Tổng số lượt xem trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa hoc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa hoc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

Chia sẻ trên Facebook bộc lộ điều gì về bạn?

http://www.xn--bomai-xqa.com/
Việc chia sẻ trên Facebook bộc lộ điều gì về bạn?

Những điều ta chia sẻ trên truyền thông xã hội có thể phô bày những ý nghĩ sâu xa trong đầu óc ta nhiều hơn ta tưởng.

HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH VỀ Ý TƯỞNG THAY ĐỔI THẾ GIỚI

"Bạn đang nghĩ gì?" Đó là cách mà Facebook chào đón hàng ngày đối với 1,7 tỷ người sử dụng. Đó cũng là câu hỏi mà vô số các bác sĩ tâm thần, bác sĩ tâm lý và cố vấn đã hỏi khách hàng của họ vào đầu buổi khám; một câu hỏi mà ta thường hỏi một người bạn hoặc người trong gia đình khi thấy họ lo lắng.

http://www.xn--bomai-xqa.com/
Hoạt động truyền thông xã hội của ta có thể cung cấp (rất nhiều và thường là không chủ tâm) tình trạng tâm trí của ta. Chẳng thế mà các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tình cảm cho ta hiện đang thăm dò cách sử dụng những tín hiệu này để 'bắt mạch tình cảm' của cá nhân, cộng đồng, đất nước và thậm chí cả loài người. Đây là một trong những chủ đề được thảo luận tại Hội nghị Thượng đỉnh về Ý tưởng Thay đổi Thế giới ở Sydney trong tháng 11.


NHỮNG ĐIỀU ĐĂNG TRÊN TRANG TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI BỘC LỘ GÌ VỀ MÌNH?

image
Người yêu bản thân hay dùng Facebook để cập nhật trạng thái để khoe thành tích hoặc nói say mê bàn về chế độ ăn và tập tành của mình.

Thể loại post ta đăng tải và tần suất đăng tải cho biết ta là ai và điều gì đang diễn ra trong cuộc sống ta hơn chính những lời ta nói. Một nghiên cứu của 555 người sử dụng Facebook ở Mỹ cho hay người hướng ngoại thường hay đăng về những hoạt động xã hội và cuộc sống hàng ngày, và đăng thường xuyên. Những người thiếu tự tin hơn có xu thế đăng thường xuyên hơn về bạn đời lãng mạn của họ, người thần kinh bất an dùng Facebook để được tán thưởng và được chú ý, trong khi người yêu bản thân hay dùng Facebook để cập nhật trạng thái để khoe thành tích hoặc bàn say mê về chế độ ăn và tập tành của mình.

Một nghiên cứu khác cho thấy rằng những người đăng rất nhiều ảnh tự chụp thường là tự yêu mình và tâm thần bất ổn hơn, trong khi những người chỉnh sửa nhiều ảnh của họ bằng kỹ thuật số có thể thiếu tự tin.

NGƯỜI TA CÓ DÙNG TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI ĐỂ CHỮA BỆNH KHÔNG?

http://www.xn--bomai-xqa.com/
Ai đã từng đổ trút lên Facebook lời mắng mỏ giận dữ hoặc đăng điều u ám vào 3 giờ sáng thì sẽ biết là có một số hình thức tự điều trị trong việc sử dụng truyền thông xã hội. Nhưng có phải đó chỉ là khóc vào khoảng trống và nó làm tăng thêm khó khăn hơn là giúp ích.

Trung Tâm Sức Khỏe Tinh Thần và Giới của Mexico, ở Thành phố Mexico, có vẻ nghĩ thế, và dường như đã tiến hành một chiến dịch cảnh báo người dân rằng chia sẻ những chuyện buồn trên Facebook không phải là một cách thay thế rẻ tiền cho việc điều trị đúng đắn về tâm lý.

Nhưng khoảng trống đó đang nghe đấy, và có thể có trợ giúp. Những nhà nghiên cứu đang tìm cách rà soát những cập nhật trạng thái hoặc những đăng tải trên Twitter để phát hiện báo động đỏ, thí dụ ai đó có thể có rủi ro tự vẫn. Viện Black Dog của Úc do Helen Christensen đứng đầu (bà sẽ có thuyết trình tại cuộc họp cao cấp tháng 11 nói trên) mới đây đã thực hiện một nghiên cứu sử dụng chương trình máy tính và theo dõi đăng tải trong 2 tháng đối với một số cụm từ và từ liên quan đến tự vẫn. Những nhà nghiên cứu về con người và một chương trình phần mềm sau đó đã phân loại những đăng tải nào có vẻ gây lo ngại. Cả người và máy đều có sự nhất trí cao, và việc đó mở ra khả năng là phần mềm có thể được thiết kế để xác định lời kêu cứu, và thậm chí có thể thông báo cho gia đình hoặc bác sĩ biết.

image
Một số cộng đồng mạng cũng thừa nhận ý nghĩa quan trọng của những cảnh báo có liên quan đến tự vẫn trong việc đăng tải, và đang tổ chức mạng lưới hỗ trợ của riêng họ. Trang mạng Suicide Watch của Reddit đã được hình thành và tạo cách thức cho cộng đồng để đáp ứng và hỗ trợ các thành viên có rủi ro. Trong khi mà cảnh trao đổi hỗn loạn của cộng đồng trực tuyến vẫn không tránh khỏi sẽ có người nói khích động nhưng sẽ có nhiều đáp ứng thể hiện ước muốn thực sự giúp con người đang đau khổ.

Sự bỏ bễ trao đổi truyền thông xã hội cũng có thể cho thấy tinh thần có vấn đề. Một nghiên cứu đang sử dụng ứng dụng của Bluetooth để định vị mẫu của liên kết xã hội của một người, do vậy nó có thể phát hiện được khi nào người đó tương tác ít đi với bạn bè và rút khỏi mạng lưới đó, mà điều này là một biểu hiện của sự suy sụp.

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI CÓ TIẾT LỘ NHỮNG XU HƯỚNG TÌNH CẢM LỚN HƠN?

image
Trang mạng The We Feel theo dõi tình cảm của Twitter trên trên thế goo

Cộng đồng, đất nước và nhân loại nói chung thường hay biến động lên xuống cùng với nhau.

Viện Black Dog và CSIRO (cơ quan khoa học Úc) đã hợp lực để bắt mạch cảm xúc của cả hành tinh trong sáng kiến "We Feel". Bằng cách theo dõi trang mạng Twitter trên diện rộng về mặt cảm xúc và đồng thời chọn mẫu ngẫu nhiên 1% số lượng đăng, họ đã phân tích trung bình khoảng 19.000 tweet một phút để tìm xem cộng đồng Twitter cảm xúc như thế nào tại một thời điểm bất kỳ.

Kết quả là một bản đồ thể hiện tỷ lệ % tương ứng với trạng thái cảm xúc khác nhau (như ngạc nhiên, vui sướng, yêu thích, buồn, tức giận, sợ hãi) ở những nơi khác nhau trên thế giới. Nó biểu lộ trạng thái cảm xúc biến động lên xuống như thế nào ứng với những sự kiện khác nhau trên thế giới và quốc gia.

http://www.xn--bomai-xqa.com/
Dự án Hedonometer cũng nghiên cứu Twitter để có được cảm xúc tương ứng của các ngôn ngữ khác nhau, kể cả tiếng Anh, Pháp, Ả Rập và Indonesia. Khi sử dụng tin nhắn trong Twitter, báo chí, Google Books, và cả đầu đề phim, thì họ tìm ra 10.000 từ hay được sử dụng nhất trong từng ngôn ngữ, rồi họ lấy một người nói tiếng mẹ đẻ để đánh giá xếp hạng từng từ vào một thang điểm tốt xấu.

Việc phân tích này cho hay chúng ta thường có xu hướng thiên tốt và hài lòng, mặc dù tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha có vẻ vui vẻ lạc quan hơn so với các tiếng còn lại.

Nhóm nghiên cứu hiện đang sử dụng phương pháp tiếp cận này để phân tích mức hài lòng trung bình của Twitter, và cho biết tác động của những sự kiện như việc tranh luận tổng thống ở Mỹ (độ hài lòng giảm), việc ly dị của Brad and Angelina (cũng giảm) và việc hợp pháp hóa kết hôn cùng giới (đô hài lòng tăng). Họ cũng sử dụng phương pháp tiếp cận này để tìm xem độ hài lòng tương liên thế nào với các yếu tố khác như tình trạng kinh tế xã hội, địa dư và dân số trên khắp nước Mỹ.

Vì vậy, lần tới bạn lướt trên mạng truyền thông xã hội, hãy bỏ chút thời gian ngẫm nghĩ là điều mà bạn đang đọc và chia sẻ thì đang bộc lộ điều bạn nghĩ trong đầu nhiều hơn bạn tưởng.

