Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

Thứ Ba, 22-10-2013 - cập nhật

CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
- Truy phong vượt cấp cho Thiếu úy hải quân hy sinh tại Trường Sa (VNN).
- Lời Mẹ gọi (DLB).
- Nguyễn Trung Tôn: Thế lực thù địch trốn ở đâu? (DĐXHDS).
- Huỳnh Văn Úc: Trông người mà ngẫm đến ta (Trần Nhương).
- Cấm chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại một dự án nhà ở công nhân: UBND tỉnh Bình Dương có phạm luật? (LĐ). - Ông Huỳnh Uy Dũng: “Tôi quyết kiện chính quyền tỉnh Bình Dương ra tòa” (LĐ).
TQ thả quái vật tàu 2 thân sục sạo Biển Đông?  (ĐV)
Viện Khổng Tử hay cuộc xâm lăng văn hóa Trung Quốc ?  (RFI)  -Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ, tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội nêu lên những nguy cơ tiềm ẩn từ Viện Khổng tử sẽ được thành lập ở Việt Nam
Tướng Giáp ‘vắng bóng trong SGK’  (BBC)
Quốc hội VN bắt đầu kỳ họp quan trọng  -(BBC)   —Quốc hội cuối 2013: “Sở hữu đất đai” có mảy may tiến hóa? -(RFA)   —-Hy vọng gì ở kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa 13? -(RFA)
Xe máy VN ‘lao ngược chiều thế giới’  -Trường Giang  -Bạn đọc BBC Tiếng Việt từ Lạng Sơn   -Có thể nói, không một quốc gia nào trên thế giới có một “nền văn minh xe máy” độc nhất vô nhị như Việt Nam.
Thạc sỹ thất nghiệp – Vì đâu nên nỗi?  -Trường Yên  -Gửi cho BBC từ Hà Nội -
Khi lịch sử được viết theo ý Đảng  -(RFA)  -Ví dụ cụ thể là mấy chục năm nay, những nhà viết sử CS ra công tô son điểm phấn cho lãnh tụ của họ là Hồ Chí Minh, nào là ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, nào là cuộc sống độc thân giản dị, nào là Hồ Chí Minh được UNESCO vinh danh…
Chỉ còn biết lên tiếng kêu cứu với thế giới  (RFA)  -Lên tiếng kêu cứu với thế giới hay nêu vấn đề với các cơ quan ngoại giao tại Việt Nam của một số người dân phải đi khiếu kiện dai dẳng mà không được cơ quan chức năng các cấp giải quyết hay có người thân bị xét xử oan sai tại Việt Nam là cách thức cuối cùng của họ.
Ngày phụ nữ Việt Nam và quyền thực sự của phụ nữ  -(RFA)  -Ngày 20/10 được gọi là ngày phụ nữ Việt Nam, ngày thành lập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Nhân dịp này Đài Á Châu Tự Do ghi nhận chia sẻ của một số phụ nữ trẻ về những ngày dành cho phụ nữ tại Việt Nam.
Bão Nari ở miền trung: Nhiều dân đói khát, trực thăng cứu hộ không đến  -(VOA)   —–1 công dân VN bị truy tố vì ăn cắp thông tin cá nhân của hàng trăm ngàn người Mỹ  (VOA)  -Một công dân Việt Nam bị truy tố tại Hoa Kỳ vì bị cáo buộc tham gia đường dây quốc tế ăn cắp và bán thông tin cá nhân của hàng trăm ngàn người Mỹ
Kết luận thanh tra “nhà vệ sinh dát vàng“: Dịu dàng!  (ĐV)    —–“Dành bội chi ngân sách cho đầu tư phát triển và trả nợ”  (TT)
Cướp ở Hà Nội khác cướp ở TP HCM như thế nào?  -(PetroTimes) – “Tội phạm cướp, cướp giật tài sản ở Hà Nội chỉ mang tính chộp giật, cơ hội và không sử dụng vũ khí nóng khi gây án. Còn ở thành phố Hồ Chí Minh, loại tội phạm này hoạt động có tổ chức, manh động, sẵn sàng sử dụng vũ khí nóng để đạt được mục đích…  -Nhận định  của Thiếu tá Nguyễn Minh Quang
________________________________________________________________________________________________
Ba mũi tiến công của cuộc Bắc thuộc  -(Lê diễn Đức – RFA) -  Chi phối và khuynh loát kinh tế trên đất liền, xâm chiếm Hoàng Sa, một phần Trường Sa như một việc đã rồi, lấn chiếm dần các vùng lãnh hải, nắm thế thượng phong trong hợp tác khai thác tài nguyên biển, và xâm nhập văn hoá, là chiến lược nắm trọn Việt Nam không cần tiếng súng.
Đảng CSVN muốn đất nước nghèo và tụt hậu?  -(Kami -RFA)  -  ….Còn nhớ Nhà văn Vũ Thư Hiên có kể lại rằng, trong cuộc trò chuyện điện thoại với Trần Độ vào năm 2001,  “…có mặt một chú em (tên là Cóc) rất hâm mộ bác Độ, chú này đòi được nói với bác vài câu: “Bác ơi, cái đảng của bác kỳ quá, ai lại chống tham nhũng mà lại chống từ cấp cơ sở? Quét nhà thì người ta phải quét từ tầng trên xuống tầng dưới chứ!”. Câu nói này của người có tên Cóc có thể nói là chính xác nhất về tư duy của các lãnh đạo Việt nam hiện nay. Và đó chính là lý do vì sao đường lối cũng như các chính sách phát triển của đảng và nhà nước toàn ngược đời và không giống bất kỳ quốc gia nào trên thế giới….
Nho Giáo và văn minh phương Đông cùng âm mưu Hán hóa (Phần 2)  -(DLB) –  Phần 1
Những kịch bản tồi -(Huy Phương -Nguoiviet) –   “Bạo lực chỉ có thể được che đậy với một lời nói dối,  /  và lời nói dối chỉ có thể được duy trì nhờ bạo lực.  /  Ai từng đem bạo lực ra làm cách thức rồi  /  chắc chắn sẽ buộc phải lấy dối trá làm nguyên tắc.”  –(Aleksandr Solzhenitsyn)
Tin chính xác về phiên tòa xử Đinh Nhật Uy   -CTV Danlambao – Sáng ngày 21/10/2013 bà Kim Liên, mẹ của Đinh Nhật Uy thông báo là luật sư Nguyễn Văn Miếng đã nhận được giấy mời bào chữa của tòa án tỉnh Long An. Nội dung giấy mời ghi rõ phiên tòa diễn ra vào lúc 7h30 ngày 29/10/2013 tại trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Kiến nghị của luật sư Hà Huy Sơn, người bào chữa cho Đinh Nhật Uy  -(Danluan)    —-Nhật Lệ – Tham nhũng và ghẻ -(Danluan)
Góc nhìn giới trẻ: Phạm Lữ Ân – Còn thời cưỡi ngựa bắn cung… -(Danluan)
Nước Đức hôm nay (Phạm Việt Vinh)  – Thongluan – “…Diễm phúc nước Đức là họ đã xây dựng lên và phát triển một chế độ chính trị khôn ngoan tạo điều kiện cho những giải pháp dung hòa đối với những đường lối chính trị khác nhau. Và thật bất hạnh cho những quốc gia không chấp nhận cạnh tranh chính trị…”
____________________________________________________________________________________________________________
Cứng rắn với Trung Quốc  (NLĐ)  -Cách hành xử “bề trên” của Trung Quốc đang vấp phải thái độ phản ứng mạnh mẽ từ một số nước láng giềng
Bị nó đem “cái hĩm” gài bẩy , mắc bẩy hoài do ham hĩm , mà khi nay có sao đâu- Cứ làm thinh với nó là được , nó bảo ăn gì cũng phải ăn là OK – Ông Bà ta đã bảo “sướng con cu thì mù con mắt” từ xưa mà.
Cựu quan chức Quốc hội: Đất nước khó khăn, quan chức hở ra là xe công  (VTC)   —Kỳ họp quốc hội dài nhất với những trông đợi nhỏ  ( RFA) – PV LS. Trần quốc Thuận
Đề xuất bỏ Hội đồng Hiến pháp trong dự thảo sửa Hiến pháp 1992  (TN)   —–Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp: Chính phủ phải chấp hành Quốc hội (TT)     -Vậy là  hơn 60 năm nay QH chấp hành chính phủ?
Luật Đất đai phải đáp ứng mong mỏi của dân  (VNN )  -“Quốc hội yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ trong quá trình thảo luận, kết hợp với việc thảo luận, thông qua dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, xử lý thấu đáo các vấn đề mà thực tiễn đặt ra, bảo đảm để Quốc hội thông qua một đạo luật về đất đai đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và lòng mong mỏi của nhân dân” – Chủ tịch Quốc hội đề nghị.
Đọc hết có thấy Ông Hùng nói Nhâ Dân muốn gì đâu trong khi góp ý??? – Nhân đây , chỉ về Đất Đai thôi , theo những gì tôi có và thấy là so với thời Việt minh ( cũng CS) chính xác tôi có là 1953 , chính quyền VM ký chứng thực Tài sản và Ruộng Đất của Công dân trong những giấy tờ  Phân thơ (chia tài sản) của một gia đình mà Tài sản và Đất đai đó của Ông A bà B…chớ không phải là “quyền sử dụng” , trích lục Địa bạ,,,đều đứng tên là “của ai” và chính quyền kháng chiến VM chỉ ký xác nhận và đóng dấu cùng dán tem thu trước bạ – Nay cho đến hơn 60 năm sau cũng Cọng sản thì lại gom quyền hết để lãnh đạo và quản lý rồi ban phát (quyền sử dụng đất) và lấy lại tùy hỷ ý của “mình”- Vậy thì tiến hay lùi???
Không đổi tên nước  -(MTG)   —–Mỗi người gánh hơn 851 USD nợ công  (MTG)    —-Không thể nói cả nền kinh tế tê liệt!  (TVN)
Nhìn nhận đất đai là quyền tài sản  (RFA)   -GSTS Võ Tòng Xuân :  “Năm 46 bác Hồ đề nghị đưa vô Hiến pháp là đất đai có ba chủ thể, một là công điền, thứ hai là của tập thể, thứ ba là của tư nhân, nông dân. Bây giờ bỏ hết trơn hết trọi…qui định đất đai là của toàn dân. Họ không theo lời bác Hồ dạy, cho nên cứ tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Bây giờ 70% các vụ kiện tụng, đánh nhau, giết nhau toàn là đất đai hết.  Cơ bản là Nhà nước muốn đất đai sở hữu toàn dân, nhưng thực sự ở dưới xã ông xã quyết định hoặc ông huyện ông tỉnh, chứ không có toàn dân nào hết trơn. Đây là một kẽ hở để cho tham nhũng nó hoành hành dữ tợn.”
Đã thừa nhận việc chuyển nhượng bằng tiền thì không có cách nào để phủ nhận nó là quyền tài sản của người sử dụng đất.  – GS-TS Đặng Hùng Võ
Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng  (VNN)  -Bản dự thảo Hiến pháp mới nhất vừa trình QH sáng nay đã bổ sung một số điều khoản làm rõ hơn trách nhiệm cá nhân của thành viên Chính phủ trước Thủ tướng
Chuyên gia nói về báo cáo của Thủ tướng  (VNN)    —–Ra mắt Phó Thủ tướng sớm 1 ngày  (VNN)    —–Chống tham nhũng sau một năm “đổi chiến thuật”  (VNN)    ——Làm trước, nói sau làm sao tiết kiệm?  (TVN)    ——Chủ tịch VFF lên tiếng vụ ‘lừa’ Nhà nước hơn 100 tỷ  (VNN)
Ông Bá Thanh nhắc nhở, thêm đại án tham nhũng 500 tỷ sắp xử  (VEF)

Quay lại cơ chế thu hồi đất, tham nhũng sẽ nhiều hơn (TP)    —–Đừng để báo chí lên tiếng, thanh tra vào cuộc mới xử lý (NĐT)    —-Nụ cười công chức cần sự “hiểu ý bỏ… túi” của người dân?  (PNTD)  ===>>>
Tham nhũng: Phát hiện chủ yếu các vụ nhỏ, cấp xã, thôn, bản    (NLĐO)- Số vụ việc tham nhũng được phát hiện chủ yếu là các vụ tham nhũng nhỏ, với đối tượng phạm tội chủ yếu là cán bộ cấp xã hoặc ở thôn, làng, bản. Số vụ tham nhũng lớn, xâm phạm nghiêm trọng tài sản, vốn của Nhà nước ít được phát hiện.  >>>>Chống tham nhũng phải quyết liệt hơn  >>>>“Phép thử” tham nhũng    —–Phát hiện tham nhũng chủ yếu qua dư luận xã hội  (TP)
Tiếp tục xin giảm phí môi trường cho dự án bô xít  -SGTT.VN    —–PHÁP TRƯỜNG NGƯNG TIẾNG SÚNG  : Giã từ nghề “xương máu”  (NLĐ)
________________________________________________________________________________________________________________

Hệ thống tuyên truyền và Tướng Giáp huyền thoại  -(J.B Nguyễn hữu Vinh -RFA)   ….Rồi đám người vốn uất ức vì đến cả một vị đại tướng công thần chế độ mà cũng đã phải ngậm đắng nuốt cay trước những đòn thù mà các đồng chí của ông đã cho ông nếm mấy chục năm qua thì chắc chắn điều này: “Tất cả đều cũng như mình, kéo đến thật đông ở đám tang này cho những kẻ đã chơi bẩn với cả đồng chí của mình phải hiểu rằng chúng ta đang cùng nhau phản đối chúng nó đây”……
Những cái túi nước nổi giận  (Viettusaigon -RFA)
Tổng hợp những góp ý trái chiều với dự thảo sửa đổi hiến pháp  -Thiện Tùng  -(Boxitvn)
Hội chứng domino vỡ, lún sụt của các đập thủy điện: điểm chiếu vuông góc hội tụ của thể chế chính trị và đạo đức khoa học  -Hải Yến-(Boxitvn)
“Án lệ tàu Binh Đinh River “: số phận con người và Hiến pháp!  -KS Doãn Mạnh Dũng -(Boxitvn)
Quốc hội cuối 2013: “Sở hữu đất đai” có mảy may tiến hóa?  -Phạm Chí Dũng gửi RFA từ Việt Nam -(Boxitvn)
Với học viện Khổng Tử  -Hà Văn Thùy -(Boxitvn)

TIN KHẨN: Nhà cầm quyền CSVN tại Nghệ An định xử lén các giáo dân Mỹ Yên vào ngày kia 23/10/2013? (NVCL)
LS Trần Thanh Hiệp: Xây dựng một chế độ chính trị hậu-cộng-sản ở Việt Nam   (XHDS)
http://youtu.be/Hepx-RLoldA
TỔNG HỢP THÔNG TIN VỀ CHUYẾN ĐI THĂM 2 TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM  (Bùi Hằng)  – Mai Thị Dung và Đỗ thị Minh Hạnh từ trại Xuân Lộc Đồng Nai ra Hà Nội
 “Bộ phận không nhỏ” và phép tàng hình (Trần Nhương)
- cứ tưởng chỉ dộp sơn (Đinh Tấn Lực)
Vũ Duy Chu: “BOM BẨN” CỦA NGÀNH VẬN TẢI ĐƯỜNG SẮT VÀ TÀU CAO TỐC (Trần Mỹ Giống)

KINH TẾ
- Tìm đường nâng cao đời sống nông dân – Bài 2: “Làm ruộng không đem lại tương lai gì” (Tin tức). - Hưởng lợi từ chuỗi lợi nhuận lúa gạo: Nông dân ngày càng “lép vế” (SGGP).
Những góc khuất của chính sách lúa gạo  (RFA) -Siêu lợi nhuận vào tay doanh nghiệp ngành gạo trong khi nông dân đói nghèo. Các nghiên cứu độc lập cho thấy tình trạng phân phối lợi nhuận đầy bất công đối với người làm ra hạt lúa.
Việt Nam : Điểm đến của hiện tượng tái di dời sản xuất  (RFI)  -Arnaud Dubus, Thông tín viên RFI phu trách Đông Nam Á.
Hà Nội: Hàng ngàn DN có dấu hiệu sai phạm về thuế  (RFA)
Chính quyền ‘u mê,’ nông dân sạt nghiệp  (NV)   —–‘Kinh tế nhà nước là chủ đạo’ là mâu thuẫn  (NV)
Phi vụ chuyển giá ngàn tỷ bậc nhất của Keangnam  (VNN)
Sở hữu tài sản nghìn tỷ, nữ tướng tập đoàn Nam Cường là ai?  (GDVN)  -Là Tư bản đỏ chứ ai. Kẻ thù của Giai cấp Vô Sản.   —-Kế nghiệp chồng, bà Thúy Ngà giàu vượt Bầu Đức  (VNN)
DN xăng dầu lãi trên lưng người dân  -(MTG)     —–Một công ty đa quốc gia bị cấm làm việc với chính quyền Mỹ  (TT)
“Chết gí” mặt bằng cho thuê  (NLĐ)   —–Đô thị… bỏ hoang (NLĐ)    —-Sàn giao dịch bất động sản sắp hết thời? (NLĐ)    —-Bấm bụng hạ giá bán vàng để hút khách (NLĐ)    —-Sàn giao dịch bất động sản sắp hết thời? (NLĐ)

