Tổng số lượt xem trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Nguyên Giáp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Nguyên Giáp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

VẬT THẾ CHẤP CHO CÁC CƯỜNG QUỐC & 3 lần Trung Quốc thừa cơ thôn tính Hoàng Sa - 65 năm qua chưa có ĐBQH nào trình sáng kiến pháp luật

Ts Trần Công Trục: 3 lần Trung Quốc thừa cơ thôn tính Hoàng Sa

2013/12/19 08:11
(GDVN) - Trung Quốc đã manh nha âm mưu thôn tính quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ đầu thế kỷ 20.
Sắp tới thời điểm 40 năm trận hải chiến Hoàng Sa, Trung Quốc (TQ) đánh chiếm trái phép các đảo phía Tây và kết thúc việc thôn tính toàn bộ quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam, Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ có loạt bài ôn lại lịch sử mở mang bờ cõi, thực thi chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của cha ông, trong đó có phần trình bày lại trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 với những thông tin đầy đủ và chi tiết.
Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam xin trân trọng giới thiệu đến độc giả loạt bài “Hoàng Sa mãi mãi là lãnh thổ của Việt Nam” do Tiến sĩ Trần Công Trục gửi tới, vừa để ôn lại lịch sử mở mang bờ cõi, thực thi chủ quyền của cha ông ở Biển Đông, vừa nhằm  góp phần nhỏ vào công cuộc đấu tranh bảo vệ, gìn giữ và đòi lại chủ quyền hợp pháp của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa hiện nay.
Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ.
Trung Quốc đã manh nha âm mưu thôn tính quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ đầu thế kỷ 20, tham vọng bành trướng lãnh thổ vẫn liên tục được TQ ấp ủ trong suốt thời gian dài và chờ những lúc bối cảnh lịch sử thuận lợi đã thừa cơ chiếm đoạt từng phần tiến tới thôn tính toàn bộ quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền hợp pháp của Việt Nam.
Những ngày này cách đây 40 năm đã xảy ra một cuộc hải chiến không cân sức trên Biển Đông, giữa những người con Đất Việt bảo vệ Hoàng Sa với quân TQ. Tuy nhiên, không phải tới năm 1974 TQ mới đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam mà âm mưu thôn tính quần đảo này đã được Bắc Kinh ấp ủ từ lâu.
TQ đã nhảy vào chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam ngay từ đầu năm 1909, mở đầu là sự kiện Đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy 3 pháo thuyền ra khu vực quần đảo Hoàng Sa, đổ bộ chớp nhoáng lên đảo Phú Lâm, sau đó phải rút lui vì sự hiện diện của quân đội viễn chinh Pháp với tư cách là lực lượng được Chính quyền Pháp, đại diện  cho nhà nước Việt Nam về đối ngoại, giao nhiệm vụ bảo vệ, quản lý, thực thi chủ quyền tại quần đảo này.
Pháo thuyền Lý Chuẩn âm mưu thôn tính Hoàng Sa năm 1909. (Hình minh họa)
Lợi dụng việc giải giáp quân đội Nhật Bản thua trận trong Thế chiến 2 và Việt Nam vừa giành được độc lập và đang phải đối mặt với bộn bề khó  khăn, năm 1946 chính quyền Trung Hoa Dân quốc (Tưởng Giới Thạch) đưa lực lượng ra chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa và yêu sách “chủ quyền”. Khi Trung Hoa Dân quốc bị đuổi khỏi Hoa lục chạy sang Đài Loan, họ phải rút luôn số quân đang chiếm đóng bất hợp pháp ở phía Đông quần đảo Hoàng Sa. 
Tham vọng bành trướng lãnh thổ của người TQ trên Biển Đông vẫn không dừng lại mà chỉ chực có cơ hội là thừa thế đánh chiếm. Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương theo quy định của Hiệp định Geneva và trong khi chính quyền miền Nam Việt Nam chưa kịp tiếp quản quần đảo Hoàng Sa theo như thỏa thuận của hiệp định này, TQ đã thừa cơ đưa quân ra chiếm đóng bất hợp pháp nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa.
Cách đây 40 năm, một trận hải chiến không cân sức đã xảy ra trên Biển Đông khi TQ lợi dụng tình thế cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam bước vào giai đoạn nước rút đã thỏa hiệp với Mỹ để Washington khoanh tay đứng nhìn Bắc Kinh đem quân đánh chiếm các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa của dân tộc Việt Nam lúc đó đang do chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) quản lý.
Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Mao Trạch Đông năm 1972 trong chuyến đi lịch sử
Đầu những năm 1970, quan hệ quốc tế liên tục biến động và có nhiều thay đổi. Đặc biệt là chuyến đi lịch sử đến TQ của Tổng thống Mỹ Richard Nixon. Lợi ích của dân tộc Việt Nam đã bị các nước lớn đưa lên bàn đổi chác, trong đó Bắc Kinh đã yêu cầu Washington không can thiệp khi người TQ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1974, chính ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống VNCH đã nhận định rằng TQ sẽ đánh Trường Sa, thôn tính bằng vũ lực giống như những gì họ đã làm ở Hoàng Sa có sự tiếp tay hoặc làm ngơ của Mỹ.
Vào đầu năm 1974 cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam đang bước vào giai đoạn đoạn cuối. Trước đó, do bị thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã buộc phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam (27.1.1973), công nhận độc lập, chủ quyền vào toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, rút hết quân Mỹ, quân các nước phụ thuộc Mỹ, khỏi miền Nam Việt Nam.
Theo đó, Hạm đội 7 của Mỹ rút khỏi Biển  Đông. Lợi dụng cơ hội đó TQ đã huy động lực lượng thủy, lục, không quân tiến hành đánh chiếm nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa lúc đó đang do Hải quân VNCH quản lý.   
Những ngày trước trận hải chiến Hoàng Sa 1974, TQ đã bộc lộ rõ tham vọng, dã tâm bành trướng lãnh thổ, thôn tính nốt nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ở Hoàng Sa, TQ đã bày binh bố trận, bầu không khí trên Biển Đông đã bắt đầu nồng mùi thuốc súng.
Ngày 11 tháng 1 năm 1974, theo nguồn tin của Thông tấn xã AFP, VNCH đã biết được tin Ngoại trưởng TQ tuyên bố “chủ quyền” đối với quần đảo Hoàng Sa và “tố cáo” VNCH chiếm cứ bất hợp pháp quần đảo này. 
Trước tình hình đó, ngày 16 tháng 1 năm 1974, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH Vương Văn Bắc tổ chức họp báo tố cáo TQ huy động tàu chiến xâm phạm lãnh hải quanh các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà, Duy Mộng và đổ quân lên các đảo này.   
Hải đăng Việt Nam tại Hoàng Sa thời Pháp thuộc.
Phán đoán được âm mưu của TQ sẽ cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa, nên ngày 14 tháng 1 năm 1974, Bộ chỉ huy hành quân lưu động biển của VNCH ra chỉ thị, lệnh cho một chiến hạm đến quần đảo Hoàng Sa với nhiệm vụ đón viên Trưởng ty khí tượng bị bệnh nặng về Đà Nẵng và quan sát tình hình. Lực lượng cùng đi có 3 sỹ quan và 2 nhân viên thuộc BTL Quân đoàn 1- Quân khu 1 và một nhân viên Toà lãnh sự Mỹ tại Đà Nẵng tên là Cetald E.Kóh công tác trên đảo Hoàng Sa (Pattle) . 
6 giờ tối ngày 14 tháng 1, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ16) được lệnh rời Đà Nẵng đi Hoàng Sa.
Sáng ngày 15.1.1974, HQ16 đến Hoàng Sa, phát hiện thấy trên đảo Hữu Nhật (Robert) có cắm cờ TQ và gần đó có 1 tàu đánh cá TQ mang tên Nam Ngư, số 402. Đây là loại tàu đánh cá có vũ trang, đài chỉ huy ở giữa, 2 bên gắn ăng-ten cần loại PRC 25, vỏ tàu bằng sắt, mũi hình chữ V, trọng tải 130 tấn, trên boong trước có 3 xuồng cấp cứu nhỏ và 1 xuồng bằng sắt, vũ trang đại bác 25 ly. 
Nhân viên đài khí tượng đảo Hoàng Sa (Pattle) cho biết tàu đánh cá nói trên của TQ đến từ 10.1.1974 và trước đó khoảng 1 tháng cũng có 1 chiếc như vậy, nhưng đã rời khỏi đảo. Tàu HQ16 dùng quang hiệu yêu cầu tàu TQ rời khỏi đảo Hoàng Sa (Pattle), nhưng tàu này không đáp ứng. Tuy nhiên đến buổi chiều tàu TQ nói trên đã tự động rời khỏi đảo. HQ16 trở lại neo đậu tại đông nam đảo Hoàng Sa (Pattle) khoảng 1 hải lý. 
Sáng ngày 16.1, HQ16 rời đảo Hoàng Sa (Pattle) đi quan sát các đảo khác và nhận thấy đảo Quang Hoà đã bị chiếm đóng công khai, trên đảo có chòi canh, vọng gác cao, gắn cờ TQ. Một chiếc tàu vũ trang di chuyển quanh đảo. Tàu này rời Quang Hoà theo hướng tây bắc vào giữa buổi sáng. 
Đảo Duy Mộng không có người nhưng có 2 tàu nhỏ nên HQ16 rời Quang Hoà và Duy Mộng đến đảo Quang Ảnh và nhận thấy trên đảo có cắm cờ TQ. 16 nhân viên tàu HQ16 đổ bộ thám sát, phát hiện trên đảo có 6 nấm mộ, 4 cũ và 2 còn mới, trước mỗi mấn mộ đều có gắn bia đá và chữ TQ. Ngoài  ra còn phát hiện thấy 1 vỏ lựu đạn TQ, 1 chai rượu Suntory còn ít rượu, 1 hầm trống làm bằng thùng đạn. Nhân viên tàu HQ16 đã gắn 2 là cờ VNCH trước khi rời đảo về tàu. 
HQ16 tiếp tục di chuyển về phía đảo Hữu Nhật  phát hiện thấy ở tây nam đảo khoảng 1,5 hải lý có 2 tàu đánh cá vũ trang TQ neo cách nhau khoảng 20m mang số 402 và 407. Từ chiếc 407, quân TQ đang dùng xuồng di chuyển khoảng 1 trung đội sang chiếc 402.
Trụ sở hành chính Việt Nam tại Hoàng Sa trước 1945.
Biết được thực trạng trên, chiều ngày 16, Tư lệnh Hải quân VNCH chỉ thị cho BTL Hải quân Vùng 1 Duyên hải tăng cường ra Hoàng Sa tàu HQ4 chở theo một trung đội biệt hải, đồng thời chỉ thị cho HQ16 sử dụng 1 tiểu đội chiếm đóng đảo Quang Ảnh.
Mặt khác, BTL Hải quân Vùng 1 Duyên hải đã báo cáo tình hình trên về BTL Hải quân và BTL Quân đoàn 1- Quân khu 1 VNCH. 
BTL Hải quân VNCH chỉ thị cho khối hành quân và Bộ chỉ huy hành quân lưu động biển báo cáo sự kiện trên lên Bộ Tổng Tham mưu quân đội VNCH, đồng thời chỉ thị cho Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải trình bày trực tiếp với Tổng thống VNCH nhân khi ông ta đến thăm BTL Hải quân Vùng 1 duyên hải, ngày 16.1.1974. 
Tổng thống VNCH chỉ thị cho Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải, Phó đô đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, chuẩn bị chiến đấu để bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ. Đồng thời, ông cũng chỉ thị cho Thủ tướng Chính phủ VNCH triệu tập Hội đồng Nội các họp bàn về việc TQ xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa. 
Bài 2: Phát hiện TQ chiếm Hoàng Sa, VNCH chuẩn bị chiến đấu đòi lại chủ quyền