Bianca Nogrady

http://www.xn--bomai-xqa.com/

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2015

Tin tức có hại cho bạn – Từ bỏ thói quen đọc chúng khiến bạn hạnh phúc hơn

Trong vài thập kỷ qua, những người có cuộc sống khá giả trong xã hội phương Tây đã bắt đầu nhận ra sự nguy hại của việc tiêu thụ thực phẩm bừa bãi: chúng gây ra các bệnh béo phì, tiểu đường… Riêng ở Mỹ, hơn 1/3 dân số mắc bệnh béo phì. Nó đã trở thành vấn nạn nhức nhối với những người dân không chỉ ở Mỹ mà còn ở các nước phát triển nói chung. Họ đã bắt đầu khắt khe hơn với vấn đề thực phẩm và cố gắng thay đổi chế độ ăn uống của mình : quan tâm xem hàng ngày mình ăn gì, loại thức ăn đó chứa nhiều đường không, chứa bao nhiêu kcal… Ở 1 khía cạnh khác, chúng ta cũng đang sống ở trong thời kỳ quá dư thừa về thông tin, nhưng hầu hết chúng ta chưa hiểu về hệ quả của việc dư thừa đó với tâm trí của mình. Thực sự thì ảnh hưởng của tin tức đối với tư duy cũng tương đồng với ảnh hưởng của chất đường đối với cơ thể. Chúng đều dễ “tiêu hóa”. Truyền thông cho chúng ta ăn từng mẩu “tin tức bọc đường” nho nhỏ, chẳng gây ra ảnh hưởng nguy hại gì nhãn tiền để ta có thể ngay lập tức nhận ra, và ta dễ dàng phớt lờ và tiếp tục nuốt chúng. Tiêu hóa từng mẩu nhỏ một, ta sẽ chẳng có cảm giác chán ăn hay bội thực. Điều đó khác xa với việc đọc những cuốn sách hoặc các bài viết dài trên tạp chí, nơi hàm lượng thông tin đậm đặc. Chúng ta có thể tiêu thụ một số lượng vô hạn của các mẩu tin vắn, và đó giống như là những viên kẹo dành cho trí não. Hôm nay, chúng ta đã đạt đến kết quả tương đồng với cái chúng ta đã đến cách đây 20 năm trong lĩnh vực thực phẩm. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng tiêu thụ thông tin không đúng cách có thể độc hại thế nào.
Tin tức gây lệch lạc
Lấy ví dụ sự kiện sau đây (mượn từ Nassim Taleb). Một chiếc xe lái qua một cây cầu, và cây cầu sập. Giới truyền thông tập trung vào điều gì? Xe. Người trong xe. Nơi ông ta đến. Nơi ông dự định đi . Trải nghiệm ông đã phải trải qua trong vụ tai nạn (nếu còn sống). Nhưng tất cả chúng chẳng đáng để chúng ta phải bận tâm nhiều. Thế thì cái gì đáng để bận tâm? Đó là tại sao câu cầy sập, đó mới chính là mối nguy hiểm tiềm tàng, có thể đang ẩn nấp trong các cây cầu khác nữa. Chiếc xe ấy hào nhoáng, nó gây ấn tượng cảm xúc mạnh, và nhân vật chính là một con người chứ không phải một vật vô tri khác. Thế nhưng điều quan trọng nhất đó chính là việc khai thác khía cạnh đó để đưa tin nhàn và tốn ít chi phí hơn nhiều so với việc đi phân tích các cây cầu. Tin tức làm chúng ta bị lệch lạc hoàn toàn trong việc đánh giá cái gì là nguy hại và cái gì thì không. Chủ nghĩa khủng bố bị phóng đại thái quá. Stress do làm việc quá sức thì bị xem nhẹ. Ảnh hưởng của sự sụp đổ của các ngân hàng lớn thì bị thổi phồng. Trách nhiệm của những nhà dự báo kinh tế thì bị chẳng được nhắc đến. Người ta xem trọng phi hành gia quá mức. Còn y tá thì bị đánh giá thấp. Danh sách cứ tiếp diễn mãi như vậy. Bạn có nghĩ ra trong những tin tức mà giới truyền thông VN khai thác và mổ xẻ thời gian gần đây, cái gì bị thổi phồng quá mức mà những thông tin quan trọng khác bị phớt lờ không? Cứu nạn máy bay Malaysia gặp nạn? Vụ Huyền Chíp? Hôi của? Chúng ta thường thiếu lý trí, sự bình tâm và dễ dàng bị truyền thông dắt mũi. Chứng kiến trực tiếp một vụ tai nạn máy bay trên truyền hình sẽ thay đổi thái độ của bạn đối với chính rủi ro đó, bất kể một thực tế đã được chứng mình rằng xác suất thực sự của việc rơi máy bay là cực nhỏ, và nó là phương tiện giao thông an toàn hơn ô tô, tàu hỏa rất nhiều. Nếu bạn đang nghĩ rằng ý tưởng tin tức có thể ảnh hưởng đến tư duy và thái độ của mình thật buồn cười, rằng mình hoàn toàn có thể đọc nó mà không bị nó tác động hay làm cho mình bị lệch lạc đi thì bạn đã lầm to. Những ông chủ ngân hàng và các nhà kinh tế học, những người mà đáng lý quyết định của mình phải dựa trên lý trí và các bằng chứng thực tế thay vì xu hướng của đám đông hay sự nhảy nhót nhất thời của giá cả đã cho thấy rằng con người hành động dựa trên cảm tính nhiều thế nào và ít dùng lý trí ra sao. Aritxtốt từng nói rằng để một tâm trí có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn một ý kiến, một quan điểm mà không phải chấp nhận, không phải tin vào nó đòi hỏi một sự giáo dục rất lớn. Vậy nếu bạn không có khả năng nhìn được tổng thể, đa chiều ở một sự kiện mình chưa hiểu thực sự rõ và không muốn để truyền thông dắt mũi, bạn phải làm gì? Giải pháp đơn giản nhất đó chính là cắt bỏ hoàn toàn khỏi việc tiêu thụ tin tức.
Tin tức ít có giá trị
Trong số 10 nghìn tin tức bạn đã đọc trong vòng 12 tháng trở lại đây, hãy thử kể tên điều gì đã thực sự giúp bạn tư duy tốt hơn, ra quyết định khiến cho cuộc sống của bạn tốt hơn, sự nghiệp của bạn tốt hơn? “Có đọc có hơn” là một sự lừa mị to lớn. Nếu bạn là một người thực tế, hãy để kết quả ngoài cuộc sống là câu trả lời chính xác nhất, chứ đừng là một tư duy đầy cảm tính và phổ biến sau đây : “Đọc báo không có lợi ở mặt này thì có lợi ở mặt khác, chưa phải bây giờ thì là sau này”. Như đã nói, con người không lý trí như mình nghĩ, và thực sự ít người có thể giỏi trong kiểu tư duy được-mất đó. Phần lớn bạn sẽ rơi vào nhóm những người bị mất hơn là được. Mọi người càng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm ra cái gì thực sự phù hợp cho bản thân mình, hay lớn hơn là kiểu tư duy của mình có còn phù hợp với xã hội ngày nay, với thời đại hiện giờ nữa hay không? Các tập đoàn truyền thông đưa cho bạn một giải pháp giản đơn cho câu hỏi đó : càng cập nhật những thông tin mới nhất, hiểu biết mới nhất về thế giới sẽ tạo cho bạn một lợi thế cạnh tranh to lớn so với người khác. Thế nhưng thực sự thì điều gì phù hợp với con người bạn mới giúp bạn đi đúng hướng, những điều mới nhất nhưng khiến cho bạn đi lệch khỏi bản chất của bạn chỉ tổ khiến cho bạn tốn thời gian vô ích. Tin tức không phù hợp chỉ tăng thêm tính bất lợi cho bạn mà thôi. Càng ít tiêu thụ chúng càng tốt cho bạn hơn. image
Tin tức không cho bạn biết được điều gì đang thực sự diễn ra
Các mẩu tin là những cái bong bóng nhỏ nổ trên bề mặt chứ không cho bạn biết được điều gì đang tạo ra những bong bóng kia ở sâu bên dưới những gì bạn có thể nhìn thấy. Thu thập những mẩu dữ kiện đó có thể giúp bạn hiểu cách thế giới vận hành? Đáng buồn là không phải vậy. Những điều đang vận hành thế giới hay thay đổi thế giới này là những trào lưu, là những vận động ở dạng ngầm ẩn mà các nhà báo khó mà có thể phát hiện ra được. Hãy nghĩ về những phát minh đã làm thay đổi thế giới. Trước khi chúng trở thành sự thật, trở thành một thế lực khiến giới truyền thông quan tâm đến là cả một thời kỳ dài tích lũy, nghiên cứu và phát triển trong âm thầm. Bill Gates bắt đầu được báo chí để mắt khi ông ở tầm tuổi 30, nhưng thực sự ông đã bắt đầu lập trình từ khi ông 13 tuổi. Nói cách khác một tài năng được thành hình trong lặng lẽ trong hai chục năm. Sẽ phải đòi hỏi một năng lực siêu phàm thì các nhà báo mới có thể phát hiện ra được những tài năng, những trào lưu đột phá đang âm thầm phát triển xung quanh họ. Thêm nữa, đó cũng chẳng phải việc nhà báo được trả lương phải làm. Báo chí và tin tức sẽ chỉ cho bạn biết thêm thông tin về những ai đã nổi tiếng, đã thành công mà thôi. Bạn càng tiêu hóa nhiều mẩu tin tức vụn vặt kiểu đó, bạn càng có ít hiểu biết về bức tranh toàn cảnh của vấn đề. Nếu như nhiều thông tin hơn sẽ dẫn đến thành công cao hơn trong cuộc sống thì chắc hẳn những nhà báo, những học giả hay những người giao dịch chứng khoán hay những người đọc tin tức nhiều nói chung sẽ là những người giàu có và quyền lực nhất trong xã hội. Thực tế thì khác xa như vậy.