VĂN HÓA-THỂ THAO
- BÙI VĂN KHA “GIỮA YÊU VÀ” (Nguyễn Trọng Tạo). - THƠ TRÁC MỘC.
- Công tới đâu thì bằng ? (Nguyễn Ngọc Tư). - Xóm nhỏ của tôi (Quê choa).
GIÁO DỤC-KHOA HỌC
Một học sinh Trần Phú phản đối phát ngôn của thạc sĩ Nguyễn Thanh Mỹ  -(MTG)
Ra trường thất nghiệp… đi bán cám cò  (MTG)

XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG
Thiếu nữ Việt Nam xinh đẹp trên báo Trung Quốc  (VTC)  -Thế mà báo cũng đưa tin, nó khen đó à, sao nó không khen có người Tướng như Ông Giáp??? nó không khen ta có “tinh thần dân tộc” cao….mà lại đưa mấy hình cac cô gái- Hỏi ông cựu CT Nguyến minh Triết là biết liền. Nó bảo là VN ta chỉ có Gái là tuyệt!!!!?
Học sinh 12 tuổi xả súng giết thầy rồi tự sát  (MTG) - Bên Mỹ.   —PGĐ bệnh viện trần tình vụ quan tài sản phụ diễu phố  (VNN)    —-Quan tài độc của già làng, đại gia tiền tỷ không mua nổi   (VNN)   —–Tràn lan bột nhừ siêu tốc  (TN)
Sốc: Đại gia Huỳnh Uy Dũng tố cáo Chủ tịch tỉnh Bình Dương   (VNN)   —-Bạn trai cấu kết đồng phạm làm nhục, cướp tài sản bạn gái  (TT)
Cướp vào tận nhà  (TN)   —-Sụt lún đất ở Di Linh gây thiệt hại lớn (TN)    —–Mở lại phiên tòa sai phạm đất đai ở An Giang (TN)   —-Sai phạm tài chính tại Sở Công thương Hậu Giang (TN)

QUỐC TẾ 
Châu Âu phê phán Nga về vụ Katyn  (BBC)   —–Vụ thảm sát Katyn : Tòa án Nhân quyền Châu Âu y án đối với Nga  -(RFI)   —Tòa án Châu Âu lên án Nga đã thảm sát 20 ngàn tù Ba Lan  -(RFA)
Lo cho nợ Mỹ  -(BBC)   —NSA đã đánh cắp hàng chục triệu dữ liệu cá nhân của người Pháp  -(RFI)   —-Pháp, Mexico đòi Mỹ giải thích về các hoạt động theo dõi bí mật  -(VOA)
Mỹ điều tra các thương vụ ngân hàng những năm trước suy thoái  (VOA)   —Ngoại trưởng Mỹ đến Châu Âu để đàm phán về Syria-(VOA)    —-Trang web ‘bảo hiểm y tế’ trục trặc kỹ thuật cần giải quyết-(VOA)
Thủ tướng Ấn công du Nga  -(RFI)    —Hạt nhân và vũ khí, trọng tâm chuyến công du Nga của Thủ tướng Ấn Độ   -(RFI)
TQ điều tra Chu Vĩnh Khang?  (BBC)   —-Trung Quốc: Tập Cận Bình lập tổ đặc nhiệm điều tra Chu Vĩnh Khang  -(RFI)   —-Bắc Kinh không muốn Seoul bán chiến đấu cơ cho Manila  -(RFI)    —–Trung Quốc: Cáp Nhĩ Tân chìm trong sương mù ô nhiễm  -(RFI)   —-Đường ống dẫn khí Miến Điện – Trung Quốc hoạt động toàn bộ  -(RFI)
Trung Quốc lại gây áp lực đòi đàm phán chính trị với Ðài Loan  (VOA)   —-Nga : Một vụ nổ trên xe buýt làm ít nhất 5 người thiệt mạng  -(RFI)

Hàng ngàn người dân Hồng Kông biểu tình phản đối chính phủ -(Nguoiviet) -  HỒNG KÔNG (Bloomberg) - Hàng ngàn người dân Hồng Kông xuống đường biểu tình hôm Thứ Bảy để phản đối việc chính quyền nơi này không chịu giải thích lý do tại sao không tái cấp giấy phép phát sóng miễn phí cho đài truyền hình Hong Kong Television Network Ltd., dù rằng lại cấp giấy phép cho hai đài khác.
Quang cảnh cuộc biểu tình tại Hồng Kông. (Hình: AFP/Getty Images)====>>>
Khủng hoảng ‘trung niên’ -(BBC)  -Thay đổi trong thái độ người dân với chính quyền Singapore.
Hội nghị các giải Nobel Hòa Bình khai mạc tại Vaxava  -(RFI)   —-Kêu án chung thân cho hai cựu lãnh đạo Khmer Đỏ  -(RFI)
Pháp sẽ xây dựng hai lò phàn ứng hạt nhân đời mới tại Anh  -(RFI)   —-55% người Pháp không thích Alain Delon  -(RFI)
Syria : Bachar Al Assad ở thế mạnh trước thềm Hội nghị Geneve 2  -(RFI)   — Bom xe giết chết hơn 30 người tại miền trung Syria  (VOA)
Ngoại trưởng Mỹ: Không có giải pháp hòa bình Syria nếu còn ông Assad  (VOA)
Úc: Nhà hát Sydney tròn 40 tuổi  -(RFI)    —-Các hộ gia đình châu Á nợ chồng chất   -(RFI)   —-Thái: 17 nhà máy ở một KCN lớn tạm ngưng hoạt động do lũ lụt  -(RFA)
Pakistan: bom nổ trên xe lửa, 5 người chết  (RFA)   —-Súng nổ tại trường học ở Nevada, 2 chết, 2 trọng thương  (NV)
Tình báo Trung Quốc dùng mỹ nhân kế đánh cắp bí công nghệ Nhật Bản  (GDVN)   —–Báo TQ: Thủ tướng Nhật Bản có thể đến thăm đền Yasukuni khi còn tại vị  (GDVN)   —–Anh ký dự án xây nhà máy điện hạt nhân với Pháp và TQ  (RFA)
Triều Tiên, đất nước mỏi mòn  (MTG)    —-Bắc Hàn cho rằng Nhật có kế hoạch tấn công các căn cứ tên lửa  (RFA)
Ấn thất bại trong việc đàm phán về hạt nhân với Nga  (RFA)   —-Nga: Thủ phạm vụ đánh bom xe buýt là phụ nữ  (VOA)
Trung Quốc bắt một doanh nhân ủng hộ tổ chức xã hội dân sự  (VOA)
Trung Quốc, Cáp Nhĩ Tân, bụi mù, ô nhiễm
Những bức ảnh lột tả cảnh ô nhiễm khủng khiếp ở TQ Photo  (VNN)
Một người đàn ông dò dẫm đạp xe trên đường.====>>>
Tướng Trung Quốc đề nghị chiến đấu chống lại ‘các thế lực thù địch phương Tây’ trên mạng Internet.  (ĐKN)

Bà Đầm Xòe - Dân tộc ta có sức mạnh tinh thần gì nổi trội?

Nguồn: blog Bà Đầm Xoè

Người có cái tai còn nghe được nhất định sẽ trả lời: đó là sức mạnh tinh thần thơ.
Đúng quá. Tôi đố ai có thể bác bỏ được điều này.

(Ảnh chụp trên blog vannghecuocsong.com)
Ở nước mình, chuyện người người làm thơ, nhà nhà làm thơ đã xưa như trái đất, đãlà chuyện “ biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.
Một đứa trẻ miệng còn hôi sữa có vài tập thơ đến cụ già khú đế có vài chục tập thơ đã là chuyện phổ biến.
Tôi lẩm nhẩm tính rằng, nếu thành lập viện bảo tàng lưu giữ thơ thì có thể mỗi làng (bản) đều có thể có riêng một nhà bảo tàng thơ. Ngân khố quốc gia nếu chi tiên để xây dựng thì có lẽ phải ra biển súc vỏ hến mà cấp cũng không đủ. Hoặc giả nếu đem tập trung thơ lại, nhà nước huy động toàn bộ người có giọng đọc không lẫn lộn n thành l và ngược lại thì có lẽ phải cần cả trăm năm may ra mới đọc hết. Hoặc giả, chẳng may lũ lụt ngập cả nước Việt mình, làm đất, cây cối ẩm ướt không cháy thành lửa được, thì có thể lấy các tập thơ thay cho củi, làm lửa nấu chín cơm, chín canh cho cả triệu người ăn.
Việt Nam mình quả là một cường quốc thơ, đứng vào hàng nhất thế giới nếu lấy tổng số lượng thơ chia bình quân cho đầu người.
Nước mình chưa bao giờ không phát huy truyền thống này.
Chưa bao giờ hổ danh với thế giới về truyền thống này.
Nhìn lại lịch sử ngàn năm đã rõ. Nhìn vào lịch sử đương đại càng rõ hơn.
Tỷ dụ như sự kiện tướng Giáp vừa tạ thế.
Thơ lập tức được dịp lên đồng. Báo chí, các trang mạng, đặc biệt là trang mạng “lề trái” dành ngay “chuyên trang” để đăng tải thơ, rồi mở các cuộc thi thơ.
Đó là trannhuong.com, bolapquechoa, ngominh, nguyentrongtao, nguyenquangvinh, Boxitvn… và đặc biệt vannghecuocsong.com của nhà thơ Đỗ Hoàng với tập thơ nổi tiếng “Tâm sự người lính” chính thức tổ chức cuộc thi thơ viết về tướng Giáp với tiền giải thưởng thi thơ cao chưa từng có, người làm thơ kém cũng được nhận giải 5 triệu đồng, người tài có thơ hay sẽ được nhận giải tới 100 triệu đồng.
Đỗ Hoàng là bạn của Bà Đầm xòe. BĐX nghĩ rằng, Đỗ Hoàng vì tiếc thương tướng Giáp lâm nhiều trận mạc, thương tích đầy người, chỉ sống được có 103 tuổi mà hết sức đau trong lòng, mà quên đi rằng, Quảng Bình nhà Đỗ Hoàng, cả tinh đang lo bảo vệ mộ mới làm của tướng Giáp; Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh còn đang còng lưng lo chống bão lũ, bão nọ chồng lên bão kia, không có ai ra sông cào hến để có vỏ hến lên đến 100 triệu cho Đỗ Hoàng trao giải thưởng cho thơ đâu.
Bây giờ tôi điểm qua nhận định: Thật không hổ danh Việt Nam mình là một cường quốc thơ.
Tướng Giáp mới tạ thế được vài ngày, thi thể ông còn chưa đưa vào lăng mộ mà đã có hàng trăm bài thơ tiếc thương, khóc lóc, ngợi ca, tâng bốc. Có người như hồn thiêng tướng Giáp nhập vào, liền trong vài giờ hoặc vài ngày viết liền ba, bốn bài với số lượng cả trăm câu thơ ( Nguyễn Minh Khiêm, Thanh Hóa). Câu thơ nào cũng dứt ra từ an, từ ruột. Kinh.
Trên trannhuong.com tính đến sáng ngày 20 đã có 6, 7 đợt post thơ viết về tướng Giáp, mỗi đợt ít là vài bài, nhiều cũng 6, 7 bài.

(Ảnh chụp trên trannhuong.com)
Riêng vannghecuocsong.com của Đỗ Hoàng, tính đến sáng ngày 20 đã có 97 bài thơ đăng dự thi với đủ loại, đủ hình thức ( trừ thơ vô lối): dài, ngắn, vần không vần, truyền thống, hiện đại; với ngôn ngữ: Việt, ngôn ngữ dân tộc miên núi và có cả ngôn ngữ nước ngoài ( Ngôn ngữ Nga).
Trong những tác giả, có tác giả đã gặp tướng Giáp rồi xúc động mà có thơ; có tác giả chỉ nghe hơi nồi chõa về tương Giáp cũng có thơ. Tất cả nội dung thơ đều lâm ly thống thiết. Tất cả đều hào hùng, hoành tráng. Tất cả đều “trung thực”, “chính xác”. Tất cả đều thể hiện một tinh thần nhập đồng, lên đồng, thăng hoa dường như là bất tận.
Có thể dẫn chứng sự lên đồng của thơ Việt nhân cái chết của tướng Giáp như thế này:
“Đại phúc cho người Việt ta” – Trần Thị Phúc – Vì có người mang tên Võ Nguyên Giáp.
“Người là ông, là mẹ cũng là cha
Là anh cả của triệu màu áo lính”
- Hà Phương;
và
“ Bác( tướng Giáp) là anh Cả của muôn quân” Trần Đường – Cứ như tướng Giáp làm ông, làm cha, làm mẹ và làm anh Cả của tất cả binh lính trên thế giới và là tấm vải bạt khổng lồ phủ lên tất cả một đống hỗn độn màu sắc quần áo lính.
“Người đứng ngoài mọi sai lầm của lịch sử” - Nguyễn Giang San – Cứ như tướng Giáp chưa từng có ở trên đời này vì đến chữ O hay là số O khi nó đã xuất hiện trên một trang giấy, cũng không thể không có sai lầm.
“ Ngực đất nước thành ngực Phan Đình Giót, thân đất nước thành thân Tô Vĩnh Diện, thịt da Tổ Quốc thành thịt da Trần Thị Lý…” Nguyễn Minh Khiêm - Eo ôi, cụ Giáp là thánh nhân sao lại đang tâm để người và đất nước mình như vậy? Tôi cứ nghĩ rằng, nước có thánh nhân mà để nhân dân như vậy thì “thánh nhân” đó chỉ là cai lốt bên ngoài còn bản chất bên trong nhất định là của quỷ Sa Tăng.
Tất nhiên, những câu thơ dẫn trên hay dở về nghệ thuật thế nào, BĐX không dám bình mà chỉ dám cảm nhận ở sự đúng sai theo tinh thần khoa học.
Còn nói về sự thích, thật sự trong hàng trăm bài thơ, hàng ngàn câu thơ nhân cái chết của tướng Giáp mà có, tôi lại thích nhất, thích vì tôi hiểu được, lại là câu thơ rất đúng của nhà thơ Phạm Thanh Quang:

“Chiến tranh Bộ trưởng Quốc phòng
Hòa bình Bộ trưởng Đặt vòng tránh thai”.

