Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Giấc mơ du học, sau Harvard rồi... đi đâu?

Giấc mơ du học, sau Harvard rồi... đi đâu?

Gần đây, báo chí Việt Nam thường phát sốt với những tin tức kiểu như bạn A được vào Harvard, bạn B được vào Stanford. Nhưng mọi câu chuyện luôn dừng lại ở việc vào được Harvard như cái đích tối cao, rất ít khi thấy thông tin thực sự về việc vì sao một bạn muốn vào Harvard.

LTS: Nếu những năm 1970s, 1980s, các thầy bói xem chỉ tay rồi phán "anh, cô có số xuất ngoại" thì người được bói khấp khởi hoặc là trong tương lai sẽ được đi xuất khẩu lao động; hoặc đi học ở Liên Xô và Đông Âu. Trước đó thì có những lớp trí thức Việt nói tiếng Pháp; sau đó đến các trí thức nói tiếng Nga. Hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa, du học sinh Việt đã có mặt trên hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới, nói đủ các ngôn ngữ, du nhập về nước các nền văn hóa, kinh tế khác nhau.

Việc có một hay nhiều đứa con đang du học ở những nước phát triển được coi là tiêu chí thành đạt của các gia đình Việt Nam hiện tại. Xu hướng đang tăng này bắt đầu từ những nguyên nhân nào, có tác động như thế nào vào sự đổi thay xã hội và nền giáo dục Việt nói chung.

Tuần Việt Nam mở chuyên đề "Trao đổi, dịch chuyển và 'tị nạn' giáo dục" với sự tham gia của các chuyên gia, cựu du học sinh, những người có nhiều trải nghiệm giáo dục của Việt Nam và quốc tế.


Bài 1: Giấc mơ du học, sau Havard rồi... đi đâu?

Nhà văn Phan Việt tên thật là Nguyễn Ngọc Hường. Chị là tác giả của các tác phẩm - Phù phiếm truyện (2005); Tiếng người (2008); Nước Mỹ, nước Mỹ (2009); Một mình ở châu Âu (2013) và Xuyên Mỹ (2014).Chị cũng là đồng sáng lập tủ sách Cánh Cửa Mở Rộng.

Phan Việt tốt nghiệp Đại học Ngoại thương năm 2000, sau đó sang Mỹ học Thạc sĩ Báo chí và Truyền thông, học tiếp chương trình Thạc sĩ thứ hai và lấy bằng Tiến sĩ công tác xã hội tại ĐH Chicago, Mỹ, hiện là Phó giáo sư, giảng dạy tại đại học South Carolina (Mỹ).
du học, Harvard, Mỹ, Phan Việt, học bổng, xuất ngoại
Ảnh do nhân vật cung cấp
Trở về Việt Nam vào mùa hè này, ngoài các công việc liên quan đến sách, Phan Việt đưa một đoàn sinh viên và giáo sư Mỹ sang học về công tác xã hội tại Việt Nam, kết nối để Đại học South Carolina ký kết các văn bản hợp tác với ba trường Đại học lớn tại Việt Nam; tổ chức một hội thảo quốc tế về công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần; và vẫn đều đặn tới các bệnh viện tâm thần để thực hiện một nghiên cứu.

Cuộc trò chuyện giữa PV Tuần Việt Nam và TS Phan Việt diễn ra tại một ngôi chùa ở ngoại thành Hà Nội, nơi chị đang sống để làm nghiên cứu và cũng tranh thủ dạy tiếng Anh cho chư tăng và người đến chùa.

Hãy cho họ thấy bạn khác biệt

Chị có thể chia sẻ gì về quyết định đi Mỹ du học của chị hơn chục năm về trước? Đi học ở nước ngoài khi đó có phải là một trào lưu không?

Tôi đi Mỹ ngay sau khi tốt nghiệp trường Ngoại thương. Lúc đó chuyện đi du học ở Mỹ  cũng hiếm mà người Việt chủ yếu đi học ở Úc, Châu Âu, hoặc các nước Châu Á. Thường thì học bổng hay dành cho các bạn đoạt giải Olympic, giải quốc gia, quốc tế, hoặc là đã làm việc một thời gian để thành lãnh đạo trẻ.

Tôi không thuộc những diện này, cũng không có gì nổi bật về thành tích, nhà lại cũng không có điều kiện, nhưng tôi biết là tôi rất muốn đi du học. Đọc các tài liệu du học thì tôi thấy các trường ở Mỹ tuyển sinh viên khác các nước khác.

Có vẻ họ nhìn giáo dục như một vụ đầu tư kinh doanh cho nên họ sẵn sàng mạo hiểm nhiều hơn các nước khác. Bỏ ra mấy trăm ngàn USD cho một sinh viên là một sự đầu tư mạo hiểm mà. Nếu bạn chứng minh được với họ là bạn có đam mê và có khả năng trở thành một người tạo ra sản phẩm hoặc  giá trị riêng biệt cho xã hội thì họ sẽ chấp nhận đầu tư vào bạn.

Mất khoảng hơn một năm làm hồ sơ thì tôi được nhận đi học thạc sỹ về truyền thông.

Ấn tượng khi so sánh hai hệ thống giáo dục Việt – Mỹ của chị thế nào?

Ấn tượng đầu tiên là học ở Mỹ không có cảm giác khổ. Ở Việt Nam thì việc học là trung tâm cuộc sống của một đứa trẻ và gia đình đứa trẻ, từ lớp một đến hết đại học, rất cực nhọc.Tôi vẫn còn nhớ cảm giác của ba năm cấp ba; nói chung là triền miên học, triền miên luyện thi, bắt đầu từ lớp 10.

Sang Mỹ học 10 năm, tôi chưa bao giờ gặp lại cái gì gần gần như vậy.Vấn đề không phải là ở chuyện tần số lớp học đâu. Cái chính là ở Việt Nam, tôi học vì một sự sợ hãi vô mình là mình phải vào trường tốt, cụ thể là trường Ngoại thương. Ở Mỹ thì tôi học vì mình chọn; mình có thể thành thực nói là “tôi thích học ngành này lắm”.

Thực sự là tôi học 2 bằng thạc sỹ, một bằng tiến sỹ ở Mỹ nhưng tôi không thấy khổ và có cảm giác sợ như lúc học ở Việt Nam.

Còn khác thế nào: như tôi nói, đã học 10 năm, rồi đi dạy 4 năm ở Mỹ thì tôi thấy người Mỹ coi giáo dục như là một ngành công nghiệp sản sinh tri thức và nhân lực nên cách học và dạy ở Mỹ thực dụng lắm. Họ hướng thẳng vào những gì có thể khiến sinh viên ra trường là trở thành người lao động giỏi, thành người tạo ra các giá trị gia tăng liên tục. Họ đo kết quả mỗi môn học cũng như toàn bộ chương trình rất rõ ràng, dựa trên thay đổi về kiến thức, hành vi, và giá trị sống của sinh viên.

Ở cốt lõi, người Mỹ không quan trọng việc dạy học sinh nghĩ thế này là đúng, thế kia là sai; cũng không dạy sinh viên nên nghĩ về cái này, cái kia, mà mà họ dạy học sinh phương pháp nghĩ như thế nào. Còn nội dung cụ thể của suy nghĩ thì họ cho sinh viên được một sự tự do khá lớn. Lúc tôi là sinh viên và bây giờ là giáo viên, lớp học bên đó thường rất ít hành vi giảng, chủ yếu là thảo luận, tranh luận, thử nghiệm, trình diễn, xem, nghe, quan sát, tương tác thực sự…

Cũng vì có quan điểm coi giáo dục là một ngành công nghiệp nên giáo viên tuy được xã hội Mỹ coi trọng một cách tương đối nhưng trước hết là người làm công ăn lương được xã hội trả tiền để làm việc, thế thôi. Họ không nghiễm nhiên được hưởng bất cứ sự tôn kính nào cả; họ cũng phải bị đánh giá chất lượng công việc, được trả lương dựa theo cơ chế thị trường. Quan hệ giữa sinh viên và giáo viên rất bình đẳng. Các trường thì có sự tự chủ rất lớn, gần như hoàn toàn, về chương trình dạy cũng như về tài chính; cho nên mọi thứ sẽ lấy chất lượng đo lường được làm tiêu chí.
du học, Harvard, Mỹ, Phan Việt, học bổng, xuất ngoại
Ảnh do nhân vật cung cấp
Học Tây rồi về... làm gì?

Có phải đó là nguyên nhân khiến nhiều gia đình Việt Nam tìm mọi cách đưa con đi “tị nạn giáo dục”, theo cách nói phổ biến hiện nay, cho dù đắt đỏ, dù phải hy sinh nhiều thứ?

Cũng không hẳn đâu. Nhiều người cho con đi học không phải vì nền giáo dục ở Tây mà là vì cái sẽ xảy ra tại Việt Nam sau khi một đứa trẻ có bằng Tây trở về, ví dụ “có bằng tây về Việt Nam sẽ tốt”.

Cái họ nghĩ đến khi gửi con đi Tây là Việt Nam chứ không phải Tây. Tính toán như vậy cũng không có gì sai, nhưng tôi thấy là họ thường tính toán dựa trên những nhận định về Việt Nam hiện tại chứ không phải dựa trên nhận định về một Việt Nam có-thể-là hay một Việt Nam với những giá trị mới mà con cái họ chính là người góp phần kiến tạo, thậm chí là người khai phá, mở đường.

Không nhiều người, kể cả phụ huynh lẫn sinh viên, nghĩ đến những câu hỏi mấu chốt này: Tôi muốn gì, tôi muốn trở thành ai, tôi muốn di sản của mình là gì, để làm được điều đó thì con đường tối ưu cho tôi là gì? Tôi có cần phải đi Tây mới làm được điều đó hay có con đường khác tốt hơn? Nếu tôi đi Tây thì trường nào, học với ai, sẽ cho tôi kết quả tối ưu?

Tôi định sẽ đi học như một sự phản ứng với những ấu trĩ tôi thấy ở Việt Nam và tôi học để có thể tận dụng sự ấu trĩ đó hay là tôi muốn học vì tôi yêu tri thức, tôi muốn biết sự thật về thế giới, vì tôi muốn thay đổi cái tôi đang thấy.

Tôi lấy ví dụ như gần đây, báo chí Việt Nam thường phát sốt với những tin tức kiểu như bạn A được vào Harvard, bạn B được vào Stanford. Các bài viết thường hay tập trung kể xem A hay B và gia đình bạn đã vất vả và quyết tâm thế nào để vào được Harvard nhưng mọi câu chuyện luôn dừng lại ở việc vào được Harvard như cái đích tối cao.

Tôi thì nghĩ vấn đề không phải là vào được Harvard; vấn đề nằm ở chỗ bạn vào Harvard để làm gì, bạn có biết vì sao bạn muốn vào đó, chỗ đó có phải chỗ tối ưu để bạn làm được điều bạn muốn làm, trở thành người bạn muốn trở thành hay không?
(Còn nữa)
Hoàng Hường
(Tuần Việt Nam)

Nguyễn Văn Tuấn - Xác Lenin và thi thể Hồ Chí Minh


 Mới đọc báo thấy một tin thú vị: ba năm trước, Quốc hội Nga xem xét việc di dời xác Lenin ra khỏi lăng ở Quảng trường Đỏ, vì xác đó đã tan rã quá nhiều, và cái xác đó cũng chẳng còn thu hút bao nhiêu du khách. Xem tình trạng của Lenin bên Nga, không thể không liên tưởng đến tình trạng của Hồ Chí Minh bên VN.

 Nói chuyện với nhiều người, kể cả quan chức cao cấp ở VN, ai cũng nghĩ Chủ tịch Hồ Chí Minh nên được hoả táng theo ý nguyện của ông. Ý nguyện đơn giản đó, dù đã được viết xuống hơn 46 năm qua, mà vẫn chưa được đáp ứng. Kể ra, đó cũng là một nỗi khổ của ông.

Mặc dù khi còn sống họ chống tệ nạn sùng bái cá nhân, nhưng khi chết các lãnh tụ cộng sản thuộc hàng “khai quốc” thường có lăng riêng. Khởi đầu là Lenin bên Nga (1924). Kế đến là Hồ Chí Minh (1969). Sau đó là Mao Trạch Đông (1976) và Kim Nhật Thành (1994). Con của Kim Nhật Thành là Kim Chính Nhật khi chết cũng được ướp và trưng bày nhưng chưa có lăng. Tôi không rõ trong thế giới không-cộng-sản có lãnh tụ nào được ướp xác và trưng bày lâu năm như các lãnh tụ cộng sản.

Trong tất cả những người trên đây, chỉ có ông Hồ Chí Minh là không muốn có lăng và chẳng muốn ướp xác. Trong bản gốc của di chúc ông viết rất rõ ràng: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân zân. […] Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là ‘hoả táng’. Tôi mong rằng cách ‘hỏa táng’ sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống sẽ tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện thì ‘điện táng’ càng tốt hơn” (1). Ấy thế mà đoạn văn quan trọng này bị “mất” trong bản di chúc chính thức được công bố, và ý nguyện đơn giản của ông không được đáp ứng! Tôi nghĩ đã 46 năm từ ngày ông qua đời, Nhà nước nên suy nghĩ đến việc hoả táng cho ông.

Có nhiều lí do để hoả táng, kể cả lí do khoa học và đạo lí. Nhiều người nói về “công nghệ ướp xác”, nhưng trong thực tế tất cả chỉ là dùng hỗn hợp các hoá chất formaldehyde, glutaraldehyde, ethanol và humectants. Nhưng các hoá chất này dù có được pha chế theo công thức bí mật của Boris Zbarsky (người phụ trách ướp xác Lenin) thì cũng khó mà giữ nguyên vẹn được thi thể. Mới đây, trong một báo cáo trước Quốc hội Nga, Ts Zbarsky cho biết hiện nay xác ướp của Lenin chỉ còn chưa đến 10% cơ thể; tế bào da cũng đã hư hỏng gần hết, ở mắt nhãn cầu hiện nay là nhân tạo, môi đã rời ra, râu rụng, môi được khâu vào 2 má và dán râu giả. Do đó, Quốc hội Nga chuẩn bị đưa xác Lenin ra khỏi lăng. “Công nghệ ướp xác” của Nga được xem là tốt nhất thế giới (nhưng trên thế giới chẳng có nước tiên tiến nào ướp xác như mấy nước XHCN!) mà còn như thế thì chúng ta có thể đoán rằng thi thể của ông Hồ Chí Minh cũng có thể cùng chung tình trạng. Nếu sau 70% mà thi thể của Lenin chỉ còn 10%, thì sau 46 năm, thi thể của ông Hồ Chí Minh có thể chỉ còn ~23%.

Đứng về mặt truyền thống dân tộc, tôi nghĩ không có triều đại nào của VN mà vua được ướp xác và trưng bày trước công chúng. Thử tưởng tượng, một người qua đời, bị bóc bỏ tim, gan, phổi, bao tử, ruột, v.v. rồi thay vào đó những chất nhân tạo. (Điều này thì cũng bình thường ở các nước phương Tây). Sau đó xác được ướp bằng hoá chất một thời gian, rồi cho vào hòm kính, và đó là những can thiệp mang tính xâm phạm vào thi thể của người quá cố. Truyền thống đạo lí VN không ai chấp nhận sự can thiệp xâm phạm như thế, vì ai cũng muốn được thân thể toàn vẹn khi về với đất.

Điều làm tôi cảm thấy không thoải mái là hình thức mang tính hành hạ. Thi thể của ông được nằm trong một cái hòm kính. Buổi sáng người ta kéo hòm lên cho công chúng xem, chiều kéo xuống hầm lạnh, và chu kì này xảy ra mỗi ngày, suốt năm này sang năm khác. Có thể người ta xem đó là cách để người dân ngưỡng mộ có dịp diện kiến người họ yêu kính, nhưng trong thực tế là một hình thức hành xác người quá cố. Ngay cả người mà họ diện kiến cũng đã thay hình trạng khá nhiều chứ đâu phải như vài mươi năm về trước. Tôi nghĩ ông Hồ Chí Minh không bao giờ nghĩ ông được “kéo lên, kéo xuống” như thế như hiện nay.

Nói tóm lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đã gần nửa thế kỉ. Đó là một thời gian khá dài. Tôi nghĩ theo trào lưu của thế giới, cùng những lí do sinh học lẫn đạo lí, đã đến lúc phải suy nghĩ đáp ứng ý nguyện của ông: đó là được hoả táng. Dĩ nhiên, lúc đó thì lăng của ông có thể là nơi lưu trữ đồ lưu niệm, thậm chí có thể trở thành một viện bảo tàng cá nhân.
( Theo FB Nguyen Tuan )

Hợp pháp hóa mại dâm - Biểu hiện bất lực của Nhà nước trong quản lý

(GDVN) - Mại dâm nên cấm hay cho phép? Hiện nay có 2 luồng ý kiến trái chiều, cá nhân tôi, Nhà nước tuyệt đối cấm mại dâm, bởi các lý do sau:

Ngay sau khi Báo Giáo dục Việt Nam đăng tải bài viết " "Thà để cho mại dâm hoạt động còn hơn để người ta đi hiếp dâm", Tòa soạn nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp từ độc giả. Người đồng tình cũng nhiều, mà người chưa đồng tình cũng không ít.

Dưới đây, là quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Viên, ông giới thiệu mình công tác tại Vụ các trường chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tòa soạn đăng tải nguyên văn trên tinh thần tôn trọng quan điểm cởi mở, trao đổi có văn hóa và tinh thần xây dựng.

Tình dục là nhu cầu có thể điều tiết

Tình dục không chỉ là là hoạt động bản năng của con người nhằm duy trì sự sinh tồn, mà còn nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mỗi người. Nhu cầu đó là tự nhiên, chính đáng và cần thiết. Các nhà khoa học đã chứng mình rằng hoạt động tình dục điều độ rất có lợi cho sức khỏe, nó làm giảm căng thẳng; tăng sức chịu đựng của cơ thể; giảm nguy cơ đau tim nặng; giảm đau đầu, đau viêm khớp; giảm nguy cơ ung tuyến tiền liệt; giúp ngủ ngon hơn…

Với những lợi ích mang lại, tình dục rõ ràng giúp con người cải thiện sức khỏe, nâng cao hiệu suất làm việc. Ngược lại, nếu nhu cầu tình dục không được đáp ứng, con người dễ dẫn tới tình trạng căng thẳng, bức xúc, hay cáu giận vô cớ, điều này ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cá nhân, các mối quan hệ và nhất là giảm hiệu quả công việc.

Hoạt động tình dục được coi là chuyện phòng the, nhưng trong thực tế nó được nhiều dân tộc, quốc gia (trong đó có Việt Nam) tôn sùng, trở thành tín ngưỡng. Nói điều này để khẳng định vị trí, vai trò của hoạt động tình dục.

Ảnh minh họa.
Nhận thức được những tác động của tình dục đối với sức khỏe của con người, nhưng không phải ai, không phải lúc nào nhu cầu đó cũng được thỏa mãn, nhất là những người không có bạn tình (những người chưa lập gia đình, những người ly hôn, những người chưa/không có bạn trai/gái…), việc hợp pháp hóa mại dâm sẽ là giải pháp tốt nhất cho những đối tượng này.

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng nhu cầu tình dục không bức thiết tới mức không thể không có, nó không mang tính quyết định tới sự sống của cá nhân như ăn uống, hít thở… Nhu cầu của mỗi người là khác nhau. Việc giải tỏa nhu cầu này không chỉ có cách duy nhất thông qua hoạt động tính giao, mà có thể bằng nhiều cách, đó là những hoạt động tích cực như luyện tập thể dục, thể thao, suy nghĩ lành mạnh… Hơn nữa, tình dục chỉ có lợi khi đó là hoạt động lành mạnh, nếu lạm dụng, tình dục gây tổn hại nghiêm trọng tới sức khỏe con người.

Đó là chưa kể, theo quy luật tâm lý con người đã được nghiên cứu, khi nhu cầu này được thỏa mãn sẽ nảy sinh nhu cầu khác ở bậc cao hơn, phức tạp hơn. Nhu cầu tình dục được thỏa mãn thông qua việc mua bán sẽ không làm triệt tiêu ham muốn của con người, mà sẽ nảy sinh nhu cầu phức tạp hơn, không chỉ đơn thuần là quan hệ nam nữ, mà có thể là quan hệ tập thể, quan hệ đồng giới, những bữa tiệc sex…
Như vậy, mại dâm không phải là cách giải quyết duy nhất đối với nhu cầu tình dục của con người. Mỗi người có thể điều tiết được nhu cầu này.

Hợp pháp hóa mại dâm sẽ làm gia tăng tình trạng hiếp dâm

Thực trạng quấy rối, lạm dụng tình dục, cưỡng hiếp, thậm chí là giết người để quan hệ đang ngày càng gia tăng với mức độ trầm trọng hơn. Nạn nhân không chỉ là phụ nữ, mà còn bao gồm cả trẻ em, người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi, thậm chí là người thân trong gia đình… Người thực hiện hành vi đáng lên án đó, nhiều khi là người ngoan ngoãn, hiền lành, nhưng có những giây phút do ham muốn nên nhất thời không làm chủ được bản thân, gây ra những hậu quả đau lòng.

Nếu mại dâm được phép mua bán, khi ấy bất cứ ai có nhu cầu tình dục mà đủ năng lực hành vi, đủ khả năng tài chính đều có thể tìm đến nhà chứa để giải quyết. Và như vậy, xét về mặt logic thì khi hợp pháp hóa mại dâm sẽ làm giảm đáng kể những vụ án đau lòng do “nhu cầu tình dục” gây ra.