Tin tức độc hại đối với cơ thể của bạn.
Nó liên tục kích hoạt hệ viền (limbic system) thuộc não bộ . Những câu chuyện đáng sợ thúc đẩy việc phát tán của các dòng của glucocorticoid (cortisol) . Điều này làm nhiễu loạn hệ thống miễn dịch của bạn và ức chế sự phát tán của các hormone tăng trưởng . Nói cách khác, cơ thể sẽ gặp phải tình trạng căng thẳng mãn tính (chronic stress). Các mức độ glucocorticoid cao khiến cho tiêu hóa trục trặc, xương và tóc gặp trục trặc trong khả năng phát triển và tình trạng mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm. Các tác dụng phụ có thể bao gồm sợ hãi, hung hăng, và thiếu nhạy cảm.
Tin tức làm tăng nhận thức lỗi.
Tin tức nuôi dưỡng mầm mống của một loại lỗi nhận thức phổ biến : sự củng cố thành kiến (confirmation bias). Nói như Warren Buffett: “Những gì con người làm tốt nhất là giải thích tất cả các thông tin mới làm sao cho các kết luận trước đó của họ vẫn chính xác.” Tin tức chỉ liên tục khiến bạn tin thêm vào những gì bạn đã biết trước đó. Điều đó khiến cho bạn trở nên tự tin thái quá, chấp nhận những rủi ro ngu ngốc và đánh giá sai lệch các cơ hội. Hiện nay trên báo chí đầy rẫy những suy luận, gán ghép hết sức chủ quan và sai lệch. Nó đôi khi còn được ngụy trang bằng những gợi ý nho nhỏ, bạn nên suy nghĩ thế này, nên suy luận thế kia. Các bạn có quen thuộc với những câu chữ suy luận dạng “Công ty phá sản vì X…” “Thế giới được thay đổi bởi Y…” trong khi hoàn toàn thiếu những chứng cứ thuyết phục. Tôi đã thực sự chán ngấy khi đọc những bài báo đưa tin về 1 sự kiện diễn ra ngắn ngủn đi kèm với 1 nhận định đầy chủ quan và nguy hiểm ở cuối bài rồi. Các bạn chắc hẳn cũng chẳng xa lạ gì với điều kể trên, vậy tại sao vẫn tiếp tay cho chúng bằng việc tiếp tục đọc những tin tức kiểu đó, những tờ báo kiểu đó?
Tin tức ức chế suy nghĩ
Suy nghĩ đòi hỏi sự tập trung. Muốn tập trung được bạn cần thời gian không bị gián đoạn. Tin tức được thiết kế đặc biệt để gây sao nhãng, cản trở việc tư duy của bạn. Tin tức làm cho tư tưởng của chúng ta trở nên nông cạn. Nhưng tin tức còn tồi tệ hơn cho khả năng ghi nhớ của bạn. Có hai loại bộ nhớ : ngắn hạn và dài hạn. Khả năng của bộ nhớ dài hạn (long-range memory) là gần như vô hạn, nhưng bộ nhớ ngắn hạn (working memory) có giới hạn rất nhỏ. Đường đi từ trí nhớ ngắn hạn đến trí nhớ dài hạn là một nút thắt cổ chai của quá trình tư duy, nhưng bất cứ điều gì bạn muốn hiểu và ghi nhớ đều phải đi qua. Bởi vì tin tức nhồi vào trí nhớ ngắn hạn quá nhiều thông tin, khiến nó trở nên quá tải, ta sẽ chẳng nhớ và hiểu nổi thông tin nào một cách đầy đủ và tường tận. Tin tức trực tuyến thậm chí còn tệ hơn. Trong một nghiên cứu năm 2001, hai học giả Canada cho thấy khả năng hiểu giảm khi số lượng các siêu liên kết (hyperlink) trong một tài liệu tăng lên. Tại sao vậy? Bởi vì bất cứ khi nào một liên kết xuất hiện, bộ não của bạn phải chia sẻ một ít trí năng của mình để phán đoán xem có click hay không. Nói cách khác báo chí và tin tức là một hệ thống được tạo nên với mục đích làm phân mảnh và rời rạc sự tập trung cũng như tư duy của bạn : Đọc mỗi thứ một tí, chỗ này một ít, chỗ kia một tẹo.
Tin tức thay đổi cấu trúc bộ não
Khi đã theo dõi một chủ đề nào đó, ta sẽ có xu hướng tìm đọc và cập nhật những diễn biến mới của câu chuyện đó. Hình ảnh một người đăng một post lên Facebook và refresh liên tục để xem có ai like hay bình luận gì không có quen thuộc với bạn không? Cảm giác chờ đợi thứ đó gì đó mới kiểu vậy không khác mấy cảm giác khi chúng ta nghiện thứ gì đó : thuốc lá, rượu, cờ bạc, ma túy… Trước kia các nhà khoa học nghĩ rằng cấu trúc vật lý của bộ não từ lúc trưởng thành cho tới lúc chết là không thay đổi , tuy nhiên điều này đã được khẳng định là không đúng. Bộ não người, kể cả những người trưởng thành đều rất mềm dẻo và dễ thay đổi. Nơron liên tục cắt đứt các kết nối cũ để hình thành nên các kết nối với nơron mới và cấu trúc vật lý của bộ não cũng như thói quen tư duy của chúng ta sẽ thay đổi theo. Càng nghiện thứ gì, thứ đó lại càng trở thành thói quen ưa thích, cách tư duy ưa thích của chúng ta. Ngày nay một vấn nạn dễ thấy đó là khả năng mất tập trung và khó tiêu hóa nổi những bài viết dài. Chỉ sau 5-10 phút đọc là chúng ta không thể tập trung để đọc tiếp được nữa, trong số đó có cả những người trước kia đã từng là độc giả trung thành của những quyển sách dày. Cấu trúc bộ não của họ đơn giản là đã bị thay đổi vì thói quen đọc báo.
Tin tức làm tốn thời gian vô ích
Nếu bạn đọc báo 15 phút mỗi buổi sáng, bạn sẽ lại tiếp tục tìm kiếm những tờ báo trong 15 phút buổi trưa, và chốc chốc mỗi 5 phút bạn lại thấy mình lên các tờ báo để tìm kiếm những thông tin mới. Cuối cùng bạn mất cả đống thời gian để tìm xem có gì mới hơn trên các tờ báo nữa hay không. Thời đại ngày nay, thông tin không còn là một thứ thiếu thốn nữa, nhưng sự tập trung thì có. Thông tin là vô hạn, nhưng thời gian của bạn thì luôn luôn là hữu hạn. Bạn sẽ chẳng bao giờ tiêu tốn một cách vô trách nhiệm với những thứ quan trọng khác như tiền bạc, sức khỏe hay danh tiếng của mình. Vậy tại sao lại hành xử thiếu trách nhiệm như vậy với thời gian và tâm trí đến vậy?
Tin tức giết chết sự sáng tạo.
Cuối cùng, những điều chúng ta đã biết hạn chế sự sáng tạo của chúng ta. Đây là một lý do khiến các nhà toán học, nhà văn, nhà soạn nhạc và doanh nhân thường tạo ra các tác phẩm sáng tạo nhất của họ khi còn trẻ. Bộ não của họ được hưởng một không gian rộng rãi và không bị chiếm chật ních bởi những thứ vô bổ, điều chẳng giúp ích gì trong việc kích thích họ sản xuất những ý tưởng mới lạ. Tôi không biết một tâm trí thật sự sáng tạo nào như nhà văn, nhà soạn nhạc, nhà toán học, bác sĩ, nhà khoa học, nhạc sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư hoặc họa sĩ mà lại là một người nghiện tin tức. Mặt khác, tôi biết một loạt các tâm trí độc ác không sáng tạo, những người tiêu thụ tin tức như thuốc phiện. Nếu bạn muốn đưa ra các giải pháp cũ, hãy đọc tin tức. Nếu bạn đang tìm kiếm những giải pháp mới, đừng đọc. Xã hội cần báo chí – nhưng theo một cách khác. Báo chí điều tra luôn luôn là cần thiết, để phơi bày những sự thật được che dấu mà chúng ta chưa được biết. Nó cũng đưa cho chúng ta biết về các chính sách mà các tổ chức, định chế quan trọng của xã hội đang thực thi. Nhưng các mẩu tin ngắn sẽ chẳng có giá trị gì. Các bài phân tích dài và các cuốn sách chi tiết là đủ cho chúng ta và một xã hội dân chủ có thể vận hành tốt. Tôi đã trải qua bốn năm mà không có tin tức, vì vậy tôi có thể nhìn thấy, cảm nhận và tường thuật những tác động của nó một cách trực tiếp và chân thực. Tâm trí cũng như cuộc sống của tôi ít gián đoạn hơn, ít lo lắng hơn, suy nghĩ sâu sắc hơn, nhiều thời gian hơn, nhiều hiểu biết thực tế hơn. Từ bỏ việc đọc tin tức không phải dễ dàng, nhưng nó đáng giá.
Elnino dịch
Nguồn: The Guardian
Nguồn dịch: http://bookhunterclub.com/tin-tuc-co-hai-cho-ban-tu-bo-thoi-quen-doc-chung-khien-ban-hanh-phuc-hon/

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

Tìm khoái lạc trong cơn đau

image
Jason McNabb, đương kim vô địch thế giới về môn ăn ớt, nói khi thi, ông có cảm giác như trong "địa ngục"

Đối thủ của ông đã từng khiến nhiều đối phương đau tim, tai biến và thậm chí chết người.
Thế nhưng Jason McNabb tỏ ra hết sức bình tĩnh trong lúc bước vào võ đài.

