếp hạng về năng lực cạnh tranh và điều
kiện kinh doanh của Việt Nam được cải thiện. Việt Nam cũng tham gia vào
hàng loạt các hiệp định thương mại tự do với thế giới, đánh dấu một bước
hội nhập mới và tạo được đà tăng trưởng trong những năm tới. Quá trình
tái cơ cấu kinh tế cũng đã có được những chuyển biến nhất định, dù còn
chậm chạp.
Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn nhiều khó
khăn ở một số ngành. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng cao, số doanh
nghiệp đăng ký mới chưa biết bao giờ họ sẽ bắt tay vào hoạt động và tạo
được bao nhiêu sản phẩm thực, việc làm thực cho xã hội. Tôi quan tâm
không chỉ là số lượng doanh nghiệp thành lập mới mà còn quan tâm đến
chất lượng khởi nghiệp của doanh nghiệp.
Hơn nữa, quá trình tái cơ cấu còn dang dở, nợ công cao, đầu tư công tràn lan… cũng là những thách thức lớn.
Bà có nói thành công lớn trong năm
qua là việc chúng ta hội nhập sâu hơn với thế giới qua các Hiệp định
thương mại tự do (FTA). Có ý kiến rằng, quá trình hội nhập được cho là
cơ hội để chúng ta bớt lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc. Bà nghĩ sao về ý
kiến này?
- Quá
trình hội nhập cũng là cơ hội để Việt Nam điều chỉnh lại các mối quan hệ
với các nền kinh tế khác trên thế giới. Trung Quốc là một thị trường
lớn mà tất cả các nước đều hướng tới. Việt Nam ở bên cạnh thì không thể
nói thoát Trung một cách thuần túy mà Việt Nam cần phải cải thiện quan
hệ kinh tế với Trung Quốc, đặt nó trong mối quan hệ cùng có lợi, bình
đẳng hơn.
Việt Nam không thể để rơi vào sự lệ
thuộc với kinh tế Trung Quốc, vì đã lệ thuộc thì không thể có được sự
bình đẳng, không thể cùng có lợi cho cả 2 bên. Bên bị lệ thuộc sẽ là bên
thua thiệt. Ví dụ như ở Việt Nam, 90% tổng thầu các công trình lớn rơi
vào tay Trung Quốc, điều này là không hợp lý.
Việt Nam tham gia các FTA cũng là cơ
hội để có thể cân bằng lại các mối quan hệ với các quốc gia khác. Từ đó,
tạo cơ hội cho Việt Nam có vị thế khác trong quan hệ kinh tế với Trung
Quốc, tránh được sự lệ thuộc sâu hơn về kinh tế. Việt Nam cũng có nhiều
sức ép, động lực để cải cách thể chế kinh tế trong nước, đưa Việt Nam đi
sâu hơn vào kinh tế thị trường đầy đủ.
Liệu hội nhập có tạo ra được sức
ép, động lực để chúng ta có được một nền kinh tế thị trường thực sự,
được các quốc gia phát triển công nhận hay không?
- Ở đây không chỉ so với 5 tiêu chí mà
Mỹ nêu ra hoặc 6 tiêu chí mà như EU đưa ra mà ngay cả ở trong nước,
chúng ta cũng phải thừa nhận rằng mình chưa có được một nền kinh tế thị
trường đầy đủ và đúng nghĩa. Hội nhập này giúp cho Việt Nam có được cái
chuẩn của nền kinh tế thị trường theo những cam kết chung và theo đó mà
thực hiện.
Không thể có chuyện mình cứ cải cách
được một chút rồi nói tiến thêm một bước đến kinh tế thị trường mà không
biết bước đó dài hay ngắn, còn cần bao nhiêu bước nữa mới đến được mục
tiêu kinh tế thị trường. Nếu chúng ta vẫn cho rằng kinh tế Nhà nước vẫn
giữ vai trò chủ đạo thì không có được kinh tế thị trường đầy đủ và đúng
nghĩa.
Khái niệm “kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa” cũng cần phải hiểu khác, không thể giữ tư duy kinh tế
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Nhà nước chỉ làm nhiệm vụ điều tiết, phân
bổ nguồn lực thay vì can thiệp quá sâu vào thị trường như hiện nay.
