Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

THỦ PHẠM GIẾT SỐNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ! - Trị đảng - Sự lựa chọn của tôi: Cải cách - Thảm sát Côn Minh: Điềm báo không thể hạ cánh mềm

Nguyễn Trung - Sự lựa chọn của tôi: Cải cách

I - Bạn bè quở trách

Không thể nói tôi chai lỳ với những lời nhiếc mắng chân tình của bạn bè thân thiết nhất về những gì tôi viết ra. Lần này sự quở trách ấy dành cho bài Chữ tín, [1] trong đó tôi khuyên đại hội XII sắp tới của ĐCSVN – kể cả khâu chuẩn bị - nên bắt đầu từ việc tìm cách thực hiện chữ tín. Đó là những lời nhiếc mắng đã từng nhiều lần dành cho tôi: ngu trung, ảo tưởng, ngây thơ, nặng về tình cảm… vân vân… Những lời phê phán khác của người Việt khắp thế gian với nghĩa là quyền ăn quyền nói đương nhiên của mỗi người, thì dỏng tai nghe, cố hiểu người nói, không có gì đáng phải băn khoăn ở đây cả.

Thật ra tôi đã lường được tất cả, đã cân nhắc tất cả trước khi viết.

Đã quá xa cái tuổi cổ lai hy rồi, tôi ít nhiều hiểu được những điều phải hiểu liên quan đến quyền lực – sức mạnh và quyền năng của nó, những mặt nham hiểm hay bỉ ổi của nó... Song suy ngẫm mọi bề, cuối cùng tôi vẫn phải chọn lời khuyên ĐCSVN tìm cách thực hiện “chữ tín”, đơn giản vì đất nước đòi hỏi nhất thiết phải mở đường sống thông qua cải cách chính trị để thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay, lý tưởng nhất là trong hòa bình. Xin nhấn mạnh, đấy là sự lựa chọn của tôi.

Tác giả Nguyễn Trung
Cuộc sống có nhiều lý do rất quan trọng khiến tôi phải cân nhắc kỹ cho sự lựa chọn này của mình. Đắn đo mãi, cuối cùng tôi rút ra kết luận cho chính mình: Dù sự tha hóa của quyền lực hiện tại có thể gây nên bất kể tội lỗi gì, nhưng nếu xót xa với từng hy sinh mất mát của cả dân tộc ta trong hơn một thế kỷ qua, nếu trân trọng từng sinh mạng, từng giọt mồ hôi nước mắt của nhân dân cả nước phải bỏ ra kể từ sau 30-04-1975 đến nay, nếu đặt lợi ích sống còn của đất nước lên trên hết, tôi lựa chọn:

(1) Cải cách hòa bình để chuyển đổi thể chế chính trị độc tài toàn trị hiện nay của đất nước sang một chính thể dân chủ của một nhà nước pháp quyền. Đấy là con đường duy nhất tránh cho đất nước một cuộc bể dâu mới nồi da xáo thịt, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng bế tắc trong khủng hoảng, mở ra một thời kỳ phát triển mới mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong bối cảnh quốc tế mới hiện nay đòi hỏi.

(2) Để có được một cuộc cải cách trọng đại như thế trong hòa bình, mọi việc phải bắt đầu từ ĐCSVN, với tính cách là lực lượng chính trị mạnh nhất và đang duy nhất nắm trọn vẹn trong tay quyền cai trị đất nước. Với tính cách như thế, ĐCSVN cần chủ động mở đường đi vào cuộc cải cách này. Nếu ĐCSVN không chịu chủ động như thế, nhân dân cả nước cần đồng lòng đòi hỏi bằng được ĐCSVN phải thực hiện nhiệm vụ cải cách chính trị này. Đơn giản vì nhiệm vụ này là lời hứa phải thực hiện mà ĐCSVN đã ghi trên lá cờ của mình khi hiệu triệu nhân dân đứng lên làm cách mạng. Nhiệm vụ chính trị này là món nợ chính trị số một với dân với nước, ĐCSVN từ khi đất nước độc lập thống nhất đến nay vẫn chưa thực hiện, bây giờ nhất thiết phải trang trải (đã nêu trong điểm 3, bài 1).

(3) Và trên hết cả, về nhiều mặt, nhiệm vụ cải cách duy tân đất nước hiện nay còn phải được coi là một nghĩa vụ thiêng liêng đối với từng người dân Việt Nam, có sự ràng buộc bằng hy sinh xương máu của biết bao nhiêu thế hệ Việt Nam kể từ khi mất nước vào tay chủ nghĩa thực dân Pháp cho đến hôm nay. Đây là nhiệm vụ từng thành viên của cộng đồng dân tộc Việt Nam ta. Từng người phải đứng lên thực hiện bằng được với tất cả tinh thần đoàn kết hòa giải dân tộc, với tất cả ý chí không gì quý hơn độc lập tự do. Không một người Việt Nam nào có thể vin vào bất kỳ lý do gì để thoái thác. Danh dự của dân tộc, sự sống còn và tương lai của đất nước đòi hỏi phải như thế.

II – Bàn thêm: Thay đổi bằng cải cách, hay là bằng bạo lực lật đổ?

Những vấn đề nóng bỏng do thực trạng đất nước gần 4 thập kỷ vừa qua tích tụ lại và những thách thức mới hiện nay dẫn đến đòi hỏi bất khả kháng, đó là phải thay đổi thể chế chính trị hiện hành.

Bằng cách nào?

Dù có những tình tiết pha trộn hay đan xen nhau như thế nào giữa những cách thực hiện khác nhau, song cuộc sống chỉ có 2 phương thức cơ bản để thay đổi thể chế chính trị hiện hành: (1) cải cách trong hòa bình; hay là (2) dùng bạo lực xóa bỏ chế độ hiện hành.

Trí tuệ của thế giới đến nay có được, cũng như thực tiễn của lịch sử các quốc gia trên thế giới đã xác nhận: cải cách trong hòa bình và cải cách thường xuyên để phát triển đất nước là con đường lý tưởng nhất làm nên ở mọi nơi quốc gia hưng thịnh, hạnh phúc, bền vững. Nhìn vào nước ta cũng phải nhận định như vậy.

Thực tiễn lịch sử vài ba thế kỷ nay của các quốc gia từ Đông sang Tây cũng cho thấy: Có nhiều cuộc cách mạng đã xẩy ra là tất yếu và bất khả kháng, để phá vỡ một trật tự xã hội đã bế tắc và không còn lý do để tồn tại. Song bất kể một cuộc cách mạng nào, sau khi phá vỡ được chế độ cũ, nhưng nếu không thành công tiếp theo trong quá trình cải cách và cải cách thường xuyên để phát triển đất nước sau đó, cuối cùng sự nghiệp cách mạng ở đó vẫn đổ vỡ, những lý tưởng tạo dựng nên cuộc cách mạng ấy trở thành không tưởng và cuối cùng là bị phản bội. Hệ quả thường là: Dần dà cách mạng tạo dựng nên một chế độ chính trị bất công mới. Quyền lực lại rơi vào nhóm thống trị mới chứ không phải vào tay nhân dân. Quá trình này tha hóa tiếp, cuối cùng dẫn tới hệ quả đất nước bị nhóm vô lại mới là chính con đẻ của cách mạng thống trị. Tất cả lại tích tụ thuốc nổ cho một cuộc cách mạng mới, bắt đầu một cái vòng luẩn quẩn mới của lịch sử…

Nguyên nhân cơ bản của sự vận động trên là: Bản chất của cách mạng là bạo lực, tự nó không thể mang lại dân chủ. Chính quyền cách mạng chỉ có thể tồn tại và bảo vệ được bằng chuyên chính. Trong khi đó dân chủ chỉ có thể là thành quả của một thể chế chính trị tiến bộ được từng bước xây dựng nên trong quá trình phát triển của quốc gia. Vì thế, sau cách mạng mà không có một thể chế chính trị có khả năng xây dựng nên dân chủ để phát triển, thì cuối cùng chỉ còn lại bạo lực; mà bạo lực vì sự tồn tại của chính nó thường xuyên đối kháng với dân chủ và phát triển. Chưa nói đến xây dựng dân chủ là một quá trình phấn đấu lâu dài, thường xuyên và gian khổ, nó là thành quả của phát triển; song đến lượt nó, chính dân chủ lại trở thành tiền đề của phát triển, - đây là cái biện chứng cần quan tâm.

Trên thế giới đến nay có không ít sách báo và công trình nghiên cứu chứng minh sự vận động nói trên của lịch sử. Sự vận động này không phải là đặc tính riêng của các cuộc cách mạng xã hội đã xảy ra trên thế giới. Thật ra, trước đó, sự vận động của các triều đại phong kiến trên thế giới cũng đều đi theo quy luật này: Quy luật sự tha hóa của quyền lực. [2]

Cái đấu tranh nay là trận cuối cùng (Quốc tế ca) hóa ra lại là cái câu hỏi mà chủ nghĩa cộng sản bỏ qua: Làm sao, sau khi cách mạng thành công trong việc xóa bỏ chế độ cũ, có thể luôn luôn chế ngự được và luôn luôn chiến thắng được quy luật tha hóa của quyền lực? Câu trả lời chỉ có thể tìm thấy trong quá trình cải cách và thường xuyên cải cách để phát triển đất nước. Tên của câu trả lời này là dân chủ, chứ không phải là chuyên chính vô sản.

Những lý lẽ xác đáng, cũng như thực trạng đất nước ta hiện nay đều dẫn tới một kết luận duy nhất: Cải cách thể chế chính trị là đòi hỏi tất yếu và là phương án tối ưu nhất đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Nói đến mức sát phạt là thế này: Giả định rằng không may đất nước ta bất khả kháng rơi vào một cuộc đấu tranh bạo lực đẫm máu mới, để thay đổi chế độ chính trị hiện nay của đất nước, thì ngay sau đó vẫn phải tìm đường thực hiện một sự nghiệp cải cách duy tân, và phải cải cách thường xuyên, để mang lại cho đất nước sức sống mới, sự phát triển mới. Đấy là chưa nói, nếu lựa chọn con đường bạo lực thì phải đấu tranh bạo lực trong bao nhiêu lâu? cái giá dân tộc ta phải trả? một hiệp đấu tranh bạo lực liệu có xong không? sẽ còn phải làm bao nhiêu hiệp tiếp theo nữa để cho thể chế mới ra đời?... Đã thế, bạo lực gọi bạo lực, cái chế độ mới sẽ được ra đời bằng đấu tranh bạo lực này là con đẻ của bạo lực thì làm sao mang lại hòa bình, trí tuệ và phát triển cho đất nước? v.v...

Chẳng lẽ đất nước ta gần một thế kỷ vừa qua chưa đủ kịch bản thay đổi chế độ hoặc xây dựng chế độ mới bằng bạo lực để suy ngẫm hay sao?..

Nhân đây cũng xin thưa, đấu tranh bạo lực ôn hòa nhất như ở Thái Lan (mà điều này không thể có ở Việt Nam) thì từ năm 1932 đến nay cứ vài năm lại một lần đảo chính, đổ máu không ít... Cho đến hôm nay con đường dân chủ của Thái Lan vẫn còn dài ở phía trước, mặc dù Thái Lan có những bước tiến xa hơn nước ta về dân chủ. Đã thế trên trái đất này không có sự chân không dành riêng cho Việt Nam. Làm gì, nước ta cũng phải tính đến những kẻ đánh hôi, những thế lực đục nước béo cò...

Tôi kết luận dứt khoát cho mình: Để nước ta trở thành một quốc gia phát triển, trước sau không có cách gì trốn được cải cách và cải cách thường xuyên. Nhật và Hàn Quốc hôm nay đều bắt đầu từ cải cách…

Xin lưu ý: Tấm gương xấu, tấm gương tốt của những biến động quốc gia trên toàn thế giới kể từ khi các nước Liên Xô – Đông Âu cũ sụp đổ cho đến hôm nay mang lại cho chúng ta không ít điều phải ngẫm nghĩ. Chỉ riêng hiện tượng Myanmar và hiện tượng Ukraina đang diễn ra cung cấp cho chúng ta nhiều bài học rất quý báu cho con đường cải cách của đất nước, miễn là dám nhìn thẳng vào sự thật, có trí tuệ nhìn đúng sự thật.

Còn như, nếu để cho đất nước ta bất khả kháng bị đẩy đến tình trạng xảy ra bạo loạn - giả định như vậy -, thiết nghĩ trước hết (xin nhấn mạnh trước hết) cần xem xét phẩm chất và năng lực của hệ thống chính trị hiện hành. Bởi vì so sánh tương quan lực lượng mọi mặt cho đến thời điểm hiện nay, có thể nhận xét: Tiềm năng và khả năng các lực lượng hay thế lực bên trong / bên ngoài muốn lật đổ chế độ chính trị hiện hành của Việt Nam bằng bạo lực vì bất kỳ lý do gì, đều rất yếu và hầu như không thể làm được, dù họ muốn. Nói như thế, để nhấn mạnh một vế khác quan trọng hơn nhiều: Việt Nam hôm nay có tất cả những điều kiện đủ cho cải cách và cải cách thành công; Việt Nam hôm nay chỉ còn thiếu điều kiện cần là: quyết tâm chính trị của đảng cầm quyền cho cải cách.

Mặt khác, cả nước phải cảnh giác với hệ lụy có thể của tình huống cái xảy nẩy cái ung. Đất nước gần đây xảy ra nhiều sự việc đau lòng, đó là các sự kiện như vụ Quỳnh Phụ - Thái Bình năm nào… Gần đây là vụ trấn áp Đoàn Văn Vươn, vụ trấn áp tại Văn Giang liên quan đến Eco Park, các vụ nạn nhân bị công an đánh chết trong khi giam giữ dẫn đến phản ứng quyết liệt của dân, các vụ người dân tự thiêu hay tự sát, các vụ bắt bớ đánh đập những người yêu nước biểu tình bầy tỏ ý chí bảo vệ biển đảo và chủ quyền quốc gia, vụ Nguyễn Phương Uyên, vân vân…

Vâng, giả định trong những vụ việc như vậy nếu lỡ tay để xảy ra sự cố không kiểm soát được – ví dụ như để xảy ra đổ máu lớn -, ai dám đoán trước những diễn biến tiếp theo, quy mô và hệ lụy của chúng? Chưa nói đến những sự cố không kiểm soát được kèm theo phản ứng bầy đàn nếu để xảy ra trong những khó khăn kinh tế của đất nước, trong thiên tai, dịch bệnh, trong một biến cố chính trị / kinh tế nào đó của khu vực hay trên thế giới, trong những thách thức mới phi truyền thống chưa ai lường được… vân vân.

Nêu lên những điều vừa nói trên, tôi muốn đặc biệt lưu ý: nguy cơ để xảy ra bạo loạn đang tiềm tàng nhiều hơn trong những hệ quả của những sai lầm, yếu kém và sự tha hóa phẩm chất của hệ thống chính trị - trong đó trước hết là của đảng nắm quyền gây nên. Nhìn sự việc với tin thần tiên trách kỷ, hậu trách nhân là thế.

Trong đời sống hàng ngày hiện nay, sự hoạt động đang diễn ra của đội ngũ dư luận viên đang từng giờ từng phút bóp méo sự thật, làm tha hóa hệ thống chính trị, làm tê liệt nghiêm trọng khả năng của đất nước đề kháng nguy cơ bạo loạn… Mọi dối trá như thế rõ ràng chỉ gây thêm những khó khăn mới cho đất nước và đều có cái giá phải trả. Mọi sự trấn áp khác theo khuynh hướng này cũng vậy. Có thể xem đây là một trong nhiều ví dụ về nhân – quả đòi hỏi phải được nhìn nhận với tinh thần tiên trách kỷ hậu trách nhân.

Còn một lẽ nữa, muốn kiên định con đường cải cách chính trị, cần phải tăng cường khả năng của nhân dân cả nước chủ động đề kháng đối với nguy cơ để xảy ra bạo loạn - nhưng không phải bằng kìm kẹp, trấn áp hay nói dối dân nhân danh giữ vững ổn định, mà phải bằng cách nói thật, tin vào dân, dựa vào dân trong mọi tình huống, nghe dân nói, trang bị cho dân mọi thông tin, hiểu biết và khả năng bảo vệ lẽ phải, làm cho dân tự giác chủ động loại bỏ nguy cơ này. Để làm được như thế, chung quy chế độ phải phấn đấu để thực sự là của dân, dám dựa vào dân.

Nói một cách trần trụi, chừng nào còn nói dối dân và không đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, chừng đó không có cải cách. Cải cách phải bắt đầu từ nói thật và yêu mước. Không có điều kiện tiên quyết này đừng nghĩ đến cải cách. Đương nhiên, cải cách còn đòi hỏi nhiều điều kiện khác nữa.

III – Vị thế của ĐCSVN trong cải cách

Sự lựa chọn của tôi: Dành cho ĐCSVN giữ vai trò quyết định, ngoại trừ trường hợp những người nắm quyền lực trong ĐCSVN hiện nay chủ trương chống lại cải cách và đối kháng lại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc.

Sự lựa chọn này của tôi trước hết căn cứ vào nghĩa vụ và món nợ lịch sử ĐCSVN đã cam kết với nhân dân, với tổ quốc và bây giờ nhất thiết phải trang trải.

Sự lựa chọn này của tôi xuất phát từ lòng tin trong ĐCSVN vẫn còn nhiều đảng viên có lương tri, có trí tuệ và tâm huyết với đất nước, mặc dù họ đang bị hệ thống bộ máy đảng kìm kẹp, đang bị nhiều áp lực khác trong thể chế chính trị cũng như trong đời sống hàng ngày làm cho vô hiệu hóa, hay làm cho câm lặng. Khi có điều kiện, những đảng viên này chắc chắn sẽ xả mình vì nước. Hơn nữa, về mặt nào đó mà xét, số đảng viên tha hóa biến chất, ngoan cố chống lại lợi ích của đất nước cũng như lợi ích chính đáng của chính bản thân ĐCSVN chỉ là thiểu số, cho dù họ là những người chi phối quyền lực. Nếu có thảo luận dân chủ và công khai trong đảng, chắc chắn chính nghĩa và sự thật sẽ thắng ngay trong nội bộ ĐCSVN.

Sự lựa chọn này của tôi dựa trên nhận định: Nếu những người có thực quyền trong đảng chủ trương thảo luận dân chủ và thẳng thắn trong nội bộ đảng như thời đại hội VI về thực trạng đất nước hiện nay và tìm lối ra, hoặc là nhiều đảng viên lên tiếng yêu cầu lãnh đạo và các tổ chức của đảng phải tổ chức cuộc thảo luận này, tôi tin rằng sự thật sẽ được nhận diện, hầu như chắc chắn sẽ có tiếng nói quyết định phải tiến hành cải cách chính trị để cứu nguy đất nước.

Nhận định như vậy, bởi vì tôi đã được nói chuyện với nhiều đảng viên tâm huyết như thế, kẻ đã về hưu, người đang tại chức. Chúng tôi hầu như thống nhất với nhau cách suy nghĩ này. Thậm chí có một đảng viên tại chức, thuộc loại rất cao cấp, nói với tôi: “Anh Trung ạ, để cải cách, cái đảng ta cần nhất bây giờ là thực hiện dân chủ ngay trong đảng!..” Tôi thừa nhận đảng viên ấy đúng. Phần nào hiểu được sự vận động của đảng trong cuộc sống, trong lòng tôi ước ao lúc nào đó bàn về đổi mới ĐCSVN, sẽ có ai đó đưa ra đề nghị nhìn nhận lại lịch sử mất dân chủ trầm trọng diễn ra trong nội bộ đảng. Việc này cần làm để lấy lại sức chiến đấu của đảng.

Sự lựa chọn này của tôi dựa trên tinh thần khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, không hồi tố, thực hiện dân chủ để đoàn kết và hòa giải dân tộc; mọi người và mọi lực lượng chính trị của đất nước đều phải mang hết sức mình cống hiến cho sự nghiệp cải cách để phát triển đất nước. Có thể nói đây là nguyện vọng cháy bỏng của hầu hết những người Việt Nam có hiểu biết và quan tâm đến vận mệnh của đất nước, dù là sống trong nước hay ở nước ngoài. Gặp gỡ những người này, ai cũng nói rằng tối ưu với đất nước ta là từ chỗ đứng hiện nay, chắt chiu tất cả những gì đã làm được, thông qua cải cách chính trị để tìm đường cho đất nước đi tiếp, sẵn sàng khép lại quá khứ để đi tiếp. Đừng xóa đi làm lại từ đầu. Đừng phải đổ thêm máu nữa, bốn cuộc chiến tranh trong một nửa thế kỷ đối với đất nước ta là quá nhiều rồi!...

Quan trọng hơn nữa, tìm được mục tiêu của cải cách sao cho trong cải cách cũng như trong thành quả đạt được từng người dân yêu nước ai cũng thấy được mình. Một sự nghiệp cải cách như thế chẳng lẽ là không đáng? Một sự nghiệp cải cách như thế lý gì không thể thành công? Vì thế, dân chủ, đoàn kết, hòa giải dân tộc… không phải là những khái niệm trừu tượng, mà phải là những gì thấy được, cảm nhận được ngay trong quá trình tiến hành cải cách và trong mục tiêu đạt được.

Tóm lại, tình thế đất nước lựa chọn đảng cần chủ động đứng ra vận động cả nước tiến hành cải cách, giữ vai trò quyết định trong cuộc vận động này, dù rằng đảng phải phấn đấu rất quyết liệt mới có thể có được phẩm chất đảm nhận trách nhiệm này. Tôi lựa chọn như thế cho đảng.

Vâng, sự lựa chọn như vậy có thể là cuộc mạo hiểm cuối cùng của tôi. Vì ở tuổi tôi, ai mà biết được trò chơi của tạo hóa? Tôi không còn nhiều thời gian cho những hoài bão khác. Bây giờ làm được việc nào, biết chắc việc nấy.

Coi sự lựa chọn này là một mạo hiểm, vì đây là một lựa chọn rất khó đối với tôi: Cải cách sẽ phải đương đầu quyết liệt với quyền lực và đối mặt với không biết bao nhiêu vấn đề nan giải, đòi hỏi trí tuệ và nghị lực nhiều hơn là đấu tranh bằng bạo lực. Rồi còn những diễn biến không dễ chế ngự… Tôi không dám nói mình đã lường được mọi sự… Song có thể nói, tôi đang dành tất cả những gì mình nghĩ được cho cuộc mạo hiểm này. Vì đấy là ý nghĩ nung nấu trong tôi mấy thập kỷ nay: Phải đi theo con đường cải cách, còn nước còn tát!

Còn một lý do nữa, có lẽ là quan trọng nhất: Tôi lựa chọn cải cách, vì cái thiện trong cuộc sống, dù bị băm vằm như thế nào, vẫn là bất diệt, vẫn là bất khả kháng.