Tiếng còi vang lên.

Việc ra đòn diễn ra dồn dập khiến người hứng chịu phải chảy nước mắt, sưng môi và đổ mồ hôi.

image
Đây không phải một trận đấu bình thường. McNabb giờ đây đã nắm giữ kỷ lục thế giới về ăn nhiều ớt Bhut Jolokia nhất trong hai phút.

“Như thể có một đàn ong bắp cày ở trong miệng đang ra sức chích cùng một lúc. Cảm giác giống như địa ngục vậy,” ông nói.

image
Bhut Jolokia, hay còn gọi là ‘ớt ma’, có độ cay vào tầm hơn 1 triệu đơn vị Scoville - hay nói theo cách khác, nó cay hơn ớt jalapeno từ 200 đến 400 lần.


Đây là một trong những loại ớt cay nhất hành tinh, và bất cứ ai cắn một chút sẽ đều cảm thấy phải chịu đau đớn tột cùng.

Vậy vì sao người ta lại làm điều này với bản thân?

Cheezburger tv reaction water kids
Thường thì chúng ta tìm kiếm khoái lạc và tránh sự đau đớn. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy.

Một số người lại hứng thú với các hoạt động gây đau đớn như chạy bộ, massage bằng than hồng, xăm hình, xâu khuyên tai và thậm chí bạo dâm.

Với McNabb, cơn đau do ớt gây ra tạo ra một cảm giác thoả mãn giống như thức ăn, ma tuý hay tình dục tạo nên.

“Cơn đau dịu đi khá nhanh và thay vào đó là adrenaline và sự phấn khích mà những trái ớt mang lại,” ông giải thích.

running run fitness exercise fitblr
Mối liên kết giữa cơn đau và sự khoái lạc nằm sâu trong cấu tạo sinh học của chúng ta.

Tất cả các cơn đau sẽ khiến hệ thần kinh trung tâm giải phóng endorphin, protein giúp ngăn chặn cơn đau và có công dụng gần giống như thuốc morphine.

Mối liên hệ này có lẽ không phải là điều bất ngờ với những ai hay chạy bộ.

Sự nỗ lực vận động sẽ khiến glucose tiết ra acid lactic do thiếu oxy.

Loại acid này kích hoạt các thụ cảm thể trong các cơ bắp, và sau đó gửi thông điệp này đến não thông qua tuỷ sống.

Tín hiệu này được não diễn giải thành một cảm giác nóng bỏng ở hai chân, khiến người chạy chạy chậm lại hoặc dừng hẳn.

running fitness exercise fitblr
Nhưng đó là khi hệ thống đồi hải mã, trung tâm kiểm soát hệ thần kinh, được kích thích.

Cơ quan này phản ứng trước những tín hiệu chuyển tải cơn đau bằng cách tiết ra các chất endorphin ra cơ thể.

Loại protein này kích hoạt các thụ cảm thể thuốc phiện trong não và ngăn chặn các hoá chất tham gia vào quy trình chuyển tải tín hiệu về cơn đau. Điều này giúp ngăn chặn cơn đau.

Nhưng endorphin còn đi xa hơn nữa. Nó kích thích vùng rìa của não và bán cầu não trước, vốn thường được kích thích bởi tình yêu và âm nhạc.

Điều này tạo cảm giác khoái lạc sau cơn đau tương tự như khi say heroin hoặc morphin, vốn cũng kích thích thụ cảm thuốc phiện của não.

apple relax natalie dormer relaxed hammock
Thường thì người ta muốn tìm cảm giác dễ chịu, tránh phải chịu đau đớn, nhưng không phải lúc nào điều này cũng đúng.

Trong khi đó, cơn đau do tập thể thao cật lực cũng làm tăng một chất giảm đau khác trong cơ thể, anandamide.

Được mệnh danh là “chất sung sướng”, nó gắn liền với các thụ cảm thể cần sa trong não để ngăn chặn những tín hiệu chuyển tải sự đau đớn và thay vào đó bằng cảm giác khoái lạc giống như khi do cần sa tạo nên.

image
Hormon Adrenaline, vốn cũng được cơ thể sinh ra để phản ứng lại cơn đau, tăng cường sự phấn khích bằng kích tăng nhịp tim.

Cảm giác nóng bỏng ở chân được cho là nhằm ngăn chặn sự gắng sức, trong khi cảm giác ‘thấy phê khi chạy’ có thể đã giúp tổ tiên chúng ta chịu đựng những chuyến đi săn dài ngày.

Cảm giác khoái lạc sau cơn đau được cho là đã tiến hoá để giúp chúng ta chịu đựng vết thương.

Thế nhưng vì sao một số cơn đau là khiến chúng ta thích thú, trong khi một số khác lại chỉ đơn thuần hành hạ chúng ta?

Một trong các giả thiết là do chúng ta tìm kiếm cơn đau khi vẫn ý thức được rằng nó sẽ không mang lại hậu quả nghiêm trọng. Đây là điều mà động vật không thể làm được.

Một trong các ví dụ là ớt.

image
Một trong các thành phần chính của ớt, capsaicin, là vô hại.

Điều khiến ớt mang lại sự đau đớn là do capsaicin có khả năng kích hoạt TRPV1, một trong các cảm thụ thể nhiệt độ trong lưỡi của chúng ta, vốn báo động cho cơ thể trước nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh.

Việc TRPV1 được kích thích khiến não nhận được thông điệp giống như với lúc lưỡi của chúng ta thực sự cháy bỏng.

queen glitter bomb spicy oh god why habanero ashly burch
Hầu hết trẻ em đều tránh xa món ớt. Thế nhưng chúng dần dần học cách để thích món này qua nhiều lần thử, trong lúc chúng ý thức được rằng món này không gây nên những tổn thương cho cơ thể.

Thế nhưng lưỡi của những người mê ăn ớt cũng nhạy cảm giống lưỡi của tất cả những người khác.

Đó là một sự đam mê đặc biệt chỉ xuất hiện ở con người.

Các nhà khoa học đã thử tìm cách để khiến chuột mê ớt nhưng thất bại.

Các loại động vật có thể được huấn luyện để tự làm hại mình, với điều kiện điều này phải kèm theo một phần thưởng dưới dạng nào đó.

“Nói chung, khi động vật trải nghiệm một điều gì đó tiêu cực, chúng thường tìm cách né tránh,” Paul Rozin từ Đại học Pennsylvania giải thích.

Hành vi bạo lực là điều không khiến những người tham gia vào hoạt động tình dục bạo dâm ngạc nhiên.

Bà Alexandra, một người bạo dâm ở London, giải thích: “Chúng tôi phân biệt giữa cơn đau tích cực và tiêu cực. Những cơn đau tiêu cực cho thấy một điều gì đó không đúng, và là điều mà chúng tôi để ý thấy ngay lập tức. Còn những cơn đau tích cực thì đem tạo cảm giác khoái lạc.”

image
Giả thiết này cũng giải thích vì sao chúng ta tìm kiếm những trải nghiệm không mấy vui vẻ, như chơi tàu lượn siêu tốc hoặc xem những bộ phim buồn.

“Nếu cho một con vật nào đó đi tàu rồng nhào lộn đến chóng mặt, nó sẽ rất sợ hãi và không bao giờ đi lại một lần nữa,” Rozin nói.

Mối liên hệ giữa cơn đau vào tình dục không chỉ giới hạn ở giới bạo dâm.

movie sex fifty shades of grey anastasia steele bdsm
Một nhà nghiên cứu đã dùng máy quét cộng hưởng để theo dõi não của các phụ nữ khi họ đạt cực đỉnh. Kết quả cho thấy hơn 30 khu vực của não được kích thích, trong đó có cả những vùng đem lại cơn đau.

Một nghiên cứu khác cho thấy những người sống sót khỏi căn bệnh ung thư, vốn bị cắt tủy thần kinh để giảm cơn đau, mất khả năng đạt cực đỉnh. Chỉ khi cơn đau diễn tiến trở lại họ mới có lại khả năng đạt cực đỉnh.

Barry Komisaruk, từ Đại học Rutgers, cho rằng có một mối liên hệ giữa cơn đau và sự đạt cực đỉnh.

“Qua quan sát có thể thấy vẻ mặt của những người đạt cực đỉnh không khác mấy vẻ mặt của người đang bị đau đớn,” ông nói.

love video lana del rey dark singer
Một nghiên cứu về cách mà thuốc paracetamol tác động tới cảm xúc cho thấy loại thuốc giảm đau này không chỉ làm giảm sự đau đớn về tinh thần mà nó còn làm mờ nhạt đi cảm giác khoái lạc.