Dù vậy, ngay cả khi mại dâm được hợp pháp nhưng không có nghĩa là tất cả những người có nhu cầu tình dục đều có thể giải quyết bằng cách đến nhà chứa, bởi không phải ai, không phải lúc nào cũng có tiền để có thể đi mua dâm. Để có thể đi mua dâm, người ta sẽ tìm cách để có tiền, chẳng hạn trộm cắp, thậm chí giết người cướp của. Đó là chưa kể tâm lý nhiều người sẽ ngại khi mua dâm vì sợ bắt gặp người quen ở nhà chứa.

Trong khi đó, do mại dâm hợp pháp nên sẽ không thể tránh được việc quảng cáo, tiếp thị của các tú ông tú bà, sự tò mò… tất cả những thứ đó càng kích thích tính dục trong mỗi con người, nhất là thanh niên mới lớn và những người ham của lạ, những người đang sung mãn nhưng không có bạn tình.

Và vì nhu cầu không được đáp ứng, trong khi việc mại dâm lại được công khai nên tình trạng hiếp dâm sẽ gia tăng.

Bán dâm là một nghề nhưng người bán dâm không được bảo vệ

Mại dâm là một hiện tượng xã hội, tồn tại trong xã hội loài người, nhưng thật sai lầm khi cho rằng mại dâm là nghề lâu đời nhất của loài người, mại dâm bắt nguồn từ sự buôn bán nô lệ, sau đó mới phát triển thành nghề. Khẳng định điều này để phủ nhận ý kiến rằng mại dâm tồn tại cùng loài người.

Mại dâm nếu được hợp pháp hóa, tức là nhà nước thừa nhận mại dâm là một nghề, thừa nhận người bán dâm là người lao động. Khi đó, người bán dâm sẽ được nhà nước bảo hộ bằng các quy định của pháp luật, họ cũng sẽ có quyền và nghĩa vụ, được đối xử bình đẳng như những người lao động khác, được đóng bảo hiểm, được hưởng các chế độ phúc lợi xã hội…

Mặt khác, họ cũng sẽ tránh được sự xâm hại từ phía khách hàng. Bởi lẽ, hành vi mua bán dâm là hành vi “nhạy cảm”, lại trong điều kiện lén lút, vụng trộm vì sự ngăn cấm của pháp luật và sự lên án của xã hội, thì mức độ rủi ro bị xâm hại của người bán dâm rất cao, xâm hại về thể xác, về tinh thần, về sức khỏe và về kinh tế. Sự xâm hại đó không chỉ từ phía khách làng chơi, mà còn từ phía tú ông, tú bà - những người chủ chứa, môi giới. Để kiếm nhiều lợi nhuận, các chủ chứa tìm mọi cách để khai thác người bán dâm như nô lệ tình dục. Khi bị xâm hại, người bán dâm không thể cầu cứu sự bảo hộ của pháp luật mà đành phải cắn răng chịu đựng. Thế nên, nếu công khai hóa hoạt động này, người bán dâm sẽ được bảo vệ, hạn chế tối đa những “tai nạn và rủi ro nghề nghiệp”.

Người bán dâm không phải ai cũng có thể thuê “bảo kê”, nhất là những người bán dâm tự do, do vậy mức độ rủi ro của những người này cao hơn rất nhiều so với những người bán dâm có tổ chức, họ có thể gặp những khách hàng bạo dâm, hoặc bị quỵt tiền, cướp tiền, thậm chí cướp cả tính mạng mà không có bất cứ sự bảo trợ nào.

Những người bán dâm không chỉ bị hành hạ về thể xác mà còn bị chà đạp về nhân phẩm, bởi trong suy nghĩ của mọi người và của xã hội, tất cả những người bán dâm là đều đê hèn, là vô liêm sỉ… Vì thế mà người đời luôn coi thường lòng tự trọng, phẩm hạnh và danh dự của những người bán dâm.

Khi mại dâm bị cấm, người bán dâm phải đối mặt với nhiều nguy hiểm và rủi ro. Vậy khi được pháp luật cho phép, những người bán dâm sẽ được bảo vệ? Điều này có vẻ là đúng, nhưng thực tế ngay cả khi pháp luật cho phép mại dâm thì những người bán dâm cũng không được bảo vệ.

Giả sử mại dâm được công nhận là một nghề hợp pháp thì những người bán dâm là lao động, những người môi giới mại dâm là những người kinh doanh. Từ đó xuất hiện mối quan hệ lao động và người sử dụng lao động. Các “doanh nghiệp mại dâm” sẽ bảo vệ “nhân viên” như thế nào, hay vì lợi nhuận mà gia tăng các biện pháp nhằm khai thác tối đa hiệu suất làm việc của “nhân viên”. Rồi quyền làm mẹ của những phụ nữ bán dâm có được bảo đảm không?

Hợp pháp hóa mại dâm, nghĩa là người bán dâm phải đăng ký, phải công khai danh tính, điều này sẽ là rào cản cho những ai muốn hoàn lương. Bởi trong quan điểm của mọi người và của cả xã hội, thậm chí của những người có suy nghĩ “cởi mở” về tình dục, thì mại dâm luôn là một nghề thấp hèn. Không ai, kể cả những người bán dâm, cũng không lấy gì làm tự hào với nghề mại dâm, có ai dám khai lý lịch nghề nghiệp là mại dâm? Những người có tư tưởng cổ súy cho mại dâm cũng không muốn lấy người bán dâm làm vợ/chồng; không muốn người trong gia đình mình làm nghề này. Do vậy, ngay cả khi nhà nước hợp pháp hóa mại dâm thì những người bán dâm vẫn lén lút, và hiểm họa, rủi ro vẫn rình rập.

Chúng ta thấy rằng, người bán dâm chỉ được “khai thác” khi còn trẻ, khi còn khỏe, và có giá cao nếu có nhan sắc. Càng quan hệ nhiều, quan hệ sớm thì tốc độ lão hóa của cơ thể càng tăng, đó là chưa kể đa phần những người bán dâm dùng các chất kích thích. Theo logic những người này sẽ “về hưu” so với tuổi quy định trong Luật Lao động rất nhiều năm, có khi lên tới 15 - 20 năm. Bài toán đặt ra là sẽ xử lý như thế nào đối với những người “về hưu non” này nếu thừa nhận họ là lao động hợp pháp?

Cấm mại dâm không thể làm triệt tiêu nhưng ít ra nó cũng hạn chế người bán dâm và mua dâm. Đây là một cách để bảo vệ quyền con người.

Hợp pháp hóa mại dâm sẽ gia tăng tội phạm liên quan đến vấn đề tình dục

Thực tế ở các nước hợp pháp hóa mại dâm đã cho thấy rằng, mặc dù về danh nghĩa mại dâm do nhà nước quản lý, người bán dâm được khám sức khỏe định kỳ, được cấp giấy phép, được bảo vệ nhưng thực tế đứng đằng sau hoạt động mại dâm lại là các tổ chức xã hội đen. Kinh doanh mại dâm là ngành siêu lợi nhuận, do vậy các tổ chức xã hội đen sẽ tìm mọi cách để câu kết với chính quyền. Như vậy, hợp pháp hóa mại dâm lại tạo điều kiện cho xã hội đen bắt tay với chính quyền, những nhà chứa mại dâm được cấp phép lại là nơi ẩn náu hợp pháp của bọn tội phạm. Nhà nước chỉ có thể quản lý mại dâm trên giấy tờ, còn lợi nhuận phần lớn vào tay các tổ chức xã hội đen.

Để đáp ứng nhu cầu mua dâm, số lượng người bán dâm sẽ gia tăng, bên cạnh đó sẽ xuất hiện nhu cầu mua dâm trẻ em, mua dâm đồng tính và các nhu cầu tình dục bệnh hoạn khác, điều này tất yếu dẫn tới tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em. Kéo theo đó là nạn lừa đảo và bắt cóc phụ nữ, trẻ em để bán vào nhà chứa. Trong nhà chứa, thân phận người phụ nữ bị xúc phạm, bị chà đạp, họ phải làm việc 12-15 tiếng/ngày suốt cả tháng mà không có ngày nghỉ. Thậm chí, nữ bán dâm bị ép uống thuốc để không có ngày đèn đỏ. Họ bị khách hàng bạo dâm, bạo hành lại thêm đám bảo kê xâm hại tình dục, ép tiếp khách, thân phận chẳng khác nào nô lệ tình dục.

Đi kèm vấn đề mại dâm luôn là nạn buôn bán ma túy và các chất kích thích để phục vụ cho hoạt động tình dục. Ma túy và chất kích thích không chỉ là mặt hàng siêu lợi nhuận mà con người bất chấp sự trừng phạt rất nặng của pháp luật để buôn bán, mà nó còn làm kích thích hoạt động tình dục, phục vụ cho ngành công nghiệp tình dục. Năm 2000, nhà nghiên cứu Maxwell đã công bố những bằng chứng về sự liên kết giữa mại dâm với buôn bán ma túy.

Hợp pháp hóa mại dâm cũng sẽ là cơ hội tốt để các tổ chức xã hội đen và các quan chức chính quyền rửa tiền thông qua hình thức kinh doanh mại dâm. Việc đầu tư cho mại dâm sẽ là hình thức rửa tiền của các thế lực khác nhau, hình thành nên những tập đoàn kinh doanh xác thịt.

Hợp pháp hóa mại dâm sẽ đẩy nhanh tốc độ lây lan các bệnh qua đường tình dục

“Trường Y tế công cộng Johns Hopkins ở Baltimore đã tổng kết các nghiên cứu từ tháng 1/2007 đến 6/2011 để đánh giá tỉ lệ nhiễm AIDS ở 99.878 gái mại dâm tại hơn 50 quốc gia. Kết quả tỉ lệ nhiễm HIV tính chung là 11,8%. Tổng cộng có 30,7% gái mại dâm nhiễm HIV trong nhóm 26 nước có tỉ lệ nhiễm HIV cơ bản ở mức trung bình và cao, đó là chưa kể các loại bệnh khác như giang mai, lậu,viêm gan...”.

Tại Việt Nam, “Theo báo cáo của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), tỷ lệ người bán dâm bị nhiễm HIV/AIDS hiện nay tương đối cao (chiếm khoảng 30 - 40%), ước tính ở Việt Nam có 9,3% phụ nữ bán dâm sẽ nhiễm HIV, cao thứ 3 chỉ sau nhóm tiêm chích ma túy và nhóm quan hệ tình dục đồng tính nam”.

Những số liệu trên đã củng cố thêm lập luận mại dâm thúc đẩy sự lây lan các bệnh dịch liên quan tới tình dục. Nếu hợp hóa mại dâm sẽ kiểm soát được tốc độ lây lan các dịch bệnh này?

Khi đã công nhận mại dâm là một nghề, có nghĩa là nhà nước phải có những quy định để quản lý. Bằng những quy định của mình, nhà nước đặt ra các điều kiện bắt buộc hoạt động mại dâm phải tuân theo, các nhà chứa và người bán dâm nếu không đạt yêu cầu sẽ không được phép hành nghề. Những người hành nghề mại dâm phải đăng ký và định kỳ đi khám sức khỏe tại bệnh viện, và như vậy sẽ kiểm soát được những những người mắc bệnh. Tuy nhiên, đó chỉ là lý thuyết được xem xét một cách khái lược, bỏ qua nhiều yếu tố khác.

Một ngày người bán dâm phải quan hệ với rất nhiều người, do đó khả năng lây nhiễm và truyền bệnh là rất cao, ngay cả khi dùng biện pháp tình dục an toàn (dùng bao cao su). Bởi lẽ, mặc dù dùng bao cao su nhưng nhiều tình huống xảy ra, chẳng hạn bao cao su rách, tuột, hoặc do chất lượng bao cao su kém, dẫn tới sự thẩm thấu của tinh dịch hoặc sự thâm nhập của virut.

Hơn nữa, con đường lây lan bệnh tình dục có nhiều cách, không nhất thiết qua con đường giao hợp, có thể là qua con đường quan hệ miệng, quan hệ qua đường hậu môn, qua khăn tắm, chăn ga của nhà chứa, thậm chí là quần áo của người bán dâm. Những đồ dùng đó, trong điều kiện ẩm ướt, thiếu ánh sáng, tần suất hoạt động nhiều thì thường không bảo đảm vệ sinh, và đó là cách lây nhiễm nhiều loại bệnh da liễu, bệnh tình dục như nấm, sùi mào gà, giang mai, viêm gan…

Bên cạnh đó, người bán dâm còn có nguy cơ cao mắc các bệnh lý và tổn thương khác như viêm khớp ở đầu gối, hông, chân, cột sống… do việc đứng lâu hoặc hoạt động tình dục nhiều, hoạt động không đúng tư thế…

Đó là chưa kể, khi mại dâm được hợp pháp, sẽ có những biến tướng của mại dâm, chẳng hạn như các cuộc thác loạn, những cuộc “liên hoan tình dục”, những trò biến thái bệnh hoạn… Những trò đó không chỉ chà đạp nhân phẩm con người, coi xác thịt là thứ hàng hóa như những hàng hóa bình thường khác, mà còn là nơi sản sinh và gây truyền các bệnh liên quan tới tình dục.

Khi hợp pháp hóa mại dâm, người bán dâm phải định kỳ khám sức khỏe, điều này sẽ kịp thời phát hiện những người mắc bệnh, từ đó sẽ ngăn chặn được bệnh tật cho cả người mua dâm lẫn người bán dâm. Tuy nhiên, việc khám sức khỏe định kỳ lại không được những người bán dâm ủng hộ, bởi sự rườm rà về thủ tục, tốn kém về tiền bạc và mất thời gian, đó là chưa kể, việc công khai bệnh tình của người bán dâm sẽ ảnh hưởng tới công việc của đối tượng này.

Do vậy, cả người bán dâm lẫn người kinh doanh tình dục sẽ đối phó với vấn đề kiểm tra sức khỏe. Kéo theo đó là sự “móc ngoặc” giữa cơ sở y  tế với “doanh nghiệp bán dâm” để có giấy tờ hợp lệ về sức khỏe. Việc phát hiện và ngăn chặn bệnh thông qua khám sức khỏe định kỳ không những không đạt mục đích, mà còn kéo theo những hệ lụy xấu.

Hợp pháp hóa mại dâm sẽ tốn kém và lãng phí cho việc quản lý 

Theo Tổ chức cảnh sát quốc tế (INTERPOL) thì mỗi gái bán dâm mang lại cho chủ chứa khoảng 144.000 đô la mỗi năm. Ngành kinh doanh tình dục mang lại khoảng 7 tỉ đô la mỗi năm. Có thể thấy kinh doanh tình dục là một nghề siêu lợi nhuận, chỉ đứng sau buôn bán ma túy và buôn bán vũ khí.

Ở Việt Nam, năm 2012 Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) phối hợp với Viện Gia đình và Giới thực hiện cuộc khảo sát “Đặc điểm di biến động của người hoạt động mại dâm nhìn từ góc độ giới tại ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh”, đã cho thấy: Trung bình người bán dâm làm việc 5,7 giờ/ngày, trong đó thời gian bán dâm của nam giới trung bình 5,4 giờ và nữ giới trung bình 6 giờ. Một tháng mỗi người hành nghề mại dâm làm việc khoảng 19 ngày, thu nhập trung bình 8,6 triệu đồng (nữ là 10,6 triệu và nam là 6,55 triệu), trong đó  5% có thu nhập từ 20 triệu trở lên, chưa kể các khoản thu nhập phụ khác. Có thể thấy thu nhập trung bình của người bán dâm cao gấp 2,5 so với thu nhập trung bình của nhóm 20% người có thu nhập cao ở nước ta.

Tháng 6/2012 công an thành phố Hồ Chí Minh đã phá đường dây mại dâm cao cấp, mỗi lần đi khách thu nhập hàng nghìn USD.

Như vậy có thể khẳng định, mại dâm là một nghề “hốt bạc”, coi mại dâm là một nghề thì với khoản thu nhập do tình dục mang lại, mỗi năm đóng góp cho ngân sách một khoản tiền không nhỏ. Vậy nên hợp pháp hóa mại dâm sẽ làm gia tăng nguồn thu cho ngân sách?

Nhưng trên thực tế, nếu cho phép mại dâm thì số tiền thu về do hoạt động mại dâm mang lại là không đáng kể. Bởi:

Thứ nhất, người bán dâm và người kinh doanh tình dục sẽ tìm mọi cách để trốn thuế.

Thứ hai, cơ quan thuế không thể tính được mỗi người bán dâm một ngày tiếp bao nhiêu khách, thu bao nhiêu tiền nhất là khi hoạt động tình dục được mua bán không thông qua hóa đơn chứng từ, không có sự kiểm soát về mặt tài chính.

Trong khi đó việc đầu tư cho cơ sở khám chữa bệnh, đầu tư cho việc xây dựng nhà chứa và các phương tiện phục vụ hoạt động tình dục, đầu tư cho đội ngũ con người để quản lý hoạt động tình dục quá lớn. Đó là chưa kể hàng loạt tiêu cực xảy ra trong quá trình quản lý mại dâm như cấp phép hoạt động, giấy chứng nhận sức khỏe, sự mất an toàn xã hội, an ninh trật tự tại các nhà chứa…

Như vậy khoản thu về từ hoạt động mại dâm quá nhỏ bé so với các khoản chi phí quản lý. Việc hợp pháp hóa mại dâm không mang lại nguồn thu cho ngân sách, mà trái lại làm tiêu hao nguồn ngân sách. Hành động này chẳng khác nào bỏ tiền mua rắc rối, mua bệnh tật cho xã hội. Còn số tiền khổng lồ do mại dâm mang lại sẽ đổ vào túi một số người.

Truyền thống văn hóa, đạo đức dân tộc và bản chất nhà nước không cho phép mua bán tình dục

Dân tộc ta luôn tôn trọng vị trí, vai trò của người phụ nữ. Trong văn hóa truyền thống, người phụ nữ Việt Nam là thủy chung, trinh tiết. Trước đây chúng ta ngại đề cập tới vấn đề tình dục, thậm chí là tránh né, cho đó là chuyện phòng the tế nhị, chuyện xấu hổ. Những năm gần đây, chúng ta bắt đầu cởi mở khi đề cập tới vấn đề tình dục, nhưng là đề cập dưới góc độ khoa học, góc độ nhân văn. Với bề bày lịch sử với văn hóa tốt đẹp, xã hội ta khó mà chấp nhận chuyện mua - bán dâm. Nếu công nhận mại dâm là một nghề thì quả là một đòn giáng mạnh vào nền văn hóa của dân tộc.

Cho phép mại dâm tức là chúng ta đã thừa nhận hoạt động tình dục là một loại “hàng hóa”, hàng hóa đặc biệt, đặc biệt ở chỗ nó là hàng hóa sức lao động nhưng không được xã hội loài người khuyến khích. Người sở hữu loại hàng đặc biệt này chủ yếu là phụ nữ. Phụ nữ ở nước ta vẫn giữ vị trí, vai trò to lớn và ý nghĩa trong gia đình và xã hội. Truyền thống dân tộc ta coi trọng tiết hạnh của người phụ nữ, tiết hạnh ở đây không chỉ là vấn đề trinh tiết, mà còn là phẩm hạnh, đạo đức. Do vậy, việc mại dâm đồng nghĩa với việc xúc phạm nhân phẩm, chà đạp danh dự, hạ thấp vị trí, coi thường vai trò của người phụ nữ. Với những đức tính tốt đẹp của mình, phụ nữ Việt Nam thừa sức kiếm tiền một cách chân chính và tự hào, không khi nào chấp nhận “bán trôn nuôi miệng”.

Trong suy nghĩ của nhiều người mua dâm, mua dâm không hẳn vì nhu cầu, mà là mua vui, đi tìm người bán dâm để chà đạp, để trả thù đời… Lúc này người bán dâm sẽ là nạn nhân của những sự bạo hành.

Nước ta đang xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, một xã hội mà con người được tôn trọng, một xã hội có nền kinh tế phát triển, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nền văn hóa đó không thể chấp nhận chuyện mua bán tình dục. Cái mà xã hội chúng ta hướng tới đó là chân, thiện, mỹ của loài người chứ không phải cái nhu cầu bản năng của con người. Hơn nữa, hoạt động tình dục không tạo ra giá trị cho xã hội, nó đi ngược lại với nét đẹp văn hóa, chuẩn mực xã hội, đi ngược với bản chất nhà nước.

Như vậy, mại dâm là hiện tượng của xã hội loài người, chúng ta không thể triệt tiêu được hiện tượng này, nhưng có thể khẳng định mại dâm là khuyết tật của xã hội. Trong quá trình nhân loại xây dựng một xã hội tiến bộ, vì sự phát triển toàn diện con người, không thể không xoá bỏ khuyết tật này. Mại dâm tuyệt đối không phải vấn đề kinh tế như vẻ bề ngoài của nó, vì vậy không thể ứng xử như với một vấn đề kinh tế. Mại dâm là vấn đề văn hoá, tinh thần, là tiến trình đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ xã hội, không chỉ của Nhà nước. Nếu chỉ có Nhà nước quản lý như quản lý một tiến trình kinh tế sẽ tất yếu thất bại. Hợp pháp hoá mại dâm chắc chắn là biểu hiện thất bại của Nhà nước trong quản lý, chứ không phải là một hướng quản lý mới./.
Nguyễn Văn Viên
(Giáo dục VN)
 

Mưa bão 2014: EVN, Vũ Huy Hoàng và Hoàng Trung Hải?

