Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Nhân dân là ai? - Những thách thức trong việc xây dựng thể chế dân chủ ở Việt Nam

Phạm Chí Dũng - Hòa hợp, hòa giải cho ai?

Gần một năm sau bài trả lời phỏng vấn khá trôi chảy và bóng mượt trên Thanh Niên - một tờ báo của Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam - với tiêu đề ấn tượng “Hòa hợp tạo ra sức mạnh cho dân tộc”, ông Nguyễn Thanh Sơn lại một lần nữa bắt buộc dư luận người Việt hải ngoại phải mổ xẻ tính bất xứng trong cuộc gặp gỡ đầu tháng 4/2014 của ông với một trong những nhân vật thường bị nhà cầm quyền ở Việt Nam coi là “chống Cộng” bậc nhất ở hải ngoại - thượng nghị sĩ Canada gốc Việt Ngô Thanh Hải.

Thứ trưởng Sơn là người phụ trách công việc vận động người Việt ở hải ngoại

Chi tiết có thể gây cười nhiều nhất sau cuộc gặp hai bờ đối nghịch trên là tâm thế “đường ai nấy đi”.

Trong khi ông Nguyễn Thanh Sơn diễn thuyết trên báo chí nhà nước rằng Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải đã “hoàn toàn nhất trí” với quan điểm của ông về việc Việt Nam đã xử sự hợp tình hợp lý với những người bất đồng chính kiến và vi phạm pháp luật Việt như trường hợp “quậy phá” của linh mục bị bịt miệng tại tòa Nguyễn Văn Lý, thì vị nghị sĩ Bắc Mỹ cứng rắn lại tuyên bố đầy bức bối với giới truyền thông quốc tế là “không chấp nhận” và “hoàn toàn bác bỏ” những quan điểm và cách nhìn của người khách bất đắc dĩ về “các thế lực thù địch”.

Tình cảnh “kiều vận” trái khoáy như thế đang khiến dư luận quan tâm đến công cuộc “hòa hợp, hòa giải dân tộc” của Nhà nước Việt Nam vẫn không vơi nhẹ áp lực câu hỏi: liệu có thể tin vào lòng chân thành của ai - người đại diện cho 3,7 triệu Đảng viên nắm quyền ở Việt Nam và đặc biệt nhạy cảm với tín hiệu “kiều hối”, hay vào một trong những tiếng nói thống thiết nhất từ khối bốn triệu rưỡi triệu “kiều bào ta” ở hải ngoại?

“Đói thì đầu gối phải bò”

Còn nhớ vào mùa hè năm ngoái, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn kiêm chủ nhiệm của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã lần đầu tiên dẫn ra một quan niệm mới: “Do hoàn cảnh lịch sử mà kiều bào ta vẫn còn một bộ phận mà ngày xưa chúng ta vẫn gọi là “phản động”. Quan điểm của tôi là không nên gọi như thế”.

Người Việt ở hải ngoại không chấp nhận chính thể hiện nay ở trong nước

Những từ ngữ có vẻ mang tính cải cách này lại nảy nở tiếp liền cuộc đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ được tái lập ở Hà Nội, sau một thời gian dài dang dở. Tức phải sau gần một thập kỷ từ năm 2004 khi phát sinh bản nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị về “công tác người Việt Nam ở nước ngoài”, những nhân vật như Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải mới có cơ hội lặng biến khỏi phát ngôn vằn vện nơi cửa miệng của giới quan chức Việt Nam.

2013 cũng là thời điểm nền kinh tế, xã hội và có thể cả giai tầng chính trị Việt Nam rơi vào tâm trạng “khủng hoảng sâu sắc và toàn diện” chưa từng thấy từ mốc 1975. Và chẳng ai không biết về câu chuyện kinh tế sụp đổ hoàn toàn có thể làm cho chế độ băng hà.

“Đói thì đầu gối phải bò, no cơm ấm cật chẳng dò đi đâu” - tục ngữ người Việt có câu. Vài cái Tết qua lại nổi lên một thảm trạng xã hội: ngay cả giới quan chức cũng không còn mấy no đủ như thời vàng son trước đây, và cách nào đó họ cũng cần được xếp vào danh sách “xóa đói giảm nghèo” khi giá trị “lì xì” của các doanh nghiệp cho họ đã hụt đến 50-70%.

Đã đến lúc giới quan chức phải “ra đi tìm đường cứu nước” - nói như cửa miệng dân gian. Tình cảm kiều bào cũng là thước đo ngoại tệ.

Một lần nữa trong nhiều lần thời dĩ vãng, “hòa hợp dân tộc” lại được tung hứng, nhưng với tầm mức tha thiết hơn nhiều. Không thể có kiều hối nếu thiếu vắng niềm tin.

Lòng tin chở được núi lớn - một bài học mà có lẽ một chế độ đã đánh mất trọn vẹn niềm tin nơi con tim dân nghèo mới phải viện dẫn đến Thánh kinh.

Công cuộc viện dẫn như thế đã ròng rã từ năm 2000 đến nay, bắt đầu từ Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ và tiếp liền bởi những gói viện trợ ODA mà nghe nói tỷ lệ thất thoát vào túi giới quan chức Việt Nam lên đến ít nhất 20%.

Hòa hợp không hòa giải?

Thủ tướng Dũng đang tích cực vận động Mỹ cho Việt Nam gia nhập TPP

Tuy nhiên giới quan sát độc lập trong nước và quốc tế vẫn chú ý đến một chi tiết rất dị biệt: trong hầu hết nội dung trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên vào năm 2013 và trong lần “kiều vận” vừa qua ở Hoa Kỳ, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn đã chỉ đề cập đến từ “hòa hợp” mà hầu như né tránh bản thông điệp “hòa giải”, dù tất cả mới chỉ đang tồn tại trên phương diện ngữ nghĩa.

Hẳn đó là nguyên do sâu xa để những người như ông Ngô Thanh Hải cảm thấy bất an. Chủ động xin gặp nghị sĩ Canada, nhưng những gì mà ông Sơn truyền đạt cho chủ nhà lại là “Đảng Cộng sản Việt Nam không bằng lòng về công việc làm” của ông Hải, và cố gắng “dân vận” ông Ngô Thanh Hải ủng hộ tính chính danh của Nhà nước Việt Nam cùng thực tiễn “Việt Nam luôn quan tâm và bảo vệ các quyền con người”.

Nhưng cử chỉ đặc sắc tuyên giáo bị ông Ngô Thanh Hải coi là “hoàn toàn không có đồng thuận gì cả” như trên lại có thể làm người ta liên tưởng về quá khứ “đạt được rất nhiều thành tựu” của nghị quyết 36 cùng những mục đích gan ruột của bản văn “kinh tế - chính trị học” này.

Chính vào năm 2013, quá nhiều dư luận ở hải ngoại và cả trong nước đã nghi ngờ rằng nếu Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn cố gắng thể hiện “gương mặt nhu mì đột biến” với kỳ vọng có thể thu hút từ 10 đến 20 tỷ USD kiều hối từ cộng đồng “kiều bào ta”, thì sau gần mười năm, nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị đảng vẫn còn rất xa mới đạt được ý nghĩa trọn vẹn về hình thể và nhân cách của nó.

Ở Việt Nam, nhân cách chính trị lại thường là một loại thực phẩm đặc thù có thể “ăn” được và còn lâu mới chạm đáy tiêu hóa. 2004 - thời điểm mà nghị quyết 36 của Bộ Chính trị ra đời, cũng là “thời kỳ quá độ” mà Việt Nam rất tích cực vận động để “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được tô điểm thêm một sắc thái mới: thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới.

Với trường hợp nhà nước Việt Nam, nhân cách cũng luôn và cần được móc xích với phạm trù nhân quyền và trên hết là niềm tin vào quả núi lớn TPP. Không chỉ tạo nên hố sâu khó vượt giữa chế độ với những người thuộc “bên thua cuộc”, nhân quyền còn là chủ điểm của đến 227 khuyến nghị từ hơn 100 quốc gia trong cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) về nhân quyền Việt Nam vào tháng 2/2014 tại Thụy Sĩ, gần gấp đôi số khuyến cáo được nêu ra vào cuộc UPR Việt Nam năm 2009.

Việt Nam thả tù chính trị nhằm thu lợi trong bang giao quốc tế?

Công cuộc “hòa hợp, hòa giải” cũng bởi thế đậm ý nghĩa thất bại trong ít nhất 5 năm qua. Cũng bởi, “đổi nhân quyền lấy viện trợ” chưa bao giờ tồn đọng như một thể bền vững trong một chính thể bỏ quên quốc thể.

Không nêu ra được bất kỳ chứng cứ đủ thuyết phục nào về “Việt Nam đã thực hiện hơn 80% khuyến nghị của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc sau UPR năm 2009” như cấp trên của ông Nguyễn Thanh Sơn là Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh trưng chào, con đường “trở về cội nguồn” của Đảng vẫn tiếp tục nứt nẻ và xung khắc hơn lúc nào hết, không chỉ với “đồng bào” trong nước mà cả với “bà con người Việt ở nước ngoài”.

“Tách đảng”?

Con đường ấy cũng đang chìm trong cơn bạo bệnh suy thoái chưa hề được chẩn trị và gần như cạn kiệt sức hồi sinh của nền kinh tế, còn những người điều hành nó đang phải bằng nhiều cách tìm ra lối thoát cho phe nhóm lẫn cá nhân.

Cũng gần như cạn kiệt tài nguyên ngoài trữ lượng dầu khí chỉ còn khá ít ỏi ở khu vực biển Đông, Việt Nam đang tụt hậu quá xa so với Miến Điện trong nhãn quan lợi nhuận của giới tư bản quốc tế. Đó cũng là bối cảnh trên trường chính trị Việt Nam đang xuất hiện một cụm từ mang tính biểu đạt rất cao: “tài nguyên nhân quyền”.

Một ít vụ việc trả tự do cho Phương Uyên và Đinh Nhật Uy vào nửa cuối năm 2013, đặc xá cho những tù nhân “sắp chết” như Đinh Đăng Định và Nguyễn Hữu Cầu, cùng lời “xá tội chữa bệnh” cho Cù Huy Hà Vũ vào đầu năm 2014 là một biểu trưng “nâng lên một tầm cao mới” cho sự giải thoát chính thể trong giai điệu mặc niệm của nền kinh tế phụ thuộc.

Để đến lượt mình, kinh tế lại có thể đóng vai vế làm biến đổi cả quan niệm chính trị. Rồi tư duy chính khách cũng có thể khiến đổi khác cả ý thức hệ đã luôn ràng buộc họ và chằng xích cả dân tộc. Không khó để nhận ra rằng muốn tham gia vào TPP, Việt Nam không thể sao y “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, trong khi không dưới hai lần Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải đề đạt với người Mỹ để nhận được “quy chế thị trường” nhưng cho tới nay vẫn hoàn toàn chưa có hồi âm.

Nghị sỹ Ngô Thanh Hải đã có cuộc gặp với ông Nguyễn Thanh Sơn
Thậm chí, sự biến đổi kín đáo về màu da và cả máu thịt như vậy đã hiển hiện trong bài trả lời phỏng vấn của Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn trên báo Thanh Niên vào năm 2013, khi ông dành lời khen tặng cho một nhân vật vốn bị coi là “khét tiếng chống cộng” ở hải ngoại: ông Hoàng Duy Hùng.

“Vấn đề mà chúng ta từng lo ngại là các thành phần chống Cộng cực đoan đã ngày càng giảm đi. Một trong những người cực đoan nhất như ông Al Hoàng (Hoàng Duy Hùng) vừa qua cũng đã được về nước và ông ấy đã có những cái nhìn hết sức tích cực” - ông Sơn ca ngợi.

Trong khi đó, nghị viên Hoàng Duy Hùng đặc trách về châu Á của thành phố Houston - lại bày tỏ “cái nhìn hết sức tích cực” khi nêu ra một đề nghị không tiền khoáng hậu trên BBC tiếng Việt vào ngày 30/4/2013: nếu đảng Cộng sản Việt Nam thuận theo sự tiến bộ và tách thành hai đảng, thí dụ đảng Cộng hòa (bảo thủ) và đảng Xã hội hay đảng Dân chủ (cấp tiến), thì đó chính là đột phá của lịch sử để giải quyết nhiều bế tắc trong nhiều năm qua ở ngay trong nội bộ đảng Cộng sản cũng như của chính những người bất đồng chính kiến và ở hải ngoại. Lúc đó, những người bất đồng chính kiến có thể tham gia một trong hai đảng mà không cảm thấy khó khăn.

Liệu vài ý tứ trên có giúp cho đảng cầm quyền ở Việt Nam xử lý được nhu cầu cấp thiết “hòa hợp, hòa giải” ngay trong nội bộ họ vào những năm tới, trước khi làm điều tương tự với “đồng bào người Việt ở nước ngoài”?

Bài phản ánh quan điểm và cách hành văn riêng của tác giả, nhà báo tự do ở TP HCM.
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng
Theo BBC 

Nhân dân là ai?

Ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam, tại hội nghị của các đại biểu Quốc hội về đầu tư hôm 11/4/2014.
Nghe tường trình
Hai từ Nhân dân rất thường hay được nhắc đến trong ngôn ngữ chính trị, tại Việt Nam. Việc này có liên quan đến trách nhiệm trong việc điều hành đất nước như thế nào? Và nó liên quan đến sự hình dung về quyền lực ra sao tại ở Việt Nam hiện nay?
Ngày 11/4/2014 ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam, nói trong một hội nghị của các đại biểu Quốc hội về đầu tư rằng: Quốc hội chủ trương đầu tư sai thì phải nhận khuyết điểm chứ không kỷ luật được. Lý do được giải thích đằng sau phát biểu này là: Quốc hội là đại biểu của nhân dân, mà trong thể chế hiện nay ở Việt Nam có qui định nhân dân làm chủ, cho nên không thể kỷ luật nhân dân hay là người chủ được.
Quốc Hội đại diện cho nhân dân?
Mô hình của thể chế hiện nay tại Việt Nam được những người cộng sản gọi là một nền dân chủ tập trung, thường được diễn tả qua câu khẩu hiệu tuyên truyền của Đảng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Và Nhân dân ở đây được hiểu là được đại diện bởi Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo qui định trong Hiến pháp của quốc gia. Và đây có lẽ là nguyên nhân của câu phát biểu của ông Nguyễn Sinh Hùng, gây nhiều bàn tán sau đó.
Ông Hà Sĩ Phu, một trí thức bất đồng chính kiến hiện đang sống tại Đà Lạt, và từng đề đạt những cải tổ chính trị sâu rộng cho thể chế Việt Nam hiện tại, nói với chúng tôi về lời phát biểu của ông Hùng:




Vẫn có trách nhiệm chứ không thể đổ cho dân được. Tôi bầu anh ra mà anh làm không đúng nhiệm vụ thì dân có thể bãi miễn anh.

