Tổng số lượt xem trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn China. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn China. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2016

Chết bởi con rồng đỏ Trung cộng

image

Trong một cuộc di dân vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, Tàu đang biến cải toàn thể Phi Châu thành một thuộc địa mới. Tương tự như tây Phương đã làm trong thế kỷ 18 và 19—nhưng quyết liệt và với tầm cỡ lớn hơn nhiều—các lãnh đạo Tàu muốn Phi Châu là “chư hầu” ở xa, để vừa giải quyết vấn nạn dân số quá đông, và vừa lấy được tài nguyên.
Daily Mail Online.

Trong khi các hãng xưởng của Mỹ tiếp tục đóng bụi, trong khi các chính khách Mỹ và các nhà lãnh đạo quân sự chỉ chăm chú vào Trung Đông, và trong khi các chính trị gia ở Washington mê ngủ, Tàu cứ tiến tới. Một triệu quân Tàu di chuyển không ngừng ngang dọc Phi Châu và Nam Mỹ để chiếm các nguyên liệu chiến lược, và chiếm các thị trường mới nổi, không cho Mỹ, Âu Châu, Nhật, và các xứ khác vào. Đây là một cái đinh nữa đóng vào nắp quan tài của ngành sản xuất của Mỹ và của thế giới. Thế giới cần phải coi chừng cái đế quốc đang vươn lên này.
image

Con Rồng Đế Quốc Tàu là đứa con hoang của Con Rồng Sản Xuất vô độ—tiêu thụ nửa số lượng xi măng và gần nửa số thép của thế giới, một phần ba đồng của Tàu, một phần tư aluminum, và những số lượng vĩ đại các thứ khác như antimony, chromium, cobalt, lithium, zinc, và gỗ. Chính những tài nguyên này và các thứ khác từ nhiều nơi trên thế giới góp phần cho sự tăng trưởng kinh tế và mức sống của mọi quốc gia.
Bauxite và sắt từ những nước như Guinea và Tanzania được dùng để chế biến thành aluminum và thép mà chúng ta cần để sản xuất máy bay ở Seattle , Wahington và để đóng tàu ở Bath , Maine . Đồng từ Chile để làm dây điện, cobalt từ Congo dùng trong các xưởng cơ khí ở Michigan , và niobium từ Brazil dùng trong nhiều thứ từ máy hỏa tiễn cho quốc phòng đến lò điện nguyên tử dân sự.

Lithium từ Bolivia và Nambia dùng trong bình điện xe hơi lai (hybrid), manganese từ Gabon dùng để sản xuất bình nước uống bằng nhựa, và titanium từ những nơi như Mozambique , Madagascar , và Paraguay để sản xuất thép tốt dùng trong việc chế tạo máy bay tuyệt vời Boeing 787 Dreamliner hoặc đầu gối và hông nhân tạo của Johnson & Johnson.

Nhưng Tàu muốn tất cả những tài nguyên thiên nhiên ở tất cả các nước này là của Tàu, dành riêng cho ngành sản xuất của Tàu và để tạo việc làm trong nước Tàu. Nếu chúng ta thụ động đứng nhìn để Tàu tự tung tự tác, thì chúng nên tự đào hố chôn nền kinh tế của chúng ta bằng cái xẻng mạ vàng làm ở Thượng Hải. Nhưng nếu muốn trực diện đế quốc đang lên này để bảo vệ nền kinh tế và an ninh quốc gia, chúng ta cần hiểu rõ trò “nhử mồi” của Bắc Kinh.

Trò Nhử Mồi của Đế Quốc Rồng

Dân của lục địa đẹp mê hồn này cần sự tiến bộ. Nhưng Tàu đến đây không phải để giúp, mà là để cướp. -Daily Mail Online
image

Kế hoạch nhử mồi của Tàu luôn luôn bắt đầu bằng cùng một cách: Chủ tịch nước, hoặc thủ tướng, hoặc bộ trưởng thương mại đến thủ đô của một xứ xa xôi như Djibouti hay Niger hay Somalia , mà nhiều người Mỹ chẳng biết mấy chỗ này ở đâu trên bản đồ thế giới. Ông ta giơ cao vẫy vẫy một tấm chi phiếu to và hứa hẹn cho vay rộng rãi với lãi suất thấp để xây dựng hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, hải cảng, xa lộ; hoặc phí phạm như dinh tổng thống tráng lệ, hoặc AK47 để các lãnh tụ độc tài chà đạp người dân.
Đổi lại, thuộc địa mới chỉ cần chấp nhận hai điều kiện:
Đầu tiên, muốn nhận tiền thì phải giao nộp các tài nguyên thiên nhiên—như vậy Tàu có thể chiếm trọn cho riêng mình tài nguyên thiên nhiên của thuộc địa.
Thứ nhì, phải mở cửa cho hàng đã thành phẩm từ các xưởng sản xuất của Tàu tràn vào thị trường thuộc địa—như vậy Tàu chiếm luôn thị trường mới nổi này.

image

Phương pháp để có tài nguyên của Tàu khác rất xa phương pháp của hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, trong đó mọi người dựa vào thị trường toàn cầu để điều phối năng lượng và nguyên vật liêu qua hệ thống giá cả. Phương pháp phân phối tài nguyên bằng thị trường tự do là cốt lõi của nền kinh tế thế giới để mọi người cùng có lợi. Nhưng thay vì hợp tác kiểu tư bản, đế quốc tư bản Bắc Kinh lại chỉ muốn làm đế quốc.

Cái kiểu nhử mồi của con Rồng đang được áp dụng ở Phi Châu, Nam Mỹ, và phần lớn Trung Á, là định nghĩa chính xác cho chủ nghĩa đế quốc: Cướp tài nguyên thiên nhiên của thuộc địa mà những tài nguyên này là tài sản duy nhất của thuộc địa. Mang những tài nguyên này về Tàu thay vì sử dụng tại chỗ để giúp phát triển thuộc địa. Rồi sau đó chuyển ngược những tài nguyên này lại thuộc địa dưới dạng hàng đã thành phẩm.

Phương pháp này tạo việc làm nơi đế quốc, giúp các công ty đế quốc kiếm tiền, và dĩ nhiên khiến số người thất nghiệp ở thuộc địa càng nhiềuthêm. Phần thuộc địa được hưởng là những việc khai thác nguy hiểm lương thấp, trong khi các việc sản xuất được đưa về Quảng Châu hay Thành Đô ( Chengdu ) hay Thượng Hải. Tốt Tàu hưởng, xấu thuộc địa chịu.

Ngoại Giao Bằng Tiền Kiểu Tàu

Khi quan sát thực tế tại chỗ, chúng tôi tưởng như Tàu đã chiếm Phi Châu.—Ngoại Trưởng Musa Kusa của Libya.
Thực ra trò nhử mồi của Tàu đang xảy ra khắp nơi trên địa cầu.

Angola đã trả nợ cho Tàu số lượng dầu trị giá 10 tỉ đô la và vẫn còn tiếp tục.
Cộng Hòa Dân Chủ Congo đến nay đã trả cho Tàu số lượng tài nguyên tương đương nhiều tỉ đô la.
Ghana đang trả bằng hạt ca cao,
Nigeria trả bằng khí đốt
Sudan lấy vũ khí và trả Tàu bằng dầu. Không một nước nào có lợi trong cuộc trao đổi với Tàu.
Trong khi đó ở Peru , Tàu đang làm chủ cả một ngọn núi đồng; và để mua núi Toromacho của Peru.
image

Tàu đã học từ một câu nói nổi tiếng của W. C.Field, “Không bao giờ cho kẻ khờ một cơ hội.” Thực tế là Tàu đã mua được kho đồng quý giá này chỉ với 3 tỉ đô la, kể cả tiền hối lộ, và giờ đang lời tới mức 2,000 %. Trong khi đó các vấn nạn đói khát, mù chữ, nghèo khó, tai nạn lao động, và môi trường ô nhiễm thì dân Peru lãnh đủ.

Trường hợp Peru đã tệ, việc Bắc Kinh trao đổi với lãnh tụ giết người Robert Mugabecủa xứ Zimbabwe còn tệ hơn.
Bạo chúa già nua run rẩy này đang cai trị một trong các xứ nhiều tài nguyên thiên nhất và cũng có ít việc làm nhất của thế giới, đã bán số lượng dự trữ platinum của Zimbabwe trị giá 40 tỉ đô la cho Tàu với giá chỉ 5 tỉ, rồi hắn dùng tiền này để xây lâu đài mới, sắm trực thăng vũ trang, hiến đâu cơ phản lực, và súng ống để đè đầu cưỡi cổ dân Zimbabwe .