Lâu nay chúng ta cũng đặt ra mục tiêu
cải cách cho mình rồi, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 11 cũng đưa ra 3
đột phá chiến lược cho Việt Nam, trong đó thể chế là ưu tiên số 1 nhưng
cũng làm chưa đến đâu. Trong nước chưa đủ động lực, chưa đủ sức ép để mà
làm cải cách thể chế. Chúng ta có cải cách trong một thời gian khá dài
nhưng vẫn chưa có thể chế kinh tế thị trường đầy đủ.
Những cam kết trong hội nhập lần này đều
rất mạnh mẽ và có sự giám sát đầy đủ, nhất là với TPP. Do đó, chúng ta
không thể cứ làm theo cách mà Việt Nam vẫn làm lâu nay, nhấn mạnh quá
nhiều vào đặc thù của mình mà cho phép mình phát triển kinh tế một cách
không giống ai. Hội nhập cũng tạo được nhiều động lực mới để Việt Nam
phát triển kinh tế của mình.
Độc quyền làm trì trệ nền kinh tế
Kinh tế
Việt Nam có nhiều động lực phát triển nhưng vẫn không ít vướng mắc,
vướng mắc lớn nhất có lẽ là độc quyền kinh tế bởi nó làm trì trệ nền
kinh tế. Bà nghĩ sao về điều này?
- Rõ
ràng là thế! Ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều chống độc quyền trong kinh
tế chứ không phải chỉ Việt Nam. Ở Việt Nam tình hình độc quyền kinh tế
phổ biến hơn bởi vì nó lớn quá, nhiều quá.
Độc quyền nằm trong tay các doanh nghiệp
nhà nước (DNNN) hiện nay quá lớn, nhất là so sánh về việc sử dụng nguồn
lực của các DNNN. Hiện nay Việt Nam chỉ có khoảng 800 DNNN nhưng vẫn sử
dụng tới khoảng 50% tổng nguồn lực của quốc gia. Mức sử dụng đó là quá
lớn, tạo thêm cho họ thế độc quyền trong sử dụng cũng như vận hành và
cung cấp sản phẩm.
Dó đó, xã hội và doanh nghiệp không có
sự lựa chọn mà vẫn phải dùng những sản phẩm của họ với giá thành cao,
chất lượng không tương ứng. Những gánh nặng về thua lỗ, nợ nần do quản
trị kém của họ thì cả xã hội lại phải gánh nợ.
Độc quyền ở Việt Nam còn gây ra rất
nhiều hệ lụy khác như tham nhũng, lãng phí và sự quản lý yếu kém. Nếu
Nhà nước mà quản trị trong một môi trường cạnh tranh nhiều hơn, bình
đẳng hơn thì buộc họ phải có công cụ, chính sách tốt để quản trị.
Những người làm công tác lãnh đạo các
DNNN cũng phải trăn trở hơn, có phương pháp điều hành tốt hơn chứ không
chỉ dựa vào ưu đãi để hoạt động thua lỗ. Độc quyền cũng liên quan nhiều
đến việc đầu tư công tràn lan và kém hiệu quả, nhất là trong bối cảnh nợ
công tăng cao như hiện nay.
Chúng ta cũng đã nhìn nhận được
vấn đề này và đã bắt tay thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế. Tuy nhiên,
quá trình tái cơ cấu vẫn chưa được như kì vọng. Bà có bình luận gì về
điều này?
- Tái cơ cấu kinh tế đã có nhiều đề án,
chính sách đưa ra và trong các đề án đó cũng nêu khá đầy đủ những điều
cần phải làm. Tuy nhiên, cái thiếu vắng, nút thắt lớn nhất có lẽ là
quyết tâm chính trị. Để thực hiện công cuộc tái cơ cấu phải xuất phát từ
tư duy đổi mới thực sự của Nhà nước.
Tái cơ cấu chủ yếu nằm trong khu vực
công, gồm cả DNNN, đầu tư công, hệ thống ngân hàng thương mại… Tuy
nhiên, bản thân khu vực công tự tái cơ cấu mình mà vẫn giữ tư duy kinh
tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo thì sẽ không thể nào có hành động mạnh
mẽ được.