Tướng Giáp đã đúng về cuộc chiến 1946

Tướng Giáp nói rằng ông đã được lệnh tấn công, và sự việc đã không thể khác được. Tôi lại nghĩ rằng đó là nguyên cớ chỉ ra rằng Tướng Giáp đã đúng.
LTS: Trong cuộc hội thảo thứ ba trong Chương trình Hòa bình cho Đông Á của Đại học Upsalla, tổ chức vào 18.10.2013 tại Học viện Ngoại giao, có một sự cố đặc biệt. Tại lần thứ ba này, các nhà tổ chức đã thất bại trong việc mời một nhà lãnh đạo của Đông Á tham dự và phát biểu.
Giáo sư sử học Stein Tonnesson, người sẽ tham dự hội thảo đã có sáng kiến là thay vào bài diễn văn của một lãnh đạo Đông Á, ông sẽ trình bày một bài diễn văn về cuộc đời và những chiến tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người vừa từ trần ở tuổi 102, và được đồng ý.
Giáo sư Stein Tonnesson đã viết cuốn sách "Việt Nam năm 1946: Chiến tranh đã bùng nổ như thế nào", bản tiếng Anh ra đời năm 2010" với giả định rằng lẽ ra cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất có thể ngăn được, và Việt Nam đã bị "bẫy".
Tuần Việt Nam có cuộc phỏng vấn GS Tonnesson về giả định này.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lịch sử, chiến tranh, cuộc chiến 1946
GS Stein Tonnesson. Ảnh Huỳnh Phan
Cái bẫy chiến tranh
Tại sao Việt Nam và Pháp bỏ lỡ cơ hội ngăn cuộc bùng nổ chiến tranh cuối năm 1946, theo quan điểm của ông?
Việt Nam và Pháp đã ký Hiệp định sơ bộ vào 6.3.1946. Nhưng cuộc đàm phán để đi đến hiệp định này hoàn toàn không tự nguyện, bởi vì cuộc đàm phán này là do sức ép của Trung Quốc (chính quyền Tưởng Giới Thạch). Họ có quân chiếm đóng ở Việt Nam, và vẫn còn chiếm đóng miền Miền Bắc Trung Quốc.
Họ có thỏa thuận với người Pháp vào ngày 28.2.1946, khi họ rút quân ra khỏi Bắc Việt Nam, và cho phép người Pháp quay trở lại thế chân. Đổi lại, họ nhận được rất nhiều tiền từ người Pháp.
Nhưng quân Tưởng đã không biết rằng người Pháp đã chuẩn bị quay lại Việt Nam nhanh như thế, và muốn chiếm Việt Nam bằng vũ lực. Nhưng, với mong muốn như vậy, người Pháp cũng muốn thương lượng với chính phủ Hồ Chí Minh để được phép cập cảng ở Hải Phòng.
Chính quân Tưởng cũng đã yêu cầu Pháp phải thỏa thuận được với Chính phủ Hồ Chí Minh trước. Vì vậy, cả người Pháp lẫn người Việt đều bị Quốc Dân Đảng gây sức ép về việc ký hoà ước này.
Tướng Giáp đã trả lời ra sao khi ông đề cập về chuyện này?
Khi tôi hỏi tại sao hiệp định này lại không được thực thi đầy đủ, Tướng Giáp đã trả lời rằng nó được ký trong điều kiện với đầy sức ép như vậy, nhưng đã giúp Việt Nam có thêm thời gian củng cố thêm vị thế của mình.
Tức là Việt Nam được công nhận là quốc gia tự do, và họ chỉ cho phép Pháp ở lại tạm thời, sau đó sẽ đuổi quân Pháp ra.
Cuộc đàm phán tiếp theo ở Fontainebleau để tiếp tục những kết quả của hòa ước 6.3.1946, và làm tăng thêm tính độc lập của Việt Nam, đã không đạt được kết quả.
Thế nhưng, Hoà ước 6.3.1946 không bị dập tắt ngay, bởi Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản Pháp ở Pháp lúc đó nắm quyền, và họ không muốn có chiến tranh ở Đông Dương. Chính phủ Hồ Chí Minh cũng muốn tránh cuộc chiến tranh này, và họ đã đạt được hòa ước với Bộ Trưởng Thuộc địa Pháp, thuộc Đảng Xã hội.
Tuy nhiên, hòa ước này đã bị phá hoại bởi Cao ủy Pháp tại Sài Gòn Georges Thierry d'Argenlieu, một người được Đại tướng Charles de Galle, chứ không phải Đảng Xã hội bổ nhiệm.
Nhưng đến tháng 12.1946, trong một thời gian ngắn, Pháp có một chính phủ do André Léon Blum đứng đầu, và ông ấy muốn giữ hòa bình tại Đông Dương.
Hồ Chí Minh muốn chính phủ Pháp rút d'Argenlieu, Cao ủy Pháp tại Đông Dương, về, và bổ nhiệm một người khác tốt hơn. Nhưng chuyện đó đã không diễn ra.
Có một cuộc khủng hoảng chính trị ở Pháp thời điểm đó, và Tổng Tư lệnh Quân đội Pháp ở Đông Dương được lệnh ném bom Hải Phòng, giết hàng ngàn người ở đó. Từ đó, ở Hà Nội nổi lên phong trào tiêu diệt quân Pháp, xây dựng công sự và chuẩn bị chiến tranh.
Khi Pháp vào Việt Nam từ tháng 3.1946, quân Tưởng cũng đã rút đi. Hồ Chí Minh muốn giữ chặt mối quan hệ với André Léon Blum, lúc đó là Thủ tướng Pháp, và gửi hàng loạt bức điện tín, nhưng những người Pháp ở Sài Gòn, con đường duy nhất để các bức điện có thể sang Pháp, đã tìm cách trì hoãn những bức điện đó lại.  Trong khi đó, ngoài Hà Nội, người Pháp tìm cách phá hoại Hiệp định, và khiêu khích với mong muốn là Việt Nam sẽ tấn công trước.
Tướng Giáp cho rằng đã quá sức chờ đợi của Việt Nam về mặt thời gian, trong khi Hồ Chí Minh lại quyết định chờ đợi thêm với Chính phủ Blum, song song với việc chuẩn bị những chứng cứ về việc quân Pháp giết người ở Hải Phòng. Hồ Chí Minh muốn có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến tranh.
Và quyết định ngày 19.12.1946 ông đã gọi là "cái bẫy" của Pháp ở Đông Dương?
Đúng vậy. Và vào 19.12, Pháp đã tiến thêm một bước nữa, gửi điện tín cho phía Việt Nam, với hàm ý rằng Pháp sẽ tấn công. Và Tướng Giáp đã tin vào điều đó.
Nhưng Hồ Chí Minh cho đến phút chót vẫn nghĩ rằng ông có thể chờ đợi Blum, với quyết định không gây chiến?
Đúng vậy. Và Chính phủ Blum đã làm đúng như vậy. Có điều bức điện mà ông gửi chỉ đến Sài Gòn sau khi chiến tranh nổ ra. Bởi vì khi lên làm Thủ tướng, Blum đã gửi một phái đoàn hòa bình sang Việt Nam, và ngày 17.12.1946, trước cuộc chiến hai ngày là ngày ông ra quyết định.
Tôi nghĩ là có sự thiếu nhất trí trong việc tuyên bố chiến tranh trong nội bộ chính phủ Việt Nam, và có sự hiểu nhầm giữa chính phủ Pháp và Việt Nam, và cơ hội gìn giữ hòa bình đã bị bỏ lỡ.
Và ông đã hỏi lại Tướng Giáp chuyện này bao giờ?
Cuối năm 1991. Tướng Giáp nói rằng ông đã được lệnh tấn công, và sự việc đã không thể khác được.
Tôi lại nghĩ rằng đó là nguyên cớ chỉ ra rằng Tướng Giáp đã đúng. Tôi biết ở Việt Nam có những tài liệu nói về chuyện này, nhưng rất tiếc là những người nước ngoài như tôi không thể tiếp cận chúng.
Khi lần đầu tiên ông gặp Tướng Giáp, cảm giác của ông về vị tướng này thế nào?
Lần đầu tiên tôi xin gặp ông là cuối những năm '80, nhưng mọi cố gắng đã không đạt kết quả. Trước khi tôi quay lại Việt Nam cuối năm1991, tôi lại xin, và tôi đã được gặp ông.
Có một chuyện hơi buồn cười là tôi đi đến nơi hẹn, Nhà khách Chính phủ, nhưng những người ở Học viện Ngoại giao bảo tôi phải gửi xe ở gần đó, và lên xe ô tô của họ để vào gặp ông. Họ giải thích rằng một vị khách của Tướng Giáp phải như vậy.
Khi tôi vào phòng, chúng tôi ngồi đối diện nhau. Những người của Học viện Ngoại giao ngồi một bên, còn bên kia, phía Tướng Giáp, là những người phụ tá của ông. Tổng cộng cả phòng có chừng 50 người.
Ông bảo tôi đặt câu hỏi bằng tiếng Anh, và Tướng Giáp trả lời, và người phiên dịch sẽ dịch Anh - Việt và Việt -Anh. Nhưng tôi đã hỏi ông bằng tiếng Pháp, và ông cũng trả lời bằng tiếng Pháp, và người phiên dịch không có việc gì phải làm, giống hệt như cuộc gặp của tôi với GS Phan Đình Diệu vào năm sau.
Ấn tượng đầu tiên của tôi là tiếng Pháp của ông rất tốt. Nhưng ấn tượng mạnh hơn là ánh mắt của ông, ánh mắt của một người có bản lĩnh lớn.
Hồi đó tôi đã đọc cuốn "Những năm tháng không thể nào quên" của Tướng Giáp, và tôi muốn nghe ông giải thích về một số điều ông viết trong đó, cũng như cách ông kết thúc cuốn sách.
Đối với câu hỏi của ông về khả năng cứu vãn hòa bình cuối năm 1946, Tướng Giáp đã trả lời thế nào?
Khi câu chuyện chuyển sang năm 1946, Tướng Giáp nói rằng ông biết rằng tôi sẽ hỏi câu hỏi đó, và ông nói rằng phía Việt Nam đã chủ động tuyên chiến vào ngày 19.12.1946.
Sau đó, Tướng Giáp viết hồi ký của mình, gồm 3 tập, nói rõ những việc mà trong "Những năm tháng không thể nào quên" còn chưa nói rõ. Và ở cuối cuốn thứ 3, ông đã tranh luận về việc cuộc chiến đã xảy ra như thế nào ở miền Bắc, với các luận điểm của một học giả Pháp và một học giả Na uy.
Học giả Na uy là ông?
Đúng thế.
Nhưng tôi không cảm thấy hài lòng với giải thích của ông. Bởi qua đó tôi không thấy rõ ràng nguyên nhân chính của Lời Kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh.
Tướng Giáp còn đọc rất kỹ những gì đồng tác giả người Pháp và tôi nói, và ông thể hiện rõ quan điểm của mình chống lại những gì chúng tôi giả định.
Ông giả định điều gì?
Một quan điểm khác của tôi là nếu Việt Nam tránh khỏi cuộc chiến cuối năm 1946, sẽ không có cuộc chiến nào ở Việt Nam, kể cả cuộc chiến Đông Dương lần 2 (Chiến tranh Việt Nam), và con đường phát triển của chính trị và xã hội Việt Nam sẽ hoàn toàn di theo hướng khác. Và Việt Nam sẽ không quá phụ thuộc vào Liên Xô và Trung Quốc như thực tế đã diễn ra, và Việt Nam sẽ thực sự độc lập hơn nhiều.
Thế nhưng, cho đến bây giờ, ngay cả luận điểm này tôi cũng không tin.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lịch sử, chiến tranh, cuộc chiến 1946
Bìa cuốn sách của GS Stein Tonnesson
Việt Nam cùng lắm là hoãn chiến tranh được 10 tháng
Tức ông không tin vào điều mà ông đã giả định trong cuốn sách của mình?
Bởi nếu tránh được cuộc chiến cuối năm '46, Việt Nam vẫn sẽ vấp phải cuộc chiến, khoảng 10 tháng sau, vào năm 1947. Tôi đã suy nghĩ rất kỹ chuyện này, về phía Pháp, và đi đến kết luận rằng cuộc chiến chắc chắn sẽ xảy ra vào Mùa Thu 1947.
Bởi vì cuối năm 1946, người Cộng sản ở Pháp rất mạnh, có nhiều ảnh hưởng, thậm chí họ còn có các thành viên trong Chính phủ vào tháng 1 năm 1947. Và những đảng viên Đảng Xã hội cũng mạnh, và họ rất muốn giữ hòa bình.
Còn những người Dân chủ, tuy không ham thích chiến tranh lắm, nhưng họ phải chiến đấu vì những chiếc ghế trong Quốc hội, nên họ đã quyết định dừng lại tất cả những nhượng bộ với Việt Nam.
Và vào tháng 4 - tháng 5, năm 1947, những người Cộng sản bị mất ghế trong chính quyền, và cuộc chiến tranh lạnh thực sự đã diễn ra trên tầm quốc tế. Vì vậy, tôi kết luận rằng bên Pháp đã có phong trào chống lại Việt Nam, và chính phủ không còn nằm trong phe tả nữa. Như vậy, nếu Việt Nam tránh khỏi cuộc chiến cuối năm 1946, và tiếp tục đàm phán với Chính phủ Pháp, nhưng không có kết quả cho tới khi có cuộc thay đổi về chính trị ở Pháp mùa thu năm sau, với bất lợi lớn về phía Việt Nam.
Tức là cả trong hai trường hợp, Việt Nam không thể tránh được cuộc chiến tranh với Pháp, chẳng qua là nếu lùi lại được 10 tháng thì có thêm cơ hội chuẩn bị kỹ càng hơn cho cuộc chiến?
Đúng vậy. Và anh nói đúng, Việt Nam sẽ có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến, và kể từ đó tới khi Cách mạng Trung Quốc thắng lợi, Việt Nam sẽ phải chờ đợi ít thời gian hơn để có thể nhận được sự giúp đỡ của họ.
Hơn nữa, thế giới cũng biết thêm về Việt Nam, về những điều người Pháp gây ra ở Việt Nam năm 1946, và bản thân Hồ Chí Minh cũng được thế giới biết tới nhiều hơn.
Và với tư cách là một sử gia, tôi phải nghiên cứu mọi khả năng có thể xảy ra.
Ông có nghĩ là trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ ít phụ thuộc hơn vào Trung Quốc, để dẫn tới các hệ luỵ kèm theo, ví dụ như cải cách ruộng đất?
Vẫn như vậy thôi, bởi sự giúp đỡ của Trung Quốc với Việt Nam bắt đầu từ năm 1950, và Mao Trạch Đông công nhận nước VNDCCH (18.1.1950), rất nhanh trước khi Stalin làm việc này. Ông ta làm vì không muốn Pháp công nhận Đài Loan, và ông ta muốn gây xung đột với phương Tây, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương, và Trung Quốc sẽ được hưởng lợi từ đó.
Trong khi đó, Liên Xô không hề quan tâm tới Việt Nam.
Ý ông nói là Việt Nam từ lúc đó đã là con bài trong ván bài của Mao Trạch Đông?
Đúng. Bởi vì đối với Mao, cuộc chiến ở Đông Dương tốt hơn cuộc chiến ở bán đảo Triều Tiên, bởi Triều Tiên nằm gần vị trí trọng yếu của Trung Quốc. Trong khi đó, Stalin không muốn có một nước Trung Quốc mạnh, nên Stalin đã "gây ra" cuộc chiến ở bán đảo Triều Tiên", còn Mao thì phải trả giá với hàng triệu sinh mạng và vô số nguồn lực.
Nhưng nói gì thì nói, cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất là một yếu tố cấu thành của "chiến tranh lạnh"
Xin cảm ơn ông!
Huỳnh Phan (thực hiện)
 

“Thùng rỗng” của những kẻ tiếm danh chống Nhà nước

Đôi lời: Thật nực cười và thảm hại cho những kẻ tồn tại chỉ dựa vào bạo quyền mà không có chính danh và chính nghĩa.
Họ đang đối mặt với những cái được họ gọi là “thùng rỗng“, những kẻ “tiếm danh“, và “mặc dù mang danh là ‘diễn đàn’ nhưng lại chỉ một admin vô hình nào đó post chọn và post bài theo định hướng nội dung của nhóm nhân sĩ trí thức kia“, … ? Vậy thì làm sao phải hoảng hốt diễn trò “Đem xe cán châu chấu” đến vậy? Hết báo này tới báo khác, những “cơ quan ngôn luận” quyền lực nhất của đảng đều vào cuộc. Thậm chí còn thêm cả “khủng long” truyền thông là Thông tấn xã Việt Nam cũng ra quân, cùng một nhân vật VIP trong hàng ngũ lý luận của đảng, mà một bài viết của độc giả mới hôm qua đã ví như hành động “xuất tướng”. 
Đến như thế mà vẫn tịnh chẳng có một độc giả nào hưởng ứng những màn la lối, lăng nhục của họ (không có lấy một phản hồi). Trong khi với thứ “thùng rỗng” này, mới 3 tháng ra đời, bị dựng tường lửa chặn tứ tung, mà vẫn được độc giả gửi phản hồi, gửi bài vở, tin tức trao đổi, hưởng ứng nhiệt liệt. 
Lại thêm một kiểu “Gậy ông đập lưng ông”!
BT
——
Công an nhân dân
09:58:00 18/12/2013
Đinh Hương

Kể từ khi có một kẻ tiếm danh phục hồi Đảng Dân chủ gây sự phẫn nộ từ chính những đảng viên từng sinh hoạt trong Đảng Dân chủ trước đây, đến nay ngày càng nảy sinh thêm nhiều người xem sự tiếm danh làm phương thức vận động, đấu tranh cho cái gọi là “Phong trào dân chủ Việt Nam”. Nhưng thực ra, đây chỉ là một nhóm cá nhân chưa đến chục người hùng hồn tuyên bố trên Internet, chứ chưa thể gọi là phong trào, lại càng không kích thích được đời sống dân chủ.
Nhóm 103 người ký tên phản đối Điều 258 BLHS cũng tiếm danh cộng đồng blogger Việt Nam đã khiến các blogger trên mạng nổi giận, lên án hành vi này là mạo nhận danh xưng cộng đồng nhằm chiêu dụ thành phần chống đối đất nước, lòe bịp các tổ chức quốc tế. Mang danh là “Mạng lưới blogger Việt Nam” nhưng họ không làm gì hết ngoài chửi bới và đòi hỏi, trong khi đa phần các blogger đó không quan tâm gì đến Điều 258. 103 blogger không thể đại diện cho cả một cộng đồng. Bởi vậy trên mạng lưới facebook giờ đây, người ta biết đến một nhóm blogger có tên gọi “Hội những người phản bác tuyên bố 258” luôn có bài viết vạch trần các chiêu trò, thủ đoạn gian manh của nhóm có danh xưng “Mạng lưới blogger Việt Nam” kia.
Gần đây nữa là sự xuất hiện cái gọi là “Diễn đàn xã hội dân sự” do nhóm người tự xưng là nhân sĩ trí thức điều hành. Nói là diễn đàn quy tụ các nhóm hội xây dựng xã hội dân sự, nhưng thực chất chỉ là “diễn đàn” cho một số kẻ chống Nhà nước, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thay đổi thể chế chính trị hiện hành là chính. Mặc dù mang danh là “diễn đàn” nhưng lại chỉ một admin vô hình nào đó post chọn và post bài theo định hướng nội dung của nhóm nhân sĩ trí thức kia.
Qua đó có thể thấy không những ở đây không phải diễn đàn mà cũng chẳng hề có tính “dân sự” như họ hùng hồn tuyên bố. Bởi vậy mà diễn đàn này, thêm một nhóm nữa, cũng tiếm danh các tổ chức, hội nhóm dân sự trong nước không ngoài mục đích thùng rỗng kêu to, khuyếch trương cho cái gọi là lực lượng chính trị đối lập “ảo” trên mạng Internet.
Lấy sự tiếm danh là phương thức vận động xã hội tất yếu dẫn đến sự “danh không chính, ngôn không thuận”, không chỉ gây ra phản ứng của dư luận bị tiếm danh, mạo nhận mà còn khiến cho chính nội bộ các hội nhóm này ngày một tự phân hóa, lèo tèo dần đi. Cũng vì thế mà các vở diễn dở khóc dở cười mà các diễn viên thủ vai chính lại là những kẻ khởi xướng đang trở thành trò cười, câu chuyện tiếu lâm trên mạng Internet cũng ngày một nhiều hơn.
Thời nào cũng vậy, dù chiếc áo khoác có mỹ miều, đẹp đẽ đến đâu, như “đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “xây dựng xã hội dân sự” của những kẻ tiếm danh, “vô danh tiểu tốt” cũng chẳng che đậy được bản chất vụ lợi, cơ hội bên trong là vì thế. Vì thế, họ sẽ chuốc lấy sự thất bại và bài xích của những người chân chính.
Đ.H

VẬT THẾ CHẤP CHO CÁC CƯỜNG QUỐC

Bài đọc liên quan:
+ Phép thử chính trị
+ Ao làng biển Đông

Hôm nay ngồi xem lại clip Thông tấn xã trung ương Bắc Hàn - KCNA: KOREAN CENTRAL NEWS AGENCY of DPRK(Democratic People's Republic of Korea) - đăng tải hồi tháng 7/2012 - khi mà ông cựu TT Lee Myung Bak còn tại nhiệm - về câu chuyện ông Ro Su Hui sau khi vượt biên giới vĩ tuyến 38 để tham gia ngày giỗ 100 ngày sau khi Kim Jong Il qua đời. Ông Ro Su Hui là Phó chủ tịch Ủy ban Thống nhất Nam Bắc Hàn của chính quyền Nam Hàn. Ông Ro đã được ông chủ tịch cửa khẩu Pomminryon bên phía Bắc Hàn là Choe Jin Su đưa tiễn về lại Nam Hàn sau giỗ 100 ngày của Kim Chính Nhật. 
Khi sang bên phía Nam Hàn ở cửa khẩu Pomminryon, ông Ro Su Hui hô khẩu hiệu rằng: "Đả đảo nhóm những kẻ phản bội Lee Myung Bak". Khi ông sang lại Nam Hàn thì ông bị an ninh Nam Hàn bắt đi. Dân Bắc Hàn đứng bên kia cửa khẩu Pomminryon vẫy cờ thống nhất Liên Triều và hô khẩu hiệu: "Hãy để Ông Ro Su Hui về nhà!" và "Chính quyền bảo thủ của Mỹ và Nam Hàn phải ngưng hành động vi phạm nhân quyền một lần nữa khi bắt Phó Chủ tịch Ro Su Hui!"
Qua đó ta thấy có 3 điều cần suy nghĩ:
1. Cả ở Nam và Bắc Hàn điều có những người mong muốn thống nhất Liên Triều. 
2. Mặc dù sống ở một chế độ tự do dân chủ của Nam Hàn, nhưng vẫn có những công dân có chức tước kính trọng ông cố chủ tịch Kim Jong Il, đặc biệt với ông Ro Su Hui là phó chủ tịch Ủy ban Thống nhất Liên Triều là người am hiểu rất rõ tiến trình đàm phán để thống nhất Liên Triều, thể hiện sự kính trọng và mong muốn thống nhất Nam Bắc Hàn. Chẳng những thế, ông Ro Su Hui còn tỏ thái độ gọi tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là thành phần phản động. Nó chứng tỏ, không phải chỉ Kim Chính Nhật có lỗi trong việc thống nhất Nam Bắc Hàn, mà chính phủ diều hâu Lere Myung Bak cũng góp phần vào việc Nam Bắc Hàn không thống nhất được.
3. Vấn đề Liên Triều thống nhất không phải chỉ 2 chính quyền của Bắc và Nam Hàn quyết định, mà có thể Trung Hoa, Mỹ và Nga là những cường quốc quan trọng quyết định. Cũng giống việc miền Bắc Việt Nam nuốt Nam Việt Nam cũng do Mỹ Nga và Trung Hoa quyết định trên bàn cờ chính trị thế giới.
Câu chuyện Nam Bắc Hàn thông qua chỉ một clip 2'21", nhưng nó nhắc chúng ta một nguyên tắc cơ bản của các quốc gia nhỏ bé rằng không bao giờ có độc lập tự chủ thực sự, khi có chung đường biên giới với 1 cường quốc bẩn thỉu. Ngay cả Nam Hàn hiện nay là đồng minh Hoa Kỳ, có nền kinh tế hùng cường đứng thứ 12 toàn cầu với chỉ dân số và diện tích chỉ bằng 1/2 so với Việt Nam, nhưng cũng không quyết định được sự thống nhất quốc gia anh em bị chia cắt.
Clip của Thông tấn Trung Ương Bắc Hàn quay lại cảnh ông Ro Su Hui - phó chủ tịch Ủy ban Thống nhất Liên Triều - phản đối chính quyền Nam Hàn tại cửa khẩu Pomminryon và bị bắt khi về bên nay Nam Hàn
Ngày ấy, lịch sử phân tranh Nam Bắc Việt cũng có những cuộc đi đêm giữa chính quyền Hồ Chí Minh ở Bắc Việt với chính quyền Ngô Đình Diện ở Nam Việt, thông qua những cuộc gặp gỡ giữa ông Ngô Đình Nhu và ông Phạm Hùng ở khu rừng Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy - bây giờ là huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận. Cả hai phía Nam Bắc Việt Nam đều muốn hòa bình thống nhất. Nhưng lý do vì đâu mà không thành. Cuối cùng, lịch sử đã ghi dấu dòng họ Ngô bị Hoa Kỳ giật dây để tướng Minh lớn thủ tiêu và lật đổ.
Khi chính quyền đệ nhị Cộng Hòa sụp đổ vào ngày 30/4/1975. Những ai nhức nhối với lịch sử nước Việt trong nội chiến đều hiểu rõ: Hoa Kỳ, Nga và Trung Hoa đóng vai trò quyết định việc Bắc Việt "thắng" Nam Việt thông qua cuộc mua bán giữa Mao Trạch Đông và Nixon trong Thông Cáo Thượng Hải 1972. Và sau đó là, ký kết Hiệp định Paris 1973 với nội dung Hoa Kỳ rút quân về nước, hai miền Nam Bắc phân chia ranh giới, ngưng chiến để dân chúng làm ăn. Nhưng Bắc Việt đã vi phạm Hiệp Định Paris, và Hoa Kỳ làm lơ để Trung Hoa chiếm lấy Hoàng Sa vào năm 1974. Sau đó là 30/4/1975 lịch sử làm dấu mốc nhân dân Việt Nam thoát nội chiến, nhưng toàn Đông Dương lại mắc vào một cổ 3 tròng: chính quyền Hà Nội, Liên Xô cũ và Trung Hoa, sau khi đã nồi da xáo thịt hơn 5 triệu sinh linh nước Việt. Quả là đau lòng!
Nam Bắc Hàn rồi sẽ thống nhất dưới triều đại Kim đệ Tam - Kim Chính Ân. Nhưng để đi đến thống nhất sẽ là sự mặt cả giữa tam quốc phân tranh: Nga, Hoa Kỳ và Trung Hoa là điều chắc chắn. Song vấn đề là, khi bỏ Nam Việt Nam để lấy Trung Hoa chống lại Liên Xô, và 18 năm sau Liên Xô Đông Âu sụp đổ, thì bây giờ, để đổi lấy thống nhất Liên Triều, Hoa Kỳ phải đổi lại cái gì cho Trung Hoa? Liệu có phải là Biển Đông và Đông Dương một lần nữa được đưa vào làm vật thế chấp, khi mà biển Đông chỉ là cái ao làng, và Việt Nam chỉ là con cờ không giá trị đối với Hoa Kỳ trong lúc này?