Chỉ có Tàu mới có khả năng làm vụ kỳ thị và đàn áp người da đen (Apartheid) trước kia trở nên chuyện nhỏ khi so sánh với tình trạng hiện nay.

“Rồi sao?” Có thể bạn hỏi vậy. Tàu cũng phải được hưởng tài nguyên như Mỹ hay Âu Châu hay Nhật chứ! Và tại sao người Mỹ cần phải để ý khi Tàu bóc lột mấy xứ Phi Châu tham nhũng thối nát, hoặc mấy xứ nghèo mạt ở Nam Mỹ? Nếu lãnh đạo của mấy cái xứ tồi tệ này ngu quá hay tham quá để Tàu lừa gạt, thì kệ họ chứ! 
Làm sao mà chuyện này ảnh hưởng được đến mấy người làm cho các hãng cơ khí sản xuất đồ bằng graphite ở Bensenville, Illinois, kính màu cho nhà thờ ở Kokomo, Indiana , hoặc bàn ghế gỗ ở Asheboro , North Carolina ? Và làm sao trò nhử tiền của Tàu lại ảnh hưởng được đến hy vọng tìm việc của những người trẻ tốt nghiệp đại học UC Berkeley với bằng hóa học, hoặc tốt nghiệp Georgia Tech với bằng kỹ sư?… Rồi, ít ra sau đây là một câu trả lời.

Bằng cách thiết lập các thuộc địa ở Phi Châu, Á Châu, và sân sau của Hoa Kỳ là Nam Mỹ, Tàu càng ngày thâu tóm càng nhiều tài nguyên của thế giới. Kế hoạch này cho Tàu ở vị thế độc quyền về tài nguyên với giá thấp nhất—và như vậy Tàu có lợi thế cạnh tranh với Mỹ và với cả thế giới.

Thực ra kế hoạch thâu tóm tài nguyên thế giới của Tàu cũng tương đương với việc cấm vận tài nguyên đối với các quốc gia khác trên thế giới.
Vì khi Tàu kiểm soát bauxite ở Brazil , Equatorial Guinea , và Malawi ; đồng ở Congo , Kazakhstan , và Nambia; sắt ở Liberia và Somalia ; manganese ở Burkina Fasco, Cam Bốt, và Gabon ; chì ở Cuba và Tanzania ; zinc ở Algeria , Kennya , Nigeria , và Zambia , thì đâu còn gì cho các xưởng ở Cincinnati và Memphis và Pittsburgh —và Munich và Yokohama và Seoul .

Chuyện Tàu “cấm vận” khiến xe hơi tương lai sẽ được sản xuất ở Lan Châu ( Lanzhou ) và Vu Hồ ( Wuhu ) thay vì ở Detroit và Huntsville ; máy bay tương lai sẽ được sản xuất ở Binzhou và Thẩm Dương ( Shenyang ) thay vì ở Seattle và Wichita ; chíp máy vi tính tương lai sẽ được làm tại Đại Liên ( Dalian ) và Thiên Tân (Tianjin) thay vì tại Silicon Valley; và thép của thế kỷ 21 sẽ được sản xuất ngày càng nhiều hơn ở Đường Sơn (Tangshan) và Vũ Hán (Wuhan) thay vì ở Birmingham, Alabama, và Granite City, Illinois .

Đây chắc chắn không phải là cách thị trường tự do và sự hợp tác thương mại quốc tế hoạt động. Và tất cả chúng ta đáng lẽ phải nổi nóng với chuyện đang xảy ra này. Nhưng trong các phòng họp chính trị ở Berlin, Tokyo, và Washington, thái độ của các chính khách có vẻ ngày càng giống như Rhett Butler trong phim Cuốn Theo Chiều Gió: “Anh nói thiệ tcưng nghe, anh chẳng thèm để ý.”

Dân Con Rồng Tràn Ngập Đại Lục Đen

Không cần biết Tàu nói gì, thực tế rõ ràng là không phải chỉ có kỹ sư và khoa học gia Tàu đến Phi Châu. Nông dân cũng đến luôn. Đúng là thực dân kiểu mới. Hoàn toàn không có đạo đức, không có giá trị gì cả.—Mustafa al-Gindi, Thành viên Nghị Viện Ai Cập

Trong khi Tàu phát triển và các nước sản xuất khác có nguy cơ xuống dốc, các thuộc địa mới của Tàu như Angola và Zimbabwe vẫn trong tình trạng đói nghèo, và thường bị nội chiến. Mặc dù các thuộc địa này có nhiều tài nguyên thiên nhiên, sự đói nghèo và xung đột ở Phi Châu là kết quả trực tiếp do sự tráo trở của Tàu. Lúc đầu Tàu hứa hẹn cho vay tiền để xây dựng hạ tầng cơ sở, tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân địa phương. Nhưng khi khởi công thì Tàu lại xuất cảng đội quân cả triệu công nhân qua để làm. Thay vì thuê kiến trúc sư, kỹ sư, công nhân, xe tải, tại địa phương, Tàu đưa dân Tàu qua tối đa, chỉ thuê dân địa phương ở mức tối thiểu.

Tác giả của quyển sách Safari Của Tàu (China Safari) mô tả tình trạng ở Sudan như sau:
Người Tàu khoan dầu và bơm dầu vào ống dẫn của Tàu đưa lên tàu của Tàu để chở về Tàu dưới sự bảo vệ của nhân viên Tàu. Công nhân Tàu làm đường làm cầu và xây đập nước khổng lồ khiến nhiều chục ngàn dân địa phương và nhiều ngàn điền chủ phải di tản. Nông dân Tàu tự sản xuất thực phẩm cung cấp cho đội quân lao động Tàu, hoặc nhập cảng các thực phẩm khác từ Tàu. Tàu cũng trang bị vũ khí cho các lãnh tụ tồi tệ địa phương để phạm tội ác với con người, và bảo vệ cái chế độ đó trong Hội Đồng Bảo 
An Liên Hiệp Quốc.

Và đây là âm mưu của Tàu mà ít ai để ý. Ngoài mục đích thâu tóm tài nguyên và chiếm lĩnh thị trường mới, Bắc Kinh còn có kế hoạch xuất cảng nhiều triệu dân Tàu qua các xứ thuộc địa ở Phi Châu và Nam Mỹ để giảm sức ép do dân số quá đông ở Tàu. Trong quyển China Safari, một khoa học gia Tàu đã giải thích kế hoạch đổ bộ dân Tàu như sau:

Chúng tôi có 600 con sông ở Tàu mà hết 400 sông kể như chết vì ô nhiễm trầm trọng… Chúng tôi phải dời ít nhất 300 triệu dân qua Phi Châu thì may ra mới giải quyết được tình trạng.

Và đây là một thí dụ nhỏ về việc Tàu chơi ép để xuất cảng dân qua Đại Lục Đen: Khi Nambia không thể trả nợ, mấy tay cho vay cắt cổ ở Bắc Kinh ép Nambia phải nhận nhiều ngàn gia đình Tàu qua định cư. Bí mật này được tiết lộ bởi WikiLeaks; và không cần nói cũng biết là khi tin này xì ra, dân Nambia vô cùng phẫn nộ.

Có thể bạn cũng nổi điên nếu Tàu cũng ép Mỹ phải nhận di dân như vậy. Thử nghĩ xem, nếu vài tỉ đô la có thể khiến Tàu đưa được vài ngàn gia đình qua định cư ở Nambia, thì nước Mỹ phải nhận bao nhiêu trăm ngàn dân Tàu để trừ số nợ hai ngàn tỉ? Các tiểu bang như Montana và Wyoming còn rộng lắm mà phải không?

