Dinh thự xa hoa của Tổng thống Ukraina bị lật đổ Viktor ở Mezhyhirya, Kiev.
Vấn đề tên gọi một nước rất quan trọng. Mọi người, nhất là các sinh viên ngành Chính trị và Luật học, biết rõ điều đó.
Ở nước ta năm ngoái, khi bàn luận về Hiến pháp 2013, cũng rộ lên vấn
đề nên gọi nước ta là gì? Nước Cộng hòa VN? Nước VN Cộng hòa? Nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa? Cuối cùng Quốc hội đã quyết định để nguyên tên cũ:
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Nhưng như thế đã ổn chưa? Chính xác chưa?
Các nhà chính trị Cộng sản thời Stalin, Mao sáng tạo ra chế độ Dân
chủ Nhân dân, rồi Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Marx – Lenin. Ở Bắc
Âu có những nước được gọi là Nhà nước Phúc Lợi do có những chính sách
chăm lo đến cuộc sống của con người từ khi trong bụng người mẹ, trong
nôi, học vỡ lòng, lên trung học, đại học, khi đau ốm, khi thất nghiệp,
góa bụa, khi nghỉ hưu, khi từ trần. Có nước tên gọi rất hay, rất đẹp,
nhưng không thấy chút vẻ đẹp nào trong thực tế, ngược lại.
Những năm gần đây một số nhà xã hội học quốc tế đã dùng lại một số
khái niệm xưa cũ để chỉ một số chế độ chính trị thời hiện tại. Ví dụ như
khái niệm Kleptocracy được định nghĩa là chế độ , chính quyền tham
nhũng tràn lan, rộng khắp, nặng nề.
Gần đây, từ Kleptocracy được dùng để chỉ các chế độ Saddam Hussein ở
Irak, Bel Ali ở Tunisia, Muanmar Gaddafi ở Libya, Hosni Mubarak ở Ai
Cập…nơi tệ nạn tham nhũng hoành hành rộng khắp và cực kỳ nghiêm trọng.
Một số cơ quan truyền thông Việt ngữ như mạng Dân Làm Báo, hoặc báo
Người Việt đã dịch từ này là chế độ ‘’ăn cắp‘’, «đạo tặc’’, hay Nhà nước
«ăn cắp», Nhà nước «đạo tặc».
Ở Việt Nam đã có một số nhà bình luận lên tiếng báo động về nạn tham
nhũng ’’tràn lan’’, ‘’dữ dội’’, ‘’khủng khiếp’’,’’ «một quốc nạn nội
xâm», có sức tàn phá đất nước kinh hoàng, làm nhân dân mất niềm tin, và
theo lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đang ‘’đe dọa đến sự tồn vong của
chế độ’’.
Trên báo
Người cao tuổi giữa tháng 2/2014 đã nêu lên nghi
vấn về ‘’tài sản khủng’’ kèm theo ảnh biệt thự hoành tráng giữa vùng đất
rộng của nguyên Thanh tra chính phủ Trần Văn Truyền ở tỉnh Bến Tre,
tiếp theo là tin tức trước ngày nghỉ hưu ông Truyền đã vội ký một lèo
hàng 30 quyết định thăng cấp và lên chức cho cán bộ cấp cao, vạch trần
bộ mặt của một ông lớn ăn cắp quả tang, vì theo mức tiền lương, ông
Truyền phải để hơn 40 năm không ăn tiêu gì mới tích lũy được số tiền để
dựng lên ngôi nhà như thế.
Cũng báo
Người cao tuổi trong số ra cuối tháng 2 đã nêu lên
trường hợp Ngô Văn Khánh, phó Tổng thanh tra chính phủ, cũng ký hàng
loạt quyết định bổ nhiệm cán bộ cấp cao trước khi nghỉ hưu, kèm theo lời
tố cáo ông ta có hàng chục tỷ đồng VN (tương đương với hàng triệu đôla)
gửi trong các ngân hàng. Làm sao mà một viên chức cộng sản lại có nhiều
đến thế, nếu không ăn cắp của dân ?
Rồi còn vụ thượng tướng quan chức số 2 ngành công an được biết nhận hối
lộ nhiều lần, lần thì 20 tỷ đồng, lần thì nửa triệu đôla, lần thì 1
triệu đôla, khiến cho ngay những đảng viên CS cũng phải kêu lên: Ở đâu
ra mà nhiều đôla đến thế! Không ăn cắp của ngân sách thì ở đâu?
Hai mươi năm trước nhà thơ Nguyễn Duy đã thét lên, từ gan ruột anh:
Xứ sở từ bi, sao thật lắm thứ ma
Ma quái, ma cô, ma tà, ma mãnh
Quỷ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài !
Xứ sở kỷ cương, sao thật lắm thứ vua
Vua mánh, vua lừa, vua chôm, vua chía
Vua không ngai, vua choai choai, vua nhỏ
Lãnh chúa sứ quân, san sát vùng cát cứ
Đến nay, số ma, số vua ấy, đội ngũ kẻ cắp, kẻ cướp có quyền lực ấy đã
phát triển thành những bầy sâu nhung nhúc khắp nơi, cấu kết để bảo vệ
nhau tha hồ bòn rút các nguồn viện trợ và đầu tư ODA và FDI.
Trên báo
Pháp luật on line đầu tháng 2/2014 nhà bình luận
Phạm Chí Dũng và nhà kinh tế Phạm Chi Lan đã nêu lên nguyên nhân của
tham nhũng lan tràn là thiếu một cơ chế giám sát tài chính, thanh tra
các khoản đầt tư và viện trợ, các cơ quan thu nhận, phân phối, điều hành
kinh doanh , thanh toán các khoản tiền cực lớn ấy. Tổng Thanh tra chính
phủ, ban Kiểm tra Trung ương đảng, Quốc hội do đảng CS kiểm soát được
lệnh không động đến.