Đối với con người, có vẻ như cơn đau và sự khoái lạc đã luôn luôn bện vào nhau.


Zaria Gorvett

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

Vì sao người đánh bạc chẳng hơn khỉ

Chúng ta thường có những lựa chọn ngớ ngẩn khi đánh bạc, Tom Stafford nói vậy, nhưng nếu chúng ta quan sát loài khỉ hành động như thế nào trong cùng tình huống thì ta thấy cũng có lý do của nó.
Khi chúng ta đánh bạc, có cái gì khác lạ và hình như không hợp lý xảy ra.
Nó được gọi là ảo tưởng sai lầm về “vận đỏ”, một sự tin tưởng là sự may mắn sẽ đến theo chuỗi, và nó có thể làm bạn mất rất nhiều tiền.
Khi chơi roulette (cò quay) mà bạn vừa thắng thì cơ hội để thắng tiếp là không hơn không kém, nó vẫn đúng như thế. Nhưng con người có tâm lý không chấp nhận sự thật đó, và thường cứ đặt cược là chuỗi may mắn sẽ tiếp tục, tức có “vận đỏ”.
Một kiểu mê tín ngược lại là cho rằng hồi vận phải dừng, tin tưởng không đúng rằng những sự kiện may rủi độc lập phải rải đều.
Đó là ý nghĩ sai lầm của người đánh bạc và đã thành nổi tiếng ở Casino de Monte-Carlo vào ngày 18/8/1913. Hòn bi rơi vào ô đen 26 lần liên tục, và do sự lặp lại kéo dài nên những người đặt cọc vào ô đỏ mất hàng triệu đô la vì họ tin rằng cơ hội sẽ phải đổi đi sau chuỗi dài bi rơi vào ô đen.
Vì sao người ta lại hành động lặp đi lặp lại như vậy? Chúng ta có thể thấy bản chất thú vị này qua việc cũng cho khỉ chơi trò chơi may rủi. Nếu như loài vật có những lựa chọn ngớ ngẩn như chúng ta thì điều này có thể giúp chúng ta hiểu mình hơn.
Nếu bạn tung 10 lần liền đều là mặt phải (có hình đầu người) thì cơ may để có được một lần nữa cũng mặt phải vẫn chỉ là 50:50
Tuy nhiên trước tiên chúng ta hãy xem điều gì làm cho một số trò chơi có khả năng đặc biệt kích hoạt những hiệu ứng này. Nhiều kết quả của trò chơi là dựa vào yếu tố kỹ năng, do vậy sẽ được coi là có lý nếu đánh cuộc rằng, thí dụ, tiền đạo xuất sắc như Lionel Messi có nhiều khả năng ghi bàn thắng hơn là một hậu vệ ít làm bàn.
Tuy nhiên rất nhiều trò chơi chứa yếu tố ngẫu nhiên. Đối với những sự kiện hoàn toàn là ngẫu nhiên như trò chơi roulette (cò quay) hoặc xổ số thì sẽ không có yếu tố nào chi phối được khả năng lặp lại hay không lặp lại.
Hãy xét việc tung đồng xu: nếu bạn tung 10 lần liền đều là mặt phải (có hình đầu người) thì cơ may để có được một lần nữa cũng mặt phải vẫn chỉ là 50:50 (cho dù, tất nhiên, ở thời điểm trước khi bạn tung đồng tiền thì khả năng kỳ lạ có được 10 lần liên tục vẫn là rất nhỏ bé).
Đỏ bạc và đen bạc, cả hai thứ này đều cho thấy chúng ta có xu thế tin một cách vô lý vào sự phi ngẫu nhiên, như thể chúng ta không thể tin hoàn toàn là những đồng xu đó (hoặc những bánh xe roulette đó, hoặc quân bài đó) phải tuân thủ những cơ may như nhau tại mỗi lần tung xu, quay roulette hoặc chia bài.
Đó là một kết quả mà nó làm chúng ta cười nhạo sự phi lý của tâm lý con người. Nhưng kết luận có thể cần phải rà soát thêm.
Chơi trò may rủi giữa các loài
Khỉ thể hiện cùng một xu thế giống như người khu được khoa học giả thử nghiệm trong cách chọn may rủi.
Tommy Blanchard ở Trường Đại Học Rochester ở Tiểu bang New York cùng các đồng nghiệp có làm một thử nghiệm và thấy rằng các con khỉ khi chơi một trò chơi may rủi cũng bị khuynh đảo bởi xu hướng vận đỏ như con người.
Thử nghiệm của họ dùng ba con khỉ, khỉ dùng động tác đưa mắt sang phải hay trái trên màn hình máy tính để cho biết lựa chọn của chúng. Trong thử nghiệm chúng có hai lựa chọn trong đó chỉ có một lựa chọn là có thưởng.
Khi mà sự lựa chọn có thưởng là ngẫu nhiên, xác suất 50:50 giống như khi tung đồng xu, các con khỉ vẫn có xu hướng chọn lựa chọn vừa thắng xong, giống như thể sự may mắn sẽ tiếp tục và nối nhau theo một chuỗi dài.
Lý do mà kết quả thí nghiệm nay mang lại là rất thú vị vì loài khỉ không được dạy về lý thuyết xác suất. Chúng chưa bao giờ học lý thuyết ngẫu nhiên, hoặc ý thức được các ý tưởng phức tạp về cơ may.
Những lựa chọn của khỉ hẳn là phải dựa trên bản năng nào đó nguyên thủy hơn về sự thể trên thế giới này nó diễn biến như thế nào, chúng không thể thể hiện sự tin tưởng bất hợp lý về xác suất, bởi vì chúng không thể tin vào việc mà chúng biết là sai (như cách mà con người có thể tin) về sự may rủi hoạt động như thế nào. Ấy thế mà chúng thể hiện cùng một xu thế giống như người.
Các nhà nghiên cứu lập luận là điều đang diễn ra là thường sẽ có lợi khi hành xử theo cách này.
Phần lớn trong cuộc sống, chuỗi thành công hoặc thất bại đều có lý do của nó, có ngày bạn giao bóng quần vợt rất tốt, có ngày xe ô tô bị hỏng lung tung vì hệ thống máy móc phụ tùng là có liên quan tới nhau. Trong những trường hợp như trên thì nó thể hiện một thực tế rõ ràng và bạn có thể lợi dụng để phỏng đoán cái gì sẽ sắp xảy ra.
Một thí dụ áp dụng đúng với loài khỉ là thí dụ về thức ăn. Tìm được miếng ăn ngon như hoa quả chín là một sự kiện may rủi, nhưng cũng là sự kiện mà từng trường hợp lại không độc lập với nhau. Nếu thấy trên cây có một quả chín thì có khả năng tìm thấy thêm các quả chín khác trên cây.
Bài học suy rộng hơn đối với sinh viên học về bản chất tự nhiên con người là chúng ta không nên vội cho rằng cách hành xử như vậy là vô lý. Chắc chắn rằng với lòng tin gặp may có thể làm bạn đoán sai liên tục khi chơi tung đồng xu, hoặc tệ hơn, mất cả hũ tiền. Nhưng việc nghĩ rằng sự may mắn sẽ đến theo chuỗi hóa ra lại thường là có lợi hơn là có hại.
Bài gốc tiếng Anh đã đăng trên BBC Future

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

Nói chuyện về toán ứng dụng

Ngô Bảo Châu - Ngô Quang Hưng

Trong năm 2013, tôi có trao đổi với nhiều người về việc làm toán ứng dụng ở Việt Nam. Những cuộc trao đổi này đem đến cho tôi nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời, nhiều quan điểm tưởng chừng như không thể dung hoà được. Tôi có cảm tưởng rằng lý do một số người có những quan niệm hơi cực đoan là bản thân họ không làm toán ứng dụng, những gì họ phát biểu phản ánh mong ước của họ chứ không phải kinh nghiệm thực tế. Tôi có chia sẻ những băn khoăn của mình với anh Ngô Quang Hưng, một người làm toán ứng dụng đúng nghĩa, hiện công tác tại Khoa Khoa học Máy tính, Đại học Bang New York ở Buffalo. Tôi thấy cuộc trao đổi này đã rất bổ ích cho tôi và vì thế muốn chia sẻ nó với độc giả của Tia sáng.

1) Hè năm ngoái (2013), ở VIASM* đã có một cuộc tranh luận khá căng về việc làm toán ứng dụng ở Việt nam. Qua cuộc tranh luận này, tôi nhận ra rằng nhận thức chung về toán ứng dụng còn rất yếu, chủ yếu ở mức định kiến của những người không làm toán ứng dụng nghĩ về toán ứng dụng. Anh Hưng có thể chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm của mình trong việc làm toán ứng dụng ở Mỹ được không?