Tưởng niệm chiến tranh biên giới với Trung Quốc tại Vị Xuyên

“Nước mắt hòa cùng nước mưa, hàng nghìn người run run thắp từng ngọn nến, cắm từng nén hương trước mộ các liệt sĩ đã hi sinh trong cuộc chiến chống quân Trung Quốc xâm lược.”
Ngày 26 Tháng Bảy, đoàn cán bộ Tỉnh Ủy, ĐBQH, HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh Hà Giang đã tới dâng vòng hoa, thắp hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ tại nghĩa trang liệt sỹ Vị Xuyên. (Hình: Kiến Thức)

Lần đầu tiên từ khi Việt Nam nối lại bang giao với Trung Quốc năm 1990, người ta thấy một số tờ báo ở Việt Nam đưa tin về lễ tưởng niệm các người lính CSVN đã chết trong cuộc chiến nêu đích danh chống Trung Quốc xâm lược ở vùng núi rừng biên giới huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

Cuộc chiến khốc liệt kéo dài suốt nhiều năm, từ 1984 đến 1989 ở Hà Giang không hề được công bố các con số thống kê cho biết sự thiệt hại. Chỉ thấy tài liệu viết về cuộc chiến này trên báo điện tử VNExpress ngày 25 Tháng Bảy nói rằng: “Trong năm năm, tỷ lệ thương vong hỏa tuyến cao nhất là sư đoàn 313. Ở sư đoàn này, trung bình mỗi ngày có 3 thương binh, ngày cao nhất là 23 thương binh. Trên toàn mặt trận Vị Xuyên, ngày cao nhất có 820 người bị thương (12 Tháng Bảy, 1984), trong đó chỉ riêng sư đoàn 356 đã có khoảng 600 người hy sinh.”

Nhiều phần, vì thiệt hại quân số quá lớn không thể tái bổ sung kịp thời nên “Năm 1989, sư (đoàn) 356 giải thể” như VNExpress kể.

VNExpress kể rằng: “Số lượng đạn, pháo cối địch sử dụng trung bình mỗi ngày từ 10,000 đến 20,000 quả. Có ngày tới trên 65,000 quả (7 Tháng Giêng, 1987). Trong hơn 5 năm (1984-1989), số lượng pháo Trung Quốc bắn vào Hà Tuyên là trên 2 triệu quả, trong đó 60% là đạn cối. Phạm vi địch bắn phá tập trung vào hai xã Thanh Đức, Thanh Thuỷ trong khoảng diện tích 20 km2.”

Trung Quốc đã xua quân lấn chiếm một số khu vực ở Hà Giang, chiếm giữ những cao điểm 226, 233, 1509, 1030, 772, 685, lấn sâu vào nội địa Việt Nam từ 500 mét đến 2km mà những nơi này diễn ra những trận đánh kinh hoàng suốt nhiều năm.

VNExpress nói rằng: “Đã thành lệ, cứ dịp 27/7 hàng năm, Trung Ương Đoàn và tỉnh Hà Giang lại tổ chức chuỗi hoạt động nhằm tưởng nhớ, tri ân hàng nghìn người lính đã hi sinh để bảo vệ tổ quốc. 20h ngày 26 Tháng Bảy, lễ thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ được tổ chức tại nghĩa trang quốc gia Vị Xuyên.”

Suốt 10 năm trời sau cuộc chiến biên giới kéo dài một tháng (từ 7 Tháng Hai, 1979 đến 16 Tháng Ba, 1979) dọc theo 6 tỉnh, các cuộc chiến biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn tiếp diễn nhưng không được đề cập nhiều trên báo chí tại Việt Nam. Khi hai nước tái lập bang giao thì tin tức bị bưng bít hoàn toàn.

Tấm bia kỷ niệm chiến thắng tại đầu cầu Khánh Khê – Lạng Sơn bị đục bỏ các chữ "Trung Quốc xâm lược” - (Hình: Thanh Niên)

Thậm chí, Tháng Hai, 2011, ký giả báo Thanh Niên có một ký sự đi thăm vùng biên giới từng xảy ra chiến trận với Trung Quốc tại tỉnh Lạng Sơn nói bóng gió rằng: “Những dấu tích của thời gian và con người đã xóa mờ một vài chỗ trên tấm bia” dựng ở đầu cầu Khánh Khê. Nhưng tấm hình chụp tấm bia kỷ niệm được đưa ra với nhiều chữ bị đục bỏ. Toàn thể nội dung tấm bia là 'Sư đoàn 33 đánh bại và chặn đứng quân Trung Quốc xâm lược.'"

Tại nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên, hiện chỉ có hơn 1,700 lính CSVN có nấm mộ, trong đó có nhiều nấm mộ bia vô danh. Trong bài viết ngày 25 Tháng Bảy, VNExpress thuật lời một cựu binh tên Nguyễn Văn Kim kể rằng anh là một trong những tân binh vưà mới được huấn luyện căn bản sơ sài “hơn một tháng” là đã bị đẩy ngay ra chiến trường Vị Xuyên vì nhu cầu “cấp bách”.

Ký giả Huy Đức đi thăm vùng biên giới phía Bắc thuộc tỉnh Lạng Sơn, viết bài ký sự có tựa đề “Tháng Hai Biên Giới” nhân dịp 30 năm cuộc chiến giữa hai nước Cộng Sản anh em, phổ biến trên tờ Sài Gòn Tiếp Thị ngày 9 Tháng Hai, 2009. Bài viết gồm 2 phần, mới đi được nửa đầu thì bị rút xuống. Ít lâu sau thì ông bị ép “tự nguyện” thôi việc ở tờ báo này, ngồi nhà viết Blog.

Mới ngày 16 Tháng Hai vừa qua, khi nhà cầm quyền Việt Nam biết tin một số người dân tổ chức đặt vòng hoa tưởng niệm các người lính đã hy sinh mạng sống bảo vệ biên giới phía Bắc chống Trung Quốc, một đoàn cán bộ đông đảo đã được huy động tới ca hát, nhảy múa loạn xạ, mục đích là cản trở, mở nhạc thật lớn, quấy rối những người muốn dâng hương, bày tỏ lòng tri ân các anh hùng vệ quốc.

Nay thì người ta thấy báo VNExpress đăng tải thoải mái một loạt mấy bài về cuộc chiến biên giới ở tỉnh Hà Giang và các buổi lễ tưởng niệm, các cuộc thăm viếng nghĩa trang vốn từng bị bỏ hoang phế những năm trước đây. Một số báo khác cũng loan tin về sự kiện kỷ niệm này.
(Người Việt)

Mưa bão 2014: EVN, Vũ Huy Hoàng và Hoàng Trung Hải?

(VNTB) Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vẫn là chủ đề vô trách nhiệm muôn thuở của những người viết phải có trách nhiệm.
TĐ Đăk Mi 4 xả lũ khiến nhiều vùng huyện Phước Sơn bị ngập lũ, cô lập.
Bộ trưởng công thương Vũ Huy Hoàng?
Khi những cơn bão đầu tiên đổ vào Việt Nam và không thể nói ngành thủy điện vô can trong gần ba chục cái chết của dân nghèo ở Hà Giang, một đại diện của EVN còn nói thẳng với chính quyền địa phương và người dân tỉnh Phú Yên là: “Chúng ta không kỳ vọng gì thủy điện sẽ cắt được lũ cho hạ du. Không bao giờ cắt được! Sẽ còn lũ tiếp diễn. Chúng ta phải chấp nhận sống chung với lũ”.
Phú Yên lại là một trong những nạn nhân đau đớn nhất của nạn xả lũ thủy điện.
“Vô trách nhiệm!” là từ ngữ mà vài tờ báo trung thực và can đảm nhất trong báo giới nhà nước dám thốt lên, trong khi đại đa số báo chí hầu như im lặng trong một nỗi hổ thẹn tự thân khó tưởng tượng trước khổ nạn của đồng loại.
Chỉ trong hai tháng mưa bão cuối năm 2013, tập đoàn điện lực EVN đã đồng loạt cho xả lũ ở 15 nhà máy thủy điện mà đã gây ra hậu quả ghê gớm khi “giết sống” đến năm chục mạng dân nghèo khó nơi rốn lũ tại các tỉnh Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Nghệ An… Thế nhưng sau khi báo chí và dư luận kêu gào thảm thiết, vẫn không có bất cứ quan chức nào của EVN và của cơ quan chủ quản của tập đoàn này là Bộ Công thương phải ra trước vành móng ngựa. Thậm chí bất chấp loạt kiến nghị của đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam, đã không có nổi một đồng bồi thường cho dân. Thay vào đó, ông Vũ Huy Hoàng – Bộ trưởng công thương và là người vẫn ung dung “đi công tác nước ngoài” trong thời gian các nhà máy thủy điện xả lũ lên đầu dân – đã hoàn toàn phủi bụi trách nhiệm của một ủy viên trung ương đảng.
Trách nhiệm ấy, nếu xảy ra ở những quốc gia phát triển và công tâm hơn nhiều chính thể Việt Nam, chắc chắn sẽ phải đối mặt với một bản án tù chứ không chỉ là hành động phải bồi thường vật chất cho các nạn nhân chịu nạn.
Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải?
Phát ngôn “dân phải sống chung với lũ” của một quan chức EVN càng cho thấy thái độ vô trách nhiệm vừa cá nhân vừa tập thể của EVN đã lên đến mức bất chấp dư luận và dã man đến thế nào. Như được một số cấp cao hơn hẳn và không loại trừ cả quan chức chính phủ “bảo kê”, EVN đang tự biến diễn thành một thứ giặc nội xâm, sau khi tập đoàn này vừa bị báo chí phanh phui hoạt động mua điện của ngoại xâm Trung Quốc suốt từ năm 2005 đến nay với giá cao gấp 3 lần mức giá bình thường trong nước.
Là doanh nghiệp con nợ đầu bảng ở Việt Nam với con số ít nhất 118.000 tỷ đồng, mới đây EVN đã hoan hỉ thông báo “lần đầu tiên đã có lãi sau 2 lần tăng giá điện”.
Nhưng sau hàng loạt vụ bê bối chấn động và hậu quả tang thương mà EVN gây ra, ngay cả một phó thủ tướng phụ trách ngành điện là ông Hoàng Trung Hải lại gần như “biến mất”.
Mùa mưa bão cuối năm 2014 sắp ập đến. Sau cơn bão Thần Sấm Rammasun, rất có thể Việt Nam sẽ là điểm đến của những cơn lốc tố ghê gớm khác. Rừng bị phá gần như cạn kiệt, cùng vài chục hồ thủy điện treo lơ lửng ngay trên sinh mệnh người dân vùng rốn lũ. Nhưng sau tất cả, đó là lối hành xử “sống chết mặc bay” của giới quan chức lãnh đạo EVN. Để từ đó, người dân càng nhìn rõ bản chất của giới lãnh đạo ở các cấp cao hơn.
Của cả một chế độ chính trị!
Sẽ còn nhiều cái chết của dân chúng bởi thói vô lương tâm của quan chức. Thế nhưng tại sao dân chúng lại không thể hay không muốn thét lên? Vì sao dân chúng lại không làm điều tối thiểu để lôi những quan chức vô đạo “giết sống” dân như thế ra trước Tòa án Xã hội?
Trường Sơn
(Việt nam Thời báo)

Ông Đinh Đức Lập lại tiếp tục "ngồi nhầm ghế"

Mười ngày sau khi ông Đinh Đức Lập mất chức tổng biên tập báo Đại đoàn kết, ngày 25/7/2014, Ban thường trực Ủy ban trung ương MTTQW Việt Nam đã công bố quyết định bổ nhiệm ông Lập làm Phó giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học MTTQ Việt Nam. Một vị trí mà theo quy định và yêu cầu của công tác mặt trận ông Đinh Đức Lập không hề có đủ yêu cầu về năng lực, trình độ cũng như phẩm chất đạo đức cần thiết.
Ông Đinh Đức Lập nhận quyết định công tác mới trong lúc chưa hoàn tất việc bàn giao hồ sơ tài chính tại báo Đại đoàn kết. Và cơ quan báo đang có quyết định thanh tra, kiểm toán về tài chính trong thời kỳ ông Lập làm tổng biên tập. từng bị tố cáo có nhiều chuyện nhập nhèm. Trong đó có việc bổ nhiệm cháu ruột Đinh Quang Sơn làm kế toán trưởng, ngang nhiên thực hiện quy trình “cháu trình – chú duyệt”, biến công tác tài chính của báo Đại đoàn kết như một tổ chức kinh tế gia đình.
Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học MTTQ Việt Nam được thành lập hồi đầu năm 2013, với chức năng chính là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Mặt trận các cấp; Tổ chức nghiên cứu, tổng kết thực tiễn những vẫn đề lý luận về đại đoàn kết dân tộc; Xây dựng và tổ chức hoạt động bảo tàng Mặt trận, giáo dục truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam.
Trung tâm này theo cơ cấu tổ chức tương đương với một ban của MTTQ Việt Nam. Vì vậy, với cương vị mới này, ông Lập được tính tương đương vị trí Phó Tổng biên tập tại báo Đại Đoàn Kết. Tuy nhiên, vị trí này theo quy định có yêu cầu rất cao về trình độ học vấn. Người lãnh đạo trung tâm phải có học hàm học vị ít nhất từ thạc sĩ đến tiến sĩ trở lên.
Yêu cầu này là cần thiết và xuất phát từ thực tiễn công tác mặt trận trong thời gian hiện nay và cho tương lai. Nếu như Mặt trận thực sự có mong muốn trở thành một tổ chức hữu hiệu, thiết thực và có ích cho cuộc sống.
Được bổ nhiệm vào vị trí phó giám đốc của trung tâm đòi hỏi khắc khe về trình độ như thế này song ông Đinh Đức Lập lại sở hữu những thành tích đầy tai tiếng trong chuyện gian lận về bằng cấp, năng lực, trình độ trong rất nhiều năm qua.
Ông Lập từng bị đuổi khỏi ban lãnh đạo của Trung ương Đoàn Thanh niên Công sản Hồ Chí Minh vì tai tiếng xài bằng cấp giả; bị mất chức tổng biên tập báo Đại đoàn kết vì dính dáng tới nhiều hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo. Trong đó, rùm beng nhất và làm ảnh hưởng xấu tới uy tín của báo Đại đoàn kết và MTTQ Việt Nam nhất là việc gian lận giải báo chí quốc gia năm 2013 mới đây. [Xem ở đây]
Một cán bộ, đảng viên có thành tích đặc biệt gây tai tiếng trong suốt nhiều năm qua như ông Đinh Đức Lập (nhất là những chuyện liên quan tới việc gian lận bằng cấp, giải thưởng…) đã nhiều lần bị tố cáo và bị mất chức, nay lại được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học MTTQ Việt Nam xem ra không chỉ đáng quan ngại mà còn có vẻ buồn cười và có phần thách thức dư luận.
Khỏi cần phải xem xét về vấn đề năng lực và trình độ chuyên môn của ông Đinh Đức Lập trong vai trò Phó giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học MTTQ Việt Nam. Vì theo quy định, ông Lập đã không đủ tiêu chuẩn, chưa kể ông này còn có quá nhiều tai tiếng về chuyện xài bằng giả, gian lận giải thưởng, vi phạm nghiêm trọng đạo đức người làm báo, phẩn chất đạo đức cán bộ công chức nhà nước và tư cách đảng viên.
Ông Đinh Đức Lập trong thời gian làn tổng biên tập báo Đại đoàn kết đã có nhiều hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp trở thành tổng biên tập ghi được nhiều kỷ lục tai tiếng nhất làng báo Việt Nam trong lịch sử.
Cũng chính vì những thành tích đầy tai tiếng này mà ông Lập tiếp tục bị tố cáo và bị kỷ luật đẫn tới mất chức tổng biên tập báo Đại đoàn kết mặc dù được sự bao che hết mực của ông Vũ Trọng Kim – Phó chủ tịch kiêm tổng thư ký MTTQ Việt Nam.
Nay ông Kim lại tiếp tục sử dụng “đệ tử” Lập cho một vai trò mới dù ông Lập không hề có đủ tiêu chuẩn theo quy định. Tiền thuế của dân (ngân sách MT được Nhà nước cung cấp) nay được giao cho những cán bộ tha hóa, biến chất như Đinh Đức Lập sử dụng để đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học cho công tác Mặt trận nghe thật xót xa làm sao!
Lịch sử đau thương của báo Đại đoàn kết nay chẳng lẽ lại tái hiện ở Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học MTTQ Việt Nam chỉ vì sự thao túng của một vài cá nhân nào đó trong tổ chức MTTQ Việt Nam?
Ông Đinh Đức Lập liệu còn có tư cách để trở thành người lãnh đạo một trung tâm đang mang lại nhiều kỳ vọng cho sự phát triển và nâng cấp trình độ hoạt động của hệ thống mặt trận trong tương lai?
Liệu những cán bộ mặt trận đang sống chết với địa bàn, đang cố gắng xây dựng, giữ gìn và phát triển uy tín của Mặt trận tại cơ sở sẽ học được gì từ một người lãnh đạo trung tâm bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học MTTQ Việt Nam như ông Đinh Đức Lập?
Hay là chuyện bổ nhiệm này càng làm cho dư luận xã hội nhìn thấy rõ hơn sự tha hóa không thể sửa chữa được của công tác tổ chức cán bộ trong hệ thống chính trị hiện nay của xã hội ta?
Lợi ích nhóm ra sức bảo kê che chắn cho nhau cùng tham nhũng, tiêu cực bất chấp quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước đang kéo lùi sự phát triển của xã hội và đưa đất nước ta tới bờ vực của sự sụp đổ?
Làm hại cho Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực ra không ai còn có thể làm tốt hơn được những kẻ như Đinh Đức Lập cùng nhóm lợi ích của ông ta!
P/S:
Được biết, chiều ngày 15/8/2013, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đã có buổi làm việc với ông Vũ Trọng Kim - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và Ban thường trực về thành lập Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học MTTQ Việt Nam.
Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng và Phó Chủ tịch UB TW MTTQ Việt Nam - Vũ Trọng Kim tại buổi làm việc
Tham dự buổi làm việc có đại diện Vụ Ngân sách Nhà nước, Vụ Hành chính sự nghiệp và Văn phòng Bộ Tài chính. Tại buổi làm việc, ông Vũ Trọng Kim thay mặt Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã đề xuất Bộ Tài chính hỗ trợ một số cơ chế tài chính đặc thù trong quá trình thực hiện Đề án, để Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học MTTQ Việt Nam sớm được triển khai xây dựng và đi vào hoạt động, đáp ứng yêu cầu về đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho MTTQ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. [Xem ở đây]
Phải chăng, ông Đinh Đức Lập được ông Kim điều về Trung tâm mới thành lập này để tiếp tục thực hiện việc giải ngân các khoảng đầu tư công cho công tác Mặt trận (có lợi cho nhóm lợi ích) sau khi ông Lập đã “không hoàn thành nhiệm vụ” giải tỏa lô đất vàng 66 Bà Triệu của báo Đại đoàn kết?
(Blog Hữu Nguyên)
 

Đừng để bà mẹ Việt Nam anh hùng phải “khóc thầm lặng lẽ“

Đừng để bà mẹ Việt Nam anh hùng phải “khóc thầm lặng lẽ“
Dù có tái giá thì vợ và mẹ liệt sĩ cũng đã và đang âm thầm chịu nỗi đau quá lớn không thể bù đắp là mất chồng, mất con (ảnh minh họa)
Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, đã có hàng triệu người vợ, người mẹ phải âm thầm chịu đựng nỗi đau, để đến hôm nay, Tổ quốc không quên ghi tạc sự hy sinh thầm lặng của các bà, các mẹ bằng việc vinh danh danh hiệu cao quý: “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” (BMVNAH).

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chỉ vì sự tắc trách của các cơ quan chức năng mà những danh hiệu cao quý này vẫn đang bị “treo” bởi lý do… các mẹ, các chị đã tái giá. Đừng để một lần nữa mẹ phải “khóc thầm lặng lẽ” vì đã chạm vào nỗi đau mà đến tận hôm nay vẫn chưa dễ nguôi ngoai.

Luật không có quy định loại trừ
   
Theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước BMVNAH và Điều 2 Nghị định 56/2013/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này thì những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”: a) Có 2 con trở lên là liệt sỹ; b) Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sỹ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; c) Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sỹ; d) Có 1 con là liệt sỹ và có chồng hoặc bản thân là liệt sỹ; đ) Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên.

Trong 5 trường hợp trên thì có tới 4 trường hợp liên quan đến “tiêu chuẩn liệt sĩ” của người con, chỉ duy nhất một trường hợp liên quan đến người chồng, đó là “có 1 con là liệt sỹ và có chồng hoặc bản thân là liệt sỹ”. Và khi áp dụng quy định này vào thực tế để xét tặng danh hiệu BMVNAH, không ít địa phương trong cả nước đã “treo” quyền lợi của những người vợ liệt sĩ trong thời gian dài chỉ vì các mẹ đã tái giá. Theo giải thích của họ, vì pháp luật không quy định rõ, nếu vợ liệt sĩ đã lấy chồng khác thì có được lập hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu BMVNAH hay không, cho nên, để … “chắc ăn”, hồ sơ của các mẹ đành phải nằm chờ thủ tục hướng dẫn.