Chính vì thế mà, chúng ta không lấy làm lạ gần đây Việt Nam và Trung Hoa rất thân thiện trong cả việc nhất định không sửa đổi hiến pháp 2013, và nhiều chuyến viếng thăm con thoi giữa 2 bên, những lời hứa Việt Nam trung thành với Trung Hoa, và kể cả việc Việt Nam từ chối gia nhập TPP. Và một điều đáng lưu ý là người Nga bỏ của chạy lấy người ở cảng Cam Ranh tháng 6/2001, thì 12 năm sau họ quay lại cảng Cam Ranh, trong khi đó, từ thời TT Bush vào tháng 12/2007, ông Đô Đốc tư lệnh Thái Bình Dương - Robert Lucius - đã khẳng định: Hoa Kỳ dứt khoát là không quan tâm đến cảng Cam Ranh.

Nếu như vật thế chấp của các chính trị gia ở các nước nhược tiểu là nhân dân, hoặc con cái của vua quan triều đình của quốc gia này, thì vật thế chấp chính trị toàn cầu cho các cường quốc lại là chính các quốc gia nhược tiểu. Đó là nỗi đau của các dân tộc có quốc gia cùng đường biên giới với các cường quốc gian hiểm và bẩn thỉu như Trung Hoa, Nga và Hoa Kỳ.

65 năm qua chưa có ĐBQH nào trình sáng kiến pháp luật

TTO - Đó là nhận định của TS. Võ Trí Hảo - ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh khi báo cáo kết quả nghiên cứu chuyên đề hoàn thiện cơ sở pháp lý về cơ chế thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật của đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tại Hội thảo Báo cáo kết quả nghiên cứu chuyên đề do Viện Nghiên cứu Lập pháp tổ chức ngày 18-12 tại TP.HCM.

Ông Hảo cho hay trong suốt 65 năm tồn tại của quốc hội chưa có ĐBQH nào chính thức trình sáng kiến pháp luật.
Giải thích nguyên nhân của hiện tượng này, ông Hảo cho rằng ĐBQH Việt Nam có nhu cầu trình sáng kiến pháp luật nhưng nhu cầu chưa nhiều, chưa có động lực, áp lực bởi có sáng kiến hay không có sáng kiến pháp luật đại biểu vẫn được tái cử.
Mặt khác, VN ảnh hưởng bởi văn hóa nho giáo, trọng ý kiến tập thể không trọng ý kiến cá nhân. Nếu một cá nhân ĐBQH trình sáng kiến pháp luật của riêng mình thì bị coi là chơi trội.
H.ĐIỆP – B.HÀ

Bitcoin: Đồng tiền tương lai hay bong bóng tài sản?

Chủ Nhật, 15/12/2013, 18:17 RSS Gửi email In tin
Các nhà quản lý vẫn đang tìm cách quản lý đồng tiền này sao cho hiệu quả nhất, nhưng trong khi cơn sốt bitcoin lên đến đỉnh điểm, những lời cảnh báo được đưa ra ngày càng nhiều.

Từng là nơi cất trữ tài sản của những kẻ nghiện công nghệ hoặc buôn lậu ma túy, giờ đây đồng tiền ảo bitcoin không chỉ được sử dụng để mua hàng hóa trực tuyến mà còn có thể dùng để đóng học phí tại đại học Nicosia.

Có giá trị gần như bằng 0 cho tới tháng 4/2011, giờ đây bitcoin đã được giao dịch ở mức 1.000 USD/bitcoin. Các nhà quản lý vẫn đang tìm cách quản lý đồng tiền này sao cho hiệu quả nhất, nhưng trong khi cơn sốt bitcoin lên đến đỉnh điểm, những lời cảnh báo được đưa ra ngày càng nhiều.

NHTW Pháp chỉ trích bitcoin, cho rằng đồng tiền này mang tính đầu cơ quá cao. Trong khi đó, Trung Quốc cấm các công ty tài chính thực hiện giao dịch bằng bitcoin.

Cơ quan giám sát ngân hàng của Liên minh châu Âu cũng phát đi lời cảnh báo đến những người sử dụng bitcoin, cho rằng họ nên nhận thức và hiểu hết được các đặc tính của đồng tiền này.

Mặc dù Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ Ben Bernanke cho rằng tiền ảo có thể có một tương lai đầy hứa hẹn, người tiền nhiệm của ông là Alan Greenspan lại gọi bitcoin là một bong bóng.

Năm 2009, bitcoin được một người (hoặc một nhóm người) có biệt danh Satoshi Nakamoto tạo ra thông qua những thuật toán siêu phức tạp. Không giống như các đồng tiền pháp định khác, bitcoin không được hỗ trợ bởi hoạt động kinh tế của một nước cũng như không được phát hành bởi bất kỳ nhà nước nào.

Trang web chính thức của bitcoin nói rằng “tất cả những điều cần thiết để một dạng tiền tệ giữ được giá trị là lòng tin và sự thích nghi”. Trong trường hợp của bitcoin, hai tiêu chuẩn này có thể được đo lường bằng việc ngày càng có nhiều người sử dụng bitcoin. Giống như tất cả các loại tiền tệ, giá trị của bitcoin được tạo ra trực tiếp từ những người sẵn sàng chấp nhận nó như một phương tiện thanh toán.

Với khoảng 12 triệu bitcoin đang lưu hành, giá trị vốn hóa của đồng tiền này vào khoảng 10,57 tỷ USD. Tối đa sẽ có 21 triệu bitcoin được tạo ra.

Mới đây, Đức đã quyết định hợp pháp hóa, coi đây là một loại tiền tệ. Đồng nghĩa với việc này là người ta có thể đánh thuế lên bitcoin. Trong khi đó, Bank of America gọi đây là một công cụ quan trọng trong thương mại điện tử.

Đồng tiền ảo có thể dễ dàng được chuyển trực tiếp giữa các điện thoại thông minh và giữa các máy tính. Tuy nhiên, chính điều này tạo nên lo ngại về hoạt động tội phạm hoặc khủng bố.

Hồi tháng 9 vừa qua, bitcoin gây xôn xao khi chính phủ Mỹ quyết định đóng cửa Silk Road – nơi có thể buôn lậu ma túy và các hàng hóa bất hợp pháp khác bằng bitcoin. Số bitcoin trị giá 3,6 triệu USD đã bị thu giữ - lớn nhất kể từ trước tới nay.

Tuy nhiên, chính sự kiện này lại khiến bitcoin giành được nhiều chú ý từ thế giới thực.
Các nhà đầu tư cá nhân hào hứng với bitcoin, được tiếp thêm cảm hứng từ những ví dụ điển hình như chàng trai người Na Uy chứng kiến 24 USD biến thành 690.000 USD sau 4 năm.

NHTW Pháp nêu ra những rủi ro tương tự, cho rằng vì đây là đồng tiền đầu cơ, người sử dụng đứng trước những rủi ro nhất định về mặt tài chính. “Kể cả khi biến động quá mạnh là cơ hội để nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ hay tổ chức chuyên nghiệp kiếm lời, họ nên nhận thức được những rủi ro”, NHTW Pháp viết trong thông báo. Thêm vào đó, khả năng chuyển đổi của bitcoin không được đảm bảo và rất có thể nhà đầu tư sẽ mất trắng khoản tiền đã đầu tư.

Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn nhất thế giới giành cho bitcoin. Đứng trước cơn sốt này, chính NHTW Trung Quốc đã phải ra lệnh cấm. “Bitcoin là một hàng hóa ảo, về mặt pháp lý không được coi là một loại tiền tệ và do đó không nên và không thể được sử dụng trên thị trường”.

Dẫu vậy, người đứng đầu BTCChina – sàn giao dịch bitcoin lớn nhất ở Trung Quốc – vẫn cho rằng tiền điện tử là một lựa chọn đầu tư mới cho người dân Trung Quốc (vốn là đất nước của những người tiết kiệm). Bobby Lee cho rằng bitcoin là một tài sản toàn cầu ngang hàng với các tài sản đầu tư khác như vàng, cổ phiếu và bất động sản.

Theo Thu Hương
 Trí Thức Trẻ/Business Insider

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

Chống tham nhũng, nói ra chỉ để mà nói

Hội nghị lần thứ 6, quốc hội khoá 13 của CHXHCN Việt Nam lại có vẻ sôi động và nóng với chủ đề chống tham nhũng. Nhiều giải pháp được đưa ra như tập trung chiến dịch “bắt hổ”, đánh thẳng vào “tử huyệt” của tham nhũng, trao “bảo kiếm” cho cơ quan chuyên trách... Bất khả kháng với căn bệnh nan giải

Thế nhưng chuyện bàn để mà bàn, nói để mà nói, hệ thống chính trị Việt Nam đã bất khả kháng với căn bệnh ung thư và nan giải này.

Bà Lê Thị Nga, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội thừa nhận "tham nhũng là vấn nạn, là giặc nội xâm, là đe dọa đến sự tồn vong của chế độ" nhưng chống nó thì "quá nhiều kỳ vọng không thực tế".

"Chúng ta dường như quá kỳ vọng vào tự chống, tự phát hiện tự thân của mỗi cơ quan, tổ chức và còn nặng về hô hào. Các phong trào kiểu như “nói không với phong bì”, “nói không với tiêu cực” là ví dụ rất điển hình. Rồi tư duy theo cách đặt kỳ vọng vào thanh tra phát hiện tham nhũng. Thanh tra là tai mắt của thủ trưởng thì chỉ nên đặt vào nó trách nhiệm như một công cụ phục vụ quản lý nhà nước thôi. Thanh tra để thủ trưởng chấn chỉnh kỷ luật nội bộ chứ đừng hy vọng ông thủ trưởng đẩy mạnh thanh tra tìm ra khuyết điểm trong quản lý của mình để rồi công bố công khai ra ngoài. Và liệu thủ trưởng có quyết liệt chống tham nhũng nội bộ không, khi mà treo trên đó là trách nhiệm người đứng đầu?".

"Tư pháp với hành chính lại gắn với nhau, lệ thuộc với nhau như thế thì làm sao phát hiện được tham nhũng. Cứ nhìn vào các vụ tham nhũng lẽ ra thuộc thẩm quyền của công an tỉnh mà cơ quan điều tra Bộ Công an phải rút lên thụ lý là thấy rõ điều đó".

"Thiết chế chống tham nhũng bằng hệ thống tư pháp, còn phát hiện qua thanh tra thì có lẽ nên tổ chức một hệ thống cơ quan thanh tra quốc hội".

Bà Nga cho rằng, muốn đấu tranh tham nhũng chuyển biến thì phải có tính minh bạch công khai. “Thế nhưng, toàn bộ quy trình tố tụng lại được đóng dấu mật. Điều này khiến cho một lực lượng đấu tranh tham nhũng rất hiệu quả là báo chí bị hạn chế, thậm chí, “dấu mật dễ dàng đưa phóng viên vào tội làm lộ tài liệu mật”.

Ông Lê Nam, Phó Trưởng đoàn Đại biểu Thanh Hóa nói:

"Phải tập trung vào chiến dịch “bắt hổ”, cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm toán... phải đi vào chỗ nhiều tiền, nhiều quyền lực vì chỉ vài vụ này đã bằng hàng ngàn vụ tham nhũng vặt. Cán bộ, thủ quỹ, nhân viên xã/phường chỉ có 3-5 triệu đồng thôi phải đứng vành móng ngựa, trong khi cả một tình trạng tham nhũng lớn gây nhức nhối như thế thì xử lý không được bao nhiêu. Cần tập trung vào người lắm tiền, sử dụng và quản lý ngân sách, có hưởng lạc, tư lợi không".
Làm sao bắt được "hổ"?

Nhưng làm sao có thể bắt được "hổ"? Các vụ tham nhũng ở Việt Nam thông thường chỉ tóm được"mèo" và nếu có tóm được thì bí bát lắm cũng được xử lý bằng bản án nào đó cho hợp lý nhưng sau đó ân xá giảm án.

Chính vì thế, đại biểu Lê Như Tiến (Quảng Trị), tâm sự rằng, "nhiều người khuyên ông đừng nói về tham nhũng".

"Do sợ liên đới trách nhiệm của người đứng đầu khi có người trong cơ quan bị phát hiện tham nhũng, nên có tâm lý “muốn đóng cửa bảo nhau”, nhiều bộ, địa phương, thậm chí ra văn bản xin “xử lý nội bộ”, ông Tiến nói.

Trong khi đó đại biểu Trần Thị Hoa Sinh (Lạng Sơn) nói: “Nhất là trong xét xử, án treo cao, xử đúng thì không sao, nhưng có vụ dư luận lên án: từ huyện, tỉnh rồi đến giám đốc thẩm, phúc thẩm… thì quay lại bản án ban đầu… làm mất lòng tin của dân”. Bà Sinh dẫn chứng: qua vụ án “Vườn mít”, quay đi quay lại mà thẩm phán trước xử sai có bị xử đâu?!

Có thể nêu một ví dụ điển hình gần đây. Từ ngày 21/10 đến 1/11, Tòa án tỉnh An Giang xét xử 23 bị cáo về tội đã tự ý san lấp ruộng để thành lập 7 khu dân cư tại thành phố Long Xuyên rồi phân lô, bán nền lấy tiền chia nhau, gây thiệt hại cho công quỹ khoảng 20 tỷ đồng. Phát quyết cuối cùng là miễn trách nhiệm hình sự cho 6 bị cáo, 3 bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ (nghĩa là... tự cải tạo tại gia), 6 bị cáo được hưởng án treo, 7 bị cáo mức án vừa đúng thời hạn tạm giam để được trả tự do ngay tại tòa. Chỉ một bị cáo (Giám đốc Văn phòng Ðăng ký quyền sử dụng đất thành phố Long Xuyên) được xem như chủ mưu bị phạt... ba năm tù.

Theo báo cáo của Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh, tình trạng tham nhũng trong năm 2013 đã gây thiệt hại khoảng 9.260 tỷ đồng cùng 51.000 lượng vàng SJC, nhưng trong số đó chỉ thu được 900 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước. Ủy ban Tư pháp cũng thừa nhận, nhiều vụ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng trong lĩnh vực ngân hàng nhưng vẫn bị đình chỉ điều tra, hoặc tội phạm chỉ bị xử lý kỷ luật hành chính. Có những vụ án xảy ra từ năm 2000 nhưng đến năm 2012 mới được xét xử (vụ Hoàng Đình Dung, giám đốc Chi nhánh Centrime 3).

Theo thống kê từ tháng 10/2010 đến tháng 4/2013 Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã đình chỉ 4 vụ với 27 bị can và đình chỉ 11 bị can trong các vụ tham nhũng khác. Bản báo cáo đã cho thấy một vài con số khá nhạt nhòa như: 07 vụ, 06 bị can được đình chỉ điều tra, 09 vụ, 23 bị can tạm đình chỉ, thậm chí có đến 19 vụ, 30 bị can được đình chỉ điều tra trong giai đoạn tố tụng.

Trong đó đã có 30% bị cáo chỉ bị áp dụng hình phạt nhẹ, phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, án treo, hoặc cải tạo không giam giữ. Số “người đứng đầu” bị xử lý hình sự cũng chỉ đạt tỷ lệ 4/41 người.