Đây chính là những đặc điểm của các chế độ «đạo tặc», các nhà nước «ăn cắp’’.
Theo phân tích về chế độ Kleptocracy, tâm lý các nhà cai trị loại này
là tâm lý của «kẻ cắp, kẻ cướp’’, mục tiêu là ăn cắp hay ăn cướp tiền
để tiêu xài, hưởng lạc, đua đòi theo kiểu trọc phú, trưởng giả học làm
sang, đi tắt để có nhiều tiền, không coi trọng tài kinh bang tế thế, coi
khinh người có tài kinh doanh lương thiện biết tôn trọng luật pháp. Họ
không chọn trí thức có học thuật, theo nhân cách, khả năng sáng tạo, mà
chọn những kẻ theo hình ảnh của chính họ, chuyên mua quan bán chức, mưu
ma chước quỷ, mánh mung cửa hậu, tuyển lựa bọn cơ hội, thậm chí hợp tác
liên minh với bọn xã hội đen, côn đồ, lưu manh, miễn là có lợi.
Nhiều học giả nêu lên một đặc điểm của chế độ Kleptocracy là nó tàn
phá các giá trị văn hóa đạo đức- tôn giáo cố hữu. Theo báo Pháp
le Figaro ngày
24/2/2014, các nhà báo nước ngoài đã sửng sốt khi vào xem dinh thự
hoành tráng của nguyên tổng thống Ukraine Victor Yanukovitch. Đây là một
kiến trúc xa hoa lộng lẫy nhưng cực kỳ phản văn hóa, phô trương một
cách lố bịch, tố cáo chủ nhân của nó là một tay trọc phú vô học.
Tâm lý xã hội đòi hỏi công lý, lập luận rằng không có lý gì một tên
trộm vặt, một tay móc túi ngoài chợ, một kẻ ăn cắp gà vịt, chó hay trâu
bò ở nông thôn thì bị nguyền rủa, săn đuổi, đánh đập không nương tay,
trong khi những tên đạo tặc ‘’sang trọng, danh giá» quyền cao chức trọng
ăn cắp hàng chục, hàng trăm triệu đôla lại không bị trừng phạt nghiêm
khắc tương xứng với mức độ tội ác ‘’ghê gớm, khủng khiếp’’ gấp trăm ngàn
lần của chúng.
Ở Việt Nam ai đã tạo nên cái xã hội đồi trụy bệ rạc đầy kẻ cắp kiểu
cleptocracy khá là điển hình như thế này. Xin mời các học giả, anh chị
em bloggers tư do và các bạn trẻ sinh viên trường Luật, ngành xã hội
nhân văn lên tiếng, góp thêm ý kiến.
* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog
cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA
nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ
Từ Hồ Cẩm Đào đến Obama, bài học về chính sách Sức mạnh mềm (Soft power)
Trong điều kiện toàn cầu
hóa kinh tế và thông tin như hiện nay, không một quốc gia nào có thể
quyết định độc lập và có lợi hoàn toàn trước một biến cố kinh tế, chính
trị và quân sự tầm vóc quốc tế. Trong nhiều trường hợp nước càng lớn
thiệt hại càng trầm trọng và một nước nhỏ biết vận dụng vị trí của mình
có thể vượt qua cơn sóng gió để trở thành một cường quốc trong tương lai
gần. Không chỉ các lãnh đạo quốc gia mà từng người dân có nhận thức
phải biết đất nước mình đứng ở đâu trong cuộc cờ không ngừng nghỉ của
chính trị thế giới. Nếu không cùng hát đồng ca dân chủ và vươn lên cùng
nhân loại mà quanh năm chỉ rên rỉ một bài ai điếu rồi ngày đại tang cho
dân tộc sẽ đến không xa.
Sau thời kỳ Chiến tranh lạnh chủ trương Sức mạnh mềm (Soft power)
trở thành một xu hướng mới trong chính trị thế giới. Hàng loạt các
cường quốc theo đuổi chính sách đối ngoại này. Theo thống kê của tạp chí
chuyên về quan hệ quốc tế Monocle, quốc gia đứng đầu là Đức, sau đó
theo thứ tự gồm Anh, Mỹ, Pháp, Nhật, Thụy Điển, Úc, Thụy Sĩ, Canada và
Ý. Nhưng theo nhiều nhà phân tích chính sách Sức mạnh mềm này cũng là cơ
hội cho Trung Cộng và Nga bành trướng. Nhiều lãnh tụ Cộng hòa như Dân
biểu Dan Burton còn phê bình chính sách đối ngoại của Obama về căn bản
không khác nhiều so với Chính sách nhân nhượng (Appeasement policy) của
cố Thủ tướng Anh Nevill Chamberlain khi cấu kết với Pháp để tặng vùng
Sudetenland cho Adolf Hiter và là sai lầm đó đã dẫn đến thảm họa lớn
nhất trong lịch sử nhân loại như đã được trình bày trong bài Hiểm họa
Trung Quốc và bài học Tiệp Khắc.
Sức mạnh mềm là gì?
Trước hết sức mạnh là gì? Joseph Nye Jr., giáo sư chính trị học đại
học Harvard và là một trong những người đầu tiên đưa ra lý thuyết chính
trị chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism) trong quan hệ quốc tế từ cuối
thập niên 1970, định nghĩa sức mạnh là khả năng để ảnh hưởng hành vi của
người khác nhằm đạt được kết quả mà bạn muốn. Ba cách căn bản để thực
hiện:
- Buộc người khác phải làm bằng cách đe dọa.
– Dụ dỗ họ với thù lao.