Hàng ngày, đi đâu hoặc lật trang báo, không ít thì nhiều tôi đụng phải những chuyện tím ruột tím gan. Vài tháng trước đây là những chuyện đại loại như dư luận viên dọa mất sổ hưu. Cách đây vài ngày là chuyện tổ chức nhảy đầm tại vườn hoa Lý Thái Tổ để phá rối những người biểu tình tưởng nhớ những hy sinh mất mát trong cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc, trong khi đó dư luận viên xa xả mắng những người đi biểu tình: Các người kích động chống Trung Quốc, sẽ không có hàng nhập khẩu, để kinh tế nước ta chóng sụp đổ, để các người dễ bề lật đổ chế độ có phải không?!.. Mới hôm qua thôi, một bạn già lão thành cách mạng của tôi có giấy của cơ quan đảng cấp trên đòi phải làm kiểm điểm về tội viết những bài được cho là chống đảng, và phải tự định mức kỷ luật trước đảng. Bạn của tôi bác lại, nói thẳng đảng này không phải là đảng ông giơ tay tuyên thệ khi gia nhập cách đây hơn một nửa thế kỷ!.. Cuộc sống còn vô vàn chuyện đau lòng khác nữa, những vụ tham nhũng động trời, những tội ác hình sự man rợ trong xã hội ngày càng nhiều…

Nhưng đi đến đâu tôi đồng thời cũng gặp không ít cái thiện đang lặng lẽ, bền bỉ dung dưỡng cuộc sống này, duy trì sự tồn tại của đất nước này – những nỗ lực im hơi lặng tiếng không cần ai biết đến của người dân, của người cán bộ, của đảng viên… Họ là số đông trong cuộc sống này. Tôi có cảm tưởng cuộc sống ác nghiệt này chẳng làm gì được họ!.. Trong tôi càng khao khát mong sao cái thiện âm thầm này phải sớm trở thành dòng chảy chính xoay chuyển cục diện đất nước, đưa đất nước sang trang mới.

Song đặt hy vọng bao nhiêu vào cải cách chính trị, tôi vẫn phải cảnh báo quyết liệt bấy nhiêu về cái mặt cố hữu cực kỳ nham hiểm và phản động của quyền lực. Cảnh báo chính mình và mọi người. Cải cách không dễ như chúng ta muốn. Quyền lực thường vô cảm với lẽ phải và không dễ nhường bước, mà thường là không tự giác nhường bước cho cải cách như chúng ta mong đợi. Thậm chí cải cách cũng phải đứng lên mà giành lấy, mà thực hiện. Dẫn chứng là gần ba thập kỷ đã qua kể từ khi tiến hành đổi mới kinh tế năm 1986, nhưng đến nay cải cách chính trị vẫn bị trì hoãn; đời sống chính trị trong nước cũng như của đảng nhiệm kỳ khóa đại hội XI hiện nay có nhiều bước thụt lùi hay xuống cấp nghiêm trọng so với khóa đại hội X, đại hội IX… Chưa nói đến, mọi vấn đề trong cuộc sống hiện nay của đất nước phải giải quyết đều vô cùng khó khăn phức tạp. Có những việc trong tình hình bình thường phải thận trọng một, trong khi tiến hành cải cách thì phải thận trọng hai, ba… Chúng ta không được lựa chọn, mà cuộc sống đưa ra đòi hỏi như thế.

Có câu hỏi: Đã thế, tại sao lại cứ phải dành cho ĐCSVN vai trò quyết định trong cuộc cải cách này?

Xin thưa:

Trước hết, đó là sự lựa chọn của tôi. Sau nữa, suy nghĩ nhiều mặt, tôi thấy cũng nên như vậy.

Trí tuệ thế giới đã tổng kết từ lâu rồi: Cải cách chính trị duy tân đất nước tiến hành từ trên xuống – nghĩa là từ giới cầm quyền, thậm chí từ cấp cao nhất của giới cầm quyền – thường là phương án tối ưu nhất.

Ngay ở nước ta, áp lực của đổi mới để xóa bỏ kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu và bao cấp đến từ nhân dân, từ cuộc sống. Quá trình này lên bờ xuống ruộng hàng chục năm, với nhiều tổn thất cay đắng. Song chỉ một khi đổi mới trở thành quyết định của đại hội VI, bởi vì áp lực này không thể cưỡng lại được nữa, đổi mới đã thành công ngoạn mục.

Ai được gì, ai mất gì trong đổi mới vừa qua, đó là điều cả nước nên suy ngẫm, trước hết là ĐCSVN và các đảng viên. Có lẽ cũng nên đặt ra câu hỏi: Nếu không có đổi mới vừa qua, ĐCSVN hôm nay có còn không?..

Bây giờ, với tính cách là đảng duy nhất nắm quyền, nếu ĐCSVN chủ động đứng ra đảm nhận vai trò quyết định trong cải cách chính trị, xin hỏi còn gì đáng mong muốn hơn cho đất nước chúng ta trong điều kiện hiện nay?

Trong một kịch bản như thế, cải cách hầu như chắc chắn thành công. Thử hỏi, qua đó vị thế của ĐCSVN trong xã hội Việt Nam cũng như trong cộng đồng thế giới rồi đây sẽ như thế nào? Một Việt Nam thông qua cải cách để phát triển và đứng vững được trên đôi chân của mình sẽ được thiên hạ rồi đây đối xử ra sao? Có phải quỵ lụy và leo dây như hiện nay không?..

Song chẳng lẽ chỉ vì quyền lực trong đảng muốn ĐCSVN độc quyền nắm quyền, nhân danh bảo vệ chế độ của đảng và con đường định hướng xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng biến ĐCSVN thành trở lực số một của cải cách, thế là toàn thể đảng viên đành cam chịu, và cả đất nước này cũng đành cam chịu?.. Rồi tình trạng cam chịu như thế sẽ trụ được bao lâu?.. Tất cả các đảng viên cần thẳng thắn với câu hỏi này và có ý kiến của mình.

Như đã nói trên, trách nhiệm lịch sử, và cũng là nghĩa vụ ràng buộc phải trang trải nữa, đặt ĐCSVN vào vị thế phải chủ động nắm lấy vai trò quyết định trong sự nghiệp cải cách duy tân đất nước hiện nay. ĐCSVN hoàn toàn có thể làm được như vậy và thành công. Bởi vì ĐCSVN có bề dầy lịch sử và có lịch sử là người thầy luôn luôn cho đảng những bài học trung thực đáng học, lịch sử chứ không phải bất kỳ thứ chủ nghĩa nào. Cái gì chưa biết, lịch sử sẽ dậy. Cái gì quên, lịch sử nhắc nhở - mà lịch sử chẳng bao giờ quên điều gì. Nhưng trốn tránh lịch sử, sẽ phải trả giá. Nếu phản lại lịch sử, sớm muộn không tránh khỏi bị trừng phạt.

Nếu yêu nước, yêu dân, ĐCSVN nên coi việc nắm lấy vai trò quyết định này trong cải cách là cơ hội trả nợ ơn nghĩa sâu nặng của nhân dân, và qua đó tự đổi đời được chính mình.

Chữ tín các thế hệ tiền bối của đảng đã xây dựng nên nhưng thế hệ hiện nay hủy hoại, nắm lấy cơ hội này ĐCSVN hôm nay sẽ lấy lại được, sẽ làm lại được tất cả và tự mở ra cho mình con đường mãi mãi cùng đi với nhân dân.

Nếu ĐCSVN hôm nay không chủ động tiến hành cải cách, hoặc nếu không bằng mọi cách vận động được ĐCSVN hôm nay tham gia cải cách, khả năng cải cách trong hòa bình và ổn định hầu như không hiện thực. Đơn giản là quyền lực nếu không lựa chọn tự hành động trên con đường cải cách, nó chỉ còn lại khuynh hướng luôn luôn huy động bạo lực để tự vệ. Như thế xung đột xã hội chắc chắn xảy ra. Nếu kịch bản này xảy ra, sẽ rất nhiều đau khổ cho đất nước, nghĩa là cái gì phải đến sẽ đến. Điều này càng làm rõ: Chủ động tiến hành cải cách là phương án tối ưu nhất cho đất nước và cho mọi bên hữu quan, trong đó thực hiện dân chủ để khép lại quá khứ theo tinh thần đoàn kết hòa giải dân tộc là chìa khóa.

Thảo luận công khai trong đảng và trong cả nước, chắc chắn lẽ phải sẽ thắng, làm nên cái được chung rất lớn cho cải cách, đồng thời giảm thiểu được cái giá phải trả của tất cả các bên hữu quan.

Vai trò quyết định ở đây dành cho ĐCSVN trước hết được hiểu là: Đảng dựa vào ý chí và nguyện vọng của nhân dân chủ xướng cải cách, huy động mọi trí tuệ và thúc đẩy mọi nỗ lực của nhân dân cả nước cho tiến hành cải cách, giữ gìn cho cải cách được tiến hành trong hòa bình, trật tự và ổn định. Thật ra nội dung này chính là những việc chính quyền của tổng thống Thein Sein – Myanmar kể từ khi lên cầm quyền đã và đang thực hiện trong một kế hoạch tổng thể, với các thời gian biểu được tính toán cẩn trọng cho từng bước đi nhỏ trong những lĩnh vực khác nhau.[3] Cũng phải nói thêm, dân trí và chất lượng áp lực đòi hỏi cải cách đến đâu, thành quả đạt được đến đấy, chẳng có cái gì được thiện chí cho không hoặc tự rụng xuống từ trên trời. Sự chủ động tiến hành cải cách của chính quyền Thein Sein đã kết thúc được trong hòa bình chế độ quân phiệt 20 năm đẫm máu ở Myanmar, đột phá được những bước cải cách đầu tiên ngoạn mục trên con đường trường chinh vạn dặm vì dân chủ và phát triển.

Một khi ĐCSVN dứt khoát khước từ vai trò quyết định lẽ ra cần nắm lấy này, đương nhiên đảng sẽ tự diễn biến mình từ đảng tiền phong chiến đấu (như ghi trong cương lĩnh) trở thành một lực lượng chính trị lớn nhất hiện nay độc quyền cai trị đất nước. Một khi đảng chỉ còn là một lực lượng chính trị như thế, hiện tượng này tự nó sẽ dấy lên trong xã hội những lực lượng đối kháng. Đảng đã chẳng từng dậy cho đảng viên của mình “có áp bức thì có đấu tranh chống áp bức” là gì!?

Thực tiễn cuộc sống hàng ngày cũng đang cho thấy: Vai trò lãnh đạo của đảng càng bị diễn biến và thay thế bằng cai trị bao nhiêu, thì quá trình phân hóa xã hội nước ta thành các lực lượng đối kháng khác nhau càng trở nên quyết liệt bấy nhiêu. Con đường dẫn tới các cuộc bể dâu vừa qua ở các nước Bắc Phi và một số nước khác chính là con đường đi qua cuộc sống hàng ngày như vậy đó. Cho nên, cải cách chính trị thật sự là con đường sống của đảng. Cứ đem ra thảo luận thẳng thắn trong đảng điều này, đúng sai sẽ vỡ nhẽ.

Hỏi: Đảng muốn cải cách lắm, nhưng vì sinh sôi nhiều dây mơ rễ má quá, đa mang đèo bòng nhiều quá, bây giờ có muốn cũng không làm nổi thì sao?

Đáp: Thì dân giúp đảng, giúp được đấy. Giúp cho đến khi thành công mới thôi. Kể từ khi thành lập năm 1930 dân đã chẳng bao phen cứu sống đảng là gì?! Chẳng những cứu, mà không dưới một lần còn đem xương máu mình ra bảo vệ nữa!.. Lần gần đây nhất dân cứu sống đảng là công cuộc đổi mới thời đại hội VI. Ngày nay, đảng còn muốn đi với dân, thì dân còn cứu được. Dựa vào dân, đảng cũng sẽ tự cải tạo được chính mình.

Hỏi: Giả định rằng dành cho vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định như thế trong tiến hành cải cách, nhưng nếu ĐCSVN hôm nay trước sau không muốn nhận, lần này quyết không nhận và chống lại thì làm sao?

Đáp: Hỏi như thế, cũng có nghĩa câu trả lời đã rõ ràng. Người Việt nào không thuộc câu nói của Nguyễn Trãi?

Lời kết: Công dã tràng?

Đã bao nhiêu lần tôi nói, viết góp ý cho các đại hội đảng, nhưng công cốc, không bao giờ có hồi âm. Các bài viết khác, các thư riêng về vấn đề này vấn đề nọ cũng vậy.

Nhưng không sao. Nước Việt Nam chúng ta là của tất cả mọi người Việt Nam chúng ta, lo gì. Ai đó trong đảng không muốn nghe, không muốn đọc, thì người Việt Nam khác nghe, người Việt Nam khác đọc, trong đảng hoặc ngoài đảng. Lẽ phải cần phải được chia sẻ, kiểm định. Sự lựa chọn của tôi như đã trình bày trong bài này có thể đúng, có thể sai, có những điểm đúng, có những điểm sai…Thiết nghĩ trao đổi với nhau như thế, sẽ càng nhiều người quan tâm, suy nghĩ về vận mệnh của đất nước, chúng ta sẽ càng rộng đường dư luận... Như thế, các ý kiến sẽ ngày càng được gạn đục khơi trong, và càng trở nên đúng đắn hơn. Thời gian quý vô giá, mỗi ngày chúng ta cố trao đổi với nhau một thông tin, một ý kiến, chí ít là góp vào thôi thúc sự quan tâm đến vận mệnh đất nước… Được như thế, âu cũng là sự chuẩn bị thiết thực cho thái độ của chúng ta đối với những gì xảy ra, sẽ xảy ra. Nghĩ như vậy tôi không nản lòng, mà chỉ lo ý kiến của mình còn nghèo nàn.

Tôi cố không nuối tiếc công dạ tràng.

Hà Nội ngày 25-02-2014

 Nguyễn Trung

Bài 3 (kế tiếp): “Vượt qua khúc quanh của lịch sử”
______________________
[1] viet-studies.info 12-02-2014, được bổ sung ngày 17-02-2014: http://viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_ChuTin.htm và http://nguyentrung-vt.blogspot.com
[2] Cuốn sách đã dịch sang tiếng Việt rất đáng tham khảo gần đây cho chủ đề này là cuốn “Vì sao các quốc gia thất bại – nguồn gốc của quyền lực, sự thịnh vượng và nghèo khó” của Daron Acemoglu và James A. Robinson, NXB TRẺ, TPHCM 2013.
[3] Tham khảo: Nguyễn Trung, “Câu chuyện Myanmar”, http://viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_CauChuyenMyanmar.htm và http://nguyentrung-vt.blogspot.com
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 5-4-14

THỦ PHẠM GIẾT SỐNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM !

Danquyen

Nguyễn Đăng Quang
Cách đây 23 năm ( tháng 2-1991), trên đường công tác, ghé vào nghỉ tại Nhà khách của Sứ quán ta, tôi được các đồng chí ở Sứ quán đưa cho đọc một phụ bản của nguyệt san ĐOÀN KẾT, tờ báo của Hội người Việt Nam (Việt kiều) tại Cộng hòa Pháp, số 420 ra tháng 1-1991. Tôi rất chú ý đến một bài viết của tác giả Thái Như có tựa đề bằng phiên âm Hán-Việt. Đầu đề bài viết nguyên văn như sau : ” Sư tử thân trung trùng thực sư tử nhục”. Tác giả Thái Như giải thích câu đó có nghĩa là “Chỉ có loài sâu trong thân con sư tử mới ăn được thịt của con sư tử !”  Sau đó tác giả dẫn giải sư tử là chúa tể rừng xanh ,một tiếng gầm của nó làm muôn thú run sợ, nói chi đến việc dám lại gần nó, dám mó đến người nó hay dám…ăn thịt nó ! Đó là những con sư tử khỏe mạnh và như thế nó là vô địch! Ngược lại nếu có loài sâu bọ (trùng) ẩn nấp trong người nó,đục khoét dần xương tủy nó thì sao ?  Tác giả liền đi đến kết luận :”Đương nhiên, điều không thể tránh khỏi là con sư tử đó sẽ ngã quỵ một khi những con sâu trong người nó ngày một nhiều và lớn mạnh!”
Rồi tác giả liên hệ, về thăm quê nhà,đi bất cứ đâu,vào bất kể một hội trường nào,mọi người đều thấy có những khẩu hiệu: “Chủ nghĩa Marx-Lenine vô địch muôn năm!”, “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!” v.v… làm mọi người liên tưởng đến sự vô địch của con sư tử! Vâng,nó vô địch thật nếu nó không bị sâu bọ đục khoét !
Sau đó tác giả đưa ra nhận xét: “Tình hình Việt Nam ta khó có thể xảy ra những sự kiện như ở Liên Sô cũ hoặc các nước XHCN Đông Âu,song có những vấn đề thì nguy hiểm không kém! Đó là những con sâu vô cùng khủng khiếp đang đục khoét con sư tử!”.  Để chứng minh, tác giả liệt kê :
- Chúng ta đã thấy một con sâu thật lớn : Đại tá Giám đốc Công an Đồng Nai bị tử hình vì bán bãi, tham ô cả ngàn lạng vàng.
- Chúng ta thấy cả một “nhóm sâu có tổ chức”: Cả một băng cán bộ đảng viên cao cấp toa rập, ăn cắp một cách quy mô vật tư cảng Sài gòn.
- Chúng ta đã thấy những con sâu thật khủng khiếp : Đốt kho cảng Hải Phòng để phi tang sự đục khoét của chúng.
- Và nay những con sâu “không có tên gì để gọi” đã ngang nhiên đốt cả Imexco Sài gòn !
Rồi còn biết bao con sâu bự khác như kiểu Hà Trọng Hòa đang lúc nhúc ?
Phần cuối bài viết, tác giả thốt lên : “Sư tử thân trung trùng thực sư tử nhục” là như thế và những con sâu ấy hiện đã quá to, quá mạnh ! Kết thúc bài viết, tác giả gióng lên câu hỏi cảnh báo : Liệu có thuốc chữa không và có chịu chữa hay không ? Hay là con sư tử luôn luôn ngạo nghễ gào lên “Ta là vô địch!”, “Ta là bất tử!”, “Ta là đỉnh cao trí tuệ!” trong lúc sâu nhặng đã tràn đầy cơ thể nó ??.
Bài viết trên của nhà báo Thái Như rất sâu sắc và chí lý ! Và cho đến nay sau hơn 23 năm nó vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi ! Thiện ý của bài viết thì rất rõ và đầy tính xây dựng: Tác giả Thái Như muốn gửi đến Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta một thông điệp rõ ràng cùng mong ước thiết tha của một người con đất Việt là “Đảng hãy tự chỉnh đốn mình,làm trong sạch đội ngũ lãnh đạo và đảng viên của mình,loại bỏ những ung nhọt trong cơ thể Đảng để đồng hành cùng toàn dân tộc đưa đất nước đi lên !”
Vâng, kể từ khi nhà báo Thái Như gửi đến Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta thông điệp nói trên đến nay đã trên 23 năm, và trong 23 năm đó Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 5 kỳ Đại hội Đảng toàn quốc. Tại mỗi kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt nam đều nêu lên những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, trong đó có nguy cơ tham nhũng, và đều nêu quyết tâm diệt trừ tận gốc tệ nạn này! Song quái lạ, nguy cơ này không những không bị  trừ diệt mà ngược lại, cứ qua mỗi kỳ Đại hội, nó càng ngày càng phát triển, càng mạnh thêm lên, cả về quy mô cũng như về số lượng ! Và nguy hiểm hơn, nó không chỉ xảy ra trong lĩnh vực vật chất mà nó lan sang cả nhiều lĩnh vực khác, như đạo đức, lối sống, tư tưởng, quyền lực,v.v… nữa ! Bây giờ không chỉ là những con sâu đơn lẻ hoặc một nhóm vài ba con sâu như thời kỳ cuối những năm 1980′s hay đầu 1990′s mà nay  nó đã phát triển và lớn mạnh thành những đàn sâu,bầy sâu, thậm chí cả “tập đoàn” sâu rồi !
Có thể khẳng định gần như100% bọn sâu mọt tham nhũng đều là những cán bộ,đảng viên có chức, có quyền. Người dân thường không thể tham nhũng và nếu có ai đó muốn làm điều đó cũng đâu có dễ? Và tuyệt đại đa số những vụ tham nhũng bị lôi ra ánh sáng là do người dân và báo chí  phát hiện, phanh phui và tố cáo. Còn những vụ do các cơ quan chức năng như kiểm tra,thanh tra và điều tra khui ra thì rất it, có thể đếm trên đầu ngón tay. Nhiều người khẳng định rằng những con sâu bị lộ so với những con sâu chưa bị lộ cũng giống như mẩu băng nổi của tảng băng chìm ! (Có lẽ,vì thế mà có câu nói: “Kính thưa đồng chí đã bị lộ! Kính thưa các đồng chí chưa bị lộ!”.)
Khó có thể thống kê đầy đủ những con sâu to nhỏ đã được “ bạch hóa” từ trước cho đến nay. Người viết bài này chỉ xin điểm qua một số con sâu”tiêu biểu” đã bị lộ diện trong vòng hơn 10 năm vừa rồi qua một vụ án sau đây:
-  Trương Văn Cam (Năm Cam) -một tên mafia cộm cán,đứng đầu một băng xã hội đen khét tiếng ở đất Sài thành, tung hoành trong nhiều năm dài,gây bao kinh hoàng cho người dân và chính quyền TP HCM- bị bắt và kết án tử hình tháng 9-2003. Năm Cam có một câu nói nổi tiếng mà hắn coi là kim chỉ nam hành động mỗi khi bọn chúng giao dịch với quan chức các cơ quan công quyền,đó là “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất,rất nhiều tiền !” Trong vụ án này hàng loạt cán bộ, đảng viên cao cấp bị bắt giam và lĩnh án ,trong đó có Trần Mai Hạnh,nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài phát thanh TNVN, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam bị 9 năm tù giam; Phạm Sỹ Chiến,nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao bị 6 năm tù giam;  Bùi Quốc Huy,nguyên Ủy viên Trung ương Đảng,Trung tướng,Thứ trưởng Bộ Công an bị 4 năm tù giam về các tội nhận hối lộ, bao che,bảo kê… cho Năm Cam và đồng bọn.
- Lương Quốc Dũng: Tại phiên tòa ngày 29-10-2004 Dũng bị kết án 8 năm tù về “tội
hiếp dâm trẻ em”. Khi phạm tội Lương Quốc Dũng đang là Phó Chủ nhiệm Ủy ban TD-TT
Trung ương. Dũng có nhờ một phụ nữ môi giới,tìm một bé gái 13 tuổi đưa đến khách sạn cho y quan hệ tình dục để “phá trinh giải đen”. Tuy sau đó Dũng đã tự nguyện bỏ ra 68.000 đô la Mỹ để gia đình người bị hại xin bãi nại, nhưng Tòa không chấp nhận.
- Lã Thị Kim Oanh:  Tại phiên phúc thẩm ngày 5-4-2004 tại Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội ,Lã Thị Kim Oanh ,nguyên Giám đốc Công ty Tiếp thị và Thương mại của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bị tuyên án tử hình (sau được Chủ tịch nước ân giảm xuống chung thân) vì đã cùng đồng bọn tham ô và làm thất thoát gần 150 tỷ đồng của nhà nước. Trong vụ án này còn có 2 Vụ trưởng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bị tuyên án 3 và 4 năm tù giam, cùng 2 vị Thứ trưởng của Bộ này(trong đó có 1 vị là Thứ trưởng thường trực) bị tuyên phạt 2 và 4 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Vụ PMU 18: Đầu tháng 1-2006, Bùi Tiến Dũng,Tổng Giám đốc Ban Quản lý các Dự
án 18 (PMU18) bị bắt và bị cáo buộc đã đem hàng chục tỷ đồng mà y tham ô từ công quỹ
để đi bao gái,hối lộ và đánh bạc.Riêng số tiền mà Dũng cá độ bóng đá lên tới 1,8 triệu
Đô la Mỹ. Liên quan đến vụ án này,Thứ trưởng thường trực Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Việt Tiến bị bắt giam và Bộ trưởng Đào Đình Bình buộc phải từ chức. Ngày 21-8-2007,Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên phạt Bùi Tiến Dũng 13 năm tù giam. Bảy cán bộ liên quan khác bị kết án từ 3 đến 9 năm tù giam. Vụ này không chỉ gây xôn xao dư luận tại Việt Nam mà khiến cho các quốc gia và các Tổ chức quốc tế cung cấp viện trợ chính thức(ODA) cho Việt Nam nghi ngại.
-Vụ Mai Văn Dâu:  Ngày 18-11-2004,Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại (nay là
Bộ Công thương) Mai Văn Dâu bị bắt giam .Trước đó con trai ông là Mai Thanh Hải,
chuyên viên Vụ Xuất Nhập khẩu và 2 cán bộ cấp Vụ khác của Bộ Thương mại…cũng bị bắt.Sau đó,nguyên Thứ trưởng Mai Văn Dâu và đồng bọn bị truy tố về các tội nhận hối lộ, đưa hối lộ ,môi giới hối lộ ;lợi dung chức vụ,quyền hạn trong khi thi hành công vụ;lừa đảo chiếm đoạt tài sản;làm giả tài liệu của cơ quan,tổ chức. Ngày 20-6-2007,Tòa án Nhân dân Tối cao tại TP Hồ Chí Minh tuyên phạt Mai Văn Dâu 12 năm tù giam, Mai Thanh Hải 5 năm tù giam,Lê Văn Thắng(nguyên Vụ phó Vụ Xuất Nhập khẩu)17 năm tù giam.Các bị cáo còn lại bị tuyên từ 3 cho đến 12 năm tù giam.
-Vụ Đề án 112
Vụ PCI-Huỳnh Ngọc Sỹ
-Vụ Vinashins
-Vụ Vinalines
-Vụ Tiên Lãng
-Vụ Văn Giang
-Vụ quan đánh cờ bạc tỷ ở Sóc Trăng
-Vụ nhân bản xét nghiệm ở Hoài Đức
-Vụ lương khùng 2,6 tỷ
-Vụ Sầm Đức Xương-Nguyễn Trường Tô
- Hồ Xuân Mãn:  Ngày 21-8-2010, Hồ Xuân Mãn (lúc đó đang là đương kim Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên- Huế) do khai man ,mạo nhận, gian dối và “chạy” thành tích nên được phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân”. Ngày 2-1-2014 vừa qua, Ban Bí thư Trung ương Đảng, sau gần một năm thẩm tra,xem xét các tố cáo của người dân và của các CCB, đã ra quyết định đề nghị Nhà nước tước bỏ danh hiệu trên và thu hồi hiện vật,tiền thưởng đối với Hồ Xuân Mân,nhưng chưa đưa ra bất cứ hình thức kỷ luật đảng nào vì đương sự đang ốm đau,bệnh tật! Trước đó,năm 2009, Hồ Xuân Mãn còn được tuyên dương là 1 trong 3 Bí thư Tỉnh ủy tiêu biểu của toàn quốc đã gương mẫu trong phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ấy là chưa nói đến một “thành tích” nữa là trong 2 nhiệm kỳ tại vị ở chức “Vua đất cố đô”,ông ta còn được người dân quê hương phong tặng thêm một danh hiệu nữa là “vua dê gái”!
(Không rõ trong hàng ngũ của Đảng ta hiện nay có bao nhiêu cán bộ lãnh đạo có chức vụ bằng hoặc cao hơn ông Hồ Xuân Mãn mà ”thành tích” không thua kém gì ông này nhưng chưa bị lộ không? Hẳn là không ít ! Không rõ các quý vị này- sau khi nghiêm túc nghiên cứu,quán triệt NQ4 của Trung ương Khóa XI- có vị nào dám dũng cảm và tự giác giơ cao tay thú nhận không ?)
Trước khi bị bắt và bị truy tố theo Điều 258 Bộ Luật Hình sự, nhà báo Trương Duy Nhất có một bài báo góp ý với Lãnh đạo Đảng về công tác “xây dựng,chỉnh đốn đảng”,sau khi Đảng ban hành Nghị quyết Trung ương 4.Bài báo lấy đầu đề là “ Trị Đảng” có nội dung phê phán mạnh mẽ,sắc sảo và kịp thời,nói “trúng phóc” nhiều căn bệnh của Đảng nhưng không phải là không có tinh thần xây dựng,càng không phải là chống Đảng,chỉ có điều tác giả tỏ ra bi quan,không nhìn thấy hy vọng nào vào Đảng .( Bài này không thấy Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao liệt kê trong Cáo trạng ngày 17-12-2013 để truy tố nhà báo-blogger nổi tiếng nói trên về tội ”Lợi dung các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền,lợi ích hợp pháp của tổ chức,cá nhân”. Cũng như đa số những người theo dõi và hiểu biết về vụ này, cá nhân tôi tin rằng blogger Trương Duy Nhất không vi phạm luật pháp và không có tội !). Trở lại bài  báo “Trị Đảng”, sau khi trích dẫn câu nói của Giang Trạch Dân khi còn đương chức “muốn trị quốc phải trị đảng”, nhà báo Trương Duy Nhất viết : “Hồi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nghe nói ”nhà dột từ nóc”.Đến giờ,hình như “cái nhà” ấy không những dột từ nóc mà “dột nhiều chỗ khác nữa”.”Dột nhiều chỗ khác”là cách nói của cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu,chứ thực ra không phải dột mà nhiều chỗ đã thực sự…mục nát rôi !”
Học giả LÊ QUÝ ĐÔN (1726-1784)-nhà thơ đồng thời là nhà bác học nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ Hậu Lê, người sống cách chúng ta gần 3 thế kỷ - đã nêu lên 5 hiện tượng xã hội là nguyên nhân dẫn đến đất nước lụn bại và làm chế độ suy vong.  Đó là:
- Trẻ không kính già
-Trò không trọng thày
-Binh kiêu,tướng thoái
-Tham nhũng tràn lan
-Sỹ phu ngoảnh mặt
Đối chiếu vào tình hình xã hội và đất nước ta hiện nay,chúng ta có thể thấy tất cả 5 hiện tượng trên đều hiện diện một cách phổ biến ở khắp nơi (có thể nói ở hầu hết các bộ,ngành trung ương cho đến tất cả 63 tỉnh,thành trên trên toàn quốc) tuy rằng ở mức độ mỗi nơi có khác nhau,song trong số 5 hiện tượng này thì hiện tượng tham nhũng là rõ ràng nhất,cấp bách nhất và nguy hiểm nhất !. Vâng, tham nhũng đã tràn lan,tham nhũng đã rất trầm trọng ! Lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng đã ý thức được nguy cơ này, đã nêu quyết tâm và cũng đã đã đề ra nhiều biện pháp diệt bọn sâu tham nhũng này,song chưa đi đến kết quả như người dân mong đợi!
Người viết bài này trong thời gian 25 năm qua đã rất hy vọng và tin tưởng Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực sự thấy vấn đề và cũng thật sự muốn diệt trừ tham nhũng,nhưng thực tiễn và kết quả lại chứng minh điều ngược lại. Từ năm 1989 đến nay, Đảng đã qua 5 kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (1991,1996,2001,2006 và 2011),nhưng tệ nạn tham nhũng ngày càng trầm trọng,và đặc biệt từ sau Đại hội IX cho tới nay căn bệnh này mỗi ngày mỗi nghiêm trọng và nó đã trở thành quốc nạn !
Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã cảnh báo : “Tham nhũng đang đe dọa chế độ!”
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bức súc: “Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh,nay thì nhiều con sâu lắm.Nghe mà thấy xấu hổ,không nhẽ cứ để hoài như vậy.Mai kia người ta nói một bầy sâu,tất cả là sâu hết thì đâu có được.Một con sâu đã nguy hiểm rồi,một bầy sâu là “chết” cái đất nước này!”
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thật thà: “Không tham nhũng lấy đâu tiền chạy chức”.
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan thổ lộ: “Bây giờ người ta ăn của dân không từ một cái gì.”
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng quyết liệt: “Đảng và Nhà nước không hề chùn tay mà đã kiên quyết xử lý tham nhũng…”
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng than thở: “Cái gì cũng phải tiền,không tiền không trôi,như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chụi” và “Còn quyền lực là còn tham nhũng”…
Tháng1-2012, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành NQTW4 về ” Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”
đã nhận định:” Một bộ phận không nhỏ cán bộ,đảng viên-trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo,quản lý,kể cả một số cán bộ cao cấp-suy thoái về chính trị,đạo đức,lối sống…”
Về vấn nạn bằng giả và tệ nạn chạy chức,chạy quyền,Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phạm Vũ Luận thừa nhận: bằng giả hoặc bằng thật nhưng học giả chỉ có thể chui vào được các cơ quan nhà nước chứ không thể chui được vào các công ty tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài.)
Kết:  Trong vòng 25-30 năm qua,vấn nạn tham ô,tham nhũng ngày càng trầm trọng trong xã hội ta và nó đã trở thành quốc nạn. Bọn sâu bọ ngày một đông,ngày một mạnh và đã trở thành bầy đàn! Nó như căn bệnh ung thư đã di căn  tới nhiều bộ phận của cơ thể con sư tử. Nếu Đảng ta không quyết tâm chữa trị, không dũng cảm cắt bỏ những bộ phận cơ thể đã thối muỗng thì quốc nạn tham nhũng này,đến một lúc nào đó sẽ là kết cục- như nhà báo Thái Như đã cảnh báo-”Đương nhiên điều không tránh khỏi là con sư tử đó sẽ ngã quỵ một khi những con sâu trong cơ thể nó ngày một nhiều và lớn mạnh” !  Vâng, nếu Đảng ta không quyết tâm diệt trừ (giết chết) bọn sâu bọ tham nhũng thì chính bọn này,một ngày nào đó, sẽ là thủ phạm “giết sống” Đảng Cộng sảnViêt Nam!
Mong Đảng hãy quyết liệt và nhanh chóng hành động trước khi quá muộn !

Lật ngược vụ án Trương Duy Nhất


Blogger Trương Duy Nhất tại phiên tòa ở Tòa án Nhân dân thành phố Đà Nẵng số 374 đường Núi Thành Quận Hải Châu Đà Nẵng sáng hôm 4 tháng 3 năm 2014.  -AFP photo
Ngày 04/3/2014, trong phiên sơ thẩm, ông Trương Duy Nhất bị Tòa án nhân dân Đà Nẵng tuyên mức án 24 tháng tù giam với tội danh “xâm phạm lợi ích nhà nước” theo điều 258 Luật hình sự. Nếu việc kháng cáo không thành công, ông Nhất còn tiếp tục ngồi tù thêm 14 tháng. Việc kết tội ông Nhất trong phiên tòa vừa qua thiếu tính ngay thẳng – tính chất tối quan trọng của luật pháp, nơi lẽ ra phải biểu thị cao nhất sự minh bạch, công khai và quyền được xét xử công bằng. Do đó, cần tiếp tục vạch rõ những hiểu lầm và khuất tất từ vụ án này để nói tiếng công bằng cho ông Trương Duy Nhất.

Dư luận lạc lối?

Tòa Đà Nẵng – Việt Nam kết tội Trương Duy Nhất theo nội dung cáo trạng nêu ra, xuất phát từ 11 bài do ông Nhất viết cùng 1 bài do tác giả khác gởi đăng. Tựu trung, ông Nhất bị cho rằng: [1]  ”đã làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, chính quyền và làm mất uy tín cá nhân các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam”.
Bào chữa cho ông Nhất là luật sư Trần Vũ Hải. Luật sư Hải với bài bào chữa đúng mực và trọn vẹn, không đi ra ngoài cáo trạng kết tội, chứng tỏ là một luật sư chuyên nghiệp hoàn hảo. Trả lời đài BBC, luật sư Hải cho biết những ý chính, do ông Nhất tự thân phát ngôn công khai trước tòa [1]:
- Chỉ ra những khuyết điểm, sai lầm, những hiện tượng chưa đúng với hy vọng lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ thấy ra, khắc phục, sửa chữa và rút kinh nghiệm.
- Có công đã chỉ ra những điểm ấy để cho các lãnh đạo và Nhà nước Việt Nam tốt hơn.
- Góp phần cho không khí dân chủ ở Việt Nam, góp phần giúp các nhà lãnh đạo Việt Nam nhận thức được những vấn đề của đất nước, những suy nghĩ của người dân.
Trong các ý chính trên, người đọc thấy, “dân chủ” chỉ xuất hiện một lần bằng chữ khiêm tốn: “góp phần cho không khí…”. Do đó, những kêu gọi và bênh vực cho Trương Duy Nhất phải được cân nhắc kỹ lưỡng, cũng như nên tuân theo tư tưởng và nguyện vọng của cá nhân ông, thay vì như trang Quê Mẹ cho ông là [2]  ”bị cầm tù vì tố cáo vi phạm Nhân quyền” , hay trang Dân Luận bày tỏ [3]  “Nếu Trương Duy Nhất “đóng góp rất lớn cho phong trào” đấu tranh dân chủ bằng cách sử dụng ngòi bút của mình, thì anh xứng đáng được gọi là một nhà đấu tranh cho dân chủ, dù mục đích của anh thực sự là gì…” , những quan điểm này tỏ ra lợi bất cập hại cho chính Trương Duy Nhất. Nói cách khác, một hình thức  “nâng quan điểm”  tai hại.
Những lập luận của Quê Mẹ, Dân Luận và những người quý mến Trương Duy Nhất có vẻ, vừa đi ngược tư tưởng của ông vừa làm sai lệch ý chí cá nhân ông? Không những thế, dư luận như vậy vô tình bóp méo tâm nguyện và phủ nhận tuyệt đối những bộc bạch mà Trương Duy Nhất trực tiếp bày tỏ trước tòa, đối với nhà cầm quyền? Nó vô hình chung đẩy ông Nhất về phía càng đối nghịch với nhà cầm quyền Việt Nam mà (qua phát biểu cá nhân Trương Duy Nhất như trên) chưa chắc ông đã hàm ơn?.
“Thương mà hóa ra hại”  là như vậy. Dư luận như thế, có thể là những cảm xúc mang đầy chất cảm tính, cũng như dễ bị nhà cầm quyền cho rằng có một chút hàm ý lợi dụng để  “lôi kéo”  Trương Duy Nhất  “chống lại”  chế độ mà chưa chắc ông Nhất nghĩ tới? Vì thế, những lời bênh vực như thế  dễ rơi vào bẫy mà người cộng sản sử dụng hàng chục năm qua với cụm từ  ”kích động”, “xúi giục” . Đó càng tỏ rõ tác hại từ việc yêu mến mà chưa chắc ông Nhất cần?
Khi đề cập đến ĐCSVN, người ta hay nói về chữ  “yêu đảng” . Hãy thử hình dung một hoàn cảnh: Một người vợ dù bị đối xử tệ bạc, nhưng vẫn một mực thủy chung với chồng. Người vợ đó vẫn tha thiết mong chồng nhận ra tâm ý của mình bằng những lời nói thẳng thắn và thật tâm mang tính xây dựng, nhằm giúp cho chồng mình tốt lên, bỗng nhiên dư luận bên ngoài, vì quá bức xúc trước lòng thành và hoàn cảnh của người vợ, nên một mực cho rằng cô vợ ấy không còn yêu chồng nữa, đồng thời lên án, tố cáo rùm beng với thiên hạ rằng: người chồng ngược đãi cô ta. Đó có vẻ trở thành “sự phá hoại gia cang”? Nếu độc giả thích dùng từ “chính trị” hơn có thể dùng ý nghĩa: Can thiệp vào chuyện nội bộ người khác mà không chắc người đó đồng ý?
Phải chăng dư luận đang làm suy giảm và hiểu sai một trong các Quyền Con Người được quy định trong ICCPR – Điều 19, khoản 1 nói rằng: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp”?
Dư luận có vẻ đang lầm lẫn và càng tạo “hiệu ứng nghịch”, “ép phê ngược” cho hoàn cảnh Trương Duy Nhất hiện nay?
Dường như trường hợp Trương Duy Nhất (thông qua phát biểu trực tiếp tại tòa) đang giúp cho nhà cầm quyền Việt Nam có đủ căn cứ để bác bỏ lời phản đối của Hoa Kỳ?
Phải chăng Trương Duy Nhất là một nạn nhân mà nguồn gốc xuất phát từ việc kết tội không ngay thẳng của tòa Đà Nẵng?

Kết tội không ngay thẳng

Trước khi ông Nhất bị bắt khẩn cấp ngày 26/5/2013, ông là một trong vài nguồn thông tin (không chính thức) sớm nhất [*] với bài  ”Hai tân ủy viên Bộ chính trị”  [4] vào hôm 04/5/2013, trong khi tin chính thức cho biết 11/5/2013 Hội nghị TW7 mới kết thúc. Bài viết này cho hay, hai người được kỳ vọng (Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ) trúng cử, nhưng ngược dự đoán, ông Nguyễn Thiện Nhân và bà Nguyễn Thị Kim Ngân trúng cử chính thức. Dư luận vào lúc bấy giờ đều nhìn nhận bài viết này gây xôn xao, đồn đoán nhiều nhất và không khí bán tín bán nghi bao trùm toàn bộ các diễn đàn về “hậu trường chính trị” nội bộ ĐCSVN chia rẽ và phân hóa sâu sắc với nhiều bài bình luận, phân tích [5].
Nguồn tin mật báo cho ông Trương Duy Nhất đã bị tòa án hoàn toàn phớt lờ và tránh né. Nếu coi ông Nhất “xâm phạm lợi ích nhà nước” thông qua 11 bài viết bị làm chứng cứ trước tòa, có vẻ bài “Hai tân ủy viên Bộ chính trị” xứng đáng nhiều hơn hẳn so với cả 11 bài kia.
Tòa đã quy tội ông Nhất “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước”.
Ai cũng biết nhà nước CHXHCNVN do ĐCSVN lãnh đạo toàn diện. Trong khi đó, ĐCSVN lãnh đạo thông qua nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” (khoản 1 điều 9 Điều lệ ĐCSVN). Đó là điều không ai có thể chối cãi với chế độ độc đảng toàn trị hiện nay. Trên cơ sở đó, nhà nước CHXHCNVN lãnh đạo theo nguyên tắc này.
Mất uy tín thì không thể lãnh đạo. Vậy, làm mất uy tín các ông cộng sản cao cấp nghĩa là làm mất uy tín tập thể lãnh đạo cấp cao ĐCSVN. Làm mất uy tín tập thể lãnh đạo cấp cao ĐCSVN đồng nghĩa xâm phạm vào nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Xâm phạm nguyên tắc tối quan trọng này đồng nghĩa xâm phạm “lợi ích đảng”. Xâm phạm “lợi ích đảng” nghĩa là “xâm phạm lợi ích nhà nước”, ở đây là Nhà nước CHXHCNVN.
Như thế, có thể nói: ông Trương Duy Nhất bị tòa án Đà Nẵng kết tội rất lòng vòng. Nói thẳng ra: kết tội không ngay thẳng!
“Thông tin” chỉ có ý nghĩa khi đảm bảo hai điều kiện: “đầu vào” và “đầu ra”. Ông Trương Duy Nhất là “đầu ra” trong bài viết “Hai tân ủy viên Bộ chính trị”. “Đầu vào” là ai hay những ai?
Câu hỏi đặt ra: tại sao công an, viện kiểm sát và tòa án không tra xét đến nơi đến chốn, ai đã rò rỉ thông tin tối mật như thế cho ông Nhất, làm ảnh hưởng nặng nề “uy tín” của các ông cộng sản cấp cao? Uy tín của các ông cộng sản cấp cao tức là uy tín của ĐCSVN. Uy tín của ĐCSVN nghĩa là uy tín nhà nước CHXHCNVN.
Một câu hỏi cần đặt ra nữa: giả sử ông Nguyễn Bá Thanh không thất cử trong kỳ bầu bổ sung ủy viên bộ chính trị, ai dám khẳng định ông Nhất bị bắt khẩn cấp và buộc phải đứng trước vành móng ngựa vào ngày 04/3/2014?

Kết

Ông Trương Duy Nhất được biết là người khảng khái và nghĩa khí. Tuy nhiên, chỉ có bản thân ông mới có thể đòi công bằng cho chính mình thông qua thuật ngữ “tình tiết mới”, được công nhận chính thức. Có lẽ, ông Nhất cùng người thân và luật sư cần suy nghĩ tương tự như việc Dương Chí Dũng khai về tướng Phạm Quý Ngọ.
Người miền Trung có thơ:
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say
Bạn về đừng ngủ gác tay
Nơi mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo
Tính “hiệp nghĩa” theo phong cách các bộ phim kiếm hiệp không còn phù hợp với thời buổi hiện tại. Sống “nghĩa khí” với những kẻ chỉ biết “ngủ gác tay” không phải là tính tiết tháo cần có, trong bối cảnh đạo đức xã hội Việt Nam suy đồi cùng cực và an ninh quốc phòng đang bị đe dọa nghiêm trọng hiện nay. Chỉ có hy sinh vì dân vì nước mới xứng gọi là “tráng sĩ”.
Cuối cùng, những ai có ý định ở tù cùng ông Trương Duy Nhất nên cân nhắc lại câu ngạn ngữ thời hiện đại: “Ở tù vì đảng là ở tù rất lãng”.
Nguyễn Ngọc Già, Việt Nam 05/03/2014
*Nội dung bài viết không nhất thiết phản ảnh quan điểm của RFA
_______________
[1]  http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/03/140304_truongduynhat_trial.shtml
[2]  http://www.queme.net/vie/news_detail.php?numb=2246
[3]  http://danluan.org/tin-tuc/20140304/nguyen-tran-sam-truong-duy-nhat-co-toi-gi
[*] Chủ bút Dân Luận – ông Nguyễn Công Huân cho biết: “… Thứ nhất, nó xuất phát từ ít nhất hai nguồn tin độc lập là Tư Sang Nham Hiểm và Cầu Nhật Tân. Thứ nhì, theo tôi đoán thì Trương Duy Nhất không lấy nguồn từ Tin tức hàng ngày mà ngược lại…”
[4]  http://danluan.org/tin-tuc/20130504/truong-duy-nhat-hai-tan-uy-vien-bo-chinh-tri
[5]  http://danluan.org/tin-tuc/20130506/nguyen-ba-thanh-rot

Trị đảng

...cc: Bài này của Trương duy Nhất viết từ 2012, không có tên trong danh sách “cáo trạng”
Trên mạng vào bài này “có ma”- Mối lần thao tác trên bài naỳ nó nhaỷ ra liên tục như sau Bà con lưu ý
Yêu cầu xác minh  :Tên đăng nhập và mật khẩu đang được yêu cầu bởi http://truongduynhat.vn. Trang web báo: “Password” => Tốt nhất là bà con đừng vào kẻo dính bug vì trang này h chắc chắn đã bị hack từ lâu rồi!