Như vậy tổng số tiền tham nhũng (được biết đến) trong năm 2013 là 90.000 tỷ đồng (tương đương 4,5 tỷ USD) chỉ thu hồi được 900 tỷ, tức là 0,01%!

Theo Tổ chức minh bạch quốc tế (Transparency International -TI) Việt Nam thuộc nhóm nước tham nhũng nghiêm trọng, trong năm 2011 có điểm số thấp và đứng ở phía cuối bảng xếp hạng.
Năm 2013, Tố chức Minh bạch Quốc tế tại Việt Nam đã làm một cuộc khảo sát và cho biết, số người cho rằng chống tham nhũng không hiệu quả chiếm đến 60% vào năm 2013, tăng mạnh so với 35% của năm 2010.

“So với năm 2010, kết quả khảo sát năm 2013 cho thấy sự mất lòng tin đáng kể của người dân đô thị về việc chống tham nhũng. Năm 2010, cư dân đô thị thể hiện quan điểm cân bằng về những nỗ lực của Chính phủ chống tham nhũng thì năm 2013, họ lại nhìn nhận tiêu cực hơn nhiều”, Giám đốc TI tại Việt Nam, cho biết.

Khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng đồng (Cecodes) và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện, với sự hỗ trợ của Liên hiệp quốc, lấy ý kiến của gần 14.000 người dân, chọn ngẫu nhiên tại 63 tỉnh thành, công bố ngày 14/5/2013, cho thấy tình trạng chạy chọt xin việc, cũng như phải đưa hối lộ để được giải quyết thủ tục giấy tờ, đã tăng gấp rưỡi năm ngoái. Số người đồng tình với việc phải hối lộ mới được chăm sóc y tế cũng tăng từ 31% lên 42%, hay phải lót tay mới có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tăng từ 21% lên 32%.

Có đến 72,88% người được hỏi tin rằng tố cáo cũng không mang lại lợi ích gì, 24% cho rằng, chính quyền các tỉnh, thành phố đã không nghiêm túc trong xử lý những vụ việc tham nhũng đã phát hiện được.

Như vậy tham nhũng đã trở nên hiện tượng phổ cập, biến thành một thứ văn hoá sinh hoạt trong mọi lĩnh vực đời sống của xã hội Việt Nam.

Hệ thống chính trị độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) tạo ra những đặc quyền, đặc lợi cho các phe nhóm lợi ích và tạo điều kiện cho các quan chức kiếm chác. Mọi thứ xảy ra đều chịu trách nhiệm trước đảng, còn đảng thì không chịu trách nhiệm với ai. Nếu đảng có sai lầm thì sửa, lỡ có trói chặt quá thì "cởi trói", "đổi mới". Tóm lại đảng là toàn diện. Đảng đứng trên tất cả. Hiến pháp mà đảng tạo ra đã mặc nhiên cho ĐCSVN quyền lực như thế. Khi nắm quyền lực tuyệt đối con người luôn luôn có xu hướng dẫn tới lạm quyền và lộng quyền.

Quốc gia nào cũng có tệ nạn tham nhũng, chỉ vấn đề là ít hay nhiều mà thôi, nhưng quan trọng hơn là các định chế của xã hội nằm ngăn ngừa và chống tham nhũng ra sao.

Trước hết trong một quốc hội đa đảng, các đảng đối lập là lực lượng luôn luôn kiểm soát, xem xét chính sách của đảng cầm quyền và sẵn sàng đưa ra ánh sáng các hiện tượng tham nhũng khi thấy có tín hiệu.

Thứ nhì, báo chí tự do là phương tiện hiệu quả nhất, lành mạnh hoá xã hội thông qua thông tin đa chiều, minh bạch. Trong các nước dân chủ, báo chí tự do góp phần tích cực đưa các vụ tham nhũng ra trước công luận, chứ không phải cảnh sát hay các cơ quan chức năng khác.

Điều tiên quyết cuối cùng là ngành tư pháp phải hoàn toàn độc lập, không là công cụ của đảng cầm quyền. Như thế các vụ án mới có thể được điều tra, xét xử công bằng.

Theo như phát biểu của bà Lê Thị Nga thì bà ta biết cả đấy! Tất cả ba điều cơ bản nhất cho việc chống tham nhũng đều không có trong hệ thống chính trị hiện tại của ĐCSVN. Làm sao mà chống? Nói ra chỉ cốt xoa dịu dư luận mà thôi. Có lẽ câu ngạn ngữ "vừa ăn cướp, vừa la làng" là chuẩn nhất!

*Bài viết trích từ trang blog Lê Diễn Đức. Nội dung không phản ảnh quan điểm của RFA.

Án oan 10 năm: Công an Bắc Giang không nhận ép cung

Trước những lời kể của ông Nguyễn Thanh Chấn - người vừa được trả tự do sau khi ngồi tù oan 10 năm cho rằng một số điều tra viên tỉnh Bắc Giang đã bức cung, gây áp lực tâm lý, khống chế tinh thần để bị can hoảng loạn mà nhận tội, một số công an trên địa bàn tỉnh đều phủ nhận hành động này.
Ngày 7/11, trao đổi với Đất Việt về vụ án oan khiến ông Nguyễn Thanh Chấn (ở thôn Me, xã Nghĩa Chung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang), lĩnh án chung thân và thụ án được hơn 10 năm, ông Nguyễn Văn Phượng, Trưởng Công an huyện Tân Yên cho biết: "Tôi biết vụ việc này rồi nổi tiếng cả tỉnh Bắc Giang, bên cạnh đó nghe Quốc hội nói cũng nhiều lắm rồi". 
 
Khi được hỏi về thông tin ông Chấn cho biết, từng bị cán bộ điều tra ép cung, bắt tập và diễn cảnh thực nghiệm hiện trường, ông Phượng nói: "Chuyện này vẫn chưa có kết luận chính xác công an có tiến hành ép cung hay không. Chưa ai kết luận hành động này, mà tôi nghĩ là sẽ không có chuyện đó, còn chuyện này cơ quan chức năng sẽ có trách nhiệm". 
 
Bên cạnh đó, ông Phượng cho biết thêm: "Đây mới chỉ là dư luận báo chí thế thôi chứ ai sai ai đúng thì chính quyền sẽ xem xét, còn cán bộ trong ngành của tôi dĩ nhiên tôi phải bênh, nhưng bênh thì lại bảo không đúng, nhưng đúng thì phải bảo là đúng chứ?".
Ông Nguyễn Thanh Chấn đã được tuyên hủy án
Ông Nguyễn Thanh Chấn trong ngày trở về
 
Còn theo quan điểm của ông Phượng, nếu quả thực có chuyện ép cung phạm nhân để lấy lời khai thì có làm thì phải chịu trách nhiệm, sai thì phải sửa. 
 
Trước đó, ngày 6/11, trao đổi với báo chí, Đại tá Nguyễn Văn Chức – Chánh Văn phòng Công an tỉnh Bắc Giang cho biết: “Sau khi có nội dung vụ án, Giám đốc công an tỉnh Bắc Giang đã chỉ đạo Tổ làm án, cơ quan Cảnh sát điều tra hiện nay phải báo cáo lại xem lại việc, trong quá trình điều tra vụ án có vấn đề gì không".
 
Nói về việc cán bộ bức cung ông Chấn, Đại tá Nguyễn Văn Chức khẳng định: “Không ai cho phép làm việc đó. Ai làm việc đó là sai. Thế nhưng việc người ta có làm việc đó hay không thì phải điều tra, xác minh”.
 
Về việc xử lý các cán bộ từng tham gia điều tra vụ ông Chấn, Đại tá Nguyễn Văn Chức cho biết: “Việc xem xét trách nhiệm phải chờ chỉ đạo của cấp trên. Một là, nếu anh vi phạm về mặt pháp luật và hoạt động tư pháp thì thẩm quyền thuộc về VKSND Tối cao, họ sẽ chỉ đạo giải thích. Hai là về quản lý nhà nước, xử lý cán bộ, thẩm quyền thuộc về Bộ Công an. Đến thời điểm này, tôi chưa nhận được văn bản nào từ cấp trên yêu cầu Giám đốc Công an tỉnh phải xem xét, xác minh, làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan”.
 
Trong ngày 6/11, sau khi Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao mở phiên tòa theo trình tự tái thẩm xem xét kháng nghị ngày 4/11 của Viện trưởng VKSND Tối cao về bản án đối với ông Nguyễn Thanh Chấn - người bị kết án oan tù chung thân về tội danh giết người, Phó Chánh án TANDTC Nguyễn Sơn cho biết: "Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng VKSND Tối cao, tuyên hủy bản án hình sự phúc thẩm và sơ thẩm để điều tra lại vụ án".
  Thanh Huyền 
(Đất Việt)

Báo Úc nói về huyền thoại Võ Nguyên Giáp

CUỘC CHIẾN VIỆT NAM: Huyền thoại Võ Nguyên Giáp

Cựu tướng Võ Nguyên Giáp (1911-2013) thường được cho là một tay đánh bại Pháp và Mỹ. Thật không? Các sử gia đã thu thập nhiều dữ kiện trái ngược với huyền thoại này.

Võ Nguyên Giáp Với Leonid Brezhnev, TBT ĐCS Sô Viết. "Trong khi Sàigòn được yểm trợ bởi 1 cường quốc, là Hoa Kỳ, thì Hà Nội được 2 cường quốc yểm trợ - Sô Viết và Trung Quốc."

Sự thật là trong khi Sàigòn được yểm trợ bởi 1 cường quốc, là Hoa Kỳ, thì Hà Nội được 2 cường quốc yểm trợ - Sô Viết và Trung Quốc.

Gần cuối Cuộc Chiến Việt Nam, trong khi kho đạn của Sàigòn bắt đầu vơi vì Hoa Kỳ cắt viện trợ quân sự và viện trợ kinh tế, thì các đồng minh của Hà Nội vẫn tiếp tục đổ đầy súng đạn vô.

Từ 1965 đến Tháng Tư 1975, Moscow viện trợ cho Hà Nội ít nhất 1 tỉ Mỹ Kim mỗi năm, cả viện trợ quân sự lẫn những viện trợ kinh tế liên quan trực tiếp đến chiến tranh. Năm 2001, khi Moscow muốn được tiếp tục dùng Cảng Cam Ranh, thì một trong những yêu cầu của Hà Nội là xin xóa món nợ viện trợ đó. Moscow không chấp nhận cái giá quá cao này, và rút lui khỏi Cam Ranh.

Trung Quốc cũng viện trợ cho Bắc Việt từ 15 đến 20 tỉ MK. Không phải chỉ viện trợ vũ khí mà cả từ giầy sandal cho lính Bắc Việt mang chân đến cái tăm họ xỉa răng sau bữa ăn. Từ năm 1964, Trung Quốc đưa 300.000 quân lính và các nhân sự khác vô Việt Nam, để làm việc trong ngành phòng không, quân nhu, làm đường rầy, v.v.

Ngay từ năm 1950, Bắc Kinh đã gởi một số tướng cao cấp nhất đến Việt Nam, chẳng hạn Chen Geng. Các tướng Trung Quốc này giúp Việt Minh xây dựng lượng quân đội chính quy. Rập khuôn hệ thống của Trung Quốc, họ cài chi bộ Đảng CS trong mỗi đơn vị quân đội để giám sát cũng như để nhồi tư tưởng Đảng vô quân đội. Họ huấn luyện Bắc Việt về phương pháp vận động dân chúng cũng như phương pháp tiêu diệt các nhóm chống đối.

Cũng rập khuôn Trung Quốc, Hồ Chí Minh đưa ra vụ cải cách ruộng đất để trong xã hội mỗi người đều nghi kỵ mọi người do đó dân không nổi dậy chống lại Đảng CS được. Ở các làng xã khắp miền Bắc hàng chục ngàn người đã bị xử tử chính vì Đảng CS ép nông dân trả thù địa chủ, ép hàng xóm xử tử nhau, ép con cái điềm chỉ cha mẹ.

Cứ theo huyền thoại thì tài ba của tướng Giáp đã làm cho Việt Nam đánh bại Pháp ở trận Điện Biên Phủ năm 1954. Huyền thoại này luôn luôn bỏ quên vai trò đáng kể của Trung Quốc. Lính của ông Giáp dùng vũ khí do Trung Quốc cung cấp. Các cố vấn quân sự của Trung Quốc sánh vai làm việc cùng ông Giáp hàng ngày cả về chiến lược cũng như chiến thuật. Các cố vấn này nhận chỉ thị trực tiếp từ Bắc Kinh.

Trong khi ngày nay không sử gia nào không biết về những sự thật trên đây, thì ở nhiều trường học Tây Phương các học trò vẫn không được cho biết sự thật. Phần lớn các cuốn sách giáo khoa chỉ cho các em biết nhiều về vai trò của Mỹ, nhưng vai trò của Trung Quốc và Sô Viết thì chỉ nói lướt qua.

Và, nếu ta hỏi một học sinh trung học tiêu biểu, thì gần như chắc chắn là em biết lính Mỹ và lính Việt Nam Cộng Hoà giết dân, có lẽ các em đã thấy tấm hình cuộc thảm sát Mỹ Lai trong sách giáo khoa. Nhưng gần như không em nào được cho biết về việc các đội khủng bố Cộng Sản gần như hàng ngày giật mìn xe đò hoặc đặt mìn trong chợ đông người để giết thường dân, cũng như các khủng bố trong vụ Mậu Thân 1968.

Qua cái chết của tướng Giáp, người ta nên đưa ra ánh sáng mọi sự thật về Cuộc Chiến Việt Nam, hơn là nhai đi nhai lại các huyền thoại méo mó.

News Weekly là báo ở Úc, phát hành cả báo giấy lẫn online. Số 09/11/2013 đăng bài dưới đây của Bác sĩ Bùi Trọng Cường, OAM MD, và ông Đoàn Việt Trung, hai cựu Chủ Tịch Liên Bang của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu.

Bác sĩ Bùi Trọng Cường, OAM MD, và ông Đoàn Việt Trung

Chợ vũ khí nóng ở Lào Cai


roi-dien-va-dui-cui-duoc-ban-cong-khai-305.jpg
Roi điện và dùi cui được bày bán công khai ở Lào Cai.
RFA
Nhà nước Việt Nam chưa bao giờ, và có vẻ như không bao giờ cho phép người dân sở hữu vũ khí. Thế nhưng, tình hình mua bán vũ khí nóng diễn ra tràn lan ở khắp các chợ cửa khẩu biên giới Việt Nam – Trung Quốc trong vài năm trở lại đây đã khiến cho an ninh quốc gia trở nên phức tạp và hỗn loạn. Tình hình mua bán vũ khí ở chợ Cốc Lếu, Lào Cai diễn ra khá nhộn nhịp trong một đường dây ngầm mà nếu như chịu khó theo dõi, nó chẳng ngầm một chút nào, nếu không nói là công khai.

Giới giang hồ chia vũ khí thành hai nhóm: vũ khí nóng và vũ khí lạnh. Vũ khí nóng gồm các loại súng, lựu đạn, bình xịt hơi cay, roi điện và thậm chí bom, mìn. Vũ khí lạnh gồm dao lê, mã tấu, kiếm, nhị khúc sắt và một số loại dao có móc đuôi dây.
Mua súng dễ như mua cá

Một tay anh chị chuyên môi giới mua bán vũ khí từ khu vực đền Trần đến chợ Cốc Lếu cho chúng tôi biết:

“Hàng cấm cũng có, chỉ cần bắt mối liên lạc với một người trong đường dây này, việc lực chọn, mua một khẩu súng hoa cải hay súng ngắn các loại, bình xịt hơi cay hay roi điện… diễn ra khá đơn giản, dễ dàng.”
Hàng cấm cũng có, chỉ cần bắt mối liên lạc với một người trong đường dây này, việc lực chọn, mua một khẩu súng hoa cải hay súng ngắn các loại, bình xịt hơi cay hay roi điện… diễn ra khá đơn giản, dễ dàng. -Một người môi giới
Một người bán hàng điện tử trong chợ Cốc Lếu, giới thiệu anh tên là Phong, nhưng theo chúng tôi đoán anh ta không phải tên này, đã cho chúng tôi xem hàng loạt bình xịt hơi cay lớn, nhỏ khác nhau với nhiều mức giá khá hấp dẫn. Và anh này nói trước điều kiện là không được chụp hình các loại vũ khí cũng như quầy hàng của anh dù bằng điện thoại hay máy ảnh du lịch.

Anh này nói rằng việc mua súng ở đây có hai cách, hoặc là mua và mang về trực tiếp, hoặc là mua và đóng thêm tiền vận chuyển, để lại địa chỉ, sẽ có người mang đến tận nhà, dù ở cách chợ cả ngàn cây số cũng không thành vấn đề. Ví dụ như chuyển về Hà Nội, phí vận chuyển là một triệu đồng cho một khẩu súng, cứ như thế mà nhân lên theo số lượng. Riêng các loại bình hơi cay thì họ không vận chuyển riêng lẻ mà vận chuyển theo lô, cứ mười bình được vận chuyển về Hà Nội với giá một triệu hai trăm ngàn đồng.