Nhiều  ý kiến cho rằng, đến nay mới chỉ có Nghị định 56/2013/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước BMVNAH mà chưa có Thông tư hướng dẫn cụ thể hơn. Và trong hai văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, tuyệt nhiên không có điều luật nào quy định vợ liệt sĩ đã tái giá thì không được xét tặng danh hiệu BMVNAH. Chính bởi vậy, nếu pháp luật không khoanh vùng để loại trừ thì những người vợ liệt sĩ đã tái giá vẫn đủ điều kiện được xét tặng danh biệu cao quý này. “Tại sao các cơ quan thực thi pháp luật không hiểu điều luật một cách giản đơn mà lại phức tạp hóa vấn đề để “lái” quy định này theo một chiều hướng khác, rồi phải đợi văn bản nọ, thủ tục kia xin ý kiến chỉ đạo?”- một cựu chiến binh thốt lên. 

Đã xét duyệt thì phải công bằng!

Nhìn nhận ở khía cạnh tình cảm thì nỗi đau mất người thân không gì bù đắp nổi, và trong tất thảy những nỗi đau ấy, việc mất chồng, mất con là nỗi đau đến tột cùng. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta, đã có hàng triệu người con ưu tú đã ngã xuống. Sự hy sinh của các anh đã làm cho Tổ quốc bất tử. Và trong chính thời khắc thiêng liêng ấy - thời khắc máu của các anh hòa vào đất mẹ - thì Tổ quốc đã ghi tạc công ơn to lớn và sự hy sinh thầm lặng của những người mẹ, người vợ có chồng, con hy sinh (lần vinh danh này không cần Huân, Huy chương hay Bằng khen). Để đến hôm nay, sau khi đất nước thống nhất và có điều kiện, những tấm Huy chương và Bằng vinh danh cao quý “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” mới hiện hữu đến tay các mẹ.

Có tấm Bằng vinh danh thì sẽ thêm phần trang trọng, nhưng nếu Nhà nước không có điều kiện thì các mẹ cũng không đòi hỏi, bởi ngay cả việc phải hy sinh những người thân yêu nhất cho Tổ quốc, các mẹ còn không phàn nàn, nói chi đến việc đòi hỏi một vật vô tri, vô giác. Nhưng, một khi đã xét duyệt để vinh danh thì phải làm cho công bằng, cho đúng ý nghĩa của sự cống hiến và sự hy sinh thầm lặng của các mẹ.

Ngay trong điều luật đầu tiên của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “BMVNAH" đã nói rõ rằng: BMVNAH là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Vậy thì sự cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của các mẹ có liên quan gì đến chuyện mẹ đã tái giá hay chưa? Chỉ sau khi chồng và con của mẹ hy sinh, mẹ mới tái giá cơ mà? Và, dù mẹ có tái giá thì mẹ cũng đã phải chịu nhiều nỗi đau mất chồng, mất con. Như vậy thì việc tái giá không thể làm thay đổi bản chất của sự hy sinh và cống hiến của vợ liệt sỹ cho đất nước.

Thế nên, khi xét tặng danh hiệu BMVNAH cho các vợ liệt sĩ, các cơ quan chức năng đừng “lôi” chuyện tái giá của mẹ ra để làm điều kiện xét duyệt. Đừng để một lần nữa mẹ phải “khóc thầm lặng lẽ” vì đã chạm vào nỗi đau mà đến tận hôm nay vẫn chưa dễ nguôi ngoai.

Trao đổi với PLVN về vấn đề này, các Luật sư đã đưa ra quan điểm của mình:

Luật sư Lưu Hải Vũ, Giám đốc Công ty TNHH Luật Triệu Sơn: Quyền tái hôn của vợ liệt sĩ không ảnh hưởng đến việc vinh danh

Theo tôi, cần phải phân định rõ hai khái nức thấu đáo vấn đề. Thứ nhất, theo quy định tại khoản d Điều 2 của Nghị định 56/2013/NĐ-CP thì những bà mẹ có 1 con là liệt sỹ và có chồng hoặc bản thân là liệt sỹ thì được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “BMVNAH”. Như vậy, pháp luật không hề có quy định: vợ liệt sĩ đã lấy chồng khác thì không được công nhận là BMVNAH. Và như quy định nêu ở trên, người có công chỉ cần đảm bảo đủ các điều kiện đã viện dẫn thì đều được nhà nước vinh danh. Trong các văn bản pháp luật liên quan cũng  không có bất kỳ nội dung nào quy định các trường hợp dẫn đến việc vinh danh bị loại trừ.
Thứ hai, khái niệm “tái hôn” là để chỉ những người lập gia đình lần thứ hai với người khác sau khi vợ hoặc chồng đã mất hoặc ly hôn theo quy định của pháp luật. Đây có thể coi là quyền được thực hiện mà không phải là “rào cản” ảnh hưởng tới các quyền và lợi ích hợp pháp khác. Hơn nữa, việc tái giá là quyền cá nhân của mỗi công dân. Chẳng có sự vô lý nào hơn việc bắt người phụ nữ sau khi mất đi người chồng, người con thân yêu vẫn phải mãi mãi chịu nỗi buồn đau, cô quạnh mới là anh hùng? Chẳng lẽ một đất nước “bác ái và văn minh” lại duy trì quan niệm cổ hủ rằng những người phụ nữ phải “tiết hạnh khả phong” mới xứng đáng được tôn vinh?
Luật sư Lưu Hải Vũ
Hai khái niệm này độc lập với nhau và không có cơ sở về mặt pháp lý hay thực tế để các cơ quan chức năng, thậm chí cơ quan cấp Bộ phải “băn khoăn” vì không có văn bản hướng dẫn về vấn đề liên quan. Việc tái hôn của vợ liệt sĩ là quyền của con người và được pháp luật cho phép. Cụ thể là thỏa mãn quy định tại điều 39 Bộ luật dân sự về quyền kết hôn và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về điều kiện kết hôn. Trường hợp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối vinh danh vợ liệt sĩ là BMVNAH vì đã tái hôn vô hình trung đã đi ngược lại tinh thần của pháp luật như các dẫn chứng đã trình bày trên đây. Theo tôi, việc pháp luật quy định như vậy là quá cụ thể và không có bất kỳ cơ sở nào để từ chối vinh danh người có công với cách mạng chỉ vì họ đã tái giá. Các cơ quan chức năng “đùn đẩy” cho nhau việc làm thiết thực này thể hiện sự thiếu trách nhiệm và chưa làm tròn nghĩa vụ đối với những người có công lao với tổ quốc.

Luật sư Lê Ngọc Hà, Trưởng Văn phòng Luật sư Đa Phúc (Đoàn luật sư TP Hà Nội): Áp dụng luật tùy tiện!

Hiện nay tại 02 văn bản là Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và Nghị định số 56/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “BMVNAH” chưa có quy định nào nói về khái niệm “Vợ liệt sỹ tái giá” hay quy định chính sách của Nhà nước đối với trường hợp “Vợ liệt sỹ tái giá”.

Nói cách khác, việc một số cơ quan chức năng khi xét duyệt danh hiệu BMVNAH đã áp dụng chính sách chưa được quy định đối với trường hợp vợ liệt sỹ tái giá là cách hiểu tùy tiện, tự đặt ra quy định trái với chính sách của Nhà nước dành cho người có công. Việc này đã làm mất đi ý nghĩa cao đẹp của chủ trương tôn vinh người có công, gây tổn thương cho người có công và không đảm bảo quyền lợi chính đáng cho họ.
Cơ quan chức năng “bình chân như vại”

Không chỉ là chuyện vướng trong thủ tục xét duyệt, vấn đề đặt ra là trong khi nhận được ý kiến thắc mắc từ địa phương gửi lên nhưng các Bộ, ngành có thẩm quyền ở Trung ương lại không sốt sắng vào cuộc để ban hành văn bản hướng dẫn - ít ra là một công văn. Bộ Nội vụ cho rằng trách nhiệm hướng dẫn thuộc Bộ Lao động Thương binh và xã hội, còn Bộ này lại phản pháo: thẩm quyền này đã được Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ từ năm ngoái - tại Nghị định 56/2013/NĐ-CP. Phải chăng vì đang có sự đùn đẩy trách nhiệm? Phải chăng cơ quan nào cũng cho rằng giải quyết vướng mắc này không thuộc thẩm quyền của mình nên vẫn “bình chân như vại”?.

Nếu cứ theo động thái này, đợi đến khi các cơ quan chức năng có hướng dẫn cụ thể, nhiều vợ liệt sỹ đã về với đất, lúc ấy đối với các mẹ không còn được dùng từ “phong tặng” nữa mà thay vào đó sẽ là từ “truy tặng” mà thôi...
     Bảo Lam
     (Pháp Luật) 

Làng chết trẻ

Làng có gần 100 hộ dân nhưng từ 2010 đến nay đã có gần 30 người chết,mà hầu hết tuổi đời còn rất trẻ, khiến mọi người hoang mang.

Làng chết trẻ 1
Làng Đụt bên dòng A Nor, nơi có nhiều cái chết khiến bà con bản làng hoang mang - Ảnh: Đình Toàn 
Làng Đụt (nay gọi là thôn 5) ở xã Hồng Kim (H.A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế) cách thị trấn A Lưới chỉ gần 4 km. Ngôi làng có con đường thẳng tắp chạy qua thoạt trông rất sáng sủa. Gần 100 hộ dân của làng với khoảng 500 người, chủ yếu là đồng bào Pa Kô. Ngôi nhà của già làng Lê Văn Hoàng nằm kề bên sông A Nor trông buồn rũ rượi. Cây cối trong nhà héo úa càng làm nỗi muộn phiền ưu tư của già làng trĩu nặng hơn.

Gia đình già Hoàng vừa trải qua những ngày buồn đau tột độ khi 2 người con chết chỉ trong vòng 9 ngày. “Mới tháng 3 vừa rồi chứ có xa xôi chi. Con gái Lê Thị Vin mất khi mới 23 tuổi. Em nó, Lê Văn Vừng thua chị 2 tuổi, 9 ngày sau cũng đi theo chị. Con gái Vin mất mình nghĩ là do bệnh nặng vì nó bị động kinh, nằm liệt giường 4 - 5 năm qua. Nhưng thằng Vừng thì mình không hiểu, không biết. Hắn làm rẫy làm ruộng rất khỏe, đùng một cái phát bệnh. Mình đưa về Bệnh viện T.Ư Huế vài ngày thì mất”, già Hoàng thở dài một tiếng thật não nề.

Rồi già Hoàng kể thêm nhiều trường hợp khác trong làng đang khỏe mạnh, ngày ngày xuống suối bắt cá, lên nương làm rẫy bỗng đổ bệnh rồi mất, phần lớn dưới tuổi 40. “Cô Kăn Nhồi, vợ của Trưởng công an xã Hồ Minh Châu cũng chết dưới 40 tuổi. Đang khỏe nhưng phát bệnh, trong đêm chở đến bệnh viện nhưng không cứu kịp. Nhưng trường hợp Hồ Văn Hết mất ở tuổi 35 là gây hoang mang nhất. Hết là Phó thôn 5, rất gương mẫu, không uống rượu bia, không thuốc lá, cần cù làm rẫy để nuôi vợ và 3 con nhỏ. Khoảng 3 giờ sáng 2.9.2011, khi đang ngủ với vợ con thì ngủ thẳng luôn”, già Hoàng nói.
 Làng chết trẻ 2
Nỗi buồn của bà Trần Thị Nghiềng (50 tuổi), vợ của già làng Đụt Lê Văn Hoàng sau khi mất liên tiếp 2 đứa con - Ảnh: Đình Toàn
Nghe già Hoàng kể, chàng trai Hồ Văn Nguôn (32 tuổi) cũng góp thêm chuyện, rằng anh rể của anh là Hồ Văn Têr mất cách nay 4 năm mới 30 tuổi, để lại vợ cùng 2 đứa con nhỏ. Anh Têr là người hiền từ, sức khỏe tốt nhưng bỗng dưng “bị đau lưng, phát sốt” rồi nhập viện vài lần và không qua khỏi.

Sau cái chết của anh Têr và nhiều người khác, dân làng góp tiền mua trâu, dê, lợn ra sông A Nor lập đàn hành lễ cúng Giàng cầu an. Già Hoàng bấm đốt ngón tay nói từ năm 2010 đến 2013 đã cúng 3 con trâu. Mới đây cúng 2 con dê, 4 con lợn. “Cúng cứ cúng nhưng người chết cứ chết. Riêng làng này từ năm 2010 đến chừ cũng mất khoảng 25 người rồi”, Nguôn thêm lời, thoáng vẻ sợ sệt.

“Ung thư nhiều quá”

Khi chúng tôi có mặt tại A Lưới cũng là lúc huyện miền núi này trải qua những ngày nắng hạn gay gắt. Sông A Nor chảy qua làng Đụt đã cạn nước. Trước khi dân làng được dùng nước sạch cách nay 1 năm, dòng sông này là nguồn nước uống chính của người làng Đụt. Chúng tôi mang chuyện người dân ở Hồng Kim, nhất là ở thôn 5 bị chết trẻ, mất đột ngột nhiều bất thường đến gặp bác sĩ Hồ Thanh Lệ, Trưởng trạm y tế xã Hồng Kim, thì cũng là lúc bác sĩ Lệ đang khốn khổ lo chạy chữa cho em ruột Hồ Văn Lằn, Trưởng thôn 5, đang điều trị bệnh tại Bệnh viện T.Ư Huế. Người đàn ông 40 tuổi, có vợ và 2 con nhỏ này đã qua 3 lần phẫu thuật do bị u não ác tính. Gia đình bác sĩ Lệ trở nên khánh kiệt sau khi bán ruộng, đất và cả những chiếc xe máy để lo viện phí cho Lằn. “10 người mất thì có 6 - 7 người bị ung thư rồi, nhiều nhất là ở thôn 3, thôn 5. Có gì đó mình không hiểu nổi”.

Bác sĩ Lệ lôi trong tủ ra cuốn sổ ghi chép, lật từng trang đếm số người dân trong xã qua đời mà trạm y tế có thống kê. Từ năm 2010 - 2014 có gần 30 người mất, trong đó có nhiều người mất tuổi chưa đến 40. “Không biết do nguồn nước nhiễm độc, chất độc còn lại sau chiến tranh hay không mà người mắc bệnh ung thư quá nhiều. Ung thư gan, hạch, đại tràng, phổi, vòm họng... chi cũng có. Người mắc bệnh nhiều nhất là ở thôn 3 và thôn 5. Trường hợp kỳ lạ nhất là Hồ Văn Hết, hắn là cháu rể mình, đang ngủ thì mất luôn. Các trường hợp khác bà con chưa hiểu rồi đồn thổi lý do này nọ, nhưng thật ra họ mắc bệnh mà qua đời. Mình rất mong có đoàn chuyên gia về đánh giá, nghiên cứu tìm ra giải pháp để bà con yên tâm hơn”, bác sĩ Lệ nói.
Đình Toàn
(Thanh niên)

Nguy cơ thiệt hại kinh tế lớn do PVN 'kẹt' 3 dự án nhiên liệu sinh học

Phân xưởng chính Nhà máy nhiên liệu sinh học Bio-Ethanol Dung Quất - Ảnh minh họa: Baoquangngai. 
Phân xưởng chính Nhà máy nhiên liệu sinh học Bio-Ethanol Dung Quất - Ảnh minh họa: Baoquangngai.

Kiểm toán Nhà nước đánh giá tình trạng "kẹt" dự án trên của PVN - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là rất nghiêm trọng, nguy cơ rủi ro cao và tổn thất về kinh tế rất lớn.

Ngày 27.7, VOV dẫn nội dung báo cáo mới nhất của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) cho biết, năm 2012, nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã đầu tư tài chính không đúng quy định tại Thông tư 117/2010 của Bộ Tài chính.

"Bệnh" kéo dài và phổ biến

Về đầu tư vượt mức vốn điều lệ có Công ty mẹ EVN vượt tới 21.312 tỉ đồng, Công ty mẹ TKV vượt 1.268,8 tỉ đồng; Công ty Cao su Đắk Lăk vượt hơn 832 tỉ đồng...

Bên cạnh đó, hàng loạt tập đoàn, tổng công ty khác cũng đầu tư vượt nhiều lần vốn điều lệ, như: Công ty mẹ Lilama, Công ty TNHH MTV Phát triển và Kinh doanh Nhà thuộc Tổng công ty địa ốc Sài Gòn.
Công ty mẹ Vinatex đầu tư vào 8 đơn vị thuộc lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, trong khi theo quy định, riêng đối với hoạt động đầu tư góp vốn vào các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, công ty chỉ được đầu tư vào mỗi lĩnh vực một doanh nghiệp.

KTNN đánh giá, hầu hết tập đoàn, tổng công ty có đầu tư xây dựng, kinh doanh bất động sản đều có dự án triển khai chậm hoặc kéo dài nhiều năm, làm giảm hiệu quả đầu tư.

Đầu tiên Tổng công ty địa ốc Sài Gòn có một số dự án được giao đất từ trước năm 2002, nhưng đến khi kiểm toán (năm 2012) chưa hoàn thành. Hay như Cienco 5, có 7/7 dự án kinh doanh bất động sản được chọn kiểm toán đều chậm tiến độ....

Đáng chú ý, KTNN cho biết có 3 dự án nhiên liệu sinh học ethanol do PVN đầu tư gặp khó khăn về tài chính, chưa triển khai vùng nguyên liệu, đến thời điểm kiểm toán chậm tiến độ từ 24-27 tháng, nguy cơ xảy ra rủi ro, thiệt hại về kinh tế, xã hội rất lớn...

PVN từng tuyên bố...

Những khó khăn trong việc đầu tư các dự án sản xuất xăng sinh học, theo lộ trình của Chính phủ đã đề ra không phải là chưa được PVN nhắc đến.

Cụ thể, trong buổi tọa đàm trực tuyến về xăng sinh học, diễn ra ngày 2.7 trên cổng thông tin điện tử Chính phủ, Phó tổng giám đốc PVN Nguyễn Sinh Khang cho biết: “Giá thu mua nguyên liệu (sắn) cao, biến động theo thời vụ, nguồn vốn để đầu tư mua nguyên liệu lớn do một năm chỉ có một vụ sắn, lãi vay ngân hàng còn cao. Ngoài ra, hiện nay Nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ tài chính cho công tác phân phối và tiêu dùng xăng E5. 
Ông Nguyễn Sinh Khang - Ảnh: PVN

Do vậy, PVN kiến nghị Chính phủ và Bộ Công Thương cần có chính sách dài hạn cho doanh nghiệp đầu tư vào nhiên liệu sinh học như miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị vật tư tồn trữ, vận chuyển, pha chế, phân phối nhiên liệu sinh học trong nước chưa sản xuất được. Đồng thời xem xét miễn thuế, phí môi trường đối với phần xăng nền để pha chế xăng E5; giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng E5 đưa vào lưu thông... 

Hiện giá thành sản xuất xăng E5 không thấp hơn so với xăng thông thường do chi phí đầu tư khá lớn”.

Tuy nhiên, khi được độc giả hỏi (trong buổi tọa đàm) rằng, "đến thời điểm này các doanh nghiệp tham gia vào thị trường đã chuẩn bị lượng cồn ethanol như thế nào để đảm bảo nguồn phối trộn xăng sinh học tăng nhanh theo lộ trình?", ông Khang lại khẳng định: "bảo đảm cung cấp đủ cho nhu cầu của cả nước".

"Nhận thức được tầm quan trọng của Đề án (phát triển nhiên liệu sinh học đến 2015 và tầm nhìn đến 2025), từ 2008, PVN đã chủ động triển khai đầu tư xây dựng 3 nhà máy sản xuất bio-ethanol đặt tại 3 miền Bắc, Trung, Nam, có thể cung cấp ra thị trường mỗi năm 300.000m3 ethanol nhiên liệu, pha được 6 triệu m3 xăng E5, bảo đảm cung cấp đủ cho nhu cầu của cả nước.

Kế hoạch của PVN là đến năm 2014, cả 3 nhà máy của PVN sẽ cung cấp tới 300 triệu lít ethanol, đủ để pha 6 tỉ lít xăng E5, tương đương 94% nhu cầu tiêu thụ xăng cả nước năm 2014. Ngay cả khi Chính phủ bắt buộc phải sử dụng xăng E5 trên toàn quốc vào năm 2014, tôi thừa nhận sản lượng các nhà máy ethanol của PVN và các nhà máy tư nhân khác vẫn thừa và phải xuất khẩu" - ông Khang trả lời. 
 Ông Nguyễn Xuân Sơn - Ảnh: PVN

Ngoài ra, vào ngày 16.7, trong bài phát biểu được đọc tại lễ công bố quyết định bổ nhiệm chủ tịch Hội đồng Thành viên PVN của Thủ tướng Chính phủ, ông Nguyễn Xuân Sơn - Chủ tịch Hội đồng Thành viên PVN có nhấn mạnh 5 điều cần tập trung trước mắt, nhằm "phát huy sức mạnh vị thế của ngành để tạo đột phá tăng tốc phát triển đồng thời kiên quyết xóa bỏ mọi lực cản ảnh hưởng đến sự phát triển của Tập đoàn". 

Trong đó, điều thứ 3 được đề ra là "triển khai quyết liệt, đúng tiến độ các công trình, dự án đầu tư theo kế hoạch được phê duyệt".