Sau đây là sự mô tả của nhà báo có tiếng Andrew Malone về kế hoạch biến Phi Châu thành của Tàu:
Một cách âm thầm, bẩy trăm năm chục ngàn dân Tàu đã định cư ở Phi Châu trong một thập niên qua. Và vẫn còn tiếp tục. Kế hoạch này đã được các giới chức Tàu tính toán cẩn thận. Một chuyên gia ước tính là Tàu cần phải đưa ba trăm triệu dân qua Phi Châu để giải quyết nạn nhân mãn và ô nhiễm.
image

Kế hoạch có vẻ như đang tiến hành tốt đẹp. Cờ Tàu đang bay khắp nơi ở Phi Châu. Những hợp đồng béo bở đang được ký kết để mua các thương phẩm như dầu, platinum, vàng, và khoáng chất. Các tòa đại sứ mới đang được xây và các đường bay đang được thành lập. Thành phần thượng lưu Tàu ở Phi Châu hiện diện khắp nơi, đi mua sắm ở những cửa hàng đắt tiền, lái xe Mercedes và BMW, cho con học trường tư riêng biệt…

Ở khắp nơi trên đại lục đẹp đẽ này, dân Tàu đang tràn vào như cơn nước lũ… Các khu đô thị biệt lập có hàng rào bao bọc đang mọc lên khắp nơi. Người da đen không được bén mảng. Ngay cả những quần áo đặc thù Phi Châu bày ở tiệm cũng được nhập cảng từ Tàu, mang nhãn “Made in China .”

Từ lời nhận xét gay gắt trên của Malone, bạn có thể thấy được phần nào rằng Tàu không chỉ xuất cảng công nhân xây dựng qua Phi Châu, Á Châu, và Nam Mỹ, mà Tàu còn đưa qua nông dân, thương nhân, và cả gái điếm!

Để dễ cảm nhận được sự xâm chiếm đất đai của Tàu, ta hãy giả sử rằng chính phủ Mỹ tịch thu vài triệu mẫu đất canh tác tốt ở Iowa và Nebraska đem cho Tàu, đuổi nông dân ở đó đi chỗ khác chơi, rồi phân chia vùng cho Tàu ở riêng, ăn uống riêng. Bạn thử nghĩ xem dân Mỹ sẽ phẫn nộ lên tới mức nào? Đó chính là điều đang xảy ra ở Phi Châu, nơi đã có hơn một triệu nông dân Tàu. Đúng vậy, hơn một triệu nông dân Tàu đang cày đất Phi Châu sản xuất thực phẩm để xuất cảng ngược về Tàu nuôi dân Tàu—ngay trong khi dân địa phương đang đói nghèo.

image

Đây là một sự thực cay đắng trong việc chiếm đất Phi Châu của Tàu: Theo tuần báo The Economist, Tàu đã chiếm hơn 7 triệu mẫu dầu cọ (palm oil) tốt của Congo để làm xăng hữu cơ.

image

Ở Zambia các nông trại Tàu đã sản xuất một phần tư số trứng được tiêu thụ ở thủ đô Lusaka . Ở Zimbabwe , theo báo Weekly Standard thì chế độ của Mugabe đã cho không Tàu những trang trại trước kia của người da trắng. Trong khi đó Con Ngựa Thành Troy mang cái tên mai mỉa “Nông Trại Hữu Nghị” đang được xử dụng ở các xứ như Gabon , Ghana , Guinea , Mali , Mauritania , và Tanzania để chiếm những khu nhỏ hơn hầu tránh bị để ý.

Chiếm Thị Trường Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh

Cùng với cơn lũ nông dân Tàu, nhiều đợt con buôn Tàu cũng tràn vào Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh. Một số mang theo cơn lũ hàng Tàu vào các thành phố lớn như Kinshasa , Kampala , Lagos , Lima , và Santiago . Một số khác mạo hiểm hơn, đến lập nghiệp ở các nơi xa xôi đang có các công trình xây cất của Tàu khắp Phi Châu và Nam Mỹ.

Về chuyện gái điếm Tàu thì, giống như các công ty Tàu hạ giá thật thấp để tiêu diệt đối phương, các cô sống về đêm ở các quán rượu và nhà chứa cũng dùng cách rẻ tiền để loại đối thủ cạnh tranh. Các tác giả của quyển China Safari mô tả về tình trạng ở xứ nhiều gỗ Cameroon như sau:

“Gái điếm Tàu chỉ đòi có 2,000 CFA (4.25 đô la) trong khi các cô địa phương thì phải trên 5,000 mới chịu lên giường.”

Và đây lại thêm một chi tiết buồn cười nữa về lý do kinh tế khiến dân Tàu bỏ xứ ra đi: Khi cảnh sát giải thoát được một nhóm các cô do các tay buôn người đưa vào Congo-Brazzaville để làm điếm, những cô này lại nhất định đòi ở lại. Lý do là các cô kiếm được khá tiền hơn và được đối xử tốt hơn khi ở quê nhà Tứ Xuyên (Sichuan ). Thì ra làm điếm ở xứ Congo xa xôi còn khá hơn làm ruộng ở quê Rồng.
image

Tàu Xuất Cảng Sàn Gỗ Giết Người và Rác Độc Hại

Các công ty Tàu trả lương công nhân rất thấp và bắt họ làm việc nhiều giờ; làm sao đòi hỏi họ làm tốt hơn ở nước ngoài? Với 6,700 công nhân mỏ bị tai nạn chết mỗi năm (17 người một ngày)…làm sao trông mong được các công ty Tàu làm khá hơn ở các nơi khác trên thế giới? Tàu đã tàn phá hệ sinh thái nước Tàu trong quá trình hiện đại hóa nhanh chóng; làm sao ta có thể tin là Tàu sẽ tôn trọng môi trường như các nước Tây Phương?—Weran Jiang, Đại Học Alberta

image
Với công nhân xây dựng, lái buôn, gái điếm, nông dân, hoặc cơn lũ hàng rẻ tiền đang khiến các cơ sở thương mại địa phương phải dẹp tiệm, Tàu đang xuất cảng các vấn nạn kinh tế và môi trường của họ qua các thuộc địa mới, đồng thời đẩy người dân bản xứ sâu vào hàng ngũ những người nhận cứu trợ hoặc phải đi ăn xin. Nhưng đây không phải là những hàng xuất cảng duy nhất.

Tàu cũng đang xuất cảng sự coi thường công nhân và sự coi thường môi trường. Như giáo sư Weran Jiang đã nói rõ, không có gì phải ngạc nhiên. Bởi vì các kế hoạch gia Tàu ở Bắc Kinh còn chẳng chịu bảo vệ công nhân và môi trường của chính họ, thì làm sao trông mong là họ tử tế với mấy nơi khác như mỏ cobalt ở Congo, rừng ở Gabon, mỏ bạc ở Peru , hay mỏ đồng ở Zambia?

Sự trâng tráo của Tàu khi tàn phá đất thuộc địa có vẻ như không có giới hạn. Ta hãy xem chuyện gì đã xảy ra khi công ty quốc doanh thuộc hàng lớn nhất của Tàu là Sinopec vào Gabon để tìm dầu. Năm 2002 chính phủ Gabon đã phân định một phần tư diện tích quốc gia toàn rừng nguyên sinh là vùng thiên nhiên cần được bảo vệ. Nhưng khi Sinopec vào Gabon tìm dầu, Sinopec bắt đầu ngay giữa khu rừng, đào bới ủi đất làm đường chằng chịt ngang dọc, đặt mìn tàn phá bừa bãi—mà chỉ bị chính quyền khẻ tay nhẹ.
Cũng như “kim cương máu” để mua vũ khí Tàu tàn sát người dân vô tội ở Congo , tiền bán gỗ cho Tàu được dùng để tài trợ và mua vũ khí cho cuộc nội chiến đẫm máu.

Người Hùng Trên Yên Ngựa Đâu Rồi?

Ở Nambia khi những công nhân bị đối xử tệ lên tiếng than phiền thì bị bảo rằng “hãy cố chịu đựng để đời con cháu được khá hơn.” Ở Kenya , khi bị hạn hán trầm trọng, dân chúng chặn công nhân làm đường để đòi được lấy nước uống từ một cái giếng duy nhất trong khu vực Tàu đang thi công.—Africa News

Không khí sợ hãi và ghê tởm bao trùm các xưởng và mỏ của các ông chủ Tàu ở Phi Châu và Nam Mỹ, vì giống như ở Tàu, làm việc nhiều giờ, lương thấp, thiếu an toàn, và những ông xếp tàn ác—cùng với việc đổ bừa bãi đủ thứ chất thải độc hại vào môi trường chung quanh.
image

Chút chi tiết đẫm máu: Khi các công nhân ở mỏ than Collum Coal Mine miền Nam Zambia lên tiếng than phiền về lương thấp và điều kiện làm việc thiếu an toàn, ông xếp Tàu hung bạo dùng súng shotgun bắn gục 11 người. Người hùng trên yên ngựa của Clint Eastwood đâu rồi?
Vụ bắn này không phải là riêng lẻ. Chỉ vài tháng trước đó ở một mỏ khác ở Zambia, cuộc đình công trở thành cuộc bạo động khi một xếp Tàu bắn vào đám đông. Dĩ nhiên Bộ Ngoại Giao ở Bắc Kinh gọi cuộc thảm sát chỉ là “sự sai lầm.” Bạn nghĩ sao?