– Hay hấp dẫn và hợp tác với họ.
Theo Giáo sư Joseph Nye Jr., sức mạnh mềm được định nghĩa như là khả
năng đạt được mục tiêu bằng ảnh hưởng, hợp tác với đối phương thay vì ép
buộc đối phương phải tuân hành.
Joseph Nye Jr. tóm tắt quan điểm này trong tác phẩm Sức mạnh Mềm:
Phương tiện để Thành công trong Chính trị Thế giới (Soft Power: The
Means to Success in World Politics): “Một quốc gia có thể đạt được kết
quả mong muốn trong chính trị thế giới bởi vì các quốc gia khác – khâm
phục giá trị của nó, tích cực noi gương các thành tựu nó đạt được, khát
vọng để đạt đến mức độ thịnh vượng và mở rộng của nó, muốn theo chân nó.
Trong ý nghĩa đó, quan trọng là đặt ra một nghị trình và thu hút các
quốc gia khác trong chính trị thế giới, và không chỉ buộc họ thay đổi
bằng các đe dọa quân sự hay trừng phạt kinh tế.” Cũng theo Joseph Nye
Jr., Sức mạnh mềm của một quốc gia đặt trên ba nguồn gồm văn hóa, giá
trị chính trị và chính sách đối ngoại. Trong tâm bài viết này nhắm vào
nguồn thứ ba, chính sách đối ngoại.
TT Barack Obama và chính sách đối ngoại Sức mạnh mềm
Sau khi đắc cử tổng thống, Barack Obama từ bỏ chính sách hành động
đơn phương (unilateralism) thời George W. Bush và theo đuổi chính sách
đa phương (multilateralism) mềm dẻo, lôi kéo thay vì áp lực, bắt buộc.
TT Obama dựa vào các định chế, cơ quan quốc tế để giải quyết các xung
đột và thúc đẩy các quan hệ ngoại giao.
- Đối với Trung Quốc. Tháng 11, 2011, trong buổi
tiếp đón long trọng với 21 phát súng đại bác chào mừng dành cho Chủ tịch
Trung Cộng Hồ Cẩm Đào, Tổng thống Barack Obama cũng phát biểu “Hợp tác
giữa hai quốc gia chúng ta đem lại lợi ích cho thế giới” và cho Trung
Cộng là một trong những thân hữu của Mỹ. Hồ Cẩm Đào trong buổi phỏng vấn
dành cho Wall Streets và Washington Post trong những ngày sau đó, cũng
phát biểu với giọng điệu tuyên truyền không khác gì Hilter đã phát biểu
tại Munich “Chúng ta nên hành động dựa trên các quyền lợi căn bản của
nhân dân hai nước và tôn trọng các lợi ích chung của hòa bình và phát
triển thế giới.”
- Đối với Iran. Suốt thời gian vận động tranh cử
cũng như diễn văn đọc tại Cairo tháng Sáu 2009, TT Obama cổ vũ cho chủ
trương đa phương thông qua tham khảo, tranh luận, xây dựng các tính hợp
pháp và thúc đẩy các mối quan tâm chung vốn thiếu vắng trong thời kỳ
George W. Bush. Vào tháng Tư 2009, TT Obama tuyên bố tại Prague, Mỹ “tìm
kiếm việc liên hệ với Iran trên cơ sở tôn trọng quyền lợi và sự kính
trọng hổ tương”.
- Đối với Nga. Tháng Ba 2009, bà Hillary Clinton,
lúc đó là Ngoại trưởng Mỹ tặng cho Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov một
cái nút “reset” như một bày tỏ cho đại diện Nga biết đây là thời điểm
bắt đầu mới trong quan hệ giữa hai nước. Thay vì tiếp tục hay từng bước
thay đổi chính sách đối ngoại của tổng thống tiền nhiệm, TT Obama ngưng
tức khắc chính sách đối với Nga của TT Bush và thay vào đó bằng một
chính sách mới được các nhà phân tích gọi là “chính sách làm lại từ đầu”
(reset policy) sau thời kỳ Chiến tranh lạnh. TT Obama khuyến khích Nga
để đóng vai trò cứng rắn hơn đối với Iran và cho phép phi cơ Mỹ bay
ngang không phận Nga trên đường tiếp tế cho các lực lượng Mỹ và đồng
minh tại Afghanistan. Đáp lại, Obama ngưng áp lực NATO để nhận Georgia
và Ukraine vào tổ chức này.
Sự thất bại của chính sách Sức mạnh mềm của TT Obama
- Với Trung Cộng: Các nhà phân tích đồng ý, miệng
lưỡi “hòa bình thế giới” của các lãnh đạo Trung Cộng đã không đi đôi với
hành động của họ. Tổng thống Obama đã chứng tỏ quá mềm yếu trước các
hành động khiêu khích và trước các vi phạm nhân quyền trầm trọng của
lãnh đạo CSTQ:
1. Tiếp tục bảo vệ tới cùng chế độ độc tại dã man Bắc Hàn.
2. Cho phép vận chuyển các bộ phận hỏa tiển Bắc Hàn sang Iran qua ngã phi trường Bắc Kinh.
3. Dùng vũ lực khống chế khu vực biển Đông, độc quyền khai thác các
nguồn dầu mỏ, khoáng sản và xâm phạm quyền lợi của các quốc gia vùng
Đông Nam Á.
4. Vi phạm một cách trắng trợn các quyền căn bản của người dân Trung Quốc.
5. Đàn áp dã man các cuộc biểu tình đòi quyền sống của Tây Tạng và các dân tộc thiểu số.