Nhà nước đưa ra chủ trương, đề án nhưng
quyết tâm chính trị lại chưa có đầy đủ. Ngay như Quốc hội, phải là cơ
quan có vai trò rất lớn trong việc tái cơ cấu đầu tư công nhưng ở các
diễn đàn Quốc hội cũng vẫn thấy nhân nhượng cho nhau rất nhiều ở việc
phân bổ ngân sách, quyết định các dự án đầu tư lớn, giám sát chi tiêu
thường xuyên… Như vậy sẽ không có được tái cơ cấu tốt.
Rất tiếc là đề án tái cơ cấu đặt ra
thì hay nhưng việc thực hiện lại èo uột và không đáp ứng được kỳ vọng
của nền kinh tế cũng như mong đợi của xã hội.
Bà có nghĩ chúng ta nên quy định
về trách nhiệm cá nhân chứ tình hình hiện nay, rất ít người phải chịu
trách nhiệm về sự điều hành của mình?
- Điều
đó là cần thiết bởi cái khó quy trách nhiệm ở Việt nam là ở trách nhiệm
tập thể, quyết định tập thể. Khi không có một quyết định làm rõ cá nhân
nào, cơ quan nào chịu trách nhiệm về toàn bộ quá trình, từng khâu 1 thì
rất khó có thể quy kết trách nhiệm về ai.
Nhiều
lắm thì mấy ôngbộ trưởng chỉ xin lỗi ở diễn đàn Quốc hội là cùng. Các
lời hứa của bộ trưởng qua năm này, năm khác cũng không thực hiện được
nhiều. Quốc hội phải có quyền “không tín nhiệm” chứ không thể chỉ “tín
nhiệm thấp” như hiện nay.
Bà có dự đoán gì về kinh tế 2016?
- Rất
khó để nói kinh tế năm tới ra sao. Chúng ta cũng có những lạc quan nhất
định như nhiều người đang có dự đoán về kinh tế 2016 dựa vào đà của năm
2015. Tuy nhiên, 2016 vừa chứa đựng nhiều cơ hội và cũng có không ít
thách thức.
Về bình diện kinh tế toàn cầu, thế giới
đang có thêm những biến động khiến chúng ta cảm thấy lo lắng nhiều hơn
là lạc quan. Đó là nạn khủng bố, di cư ở châu Âu khiến nhiều hoạt động
kinh tế bị giới hạn. Rồi vấn đề giá dầu thấp, mặt lợi là giảm đầu vào
cho nền kinh tế, tuy nhiên, ở Việt Nam, việc giảm sức ép về đầu vào chưa
nhiều, chi phí đầu vào vẫn cao trong khi tác hại về giá dầu thì đã thấy
rõ. Nông nghiệp cũng đang khó khăn, người nông dân thua thiệt trong
cuộc chơi chung.
Sự biến động của đồng tiền cũng như đồng
đô la Mỹ cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến chúng ta trong thời gian tới.
Cơ hội từ hội nhập cũng rất nhiều nhưng liệu chúng ta có tận dụng được
cơ hội đó hay không mới là vấn đề. Có thị trường xuất khẩu lớn những các
thị trường kia đều có yêu cầu lớn về chất lượng, thương hiệu chứ không
chỉ đơn giản là chúng ta có nhiều hàng, có giả rẻ là chúng ta cạnh tranh
được.
Hoặc việc như đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam, liệu được bao nhiêu nhà máy vào Việt Nam đem được công nghệ mới
vào và chuyển giao công nghệ hay vẫn là công nghệ lạc hậu và gây ra
nhiều hệ lụy? Nhất là cơ chế đầu tư ở Việt Nam cũng chưa được thay đổi
theo hướng trọng chất lượng thay vì số lượng dự án đầu tư.
Những năm tới, cần phải rốt ráo hơn nữa
quá trình tái cơ cấu về doanh nghiệp Nhà nước, đặt doanh nghiệp Nhà nước
vào kỉ luật thị trường. Cải cách đầu tư công, nâng cao tính minh bạch,
giải trình, cải thiện môi trường pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp…
Giá tại một trạm
xăng của tập đoàn năng lượng Valero ở Pasadena, California, ngày 27/10/2015.
Những chuyên gia và
những nhà đầu tư cho rằng giá dầu thấp có phần chắc sẽ tiếp tục gây thiệt hại
cho những công ty năng lượng và những nền kinh tế của những nước đang trỗi dậy
lệ thuộc nhiều vào dầu thô xuất khẩu, dù giá dầu tăng lên trong mấy ngày qua.