Mỗi lần đọc các tranh luận về Toán ứng dụng, Toán thuần tuý, và ứng dụng toán, tôi lại nhớ đến một tranh biếm hoạ ở xkcd (trang tranh biếm hoạ rất nổi tiếng trong đám làm máy tính). Tranh đại khái nói thế này: anh tâm lý học bảo chị xã hội học là xã hội học chẳng qua là tâm lý ứng dụng, chị sinh vật học bảo tâm lý học chỉ là sinh học ứng dụng, anh hoá học nói sinh học thì là hoá học ứng dụng, chị vật lý bảo tất nhiên hoá học là vật lý ứng dụng, và nhà toán học trố mắt nhìn nhà vật lý.

Nếu ta vẽ ra cái đồ thị ảnh hưởng lẫn nhau giữa các dòng tư duy thì ta có một cái rừng khổng lồ của tri thức nhân loại. Ta không thể lấy một cái cây ở đầu tây, và một cái cành ở đầu đông của rừng, xong rồi đặt câu hỏi và thảo luận về ảnh hưởng của cây tây sang cành đông.

Tôi nghĩ một vấn đề cốt lõi là một sự lệch pha giao tiếp giữa các nhà Toán học, các nhà khoa học, các doanh nghiệp, nhà quản lý, và công chúng nói chung. Chuyện này không có gì đáng ngạc nhiên khi mà bản thân giới Toán học cũng có những tranh luận về Toán thuần tuý và Toán ứng dụng. Ví dụ, cho đến những năm 50, 60 của thế kỷ trước thì không ít nhà Toán học còn không cho Toán tổ hợp là Toán “thật sự". Tình hình này đến nay đã được cải thiện phần nào, do Toán tổ hợp cộng các phương pháp xác suất đã có … ứng dụng nhiều nơi cả trong lẫn ngoài Toán.

Trách nhiệm chính để chỉnh pha giao tiếp nằm ở những người như anh và tôi: những người làm Toán, làm Toán ứng dụng, và ứng dụng Toán. Chúng ta cần tìm cách truyền đạt ba ý chính một cách thuyết phục.

Ý thứ nhất là Toán học và Khoa học nói chung (thế giới hay Việt Nam) sẽ phát triển phong phú nhất khi từng cái cây trong rừng tri thức được tự thân phát triển một cách hữu cơ, hay nói như anh trong hội thảo sơ kết là "Khoa học phát triển chủ yếu từ nội lực của nó". Một cách rộng hơn thì một xã hội sẽ vận hành hiệu quả khi nhiều người có cơ hội theo đuổi tự do sở trường và sở thích của họ. Khi anh được giải Fields, tôi đã thấy những câu hỏi kiểu như "thế công trình của anh Châu có ý nghĩa gì trong cuộc sống"? Một cách hơi khập khiễng, câu hỏi này có tinh thần giống như câu hỏi "tại sao Gary Kasparov lại không thi bơi với Michael Phelps?"

Ý thứ hai là lịch sử 2500 qua cho thấy sự phát triển hữu cơ -- tưởng chừng như bất định hướng -- của Toán học, lại có những ứng dụng kỳ diệu. Nhà Vật Lý Eugene Wigner đã tóm tắt sự kỳ diệu này trong một bài luận nổi tiếng hồi 1960, đề tựa tạm dịch là “Hiệu lực phi lý của Toán học trong các Khoa học Tự nhiên". Một ví dụ tuyệt vời là sự phát triển của số phức. Từ Cardano cho đến thậm chí cả Euler, căn bậc 2 của số âm là một thao tác hình thức. Thế mà số phức lại trở nên một thành tố không thể thiếu của điện từ, xử lý tín hiệu, cơ học lượng tử, v.v. Chúng ta không có điện thoại di động nếu không có số phức. Các ví dụ gần gũi hơn thì ta có thể đọc Richard Hamming trong bài “Hiệu lực phi lý của Toán học". Trong Khoa học Máy tính có vô vàn ví dụ. Những tranh luận mang đậm tính triết học về nền tảng của Toán học hồi đầu thế kỷ 20 đã dẫn đến công trình của Godel và Turing, đến lý thuyết hàm đệ qui, là nền tảng cho lý thyết tính toán, thuật toán, và cho nhiều ngôn ngữ lập trình. Có thể nói không ngoa là “trò chơi” phân loại các tập hợp vô hạn của Cantor lại góp phần không nhỏ vào sự thành lập mạng xã hội. Thế nên sẽ khá oái oăm khi người ta lên Facebook bằng iPhone, rồi hỏi Toán có ứng dụng gì trong cuộc sống không?

Ý thứ ba là nhiều người ngoại đạo không hiểu tầm quan trọng của Toán học vì thiếu một tư duy Toán, và điều này góp phần không nhỏ đến sự lệch pha. Ở đây trách nhiệm nằm ở hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học, và hoàn toàn không phải là vấn đề riêng của Việt Nam. Cách trình bày Toán kiểu Bourbaki dẫn đến hai vấn đề. Thứ nhất là những học sinh có tư duy logic tốt vẫn thao tác hình thức để làm bài được, nhưng đến khi “ra đời" thì không biết dùng các thao tác hình thức này vào các vấn đề cụ thể, kể cả khi thật sự có thể áp dụng được. Thứ hai, những học sinh thấy trò thao tác hình thức này là khô khan thì hoặc là chán không học, hoặc thậm chí phát triển một tâm lý sợ toán. (Tất nhiên ở đây ta loại ra các học sinh như anh Châu, cảm được mỹ học trong các patterns tưởng như chỉ có tính hình thức -- và do đó anh mới thành nhà Toán học!) Do thiếu tư duy Toán nên người ta không nhận thức được giá trị của Toán, và có rất nhiều vấn đề thường nhật đáng lý có thể giải quyết bằng Toán học thì họ cũng không nhận ra nốt. Xin lấy ví dụ, tôi đã nghe không ít lần các bạn làm quản trị nói rằng công việc hàng ngày của họ không cần đến giải phương trình bậc hai, cho nên mấy năm phổ thông è cổ tính đạo hàm tích phân thật là phí phạm. Thật đáng tiếc, và các anh chị bên ngành Khoa học Quản lý chắc phải nhăn nhó lắm khi nghe điều này: họ dùng phương trình vi phân để xây dựng mô hình kinh doanh hàng hoá, quảng cáo, giá cả, họ dùng quy hoạch tuyến tính và quy hoạch nguyên cho các vấn đề vận trù trong công ty, dùng các phương pháp thống kê hiện đại để phân tích dữ liệu khách hàng, dự toán kế hoạch marketing tương lai. Không thể có một doanh nghiệp tầm cỡ Amazon nếu họ không biết giải quyết các bài toán vận chuyển, đóng gói, và phân tích dữ liệu khách hàng bằng các công cụ Toán học và công cụ máy tính.

2) Trong cuộc thảo luận, tôi nhớ anh Hồ Tú Bảo có nói rằng cần phân biệt giữa toán ứng dụng và ứng dụng của toán. Trong toán ứng dụng, ta vẫn phải ấy ý tưởng mới độc đáo làm trọng tâm, công bố làm chỉ tiêu để đánh giá.Trong khi đó, đối vơi ứng dụng của toán, thì lại phải đánh giá bằng sự tiếp nhận của thị trường. Nếu đặt anh Hưng vào địa vị người quản lý khoa học, thì anh có phân biệt rạch ròi như thế không? Có thể chỉ đánh giá công trình toán ứng dụng chỉ bằng công bố hay không?

Thành thực mà nói, tôi không thích cụm từ “Toán ứng dụng". Người làm Toán khám phá ra chân lý và cái đẹp trong thế giới Toán học tuỳ theo sở thích. Việc chọn đề tài tuỳ vào cả sở trường lẫn thị hiếu Toán học. Thị hiếu Toán học thường được phát triển từ năng khiếu thẩm mỹ cá nhân và ảnh hưởng của dòng chảy tri thức chung của nhân loại. Và do đó, những đóng góp quan trọng bao giờ cũng có “ứng dụng", đối với người này thì là ứng dụng hình học đại số vào giải quyết một vấn đề số học, còn với người khác là ứng dụng số học để tạo ra bitcoin. Trong các ứng dụng như vậy, người làm Toán thường phải sáng tạo ra những kỹ thuật mới, định nghĩa mới, định lý mới, đóng góp vài nhánh cây vào cái rừng tri thức. Đối với tôi, vấn đề có phải là “Toán ứng dụng" không hoàn toàn không quan trọng. Cái quan trọng là bài toán và lời giải có “đẹp" không. Như Hardy từng nói: “không có chỗ vĩnh hằng cho Toán xấu xí". Cái đẹp và sự độc đáo có phần giao rất lớn, nhưng không hẳn là bằng nhau.

Nếu đặt tôi vào vị trí người quản lý, thì tôi sẽ nghiên cứu rất kỹ báo cáo của Vannevar Bush hồi 1945. Số là, cuối 1944, tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt (FDR) viết một bức thư gửi tiến sĩ Vannevar Bush, nguyên giám đốc phòng nghiên cứu và phát triển khoa học của chính phủ Mỹ. Trong thư, FDR đề nghị Bush viết một báo cáo chiến lược cho nhà nước Mỹ về việc làm thế nào để kích thích cách hoạt động nghiên cứu phát triển cả công lẫn tư, làm thế nào để cho các đầu tư nghiên cứu công tư hoạt động đồng bộ, kích thích các tài năng trẻ theo đuổi nghiên cứu khoa học cơ bản cũng như ứng dụng vào cải thiện cuộc sống. Không may là tổng thống FDR qua đời vàng tháng 4 năm 1945 do xuất huyết não. Phó tổng thống Henry Truman kế nhiệm. Tiến sĩ Vannevar Bush hoàn tất bản báo cáo và gửi cho Truman.