Ngoài hai câu thơ này, phần nhiều là nhũng câu thơ vớ vấn vì do tướng Giáp tạ thế mà tất cả thần thánh nước Việt đèu hiện hình, hăng hái nhập vào tim óc nhà thơ, do vậy mà thơ làm méo mó tính sự thật, tính khoa học của văn hóa vật thể và phi vật thể:

“Người nuốt nước mắt vào tim”
– Nguyễn Thị Thúy Ngoan- Cứ như tim người là cái miệng của Hà Bá.
“Người đi đâu, Người hiển thánh Võ- Văn" – Hoàng Thiềng

“ Nhân loại có người lững lẫy một tướng quân”
– Nguyễn Thúy Quỳnh
“Sau siêu thoát Người đã thành Đức Phật” – Nguyễn Minh Khiêm.
Không những thế, nhiều câu thơ viết về tướng Giáp, nếu tướng Giáp đang đứng trên lớp để dạy học sinh, hẳn thầy Giáp phải chấp tay mà lạy học trò, và thốt lên rằng “chính các anh mới là thánh nhân, chính các anh mới là vĩ nhân, là anh hùng dân tộc, nhà quân sự tài ba, kiệt suất của Việt Nam ta”:
“Hai một phát đại bác
Gầm xé trái tim người
Hơn tám mươi triệu nhân dân mặc niệm cuối đầu”
– Ái Nhân. ( Sự thật không có bắn đại bác; sự thật 80 triệu người nào, thông kê nào)
“Kính tâm, ca nước tiếc thương cha” – Từ Đức Khoát.
Này ông Khoát, tướng Giáp thọ hơn ông Hồ Chí Minh những 34 năm, sao ông không thêm một chữ “già” vào đuôi câu thơ cho nó “chuẩn” cho dân tộc mình thêm một cha già nữa cho nó hiếu đễ cái phận làm con?
“Phật thiền ở gốc Bồ Đề
Bác Giáp tuyên thề dưới gốc cây đa” – Nguyễn Thị Đằng –
Biến tướng Giáp thành ông tướng Cuội – “ Chú Cuội ngồi gốc cây đa”.
BĐX đúng là không đủ sức, đủ hưng phấn để đọc thêm nữa, đành chỉ đưa ra một phần rất nhỏ, rất nhỏ trong phong trào thơ viết về tướng Giáp. Hiện, phong trào đang ở giại đoạn phát triển cao trào. Xin mời các nhà nghiên cứu thơ phú hay “lâm trận” vào xem mạng (chú yếu là mạng “ lề trái”) mà đánh giá; mời các nhà xuất bản lên kế hoạch xuất bản; mời các nhà máy sản xuất sưa sang lại máy móc; mời các anh chị em công nhân bắt tay ngay vào việc rồng rừng hoặc phá rừng để có gỗ cho sản xuất giấy.
Tôi cầu mong cho nước mình có thêm nhiều người mà khi tạ thế được cả dân tộc than khóc tiếc thương phải hơn dân Triều Tiên than khóc tiếc thương lãnh tụ mới được, rồi từ đó mà có nhiều thơ, nhiều cuộc thi thơ, thì nhất định ban tổ chức giải Noben về Văn chương thế giới sẽ mở thêm giải “sự nghiệp văn chương suốt đời” để tặng giải thơ suốt đời cho các dân tộc thơ và dân tộc mình sẽ là dân tộc đầu tiên nhận được giải.
Hoan hô tinh thần dân tộc thơ nổi trội hơn mọi tinh thần khác của dân tộc mình.

Bài đáng chú ý - Khi lịch sử được viết theo ý Đảng

Khi lịch sử được viết theo ý Đảng

RFA tiếng Việt
Thanh Quang, phóng viên RFA
21-10-2013
2

Tình trạng học sinh VN hiện nay “quay lưng với môn Sử” hẳn là điều không những đáng buồn mà còn tai hại vì, theo nhận xét của TS Sử học Nguyễn Văn Khoan thuộc Hội Khoa học Lịch sử VN, “Không biết lịch sử dân tộc, không biết lịch sử đất nước mình thì tất yếu sẽ không biết được niềm tự hào đất nước, tự hào dân tộc là gì. Học Lịch sử là để học tinh thần yêu nước, mà tinh thần yêu nước là động lực quan trọng nhất để bảo vệ và xây dựng đất nước”.
Nhưng câu hỏi được nêu lên là nếu lịch sử dân tộc, lịch sử đất nước bị bóp méo hay bị xóa sổ thì sao?

Không thể viết lại quá khứ

Qua bài “Bàn về tẩy não”, blogger Trần Trung Đạo lưu ý rằng “Lịch sử một dân tộc được viết bằng sử quan của đảng CS và được giải thích phù hợp với đường lối, chính sách của đảng CS trong từng thời kỳ chứ không phải là những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ thăng trầm, vinh quang và thống khổ của dân tộc”, và “Đảng không chỉ có khả năng thay đổi hiện tại, vẽ ra một tương lai nhưng còn có khả năng thay đổi cả quá khứ của cả dân tộc”.
Sử gia Trần Gia Phụng từ Toronto, Canada khẳng định rằng hai câu viết này của nhà văn Trần Trung Đạo “hoàn toàn đúng với thực tế”. Theo Sử gia Trần Gia Phụng thì “những người viết sử của đảng CSVN luôn luôn sửa lại quá khứ một cách trắng trợn cho phù hợp với chủ trương đường lối của đảng trong từng giai đoạn, nhằm luôn luôn giành lẽ phải và chính nghĩa về cho đảng CSVN”; và ông nhấn mạnh:
Tôi xin nhấn mạnh là mọi người có thể thay đổi tương lai, nhưng không một ai có thể sửa đổi quá khứ. Lịch sử là những câu chuyện của con người đã xảy ra trong quá khứ. Khi con người đã “in dấu” trong quá khứ, thì không thể kéo quá khứ trở lại để tẩy xóa dấu in, tẩy xóa quá khứ.  Cộng sản có thể nhất thời làm nhiễu xạ quá khứ, nhiễu xạ lịch sử nhưng không thể nào thủ tiêu quá khứ, thủ tiêu lịch sử. Ví dụ cụ thể là mấy chục năm nay, những nhà viết sử CS ra công tô son điểm phấn cho lãnh tụ của họ là Hồ Chí Minh, nào là ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, nào là cuộc sống độc thân giản dị, nào là  Hồ Chí Minh được UNESCO vinh danh…
Thực tế cho thấy năm 1911, khi đến đất Pháp được hai tháng, Hồ Chí Minh xin vào học trường 3Thuộc Địa Paris để ra làm quan cho Pháp, đơn xin nhập học còn sờ sờ ra đó.  Vậy là ông ta ra đi để mưu sinh chứ không phải ra đi tìm đường cứu nước. Hồ Chí Minh là một điệp viên CSQT, tranh đấu không phải để giải phóng dân tộc mà để đưa dân tộc vào vòng chủ nghĩa CS, làm tay sai cho CSQT.  Hồ Chí Minh vợ con đùm đề, lại còn tàn bạo giết luôn bà Nông Thị Xuân là người đã sinh cho ông ta một người con trai, sao gọi là sống độc thân được?  Hồ Chí Minh không bao giờ được UNESCO vinh danh, như mấy vị giáo sư CS ca ngợi. Ví dụ còn nhiều lắm kể không thể hết…
Theo nhà văn Trần Trung Đạo thì “Lịch sử thế giới chỉ riêng từ thế chiến thứ hai cho đến nay có nhiều anh hùng đã đóng góp trí tuệ hay máu xương vào công cuộc bảo vệ tự do cho đất nước họ hay giải phóng dân tộc họ khỏi ách thực dân. Vài trường hợp điển hình như Mahatma Gandhi (Ấn Độ), Winston Churchill (Anh), Charles de Gaulle (Pháp), Tưởng Giới Thạch (Trung Hoa Dân Quốc), Franklin D. Roosevelt (Mỹ). Nhưng khi họ qua đời, ngoài tang quyến, không có cảnh ‘Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa’ như khi  ông Hồ Chí Minh mất và ‘ôm thật chặt cột nhà khóc cho thỏa nỗi xót thương’ như khi ông Võ Nguyên Giáp vừa qua đời ở Việt Nam. Bởi vì những lãnh đạo thế giới nêu trên là những anh hùng thật, con người thật, có thành công và thất bại, có điểm tốt và điểm xấu và cuộc đời họ được phô bày trước dư luận chứ không phải là sản phẩm do nhà máy tuyên truyền sản xuất trong một xã hội bị bưng bít thông tin”.
Đó là chuyện viết sử “theo sử quan của đảng”. Thế còn chuyện “phớt lờ lịch sử” hay “xóa sổ lịch sử” thì sao?

Im lặng trước những sự kiện trọng đại

Trong thời gian gần đây, công luận trong và ngòai nước cảnh báo về việc hiện ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy nhà cầm quyền VN cùng giới truyền thông nhà nước hầu như im lặng trước những biến cố lịch sử trọng đại, như không còn công khai kỷ niệm ngày Vua Quang Trung đại thắng quân Thanh mà biến ngày đại thắng ấy thành ngày “trẩy hội Xuân” bình thường; thậm chí bia tưởng niệm công lao của Vua Quang Trung ở núi Dũng Quyết (Vinh, Nghệ An) cũng bị đục bỏ.
Rồi họ cũng lờ đi những thời điểm kỷ niệm các bộ đội VN hy sinh trong cuộc chiến đẫm máu chống quân TQ xâm lược tại vùng biên giới Việt-Hoa hồi năm 1979, trong cuộc chiến bảo vệ Hòang Sa chống TQ hồi năm 1974 khiến nhiều chiến sĩ VNCH tử vong, hay trong cuộc hy sinh khiến máu đào nhuộm đỏ biển Đông của hải quân VN ra sức bảo vệ đảo Gạc Ma ở Trường Sa năm 1988.
4Thậm chí các vị học giả, trí thức, thanh niên yêu nước ra sức dâng hương, vòng hoa tưởng niệm những người đã hy sinh vì chống phương Bắc xâm lược cũng bị công an ngăn cản, gây khó khăn…Từ Hà Nội, GS Nguyễn Thanh Giang lên tiếng về chuyện “ phớt lờ lịch sử” này:
Những sự việc ông dẫn ra là sự việc có thật. Và điều đó làm cho nhiều người VN bây giờ rất bất mãn đối với những người lãnh đạo đảng CSVN…Nguy cơ hàng đầu đối với VN bây giờ là nguy cơ bị TQ xâm lấn và đặt ách đô hộ VN –ách đô hộ mềm, tức là thông qua điều lừa gạt gọi là ý thức hệ. Cho nên người dân VN bây giờ nói chung, mà lại càng 
những người trí thức hay những người từng đi làm cách mạng, mối băn khoăn và âu lo nhất của họ 5hiện giờ là sự xâm lấn, sự đô hộ của TQ. Nhưng người lãnh đạo đảng CSVN không nhìn thấy điều đó, và vẫn âm mưu xóa nhòa thực tế phũ phàng cùng sự lừa bịp của TQ.
GS Hà Văn Thịnh từ Huế cho rằng:
Đó là do cái chính sách ngọai giao “mềm dẻo, không nên kích động hận thù, xóa bỏ quá khứ, nhìn về tương lai”.v.v… Hiện nay, VN thể hiện quan hệ với TQ, theo tôi nghĩ, nó đi quá xa, bởi vì là bạn hay trên bạn hoặc dưới bạn một chút thì nguyên tắc vẫn là VN phải giữ vững độc lập, tự do. Còn chừng nào mà TQ còn chiếm đất của mình, chiếm biển, chiếm đảo của mình rồi hành hạ ngư dân mình, ngang tàng phách lối mời gọi đấu thầu dầu ở biển Đông v.v…, thì đó không phải là bạn.

Không biết nhận lỗi

6Vừa rồi chỉ là một số biến cố lịch sử gần đây nhất bị “bỏ quên”. Còn nếu ngược dòng thời gian, thì người dân Việt hẳn còn nhớ vụ thảm sát Mậu Thân khiến nhà văn Nhã Ca có bài “Giải Khăn Sô Cho Huế” để “cùng nhau chít lại giải khăn sô, đốt lại nén hương nhỏ trong đêm tối mênh mông của chiến tranh và tang tóc, để hồi tưởng về Huế” – biến cố bị giới cầm quyền chối bỏ trách nhiệm; Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm tranh đấu cho tự do dân chủ của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc khởi xướng đầu năm 1955 đã chính thức bị dập tắt hồi tháng 6 năm 1958 – và từ đó cho tới giờ, giới cầm quyền hòan tòan “xóa sổ” biến cố lịch sử này. Rồi vô số đồng bào bị chết oan trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc hồi thập niên 1950 nhưng thân nhân không được dựng bia tưởng niệm…
Sử gia Trần Gia Phụng nhận xét về những biến cố này:
Trong thực tế, đảng CSVN chỉ xin lỗi một lần năm 1956 sau vụ Cải cách ruộng đất, nhưng đây chỉ là xin lỗi chiếu lệ để thoát tội trước phản ứng mạnh mẽ của dân chúng. Làm sao mà xin lỗi trên 170,000 người chết oan? Cũng nên chú ý vào hoàn cảnh lịch sử lúc đó. Đảng CS mới cầm quyền ở các thành phố miền Bắc sau năm 1954, chưa ổn định được xã hội, còn lo ngại các thế lực còn lại, và nhất là đảng CS đang kiếm cách tổng tuyển cử với miền Nam sau hiệp định Geneve, nên mới giao cho Võ Nguyên Giáp đứng ra xin lỗi, vì lúc đó ông tướng nầy còn mang những hào quang chiến thắng.
Tôi nói xin lỗi chiếu lệ vì một khi xin lỗi, nghĩa là thấy ra lỗi thì phải hối lỗi, phải cải cách. Đàng nầy đảng CS đạt được mục đích áp đặt nền nông nghiệp chỉ huy, cướp hết đất đai dân chúng, rồi lùa dân chúng vào hợp tác xã, CS có sửa đổi gì đâu? Ngoài ra, CSVN không bao giờ xin lỗi vụ Nhân Văn Gia Phẩm, vụ Mậu Thân Huế. Để xóa sổ những tội ác trong CCRĐ, Nhân văn Giai phẩm, Mậu Thân Huế, thì CS bóp méo sự thật lịch sử, viết lại có bài bản làm cho người ta lầm tưởng là thật, nhưng dù làm cách gì đi nữa thì cũng không thể xóa được tội ác của CS. Ví dụ CCRĐ tàn bạo như thế, được các nhà viết sử CS sửa lại là thành công được bao nhiêu hợp tác xã, được bao nhiêu sản lượng thực phẩm …  Còn vụ Mậu Thân thì CS sửa đổi một cách trắng trợn, mà vụ mới nhất là có một nhà đạo diễn CS làm lại cuốn phim Mậu Thân bị nhiều người đả kích.  Tội ác của CS luôn luôn còn đó. “Trăm năm bia đá thì mòn / Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”
Có một biến cố lịch sử nữa liên quan thảm cảnh thuyền nhân VN tại biển Đông cũng bị nhà cầm quyền VN ra sức xóa sổ.  Trong số mấy triệu người dân Việt bỏ nước ra đi tìm tự do sau khi Saigòn thất thủ hồi năm 1975, khỏang nửa triệu người trong số này đã nằm lại vĩnh viễn ở biển cả, rừng sâu núi thẳm hay gởi nắm xương tàn tại các trại tỵ nạn Đông Nam Á. Nhưng rồi hai tấm bia tại đảo Bidong ở Malaysia và đảo Galang tại Indonesia do Văn Khố Thuyền Nhân VN thiết lập để tưởng niệm thuyền nhân bỏ mình trên đường tìm tự do, để tri ân Cao Ủy Tỵ nạn LHQ cùng các nước sở tại đã cưu mang họ một thời, cũng bị Hà Nội vận động Malaysia và Indonesia “xóa sổ lịch sử”. Một cựu thuyền nhân VN nhận xét:
Chuyện này hết sức vô nhân đạo, vì mồ mả của những ngườiđi tìm tự do không may nằm lại rất đáng kỷ niệm. Nhiều khi gia đình nào cũng đều bị thiệt hại trong chuyến đi: Có người thì con chết, người thì vợ chết, thậm chí có trường hợp chết cả gia đình. Thì chuyện tưởng niệm thuyền nhân là việc nên làm, và là chuyện đương nhiên rồi. Bây giờ Việt Nam không cho tưởng niệm đó là quá vô nhân đạo.”
Đó là chưa kể trại tỵ nạn cũ của thuyền nhân tại Galang cũng bị VN áp lực Jakarta “xóa sổ”, khiến bà Nada Faza Soraya, Chánh Sự Vụ Phòng Thương Mại Batam của Indonesia phản ứng rằng, “địa điểm này hòan tòan có giá trị lịch sử và nhân đạo”.