Sự Vô Đạo Đức Của Tàu Làm Hại Tây Phương

Trong 640 triệu vũ khí nhẹ đang lưu hành trên thế giới, khoảng 100 triệu ở Phi Châu.-Baffour Dokyi Amoa, Pambuzaka News

Dù bị thiệt hại đủ thứ, câu hỏi là tại sao nhiều nước Phi Châu, Á Châu, và Châu Mỹ La Tinh lại mở rộng vòng tay với Tàu? Có nhiều câu trả lời, và câu trả lời tùy vào cái xứ đó thuộc loại nào.

Loại địa ngục Phi Châu nơi lãnh tụ là những kẻ vũ trang, sát nhân, hoặc những lãnh tụ “dân chủ” trá hình với thùng phiếu bị tráo và dân bị bầu dưới họng súng. Những chế độ đểu cáng như Angola , Sudan , và Zimbabwe luôn luôn ở đầu bảng.

Ở những xứ này và nhiều xứ Phi Châu và Nam Mỹ khác, nơi nền dân chủ yếu và lãnh tụ quân sự mạnh, thực dân Tàu áp dụng khẩu hiệu lạnh xương sống do chính Thủ Tướng Tàu Ôn Gia Bảo thốt ra ở nghị viện Gabon : “Chỉ buôn bán thôi, không có điều kiện chính trị gì cả.”

image

Với chủ trương này, Tàu làm ăn với bất cứ một chính quyền ngoại quốc nào mà không cần biết chính quyền ấy tàn ác bạo ngược hoặc thối nát đến đâu. Tàu hoàn toàn không hề chỉ trích hay không hề đặt ra một điều kiện nào về nhân quyền hoặc sổ sách minh bạch.

Vậy ta có thể thấy ngay rằng chủ trương vô đạo đức của Tàu trong lãnh vực ngoại giao cho Tàu một lợi thế rất lớn so với các nước văn minh như Mỹ, Anh, Pháp, và Nhật. Những nước văn minh hành động riêng lẻ hoặc qua một cơ chế quốc tế như Liên Hiệp Quốc, dùng các vũ khí ngoại giao như cấm vận kinh tế, phong tỏa tài khoản, và cắt viên trợ, để buộc các bạo chúa phải bớt hung hăng. Nhưng trong khi các nước văn minh tạo sức ép lên các bạo chúa thì Tàu lén luồn vào bằng cửa sau.

Khi Mỹ ngưng giao thương với Sudan vì quân đội Ả Rập của nước này đang giết người da đen ở Darfur ; khi Liên Hiệp Quốc cấm vận vũ khí đối với Ivory Coast hay Sierra Leone ; khi Âu Châu cố gắng tạo sức ép lên Eritrea hay Somalia ; ngay cả khi gần như toàn thế giới đang đòi lãnh tụ độc tài Robert Mugabe của Zimbabwe phải tôn trọng kết quả cuộc bầu cử, thì Bắc Kinh lợi dụng cơ hội nhẩy vào, cung cấp cho các bạo chúa này đủ thứ, từ vũ khí cá nhân và chiến đấu cơ phản lực đến máy vi tính và các phương tiện truyền thông.

Đây là một thí dụ cụ thể về việc “đổi máu lấy dầu” ở Dafur, trong đó vũ khí dùng để tàn sát dân là do Tàu cung cấp. BBC mô tả trong tài liệu “Cánh Đồng Thảm Sát Mới” như sau:

Nhiều ngàn phụ nữ và trẻ em bị hiếp dâm một cách có tổ chức ở Dafur trong khi các người chồng, người anh, và con trai của họ bị giết thê
thảm… Chính quyền thả bom trước rồi lính tràn vào làng mạc Phi Châu trên lưng lạc đà, ngựa, và xe tải… Nhiều làng bị tấn công tới năm lần.

Một phụ nữ tên Kalima… khóc than gọi chồng khi chồng cô bị đám lính giết, còn đứa con nhỏ 3 tuổi trên tay cô thì bị đám lính giật ra rồi thiêu sống tại chỗ. Bản thân cô bị đè ra hiếp dâm tập thể.
image
Như vậy, trong khi chúng ta ở các nước tự do dân chủ tôn trọng đạo đức thì Tàu lợi dụng cơ hội để thu hoạch kinh tế, bằng cách cung cấp AK47 cho nhiều ngàn lính trẻ con Phi Châu ở Liberia , Nigeria và Sierra Leone—trong khi máy ủi đất của Tàu vùi nhiều ngàn tử thi dưới những cánh đồng thảm sát ở Dafur.

Còn Nước Úc? Thế Giới Sụp Đổ

Công ty China Guangdong Nuclear Power Holding Co… muốn mua quyền kiểm soát công ty Energy Metals Ltd. của Úc với giá 83.6 triệu đô la Úc.
Đây là một phần làn sóng đầu tư của Tàu vào tài nguyên thiên nhiên của Úc. Việc công ty quốc doanh CGNPH muốn mua 70% chương trình khai thác uranium của Bigrlyi ở khu vực phía bắc nước Úc là dấu hiệu đầu tiên cho thấy Tàu muốn lấn vào nước sản xuất uranium lớn nhất thế giới.

Tàu tỏ ý muốn mua công ty Úc giữa lúc liên hệ Úc-Tàu xuống mức thấp. Tháng vừa rồi Tàu giam giữ bốn nhân viên Anh-Úc của công ty Rio Tinto Ltd., trong đó có công dân Úc Stern Hu, với tội hối lộ và vi phạm bí mật quốc gia. Nhiều chính trị gia và bình luận gia không an tâm với việc Tàu muốn đầu tư lớn vào khu vực khai thác mỏ của Úc. 
—The Wall Strett Journal

image

Điều ngạc nhiên về kế hoạch thực dân của Tàu là làm sao ngay cả các nền kinh tế phát triển và có cơ cấu dân chủ vững mạnh như Úc , Brazil , và Nam Phi, cũng bị đồng tiền Tàu lôi kéo.

Ta hãy xem nước Úc. Dân Úc có trình độ giáo dục cao, tay nghề vững, và gần như có đủ loại tài nguyên thiên nhiên cần thiết để trở thành một trung tâm kỹ nghệ mạnh. Nhưng thay vì phát triển các ngành kỹ nghệ xử dụng tài nguyên sẵn có để sản xuất hàng tiêu dùng, các lãnh đạo thiển cận lại cho Tàu vào mua tài nguyên, đào những kho tàng khổng lồ để đem về các xưởng của Tàu.

Chỉ trong vài năm qua, các công ty Tàu như Yangzhou Coal Mining, China Minmetals, Hunan Valin Steel & Iron, China Metalurgical, và Shanghai Baosteel, đã được những hợp đồng khai thác tài nguyên vĩ đại. Dù trong ngắn hạn vài trăm gia đình thượng lưu Úc bỗng giàu to, nhưng về đường dài nước Úc sẽ lâm cảnh nghèo khó khi các mỏ bị vét sạch.

Ngay cả trong ngắn hạn nước Úc cũng đang bị thiệt thòi. Bởi vì sau khi Tàu dùng nguyên liệu của Úc sản xuất thành hàng hóa rồi đem ngược trở qua Úc bán, Úc bị thâm thủng mậu dịch với Tàu—mặc dù Úc có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú.

Cả hai nước Brazil và Nam Phi cũng tương tự–nhưng yếu hơn. Cả hai đều ngồi trên những kho tàng phong phú. Cả hai đều có giới trung lưu và đều có nhiều cơ hội gia nhập hàng ngũ những nước kỹ nghệ. Nhưng cả hai lại cho Tàu lấy quá nhiều tài nguyên thiên nhiên và vì vậy bị thâm thủng mậu dịch với Tàu.