Quảng Ngãi Nghĩa thục

Viết bởi truongduynhat Đăng lúc 0:00 am03 January 2012
tridang4 Tôi muốn dùng chữ “trị”, trị đảng chứ không phải “xây dựng chỉnh đốn”. Ông Giang Trạch Dân khi đương chức Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Trung Quốc cũng đã nói “muốn trị quốc phải trị đảng”.
          Hội nghị 4 vừa kết thúc. Chuyện nóng của hội nghị này là… bàn lại vấn đề “xây dựng chỉnh đốn” đảng. Nói “bàn lại” bởi việc “xây dựng chỉnh đốn” trong đảng đã được bàn từ rất lâu, mấy nhiệm kỳ rồi nhưng vẫn chưa vào đâu, thậm chí càng chỉnh càng xộc xệch thêm.
          Hồi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nghe nói “nhà dột từ nóc”. Đến giờ, hình như “cái nhà” ấy không những dột từ nóc mà “dột nhiều chỗ khác nữa”. “Dột nhiều chỗ khác” là cách nói của cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, chứ thật ra không phải dột mà nhiều chỗ đã thật sự… mục nát rồi. Đến như Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng phải thốt lên “Trước chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh. Nay thì nhiều sâu lắm!”. Còn ông Trọng Tổng Bí thư thì phải thừa nhận rằng “chỉnh đốn đảng vì sự tồn vong của chế độ”.
          Đảng bây giờ không chỉ xộc xệch, ông Phiêu nói thẳng: đảng có những cái đang hư hỏng và “bản thân đang có bệnh”. Trọng bệnh. Bởi thế ông Phiêu muốn đợt “chỉnh đốn” đảng lần này phải như “không khí chuẩn bị ra trận, tổ chức một chiến dịch như là tổng tiến công”.
          Hư hỏng thì chỉnh đốn, nhưng đã bệnh rồi thì phải trị. Ông Giang Trạch Dân khi đương chức Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Trung Quốc đã dõng dạc rằng “muốn trị quốc phải trị đảng”. Tôi muốn dùng chữ “trị” này, trị đảng chứ không phải “xây dựng chỉnh đốn”.
          Ở những quốc gia có chế độ đa đảng, sức ép cạnh tranh từ các đảng phái đối lập luôn buộc họ phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Việt Nam độc đảng, không cạnh tranh, không có thế đối trọng, thì việc “trị” đảng, chữa bệnh cho đảng phải dựa vào dân.
          Bài trả lời của cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trên báo Tuổi Trẻ về “xây dựng chỉnh đốn đảng” được dư luận quan tâm. Tuy nhiên, ông cũng chỉ nói đúng thực trạng, bắt đúng con bệnh của đảng (mà cũng chỉ nhìn ra và nói đúng khi đã nghỉ hưu), còn cách “trị” vẫn đưa phương thuốc cũ. Cách tự kiểm điểm, “tự soi mình” của ông Phiêu thì rồi cũng luẩn quẩn như kiểu đánh trống phong trào, chứ không mong có sự thay chuyển nào.
          Bản thân mình thì khó nhìn thấy mình, nhất là những khuyết điểm, bệnh tật, đặc biệt là những khuyết tật đó lại nằm phía… sau lưng. Muốn nhìn thấy, muốn trị bệnh thì phải nhờ vào người khác chứ tự thân đảng không thể chữa trị cho mình được.
          Ai là bác sĩ cho đảng? Không ai khác đó chính là dân. Dựa vào dân, nhờ dân chỉnh đốn đảng chứ bản thân đảng không thể tự chỉnh đốn mình được, nhất là với thể chế độc đảng như Việt Nam hiện nay.
          Cũng đã có lý do đưa ra: sợ làm mạnh quá sẽ đi đến tình trạng đấu tố như hồi cải cách, sợ “kè thù” lợi dụng, sợ có bộ phận “ngoài đảng” làm bậy… Thực tế, sai lầm thời cải cách ruộng đất là lỗi ở đảng chứ đâu phải kẻ thù, đâu phải ở dân. Hơn nữa, nếu đảng thật sự công minh chính trực, đảng trong sáng thì sợ gì chuyện “đấu tố”? “Dân sinh thành ra đảng, dân là cha mẹ của đảng”. Vì thế tôi tin dân không bao giờ hại đảng, phản đảng.
         Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nghe nhiều người khen. Nhưng tôi không nhìn thấy hi vọng nào.
          “Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, muốn có được sức mạnh và uy tín thì đảng phải tự rèn luyện, tự củng cố, đổi mới, chỉnh đốn; không ai có thể làm thay được” (lời ông Trọng). Tôi nghĩ khác, đảng khó (thậm chí là không thể) tự “chỉnh đốn” được mình. Thực tế bao nhiệm kỳ rồi vẫn thế, có chỉnh đốn được gì đâu, nếu không muốn nói là càng chỉnh càng xộc xệch. Ngay chính câu chuyện về cụ Hồ mà ông Trọng nhắc cũng nói lên điều này: “Có lần Bác nói: “Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa, tức là hại người ta“.
          Vết nhọ trong đảng không nhờ dân phát hiện thì không thể chùi được. Nói như cụ Hồ, nhọ trên trán đã khó chùi, huống chi nhọ trong óc.
          Khẳng định công tác xây dựng chỉnh đốn đảng là cấp bách, là vấn đề sống còn của đảng và chế độ, nhưng lại không hoạch định được thời gian nào, đến nhiệm kỳ nào, 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa… sẽ chùi sạch nhọ, chữa khỏi bệnh cho đảng? Bao giờ thì thực hiện xong cái “nhiệm vụ cấp bách, sống còn” này? Tại sao đảng không dám đặt ra một mục tiêu cụ thể về thời gian cho mình?
          Chữa bệnh khác với việc đánh răng vệ sinh thường nhật. Trọng bệnh mà vẫn thủng thẳng “kiên trì, bền bỉ; làm thường xuyên, liên tục; làm đi làm lại nhiều lần như đánh răng, rửa mặt, quét nhà, rửa bát hằng ngày”? Khối u ác tính cần lập tức cắt bỏ, cho thuốc xạ trị, hóa trị mạnh, chứ không thể chỉ chà cọ đánh răng, chùi rửa hết ngày này sang tháng nọ. Thủng thẳng “chùi rửa” thế thì nó di căn đến hủy hoại đảng mất!
          Muốn trị quốc phải trị đảng. Muốn trị đảng phải dựa vào dân! Đã trọng bệnh, không thể nằm đó mà tự “chùi rửa” cho mình được. Chỉ có dân mới có thể làm sạch đảng. Chỉ có “bác sĩ” dân mới trị được căn bệnh trầm kha trong đảng. Còn nếu đảng cứ tự “xây dựng chỉnh đốn” mãi, tự “đánh răng chùi rửa” mãi, thì không mong gì khỏi bệnh để… vững mạnh được!

Cầu Long Biên – bản đàn trong yên lặng


Với những người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội như tôi, cầu Long Biên là một bản đàn trong yên lặng nhưng luôn réo rắt trong tâm hồn. Nó là ký ức tập thể của cộng đồng người Hà Nội. Không có gì khắc sâu trong tâm trí người Hà Nội suốt 100 năm qua bằng hình ảnh cây cầu dài nhấp nhô như con rồng thép khổng lồ bay qua song Hồng suốt bốn mùa xuân hạ thu đông…

Hỏi một người Hà Nội đi xa: Anh nhớ nhất cái gì ở Hà Nội? Trả lời: Hình ảnh cây cầu Long Biên. Hỏi một nhà nghiên cứu lịch sử: “Vật chứng” các biến cố của Hà Nội suốt trăm năm qua? Trả lời: Cây cầu Long Biên. Hỏi một anh cán bộ miền Nam, nói đúng hơn là cậu học sinh miền Nam theo cha mẹ đi tập kết ra Bắc sau năm 1954, bây giờ đã là một ông già ngoài 70 tuổi sống ở Sài Gòn: Ông nhớ nhất cái gì ở Hà Nội? Trả lời: Cầu Long Biên! Ông đã kể: Tháng ngày đi học cuốc bộ từ Gia Lâm qua cầu Long Biên sang Hà Nội rồi lại về, ông đã đếm được mấy vạn cái đinh bù-loong trên cây cầu sắt này. Đếm để quên quãng cầu dài, quên bụng đói… Con số mấy vạn cái đinh bù-loong ấy theo ông suốt cả đời (!).

Chỉ sau hai tháng nhận chức (tháng 02/1897) toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã đặt bút phê chuẩn dự án cầu Doumer tức cầu Long Biên ngày nay.

Ngày 13-09-1898 hãng thiết kế thi công Daydé – Pillé khởi công xây cầu. Theo thiết kế, cầu có chiều dài 3500 m, trừ hai trụ cầu bờ Bắc và Nam, cầu có 17 trụ cầu chôn sâu dưới lòng sông 30 mét, móng nổi từ mặt nước đến mặt cầu là 44 m đảm bảo tàu bè qua lại khi nước sông lên đến 13,5 m . Chín khung dầm sắt khổng lồ nối 19 nhịp lớn với nhau, mỗi khung dài 61 m. Cầu rộng 30,6 mét, có một đường tàu hỏa ở giữa và hai đường bộ hai bên. Đến năm 1921 cầu được mở rộng thêm 2,6 m cho các loại ô tô và 0,8 m cho người đi bộ hai bên.

Sau 4 năm thi công, 8 giờ 35 phút ngày 28/2/1902 cầu được khánh thành. Sáng hôm đó, chuyến tàu hỏa khởi hành từ ga Hàng Cỏ với 8 toa, có hai toa dành riêng cho vua Thành Thái và toàn quyền Doumer, 6 toa còn lại chở các quan khách, trong đó có cả vua Malayxia, đại diện triều đình Mãn Thanh… từ từ vượt sông Hồng. Thời điểm đó, Long Biên là một trong những cây cầu đẹp nhất thế giới.

Từ thời khắc đó cầu Long Biên trở thành “vật chứng” lịch sử của Hà Nội.

Ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, ở chân cầu Long Biên tự vệ bãi Phúc Xá đã cho nổ bom chặn đường tiếp tế của địch từ phía Gia Lâm. Dưới chân cầu, trong đêm tối những đoàn quân cuối cùng đã rút khỏi Hà Nội để bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Người Hà Nội không bao giờ quên câu chuyện đau thương về một người mẹ trẻ, để bảo vệ Trung đoàn Thủ đô vượt sông trong đêm đã phải bịt mồm đứa con của mình. Em bé đã hy sinh để đoàn quân trong đêm vượt sông an toàn ngay dưới chân cầu trước mũi súng của giặc…

Ngày 9/10/1954 cầu Long Biên chứng kiến những người lính Pháp bại trận cuối cùng rút khỏi Hà Nội. Nó còn chứng kiến những phi công tù binh Mỹ qua cầu năm 1973 để sang sân bay Gia Lâm trao trả về Mỹ.

Cả một thời gian dài cầu Long Biên là mục tiêu quan trọng trong chiến tranh phá hoại của Mỹ với Hà Nội. 14 lần cầu bị ném bom. Ngày 11/08/1967 cầu bị phá hỏng nặng ở 5 nhịp, riêng nhịp 15 rơi hẳn xuống sông. Sau hai tháng sửa chữa cầu được khôi phục. Ngày 25/10/1967 cầu lại bị “chém” ngang thân tại nhịp số 10, một nửa nhịp rơi xuống sông, nửa còn lại ghếch lên trời. Phải đánh mìn định hướng mới cắt bỏ được phần hỏng. Sau hai lần chỉ trong bốn ngày vào tháng 12/1967 máy bay Mỹ lại đã dội bom trúng cầu và lần này cầu bị thiệt hại nặng nề, 6 trụ bị tiện đứt, 7 nhịp bị phá hủy. Nửa năm sau cầu hư hại 6 nhịp, phải 6 tháng sau cầu mới được phục hồi. Chưa có cây cầu nào trên trái đất này mang nhiều thương tích trên mình như thế. Và cũng chưa có cây cầu nào chuyên chở trên mình nó nhiều trọng trách, mang vác trên mình nó nhiều hàng hóa, vật tư hữu dụng cho con người như thế. Nó đã mang vác lịch sử đau thương và anh dũng của người Hà Nội trên lưng mình cả 100 năm từ lúc nó chào đời.

Những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ với Hà Nội, những người lính trực chiến trên nóc cầu Long Biên đã biên thư, gọi điện đề nghị với Đài tiếng nói Việt Nam phải sửa lại nội dung, sửa lại trật tự các cụm từ trong thông báo “Báo động có máy bay xâm phạm bầu trời Hà Nội”. Số là, khi nhận được lệnh báo động, đài phát: “Đồng bào chú ý,… đồng bào chú ý!!! Có một tốp máy bay địch xuất hiện ở phía (Tây Nam hoặc Đông Nam) thành phố…”. Các chiến sỹ cao xạ pháo trực chiến trên các ụ súng bố trí trên các nóc cầu Long Biên đã rất sốt ruột khi phải nghe các âm thanh “Đồng bào chú ý… đồng bào chú ý… có một tốp…” mà nóng lòng muốn nghe từ hướng nào máy bay xâm phạm vùng trời Hà Nội để quay mũi súng về hướng đố đón chờ chúng đến. Một giây với người lính canh gác trên nóc cầu lúc đó là sinh mệnh của chính mình và sinh mệnh của cây cầu. Vì thế các chiến sỹ trực chiến đã đề nghị đài sẽ phát “Từ hướng (Tây Nam hay Đông Nam ) có một tốp máy bay… đang xâm phạm bầu trời Hà Nội… Đồng bào chú ý, đồng bào chú ý…’’.

Cầu Long Biên đã sống những giây phút sinh tử với Hà Nội như thế. Kẻ viết bài này có lần đã sang bãi Giữa tức bãi Phúc Xá ngay sau khi khói bom đánh cầu Long Biên vừa tan để thăm một người trong dòng tộc và chứng kiến tận mắt một thanh đường ray xe lửa dài đến hai mét đã bay hơn một cây số vì sức ép của đạn rốc-két lao cắm xuống sân một gia đình nông dân trên bãi Phúc Xá.

Những hình ảnh như thế không bao giờ phai lạt trong lòng một người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội như tôi.

Cầu Long Biên được làm cùng thời với tháp Eiffel ở Paris.

Eiffel được khánh thành năm 1889 để kỷ niệm 100 năm cách mạng Pháp (1789 – 1889). Eiffel nặng 9700 tấn, trong đó có 7000 tấn kim khí, nhiều hơn 1000 tấn so với cầu Long Biên. 225 công nhân làm việc cật lực trong 3 năm thì tháp được hoàn thành, cao 300 m, đó là cái tháp cao nhất thế giới thời đó. Nhưng không một công nhân nào chết trong khi dựng tháp. Còn cầu Long Biên thì hầu như ngày nào cũng có người Việt Nam chết vì tai nạn lao động, do chết ngạt khi phải làm việc dưới hố móng sâu, do té ngã từ trên cao... Chỉ riêng sự việc này cũng cho thấy tính chất hai mặt của công cuộc “khai hóa” của thực dân Pháp ở nước ta. Doumer làm cầu Long Biên nhằm khai thác, vận chuyển hàng hóa cướp bóc của dân ta, nhưng khách quan nó lại tạo ra nền tảng cơ sở hạ tầng cho Hà Nội vào thời đó, chỉ có một cường quốc như Pháp mới làm nổi. Hơn nữa Long Biên còn là một cây cầu đẹp trong những cây cầu trên thế gian này. Cầu Long Biên hùng tráng mà thanh tú, đến bây giờ nó vẫn đẹp, không hề tàn phai sắc đẹp với thời gian.

Nhân nói về vẻ đẹp của cây cầu, tôi lại nhớ đến cầu Hàm Rồng, cũng do Pháp xây dựng ở Thanh Hóa. Sau khi cầu bị bom Mỹ đánh sập, ta xây lại. Ngày khánh thành cầu mới, các nhà văn, nhà báo được mời đi dự. Nghe nói trong đoàn còn có nhà văn Nguyễn Tuân cùng đi nên ai cũng phấn khởi. Nhưng khi đến đón cụ Nguyễn thì cụ lắc đầu không đi. Gặng hỏi mãi cụ nói: Cái cầu Hàm Rồng xưa có nhịp trông nó đẹp lắm. Nay cầu mới thẳng đuỗn như cái con c… chán lắm, không đi!!!

Những nhịp cầu lên xuống nhấp nhô của Long Biên như con rồng đang bay qua sông Hồng đã in bóng vào chân trời Hà Nội những chiều hè, những đêm sao, những bình minh… bất tận.

Vì lẽ đó mà người Pháp muốn “giữ gìn những ký ức của mình” ở Việt Nam trong đó có cây cầu Long Biên đã hơn 100 tuổi, như họ đã tuyên bố. Còn người Hà Nội thì xem Long Biên là một “mảng” tâm hồn mình, một “vật chứng” của lịch sử, văn hóa.

Vậy có nên gỡ bỏ cầu Long Biên đi như mấy ông quan ở Hà Nội đã bàn?

Và nếu xây một cây cầu mới qua sông Hồng chỉ cách Long Biên có 30 m thì khác nào… khác nào… xếp một hoa hậu đứng cạnh một anh lính dù Lê Dương để chụp hình lưu niệm!!!
3/2014
  Lê Phú Khải 
  (BVN) 

Đặng Huy Văn - Qua Đèo Ngang Nhớ Bà Huyện Thanh Quan

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Đặng Huy Văn: Hôm nay đây, đứng trước Đèo Ngang hùng vĩ trên quê hương Hà Tĩnh, tôi bỗng rơi nước mắt khi nhớ lại hai câu thơ cùa bà Huyện Thanh Quan cách đây đã gần hai thế kỷ: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc! Thương nhà mỏi miệng cái gia gia!”. Lời thơ xé lòng đã khiến tôi nghĩ tới cái “dự án Cảng Sơn Dương” ở Vũng Áng tại huyện Kỳ Anh này, một cảng biển trọng yếu hướng ra đảo Hải Nam Trung Quốc đã bị vị phó thủ tướng chính phủ người Việt gốc Hoa Hoàng Trung Hải dâng trọn cho tổ quốc đại Hán của mình tại Phương Bắc! Chính tại Sơn Dương hôm nay, hàng ngàn người Tàu đã tràn sang và đang gây rắc rối cho nhiều gia đình của đồng bào Việt Nam tại địa phương quê hương tôi! Không biết ông TBT có biết việc này không mà chưa bao giờ thấy ông ấy lên tiếng?
Hay là, ông TBT và các báo lề đảng hôm nay đang mãi bận tâm tới mấy toà biệt thự khủng của ông Trần Văn Truyền, nguyên tổng thanh tra chính phủ đã nghỉ hưu mà cố tình làm ngơ việc một số vùng duyên hải và biển đảo Việt Nam ta đang từng ngày, từng giờ rơi vào móng vuốt của bọn cộng sản Trung Quốc xâm lược! Theo tôi, cái giá phải trả cho hành động bán nước này phải lớn hơn gấp nhiều tỷ lần cái biệt thự khủng của ông Trần Văn Truyền ấy chứ!
Qua Đèo Ngang Nhớ Bà Huyện Thanh Quan

Lên tới Đèo Ngang vừa dừng bước
Bồi hồi bà Huyện ngắm trời Nam(1)
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”
Thuở nước Việt còn sao khóc than?

Hay bà linh cảm ngày Trung cộng
Sẽ tới Đèo Ngang lập cảng Tàu(2)
Làm căn cứ địa mưu chiếm đóng
Xâm lăng nước Việt mãi dài lâu?

Hay là thuở đó bà biết trước
Sẽ đến thời Tàu cộng kéo sang
Dùng lũ Việt gian thờ Mao, Mác
Dâng hiến non sông giữ ngai vàng?

Nên bà thương xót con cháu Việt
Bị người cộng sản rước Tàu vô
Không chống lại Tàu thì dân thiệt
Mà chống Tàu ư? Đảng bắt tù!

Nên bà thương xót nông dân Việt
Bị ép nhường đất hiến cộng Tàu
Mất ruộng mất nhà mất cơ nghiệp
Không còn cơm cháo để nuôi nhau!

Nghèo đói đi tìm con đường sống
Làm điếm, làm thuê cho chủ Tàu
Lại bị chúng lừa dùng ma tuý
Nhằm triệt giống nòi Việt mai sau!

Nhói lòng “quốc” kêu, “gia gia” khóc
Bởi cháu con nay hỏng hết rồi!
Chúng đón vào khu Tàu trác táng
Rượu bia, ma tuý thoả sức xơi!

Nên trước khi vào là người Việt
Ra khỏi khu Tàu đã tàn ma
Trách chi bà Huyện ngày đó viết
“Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”!

Bà Huyện Thanh Quân ơi có thấu?
Nỗi đau dân Việt Bắc Trung Nam
Đi đâu cũng gặp Tàu cộng sản
Bỏ tiền hối lộ bọn quan tham!

Để được giao đất, giao bờ biển
Một dải Miền Trung tới Khánh Hoà…
Lấy cớ đầu tư khu công nghiệp
Lại xây cứ điểm lính Trung Hoa!

Quảng Trị chúng mua luôn Cửa Việt(3)
Để làm căn cứ hải không quân
Kết nối Sơn Dương và Tam Á(4)
Triển khai cả hải đội tàu ngầm…

Trên bờ “dân quân” Tàu đợi sẵn
Ngoài khơi “hải tặc” đã nghênh ngang
Chẳng lẽ vua quan ta không biết?
Mất nước rày mai đã rõ ràng!

Vua, quan tiền bạc vơ vét đủ
Nước mất vẫn phè phỡn ăn chơi
Mặc dân lam lũ làm đầy tớ
Cho bọn xâm lăng khổ nối đời!