6. Tiếp tục tăng cường quân sự, hiện đại hóa võ khi và đe dọa chủ quyền các quốc gia Á Châu.
Mới đây, trong một cuộc phỏng vấn dành cho New York Times, sáng thứ
Ba 4 tháng 2, 2014, Tổng thống Philippines Benigno S. Aquino III kêu gọi
các quốc gia trên thế giới làm nhiều hơn nữa để yểm trợ Philippines
trong việc đương đầu với Trung Cộng đang xâm phạm lãnh hải Philippines.
Tổng thống Aquino so sánh sự thất bại của Tây phương để ủng hộ Tiệp Khắc
chống lại Hitler đã dẫn đến Thế Chiến II. Trong 90 phút phỏng vấn dành
cho New York Times, Tổng thống Aquino nhấn mạnh “Thế giới phải làm việc
này, quý vị có nhớ vùng Sudetenland đã được nhượng cho Hitler để cố
tránh Thế chiến II hay không?”
- Với Iran: Theo Giáo sư Mark P. Lagon, giảng dạy
môn an ninh và chính trị thế giới tại đại học Georgetown, trong tiểu
luận “Giá trị của các giá trị: Sức mạnh mềm dưới thời TT Obama” (The
Value of Values: Soft Power Under Obama) đăng trong tạp chí Các vấn đề
thế giới phê bình TT Obama đã bỏ quên giá trị sức mạnh quần chúng khi
bắt tay với lãnh đạo độc tài. Chính vì chủ trương đối thoại với lãnh đạo
Iran, Mỹ đã từ chối công khai ủng hộ cuộc biểu tình đòi dân chủ của ba
triệu dân Iran.
- Với Nga: Rất nhiều bài viết và phân tích về tham
vọng bành trướng của Putin. Điều quan trọng nên nhớ, tham vọng của y
không dừng lại ở bán đảo Crimea mà là Ukraine. Putin đã tiết lộ quan
điểm “Ukraine thuộc Nga” với cựu TT George W. Bush vào năm 2008. Ngoài
việc hăm dọa Nga phải chịu đựng một “hậu quả trầm trọng” cho đến nay TT
Obama không có và cũng không thể có một biện pháp trừng phạt nào đáng để
làm Putin lo ngại. Dĩ nhiên, hành động của Putin vi phạm các hiệp ước
Nga mà đã ký kết bảo đảm chủ quyền Ukraine trong đó có Crimea được ký
tại Budapest 1994 nhưng rồi đâu cũng sẽ vào đấy. Hôm nay, như cả thế
giới đều biết, Putin đã lợi dụng chính sách Sức mạnh mềm của Tây Âu và
Mỹ để chiếm vùng Crimea tự trị của Ukraine. Các biện pháp gọi là “trừng
phạt” của Mỹ và đồng minh yếu đến mức làm cho thị trường chứng khoán Nga
vụt tăng cao thay vì rơi xuống trầm trọng như một số người tiên đoán.
Chính sách Sức mạnh mềm (Soft power) của Mỹ và chính sách Nhân nhượng (Appeasement policy) của Anh
Chính sách Sức mạnh mềm (Soft power) của Mỹ và Tây Âu hiện nay được
nhiều nhà phân tích so sánh với chính sách Nhân nhượng (Appeasement
policy) của Anh và Pháp trước thế chiến thứ hai.
Sau thế chiến thứ nhất, dù thắng hay bại, các quốc gia đều phải chịu
đựng một thời kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng và cần ổn định để phục hồi
kinh tế. Khuynh hướng chủ hòa, do đó, chế ngự trong sinh hoạt chính trị
tại các cường quốc dân chủ và lãnh tụ hàng đầu của khuynh hướng này là
thủ tướng Anh, Nevill Chamberlain. Thủ tướng Nevill Chamberlain tìm cách
hòa giải mối thù địch với Đức. Khi Đức sáp nhập Áo, Chamberlain không
có phản ứng cụ thể nào. Hilter nắm được điểm yếu của các lãnh đạo Tây
Âu, bước thêm bước khác bằng cách muốn sáp nhập vùng Sudetenlan của Tiệp
Khắc đang có hơn ba triệu người gốc Đức, vào lãnh thổ Đức, nếu không sẽ
dùng phương tiện vũ lực. Ngày 15 tháng Chín năm 1938, Thủ tướng Nevill
Chamberlain bay sang Đức để thương thuyết với Hitler. Các cuộc thương
thuyết giằng co cho đến sáng sớm 30 tháng 9 năm 1939, thỏa hiệp Munich
được ký kết giữa Đức, Anh, Pháp và Ý, trong đó, cho phép Đức sáp nhập
vùng Sudetenland trù phú và chiến lược vào lãnh thổ Đức.
Lịch sử dường như đang được lập lại. Trong tuần này, lần đầu tiên cựu
Ngoại trưởng Hillary Clinton lẫn Thượng Nghị Sĩ John McCain đều đồng ý
cách hành xử của Vladimir Putin cũng chẳng khác gì Adolf Hitler trong
năm 1938. Từ mấy chục năm nay, có lẽ ít khi hồn ma Hitler được lãnh đạo
các cường quốc nhắc nhở nhiều hơn thời gian này. Tham vọng mở rộng biên
giới Đức về hướng Áo, Tiệp Khắc, Ba Lan, Romania, Hungary của Hitler
trong những năm cuối của thập niên 1930 đã trở thành bài học cho các
quốc gia đang đương đầu với tham vọng bành trướng của Trung Cộng ở Á
Châu và Nga tại châu Âu.