Chẳng hạn như ở Brazil và chỉ trong ngành dầu lửa, công ty quốc doanh Sinopec của Tàu đã đổ vào 7 tỉ đô la để mua phần lớn số dầu dự trữ khổng lồ ở Santos Basin. Và đó không phải là điều duy nhất: Sinopec còn cho công ty Petrobras của chính phủ Brazil vay 10 tỉ dô la để đổi lại, Sinopec được quyền mua 10,000 thùng dầu thô mỗi ngày trong 10 năm với giá thấp, dưới mức đáy. John Pomfret của báo The Washington Post đã vẽ bức tranh toàn cảnh “Chinamax” như sau:

image

Dọc theo dải cát vàng dài 175 dặm ở bờ biển Dại Tây Dương phía bắc Rio de Janeiro, Tàu đang xây dựng một thực thể kinh tế mới. Đi qua khỏi những hải cảng lớn nơi những tàu khổng lồ của Tàu đang lấy quặng sắt hoặc lấy dầu chở về Bắc Kinh, là một thành phố lớn gấp đôi Manhattan với các hãng xưởng đang mọc lên. Nhiều công trình này được xây dựng với tiền đầu tư của Tàu: xưởng luyện thép, công ty vận chuyển, xưởng xe hơi, xưởng sản xuất dụng cụ khai thác dầu và khí đốt… Sự đầu tư vào Brazil cho thấy kế hoạch “hướng ngoại” của Tàu để bảo đảm nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên và để làm chậm sự phát triển của các công ty thuộc chính quyền địa phương.
image
Tổng Thống Nam P Thabo Mbeki tỏ ý lo ngại về sự xâm lấn của thực dân Tàu: “Nếu Nam Phi chỉ xuất cảng nguyên liệu thô qua Tàu và nhập cảng hàng đã thành phẩm từ Tàu, Phi Châu sẽ bị kẹt mãi mãi trong điều kiện kém phát triển.”
Dù là nước Úc văn minh, Congo loạn lạc, Nam Phi đang phát triển, hay là Zimbabwe độc tài, tất cả các nước này cùng giống nhau ở một điểm: Tàu đang bóc lột có kế hoạch các kho báu của họ.
Và sau khi các kho báu bị cưa, bị xúc, và bị hốt sạch, những thuộc địa này chỉ còn là những cái vỏ rỗng, không còn cơ hội để trở thành quốc gia kỹ nghệ với khả năng tạo nhiều việc làm mà đúng ra họ đã có thể được hưởng nếu họ không là thuộc địa của Tàu.

Đại Bàng Mỹ Biến Thành Chim Bồ Câu Lớn Nhất Thế Giới

Con Rồng sản xuất rất tham ăn. Con Rồng thuộc địa không ngưng nghỉ. Đại Bàng Mỹ thì ngủ quên.
—Ron Vara

image
Kết quả sau cùng là Tàu có kế hoạch chiếm đủ nguyên liệu cho các nhà máy Tàu chạy đều. Còn thế giới thì không. 
Trong khi đội quân triệu người của Tàu tràn đi khắp Phi Châu, Á Châu, và Châu Mỹ La Tinh để thực hiện kế hoạch thâu tóm tài nguyên và chiếm lĩnh thị trường, 
Đại Bàng Mỹ vẫn còn đậu dưới đất, Âu Châu không dám đối diện sự thật, và Nhật Bản thì bất lực vì quá sợ hãi. Nhưng trước kia đâu đến nỗi như vậy — ít ra là với nước Mỹ.
Nước Mỹ đã từng là bậc thầy trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trên thế giới qua các công tác cứu trợ, ngoại giao, và viện trợ quân sự. 
Nhưng giờ thì Đại Bàng Mỹ đã biến thành chim bồ câu; chúng ta đang gửi Peace Corps đến giúp những quốc gia mắc nợ ít hơn chúng ta, và chúng ta đang núp trong những trại lính ở những xứ mà chúng ta không nên đến. 
Đã đến lúc chúng ta và thế giới phải tỉnh dậy—và đứng lên chống lại—cái đế quốc thực dân đang hiện diện ngay giữa chúng ta. 
Một lần nữa, như Peter Finch đã nói một cách hùng hồn rằng, thế giới văn minh phải mở tung cánh cửa phía Đông mà gào to lên rằng, “Giận lắm rồi, không thể nào chịu nổi nữa.”
Bởi vì nếu chúng ta không vùng lên, “việc cấm vận” tài nguyên thiên nhiên mà Tàu đang áp dụng trên thế giới qua kế hoạch thực dân sẽ là dây thòng lọng siết cổ tất cả các nền kinh tế thế giới.

image
Với thời gian, khi đế quốc Tàu ngày càng thâu tóm được nhiều hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm để thỏa mãn cơn thèm khát của Tàu, dây thòng lọng sẽ càng siết chặt vào cổ của Mỹ, Âu Châu, Nhật , Nam Hàn, và các nước khác.

Peter W. Navarro & Greg W. Autry (2012)

http://www.xn--bomai-xqa.com/

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2016

Những màn cực hình ghê rợn trong cải cách ruộng đất tại Trung Quốc

Những cảnh bạo lực đẫm máu, những màn cực hình tàn độc được sử dụng trong cuộc cải cách ruộng đất ấy, với những người tận mắt chứng kiến, giờ đây mỗi khi nhắc lại họ vẫn không khỏi rùng mình khiếp sợ.