Bà Huyện Thanh Quan ơi hãy cứu
Đồng bào nước Việt khổ trùng lai!
Cộng sản nước nhà chưa thoả ác?
Còn rước thêm quân cộng sản ngoài!

Hà Nội, 5/2/2014
Đặng Huy Văn


(3). Trung Quốc đang có âm mưu gì ở Quảng Trị? | Thủ Tướng Nguyễn ...
(4). Tam Á là một quân cảng tàu ngầm ở cực nam đảo Hải Nam, Trung Quốc, có cùng vĩ độ với cảng Sơn Dương tại Vũng Áng, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Tại đây, ông phó thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải của chính phủ Việt Nam đã giao cho Trung Quốc đầu tư khu cảng công nghiệp Sơn Dương, Formosa. Nếu nối Tam Á, Sơn Dương và Cửa Việt lại với nhau thì tam giác cảng biển này sẽ trở thành một tấm lá chắn cắt đứt Vịnh Bắc Bộ nối với Biển Đông và giặc Tàu sẽ dễ dàng khống chế và xâm chiếm Việt Nam khi có chiến sự xẩy ra.

LTS: Đặng Huy Văn - Một Tiến sỹ Toán học, một nhà giáo đã về hưu đang sinh sống tại Hà Nội "Ông là một giảng viên đại học tại Hà Nội, thích làm thơ yêu nước" Thơ của ông dù viết về đề tài nào cũng đau đáu trong lòng một tình yêu nước, yêu đời, đều hướng đến giá trị Chân - Thiện - Mỹ vĩnh hằng mà nhân loại cần hướng đến.
 

Thảm sát Côn Minh: Điềm báo không thể hạ cánh mềm

Boxitvn

Phạm Chí Dũng
Điềm báo vĩnh biệt
Không một chế độ chính trị nào có thể tồn tại vĩnh viễn, nhất là với những thể chế không muốn vĩnh biệt khúc quanh độc tài. Quy luật đó chắc chắn sẽ ứng với đảng cầm quyền Trung Quốc, bằng vào những câu chuyện tang thương mà chế độ này phải gánh chịu trong vài năm gần đây và trong kiếp nạn phân rã vào những năm đang tới.
Vụ nổ bom xe jeep ở Bắc Kinh tháng 12 năm 2013 và vụ thảm sát bằng dao ở Côn Minh vào tháng 3 năm 2014 đã kích hoạt bầu không khí hoảng loạn chưa từng thấy ngay trong lòng Nội Hán. Hai cuộc tấn công bị xem là của người Duy Ngô Nhĩ, dù đậm đặc màu sắc khủng bố, đã trở nên một chỉ dấu cho thấy chính thể Bắc Kinh cùng cơ chế bảo vệ an ninh của nó không ghê gớm như người ta tưởng, cùng lúc biến thành một điềm dấu tiên đoán về vận mệnh khó có thể hạ cánh mềm của chính thể này trong tương lai không quá xa.
Đặc tính tâm lý học của vụ tấn công bừa bãi bằng dao của nhóm người cực đoan vào đám đông hành khách vô tội ở Côn Minh còn là cú phát nổ đầu đời cho mối thâm thù thâm căn cố đế giữa sắc tộc ly khai với chế độ cầm quyền – một hệ nạn mà có thể kéo dài rất nhiều năm sau, ngay cả khi tổ chức Bộ Chính trị ở Bắc Kinh biến mất.
Như một quy luật, nếu nội trị không khởi xướng trào lưu rối loạn bởi các phong trào dân chủ mà lại bằng hành động bạo lực, cái kết thúc của nội tình xã hội và những đấu tranh nội bộ hầu như sẽ chìm trong máu lửa và nạn cát cứ – điều đã xảy ra không biết bao nhiêu lần trong lịch sử đẫm máu Trung Hoa.
Bất kể tiếng hô độc đoán vẫn thét lên dưới ảnh Mao Trạch Đông tại quảng trường Thiên An Môn, tiếng nổ và những vụ chém giết cứ lan dần và lan nhanh trong lòng Nội Hán. Hệt như khuôn mặt dị dạng trong bức tranh “Tiếng thét” của Edvard Munch, tiếng nổ Nội Hán khởi nguồn từ tiếng lòng bị xét nát của người dân và kết thúc bằng tia xé rách khối không gian u thẫm giữa bốn bức tường tăm tối.
Tiếng nổ đó được kích phát bởi chính tiếng kêu thét của quá khứ.
Văn Cầm Hải – một nhà văn và cũng là nhà nghiên cứu lịch sử ở nước ngoài – đã có cơ hội để đo đếm sự thất bại của chính sách ngoại giao lòng dân của Trung Quốc ở các vùng dân tộc thiểu số. Trong một chuyến đến vùng Nội Mông, ông đã viết lại những ghi nhận của mình: “Tôi đã biết về sự nhẫn nhịn của người sa mạc qua một người bạn Mông Cổ mời tôi ăn thịt nướng trong đêm mưa ở Lan Châu – thủ phủ tỉnh Cam Túc. Anh ta khuyên tôi rằng, nếu muốn giết sói, hãy cho nó chạy và hú đến lúc nào nó quỵ xuống vì sức lực mà chúng bỏ ra!… Trung Quốc cần có một sự thay đổi tận gốc quan điểm lịch sử và thời đại về sức mạnh và sự tồn tại hài hòa của mình với thế giới. Nếu không thay đổi, dù có bỏ ra hàng tỷ đô la, dù có hào nhoáng kết nối với chính quyền bản địa bằng những thỏa thuận hay kiềm chế chính trị nhưng không thể nào mua được lòng dân, Trung Quốc sẽ quỵ ngã bởi chính sức mạnh hung hãn của mình, như hình ảnh con sói mà người Mông Cổ từng nói với tôi trong đêm mưa ở Lan Châu”.
Con sói
Dù hãng tin Tân Hoa xã của Trung Quốc luôn áp đặt những vụ việc xảy ra ở Tân Cương là hành vi của một nhóm khủng bố, nhưng chỉ có những người ngơ ngác về thời cuộc mới không cảm nhận được những nguyên cớ thâm sâu về lịch sử trong quan hệ của người Hán với vùng tự trị này. Không chỉ là mâu thuẫn đơn thuần về địa giới hành chính, đó còn là khoảng cách biệt đáng kể về chính sách mà người Hán được hưởng so với các sắc tộc thiểu số, tâm thế lấn át về văn hóa và tôn giáo mà người Hán đã tạo ra đối với người Duy Ngô Nhĩ, để cuối cùng tạo nên một hình ảnh phân hóa toàn diện và không thể chấp nhận được giữa kẻ mập phì và người thiếu ăn.
Không khác gì khu tự trị Tân Cương ở Tây Bắc, các khu tự trị Tây Tạng ở Tây Nam và Nội Mông ở phía Bắc cũng đang trở thành những hiểm họa ngấm ngầm đối với tình trạng an ninh của người Hán sống tại những khu vực này, và cả với thể chế chính trị mà Bắc Kinh đang cố gắng duy trì đến chừng nào có thể. Từ năm 2008 đến nay, những hiểm họa này luôn có chiều hướng bùng phát và trở thành nguy cơ không hề nhỏ đối với một dân tộc có truyền thống tự tôn cực đoan như người Hán, làm nên một cảnh sắc cực đoan mà người ta đã từng thấy không ít lần trong chiều dài lịch sử không khoan nhượng của dân tộc Trung Hoa.
Nguy cơ đó lại đang được cộng hưởng một cách có tổ chức và quy mô bởi những hành động bài bản và có kỷ luật trong lòng Trung Quốc. Với vụ nổ bom ở thủ phủ Thiên An Môn và vụ thảm sát ở Côn Minh, hẳn nhiên đó là một sự thách thức trực tiếp với người quá cố Mao Trạch Đông và bề dày gần bảy chục năm “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung quốc”.
Sâu xa hơn, cho dù bị xem là “khủng bố Tân Cương” thì cũng không thể phủ nhận rằng mối mâu thuẫn sắc tộc giữa dân tộc Duy Ngô Nhĩ với người Hán, và trên hết là với chế độ cầm quyền độc đoán, đã công nhiên vọt thành mối xung đột đối kháng đến mức sẵn lòng lấy mạng đổi mạng.
Đó cũng là nguồn gốc mà có thể sản sinh ra vô số cuộc bạo động, bạo loạn của hoàng hôn lịch sử chưa bao giờ ngưng máu đổ trong lòng dân tộc Trung Hoa.
Máu người
Giờ đây, chính thể cầm quyền chuyên chế và độc đoán ở quốc gia bị xem chỉ còn vỏ cộng sản này đã không còn có thể nói đến chuyện an toàn trong bất kỳ căn phòng trú ẩn nào.
Bắc Kinh không chỉ ngập ngụa ô nhiễm, mà đang và sẽ không còn là nơi yên tĩnh cho giới quan chức chức chính trị cao cấp nghỉ dưỡng và quyết định về tương lai của thế giới. Khái niệm bất an có lẽ sẽ trở thành từ ngữ cửa miệng của chính giới tương lai ngay tại thủ đô Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hay tại bất cứ một địa điểm nào có trưng diện ảnh Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và phơi bày bức tranh nhân viên thành quản đánh hội đồng đến chết người dân bán dạo.
Với những gì đã và đang xảy ra, không thiếu cơ sở để cho rằng nhà cầm quyền Trung Quốc đang phải trả một cái giá không hề rẻ cho những gì mà họ đã siết bức đối với tộc người Duy Ngô Nhĩ và vùng Tây Tạng.
Duy có điều, tình cảnh “kiêu ngạo cộng sản” của giới quan chức cao cấp Kinh Bắc đã đến mức bĩ cực. Vẫn hầu như chưa có gì được ngộ ra từ giá cả quá đắt đỏ, một thứ giá đang phải tính bằng máu người. Dàn đồng ca tuyên giáo mới đây của Bắc Kinh vẫn không bớt hung hăng đe dọa sẽ “dập tắt tiếng nói của Đạt Lai Lạt Ma”.
Nhưng ở vùng đất xa xôi huyền thoại, sau hơn 120 vụ tự thiêu của tu sĩ Tây Tạng để phản kháng chính sách đàn áp của Bắc Kinh, mọi chuyện vẫn đang tự cháy bỏng. Ngọn lửa phản kháng vẫn rừng rực và còn lâu mới bị dập tắt.
Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông đã làm nên một vành đai sắt Tây – Bắc siết lấy cơ thể phù thũng của Nội Hán. Còn lâu mới tái lập được sự ổn định chính trị trong lòng Đại Hán. Thậm chí ngược lại, Tập Cận Bình và thế hệ lãnh đạo mới của ông đang phải đối diện với định đề số phận của lịch sử: nhà nước độc đảng Trung Hoa đã tồn tại gần bảy chục năm, và chừng đó là quá đủ để thu xếp cho một sự thay thế khác – nhiều khả năng là một cuộc tắm máu mang tính sở trường – di chứng không quá hiếm hoi trong lịch sử nối đuôi toàn trị của các triều đại Trung Quốc.
P.C.D.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Tội bẻ cong luật pháp - Những tội danh kỳ lạ

Những tội danh kỳ lạ

Hôm nay đúng 24 ngày công an Đồng Tháp vẫn giam giữ ba công dân một cách bất hợp pháp tại trại tạm giam tỉnh Đồng Tháp. Ba người đó là bà Bùi Thị Minh Hằng, ông Nguyễn Văn Minh và cô Thúy Quỳnh. Mặc Lâm tìm hiểu câu chuyện qua lời kể của người trong cuộc.
Câu chuyện xảy ra vào lúc 11 giờ 30 trưa ngày 11 tháng Hai khi một nhóm bạn hữu và đồng đạo Phật Giáo Hòa Hảo của tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển từ Sài Gòn về ấp Hưng Nhơn, xã Long Hưng, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp để thăm gia đình anh thì bị công an bao vây tại cầu Nông Trại và bắt giữ đem về trụ sở công an huyện.
Những người ngồi trên xe đã bị công an và an ninh lên xe tấn công bằng gậy gộc, một số bị thương trong đó có bà Bùi Hằng và nhiều đạo hữu Phật Giáo Hòa Hảo.
Chị Bùi Thị Kim Phượng là vợ của anh Nguyễn Bắc Truyển xác nhận việc bà Bùi Thị Minh Hằng bị đánh khi trên đường tới thăm gia đình chị tại Lấp Vò:
Trên đoạn đường đi thì họ bị công an Lấp Vò bắt đánh rất dữ dội trong đó có thầy trụ trì chùa Quang Minh Tự là thầy Võ Văn Thanh Liêm bị đánh và chị Bùi Thị Minh Hằng cũng bị đánh.
-Chị Bùi Thị Kim Phượng
“Tôi được nghe các anh chị ở Sài Gòn kéo xuống trong đó có chị Bùi Thị Minh Hằng và một số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo cùng với phái đoàn trên Sài Gòn xuống để thăm nhà tôi ở Lấp Vò, Đồng Tháp. Trên đoạn đường đi thì họ bị công an Lấp Vò bắt đánh rất dữ dội trong đó có thầy trụ trì chùa Quang Minh Tự là thầy Võ Văn Thanh Liêm bị đánh và chị Bùi Thị Minh Hằng cũng bị đánh rất dữ dội, có người bị ngất xỉu. Họ bị áp giải về đồn công an Lấp Vò.”
Anh Phạm Nhật Thịnh, một người ngồi chung xe chứng kiến những việc xảy ra và cũng bị bắt về công an huyện Lấp Vò sau đó, anh kể lại:
“Em mến chị Hằng chứ không phải là Phật Giáo Hòa Hảo hay Công giáo. Em là cộng tác viên của Văn phòng Công lý và Hòa bình. Mục đích của em thứ nhất là đi chơi thứ hai là thăm nhà của bà Bắc Truyển. Chị Hằng không có một biểu hiện gì chống lại chính quyền hết. Chị ấy chỉ phản đối lại việc làm của những người công an mặc thường phục đánh đập và giựt đồ của chúng tôi khi phản đối những việc làm đó. Em nhìn thấy chị bị đánh mấy cái vô gáy rồi khi người ta còng tay chị ấy rồi đưa chỉ lên xe người ta cũng còn đánh nữa.”
Có 22 người đã bị bắt trong ngày hôm ấy nhưng 19 người đã được thả chỉ còn lại bà Bùi Minh Hằng, blogger Thúy Quỳnh và anh Nguyễn Văn Minh vẫn còn bị giam giữ cho tới hôm nay.

Giam giữ bí mật, tại sao?


Trong 24 ngày bị giam cả ba người đều phản đối việc bắt giữ mình trái phép bằng cách cùng tuyệt thực và tới hôm nay thân nhân của bà Hằng và anh Minh đã cố gằng nhiều lần nhưng đều bị trại tạm giam từ chối không cho gặp mặt.
Chị Bùi Thị Diễm Thúy vợ của anh Nguyễn Văn Minh cũng bị bắt chung với chồng nhưng đã được thả ra cho biết:
“Tôi hỏi nguyên nhân tại sao mà bắt giữ chồng tôi hoài mà không thả, tại sao bắt chung mà thả tôi ra còn chồng tôi thì không thả thì nó nói là trong vòng điều tra bây giờ chưa biết để từ từ người ta điều tra rồi mới cho hay. Nó không cho gặp mặt gì hết trơn.”
Chị Quỳnh Anh con ruột của bà Bùi Thị Minh Hằng cho biết trường hợp của mẹ:
“Chưa ai được gặp có nghĩa là bây giờ công an huyện Lấp Vò nó một mực nó bảo là đang trong quá trình điều tra nên chưa cho gặp. Sau chín ngày đầu tiên Trung nhà con có xuống yêu cầu nó cấp giấy thì nó cấp cho tờ giấy là thông báo tạm giữ, hôm 25 tháng Hai vừa rồi Trung nhà con lại yêu cầu nó tại sao bây giờ giam giữ quá 9 ngày rồi mà vẫn không có bất cứ một cái gì hết. Thế là nó đưa cho Trung một giấy thông báo tạm giam mà cũng chỉ là thông báo chứ hoàn toàn không có quyết định hay là gì cả.
Sau khi nó đưa chắc nó cũng muốn làm cho kín kẽ nó gửi về cho con một cái thông báo tạm giam. Cả hai lần chỉ là thông báo chứ không có quyết định hay lệnh gì cả.”
Quỳnh Anh kể lại chi tiết những lần thăm mẹ rất khó khăn của gia đình chị:
“Từ hôm mẹ con bị bắt lần đầu tiên con xuống là tuần vừa rồi khi vào đến trại giam thì người ta bảo con là ở đây người ta chỉ có trách nhiệm giam giữ còn muốn thăm thì phải sang công an tỉnh xin giấy vì bên tỉnh người ta thụ lý. Con chạy sang công an tỉnh thì họ bảo là họ chỉ hỗ trợ cho huyện chứ người ta không điều tra vụ này. Thế là bọn con lại xuống huyện Lấp Vò chỗ bắt mẹ con thì người ta cũng không cho vào. Chiều hôm ấy khi con xuống đến nơi thì anh công an trực ban chận con lại từ cửa và có vẻ như đồng chí điều tra viên không muốn gặp con thế là hai vợ chồng con lại về.
May mắn hôm nay con đi thì mặc dù không gặp được mẹ đâu tại vì nó vẫn trả lời là trong quá trình điều tra nên không cho gặp nhưng được cái là con mua đồ gửi vào cho mẹ và tấm hình của con bé và được đồng chí giám thị trại giam cho biết mẹ vẫn còn tuyệt thực chỉ uống nước chứ không ăn uống gì.”

Tội “cản trở giao thông”?

Đối với bà Bùi Minh Hằng có tin công an khép bà vào điều 203 tội gây cản trở giao thông và tội danh này có mức án từ ba tháng đến ba năm tù giam. Anh Phạm Nhật Thịnh làm chứng cho sự gán ghép này, anh nói:
Chưa ai được gặp có nghĩa là bây giờ công an huyện Lấp Vò nó một mực nó bảo là đang trong quá trình điều tra nên chưa cho gặp.
-Chị Quỳnh Anh
“Nếu mà nói “cản trở giao thông” thì chính họ mới là người cản trở giao thông chứ không phải tụi em. Tại vì tụi em đi với tốc độ bình thường và đi hàng một. Khi đến cầu Nông Trại thì họ chặn xe chúng em và cầm gậy gộc đánh chúng em nữa. Họ chặn hai đầu không cho đi và không cho về đó là những điều em nhìn và nghe thấy như vậy chứ hoàn toàn chị Hằng không chống đối mà cũng không cản trở giao thông.”
Riêng anh Nguyễn Văn Minh thì bị quy tội “chống người thi hành công vụ”, chị Bùi Thị Diễm Thúy vợ của anh Minh cho biết:
“Nó thấy chồng con buôn bán được lo cho gia đình và lo thăm nuôi cha và em con trong tù thành ra bây giờ nó bắt. Nó muốn làm cho gia đình con không còn ai lo nữa đặng cho khổ sở không có đồng tiền thì sẽ bỏ đạo, họ đàn áp mình vậy đó chú.”

Chống người thi hành công vụ?

Chị Thúy kể lại chuyện cha ruột của chị là ông Bùi Văn Trung và em ruột là Bùi Văn Thanh cả hai cũng bị cáo buộc tội chống người thi hành công vụ và hiện đang thụ những án tù bất công mà nguyên nhân sâu xa chỉ vỉ họ theo Phật giáo Hòa Hảo:
“Em con thì nó bắt năm 2012 cha con thì nó bắt năm 2013. Nó bắt em con trước, khi nó đang đi bỏ giá. Gia đình con thì có em con nó làm ra tiền nhờ đi bỏ giá mà sống. Mấy tháng sau nó bắt cha con luôn tới hôm nay nó bắt chồng con nữa. Trong gia đình con nó đã bắt như vậy là ba người rồi.
Nó ghép cha con vô tội chống người thi hành công vụ. Thật sự thì cha con đang đi trên đường bị bắt cóc rồi ghép tội chớ cha con hỏng chống gì hết trơn. Em con nó cũng ghép chống người thi hành công vụ luôn. Bây giờ tới chồng con con nghe nói nó cũng ghép chống người thi hành công vụ.
Đã ra tòa rối, cha con thì 4 năm còn em con thì 2 năm rưỡi. Chống cái gì bây giờ mình có gì đâu mà chống? Mình chỉ có A di đà Phật thôi chứ chống gì bây giờ, chú thử nghĩ đi. Tại vì mình là người tu, người Hòa Hảo nó chỉ bắt vì đàn áp tôn giáo mình thôi chứ thật sự không có chuyện gì xảy ra hết.”
Trong lần tìm mẹ mới nhất Quỳnh Anh kể lại việc công an trại giam đã khuyến khích chị động viên mẹ khi bà đã tuyệt thực đến ngày thứ 24 chị kể:
“Khi nghe con bảo con muốn viết cho mẹ mấy chữ thì người ta đồng ý ngay và còn bảo là viết thư động viên tinh thần của mẹ. Thế là con gửi tấm hình của cháu mà bà thương nó nhất và mấy chữ mong bà ăn uống gì để giữ sức khỏe đã hai mấy ngày rồi nếu không khi có chuyện gì thì nó lại bảo do mình tuyệt thực.”
Cho tới nay vẫn không ai biết được tình trạng của Nguyễn Thúy Quỳnh người cùng bị bắt với bà Bùi Minh Hằng và Nguyễn Văn Minh. Blogger Thúy Quỳnh thường trú tại Q. 8 và là người gửi hình ảnh bà Bùi Minh Hằng ca bài Việt Nam tôi đâu của Việt Khang trong nhà giam khi cô bị giam chung với bà. Có lẽ vì thế nên công an đã giam giữ cô gái này mà không cần cho biết cô phạm tội gì.

Tội bẻ cong luật pháp

Ngày 18/11/1976, học giả Robert Havemann, nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất ở CHDC Đức, người được coi là cha đẻ tinh thần của cuộc cách mạng hòa bình năm 1989, viết một bức thư ngỏ gửi Tổng Bí thư Erich Honecker về việc bạn ông, cũng một nhà bất đồng chính kiến lừng danh, nghệ sĩ Wolf Biermann, bị cấm về nước sau chuyến lưu diễn tại Tây Đức. Havemann từng là bạn tù của Honecker thời Quốc xã, từng viết thư thỉnh cầu Honecker thả một người bất đồng chính kiến khác và được chấp thuận, từng được Honecker che chắn ở một số vụ, và dù đã bị khai trừ khỏi Đảng, cấm giảng dạy, sa thải khỏi trường đại học và Viện Hàn lâm Khoa học, tước mọi chức vụ trong đó có chức đại biểu Quốc hội, ông vẫn coi mình là một người cộng sản.