-Hà Sĩ Phu
“Cứ cho rằng Quốc hội theo đúng ra trong chức năng là đại biểu chân chính của nhân dân, thế nhưng những đại biểu chân chính do nhân dân bầu ra đó mà làm không đúng ý nhiệm của nhân dân thì nhân dân cũng có quyền bãi miễn mà. Vẫn có trách nhiệm chứ không thể đổ cho dân được. Tôi bầu anh ra mà anh làm không đúng nhiệm vụ thì dân có thể bãi miễn anh.”
Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng không chấp nhận mô hình tam quyền phân lập của các cơ quan Hành pháp, Tư pháp, và Lập pháp như nhiều quốc gia phát triển hiện nay đang thực hiện nhằm kiểm soát quyền lực của nhau. Thay vào đó họ chủ trương tất cả các cơ cấu quyền lực đó thống nhất với nhau dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Ông Hà Sĩ Phu nói tiếp:
“Quốc hội ấy có phải do dân bầu đâu, mà là do đảng cử dân bầu. Thế thì cái việc anh làm trái với ý nhiệm của nhân dân, thì trách nhiệm chẳng những qui về cho các đại biểu quốc hội mà còn qui về sự lãnh đạo cao nhất là đảng nữa. Đảng cử ra, thế thì trách nhiệm quá lớn, chứ sao đổ về cho dân được. Nhân dân chúng tôi chẳng có liên quan đến các sai lầm của các ông cả.”

Hội nghị của các đại biểu Quốc hội về đầu tư hôm 11/4/2014 tại Hà Nội. Courtesy vov.
Trong thực tế thì đại đa số các đại biểu quốc hội ở Việt Nam là đảng viên cộng sản. Các cơ quan ngoại vi của đảng mang hình dáng các hội đoàn dân sự như Mặt trận Tổ quốc cũng do các đảng viên cộng sản nắm quyền lãnh đạo.
Những lời phát biểu về tầm quan trọng của các định chế nhà nước, hay sự cân đối quyền lực trong xã hội đôi khi được các nhà lãnh đạo Việt Nam trình bày không giống với sự hiểu thông thường của đại đa số. Hồi năm ngoái ông Nguyễn Phú Trọng đã từng phát biểu rằng Hiến pháp là văn bản quan trọng thứ hai sau Cương lĩnh của đảng cộng sản. Nhiều nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam trong đó có nhà văn Phạm Đình Trọng đã lên tiếng mạnh mẽ chỉ trích phát biểu này. Ông còn nói thêm rằng lời phát biểu của ông Tổng bí thư đảng là một sự nhận thức chứ không phải là một lời nói lỡ miệng.
Nay lại tới nhận thức về khái niệm nhân dân của ông chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.
Nhân dân là ai?
Vậy liệu có phải là những người cộng sản Việt Nam có sự lấn cấn nào đó trong khái niệm về Nhân dân. Trả lời câu hỏi này nhà văn Phạm Đình Trọng nói:




Họ lấn cấn trong khái niệm về cầm quyền thì đúng hơn là khái niệm về nhân dân. Theo họ thi cái gì đúng là của họ, cái gì sai là của dân.

-Phạm Đình Trọng
“Họ lấn cấn trong khái niệm về cầm quyền thì đúng hơn là khái niệm về nhân dân. Theo họ thi cái gì đúng là của họ, cái gì sai là của dân. Khái niệm cầm quyền đó đáng ra thuộc về nhân dân, nhưng họ coi cái việc cầm quyền của họ là đương nhiên. Giống như điều bốn Hiến Pháp vậy. Họ cho rằng sự cầm quyền của họ là bất khả xâm phạm và họ muốn nói gì thì nói. Theo tôi thì họ sai lầm trong khái niệm cầm quyền chứ không phải khái niệm về nhân dân.”
Diễn biến của phiên họp mà ông Nguyễn Sinh Hùng chủ trì lại một lần nữa đưa đến bài toán trách nhiệm tại Việt Nam. Trong những năm vừa qua không ít lần các nhà lãnh đạo Việt Nam thừa nhận là phải có một trách nhiệm cá nhân trong việc điều hành đất nước. Nhưng với cơ chế chính trị dân chủ tập trung mà cả ba cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp đều nằm một mối trong tay đảng cộng sản thì quả là khó khăn. Ông Nguyễn Sinh Hùng đã đưa trách nhiệm đó về Nhân dân.
Ông Hà Sĩ Phu nhận định về khái niệm Nhân dân của những người cộng sản:
“Người cộng sản họ hiểu và nói về nhân dân một cách không bình thường.

Tôi nghĩ thế này, họ cứ nói nhân dân sáng tạo ra lịch sử, nhân dân quyết định vận mệnh của đất nước. Không cần những cái câu sang trọng như vậy. Quan trọng là có nghe lời hay không.”
Dĩ nhiên không ai có thể xử phạt một Nhân dân cả. Nhưng, như nhiều người đồng ý là những người trên nguyên tắc làm đại diện cho dân thì khi làm sai phải bị phế truất.

Kính Hòa,
phóng viên RFA
Theo RFA

Những thách thức trong việc xây dựng thể chế dân chủ ở Việt Nam


Đất nước Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của sự thay đổi lớn lao nhất trong suốt chiều dài lịch sử. Tự do cho người dân Việt Nam và Dân chủ cho toàn xã hội. Đứng trước thời khắc lịch sử này, chúng ta, những cá nhân, những tổ chức đã chuẩn bị những gì để đóng góp vào công cuộc xây dựng thể chế dân chủ của đất nước? Nhìn sang các nước láng giềng Phi-lip-pin và Thái lan, các nước đã có nền dân chủ mấy chục năm, chúng ta không khỏi lo lắng, ái ngại. Xa hơn về không gian, nhưng gần hơn về thời gian xây dựng thể chế dân chủ là các nước “Mùa Xuân Ả Rập”, đặc biệt là Ai Cập, một đất nước hỗn loạn và ẩn chứa nhiều bất ổn. Ukraine, Nga, các nước đã chuyển đổi thể chế dân chủ từ sự sụp đổ nhanh chóng và khá bất ngờ của các chế độ Cộng sản, cũng lại là sự bất ổn, mong manh. Theo khảo sát tình trạng Dân chủ ở 167 quốc gia và cố gắng định lượng chỉ số dân chủ do tạp chí The Economist ở Anh tiến hành, chỉ có 28 quốc gia được đánh giá là các nước có chỉ số dân chủ đầy đủ, 53 quốc gia có thể chế dân chủ khiếm khuyết, 29 quốc gia có thế chế chính trị hỗn hợp, 54 quốc gia là chính thể chuyên chế. Một cách đánh giá bao quát hơn, trong số trên 150 quốc gia có đầy đủ các định chế của một nền dân chủ như: hiến pháp dân chủ, các đảng phái chính trị (đa nguyên, đa đảng), tam quyền phân lập, tự do ngôn luận, tự do báo chí, lập hội và hội họp…nhưng chỉ có trên dưới 30 quốc gia được xem là dân chủ tự do, số còn lại, hơn 120 nước được cho là chỉ có dân chủ trong tuyển cử. Tại sao các quốc gia đều có các định chế dân chủ như nhau, mà hơn 2/3 số nước lại không có được tự do thực sự của người dân?!? Với một tỷ lệ như vậy, khi Việt Nam chuyển sang chế độ dân chủ, chúng ta sẽ chen chân vào top 30 quốc gia dân chủ tự do, hay cũng sẽ nằm lại trong số hơn 120 quốc gia chỉ có dân chủ trong tuyển cử? Đành rằng chuyển từ thể chế độc tài toàn trị Cộng sản, sang một thể chế dân chủ khiếm khuyết (dân chủ tuyển cử) đã là một bước tiến vĩ đại đối với dân tộc Việt Nam. Người dân sẽ được tự do hơn rất nhiều, và mức sống cao hơn hẳn so với khi sống trong chế độ cũ. Nhưng ai cấm chúng ta, những người con dân đất Việt, tìm ra những khiếm khuyết và thiếu sót trong các thể chế dân chủ hiện hành và cách thức xây dựng thể chế dân chủ hiện nay trên thế giới, để từ đó khắc phục các khiếm khuyết, thiếu sót đó, xây dựng một nền dân chủ tự do thực sự cho đất nước Việt Nam.

Xây dựng thể chế dân chủ để đem lại tự do, dân chủ thực sự là một thách thức vô cùng lớn. Trước hết, đó là thách thức đặc thù, của một nước Việt Nam, với đầy đủ khó khăn và thuận lợi trong công cuộc xây dựng nền dân chủ vĩ đại. Nhưng thách thức lớn hơn nhiều, đó là vượt qua được lối mòn tai hại của cách thức xây dựng thể chế dân chủ phổ biến hiện nay trên thế giới.

I/ Những thách thức đặc thù Việt Nam trong quá trình xây dựng thể chế dân chủ

Việt Nam là một nước có thể chế chuyên chính, độc tài toàn trị Cộng sản. Nhưng có sự khác biệt hơn so với Liên Xô và các quốc gia Đông Âu trước khi sụp đổ, đó là Việt Nam đã có một thời gian khá dài hội nhập với thế giới. Nền kinh tế đã tiếp xúc, làm quen với kinh tế thị trường, các quan hệ quốc tế đã rộng mở, nhận thức của người dân có rất nhiều thay đổi từ tiến trình này. Tuy nhiên, về khía cạnh chính trị, nhà cầm quyền Việt Nam đã thành công trong việc độc quyền tồn tại một đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo đất nước. Cũng chính vì sự độc quyền về chính trị này, với sự can thiệp của chính trị vào tất cả các lĩnh vực (dù cách thức can thiệp có khác trước đây), nền kinh tế Việt Nam đã phá sản hoàn toàn, xã hội Việt Nam bị dồn nén cùng cực và sự sụp đổ của chế độ Cộng sản Việt Nam đã hiển hiện trước mắt. Hậu quả của việc chỉ có một đảng chính trị (đảng Cộng sản Việt Nam) thật là tai hại trong hoàn cảnh chế độ sụp đổ không có lực lượng chính trị thay thế.

1/ Thách thức lớn - không có lực lượng chính trị thay thế

Chúng ta đều biết rằng, khi một chế độ sụp đổ, nếu có lực lượng chính trị thay thế, xã hội sẽ giảm bớt được rất nhiều sự hỗn loạn, không có khoảng trống quyền lực, một hoàn cảnh nguy hiểm đưa tới thời cơ cho những kẻ cơ hội chính trị. Bối cảnh về các lực lượng chính trị tại Việt Nam hiện nay, chỉ có một đảng chính trị, là đảng Cộng sản, các lực lượng đối lập có một số tổ chức ở hải ngoại nhưng chưa xây dựng được cơ sở tại Việt Nam (về cơ bản). Khi sự sụp đổ chế độ xảy ra, đảng Cộng sản là thủ phạm đưa đất nước vào ngõ cụt dẫn tới sự sụp đổ chắc chắn không còn vai trò, tiếng nói gì (với tư cách một lực lượng chính trị) trong việc xây dựng chế độ mới. Các đảng phái hải ngoại, dù có chuyển toàn bộ bộ máy từ nước ngoài về trong nước, cũng không thể kịp xây dựng thành một tổ chức hoàn chỉnh để có thể thay thế vai trò của đảng Cộng sản Việt Nam. Người dân trong nước, trừ một số người tham gia và quan tâm tới vấn đề đấu tranh dân chủ, phần lớn còn chưa biết tới sự tồn tại của các tổ chức, đảng phái đó. Chính vì vậy, cần có một thời gian để xây dựng các tổ chức chính trị. Hệ quả của việc không có một lực lượng chính trị thay thế, là các lực lượng chính trị, các tổ chức đảng phái sau này được lập ra, hoặc được đưa từ nước ngoài về (để hoàn thiện) có vai trò như nhau, không có lực lượng nào, tổ chức nào chiếm ưu thế. Điều này đòi hỏi một quá trình làm việc chung, vừa hợp tác vừa đấu tranh, những hoạt động rất xa lạ với phần lớn người dân trong nước.

2/ Phần lớn người dân bất ngờ khi chế độ sụp đổ, cả xã hội chưa có sự chuẩn bị cho việc thay đổi chế độ.

Không chỉ có những người dân thường, kể cả những người đấu tranh dân chủ, rất nhiều người không nghĩ, và không tin chế độ Cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ trong tương lai gần. Đây là điều hết sức bình thường, ngoài việc sự kiện sụp đổ của một chế độ là vấn đề quá lớn, quá phức tạp thì nguyên nhân khiến cho phần lớn người dân bất ngờ và không nghĩ có sự thay đổi chế độ trong thời gian ngắn tới đây là do:

- Hàng ngày, hàng giờ người dân tiếp xúc với hệ thống công quyền của chế độ, vẫn thấy nó hùng vĩ và không có gì thay đổi so với trước đây.

- Người dân bị bưng bít thông tin về những vấn nạn kinh tế, xã hội, chính trị. Về kinh tế, số liệu không chính xác và bị bóp méo, cũng như cách giải thích né tránh khủng hoảng sâu sắc và toàn diện của nền kinh tế. Về xã hội, chính trị, họ không biết được quá trình cướp đất của quan chức, của nhà nước đã tạo ra đội ngũ dân oan hàng triệu người trên khắp mọi miền đất nước. Sự đàn áp và dồn nén không trừ một tôn giáo nào khiến cho hàng triệu tín đồ phẫn nộ. Sự nhu nhược của nhà cầm quyền trước sự thôn tính và bành trướng của Trung Quốc trên biển Đông và trên khắp đất nước khiến cho bao thanh nien, trí thức căm phẫn, uất hận…tất cả là một sự dồn nén đến cùng cực của xã hội.

- Điều quan trọng nhất, rất nhiều người không nghĩ và không tin có sự thay đổi chế độ trong tương lai gần là do người ta không nhìn thấy lực lượng nào, tổ chức nào thách thức sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt nam. Người ta luôn nghĩ, muốn thay đổi một chế độ thì phải có lực lượng thách thức, đánh đổ đảng Cộng sản và thể chế hiện thời. Người ta không biết, không nghĩ và không tin rằng, chế độ Cộng sản Việt Nam có thể sụp đổ chỉ giản dị là hết tiền để nuôi, duy trì hệ thống khổng lồ, giúp cho đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo đất nước. Người ta không biết rằng, sự cạn kiệt nguồn lực của chế độ đã đến cùng lúc với một nền kinh tế hoang tàn, niềm tin đổ vỡ hoàn toàn, cùng sự dồn nén cùng cực của rất nhiều giai tầng trong xã hội. Chính vì vậy mà tuy sống trong khó khăn, cảm nhận sự bức bối, nhưng phần lớn người dân không nghĩ rằng sẽ có sự sụp đổ của chế độ trong tương lai gần.