cai cach ruong dat,
Một cảnh đấu tố trong chiến dịch cải cách ruộng đất ở Trung Quốc. (Ảnh: Internet)
Trong thời kỳ nội chiến lần 2 tại Trung Quốc những năm 1946 – 1950, để kêu gọi nhiều nông dân hơn nữa gia nhập vào tổ chức của mình, Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) phát động “Cải cách ruộng đất” trong vùng căn cứ địa của mình. Trong cuộc vận động này, ĐCSTQ đã áp dụng những cực hình vô cùng bạo lực và tàn khốc để trấn áp những người được cho là địa chủ, phú nông. Cho đến bây giờ mỗi khi nhắc lại tình cảnh thời bấy giờ, những người đã từng tận mắt chứng kiến vẫn không khỏi kinh sợ…
Lỗ Thuận Dân từng là phó tổng biên tập tạp chí “Tri thức sơn tây” (website: www.zhazhi.com), trong một lần về quê ăn tết, ông đã tình cờ phỏng vấn một ông cụ 74 tuổi tên là Trương Lão Hán. Sau đó, ông đã dựa vào nội dung phỏng vấn để viết bài “Tôi nói cho bạn biết về cải cách ruộng đất”, và được đăng lên “Tạp chí văn học sơn tây” vào năm 2004.
Bài viết này sử dụng phương pháp tự thuật, người được phỏng vấn Trương Lão Hán là người huyện Hà Khúc tỉnh Sơn Tây, trong cải cách ruộng đất năm 1947 ông mới có 17 tuổi. Vì chú ba của ông tham gia vào đoàn bần nông, nên bảo ông đi cùng để cổ vũ cho phong trào, vì thế ông đã được tận mắt chứng kiến những cảnh tượng vô cùng tàn khốc trong cuộc vận động này.
Trương Lão Hán nhớ lại, khi cải cách ruộng đất chuẩn bị bắt đầu, thì việc trước tiên cần làm là thành lập ủy ban nông hội lâm thời, và tiến hành phân chia các thành phần giai cấp ở địa phương, bao gồm “địa chủ bình thường, địa chủ biến hình, phú nông bình thường, phú nông sản xuất, trung nông giàu có, trung nông, hạ trung nông, bần nông, cố nông, ác bá …”.
cai cach ruong dat,
cai cach ruong dat,
Sau khi xác định các thành phần xong, thì bắt đầu đấu tố…
Sau khi xác đinh các thành phần xong, thì liền bắt đầu đấu tố. Mục đích của đấu tố là “vớt của nổi, đào của chìm”, tức là tịch thu hết gia sản bao gồm lương thực, đồ dùng trong nhà, quần áo và nhà ở, phải móc ra hết được tài sản của địa chủ và phú nông. Do đó, lúc bấy giờ trong huyện ngày nào cũng nghe thấy có người bị bắt, bị đấu tố, và những tiếng kêu khóc thống thiết vô cùng thảm thương. Khi đấu tố, cực hình được áp dụng để trấn áp người bị đấu tố gồm những kiểu chủ yếu như sau:
Cực hình thứ nhất gọi là “Mài đất”. Trước khi bắt đầu, rải xỉ than (có góc có cạnh sắc bén) lên mặt đất tại chỗ họp, nếu không có xỉ than thì dùng hột rau cải xôi (hạt này sáu cạnh tám góc sắc bén). Lúc thực hiện thì đầu tiên đẩy người bị đấu tố ngã xuống, sau đó có hai người cầm chân người bị đấu tố kéo đi kéo lại trên mặt đất (chỗ rải xỉ than), sau đó tiếp tục cởi áo của người bị đấu tố ra, rồi lần lượt cho bụng và lưng của người đó sấp xuống đất để kéo.
Trương Lão Hán nói về một trường hợp cực kỳ thảm thiết: Đoàn bần nông phát hiện ở phía đông của huyện có một chủ quầy bán thuốc họ Châu rất giàu có, nên đã tiến hành đấu tố ông ta. Lúc đầu ông Châu “không chịu giao nộp tài sản”, nên đã bị lột áo ra tiến hành “mài đất”. Hai thành viên của đoàn bần nông dùng tay nhấc chân của ông ta lên, rồi kéo đi kéo lại trên đất, còn có người đứng ở ngoài ném hai hòn đá vào đầu ông, nghe được rất rõ âm thanh khi đá đập vào đầu thịch thịch. Sau đó người chủ quầy thuốc này đành phải nói ra chỗ giấu tiền của mình. Đoàn bần nông vào chỗ đó lấy ra khoảng cỡ 200 – 300 đồng, nhưng họ cho rằng không đủ, nên tiếp tục lôi ông Châu ra thực hiện “mài đất”. Lúc này một người phụ nữ tên là Trương Mao Nữ ngồi trên bụng của ông Châu, rồi chỉ đạo: “Kéo, để xem ông ta có nói ra không!”.
Sau đó mấy người đến kéo ông Châu ra cửa, rồi lại kéo quanh tường một vòng, một hồi sau mới phát hiện ra ông Châu đã tắt thở, xương sườn đằng sau ở chỗ sống lưng toàn bộ lòi ra từng cái từng cái giống như là cùm xích bị đập dẹp, rất ghê rợn.
cai cach ruong dat,
Những người vây xung quanh đóng vai trò cổ vũ cho cuộc đấu tố. (Ảnh: Internet)
Cực hình thứ 2 gọi là “Ngồi tủ gai”. Phương pháp này là trước tiên lấy một cái tủ không, rút tấm ngăn ở giữa ra, đặt nó nằm ngang để nó giống như cái quan tài hình chữ nhật. Sau đó rải gai của cây táo chua đều lên đáy tủ, rồi lột bỏ trần truồng người bị đấu tố ra ném vào trong tủ. Ngoài ra đặt một cây đòn tay dưới đáy tủ, rồi cho hai đầu lên xuống bập bênh, người ở bên trong liên tục bị lắc từ bên này sang bên kia, đến khi nói ra chỗ giấu tiền mới thôi.
Cực hình thứ 3 gọi là “thả rơi từ trên bệ tứ phương xuống đất”, người dân địa phương còn gọi cái thành bệ này là hỏa phong đài. Đoàn bần nông bắt những người được gọi là “ngoan cố không thay đổi” lên một cái bệ cao khoảng từ 5 – 7 m (bệ tứ phương), rồi đẩy người nhận cực hình xuống dưới, khiến họ ngã chết, ban đầu nếu người đó không chết thì làm thêm một lần nữa, sau này vì không muốn lãng phí sức lực nữa nên thả một cục đá từ trên xuống nhằm đúng đầu của người nhận cực hình, đến khi họ chết mới thôi.
Trương Lão Hán nhớ lại, hồi đó có một thầy giáo họ Hàn, bị xếp vào loại địa chủ biến hình. Những người trong đoàn bần nông  thấy vợ của ông Hàn ngày nào cũng lấy rổ đi nhặt than, cho rằng bà giả nghèo khổ, liền trói bà lại. Vợ ông Hàn là người tính tình nóng nảy, nhất định không chịu, do vậy bà đã bị tra tấn, bị lấy kìm gắp than nung nóng dí vào người, rồi bị áp dụng những cực hình “mài đất”, “ngồi tủ gai”. Cuối cùng bà bị mang lên “bệ tứ phương” và đẩy xuống dưới.
Trương Lão Hán nhớ rất rõ ràng rằng, lúc “băng tuyết ngập trời”, xác người bị đấu tố chết bị ném ở bãi đất hoang, và cấm không ai được mang về chôn cất, đứng từ xa có thể nhìn thấy một bầy chó hoang, vây quanh cấu xé thi thể trơ trụi không một manh áo.
Trương Lão Hán nói: “Tình trạng hỗn loạn như vậy diễn ra khoảng 3 tháng, tổng cộng giết chết bao nhiêu địa chủ thì tôi không biết rõ. Chỉ biết rằng tận mắt tôi chứng kiến thì khoảng hơn 10 người”.
 Lê Hiếu, dịch từ NTDTV