Nhưng việc "triển khai quyết liệt" cụ thể như thế nào, hiệu quả ra sao lúc này chỉ có PVN nắm rõ nhất. Hoặc là dư luận phải đợi đến đợt làm việc định kỳ của KTNN vào... năm sau.
Anh Thư
(Một thế giới)

Phùng Quán - Chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo (1)

Triết gia Trần Ðức Thảo
Anh Cao Xuân Hạo, nhà ngôn ngữ học, bạn tôi từ mấy chục năm nay. Anh vừa là học trò, vừa là hàng xóm của triết gia Trần Đức Thảo, trước ở ngõ Hàng Chuối và sau này ở khu tập thể Kim Liên.
Anh kể:
- Mình đang ngồi dịch sách bỗng ngửi thấy mùi cháy khét. Nhìn sang buồng thầy Thảo, thấy khói tuôn ra các ngách cửa. Mình hốt hoảng xô cửa vào. Cả gian buồng mờ mịt khói. Lạ lùng nhất là thầy Thảo đang đứng bên cửa sổ, giữa đám khói, hai tay vung vẩy, miệng lẩm bẩm độc thoại, như đang trình bày một vấn đề gì đó với cả đám đông vô hình trước mặt. Mình gọi giật: "Anh Thảo! Anh Thảo! Buồng anh cái gì cháy thế?". Anh Thảo giật mình vẻ ngơ ngác như vừa bị đánh thức khỏi cơn mê ngủ: "Cháy à? Cái gì cháy; ở đâu nhỉ? Ờ… ờ… khói ở đâu mà nhiều thế?". "Thì khói ngay trong buồng anh chứ đâu". Mình xông vào giữa đám khói, tìm quanh gian buồng. Một lúc mới phát hiện ra cái bếp dầu nằm khuất sau tủ sách, trên bếp một cái xoong nhôm bị nung đỏ rực. Té ra thầy nấu cơm, cơm cạn, quên cả đậy vung, quên cả tắt bếp. Xoong cơm nấu một bữa ăn cả ngày, cháy thành than và đang bốc mùi mù khét lẹt. Phải vất vả lắm mình mới tắt được cái bếp dầu nóng rẫy, và bưng được cái xoong than cơm ra khỏi buồng. Mình không bưng thì thầy có thể dùng tay không mà bê cái xoong… "Anh đang làm gì mà mải mê thế?". Mình hỏi. Thầy gỡ cặp kính ra khỏi mắt, lau lau vào vạt áo, nói: "Mình đang chú giải một chương hết sức lý thú và quan trọng trong toàn bộ trước tác của Hê-ghen…". Rồi thầy ngồi luôn vào bàn viết… như không còn nhớ gì đốn vụ hỏa hoạn chết người suýt nữa xáy ra.
Thầy ở tầng gác ba. Các gian buồng ở khu tập thể được thiết kế rất giống nhau. Một buổi trưa thầy đi chợ về, tay xách cái làn đựng mớ rau muống, mấy bìa đậu phụ, chai nước mắm… Mới trèo lên đến tầng hai, thấy gian buồng cạnh cầu thang cửa khép hờ, thầy đẩy cửa bước vào; cửa buồng của thầy cũng thường khép hờ như vậy.
Người đãng trí thì thi thoáng cũng có thể vào nhầm buồng. Nhưng vừa bước vào họ đã nhận ra ngay. Thầy Thảo thì không. Mặc dầu vật dụng trong buồng này sang trọng gấp mười vật dụng trong buồng của thầy. Riêng cái giường của thầy, hẹp mà trải chiếc chiếu mốc meo. Còn buồng này giường rộng gấp đôi, trải vải hoa sặc sỡ. Thầy thản nhiên để cái làn xuống nhà, nằm lăn ra giường, mắt lơ đãng nhìn lên trần nhà, và thượng cả hai chân lấm bụi lên vải hoa. Chị chủ nhà quét tước ngoài hành lang, bước vào, trố mắt nhìn: "Anh Thảo vào chơi lúc nào mà em không để ý?". Thầy hơi ngẩng đầu lên, nhìn chị chủ nhà, mặt nhăn lại, nói: "Xin lỗi chị, tôi vừa đi về hơi mệt. Có gì cần trao đổi, mời chị đến chiều…". "Nhưng đây là phòng nhà em kia mà?". Thầy hốt hoảng ngồi dậy, nhìn quanh buồng, vẻ ngơ ngác: "Ừ nhỉ, chết thật! Đúng là tôi nhầm… Thành thật xin lỗi chị…".
"Một hôm, thầy gọi mình sang - Hạo kể - Tôi đọc em nghe cái này, rồi em góp ý kiến xem, tôi viết thế đã được chưa"… Mình chuẩn bị để nghe một thiên khảo luận triết học.
Nhưng té ra là một bức thư gửi Uỷ ban nhân dân khu phố và ban lãnh đạo khối phố. Thư được viết với văn phong chuẩn mực, chính xác của một thiên bút ký triết học. Nội dung tóm tắt của bức thư như sau: "Sau khi bố tôi mất, trong khu phố có dư luận Trần Đức Thảo đối xử với bố không tốt, bố ốm không thuốc men; chăm sóc không chu đáo nên bệnh tình ngày càng trầm trọng… Tôi xin thanh minh là dư luận đó không đúng. Tôi đã nuôi dưỡng bố tôi rất tận tình, lúc bố tôi ốm, tôi lo chạy chữa thuốc men đầy đủ, mặc dầu hoàn cảnh kinh tế rất eo hẹp. Nếu cần thiết, Uỷ ban cho người đến điều tra các hộ hàng xóm để xác minh ý kiến trình bày của tôi v.v…". Mình ngồi ngẩn ra, nhìn thầy và tự hỏi: "Không biết thầy đã điên chưa đây?". Mình hỏi: "Nhưng việc này cần thiết gì mà thầy phải mất công đến như vậy?". Thầy nhìn mình, mắt chớp chớp sau cặp kính trắng, có vẻ lấy làm lạ sao cậu học trò mình lại đặt ra một câu hỏi ngu ngốc thế? Thầy cẩn thận gấp bức thư đút vào phong bì, nói: "Việc này theo tôi rất cần thiết. Để chính quyền người ta khỏi hiểu nhầm đạo đức của người trí thức".
Sau ngày ông cụ mất ít lâu, thầy muốn dẹp bỏ những vật dụng thường dùng của bố, vì gian buồng quá chật chội. Nhưng một mình thầy không đủ sức chuyển những vật dụng khá nặng từ tầng gác ba xuống sân.
Một buổi trưa, thầy đi đâu về, thấy mấy chị buôn chè chai đồng nát ngồi túm tụm trên bãi cỏ, soạn xếp những vật dụng mua được. Thầy quan sát có rất nhiều thứ mà mình đang muốn bỏ đi. Thầy nói với các chị: "Tôi có một số đồ đạc bỏ đi giống những thứ này, nhưng không mang xuống được. Tôi muốn nhờ các chị khiêng giúp, có được không?".
Các chị vui vẻ nhận lời ngay. Giường, tủ buýp-phê, ghế đẩu, ghế tựa, chậu thau, chăn màn, áo quần, giày dép… được đưa xuống, chất thành một đống lớn. Các chị lại còn giúp thầy quét tước gian buồng khá tươm tất. Thầy rất cảm động trước lòng tốt và nhiệt tình của các chị. Thầy nói: "Tôi muốn phiền các chị mang những đồ đạc đó ra khỏi sân. Vứt ngổn ngang ở đó, bà con trong khu tập thể họ phê bình làm mất trật tự, vệ sinh công cộng. Tiền công bao nhiêu, các chị cho tôi biết". Các chị nói: "Chị em chúng tôi thấy hoàn cảnh bác neo đơn, dọn dẹp giúp bác, chẳng phải công xá gì đâu ạ". Một giáo sư đại học ở tầng trên, nhìn xuống đống đồ đạc dưới sân, tiếc ngẩn người: "Giường tủ, chăn màn còn tốt thế kia, sao ông ấy lại không nhờ mình khiêng giúp!". Còn thầy thì phấn khởi ra mặt vì khỏi tốn đồng tiền công nào mà giải quyết được một việc sức mình không sao giải quyết nổi.
Thầy gọi Cao Xuân Hạo sang xem gian buồng vừa được dọn sạch đồ đạc gật gù đắc ý: "Bà con lao động thật tốt, thật từ tâm, thật đáng kính trọng".
Dễ có đến hai năm tôi không đến khu tập thể Kim Liên. Lần này trở lại, tôi ngạc nhiên thấy cái quán của bà cụ móm dưới gốc xà cừ, mà mười năm trước tôi thường ghé hút thuốc uống nước, vẫn còn nguyên ở đó. Tôi vào quán uống chén rượu thay bữa ăn sáng. Bà cụ đang rôm rả nói chuyện với mấy anh xích lô, chắc là những khách quen… "Con cháu nhà tôi nó vừa sắm được cái ti vi màu nội địa. Tối hôm kia, bắt dây dợ xong, bật lên thấy đang chiếu cảnh tang lễ một ông tên là gì gì Thảo đó. Người ta giới thiệu cái ông Thảo này là nhà triết học nổi tiếng thế giới, làm đến sáu, bảy chức, chức nào cũng dài dài là, chắc là toàn chức to được tặng huân chương Độc lập hạng hai. Ông ta sang tận bên Tây mà chết, cả Tây cả ta đều làm lễ truy điệu, toàn bộ cấp cao, có danh giá đến dự… Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp "Pơ-giô con vịt" mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc? Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình như anh dở người… Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: "Ông đi đâu về mà nắng nom vất vả thế… ế… ế…". Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái "poócbaga", mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi ná rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… Đấy, cũng là Thảo cả đấy, mà Thảo một đằng thì chết danh, chết giá, còn Thảo này thì sống cơ cực trần ai". Bà cụ chép miệng thương cảm: "Một vài năm nay không thấy ông đạp xe ngang qua đây, dễ chết rồi cũng nên…".
Tôi uống cạn chén rượu, cười góp chuyện: "Cái ông Thảo mà bà kể đó chính là cái ông Thảo người ta chiếu tang lễ trên ti vi…". Bà già bĩu môi: "Ông đừng tưởng tôi già cả mà nói lỡm tôi!".
Phùng Quán
-------------------------
Chú thích:
(1) Trần Đức Thảo (1917 -1993)
(Diễn đàn Thế kỷ) 

Đảng phải tự giải thoát chính mình

  • 'Khó ai thay đổi được lập trường TQ' (BBC) - Ngay cả cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton cũng khó làm Trung Quốc thay đổi lập trường 'bành trướng' trên Biển Đông, theo nhà phân tích Đinh Hoàng Thắng.
  • Libya bên bờ vực thẳm, Mỹ sơ tán toàn bộ sứ quán (RFI) - Phải chăng Libya là một điểm yếu trong chính sách đối ngoại của Tổng thống Barack Obama ? Hôm qua, 26/07/2014, Hoa Kỳ đã rút toàn bộ các nhân viên sứ quán Mỹ ở Tripoli, nơi đang diễn ra các vụ đụng độác liệt giữa các phe nhóm đối địch. Toàn bộ số nhân viên ngoại giao Mỹ được đưa sang Tunisia. Washington khẳng định sứ quán Mỹ tại Tripoli chỉ tạm thời ngừng hoạt động chứ không phải đóng cửa cơ quan ngoại giao tại Libya.
  • Anh đòi truất quyền tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 của Nga (RFI) - Hôm nay 27/07/2014, khi trả lời phỏng vấn của báo Sunday Times, Phó Thủ tướng Anh Nick Clegg đã lên tiếng tán đồng đề nghị của nhiều chính trị gia Đức, đòi truất quyền tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 của Nga, sau vụ chiếc máy bay của hàng không Malaysia MH17 bị bắn rơi ở miền đông Ukraina.
  • Đức Giáo Hoàng kêu gọi ngưng mọi cuộc chiến (RFA) - Sáng hôm qua trong bài giảng nhân dịp đánh dấu 100 năm ngày thế chiến thứ Nhất diễn ra, Đức Giáo Hoàng Phanxicô lên tiếng kêu mọi mọi người đừng lập lại sai lầm của quá khứ vì chiến tranh
  • Trái cây Việt Nam và thị trường Trung quốc (RFA) - Trái cây do nông dân Việt Nam trồng ra lâu nay chủ yếu được xuất tiểu ngạch sang thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, sự lệ thuộc vào thị trường này dẫn đến bao đợt ách tắc, gây thiệt hại lớn cho người nông dân và doanh nghiệp.
  • Tản mạn cùng NS. Tuấn Khanh và Bảo Chấn về âm nhạc VN hiện đại (RFA) - Âm nhạc Việt Nam giai đoạn gần đây dường như đang đi vào bế tắc, không chỉ từ phía người sáng tác mà ngay cả thị hiếu của người nghe. Và hôm nay, chúng tôi mời quí vị cùng nghe ý kiến của một vài nhạc sĩ, những người đã và đang chứng kiến sự đổi thay trong âm nhạc Việt Nam.
  • ‘Đền ơn, đáp nghĩa’ chính sách và thực tế (RFA) - Chính sách ‘đền ơn, đáp nghĩa’ luôn được chính phủ Hà Nội nhắc đi nhắc lại, đặc biệt vào dịp Ngày Thương binh- Liệt sĩ 27 tháng 7 hằng năm. Tuy nhiên thực tế đối xử với những người từng toàn tâm, toàn ý đi theo ‘chính quyền cách mạng’ ra sao?
  • Israel tấn công trở lại ở Gaza (BBC) - Quân đội Israel nối lại các hành động quân sự ở Gaza sau khi lệnh ngừng bắn đổ vỡ vì Hamas tiếp tục bắn hỏa tiễn.
  • Hamas chấp nhận 24 giờ hưu chiến với Israel (RFI) - Vài giờ sau khi quân đội Israel khởi động trở lại các chiến dịch quân sự tại dải Gaza, lực lượng Hồi giáo Hamas của người Palestine đã loan báo chấp nhận đề nghị ngừng bắn 24 tiếng đồng hồ vào hôm nay, 27/07/2014 vì lý do nhân đạo. Cuộc hưu chiến bắt đầu từ 14g00, giờ địa phương.
  • Hàng ngàn người biểu tình ở Paris ủng hộ Palestine bất chấp lệnh cấm (RFI) - Cho dù cảnh sát Paris đã ra lệnh cấm, nhưng vào hôm qua 26/07/2014, hàng ngàn người đã tập hợp tại Quảng trường Cộng hòa (Place de la République) để bày tỏ lòng ủng hộ đối với người dân Palestine tại Gaza đang phải sống dưới bom đạn của Israel.
    Đáng tiếc là tương tự như vào tuần trước cũng tại Paris và tại thị xã Sarcelles vùng ngoạiô, một số vụ xung đột đã nổ ra giữa một số thanh niên biểu tình và lực lượng cảnh sát.
  • COMMENT VONT LES AFFAIRES: Bài 22 : Nghỉ bệnh (RFI) - Mời quý thính giả theo dõi chương trình học tiếng Pháp trong kinh doanh :"Comment vont les Affaires ?", tìm hiểu công ty Paragem, một công ty Pháp và làm quen với Đăng Minh.
  • Bắc Triều Tiên tiếp tục bắn tên lửa tầm ngắn để thị uy (RFI) - Bình Nhưỡng vào hôm qua 26/07/2014, đã lại phóng hỏa tiễn tầm ngắn ra biển. Đây là đợt bắn lần thứ 15 trong năm nay. Trong một bản thông cáo, Bộ Tổng tham mưu quân đội Hàn Quốc cho biết là Bắc Triều Tiên đã bắn tên lửa tầm ngắn, tình nghi là loại Scud - ra biển Nhật Bản vào 21g40, hôm qua, giờ địa phương.
  • Triều Tiên phóng tên lửa đạn đạo vào vùng biển Nhật Bản (BaoMoi) - Theo Japan Times, Nhật Bản ngày 27-7 đã gửi kháng nghị tới Triều Tiên thông qua Đại sứ quán ở Bắc Kinh (Trung Quốc) sau khi Bình Nhưỡng phóng tên lửa đạn đạo tầm ngắn từ bờ biển phía Tây vào vùng biển Nhật Bản (biển Đông Hàn Quốc) tối 26-7.
  • Tàu Costa Concordia về bến đỗ cuối cùng (VOA) - Tàu Costa Condordia bị rỉ sét đã về bến đỗ cuối cùng sau một quá trình trục vớt dài 2 năm qua ở ngoài khơi đảo Giglio, nơi chiếc du thuyền bị lật cách đây 2 năm, khiến 32 người thiệt mạng
  • Trung Quốc tập trận lớn ở Vịnh Bắc Bộ (BaoMoi) - Quân đội Trung Quốc tổ chức hai cuộc tập trận bắn đạn thật quy mô lớn trên Biển Đông và biển Hoa Đông từ cuối tuần, khi căng thẳng trong khu vực gia tăng vì tranh chấp lãnh thổ.
  • Không nên lấn át các quốc gia nhỏ trong khu vực (BaoMoi) - QĐND - Trong bài phát biểu mới đây tại tỉnh Quảng Châu (Trung Quốc), cựu Tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn (Bill Clinton) đã chỉ trích việc Trung Quốc muốn giải quyết song phương với các nước láng giềng về vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.
  • Những ký ức về các chiến sĩ Gạc Ma ngày ấy và bây giờ (BaoMoi) - (VOH) - Ngày 27/7 hàng năm được dành để tri ân, tưởng vọng đến những người con ưu tú đã ngã xuống vì sự bình yên của tổ quốc. Trong số hàng triệu vong linh những người lính đã chết trận, không thể không nhắc tới 64 liệt sĩ đã ngã xuống trong trận hải chiến Trường Sa ngày 14/3/1988 trước hàng loạt đạn pháo của Trung Quốc. Sự hy sinh anh dũng của các anh đã biến địa danh Gạc Ma trở thành bất tử.
  • Kiện Trung Quốc ra tòa là cách tự bảo vệ cuối cùng (BaoMoi) - “Việt Nam có những chứng cứ mạnh nhất về chủ quyền với các quần đảo. Đã đến lúc các bạn phải nghĩ đến việc sử dụng những bằng chứng này ở một phiên tòa quốc tế” , đó là ý kiến trao đổi của Giáo sư Carlyle Thayer với Phóng viên Lao Động tại Hội thảo quốc tế về tranh chấp trên biển Đông diễn ra tại Trường Đại học Tôn Đức Thắng trong 2 ngày 25 – 26.7.2014.
  • Sau khi rút giàn khoan, TQ tập trận ngay sát VN (BaoMoi) - Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm 27/7 thông báo nước này đang tiến hành tập trận bắn đạn thật rầm rộ ngoài khơi vịnh Bắc bộ, tại khu vực giáp ranh với vùng biển Việt Nam. Theo dự kiến đợt tập trận này sẽ kết thúc vào ngày 1/8.
  • Việt Nam cần chủ động ứng phó với tình huống tương tự giàn khoan 981 (BaoMoi) - ANTĐ - Các học giả quốc tế nhấn mạnh, dù giàn khoan Hải Dương - 981 đã được di dời ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam nhưng hành động này đã tạo ra một tiền lệ xấu trong quan hệ pháp lý quốc tế. Vì thế, Việt Nam cần chủ động ứng phó với những tình huống tương tự có thể xảy ra.
  • Cựu Tổng thống Bill Clinton chỉ trích Trung Quốc về chính sách Biển Đông (BaoMoi) - Trong bài phát biểu mới đây tại tỉnh Quảng Châu (Trung Quốc), cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã chỉ trích việc Trung Quốc muốn giải quyết song phương với các nước láng giềng về vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Ông Clinton vừa có chuyến thăm Việt Nam trong khuôn khổ chương trình vận động cho "Quỹ Clinton phòng chống AIDS".
  • “Quyền lực mềm” của ASEAN (BaoMoi) - Hội thảo quốc tế về Biển Đông khai mạc tại TPHCM ngày 26-7, đã thu hút sự quan tâm của nhiều thẩm phán, luật sư đại diện cho các Tòa án quốc tế, Tòa án Công lý quốc tế, Tòa quốc tế về Luật Biển.
  • Do thám đúng luật! (BaoMoi) - (PetroTimes) - Ngày 21/7, Hãng CNN dẫn lời cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton nhận định, yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc trong các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông, đã gây ra tình trạng leo thang căng thẳng với các nước láng giềng. Động thái của Trung Quốc đã khiến các nước châu Á cảm thấy lo ngại bởi chính sách đối ngoại ngày càng cứng rắn và hung hăng hơn cùng sự tăng cường sức mạnh quân sự.
  • Hội thảo quốc tế về sự kiện Giàn khoan Hải Dương 981 (BaoMoi) - Ngày 26-7, tại Dinh Thống Nhất, TP Hồ Chí Minh, Hội Luật gia Việt Nam phối hợp với trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo quốc tế “Những khía cạnh pháp lý liên quan đến sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam”.

Hiệu Minh - Mẹ anh hùng phải giữ lấy…trinh

Một bà mẹ VN anh hùng. Ảnh: Báo TTO
Một bà mẹ VN anh hùng. Ảnh: Báo TTO

Có lẽ từ lâu lắm rồi, chúng ta thường nghe truyền thông viết về vẻ đẹp của những anh hùng. Từ Cù Chính Lan, Phan Đình Giót, đến Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, rồi sau này là chị Tuyển, chị Hằng ở cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) vác hòm đạn cao xạ nặng gấp đôi số cân của mình. Hình như sau này nhờ có công lao vác đạn mà chị Hằng lên tới hàm Bộ trưởng.