Đây là thách thức không nhỏ, cho quá trình xây dựng thể chế dân chủ. Bởi vì người dân quá bất ngờ, sự hoảng loạn sẽ diễn ra rất khốc liệt gây ra rất nhiều khó khăn cho quá trình xây dựng thể chế dân chủ trong tương lai.

3/ Phần lớn người Việt nam chưa có kỹ năng làm việc tập thể một cách tự nguyện, các tổ chức, lực lượng chính trị chưa có kinh nghiệm hợp tác, đối thoại trong những công việc chung.

Như chúng ta biết, người dân Việt Nam có nhiều phẩm chất tốt, cao đẹp, nhưng cũng có nhiều nét tính cách hạn chế, khiếm khuyết. Một trong số hạn chế lớn là khả năng, kỹ năng làm việc chung, tập thể. Có nhiều người gọi khiếm khuyết này, ở phạm vi hẹp, là kỹ năng làm việc theo nhóm. Ở quy mô lớn hơn, gọi là văn hóa tổ chức. Đây đúng là hạn chế, khiếm khuyết lớn trong quá trình xây dựng thể chế dân chủ trong tương lai. Thực ra, từ trước tới nay, người Việt Nam chúng ta cũng vẫn làm việc trong nhiều tổ chức khác nhau. Tuy nhiên, đó là việc làm có tính chất bắt buộc (tham gia các đoàn thể), làm việc ở cơ quan. Nhưng những công việc xây dựng thể chế dân chủ, tính chất tự nguyện rất rõ nét và chiếm ưu thế, thì chúng ta yếu và thiếu trầm trọng kỹ năng cũng như kinh nghiệm làm việc. Mặt khác, do chưa có các tổ chức chính trị, đoàn thể tự nguyện, nên chúng ta cũng rất hạn chế trong việc phối hợp, hợp tác và đối thoại giữa các tổ chức, đơn vị đoàn thể với nhau cho các công việc chung. Ở hải ngoại, chúng ta cũng có một số tổ chức, đoàn thể nhưng kinh nghiệm qua nhiều năm cho thấy, hiệu quả phối hợp, làm việc chung và đối thoại rất hạn chế và khiêm tốn.

Đi sâu vào nghiên cứu lịch sử, chúng ta biết rằng, trước đây tổ tiên của chúng ta, thậm chí đời ông của chúng ta hiện nay, cũng không phải không có kinh nghiệm làm việc chung. Chúng ta có “lệ làng” ở tất cả các vùng nông thôn, được tổ chức và điều hành hoạt động rất hay và hiệu quả. Nhưng đến thời kỳ Cộng sản, những nét tính cách, văn hóa đó bị phá hủy vì bị đánh đồng với văn hóa phong kiến. Đây là điều vô cùng đáng tiếc. Sau khi mở cửa, hội nhập, những nét văn hóa và lễ hội đang dần được phục hồi, đi kèm theo là cách thức làm việc chung, tự nguyện đang được gây dựng trở lại.

Trên đây là khái quát những khó khăn, thách thức đặc thù trong quá trình xây dựng thể chế dân chủ trong tương lai. Còn rất nhiều thách thức đặc thù Việt Nam trong việc này, như tâm lý bầy đàn khá đậm nét của người Việt Nam, thói háo danh, hư danh và sĩ diện cũng rất trầm trọng. Hạn chế về những kiến thức xã hội, nhân văn và quản trị xã hội trong môi trường giáo dục Việt nam cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới tiến trình xây dựng nền dân chủ. Tuy nhiên, với tất cả các thách thức đặc thù Việt nam, cũng chỉ chiếm 30% nỗi lo lắng, lo ngại Việt Nam không xây dựng thành công thể chế dân chủ hiệu quả. Số phần trăm còn lại, 70% lo lắng giành cho việc chúng ta sẽ rơi vào “lối mòn tai hại’ của việc xây dựng thể chế dân chủ hiện nay trên thế giới. Mặt khác, nếu chúng ta thoát được “lối mòn tai hại” của việc xây dựng nền dân chủ, chúng ta sẽ dễ dàng giải quyết các thách thức đặc thù của Việt nam.

II/ Thách thức lớn nhất: khiếm khuyết, nhầm lẫn và thiếu sót trong quá trình xây dựng thể chế dân chủ phổ biến hiện nay trên thế giới.

1/ Khảo sát sơ lược các nền dân chủ, một số vấn đề lý luận

Như phần đầu bài viết có đề cập, thế giới có trên 150 quốc gia, có thể chế dân chủ, nhưng chỉ có xấp xỉ 30 quốc gia, có được dân chủ tự do. Cách xem xét về chỉ số dân chủ, cũng cho kết quả tương tự, gần 30 quốc gia có chỉ số dân chủ đạt mức dân chủ đầy đủ. Vấn đề là, tất cả 150 quốc gia ấy, đều cơ bản có các định chế dân chủ, bao gồm hiến pháp dân chủ, cơ chế tam quyền phân lập, các quyền con người tự nhiên và dân sự…mà tại sao chỉ có chưa đến 30 quốc gia có tự do cho người dân. Điều này cũng có nghĩa là, phần lớn các quốc gia có đầy đủ các định chế dân chủ nhưng người dân chỉ có dân chủ trong tuyển cử, chứ không có dân chủ tự do thực sự. Tại sao và vì sao???

Đi sâu vào xem xét, trong số gần 30 quốc gia đạt được dân chủ tự do, hay chỉ số dân chủ đạt mức dân chủ đầy đủ, chúng ta thấy có ba trường phái để xem xét, nghiên cứu. Đầu tiên là Nhật, Đức, hai quốc gia xây dựng thể chế dân chủ sau khi chế độ độc tài đổ vỡ hoàn toàn, nhưng lại có bước tiến thần kỳ nhất. Tiếp theo là những quốc gia châu Âu, điển hình là các nước Tây-Bắc Âu. Cuối cùng là trường hợp của Hoa Kỳ.

Trường hợp của Nhật, Đức, chúng ta không thấy có một sự khác biệt nào về hiến pháp, về các định chế dân chủ so với các quốc gia khác. Đồng thời, chúng ta cũng không nghe ai nói, ca ngợi gì về nền dân chủ của hai nước này. Vậy sự thần kỳ có được là do đâu? Trước hết, cả hai quốc gia đều có truyền thống dân chủ trước khi các chế độ độc tài được lập ra và bị xóa sổ. Nhưng quan trọng hơn, người Nhật và người Đức đều có các yếu tố quý giá sau đây trong tính cách, văn hóa dân tộc: tự trọng, kỷ luật và tự tôn dân tộc rất cao. Điều này có nghĩa là, cùng thể chế dân chủ như nhau (mới chỉ là điều kiện cần), họ còn có các yếu tố văn hóa và tâm lý dân tộc giúp cho đất nước và nền dân chủ phát triển, đạt được các kết quả thần kỳ đó. Cũng không thể bỏ qua một yếu tố nhỏ khách quan, là sự hỗ trợ tuyệt đối của Mỹ sau thế chiến thứ hai cho hai quốc gia này.

Đối với các nước Tây - Bắc Âu, cũng có nét tương tự, tuy rằng biểu hiện có khác nhau. Chúng ta cũng chỉ nghe nói, các nước Bắc Âu, có cuộc sống và mức phúc lợi cao, chứ cũng chưa hề nghe nói về nền dân chủ có sự khác biệt nào về thể chế so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, các quốc gia Tây - Bắc Âu có truyền thống dân chủ lâu đời, lại nằm trong vòng ảnh hưởng của đạo Cơ Đốc, đạo Tin Lành, những tôn giáo có sự khoan dung, chấp nhận các khác biệt ở mức độ cao. Như vậy, tâm lý và văn hóa của các quốc gia châu Âu cũng vẫn là yếu tố quan trọng để góp phần xây dựng nền dân chủ tự do của họ.

Vậy có quốc gia nào, mà sự phát triển của đất nước họ, tự do của người dân chỉ đơn thuần dựa vào thiết chế dân chủ của họ không? Câu trả lời: Có! đó chính là Hoa Kỳ. Tại sao? Tại vì Hoa Kỳ là quốc gia đa sắc tộc, đa tính cách và đa văn hóa (Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ). Họ không có một dân tộc thuần nhất (đã hình thành) trước khi xây dựng thể chế dân chủ. Đồng thời, quá trình xây dựng thể chế dân chủ cũng chính là quá trình dung nạp các dân tộc, các nền văn hóa khác nhau. Chúng ta không thể nói, Hoa Kỳ là dân tộc có tâm lý và văn hóa phù hợp với sự phát triển được, mà chúng ta chỉ có thể nói, sự phát triển của nền dân chủ, của đất nước Hoa Kỳ là do chính từ thể chế dân chủ của nó. Đây là kết luận vô cùng quan trọng và giá trị, có nghĩa là các quốc gia có thể xây dựng thể chế dân chủ bảo đảm tự do của người dân và khả năng phát triển đất nước không phụ thuộc vào tâm lý và văn hóa dân tộc. Đây cũng chính là điều mà nền dân chủ Hoa Kỳ được ca ngợi và học theo trên toàn thế giới.

Một câu hỏi quan trọng tiếp theo, vậy tại sao, các quốc gia chuyển đổi thể chế, chế độ xã hội sau này (thậm chí hiện nay), có đầy đủ hiến pháp, cơ chế tam quyền phân lập, quyền tự do ứng cử và bầu cử, tự do lập hội và hội họp, tự do ngôn luận và báo chí, …có các cơ quan đại diện pháp luật không thiếu và không kém gì Hoa Kỳ lại không thể phát triển được như vậy?

Phải chăng các nền dân chủ sau này chưa tìm được các nguyên lý, yếu tố cốt lõi quyết định tự do cho người dân và sự phát triển của nền dân chủ và đất nước Hoa Kỳ để từ đó xây dựng thể chế dân chủ đặt trọng tâm và xoay quanh các nguyên lý và yếu tố đó?

(câu trả lời đầy đủ và rõ ràng có trong cuốn sách Dân Chủ - Nguyễn Vũ Bình)

Câu trả lời là đúng như vậy, tất cả các lý thuyết và sách báo về vấn đề dân chủ không chỉ ra được, đâu là những nguyên lý cốt lõi, đâu là yếu tố hạt nhân của nền dân chủ Hoa Kỳ và làm thế nào để xây dựng, thực hiện, thực thi được các nguyên lý, yếu tố đó. Khi tôi đi vào tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết, nguyên lý về tự do, về dân chủ, về việc xây dựng thể chế dân chủ, tôi đã vô cùng sửng sốt khi phát hiện ra rằng, không có một định nghĩa chung về dân chủ. Thật kỳ lạ! các sách báo còn chỉ ra rằng, tính đến những năm 60 của thế kỷ XX, có trên 500 định nghĩa, khái niệm về dân chủ!!! Chúng ta biết rằng, định nghĩa, khái niệm của một thuật ngữ chính là để chỉ ra yếu tố cốt lõi nhất của nội hàm khái niệm đó. Vậy mà chúng ta có, tính đến những năm 60 thế kỷ trước, trên 500 định nghĩa, có nghĩa là chưa chỉ ra được yếu tố cốt lõi, của khái niệm, của nền dân chủ. Như vậy, việc chưa tìm ra các yếu tố, nguyên lý cốt lõi và cách thức xây dựng, thực hiện và thực thi các yếu tố đó trong các thể chế dân chủ sau này chính là nguyên nhân dẫn tới các nền dân chủ chỉ dừng lại ở mức dân chủ tuyển cử, không có được nền dân chủ tự do mà người dân hằng mong đợi.

2/ Những yếu tố cốt lõi của thể chế dân chủ và thách thức trong việc xây dựng thể chế dân chủ trong tương lai.

a/ Những yếu tố cốt lõi của thể chế dân chủ

Có hai yếu tố quan trọng nhất của thể chế dân chủ Hoa Kỳ, giúp cho thể chế này vượt qua mọi cam go, thử thách đưa nhân dân và đất nước Hoa kỳ tới vị thế ngày nay trên thế giới. Thứ nhất, đó là sự bình đẳng của các cá nhân, của mọi công dân trước pháp luật. Đây chính là tiền đề của dân chủ. Thứ hai, ý thức tự bảo vệ quyền con người của mỗi cá nhân, khi có các cơ chế thực hiện, sẽ trở thành khả năng tự bảo vệ các quyền con người của mỗi cá nhân trong xã hội. Đối với xã hội Hoa Kỳ, sự bình đẳng ban đầu của những cá nhân tham gia xây dựng thể chế dân chủ là tự nhiên (quá trình xây dựng thể chế dân chủ Hoa Kỳ cũng chính là quá trình hình thành và xây dựng quốc gia Hoa Kỳ), còn đối với tất cả các quốc gia khác sau này, đó là quá trình xây dựng tiền đề của dân chủ: Là sự chấp nhận và thừa nhận sự khác nhau và khác biệt của mỗi cá nhân con người, mỗi một nhóm người, tập thể đại diện cho từng sắc tộc, tôn giáo, vùng và địa phương.

Ý thức tự bảo vệ quyền con người của người dân được bảo đảm bới các yếu tố: 1- nhận thức của người dân về tự do, dân chủ; 2- sự tham gia trực tiếp của người dân vào việc xây dựng thể chế dân chủ; 3- cơ chế bảo vệ quyền con người để người dân có thể tự bảo vệ quyền con người của mình.

b/ Thách thức lớn nhất trong việc xây xây dựng thể chế dân chủ trong tương lai

Các nước chuyển đổi thể chế chính trị, từ các hình thức độc tài sang thể chế dân chủ phần lớn thực hiện các bước đi và hoạt động sau: Xây dựng hiến pháp (phần lớn thuê các chuyên gia hiến pháp nổi tiếng thế giới); định hình các đảng phái chính trị; ấn định lịch trình bầu cử, công bố và xin ý kiến nhân dân về hiến pháp mới…Điều đáng lưu ý là các hoạt động này được tiến hành trước hết và chủ yếu trên bình diện quốc gia. Các hoạt động xây dựng thể chế dân chủ vùng và địa phương được thực hiện sau và không phải là trọng tâm xây dựng thể chế dân chủ của các quốc gia. Nội dung xây dựng thể chế dân chủ của các quốc gia bao gồm: Xây dựng cơ chế tam quyền phân lập; xây dựng các thiết chế luật pháp bảo đảm các quyền tự do cá nhân của con người, ví dụ quyền sống, quyền sở hữu tài sản, quyền tự do ngôn luận…; xây dựng các thiết chế, luật pháp bảo đảm quyền công dân (quyền tự do chính trị, dân sự), ví dụ quyền tự do ứng cử và bầu cử, tự do hội họp và lập hội, tự do báo chí…

Thông qua cách thức và nội dung xây dựng thể chế dân chủ hiện nay trên thế giới, chúng ta có nhận xét sau:

* Việc xây dựng thể chế dân chủ chủ yếu trên bình diện quốc gia. Vai trò của người dân là hết sức mờ nhạt.