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2016

Tây Tạng và cái ách thực dân Trung Quốc

tfi-
Phạm Hy Sơn
Nhân loại, nhất là những dân tộc ở châu Phi, châu Mỹ tưởng chủ nghĩa đế quốc , thực dân đã tàn lụi vào quá khứ .  Không ai ngờ nó vẫn hiển hiện tại những xứ nhỏ yếu  bên cạnh Trung Quốc .
Vào thế kỷ 17, 18 các nước châu Âu nhờ sớm kỹ nghệ hóa  đã đua nhau đi xâm lăng những nước  lạc hậu trên thế giới để kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa và khai thác nguyên  liệu đem về nước chế biến , nhưng sau khi Thế Chiến thứ II chấm dứt năm 1945 thì những nước bị đế quốc đô hộ đó dần dần tự giải thoát  khỏi ách thực dân .   Ngược lại các dân tộc Mông Cổ, Mãn Châu,  Duy Ngô Nhĩ  và nhất là Tây Tạng vẫn còn bị cái ách đô hộ của Trung Quốc  cho đến nay .
Tây Tạng bị quân đội cộng sản Trung Quốc xâm lăng năm 1950, bị sát nhập thành phủ, huyện của Trung Quốc năm 1951, và cũng như  3 dân tộc kia hiện đang  bị Trung Quốc  áp dụng  chính sách triệt để Hán hóa để xóa bỏ  hẳn trên bản đồ thế giới .
Trung Quốc từ lâu đời có truyền thống xâm lăng những nước nhỏ yếu bên cạnh để bành trướng lãnh thổ và đồng hóa dân bản xứ thành người Hán .   Ngày nay vì nạn nhân mãn trầm trọng với  1.300 triệu người, Trung Quốc càng cần đi xâm lăng các nước khác, nhất là những nước đất rộng ít dân như Tây Tạng, Mông Cổ . . . hầu di dân giải tỏa áp lực dân số .  Do đó  chỉ mới mấy chục năm nay mà người bản xứ của những nước này trở thành dân thiểu số trên chính quê hương của họ với 20% dân số, 80% còn lại là người Hán thực dân .
Tibet-Map
ĐẤT NƯỚC và DÂN TỘC TÂY TẠNG :
  Tây Tạng là 1 quốc gia hiện diện lâu đời ở miền Trung Á, nói rõ hơn ở sườn phía bắc dãy núi Hymalias với độ cao trung bình trên 4.500m (núi Hoàng Liên Sơn cao nhất Việt Nam ở Lào Cai cao hơn 3.000m) nên người ta kêu Tây Tạng là nóc nhà thế giới .  Diện tích Tây Tạng khoảng  2 triệu 500 ngàn km2 ( chiến hơn ¼ diện tích Trung Quốc hiện nay ) bao gồm các khu vực rộng lớn chính như  Amdo, Kham và U-Tsang .  Thủ đô là Lhassa .
Sau khi chiếm Tây Tạng năm 1950, Trung Quốc cắt vùng Amdo rộng lớn phía đông bắc thành những mảnh nhỏ để sát nhập vào các tỉnh Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xyên ; phần phía đông vùng Kham cũng bị cắt nhỏ như thế để sát nhập  vào các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên , Thanh Hải .     Khu gọi là tự trị Tây Tạng chỉ còn U-Tsang và tây Kham với diện tích hơn 1 triệu km2 .
Cách nay khoảng 5.000 năm,  khi  dân Hoa Hạ (Hán) có mặt ở khu vực tây bắc  (sông) Hoàng Hà thì dân tộc Tây Tạng cũng đã định cư ở vùng Trung Á này rồi và từ từ phát triển về phía đông và đông nam tách ra thành các nước  Nam Chiếu , Miến Điện  và có lẽ cả Thái Lan .  Nước Nam Chiếu rất hùng mạnh vào thế kỷ thứ 8, đã từng đem quân đánh An Nam (VN bây giờ), Miến Điện và tranh hùng với nhà Đường  Trung Quốc vào giữa thế kỷ này .  Nam Chiếu sau đổi thành Đại Lý và bị người Tàu xâm chiếm rồi đồng hóa thành tỉnh Vân Nam hiện nay .
Dân tộc Tây Tạng có 1 nền văn hóa lâu đời và có nhiều nước  từng chịu ảnh hưởng  sâu đậm của nền văn hóa này như  Népal , Boutan ,Sikkim . . . ở phía nam , phía bắc tới tận Mông Cổ và Trung Quốc ( phái Mật Tông) . Tây Tạng có ngôn ngữ riêng (tiếng Tạng Miến), chữ viết riêng, tôn giáo riêng với đạo Bôn xuất hiện  nhiều thế kỷ trước khi đạo Phật từ Ấn Độ truyền sang vào thế kỷ thứ 7 sau TL .   Hiện nay đạo Bôn vẫn còn được 1 số người theo và đạo Phật với phái Mật Tông lan sang Trung Quốc và cả Việt Nam , Mông Cổ .
Ngay từ đầu thế kỷ thứ  7 sau TL. Tây Tạng đã là 1 quốc gia hùng mạnh, đã từng phát triển tới Bangladest, Nam Chiếu ở phía đông, nam ; phía bắc và đông bắc tới Mông Cổ, Trung Quốc .
Liên tiếp 2 năm 635, 636 vua Songsten Gampo (604-650 sau TL ) đem quân đánh Trung Quốc buộc  vua nhà Đường lúc ấy phải gả công chúa Wencheng (Văn Thánh) cho vua Tây Tạng để giảng hòa .  Tuy vậy , sự tranh hùng giữa 2 nước xẩy ra liên miên suốt 3 thế kỷ .   Năm 763 vua Trisong Detsen (756-804) tiến quân tới Trường An , kinh đô nhà Đường, làm vua Đường Thái Tông phải chạy về Lạc Dương .  Vua Tây Tạng lập 1 ông vua bù nhìn ở Trường An để cai trị .  Đến năm 821, dưới triều vua Ralphachen (815-838) hai nước mới có hòa ước ký tại Lhassa, thủ đô Tây Tạng .    Bản hòa ước này được khắc bằng cả chữ Tây Tạng và chữ Hán vào 1 cột đá dựng bên ngoài chùa  Jokhang ở  Lhassa .  Cũng trong thời kỳ này, biên cương 2 nước Tạng, Hoa được vạch rõ, được đánh dấu bằng những trụ đá hay khắc vào núi đá như ở biên giới giữa 2 nước  vùng Vân Nam  .
Tây Tạng cường thịnh được khoảng 500 năm thì bị suy yếu do nạn chia rẽ, tranh chấp quyền hành .  Do đó , đầu thế kỷ thứ 13 nước này bị quân Mông Cổ chiếm để mở 1 con đường tiến quân chinh phục Trung Quốc , sau đó Trung Quốc bị đế quốc Nguyên Mông Cổ  cai trị gần 100 năm .  Khi nhà Nguyên Mông Cổ sụp đổ, Tây Tạng cùng với Trung Hoa và tất cả những nước khác lấy lại độc lập, nhưng đến thế kỷ thứ 16 Tây Tạng lại bị Mông Cổ đô hộ lần nữa .   Đầu thế kỷ thứ 18,  khi đế quốc Mãn Châu củng cố xong sự cai trị ở Trung Quốc thì tiến quân đánh chiếm Tây Tạng, cắt miền đất phía đông  Amdo sát nhập vào Trung Quốc  với cái tên Koko Nor (Hồ Nước Xanh).  Vùng này bị đổi thành tỉnh Thanh Hải năm 1929 dưới chính quyền Quốc Dân Đảng  do Tôn Dật Tiên sáng lập .
Khi đế quốc Mãn châu (nhà Đại Thanh) bị lật đổ ở Trung Hoa năm 1911, nhân cơ hội này Tây Tạng tuyên bố độc lập .   Nền độc lập này  kéo dài  được 39 năm thì bị Mao trạch Đông đem quân xâm chiếm .
Trung Quốc thường viện dẫn rằng trước đây Tây Tạng thuộc quyền đô hộ của nhà Nguyên (đế quốc Mông Cổ) và nhà Thanh (đế quốc Mãn Châu) nên nay họ có quyền tiếp tục cai trị . Lý luận như thế chẳng khác gì nói rằng cái nhà này ông tôi chiếm của hàng xóm, rồi đến bố tôi tiếp tục chiếm nên nay cái nhà này  thuộc về tôi .  Lập luận và lối chứng minh ấy thật lạ lùng  vì Tây Tạng cũng như Trung Quốc xưa kia cùng bị Mông Cổ và Mãn Châu xâm lăng, đều là nạn nhân của 2 đế quốc đó nên nếu lấy lịch sử để chứng minh chủ quyền như thế thì cái quyền ấy là quyền của người Mông Cổ và người Mãn Châu .
Họ có quyền đòi chủ quyền không những ở Tây Tạng mà ở cả Trung Quốc . Tương tự, những nước trong “ Bát Quốc Liên Quân “ Nga, Nhật, Đức . . .  có quyền đòi hỏi chủ quyền trên lãnh thổ Trung Quốc hiện nay,  ít nhất là Nhật có quyền đòi hỏi chủ quyền toàn bộ quần đảo Đài Loan vì quần đảo này đã từng bị sát nhập vào Nhật cho đến hết Thế Chiến thứ II  .
Đế quốc Mãn Thanh  của người Mãn Châu, không phải của người Trung quốc . Hiến Pháp Đại Cương  năm 1908 của đế quốc này gồm  15 điều , điều I ghi rất rõ ràng :
Điều I  : “ Hoàng Đế Đại Thanh thống trị đế quốc Đại Thanh, nối tiếp nhau đến vạn đời .”
Điều II : “Hoàng đế tôn nghiêm như thần, thánh, bất khả xâm phạm . “ . . . .   .
Triều dình của đế quốc Đại Thanh khi ấy thì ông vua Quang Tự là người Mãn,  12 Thượng Thư thì 8 là người Mãn ( trong đó 5 người là hoàng tộc Mãn ), chỉ có 4 là người Tàu ( Nguyễn hiến Lê, Sử Trung Quốc , Chương 8) . 
TÂY TẠNG DƯỚI ÁCH THỰC DÂN  TRUNG QUỐC :