Bốn ngày sau, 22/11/1976/, tuần tin Spiegel (Tây Đức) đăng bức thư đó. Trong thư, Havemann kêu gọi Honecker cho phép Wolf Biermann được về nước, “trước hết để tránh nhục nhã và thiệt hại cho tất cả chúng ta và uy tín của đất nước ta“, bởi lẽ – nguyên văn: “tất cả những cáo buộc và nghi ngờ rằng Wolf Biermann thù địch với CHDC Đức đều hoàn toàn vô lối. Wolf Biermann đã phê phán, phê phán mạnh mẽ và sắc nhọn. Nhưng những đồng chí ưu tú nhất của chúng ta cũng đã sử dụng vũ khí phê phán mạnh mẽ không khoan nhượng, nhất là khi cần vạch ra những khuyết điểm và nhầm lẫn của chính chúng ta, chẳng phải luôn luôn là như vậy hay sao? Wolf Biermann đã phê phán theo cách đó, phê phán trong tinh thần của người cộng sản. Ai không chịu nổi những lời phê phán ấy là thừa nhận rằng mình không có gì để đáp lại ngoài bạo lực.” Ông phân tích tiếp, với chiến dịch khai trừ Wolf Biermann “các đồng chí đã biến anh ấy thành hình ảnh lí tưởng trong mắt hàng triệu thanh niên Đông Đức. Giờ đây anh ấy là hiện thân của một thứ hi vọng lớn cuối cùng về một chủ nghĩa xã hội mà những thanh niên ấy đã thôi không còn mơ ước.”
Bốn ngày sau, 26/11/1976, Tòa án huyện Fürstenwalde ra lệnh quản thúc Havemann tại gia, vì tội “hoạt động đe dọa đến an ninh và trật tự công cộng“. Nơi ở và toàn bộ gia đình ông bị 200 nhân viên An ninh Quốc gia (Stasi) thay nhau canh gác suốt ngày đêm. Ông bị cấm liên lạc với phóng viên, nhân viên ngoại giao nước ngoài và 70 công dân Đông Đức “có vấn đề” khác. Năm 1979, tòa ra tiếp lệnh khám nhà, tịch thu nhiều tài liệu và đồ đạc, phạt ông một khoản tiền lớn, 10.000 Mark Đông Đức, với tội danh vi phạm Luật Ngoại tệ, vì ông đã cho xuất bản nhiều tác phẩm ở nước ngoài. Đơn kháng án của ông bị bác. Luật sư của ông bị tước quyền hành nghề. Ba năm sau, 1982, Havemann qua đời.
So với ước chừng tổng cộng 250.000 tù nhân chính trị trong vòng 40 năm ở CHDC Đức, những người thậm chí bị tống giam chỉ vì buông một lời nói kháy chính quyền hay Anh Cả Liên Xô, ông Havemann, “kẻ thù số 1 của nhà nước”, với ba năm quản thúc và một khoản tiền phạt có thể coi là còn được luật pháp của đất nước chuyên chính vô sản này nương nhẹ. Song gần hai mươi năm sau khi ông qua đời, 7 thẩm phán và công tố viên của nhà nước Đông Đức đã tham gia vào hai vụ án kết tội ông, đến lượt họ, lại phải ra tòa vì tội Rechtsbeugung: lợi dụng luật pháp, cưỡng đoạt luật pháp, lũng đoạn luật pháp, tha hóa luật pháp, nắn bóp và co giãn luật pháp… để cản trở công lí, nói nôm na là bẻ cong luật pháp.
Một trong những điểm then chốt trong hiệp thương thống nhất giữa hai nhà nước Đức sau Chiến tranh Lạnh là nguyên tắc hòa giải. Không được dùng luật pháp của Tây Đức để phán xử thực tiễn xã hội Đông Đức. Chỉ có thể dùng chính luật pháp của Đông Đức để khôi phục công lí cho những gì đã diễn ra tại đó. Thực tế áp dụng nguyên tắc hòa giải này, sau một phần tư thế kỉ, là một quá trình vô cùng gian nan, đầy tranh cãi, với những câu hỏi còn lại không thể trả lời, những nguyện vọng không thể đáp ứng, những vấn đề khó lòng giải quyết thỏa đáng. Song nó tránh cho nước Đức thống nhất, sau gần nửa thế kỉ chia cắt dân tộc, cảnh hận thù và chia rẽ của “bên thắng cuộc” và kẻ bại trận.
Vụ án xử 7 cán bộ của ngành tư pháp Đông Đức nói trên cho thấy sự phức tạp ấy và là một bài học đáng nghiền ngẫm về tư pháp chính trị. Nó kéo dài gần ba năm, từ 1997 đến 2000. Đầu tiên, Tòa án Tiểu bang Frankfurt/Oder xử cho cả 7 bị cáo trắng án, Viện Công tố kháng nghị. Tiếp theo, Tòa án Tối cao Liên bang ra quyết định hủy bản án, chuyển vụ án về một tòa án tiểu bang khác để xét xử lại. Cuối cùng, Tòa án Tiểu bang Neuruppin, sau 26 phiên tòa, đã kết án 2 trong số 7 người nói trên về tội bẻ cong luật pháp, kết hợp với tội tước đoạt tự do của người khác, liên quan tới lệnh quản thúc Havemann.
Theo kết luận của tòa, hai cán bộ tư pháp của nhà nước Đông Đức này đã biết rõ rằng việc truy tố nhà bất đồng chính kiến Havemann không phải là để thực thi một công lí trên cơ sở xác định sự thật bằng những công cụ của luật pháp, mà trước hết và chủ yếu là để vô hiệu hóa hay triệt tiêu một đối thủ chính trị. Họ đã tham dự với đầy đủ ý thức vào một kịch bản soạn sẵn, được thỏa thuận trước với những cơ quan và cá nhân đứng ngoài ngoài hệ thống tư pháp, với bản án đã định trước ngay từ đầu. Với những bản án bỏ túi và phiên tòa trình diễn đó, họ đã vi phạm chính luật pháp của Đông Đức, nơi nguyên tắc “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” cũng được long trọng ghi trên mặt giấy.
*
Khi nhận lệnh quản thúc, ông Havemann tuyên bố: “Tôi đâu có ý định rời khỏi CHDC Đức, vì mỗi bước đi ở đây là một bước ta có thể chứng kiến chế độ đã và đang đánh mất toàn bộ uy tín, chỉ cần vài sự kiện và cú huých từ bên ngoài là đủ để vứt Bộ Chính trị vào sọt rác.” Mười ba năm sau, Bộ Chính trị Đảng SED quả nhiên biến mất. Cựu Tổng Bí thư Honecker cùng vợ tháo chạy khỏi đất nước, trốn vào Đại sứ quán Chile tại Moskva xin tị nạn chính trị.
Nước Đức mất gần 2 thập niên để giải quyết di sản của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Đông Đức. 374 vụ bẻ cong luật pháp với 618 bị cáo được đưa ra xét xử, trong đó 5 người bị phạt tiền, 176 người bị kết án tù, trong đó có 63 thẩm phán, 56 công tố viên, 5 thẩm phán và công tố viên thuộc tòa án quân sự và 41 nhân viên tư pháp khác. 8 trong số này chịu án tù từ 5 đến 10 năm.
Thật khó hình dung, mười, hai mươi năm, ba mươi năm hay năm mươi năm nữa chúng ta sẽ làm gì với di sản của nền tư pháp Việt Nam hiện tại. Những thẩm phán, đại diện Viện Kiểm sát và các nhân viên tư pháp tham gia các vụ xét xử những người bất đồng chính kiến, mới hôm kia là blogger Trương Duy Nhất, bằng những bản án bỏ túi rồi sẽ phải chịu trách nhiệm gì? Chúng ta hay tự an ủi rằng họ sẽ phải đứng trước tòa án của lương tâm và tòa án của lịch sử. Song lương tâm thường phán quyết có lợi cho chủ của nó. Còn đợi lịch sử xếp xong lịch xét xử thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết từ lâu.
Tháng 3 6, 2014
Phạm Thị Hoài
© 2014 pro&contra

Khi nào Trung Quốc thực sự thay đổi?

John Sudworth
BBC News, Bắc Kinh
Ông Lý Khắc Cường phát biểu hơn 100 phút nhưng thiếu những thay đổi lớn

Phát biểu khai mạc của thủ tướng Trung Quốc ở Quốc hội được xem giống như diễn văn Tình trạng Liên bang của tổng thống Hoa Kỳ.
Cả hai đều báo cáo về những gì chính quyền đã làm và đề ra kế hoạch cho năm tới.
Và cả hai đều được phát biểu trước các chính trị gia trong phòng họp và trước người dân nói chung.
Dĩ nhiên sự tương đồng cũng chỉ có mức độ.
Các chính trị gia Trung Quốc nói nhiều hơn. Thủ tướng Lý Khắc Cường phát biểu trong 105 phút hôm thứ Tư, dài hơn diễn văn của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama hồi tháng Giêng tròn 40 phút.
Và người Mỹ có thể sẽ điều chỉnh TV nếu trong vài phút đầu tiên họ phải nghe nói tới số hồ chứa nước được gia cố trong năm qua (15.000) hay nhu cầu oxy hóa chất tại đất nước đã giảm (2,9%).
Nhưng điều chắc chắn là cả hai diễn văn đều thiếu những chi tiết về chính sách nhưng lại nhiều thứ dông dài.
Các nhà bình luận chật vật tìm những điều ngạc nhiên hay những câu đắt giá trong diễn văn của tổng thống.
Và đối với phát biểu của thủ tướng Trung Quốc cũng vậy.

Thay đổi thực sự

Nhưng việc thiếu những điều gây ngạc nhiên cũng không ngăn được nhiều nhà quan sát hoan nghênh những nét chung mà ông Lý Khắc Cường nói.
Đó là những điều mà chúng ta đã từng nghe: tự do hóa lãi suất, tiếp tục tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, cải cách luật hộ khẩu hà khắc vốn không cho phép người lao động nhập cư được đối xử như cư dân của các thành phố mà họ sống.

Diễn văn của ông Lý được đọc trước các đại biểu Quốc hội
Ông Lý cũng nhắc lại lời hứa sẽ giải quyết nạn ô nhiễm đang bóp nghẹt các thành phố Trung Quốc.
Và cuối cùng là mức tăng trưởng dự đoán 7,5% cho năm 2014 như nhiều người mong đợi.
Đây là mức giống như năm ngoái và và có lẽ là điều đáng lo ngại vì Trung Quốc vẫn chưa dừng những chi tiêu cơ sở hạ tầng khổng lồ mà họ phải vay tiền để thực hiện.
Bởi vậy có lẽ điều gây ngạc nhiên nhất là sự thiếu vắng những điều ngạc nhiên.
Với hàng loạt những thách thức lớn mà Trung quốc đang đối mặt, người ta tự hỏi khi nào các chính trị gia sẽ công bố những thay đổi thực sự căn bản vốn đáng ra phải có từ lâu.

Người dân Trung Quốc bất lực trước đại họa thực phẩm bẩn

...cc : Ông Bà ta có câu : “Mà tầm Mã – Ngưu tầm Ngưu ” -Đối với  mọi vấn đề vẫn không sai.
Chọn mua thịt vịt tại một chợ ở Chiết Giang, 14/02/2014.
Chọn mua thịt vịt tại một chợ ở Chiết Giang, 14/02/2014.  -REUTERS/William Hong

Thụy My  -RFI

Nhật báo Le Figaro hôm nay quan tâm đến « Thực phẩm bẩn : Sự ngao ngán của người Trung Quốc ». Từ sữa nhiễm mélamine, bắp cải có formol cho đến thịt có chứa thuốc trừ sâu, những xì-căng-đan thực phẩm liên tục nổ ra tại đất nước bị ám ảnh bởi những hồi ức về nạn đói trước đây. Ngày nay người dân ý thức được rằng thực phẩm bày bán và nạn ô nhiễm đất nông nghiệp gây nguy hại cho sức khỏe của họ.
Sự bất mãn của người dân sâu sắc cho đến nỗi đảng Cộng sản Trung Quốc, vốn muốn dập tắt những phong trào nổi dậy từ trong trứng nước, đã phải lo ngại. Thế nên an toàn thực phẩm trở thành một trong những ưu tiên của chính quyền trong năm 2014, cùng với việc bảo vệ môi trường ở nông thôn.
Đành rằng nạn ô nhiễm tại đô thị đang là mối lo hàng đầu, nhưng tình trạng đất nông nghiệp thường đầy thuốc trừ sâu và phân bón, rác công nghiệp, cũng là nguyên nhân đe dọa khả năng đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng.
Le Figaro kể ra một danh sách dài để có thể lập nên một thực đơn kinh dị : trứng làm bằng paraffine, há cảo nhiễm thuốc trừ sâu, thịt heo có clenbutérol nấu bằng dầu ống cống, ăn kèm bắp cải có tiêm formol, gạo bằng nhựa và nấm được tẩy trắng bằng thuốc tẩy eau de javel. Kết thúc bữa ăn : tráng miệng với yaourt bằng sữa nhiễm mélamine và dưa hấu bị nổ, nhấm nháp với trà có thuốc sâu. Tất cả những món này đều là hiện thực.
Tờ báo nhắc lại, năm 2008 sữa nhiễm mélamine đã giết hại 6 em bé và gây bệnh cho 300.000 em khác. Nhưng xì-căng-đan này chỉ được tiết lộ sau khi Thế vận hội Bắc Kinh kết thúc để không làm xấu đi hình ảnh của Trung Quốc. Chất hóa học này được dùng để làm tăng độ đạm một cách giả tạo. Bà chủ của công ty sữa Sanlu đã bị kết án chung thân, nhưng bản án này cũng không ngăn được một xì-căng-đan sữa nhiễm độc mới tại Yili, một nhãn hiệu tên tuổi của Trung Quốc.
Một giáo sư tại Bắc Kinh tâm sự : Hai vợ chồng tôi không muốn có con, vì bị ám ảnh bởi hình ảnh những trẻ sơ sinh dị tật. Chúng tôi cũng không muốn như các bạn bè mình, cuối tuần phải sang Hồng Kông hay tranh thủ những lần du lịch châu Âu để mua sữa bột. Còn mua sữa chất lượng cao tại Trung Quốc thì quá đắt và cũng không bảo đảm.
Những trò phù phép thực phẩm bẩn
Tháng 5/2012 Tân Hoa Xã tiết lộ những người bán bắp cải đã tẩm formol để không bị hư hại khi vận chuyển bằng xe tải không có hệ thống lạnh trong mùa nóng. Formol rẻ tiền, nhưng gây dị ứng và có nguy cơ gây ung thư rất cao. Cung cách này rất phổ biến tại tỉnh Sơn Đông. Còn năm 2010, nhiều người trồng rau đã nhúng nấm vào eau de javel để tẩy trắng.
Năm 2011, công an bắt giữ 32 người sản xuất dầu ăn vớt từ dầu của các nhà hàng thải ra ống cống. Theo ước tính, có đến 10% số dầu ăn tiêu thụ tại Trung Quốc là dầu thải, mang lại món lợi rất lớn. Đến tháng 5/2013, công an phát hiện một mạng lưới buôn lậu thịt quy mô ở Thượng Hải và Giang Tô. Trên 900 người bị bắt giam vì bán thịt chuột cống và chồn giả làm thịt bò và cừu, thu lợi 1,6 triệu đô la.
Các nhà phù thủy này chế ra những món ăn bị tiêm vào những sản phẩm độc hại, ngâm tẩm bằng những dung dịch đáng ngờ đôi khi bằng nước tiểu súc vật. Thịt heo được tiêm borax, một chất được dùng làm thuốc trừ sâu hay bột giặt để giả làm thịt bò, hay chích nước bẩn vào để làm tăng trọng lượng, là những thủ thuật cổ điển.
Về phía nông dân cũng vận dụng nông hóa để có được rau quả to hơn, đẹp mã hơn. Khoảng 45 hecta dưa hấu đã bị nổ tung như những quả bóng vì rải quá nhiều chất forchlorfenuron để kích thích tăng trưởng. Cuối tháng 12/2013 Trung Quốc tổng kết có 3,33 triệu hecta đất nông nghiệp quá ô nhiễm, không thể trồng bất cứ thứ gì. Theo South China Morning Post, ít nhất 70% sông hồ tại Trung Quốc bị công nghiệp làm ô nhiễm, chủ yếu là các nhà máy hóa chất và dệt nhuộm.
Một nhà phát minh ra loại « siêu lúa » có năng suất tăng 20% báo động : « Hooc-môn tăng trưởng thấy khắp nơi. Để nuôi lớn một con heo và giết thịt thông thường phải mất một năm, nhưng tại Trung Quốc thì chỉ cần ba tháng ! Gà thì nuôi có 28 ngày thay vì 6 tháng, còn rau quả cũng tương tự. Hậu quả là thảm họa cho sức khỏe. Vì vậy mà một bé gái mới ba tuổi đã thấy kinh nguyệt, do ăn dâu có hooc-môn do cha mẹ trồng ».
Nuôi được 1,3 tỉ người là một trong những thử thách lớn trong một đất nước đã nhiều lần bị nạn đói hoành hành trong lịch sử. Các lãnh đạo không tìm được phép lạ nào, nên phải trả giá trong lãnh vực an toàn thực phẩm. Một danh hài đã chế giễu : « Nhờ các xì-căng-đan thực phẩm, người Trung Quốc đã tiến bộ vượt bực trong ngành hóa ». Le Figaro kết luận, trong một hệ thống do đảng Cộng sản lãnh đạo, người dân không thể đi xa hơn để tìm kiếm những người có trách nhiệm về thảm họa thực phẩm bẩn.
Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng, châu Á lo ngại
Cũng về Trung Quốc, nhiều tờ báo chú ý đến việc Bắc Kinh tăng ngân sách quốc phòng. Le Figaro và La Croix đều có cùng nhận định, đây lại là một quan ngại mới cho các nước láng giềng châu Á, đặc biệt là Nhật Bản.
La Croix cho biết, năm nay Trung Quốc dành đến 95,9 tỉ đô la cho quốc phòng, tăng 12,2% so với năm 2013. Để củng cố vai trò đại cường trên trường quốc tế và tại châu Á, Bắc Kinh không ngừng tăng ngân sách quân sự : năm 2012 tăng 11,2% và năm ngoái đã tăng 10,7%. Ngân sách này đứng thứ hai thế giới chỉ sau Hoa Kỳ, đứng trên Nga, Ả Rập Xê Út, Anh và Pháp.
Tuy vậy các chuyên gia phương Tây và Nhật Bản đều cho rằng chi quốc phòng thực sự của Bắc Kinh cao hơn con số chính thức rất nhiều, khoảng 98 đến 156 tỉ đô la được dành cho một quân đội đông đảo nhất thế giới với 2,3 triệu quân. Còn nếu chỉ dựa theo số liệu chính thức, cũng đã lớn gấp ba Ân Độ, và cao hơn cả Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Việt Nam cộng lại. Theo báo cáo của International Institute for Strategic Studies công bố vào tháng trước, thậm chí chi tiêu quân sự của Bắc Kinh sẽ vượt qua Washington vào năm 2030.
Vì sao các nước láng giềng phải lo ngại ? Người Nhật nêu ra sự thiếu minh bạch trong chính sách quốc phòng Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, Nhật phải tăng ngân sách quốc phòng 5%, còn các nước châu Á khác phải tăng cường hợp tác quân sự và hiệp định an ninh với Mỹ.
Theo La Croix, căng thẳng khu vực không hẳn là động cơ hàng đầu, mà Bắc Kinh muốn có một quân đội xứng đáng với tư cách đại cường kinh tế chính trị, tức « giấc mơ Trung Hoa » của Tập Cận Bình. Về vấn đề này, Le Figaro trích nhận xét của chuyên gia Rory Medcalf thuộc Viện Lowy ở Sydney cho là những ai tin rằng Tập Cận Bình chỉ tập trung vào kinh tế « đã đánh giá thấp ý định của Trung Quốc trong việc hình thành môi trường chiến lược theo ý mình ».
Lính lê-dương Đức tại Điện Biên Phủ
Liên quan đến Việt Nam, nhật báo Libération có bài viết mang tựa đề « Đông Dương với đoàn quân lê dương Đức ít ai biết đến ». Vào cuối Đệ nhị Thế chiến, hàng ngàn lính Đức bị bắt tại Pháp đã chấp nhận đi lính lê dương ở thuộc địa. Một nhà nghiên cứu trẻ Pháp đã vẽ lại hành trình của những người bị lãng quên này trong tác phẩm « Kẻ thù hữu dụng », được bài báo trích dẫn.
Trong Thế chiến thứ hai, có đến 2.600 lính Đức « hy sinh vì nước Pháp » ! Đó là các tù binh Đức bị Pháp bắt đã xung phong gia nhập lực lượng lê-dương, và ngay lập tức được gởi sang Đông Dương, trong đó có nhiều lính SS cũ. Tại Điện Biên Phủ, có đến 1.600 lính Đức tham gia chiến đấu, trong đó nhiều người đã thiệt mạng.
Ukraina : Chuẩn bị thanh lọc bộ máy
Nhìn sang Ukraina nơi tình hình đang sôi động, đặc phái viên Libération ở Kiev viết về « Một sự thanh lọc tế nhị » : chỉ nên nhắm đến các đại gia, thẩm phán, nhân viên an ninh…liên can đến tội ác và tham nhũng trong thời kỳ Viktor Ianoukovitch nắm quyền.
Từ khi cuộc nổi dậy thành công, mọi người đều nói đến điều này. Đối với những người biểu tình và chính quyền mới, chỉ truy lùng Ianoukovitch thì không đủ, mà còn phải nhanh chóng thanh lọc bộ máy nhà nước. Cụ thể là những ai ra lệnh và nhắm bắn vào người biểu tình, các dân biểu đã bỏ phiếu cho đạo luật độc đoán hồi tháng Giêng cho phép đàn áp, các quan tòa đã bỏ tù những người phản kháng…
Việc thanh lọc phải nhanh chóng và không nhắm vào cá nhân mà vào những tội ác cụ thể. Tất nhiên cần phải thận trọng, phân biệt những đại biểu đã soạn thảo các luật này với những người phải bỏ phiếu dưới áp lực, hay lực lượng cảnh sát chống bạo động Berkut với lực lượng an ninh nói chung.
Sau khi Ianoukovitch bỏ trốn, những nhóm sáng kiến của Maidan tập hợp nhiều nhân vật uy tín đã cố gắng đưa ra các tiêu chuẩn thanh lọc. Chẳng hạn 100 người giàu nhất Ukraina không thể giữ các chức vụ trong chính quyền mới. Theo chủ tịch ủy ban thanh lọc Egor Sobolev, đang chuẩn bị một dự luật cho Quốc hội, thì : « Việc các doanh nhân giàu có giữ một chức vụ thật ra không có vấn đề gì, nhưng nếu họ làm giàu nhờ chức vụ thì không thể được ».
Phản đối tấn công Crimée trên mạng xã hội Nga
Về phía Nga, thông tín viên của nhật báo Les Echos tại Matxcơva cho biết về « Những tiếng nói chỉ trích điện Kremli tại Nga ». Trên truyền hình nhà nước Nga, tuyên truyền hoạt động ở mức tối đa, nhưng trên internet và những tờ báo tự do, người Nga phản đối việc đổ quân sang Crimée.
« Ông Putin điên rồi ! ». Trên internet, nhiều người Nga không giấu diếm sự bất bình trước các hành động quân sự của Kremli. Một thanh niên Matxcơva thổ lộ : « May quá, từ nhiều năm qua chúng tôi không còn xem tivi nữa ». Những người sử dụng mạng xã hội không còn tin vào tuyên truyền của truyền thông nhà nước.
Les Echos cho biết, giáo sư Andrei Zubov của Viện nghiên cứu quốc tế danh tiếng MGIMO ở Matxcơva còn đi xa hơn khi trên một tờ báo tự do, đã so sánh việc Nga đưa quân vào Crimée với sự kiện Hitler chiếm đóng nước Áo. Ngay lập tức ông đã bị sa thải.