* Không có sự nhấn mạnh, ưu tiên nào trong tất cả các định chế được đề cập

* Không có cơ chế để người dân tự bảo vệ quyền con người của mình

Có thể hình dung, toàn bộ quá trình xây dựng thể chế dân chủ trên thế giới hiện nay mới chỉ xây dựng phần “xác” của thể chế dân chủ. Phần “hồn” của thể chế dân chủ, chính là nhận thức của người dân về tự do, dân chủ, về cách thức xây dựng tự do dân chủ; sự tham gia của người dân trong xây dựng thể chế dân chủ; và cuối cùng, ý thức và khả năng tự bảo vệ quyền con người của người dân mới giúp cho thể chế dân chủ hoạt động hiệu quả, có cả xác và hồn.

  Nguyễn Vũ Bình
**********************
Chúng ta đang đứng trước một cơ hội lớn, xây dựng thể chế dân chủ từ con số không, giống như một ngôi nhà cũ được đập bỏ và xây mới hoàn toàn. Dù có rơi vào “lối mòn tai hại” trong cách thức xây dựng thể chế dân chủ hiện nay, thì nhân dân và đất nước cũng bước sang một trang sử mới. Sức bật của đất nước gần 100 triệu người dân vừa thoát khỏi chế độ độc tài là rất đáng kể. Tuy nhiên, nếu nhận thức được những hạn chế của phần lớn các nền dân chủ hiện nay, chúng ta có thể tránh được các giới hạn, tạo lập một thể chế dân chủ hiệu quả, tạo ra sự khác biệt và rút ngắn được thời gian tiến kịp các nước phát triển hiện nay. Chúng ta sẽ có cơ hội, chúng ta cần nhận thức và quyết tâm, để xây dựng thể chế dân chủ cả thế giới phải ngưỡng mộ và học tập, chúng ta hãy cùng nhau xây dựng Giấc Mộng Việt Nam./.

(Xin mời quý vị đón đọc bài cuối cùng trong loạt bài này: Nắm tay nhau xây dựng nền Dân chủ: Giấc Mộng Việt Nam)
Hà Nội, ngày 14/4/2014
© Nguyễn Vũ Bình

Hội nhập hay tiếp tục đấu tranh?

Theo quan điểm của tôi những người đấu tranh rất dũng cảm như anh Cù Huy Hà Vũ thì nên ở lại Việt Nam, để cùng với phong trào đấu tranh dân chủ trong nước đấu tranh chống độc tài. -LS Nguyễn Văn Đài
TS Cù Huy Hà Vũ và vợ LS Nguyễn Thị Dương Hà xuống phi trường Dulles International Airport, ngày 7 tháng 4 năm 2014.
Nghe tường trình
Trong khi dư luận tiếp tục xôn xao khi nhà cầm quyền Việt Nam trong những ngày qua trả tự do trước hạn tù cho một số nhà bất đồng chính kiến hàng đầu trong nước, từ người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu, thầy Đinh Đăng Định vốn vừa vĩnh viễn ra đi để lại nhiều thương tiếc, rồi mới đây là trường hợp các tù nhân lương tâm Vi Đức Hồi, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, thì chuyện nhà bất đồng chính kiến hàng đầu khác của Việt Nam, TS Cù Huy Hà Vũ, được phóng thích cũng trước hạn tù nhưng phải đột ngột rời quê hương để đi Hoa Kỳ trị bệnh khiến dư luận lại càng xôn xao.
Bị truy đuổi nhưng không thể bị quật ngã
Công luận nói chung thắc mắc về nguyên nhân thật sự khiến ông rời khỏi quê hương; sự vắng bóng của ông trong nước có thể ảnh hưởng ra sao tới công cuộc đấu tranh của phong trào dân chủ quốc nội; và liệu ông hội nhập hay tiếp tục đấu tranh như thế nào trong cuộc sống lưu vong…
Qua bài “Từ bờ bên kia”, blogger Đặng Ngữ khẳng định rằng không ai có quyền trách TS Hà Vũ về việc ông đồng ý tới Mỹ cũng đồng nghĩa là “chấp nhận đánh đổi tự do lựa chọn lấy định mệnh của mình”. Nhưng tác giả lưu ý:
“Con đường phía trước sẽ cần đến những con người có tầm cỡ, những người sẵn lòng dàn xếp vì sự tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người chứ không phải những kẻ ngoan cố có thái độ muốn giành tất cả hoặc không có gì. Nhưng con đường phía trước cũng rất cần những người chính trực, những người không đánh đổi niềm tin chính trị bằng bất cứ một sự thỏa hiệp nào. Đó là thực tiễn chính trị. Cù Huy Hà Vũ chắc chắn không đạt đến tầm cỡ ấy. Nhà tù không thể treo cổ được niềm tin. Nhưng chính trị lưu vong đôi khi lại làm tốt nhiệm vụ của tên đao phủ. Ở các xã hội khác, người ta không bao giờ coi một người sinh sống ở nước ngoài là những kẻ bỏ chạy hay phản bội. Nhưng ở Việt Nam chẳng có gì giống như thế cả. Không có truyền thống tự do cá nhân như phương Tây, lại bị các truyền thống cổ hủ đè nén, người dân có khuynh hướng xem những người di cư ra nước ngoài là những người bỏ chạy.”




Ở các xã hội khác, người ta không bao giờ coi một người sinh sống ở nước ngoài là những kẻ bỏ chạy hay phản bội. Nhưng ở Việt Nam chẳng có gì giống như thế cả.

-Blogger Đặng Ngữ
Tác giả mong rằng TS Cù Huy Hà Vũ không bị “lọt thỏm và mất hút vào ‘lỗ đen’ chính trị lưu vong”. Và cho dù ông ở Mỹ một thời gian hay ở lại mãi mãi, thì tác giả vẫn hy vọng rằng TS Cù Huy Hà Vũ thuộc trong “thiểu số đầy năng động bị truy đuổi nhưng không thể bị quật ngã”.
Blogger Kami nhận thấy có không ít người bày tỏ thất vọng trước việc “TS Luật Cù Huy Hà Vũ đã chấp nhận đi thẳng từ nhà tù ra sân bay Nội bài đến Hoa Kỳ để tỵ nạn chính trị”, mà, Kami lưu ý, “theo họ thì đó là việc chấp nhận ra đi khi biết rằng không có cơ hội quay trở lại Việt Nam, đó là hành động đồng nghĩa với sự chấp nhận thoái lui, lùi bước của TS Cù Huy Hà Vũ trên con đường tranh đấu của ông”.
Sau khi lưu ý về chuyện bỏ nước ra đi của các nhà đấu tranh cho dân chủ, các cựu tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị là “việc bất đắc dĩ mà họ buộc lòng phải chấp nhận, khi cuộc sống của họ và của gia đình họ bị chèn ép gây khó dễ từ phía chính quyền”, “trong điều kiện họ không còn một sự lựa chọn tốt hơn cho mình, mà tỵ nạn chính trị ở quốc gia khác là lựa chọn khả dĩ nhất”, blogger Kami khẳng định:
“Mọi người sinh ra đều có quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc. Những người đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam cũng vậy, họ cũng có quyền lựa chọn cho mình và gia đình một cuộc sống an toàn hơn, tốt đẹp hơn. Ít nhất họ là những người đã từng chấp nhận hy sinh để tranh đấu cho một đất nước Việt Nam tốt đẹp hơn và cái giá phải trả của họ là những năm tháng tù đầy. Chúng ta không có bất cứ quyền gì để buộc họ ở lại để tiếp tục tranh đấu, và càng không có quyền coi họ là những người bỏ cuộc hay thoái lui…”
Blogger Kami không quên lưu ý rằng TS Cù Huy Hà Vũ đã cống hiến và hy sinh quá nhiều trong công cuộc đấu tranh nhằm thiết lập một nhà nước pháp quyền, trong đó luật pháp phải được thượng tôn và bất khả xâm phạm ở Việt Nam. Do đó, vẫn theo Kami, việc ông quyết định đi chữa bệnh dài hạn ở Hoa Kỳ, dù phần nào không có lợi cho phong trào dân chủ quốc nội so với sự hiện diện của ông trong nước, thì những quyết định của ông, do ông và vì ông trước mắt xứng đáng được tôn trọng… Nhưng Kami tin rằng TS Cù Huy Hà Vũ sẽ tiếp tục “sứ mạng đấu tranh còn dang dở”, “sẽ không bỏ cuộc” vì, blogger Kami phân tích, “một người hội đủ các yếu tố cần có như TS Cù Huy Hà Vũ sẽ không dễ mà tự bỏ cuộc chơi”.

Khi nói về chuyện nhà cầm quyền Việt Nam luôn đẩy những cựu tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm và cả gia đình họ vào bước đường cùng, MS Nguyễn Trung Tôn từ trong nước nhớ lại:
“Vào năm 2006 gia đình tôi bị họ kéo vào đập phá nhà cửa, lúc đó là lúc tăm tối nhất. Gia đình tôi bị đàn áp khốc liệt, các con tôi không dám đến trường vì bị bạn bè đánh, vợ tôi buôn bán kinh doanh ở chợ thì không có người mua, không được thu xếp chỗ ngồi, ruộng của tôi không cấy được vì họ không cho lấy nước. Rồi bố mẹ tôi già yếu bị họ chửi và nhổ nước miếng vào mặt.”
Và từ Hoa Kỳ, cựu tù nhân chính trị Nguyễn Ngọc Quang lưu ý:
“Tôi không còn một con đường nào hết ở VN. Do đó buộc lòng tôi phải đào thoát khỏi VN. Tôi không nói đào thoát khỏi VN để đi đến nước nào, mà rời khỏi VN trước hết để bảo tòan cái mạng sống của mình.”
“Chọn lựa của đời người”
Qua bài “Chọn lựa của đời người”, blogger Trần Trung Đạo đề cập đến TS Cù Huy Hà Vũ và “ngọn núi Everest đang chờ” ông. Nhà văn Trần Trung Đạo nhận thấy ở “trong nước Cù Huy Hà Vũ đã trở thành niềm thôi thúc của tuổi trẻ dấn thân. Ngoài nước, Cù Huy Hà Vũ đứng hàng đầu trong danh sách tù nhân mà các tổ chức nhân quyền dùng để gây áp lực cho CSVN”, và, vẫn theo nhà văn Trần Trung Đạo,TS Cù Huy Hà Vũ có thể nói đã một mình tạo nên một “phong trào đấu tranh đầy sinh động”, cách đấu tranh của ông lại “dễ gây phong trào quần chúng và gây khó cho lãnh đạo CS”. Do đó, tác giả Trần Trung đạo lưu ý, đã có nhiều bạn trẻ khóc, xuống đường, thậm chí bị tù vì tranh đấu cho ông khi ông lâm nạn; và nhiều cụ già đã bày tỏ sự cảm thương cho cảnh tù đày của ông. Nhưng tác giả cho rằng thay vì trở về với bạn bè cùng tranh đấu cho công cuộc vận động dân chủ vốn đang rất cần ông, với phong trào bảo vệ Hoàng Sa Trường Sa mà ông từng gắn bó, thì việc ông từ nhà tù sang Mỹ ngay đã làm sửng sốt nhiều người, khiến không ít người thất vọng, lo lắng, thậm chí buồn phiền... Tác giả nhận xét:
“Ngoài việc can đảm, gan dạ, với tuổi trung niên, anh là chất keo nối kết các tầng lớp xã hội. Quốc tế nhìn anh như một lãnh tụ đấu tranh nổi bật của giai đoạn này và luôn dùng để gây áp lực nhân quyền với chế độ. Nhưng chất keo đó chỉ còn là những giọt nước mưa rớt rơi trên mặt phi đạo khi chuyến bay mang anh đi vừa cất cánh…

Nếu anh chỉ muốn có cuộc sống bình an, đọc sách, họa, nghiên cứu luật sẽ không có gì để nói, nhưng nếu anh tiếp tục dấn thân trên đường đấu tranh như đã từng làm thì trước mặt là đỉnh Everest đang đợi chờ anh.”




Theo quan điểm của tôi những người đấu tranh rất dũng cảm như anh Cù Huy Hà Vũ thì nên ở lại Việt Nam, để cùng với phong trào đấu tranh dân chủ trong nước đấu tranh chống độc tài.

-LS Nguyễn Văn Đài
Rồi nhà văn Trần Trung Đạo có “một góp ý chung” cho tất cả những người ra đi, dù ra đi bằng thuyền như chính tác giả hay bằng máy bay như các lãnh tụ đấu tranh, thì “xa đất nước là một bất hạnh và ra đi, dù viện dẫn bất cứ một lý do gì, cũng có lỗi với quê hương”.
Theo LS Nguyễn Văn Đài thì chuyện TS Cù Huy Hà Vũ ra đi “là một thất bại và mất mát của phong trào Dân chủ và những người dân đang khao khát tự do. Chúng ta đã không đủ sức mạnh để buộc chính quyền thả tự do cho Tiến sĩ Vũ tại Việt Nam. Để ông tiếp tục đóng góp cho tiến trình dân chủ hóa đất nước. Và (đây) là một thành công của chính quyền CS, bởi họ đã đạt được 2 mục tiêu: Đáp ứng đòi hỏi của quốc tế và trục xuất được một người kiên cường đấu tranh đòi đa đảng". Lên tiếng với Đài ACTD, LS Nguyễn Văn Đài cho biết:
“Đầu tiên tôi cũng rất vui mừng vì anh Cù Huy Hà Vũ đã thoát ra khỏi cái nhà tù rất khắc nghiệt ở Việt Nam, nhưng khi biết anh phải sang Mỹ thì nó cũng là một nỗi buồn. Vì theo quan điểm của tôi những người đấu tranh rất dũng cảm như anh Cù Huy Hà Vũ thì nên ở lại Việt Nam, để cùng với phong trào đấu tranh dân chủ trong nước đấu tranh chống độc tài để đem lại tự do cho 90 triệu người dân Việt Nam.”
Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh lưu ý tới một số trường hợp “bỗng nhiên được nhà nước gia ân, trả tự do hoặc ‘đặc xá’, như tù nhân thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu, thầy Đinh Đăng Định (các tù nhân lương tâm Vi Đức Hồi, Nguyễn Tiến Trung) và bây giờ là Cù Huy Hà Vũ.”
Qua bài “Khi đảng thả con tin”, blogger JB Nguyễn Hữu Vinh nhận thấy thoạt nghe động thái đó của nhà cầm quyền, nhiều người “ít am tường” nêu lên những câu hỏi, như:
“Phải chăng nhà nước đã phần nào hiểu ra rằng những con người kia vô tội, rằng việc bắt bớ, giam cầm con dân vô tội của mình là hành động tự sát?