Tối thứ Tư, 5 tháng 3 vừa qua, cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton
gián tiếp so sánh việc Vladimir Putin mang quân vào Ukraine tương tự với
việc Adolf Hitler xâm chiếm Tiệp Khắc và Romania. Bà Hillary Clinton
phát biểu “Hitler nói ‘họ [dân nói tiếng Đức tại các quốc gia Đông Âu]
không được đối xử đúng. Tôi phải đến nơi để bảo vệ dân của tôi.’ Và điều
đó làm mọi người lo sợ.” Bà Clinton cũng cho rằng “đòi hỏi của Tổng
thống Putin và những lãnh đạo Nga khác rằng họ phải tiến vào Crimea và
có thể các khu vực miền đông Ukraine vì họ phải bảo vệ thiểu số người
Nga, và điều đó nhắc lại các đòi hỏi vào những năm 1930 khi Đức dưới
thời Quốc Xã lập đi lập lại rằng họ phải bảo vệ thiểu số người Đức tại
Ba Lan, Tiệp Khắc và nhiều nơi khác ở châu Âu.”
TNS John McCain trả lời phóng viên Andrea Mitchell của MSNBC liệu
Putin có chủ trương tái lập “đế quốc theo kiểu Soviet” trước đây hay
không, đã phát biểu: “Tôi nghĩ ông ta luôn có tham vọng đó. Và khi
Ukranine có vẻ đang đi lạc hướng vì các biến cố vừa qua làm cho chủ
trương kiểm soát Crimea và Sebastopol của ông ta trở nên nguy hiểm… hai
lần như thế nhưng đặc biệt lần nầy, quyền của dân nói tiếng Nga cần phải
được bảo vệ tại Romania, tại Poland, tại các quốc gia vùng Baltic, họ
đều nói tiếng Nga, và dĩ nhiên, sự kiện đã trở lại như trong thời điểm
của Adolf Hitler và Joseph Stalin.”
Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa tiểu bang Florida Marco Rubio cũng đồng ý với
cách so sánh của bà Hillary Clinton. Và lý do chính đã đẩy các chính
khách của hai đảng về cùng một phía trong biến cố Ukraine bởi vì sách
lược Sức mạnh mềm của TT Obama đã thất bại. Bà Hillary Clinton, người có
khả năng cao sẽ ứng cử tổng thống vào năm 2016, muốn tránh càng xa càng
tốt chính sách Sức mạnh mềm mà chính bà là người thực hiện trong suốt 5
năm làm ngoại trưởng Mỹ.
Phiên bản Trung Cộng của chính sách Sức mạnh mềm
Hồ Cẩm Đào tại Hội nghị đảng CSTQ lần thứ 17 nhấn mạnh việc Trung
Quốc cần đẩy mạnh chính sách Sức mạnh mềm và khi thúc đẩy chính sách
này, lãnh đạo CSTQ cũng chú tâm đến các lãnh vực văn hóa, giá trị chính
trị và chính sách đối ngoại, nhất là tại châu Phi. Khác với nội dung do
Joseph Nye phác họa, chính sách của CSTQ thực chất là một chính sách
tuyên truyền và mua chuộc, tương tự như chính sách thực dân trước đây.
Người viết đã trình bày nội dung của chính sách Trung Cộng tại Phi Châu
trong tiểu luận Hiểm họa Trung Quốc và bài học Congo, xin tóm tắt lại ở
đây:
- Văn hóa: Kể từ sau Diễn đàn hợp tác Hoa Phi được
tổ chức lần đầu vào năm 2000, lãnh đạo CSTQ xem Phi Châu là vùng cần
được khai hóa. Trung Cộng không chỉ xuất cảng hàng hóa mà còn xuất cảng
cả văn hóa. Viện Khổng Tử đầu tiên được xây dựng tại đại học Nairobi,
Kenya năm 2005 và hiện nay có khoảng 25 viện Khổng Tử tại Phi Châu. Rất
nhiều viện khác đang được dựng lên. Cơ quan Tân Hoa Xã có 20 văn phòng
thường trực tại Phi Châu và đầu năm 2012, hệ thống Truyền Hình Trung
Ương Trung Quốc chính thức phát hình tại thủ đô Nairobi, Kenya. Với kỹ
thuật tuyên truyền tinh vi phối hợp với các hoạt động kinh tế, chính
trị, văn hóa, đã làm cho người dân Phi Châu có cái nhìn tích cực về
Trung Cộng hơn các cường quốc khác. Cựu Ngoại trưởng Mỹ bà Hillary
Clinton tố cáo đó chỉ là một loại chủ nghĩa thực dân mới và nhà báo
Barry Malone viết trong Reuters blog cho rằng đó là một phiên bản khác
của chủ nghĩa đế quốc.
- Chính trị: Các lãnh đạo Phi châu ca ngợi hợp tác
kinh tế với Trung Cộng vì hợp tác với Trung Cộng, các lãnh đạo Phi châu
không phải bận tâm về các vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền vì chính
sách của Trung Cộng không can thiệp vào nội bộ của các nước khác. Trong
khi các vấn đề nhân quyền đã đẩy các công ty phương Tây ra khỏi châu Phi
thì Trung Cộng trở thành nước độc quyền đầu tư và khai thác kinh tế.
Ngoài ra, hợp tác với Trung Cộng không phải thông qua các thủ tục, các
điều kiện phức tạp như khi vay tiền của IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế). Trung
Cộng ưu đãi, bao che và nếu cần sẽ sẵn sàng tiếp tay cho giới lãnh đạo
để đàn áp các thành phần đối lập, các tầng lớp nhân dân. Trung Cộng cung
cấp cho giới lãnh đạo Phi châu tiền bạc, súng đạn, an ninh cá nhân và
bảo vệ chế độ bằng sử dụng quyền phủ quyết trong các cơ quan quốc tế như
Liên Hiệp Quốc.