TQ sẽ bắt giữ tàu nước ngoài theo lịch hàng tuần

...cc : Nay mai chắc trên Truyền hình có “Phản đối”.

RFA 06.03.2014

Lực lượng tuần duyên Trung Quốc theo quy định mới về đánh bắt hải sản của nước này hiện đang bắt giữ tàu nước ngoài trên cơ sở hằng tuần.
Bí thư tỉnh Hải Nam, ông La Bảo Minh cho biết như vừa nêu vào ngày hôm qua, 6/3.
Ông La Bảo Minh cũng cho biết cách thức thực thi lệnh của Trung Quốc mà bị các nước trong khu vực và cả Hoa Kỳ chỉ trích là phía tuần duyên Trung Quốc luôn cố gắng thuyết phục trong ôn hòa với các tàu nước ngoài, yêu cầu ra khỏi lãnh hải khi các tàu này cố tình đi vào vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Gần đây, Philippines Quốc và VN lên tiếng cáo buộc tàu tuần duyên Trung Quốc dùng súng phun nước và dùng các các biện pháp khiêu khích khác để xua đuổi các tàu cá của họ khi đang đánh bắt ở khu vực gần các vùng tranh chấp.
Truyền thông Việt Nam cho biết mới hôm ngày 1 tháng 3 vừa qua, một tàu của ngư dân Quảng Ngãi bị phía Trung Quốc cướp hết ngư cụ và hải sản đánh được sau gần một tháng đánh bắt ở khu vực Hoàng Sa.

Thái độ của Putin ở Ukraina làm Đông Âu nhớ lại thủ đoạn của Hitler - Manila: Việt Nam ủng hộ Philippines trong tranh chấp Biển Đông - 'Việt Nam giam tù chính trị nhiều nhất Đông Nam Á’

Việt Nam cần một Nguyên thủ như Putin để đưa đất nước đi lên

(vui rồi đây, sắp có nhiều kịch để xem á...)

Vì sao từ một nước yếu kém, tan rã, nước Nga trở nên hùng mạnh như ngày hôm nay? … và vì sao từ một quốc gia nghèo đói, chỉ cần khoảng 30 năm, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore đã trở thành những quốc gia hưng thịnh hàng đầu thế giới, còn Việt Nam thì chưa? Câu trả lời ở ngay trong chính cơ chế của chúng ta.
Nhìn lại những gì mà Putin đã và đang làm cho nước Nga có thể thấy rằng, không có Putin thì không có nước Nga hùng mạnh và thịnh vượng như ngày hôm nay. Và nước Nga rất cần một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và quyết đoán như Putin.
Với bản năng là một điệp viên thông minh, quyết đoán và chớp thời cơ, Putin đã đưa nước Nga trở nên hùng mạnh, thịnh vượng và được tôn trọng.

Và Nhật Bản cũng cần phải có một Thủ tướng Ikeda Hayato (1960-1964) nổi tiếng với kế hoạch “dốc toàn lực cho chính sách gấp đôi thu nhập” và đã được toàn dân ủng hộ mạnh mẽ, đưa nước Nhật phát triển thần kỳ trở thành đại cường quốc kinh tế.
Nếu như Nhật Bản phát triển với tốc độ chóng mặt làm nên “sự thần kỳ Nhật Bản”, thì Hàn Quốc cũng làm nên “Kỳ tích sông Hàn” được Tổng thống Park Chung Hee khởi xướng, thực hiện công nghiệp hóa thần tốc thông qua hỗ trợ các chaebol hùng mạnh như Samsung, Hyundai, Daewoo, LG và SK.
Từ một nước nhỏ bé không có tài nguyên, không có nguồn nước, Lý Quang Diệu đã đưa đảo quốc Singapore đứng vào hàng ngũ những quốc gia phát triển nhất thế giới với chính sách bao dung tôn giáo và hoà hợp chủng tộc, thượng tôn luật pháp, trọng dụng người tài.
Còn Việt Nam ta thì sao? Và vì sao Việt Nam có rất nhiều người tài và tâm huyết với đất nước mà chưa thể có một người xuất chúng đủ khả năng đưa đất nước trở thành một quốc gia phát triển thành công?
Trước đây, quyền lực tập trung vào một người là nhà vua, nay quyền lực của Nhà nước được phân tán ra làm ba nơi: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đó là cơ chế rất tốt cho tất cả các quốc gia trong thời đại ngày nay nhưng thực ra không phải như vậy. Vì mô hình nhà nước và thể chế còn nhiều bất cập:
Hiến pháp quy định: “Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Vậy thì không có một con người cụ thể nào lãnh đạo, không thể tự quyết và cuối cùng không cá nhân nào chịu trách nhiệm!
Trước đây, quyền lực tập trung vào một người là nhà vua, nhưng các vị vua Việt Nam dù toàn quyền nhưng đã biết đồng lòng nhân dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước hùng cường.
Ở Việt Nam có thể nói bốn người nắm giữ quyền lực cao nhất đó là: Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội. Nhìn vào đây có thể thấy, 4 chức vụ này lại không phù hợp với tam quyền!
Tổng Bí thư là Bí thư Quân ủy Trung ương lãnh đạo triệt để và toàn diện quân đội có vẻ rất mâu thuẫn với quy định Chủ tịch nước thống lĩnh lực lượng vũ trang. Thủ tướng đứng đầu Chính phủ nhưng cũng không đủ quyền để tự quyết định chính sách mà phải thực hiện theo các nghị quyết của Quốc hội, của Đảng. Đôi khi không tránh khỏi việc Đảng làm thay Nhà nước.
Những bất cập này dẫn đến hiện tượng chồng chéo giữa trách nhiệm và thẩm quyền của các cơ quan ban ngành của Đảng và Nhà nước. Hiến pháp quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao, có quyền sửa đổi Hiến pháp, thế nhưng để sửa đổi Hiến pháp phải chờ nghị quyết của Đảng.
Chưa kể văn hóa của người Việt Nam có cơ chế sống theo thuyết “vô vi”, sống và làm việc chứ có phải thi điền kinh đâu mà cần nhanh. Và chữ “nhẫn” trở thành một trong những slogan hàng đầu cho mọi ứng xử của người Việt Nam.
Cũng vì thế mà nhiều người thấy rằng cơ chế tập trung dân chủ chậm đổi mới, thậm chí vẫn còn là cơ chế tập trung quan liêu, không theo kịp các yêu cầu của đời sống, làm cản bước tiến của xã hội. Tập thể quyết định, khi xảy ra tiêu cực thì tập thể phải chịu trách nhiệm, lỗi chung, thành ra chẳng ai chịu trách nhiệm cả.
Những người lãnh đạo có tài và có tâm muốn đóng góp cho đất nước thì không thể tự quyết vì quyền lực thuộc về tập thể. Khi cá nhân đưa ra một vấn đề, phải bàn lên bàn xuống, hỏi ý kiến người này người kia, chín người mười ý dẫn đến lâu ra quyết định đánh mất nhiều cơ hội và thời cơ cho đất nước.
Ở Việt Nam không có ai đủ toàn quyền để “làm và chịu trách nhiệm” như Putin, Ikeda Hayato, Lý Quang Diệu…hay ít ra được như Tập Cận Bình.
Thật là tai hại cho đất nước mà không ai chịu trách nhiệm. Vì thế cần phải có người đưa ra quyết định và phải chịu trách nhiệm cho quyết định của mình trước nhân dân.
Việt Nam cần một Nguyên thủ như Putin để đưa đất nước đi lên
Khi người dân đã thực sự làm chủ đất nước của mình. Khi ấy nhân dân sẽ chọn người lãnh đạo xuất sắc nhất của mình. Các nhà lãnh đạo đưa ra các chiến lược, các chính sách để được dân chúng chọn lựa một người lãnh đạo đất nước vừa có tài, vừa có đức và đặc biệt là đủ quyền lực và tự chịu trách nhiệm để đưa đất nước đi lên.
Không phải ngẫu nhiên nhiều trí thức và các cơ quan đơn vị đã lên tiếng cải cách cơ chế. Cũng không phải ngẫu nhiên trong thông điệp đầu năm của Thủ tướng đã nhấn mạnh cải cách thể chế. Bộ máy quản lý nhà nước của nước ta hiện nay còn nhiều bất cập, chồng chéo. Nhiều quy định được đưa ra trong điều kiện đất nước chiến tranh quyết liệt một mất một còn trước kẻ thù, nhưng trong điều kiện xây dựng kinh tế, chuyển sang kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế cần phải xem lại. Nếu tiếp tục vận dụng các quy định lỗi thời khó có thể hy vọng đổi mới, hoàn thiện tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước một cách có hiệu quả.
Thủ tướng đã nhấn mạnh cải cách thể chế
Chúng ta đã từng mạnh dạn từ bỏ mô hình “hợp tác xã bậc cao”, để dẫn dắt đất nước không chỉ thoát ra khỏi đói nghèo mà còn xuất khẩu lương thực. Chúng ta đã từng đổi mới mạnh mẽ vào năm 1986 với khẩu hiệu “những việc cần làm ngay” của ông N.V.L (Nguyễn Văn Linh), kết quả là đời sống nhân dân được như ngày hôm nay. Để đưa đất nước phát triển hùng mạnh và thịnh vượng, thì tại sao chúng ta không tiếp tục cải cách mạnh mẽ thể chế để tạo ra cơ chế cá nhân lãnh đạo và phải chịu trách nhiệm?
Tại sao chúng ta không cải cách mạnh mẽ thể chế để nguyên thủ Việt Nam có đủ toàn quyền để làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân như Putin đã từng làm?
(trandaiquang.org) 

Thái độ của Putin ở Ukraina làm Đông Âu nhớ lại thủ đoạn của Hitler

http://www.viet.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_43_large/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/varsovie%20manif%20060314.jpg     https://fbcdn-sphotos-d-a.akamaihd.net/hphotos-ak-prn2/t1/s261x260/1797443_470855049683146_2041900166_n.jpg
                                                          Hình 1                                                                                                               Hình 2
Hình 1 : -Biểu tình ủng hộ Ukraina trước sứ quán Nga tại Vacxava, Ba Lan, 02/03/2014  – REUTERS/Przemyk Wierzchowski/Agencja Gazeta -(RFI)
Hình 2 : – Chép phần Bình luận của Thụy My RFI – FB – Của Nick West Thunder

Tú Anh -RFI

Nhiều căn cứ quân sự của Ukraina ở Crimée vẫn còn bị biệt kích Nga không mang phù hiệu bao vây. Trước áp lực quốc tế, chủ nhân điện Kremli tuyên bố không cần thiết phải đưa quân chiếm đóng Ukraina « vào thời điểm này», tuy nhiên vẫn dọa sử dụng « mọi biện pháp » để bảo vệ công dân nói tiếng Nga. Thái độ của Vladimir Putin bị xem không khác gì Hitler thời thế chiến thứ hai.
Trong cuộc khủng hoảng chính trị tại Ukraina và động thái can thiệp hung bạo của Tổng thống Nga Vladimir Putin, phản ứng mạnh nhất trong Liên Hiệp Châu Âu có lẽ phát xuất từ các thành viên Đông Âu.
Cựu ngoại trưởng Cộng hòa Sec, Karel Schwarzenberg, đã so sánh Vladimir Putin với lãnh đạo Đức Quốc Xã Adolf Hitler trước khi gây ra đệ nhị thế chiến. Trả lời nhật báo Áo Osterreich ngày 03/03/2014, cựu Ngoại trưởng Cộng hòa Séc nhận định là sự kiện Nga đưa quân vào Ukraina là một sự tái diễn của lịch sử. Hitler đưa quân chiếm đóng ba nước Áo, Tiệp Khắc và Ba Lan trong những năm 1938 và 1939 cũng dưới chiêu bài bảo vệ công dân Đức bị áp bức. Khi đưa biệt kích sang vùng Crimée của Ukraina, Tổng thống Nga Putin cũng lấy cớ bảo vệ « người nói tiếng Nga bị áp bức, nhưng thực tế người Nga tại Crimée không là nạn nhân của bất cứu tình trạng bất công nào ».
Các nước Đông Âu từng là nạn nhân của hai chế độ bạo ngược : Sau 5 năm bị Đức Quốc Xã chiếm đóng là thêm 45 năm bị Liên Xô thống trị. Với kinh nghiệm này, Ba Lan đã tỏ ra rất năng nổ hỗ trợ đối lập Ukraina và thuyết phục các thành viên Tây Âu, đặc biệt là hai đầu tàu Đức, Pháp cứng rắn với Matxcơva.
48 giờ sau khi biệt kích và xe bọc thép của Nga dàn quân tại Crimée thì Washington, qua tuyên bố của Ngoại trưởng John Kerry, mới lên án Nga « xâm lăng » Ukraina. Ngược lại, chính phủ Ba Lan đã có tuyên bố cảnh giác và hành động từ trước. Ngoại trưởng Radoslaw Sikorski, vào ngày 25/02/2013, cùng hai đồng sự Pháp và Đức đã đến tận Kiev. Theo Reuters, thì chính Ngoại trưởng Ba lan, lấy kinh nghiệm đấu tranh thời ông còn là sinh viên trong phong trào Đoàn Kết ở Ba Lan, thuyết phục đối lập Ukraina ký thỏa hiệp với Tổng thống Viktor Ianoukovitch, thay vì khăng khăng dồn đối thủ đến chân tường. Sau khi ký thỏa hiệp này thì Tổng thống Ukraina bỏ chạy sang Nga gây phẫn nộ trong giới dân biểu của đảng cầm quyền, Ianouvitch bị lên án là kẻ phản bội. Quốc hội Ukraina sau đó đã trao quyền Tổng thống và Thủ tướng lâm thời cho đối lập.
Ba Lan cũng là thành viên của NATO muốn Liên minh Bắc Đại Tây Dương phải có biện pháp mạnh đặc biệt là thiết lập kế hoạch, hoạt động tình báo, theo dõi động thái của quân đội Nga dọc theo biên giới phía đông của NATO mà Ba Lan nằm ở tuyến đầu.
Trên thực tế, Ba Lan không sợ Putin, nhưng e ngại hệ quả nếu Ukraina bị Nga xâm lược.
Từ Vacxava, nhà báo Mạc Việt Hồng, ban biên tập báo mạng Đàn Chim Việt (danchimviet. Info) phân tích :
Sau cuộc họp báo của Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 04/03/2014, Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk nhận định là nhờ vào áp lực của cộng đồng quốc tế, đe dọa cô lập Nga từ ngoại giao, chính trị cho đến kinh tế, cho nên Ukraina tạm thời tránh được một « kịch bản u tối » mà ông cho rằng nguy hiểm cho cả Ba Lan.
Kinh nghiệm lịch sử đầy máu xương sau hai lần bị Đức Quốc Xã chiếm đóng và Liên Xô kềm kẹp đã làm cho Ba Lan cảnh giác cao độ. Thủ tướng Donald Tusk kêu gọi cộng đồng quốc tế phải luôn dè chừng Putin. Ông lưu ý, nếu trong cuộc họp báo, Tổng thống Nga « lùi một bước » thì ở một đoạn khác, chủ nhân điện Kremli quy buộc cho Ba Lan và Lithuania « huấn luyện » chiến thuật tranh đấu cho thành viên đối lập. Thủ tướng Ba Lan xem lời quy buộc này là « xa thực tế ». Ngoại trưởng Liiva Linas Linkevicius cũng cho rằng tuyên bố của Tổng thống Putin là lời « vu khống với mục đích kích động người Nga chống Litva ».
Đề phòng bất trắc, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel thông báo tăng cường yểm trợ quân sự cho Ba lan và ba nước Baltic, đưa thêm chiến đấu cơ phản lực F15 vào khu vực. Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ Martin Dempsey điện thoại cho đồng sự Nga Valery Gerasimov kêu gọi phía Nga « giữ thái độ chừng mực tạo cơ may giải quyết vấn đề bằng giải pháp ngoại giao ».
Trong khi đó, giới chuyên gia quân sự Tây phương thuộc các viện nghiên cứu Royal United Services và IISS của Anh Quốc thẩm định, Nga sẽ không tấn công đánh chiếm Ukraina.
Thứ nhất là Matxcơva đạt được mục tiêu kiểm soát Crimée, nơi có quân cảng chiến lược Sebastopol.
Thứ hai, tuy quân đội Nga mạnh hơn Ukraina nhưng không dễ đánh thắng đối thủ đáng gờm này.
Lý do thứ ba khiến Nga không dám động binh vì sợ phơi bày các nhược điểm khi phối hợp tác chiến ba binh chúng hải lục không quân. Dù sao đi nữa thì Tổng thống Nga cũng đã để lộ bộ mặt thật.

Hiệu ứng kinh tế của vụ Ukraine

Đăng bởi Thùy Trâm vào Thứ Năm, ngày 06 tháng 3 năm 2014

Người biểu tình cầm áp phích chống Tổng thống Nga và phản đối sự hiện diện của quân đội Nga trên bán đảo Crimea của Ukraina hôm 05/3/2014
Ngay trong giả thuyết lạc quan là chiến tranh không bùng nổ tại Ukraine thì hậu quả của việc Liên bang Nga can thiệp vào Ukraine sau ba tháng biến động chính trị tại đây cũng có nguy cơ dẫn đến chấn động kinh tế qua các biện pháp trừng phạt đang được Hoa Kỳ và Âu Châu trù tính. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hiệu ứng kinh tế của vụ khủng hoảng Ukraine qua cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Sau một ngày Thứ Hai u ám khi các thị trường tài chính trên thế giới đều sụt giá và bị nặng nhất là thị trường Nga vì mất 11%, thế giới thở ra nhẹ nhõm và các thị trường theo nhau lên giá vào ngày Thứ Ba khi Liên bang Nga loan báo đã hoàn tất cuộc tập trận như dự tính và các đơn vị thao dượt sẽ trở lại căn cứ vào ngày mùng bảy này.

∇ Nghe tường trình
Tuy nhiên, dư luận thế giới chưa yên tâm vì hai lẽ. Thứ nhất, Tổng thống Vladimir Putin cho biết trong cuộc họp báo tại Moscow ngày Thứ Ba, rằng nước Nga chưa tính dùng võ lực tại Ukraine dù có quyền chính đáng, và ông vẫn duy trì quân đội tại bán đảo Crimea. Thứ hai là Hoa Kỳ và Âu Châu trù tính nhiều biện pháp trừng phạt Liên bang Nga về tội can thiệp vào Ukraine. Thưa ông, trong giả thuyết có xác suất cao là đôi bên chưa đạt được đồng thuận về Ukraine thì các biện pháp thi hành sẽ ảnh hưởng thế nào đến kinh tế toàn cầu?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ là vụ khủng hoảng tại Ukraine biến chuyển hàng ngày cho nên ta khó lượng định hậu quả nếu chỉ theo dõi động thái của các thị trường tài chính, vốn dĩ lạc quan rồi hốt hoảng mỗi khi có tin tức gì được loan tải. Tuy nhiên, mình vẫn có thể nhìn vào cái nhân sâu xa để dự đoán hậu quả lâu dài và từ đó mà suy ra hiệu ứng kinh tế của vụ khủng hoảng này.

Vũ Hoàng: Nếu vậy ta phải đi lại từ bối cảnh về cái lẽ nhân quả như ông vừa nói. Đó là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nước Nga có lãnh thổ bát ngát mà trống trải nên khó phòng ngự và đã bị tấn công nhiều lần trong lịch sử, nhất là từ hướng Tây tiếp cận với Âu Châu. Vì vậy, bản năng xưa nay của lãnh đạo xứ này là phải kiểm soát được khu vực ngoại biên, xây dựng thành vùng trái độn quân sự. Với họ, các nước gọi là Đông Âu hay Trung Âu, từ biển Baltic phía Bắc xuống tới Hắc hải ở phía Nam, đều phải là chư hầu, là vùng trái độn bảo vệ khu vực trung tâm của họ.

Thứ hai, và đây là đặc tính khác, giữa nhu cầu dân sinh, hay kinh tế như ta nói, và yêu cầu an ninh để phòng thủ, thì an ninh vẫn là ưu tiên. Điều ấy cũng giải thích tính chất tập quyền hay độc tài của chế độ. Định đề ấy lên tới cực điểm thời Liên bang Xô viết khiến xứ này tan rã và sụp đổ vào cuối năm 1991, không vì ngoại xâm mà vì sự phá sản của hệ thống kinh tế cộng sản. Hậu quả là nước Nga bị khủng hoảng mất 10 năm và mất gần hết những nước xưa kia là chư hầu.

Thứ ba, từ khi lên cầm quyền 14 năm trước, ông Vladimir Putin ra sức chấn chỉnh tình hình và tập trung quyền lực. Gần 10 năm sau thì thấy có đủ sức mạnh để chinh phục lại thế lực mà nước Nga đã mất từ thời Xô viết thì ông ta khởi sự. Một trong các yếu tố kinh tế góp phần tạo ra sức mạnh đó chính là giá năng lượng vì về thực chất, kinh tế Nga vẫn thuộc loại lạc hậu sống nhờ xuất khẩu dầu thô và khí đốt. Ông Putin càng thấy ra nhu cầu chinh phục hay bành trướng vì các nước Đông Âu trong khối Xô viết cũ đều ngả theo Âu Châu, đi tìm dân chủ và độc lập. Vì vậy mà năm 2008 ông ta cho quân vào hai khu vực tự trị là Abkhazia và Nam Ossetia của Cộng hoà Georgia và cho đến nay vẫn còn kiểm soát hai vùng này để khống chế Georgia.

Mối nguy cho chế độ ông Putin

Một phụ nữ đang tưởng niệm những người thiệt mạng trong cuộc đụng độ với cảnh sát chống bạo động gần Quảng trường Độc lập ở trung tâm Kiev. Ảnh chụp hôm 05/3/2014. AFP
Vũ Hoàng: Ông nhắc lại bối cảnh địa dư và lịch sử ấy thì thính giả của chúng ta hiểu rõ hơn vụ Ukraine, xưa kia có tên là Cộng hòa Nhân dân Xô viết Ukraina ở trong Liên bang Xô viết.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Đã nói đến cái nhân từ phía Nga thì ta nên nhìn qua cái nhân từ Ukraine.