THÔI ĐÀNH... “CUỐN THEO CHIỀU GIÓ”

 * BÙI VĂN BỒNG
           Bệnh hội trường (hội, họp nhiều), bị dư luận công chúng và ngay các đảng viên phê phán cả mấy chục năm nay, nhưng không những không bớt đi mà “đảng đầu tàu gương mẫu” lại họp nhiêu hơn, kỳ họp dày thêm, trùng lặp nội dung, chung chung công thức. Cuối cùng, chẳng giải quyết được ván đề gì. Không những mất công, tốn tiền, mà lại hạ ‘cái uy’ của đảng lãnh đạo, mất tín nhiệm một đảng cầm quyền. Mới có nửa nhiệm kỳ Khoá XI mà có 8 Hội nghị Trung ương, thêm một hội nghị Trung ương ở rộng cán bọ toàn quốc là 9. Dày sít lại. Các UVTW đảng hầu như chỉ có ăn với đi họp. Hội nghị trước, các đảng viên chưa 'quán triệt' đã đến hội nghị sau. Nó sinh ra sự 'chống lấn' nghị quyết, tấp đống văn bản, thông tri hướng dẫn, chỉ thị.... không kịp 'tiêu hoá', bị bội thực.
Người dân và cán bộ đảng viên cả nước hầu như đã chai lì tâm lý khi nghĩ rằng “họp, họp nữa, họp mãi” nhưng mọi sự vẫn như cũ, chẳng tiến triển bao nhiêu, hiệu quả, chất lượng lãnh đạo của đảng lại thụt lùi, đi xuống. Hầu như ít ai muốn theo dõi quan tâm xem họp về nội dung gì? Diễn tiến ra sao? Kết qua thế nào?... Không ít người trước màn ảnh nhỏ đã ‘bấm chuyển kênh’ khi thấy Hội nghị Trung ương…
Nhưng HOT nhất, là Hội nghị TW 8 (HN 8) mới đây, làm cho thiên hạ chỉ còn lắc đầu, thơ dài, ngán ngẩm. Vì trong tình hình nước sôi lửa bỏng với biết bao  vấn đề bức xúc về tệ nạn tham nhũng tràn lan , về cán cân thanh toán, về sự phát triển phập phù của nền kinh tế đất nước, về lam phát, về nguy cơ ‘vỡ trận’ tài chính, về giá cả tăng vọt, đồng tiền mất gia, gia tăng thât snghiệp, nhiều báo động  về dân sinh, dân chủ, thì HN 8 lại bàn những chuyện rất chung chung, những nội dung để dễ bề ‘hoà cả làng’, ém nhẹm đi những vấn đề cấp bách.
Theo tác giả Âu Dương Thệ trong một bài báo mới đây đã đúc kết mấy nét chính mang tính ‘bông phèng’, hời hợt  của HN 8:
“- Thỏa hiệp lười biếng và vô trách nhiệm giữa các phe ở trung ương
- TBT Nguyễn Phú Trọng ngày càng thất thế và mất uy tín sau gần ba năm làm Tổng bí thư.
- Hiến pháp “mới”, nhưng vẫn giữ nguyên các định hướng cũ sai lầm, bảo thủ
- Phải đổi “Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” thành “Bảo vệ Đảng độc tài trong tình hình mới!”
Chỉ một ngày sau khi Tổng bí thư  Nguyễn Phú Trọng đọc diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương (HNTU) 8 ngày 9.10 với vẻ mặt đầy nghiêm nghị loan báo là 100% Ủy viên Trung ương đã đồng ý với các quyết định của HNTU 8 thì ngày 10.10 khi tiếp xúc với cử tri ở Sài Gòn, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, nhân vật quyền lực thứ hai, đã đưa ra tuyên bố làm dư luận rất chú ý. Trước sự thắc mắc của cử tri là, tại sao mới trước đây ông Tổng Trọng đã kết án “một bộ phận không nhỏ…” cán bộ, đảng viên, kể cả cấp cao đã trở thành bọn quan tham nhũng hại dân hại nước, nhưng tới nay chẳng có quan lớn nào bị trừng trị; không những thế vấn đề này đang nóng bỏng hơn nhưng lại không được bàn trong HNTU 8, ông Chủ Sang đã tuôn ra lời phê bình làm trò cười trước hàng trăm cử tri và đại diện báo chí (lề đảng) về tuyên bố trên của ông Tổng Trọng.
Ông Tư Sang ‘chia lửa’ với “nhà lãnh đao” Tổng Trọng, đồng tời cũng tỏ ra ‘thoả hiệp’ với bên Chính phủ, Quốc hội. Ông nói: “Tôi nói điều này với tư cách cá nhân thôi: Ta hô khẩu hiệu nhiều quá. Còn câu “Một bộ phận không nhỏ” là một câu hết sức đau đầu. Nghe dư luận thì rất nhiều nhưng tìm thì không thấy. Có nhiều anh nói “bộ phận không nhỏ” đó ở bên dưới. Nhưng sau 1 năm quay lại hỏi bên dưới là chỗ nào thì mấy ông chỉ cười khì, không chỉ ra được. Phương thức phát hiện ra “bộ phận không nhỏ” này thông qua phương thức tự phê bình chỉ là một cách thức thôi chứ không phải là tất cả”.
Ô hay, cũng là miệng ông Tổng Trọng và ông Tư sang cả, sao mà tiền hậu bất nhất? Năm ngoái, ông Tổng Trọng nói: “Bà con ạ! Thực trạng nạn tham nhũng như tế, chúng tôi cũng ‘xốt dzuột’ lắm! Tiêu cực, tham nũng nhìn ở đâu cũng thấy, sờ vào đâu cũng có”. Rồi cũng năm ngoái, chính ông Tư Sang nói với cử tri:  “Không phải chỉ một con sâu mà cả bầy sâu”. Thế mà, sau HN 8, ông lại nói: “Nghe dư luận thì rất nhiều nhưng tìm thì không thấy. Có nhiều anh nói “bộ phận không nhỏ” đó ở bên dưới. Nhưng sau 1 năm quay lại hỏi bên dưới là chỗ nào thì mấy ông chỉ cười khì, không chỉ ra được”.
Rõ là buông xuôi, gác kiếm, chịu bó tay tay; rõ là kéo giãn, pha loãng dư luận bằng cách HN 8 vừa ngụỵ trang, vừa đánh lạc hướng lại ù xoẹ cho xong chuyện (như câu dầm, chữa thẹn)  cho hết nhiệm kỳ. Nghĩa là, Nghị quyêt TW 4 thất bại thảm hại. Và xu thế ‘dung hoà’ lộ rõ. Cuối cùng chỉ là: “Trong tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, giúp nhau cùng …giữ vững quyền lực (ghế0 và ôm chặt quyền lợi”; nghĩa là đạt được thành công “cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe”…Động thái chuẩn bị  ‘hạ màn’ này xem ra rất thức thời trên cơ sở “khách quan, biện chứng”, có chất ‘đáo để, chấp nhận bên thua cuộc (!?);  do đó cũng cào trắng chút niềm tin còn lại (nếu có).  Ai cũng dễ đoán định rằng, hai nhân vật chóp bu trong ‘tứ trụ’ lần này đã xác định rõ: Thôi đành... ‘cuốn theo chiều gió’.
B.V.B

“BOM BẨN” CỦA NGÀNH VẬN TẢI ĐƯỜNG SẮT VÀ TÀU CAO TỐC / Vũ Duy Chu

Kính gửi bác Chủ Blog Trần Mỹ Giống:
Tôi viết bài này tháng 6.2010, lúc dự án tàu cao tốc của Bộ Giao thông vận tải làm nóng bỏng dư luận xã hội. Nay ông Thứ trưởng nào đó của Bộ Giao thông lại bày ra dự án xây dựng đường cao tốc Mỹ Đình – Bái Đính để thoả mãn nhu cầu tâm linh của 7-8 triệu dân Hà Nội. Tôi không dám lạm bàn về tính kinh tế của dự án này. Nhưng tôi nghĩ mỗi người dân trong đó có bản thân tôi sẽ phải gánh thêm một khoản nợ nữa. Tôi không thể tin nhu cầu tâm linh của dân chúng Hà Nội lại cần thiết và bức xúc đến như thế, trong khi các cháu miền núi còn phải đu dây qua sông đi học mỗi ngày mùa lũ. Xin nhờ bác chủ Blog cho lên trang bài viết này như sự góp ý có trách nhiệm của một công dân với các nhà chức trách….
“BOM BẨN” CỦA NGÀNH VẬN TẢI ĐƯỜNG SẮT VÀ TÀU CAO TỐC
Trong lúc một số ông nghị đang ra sức “bảo trì” ý kiến xây dựng tàu cao tốc 300 km/giờ hiện đại tiện nghi bậc nhất thế giới ở nghị trường, thì hàng ngày những con tàu già nua chạy trên đường ray khổ rộng một mét cổ điển vẫn lầm lũi lắc lư 32 giờ, 36 giờ vào Nam ra Bắc. Phải công nhận đã có một số thay đổi tiến bộ trên các toa tàu, nhưng chỉ là thay đổi kiểu quét vôi ve, tráng lại xi măng nền một căn nhà xập xệ. Người ta có thể thông cảm cho sự nghèo khó của ông đường sắt. Nhưng nghèo khó thì cũng phải sạch. Nhếch nhác đến độ hành khách cứ thản nhiên xả phân - thả “bom bẩn” xuống đường ray suốt chiều dài đất nước thì ông đường sắt đã biến thượng đế của mình thành những người rừng. Các ông nói xoe xoé, nói say mê về hiện đại hóa ngành đường sắt Việt Nam với 50, 60 tỉ USD đang nằm trong túi của người Nhật. Cứ như thể người Nhật nợ mình sắp trả nay mai. Còn cái cách vệ sinh kiểu “bom bẩn” như thế tồn tại bền bỉ gần bốn mươi năm (tính tạm từ 1975 đến nay) mà ông Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải và mấy ông chóp bu ngành đường sắt không thấy bức xúc, không thấy hổ thẹn là sao nhỉ?
Đã có ý kiến đòi kiện ông đường sắt ra tòa vì tội làm ô nhiễm môi trường. Sự ô nhiễm thì khỏi phải chứng minh nữa. Cứ đưa ông Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải lên những con tàu này từ Hà Nội vào TP. Hồ Chí Minh xem dân chúng có lập được biên bản ông ấy gây ô nhiễm môi trường không? Thế còn kiện? Có mà kiện củ khoai.
Hãy thử tính xem, bốn mươi năm không ngưng nghỉ, mỗi ngày hàng ngàn, hàng vạn lượt người xả phân tươi xuống đồng ruộng, ao hồ, nguồn nước sinh hoạt, phố xá làng mạc hai bên đường sắt, nơi con tàu chạy qua. Trong mắt của những người làm công tác y tế phòng chống dịch bệnh, tàu hỏa giống như một con quái vật khổng lồ chứa đầy mầm bệnh vi khuẩn tả, lỵ và nhiều mầm bệnh khác phát tán vào gió, vào mưa, vào khí trời. Những người có trách nhiệm ngành đường sắt đưa ra đủ mọi lý do để bào chữa: Nào là mỗi thùng vệ sinh tự hoại lắp phía dưới sàn toa không dưới 200 triệu đồng, ấy là chưa tính đến các chi tiết phần trên toa và các thiết bị kèm theo. Rồi nước xả tốn gấp hai lần so với cách xả thẳng xuống đường ray. Có người bảo hiện nay tàu hoả Ý, Đức đâu có khá hơn mình, họ cũng xả phân thẳng xuống đường ray như mình đấy chứ. Khoa học tiên tiến của thế giới cũng chưa có nghiên cứu nào về tác hại môi trường do vận tải đường sắt gây ra cơ mà. Thế thì mình chưa nghiên cứu đâu phải là chậm, là yếu kém.
Dân mình đâu có lạ gì ngụy biện kiểu Chí Phèo của mấy ông quan chức này. Giả sử người Đức, người Ý lạc hậu xả phân xuống đường ray thì cũng là vùng đồi núi, ngoại thành. Đường tàu của họ đâu có gắn chặt vào đường trục, đâu có xuyên thẳng vào khu dân cư hàng ngàn km. Dân của họ đâu có áp sát, lấn chiếm hành lang an toàn của đường sắt mà xây nhà cửa, buôn bán sinh sống đông nghẹt lộn xộn như ở xứ ta?
Chả lẽ dân tộc mình nghèo đến mức không có tiền để lắp một cái thùng vệ sinh tự hoại trên mỗi toa tàu. Hiện Cục Đường sắt Việt Nam đang quản lý hơn 1000 toa xe khách. Xin ông đường sắt công bố công khai nếu trang bị thùng vệ sinh tự hoại cho tất cả các toa xe khách chi phí bao nhiêu? Chi phí vận hành bảo trì một năm bao nhiêu? Ngành đường sắt liệu có kham nổi không? Nếu không kham nổi, hãy đem vấn đề này trình Chính phủ. Đây không hề là một việc nhỏ. Nó là văn hóa của một dân tộc, là bộ mặt của ngành đường sắt, ngành du lịch, bộ mặt của Bộ Giao thông vận tải, thưa ông Bộ trưởng.
Vâng, ông Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải có bức xúc. Ông bức xúc đến độ kêu gọi các đại biểu Quốc hội hãy đồng thuận “phải đi vào hiện đại ngay” với tàu cao tốc. Ông đâu cần bức xúc chuyện một cái thùng vệ sinh tự hoại vặt vãnh tiền triệu đồng Việt Nam.
Nói công bằng, ngành đường sắt cũng bức xúc. Năm 2006 họ đã lập đề án giảm thiểu ô nhiễm đường sắt trình lên Bộ Giao thông vận tải. Nghe nói nếu được Bộ Giao thông vận tải cho phép triển khai ngay đề án thì cũng phải đến năm 2020 mới có thể lắp đặt mỗi toa xe khách một thùng vệ sinh tự hoại. Nghĩa là các thượng đế lên tàu cứ tự nhiên thả “bom bẩn” thêm mười mấy năm nữa. Năm 2001 ngành đường sắt đã thử nghiệm dùng thùng chứa tự hoại Microphor của Mỹ trên khoảng 80 toa xe thế hệ mới. Nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức ấy mà thôi. Có người cho rằng thiết bị này không “hòa mạng” ta được vì giá thành cao, bảo trì khó và chất khử mùi thì nồng nặc.
Được biết ông Phan Trí Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Khoa học công nghệ Petech rất bức xúc trước hiện trạng mất vệ sinh trên tàu hỏa Việt Nam. Tháng 10.2008, ông đề nghị được giải quyết triệt để tình trạng phóng uế xuống đường ray ngay trong năm 2009 bằng công nghệ xử lý Biofast của công ty ông. Bể tự hoại Biofast đã được dùng thử nghiệm trên tàu hỏa năm sao Sài Gòn - Nha Trang cho kết quả tốt. Giá cung ứng lắp đặt Biofast bằng 60% Microphor, chi phí vận hành nhỏ hơn nhiều lần, thời gian sửa chữa ngắn và không có mùi hôi. Sản phẩm này còn được lắp đặt trên các du thuyền Vịnh Hạ Long và Nha Trang và các điểm lễ hội lớn khác. Thực hư chuyện này thế nào, tại sao không tiếp tục, ai rành rẽ chuyện lên tiếng cho dân tình biết có cơ sở mà đề nghị chính quyền xem xét sớm.
Chỉ có đường sắt cao tốc là nóng sốt sồn sột. Tại phiên họp Quốc hội vừa qua, dự án Đường sắt cao tốc được ông Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng ủng hộ mải miết, say đắm nhưng đã bị Quốc hội bác bỏ. Ông Bộ trưởng có buồn nhưng khi trả lời phỏng vấn báo chí ông bảo rằng không buồn lắm. Để giải buồn, xin ông hãy giả dạng thường dân đến tất cả các phòng trọ ổ chuột bé tin hin của hàng triệu công nhân các khu chế xuất, khu công nghiệp trên cả nước hỏi xem những ngày nghỉ, dịp lễ, Tết họ về quê bằng phương tiện gì, để thấy cái tàu cao tốc cần đến mức nào.
Xin ông hãy đến gặp gỡ nông dân đồng bằng sông Hồng, miền Trung và miền Tây Nam bộ xem họ có cần tàu cao tốc không? Hàng ngàn đời nay, nông dân Việt Nam là lớp người thiệt thòi nhất, nghèo khổ nhất, bị đối xử bạc bẽo nhất. Không người Việt Nam nào không có gốc gác dây mơ rễ má với nông dân. Làm gì có người Việt Nam nào không cần đến hạt cơm, dù có đủ cao lương mỹ vị Tây Tàu. Xin đừng quàng vào cổ nông dân cái món nợ của Tàu cao tốc mà họ không bao giờ dám đặt mông lên chiếc ghế nệm êm của nó.
Trước khi nói đến tàu cao tốc, xin đừng coi chuyện đi vay được tiền người khác là tài giỏi, là một thứ nghệ thuật, một minh chứng cho sự uy tín. Xin đừng hàm hồ rằng người ta cho mình vay đã là tốt rồi, cứ vay đi, mang về lẹ đi. Đâu phải chủ nợ nào cũng thật lòng chia sẻ giúp đỡ. Thiếu gì chủ nợ cứ mong cho con nợ lụn bại, ngắc ngoải, sống không ra sống, chết không được, biến thành vật tế thần, thành con tin trên bàn cờ thế sự. Cái giá phải trả cho sự vay mượn có ai mà không biết, có nước nghèo nào lại không thấm thía? Cái giá phải trả cho việc sử dụng không hiệu quả hàng triệu, hàng tỉ đô la vốn vay nước ngoài còn ngổn ngang chưa thể quét dọn được sờ sờ ra kia kìa. Tàu cao tốc bị bác bỏ, đâu phải dân mình không thích tiện nghi sang trọng. Dự án tàu cao tốc là một ca đẻ non, đẻ vội vã. Đẻ non quá không có thứ lồng kính nào cứu được thì… chết. Vậy thôi.
Hãy nâng tốc độ con tàu hiện nay lên 150 – 200km/h như phân tích của hàng trăm chuyên gia kỹ thuật và kinh tế uy tín nặng lòng với đất nước. Hãy chấm dứt tình trạng thả “bom bẩn” của ngành đường sắt.
Đó là những việc làm thực tế cấp thiết và hoàn toàn nằm trong tầm tay của chúng ta.
Sài Gòn, 23.6.2010
V.D.C

Xe máy VN ‘lao ngược chiều thế giới’

BBC tiếng Việt
Trường Giang, Bạn đọc BBC Tiếng Việt từ Lạng Sơn
Cập nhật: 11:30 GMT – thứ hai, 21 tháng 10, 2013
Có thể nói, không một quốc gia nào trên thế giới có một “nền văn minh xe máy” độc nhất vô nhị như Việt Nam.
2

Nói như vậy cũng không hề ngoa ngôn. Sự thật là xe máy đã tác động xấu đến toàn bộ nền kinh tế, văn hóa, quy hoạch đô thị, thói quen, đạo đức, cách sống của người dân Việt Nam chứ không chỉ là vấn đề về an toàn giao thông.
Xe máy, đối với nhiều quốc gia, được coi là một phương tiện giao thông nguy hiểm, không khuyến khích sử dụng, thậm chí bị cấm ở nhiều thành phố. Với vận tốc có thể bằng ô tô, nhưng sự an toàn lại chỉ như xe đạp, nó thực sự là một hung thần trên đường.
Tai nạn hàng ngày hàng giờ xảy ra trên khắp các nẻo đường Việt Nam đã chứng minh điều đó.
Không thể phủ nhận, xe máy, nếu xét trên góc độ tiện dụng, cơ động, linh hoạt, thì sẽ là phương tiện giao thông tuyệt vời không có đối thủ cạnh tranh. Nhưng hãy cùng nhau phân tích trên nhiều khía cạnh khác.