Giá dầu trước đó đã
xuống mức thấp nhất trong 11 năm qua, nhưng có tăng lên một chút mấy ngày vừa
qua, sau khi một báo cáo cho biết lượng dầu thô tồn kho của Mỹ giảm nhiều hơn dự
báo của các nhà phân tích. Sự thay đổi trong sự cân bằng giữa nguồn cung và nhu
cầu dự kiến đã đẩy giá dầu thô lên. Dù tăng mấy ngày qua, giá dầu thô vẫn thấp
hơn 40 đôla, và thấp hơn rất nhiều so với mức 110 đôla một thùng cách đây 18
tháng.
Giá dầu thấp đã làm
lợi cho những nước nhập khẩu dầu và cho người tiêu dùng. Trung bình giá xăng ở
Mỹ hiện nay đã giảm xuống dưới mức 53 cent mỗi lít - một món quà Giáng Sinh đến
sớm cho người lái xe ở Mỹ. Họ từng phải trả 50 đôla để đổ đầy binh xăng nhưng
bây giờ chỉ khoảng 37 đôla.
Điều này có nghĩa là
một khoản tiền 115 tỉ đôla được thêm vào nền kinh tế Mỹ - hay một khoản tiền tiết
kiệm hàng năm 555 đôla cho mỗi người lái xe, theo ông Robert Sinclair, phát
ngôn viên của câu lạc bộ ôtô của Mỹ gọi là AAA. "Chúng tôi nghĩ rằng điều
đó sẽ tiếp tục, nguồn cung ứng dầu thô vẫn còn nhiều. Những hợp đồng tương lai
dầu thô đang cho thấy giá cả thậm chí sẽ còn thấp hơn trong những tháng tới. Vì
vậy chúng ta có thể chứng kiến giá cả giảm thêm 25 hoặc 30 cent vào tháng
sau," ông nói.
Tin xấu cho những nước
sản xuất dầu
Đối với những nước sản
xuất dầu, giá cả sụt giảm là tin xấu, theo nhà kinh tế C. Fred Bergsten. Trả lời
trong chương trình Hasthtag VOA, ông Bergstein nói "Nga, Ả-rập Saudi,
Venezuela, và những nhà sản xuất dầu đá phiến của Mỹ bị thiệt hại, nhưng việc
này được bù đắp nhiều hơn bởi sự sụt giảm chi phí của người tiêu dùng,"
ông nói.
Những nước xuất khẩu
dầu mỏ chủ chốt như Ả-rập Saudi đang tìm cách đa dạng hóa nền kinh tế của mình,
và đang bị thâm hụt ngân sách, trong khi Venezuela đang đối phó với tình trạng
lạm phát cao và nền kinh tế đình trệ, và nước giàu dầu mỏ Azerbaijan buộc phải
phá giá đồng tiền của mình, giảm hơn 30 phần trăm so với đồng đôla Mỹ.
Vì hầu hết hàng hóa
thô được định giá bằng đồng đôla Mỹ, một số người nói rằng giá cả sụt giảm là
do tỉ giá hối đoái; nhưng nhà phân tích Peter Cardillo của công ty First
Standard Financial nói nhu cầu suy yếu và nguồn cung nhiều hơn là những yếu tố
lớn hơn nhiều.
"Nếu bạn có nhu cầu thấp hơn trên quy mô toàn cầu thì bạn
có tình trạng sản xuất dư thừa ở những nước sản xuất, rõ ràng là giá dầu sẽ sụt
giảm mạnh, và đó chính xác là điều đang diễn ra," ông nói trong một cuộc
phỏng vấn với VOA ở New York.