Thật ra, thời chiến cần những hình tượng anh hùng để cả nước học tập và làm theo, mục đích là thắng giặc Mỹ. Nếu có nói quá một chút cũng là bình thường. Chiến tranh mà.

Thời bình có của ăn của để, thế hệ sau biết ơn bằng cách phong anh hùng cho các bà mẹ có chồng con hy sinh. Đó là cách làm rất nhân văn, động viên được bao bà mẹ, bà vợ có người thân ngã xuống.

Theo nghị định 56/2013, tiêu chuẩn mẹ anh hùng ghi rõ, có từ hai con hy sinh trở lên, hoặc là con một, hoặc có một con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ.

Nghị định 31/2013 cũng nói, vợ liệt sĩ tái giá không được xem xét giải quyết các quyền lợi khác ngoài trợ cấp tiền tuất hằng tháng. Có lẽ dựa vào đó mà cấp trên chưa xem xét diện bà mẹ anh hùng cho một cụ gần đất xa trời.

Báo Tuổi trẻ có một bài viết về cụ Trần Thị M. (83 tuổi, nguyên quán Đức Phổ, Quảng Ngãi, hiện ngụ ở P.12, Q.Bình Thạnh, Sài Gòn) có chồng và con trai là liệt sĩ nhưng chưa được phong tặng danh hiệu Bà mẹ VN anh hùng chỉ vì bà…tái giá.

Bài báo cho biết, trong chiến tranh cụ mất 3 người thân: năm 1962, ông Võ Mười, chồng bà, hi sinh khi bà mới 30 tuổi; năm 1964, con trai út Võ Danh của bà bị bắn chết khi vừa 6 tuổi, đang được giao việc cảnh giới cho các chú cán bộ họp; năm 1971, con trai lớn Võ Thái làm giao liên cho ban binh vận Khu ủy Khu V hy sinh ở tuổi 16.

Còn lại một mình giữa đạn bom, hai lần bị bắt, giam cầm tra khảo ở nhà lao Quảng Ngãi, năm 1974 bà gá nghĩa với một người đồng đội, ông Thái Văn Thới. Như vậy cụ M. cũng cắn răng tới 10 năm sau mới tái giá.

Hôm nay, ngày thương binh liệt sỹ 27-7, viết câu chuyện này không phải chút nào. Có bao nhiêu người chồng ra trận đều hẹn ngày về với vợ, nhưng lời hẹn ước ấy bị chiến tranh cướp mất. Người ngã xuống không muốn người ở lại phải “cắm sào” đợi ai về. Ở thế giới bên kia, chắc họ cũng mong người thương tìm được hạnh phúc trong phần đời còn lại.

Thời của thiếu niên của tôi (1960-1970) ai chả nhớ chị Phan Thị Quyên, vợ mới cưới được gần một tháng của anh Nguyễn Văn Trỗi, người định giật mìn giết chết McNamara trên đường Công Lý. Anh Trỗi bị bắt và xử bắn (1964) lúc chị mới 19-20 tuổi.

Khi được đưa ra Bắc, chị đi nói chuyện khắp nơi, được báo đài đưa tin. Nhưng khi chị Quyên đi lấy chồng khác, tuyệt nhiên không còn bài báo nào viết về chị nữa. Vợ của anh hùng thì cũng phải khác người.

Ở một đất nước mà anh hùng được dựng lên không tỳ vết. Lãnh tụ phải suốt đời cô đơn không một chút riêng tư, sống như những vị thánh.

Não trạng người có quyền thế đã quen thế rồi. Cộng thêm “công dung ngôn hạnh”, “tam tòng tứ đức” ở một xã hội nửa phong kiến, nửa văn minh, nửa lạc hậu, các bà mẹ có chồng con là liệt sỹ hy sinh cho đất nước bị xét nét không khác được.
Muốn làm mẹ Việt Nam anh hùng nhất định giữ lấy…trinh.
 HM. 27-7-2014
( Hiệu Minh Blog )

Tuấn Khanh - Sài Gòn run rẩy trong tiếng máy cưa

Tặng tất cả những ai nhớ về một Sài Gòn thơ mộng
Này, tôi tin là bất kỳ ai trong số các bạn, kể cả tôi, những người đang nhớ về Sài Gòn trong những ngày buộc phải rũ chiếc áo xanh thay vào một bản vẽ tương lai, đều có quyền đặt ra một vài câu hỏi, dù là thì thầm hay hỏi thật to.
Vì sao phải thương nhớ một hàng cây, thương nhớ một hình dáng cũ?
Trong những bức ảnh thời sự cuối tháng 7/2014, có thể thấy rất nhiều người đứng lại, tần ngần ngắm nghía Sài Gòn, chụp ảnh kỷ niệm với những chiếc lá xanh không quen biết. Chắc họ cũng đã không thể trả lời được rõ ràng cho câu hỏi này, vì ít có ai chuẩn bị đủ tâm lý cho một cuộc chia ly như vậy.
Sài Gòn tháng 7 bỗng không nóng bức như thường lệ. Cái lạnh đến sớm một cách khó hiểu, từng chiều, làm hiu hắt thêm một thành phố toác rộng, nhấp nhô với bê-tông. Tại vòng xoay phun nước, hai cụ già đang lóng ngóng thay phiên chụp ảnh nhau làm kỷ niệm. Trước đây, nơi này nhộn nhịp người qua lại bên hàng liễu xanh, giờ hoang vắng lạ. Chụp giùm cả hai cụ một tấm ảnh, nhân tiện hỏi vui “Chỗ này có kỷ niệm riêng của hai bác?”. Ông cụ cười, không trả lời mà lại hỏi “Người ta không chọn được một nơi nào khác để làm nhà ga sao cậu?”.
Câu hỏi đó tôi lại không thể trả lời, cũng như hàng triệu người thương mến thành phố của mình cũng không thể trả lời. Thậm chí, nhà ga hiện đại, to đẹp tương lai sắp tới, hầu như cũng không ai nhìn thấy được mô hình hay một bản vẽ giới thiệu về nó rõ ràng ở đâu, để mọi người có thể hình dung về sự đánh đổi này. Đây là điều tối thiểu mà bất cứ một cuộc làm mới nào ảnh hưởng đến con người, trên mọi quốc gia văn minh đều phải thực hiện.
20140727-115129-42689750.jpg

Thành phố hơn 300 năm tuổi, được liệt vào hàng kỷ vật của cả thế giới đã đột ngột biến dạng trong mắt nhiều người. Nhìn những chiếc cưa máy gầm rú vật ngã từng cái cây đã đứng đó, lá cây rơi vãi như những trang nhật ký của đời, từng ghi lại bao thăng trầm của thành phố này mà lòng khó tả. À, vì sao chúng ta không thể chọn một vài phương án, và người dân ở thành phố này sẽ cùng bỏ phiếu chọn lựa cho con đường phát triển của chính mình? Chắc chắn London, Paris hay Moscow… hay bất cứ đâu, khi xây một ga xe điện ngầm ở ngay một di tích nhiều tuổi của họ, người dân chắc cũng sẽ muốn được bỏ phiếu, thể hiện tâm nguyện như vậy. Và thôi, đừng nói với tôi về biểu quyết Hội đồng Nhân dân TP, tôi không biết gì về họ, ngoài những hình ảnh vỗ tay nhiệt liệt và chơi game khi nhấn nút biểu quyết.
Tôi nhìn thấy những cái cây được bọc rễ cẩn thận, khi được nhổ ra nơi cư trú của nó giữa Sài Gòn. Chắc chắn đã có ai dặn dò việc chuyển giao nó về một nơi nào đó để giữ lại trong tiếc nuối. Nhưng tôi cũng nhìn thấy những cái cây được kéo xuống, cưa nhỏ và mang đi. Cây và cũi là hai ý nghĩa khác nhau, nhưng cũi có tuổi 100 năm lại là một khái niệm khác. Đại lộ Lê Lợi, một trong những đại lộ đẹp nhất Việt Nam với gió, nắng và lá… được thay vào đó bằng điện, sắt và hầm ngầm, dù gọi là để phát triển, thì dĩ nhiên cũng phải có chút chạnh lòng.
Ai cũng muốn đất nước mình đẹp hơn, hiện đại hơn. Việc xây dựng và buộc phải hy sinh một điều gì đó, đôi khi là điều cần thiết, không thể chối cãi. Nhưng với những gì lâu nay mà từng người dân Việt được biết, thì việc tiếc nuối pha lẫn sự lo âu là một điều có thật.
Ai cũng nhớ rằng Sài Gòn là một vùng đất lún, cần hàng ngàn tỉ để phục hồi nhưng vẫn chưa làm được. Ai cũng nhớ rằng cả nước đã có những công trình kéo dài ngày này qua ngày khác và xuống cấp do thiếu tổ chức và đồng bộ. Nhưng điều đó không quan trọng rằng, ai ai cũng nhớ rằng trên đất nước này, đã có rất nhiều công trình được gắn mác hạng mục quốc gia, quan trọng hơn cả ga xe điện ngầm này, được ca ngợi hết mực, nhưng bị đục ruỗng, chỉ vài tháng, hoặc một năm đã hư hỏng, đã rời rã. Thậm chí những con đường sinh lộ của cả quốc gia được tìm thấy cốt tre pha xi-măng dỏm. Một cái cầu vừa xây xong, tháng sau đã không dùng được nữa…v.v nhưng không hề thấy có ai phải chịu trách nhiệm. Những câu chuyện có thật và liên tục như vậy đã hoang phí ngân khố và niềm tin của cả quốc gia đến tận cùng.
Tất cả những điều đó xảy ra, buộc người dân có quyền bồi hồi và lo sợ cho cái sẽ đến, đánh đổi, rằng liệu có thật sự đáng giá hay không? Họ cũng cần được nghe một ai đó nói cho họ, quả quyết về tương lai hoặc có ai đó chịu trách nhiệm rõ ràng cho những bất cập sẽ tới. Đơn giản vì họ là cư dân, là chủ nhân của thành phố này. Nhưng tiếc là, chỉ có tiếng gầm rú của cưa máy, của những công nhân hò nhịp thay cho tiếng nói của họ, hạ gục từng cái cây quen thuộc và tin cậy của họ gục xuống.
Cây có linh hồn không? Thật ngớ ngẩn cho câu trả lời, nhưng nếu như hàng cây đã từng ngắm nhìn thành phố qua bao thế hệ, chắc chắn đã chia sẻ cùng con người nơi này những điều bí ẩn, nhưng đủ để hồi sinh nhau qua nhiều khốn khó.
Nếu nhắc lại, có thể chúng ta sẽ bật cười khi nhớ đến nhiều bài báo lo về sinh mạng của một con rùa già ở Hồ Gương, Hà Nội. Thậm chí đã có các báo cáo khoa học đòi cải thiện tình trạng ô nhiễm của nước hồ để cứu con rùa đó. Người ta ca ngợi đó là di vật, là niềm tin. Nhưng hạ gục thật nhiều hàng cây trăm tuổi, lấy đi lá phổi của hàng triệu người thì đã chẳng có một sự chất vấn nào xứng đáng cho di vật hay niềm tin.
Một người bạn trên Facebook, anh Alvin Tango, nhắc tôi về câu chuyện được đăng trên báo Trung Quốc, rằng có người đàn ông đã bán một trái thận để mua Ipad, để sống với đời hiện đại của mình. Người Sài Gòn khi chịu cắt đi hơi thở quen và lịch sử của mình, chắc cũng cần nghe một lời giản thích chân tình hơn là một mệnh lệnh.
Tất cả mọi người hiện chỉ nhìn thấy những tiếng thở dài về một Sài Gòn quen thuộc. Phải chăng thói quen nhẫn nại chịu đựng và chấp nhận mọi thứ, việc tăng liên tục xăng, điện… cho đến những cuộc tấn công máu lạnh của công an vào dân thường ngay trên đường phố, mỗi ngày nhìn thấy trên báo chí, đã khiến mọi người chỉ còn khả năng đóng kín cửa, thì thầm và sụp đổ khả năng tư duy phản biện về điều thiết thân của mình?
Và có thể vì vậy, lặng lẽ thương nhớ những hàng cây cũ giữa tiếng máy cưa, là điều duy nhất những người yêu Sài Gòn có thể thấy được vào lúc này.
Tuấn Khanh
(Blog Tuấn Khanh) 

Châu Phi và giấc mơ Trung Hoa

Trong khi phương Tây còn đang bận rộn với vùng Trung Đông, Trung Quốc đã nhanh chóng tiếp cận châu Phi. Ảnh từ Wordpress

Sau tin về công ty Trung Quốc đề nghị tuyển 2.100 lao động Trung Quốc sang làm dự án ở Trà Vinh gần đây, bức tranh về người lao động Trung Quốc tại châu Phi, nơi mối quan hệ hợp tác giữa hai bên đã được các nghiên cứu và tư liệu báo chí mô tả, có thể là một tham khảo đáng lưu ý.

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều nước châu Phi đã không còn có được sự hỗ trợ từ bên ngoài. Dù giàu có về tài nguyên, nhưng nền kinh tế kiệt quệ do chiến tranh và quản lý nhà nước kém cỏi khiến các nước châu Phi thèm khát đầu tư phát triển từ nước ngoài. Vào thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, khi phương Tây còn đang bận rộn với vùng Trung Đông, Trung Quốc đã nhanh chóng tiếp cận châu Phi.

Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa Trung Quốc và châu Phi đã chỉ ra rằng các hoạt động của Trung Quốc không hoàn toàn theo kiểu thực dân chủ nghĩa. Khác với đầu tư từ phương Tây thường đi kèm với các điều kiện về thể chế chính trị và luật pháp, các gói đầu tư từ Trung Quốc thường mang tính nhượng bộ và không can thiệp vào nội bộ quốc gia sở tại. Vì thế, những nhà lãnh đạo châu Phi đã dễ dàng dang rộng tay mời chào các công ty Trung Quốc đến đất nước họ. Kể từ năm 2009, Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn nhất của châu Phi. Theo tờ The Wall Street Journal, cam kết đầu tư của Trung Quốc vào châu Phi năm 2014 là 27,7 tỉ đô la Mỹ.

GS. Ian Taylor từ Đại học St. Andrews, Scotland, nhận định trong cuốn sách “Vai trò mới của Trung Quốc ở châu Phi” là những hoạt động đầu tư kinh tế của Trung Quốc tại châu Phi đã mở ra nhiều cơ hội cho lục địa này nếu các nước châu Phi biết tận dụng một cách thận trọng.

Lời khuyên về sự thận trọng là có cơ sở nếu nhìn vào khía cạnh xã hội của những nước châu Phi đã nhận đầu tư và viện trợ. Cùng với các dự án khai thác dầu khí, khoáng sản và xây dựng cơ sở hạ tầng khổng lồ, các công ty Trung Quốc còn đem theo một số lượng lớn lao động của họ đến châu Phi. Hàng trăm ngàn lao động Trung Quốc đã được gửi đến đây để làm những công việc khác nhau, từ chuyên gia hóa dầu cho đến lao công cuốc đường. Chỉ riêng ở Sudan, con số lao động Trung Quốc trong năm 2006 đã là 24.000 người. Con số này chắc không dừng lại ở đó với đà tăng trưởng đầu tư vào châu Phi của Bắc Kinh. Các chính sách và hệ quả của nguồn lao động Trung Quốc vào châu Phi đã gây ra những tranh cãi lớn tại lục địa già này.

Mặc dù có vài công ty Trung Quốc tuyển dụng lao động châu Phi, đa số rất hạn chế sử dụng người bản địa. Các quan chức chính phủ và ông chủ công ty Trung Quốc giải thích cho chính sách này là vì có sự khác biệt trong văn hóa, ngôn ngữ và kỷ luật giữa người Trung Quốc với người bản địa, nên tốt nhất là để người Trung Quốc làm việc cùng với nhau. Giải thích này ám chỉ là lao động Trung Quốc làm việc năng suất và hiệu quả hơn những người châu Phi, và qua đó các khoản đầu tư của các công ty Trung Quốc có thể được phát huy tối đa.

Sự bất mãn của nhiều người châu Phi ngày càng tăng, họ yêu cầu được hưởng lợi từ việc khai thác tài nguyên tại đất nước của mình. Cựu Bộ trưởng thương mại Zambia, Dipak Patel, khi còn tại nhiệm đã phải thốt lên: “Lao động Trung Quốc làm cả những việc như đẩy xe vật liệu. Đó không phải là loại đầu tư mà chúng ta muốn. Tôi hiểu là họ có tới hơn 1,2 tỉ người nhưng họ không cần phải gửi dân mình tới châu Phi”.

Cùng chia sẻ lo lắng với người lao động bản địa là các tiểu thương người Phi. Ví dụ như ở Cameroon, thương nhân người Hoa đã trở thành đối thủ cạnh tranh chính trong các lĩnh vực buôn bán nhỏ lẻ. Đến cả những quầy bán bánh rán trên đường phố cũng đang dần chuyển sang tay thương nhân Trung Quốc.

Bên cạnh đó, các tổ chức lao động và môi trường ở châu Phi đang gia tăng sức ép lên chính phủ của họ để đòi hỏi sự minh bạch trong các chính sách đầu tư của Trung Quốc. Robert Rotberg, Giáo sư Đại học Harvard, đã nhận xét: “Khi các nước châu Phi không xây dựng được những luật lệ nền tảng có tính phối hợp chung và cải thiện khả năng quản trị, Trung Quốc sẽ tiếp tục tận dụng khai thác các quốc gia yếu thế hơn trong công cuộc tìm kiếm tài nguyên và xác nhận quyền lực kinh tế mà hầu như không để ý đến các giá trị và nhu cầu của người dân châu Phi” (trong cuốn sách China into Africa: Trade, Aid, and Influence do Robert I. Rotberg năm 2008.

Paolo Woods, phóng viên ảnh kỳ cựu cộng tác với nhiều tờ báo có tiếng như Time, Newsweek và Le Monde, đã có bộ ảnh tư liệu nổi tiếng phản ảnh sự bùng nổ đáng kinh ngạc của cộng đồng người Trung Quốc tại châu Phi vào năm 2008. Dựa trên các bức ảnh đó, Woods đã cùng với hai nhà báo khác xuất bản cuốn sách ảnh có tên là Hành trình Trung Hoa: Con đường bành trướng của Bắc Kinh tại châu Phi. Woods cũng kể lại khi ông dự hội nghị thượng đỉnh Phi - Trung vào tháng 11-2006, lúc Bắc Kinh công bố số tiền khổng lồ mà họ sẽ đầu tư vào châu Phi, một đại biểu châu Phi ngồi cạnh ông đã thì thầm “Ngay lúc này, chúng tôi cần các lãnh đạo của mình phải thật sáng suốt”.
     Huế Dương
( Kinh Tế Sài Gòn )

Vinaconex lại được giao làm đường nước: Vì sao không đấu thầu?

"Vinaconex đang là đối tượng trong quá trình điều tra, thanh tra mà lại được giao làm tiếp việc mà chính Vinaconex đã làm sai. Việc kinh doanh như thế này thì không đâu trên thế giới làm thế", ĐBQH Cao Sỹ Kiêm nêu quan điểm và đặt câu hỏi: Vì sao không tổ chức đấu thầu công khai mà lại giao cho Vinaconex?

Sau 9 lần vỡ đường ống nước sông Đà liên tiếp, TP Hà Nội vẫn quyết định để Vinaconex làm chủ đầu tư dự án xây dựng tuyến ống số 2, khiến dư luận hết sức nghi ngại. Xung quanh vấn đề này, báo Đời sống và Pháp luật có cuộc trao đổi với đại biểu Quốc hội Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vinaconex lại được giao làm đường nước: Vì sao không đấu thầu? - Ảnh 1
Ông Cao Sỹ Kiêm
Vinaconex vẫn được giao làm đường ống nước, lý do là Bộ Xây dựng, UBND thành phố Hà Nội đã nghe doanh nghiệp nhận lỗi "thành thật" và tin Vinaconex làm tốt hơn đơn vị khác. Ông có nhận định thế nào về vấn đề này?

Trước hết phải khẳng định rằng đường ống dẫn nước Sông Đà về Hà Nội đang vận hành do Vinaconex là chủ đầu tư quá kém chất lượng. Nếu như lần vỡ thứ nhất, thứ hai thì còn có lý do để thanh minh, giải thích nhưng hiện nay đã có đến 9 lần vỡ liên tục gần nhau như thế thì trong thi công có vấn đề.

Về việc này, Bộ Công an và Thanh tra Chính phủ đang vào cuộc và khi nào có kết luận về sai phạm thì chắc chắn phải xử lý. Tôi cho rằng ngoài việc phải xử lí trách nhiệm về kinh tế thì cũng có thể khởi tố vụ án hình sự. Rõ ràng đây là việc làm thiếu trách nhiệm và quản lý yếu kém, gây hậu quả nghiêm trọng, tốn kém về chi phí và ảnh hưởng đến đời sống của hơn 70.000 hộ dân không có nước sử dụng.

Hiện nay, Vinaconex đang là đối tượng trong quá trình điều tra, thanh tra mà lại được giao làm tiếp việc mà chính Vinaconex đã làm sai; việc kinh doanh như thế này thì không đâu trên thế giới làm thế. Thường thì không bao giờ họ chọn đơn vị có sai phạm như thế để tiếp tục giao một công trình vừa có giá trị kinh tế cao, mà lại ảnh hưởng đến đời sống nhân dân như vậy. Bởi lẽ, đơn vị đó đã không còn được tín nhiệm, hơn nữa, với quy trình, cách thức như thế mà công trình liên tiếp bị hỏng hóc thì không thể chấp nhận được.