Hay câu trả lời từ thực tế Bauxite Tây Nguyên đã như gáo nước lạnh dội thẳng vào mặt nhà nước làm bừng tỉnh những bộ óc đang mê muội hướng theo “Chủ trương lớn của đảng” trong vụ Bauxite, nên đây là động tác ăn năn?

Hoặc đây là sự khởi đầu cho một cuộc thay đổi như Cuba, một độc tài Cộng sản, người “anh em” của Việt Nam đã thả hàng loạt tù nhân chính trị gần đây?

Hay chính phủ Việt Nam đã biết ngượng khi ông Thủ tướng Việt Nam mới gần đây yêu cầu Miến Điện cải thiện tình hình dân chủ, nên bây giờ học tập phong trào thả tù chính trị hàng loạt và cho đảng đối lập hoạt động cho phần nào đỡ bẽ mặt?

Hoặc vì Việt Nam mới đây đã là thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nên nhà nước chứng tỏ cho thế giới thấy rằng: Tớ đây cũng chẳng đến mức nào như các bạn đã đánh giá?

Hay vì lãnh đạo đảng và nhà nước đã nhận thức được rằng: Việc giam giữ các tù nhân lương tâm chẳng có lợi gì cho đất nước, cho dân tộc mà ít nhất cũng làm cho bộ mặt nhà nước nhem nhuốc hơn về lĩnh vực quyền con người, nhất là xã hội sẽ bị bóp nghẹt và không thể tiến bộ?”
Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh “Xin thưa là không phải thế! Những giả thiết, những câu hỏi trên vẫn là chuyện hoang đường hiện nay”. Nhà nước VN luôn tuyên bố “Ở VN không có tù nhân chính trị, không có tù nhân lương tâm’’, nhưng, nhà báo JB Nguyễn Hữu Vinh dẫn chứng, “những người được đảng và nhà nước đưa ra mặc cả không phải là những tội phạm lừng lẫy như Dương Chí Dũng, như Năm Cam… mà lại là những nhân sĩ, trí thức, những người yêu đất nước, dân tộc, ghét chế độ độc tài, căm thù bọn bán nước. Để rồi, họ sẽ được đưa ra mặc cả, làm giá và đánh đổi khi đảng cần một thành tích nhân quyền nào đó”.
Tạp chí Điểm blog xin tạm dừng ở đây. Thanh Quang kính chào tạm biệt quý vị.
Thanh Quang,
phóng viên RFA

Vụ 5 công an nhục hình chết nghi can: “Án bỏ túi” bẻ cong pháp luật

Nói như lời một luật sư ở TP.HCM: "Nội dung trả lời của ông Chánh án tòa Tuy Hòa đã khái quát toàn bộ thực trạng của ngành tòa án hiện nay”.

Liên quan đến vụ 5 công an dùng nhục hình tại Phú Yên, trả lời báo chí trong nước sau bản án “nhẹ hều” của Tòa dành cho 5 bị cáo, ông Lương Quang - Chánh án TAND Tuy Hòa đã thừa nhận “Tòa đã phải chịu rất nhiều áp lực”, khó thẳng tay trừng trị 5 người nguyên là công an Tuy Hòa.

Xung quanh câu chuyện làm thế nào để tòa án luôn giữ được vai trò là cán cân công lý, PV Báo Giáo dục Việt Nam có cuộc trao đổi với Luật sư Nguyễn Phú Thắng – Đoàn Luật sư TP. Hà Nội.

PV: Dưới góc nhìn của một Luật sư, ông đánh giá thế nào về lời phát biểu của ông Chánh án Tòa án Tuy Hòa?

Luật sư Nguyễn Phú Thắng: Tôi thấy buồn khi ông Chánh án Tuy Hòa lại so sánh pháp luật, công cụ điều hành quản lý của một Nhà nước với áp lực của một hay một vài cá nhân nào đó. Đặc biệt áp lực, chỉ đạo của một ai đó nặng tới mức ông và Hội đồng xét xử không thể độc lập và không thể tuân theo pháp luật được.

Luật sư Nguyễn Phú Thắng - Đoàn Luật sư TP. Hà Nội

Tuy nhiên nếu bình tĩnh xem xét thì thấy Ông Chánh án nói có phần hợp lý, TAND TP Tuy Hòa đã lựa chọn giải pháp an toàn. Giả sử bản án được tuyên với Tội danh khác hoặc khung hình phạt khác nặng hơn so với bản án sơ thẩm vừa rồi, liệu ông Quang và thẩm phán chủ tọa có cảm thấy an toàn, cảm thấy nhẹ nhõm hơn không? Đây là điều đáng phải suy nghĩ.

Nội dung trả lời báo chí của ông Lương Quang thì không phải là điều lạ lẫm với những người tiến hành tố tụng cũng như với giới Luật sư vì nó đã tồn tại lâu rồi, không phải dễ gì thay đổi được ngay được, nhưng cách ông chia sẻ với cơ quan báo chí khiến không ít người giật mình vì cảm thấy bị “điểm danh”, bởi như lời một luật sư của TPHCM nói: “Nội dung trả lời của ông Chánh án đã khái quát toàn bộ thực trạng của ngành tòa án hiện nay”.

Dư luận nghe đã quen với thuật ngữ “án bỏ túi”, nhưng nếu phân tích mổ xẻ từng trường hợp cụ thể sẽ thấy dù bỏ túi, họp ba ngành hay chỉ đạo thì cũng phải đảm bảo xác định sự thật ở một mức độ nhất định. Chứ “bỏ túi” kiểu bẻ cong pháp luật, chà đạp sự thật khách quan thì đâu còn luật pháp, đâu còn công lý?

Thưa ông, pháp luật trao quyền thế nào cho Hội đồng xét xử ?

Trong các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TAND thì nguyên tắc độc lập luôn được đặt lên hàng đầu. Nguyên tắc này là nguyên tắc Hiến




Vụ 5 công an dùng nhục hình tại Phú Yên, dư luận và người thân của nạn nhân bức xúc cho rằng Tòa TP. Tuy Hòa đã xử “thiên vị” đối với 5 bị cáo nguyên là công an. Sau khi xem xét, mới đây Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có ý kiến yêu cầu Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, chỉ đạo giải quyết theo đúng quy định của pháp luật và báo cáo Chủ tịch nước kết quả.
định, được cụ thể hóa trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến ngành Tòa án. Cụ thể Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: "Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm".

Bộ luật tố tụng hình sự cũng khẳng định: “Khi xét xử thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ”. Tuy nhiên, để xác định được thế nào là “hành vi cản trở” hay “can thiệp” là điều không hề dễ nếu người “bị cản trở” không nói ra.

Còn việc chỉ đạo của cấp trên thì theo tôi, pháp luật hiện hành không hạn chế việc chỉ đạo này, có điều, cần phải hiểu rằng, việc chỉ đạo không phải là duyệt án, duyệt khung, khoản mà là hướng dẫn áp dụng pháp luật cho đúng.

Không có chuyện chỉ đạo xử trái hoặc không có căn cứ pháp luật. Mà ngay cả chỉ đạo trái đi nữa thì quyền quyết định cuối cùng là thuộc về Hội đồng xét xử. Nếu ra bản án, quyết định sai, Hội đồng xét xử mà cụ thể là Thẩm phán chủ tọa phải tự chịu trách nhiệm về phán quyết của mình thôi.

Bị cáo Nguyễn Thân Thảo Thành hớn hở tại phiên sơ thẩm ngày 10/3. Ảnh NLĐ

Theo ông, sự khác nhau giữa nghề Thẩm phán và nghề Luật sư là như thế nào ?

Nghề thẩm phán là nghề cao quý, được xã hội kính nể bởi kiến thức sâu rộng trong nhiều lĩnh vực, lòng dũng cảm, sự vô tư tạo nên nghề Thẩm phán. Về cơ bản, nghề Luật sư cũng phải đảm bảo những phẩm chất như vậy, tuy nhiên có một sự khác biệt rõ nét đó là ở nghề Thẩm phán các Quyết định, bản án do Thẩm phán (HĐXX) ban hành mang tính “quyền lực Nhà nước” và có giá trị bắt buộc thi hành bởi lẽ chúng được bắt đầu bằng: “Nhân danh Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...”

Như nhiều người đã biết, hình tượng người đàn bà bịt kín hai mắt, tay trái cầm cán cân, tay phải nắm thanh kiếm đã là biểu tượng biểu tượng lâu đời nhất của nền tư pháp Thế giới. Biểu tượng có ý nghĩa Tòa án xét xử chỉ tuân theo pháp luật, không cần nhìn đến bất kỳ thế lực nào khác ngoài pháp luật.

Còn chiếc cân tượng trưng cho công việc của các thẩm phán trong quá trình xét xử để thẩm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ, tuyên một bản án khách quan, công bằng và đúng pháp luật. Thanh kiếm tượng trưng cho quyền lực, khẳng định công lý sẽ được thực thi, đó là để xác định sự thật và trừng phạt.

Theo Luật sư, cần phải làm gì để khắc phục tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” của Thẩm phán trong công tác xét xử, đơn cử như trong vụ án công an dung nhục hình?

Trở lại vụ án do TAND TP Tuy Hòa vừa xét sử sơ thẩm, tôi cho rằng đây chỉ là một tình huống cụ thể trong hàng ngàn, thậm chí nhiều hơn nữa trong những vụ án có oan sai, lọt người, lọt tội. Cho nên, đây là thời cơ tốt để Nghị quyết TW 49 của Bộ Chính trị phát huy tác dụng của một phác đồ điều trị hiệu quả cho những căn bệnh, những bất cập còn đang tồn tại ở ngành Tòa nói riêng và các cơ quan tố tụng nói chung. Muốn làm được những công việc cụ thể này thì theo tôi, cần có một số những thay đổi cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Sửa đổi lại cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm thẩm phán theo mô hình của một số nước phương Tây là bổ nhiệm suốt đời.

Thứ hai: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để nâng cao trình độ, vai trò của Hội thẩm nhân dân.

Thứ ba: Hiện thực hóa nhanh chóng đề án thành lập Tòa án khu vực.

Thứ tư: Cần tuyên truyền, giáo dục cho cả hệ thống chính trị, toàn dân về trách nhiệm, sứ mệnh của Việt Nam khi tham gia các tổ chức của Liên hợp quốc về quyền con người.

PV: Xin cảm ơn luật sư!

Hiện nay, toàn hệ thống chính trị nước ta đang tập trung ưu tiên xây dựng các Luật về quyền con người, quyền công dân cho phù hợp với Hiến pháp sửa đổi. Trong bối cảnh Việt Nam vừa trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc và thành viên của Công ước LHQ về chống tra tấn, thì các cơ quan tố tụng của tỉnh Phú Yên và Đảng bộ tỉnh cần phải cân nhắc và quyết định sáng suốt. Không cơ quan, tổ chức hay địa phương nào muốn biến mình thành con thuyền lạc lõng trong “công cuộc cải cách tư pháp” của nước nhà, hay góp phần làm chậm lại xu thế phát triển của một xã hội văn minh và nhân bản. Theo tôi hiểu, đó cũng chính thông điệp chỉ đạo của Chủ tich nước Trương Tấn Sang, trưởng Ban chỉ đạo quốc gia về cải cách tư pháp gửi tới người đứng đầu các cơ quan tố tụng ở Trung ương. (Luật sư Nguyễn Phú Thắng)