Hậu quả đối với Nga,
những nước khác
Ông Bergsten nói sự
sụt giảm giá cả đang gây ra hậu quả nghiêm trọng về địa chính trị tại Nga và ở
những nơi khác. "Năm đến 10 năm trước, khi giá dầu còn rất cao, (Tổng thống
Nga Vladimir) Putin đạt thế thượng phong. Bây giờ với giá năng lượng sụt giảm
nhiều như vậy, ông ta phải theo đuổi những cuộc phiêu lưu ở nước ngoài -
Ukraine, bây giờ là Syria và những việc khác để tìm cách đánh lạc hướng sự chú
ý của dân chúng khỏi tình hình kinh tế rất kém cỏi của họ, một phần là do sự sụt
giảm giá dầu gây ra," ông nói
Một số chuyên gia
cho rằng, giá dầu sẽ không sớm tăng lên trong thời gian tới. Dự báo mới từ cả
Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho thấy giá dầu sẽ giảm nhiều hơn nữa
- xuống thấp tới mức 20 đôla một thùng vào năm 2016. Tổ chức Các Nước Xuất khẩu
Dầu mỏ (OPEC) hôm thứ Tư dự báo rằng giá dầu toàn cầu sẽ vào khoảng 70 đôla một
thùng đến năm 2020 và 95 đôla đến năm 2040. Tổ chức này cho rằng tình trạng thặng
dư dầu hiện nay sẽ tan biến khi nhu cầu gia tăng. OPEC đã quyết định hiện giờ
chưa phải cắt giảm sản lượng.
John Demopoulos là một
chiến lược gia thị trường cao cấp thuộc công ty Argus Media chuyên theo dõi những
thị trường năng lượng và hàng hóa thô toàn cầu. Trong một cuộc phỏng vấn với
VOA, ông cho biết dự báo của OPEC cũng giống như dự báo thời tiết sẽ ra sao
trong bốn năm tới.
Ông Demopoulos nói rằng
ông không thấy có dấu hiệu nào trước mắt cho thấy giá dầu sẽ tăng đáng kể trong
năm 2016. Ông nói rằng Iran sẽ đưa nhiều dầu hơn ra thị trường vì họ thoát khỏi
một số những biện pháp chế tài đã ngăn trở họ xuất khẩu dầu mỏ. Ông nói một luật
mới cho phép Mỹ lần đầu tiên xuất khẩu dầu thô sau nhiều thập kỷ sẽ không khiến
thị trường thay đổi nhiều lắm.
Ông Phạm Nhật Vượng
hiện dẫn đầu danh sách 10 người giàu nhất Việt Nam năm 2015 trên thị trường chứng
khoán, theo báo cáo sở hữu quản trị doanh nghiệp gửi đến Sở Giao dịch Chứng
khoán, truyền thông địa phương đưa tin.
Theo danh sách
này, vị chủ tịch Vingroup có khối giá trị tài sản lên tới 22.575 tỉ đồng.
Vingroup cũng có hai
nhân vật khác trong danh sách là bà Phạm Thu Hương, vợ ông Nhật Vượng, và bà Phạm
Thúy Hằng, em gái bà Hương.
Theo phân tích của
ông Dương Xuân Nam, tác giả cuốn 'Ai là người giầu nhất Việt Nam?', bí quyết
chính khiến chủ tịch Vingroup dẫn đầu danh sách trong vài năm trở lại đây là do
“biết cách phát triển một cách bền vững và “giữ chữ tín tuyệt đối trong mọi
lĩnh vực”.
Dương Xuân Nam
“Bí quyết quan trọng
nhất mà tôi biết từ Phạm Nhật Vượng khi còn khởi nghiệp cho tới sau này, thì một
là người làm ăn có ý tưởng lớn, không làm ăn cò con, vụn vặt, chụp giật.
“Thứ hai nữa là biết
cách phát triển tập đoàn của mình một cách bền vững. Phạm Nhật Vượng giữ chữ
tín, không bao giờ nói suông, đã nói là làm, mà làm bằng được, làm cho tốt,”
ông Dương Xuân Nam.
Đứng thứ hai trong
danh sách là ông Trần Đình Long của Tập đoàn thép Hòa Phát (HPG), vượt qua “bầu
Đức” của Hoàng Anh Gia Lai, nay đứng thứ tư.
Khởi nghiệp từ đất
đai
Khu đô thị phức hợp
Thành phố Hoàng gia (Vincom Royal City) ở Hà Nội của Vingroup
Cựu Tổng biên tập
báo Tiền Phong cho rằng, điểm chung của những người giàu ở Việt Nam, trước hết
là biết nắm lấy cơ hội.