Việc UBND TP Hà Nội vẫn chọn Vinaconex là đơn vị thi công với lý do là đơn vị có vốn, công nghệ, trình độ quản lý và không có đơn vị nào khác ngoài Vinaconex làm được... là không đúng, cần phải xem xét lại.

Để thuyết phục Bộ Xây dựng và TP Hà Nội, Vinaconex "lý sự" rằng họ làm tốt hơn các doanh nghiệp khác, vì đã biết quy trình, công nghệ phù hợp... Ông thấy như thế có hợp lý hay không?

Một gói thầu thi công lớn như thế này thì theo tôi hoàn toàn có thể mở thầu quốc tế vì có nhiều công ty quốc tế có kinh nghiệm, trình độ quản lý cũng như có sẵn vốn, họ hoàn toàn có thể làm tốt công việc này.

Tôi cho rằng, trong việc này UBND TP Hà Nội phải giải thích lụ thể và có sức thuyết phục, tại sao cứ phải chọn Vinaconex mà không chọn nhà thầu quốc tế, hay tại sao không thực hiện đấu thầu công khai.

Ngay cả trong nước, nhiều đơn vị có thể làm được công trình này, chứ không riêng gì Vinaconex. Thực tế là ở thành phố Hồ Chí Minh, nhiều đơn vị đã làm công trình dẫn nước rất lớn và có chất lượng tốt cho TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai. Do vậy, nếu không giải thích rõ việc này thì người dân có quyền nghi vấn có lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân. 
Vinaconex lại được giao làm đường nước: Vì sao không đấu thầu? - Ảnh 2
Kể từ cuối năm 2012 đến nay, đã có 9 lần đường ống nước sông Đà bị vỡ.
Đã 9 lần đường ống nước vỡ, cuộc sống của 70.000 hộ dân nội thành khốn khổ, song Vinaconex mới chỉ nói xin lỗi. Theo ông, nếu tiếp tục giao Vinaconex, có nên ràng buộc trách nhiệm cụ thể của cá nhân liên quan, nếu làm kém, để xảy ra sự cố sẽ phải đi tù, bỏ tiền túi ra đền không thưa ông?

Việc điều tra của các cơ quan chức năng cần phải có thời gian, nhưng phải đảm bảo sự minh bạch, nếu không, tôi khẳng định rằng dư luận sẽ không để yên. Họ sẽ không chỉ giám sát việc xử lý những sai phạm trong việc hỏng hóc đường ống dẫn nước lần thứ nhất; dư luận, nhân dân họ không thể tin được là Vinaconex làm có chất lượng.

Nếu Vinaconex lý giải một cách thuyết phục về những sai phạm trong đợt thi công đường ống dẫn nước lần thứ nhất có thể chấp nhận được. Hơn thế UBND TP Hà Nội vẫn quyết đinh giao cho Vinaconex làm tuyến đường ống dẫn nước thứ hai thì tôi nghĩ cần phải có biện pháp giám sát đặc biệt.

Ngay từ đầu phải có một hội đồng, có một quy chế và có cách kiểm tra rất ngặt nghèo. Có sự vào cuộc của Bộ Xây dựng, Bộ tài chính, khoa học công nghệ, cơ quan chức năng nhà nước, Thanh tra, kiểm toán, giám sát thi công…

Đây là một công trình rất lớn, tốn kém và có tiền lệ nhỡn tiền như thế rồi mà bây giờ cố làm theo cách gượng ép như thế rồi thì trước mắt người dân sẽ phảm ứng và sau này xảy ra sai sót thì rất khó quy trách nhiệm. Muốn hay không muốn lần này phải thi công không để cho có sự cố, cho nên không thể làm đơn giản theo kiểu chỉ định thầu như thế được.
SƠN HÙNG
(Đời Sống Pháp Luật)

Nghĩ về tâm sự của nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan

“Muốn nghe được lời nói thật là phải công phu lắm, phải thành tâm lắm. Hãy rửa tai để nghe lời nói thật vì không có lời nói thật nào mà không có vị chua chát” – Nhà báo Hữu Thọ.
(Minh họa: Ngọc Diệp)
(Minh họa: Ngọc Diệp)

Ông Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ khi trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ, bài “Làm dân mới được nghe thật lòng” ngày 9/7 đã có những dòng tâm sự rất hay: “Khi về “làm dân”, có thể tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau nên nghe được tiếng nói thật lòng”.

Câu nói này là chiêm nghiệm của một cuộc đời quan chức cộng với 7 năm về hưu mà không tham gia bất cứ một công việc gì để được… làm dân, để được nghe những lời nói thật từ nhân dân.

Nói lên điều này, cũng là day dứt, trăn trở của một người rất nặng lòng với đất nước.

Đọc câu nói trên của ông Vũ Khoan, không thể không nhắc đến một câu nói khá nổi tiếng của GS Hoàng Tụy, một nhà khoa học tài năng và trung thực, một nhân cách đầy tự hào của trí thức Việt Nam về bệnh dối trá trên Dân trí năm 2011: “Sự dối trá đang là mối nhục lớn”.

Lời nói của một nhà khoa học tầm cỡ thế giới, một người nổi tiếng bởi sự thẳng thắn không thể không làm mỗi chúng ta suy nghĩ. Sự dối trá thời nào và ở đâu cũng có nhưng vấn đề là nó xuất hiện với cường độ như thế nào và sự “lan tỏa” đến đâu.

Có thể nói, sự dối trá hiện nay trong xã hội không phải là hiếm mà nó là nhiều, thậm chí rất nhiều. Nó xuất hiện bất cứ lúc nào và ở bất cứ đâu dưới đủ mọi hình thức. Từ những việc đơn giản như buôn gian, bán lậu đến dối trá, lọc lừa, tham ô, tham nhũng và cao hơn là “tham nhũng chính sách” của lợi ích nhóm.

Muốn chống được sự dối trá, tất nhiên phương thuốc hữu hiệu trước hết là phải được nghe lời nói thật.

Thế nhưng, để được nghe những lời nói thật không phải dễ bởi muốn được nghe lời nói thật thì bản thân người nghe phải cầu thị và thật tâm muốn nghe. Nghe theo kiểu lấy lệ, đối phó thì sẽ nhận câu trả lời đối phó, lấy lệ. Đó là lẽ đời. 

Tiếp đến, như người xưa đã đúc kết, sự thật thường hay trái tai “Trung ngôn nghịch nhĩ” hay “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”.  Người muốn nghe sự thật ngoài nhu cầu mong muốn tự thân, có tâm thì còn phải có bản lĩnh tiếp nhận những lời “nghịch nhĩ”. Bởi “Lời nói thật đã hơn một lần chết chém”. Những người thiếu bản lĩnh cũng không bao giờ được nghe những lời nói thật.

Song, tất cả những điều trên vẫn chưa đủ nếu như chưa có được sự tin cậy để sẻ chia. Người muốn nghe những lời trung thực trước hết phải là người trung thực, đáng tin cậy. Lời nói thật quý như vàng bạc, chẳng ai dại lại trao vào tay kẻ lừa đảo và dối trá.

Những người dối trên, lừa dưới, nói một đằng làm một nẻo càng không bao giờ được nghe những lời nói thật.

Có lần mình hỏi một bạn trẻ vì sao có thể nói dối trắng trợn như vậy thì nhận được câu trả lời rằng bởi ông ta thích nghe những điều đó và ông ta xứng đáng nhận những điều dối trá đó.

Mình chợt nhớ câu nói của Nhà báo Hữu Thọ trả lời trên báo Nhà báo & Công luận của Hội Nhà báo Việt Nam nhân dịp đầu năm mới Kỉ Sửu: “Sự thật nó không tự đến mà anh phải tìm đến nó. Rồi anh phải đủ niềm tin ở người ta thì người ta mới nói sự thật với anh. Anh cũng phải có đủ bản lĩnh để sàng lọc, tìm ra những thông tin chính xác. Muốn nghe được lời nói thật là phải công phu lắm, phải thành tâm lắm. Hãy rửa tai để nghe lời nói thật vì không có lời nói thật nào mà không có vị chua chát”.

Để được nghe những lời nói thật của dân hôm nay, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan không chỉ về “làm dân” mà ông còn nhận được sự tin cậy của dân.

Xin chúc mừng ông Vũ Khoan vì ông đã “rửa tai” để tiếp cận sự thật.
Bùi Hoàng Tám
( Dân Trí )

"Hoàng Hậu Ki", câu chuyện về lòng tự tôn dân tộc và những âm mưu chính trị

Dạo gần đây bộ phim “Hoàng hậu Ki” (do đài MBC ở Hàn Quốc sản xuất) đang được lăng xê nhiệt tình ở Việt Nam trên khắp các kênh truyền hình hay từng chiếc xe bus. Bộ phim khai thác các khía cạnh về cuộc đời và tình yêu có kèm chi tiết hư cấu của một nhân vật lịch sử người Cao Ly cuối đời nhà Nguyên là Kỳ Hoàng hậu. Đây là nhân vật đã có ảnh hưởng trực tiếp đến lịch sử 37 năm của triều đại nhà Nguyên.

Thời ấy xứ Cao Ly thần phục nhà Nguyên nên hàng năm phải nộp cống nữ. Một số quan lại Cao Ly cấu kết với triều Nguyên khiến nhân dân rơi vào cảnh lầm than, nhà cửa ly tán.

Mẹ của Yang-I đã chết trên đường khi bị bắt sang nước Nguyên làm cống nữ nên Yang-I đã thề sẽ làm mọi cách cứu nhân dân Cao Ly thoát khỏi luật lệ khắc nghiệt này. Cô đã giúp thế tử Wang Yu đập tan âm mưu bán đứng đất nước của một vị vương gia. Người này vì muốn ngồi lên ngai vàng xứ Cao Ly nên đã đang tâm bán rẻ tổ quốc và sinh mạng người nhân cho nhà Nguyên. Cũng từ đó tình yêu giữa Yang-I và thế tử Wang Yu nảy nở.

Một thời gian sau đó không may Yang-I cũng bị bắt sang nước Nguyên. Tại đây cô được hoàng đế nước này là Nguyên Huệ Tông sủng ái. Yang-I được thăng từ hàng tài nhân lên tiệp dư và hoàng quý phi rồi sau này là hoàng hậu. Trong suốt quãng thời gian sống trong cung đình Yang-I vẫn luôn nhớ về quê hương và tìm mọi cách để giúp đất nước của mình bất chấp những hiểm nguy đang rình rập xung quanh bởi thế lực của gia tộc nhà thừa tướng nhà Nguyên là Yến Thiết. Yang-I đã chống lại hoàng hậu Tanasili (con gái của Yến Thiết) để bảo vệ tài nhân Park và các cung nữ là đồng hương của mình. 


Về phần Wang Yu lúc này đã là phế vương phải lưu vong sang nước Nguyên nhưng không vì thế mà mất đi ý chí của mình. Mặc dù được đối đãi rất tốt ở đây nhưng vị vua mất ngôi này (cùng với sự giúp đỡ của Yang-I) luôn nung nấu ý định phục vị để quay trở về xây dựng đất nước Cao Ly những mong thoát khỏi ảnh hưởng của nhà Nguyên.

Khi mới phát sóng được vài tập, “Hoàng hậu Ki” nhận được rất nhiều lời phản đối từ khán giả vì họ cho rằng đạo diễn và biên kịch làm như vậy là xúc phạm đến lịch sử của Triều Tiên, coi triều đình Cao Ly xưa là những kẻ bạc nhược và hèn kém trước ngoại bang. Tôi thì không nghĩ vậy, xuyên suốt cả bộ phim không chỉ có những cuộc tranh đấu hay thanh trừng đẫm máu mà còn là lòng tự tôn dân tộc của hai nhân vật chính là Wang Yu và Yang-I, một đất nước với ngôn ngữ riêng, văn hóa riêng nổi tiếng với cây nhân sâm quý giá. Hai người họ Wang Yu và Yang-I đã làm mọi cách để ngăn chặn việc buôn lậu muối qua nước Nguyên khiến giá mặt hàng này bị đẩy lên cao hay việc chặn đứng nguồn tiền giả tràn vào Cao Ly từ những kẻ thân Yến Thiết và cuối cùng là ngăn chặn việc nhà Nguyên đem quân sang chinh phạt Cao Ly với mục đích sát nhập hai nước làm một… Nếu đó không phải là niềm tự hào về đất nước hay lòng yêu nước thì thật khó lý giải đâu là động lực để họ vượt qua muôn vàn khó khăn như vậy. Không biết bao nhiêu lần Wang Yu đã phải đổ máu để giành lại từng tấc đất cho Cao Ly và cũng chừng ấy lần Yang-I phải khóc thương đồng bào mình bị sát hại.


[Liệu xem đến đây liệu người dân VN có chút liên hệ nào với tình hình hiện tại ở Việt Nam hay không? Trong khi người dân bày tỏ thái độ chống (lại ảnh hưởng của) Trung Quốc thì chính quyền Hà Nội lại đi ngược lại với ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Phải chăng ĐCSVN đã quá lệ thuộc vào Trung Quốc về mọi mặt để giữ chế độ khiến tình hình chính trị - kinh tế ở Việt Nam ngày càng phức tạp? Ai là người đã cho phép các mặt hàng hay giống nông sản Trung Quốc tràn vào Việt Nam khiến nông dân điêu đứng còn người tiêu dùng tổn hại sức khỏe? Ai là người đồng ý triển khai dự án bauxite bất chấp những hệ lụy và sự ngăn cản của hàng chục ngàn người dân? Ai là người đẩy những ngư dân không được vũ trang ra đối đầu với tàu quân sự của Trung Quốc? Phải chăng chính quyền Hà Nội đã mất hết liêm sỉ, không còn chút nào về khái niệm “dân tộc”, “quốc gia”, “đồng bào” nên để Trung Quốc mặc sức giày xéo lên người dân Việt Nam?]


Quay trở lại với chuyện tình tay ba Wang Yu – Yang-I – Nguyên Huệ Tông. Nếu phế vương Wang Yu là người đứng đắn, trầm tĩnh, bản lĩnh và quyết đoán thì Nguyên Huệ Tông, ngược lại, không khác gì một đứa trẻ con bị ép phải lớn, bị ép phải ngồi vào ngai vàng dù không biết chữ. Đặc điểm chung của cả hai người này đều là yêu nàng Yang-I say đắm. Wang Yu là người đến với nàng trước, luôn âm thầm hy sinh để bảo vệ nàng; còn Nguyên Huệ Tông mặc dù là người đến sau nhưng lại là người có được Yang-I cuối cùng.

Chính sức nặng của trách nhiệm quốc gia, dân tộc đã chia cắt Wang Yu - Yang-I và đẩy người con gái xinh đẹp, thông minh này về phía Nguyên Huệ Tông. Wang Yu đã không thể ở bên Yang-I trong lúc nàng gặp khó khăn hay đau khổ tột cùng nhưng Nguyên Huệ Tông thì có. Đối với Wang Yu, ngoài Yang-I, chàng còn cả đất nước Cao Ly phải gánh vác. Còn Nguyên Huệ Tông, Yang-I là tất cả đối với chàng. Quyền lực hay ngai vàng chẳng là cái quái gì hết. Dù người xem có thể tiếc cho Wang Yu – Yang-I nhưng thực chất đây là chi tiết hợp lý bởi trong chính trị, không có chỗ cho tình yêu. Không ai có thể nắm cả thiên hạ trong tay mà vẫn được ở bên người mình yêu thương. Và quả thật, cuối cùng Nguyên Huệ Tông đã phải chết và để lại Yang-I một mình trên đỉnh cao của quyền lực. 

Athena
(Dân luận) 

Xã Hội Chủ Nghĩa và Nói Dối [1]

Bốn kinh tế gia Lars Hornuf của đại học Munich, Đức, và Dan Ariely, Ximena Garcia-Rada, và Heather Mann của Đại Học Duke, Hoa Kỳ, làm một nghiên cứu kinh tế thực nghiệm [2](experimental economics) ở Đức và cho thấy rằng những người từng sống lâu ở Đông Đức có khuynh hướng nói dối nhiều hơn để đạt mục đích cá nhân.

Thí nghiệm đơn giản như sau. 250 người sống ở Berlin được chọn ngẫu nhiên. Mỗi người được tung con xúc xắc 40 lần, rồi tính cộng điểm, điểm càng cao thì càng được trả tiền thưởng cao.
Ở đây, trước khi tung con xúc xắc mỗi lần, người tung phải tự hứa với chính mình là sẽ chọn điểm của mặt trên hay mặt đáy của con xúc xắc để tính cho lần tung đó. Điểm mỗi lần tung sẽ được ghi ra giấy và sau 40 lần như vậy, cộng lại ra tổng điểm để tính thưởng.
Ví dụ, tôi tự hứa trong đầu trước 1 lần tung là chọn mặt trên của con xúc xắc để tính điểm, khi tung con xúc xắc xuất hiện 2 điểm ở mặt trên, nếu tôi là người ngay thẳng, tôi sẽ ghi là 2; còn nếu tôi là người gian dối thì tôi sẽ ghi điểm của đáy con xúc xắc là 5. Việc chọn mặt tính điểm của con xúc xắc là tự nguyện và không ai kiểm tra được.
Thêm vào đó, người chơi có quyền chọn tung một lần 1 con, 2 con, 3 con, 4 con, 5 con hay 6 con xúc xắc cùng lúc. Nếu như người lương thiện thì việc chọn mặt tính điểm trước rồi chọn quay 1 con hay 2, 3, 4, 5, 6 con cùng lúc không ảnh hưởng mấy đến kết quả, vì theo thống kê thì các biến cố này là độc lập lẫn nhau, và do đó, số người chọn quay 1 con sẽ bằng số người chọn quay 2, 3, 4, 5, 6 con. Còn nếu người không lương thiện, họ sẽ chọn 6 con xúc xắc quay cùng một lúc và sau đó chọn mặt nào điểm cao thì tính điểm, ghi vào sổ để được hưởng tiền thưởng cao.
Kết quả cho thấy có một tỉ lệ lớn người chọn quay nhiều con xúc xắc cùng lúc. Người tổ chức bảo họ ghi nơi sinh sống trước đây ở Đức và độ tuổi. Kết quả cho thấy trung bình những người có gốc gác ở Đông Đức có xu hướng nói dối gấp hai lần người lớn lên ở Tây Đức, và người sống càng lâu dưới chế độ “xã hội chủ nghĩa” thì càng nói dối.
Kết quả cho thấy có một sự liên hệ giữa “xã hội chủ nghĩa” và sự thiếu thành thật.
Nguyễn Huy Vũ
------------------------
[1] Phỏng dịch bài “Lying commies”, The Economist 19-7-2014
[2] The (True) Legacy of Two Really Existing Economic Systems:
(Viet-studies) 

Vương Trí Dũng - Đảng phải tự giải thoát chính mình

Phát sinh, phát triển, diệt vong là quy luật muôn đời của tạo hóa. Từ các sinh linh bé nhỏ cho đến các thiên hà khổng lồ, không đối tượng nào có thể thoát khỏi sự diệt vong.

Nhưng có sự diệt vong trong hào quang, có sự diệt vong trong nguyền rủa, có sự diệt vong thúc đẩy nảy nở, có sự diệt vong kìm hãm tiến bộ. Chọn cách diệt vong nào để toát lên cốt cách thánh nhân?


Với đảng hiện nay, tất cả rõ như ban ngày, đảng đang phải đối mặt với hai câu hỏi số phận đá tảng: đảng còn tồn tại được bao nhiêu năm nữa? và hậu thế sẽ phán xét thế nào về đảng?

Vấn đề tồn vong của đảng khẩn cấp đến mức mà bản thân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phải nói về sự tồn vong của chế độ.

1. Một số người có quyền hành nhân danh đảng luôn hô hào vì quyền lợi Dân tộc, nhưng trên thực tế, chính họ đang kìm hãm bước tiến của Dân tộc. Không chỉ thế, trước hết chính họ là những người đang giam cầm sự phát triển của đảng.

Nhiều người có quyền hành trong đảng đều thấy rõ sự lỗi thời phi khoa học của mô hình đảng và mô hình thể chế mà đảng đang cố gắng kéo dài. Điều đáng nói là chính bản thân họ biết rằng mô hình mà đảng đang áp đặt cản trở bước tiến của Dân tộc. Nhưng tất cả họ đều chưa dám công khai từ bỏ nó. Tại sao vậy?

Một là vì quyền lực và lợi ích cá nhân. Khi đã nắm được quyền lực rồi thì chẳng ai dại gì mà cải cách để mất đi quyền lực và mất đi lợi ích kèm theo. Muốn cải cách có chăng là những người chưa nắm được hay bị mất quyền lực.

Hai là sợ đối thủ tiêu diệt loại bỏ. Với bộ máy toàn trị hiện nay, một tư tưởng cải cách có thể bị chụp mũ ngay là tội chống phá đảng, chống phá nhà nước và dễ dàng bị đối thủ bỏ tù hay loại bỏ. Tội chống phá đảng, chống phá nhà nước đã là một nỗi kinh hoàng cho bất cứ ai trong suốt mấy chục năm qua từ khi thể chế này ra đời. Đó là thứ vũ khí thanh trừng ghê gớm mà ngay cả những người đang ngồi trên ghế quyền lực cũng phải sợ hãi.