Tất nhiên câu trả lời của tôi đã lạc đề, đi ra ngoài vòng “Toán ứng dụng" mà nói đến đầu tư khoa học nói chung. Nhưng tôi tin rằng hai vấn đề này là một. Tôi thấy bản báo cáo của Vannevar Bush là một tuyệt tác, trả lời rốt ráo câu hỏi của anh.

Một trong những ý tưởng quan trọng nhất của bản báo cáo là “xem trọng nghiên cứu cơ bản”, “biết phân biệt nghiên cứu cơ bản và phát triển ứng dụng công nghệ”. Nhiều công ty lớn sau đó đã được tổ chức theo ý này: thành lập cả phòng nghiên cứu cơ bản và nuôi các khoa học gia làm “chuyện trên trời”. Ví dụ cụ thể là các nhà khổng lồ AT&T, IBM, Microsoft, hay Xerox, đều có các phòng nghiên cứu cực mạnh. Bell Labs của AT&T thắng 6 giải Nobel với các phát kiến như laser và con transistor. IBM có 3 giải Nobel. Palo Alto Research Centre của Xerox sáng chế nhiều thành phần không thể thiếu của máy tính cá nhân (con chuột, giao diện đồ hoạ, Ethernet). Đó là từ các doanh nghiệp tư. Còn từ đầu tư công thì bản báo cáo này đã đề nghị thành lập, và sau đó trực tiếp dẫn đến sự thành lập của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ (National Science Foundation, viết tắt là NSF) dựa trên National Science Foundation Act. Phần lớn các ngành nghiên cứu khoa học cơ bản của Mỹ đều dùng tiền của quỹ này là chính, mặc dù nó chỉ đóng góp khoảng 20% tổng số ngân quỹ liên bang tài trợ khoa học. (NIH, DARPA, DoD, DoE, v.v. đóng góp 80% còn lại. Riêng NIH, dành cho các ngành y sinh học, có ngân sách cực lớn, khoảng 30 tỉ USD một năm.) Đầu tư công vào nghiên cứu khoa học đã góp phần lớn dẫn đến sự ra đời của Internet.

Một cách ngắn gọn hơn cho câu hỏi của anh, giới chuyên môn đánh giá một công trình Toán học (“ứng dụng” hay không) bằng thẩm mỹ Toán học. Còn các nhà tài trợ, công hay tư, họ có cách đánh giá riêng của họ khi tài trợ cho đề tài. Anh A thì dùng thị phần, chị B thì dùng chỉ số ảnh hưởng, chuyện đó không nhất thiết là có liên quan đến chân trị của công trình Toán học.

3) Giả sử một đề tài ứng dụng rất tốt, rất hiệu quả,được thị trường tiếp nhận, tôi vẫn hơi băn khoăn về sản phầm đầu ra. Ví dụ như đó là một phần mềm có thể đem đi bán được, thì liệu việc dùng tiền ngân sách để làm ra một sản phẩm rồi sản phầm đó lại sinh ra lợi nhuận cho bản thân người làm đề tài thì có gì là mâu thuẫn không? Các nước khác người ta giải quyết vấn đề này như thế nào.

Tôi nghĩ không có gì mâu thuẫn cả. Kể cả khi ta tài trợ cho một nhà Toán học làm Toán thuần tuý thì cũng sinh lợi cho cá nhân nhà Toán học. Vấn đề là ta đánh giá lợi ích công thế nào khi nhà nước đầu tư vào một đề tài.

Nếu tính về lợi ích công thì giữa thành phẩm là một công ty tư nhân thành đạt (dùng tài trợ phần nào của nhà nước) hay thành phẩm là một định lý toán học mới, thì có lẽ công ty có lợi hơn cho xã hội (ít nhất là trong thời hạn ngắn, do thúc đẩy kinh tế và tạo công ăn việc làm). Vì thế, ở Mỹ người ta có chương trình SBIR/STTR để kích thích thương nghiệp hoá cho các công ty nhỏ cần những nghiên cứu rủi ro cao. Do các nghiên cứu có rủi ro cao (nghĩa là xác suất thành công thấp), các công ty nhỏ này khó tìm tài trợ từ các nhà đầu tư tư nhân. Trong khi đó, vai trò của nhà nước, cũng giống như trong việc tài trợ các nghiên cứu khoa học cơ bản, là giúp kích thích các nghiên cứu này để tạo các công nghệ mang tính khai phá (disruptive technologies).

Các chương trình SBIR/STTR ở Mỹ được kế hoạch rất cẩn trọng, chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên ít tiền, khoảng 150 nghìn usd trong 6 tháng, là để các cty minh chứng rằng ý tưởng của họ có khả năng khả thi. Giai đoạn hai, nếu minh chứng tốt trong giai đoạn 1, là phát triển ý tưởng chín hơn. Giai đoạn 3 là thương mại hoá sản phẩm thì không dùng tiền SBIR nữa mà họ sẽ đi tìm các nhà đầu tư tư nhân. Năm 2010, tổng đầu tư SBIR/STTR của các tổ chức chính phủ Mỹ như NSF, DARPA, DoE, vân vân, tổng cộng lên đến khoảng hơn 2 tỉ đô. Công ty bảo mật Symantec ra đời từ tiền SBIR.

Nội dung ngành công nghệ nào có SBIR thì tuỳ vào từng cơ quan tài trợ của nhà nước: họ xem ngành công nghệ nào họ cần công nghệ mới hoặc cần một ngành công nghiệp mới phát triển thì họ sẽ viết lời kêu gọi (solicitation) cho đề tài/công nghệ đó. Đây là một cách để nhà nước định hướng phát triển nghiên cứu R&D, đồng thời cho cơ hội thương mại hoá và kích thích kinh tế. Nhiều tiểu bang Mỹ cũng có các chương trình SBIR riêng để kích thích phát triển công nghệ và kinh tế địa phương.

Trong hoàn cảnh Việt Nam ta, còn có những cách khác. Ví dụ, một hợp đồng SBIR made in Vietnam có thể yêu cầu công ty đó phải mở mã nguồn sản phẩm của họ, hoặc để nhà nước đồng sở hữu bằng phát minh. (Điều này ở Mỹ cũng làm.)

4) Một người bạn làm bên dệt may có hỏi tôi tại sao VIASM không tổ chức nhóm nghiên cứu về bài toán xếp lịch công nhân. Ở các xưởng may, công nhân làm việc theo kíp, phải đủ kíp khoảng 10 người thì mới làm được, mỗi kíp phải một số công nhân thạo những công đoạn khác nhau. Mỗi khi công nhân nghỉ ốm làm quản lý nhức đầu. Bài toán này có lời giải tổng quát không, liệu có thể là một đề tài khoa học nghiêm túc hay không?

Những bài toán kế hoạch hậu cần kiểu này (logistic planning, operations) là những bài toán cực kỳ phổ biến trong tất cả các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp như hãng dệt may nọ. Về mặt lý thuyết thì bài toán tổng quát là NP-khó, nhưng như vậy không có nghĩa là nó không có lời giải -- chỉ là lời giải có thể phải cần nhiều tài nguyên và thời gian tính toán. Các hãng máy bay chẳng hạn, luôn luôn phải giải quyết các bài toán scheduling với nhiều ràng buộc như thế, và vấn đề của các hãng máy bay lớn phức tạp hơn bội phần. Ngoài ra, ta có thể thêm vào các vấn đề về thống kê và dự báo rất cơ bản mà doanh nghiệp nào cũng cần. Tôi nghĩ đây là một đề tài nghiên cứu rất thú vị và hữu ích, làm minh hoạ tuyệt vời cho sự liên kết của Toán Ứng dụng, Khoa học Máy tính, Xác suất thống kê và Vận trù học (operations research).

Ví dụ, ta có thể chia bài toán thành ba thành phần: phần giao diện người dùng, phần ngôn ngữ khai báo, và phần giải quyết bài toán.

Phần giao diện người dùng sẽ bao gồm một chương trình máy tính được thiết kế cụ thể cho từng công ty tại vì từng tổ chức có các yêu cầu khác nhau về bài toán họ cần, với các ràng buộc và giao diện khác nhau. Phần này sẽ phải được “khách hàng hoá” (customize) tối đa thì người dùng mới dùng được.

Phần ngôn ngữ sẽ có một ngôn ngữ dạng khai báo (declarative language) bao gồm cả thành tố của những ngôn ngữ ràng buộc (constraint programming language), ngôn ngữ xác suất (probabilistic programming) và các ngôn ngữ khác tuỳ theo ứng dụng. Phần này được thiết kế để cung cấp một ngôn ngữ máy tính cấp cao -- người bảo máy cái gì cần làm chứ không bảo máy là làm sao để làm. Ngôn ngữ này đóng vai trò trung gian, chuyển các yêu cầu của người sử dụng từ từ giao diện sang một ngôn ngữ thống nhất.