Việt Cường
(GDVN

Ngày 15/4/2014 - Tỵ nạn để đấu tranh dân chủ: con đường gian truân

  • Thả tù ở VN có thể tác động đến TQ? (BBC) - Thả tù nhân chính trị, cải cách ở Việt Nam và láng giềng có thể khuyến khích nhân dân và chính quyền Trung Quốc đổi mới dân chủ, theo GS Nguyễn Minh Thuyết.
  • Để chấm dứt lương quan chức 'tù mù' (BBC) - Tình trạng thiếu minh bạch về thu nhập luồng' của quan chức ở Việt Nam và biện pháp chấm dứt, theo nhà quan sát từ trong nước, ông Trần Tiến Đức.
  • Khi đảng thả con tin (RFA) - Mấy ngày gần đây, dư luận chú ý đến vài trường hợp “bỗng nhiên” được nhà nước gia ân, trả tự do hoặc “đặc xá”.
  • HRW kêu gọi Việt Nam tiếp tục thả các nhà bất đồng chính kiến (RFI) - Human Rights Watch hoan nghênh sự kiện Việt Nam vừa trả tự do trước thời hạn cho cácông Vi Đức Hồi và Nguyễn Tiến Trung, vài ngày sau khi thả luật gia Cù Huy Hà Vũ. Thế nhưng, tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch kêu gọi Hà Nội tiếp tục thả các nhà bất đồng chính kiến.
  • Việt Nam vẫn trong 10 nước nhận nhiều kiều hối nhất thế giới (RFI) - Theo báo cáo chính thức của Ngân hàng Thế giới công bố ngày 11/04/2014, lượng kiều hối - tức là tiền của những kiều dân ngoại quốc gởi về nước họ - trong năm 2013 đã đạt mức 404 tỷ đô la. Ấn Độ đứng đầu danh sách với 70 tỷ, theo sau là Trung Quốc với 60 tỷ. Riêng Việt Nam đứng thứ 9 trong số những nước nhận được kiều hối nhiều nhất với 11 tỷ đô la, ngay trước Ukraina (10 tỷ).
  • Bạn nghĩ gì? (RFA) - Trong chưa đầy một tuần lễ, Việt Nam đã trả tự do cho 3 nhà bất đồng chính kiến bị tuyên án tù về tội "tuyên truyền chống Nhà nước".
  • Phiên tòa xét xử con trai cố lãnh đạo Kadhafi (RFI) - Phiên tòa xử hai con trai cố lãnh đạo Libya và khoảng 30 người thân cận với đại tá Kadhafi được dự trù mở ra hôm nay (14/04/2014) tại Tripoli. Một nguồn tin từ bên Tư pháp không loại trừ khả năng phiên xử hôm nay bị hoãn lại vì lý do an ninh. Seif al-Islam, người từng được coi là sẽ lên kế vị cha phải trả lời trước công lý về trách nhiệm trong các cuộc đànáp đẫm máu nhắm vào phe nổi dậy năm 2011.
  • Hội nhập hay tiếp tục đấu tranh? (RFA) - TS Cù Huy Hà Vũ được phóng thích trước hạn tù nhưng phải đột ngột rời VN để đi Hoa Kỳ trị bệnh khiến dư luận thắc mắc về nguyên nhân thật sự khiến ông rời khỏi quê hương. Sự vắng bóng của ông trong nước có ảnh hưởng phong trào đấu tranh ở quốc nội và liệu ông hội nhập hay tiếp tục đấu tranh trong cuộc sống lưu vong?
  • Điều gì khiến người dân Bắc Sơn nổi loạn? (RFA) - Vụ nổi loạn của người dân xã Bắc Sơn huyện Thạch Hà tỉnh Hà tĩnh vẫn chưa kết thúc. Trong khi công an khởi tố thêm ba người về tội gây rối trật tự công cộng thì người dân tại đây vẫn chưa có dấu hiệu nào thụt lùi trước bạo lực của nhà nước đối với họ.
  • Lửa đang cháy ngang mày (RFA) - Tháng Tư lại về. Tháng Tư của lịch sử. Thời gian có thể mài mòn nhiều thứ, nhưng nỗi trĩu nặng trong tâm tư dân tộc Việt Nam có lẽ còn cần nhiều năm mới nghĩ đến hai chữ "nhẹ lòng
  • Triển khai tàu ngầm tìm MH370 (BBC) - Lần đầu tiên tàu ngầm không người lái sẽ tìm MH370 dưới nước sau 6 ngày không bắt được thêm xung tín hiệu nào.
  • Philippines "thách đố" Trung Quốc (BaoMoi) - PN - Những ngày qua, quan hệ Manila-Bắc Kinh tăng nhiệt đột ngột, sau khi Phó tổng thống Philippines Jejomar Binay tuyên bố “sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng” để đáp lại hành động của Trung Quốc ở Biển Đông.
  • Thủ tướng Singapore nói về Biển Đông (BaoMoi) - (PetroTimes) - Mới đây, tờ The Nation (Thái Lan) đã có cuộc phỏng vấn với Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long. Trong bài phỏng vấn này Thủ tướng Lý Hiển Long đã nói đến lập trường của Singapore về Biển Đông cũng như tiến độ đàm phán bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC). PetroTimes xin trích đăng bài phỏng vấn này.
  • TQ: Mỹ đừng "vung tay múa chân" về nhân quyền (RFA) - Trong cuộc họp báo sáng nay, phát ngôn viên Hoa Xuân Oánh của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc cho rằng Washington vẫn tìm mọi cách để can thiệp vào chuyện nội bộ của Hoa Lục, nhắc lại rằng những người mà Hoa Kỳ lấy lý do nhân quyền để bênh vực đều là những người phạm pháp.
  • Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong quý một 2014 xuống thấp (RFI) - Hoạt động kinh tế của Trung Quốc trong quý một năm nay giảm mạnh và tăng trưởng của nền kinh tế thứ hai thế giới có nguy cơ xuống tới mức thấp nhất kể từ 25 năm qua, trong bối cảnh, Bắc Kinh muốn duy trì cải cách để tái cân bằng mô hình phát triển kinh tế.
  • Hà Nam lại tước quyền của dân tố quan tham nhũng (RFI) - Theo báo chí chính thức Trung Quốc vào hôm nay 14/04/2014, nhiều quan chức địa phương vẫn chận giữ không cho những người dân khiếu nại về tệ nạn tham nhũng tiếp xúc với đại diện cơ quan thanh tra Nhà nước. Sự kiện này diễn ra vào lúc chỉ mới cách nay một tháng, đảng Cộng sản Trung Quốc đã chỉ thị cho các cơ quan chính phủ là không nên chặn bắt những người khiếu tố"bình thường".
  • Phe thân Nga lại tấn công ở Ukraine (BBC) - Những người thân Nga vừa tấn công một đồn cảnh sát nữa ở miền đông Ukraine, bất chấp hạn chót Kiev đòi phải rút đi.
  • Ukraina và Tây phương trúng kế của Nga ? (RFI) - Ukraina bên bờ nội chiến. Kiev phản công chống phe thân Nga. Căng thẳng leo thang tại miền đông Ukraina. Báo động tại biên giới phía đông (của châuÂu). Ukraina chấp nhận trả giá cải cách kinh tế theo TâyÂu. Đó là tựa chính các báo Pháp hôm nay, trong khi Le Monde dành hai bài phóng sự về nông nghiệp Việt Nam và cuộc tranh đấu của công nhân dệt may Cam Bốt có khả năng bùng dậy sau ba ngày nghỉ tết Khmer.
  • Chi phí quân sự : Thế giới cứ giảm, châu Á cứ tăng (RFI) - Trong bản báo cáo về chi phí quân sự toàn cầu năm 2013 công bố hôm 14/04/2014, Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm SIPRI của Thụy Điển, đã xác nhận đà giảm sụt của chi tiêu quân sự trên thế giới, được ghi nhận từ năm 2012. Tuy nhiên, trong toàn cảnh cảnh đó, tại ChâuÁ, đặc biệt là tại ĐôngÁ và Đông NamÁ, chi phí quốc phòng lại gia tăng do các tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các láng giềng.
  • Đài tưởng niệm quân Đức xâm chiếm Hungary gây tranh cãi (RFI) - Từ đầu năm nay và đặc biệt, trong những ngày gần đây, việc một đài tưởng niệm sự kiện quân đội phát-xít Đức đưa quân tràn vào Hungary vào trung tuần tháng 3/1944, cách đây tròn 70 năm, đã một lần nữa khiến công luận Hung dậy sóng.
  • Gasandji biểu diễn tại Việt Nam (RFI) - Gasandji, hạt ngọc trai đen huyền của làng nhạc Congo, lần đầu tiên lưu diễn tại Việt Nam. Giọng ca mượt mà quyến rũ, hoà quyện pha trộn các nhịp điệu châu Phi vớiâm hưởng của hai dòng nhạc jazz và soul.
  • Bé 9 tháng tuổi được miễn truy tố về tội âm mưu giết người ! (RFI) - Chuyện khó tin nhưng có thật tại Pakistan. Ngày 12/04 vừa qua, tòaán Pakistan đã quyết định bãi bỏ đơn kiện của một viên cảnh sát cáo buộc một đứa trẻ mới có 9 tháng tuổi, cóâm mưu giết người. Bé Muhammad Musa, vào đầu tháng Hai vừa qua, đã bị bắt cùng với các thành viên trong gia đình với cáo buộc là ném đá vào cảnh sát.
  • Nga phản bác phương Tây về vấn đề Ukraine (RFA) - Phía Nga nói rằng những điều được Tây Phương đưa ra hoàn toàn sai sự thật, đổ lỗi cho cách ứng xử của chính phủ Kiev là nguyên nhân khiến tình hình trở nên căng thẳng hơn
  • HĐBA không đạt kết quả về vấn đề Ukraine (RFA) - Tại cuộc họp, các quốc gia Tây Phương và Hoa Kỳ lên tiếng chỉ trích Nga đã gây những khó khăn cho Ukraine, dàn quân ở biên giới và tìm cách gây chia rẽ dân chúng của nước láng giềng.
  • Cháy rừng ở Chilê : 12 người chết, 850 hecta bị thiêu trụi (RFI) - Hỏa hoạn tiếp tục hoành hành tại thành phố cảng Valparaiso. Hàng ngàn lính cứu hỏa và quân nhân Chilê được huy động để dập tắt các đám cháy rừng. 850 hecta rừng bị thiêu trụi, 12 người chết và 10.000 người phải di dời chỗ ở. Tổng thống Chilê ban hành tình trạng khẩn cấp.
  • Đông Ukraina : Tối hậu thư hết hạn, phe đòi ly khai không buông súng (RFI) - Tình hình tại miền đông Ukraina vẫn rất căng thẳng. Vào 9 giờ sáng nay, giờ địa phương, tức 6 giờ, giờ quốc tế, tối hậu thư mà Tổng thống lâm thời Ukraina Olexander Tourtchinov đưa ra, đã hết hạn, thế nhưng, các nhóm vũ trang đòi ly khai và thân Nga, vẫn không chấp nhận buông súng và tiếp tục chiếm giữ một số công sở.
  • Ukraina : Bế tắc ngoại giao tại Hội Đồng Bảo An (RFI) - Cuộc họp khẩn cấp ngày hôm qua, 13/04/2014, của Hội Đồng Bảo An về tình hình Ukraina, đã diễn ra trong bầu không khí căng thẳng và không mang lại kết quả gì. Nga tiếp tục tố cáo chính quyền Kiev khiêu khích, còn phương Tây cáo buộc Matxcơva tìm cách tái diễn lại kịch bản sáp nhập Crimée. Tóm lại, cuộc họp hôm qua giống như đối thoại giữa những người điếc.
  • Bắc Hàn bác bỏ tin drone rớt ở Nam Hàn (RFA) - Thông cáo mới nhất của Bắc Hàn bác bỏ tin đã sử dụng máy bay không người lái vào công tác thu thập tin tức tình báo, đồng thời còn nói rằng không hể có chuyện những chiếc máy bay này rớt trên lãnh thổ miền Nam.
  • Thủ tướng lâm thời Libya từ chức (VOA) - Thủ tướng lâm thời Libya Abdullah al-Thani, người đã nắm chức vụ chưa đầy 3 tuần lễ, đã cáo từ việc thành lập một chính phủ mới
  • Tình hình Ukraina vẫn phức tạp (VOA) - Miền đông Ukraine đang căng thẳng vào lúc quyền Tổng thống Turchynov dọa mở cuộc hành quân chống khủng bố để đối phó với những phần tử thân Nga
  • Nếu Senkaku/Điếu Ngư bị chiếm, Mỹ sẽ giành lại (BaoMoi) - ANTĐ - Nếu Trung Quốc xâm lược quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư, hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương sẽ ngay lập tức đánh chiếm lại quần đảo này cho Nhật Bản, tờ Japan Times ngày 13-4 dẫn lời Trung tướng John Wissler (ảnh), chỉ huy Lực lượng Thủy quân Lục chiến III của Mỹ ở Nhật Bản cho biết.

Tỵ nạn để đấu tranh dân chủ: con đường gian truân. (Phần 2)

Gia đình anh Nguyễn Ngọc Quang tại khu nhà chung cư ở vùng Southwest Houston, Hoa Kỳ.
Do hoàn cảnh thực tế, một số các nhà đấu tranh dân chủ ở Việt Nam đã phải tự tìm cách đi tị nạn chính trị ở quốc gia khác trong khi đó một số khác bị buộc phải ra đi theo hình thức trục xuất ngay từ trong trại giam. Điều này đã khiến cho họ bị mang tiếng là thoái lui, đầu hàng tuy nhiều người không biết rằng họ cũng đã và đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, kể cả công việc đấu tranh hiện tại ở nước ngoài sau khi định cư.

 Phải đối mặt nhiều vấn đề

Các nhà đấu tranh dân chủ luôn bị coi là mối đe dọa tới sự ổn định của chế độ. Do đó họ đã là đối tượng bị kiểm soát chặt chẽ và luôn bị chính quyền gây sức ép lên cuộc sống và các sinh hoạt bình thường của họ. Muốn thoát khỏi nhà tù ấy người ta chỉ còn biện pháp chạy trốn nó và họ tin rằng sẽ có một cuộc sống an toàn và tự do hơn cho bản thân và gia đình ở một nước tự do hơn ngoài Việt Nam.

Tuy nhiên khi được đến định cư ở quốc gia khác thì đa số đã gặp phải sự hụt hẫng trong cuộc sống ở miền đất mới, điều mà trước đó họ chưa hình dung được hết.




Ra hải ngoại thì mọi thực thể vật chất của mình thì mình phải lo lấy, không ai giúp mình nữa. Bởi vì mọi người phải dồn sức giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình ở trong nước.

-Trần Khải Thanh Thủy
Họ phải đối mặt với vấn đề công ăn việc làm và hòa nhập với cộng đồng để có thể tồn tại. Và đó là nguyên nhân chính dẫn tới sự giảm sút tranh đấu của họ.

Từ Hoa Kỳ, ông Nguyễn Ngọc Quang một nhà bất đồng chính kiến vừa định cư tại Mỹ sau nhiều năm sống tại Thái Lan cho biết:

“Tôi không còn một con đường sống nào hết ở Việt Nam, do đó buộc lòng tôi phải đào thoát khỏi Việt Nam. Tôi không nói đào thoát khỏi Việt Nam để đi đến nước nào, mà rời khỏi Việt Nam trước hết để bảo toàn cái mạng sống của mình.”

Ông Nguyễn Ngọc Quang đã từng cùng bạn bè nhen nhóm đấu tranh và vận động cho những đòi hỏi về nhân quyền và dân chủ và bị bắt đi tù nhiều năm. Sau khi ra tù, do không chịu nổi sự bức bách của chính quyền nên ông đã đưa gia đình đào thoát qua Thái Lan để tìm một cuộc sống an toàn hơn. Nói về các khó khăn trong thời gian tỵ nạn tại Thái Lan, ông Quang cho biết hoàn cảnh sống của những người Việt tỵ nạn ở Thái Lan hết sức khó khăn. Đó là cuộc sống chui lủi, bất hợp pháp thường xuyên bị đe dọa bắt bớ của cảnh sát Thái Lan:

“Nói đúng ra mọi người tỵ nạn đều rất khó khăn, khó khăn như nhau. Họ có thể đi làm được nhưng đi làm là đi làm chui nhờ vào sự bảo trợ của một số người Việt đã sống lâu năm ở Thái Lan họ giúp cho. Bên cạnh đó là khó khăn do sự thanh lọc rất gắt gao của Cao ủy Tỵ nạn”.

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy (trái) cùng con gái sau khi đến California hôm 24-06-2011.
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, một cựu tù nhân chính trị người đã bị trục xuất từ nhà tù ở Thanh hóa ra thẳng phi trường Nội Bài sang Hoa Kỳ cho biết: mọi thứ đều có hai mặt của nó, việc ra đi của bà cũng vậy và nếu được ở lại Việt Nam để tranh đấu thì bà sẽ lựa chọn để ở lại Việt Nam. Nhưng do ở lại nếu vẫn chịu cảnh tù đầy thì buộc bà phải lựa chọn ra đi, vì trong tù thì không có khả năng tiếp tục đấu tranh. Khi đặt chân lên Hoa Kỳ cũng là khởi điểm cho một cuộc sống mới đầy thách thức và lo lắng. Vì mọi việc đều phải tự thân vận động, trong khi gặp phải rào cản của các vấn đề ngôn ngữ, công ăn việc làm và sự hòa nhập vào cộng đồng… Đây là thách thức lớn và sẽ rất khó khăn để có thể vượt qua.

Từ Hoa Kỳ, Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy kể lại cuộc sống hiện nay của bà:

“Trên thực tế mọi cái không như mình nghĩ, khi bước chân ra hải ngoại thì mọi thực thể vật chất của mình thì mình phải lo lấy, không ai giúp mình nữa. Bởi vì mọi người phải dồn sức giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình ở trong nước. Nhất là trong điều kiện mình không có ngoại ngữ, công ăn việc làm không có… đó là những thiệt thòi, một tháng đã mất 700-900 USD cho việc thuê nhà cho 4 người rồi. Chính vì thế mình đã phải buông bút để vịn vai đời để sống, muốn đấu tranh tiếp thì bây giờ mình phải vịn vai đời cho vững đã.”