“Tất nhiên trên thế
giới nắm lấy cơ hội là quan trọng, nhưng ở Việt Nam nắm lấy cơ hội là rất quan
trọng, tức là cơ hội nào, mang lại cái gì”.
Theo tìm hiểu của
ông cho cuốn sách về người giàu Việt Nam, xuất bản năm 2005, tác giả nhận thấy
“giàu ở Việt Nam, hầu hết bắt đầu từ đất đai”.
“Phạm Nhật Vượng xây
dựng nhà máy sản xuất mì ăn liền ở Ukraina, sau đó có tiền thì mua đất ở ngoại
ô thành phố Kharkov, lúc mua giá rất rẻ rồi sau đó bán đi.
“Về Việt Nam thì Phạm
Nhật Vượng đầu tư vào các cơ sở như Vincom, Vinpearl, Vinhomes, Garden City.
“Những người giàu nhất
như Phạm Nhật Vượng và gia đình Phạm Nhật Vượng là những người biết làm ăn, quyết
tâm và là những người làm ăn có khoa học, xây những công trình có tính chất văn
hóa,” nhà báo Dương Xuân Nam, hay còn được biết đến với bút danh Dương Kỳ Anh
nhận xét.
Của chìm
'Không đánh giá được
hết tài sản' của tỉ phú Đào Hồng Tuyển, chủ sở hữu đảo Tuần Châu, nhà báo Dương
Xuân Nam nhận xét.
Trả lời câu hỏi liệu
có cách đánh giá, xếp hạng người giàu nhất Việt Nam chính xác hơn so với việc dựa
trên giá trị sở hữu trên thị trường chứng khoán, nhà báo Dương Xuân Nam cho rằng
khó có thể đánh giá hết được, như đối với những người không lên sàn chứng
khoán, hay các quan chức.
“Ở Việt Nam những
người giàu, có người không lên sàn chứng khoán, ví dụ như ông Đào Hồng Tuyển ở
Tuần Châu, nên không thể đánh giá hết tài sản của ông ấy được mà chỉ có thể
đánh giá một cách tương đối khi nhìn vào khu Tuần Châu rồi những cái này cái
khác.
“Hoặc là tài sản của
ông Vũ Văn Tiền chẳng hạn, ông ấy có ngân hàng An Bình đó, còn lại thì ông ấy
không lên sàn chứng khoán nên không thể đánh giá hết tài sản của ông ấy.”
Danh sách 10 người
giàu nhất Việt Nam này chỉ đánh giá được ở khối doanh nghiệp tư nhân, “còn các
quan chức thì hoàn toàn không thể đánh giá được”, ông nói.
Ông Dương Xuân Nam
cũng cho rằng, nhiều người vẫn mang theo nỗi sợ công khai tài sản, đặc biệt là
quan chức.
“Tập đoàn tư nhân
thì có người họ cũng ngại, có lý do nào đó. Tâm lý ngày xưa coi người giàu là kẻ
thù - tâm lý đó rất mạnh, rất sâu vào xã hội Việt Nam.”
“...Có những người
giàu làm ăn không chân chính. Tất nhiên ở đâu cũng có những người giàu không
làm ăn chân chính. Thế giới có thể có ít hơn hoặc rất ít, nhưng Việt Nam số lượng
chắc chắn không ít đâu.”
Ông cũng cho rằng,
môi trường làm ăn ở Việt Nam nay đã “tương đối ổn định” nhưng còn rất khó khăn,
trong đó khó nhất là “công khai, minh bạch”.
“Thứ hai nữa là những
nhóm lợi ích chi phối, mà báo chí nói nhiều rồi, làm ảnh hưởng đến những người
làm ăn minh bạch, đàng hoàng.
“Thứ ba nữa là biểu
hiện về quyền. Bộ máy hành chính có biểu hiện cửa quyền, cái đó cũng ảnh hưởng.”
Ông Dương Xuân Nam
nói, muốn có được công khai minh bạch ở Việt Nam "cần quá trình đấu tranh
quyết liệt, phải có những cải tiến, thay đổi mạnh về thể chế và cơ chế. Một,
hai người thì khó mà thay được.”
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, dự toán trả nợ, viện trợ sẽ ưu tiên trả
các khoản nợ gốc, lãi vay nước ngoài đến hạn, còn các khoản vay trong
nước sẽ trả đủ lãi và một phần nợ gốc.