Xưa nay, xứ này có số phận hẩm hiu là vùng "biên địa" của các lân bang Đông-Tây, với biên giới đổi qua vạch lại nhiều lần trong một đời người, và qua thế kỷ 20, cư dân không bị Stalin bỏ đói thì bị Hitler tàn sát. Ngày nay, dù nói tiếng Nga hay tiếng Ukraine, họ phải có quyền chọn lựa mà về tình thì ta cho là chính đáng, nhưng về lý thì lại đáng lo cho nước Nga.

Về tình thì dân Ukraine so với một xứ có quan hệ lâu đời là Ba Lan, với diện tích bằng nửa và ít tài nguyên hơn. Năm 1992, khi cùng thoát khỏi chế độ Xô viết thì hai nước có sản lượng bằng nhau. Hai chục năm sau, nếu tính theo tỷ giá mãi lực của đồng bạc thì Ba Lan giàu hơn gấp đôi, bình quân một đầu người thì giàu gấp ba dân Ukraine, trong một xứ dân chủ và lành mạnh hơn, chứ không bị nạn độc tài hay thối nát cai trị ở trên. Cái khác biệt là Ba Lan đã hội nhập vào Âu Châu, là thành viên của Liên hiệp Âu châu và Minh ước Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương NATO. Vì vậy, nếu mà có người Ukraine muốn theo mô hình Âu Châu thì đấy là điều chính đáng.




Nếu Ukraine có độc lập và dân chủ trong khối Âu Châu thì đấy là mối nguy sinh tử cho chế độ độc tài của ông Putin về cả mặt an ninh đối ngoại lẫn chính trị nội bộ.

- Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nhưng mà sau các nước Đông Âu, nếu Ukraine cũng theo Âu Châu thì đấy là nỗi sợ của Putin. Chỉ vì hệ thống kinh tế Liên Âu và an ninh NATO lại tiếp cận với lãnh thổ Nga và trở thành sự cám dỗ cho dân Nga khi mà nhiều người Nga cũng muốn có cuộc sống sung túc và tự do. Nếu Ukraine có độc lập và dân chủ trong khối Âu Châu thì đấy là mối nguy sinh tử cho chế độ độc tài của ông Putin về cả mặt an ninh đối ngoại lẫn chính trị nội bộ.

Vũ Hoàng: Nếu sự tình lại như vậy thì ta nên e rằng Liên bang Nga của ông Putin không dễ gì trả lại bán đảo Crimea cho xứ Ukraine mà sẽ tiếp tục kiểm soát như đã làm tại Georgia. Ngoài ra, thưa ông, liệu còn có nguy cơ là Nga sẽ can thiệp vào các tỉnh miền Đông và miền Nam của Ukraine có đa số thân Nga, hoặc xứ này sẽ lâm vào nội chiến, hay bị chia hai không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chưa ai có thể biết được tình hình sẽ xoay chuyển ra sao và tôi cho là sự thể còn tùy thuộc ở hai việc.

Thứ nhất là bên trong Ukraine, sau vụ thay đổi chế độ ngày 22 vừa qua, dân Ukraine có thể hoàn thành việc chuyển tiếp để tổ chức bầu cử vào ngày 25 Tháng Năm tới, với sự tham dự của các đảng phái và nhân vật thuộc cả hai xu hướng là muốn Ukraine tiến gần với Âu Châu hoặc muốn Ukraine vẫn nằm trong quỹ đạo của Nga. Cho đến nay, khi đảng thân Nga của Tổng thống Viktor Yanukovich đã tan rã với gần phân nửa ra khỏi Quốc hội và nhiều người còn bỏ thủ đô, phe thân Âu của ba đảng đối lập thực tế cầm quyền. Nhưng sau vài sai lầm, kể cả việc hủy bỏ tiếng Nga tại các địa phương, họ biết sửa sai và mời nhiều người thân Nga vào chính quyền. Nhờ đó, và nếu Ukraine không bị khủng hoảng kinh tế mà vỡ nợ trong thời gian tới, cuộc bầu cử vẫn có thể thành hình và đẩy lui rủi ro nội chiến. Tôi nghĩ là điều này có xác suất cao. Nhưng việc thứ hai là phản ứng các nước ở bên ngoài, là Liên bang Nga và Tây phương.

Đầu tiên, các nước Tây phương là Mỹ và Âu Châu phải rút tỉa kinh nghiệm của ba tháng biến động và một tuần khủng hoảng vừa qua để có thái độ thích hợp hơn với cả Ukraine và Nga. Với Ukraine là chương trình cứu nguy và viện trợ kinh tế thiết thực, cấp bách với điều kiện đừng quá khắt khe về cải cách trong buổi giao thời. Với Nga là việc gây áp lực một cách thống nhất và hiệu quả để ông Putin không dám làm mạnh hơn, kể cả dùng võ lực, tại Ukraine. Các biện pháp trừng phạt của Tây phương nằm trong chiều hướng gây áp lực với Putin và hiệu ứng kinh tế của vụ Ukraine có thể xuất phát từ đó.

Vũ Hoàng: Như ông vừa trình bày thì tình hình còn tùy vào nhiều điều kiện cho tới nay vẫn là bất định. Khi theo dõi sự thể, ông ước đoán thế nào về chiều hướng tác động của các nước?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi không mấy lạc quan về khả năng can gián hay gián chỉ của các nước Tây phương, gồm có Hoa Kỳ và các cường quốc Liên Âu, trước ý chí của ông Putin. Các nước Tây phương đều thiếu thống nhất và phối hợp kém trong ba tháng biến động và hình như bị bất ngờ khi ông Putin lấy quyết định can thiệp. Phần mình, ông Putin biết khai thác nhược điểm ấy của Tây phương để chủ động tiến thoái mà thâm tâm thì không muốn Ukraine theo Âu Châu. Cùng lắm thì là một nước thân Nga theo thể chế liên bang để dung hòa những dị biệt bên trong. Ngoài ra, nếu ông Putin tỏ vẻ yếu thế trước áp lực của Tây phương thì chế độ thật ra vẫn độc tài của ông ta sẽ bị rúng động ở nhà, ở bên trong nước Nga.

Vì vậy, tôi e rằng ông Putin sẽ khó xuống thang sau khi đã gây ra một vụ khủng hoảng và tình hình có thể suy đồi rất nhanh với những biện pháp trừng phạt rồi trả đủa của đôi bên. Và chính là sự bất nhất của các nước Tây phương - thí dụ như lập trường có vẻ hòa giải của Đức, hoặc việc Anh không muốn áp dụng biện pháp cấm vận với các tài phiệt Nga đang làm ăn tại Anh quốc – càng khiến ông Putin nghĩ là cuối cùng thì mình sẽ thắng. Vì vậy tôi không lạc quan.

Ảnh hưởng kinh tế dây chuyền

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry (P) và Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Lavrov (T) gặp nhau tại Paris hôm 05/3/2014. AFP photo
Vũ Hoàng: Thưa ông, trong giả thuyết bi quan đó thì những gì có thể xảy ra về mặt kinh tế?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi trộm nghĩ là trong kinh tế, ta nên dự trù kịch bản xấu để phòng ngừa trước và không bị bất ngờ. Nếu việc đối thoại giữa Tây phương, kể cả tổ chức NATO, với Nga mà không đẩy lui được không khí đối đầu thì mâu thuẫn sẽ chuyển qua mặt trận kinh tế và đôi bên đều bị thiệt hại. Nhưng thiệt hại nặng nhất là kinh tế Ukraine và kinh tế Nga, với hậu quả lây lan qua Âu Châu và toàn cầu, kể cả Trung Quốc. Tương đối có lợi nhất vẫn là Hoa Kỳ vì ở xa!

Vũ Hoàng: Xin ông lần lượt giải thích cho dự đoán này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Ukraine đang bị nguy cơ vỡ nợ và là bạn hàng với cả Âu Châu và Nga. Kim ngạch ngoại thương của họ là vài chục tỷ với Nga và vài chục tỷ với Âu Châu và được các ngân hàng Nga cho vay gần 30 tỷ và các ngân hàng Âu Châu cho vay 23 tỷ. Nếu Ukraine vỡ nợ, cả hai khối Nga-Âu đều bị thiệt hại. Với Âu Châu chưa ra khỏi vụ khủng hoảng Euro thì một tổn thất nặng của các ngân hàng Âu Châu sẽ là điều cực bất lợi. Nước Nga cũng chẳng khá hơn gì và tổn thất của các tài phiệt ngân hàng Nga sẽ dội ngược vào thế lực chính trị của ông Putin.

Khác với thời Liên Xô, Liên bang Nga ngày nay đã mở cửa buôn bán ra ngoài, chủ yếu là với Âu Châu nhờ nguồn năng lượng của mình. Khi đôi bên leo thang trả đũa nhau, thí dụ như Nga phong tỏa khí đốt bán qua Âu Châu, thì cả hai cùng bị thiệt, nhất là Nga vì năng lượng đem lại hơn phân nửa số thu cho ngân sách quốc gia, là 75% của xuất khẩu và 3/4 là bán qua Âu Châu. Ngân sách này đang bị nguy khốn vì 63 tỉnh trong tổng số 83 tỉnh, thành hay các nước Cộng hoà trong Liên bang lại mắc nợ và có thể vỡ nợ. Nếu tình hình trở thành nguy ngập thì Nga bị nạn tẩu tán tài sản, làm đồng Rúp càng mất giá, và vì kinh tế đang bị suy trầm với đà tăng trưởng giảm mạnh, nạn lạm phát và khủng hoảng ngân hàng sẽ bùng nổ.




... Nhưng thiệt hại nặng nhất là kinh tế Ukraine và kinh tế Nga, với hậu quả lây lan qua Âu Châu và toàn cầu, kể cả Trung Quốc.

- Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa
Khi đó, nhiều ngân hàng Âu Châu, nhất là Đức, sẽ bị vạ! Các ngân hàng Trung Quốc đã trút tiền vào Âu Châu làm ăn cũng bị mất vốn. Trong trường hợp này, không chỉ kinh tế Nga mà cả khối Tây Âu và Đông Âu đều suy trầm, kéo theo nạn suy trầm toàn cầu. Nước Nga từng bị như vậy vào năm 1998 sau vụ khủng hoảng Đông Á năm 1997 nên ông Putin mới có cơ hội lãnh đạo từ năm 1999. Lần này thì ngược lại, có khi sẽ khỏi ra tái tranh cử.

Vũ Hoàng: Hồi nãy ông có nói một câu là Hoa Kỳ tương đối lại có lợi nhất, vì sao như vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Liên bang Nga có một võ khí kinh tế là năng lượng và từ năm năm nay, các nước Âu Châu đã muốn đa diện hóa nguồn cung cấp để ít lệ thuộc hơn vào khí đốt của Nga. Với vụ khủng hoảng Ukraine, Âu Châu có thể bớt sợ về môi sinh và sử dụng công nghệ gạn cát ra dầu và khí nên tạo cơ hội cho Hoa Kỳ phát triển loại kỹ thuật này. Yêu cầu và cơ hội tại Âu Châu cũng khiến Hoa Kỳ mau chóng cải sửa luật lệ để xuất khẩu khí lỏng và cả xăng dầu.

Nói vắn tắt thì nước Mỹ đang có tiềm lực rất lớn về năng lượng, khi tranh chấp kinh tế bùng nổ vì vụ Ukraine, nước Mỹ sẽ thay đổi chính sách rất nhanh để khai thác tiềm lực đó và giá dầu càng giảm thì Nga càng điêu đứng! Dưới 90 đô la một thùng là Putin hết xưng hùng xưng bá!

Vũ Hoàng: Xin cám ơn ông Nghĩa về cuộc trao đổi lý thú này!
Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa
Theo RFA

Manila: Việt Nam ủng hộ Philippines trong tranh chấp Biển Đông

Người dân Philippines biểu tình chống Trung Quốc tại thủ đô Manila.
Người dân Philippines biểu tình chống Trung Quốc tại thủ đô Manila.

VOA

Phó Tổng thống Philippines cho biết Việt Nam ủng hộ Manila trong cuộc tranh chấp chủ quyền lãnh hải giữa Philippines với Trung Quốc ở Biển Đông.

Báo Inquirer dẫn lời Phó Tổng thống Jejomar Binay cho hay đại sứ Việt Nam tại Philippines, ông Trương Triều Dương, bày tỏ sự ủng hộ này trong một cuộc điện đàm với ông Binay hôm 4/3.
Nguồn tin này nói rằng đại sứ Việt Nam cũng thông báo với Philippines rằng Malaysia cũng có chung quan điểm.
Ông Dương nói sự cố gần đây khi tàu tuần duyên Trung Quốc dùng vòi rồng xua đuổi ngư dân Philippines ra khỏi bãi cạn Scarborough là điều cũng có xảy ra với ngư dân Việt Nam.
Phó Tổng thống Philippines cho rằng các nước ASEAN cần có một lập trường cứng rắn để chống lại các tuyên bố giành chủ quyền gây hấn của Trung Quốc.
Philippines đang chờ tòa án trọng tài Liên hiệp quốc phân xử vụ họ kiện bản đồ đường lưỡi bò của Bắc Kinh vi phạm Luật Biển quốc tế.
Nguồn: Inquirer, The Manila Times

Hoàng Đức Doanh - Những người không nhận tội

Trương Văn Sương âm thầm
Bạn tù phong Bồ tát
Ba tư (34) năm bất khuất,
Không nhận tội suốt đời.

Đã bắt đưa vào đây
Khôn hồn nên nhận tội,
Đừng dại mà từ chối,
Đã chối thì khổ thân.

Ông Chấn ở Bắc giang,
Sợ đòn nên phải nhận,
Mất mười năm ân hận,
Không tội vẫn ngồi tù

Hết cương lại dụng nhu,
Dụ không nghe thì đánh,
Lỡ tay thành bạc mệnh,
Đưa xác về mà chôn.

Quỷ bắt mất linh hồn
Những người thi hành Luật,
Bao nhiêu là sự thật,
Tàn ác đến nhẫn tâm.

Trương Văn Sương âm thầm
Bạn tù phong Bồ tát
Ba tư (34) năm bất khuất,
Không nhận tội suốt đời.

Thật xứng đáng làm người,
Điếu Cày cùng Hà Vũ
Tù lương tâm đều thế,
Yêu nước tội là sao ?

Chúng bay hãy dừng mau
Hỡi chính quyền khốn nạn,
Tra tấn không ghi luật
Đừng hành hạ tù nhân ?

Ngày 06/3/2014
Hoàng Đức Doanh

'Việt Nam giam tù chính trị nhiều nhất Đông Nam Á’

Công an canh gác bên ngoài trại giam Thanh Xuân, Hà Nội. Theo thống kê của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền FIDH, Việt Nam là nhà tù lớn nhất tại khu vực Đông Nam Á giam giữ tù nhân chính trị.
Công an canh gác bên ngoài trại giam Thanh Xuân, Hà Nội. Theo thống kê của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền FIDH, Việt Nam là nhà tù lớn nhất tại khu vực Đông Nam Á giam giữ tù nhân chính trị.

Trà Mi-VOA

Việt Nam là nhà tù lớn nhất tại khu vực Đông Nam Á giam giữ tù nhân chính trị, theo thống kê được Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền FIDH có trụ sở tại Châu Âu công bố hôm nay.
FIDH nói ước tính hiện có ít nhất 212 nhà bất đồng chính kiến đang bị Hà Nội giam cầm và nhiều người khác đang bị quản thúc tại gia.
Trong số này có những luật sư, các blogger, các nhà hoạt động vì quyền đất đai, các nhà sư Phật giáo, ký giả, văn nghệ sĩ, các nhà hoạt động công đoàn, các nhà vận động dân chủ, thành viên các nhóm sắc tộc và tôn giáo thiểu số như Hmong, Phật giáo Khmer Krom, và người Thượng Cơ Đốc giáo.
FIDH, Liên đoàn gồm 178 tổ chức phi chính phủ bảo vệ nhân quyền tại hơn 100 quốc gia trên thế giới, chỉ ra rằng nhiều nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam đang phải thi hành các bản án tù dài hạn trong các điều kiện giam giữ hết sức tồi tệ, sức khỏe bị suy kiệt, rất cần được chăm sóc y tế khẩn cấp.
Trong môi trường tù tội, không hề có nhân quyền. Việc thực hiện tra tấn, họ không tra tấn một cách lộ liễu, mà họ tra tấn bằng cách chẳng hạn như ốm đau không được trị bệnh, ăn uống thiếu thốn, đời sống văn hóa không có. Đấy cũng là các hình thức tra tấn.
Nhà giáo bất đồng chính kiến Ðinh Ðăng Ðịnh.
FIDH và Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam ngày 6/3 ra thông cáo chung kêu gọi chính phủ Hà Nội phải trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho các tù nhân chính trị để chứng minh tôn trọng nhân quyền và các cam kết với quốc tế.
Hồ sơ 17 tù nhân chính trị cần đặc biệt quan tâm do hai tổ chức này cùng công bố hôm nay bao gồm trường hợp của nhà giáo bất đồng chính kiến Đinh Đăng Định, người đang bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối; Hòa thượng Thích Quảng Độ, Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải; luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân; tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ; nhà hoạt động công đoàn Đỗ Thị Minh Hạnh; nhà hoạt động dân chủ Trần Huỳnh Duy Thức; nhạc sĩ Việt Khang; và nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình.
Nhà giáo bất đồng chính kiến Ðinh Ðăng Ðịnh.Nhà giáo bất đồng chính kiến Ðinh Ðăng Ðịnh.
 
Ông Đinh Đăng Định, người lãnh án 6 năm tù về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’ hiện đang được hoãn thi hành án một năm vì căn bệnh nan y, cho biết ông phát hiện bệnh rất sớm nhưng trại ‘kiên quyết không cho đi’ khám chữa mãi đến nửa năm sau, khi căn bệnh ung thư của ông đã bước sang giai đoạn 3. Tuy được nhiều quốc gia đồng lên tiếng hỗ trợ can thiệp, nhưng thỉnh cầu của người thân ông Định xin cho ông về để được nhắm mắt trong vòng tay gia đình chỉ được Việt Nam chấp thuận khi bệnh ông chuyển qua giai đoạn 4. Ông Định chia sẻ:
“Chế độ của trại giam vô cùng khốc liệt. Sự chăm sóc về ăn uống, về sức khỏe vô cùng giới hạn. Thuốc men không có. Qua buổi tiếp xúc này với đài VOA, tôi muốn được gửi lời đến thế giới bên ngoài rằng thế giới cần phải biết một điều: nhân quyền ở Việt Nam mới chỉ là nhân quyền một nửa, chưa thể gọi là nhân quyền. Đặc biệt trong môi trường tù tội, không hề có nhân quyền. Việc thực hiện tra tấn, họ không tra tấn một cách lộ liễu, mà họ tra tấn bằng cách chẳng hạn như ốm đau không được trị bệnh, ăn uống thiếu thốn, đời sống văn hóa không có. Đấy cũng là các hình thức tra tấn. Dù Công ước Chống tra tấn họ vừa ký chưa ráo mực, nhưng trên thực tế nhân quyền ở Việt Nam vẫn chưa được thực hiện và không biết đến bao giờ sẽ được thực hiện. Có lẽ các cơ quan, phái bộ giám sát nhân quyền Liên hiệp quốc và các tổ chức phi chính phủ cần phải được mở cửa vào các trại tù kể cả tù chính trị hay tù hình sự để xem xét sự thật này.”
Giám đốc khu vực Châu Á của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền cho biết thống kê về số tù nhân lương tâm tại Việt Nam được công bố hôm nay do tổ chức thành viên trong FIDH là Ủy ban Bảo vệ Quyền làm người Việt Nam nghiên cứu, thu thập qua mạng lưới các nhà quan sát cả trong và ngoài nước. Ông Andrea Giorgetta nói với VOA Việt ngữ:
“Thật đáng xấu hổ khi một quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc như Việt Nam lại là nước đang giam giữ nhiều tù nhân chính trị nhất khu vực Đông Nam Á.”
Từ khi Miến Điện bắt đầu dân chủ hóa đất nước, Việt Nam đã thế chỗ nước này đội sổ trong khu vực về vi phạm nhân quyền và giam cầm tù nhân chính trị.
Giám đốc khu vực Châu Á của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền Andrea Giorgetta.
Ông Giorgetta nói khó có được con số cụ thể các tù nhân chính trị tại Việt Nam, đặc biệt đối với các trường hợp người Thượng Cơ Đốc giáo bị giam cầm. Vẫn theo lời ông, danh sách trên 200 tù nhân chính trị này là những trường hợp đã được Ủy ban Bảo vệ Quyền làm người Việt Nam xác minh, kiểm chứng.
Hồi đáp trước những quan ngại nhân quyền từ quốc tế, Việt Nam lâu nay vẫn tuyên bố tại Việt Nam không có tù nhân chính trị hay tù nhân lương tâm. Hà Nội nói chỉ có những người phạm pháp mới bị xử lý theo đúng pháp luật.
Đại diện Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền phản bác:
“Các luật lệ này rõ ràng không phù hợp với những tiêu chuẩn nhân quyền căn bản của quốc tế cho nên lập luận của Hà Nội hoàn toàn vô lý.”
Giám đốc khu vực Châu Á của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền Andrea Giorgetta.
Giám đốc khu vực Châu Á của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền Andrea Giorgetta.
Ông Giorgetta cho biết ngoài việc công bố danh sách tù nhân chính trị tại Việt Nam, Liên đoàn FIDH sẽ có các hành động cụ thể kêu gọi phóng thích cho họ. Ông nói:
“FIDH chúng tôi sẽ tiếp tục nêu lên các trường hợp bị bắt bớ giam cầm tùy tiện trước các cơ chế của Liên hiệp quốc, mở các chiến dịch vận động công khai cho các tù nhân chính trị này, và nêu bật thực tế rằng kể từ khi Miến Điện bắt đầu dân chủ hóa đất nước, Việt Nam đã thế chỗ nước này đội sổ trong khu vực về vi phạm nhân quyền và giam cầm tù nhân chính trị.”
Việt Nam giam tù chính trị nhiều nhất Đông Nam Á
FIDH nhấn mạnh đã đến lúc cộng đồng thế giới phải huy động và đòi hỏi Hà Nội phải chấm dứt đàn áp những nhà bất đồng chính kiến ôn hòa, phóng thích tất cả tù nhân chính trị.
Tại kỳ Kiểm điểm nhân quyền Định kỳ Phổ quát UPR trước Liên hiệp quốc hôm 5/2 vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam, Hà Kim Ngọc, nói ‘chính sách cơ bản’ của Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ, và thăng tiến nhân quyền.