Quy hoạch và xe máy

Chính phủ dường như bế tắc trong việc quy hoạch đô thị. Hiện nay hạ tầng kiến trúc lôm côm, nhà ống mọc lên như nấm không có cách gì khống chế. Những ngõ sâu hun hút ngoằn ngoèo chen chúc với những chợ tạm, chợ cóc chật chội bẩn thỉu. Hàng quán thi nhau đua nở lấn chiếm lòng lề đường.
Nét đẹp đô thị của những con phố sạch sẽ phong quang với những hàng xe hơi, xe bus trật tự nối đuôi nhau là một viễn cảnh xa vời đối với các đô thị Việt Nam.
Vì sao vậy? Nguyên nhân đến từ xe máy. Chỉ xe máy mới có thể luồn lách đến mọi ngóc ngách, dẫn đến việc khuyến khích người dân làm nhà trong ngõ mà không cần tuân thủ quy hoạch theo tiêu chuẩn chung.
Thậm chí có những ngõ nhỏ tới nỗi chỉ đảm bảo cho một chiều lưu thông vẫn tồn tại như một minh4 chứng cho sự tiện lợi không gì thay thế được của xe máy.
Chỉ có xe máy mới có thể tùy tiện tấp vào lề đường để chủ nhân vẫn ngồi trên yên, một chân chống xuống đất, thoải mái mặc cả mớ rau, con cá cho kịp bữa cơm chiều, tạo điều kiện cho sự tồn tại của chợ tự phát, mặc cho cơ quan chức năng ra sức dẹp hàng ngày.
Chỉ có xe máy mới dễ dàng dựng la liệt ngay trên vỉa hè để mua bán trao đổi hàng hóa, chiếm hết chỗ dành cho người đi bộ. Và như vậy, xe máy trở thành rào cản cho quy hoạch đô thị hiện đại ở Việt Nam.
Phải đi xe máy trong những sáng mùa đông lạnh cắt da thịt, hoặc trong những cơn mưa trút nước tầm tã, hay những trưa hè nóng đổ mồ hôi, giữa biển xe máy san sát chen vai thích cánh, khói độc tỏa mịt mù, âm thanh đinh tai nhức óc, mới thấy hết sự khổ sở mà ai cũng phải chịu đựng.
Điều đó tác động dần dần làm cho con người mất đi sự thông cảm lẫn nhau.
5Trên đường, những gương mặt hồ hởi tươi sáng hiếm dần, thay vào đó là sự cau có, bẳn gắt. Chỉ cần va quệt nhẹ là sẵn sàng lao vào sống mái. Không thiếu những vụ ẩu đả, thậm chí giết người xuất phát từ những nguyên nhân rất nhỏ mà báo chí đăng tải hàng ngày.
Khi ngồi trên xe máy, những người đàn ông không thể lịch lãm trong bộ complet, phụ nữ khó mà váy đầm dịu dàng thanh lịch. Mặc đẹp làm gì khi mà đằng nào cũng phải chùm bên ngoài chiếc áo chống nắng dài tới gót chân?
Mái tóc uốn bồng bềnh mà làm gì khi phải đội lên đầu những “nồi cơm điện” nặng nề cục mịch?
Điều này tưởng không quan trọng, nhưng lại liên quan khá nhiều đến văn hóa ứng xử.
Thật dễ hiểu. Nếu mọi người ai cũng ăn mặc đàng hoàng lịch sự thì đối xử với nhau hẳn sẽ lịch sự đàng hoàng hơn.

Thói quen và lối sống

Điều đáng lo ngại nhất là tư duy xe máy đã ăn sâu vào tâm lý của người Việt. Phần lớn người dân không thể hình dung họ sẽ sinh hoạt như thế nào nếu thiếu xe máy. Một sự lệ thuộc hoàn toàn.
Thậm chí chỉ cách 100m họ đã phải cần đến xe máy. Việc vào siêu thị mua thực phẩm sạch trở thành vô lí khi mà chỉ cần ngồi lên xe máy, phóng vèo ra chợ cóc đầu đường là có thể mua bất kỳ loại thực phẩm gì.
Thực phẩm chợ cóc thì không hề tuân thủ an toàn vệ sinh. Và hậu quả về ăn uống mất vệ sinh thì không nói ai cũng biết.
Cũng chính vì sự tiện lợi nhãn tiền của xe máy mà mọi người mất dần thói quen đi bộ. Không có cảnh đoàn người sải bước trên vỉa hè với tác phong công nghiệp hiện đại như ở các quốc gia khác. Vì thật “đáng tiếc” là ở Việt Nam xe máy có thể phóng vào tận cổng cơ quan.
3
Cũng không ở đâu có nghịch lý như Việt Nam khi coi chiếc xe máy không chỉ đơn thuần là phương tiện giao thông, mà trở thành của để dành, thậm chí là căn cứ để phân biệt đẳng cấp xã hội. Từ đó đẩy tới một nghịch lý tiếp theo là giá một chiếc xe máy, @, SH chẳng hạn, có thể đắt gần bằng một chiếc xe hơi loại trung bình tại các nước trong khu vực.
Việc thả nổi cho thị trường xe máy cũng đồng thời khiến cho nền công nghiệp ô tô không thể phát triển. Dẫn đến một nghịch lý khó có thể chấp nhận được nữa là, giá thành ô tô gần như đắt nhất thế giới tại một quốc gia nghèo.
Theo thống kê, mỗi năm Việt Nam có khoảng 15.000 người chết vì tai nạn giao thông. Trong đó liên quan đến xe máy là nguyên nhân hàng đầu.
Chỉ có xe máy mới dễ dàng bỏ qua đèn đỏ, luồn lách, vượt làn, phóng nhanh, vượt ẩu… Điều tệ hại là, sự vi phạm giao thông công cộng của xe máy diễn ra quá thường xuyên, lâu ngày thói xấu thành quen thuộc đối với tất cả mọi người.
Như vậy, xe máy vô hình chung, góp phần đẩy nhanh sự xuống cấp về ý thức an toàn giao thông vốn đã quá kém của người dân Việt Nam.
Nạn giật đồ giữa ban ngày thật nhức nhối, kinh hoàng cho mọi người, nhất là phụ nữ. Chính xe máy6 đã đẻ ra những kẻ côn đồ cướp giật manh động đó, bởi nó là phương tiện gây án hữu dụng.
Bất kỳ sử dụng phương tiện nào khác đều không khả thi để giật đồ. Cũng có thể nói không ngoa là, nạn trộm chó cũng nhờ sự tiện lợi của xe máy mà có thể lộng hành, thay vì hoạt động nhỏ lẻ như trước.

Phóng xe ngược chiều

Giờ đây khi đã hình thành “nền văn minh xe máy”, nếu ai đó nêu ra ý tưởng “Cấm xe máy”, lập tức mọi người sẽ nhìn anh ta lạ lùng như người sao Hỏa.
Câu hỏi sẽ bật ngược lại: “Cấm xe máy thì đi bằng gì?”. Rồi viện lý do muôn thuở “nước ta còn nghèo, người dân lấy đâu ra tiền mua xe hơi”, “nhà nước chưa thể đủ tiền phát triển hệ thống giao thông công cộng để đáp ứng người dân”…
Vậy hãy nhìn sang các nước láng giềng gần nhất như Campuchia, Lào, Miến Điện…và tiêu biểu là thủ đô Yangon của Miến Điện.
Không giàu hơn chúng ta, dân trí cũng không hơn, nhưng họ đã thực hiện thành công giải pháp cấm xe máy để có được đô thị yên lành, sạch sẽ và an toàn.
Rõ ràng xe máy làm kìm hãm sự phát triển xã hội về mọi mặt. Và Việt Nam sẽ đi ngược lại với xu hướng chung của thế giới nếu còn duy trì “nền văn minh xe máy” như thế này.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của độc giả Trường Giang từ Lạng Sơn, Việt Nam.

“Bộ phận không nhỏ” và phép tàng hình

Thái Sinh
Thứ hai ngày 21 tháng 10 năm 2013 9:23 PM

Bác Thảo Dân trả tờ báo cho lão Cò nhìn lên trần nhà gương mặt buồn bã:
- Khủng khiếp quá bác ạ, cái ụ nổi chỉ có giá 5 triệu Mỹ kim, vậy mà ngài giám đốc Vi-na-lai đã chỉ đạo đàn em mua với giá 9 triệu Mỹ kim, để rồi đút túi 1,6 triệu Mỹ kim. Lão thử tính xem số tiền đó bằng bao nhiêu tấn thóc?
Trầm ngâm một lát lão Cò thở dài:
- Nếu quy đổi số Mỹ kim mà ngài giám đốc Vi-na-lai cùng đồng sự chiếm đoạt trong thương vụ mua ụ nổi ra tiền Việt Nam thì tương đương 28 tỷ, trị giá 4.800 tấn lúa đó bác ạ. Số lúa ấy đủ nuôi nhân dân huyện ta sống sung túc một năm trời ...
Bác Thảo Dân trợn mắt kinh ngạc:
- Đấy là chỉ một phi vụ mua ụ nổi mà họ đã kiếm được từng ấy tiền. Còn các phi vụ khác thì sao? Những tài sản chìm của họ chắc phải gấp nhiều lần lão nhỉ?
- Hẳn nhiên rồi. Chả thế mà ngài giám đốc mua tặng bồ nhí hai căn hộ chung cư cao cấp giữa thủ đô mà người dân bình thường không bao giờ dám mơ ước tới.
- Đám quan chức tha hoá như ngài giám đốc Vi-na-lai người ta gọi là “nhóm lợi ích” hay là “bộ phận không nhỏ” phải không lão Cò?
Lão Cò đứng dậy rồi lại ngồi xuống, hình như có điều gì bực bội trong lòng. Lão hút liền tù tỳ mấy điếu thuốc rồi chậm rãi.
- Bác biết thừa điều đó sao lại hỏi tôi?
- Là tôi hỏi lão cho chắc chắn. Vậy là cái “bộ phận không nhỏ” ấy cũng kha khá đấy chứ, sao các cơ quan bảo vệ pháp luật của ta giỏi dang như thế mà sao không tìm được cái “bộ phận không nhỏ” đang tàn phá đất nước nhỉ?
Lão Cò cười khẩy:
- Nói như bác thì mọi thứ đơn giản quá, giá như bác được làm quan xem, khi mà: “Ông tham nhũng, tôi tham nhũng, nó tham nhũng” thì cái “bộ phận không nhỏ” ấy chẳng bao giờ tìm thấy được.
- Thật phí hoài cơm gạo dân đóng góp nuôi họ - Bác Thảo Dân thở dài chống gối đứng dậy - Nói thật với lão là tôi chả hiểu tại sao lại như vậy, “bộ phận không nhỏ” mà người ta không tìm ra được thì dân đen như tôi thấy lạ quá.
- Có gì mà lạ, “bộ phận không nhỏ” ấy đang sống bên cạnh chúng ta đây, hàng ngày tôi và bác đều nhìn thấy, nhưng bác và tôi không nhận ra họ, các cơ quan chức năng không nhận ra họ, là bởi họ có phép tàng hình bác ạ.
Bác Thảo Dân há hốc mồm kinh ngạc:
- Phép tàng hình? Họ có phép tàng hình thật hả lão? Thảo nào, họ biên hoá mấy chục tỷ đồng từ túi nhà nước chuyển sang túi họ dễ như khi họ hạ bút ký mua cái ụ nổi. Tôi muốn học phép tàng hình để bắt bằng được thằng Ba Khựa câu trộm ba ba nhà tôi...
Lão Cò cười sằng sặc chỉ lên trời:
- Ông lên cung trăng mà học thằng Cuội...

Tội phạm cưỡng bức thu hoạch nội tạng bị vạch trần tại Hội nghị Nhân quyền LHQ – Trung Cộng cố tình gây can nhiễu