Trường hợp vận chuyển xa hơn vào các tỉnh phía Nam như Bình Dương, Sài Gòn, Đồng Nai, hoặc miền Tây Nam Bộ thì mỗi khẩu súng được nhân 150% giá gốc. Nghĩa là một khẩu súng hoa cải với giá 5 triệu đồng tại chợ, sẽ được tính với giá 7,5 triệu đồng nếu như vận chuyển vào các tỉnh phía Nam. Với các tỉnh miền Tây Nam Bộ, giá vận chuyển cũng giữ mức giống như giá ở Sài Gòn, không thay đổi. Sở dĩ có chuyện đi xa hơn nhưng không thay đổi giá vì yếu tố cạnh tranh giữa tư thương phía Bắc với tư thương ở các cửa khẩu Việt – Lào, Việt – Campodia. Hiện tại giá súng hoa cải ở các cửa khẩu phía Nam là 6 triệu, 7 triệu đồng trên mỗi khẩu. Nhưng vì đảm bảo bí mật, những tay súng phía Nam chạy ra phía Bắc mua nhằm tránh sự theo dõi của an ninh.

cho-Coc-Leu,-Lao-Cai-250.jpg
Chợ Cốc Lễu ở Lào Cai. RFA PHOTO.
Một phụ nữ tên Lý, người gốc Trung Quốc, bán hàng tại Cốc Lếu, Lào Cai, giới thiệu cho chúng tôi xem hàng loạt roi điện, có chiếc chỉ tốn ba trăm ngàn đồng là sở hữu nó, cũng có chiếc lên đến hai triệu đồng, loại thượng hạng lên đến năm triệu đồng. Chị này giới thiệu thêm về tính năng của loại roi điện giá năm triệu đồng rằng nó có cường độ dòng điện cao gấp sáu lần những chiếc bình thường. Nghĩa là một con trâu đực khỏe mạnh, nếu dùng roi điện loại này nhắm bấm một phát vào bất kì phần nào trên cơ thể nó, nó sẽ ngã lăn đùng ra tức thì và mười phút sau mới cựa quậy lại được. Với trâu là thế, với người, phải hai chục phút sau mới hồi tỉnh và cả tháng sau mới bình phục, mới lặn được vết bầm cho tia điện gây ra.

Ngoài vũ khí nóng, bà Lý còn bán thêm vũ khí lạnh và một số loại súng săn có độ chính xác gần như tuyệt đối. Nếu như khách muốn thử độ chính xác cỡ nào, bà Lý hẹn sẽ dắt ra một điểm vắng ven rừng dọc bờ sông Nậm Thi, đoạn xuôi về Bắc Hà để thử súng. Thử xong, nếu mua thì bà miễn phí cho viên đạn thử, trường hợp không mua thì khách phải trả 200 ngàn phí xăng cộ cho bà và 500 ngàn tiền viên đạn, vị chi 800 ngàn đồng.
Vũ khí về đâu?

Theo như người dẫn đường cho chúng tôi biết thì lượng súng vào Việt Nam, chỉ riêng cửa khẩu Cốc Lếu, Lào Cai, mỗi năm đã có thể lên đến trên mười ngàn khẩu, đó là chưa nói đến một số loại vũ khí khác như bình xịt hơi cay, roi điện, dao lê, mã tấu, kiếm… Và còn một đường chuyển súng nữa mà theo anh ta nhận xét là nó cực kì an toàn, khó kiểm soát, vì cửa kiểm soát duy nhất là công an cửa khẩu. Nhưng ở đơn vị kiểm soát này, mọi chuyện được qui ra tiền, nó cũng giống như nhiều đơn vị kiểm soát khác ở các cửa khẩu trên khắp ba miền đất nước. Đó là đường xe tải, một số vũ khí được giấu trong các lô hàng và chuyển vào Việt Nam.

Trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ như công an cấp Bộ xuống kiểm tra hoặc có chỉ thị càn quét, làm sạch của cấp Bộ, một số tài xế không may mắn sẽ bị bắt, bị tịch thu và phạt tù nếu như vận chuyển về đúng thời điểm này. Nhưng chuyện này hiếm xãy ra, nên việc lưu thông vũ khí ở Cốc Lếu vẫn diễn ra như cơm bữa. Không có gì thay đổi.

nhung-gian-hang-co-ban-vu-khi-trong-cho-Coc-leu-250.jpg
Một gian hàng có bán vũ khí trong chợ Cốc Lễu ở Lào Cai. RFA PHOTO.
Một người tên Huy, không phải là thương lái hay tư thương trong chợ Cốc Lếu, anh Huy làm bốc vác kiêm hướng dẫn mua bán vũ khí ở chợ Cốc Lếu và đã nghỉ việc cách đây hai tháng, lui về Bắc Hà trồng mận, trồng đào và táo mèo, chia sẻ với chúng tôi rằng theo chỗ anh thấy, toàn bộ số lượng vũ khí bán ở Cốc Lếu được đổ về Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Hà Tỉnh và Sài Gòn, Biên Hòa – Đồng Nai ở phía Nam. Và đương nhiên, chủ nhân của các loại vũ khí này đều thuộc thành phần anh chị, mua để cung cấp cho đàn em hành nghề, bảo kê, đâm thuê chém mướn.

Và một số vũ khí khi về đến các địa phương sẽ bán lại cho các tay bắt chó trộm, phần đông bọn họ dùng bình xịt hơi cay, roi điện, cũng có một số tay bắt chó trộm ở Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa thời gian gần đây còn thủ cả súng trong người để đối phó với người dân sau khi các vụ đốt xe, đánh chết người, đốt xác của các tập thể người dân bị mất chó.

Ngoài ra, nhiều cán bộ có tiền, có quyền, có đường dây làm ăn lớn nhưng với chức vụ hiện tại, không được nhà nước cấp súng, họ cũng tự chủ động tìm mua vũ khí để trong nhà, từ bình xịt hơi cay cho đến súng ngắn. Lượng vũ khí bán cho các loại đối tượng này mỗi năm không phải là ít.

Và cũng theo anh Huy, việc kiểm soát súng ở Việt Nam hiện tại vô cùng khó, nếu có kiểm soát được chăng là nhờ vào sự xếp đặt, tôn ti trật tự trong giới giang hồ, các đàn anh đàn chị tự thu xếp, thỏa thuận với nhau về địa bàn làm ăn và phương cách hoạt động để tránh các đàn em đụng chạm nhau. Chứ nếu như sự việc đi đến chỗ va chạm, chắc chắn sẽ có những vụ nổ súng ở mức độ trầm trọng, khó lường.

Anh Huy cười chua chát, nói thêm với chúng tôi rằng một người nông dân chân chất làm ăn, hiền lành và chưa hề va chạm với ai như Đoàn Văn Vươn còn chủ động mua súng hoa cải, thủ trong người để phòng khi có biến, thì huống hồ gì hàng chục triệu tay giang hồ hảo hớn, hàng triệu tay cán bộ có tiền của nhưng không được nhà nước cấp súng, chắc chắn họ phải thủ súng trong nhà. Đó là chuyện không thể chối cãi.
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
(RFA)

Hồ sơ tai tiếng của “Ông hoàng scandal” Đàm Vĩnh Hưng

Hai năm liên tiếp dường như “vận đen” vẫn chưa thôi buông tha nam ca sĩ 42 tuổi.
 
Trong showbiz Việt, Đàm Vĩnh Hưng là ca sĩ liên tục khiến khán giả ngỡ ngàng xen lẫn ngạc nhiên vì độ phủ trên báo chí từ sự nghiệp ca hát cho đến những chuyện bên lề.

Với sự nghiệp, anh từng ghi được nhiều dấu ấn với khán giả qua những ca khúc ăn khách và tạo được những cú hit lớn cho sự nghiệp như Tình ơi xin ngủ yên, Bình minh sẽ mang em đi, Góc phố rêu xanh, Giọt nước mắt cho đời… Nhưng với những chuyện ngoài âm nhạc thì anh lại là một trong những nhân vật có số lượng scandal nhiều nhất Việt Nam.
 
Nếu như những năm đầu sau nổi tiếng, số lượng scandal chỉ xuất hiện ở mức độ rải rác thì 2 năm gần đây số lượng lại tăng lên đáng kể với mức độ ngày càng lớn hơn. Có vẻ như Đàm Vĩnh Hưng là người rất có duyên với các scandal với đủ các thể loại khác nhau. Từ chuyên môn cho đến đồng nghiệp và cả những vấn đề vốn chẳng liên quan đến anh. Thậm chí đến khi xuất ngoại đi hát thì scandal vẫn theo Đàm Vĩnh Hưng sát gót.
 
Scandal với sản phẩm
 
Bản thân là một ca sĩ hát khá nhiều loại nhạc và có thừa kinh nghiệm nhưng đã có không ít lần Đàm Vĩnh Hưng gặp rắc rối. Khi phát hành album Tình ca 50, Đàm Vĩnh Hưng bị vướng ca khúc Phố đêm – vốn chưa được cấp phép lưu hành. Việc này anh bị phạt 30 triệu, công ty phát hành bị phạt 23,75 triệu và thu hồi đĩa trên toàn quốc.
 
Việc ghi sai tên tác giả trong các sản phẩm của Đàm Vĩnh Hưng cũng diễn ra với các ca khúc: Em đã quên một dòng sông, Bạc tình… và luôn là đề tài bàn tán của nhiều người khi album được ra mắt. Mới nhất là vụ kiện của nhạc sĩ Trường Nhân cùng ca khúc Chút tình trong album Góc khuất.
 
Scandal với đồng nghiệp
 
4 gương mặt từng "có chuyện" với Đàm Vĩnh Hưng
4 gương mặt từng “có chuyện” với Đàm Vĩnh Hưng: Thanh Lam, Nguyễn Ánh 9, Bảo Yến, Phương Thanh
 
Với cá tính khá “ngông” và “không biết sợ là gì”, Đàm Vĩnh Hưng đã tạo nên không ít những mâu thuẫn lớn với đồng nghiệp. Tính đến thời điểm này thì cũng đã có ít nhất 4 cái tên từng khiến Đàm Vĩnh Hưng gặp sóng gió với dư luận là Phương Thanh, Thanh Lam, Bảo Yến và nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9. Trong đó, việc rạn nứt mối quan hệ với Phương Thanh là điều khiến công chúng ngỡ ngàng nhất. Vì trước đó cả hai là những người bạn rất thân của nhau.
 
Trong khi đó, với Thanh Lam, Bảo Yến và nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 thì lại khiến Đàm Vĩnh Hưng khó chịu ra mặt khi có những nhận xét về chuyên môn ca hát của anh. Đỉnh điểm là sự cố với Nguyễn Ánh 9 đã khiến tên tuổi của Đàm Vĩnh Hưng rơi rụng rất nhiều.
 
Scandal với xã hội
 
2 sự cố "hôn sư" và thăm Tướng Giáp của Mr Đàm
2 sự cố “hôn sư” và “thăm Tướng Giáp” của Mr Đàm
 
Trong số các scandal mà Đàm Vĩnh Hưng vướng vào thì 2 sự việc liên quan đến các vấn đề xã hội là khiến tên tuổi của giọng ca này bị ảnh hưởng nặng nề nhất.
 
Vụ đầu tiên là chuyện “hôn nhà sư” trong buổi đấu giá gây quỹ từ thiện cho ca sĩ Wanbi Tuấn Anh chữa bệnh vào năm 2012. Đàm Vĩnh Hưng đã bị phạt 5 triệu về chuyện này. Dù đã đưa ra lời xin lỗi gửi đến công chúng và các tăng ni nhưng hình ảnh đẹp ngày xưa của anh trong lòng công chúng đã gần như mất hẳn.
 
Tiếp đến là những ồn ào xung quanh việc Đàm Vĩnh Hưng có mặt tại đám tang của đại tướng Võ Nguyên Giáp vào năm 2013. Trong khi cả ngàn người dân Việt Nam xếp hàng chờ thì anh ngang nhiên đi vào với lý do được người nhà sắp xếp trước. Hành động này đã khiến rất nhiều người phẫn nộ và cho rằng đó là sự “vô lễ” không đáng có của một người nổi tiếng.
 
Và các sự cố nơi đất khách
 
Mr Đàm bị Lý Tống tấn công
Mr Đàm bị Lý Tống tấn công

Tháng 7.2010, Đàm Vĩnh Hưng bị một người đàn ông giả gái là Lý Tống tấn công tại sân khấu Trung tâm Hội nghị Santa Clara, California, Mỹ. Đây là sự cố hiếm hoi mà trong đó Đàm Vĩnh Hưng là nạn nhân. Lý Tống sau đó đã bị xử phạt sáu tháng tù và ba năm quản chế.

Cũng trong năm 2010, sau sự việc Lý Tống, một lá đơn tố cáo Đàm Vĩnh Hưng tội trốn thuế và nghi ngờ kết hôn giả đã được rất nhiều người truyền nhau. Đàm Vĩnh Hưng ngay sau đó đã có những chia sẻ phủ nhận chuyện này. Đến nay, câu chuyện này vẫn chưa được sáng tỏ và vẫn là một trong những “tin đồn” khá ấn tượng về cái tên Đàm Vĩnh Hưng.
 
Huỳnh Ngọc

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Bài viết đáng chú ý

"Tôi vô cùng vinh dự đã được "phụ đạo" để hiểu về tướng Giáp"

Lê Đỗ Huy (dịch) - theo Trí Thức Trẻ | 06/11/2013 20:10

(Soha.vn) - "Với một nhà tư tưởng vĩ đại như tướng Giáp, dù thể xác đã không thể giúp ông vượt ngưỡng tuổi 103, trí não ông vào thời khắc từ trần vẫn hoàn toàn mẫn tiệp."

Phần 1: Nhà văn Anh: Chiến lược của tướng Giáp làm "thay đổi thế giới"
Mâu thuẫn của chiến tranh xâm lược
Điểm thứ ba có ý nghĩa then chốt ngay từ đầu kháng chiến. Đại tướng Võ Nguyên Giáp quả quyết với Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng, với một lực lượng nhất định quân viễn chinh có mặt ở Việt Nam, rõ ràng Bộ Tổng chỉ huy Pháp đang đối mặt với thế “tiến thoái lưỡng nan”. Quân Pháp sẽ bị dàn mỏng để dồn sức chiếm đóng và bình định các vùng lãnh thổ chiếm đóng, bằng cách thiết lập các vành đai đồn bốt và trại lính ở mọi nơi; hoặc ngược lại, tập trung binh lực thành các quả đấm thép để đánh tan quân chủ lực của tướng Giáp.
Nhà văn Anh Virginia Morris, tác giả sách “History of the Ho Chi Minh Trail: The Road to Freedom” (Bản dịch tiếng Việt của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân mang tên “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại - Con đường đi tới tự do”), suy luận vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm người chỉ huy tối cao của các lực lượng vũ trang Việt Nam, và đề cập các chiến lược của tướng Giáp, mà theo bà, đã làm “thay đổi thế giới”.
Trên thực tế, quân viễn chinh bị căng ra giữa hai nhiệm vụ này. Nếu không lập ra được một quân đội chiếm đóng cực kỳ đông đảo, đối phương sẽ sa lầy vào hình thái chiến tranh “không chiến tuyến”. Chiến lược này của tướng Giáp được đúc kết thành phương châm: “Biến hậu phương địch thành tiền phương của ta”, cho cả hai cuộc chiến tranh Đông Dương.
Để triển khai hình thái chiến tranh không chiến tuyến, Võ Nguyên Giáp hoạch định những chiến lược quan trọng khác. Như phương châm “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”. Mục tiêu của các đại đội độc lập là gây dựng phong trào chiến tranh du kích trên cả nước.
Mỗi đại đội chỉ được phiên chế khoảng 100 người, để có thể đóng quân trong phạm vi một làng - một đơn vị dân cư chỉ đủ sức nuôi quân số như vậy (đồng thời bộ đội còn phải tự túc một phần và làm đồng áng giúp dân). Một quân số lớn hơn dễ làm lộ lực lượng hơn, và có thể trở thành gánh nặng quá sức cho dân làng.
Các đại đội có thể được phái vào sâu sau lưng địch còn có nhiệm vụ: vận động quần chúng (dân vận), bảo vệ “hành lang” trong vùng địch hậu và hoạt động sản xuất của dân, địch vận, tiễu trừ gián điệp, phỉ, và phá bộ máy chính quyền địa phương của đối phương, hoặc biến chúng thành hình thái chính quyền hai mặt - tức là xây dựng Hạ tầng cơ sở cách mạng.
Pháo đài du kích chiến
Một trong những nhiệm vụ trung tâm của các tiểu đoàn độc lập là xây dựng các làng chiến đấu theo phương châm của tướng Giáp: “Mỗi thôn làng là một pháo đài”. Có nghĩa là mỗi làng trở thành một căn cứ du kích của chính dân làng.
Chiến tranh du kích bằng các làng chiến đấu - pháo đài phản bác quan điểm (của phương Tây), cho rằng du kích chỉ thuần túy là cách đánh của một nhóm vũ trang, liên tục vận động tránh địch, và chỉ giao chiến khi gặp thuận lợi. Một làng chiến đấu bao gồm một khu vực tác chiến kết nối bằng các địa đạo, giao thông hào, hầm ngầm, các ụ chiến đấu, các bãi mìn, chông, cạm bẫy. Một đội dân quân địa phương được lập ra để cảnh giới nghiêm ngặt việc ra vào làng của người lạ.
Các làng chiến đấu là nơi trú quân cho các đơn vị chủ lực kẹt trong gọng kìm càn quét lớn của đối phương. Nhờ sử dụng các hầm ngầm và giao thông hào kiên cố xây dựng sẵn, các thứ quân có thể ẩn núp tránh phi pháo của địch, và dù sử dụng một lượng hạn hẹp vũ khí, đạn dược, vẫn ngăn chặn bước tiến của bất cứ mũi tiến công nào.
Đại tướng nghiên cứu bản đồ tuyến vận tải chiến lược của bộ đội Trường Sơn trên đường đi thăm đoàn 559 (tháng 3/1973).
Đại tướng nghiên cứu bản đồ tuyến vận tải chiến lược của bộ đội Trường Sơn trên đường đi thăm đoàn 559 (tháng 3/1973).
Du kích vận động chiến
Phát triển phong trào chiến tranh du kích, các đại đội độc lập có thể tuyển mộ chiến sĩ mới để tạo nên các đơn vị chủ lực mới, hoặc bộ đội địa phương. Về phương pháp luận, khi nhiều thứ quân được xây dựng trên cùng một địa bàn, sẽ dễ áp dụng nhiều cách đánh hơn.
Các đại đội độc lập thường cơ động nhanh, và luôn sẵn sàng đánh những trận nhỏ ở những địa hình thuận lợi, nhất là khi được du kích địa phương hỗ trợ. Khi triển khai các trận đánh lớn, các đại đội độc lập cụm lại thành các đơn vị cỡ tiểu đoàn. Sau trận đánh, họ lại nhanh chóng phân tán thành các đại đội, như cũ.
Các đại đội độc lập này lại tản vào rừng núi, hoặc hòa vào dân, khiến quân Pháp khó có cách bao vây, tiêu diệt cả một tiểu đoàn Việt Minh. Còn có các đơn vị cơ động cấp tiểu đoàn, hoạt động theo phương thức du kích vận động chiến được đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ Tổng tư lệnh, và Bộ tư lệnh các quân khu, sử dụng vào các chiến dịch quy mô ngày càng tăng.
Phương thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” phát huy hiệu quả đến mức tướng Giáp lại áp dụng nó trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, để gây dựng lại phong trào chiến tranh du kích, sau khi cơ sở hạ tầng cách mạng bị triệt phá nặng nề sau các đợt Tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân.
Đây là hiện thân cho mong muốn quân đội cách mạng sẽ “lai vô ảnh, khứ vô tung” trong chỉ thị thành lập quân đội 22 -12 – 1944 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn với phương Tây, là khái niệm kẻ thù không thể xác định.
“Quả đấm thép” Đại đoàn
Ngưỡng cửa những năm 1950 là lúc Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận thấy ông có thể thành lập các đơn vị cỡ sư đoàn. Lực lượng vũ trang Việt Nam hình thành ba thứ quân rõ rệt, trong đó có dân quân, du kích hoạt động ở các làng xã; bộ đội địa phương trực thuộc các bộ chỉ huy quân sự tỉnh, huyện; và bộ đội chủ lực - tiếp cận khái niệm các lực lượng tác chiến quy ước của phương Tây. Tới lúc này, tướng Giáp đã sẵn sàng mở rộng mặt trận cho các chiến dịch tiến công quy mô, để đánh bại quân Pháp.
Binh chủng hợp thành
Tuy các thành tố của chiến tranh toàn dân đều quan trọng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hiểu rằng chỉ có sức mạnh quân đội tác chiến hiệp đồng mới buộc được quân đội chiến tranh quy ước của đối phương đầu hàng. Vì thế, để giành toàn thắng cho chiến tranh toàn dân, phải tạo dựng được các điều kiện làm suy giảm sức mạnh của quân đội đối phương, cho đến khi cán cân lực lượng ngả dần về phía quân đội chính quy của cách mạng.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm quân chủng Hải quân sau giải phóng miền nam năm 1975
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm quân chủng Hải quân sau giải phóng miền nam năm 1975
Cuộc chiến tranh dần dần mang tính cân sức (cán cân lực lượng trên chiến trường giao động quanh điểm cân bằng), khi cả hai bên đều dùng các phương thức tác chiến quy ước. Đây chính là lúc tướng Giáp tìm cách giáng đòn quyết định chiến trường vào quân đối phương, nhanh chóng giành thắng lợi cuối cùng.
Về phương pháp luận, đòn quyết định chiến trường cần được phối hợp với tầm vóc mới, ngày một trưởng thành của cuộc chiến tranh toàn dân. Trong trường hợp đòn quyết định chiến trường được tiến hành sai hướng và quá sớm, quân đội đối phương còn đủ sức phản công, đánh bại quân đội của phe cách mạng. Còn nếu đòn quyết định được tung ra đúng thời cơ, thì quân đội đối phương sẽ bị tiêu diệt; các thành tố còn lại của hạ tầng cơ sở cách mạng Việt Nam dốc toàn lực để thống nhất nước nhà.
Đã có hai đòn chí tử giành được thắng lợi quyết định: một ở Điện Biên Phủ năm 1954, một ở miền Nam Việt Nam năm 1975, đánh đổ chế độ Việt Nam Cộng hòa. Trong trường hợp thứ hai, một biểu tượng kết thúc chiến tranh đã truyền vào tâm thức của thế giới: các xe tăng đâm đổ cánh cổng Dinh Độc lập - lực lượng chiến tranh quy ước của phe cách mạng đánh bại lực lượng tác chiến quy ước là Quân đội Sài Gòn.
“Thác là thể phách, còn là tinh anh”
Tôi không bao giờ còn có đặc quyền ngồi bên con người tài đức vẹn toàn ấy - con người từng thay đổi thế giới. Với phương Tây, thật khó chia sẻ điều này. Nhưng tôi rất đỗi tự hào là đã được gặp tướng Giáp, và vô cùng vinh dự vì từng được “phụ đạo”, để nhận thức được vai trò vô cùng to lớn của Đại tướng trong sự nghiệp thống nhất Việt Nam, và trong xây dựng và triển khai Học thuyết chiến tranh toàn dân. Tôi chắc chắn rằng với một nhà tư tưởng vĩ đại như thế, dù thể xác đã không thể giúp ông vượt ngưỡng tuổi 103, trí não ông vào thời khắc từ trần vẫn hoàn toàn mẫn tiệp.