- Kinh tế: Quan hệ thương mại giữa Trung Cộng và
Châu Phi đã tiến nhanh đến một mức không ngờ. Năm 2000 chỉ 10.5 tỉ đô la
nhưng 2011 lên đến 166 tỉ đô la vượt qua cả Mỹ. Trung Cộng củng cố vị
trí hay đúng hơn là trói buộc các quốc gia Phi Châu qua hàng loạt các đề
án như tiền vay để xây dựng đường sá hay huấn luyện nhiều ngàn chuyên
viên người Phi Châu trong nhiều lãnh vực khác nhau. Quan hệ mậu dịch
giữa Trung Cộng và các nước châu Phi vào cuối năm ngoái, 2013, đã tăng
đến 200 tỉ đô la so với 85 tỉ của Mỹ. Tổng cộng mậu dịch giữa các quốc
gia châu Âu và châu Phi chỉ đạt đến 137 tỉ đô la. Trung Cộng cần nhiên
liệu dầu mỏ, khí đốt và nguyên liệu như đồng, cobalt, cadmium, platinum,
kim cương, vàng từ Congo, Liberia, South Africa, Zambia và Zimbabwe.
Không giống Mỹ chỉ giao thương về hàng hóa, Trung Cộng giao thương cả
nguyên vật liệu, hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ. Quan hệ mậu dịch này cho
thấy Phi châu không thể phát triển nếu không có Trung Cộng.
Mục tiêu của chính sách Sức mạnh mềm của Trung Cộng tại châu Phi
- Thỏa mãn nhu cầu năng lượng và nguyên liệu: Phát
triển kinh tế đòi hỏi trước hết là nguyên liệu. Sự thất thoát và lãng
phí nguyên vật liệu trong sản xuất đã làm nhu cầu nguyên liệu của Trung
Cộng vốn đã thiếu hụt lại càng thiếu hụt trầm trọng hơn. Để đuổi kịp các
nước tư bản phát triển và vượt qua những khiếm khuyết trong sử dụng
nguyên liệu, giới lãnh đạo kinh tế Trung Cộng không áp dụng các phương
pháp kinh doanh truyền thống mà Mỹ và các nước Tây Âu đã và đang áp
dụng. Tệ hại hơn cả các chế độ thực dân trước đây, Trung Cộng vơ vét đủ
cách, đủ kiểu, chính thức qua các hợp đồng nhà nước và không chính thức
qua trung gian các công ty thầu thu mua do người bản xứ điều hành.
- Giải quyết nạn thặng dư dân số tại Trung Hoa lục địa:
Nội dung của chủ nghĩa bành trướng thế giới của Trung Cộng không chỉ
giới hạn về kinh tế mà đồng thời để giải quyết được nạn thặng dư dân số
tại nội địa Trung Cộng. Dân số Trung Cộng theo thống kê tháng 7 năm 2008
là 1 tỉ 330 triệu người. Trong 20 năm qua, việc thực thi chính sách
kiểm soát dân số mỗi gia đình một con khá hữu hiệu đã giúp mức gia tăng
dân số chậm lại tại mức 0.65 phần trăm mỗi năm. Nếu cứ tiếp tục duy trì
chính sách hạn chế sinh đẻ như hiện nay, nghĩa là cứ hai người lớn tuổi
mới có một em bé, số lượng người già trong dân số Trung Cộng theo tỉ lệ
sẽ tăng nhanh hơn số lượng trẻ em. Theo các nhà phân tích dân số, nếu
mức phát triển dân số không thay đổi, trong tương lai không xa Trung
Cộng sẽ là một viện dưỡng lão khổng lồ.
- Xuất cảng hàng hóa tiêu dùng: Không giống các quốc
gia Tây phương, viện trợ và đầu tư được tính toán một cách cân đối dựa
trên nhu cầu ngắn hạn và dài hạn của một quốc gia, trong đó có đầu tư về
giáo dục, huấn luyện nghề nghiệp, khoa học kỹ thuật, các đầu tư của
Trung Cộng nhắm nhiều nhất vào các mục đích tiêu dùng và dịch vụ như phi
trường, sân vận động. Ngoài việc đánh gục hàng nội địa, các công ty
Trung Cộng còn cạnh tranh với cả hàng nhập cảng. Công ty điện thoại di
động Congo Chinese Telecomps (CTT) bán các điện thoại phẩm chất không
thua kém các công ty lớn thế giới nhưng giá rất thấp so với các sản phẩm
nhập từ Mỹ hay châu Âu.
Bài học cho Việt Nam và các nước nhỏ Á Châu
Mấy tuần nay, nhiều bài viết so sánh Việt Nam trong hiểm họa Trung
Cộng không khác gì Ukraine trong nanh vuốt Putin. Rất nhiều điểm tương
đồng đã được tác giả trình bày, vâng, nhưng cũng có vài điểm khác biệt
quan trọng. Đối với Mỹ, Nhật và các quốc gia trong vùng biển Đông, Việt
Nam nếu biết vận dung, sẽ có vai trò quan trọng trong quyền lợi kinh tế
và an ninh châu Á hơn Ukraine ở Hắc Hải.
Trung Cộng mạnh hơn Nga nhưng Trung Cộng có một điểm yếu sinh tử, đó
là cơ chế chính trị độc tài toàn trị CS tại Trung Cộng rất dễ tan vỡ
trước một biến cố chính trị quân sự lớn. Việc TT Barack Obama tiếp đón
đức Đạt Lai Lạt Ma mới đây là một cách nhắc nhở cho lãnh đạo Trung Cộng
biết Tây Tạng là một quốc gia đang bị chiếm đóng và Trung Cộng là một
nước lớn nhưng là một nước đang bị bao vây. New York Times bình luận,
không giống như các lần trước, chính phủ Mỹ phải rào đón nhiều ngày
trước khi tiếp đón hay viện dẫn lý do đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ là một lãnh
đạo tinh thần tôn giáo, giải Nobel Hòa Bình v.v.., lần này, TT Obama tỏ
ra dứt khoát.