The 24th Regular Session of the Human Rights Council was held in Geneva, Switzerland on September 19-27, 2013. Spanish human rights lawyer Mr. Carlos Iglesias, from the United Towns Agency for North-South Cooperation, a NGO, attended. He was invited to make a statement at the general debate of the 33rd meeting held on the morning of September 26.
Kỳ họp thường niên thứ 24 của Hội đồng Nhân quyền đã được tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ, từ ngày 19 đến ngày 27 tháng 9, 2013. Luật sư nhân quyền Tây Ban Nha, ông Carlos Iglesias, từ Cơ quan United Towns Agency for North-South Cooperation, một tổ chức NGO, đã tham dự phiên họp. Ông được mời đọc một tuyên bố tại cuộc tranh luận chung của Đại hội lần thứ 33 được tổ chức vào sáng ngày 26 tháng 9.
[MINGHUI.ORG] – Phiên họp thường niên thứ 24 của Hội đồng Nhân quyền đã được tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ vào ngày 19 ngày 27 tháng 9, 2013. Luật sư Nhân quyền Tây Ban Nha, ông Carlos Iglesias, từ Cơ quan United Towns Agency for North-South Cooperation, một tổ chức NGO*, đã tham dự Phiên họp. Ông được mời để đưa ra một tuyên bố tại cuộc tranh luận chung của Đại hội lần thứ 33 được tổ chức vào sáng ngày 26 tháng 9.
Ông Iglesias chỉ ra rằng cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân bị cáo buộc âm mưu và tổ chức một loạt các chính sách để diệt trừ hàng chục ngàn học viên Pháp Luân Công.
Trong bài phát biểu của mình ngày 26 tháng 9, ông Iglesias nêu rõ rằng trong tháng 4 năm 1999, trước Bộ Chính trị, Giang Trạch Dân đã đưa ra ba hướng dẫn nghiêm trọng và phá hoại, “Diệt trừ danh tiếng của chúng [các học viên Pháp Luân Công] làm cho chúng nó khánh kiệt tài chính và hủy hoại thể xác chúng nó.” Tiếp theo là bắt đầu các vụ bắt bớ, giam giữ trong các trại lao động cưỡng bức, tra tấn và giết hại hàng chục ngàn người dân vô tội ở Trung Quốc.
Ông Iglesias bị hai lần gián đoạn một cách thô bạo bởi đại biểu Trung Quốc trong khi ông phát biểu. Với sự hỗ trợ từ các đại biểu của mười (10) quốc gia, ông đã có thể đọc xong phát biểu.
Đại diện từ Mười nước Hỗ trợ Luật sư nhân quyền khi ông bị gián đoạn bởi Đại biểu Trung Quốc một cách bất lịch sự.
Ông Remigiusz Henczel, Chủ tịch Hội đồng Nhân quyền, chủ tọa các cuộc tranh luận chung của Đại hội lần thứ 33 sáng ngày 26 tháng 9. Trong tư cách luật sư cho nhóm Pháp Luân Công mà đã bị diệt chủng bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Carlos Iglesias đã được mời để phát biểu một lời tuyên bố .
Ông chỉ ra rằng kể từ khi Giang Trạch Dân đưa ra ba điều bắt buộc nghiêm ngặt trước Bộ Chính trị trong tháng Tư năm 1999, đó là, bôi nhọ danh tiếng của chúng, làm cho chúng kiệt quệ tài chính và hủy hoại thân thể của chúng, hàng chục ngàn người dân vô tội đã bị bắt, bị giam giữ trong các trại lao động cưỡng bức, tra tấn và sát hại.
Ông Iglesias cho biết, “báo cáo độc lập do cựu Bộ trưởng Ngoại giao về Á châu Thái bình dương David Kilgour và Luật sư Nhân quyền David Matas cung cấp manh mối và chứng cứ rõ ràng, và cùng với báo cáo viên đặc biệt (Special Rapporteur) của Liên Hiệp Quốc về tra tấn, ông Manfred Nowak công khai yêu cầu công đồng quốc tế điều tra những tội ác khủng khiếp [mổ cắp nội tạng sống từ các học viên Pháp Luân Công].”
Tuyên bố của ông bị gián đoạn hai lần bởi đại biểu Trung Quốc. Đây là lần thứ hai các đại biểu Trung Quốc cố tìm cách để ngăn chặn một cách thô bạo một diễn giả đại diện cho Pháp Luân Công. Nỗ lực không thành công đầu tiên của họ (Trung Cộng) là trong một cuộc họp ngày 19 tháng 9.
Thời gian này, các đại biểu Trung Cộng đập bàn bằng chiếc thẻ trên đó ghi tên của nước này. Ông yêu cầu chủ tọa ngăn chặn ông Iglesias nói. Hành vi thiếu lịch sự của đại diện này đã làm cho đại diện của mười quốc gia không hài lòng, kể cả Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Pháp, Ireland, Cộng hòa Séc, Thụy Điển, Đức, Na Uy, Estonia, và Hà Lan.
Họ bày tỏ sự ủng hộ đối với ông Iglesias, và yêu cầu vị chủ tọa Ông Remigiusz Henczel cho phép ông Iglesias kết thúc bài phát biểu của mình. Chủ tọa cảm ơn các đại biểu cho ý kiến ​​và lời khuyên của họ, và nói: “Tuyên bố này chắc chắn sẽ trở thành một tuyên bố 2 phút dài nhất trong lịch sử của Hội đồng. Tôi đã giữ đúng vị trí của tôi rất rõ ràng. Vì vậy, tôi trả lại sàn cho các viên chức phi chính phủ (NGO*), và yêu cầu các đại biểu theo phán quyết của tôi.”
Ông Iglesias kết luận tuyên bố của mình bằng cách nói rằng, “Tôi kêu gọi cộng đồng quốc tế và Cao ủy về Nhân quyền phơi bày sự thật về tội ác này để họ có thể tiến hành điều tra độc lập vấn đề buôn bán và mổ cắp nội tạng ở Trung Quốc. Tội ác khủng khiếp này phải được điều tra, thủ phạm phải được đưa ra xét xử, và tất cả những người tham gia trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công phải được điều tra. “
Đề cập đầu tiên đến Giang Trạch Dân trong một cuộc Họp của Liên hiêp quốc.
Đại Kỷ Nguyên đầu tiên tiết lộ tội ác của Đảng Cộng sản Trung Quốc mổ cắp nội tạng sống từ các học viên Pháp Luân Công vào năm 2006. Đây là lần thứ tư một đại diện phi chính phủ (NGO*) đã công khai đưa ra những cáo buộc về mổ cắp nội tạng của ĐCSTQ tại Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.
Bài phát biểu của ông Iglesias là đáng chú ý vì đây là lần đầu tiên mà cựu lãnh đạo ĐCSTQ Giang Trạch Dân bị đề cập tới như là thủ phạm chính trong thảm kịch nhân quyền này .
Bối cảnh.
Giang Trạch Dân đã bị kiện vì tội chống nhân loại, diệt chủng và tra tấn trong 17 quốc gia và vùng, trong đó có Mỹ , Canada, Úc , Thụy Sĩ, Bỉ, Tây Ban Nha, Đức, Hy Lạp, Hồng Kông và Đài Loan
Có rất nhiều vụ kiện ở nhiều nước trên thế giới chống lại Giang và đám người bức hại Pháp Luân Công đã cáo buộc chúng về diệt chủng, tra tấn, và tội ác chống lại nhân loại, buộc các viên chức ĐCSTQ chịu trách nhiệm về tôị ác họ đã làm.
Chú thích:
-NGO*=Non Government Oganization
 

Tìm hiểu biên giới VIỆT NAM vs CHINA

Tìm hiểu biên giới khu vực Trấn Nam Quan qua một số tài liệu lịch sử và pháp lý.

1/ Trấn Nam Quan : Theo Ðại Thanh Nhất Thống Chí quyển 365, tờ 17, ghi chú về châu Bằng Tường, trong mục các ải và các cửa biên giới, Trấn Nam quan ở về phía tây nam châu Bằng Tường, cách châu này 45 lý (khoảng 18km). Người ta còn gọi là Ðại Nam quan. Bên phải và bên trái cửa quan là núi đá cao xuyên qua mây. Hai bên cửa quan có xây bức tường chạy dọc lên núi, dài 1190 bộ (khoảng 377 mét).

Về ý nghĩa và tầm quan trọng của các cửa biên giới (cửa ải), theo tài liệu (bằng tiếng Pháp), dịch từ ba trang 15, 16 và 17, quyển thứ nhứt, bộ Long Châu Sử lược (Abrégé des Anales de Longtcheou), người Hoa sử dụng đến ba danh từ khác nhau để chỉ cửa ngõ thông thương giữa hai nước Việt-Trung : QUAN, ẢI và CA.

Các cửa ngõ thông thương từ Long Châu sang Việt Nam gồm có 2 cửa “QUAN”, 14 cửa “ẢI” và 3 cửa “Ca” (thời nhà Thanh còn gọi là « thủ tạp » để chỉ các nơi canh phòng).

Hai cửa QUAN là Bình Nhi Quan 苹 而 關 và Thủy Khẩu Quan 水 口 關 .

14 cửa Ải là Yêm Bố 淹 布 (có bộ « khẩu» 口 đứng trước chữ Bố), Long Sương 龍 廂, (Ná Lang 那 懶,), Cảm Môn 敢 門, (Na Tuyết 那 雪 ), Na Duệ 那 曳 (Bản Khô 板 枯 ), Khiếu Canh 叫 更, (có bộ « sơn »山 trên chữ Canh) (Bản Ma 板 厤 ), Bế Thôn 閉 村, Na Hoài 那 懷 (Na Ai 那 哀), Ná Hà 那何, Long Mính 龍 茗 (Na Thông那), Hợp Thạch 合 石 (Long Cống 龍 貢).

Ba cửa CA là Hồ Tông 葫淙, Khiếu Khâm 叫欽 và Bách Bố 百布.

Trong số các ngõ thông thương sang Việt Nam, từ Long Châu, hai ngõ quan trọng nhất là Bình Nhi và Thủy Khẩu.

Trấn Nam Quan (thuộc châu Bằng Tường) tọa lạc trên « quan lộ » (la route mandarine), là cửa thông thương chính thức giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, chỉ mở cửa khi có « quốc sự ». Sứ thần chính thức hai bên đều đi qua cửa này.

Hồ sơ phân định biên giới Pháp-Thanh gọi cột mốc ở đây là Trấn Nam Quan ngoại 鎭南關外.

Người Việt có thói quen gọi cửa ải này là « Ải Nam Quan », mà thực ra nó có tên Việt « ải Đại Nam » hay « Đại Nam Quan ». Ngoài ra còn có tên khác là « Ải Bắc ».

Về vị trí tương đối của Đại Nam Quan đối với Đồng Đăng, tài liệu « De Hanoi à la Frontière du Quang-si » - Từ Hà Nội đến Quảng Tây, của tác giả M. Aumoitte, viết năm 1881. Tác giả tạm dịch như sau :

« Ðồng Ðăng cách cửa ải 2 cây số rưỡi. Nơi đây bề ngoài cũng giống như Kỳ Lừa. Dân chúng phần lớn Tàu lai với thổ dân và sinh trưởng tại đây. Có nhiều tiệm bán lẻ (chạp phô); chỉ có 12 cửa hiệu buôn theo lối trao đổi (bông, dầu hồi, thuốc phiện, thuốc bắc)...

Từ Ðồng Ðăng đến biên giới, con đường chỉ còn là một con đường mòn nhỏ, đá lởm chởm, chạy quanh dưới chân những ngọn đồi trọc và không có người ở. Ra khỏi Ðồng Ðăng được 1O phút là không còn một bóng người. Con đường mòn này mỗi lúc một hẹp, cuối cùng dẫn tới trước một cửa cổng có hai cánh bằng gỗ. Cửa được gắn với một bức tường làm bằng gạch nung, xây dài lên tới đỉnh đồi, có độ cao chừng 50 mét. Hình thức của cổng và hai bức tường xây lên núi tạo thành như một cái phểu. Ðó là biên giới. Trên đỉnh đồi, bức tường chấm dứt và người ta có thể đi qua Quảng Tây không có trở ngại. Trên hai cánh của gỗ có vẽ rồng, phụng mầu sắc rực rỡ. »

Bài viết của ông Aumoitte có đính kèm một bức hoạ cổng Nam Quan như sau :

cổng Nam Quan 1883-1884

Như thế mô tả về hình thái Nam Quan của tác giả Aumoitte năm 1881 khá phù hợp với các chi tiết ghi từ Đại Thanh Nhất Thống Chí : Hai bên cửa là hai bước tường đá xây dọc lên tới đỉnh núi (núi cao khoảng 50m). Chiều dài bức tường khoảng 377m.

Điều cần ghi nhận, trong trận đánh Lạng Sơn năm 1884, quân Pháp do tướng Négrier chỉ huy đã phá sập cửa Nam Quan để thị uy, sau đó thì rút về.

Đến năm 1885, khi hai phái đoàn Pháp-Trung gặp nhau tại Nam Quan để phân định biên giới, các tài liệi cho thấy cổng Nam Quan đã được xây dựng lại một cách “đồ sộ”, như là một công sự chiến đấu, bằng đá đẻo (có chừa lỗ châu mai), với hai bức tường xây thẳng lên đỉnh núi.

Không thấy ghi chú về vị trí của cổng mới có trùng hợp với vị trí của cổng cũ hay không ?

Dưới đây là các tấm hình Nam Quan, qua các bưu thiếp dưới thời Pháp thuộc. Chính xác là từ khoảng năm 1885 đến năm 1940. Ta thấy rõ rệt bức tường xây dài lên đỉnh núi.

15.03.2010-MTL29-400x253

NQ 1

NQ 2

Đến những năm đầu Thế chiến II, quân Nhật đã truy lùng những cánh quân kháng chiến người Hoa, lần nữa đã phá hủy tòa kiến trúc này.

Tòa kiến trúc Nam Quan hiện thời chắc là mới được xây lại sau 1945. Kiến trúc hiện thời không thấy có hai bức tường xây dọc lên đỉnh núi mà hai bức tường này thể hiện cho đường biên giới.

Kiến trúc Nam Quan hiện nay được xây lại trên nền cũ hay dời đi chỗ khác ?

Hình dưới đây là cổng Nam Quan hiện tại (hình của nhà báo Nguyễn Huy Minh).

DSC_0111

2/ Đường biên giới khu vực Nam Quan được mô tả theo biên bản phân định biên giới Pháp-Thanh ngày 7-4-1886 như sau :

« …từ một điểm được xác định cách cổng Nam Quan 100 thước trên đường từ Nam Quan về Ðồng Ðăng (cột số 18), đường biên giới theo hướng Tây, đi lên đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có một đồn binh được đánh dấu là điểm A ở trên sơ đồ kèm theo đây… »

Theo biên bản cắm mốc ngày 21-4-1891 (công trình Frandin) cột mốc tại khu vực Nam Quan được xác định như sau:

« Cột thứ 18, Trấn Nam Quan ngoại 鎭南關外: Trên đường Nam Quan về Ðồng Ðăng, cách cửa 100 thước về hướng Nam. Nguyên văn tiếng Pháp trong biên bản : A environ 100m en avant de la porte de Nam-Quan. »

Công trình này được công nhận năm 1894.

Như thế từ năm phân định 1886 đến năm phân giới cắm mốc 1894, đường biên giới đi qua Nam Quan không thay đổi : cắm trên đường từ Nam Quan về Đồng Đăng, cách cổng 100m.

Xét hai mảnh bản đồ :

namquan 130

Nam Quan - Bac Cuong Ai 5

Ta thấy cột số 18 cắm trên con đường mòn nhỏ sát vách núi đá.

Xét mảnh bản đồ sau đây (cắt từ bản đồ 1/100.000 SGI 1928):

Nam Quan SGI

Ta thấy xuất hiện quốc lộ 1A mà đường này không phải là con đường mòn ngày xưa cắm mốc số 18.

Đường biên giới hiện nay, khu vực Hữu Nghị Quan, đi qua cột mốc cây số zéro của quốc lộ 1A. Cột mốc cây số zéro cách tòa Hữu Nghị quan khoảng 300m.

13.03.2010-MTL14

(Nguồn của Mai Thái Lĩnh).

Vấn đề là :

- cột cây số zéro của quốc lộ 1A không phải là cột mốc 18 cũ.

- không chắc gì tòa Hữu Nghị Quan hiện nay đã được xây dựng lại (hai lần) ngay tại nền cũ của nó.

- hai bức tường cũ, xây từ cổng Nam Quan lên núi, vẫn còn thấy ở các tấm bưu thiếp “Porte de Chine” của Pháp (trước 1945), thì không còn thấy chung quanh Hữu Nghị Quan hiện nay.

3/ Bản đồ Google Earth.

May thay, ta vẫn có thể tìm thấy dấu vết của cổng Nam Quan cũ với hai bức tường xây lên đỉnh núi, nhờ kỹ thuật tân kỳ (và miễn phí) của Google Earth (cám ơn Google!) qua tấm hình sau đây:

Nam Quan Google earth

Đường biên giới (đường vàng) là không chính xác. Hữu Nghị Quan nằm trong tập hợp kiến trúc ở về phía nam của đường vàng (phía dưới khung A).

Trên tấm hình này tác giả có đóng khung 4 ô chữ nhật màu đỏ A, B, C, D.

Cổng Nam Quan cũ (với hai bức tường xây lên núi) có thể ở một trong bốn khung này.

Hai bức C và D không thấy núi phía bên phải (bên trái là núi đá, bên phải là núi đất) có lẽ bị ủi mất do làm lại đường mới.

Khung A, có dấu vết xây dựng lờ mờ hai bên núi nhưng hẻm núi ở đây hẹp, chỉ thấy 1 con đường.

Khung B, là khung có thể nhất trong 4 khung. Ta thấy còn dấu vết khá rõ rệt của hai bức tường xây lên núi (nơi có hai mũi tên màu xanh) đồng thời có ba con đường : đường mòn cũ, quốc lộ 1A và đường (xa lộ) mới ở xa hơn về bên phải.

Khung C và D, cũng rất có thể Nam Quan cũ đã được xây dựng ở hai nơi này, nhưng sác suất có lẽ không cao bằng khung B. Ta thấy còn rõ rệt dấu vết (như là) bức tường xây lên núi (phía tay trái), nhưng lại không thấy dấu vết phía tay phải.

3/ Kết luận : Một điều chắc chắc là tòa kiến trúc Hữu Nghị Quan hiện tại không còn ở vị trí cũ của nó, sau khi bị đánh sập hai lần bởi quân Pháp (1884) và quân Nhật (đầu thập niên 40). Bởi vì không thấy dấu vết của hai bức tường xây chạy lên núi ở hai bên tòa kiến trúc này.

Vị trí cũ của Nam Quan có thể là nơi khung B trên bản đồ Google Earth. Vị trí này cách Hữu Nghị Quan vài trăm mét về phía bắc.