Vòng kim cô trên đầu giới khoa học xã hội


Tiếp tục trao đổi với tác giả Từ Huy, nhân bài Vụ Luận văn về Mở Miệng: còn cơ hội nào cho ngành KHXH&NV? 7-10-2013

                        I /      CŨNG CHỈ LÀ MỨC ĐỘ….. THÔNG THƯỜNG.
   Trong đời sống văn chương học thuật ở ta,  luôn luôn người ta thấy có những hiện tượng tạm gọi là chệch hướng, còn chữ của giới chính thống là sai lầm hư hỏng chống đối. Rồi có sự tố giác phê phán. Rồi sau vài lời nói qua nói lại và có khi cả những “chiến dịch đấu tranh” kèm theo là những xử lý,  dư luận lại rơi vào im ắng cho đến khi … có những vụ mới.
Vụ Mở miệng và luận văn Nhã Thuyên thuộc loại ấy.


Về khâu xử lý, tôi nhớ thời chống Mỹ, cả Lưu Quang Vũ  lẫn Phạm Tiến Duật đều có những chuyện lôi thôi khiến người một hai năm, người tới bốn năm năm, bị cấm in trên các báo. Tức là hình thức xử lý còn nặng hơn rất nhiều so với cách chức hoặc cho thôi việc thời nay.
 Đặt trên cái nền chung, thấy  tình hình chung quanh vụ luận văn về “Mở miệng” hôm nay còn là ở mức …có thể hiểu được. 
 Điều tôi cho rất đáng hoan nghênh là, khi nhìn nhận vụ việc, nhà nghiên cứu Từ Huy đã không dừng lại ở hiện tượng cụ thể mà nhân đó nêu ra nhiều vấn đề chung của giới KHXH. Tôi cho là một sự triển khai cần thiết. Trong phạm vi bài này, tôi  thử đi vào giải thích tại sao giới nghiên cứu KHXH  VN đã có những ứng xử  như tất cả chúng ta đã thấy.

Cả  giới đã được đào tạo để trở thành như thế.
Nhắc tới mấy năm 1956-58,  ngày nay chúng ta chỉ nhớ tới vụ Nhân văn Giai phẩm , và những ảnh hưởng của nó tới giới sáng tác.
 Nhưng thời điểm trên cũng là bước ngoặt trong giới ở ta đại học ở ta, rõ nhất là giới nghiên cứu các bộ môn thuộc khoa học xã hội.
Sự phát triển trước đó của đại học là tự phát.  Nay nền đại học non trẻ và “tiên thiên bất  túc”, “bất thành nhân dạng” về  nhiều phương diện ấy, được làm lại với những chủ đích rõ ràng.
 Nếu ở các nước khác, đại học là khu vực cuộc sống được thể nghiệm, khu vực tự trị, khu vực dân sự điển hình,  thì ở ta nó được đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt cũng như  sự can thiệp mạnh mẽ và trực tiếp của chính trị. Các cơ sở đại học phải trở thành những “pháo đài xã hội chủ nghĩa” như chữ nghĩa hồi 1958-60 vẫn dùng.  
  Lý do thì, như chỉ dẫn của một tác giả Nga mà tôi nêu trong bài viết  ngày 14-10-2013 trên blog này, KHXH ở VN  được sinh ra như thế, nó phải như thế, có gì là lạ. Nó cũng có nghiên cứu, nhưng là chỉ làm ở mức hết sức sơ lược. Trong những lúc bốc đồng, hoặc cố ý làm dáng, người ta cũng tuyên bố đi tìm chân lý, đứng về phía sự thật lịch sử …. . nhưng đó chỉ là trong ao ước. Phần chính khoa học lúc này phải làm là những công việc mà  thần học trung thế kỷ vẫn làm. Nếu thần học cuối cùng phải chứng minh được chỗ đúng của các kinh sách có liên quan tới Chúa thì khoa học xã hội lúc này lấy việc đi vào minh họa cho cái đúng của thời hiện nay, cái đúng theo các chỉ thị nghị quyết, cái đúng của cấp trên…làm mục đich.
Trên đại thể là thế, mà trong từng việc cụ thể cũng là thế.
Tôi lấy một ví dụ. Vào những ngày hạ tuần tháng mười 2013, trên báo chí đang rộ lên lời trách cứ các nhà nghiên cứu lịch sử hiện đại về việc sao không đưa tướng Giáp vào sách giáo khoa. Tôi xin thanh minh hộ các giáo sư sử học thế này -- họ đâu có quyền! Đây toàn là do chỉ thị từ trên xuống cả. Thách kẹo cũng không có người biên soạn SGK dám tự tiện viết khác và các thầy lên lớp từ  tiểu học tới đại học dám giảng khác.

Không có ngoại lệ
Đọc bài của Từ Huy, ngay từ đầu, tôi đã không hiểu những lời ưu ái mà tác giả đưa ra đối với khoa nọ của trường đại học kia. Rằng đó là nơi rất có truyền thống tìm tòi chân lý. Rằng ở nơi đó luôn luôn có sự đón nhận, làm “bà đỡ” cho những tư tưởng mới trong nghiên cứu văn chương.
 Theo chỗ tôi biết thì hiện nay chẳng có một cơ sở nào như thế cả.
 Cuối bài, Từ Huy có nói tới tình trạng tạm gọi là “vượt thoát” và  kể ra là đã có những trường hợp khá thành công cả trong khu vực mà tác giả có quan hệ.
Trước hết là trong sáng tác, tôi thấy những trường hợp như Nguyễn Huy Thiệp, như Bảo Ninh đúng là những nhân vật vượt thoát thành công thật. Nhưng thử hỏi là sau họ làm gì có những tên tuổi nào khác.
Thứ nữa, nay các tác tác giả này đã được các tài liệu chính thống công nhận đâu. Trong xã hội, Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp vẫn được hoan nghênh được in lại. Nhưng họ không bao giờ được đưa vào giảng dạy trong nhà trường.
Khi cần kể thành tựu của giới nghiên cứu, Từ Huy có phần lúng túng hơn. Những ưu điểm tác giả nêu ra ở đây chỉ hạn chế trong việc sử dụng những lý thuyết văn học ở nước ngoài vào để thúc đẩy tình hình trong nước.
Về mặt số lượng, tôi cho là người đi theo phương hướng này còn rất ít.
Hơn thế phải nói thẳng là những thành công của mấy người này còn ở mức rất khiêm tốn. Trong những trường hợp tốt nhất thì chúng ta mới may mắn được coi là những người thuộc bài, còn việc áp dụng những kiến thức đó vào việc nghiên cứu văn học Việt Nam – xin lỗi cho tôi nói một cảm giác mà có thể nhiều người không đồng ý – còn chưa có thành tựu nào đáng kể.
Trong một bài viết gần đây, tôi có nói rằng giáo dục ở ta nói chung đang trong tình trạng vô phương cứu chữa. Một trong những luận cứ của tôi là giá kể bây giờ có chương trình đúng đắn, sách giáo khoa đúng đắn thì cũng không lấy đâu ra người để dạy các chương trình đó cả. Và người ta cũng không biết làm gì với hàng triệu giáo viên đang đứng trên bục giảng hiện nay; ở họ, có một cái gì đó đã cứng lại rồi, họ không thể thay đổi được nữa.
Với giới đại học cũng thế. 
                                                          
                                    II/ THỬ XÁC ĐỊNH MỘT THỰC TRẠNG
Khi điểm lại tình hình, Từ Huy có ngỏ ý “trách móc” rằng sao từ ngày xảy ra cái vụ phê phán luận văn này, sau vài lời phản biện yếu ớt, trong giới không thấy nhiều người lên tiếng.Trong khi tỏ ý lo lắng cho tình hình từ nay về sau, tác giả thỉnh thoảng không quên giảng giải cho mọi người thế này mới là nghiên cứu, thế kia mới là khoa học.
 Tôi thì tôi thấy cách cư xử  của cả giới KHXH  như vừa rồi là nằm trong bản chất và lý do tồn tại của nghề nghiệp. Có một guồng máy đã hình thành, họ vừa là sản phẩm, lại vừa là các thành tố góp phần vận hành  guồng máy đó. Bận lắm, quay cuồng lắm! Về chuyện nên làm thế nào, họ không có thời gian mà nghĩ đến nữa. Cái phần tự vệ trong mỗi người luôn luôn mách bảo họ rằng biết ra chỉ thêm phiền, tốt hơn là đừng biết đừng nghĩ.
  
Cáo trạng và biện hộ
Đi vào cụ thể hơn.
 Từ Huy tự hỏi nguyên nhân của  vụ phê phán Luận văn về Mở Miệng xuất phát từ những hiềm khích cá nhân hay xuất phát từ một chủ trương
Trả lời: là chủ trương. Để mượn lại chữ của Từ Huy, chẳng có “nhát dao nào là mù quáng cả“.
        Từ Huy cảnh báo: Điều gây tuyệt vọng không phải chỉ là sự tái bùng nổ đáng ngạc nhiên của những cây bút phê bình dao búa [ …] mà còn là (và có lẽ chủ yếu là) biểu hiện của thái độ chấp nhận đầu hàng ở giới đại học. Chính sự chấp nhận này rất có thể sẽ đẩy KHXH&NV vào tử lộ.
Trả lời: Không đầu hàng sao được! Đến những Trần Văn Giàu Trần Đức Thảo Nguyễn Mạnh Tường Đào Duy Anh Trương Tửu… cũng phải mất chức khi người ta đã chẳng cần, nữa là những cá nhân mới nẩy nòi lên chính trong tay nhà cầm quyền mấy chục năm nay. Dựng lên thành bụt đạp xuống thành đất ngay, chuyện đâu có lạ.
Còn lo rằng, do đó, nó –  bộ môn KHXH mà chúng ta đang quan tâm --  sẽ  suy tàn  ư ? khó lòng sống sót ư?  Người ta đã đẻ, người ta sẽ nuôi. Cái việc phù phép cho nó trở thành sống động đâu có quá khó. Người ta sẽ biểu dương nó, khen ngợi nó. Cấp tiền nuôi nó. Ban cho nó danh hiệu. Giới thiệu nó với giới khoa học quốc tế (còn việc quốc tế có công nhận không thì không cần biết). Còn muốn gì nữa?
 Từ Huy nhắc tới một chân lý: không có tự do học thuật thì khoa học không thể phát triển được.
Trả lời: Trên nước Việt Nam này, không có thứ  KHXH  mà Từ Huy hiểu và các nước người ta vẫn hiểu. Ngược lại, ở ta, cũng như ở nước Nga xô viết trước đây, nó có một cái nghĩa riêng. Theo nghĩa này, tự nó vẫn phát triển chứ đâu có dừng lại. Cái làm cho nó phát triển không phải là tự do mà là  các … mệnh lệnh chỉ thị hồi trước và và các đơn đặt hàng. Cái đó thì hiện nay không thiếu, không bao giờ thiếu.
 Từ Huy viết : Người nghiên cứu cũng có quyền nhìn đối tượng theo cách của mình, có quyền đưa ra một quan điểm nghiên cứu và chứng minh quan điểm đó bằng các lý lẽ lập luận được thể hiện trong công trình của mình. Quan điểm đó đúng hay sai, có thuyết phục người khác hay không, đó là chuyện cần phải tranh luận, nhưng người nghiên cứu không thể bị vùi dập vì quan điểm  riêng.
Trả lời: Không. Ở KH XH Việt Nam, khi đã nhận những chức danh như giáo sư tiến sĩ , người ta không có quyền có quan điểm riêng, lại càng không có quyền có quan điểm sai (so với cái đúng mà nhà nước quy định). Chỗ riêng tư, anh có vụng trộm nói khác nghĩ khác, tôi tạm tha. Nhưng công khai thì không. Cái chuyện ăn đòn (= vùi dập) khi làm sai là chuyện đương nhiên.  Anh có vì thế mà chết cũng chẳng ai thương tiếc. Cố nhiên, người đứng đắn thì sẽ ăn đòn xong lại đứng dậy, nhưng đó là việc riêng của anh.

Sức sống dai dẳng
 Từ Huy lo một khối băng giá đang ngự trị trong cả giới. Và tác giả đặt giả thiết:
Đằng sau sự im lặng của giới đại học  [ …  ] có thể đọc thấy điều gì? Nỗi sợ hãi? Sự hạn chế về năng lực chuyên môn? Sự tê liệt khả năng phản ứng? Sự thờ ơ vô cảm (coi đấy không phải là việc của mình)? Sự chuẩn bị tâm lý cho một quá trình chịu đựng vô điều kiện những áp đặt từ trên xuống, bất kể những áp đặt đó phi lý như thế nào, một quá trình chịu đựng lâu dài chưa biết bao giờ mới kết thúc?
Trả lời: Tất cả sự dự đoán của tác giả là đúng. Nhưng cần biết thêm, cách phản ứng của con người hiện nay nói chung -- chứ không phải riêng của các “nhà” KHXH -- bị điều kiện hóa rất chặt chẽ  và đó chỉ là một bộ phận trong sự chịu đựng hàng ngày. Đừng quá hy vọng ở họ. Họ sẽ chẳng chết như đã chẳng sống. Họ sẽ như thế này… mãi. Và sống có lý có lẽ, có sự tự tin cẩn thận.
Hồi chống Mỹ, miền Bắc tức “bên thắng cuộc” sống trong một tình thế bị cắt đứt hoàn toàn với giới khoa học bên ngoài. Phía tư bản thì những Freud, Kafka, Sartre, Camus , Levy Strauss …đều phản động hết không nói làm gì.  Ngay cả với thế giới XHCN cũng vậy. Trung Quốc rơi vào cách mạng văn hóa, còn Liên Xô bị coi là xét lại, là một thứ nấm độc cần phải từ chối.
Những năm đó, bao nhiêu sinh viên và thực tập sinh đang học các ngành KHXH ở Liên xô và Đông Âu đều bị gọi về dù học còn dang dở.
 Tôi tuy chỉ ở bên văn chương nhưng mọi chuyện bên khoa học cũng được biết ít nhiều, vì  cả hai khu vực này đều trong phạm vi chi phối của ông Tố Hữu. Tôi nhớ có một tư tưởng của Tố Hữu, do giới  tuyên huấn lúc ấy cho lan truyền, cho rằng về khoa học tự nhiên thì chúng ta có thể kém các nước, nhưng còn về khoa học xã hội thì  ta là nhất, các nước khác cần cắp sách đến học chúng ta.
Về sau này, những tư tưởng đó có thể được trình bày kín đáo hơn, nhưng theo tôi thấy nó không bao giờ mất hẳn. Và nó biến hình thành những tư tưởng tinh vi hơn, chẳng hạn về cái gọi là tinh thần dân tộc trong nghiên cứu xã hội hay được nói gần đây. Riêng nó đủ tạo nên sức sống dai dẳng của các loại các bộ môn khoa học ở VN hôm nay.