Báo cáo trong hội nghị tổng kết của Bộ Tài chính
cho biết, dự toán thu cân đối ngân sách Nhà nước năm 2016 đã được Quốc
hội thông qua là 1.014.500 tỷ đồng. Trong khi đó, dự toán chi lên tới
1.273.200 tỷ đồng.
Trả nợ hơn 155.000 tỷ trong năm 2016
Theo
dự toán thu chi ngân sách, thu nội địa năm 2016 có thể đạt 785.000 tỷ
đồng. Trên cơ sở sản lượng dầu thô là 14,02 triệu tấn, và giá dự kiến 60
USD một thùng, xuất khẩu dầu thô năm 2016 có thể thu về 54.500 tỷ đồng.
Tuy
nhiên, theo Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng, giá xăng dầu hiện nay
chỉ còn ở mức 35-36 USD một thùng, nên kịch bản có thể phải tính tới
việc giá dầu năm 2016 xuống tới mức 30 USD.
Số tiền nợ cần trả trong năm 2016 là 155.000 tỷ đồng. Ảnh: Anh Tuấn.
Trong
các khoản dự chi ngân sách năm tới, chi đầu tư phát triển vẫn chiếm tỷ
trọng lớn với 254.950 tỷ đồng. Chi thường xuyên dự đạt 824.000 tỷ đồng.
Riêng với chi trả nợ, viện trợ, mức dự toán là 155.100 tỷ đồng, trong đó
đảm bảo trả đủ nợ gốc và lãi vay nước ngoài đến hạn. Còn với nợ nội
địa, mức chi chỉ ưu tiên trả hết lãi và một phần nợ gốc, nhằm giảm mức
vay đảo nợ.
Theo tính toán, quy mô thu ngân sách
giai đoạn 2011-2015 bằng gần 2 lần giai đoạn 2006-2010 và bằng hơn 5
lần giai đoạn 2001-2005. Tỷ lệ huy động từ thuế, phí vào ngân sách bình
quân khoảng 21% GDP, khá sát với Nghị quyết Quốc hội (không quá
22-23%GDP). Trong khi đó, tổng chi ngân sách 5 năm 2011-2015 ước xấp xỉ
mục tiêu đã đặt ra, riêng năm 2015, mức chi tăng gần gấp đôi so với năm
2010 (tăng 70%).
Bộ Tài chính đánh giá, việc cắt
giảm nhanh chính sách thu, cùng tăng chi lớn, nhiệm vụ cân đối ngân
sách sẽ ngày càng khó khăn. Bội chi ngân sách được dự báo sẽ phải duy
trì ở mức cao, trong khi dư nợ công tăng nhanh, đòi hỏi có giải pháp phù
hợp để giảm dần trong giai đoạn tới.
Mỗi ngày thực hiện hơn 200 cuộc thanh tra
Báo
cáo của Bộ Tài chính cho biết, trong năm 2015, thanh tra Bộ và các đơn
vị chức năng đã tiến hành tới 75.600 cuộc thanh tra, kiểm tra trong các
lĩnh vực quản lý, điều hành ngân sách, các quỹ tài chính, chứng khoán,
bảo hiểm... Như vậy, trung bình, mỗi ngày cơ quan này thực hiện tới 200
cuộc thanh tra.
Tính đến tháng 12/2015, cơ quan
Thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra 68.000 doanh nghiệp, đạt 83,5% kế
hoạch, tăng 8,5% so với năm 2014, tức là trunh bình mỗi ngày thanh tra
khoảng 190 doanh nghiệp. Tổng số tăng thu qua thanh tra, kiểm tra (truy
thu, truy hoàn, phạt...) 10.200 tỷ đồng, số tiền đã nộp ngân sách khoảng
7.000 tỷ đồng; giảm khấu trừ và giảm lỗ trên 20.700 tỷ đồng.
Trong
năm 2015, cả nước có 94.700 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 26,6% về
số doanh nghiệp và tăng 39,1% về số vốn đăng ký so với năm 2014. Số
doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động là 9.400 doanh nghiệp, giảm
0,4% so với năm 2014. Số doanh nghiệp đã tạm ngừng hoạt động, nay quay
trở lại hoạt động là 21.500 doanh nghiệp, tăng 39,5% so với năm 2014.