Yểm trợ bạn bè trong nước

Nói về các suy nghĩ và hành động của cá nhân mình sau khi sang định cư tại Hoa Kỳ, ông Nguyễn Ngọc Quang cho biết ngay sau khi ông đặt chân đến Hoa Kỳ đã có một số tổ chức chính trị gọi mời, song ông đã từ chối. Và thay vì đấu tranh hay hoạt động chính trị cho phong trào đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, ông Nguyễn Ngọc Quang đã lựa chọn con đường dùng sức của mình để kiếm tiền nhằm yểm trợ cho bạn bè đang còn ở trong chốn lao tù:




Qua Mỹ rồi thì tôi không còn cơ hội đấu tranh trực tiếp với cs nữa thì tôi quay lại con đường yểm trợ, dùng sức lực bằng bắp thịt của mình cào ra đồng tiền để hỗ trợ.

-Nguyễn Ngọc Quang
“Khi qua Mỹ rồi thì tôi không còn cơ hội đấu tranh trực tiếp với cộng sản nữa thì tôi quay lại con đường yểm trợ, dùng sức lực bằng bắp thịt của mình cào ra đồng tiền để hỗ trợ cho họ để vượt qua cái khốn khó đó. Bởi vì hiện tại họ đang làm cái công việc trước đây tôi đang làm dang dở. Còn chuyện hoạt động thì tôi vẫn chưa nghĩ đến chuyện đó.”

Về sự thay đổi trong suy nghĩ của mình đối với các tổ chức chính trị ở hải ngoại, nơi đã từng yểm trợ cho việc đấu tranh trước đây, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy thừa nhận có sự bất đồng trong quan điểm và do xuất phát từ quan điểm đấu tranh ở trong nước và hải ngoại có khác nhau. Một phần nữa cũng do nhiều vấn đề trên thực tế đã không diễn ra như bà suy nghĩ. Đó cũng là những nguyên nhân dẫn đến việc đấu tranh trong môi trường mới có phần bị giảm sút:

“Trên con đường chính trị thì sự dối trá – bóng tối không thể đi xa được. Mình biết là bát nước công đức, cái quỹ Cây mùa xuân bị sóng sánh ra rất nhiều, đáng buồn là bát nước công đức ấy bị đổ vào cái túi để mà nuôi một bộ máy cồng kềnh. Mà họ có làm việc đâu, luôn luôn đưa ra hết các chính sách nọ đến chính sách kia nhưng cuối cùng cho qua hết và tiêu hết sức phung phí các đồng tiền nhận được ấy.”

Trường hợp mới nhất là TS luật Cù Huy Hà Vũ, người ta tin ông cũng không ngoại lệ nghĩa là phải lo cuộc sống trước mắt cho bản thân và gia đình, kế đến tiếng nói của ông không còn tác động hiệu quả như khi còn trong nước do đó nhiệt huyết đấu tranh chắc chắn sẽ giảm sút tới chỗ ngừng hẳn. Tuy nhiên làm sao có thể buộc những người tranh đấu tiếp tục như khi còn trong nước trong khi vũ khí chính của họ là không gian tranh đấu đã bị tước đoạt?

Con đường đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam là một con đường đầy chông gai, nó đòi hỏi sự can đảm và lý trí của những người tham gia tranh đấu. Việc ra đi tỵ nạn chính trị cũng vậy, nó cũng vô cùng khó khăn với nhiều trở ngại mà ít ai có thể hình dung được. Đó không phải là con đường trải đầy hoa hồng như nhiều người nghĩ.

Anh Vũ,
thông tín viên RFA
Theo RFA

Phạm Đình Trọng - Vì sao công an cần một chữ kí đến vậy

(Tường trình buổi làm việc với an ninh)


Làm việc với tôi lúc đầu là hai người: một công an cấp thành phố tên Tuấn ngoài năm mươi tuổi, nước da màu đồng ruộng, mặt nhọn chữ V, đã quá quen mặt với tôi suốt mấy năm nay và một người trẻ hơn ông Tuấn vài tuổi, mặc áo thun đen được ông Tuấn giới thiệu cũng là công an thành phố. Tôi hỏi tên, người đó nói tên Sang.
Tôi tin chắc ông Sang không phải là công an cấp thành phố mà là công an cấp bộ. Tôi đến trụ sở công an xã Phước Kiển vào phòng trung tá Lâm Ngọc Thích, trưởng công an xã, hỏi: Thưa anh, tôi được mời đến làm việc ở phòng nào. Ông Thích hỏi ngay: Bác là bác Trọng phải không? Ông Thích mời ngồi, pha ấm trà mới tiếp khách và bảo tôi bác ngồi đợi chút, các anh đó đang đến. Tôi hỏi thăm gia đình, ông Thích bảo quê ông bà nội ngoại của ông đều ở xã Phước Hải, cạnh xã Phước Kiển này. Ông vui vẻ, cởi mở khoe rằng anh thiếu úy Lê Phương Tinh, công an khu vực dân cư nơi tôi ở, người hai lần mang giấy mời của công an đến cho tôi chính là con rể của ông, lấy con gái đầu của ông.

Uống ngụm trà rồi tôi ra sân đợi thì ông Tuấn đến. Tôi và ông Tuấn đến phòng ông Thích đi ngang qua một người mặc áo thun đen đứng bên chiếc xe máy ngay cửa phòng ông Thích. Ngôn ngữ trao đổi và cử chỉ của ông Thích và ông Tuấn cho tôi hiểu rằng ông Thích giục làm việc đi, ông Tuấn bảo đợi thêm người, ông Thích liền chỉ người mặc áo thun đen. Lúc đó ông Tuấn mới biết rằng người mặc áo thun đen đứng trước phòng ông Thích chính là người sẽ cùng ông Tuấn làm việc với tôi. Người mặc áo thun đen chính là ông Sang. Sự không quen biết nhau giữa ông Tuấn và ông Sang cho tôi hiểu rằng ông Sang không cùng đơn vị công an thành phố với ông Tuấn thì ông Sang phải là công an cấp bộ.

Sau phần thủ tục đầu tiên ông Tuấn hỏi tôi về sức khỏe để ghi vào biên bản rằng tôi đủ sức khỏe và đủ minh mẫn để làm việc, tôi nói: Lần trước các anh gửi giấy mời nhưng tôi không đi vì những bài viết của tôi là của đời sống dân sự. Hiến pháp cho công dân được tư do ngôn luận đã cho tôi được viết bộc lộ suy nghĩ, tình cảm, chính kiến. Nếu tôi viết có gì sai, các anh cứ kiện tôi ra tòa án, tôi sẽ hầu kiện. Đó là đời sống dân sự. Nhưng công an vào cuộc về những bài viết của tôi thì đã hình sự hóa đời sống dân sự rồi. Tôi không chấp nhận đời sống dân sự bị hình sự hóa như vậy. Lần này lại nhận được giấy mời của các anh, tôi đã định không đi. Nhưng thấy những bài viết bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của tôi chỉ là việc nhỏ nhặt trong đời sống dân sự mà cứ để các anh nay mời, mai mời làm cho sự việc nhỏ trở thành lớn, trở thành căng thẳng và các anh phải đi lại nhiều lần vất vả nên tôi đến đây gặp các anh. Tôi coi đây chỉ là cuộc gặp dân sự nói chuyện để hiểu biết nhau nên tôi không kí bất kì một biên bản nào để hình sự hóa cuộc gặp này.

Ông Tuấn gọi tôi là chú. Ông Sang gọi tôi là bác. Hai người thay nhau hỏi. Bác có trang cá nhân facebook không? Bác có trang này lâu chưa? Mục đích chú lập trang facebook để làm gì? Tôi nói rằng ở thời công nghệ thông tin này, trang facebook đã trở thành rất phổ biến từ bà nội trợ đến cô học trò cấp hai, từ anh nông dân đến ông cán bộ nhà nước đều có trang facebook công khai những sự việc, những vui buồn trong ngày của mình để được cộng đồng facebook trên khắp thế giới chia sẻ, tạo ra một thế giới phẳng rộng lớn. Tôi mới có trang facebook từ năm 2013. Cũng như mọi người, tôi ghi lại những vui buồn, nghĩ suy, trăn trở trên facebook. Khác mọi người, tôi là nhà văn. Tôi không chỉ buồn vui, nghĩ suy về cá nhân tôi mà tôi buồn vui, nghĩ suy, trăn trở về đất nước, về nhân dân, về thời cuộc.

Ông Tuấn đưa cho tôi xem hai tờ giấy A4 in một list tên những bài viết của tôi từ trang web Đàn Chim Việt và hỏi đây có phải những bài viết của chú không? Chú thường gửi bài cho những mạng nào? Trả lời: Tôi thường gửi bài cho trang Boxitvn và trang Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự. Đàn Chim Việt vẫn đăng bài của chú mà? Không phải chỉ có Đàn Chim Việt, các trang web khác đều tải bài của tôi từ trang Boxitvn và trang Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự.

Có lẽ ông Sang không phải là người chuyên trách theo dõi tôi nên hỏi nhiều câu thuộc về sơ yếu lí lịch mà người chuyên trách về tôi phải rành rẽ từ đầu như: Bác có tham gia công tác cách mạng gì không? Bác có tham gia tổ chức xã hội nào không. Tôi nói tôi là người lính nhập ngũ từ năm 1963 mà cuộc chiến tranh chống Mĩ đến năm 1965 mới thực sự nổ ra. Tôi đã tham gia trọn vẹn ba cuộc chiến tranh. Chiến tranh chống Mĩ. Chiến tranh chống Pôn Pốt. Chiến tranh chống Tàu ở biên giới phía Bắc. Cuộc chiến tranh chống Mĩ, tôi là người lính ở mặt trận Tây Nguyện. Sau năm 1975, tôi được điều về Tổng cục Chính trị, là nhà văn ở tạp chí Văn Nghệ Quân Đội rồi làm biên kịch ở Xưởng phim Quân đội. Hai cuộc chiến tranh sau, tôi là nhà văn, nhà báo quân đội. Tôi là hội viên các hội: hội Nhà Văn Việt Nam, hội Nhà Báo Việt Nam, hội Điện ảnh Việt Nam.

Ông Sang có hỏi tôi về Văn Đoàn Độc Lập nhưng chỉ hỏi thoáng qua. Sau này khi nhân vật công an thứ ba xuất hiện mới hỏi nhiều về Văn Đoàn Độc Lập và nhân vật này cũng biết rất rõ về tôi và gia đình tôi mà tôi tin chắc đó chính là người chuyên trách về tôi. Hỏi qua về Văn Đoàn rồi ông Sang lại quay về cá nhân tôi: Bác là hội viên hội Nhà Văn từ khi nào? Tôi không nhớ rõ năm nào nhưng lâu rồi. Tôi trả lời và nhìn Sang, nói: Tôi biết anh không phải là công an thành phố mà là công an bộ. Sang cười. Nụ cười thú nhận. Sau cuộc gặp, nhìn lại ba công an vừa làm việc với tôi, tôi thấy ở ông Sang phần người còn nhiều hơn cả trong ba công an, phần công cụ chưa lấn át phần người. Hai người còn lại thì phần người đã bị khuất lấp sau phần công cụ.

Ông Tuấn đưa ra một tập những bài viết của tôi được in từ trên mạng và bảo tôi kí xác nhận: Lần trước chú đã kí 19 bài rồi. Hôm nay chú kí tiếp những bài này. Tôi bảo lần này tôi không kí vì ba lẽ. Một là không cần thiết. Bài viết đã ghi rõ tên tôi là đủ để xác nhận rồi. Hai là lần trước tôi kí đã tạo ra tiền lệ để lần này tôi lại được mời đến gặp các anh để kí. Mấy tháng sau tôi có những bài viết mới lại bị gọi lên kí lần thứ ba. Rồi lần thứ tư. Lần thứ n. Là nhà văn, tôi không thể thờ ơ với cuộc sống, với số phận nhân dân, số phận đất nước nên cứ phải viết cho đến lúc từ giã cuộc đời. Rồi đến lúc sắp chết sẽ lại bị các anh nhét bút vào tay bắt kí. Ba là công dân có quyền tự do ngôn luận vì thế bài viết của tôi hoàn toàn hợp pháp trong đời sống dân sự. Tôi phải kí xác nhận bài viết với công an là tôi đã tự hình sự hóa bài viết của tôi. Tôi không thể làm điều đó.

Ông Sang bảo: Bài của bác sao bác không dám kí. Bác sợ à? Tôi mỉm cười: Nếu sợ tôi đã không dám viết. Có viết cũng không dám kí tên thật mà phải dùng một cái tên ảo Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Văn Hèn nào đó. Tất cả các bài viết của tôi trên mạng suốt bao năm nay tôi đều ghi tên đầy đủ, rõ ràng. Không có bài nào tôi phải giấu tên. Điều đó xác nhận rằng tôi chẳng có gì phải sợ hãi. Làm đúng với lương tâm, trách nhiệm và luật pháp thì có gì phải sợ hãi, anh Sang nhỉ.

Ông Tuấn cắm cúi viết chắc là ghi biên bản. Chỉ còn đối đáp của ông Sang và tôi. Việc trùng tên rất thường gặp. Cũng có khi người khác ghi tên bác ở bài của họ thì sao. Vì thế bài nào của bác, bác phải kí xác nhận để phân biệt với những bài khác. Tên của tôi và bài viết của tôi là một chỉnh thể thống nhất. Văn phong, giọng điệu, ngôn ngữ, tình cảm, thái độ và cả kiến thức, trí tuệ trong bài viết của tôi cũng đã làm nên cái tên Phạm Đình Trọng và cái tên đó luôn là một chỉnh thể thống nhất với bài viết. Bài viết cũng như vân tay của một người. Từ vân tay công an xác định được người có vân tay đó thì từ bài viết, công an cũng dễ dàng xác định được người viết bài đó.

Lặp đi lặp lại đòi hỏi bác phải kí xác nhận bài viết là của bác thì cũng lặp đi lặp lại lí do không kí: Không phải chỉ riêng tôi phải kí mà hàng trăm, hàng ngàn người khác cũng đã và sẽ bị các anh yêu cầu kí vào bài viết. Số giấy mực in lại bài viết của một người thì không đáng bao nhiêu nhưng bài viết của hàng trăm, hàng ngàn người thì tiền giấy mực không phải là nhỏ. Dân mình còn nghèo lắm. Tiền giấy các anh in bài là tiền thuế của những người dân nghèo chạy ăn từng bữa đấy. Chúng tôi cứ kí hết lần này đến lần khác là các anh cứ vô tư tiêu phí những đồng tiền thuế của dân nghèo vào những việc không đáng tiêu. Tôi không thể hình sự hóa bài viết của tôi. Tôi không thể suốt đời cứ bị gọi lên gặp các anh để kí xác nhận bài viết.