Sau khi chiếm xong Tây Tạng, Mao mở đầu kế hoạch nuốt trọn Tây Tạng bằng cách hủy diệt  nền tảng cấu trúc về tôn giáo và đạo đức của xã hội Tây Tạng .  Đó là chiến dịch  đấu tố Cải Cách Ruộng Đất .  Bên ngoài là tịch thu ruộng đất  của tu viện, chùa chiền và địa chủ, những người giàu có để chia cho dân nghèo xóa bất công xã hội, nhưng bên trong hàm ẩn mục đích tiêu diệt tiềm năng chống đối của người Tây Tạng vì  Đạo Phật và ảnh hưởng của giới tu sĩ bao trùm hầu hết mọi sinh hoạt của Tây Tạng từ đạo đức, chính trị, văn hóa , giáo dục đến phong tục, tập quán  nên diệt được Phật giáo là diệt được Tây Tạng ( khoảng từ 20 đến 25% người trưởng thành Tây Tạng tu trong hàng ngàn tu viện và chùa chiền trên khắp nước (*).  Vì vậy quân đội Trung Quốc tịch thu hết ruộng đất của những cơ sở tôn giáo và đuổi những người tu hành ra khỏi tu viện, chùa chiền bắt phải hoàn tục .  Ai không nghe thì bị đánh đập, bỏ tù, những người chống đối thì bị giết ngay tại chỗ hay bắt đi mất tích .  Hai chữ “ mất tích” ở Tây Tạng từ khi bị Trung Quốc xâm lăng có nghĩa là bị đem đi thủ tiêu , không bao giờ trở lại .
Quân đội Trung Quốc chỉ định những đối tượng của cuộc Cải Cách Ruộng Đất bắt dân chúng phải đấu tố, bắn giết .  Đó là những vị sư sãi, những thân hào nhân sĩ, những người giàu có tại địa phương .   Toàn bộ tài sản liên quan hay thuộc về  họ bị tịch thu;  bạn bè, thân nhân bị canh chừng và bị cô lập bằng cách gạt ra bên ngoài tất cả mọi sinh hoạt xã hội . Dân chúng , giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, giữa xóm làng phải tố cáo lẫn nhau .
Vì bị cai trị khắc nghiệt như vậy nên chỉ 6 năm sau, năm 1956, người Tây Tạng bùng lên  phản kháng .  Lúc đầu là ở Amdo và đông Kham, những vùng bị cắt nhỏ sát nhập vào các tỉnh Cam Túc- Thanh Hải- Tứ Xuyên- Vân Nam , sau lan cả sang tây Kham và U-Tsang .  Cuộc nổi loạn bị trấn áp thật khủng khiếp, chỉ  trong 3 năm (1956 – 1959) hơn 20.000 người tham dự bị giết chết, dã nam nhất là hơn 200.000 người bị bắt đem đi thủ tiêu .  Đó là cha mẹ, vợ con,anh em,  xóm làng của những người chống đối .    Cuộc tàn sát này giống với cuộc tàn sát diệt chủng người Do Thái mà Hitler ra lệnh cho áp dụng ở châu Âu hồi Thế Chiến thứ 2 .
Từ đó tới nay một mặt Trung Quốc xiết chặt sự cai trị Tây Tạng và mặt khác ồ ạt di dân  cũng như đem hàng triệu tội phạm người Hán tới nhốt rồi cấp phát ruộng đất bắt định cư tại đó sau khi mãn tù (**) . 
Dân tộc Tây Tạng đã được hun đúc bằng  truyền thống văn hóa của ngàn xưa và từng có một lịch sử oai hùng không dễ gì chịu khuất phục trước bạo lực và chính sách Hán hóa của Trung Quốc nên dân chúng luôn luôn có những hành động phản kháng dưới mọi hình thức, từ nhỏ tới lớn .  Ngày  10 tháng 3 năm 2008 dân chúng thủ phủ Lhassa nổi lên biểu tình chống đối  bị công an và Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc đàn áp giết chết hơn 300 người  và mấy trăm người , trong đó có nhiều nhà sư,  bị bắt đem đi mất tích không bao giờ trở lại .  Từ cuộc nổi lên ở thủ phủ Lhassa này, sự cai trị tàn bạo của Trung quốc càng ngày càng tàn bạo thêm .  Bí Thư Tây Tạng ( người Hán ) Zang Qingli công khai tuyên bố : “ Những ai cần bắt sẽ bị bắt, cần bỏ tù sẽ bị  bỏ tù . Những ai cần giết sẽ bị giết .”
Báo Le Monde ra ngày 14-12-2012 viết : “ Sau vụ nổi dậy năm 2008, trấn áp là biện pháp duy nhất .” (Web site RFI ngày 14-12-2012) .     Còn báo Libération ngày  12-12-2012 đăng 1 bài phóng sự dài về Tây Tạng của  Phillippe Grangereau  có ghi lời  nữ văn sĩ Tây Tạng, bà Tsering Woeser,  mô tả :  hiện nay Tây Tạng không khác gì 1 nhà tù, nhất là tại thủ phủ Lhassa .   Công an, cảnh sát khám người trên khắp các nẻo đường, kẻ cả trẻ em . Vào chùa phải đưa thẻ căn cước vào máy và khi vào bên trong lại bị khám xét nữa.    Chỉ trên 1 đoạn đường 500m bà đi qua có 21 chốt gác của cảnh sát và gặp 3 đội tuần tra .
Ở Đồng Nhân không chỉ có công an, quân đội giữ an ninh, trật tự mà cả các cán bộ, công nhân viên cũng phải dành ½ thời gian canh chừng dân chúng.
Tất cả mọi người Tây Tạng ra đường dù ngày hay đêm đều phải mang theo 5 thứ giấy tờ tùy thân và luôn luôn bị khám xét trong khi người Hán ở Tây Tạng thì không bị sách nhiễu gì cả .
Cũng trong bài phóng sự này  Phillippe Grangereau  đưa ra nhận xét :”  Họ (Trung Quốc) muốn đồng hóa,  muốn triệt bỏ ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, lịch sử, nhân cách của người Tây Tạng .”
Nhận xét ấy rất chính xác vì chỉ riêng trong thời gian Mao trạch Đông phát động Cách Mạng Văn Hóa vào những năm 1960 có hơn 6.000 tu viện và chùa chiền bị tiêu hủy, những cơ sở chưa bị phá thì bị canh giữ, các ni sư phải học tập chủ nghĩa cộng sản ; những nhà tu nào chống đối thì bị bắt, bị giết hay đem đi biệt tăm; học sinh và trẻ em bị cấm đến chùa ; vinh viên, học sinh phải học những môn học viết toàn bằng chữ Hán; phong tục tập quán, lối sống của người Tây Tạng bị chê bai, lăng mạ .
Chính sách Hán hóa khốc liệt ấy không khác gì chính sách mà quân nhà Minh áp dụng khi xâm lăng Việt Nam đầu thế kỷ thứ 15 .    Sắc chỉ của Minh thành Tổ ngày 21-8-1406 ra lệnh bất cứ sách vở, văn, thơ,  vết tích văn hóa nào của Việt Nam cũng phải thu, phải đốt, phải đục cho hết .
Trong Việt Nam Sử Lược, sử gia Trần trọng Kim ghi : “Đến tháng 8 năm Giáp Ngọ (1414 ) Trương Phụ và Mộc Thạnh về Tàu đem theo những đàn bà, con gái về rất nhiều . Bọn Hoàng Phúc ở lại sửa sang các việc trong nước để khiến người An Nam đồng hóa với người Tàu .   Lập đền miếu bắt người mình phải cúng tế theo tục bên Tàu, rồi từ cách ăn mặc cho chí sự học hành, việc gì cũng bắt như người Tàu cả .  Còn cái gì là di tích của nước mình thì thu nhặt đem về Tàu hết sạch .”
Sử gia Trần trọng Kim ghi tiếp rằng Hoàng Phúc bắt các  châu, huyện phải lập văn miếu thờ  Khổng Tử và lập các bàn thờ trong nhà để thờ các thần sơn (núi), xuyên (sông), phong (gió), vân (mây) . . .  . Bắt đàn ông, con trai không được cắt tóc ngắn; đàn bà, con gái thì phải mặc áo ngắn quần dài theo  cách ăn mặc của người Tàu ( đàn bà Việt Nam thì mặc áo dài, váy đen – PH Sơn chú thích).
(Trần trọng Kim, Việt Nam Sử Lược Q.I trang 211&212, Bộ Giáo Dục xb. năm 1971).
Chúng ta đọc lại giai đoạn lịch sử đen tối của Việt Nam để cảm thông nỗi nguy nan của dân tộc Tây Tạng dưới ách cai trị của Trung Quốc hiện nay .
Trong hoàn cảnh ngặt nghèo như thế, toàn dânTây Tạng đang kiên trì tranh đấu cho sự sống còn của dân tộc bằng sự hy sinh vô bờ bến,  hy sinh bằng chính bản thân họ biến thành những ngọn đuốc sống  đang bừng cháy trên vùng trời Hymalias .
Nhân loại đã nhận thấy sự thống khổ của họ, Liên Hiệp Quốc, Cộng Đồng Âu Châu, các quốc gia, các cơ quan bảo vệ nhân quyền . . .  liên tục lên tiếng mạnh mẽ phản đối chế độ thực dân Trung Quốc tại Tây Tạng .
Trước công luận và sự lên án của thế giới, liệu Trung Quốc có thể duy trì mãi mãi chế độ thực dân ở Tây Tạng, Nội Mông Cổ, Tân Cương hay sẽ sớm nở tối tàn như  3 đế quốc  muộn  Đức, Nhật, Ý năm 1945  ? 
Phạm hy Sơn
( 18 – 03 – 2013 ) 
GHI CHÚ :
  -(*) Dù sống đời sống tị nạn tại Ấn Độ, hiện trong 200 ngàn người Tây Tạng ở Dharamsala có 20 ngàn tăng ni tu trong 200 tu viện hay trong các ngôi chùa – như vậy là 10% dân số đi tu .
– (**) Trong  cuộc đàm luận với 1 nhà báo Ấn Độ hồi tháng 4-2012, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiết lộ hiện nay ở thủ đô Lhassa người Hán chiếm 2/3 sân số và nắm hết các quyền lợi của người Tây Tạng . Xin xem đầy đủ trên Web site   thuvienhoasen.org  /phần Phật Giáo Thế Giới .
nguồn : khoahocnet.com