Trung Cộng, một đế quốc mang mầm hư thối ngay từ trong tim của nó,
đang cố gắng tồn tại và phát triển bằng bạo lực bành trướng, sẽ sụp đổ
giống như tất cả đế quốc đã đi qua trong lịch sử nhân loại. Mọi người kể
cả những lãnh đạo CSTQ cũng biết điều đó. Mao giữ Trung Cộng tồn tại
bằng cách cô lập từ thế giới và Đặng giữ Trung Cộng tồn tại bằng hội
nhập vào thế giới. Nhưng cả hai đều có giới hạn. Vượt qua giới hạn,
Trung Cộng sẽ tan rã. Và tan rã như thế nào, từ mâu thuẫn bên trong, tác
động do chiến tranh từ bên ngoài hay cả hai, vẫn còn là một câu hỏi lớn
đang được nhiều nhà phân tích tìm câu trả lời. Chế độ CS tại Trung Quốc
sống nhờ vào phát triển kinh tế và tìm mọi cách kể cả lập lại các chính
sách thực dân tại Phi Châu để duy trì sự phát triển kinh tế. Lãnh đạo
Trung Cộng biết một khi nền kinh tế Trung Cộng bước vào giai đoạn suy
thoái, chế độ chính trị như lâu đài xây trên cát vốn không có tính chính
danh và hợp luật hiện nay sẽ tan vỡ theo.
Để đương đầu với hiểm họa Trung Cộng, các quốc gia trong vùng Đông
Nam Thái Bình Dương phải biết (1) chiến lược hóa quốc tế vị trí của quốc
gia mình, (2) liên kết thành một khối trong xung đột với Trung Cộng và
(3) khai thác tối đa các mặt yếu của Trung Cộng.
Lịch sử để lại nhiều bài học về chiến lược hóa. Đối với các cường
quốc, quyền lợi đồng nghĩa với vị trí chiến lược. Trong thời kỳ Chiến
tranh lạnh, cả TT Dwight Eisenhower và kế nhiệm John F. Kennedy cương
quyết giữ Tây Bá Linh, trái tim của Tây Đức, bằng mọi giá bất chấp đòi
hỏi của Khrushchev. TT Kennedy ngay cả còn bắn tiếng cho Khrushchev biết
Mỹ sẽ không bao giờ rút khỏi Tây Bá Linh dù phải chấp nhận chiến tranh
nguyên tử với Liên Xô. Cuối cùng Khrushchev đơn phương từ bỏ đòi hỏi và
cho xây bức tường Bá Linh ô nhục. Một ví dụ khác. Ngày 22 tháng 5 năm
1947, Tổng thống Truman ký quyết định viện trợ cho Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp
và gởi cố vấn quân sự Mỹ bắt đầu giúp đỡ chính phủ Thổ tái trang bị và
hiện đại hóa quân đội. Mỹ và Anh muốn dùng đất Thổ như một tiền đồn và
quân đội Thổ như một đơn vị tiền phương để làm chậm sức tấn công của bộ
binh Liên Xô một khi chiến tranh giữa hai khối bùng nổ trong lúc chờ đợi
không lực Anh Mỹ mở các cuộc phản công phát xuất từ các căn cứ không
quân đặt tại Ai Cập. Dĩ nhiên, chính phủ Thổ biết rõ thâm ý của Anh và
Mỹ nhưng đó là cái giá phải chọn vì nền an ninh và sự thịnh vượng lâu
dài của Thổ.
Trung Cộng chỉ giỏi giành một hòn đảo nhỏ như Gạc Ma, chiếm vài trăm
thước đất ở Hà Giang, bắn thủng tàu ghe của ngư dân Thanh Hóa nhưng rất
sợ chiến tranh toàn diện trong khu vực bùng nổ. Trong điều kiện toàn cầu
hóa kinh tế và thông tin như hiện nay, không một quốc gia nào có thể
quyết định độc lập và có lợi hoàn toàn trước một biến cố kinh tế, chính
trị và quân sự tầm vóc quốc tế. Trong nhiều trường hợp nước càng lớn
thiệt hại càng trầm trọng và một nước nhỏ biết vận dụng vị trí của mình
có thể vượt qua cơn sóng gió để trở thành một cường quốc trong tương lai
gần. Không chỉ các lãnh đạo quốc gia mà từng người dân có nhận thức
phải biết đất nước mình đứng ở đâu trong cuộc cờ không ngừng nghỉ của
chính trị thế giới. Nếu không cùng hát đồng ca dân chủ và vươn lên cùng
nhân loại mà quanh năm chỉ rên rỉ một bài ai điếu rồi ngày đại tang cho
dân tộc sẽ đến không xa.
Tham khảo:
- Joseph S. Nye Jr., Soft Power: The Means to Success in World Politics, Public Affairs 2004
- Joseph S. Nye, Jr. Soft Power, Hard Power and Leadership,, Harvard University, 2006
- Mark P. Lagon, The Value of Values: Soft Power Under Obama, World Affair September/October 2011
- Confucius Institutes: China’s Global Presence
- Martin Meredith, The Fate of Africa, Public Affairs 2005
- Princeton Lyman, Director of Africa Policy Studies, Council on Foreign Relation, China’s Rising Role in Africa, July 2005
- Center for Strategic and International Studies and the Peter G.
Peterson Institute for International Economics, China: The Balance
Sheet, Public Affairs 2007
- Series Overview: China’s Rising Power in Africa
- Soft power, from Wikipedia, the free encyclopedia
- Hiểm họa Trung Quốc và bài học Thổ Nhĩ Kỳ, Trần Trung Đạo
- Hiểm họa Trung Quốc và bài học Congo, Trần Trung Đạo
- Hiểm họa Trung Quốc và bài học Tiệp Khắc, Trần Trung Đạo.