Nếu bác không kí thì không có gì xác nhận có buổi làm việc hôm nay. Ông Sang nhắc đi nhắc lại câu đó rồi hứa: Bác cứ kí đi. Đây là lần kí cuối cùng. Sẽ không có lần thứ ba nữa. Tôi bảo: Lòng tin của người dân vào công an bây giờ xuống rất thấp. Chả có gì bảo đảm rằng tôi không còn bị các anh mời lên kí xác nhận bài viết nữa. Chúng tôi sẽ ghi vào biên bản làm việc điều đó. Biên bản các anh đưa vào hồ sơ rồi cất trong tủ sắt. Tôi đâu có bằng chứng về lời hứa của các anh. Tôi đề nghị các anh ghi điều đó ra giấy để tôi giữ lời hứa của các anh bằng giấy trắng mực đen. Ông Sang im lặng rồi đi ra ngoài. Trong quá trình làm việc, ông Sang mấy lần ra khỏi phòng gọi điện thoại. Lần này ông Sang ra ngoài khá lâu. Trở vào phòng, ông Sang ngồi lặng lẽ, dáng chờ đợi.

Gần nửa tiếng im lặng chờ đợi, người thứ ba mới xuất hiện. Lời giới thiệu của ông Sang về nhân vật mới chỉ vẻn vẹn có cái tên, anh Toàn. Mặt trắng, sáng sủa. Chân râu xanh rì quanh miệng. Đầu hói khoảng ba mươi phần trăm. Dáng nho nhã của con người bureau. Nhìn ông Tuấn thấy sự hăng hái, xông xáo, thấy cả sự tất bật, băm bổ của con người hành động thì nhìn ông Toàn nhận ra sự lạnh lùng, kín đáo của con người toan tính, nhận ra cả sự tư tin của kẻ rất có ý thức về sức mạnh đang có trong tay. Cái tự tin “công an là pháp luật, pháp luật là công an” của mọi công an nhà nước cộng sản Việt Nam.

Lời đầu tiên ông Toàn nói ngay những hiểu biết của ông về tôi, tuy những hiểu biết đó chỉ là bề ngoài, không đúng thực chất và không ăn nhập với đề tài buổi làm việc: Bác còn quá khỏe, còn đi khắp nơi. Bác có hai nhà cho thuê. Lương hưu lại cao . . . Ông Toàn còn kể ra cả căn hộ tôi đang ở là căn hộ penthouse, căn hộ thông tầng. Tôi nói: Những điều anh Toàn nói tuy có cái không đúng như tôi làm gì có hai nhà cho thuê nhưng tôi không cần diễn giải vì đây là lĩnh vực riêng tư của đời sống cá nhân được pháp luật bảo đảm bí mật, không bàn ở đây.

Ông Toàn hỏi tôi về Văn Đoàn Độc Lập. Văn Đoàn đã có hoạt động gì? Các tổ chức quốc tế có công nhận Văn Đoàn, có ủng hộ sự ra đời của Văn Đoàn không? Trang web của Văn Đoàn do ai làm? Bác đã viết bài cho trang web này chưa? Tham gia Văn Đoàn như thế nào? Tôi bảo: Anh Toàn cũng biết thời nước ta còn bị Pháp đô hộ, còn chưa có độc lập thế mà Tự Lực Văn Đoàn còn được ra đời và hoạt động suốt mười năm, từ năm 1932, để lại một nét son, một dấu ấn sâu đậm mãi mãi trong lịch sử văn học nước nhà. Bây giờ nước ta đã có độc lập, có Hiến pháp bảo đảm quyền lập hội cho công dân thì các nhà văn thành lập Văn Đoàn Độc Lập cũng là bình thường. Một xã hội dân sự phải có các tổ chức xã hội thực sự của người dân, do người dân thành lập và duy trì hoạt động. Ông Toàn cắt lời tôi rằng trên thế giới không nước nào có xã hội dân sự cả. Tôi rất ngạc nhiên về nhận thức xã hội dân sự của ông Toàn. Tôi nói chỉ có mấy nước cộng sản là không có xã hội dân sự thôi. Phần lớn các nước trên thế giới đều là xã hội dân sự. Văn Đoàn Độc Lập chưa chính thức ra đời. Mới có 61 người tập hợp nhau lại thành ban vận động rồi mới tiến tới thành lập Văn Đoàn. Tôi chỉ là một trong 61 người đó. Anh Toàn theo dõi các trang mạng thì cũng biết các hãng thông tấn nổi tiếng thế giới như BBC, RFA đều đã có bài phỏng vấn, đưa tin về Văn Đoàn. Đó là sự ủng hộ, chào đón của họ với Văn Đoàn. Chỉ là thành viên, không có chức trách gì ở Văn Đoàn nên tôi không biết ai làm trang web của Văn Đoàn và tôi cũng chưa có bài đăng ở đó. Những người gia nhập Văn Đoàn đều là tự nguyện ghi tên xin tham gia qua email.

Ông Sang hỏi email của tôi nhưng tôi bảo email thuộc bí mật thư tín cá nhân nên tôi không thể tùy tiện cung cấp cho mọi người.

Ông Toàn giơ lên tờ giấy A4 in lại từ Facebook của tôi bài “Hoa của Bauxite Việt Nam, Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ viếng thầy Đinh Đăng Định” và hỏi: Bác có quan hệ với Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ chứ? Những ngày lễ của họ, họ vẫn mời những người như bác đến dự lễ mà. Tôi bảo: Thầy Đinh Đăng Định chỉ vì phản đối dự án khai thác bô xít Tây Nguyên mà bị tù. Thày bị bệnh hiểm nghèo, gia đình xin cho thầy ra tù để chữa bệnh nhưng công an không cho. Đến lúc bệnh của thầy không còn chạy chữa được nữa, cái chết đã cận kề, công an mới trả thầy về gia đình để rũ bỏ trách nhiệm tang lễ cho thầy. Thầy chết, những công an đã gần gũi thầy suốt nhiều năm không ai đến viếng thầy nhưng Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ xa lạ chưa hề gặp thầy đã gửi hoa viếng thầy. Hoa của Bauxit Việt Nam, hoa của Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự mang tấm lòng của cả nước đến với thầy. Hoa của Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ mang tấm lòng của loài người dành cho một con người. Ba giá hoa đẹp đó gây cho tôi sự xúc động mạnh mẽ nên tôi đã chụp ảnh đưa lên fb của tôi.

Lại trở về với những bài viết của tôi, ông Sang: Dạo này bác viết nhiều không? Bác có nhớ viết bao nhiêu bài không? Trong đầu thoáng xuất hiện một câu hài hước, tôi nhìn ông Toàn và có lẽ trên gương mặt tôi có nụ cười thấp thoáng khi tôi nói: Tôi viết bài nào thì các anh đều biết cả. Có các anh nhớ hộ, thống kê hộ nên tôi cũng chẳng cần nhớ tôi đã viết bao nhiêu bài. Ông Toàn nói: Lần trước bác kí là năm 2012. Hơn một năm bác mới lại kí nhận bài viết của bác, đâu có nhiều. Bỗng ông Toàn căng giọng: Bác không kí thì còn làm việc dài. Hôm nay không xong thì ngày mai, ngày mốt. Tôi bình thản: Tôi sẵn sàng ngồi với các anh. Nhưng các anh không có quyền làm điều đó. Công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Ông Toàn: Bác sợ mới không dám kí nhận bài viết của mình. Tôi biết ông Toàn sử dụng ngón nghề điều tra, đánh vào tâm lí tự ái cá nhân nhưng tôi vẫn thấy như bị xúc phạm liền nói to: Anh nói thế là xúc phạm tôi. Tôi chẳng có gì sai để phải sợ các anh. Ông Toàn vẫn không thôi ngón đòn tâm lí: Tôi biết trong lòng bác đang sợ. Kiên trì lí lẽ của mình, tôi nói ngắn gọn: Tôi không kí để tự hình sự hóa bài viết của mình. Tôi không kí để cứ phải kí suốt đời. Ông Toàn liền lớn tiếng như quát: Bác còn viết thì còn phải kí!

Bác còn viết thì còn phải kí! Sự tự tin của ông Toàn đó! Công an là pháp luật, pháp luật là công an đó! Không có điều luật nào cho phép công an được mời công dân đến trụ sở công an vì những bài viết hợp pháp. Không có điều luật nào buộc công dân phải kí xác nhận bài viết hợp pháp với công an. Nhưng ông Toàn vẫn nói chắc nịch như công bố một điều luật của công an: Bác còn viết thì còn phải kí! Tôi lại nhớ đến câu nói của ông Sang mới ít phút trước: Đây là lần kí cuối cùng, không có lần kí thứ ba. Con người công dân của ông Sang đó! Bác còn viết thì còn phải kí! Con người công cụ của ông Toàn đó!

Kí – Không kí. Đã nói hết lí lẽ với nhau vẫn không chấp nhận đề xuất của nhau. Chẳng còn gì để nói, tất cả đều ngồi im lặng. Chợt ông Toàn đưa ra lối thoát: Bác không kí vào từng bài thì kí vào tờ giấy ghi rằng từ ngày 10 tháng tư năm 2014 trở về trước, những bài đứng tên Phạm Đình Trọng là của bác. Chúng tôi viết rồi đưa bác kí hoặc bác tự viết tờ giấy đó cũng được. Suy nghĩ giây lát, tôi chấp nhận giải pháp này. Tôi xin tờ giấy A4 và tự viết. Ông Sang nhắc tôi ghi tiêu đề Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng tôi không chấp nhận. Với tôi, đây không phải là văn bản pháp luật. Tôi viết ngắn gọn: XÁC NHẬN / Những bài viết trên mạng internet kí tên Phạm Đình Trọng từ ngày 10. 4. 2014 trở về trước là của tôi, Phạm Đình Trọng / Phước Kiển ngày 10. 4. 2014 / Kí tên.

Tôi đưa tờ giấy vừa viết cho ông Toàn. Ông Toàn đề nghị tôi thay chữ “kí tên” trong câu “Những bài viết trên mạng internet kí tên…” bằng chữ “đứng tên”. Lại phải lấy tờ giấy khác viết lại.

Ông Sang ra ngoài mời cô nhân viên hành chính Ủy ban Nhân dân xã Phước Kiển và ông hàng xóm cạnh trụ sở công an xã Phước Kiển vào làm chứng việc tôi viết giấy xác nhận. Lại mời cô công an xã Phước Kiển vào viết văn bản để hai người làm chứng kí.

Trong khi chờ ông Sang đi mời mấy người vào viết giấy làm chứng, tôi hỏi ông Tuấn: Anh Tuấn có biết hình ảnh của anh được đưa lên tất cả các trang mạng tiếng Việt khắp thế giới không? Ông Tuấn im lặng. Mặt ông Tuấn vốn đã tối như càng tối hơn. Ông Toàn nói: Sự nổi tiếng ấy cũng là do các bác. Tôi bảo: Tôi có đến viếng đám tang anh Lê Hiếu Đằng nhưng lúc anh Tuấn cướp băng tang, tôi không ở đó. Không biết ai chụp được bức ảnh giây phút anh Tuấn làm việc đó và đưa lên mạng. Là người phải có cái đức. Cái đức để sống ở đời và cái đức để lại cho con cháu, anh Tuấn nhỉ.
Giấy xác nhận rồi giấy làm chứng xác nhận đã xong. Đến biên bản làm việc cũng mất khá nhiều thời gian vì Kí – Không kí. Cuối cùng tôi chấp nhận xóa chữ “Đương sự” viết thay vào chữ “Người làm việc” ở cuối biên bản và ghi: Như lúc đầu tôi đã nói đây chỉ là buổi gặp gỡ trao đổi để hiểu nhau nên tôi không kí vào bất kì biên bản nào. Tôi không đọc biên bản này.

LỜI CUỐI

Đến nay tôi vẫn chưa lí giải được vì sao công an cần một chữ kí của tôi đến vậy. Vì thế tôi vẫn chưa xác định được buổi làm việc của tôi với công an hôm 10.4.2014 là thất bại hay là một kết quả chấp nhận được. Chỉ nhận ra rất rõ cảm giác mệt mỏi. Mệt mỏi về thể xác song ý chí của tôi không những không hề lay chuyển mà còn giúp tôi từng trải hơn, vững vàng hơn.

Những cuộc làm việc như vậy thực sự là cuộc công an khủng bố tinh thần, nhục hình tinh thần đối với công dân, chà đạp lên quyền con người, quyền công dân của người dân. Những cuộc làm việc như vậy cũng không khác bao nhiêu với việc năm công an ở Phú Yên dùng gậy cao su đánh chết công dân Ngô Thanh Kiều.

Nhân danh pháp luật, công an Phú Yên bắt anh Kiều trái pháp luật rồi cứ cái đà lạm quyền, lộng hành, mất tính người, năm công an Phú Yên thay nhau đánh anh Kiều nát nhừ thân thể đến chết. Nhân danh pháp luật, công an viết giấy mời trái pháp luật, hình sự hóa đời sống dân sự. Những cuộc làm việc theo giấy mời của công an với công dân là những trận nhục hình đối với công dân nhằm giết chết con người công dân, con người xã hội, giết chết con người trách nhiệm với đất nước, với dân tộc, với đồng loại, để người dân chỉ còn được sống bằng con người sinh vật ích kỉ, chỉ biết có miếng ăn và chỉ mong được yên thân, để người dân chỉ còn được sống bằng con người thần dân, phục tùng, cam chịu như một bầy cừu.

Sự lộng hành của công an bằng gậy cao su để lại bằng chứng là cái chết của anh Ngô Thanh Kiều ở Phú Yên, cái chết của ông Trịnh Xuân Tùng ở Hà Nội, cái chết của anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang, cái chết của em học sinh Tu Ngọc Thạch ở Khánh Hòa và cái chết trong đồn công an của hàng trăm người dân lương thiện khác. Những cái chết đó khắc ghi trong lòng người dân Việt Nam tội ác của công cụ bạo lực chuyên chính vô sản.

Sự lộng hành của công an bằng việc mời trái pháp luật công dân đến làm việc để dùng quyền uy của công cụ bạo lực nhà nước đánh đòn cân não vào tinh thần, ý chí con người tuy không để lại dấu vết trên thân thể nhưng hiểm độc và nguy hại hơn nhiều lần sự lộng hành của cơ bắp. Còn gì hiểm độc và nguy hại bằng giết chết con người công dân của một dân tộc. Sự lộng hành đó cần được ghi nhận lại trung thực bằng chữ nghĩa khắc vào thời gian, khắc vào lịch sử về một loại tội ác của công cụ bạo lực chuyên chính vô sản chỉ có ở nhà nước cộng sản.

Viết xong đêm 11.4.2014.
Đọc lại và chỉnh sửa đêm 14.4.2014
Phạm Đình Trọng
(FB Nguyễn Lân Thắng)