 Mức độ suy đồi
Không phải trong giới không còn những người muốn làm khoa học xã hội thực sự.
Ở đây có một số người  được đào tạo đúng bài bản, tiếp thu được tinh thần khoa học chân chính từ nước ngoài về. Ngay trong những người chỉ là dân nội địa cũng có những người  do lương tri và học hỏi mà cảm thấy lẽ ra chúng ta phải có một thứ khoa học khác.
Tuy vậy, trong thực tế, có hai khía cạnh phải tính tới.
 Một là  ngay từ điểm xuất phát, giới đại học ở ta, nhất là bên KHXH, đã được hình thành theo kiểu ba vạ. Không ít người trong họ ban đầu là những cán bộ tuyên truyền chỉ giỏi về xách động, thiếu chuyên môn nhưng lại thừa ý chí, xông vào đủ mọi lĩnh vực và nay hóa ra những nhân vật đầu đàn, những pioneer (tạm dịch: người đặt nền móng) cho KHXH VN hiện đại.
Việc bảo vệ con đường đã qua của KHXH hôm nay là lẽ sống của họ. Cố nhiên họ thừa hiểu, mọi cố gắng đưa ngành này vào quỹ đạo của KHXH thế giới đều có nghĩa là phủ định công lao và vai trò của họ, đời nào họ cho phép.
Hai là  mấy chục năm nay,  tình trạng ọp ẹp ngành này kéo dài. Trên cái mặt bằng quá thấp của giáo dục nước ta, KHXH chính là khu vực trũng nhất. Học sinh phổ thông giỏi đi học y khoa, học tin học, học kinh tế… chứ mấy ai chịu theo bên văn bên sử. Khi vào ngành rồi, thì lại có sự sàng lọc tiếp theo, theo phương châm “ hồng trước chuyên sau”.
Ở các ngành khoa học tự nhiên, thì  sự kém cỏi còn khó che giấu. Chứ ở đây, cứ mạnh mồm là được. Không có gì lạ nếu bộ phận kém cỏi và hoạt đầu trong KHXH, lại được coi là bộ phận đáng nâng đỡ và dần dần đóng vai thao túng tình hình.
Những người ưu tú thì bị chèn ép, chỉ riêng việc chống lại chủ nghĩa bình quân cũng đủ khiến họ tiêu mòn sức lực.
Quan trọng không kém là vai trò của đãi ngộ. Trong khi các cán bộ có thiện chí khoa học cô đơn, và thiếu đủ mọi điều kiện để làm việc, thì những kẻ nịnh nọt, một lòng một dạ kiên trì thứ khoa học minh họa tha hồ được khen thưởng, được cho đi học nước ngoài, được cấp những khoản kinh phí lớn để “nghiên cứu”, những gì họ viết ra được đưa vào sách giáo khoa chính thức giảng dạy cho hàng triệu sinh viên học sinh.
Các nhà nghiên cứu trẻ có phải là thánh cả đâu? Bao nhiêu thông minh  vốn có trong họ trước tiên được sử dụng để giúp họ thích ứng với hoàn cảnh mà cũng là để mỗi người tìm cho mình một chỗ đứng. Nhu cầu tự do và khả năng học hỏi ở mỗi người dần bị mài mòn, người trước kẻ sau họ đều rơi vào cái quỹ đạo đã được vạch sẵn.
 Xét đại trà, bộ mặt của giới nghiên cứu đã hình thành đúng như sự nhào nặn của những người trả lương họ. Để đỡ phiền phức, càng ngày, những người trong cuộc càng tự mình thỏa mãn với công việc và trình độ của mình, không ai có ý ân hận và lo lắng về sự xa cách giữa KHXH Việt Nam và KHXH thế giới.
Không có gì là khó hiểu trong cái định hướng mà cả giới đã chọn. Thắc mắc mà làm chi khi bây giờ khi đại cục đã hỏng, tôi chỉ một con chim non bé bỏng – vứt trong lồng con giữa một lồng to(Tố Hữu).Trong khi đó, nhìn đi nhìn lại hóa ra so với ngày hàn vi mình nay cũng không đến nỗi nào. Phần lớn các nhân vật khôn ngoan trong giới đã đạt tới cái đích mà họ ôm ấp.  Giáo sư cũng có, tiến sĩ “ như lợn con”, viện sĩ hàn lâm nếu muốn rồi anh cũng có thể có.
Khi những điều kiện vật chất được thỏa mãn thì những đòi hỏi về tinh thần dần dà rồi cũng tan biến.
 Từ Huy đặt vấn đề trách nhiệm Chỉ còn hy vọng khi những người làm nghiên cứu ở Việt Nam, với tư cách cá nhân, vẫn giữ được cho mình quan điểm độc lập so với quan điểm chính thống này. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc họ phải nhìn thấy trách nhiệm của chính họ […] trong sự suy tàn của ngành KHXH&NV
Theo tôi hiểu, với giới nghiên cứu KHXH hiện nay, hai chữ trách nhiệm theo nghĩa cao nhất của nó -- trách nhiệm với lịch sử -- đang là thứ xa xỉ.
Trong nhiều luận văn công bố gần đây, Từ Huy đã giảng giải cho chúng ta thấy giới đại học phải có một cách hoạt động như thế nào, người làm khoa học xã hội phải có trình độ và tư cách  như thế nào.
Chẳng hạn, trong bài này, tác giả có nói đến yêu cầu của giới khoa học là đi tìm chân lý chứ không phải đi tìm cái đúng như cấp trên chỉ thị, và nhiều khi họ nghiên cứu mà họ không biết rằng mình sai hay đúng.
 Về phần mình, tôi ngờ rằng những điều đó ngày càng khó nghe đối với giới nghiên cứu hiện nay, vì chúng đánh vào lòng tự ái của họ, lương tâm của họ, là điều mà chính họ muốn quên lãng và không muốn ai nhắc lại nữa.
Từ Huy có lẽ đã cảm thấy điều đó khi mở đầu  bài viết bằng đoạn cảm thán Vẫn biết rằng những gì nói ra ở đây có thể chẳng ai nghe, có thể chẳng nhận được sự hồi đáp nào, mà có khi lại tự gây nguy hiểm cho bản thân, chuốc lấy sự thù ghét của đồng nghiệp. Nhưng đã cầm bút thì không làm khác được. 
Đây tôi không nói rằng việc giới nghiên cứu im lặng là tốt, nhưng chúng ta cần phải thông cảm với họ. Họ được đào tạo theo những cách khác và đặt quyền lợi của mình ở những điểm khác. Nêu ra những yêu cầu có tính chất " chuẩn mực quốc tế " đối với họ, là làm phiền họ và cũng chỉ gây thất vọng vì sẽ chẳng bao giờ mà yêu cầu đó được thỏa mãn.

 Sống tiếp như thế nào đây
Chúng ta thường chỉ lo lắng là có vẻ như KHXH ở ta hiện nay không có thành tựu. Cái đáng lo hơn là con người. Khi con người đã hỏng thì làm ra cái gì có giá trị nữa.
Một bạn theo dõi tình hình khoa học ở Nga kể với tôi câu chuyện sau:
Đúng năm 1991, khi Liên xô sụp đổ thì một nhà khoa học trẻ bảo vệ thành công một luận án tiến sĩ xuất sắc về chủ nghĩa vô thần. Đó là một người hết sức thông minh. Ông hiểu rằng cả tuổi trẻ của ông đã đi vào con đường sai lầm. Cảm thấy không có lý do để sống nữa, ông nhẩy lầu tự tử.
Ở ta không có những con người như thế. Trong trường hợp tốt nhất chúng ta chỉ có những mẫu người như Trần Quốc Vượng đã mô tả và sống theo. Cái gì cũng có một chút. Một chút phải đạo, một chút chống đối làm dáng. Một chút khoa học, một chút một chút xẩm chợ nói liều. Một chút cống hiến hết mình, một chút nhặt nhạnh kiếm chác và hưởng thụ.
Vả chăng, cái mẫu như ông Vượng cũng đang ngày một hiếm.
Thế tức là tình thế hoàn toàn tuyệt vọng hay sao? Khi tự đặt cho mình câu hỏi này, tôi tìm tới câu trả lời nước đôi. Vâng, tuyệt vọng thật . Đáng lẽ chúng ta phải có hàng trăm Bảo Ninh, hàng vài chục Nguyễn Huy Thiệp thì văn chương chúng ta mới khởi sắc được, chứ chỉ có một hai người ấy, mọi sự hy vọng đều là tự dối mình. Tuy nhiên, chúng ta không thể chết như ông tiến sĩ người Nga, chúng ta phải sống. Đối với các bạn trẻ, tôi nghĩ nay là lúc phải phân thân, vừa biết sống như mọi người, vừa dành một phần tối đa có thể để học hỏi và thầm lặng bắt tay vào, làm một cách hết lòng, làm như làm cho chính mình, những việc tử tế, có đóng góp cho khoa học mà cũng là có đóng góp thực sự cho nhân dân đất nước .
 May mà chúng ta làm khoa học xã hội, công cụ làm việc nhiều khi chỉ cần ít cuốn sách là đủ. Cũng chẳng cần chung quanh công nhận vội…Bởi cái đích của ta rất xa…Trong việc này mỗi người có thể rất đơn độc, và thất bại nữa…Và trước mắt là chịu thiệt, là không có cả danh lẫn lợi. Nhưng niềm vui lớn nhất, niềm vui của cuộc truy tìm chân lý đang chờ. Nhờ thế, lòng ta luôn luôn thanh thản.
Trong cái cuộc sống khó khăn này, có một điều theo tôi nên nghĩ. Là không phải chúng ta bi đát, mà nhiều người khác trên trái đất này cũng bi đát, các trí thức Nga , các trí thức Trung Quốc, và gần đây các trí thức Afganistan, Iraq , Ai Cập… Nghĩ rộng ra nữa, đọc kỹ vào văn học phương Tây thế kỷ XX, thì ở đâu chúng ta chẳng bắt gặp cái giọng đau đớn vì sự bất lực khi muốn làm người tử tế.
 Trong thời hiện đại, có thể anh cần chấp nhận một số điều kiện mà những con người cổ điển thà chết chứ không chấp nhận. Phải sống để làm bằng được cái điều anh đã dự định ( như Tư Mã Thiên xưa nuốt nhục để làm nốt sứ mệnh của người viết sử). Như vậy là anh đã không đầu hàng, hơn thế nữa, đã chiến thắng .
 Ở một trang sổ tay cũ, tôi có chép được một câu danh ngôn, đúng hơn là một lời tự nhủ của một nhà văn, nó từng ám ảnh tôi nhiều năm, hồi chiến tranh đã thấy đúng, nay càng thấy đúng:
 Thời đại chúng ta  cốt yếu là một thời đại bi thảm, bởi thế chúng ta từ chối coi nó là một cái gì bi thảm. Cuộc đại biến động đã xảy ra, chúng ta ở giữa những đổ nát, chúng ta bắt đầu xây dựng những túp lều  trú ngụ tạm bợ và dấy lên chút hy vọng nhỏ bé mới. Đó là một công việc khá nhọc nhằn. Nay là lúc không có con đường bằng phẳng nào dẫn tới tương lai. Nhưng chúng ta sẽ đi vòng quanh hoặc bò qua những trở ngại. Chúng ta  phải sống thây kệ bao nhiêu bầu trời đã sụp.


Câu này của D.H. Lawrence (1885 - 1930), tôi đọc được từ trong một cuốn sách của ông Nguyễn Hữu Hiệu, hình như là cuốn Con đường sáng tạo in ở Sài Gòn trước 1975.

Việt Nam học gì từ Myanmar: Chọn láng giềng hay phương Tây?