Cột mốc 18 cũ được cắm trên đường mòn cũ từ Nam Quan về Đồng Đăng. Đường mòn này đi sát chân núi bên trái. Đường mòn này không phải là quốc lộ 1A hoặc đường xa lộ mới xây sau này. Cả hai đường này ở phía bên phải đường mòn.

Muốn tìm vị trí của mốc 18 cũ ta phải tìm được đường mòn cũ và dấu vết của hai bức tường xây lên núi. Rất có thể dấu vết này thể hiện trong tấm hình của Google Earth ở trên, trong khung màu đỏ B. Sau đó do ngược lại về phía nam 100m.

Nếu giả thuyết đúng vậy, đây mới là vị trí lịch sử của cột mốc 18.

Khu vực từ Hữu Nghị Quan (Nam Quan) đến Bình Nhi Quan.

Cửa ải Hữu Nghị, Hữu Nghị Quan, xưa gọi là Nam Quan hay Trấn Nam Quan, là địa điểm trên đường biên giới Việt-Trung đã gây nhiều tranh luận trong giới học giả Việt Nam trong khoảng thời gian hai bên VN và TQ phân định lại biên giới, bắt đầu từ năm 2000.

Các học giả Hà Mai Phương và Chu Thu Hằng trong tập « Sử Liệu về biên giới Ta và Tàu từ đời nhà Lý cho tới đầu thời Pháp thuộc » mô tả Nam Quan như sau :

« Trấn Nam-Quan -- hay ải Nam-Quan -- thuộc địa-giới châu Bằng-Tường [tỉnh Quang-Tây bên Tàu], đối-diện với các xã Đồng-Đăng và Bảo-Lâm thuộc châu Cao-Lộc [Văn-Uyên cũ], tỉnh Lạng-Sơn của ta. Hai bên cửa ải là núi đá cao ngất. Cửa ải Nam-Quan luôn-luôn khoá kín, chỉ mở khi có việc thông sứ chính-thức giữa hai nước. Theo Bắc-Thành Dư-Địa-chí [của Lê Đại-Cương] ở về phía bên phải cửa Nam-Quan có nhiều ải nhỏ như Ải Bang [ở châu Lộc-Bình], ải Tầm-Bang [ở xã Tam-Lộc], Ải Kiệm [ở xã An-Khoái], ải Na-Chi [ở xã Xuất-Lễ], ải Khấu-Sơn [ở xã Cần-Lua], Ải Du [hay cửa Du-Thôn ở xã Bảo-Lâm] và ở về phía bên trái cửa Nam-Quan có các ải Bố-Sa, Sơn-Tử [ở xã Tiên-Hội], ải Học-Mô [ở xã Hành-Lư], ải Bản Dương, Bản Quyên [ở xã Lạc-Khư], ải Nguyên-Anh, Bình-Công [ở xã Khánh-Môn], ải Bình-Nhi [ở xã Cửu-Dương]; thuộc châu Thất-Tuyền có các ải Bắc-Bố, Khấu-Trung [ở xã Nghĩa-Điền], ải Ba-Tạm, Cảm-Môn [ở xã Cụ-Khánh], ải Na-Mân, Khô-Thịnh [ở xã Nghĩa-Khản], ải Kiều-Lễ, Kiều-Lân [chưa rõ ở xã nào], ải Cốc-Ngoạ [ở xã Bình-Lục], Ải Hoa, Ải Mộ [ở xã Nông-Đồn]. Đối-diện với các ải của ta, bên đất Trung-quốc cũng có những cửa ải của họ. Các cửa ải này có tính-cách phòng-thủ, quân-sự và không dùng trong việc giao-thông giữa hai nước Việt—Trung »

Như thế cách thức tổ chức về hành chánh và quân sự ở các cửa biên giới ngày trước cũng tương tự như hôm nay : bên kia đường biên giới có đồn bót hải quan của TQ canh phòng thì bên này đường biên giới cũng có tương tự đồn bót hải quan của Việt Nam. Đường biên giới hai nước là đường đi giữa hai cửa ải. (Điều cần tìm hiểu là tên gọi các cửa ải của hai bên có trùng nhau hay không ?)

Theo công ước Pháp-Thanh 1887, đoạn biên giới này được phân định trên thực địa, theo biên bản ngày 7 tháng 4 năm 1886.
(Trong quá trình phân định biên giới Pháp-Thanh, chỉ có hai đoạn biên giới được phân định trên thực địa, do ông Bourcier de Saint-Chaffray phụ trách : đoạn từ Nam Quan đến Bình Nhi Quan và đoạn từ Nam Quan đến ải Chí Mã. Đoạn biên giới Nam Quan – Bình Nhi Quan được cắm mốc theo biên bản ngày 21-4-1891, do ông Frandin làm chủ tịch ủy ban. Công trình cắm mốc này chỉ được công nhận theo biên bản tổng hợp ngày 19-6-1894, do ông Galliéni làm chủ tịch ủy ban.)

Có hai bản đồ 1/50.000 được thực hiện (khu vực Bình Nhi – Nam Quan và khu vực Nam Quan – Chí Mã), vẽ mực màu trên nền vải trắng.

Theo HUBG 1999, đoạn biên giới từ cửa Nam Quan đến Bình Nhi Quan nằm trong hai tấm bản đồ số 28 và 29 của bộ bản đồ vừa công bố.

So sánh nội dung các văn bản và các bản đồ của hai kết ước 1887 và 1999, một số ghi nhận về đoạn biên giới này như sau :

1/ Hướng đi đường biên giới theo HUBG 1999 không phù hợp với đường biên giới theo mô tả của các biên bản phân định 1886. 2/ So sánh bản đồ, VN bị mất đất ở nhiều điểm, trong đó có làng Lũng Nghiêu. 3/ Hầu hết các địa danh ngày xưa trong khu vực này, ngoài các tên như Nam Quan, Bình Nhi…, các tên khác đều không còn thấy trên bản đồ.

Hướng đi đường biên giới đoạn từ Nam Quan đến Bình Nhi, được mô tả theo biên bản phân định biên giới Pháp-Thanh ngày 7-4-1886 như sau :

« …từ một điểm được xác định cách cổng Nam Quan 100 thước trên đường từ Nam Quan về Ðồng Ðăng (cột số 18), đường biên giới theo hướng Tây, đi lên đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có một đồn binh được đánh dấu là điểm A ở trên sơ đồ kèm theo đây. Đường biên giới, từ điểm này, theo đường sống núi của bức tường núi đá nhìn xuống con đường Ðồng Ðăng, cho đến điểm B đánh dấu trên sơ đồ (cột số 17). Ðiểm B là điểm mà con đường mòn - đường mòn này là một nhánh rẽ của con đường Ðồng Ðăng đi Nam Quan - dẫn đến làng Lũng Nghiêu (Lũng Ngọ 隴午, còn viết là Lộng 弄) cắt bức tường núi đá. Ðường biên giới theo con đường mòn cho đến cổng làng Lũng Nghiêu. Từ cổng, đường biên giới đi lên ngọn rặng núi đá bọc chung quanh làng Lũng Nghiêu để đi đến điểm C (cột số 16). Từ điểm C, đường biên giới đi về hướng Tây cho đến cửa Ki Da (trên bản đồ ghi Khua-Da, có lẽ là Cửa Du, tức ải Du).

…từ cửa Ki Da (cửa Du), đường biên giới đi về hướng tây bắc, qua đỉnh núi được đánh dấu là D, cho đến cửa ải Bố Sa (cột số 15) và cửa ải Hong-Meun (đối diện với của Bố Sa). Các bản, làng Na-Lau, Na-Han, Na-Choc và Na-Ngoa thuộc về Bắc Kỳ. Từ cửa Bố Sa, đường biên giới đi về hướng Bắc, theo đỉnh các ngọn núi cao, cho đến điểm E ghi trên bản đồ, và từ điểm E cho đến hai đồn binh (Hy Tự Tiền Dinh và Hy Tự Tiền Dinh Pháo Ðài) của Tàu đánh dấu là F (cột mốc 14) và G (cột mốc 13). Từ điểm G, đường biên giới nghiêng về hướng Tây Bắc cho đến một đồn binh của Tàu bỏ hoang đánh dấu là H, từ điểm này đến cửa ải Sơn Tự 山寺, (cột số 12) và theo hướng Bắc cho đến đồn binh Kéo-Cho được đánh dấu là I (Sơn Tự Ngoại Sách, cột số 11) và đồn này thuộc Trung Hoa.

... đường biên giới tiếp tục đi về hướng Bắc cho đến ải Thượng Dương 上楊 ; từ cửa Thượng Dương đường biên giới theo hướng Tây Bắc, đi qua cửa ải Bản Quyên, đến điểm đánh dấu J. Từ điểm J đường biên giới theo hướng Ðông Bắc cho đến một đồn binh bỏ hoang được đánh dấu K. Từ đây đường biên giới xuống sông Kì Cùng sau khi qua đồn binh đánh dấu L. Ðường biên giới đến sông tại điểm đánh dấu M và từ điểm này theo sông cho đến khúc ngoặc được đánh dấu N ».
….

Có tất cả 18 cột mốc được cắm trên đoạn biên giới này. Vị trí cột mốc được mô tả theo biên bản 21-4-1891 (công trình Frandin). Tên và số thứ tự cột mốc được xác định theo biên bản 19-6-1894 (công trình Galliéni) như sau :

Cột thứ 18, Trấn Nam Quan ngoại : Trên đường Nam Quan về Ðồng Ðăng (cách cửa 100 thước về hướng Nam)

Cột thứ 17, Khiêu Giá Sơn : Cắm trên đèo nhỏ cắt đường sống núi, trên con đường mòn đến Lũng Nghiêu. Đường mòn này tẻ ra từ con đường Ðồng Ðăng – Nam Quan.

Cột thứ 16, Lộng Diêu Ngoại Sách : Cách làng Lộng Diêu 250 thước về hướng Tây, trên đường mòn đi đến Khua Da.

Cột thứ 15, Bố Sa ngoại sách : cắm tại cửa ải Bố Sa.

Cột thứ 14, Nã Thốt Lĩnh : cắm trên đỉnh núi, cách làng Na-Thot 500 thước về hướng đông nam.

Cột thứ 13, Lục Lê Lĩnh : cắm về phía tây, cách công sự Hi Tự Tiền Dinh Pháo Ðài 100m.

Cột thứ 12, Sơn Tử ngoại sách : cắm tại cửa ả Sơn Tử.

Cột thứ 11, Na Phiêu Lĩnh : cắm về phía đông nam, cách 400m cửa làng Na-Phéo.

Cột thứ 10, Ba Khẩu ngoại sách : cắm về phía tây, cách 150 m công sự Kéo-Chu.

Cột thứ 9, Lăng Thôn ngoại sách : Tại cửa Thuong-Dong.

Cột thứ 8, Ba Mễ ngoại sách.

Cột thứ 7, Quyên Thôn ngoại sách : Tại cửa ải Quyên Thôn.

Cột thứ 6, Phần Quan Lĩnh : Cách 200 thước về phía đông bắc của hợp lưu suối Ban-Quyen và con suối có hướng chảy bắc nam (Phan Quan Linh 6).

Cột thứ 5, Cang Anh ngoại sách : cắm tại một cửa ải cũ, ở cách 500 thước điểm cao (côté 345).

Cột thứ 4, Cổn Ma Lĩnh : Cắm về phía đông của thung lũng Na-Dong, gần con đường đi từ Luc-Bac đến Tra-Kieu.

Cột thứ 3, Bình Công ngoại sách : Cắm trên một ngọn đồi cách 250 thước về phía đông bắc của điểm cao (côté 294).

Cột thứ 2, giác Hoài Lĩnh : Cắm tại một cái đèo rất thấp, cách 1000 thước về phía Nam của công sự Na-Ho.

Cột thứ 1, Bách Tặng Lĩnh : Trên một ngọn đồi nhìn xuống sông Kì Cùng, cách sông 150 thước.

…

Bản đồ vẽ theo các biên bản cắm mốc ở trên, do các ủy viên cắm mốc in tại nhà in ở Việt Nam năm 1894, được chụp lại (gồm 3 hình) sau đây :

Nam Quan 1

Hình Nam Quan 1.

Nam Quan 2

Hình Nam Quan 2.

Nam Quan 3

Hình Nam Quan 3.

Trên bản đồ này làng Lũng Nghiêu thuộc về Việt Nam.

Bản đồ khu vực Nam Quan đến Bình Nhi theo HUBG 1999 :

Nam Quan 4

Hình Nam Quan 4.

Nam Quan 5

Hình Nam Quan 5.

Để ý đến hướng đi và vị trí các cột mốc theo biên bản cắm mốc, đường biên giới theo công ước 1887 (hình Nam Quan 1) đi qua các cửa ải, các cột mốc cắm tương đối xa nhau (vài km), không quá nhiều đoạn quanh co khúc khuỷu.

Trên bản đồ HUBG 1999 (Nam Quan 5), một số nơi các cột mốc cắm chi chít và san sát với nhau, đường biên giới ngoằn ngoèo, lồi ra lõm vào.

Đường biên giới vẽ màu hồng là đường biên giới theo HUBG 1999. Màu đỏ theo công ước 1887.

So sánh (hai hình Nam Quan 1 và Nam Quan 5), ta thấy các khu vực trong vòng xanh là các khu vực trọng yếu VN mất cho Trung Quốc :

1/ Khu vực trước cửa ải Nam Quan, khoảng 300m so với đường biên giới cũ.

2/ Toàn bộ làng Lũng Nghiêu của VN đã mất cho Trung Quốc.

3/ Đường biên giới tại cửa Bố Sa, tức cửa Tam Thanh hiện nay, đã lấn sang VN khoảng trên 200m.

So sánh bản đồ (Nam Quan 2) và (Nam Quan 5): Các dấu gạch chéo màu đỏ, từ dưới lên trên, tuần tự là cột mốc số 8, 7 và 6. Cột mốc số 6 được cắm “Cách 200 thước về phía đông bắc của hợp lưu suối Ban-Quyen và con suối có hướng chảy bắc nam”. Hợp lưu của hai con suối là nơi gạch chéo màu xanh.

Trên bản đồ HUBG, đường biên giới phần lớn chiều dài của nó là con đường mòn để cảnh sát biên phòng đi tuần. Trong thời Pháp thuộc con đường này thuộc VN.

Điều ghi nhận khác, hầu hết các địa danh của VN ngày xưa đã không còn nhìn thấy trên bản đồ mới. Các phần đất bị lấn sang VN phần nhiều thuộc những vùng ở giữa hai cột mốc, tức ở giữa hai cửa biên giới.

VN mất đất khu vực này là khá quan trọng về diện tích và rất quan trọng cho phần phòng thủ biên giới.

Khu vực Nam Quan - Bắc Cương Ải.

Đoạn biên giới này được chia làm hai tiểu đoạn : Nam Quan đến ải Chí Mã và từ ải Chí Mã đến ải Bắc Cương.

Năm mảnh bản đồ dưới đây chụp ra từ bản đồ tổng hợp Nam Quan đến Bắc Cương Ải 1/200.000 do Ủy ban phân giới 1890-1891 (ông Frandin là chủ tịch) thành lập. Công tác đo đạc và vẽ bản đồ gồm các vị : Didelot, Lavenir, Berdonlat và Spicq. Nguyên tấm bản đồ này được thâu nhỏ lại từ hai tấm bản đồ cắm mốc 1/50.000, vẽ bằng mực màu trên vải trắng, của cùng tác giả, trong cùng thời kỳ (1890-1891).

Đường chấm đỏ là đường biên giới. Các dấu chéo màu đỏ là cột mốc. Những con số viết màu đỏ là số cột mốc. Tất cả những ghi chú này do người viết ghi chú vào.

Trong bài viết này chỉ sử dụng ấm số 3. Các tấm khác dành cho các bài viết tới.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 5

Hình 1.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 4

Hình 2.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 3

Hình 3.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 2

Hình 4.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 1

Hình 5.

Baccuongai-binhnhi (2)

Hình 6 : Bản đồ tổng hợp từ hai tấm bản đồ 1/50.000 hai đoạn biên giới Nam Quan – Chí Mã Ải và Chí Mã Ải – Bắc Cương Ải, sau đó thu nhỏ lại thành 1/200.000.

baccuongai-chimaai 006

Hình 7: Một góc bản đồ đoạn biên giới Bắc Cương Ải – Chí Mã Ải 1/50.000 vẽ bằng mực màu, trên vải lụa trắng (cũ và nhàu do việc các nhân viên cắm mốc bị mắc mưa).