Ba là không đủ năng lực chuyên môn. Cách thức bổ nhiệm cán bộ của thể chế hiện hành đã sản sinh ra một hàng ngũ lãnh đạo thiếu năng lực, lớp sau kém hơn lớp trước. Chính năng lực yếu kém đã làm cho con người không tự tin, không dám hành động và thậm chí không biết phải làm gì.

Bốn là cốt cách sâu mọt nhuệ khí bạc nhược. Không phải tất cả, nhưng xã hội hiện nay làm xấu đi cả những người tốt. Điều xấu hành hoành tràn lan làm nhụt khí tất cả. Cốt cách con người bị sâu mọt. Nhuệ khí quật cường bị rỉ cùn. Ai cũng muốn cầu an yên phận.

Năm là xã hội không có cơ chế khoa học để bảo vệ cho lẽ phải và công lý. Đây là một nhân tố vô cùng quan trọng. Khi mà trắng đen lẫn lộn, khi mà phải biến thành trái, trái biến thành phải thì con người sợ hãi cuộn mình trong tổ cũng là lẽ thường tình.

2. Muốn giải thoát cho Dân tộc, trước hết phải giải thoát cho đảng khỏi hệ thống cầm quyền yếu kém. Nhờ thế đảng mới có cơ may lột xác để tồn tại.
Bản thân đảng cũng đang bị một bộ phận lãnh đạo yếu kém thâu tóm lũng đoạn, không cho các đảng viên có năng lực hơn được tham gia lãnh đạo đảng, đảng không tự giải cứu được chính mình thì làm sao giúp ích được cho Dân tộc? Bởi vậy muốn giải thoát sự cản trở phát triển của Dân tộc thì trước hết phải giải thoát cho chính đảng.

3. Để giải thoát cho đảng khỏi hệ thống cầm quyền yếu kém, đảng phải tổ chức bầu cử dân chủ tự do trực tiếp trong toàn đảng. Như vậy đảng mới có được một đội ngũ lãnh đạo tốt hơn, giúp cho đảng sống sót.
Phương thức mà đảng bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo trong nhiều năm qua là một phương thức phi khoa học, phi dân chủ. Chính phương thức đó đã làm cho đảng mỗi ngày một yếu kém và liên tục mắc những sai lầm. Làm sao vấn đề chọn cán bộ đứng đầu đảng trên toàn quốc và đứng đầu bộ máy nhà nước lại chỉ do một nhóm người đếm trên đầu ngón tay quyết định? Thậm chí trong nhiều trường hợp chỉ có một hay hai người quyết định. Xin chỉ nêu ra một số hệ quả nguy hiểm từ cách bổ nhiệm cán bộ hiện nay.

Một là, sự bổ nhiệm cán bộ cao cấp chỉ do một số người trong BCT và BTC TƯ quyết định. Chưa nói đến tính chủ quan, cá nhân thiên vị của phương thức bổ nhiệm cán bộ này, mà cần nhấn mạnh rằng phương thức này tạo nên những lỗ hổng rất nguy hiểm.

Trước hết đó là cơ sở để tạo nên sự thâu tóm quyền lực. Bổ nhiệm cán bộ để khống chế cán bộ. Bằng cách này, một nhóm người có thể khống chế cả BCT, khống chế cả BCH TƯ, khống chế cả đại hội đảng, khống chế cả chính phủ, khống chế cả các tỉnh thành. Nguy cơ này ai cũng thấy rõ. Mối hiểm họa này đã xẩy ra ở tất cả các nước thuộc phe XHCN trước đây.

Tiếp đến, đây là công cụ để thanh trừng đối thủ vì những toan tính cá nhân. Thực tế lịch sử ở Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam đã minh chứng sự kinh hoàng của những chiến dịch thanh trừng đối thủ. Đáng sợ nhất là Stalin và Mao Trạch Đông. Ở Việt Nam ta, đến hàng bậc nhất công thần như Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng không tránh được sự thanh trừng.

Sau nữa, đây là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng những kẻ cơ hội. Tuy không có năng lực chuyên môn, nhưng giỏi luồn cúi, giỏi đút lót, giỏi nịnh bợ, họ tìm được cửa sống sót và từng bước leo lên bậc thang quyền lực. Những kiểu người này khi đạt được đỉnh cao quyền lực thì vô cùng nguy hiểm và tai hại.

Một hệ lụy nguy hiểm không thể không nhắc đến, rằng đây là một trong những cội nguồn của tham nhũng hối lộ. Ở bình diện này Việt Nam đã trở thành một thí dụ điển hình.

Thứ hai là, bốn chức vụ chủ chốt lãnh đạo đất nước nằm trong số các UV BCT nhiệm kỳ thứ hai. Chưa nói đến tính phi dân chủ của “Luật bất thành văn này” mà chỉ bàn đến hậu quả nguy hiểm tự nó gây ra.

Trước hết đây là lỗ hổng tạo nên sự mặc cả thỏa hiệp. Điều này ai cũng thấy rõ. Hệ lụy nguy hiểm là do thỏa hiệp nên sẽ không có đổi mới. Và chẳng ai dại gì mà đổi mới khi đã ngồi vào nhóm ghế quyền lực.

Tiếp theo là hậu quả trì trệ già nua bảo thủ. Theo cách xếp hàng từng bước, phải vào TƯ, phải vào BCT, rồi mới được lựa chọn vào các chức vụ cao nhất thì tài năng đột xuất sẽ không có chỗ đứng ở Việt Nam. Chưa nơi nào như ở Việt Nam, lãnh đạo cao nhất của đất nước lại đã biết trước, trước cả lúc bàu cử diễn ra.

Ba là, Tổng bí thư của đảng được bầu từ BCH TƯ chứ không phải trực tiếp từ toàn đảng. Đây là một vấn đề sống còn của đảng. Đã có đại hội bàn về người đứng đầu đảng phải được bàu trực tiếp từ các đại biểu dự đại hội đảng nhưng không thành. Thế cũng chưa đủ. Chỉ xin văn tắt mấy điểm cốt yếu.

Trước hết là không chọn được người thực tài. Muốn chọn được người thực tài phải bầu cử trực tiếp trong toàn đảng, theo hình thức loại trực tiếp từng cặp ứng cử viên từ từng vùng địa phương cho đến mức độ toàn quốc. Chỉ có những người “sống sót”qua những cuộc đối đầu trực diện khắp các vùng miền đất nước từ phiếu bầu của tất cả các đảng viên mới xứng đáng là thủ lĩnh của đảng.

Tiếp đến, Tổng bí thư sẽ không thực hiện được hết ý đồ chiến lược của mình. Do được bầu từ một số lượng hạn chế các UVBCHTƯ, người đứng đầu đảng quan ngại về các quyết định của mình có thể động chạm đến một nhóm người quyền lực. Cách thức các lãnh đạo đảng các nước thuộc phe XHCN trước đây bị phế truất đã nói lên tất cả. Thỏa hiệp hay mặc cả một nhóm người thì có thể, nhưng thỏa hiệp và mặc cả hàng triệu người thì không thể. Bởi vậy khi được bầu trực tiếp từ toàn đảng, người đứng đầu đảng sẽ không sợ hãi ảnh hưởng quyền lợi của một nhóm người nào trong BCHTƯ.

Hơn ba triệu đảng viên là một lực lượng rất lớn. Để tránh cho đảng một hệ thống lãnh đạo yếu kém, nhất thiết phải tiến hành bầu cử tự do trực tiếp trong toàn đảng. Lúc đó ắt đảng sẽ có những nhà lãnh đạo xuất sắc.

4. Giải thoát cho đảng chưa đủ để giải thoát cho Dân tộc. Muốn giải thoát cho Dân tộc cần phải có bầu cử tự do dân chủ trong toàn dân. Một hình thức bầu cử tự do trực tiếp toàn dân để chọn ra một vị nguyên thủ quốc gia và một quốc hội đa đảng sẽ là con đường đúng đắn đưa Đất nước thoát khỏi cảnh tụt hậu yếu nghèo lệ thuộc.

Hình thức bầu cử tự do toàn dân là điều mà các quốc gia văn minh tiến bộ đã thực hiện. Thể thức này đã được kiểm nghiệm ở nhiều nước qua nhiều thế kỷ. Nếu đảng tự nguyện làm được điều này thì chính nhân dân sẽ là người vinh danh đảng trong lịch sử Dân tộc.

5. Đảng hãy tự giải thoát chính mình để mở đường giải thoát cho Dân tộc.
Không ít người trong đảng hiện nay đang cố gắng kéo dài sự cầm quyền của đảng bằng những biện pháp độc tài phi dân chủ hơn. Họ tưởng rằng làm như thế là có thể kéo dài tuổi thọ cho đảng, không ngờ rằng đó chính là cách làm cho đảng trượt nhanh về đích cáo chung. Điều đáng tiếc hơn đó là sự cáo chung kìm hãm tiến bộ của Dân tộc, sự cáo chung khó tránh khỏi trách cứ của hậu thế.

Còn những người yêu đảng thiết thực sẽ biết kéo dài tuổi thọ của đảng bằng cách biến đổi đảng biện chứng, phù hợp với thời cuộc, thuận theo tiến bộ văn minh. Khi cần phải lột xác, thậm chí phải biến thân để được kiếp ba sinh.

Đảng đã có những thời khắc hào hùng, có những phút giây đen tối. Đảng đã nhiều lúc hy sinh vì quyền lợi Dân tộc nhưng đảng cũng đã nhiều lần làm chậm bước tiến của Dân tộc. Không ai có thể thay đổi lại lịch sử, nhưng điều quan trọng là phải biết rút ra bài học từ lịch sử.

Không ai có thể cứu đảng ngoài đảng cả. Đảng đã tự cứu mình nhiều lần để tồn tại. Thậm chí đảng vì quyền lợi Dân tộc đã rút vào bí mật bằng cách tuyên bố giải tán đảng. Đó là giai đoạn mà đảng có những nhà lãnh đạo xuất chúng. Xuất chúng bởi trước hết là họ vì Dân tộc chứ không phải vì đảng, cũng không phải vì lợi ích cá nhân họ.

Những người có quyền hành hiện nay trong đảng không được sống bằng hào quang quá khứ, không được nhân danh cha ông. Mỗi thế hệ, mỗi cá nhân phải sống bằng chính sức lao động của mình, và phải chịu trách nhiệm về mọi hành động do mình tiến hành. Lợi dụng danh tiếng của cha ông để mưu cầu quyền lợi riêng, dùng bạo lực để kéo dài quyền lực bất chấp lợi ích Dân tộc, là một tội lớn trước cha ông và trước Dân tộc.

Chính các đảng viên của đảng sẽ tự thay đổi đảng. Khi các đảng viên trong đảng biết đặt quyền lợi Dân tộc trên quyền lợi cá nhân, dám rời bỏ bổng lộc chức quyền, dám từ bỏ sự toàn trị, thì tức khắc nền dân chủ đích thực sẽ ngự trị trên toàn đất nước. Đó chính là lúc đảng lại biết hiến dâng cho Dân tộc. Đó chính là lúc đảng đã tự giải thoát cho chính mình.

Chỉ bằng một quyết định giản đơn: tự do bầu cử trong toàn đảng và tự do bầu cử trong toàn dân, đảng đã vĩnh cửu chính mình và vĩnh cửu vai trò lịch sử của đảng trước hậu thế. Đi xa hơn, đảng đã cùng một lúc giải quyết xong tất cả các vấn đề trọng đại nan giải mà ngày đêm đảng trăn trở. Trong số đó có các vấn đề: “Thoát Trung”, “Độc lập dân tộc” và “Hạnh phúc của toàn dân”.

Vấn đề chỉ là thời gian. Nhưng càng sớm ngày nào càng phúc đức ngày ấy cho Dân tộc. Sứ mạng lịch sử đang đặt lên vai đảng. Hãy tự giải thoát cho chính mình. Hãy dũng cảm trút lên vai nhân dân.
Vương Trí Dũng
Tác giả gửi BVN
(

Quan chức thích đi xe công vì oai - quyền - lợi

"Không nhiều người mặn mà với việc khoán xe. Bởi đi xe công thì oai. Oai thì người ta sợ. Sợ vì phải có quyền mới oai thế. Mà có quyền ắt phải có lợi".
Tôi đã nói thì sẽ làm!
Năm 2006, được biết ông là người đầu tiên thực hiện khoán xe công, câu chuyện ấy thực hư thế nào thưa ông?
Chủ trương khoán tất cả các chi phí cho cán bộ công chức nhà nước để tính vào lương là chủ trương của Đảng, Quốc hội đặt ra. Lúc đó tôi là Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội, tôi đã chủ trì xây dựng một chế độ chi tiêu cho Văn phòng Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, trong đó có việc khoán đi lại bằng phương tiện ô tô.
Kết quả thế nào ạ?
Sau đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết về việc khoán chi tiêu xe công, nó có giá trị như một văn bản pháp luật nhưng chưa có giá trị bắt buộc mà chỉ khuyến khích tự nguyện. Khi có nghị quyết, tôi là người đề xuất, xây dựng thì đương nhiên tôi phải là người thực hiện đầu tiên. Tôi không phải là loại người nói một đằng làm một nẻo. Lúc đó tôi lấy tiền khoán là 4,5 triệu đồng/tháng và tự lo phương tiện. Ngày mưa thì đi taxi, ngày thường thì đi xe ôm.
Mức khoán đó là nhiều hay ít so với số tiền ông phải bỏ ra để tự di chuyển?
Tôi thấy mức đó cũng là nhiều quá. Tôi chỉ dùng hết khoảng 1 triệu đồng mỗi tháng. Vậy là mỗi tháng để dành được 3,5 triệu đồng. Trong khi lương của tôi lúc đó chỉ khoảng 7 - 8 triệu đồng.
Hành động này của ông có được nhiều người ủng hộ không?
Lúc đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh đã có phát biểu ủng hộ hành động của tôi, nhiều đại biểu Quốc hội khác cũng lên tiếng ủng hộ tôi. 
Vì sao ông lại làm vậy?
Hành động đó của tôi làm cho những người sử dụng xe biển số 80B để giải quyết khâu oai, đẹp cả hình thức và nội dung cảm thấy ngại. Lúc đó, chính Bộ trưởng Bộ Tài chính nói rằng, nếu không mua xe công thì mỗi năm ngân sách thừa ra hàng nghìn tỷ đồng. Đến giờ, với sự trượt giá của đồng tiền thì con số này lên tới 9 - 10 nghìn tỷ đồng mỗi năm. Tiền đó làm được biết bao nhiêu cây cầu treo, bao nhiêu trường học, mua được bao nhiêu áo ấm cho trẻ em nghèo.

Tham nhũng chen lẫn trong chủ trương chính sách
Việc đầu tiên ông nhận thấy khi thực hiện khoán xe công là gì?
Ngoài tiết kiệm ngân sách thì việc đó giúp cán bộ gần dân hơn. Ngồi trong cái xe sang trọng, đẹp đẽ mà không làm được điều gì cho dân thì tự lương tâm mình cũng cảm thấy xấu hổ. Việc khoán đó giúp thay đổi nhận thức của cán bộ, những người nhận lương từ tiền đóng thuế của người dân phải nhận thức được nhiệm vụ, vị trí của mình, cán bộ không phải là "quan cách mạng" như lời dạy của Bác Hồ.
Vì sao lúc đó chỉ có một mình ông áp dụng hình thức khoán này?
Ở Văn phòng Quốc hội lúc đó thì chỉ có một mình tôi. Lúc đó mọi người không mặn mà, nhưng kệ người khác thế nào, tôi vẫn thực hiện. Sau đó tôi nghe nói có một số cán bộ ở miền Tây, Khánh Hòa, Lâm Đồng cũng thực hiện chế độ khoán.
Đến nay thì tình hình sử dụng xe công như ông được biết thế nào rồi ạ?
Bây giờ việc sử dụng ô tô riêng đại trà hơn trước đây rất nhiều, ai là đại biểu Quốc hội chuyên trách đều có xe riêng hết. Điều đó gây lãng phí rất lớn, làm cho bộ máy phình to hơn, chi phí cho bộ máy lớn hơn.
Hình như ông có nói đến chủ trương khoán, không chỉ là xe công mà khoán nhiều khoản khác?
Đúng, khoán ô tô, khoán tiền nhà, tất cả cho vào lương thì lương của một vị bộ trưởng sẽ là hơn trăm triệu đồng mỗi tháng. Hết một nhiệm kỳ, người đó có khoảng 6 - 7 tỷ đồng, trừ đi ăn tiêu thì vẫn đủ tiền để mua nhà. Tiền đó thì chắc chắn không ai nói gì được. Chứ còn cứ nói lương tôi mỗi tháng chỉ có hơn chục triệu đồng nhưng ông lại có cái nhà mấy trăm tỉ đồng thì không ai biết nó từ đâu ra. Tham nhũng chen lẫn trong chủ trương chính sách là vì vậy. Nếu tất cả đều từ lương hết, không ai có đặc quyền gì thì đương nhiên đồng tiền của cán bộ là đồng tiền trong sạch rồi. Còn như ông Trần Văn Truyền, làm cái nhà to thế, tiền ở đâu ra, người ta đặt câu hỏi là đúng rồi.
Ở nhiều nước kiểm soát được nạn tham nhũng tốt, hẳn là họ cũng có bộ công cụ kiểm soát tài sản của cán bộ?
Ở các nước nghèo nhất trên thế giới họ cũng đã thực hiện hoán xe công rồi, chưa nói gì đến các nước phát triển.
Ông Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
Kế hoạch phá sản vì cán bộ thích oai!
Từ thời điểm ông thực hiện khoán đó đến giờ, dường như vẫn chỉ là những lý thuyết có trên giấy?
Không thực hiện được đại trà vì nhiều cán bộ thích khâu oai. Sau đó một vị đại biểu Quốc hội khi được hỏi có thực hiện khoán không thì vị này còn phát biểu là ông ấy không biết chủ trương này. Ông làm như đây là nghị quyết lậu vậy. Tôi liền photo các bản góp ý trực tiếp vào Nghị quyết thì thấy chính vị ấy đã góp ý nhiều lần vào bản này. Thật buồn cười!
Đến nay thì nghị quyết đó của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã bị bỏ quên?
Đến tháng 9/2007 thì Bộ Tài chính đã ban hành thông tư quy định về cơ chế và cách tính phí khi thực hiện khoán xe công. Nhưng đến nay, số người thực hiện là rất ít.
Theo ông thì ngoài việc "oai" ra thì vì sao nhiều người không đồng tình giải pháp này?
Ngồi trên chiếc xe công thì oai, từ oai sinh ra quyền, từ quyền sinh ra lợi. Một cán bộ bước xuống từ chiếc xe công thì ắt hẳn cũng không nhiều người dám dòm ngó. Sau chiếc biển số 80B thì có biết bao nhiêu thứ đi kèm. Cán bộ ngồi trên chiếc xe đó chắc chắn sẽ xa dân. Mà như thế làm sao đại diện cho ý chí nguyện vọng của người dân được. 
Lúc ông thực hiện khoán, có ai nói gì phản đối hành động đó của ông không?
Khi tôi đi công tác một số tỉnh, cũng có nhiều người nói rằng: "Anh ơi anh làm thế thì tụi em cũng ngại mỗi khi đi xe công lắm".
Ông thấy mình được gì từ quyết định đó?
Được việc, được tiền, được tôn trọng. Đồng tiền mình tiết kiệm được đó là tiền chính danh, là đồng tiền hợp pháp. Lúc đó tổng thu nhập của tôi được khoảng gần 15 triệu đồng và tôi công khai hết. Thực ra các nước văn minh họ làm cái này từ lâu rồi, chẳng có lý gì nhà nước cho mình tiền đi học hỏi, nghiên cứu của nước ngoài mà trở về mình lại không áp dụng cái hay, cái tốt của họ cả.
Một vị thứ trưởng mà lếch thếch đi xe ôm, liệu có bị mất hình ảnh quá không?
Đó là cách hiểu sai. Hồi đó tôi sang Thụy Điển, bà chủ tịch Quốc hội ở đó vẫn đi xe buýt. Lếch thếch hay không là ở trong hành xử, trong tác phong, trách nhiệm với công việc chứ không phải là việc đi xe gì. Tự mình đi xe thì tự mình tiết kiệm được tiền, đó là những đồng tiền chính danh, không phải là đồng tiền trong những bữa tiệc, đồng tiền bất chính trong tham nhũng. 
Đến nay, số cán bộ chấp nhận khoán xe công không nhiều?
Việc triển khai thất bại hay thành công là do những người đứng đầu triển khai hay không triển khai. Không nên coi việc này là tự nguyện nữa mà nên coi đó là việc làm bắt buộc. Toàn bố số xe hiện nay tập hợp lại thành các đội xe công. Nếu tất cả các cán bộ đều thực hiện khoán xe công thì sẽ tiết kiệm được không biết bao nhiêu mà kể.
Xin cảm ơn ông!  
 Đội xe công được thành lập sẽ vừa giảm biên chế, vừa tiết kiệm ngân sách, vừa khiến cán bộ gần dân, lại tiết kiệm được tiền cho chính bản thân mình. Lúc tôi thực hiện khoán, thậm chí có người đề xuất mua xe cho tôi, nhưng tôi không phải là người như thế. Tôi tiết kiệm mấy năm mà được hơn trăm triệu đồng, đủ tiền sang sửa nhà cửa đấy.
  Tô Hội
( Kiến Thức )