THEO FB TRẦN TRUNG ĐẠO
Người biểu tình đang chiếm đóng Quốc hội Đài Loan đưa ra tối hậu thư
Những người biểu tình cố thủ bên trong tòa nhà Quốc hội Đài Loan, ngày 19/03/2014. – REUTERS/Patrick Lin
Những người biểu tình đã bám trụ bên trong tòa nhà Quốc hội
Đài Loan ba ngày liên tiếp, hôm nay 20/03/2014 đe dọa sẽ tăng cường hoạt
động nếu chính quyền phê duyệt thỏa thuận tự do thương mại với Trung
Quốc.
Trên 200 người biểu tình hầu hết là sinh viên, đã vượt qua hàng rào
an ninh hôm thứ Ba 18/3 và cố thủ tại khu vực biểu quyết của Quốc hội
với nhiều chướng ngại vật. Đây là sự kiện lần đầu tiên xảy ra trong lịch
sử Quốc hội Đài Loan. Hàng trăm cảnh sát cố gắng đưa họ ra ngoài nhưng
không thành công.
Lãnh tụ sinh viên Chen Weiting tuyên bố người biểu tình sẽ tiến hành
“các hoạt động khác” nếu Tổng thống Mã Anh Cửu không trả lời các yêu
sách của họ từ nay cho tới ngày mai.
Sinh viên này nói : « Chúng tôi yêu cầu thỏa thuận thương mại về
dịch vụ và mọi thỏa thuận hay thương lượng khác đang tiến hành với Trung
Quốc phải được ngưng lại cho đến khi có một đạo luật nghiên cứu kỹ
lưỡng các thỏa thuận như thế ». Đám đông hô vang : « Hủy bỏ hiệp định thương mại về dịch vụ, bảo vệ nền dân chủ ! ». Các hành động của những người biểu tình được các kênh truyền hình Đài Loan thông tin rộng rãi.
Thỏa thuận ký với Trung Quốc, đối tác thương mại hàng đầu của Đài
Loan, đã vượt qua được trở ngại đầu tiên ở Quốc hội, hôm thứ Hai 17/3
được thông qua ở cấp ủy ban. Các cuộc ấu đả đã xảy ra giữa các dân biểu,
và ba dân biểu của đảng Dân Tiến (DPP) đối lập đã tuyệt thực ba ngày để
phản đối.
Thỏa thuận trên xuất phát từ hiệp định khung về hợp tác kinh tế giữa
Trung Quốc và Đài Loan được ký kết năm 2010, dự kiến mở cửa 80 lãnh vực
dịch vụ tại Trung Quốc cho doanh nghiệp Đài Loan, và 64 lãnh vực tại Đài
Loan cho các công ty Trung Quốc.
RSF : Khi kết án Phạm Viết Đào, Việt Nam dấn sâu vào chế độ độc tài
Blogger Phạm Việt Đào tại toà án Hà Nội ngày 19/03/2014 -@RSF
Trong thông cáo đề ngày 19/03/2014, Phóng viên không biên
giới (RSF) có trụ sở tại Paris đã tố cáo bản án 15 tháng tù dành cho
blogger Phạm Viết Đào hôm qua vì « tạo ra một hình ảnh xấu về Đảng và
Chính phủ » thông qua việc viết và đưa lên mạng 91 bài viết.
Ông Benjamin Ismail, phụ trách khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của tổ chức Phóng viên không biên giới tuyên bố : « Bản
án mới này cho thấy sự sách nhiễu rõ rệt của chính quyền Việt Nam đối
với những nhà hoạt động trong lãnh vực thông tin. Chúng tôi đòi hỏi trả
tự do ngay lập tức cho ông Phạm Viết Đào, bị án tù chỉ vì muốn thông tin
cho đồng bào mình và chia sẻ quan điểm chính trị trên mạng ».
Ông Phạm Viết Đào bị công an Hà Nội bắt ngày 13/06/2013. Ông bị kết án theo điều 258 Luật Hình sự về việc « lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
». Trước đó ông đã từng bị quấy nhiễu trong nhiều tháng trời. Phạm Viết
Đào là người cuối cùng trong số các blogger bị bắt giam trong năm 2013
nay được đem ra xét xử.
Tháng 12/2012, ông Phạm Viết Đào tuyên bố mình « không hề vi phạm luật lệ về thông tin » với tư cách là « hội viên Hội Nhà văn và Hội Nhà báo Việt Nam ». Theo ông, « nếu Nhà nước cho phép thành lập các hội này, thì họ phải chịu trách nhiệm bảo vệ công việc của chúng tôi ».
Năm nay 62 tuổi, ông Phạm Viết Đào ngày càng viết nhiều bài chỉ trích
chính phủ. Tốt nghiệp về văn chương ở Rumani, ông làm việc ở Bộ Văn hóa
Thông tin với tư cách cán bộ thanh tra, đến tháng 6/2012 thì về hưu.
Blog của ông tại địa chỉ phamvietdao3.blogspot.com nhiều lần bị tấn
công nhất là vào tháng 3/2013, rồi mở được trở lại, nhưng đến tháng
6/2013 thì đóng hẳn khi ông bị bắt.
Thông cáo của RSF nhắc lại, Việt Nam hiện đứng thứ 174/180 trong bảng
xếp hạng về tự do báo chí trên thế giới của tổ chức này. Việt Nam cũng
bị Phóng viên không biên giới coi là kẻ thù của internet do chính sách
trấn áp các blogger và các nhà ly khai trên mạng.