Vị trí các cột mốc được mô tả theo biên bản ngày 21-4-1891. Văn bản này do ủy ban Frandin thành lập. Công trình cắm mốc này được công nhận theo biên bản tổng hợp ngày 19-6-1894, do ông Galliéni làm chủ tịch.

Cột thứ 67, Thôn Thương Sơn 吞倉山 : Cắm tại cửa ải Bắc Cương.
Cột thứ 66, Bắc Cương Sơn 北崗山 : Cắm trên đỉnh Bắc Cương Sơn.
Cột thứ 65, Đối Niệm Sơn 對捻山 : Tại đèo Ðối-Mã (coté 773)
Cột thứ 64, Cao Đồng Sơn 高桐山 : Trên đỉnh Cao Đồng Sơn
Cột thứ 63, Quỳ Long Sơn 葵隆山: Trên đèo ở phía Ðông làng Cao Đồng (Tàu)
Cột thứ 62, Phái Thiên Sơn (bis) : Trên trái đồi nhỏ ở phía Ðông cửa ải Phái Thiên.
Cột thứ 61, Phái Thiên Sơn 派遷山: Ở phía đông của cột trước, trên đường dẫn đến Ná Pha.
Cột thứ 60, Giao Bài Sơn 交排山 : Tại Giao Bài (kế con đường)
Cột thứ 59, Bắc Đạt Sơn 北達山 : Tại Song-Pai (kế con đường)
Cột thứ 58, Khiêu Hiệu Sơn 呌…山: Tại Khiêu Hiệu Sơn (gần cửa ải)
Cột thứ 57, Ðông Môn Sơn東có bộ 山 ở trên) 門山 ): Trên đỉnh Ðông Môn Sơn.
Cột thứ 56, Bạch Thịnh Sơn 白盛山 : Trên đồi cao thuộc Bạch Thịnh Sơn (kế cận đường mòn).
Cột thứ 55, Bộ Hà Sơn步河山 : Tại Cao-Pao-Son (tại giao điểm của hai con đường mòn).
Cột thứ 54, Ba Nội Sơn 波內山 : Tại của ải Ná Ma.
Cột thứ 53, Khô Hoa Sơn 枯華山 : Tại cửa ải Ban-Hang.
Cột thứ 52, Giao Phê Sơn 交批山 : Tại điểm mà con đường mòn Na-Lom cắt đường biên giới.
Cột thứ 51, Chi Hoàn Sơn脂還山: Tại cửa ải Na-Ha.
Cột thứ 50, Giao Oa Sơn 交蛙山 : Tại cửa ải Na-Thang.
Cột thứ 49, Ngạc Hầu Sơn 鱷矦山 : Trên đỉnh Ngoc-Hao-Son.
Cột thứ 48, Đồng Đẳng Ngoại Sách 同等外柵 : Tại điểm mà con đường từ Ban-Thinh đến Na-Thương cắt đường biên-giới.
Cột thứ 47, Thạch Bi Sơn 石碑 山: Tại điểm mà con đường từ Ban-Thinh đến Na-Hu cắt đường biên-giới.
Cột thứ 46, Lễ Do Sơn 禮由山 : Tại điểm mà con đường từ Na-Phat đến Na-Hu cắt đường biên-giới.
Cột thứ 45, Bộ Môn Sơn 埔 門山 : Gần đồn Pa-Mau (phía Nam của cửa Chí-Mã).
Cột thứ 44, Ải Điếm Ngoại Sách 隘玷外柵 : Tại cửa Chí-Mã.
Ðoạn thứ 2 từ Chí Mã đến Nam Quan :
Cột thứ 43, Đạo Nê Sơn 道泥山: Trên con đường từ Phai San đến Chí Mã, khoảng cách 1200 thước trên con đường nầy theo hướng Ðông Bắc.
Cột thứ 42, Công Mẫu Sơn 公母山: Trên đỉnh thứ nhứt, phía tây bắc, cách cột thứ nhứt 800 thước.
Cột thứ 41, Lục Vinh Sơn 六榮山 : Cách 500 thước về hướng Tây của một cái thác, gần làng người Hoa Po-Ho.
Cột thứ 40, Nã Chi Ngoại Sách 那支外柵 : Tại cửa Nã Chi.
Cột thứ 39, La Nông Sơn 羅農山 : Trên đỉnh La Nông Sơn.
Cột thứ 38, Đạo Hạ Ngọai Sách 道下外柵 : Tại cửa ải Kouei-Kha.
Cột thứ 37, Nã Lộc Sơn 那祿山 : Trên đỉnh Nã Lộc Sơn (côté 409)
Cột thứ 36, Đồng Hộ Ngọai Sách 同戶外柵 : Tại cửa ải Đồng Hộ.
Cột thứ 35, Bản Trụ Ngọai Sách 板宙外柵 : Tại cửa ải Bản Trụ.
Cột thứ 34, Kim Cương Sơn 金崗山 : Trên đỉnh Kim Cương (côté 402)
Cột thứ 33, Mỹ Mục Sơn 美目山 : Trên đỉnh Mỹ Mục.
Cột thứ 32, Khô Giảng Lộ Khẩu 枯 講路口 : Trên đường từ Packinh đến Cauxo (cách làng nầy 300m về hướng Bắc).
Cột thứ 31, Khô Liểu Lĩnh 枯柳嶺 : Trên đường từ Na-Piou đến Po-Héo, trên đường sống núi của Cổ Mã Sơn.
Cột thứ 30, Khấu Sơn Ngoại Sách 扣山外柵 : Tại cửa ải Loa.
Cột thứ 29, Tam Sắc Sơn 三色山 : Trên đỉnh Tam Sắc.
Cột thứ 28, Nã Ma Lĩnh 那摩嶺 Tại cửa Ná Ma.
Cột thứ 27, Bộ Tác Sơn 埔作山 : Trên con đường từ Na-Pha đến Ha-Lai (cách làng nầy 900 thước về phía Nam).
Cột thứ 26, Pháp Ca Sơn 法卡山: Tại cửa Pháp Ca.
Cột thứ 25, Bản Phiêu Ngọai Sách 板漂外柵 : Trên đường từ Gia-Muc đến Ban-Chau (cách làng nầy 1300 thước).
Cột thứ 24, Phái Bình Lĩnh 派苹嶺 : Trên đỉnh Phái Bình.
Cột thứ 23, Áp Môn Ngọai Sách 閘門外柵 : Tại cửa ải Rô.
Cột thứ 22, Khấu Cự Lĩnh 扣虡嶺 : Cách 400 thước phía Ðông-Nam của cửa Cao-Cap (trên đồi)
Cột thứ 21, Khôn Long Ngọai Sách 坤隆外柵: Tại Po-Seu.
Cột thứ 20, Phổ Ta Lĩnh 溥些嶺 : Trên một đỉnh núi đối-diện với công-sự Kouei-Tao của Tàu.
Cột thứ 19, Đạo Lang Lĩnh 道郞嶺 : Trên đỉnh núi.

Mất đất khu vực Khu vực Chi Ma - Ải điếm Ải khẩu : Tấm 29 và 30 HUBG 1999.

Xét mảnh bản đồ thuộc hình 3 ở trên.

Khu vực ải Chí Mã, cột mốc 45, 44, 43 theo hướng đông - tây. Từ mốc 43 đến 42 đường biên giới chuyển sang hướng bắc. Từ mốc 42 đến 41 theo hướng đông bắc thiên bắc.

Xét mảnh bản đồ thuộc tấm số 29 của HUBG sau đây:

Chi Ma

Các cột mốc chung quanh ải Chí Mã là mốc 1219, 1220, 1221.

Từ cột mốc 1219, tương ứng cột mốc 43 cũ, đường biên giới tiếp tục đi về hướng tây, (thay vì bẻ lên hướng bắc), đi lên sườn dãy Công Mẫu Sơn thuộc VN, ăn sâu vào lãnh thổ VN đến khoảng 2km.

Chiều dài vùng lãnh thổ của VN bị mất lấn qua tấm số 30 của HUBG 1999

Mau Son

VN mất đất khu vực này khoảng vài cây số vuông, phù hợp với lời tố cáo của VN trong Bị Vong Lục 1979.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 3 bis

Đất VN bị mất cho TQ tương ứng với vùng gạch màu xanh như bản đồ trên đây.

Núi Lão Sơn

Trên bản đồ dưới đây, trong vòng màu xanh, là địa danh nổi tiếng Lão Sơn. Nổi tiếng vì trong cuộc chiến biên giới Việt-Trung 1999, trong khi các nơi khác trên biên giới im dần tiếng súng không lâu sau khi quân TQ rút về không điều kiện từ tháng 3 năm 1979, thì khu vực này cuộc chiến kéo dài cho đến những năm 84-85 của thập niên 80. Theo tài liệu của nhà văn Phạm Viết Đào, những trận đánh ở đây đã diễn ra rất đẫm máu, nhiều trung đoàn bộ độ VN đã phải hy sinh để cố dành lại ngọn núi này, nhưng không thành công. Phía Trung Quốc gọi núi này là Lão Sơn.

Núi này quan trọng về chiến lược, tương tự như ngọn núi kế bên (đăng ở bài trước), cả hai tạo thành thế ỹ-giốc để cùng kiểm soát và chế ngự mọi sinh hoạt quân sự trong vùng chung quanh (Hà Giang).

Điều cũng nên ghi nhận, vùng đất này ngày xưa thuộc tổng Tụ Long mà phần lớn diện tích của nó đã chia cho Trung Quốc trong dịp phân định biên giới 1887. Biên giới cũ giữa VN và TQ ở khu vực này là sông Đổ Chú, kế cận Mã Bái Quan, thuộc phủ Khai Hóa. Người Pháp đã nhượng phần đất này của VN cho TQ để đổi lấy quyền lợi về kinh tế. Diện tích đất bị mất cho Trung Quốc gồm khoảng 700km², gồm các xã Tụ Nghĩa (聚義社), Tụ Hoa (聚和社), Tụ Long (Ðô Long 都龍), Mãnh Cang (猛崗), Phân Vũ (奮武), Ðông An (東 安里). Đây là vùng đất rất phong phú về khoáng sản, gồm có những mỏ kim loại quí như đồng, vàng, bạc, thủy ngân, kẽm…

Điều nên biết khác nữa, trong quá khứ (1728), vùng đất Tụ Long đã nhiều lần bị TQ lấn chiếm, và nhiều lần cha ông ta thành công lấy lại.

Vì thế, khi phía TQ đã bỏ nhiều nhân mạng ra để lấn chiếm những vùng đất ở khu vực này, đôi khi chỉ là ngọn núi vô danh, những rẻo đất vớ vẫn, đều phải có lý do. Nào ai biết được tiềm năng kinh tế của những ngọn núi, rẻo đất này quan trọng như thế nào.

Lãnh đạo CSVN ký Hiệp định phân định biên giới 1999 với TQ như thế là hợp pháp hóa chủ quyền của TQ tại các địa điểm này.

Lao Son

Đường đỏ là đường biên giới theo công ước Pháp-Thanh 1887. Đường hồng là đường biên giới theo HUBG 1999. Khu vực Lão Sơn là khu có vòng xanh. Vùng gạch chéo là đất của VN bị mất. Bản đồ tấm số 15.

Giải Âm Sơn hay Lão Sơn ?

Vùng đất gạch chéo trên bản đồ có tên là Giải Âm Sơn hay Lão Sơn ?

Điều này không còn quan trọng. Việc quan trọng là nó đã mất cho Trung Quốc.

Việc quan trọng khác, theo tài liệu của nhà văn Phạm Viết Đào, nhiều trung đoàn bộ đội VN đã hy sinh để cố gắng giành lại dãi đất này.

Thanh Thuy

Đường đỏ trên bản đồ là biên giới theo công ước 1887. Đường hồng là biên giới theo HUBG 1999.

Vùng gạch chép trên bản đồ là một ngọn núi, ở kế cận cửa biên giới Thanh Thủy. Nó có giá trị chiến lược quan trọng. Ngọn núi này có thể kiểm soát, không chỉ con sông Thanh Thủy, mà còn tất cả những cửa ngõ, những sinh hoạt của VN ở vùng chung quanh (Hà Giang).

Lãnh đạo CSVN đã đưa quân chiếm đất của TQ (tài liệu CIA, khoảng 50km²), làm cớ cho TQ đánh VN năm 1979. Dĩ nhiên trong cuộc chiến 1979, TQ đã lấy lại vùng đất mà VN chiếm trước đó, mà còn chiếm hàng loạt các vị trí quan trọng về kinh tế và chiến lược khác dọc trên đường biên giới. Những vùng bị chiếm này gọi là « chiến lợi phẩm », không dễ gì mà TQ trả lại cho VN.

Kết quả so sánh bản đồ cho thấy, hiệp định biên giới 1999 đã chính thức hóa chủ quyền của TQ tại các vùng đất này.
Vùng đất, có gạch chéo trên bản đồ, ở kế cận sông Thanh Thủy, là một thí dụ. Các thí dụ khác đã công bố ở bài trước đây.

Dầu vậy, trên bản đồ của nhóm Quĩ Nghiên Cứu Biển Đông, không chỉ sông Thanh Thủy bỏ dòng chảy của nó để chảy sang nơi khác, mà đường biên giới ở đây cũng ở xa về phía bắc.

Sông Bắc Vong

Bản đồ dưới đây, cắt ra từ tấm số 26 thuộc bộ bản đồ HUBG 1999. Đường đỏ là đường biên giới theo công ước Pháp Thanh 1887. Đường hồng biên giới theo HUBG 1999.

Các cột mốc theo công ước 1887 cắm chung quanh khu vực này là :

Mốc số 26, tên Lũng Mính Ải 隴茗隘. Au pied des rochers sur la rive gauche de la rivière. Tạm dịch: cắm dưới chân núi đá, phía tả ngạn của con sông.

Mốc số 27, Bản Chiêu Sơn 扳昭山. Au pied des rochers, à l’O de l’ancien poste français. Tạm dịch : cắm dưới chân núi đá, phía tây của một công sự cũ của Pháp.

Mốc số 28, Na Hà Ả i那荷隘. Sur le mamelon au N. du barrage (rive droite de la rivière). Tạm dịch : cắm trên đỉnh đồi, phía bắc của rào cản (phía hữu ngạn của dòng sông).

Mốc số 29, Na Bài Sơn 那排山. Sur la rive droite de la rivière au pied d’un petit mamelon, en face des rochers de la rive gauche. Tạm dịch : cắm ở phía bờ hữu ngạn của dòng sông, đối diện với tảng đá ở bờ bên kia.

Mốc số 30, Bản Bản Hà 扳本河. Sur la rive droite à l’O du Cuc Lo au pied des rochers. Cắm ở bờ hữu ngạn, về phía tây Cuc Lo và ở dưới chân núi đá.

Theo biên bản mô tả vị trí cột mốc của công ước 1887, từ mốc số 28, 29, 30, đường biên giới là dòng sông.

Đường biên giới trong khu vực này đã thay đổi, VN mất đất ở hai nơi (trên bản đồ này lãnh thổ VN ở phía bắc, TQ ở phía nam) :

1/ Khu vực gần cột mốc cũ, số 26. Biên giới từ cột 25 đến cột 26 là sông Bắc Vong. Đường biên giới rời sông, nơi khúc quanh rẻ về hướng tây, bắt vào đỉnh ngọn núi phía đông bắc thiên bắc, sau đó theo đường sống núi cho đến mốc số 27.

Đường biên giới mới, là sông Bắc Vong, đến khúc rẻ về hướng tây, thay vì rời sông, lại tiếp tục đi theo sông về hướng tây, sau đó rời sông để bắt lên các ngọn núi ở phía sau đường biên giới cũ như vẽ trên bản đồ.

2/ Khu vực từ mốc cũ số 28 đến mốc số 30, đường biên giới theo công ước 1887 là nhánh suối, phụ lưu của sông Bắc Vong. Đường biên giới mới 1999, không theo nhánh suối, mà lên đỉnh các ngọn đồi phía bắc của con suối này. VN mất đất chiều dài khoảng 5km, chiều rộng khoảng 1km, là một thung lũng dài, nối qua bên TQ.

Sông Bác Vong

Đường đỏ là đường biên giới theo công ước 1887. Đường hồng là biên giới theo HUBG 1999. Phần gạch chéo trên bản đồ là phần đất VN bị mất cho TQ. Lưu ý, trong khu vực này, lãnh thổ của VN ở phía bắc, của TQ ở phía nam.TRƯƠNG NHÂN TUẤN