Phần ngôn ngữ cho phép ta “dịch" bài toán của người dùng thành một bài toán tối ưu, tìm kiếm, hay thống kê. Từ đây thì các nhà Toán học sẽ áp dụng hoặc sáng tạo các phương pháp tối ưu, thống kê, thiết kế thuật toán mới để giải quyết các bài toán này, và hiển thị lại kết quả cho người dùng.

Phần ngôn ngữ và phần giải quyết bài toán hoàn toàn có thể là sản phẩm công, mã nguồn mở. Phần giao diện có thể do các lập trình viên làm cho từng hãng xưởng. Đây sẽ là một dự án bao gồm từ những nghiên cứu cơ bản nhất của toán học đến giao diện ứng dụng. Những ai làm phần ngôn ngữ máy tính, toán tối ưu, thống kê, và thuật toán sẽ có thể đăng tạp chí như bất kỳ nghiên cứu khoa học cơ bản nào khác. Các tạp chí và hội nghị hàng đầu rất cần những phương pháp và thí nghiệm có dữ liệu thật, giải quyết các bài toán thật!

Tóm lại, câu hỏi của bạn anh không những có thể phát triển thành một đề tài nghiên cứu nghiêm túc, mà còn có thể thành một chương trình nghiên cứu nghiêm túc, miễn là ta nghĩ ra ngoài cái hộp là một hãng dệt may có 10 công nhân.

5) Qua câu trả lời của anh, tôi bắt đầu mường tượng được cách triển khai của một đề tài ứng dụng với những phân đoạn khác nhau, từng phân đoạn có sản phẩm với đặc thù riêng, hoặc là công bố khoa học, hoặc là sản phẩm công nghiệp. Nhưng tôi vẫn còn rất thắc mắc ở khâu đầu tiên: làm thế nào để đặt ra được đề bài đúng ngay từ đầu. Chắc chắc có rất nhiều bài toán mà thực tế sản xuất và cuộc sống đặt ra cho các nhà toán học, nhưng tôi ngờ rằng, không biết có đúng không, đa số các bài toán thực tế là không giải được, ít nhất là với mặt bằng khoa học Việt nam hiện nay. Tôi nghĩ rằng cần tìm ra những bài toán có thể không phải là bài toán cấp thiết nhất, nhưng trông ra có thể làm được, anh có đồng ý như thế không? Nếu có thì làm thế nào mà chọn ra được những bài toán như thế?

Trong một cuộc phỏng vấn, Picasso có nói đại ý rằng “máy tính thì hay ho gì, bọn nó chỉ có câu trả lời!” Hay như anh Sơn nói trong bài anh phỏng vấn anh Sơn: “hai kỹ năng cơ bản của người làm khoa học là tìm ra vấn đề hay và giải quyết được vấn đề".

Nói cách khác, anh có câu hỏi mấu chốt: chọn đề tài thế nào?

Ở đây, chúng ta có một điểm may mắn. Mặc dù đúng là đa số các bài toán thực tế là các bài toán khó -- có thể là quá khó -- nếu muốn giải quyết rốt ráo, nhưng câu trả lời cho chúng thường là một cái phổ rất rộng. Ở một bên của phổ là những lời giải cóp nhặt, vụn vặt, mang tính cơ bắp, giải quyết một góc vấn đề. Ở bên còn lại là một hệ thống lời giải đẹp, mang tính phổ quát và ứng dụng vào được nhiều lĩnh vực khác.

Anh lo lắng về cực khó của phổ. Tôi lo về cực dễ của phổ. Tôi lo rằng, nếu không có một quá trình chọn lựa và bình duyệt đề tài tốt, thì có thể chúng ta tiêu tốn vào những đề tài nghe choang choang nhưng lại có rất ít tính sáng tạo khoa học. Ví dụ, khi tôi tham gia các nhóm duyệt đề tài cho NSF, những đề tài trong phân ngành hẹp của tôi thì tôi biết ngay là dễ hay khó, đóng góp có độc đáo hay không, hay chẳng qua chỉ là một đề tài bổ củi. Thế nhưng đi xa khỏi phân ngành hẹp của mình thì bình duyệt một dự án trở nên khó khăn hơn. Các nhà nghiên cứu đã trở thành chuyên gia tung hứng từ ngữ, dùng những danh từ to tát, “nóng", như những anh bán hàng để hòng loè người không chuyên.

Ngược lại, khi ai nói là làm cái này cái kia “dễ” lắm, ta cũng nên nghi ngờ. Có rất nhiều thứ dễ trên giấy tờ nhưng không dễ trên thực tế. Lập trình một cấu trúc dữ liệu đã tồn tại 40 năm trong sách giáo khoa sao cho tốt là một vấn đề dễ trên giấy tờ, nhưng chỉ có những ai chưa từng làm điều này thì mới cho là nó dễ trên thực tế. Nói như thế có nghĩa là, anh rất nên nghi ngờ câu trả lời của tôi về đề tài hãng dệt may :-). (Về điều này thì tôi nói có cơ sở. Tôi đang cộng tác với một công ty làm một sản phẩm tương tự như tôi mô tả, về phần ngôn ngữ ràng buộc và phần giải quyết bài toán tối ưu.)

Vì những lý do trên, để chọn một đề tài ứng dụng cho tốt thì theo tôi ta cần ít nhất hai thành phần. Thành phần thứ nhất là việc xác lập một phạm vi ứng dụng, viết ra thành một chương trình kêu gọi đề tài (solicitation). Ví dụ, anh có thể xem một chương trình của DARPA về ngôn ngữ xác suất cho học máy (probabilistic programming for machine learning). Tôi lấy ví dụ chương trình của DARPA vì nó có tính ứng dụng cao hơn các chương trình nghiên cứu cơ bản của NSF. Thành phần thứ hai là một đội ngũ bình duyệt đề án hài hoà, bao gồm cả những người làm lý thuyết tốt (để biết bài toán dễ hay khó trên giấy tờ), những người làm thực hành có kinh nghiệm (để biết bài toán dễ hay khó trên thực tế), và có thể cả đại diện của ngành công nghiệp có liên quan (để biết bài toán có đáng giải quyết hay không). Xong rồi để cho họ cãi nhau ba ngày bốn đêm.

Thành phần thứ nhất khó hơn thành phần thứ hai, vì để xác định những chương trình nghiên cứu có giá trị, có cả tính ứng dụng cao lẫn giá trị khoa học phổ quát, thì ta cần một cá nhân có viễn kiến.

6) Theo anh thì các doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì, chọn hình thức đầu tư nào, để vừa phục vụ cho lợi ích của mình, vừa phát triển khoa học công nghệ trong đó có toán học? Tôi có cảm tưởng là hiện tại các doanh nghiệp vẫn chỉ dừng lại ở mức độ tiếp thu sản phẩm công nghệ, chế biến cho hợp nhu cầu của thị trường Việt nam hoặc đầu tư vào những thứ có thể gây tiếng vang.

Câu hỏi này quá tầm của tôi, nên chỉ bàn tán lan man hai ý.

Ý thứ nhất, tôi nghĩ câu hỏi này liên quan đến tư duy Toán học tôi đề cập ở câu hỏi thứ nhất. Điều mà một doanh nghiệp có thể làm là cải thiện kiến thức của họ về khả năng ứng dụng kỳ diệu của Toán học. Họ có thể làm điều này bằng cách tài trợ và tham dự các seminars, workshops, hay hội nghị Toán ứng dụng liên quan đến ngành công nghiệp của họ, để biết “trên thế giới này có cái gọi là A, B, C" có khả năng cải thiện nhiều khía cạnh trong doanh nghiệp của họ. Ví dụ, liên quan đến công nghệ thông tin, các hội nghị như SIGMOD (cơ sở dữ liệu), SIGGRAPH (đồ hoạ), SIGCOMM (mạng máy tính) có cực kỳ nhiều các nhà tài trợ là các công ty hàng đầu về cơ sở dữ liệu, mạng, hay đồ hoạ máy tính. Họ rất thường gửi nhân viên của họ đi báo cáo và tham dự, học hỏi thêm ở những hội nghị này. Nếu không tính việc học hỏi được gì, thì ít nhất họ cũng có cơ hội tìm nhân viên tốt ở những hội nghị như vậy.

Ý thứ hai, liên quan đến sự lệch pha tôi đề cập ở câu hỏi 1, các doanh nghiệp, trường đại học, và viện nghiên cứu nên có thêm nhiều kênh giao tiếp, trao đổi các vấn đề của nhau, học hỏi các giải pháp của nhau. Không nhất thiết là ta phải có hội nghị, báo cáo rình rang đăng báo tốn tiền. Ta có thể có các buổi gặp gỡ thân mật, không bia bọt, thuần tuý chia sẻ kiến thức. Sự giao thoa các sở thích và sở trường sẽ là một môi trường tuyệt hảo để phát triển ý tưởng, phát triển các công trình cộng tác giữa các bên.

7) Anh có lời khuyên nào cho tôi trong công việc triển khai nghiên cứu toán ứng dụng ở VIASM không?

Vấn đề này rất dễ trên giấy tờ và rất khó trên thực tế. Dù đã tin chắc anh sẽ thành công, vẫn thân chúc anh thuận buồm xuôi gió!

---

*Viện nghiên cứu cao cấp về Toán