'Lãnh đạo cấp cao đến người dân bình thường đều đã thấu hiểu giá trị của dân chủ tự do mà họ đã thụ hưởng cũng như cái giá đắt phải trả của dân chủ quá đà'
Ông Chu Công Phùng, cựu đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Myanmar giai đoạn 2009-2012 tiếp tục trao đổi với Tuần Việt Nam bài học Myanmar.
Theo ông đâu là lý do chính khiến Myanmar có sự thay đổi ngoạn mục về chính trị - xã hội, tổ chức bầu cử thành công, chuyển đổi từ chính quyền quân sự sang dân sự...  một cách êm thấm. Trong khi những đất nước Châu Âu, Trung Đông, Bắc Phi như Ai Cập đang mắc kẹt trong những cuộc chuyển đổi đẫm máu. Đâu là sự khác biệt lớn nhất?
Rất nhiều người đã nêu câu hỏi này và đều tự tìm câu trả lời hợp lý nhất có thể. Theo tôi, lý do khiến Myanmar có sự thay đổi ngoạn mục trong hơn 2 năm qua chủ yếu là nguyên nhân bên trong, là do yếu tố con người Myanmar quyết định.
Lần theo lịch sử, chúng ta đều biết sau khi giành được độc lập năm 1947, Myanmar đã trải qua hai thời kỳ phát triển với chế độ chính trị trái ngược nhau: chế độ dân chủ nghị viện (1948-1962) và chế độ quân sự độc tài (từ 1962 trở đi).
Nói cụ thể hơn, mọi công dân Myanmar từ lãnh đạo cấp cao đến người dân bình thường đều đã thấu hiểu giá trị của dân chủ tự do mà họ đã thụ hưởng cũng như cái giá đắt phải trả của dân chủ quá đà và nỗi đau xót khi bị mất tự do dân chủ. Họ khát khao được tái thụ hưởng nền dân chủ tự do của thập kỷ 50 thế kỷ XX; đồng thời rất khao khát xã hội được hòa bình ổn định, không rối loạn, không đổ máu bắn giết lẫn nhau như mấy chục năm gần đây.
Về kinh tế, văn hóa, mọi công dân Myanmar đều lưu luyến niềm tự hào trong quá khứ: Myanmar từng là điểm sáng nhất Đông Nam Á về phát triển kinh tế, từng là cường quốc xuất khẩu gạo của thế giới, từng có nền giáo dục trong tốp 20 của thế giới, từng có công dân (U Thans) làm Tổng Thư ký Liên hợp quốc (1961-1971), từng 2 lần vô địch bóng đá Châu Á, 5 lần vô địch bóng đá Đông Nam Á...
Vì vậy, mọi người dân Myamar đều theo dõi sát sao "Lộ trình Dân chủ 7 bước" do Thống tướng Than Shwe chỉ đạo thực hiện từ năm 2003. Tháng 11/2010, khi "lộ trình" này chuyển sang bước thứ 6: bầu cử quốc hội, lập chính phủ mới, đã đáp ứng được nguyện vọng của đại đa số công dân Myanmar kể cả những người bất đồng chính kiến.
Kể từ đó, Myanmar liên tiếp có những thay đổi ngoạn mục và không xảy ra rối loạn như một số nước Đông Âu, Trung Đông, Bắc Phi...như mọi người đã biết.
Đương nhiên, những yếu tố tác động từ bên ngoài cũng rất quan trọng, nhưng không phải là yếu tố quyết định.
Myanmar, dân chủ, phương Tây, Mỹ, EU, đấu tranh
Chân dung bà Aung San Suu Kyi trên đường phố Yangon. Ảnh Hoàng Hường
'Liều thuốc thử' của Mỹ và EU
Lộ trình 7 bước dân chủ của Myanmar đã được thực hiện đến giai đoạn nào, thành công so với mục tiêu đề ra và sự ảnh hưởng của nó?
Đầu năm 2003, Thống tướng Than Shwe tiến hành cải tổ Nội các, bổ nhiệm Đại tướng Khin Nyunt - Bí thư thứ nhất Hội đồng Hòa bình và phát triển quốc gia (SPDC) làm Thủ tướng. Sau khi nhậm chức, Thủ tướng Khin Nyunt thay mặt chính phủ Myanmar công bố "Lộ trình dân chủ 7 b­ước" hướng tới xây dựng một nhà n­ước Myanmar mới "Dân chủ có kỷ cương" bao gồm:
B­ước 1,  Phục hồi triệu tập Đại hội quốc dân vốn bị đình trệ từ năm 1996.
Bư­ớc 2, Từng b­ước tiến hành những bước đi cần thiết cho việc xây dựng một chế độ dân chủ thực thụ và có kỷ cương.
B­ước 3, Soạn thảo một Hiến pháp mới dựa trên những nguyên tắc căn bản và chi tiết mà Đại hội quốc dân thông qua.
B­ước 4, Tổ chức cuộc trư­ng cầu dân ý để thông qua Hiến pháp mới.
B­ước 5, Tổ chức cuộc tổng tuyển cử tự do, dân chủ, công bằng để bầu ra Quốc hội theo quy định của Hiến pháp mới.
B­ước 6, Triệu tập họp Quốc hội theo quy định của Hiến pháp mới.
Bư­ớc 7, Xây dựng đất nư­ớc phát triển, hiện đại và dân chủ; lãnh đạo đất nư­ớc do Quốc hội bầu; chính phủ và các tổ chức trung ­ương do Quốc hội thành lập.
Myanmar, dân chủ, phương Tây, Mỹ, EU, đấu tranh
Ông Chu Công Phùng. Ảnh: Hoàng Hường
Theo lộ trình trên, hiện nay "Lộ trình dân chủ 7 bước" đã chuyển sang bước cuối cùng. 
Những ai theo dõi quá trình phát triển của Myanmar đều thấy rõ lộ trình này được thực hiện thành công, đúng bài bản, đúng tiến độ và phát huy ảnh hưởng rất tích cực trong nội bộ Myanmar. 
Dư luận dân chúng Myanmar cho rằng, đây chính là công lao của Thống tướng Than Shwe để lại trong lịch sử Myanmar trước khi ông nghỉ hưu năm 2011.
Những động thái Mỹ và EU tới Myanmar, dỡ bỏ cấm vận, sự ủng hộ đối với quốc gia này sau khi 'liều thuốc thử' về thái độ nhất quán của Myanmar đã được đáp ứng. Sau đây Mỹ và EU sẽ còn đòi hỏi gì thêm ở Myanmar? Sự ủng hộ này sẽ có ảnh hưởng thế nào đến các nước láng giềng và khu vực, đặc biệt Trung Quốc?
Như đã trình bày ở câu 11,Mỹ và EU tuy đang từng bước tháo dỡ các đạo luật trừng phạt kinh tế đối với Myanmar, nhưng họ vẫn đang theo dõi chặt chẽ các bước cải cách kinh tế và hòa hợp dân tộc của chính phủ Myanmar. Cuộc bầu cử Quốc hội 2015 sẽ là "liều thuốc thử" quan trọng để họ quyết định bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Myanmar, chấp nhận Myanmar hội nhập với thế giới hay không? Ứng xử của Myanmar sẽ "giải đáp" những mong muốn của Mỹ và EU.
Các nước láng giềng của Myanmar trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ đều hoan nghênh các động thái tích cực từ Mỹ, EU đối với Myanmar mấy năm qua. Tuy nhiên, xuất phát từ quan hệ song phương với Myanmar và lợi ích của các nước láng giềng tại Myanmar, mỗi nước đã và đang có những phản ứng riêng của họ đối với mối quan hệ đang ấm lên giữa Myanmar với Mỹ và EU.
Tỷ lệ ủng hộ của người dân thể hiện qua cuộc bầu cử 1/4/2012 với đảng NLD và bà Aung San Suu Kyi sẽ có tác động thế nào tới chính sách của Mỹ và phương Tây đối với Myanmar?
Ngày 1/4/2012 Myanmar tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội bổ sung để bầu thêm 45 nghị sĩ còn thiếu. Cuộc bầu cử bổ sung này được giám sát chặt chẽ của Đoàn Ngoại giao tại Yangon và nhiều phóng viên nước ngoài, thu hút sự quan tâm rất lớn của dư luận trong và ngoài nước Mynamar. Đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi đã tham gia ứng cử và giành thắng lợi vang dội với 43 người trúng cử trên tổng số 45 ghế cần bổ sung.
Ngay sau khi NLD giành thắng lợi này, Mỹ đã hoan nghênh đây là "bước tiến quan trọng trong tiến trình chuyển đổi dân chủ, thể hiện quyết tâm của Myanmar hướng tới sự cởi mở, minh bạch và cải cách lớn hơn". Các nước EU cũng lần lượt tuyên bố hoan nghênh kết quả cuộc bầu cử và chúc mừng đảng NLD. Cũng sau cuộc bầu cử này, các quan chức Mỹ đã chuyển sang sử dụng tên nước "Myanmar" thay cho "Bumar" trước đây vẫn sử dụng với ngụ ý "Bumar" là chính phủ quân sự độc tài.
Sự kiện đảng NLD có mặt trong Quốc hội Myanmar kể từ ngày 1/4/2012 và bà Aung San Suu Kyi được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Pháp chế Quốc hội hiển nhiên là phù hợp với mong muốn của Liên Hợp Quốc, Mỹ và các nước phương Tây, chắc chắn sẽ là cơ sở quan trọng để họ điều chỉnh chính sách theo hướng tích cực hơn đối với Myanmar.
Với vị trí 'cửa ngõ' ra vùng Nam Á và Ấn Độ Dương, Myanmar có rơi vào thế bị giằng co giữa Trung Quốc, Ấn Độ và phương Tây?
Với vị thế địa chiến lược quan trọng là cửa ngõ giữa Đông Nam Á với Nam Á, Trung Đông, Châu Âu...,lại án giữ Ấn Độ Dương, mấy chục năm qua Myanmar là đối tượng tranh giành ảnh hưởng giữa Trung Quốc và Ấn Độ với ưu thế nghiêng về Trung Quốc.
Hơn 2 năm qua, cùng với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Myanmar theo hướng hội nhập quốc tế, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc và sự can dự ngày càng tăng của Mỹ, Phương Tây đối với Myanmar, các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế đều đang theo dõi sát sao về việc Myanmar thực thi chính sách đối ngoại như thế nào để có thể giữ được vị thế cân bằng trong quan hệ với các nước lớn.
Myanmar thời 'hậu cấm vận' sẽ nhanh chóng vượt qua các quốc gia láng giềng về kinh tế, chính trị và vị thế quốc tế, có cơ sở không, thưa ông?
Tôi không cho rằng Myanmar thời kỳ "hậu cấm vận" sẽ nhanh chóng vượt qua các nước láng giềng Đông Nam Á về kinh tế, chính trị và vị thế quốc tế, bởi 3 lẽ:
- Xuất phát điểm phát triển của các nước Đông Nam Á khác đều sớm hơn Myanmar vài chục năm (Việt Nam, Lào cũng đi trước Myanmar hơn 20 năm).
- Tuy Myanmar có nhiều thuận lợi hơn các nước Đông Nam Á khác về tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực biết tiếng Anh..., nhưng để phát huy có hiệu quả thế mạnh đó đòi hỏi phải phát triển đồng bộ cơ chế quản lý kinh tế, cơ sở hạ tầng và hệ thống dịch vụ... những lĩnh vực này Myanmar tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực.
- Mỹ, EU tuy đang từng bước tháo dỡ các đạo luật trừng phạt kinh tế đối với Myanmar, nhưng họ vẫn đang theo dõi chặt chẽ các bước cải cách kinh tế và hòa hợp dân tộc của chính phủ Myanmar. Cuộc bầu cử Quốc hội 2015 sẽ là "liều thuốc thử" quan trọng để họ bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Myanmar hay không?
(Còn nữa)
Hoàng Hường
(VNN)

Lan man nghĩ về ba chữ “Tù mọt gông”


IMG_2986
Người tù chung thân như Nguyễn Thanh Chấn được gọi là “Tù mọt gông” dù có thể trong trại giam không phải lúc nào anh ta cũng bị cùm hai chân . Người tù cải tạo vô thời hạn không xét xử như Nguyễn Hữu Đang vụ đầu trò Nhân văn Giai phẩm bị nhốt trong một trại giam ở miền sơn cước vô cùng khắc nghiệt và hai chân bị cùm để khỏi trốn trại gọi là “ Tù khổ sai”
Gông hay cùm để xích chân xích tay những người tù là một thứ công cụ làm bằng gỗ thường thấy trong phim ảnh cổ trang. Nó không chỉ xích chân tay người tù mà còn xích cả cổ . Bây giờ thì làm bằng kim loại gọn nhẹ hơn và còn thêm tên còng, “còng số 8”. Khi đọc lệnh bắt một người mang một cái tội nào đó bao giờ người ta cũng còng tay người đó dẫn giải ra xe bịt bùng kín mít đề phòng trốn chạy . Vào tù rồi mới thay còng bằng gông hay cùm
Có lẽ phải đề nghị Bộ Giáo dục đào tạo đưa các kiến thức này vào sách giáo khoa môn giáo dục công dân vì những thứ này nay dùng đến nhiều quá
Cha tôi là một nhân sĩ yêu nước sớm giác ngộ cách mạng đi theo Đảng từ những ngày đất nước còn chưa được độc lập. Vậy mà cũng đã ba lần phải vào tù , nhà tù của cả quân ta lẫn quân thù !
Lần thứ nhất , ngay trước khi cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra, ông bị quân Nhật đóng ở Yên Bái bắt giam cùng với toàn bộ con trai trong gia đình vì đã liên lạc với Việt Minh ở chiến khu Vần và giúp họ sáu chục khẩu súng mousqueton để vũ trang chuẩn bị cướp chính quyền . Hôm đó với tư cách Tri phủ Trấn Yên , họ mời ông lên Đồn Cao ( nơi đóng trụ sở Bộ chỉ huy quân Nhật) làm việc và giữ ông ở lại luôn, nhốt ông trong một căn nhà bỏ hoang đồng thời xua quân đi bắt các con trai của ông cả thảy năm người trong đó có một người anh đã tham gia cùng bố giúp súng cho Viêt Minh bị tra điện dã man . Như thế gọi là “ Tù giam lỏng “. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông được giải phóng , được cử làm Phó chủ tịch Ủy ban lâm thời cách mạng tỉnh Yên Bái rồi sau làm chánh án Tòa án nhân dân đệ nhị cấp tức Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái , chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Yên Bái
Quốc dân đảng của Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh theo chân quân Tàu Tưởng cướp chính quyền ở thị xã Yên Bái, đẩy Việt Minh sang bên kia sông , ông lại bị bắt vì đã giải cứu ông Nguyễn Văn Phúc Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái . Họ nhốt hai ông trong một nhà tù , hàng ngày khảo cung . Sau một tháng ông Phúc bị thủ tiêu còn bố tôi được vận động bởi các đại biểu quốc hội thuộc thành phần quốc dân đảng ở Hà Nội nên được trả lại tự do . Lẽ ra , bố tôi cứ ở Hà Nội, giã từ con đường chính trị yêu nước thì cuộc đời yên ổn nhưng ngày 19-12-1946, nghe theo lời kêu gọi của ông Hồ , ông lại đưa cả gia đình lên Yên Bái tham gia kháng chiến chín năm để rồi …
Năm 1953 Đảng phát động giảm tô giảm tức, ông bị quy là địa chủ vì ba cái mẫu ruộng cho phát canh thu tô. Ông bị “ông Đội” đem ra đấu tố ( Mỗi xã thành lập một Đội cải cách ruộng đất , đội trưởng do cấp trên cử xuống, họ phát động quần chúng dựa hẳn vào bần cố nông để đánh gục giai cấp địa chủ bóc lột. Ông đội trưởng có quyền sinh quyền sát , có thể ra lệnh bắt người này bắt người kia và xử bắn họ . Đã có hàng ngàn người bị chết oan như vậy mà không biết vì sao họ bị giết ). Một lần nữa bố tôi lại bị bắt . Buổi chiều hôm trước họ triệu bố tôi lên Ủy ban xã nhốt trong một căn nhà lá tồi tàn . Sợ ông bỏ trốn, những bần cố nông gọi là “cốt cán” có sáng kiến dùng hai cây chuối để cùm hai chân ông. Họ dùng dao khoét hai thân cây chuối đủ để lọt hai cổ chân rồi ép chặt hai thân cây chuối vào vói nhau xong buộc hai đầu . Thế là ông mất tự do. Hai chân không thể co chỉ có thể duỗi  dài , muốn đái ỉa xin cứ tự nhiên tại chỗ . Chỉ có những người nông dân bị lường gạt và vô học mới nghĩ ra kiểu cùm như thế . Nó không thể bị mọt nên không có khái niệm “ Tù mọt gông” nhưng chỉ sau một đêm thôi . Ông có cảm tưởng nó dài cả ngàn ngày . Hôm sau ông bị lôi ra đấu tố . May quá ! Ông chỉ bị kết tội bóc lột và phải giảm tô nên không bị xử bắn như một số người địa chủ khác . May nữa là những người nông dân không biết ông đã bị Nhật và Quốc dân đảng bắt . Nếu biết  chắc chắn ông sẽ bị xử bắn vì tội “phản động” mà không ai trừ hai ông cộng sản cỡ bự Ngô Minh Loan và Nguyễn Văn Phúc có thể minh oan cho ông . Năm 1956 Đảng sửa sai , ông được “hạ thành phần “ xuống “địa chủ kháng chiến” và trước khi chết còn được truy tặng Huân chương kháng chiến . Từ lúc được trả lại  tự do năm 1956 đến lúc chết năm 1979 , ông- một viên quan lại, một phó chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời rồi chủ tịch cái Ủy ban này, chánh án Tòa án Tỉnh, chủ tịch Liên Việt tỉnh, chủ tịch Hội nuôi quân- sống bằng nghề đan sọt , con cái sợ liên lụy không dám về thăm ông. Tuy không bị gông cùm nhưng cuộc đời của ông chẳng khác gì một Tù khổ sai, một Tù giam lỏng, một Tù mọt gông như nhân vật trong “ Những người khốn khổ” của Victo Huygo .

Đâu là tư cách của CSVN: ứng viên Hội Đồng Nhân Quyền LHQ?

Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - Việt Nam đã nộp đơn ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (UNHRC) cho nhiệm kỳ 2014-2016 và cuộc bầu cử các thành viên mới trong số 47 thành viên của Hội đồng này cũng sẽ diễn ra trong tháng 11/2013.
Như vậy, Việt Nam sẽ cạnh tranh với các nước Trung Quốc, Maldives, Jordani và Ả Rập Xê Út để dành một trên bốn chiếc ghế đại diện cho vùng Thái Bình Dương trong hội đồng thiết lập và giám sát Nhân Quyền của thế giới này.

Ông Phạm Bình Minh và Một phiên họp của Hội đồng Nhân quyền LHQ.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh của nhà nước CSVN khẳng định việc Chính phủ CS/XHCN/VN quyết định ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 nhằm đóng góp nhiều hơn nữa vào các nỗ lực chung của LHQ và cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người. (sic)!?. [1]
Thông thường tính “Hợp Pháp và Uy Tín” là chuẩn mực đầu tiên cao nhất cần phải có của một Chính Phủ quốc gia góp mặt trên chính trường quốc tế.
Tại thời điểm này nếu có ai đó cắt cớ hỏi bộ trưởng Phạm Bình Minh rằng: xin ngài vui lòng cho biết và viện dẫn một văn bản nào đó nói lên tính phổ quát hợp pháp do toàn thể nhân dân Việt Nam trực tiếp chọn lựa đảng CSVN là tập đoàn “độc quyền” duy nhất cai trị đất nước sau khi thống nhất 2 miền Nam Bắc? Không biết ngài bộ trưởng sẽ trả lời ra sao? Khi ít nhất vài chục triệu người, một nữa dân số của đất nước (phía Nam vĩ tuyến 17) không hề có một cơ hội nào sau gần bốn mươi năm (kể từ 1975) để chọn lựa, dù cái quyền ấy thuộc quyền tối thượng của nhân loại bất kể nằm trong thể chế chính trị nào, dưới bóng cờ LHQ.
Tính hợp pháp ấy còn là một dấu chấm hỏi lơ lửng nhức nhối như thế thì sự tuân thủ công pháp về nhân quyền lại là một câu hỏi lớn hơn đối với “đảng và nhà nước CSVN” Dù họ đã thò tay ký cam kết thực thi Hiến Chương Nhân Quyền LHQ.
“Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ là nhằm đóng góp nhiều hơn nữa vào các nỗ lực chung của LHQ và cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người” (Ngoại trưởng Phạm Bình Minh)
“Bảo vệ quyền con người”? Lời nói đạo đức giả ấy không khác là mấy với lời thoại trong một vở kịch hài – Khi tại quốc gia CS/XHCN/VN hiện nay quyền của “người chết” còn bị bất chấp đạo lý tước đoạt công khai, áp đặt, thì nói chi đến quyền của mọi công dân đang còn sống? Chúng ta, công luận trong và ngoài nước xem, đánh giá và tự hỏi :
“Liệu có một đảng phái hay nhà nước nào trên thế giới này hèn mạt, ti tiện bởi một nhân cách thù hằn nhỏ nhen “bệnh hoạn” như thế này không??”
 Phương Uyên bên cạnh mộ phần “Huynh” (TT/Ngô Đình Diệm)
Phương Uyên bên cạnh mộ phần “Đệ” (Cố Vấn Ngô Đình Nhu)
Tổng Thống đầu tiên của miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa, Ngô đình Diệm và em ruột Ngô Đình Nhu - Hai ông sinh thời đã kiên định với lập trường của đảng “Cần Lao Nhân Vị” tuyệt đối độc lập cho quốc gia, chống lại ảnh hưởng ngoại lai và CN Cộng Sản với khát vọng đưa miền nam thịnh vượng cất cánh như các quốc gia trung thành với chủ nghĩa Dân Tộc trong khu vực Asean, cuối cùng 2 ông đã hy sinh vì tận trung với nước – Nhưng mộ phần gần 40 năm qua vẫn nằm quạnh hiu lại chịu thêm hình phạt là “vô danh” chỉ được phép ghi trên bia mộ “huynh” (là Anh) và “đệ” (là Em)!? từ nhà cầm quyền CSVN.
Trong khi đó ông Hồ Chí Minh người đã mang chủ nghĩa CS ngoại lai xa lạ, một thứ chủ nghĩa độc tài sắt máu đầy tội ác cống nhân loại mà quốc tế đang nguyền rủa xa lánh, nêu đích danh Hồ chí Minh là một trong những thủ phạm gây nên nội chiến núi xương sông máu làm hàng triệu người chết tại VN, áp đặt CNXH/CS lên đầu toàn dân tộc Hùng Vương Âu Lạc, trực tiếp lãnh đạo đường lối chủ trương đấu tố sát hại 172. 000 đồng bào vô tội (theo xác định trong tư liệu CCRĐ của CSVN) – Nhưng khi chết Hồ Chí Minh lại được nằm trong một cái “lăng” đồ sộ.
Không thể có nhận định nào khác hơn, rõ ràng 4000 năm sử Việt đây là một sự sỉ nhục trực tiếp vào đạo lý dân tộc, không sớm thì muộn lịch sử nước nhà sẽ đặt lên bàn cân.
“Bảo vệ quyền con người”?? Không biết khi mở miệng nói như thế ngài bộ trưởng Phạm Bình Minh có biết xấu hổ không? khi thấy mình như là một kẻ “bịp bợm”? Bởi Ngài thử chỉ ra một người VN nào trong nước “đang xuất bản một tờ báo tư nhân độc lập” mà được CSVN “bảo vệ quyền con người” như Hiến Chương nhân quyền LHQ qui định trong:
Điều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.
Hay CS/XHCN Việt Nam đang là quốc gia duy nhất trong khối Asean mà không có bất cứ một tờ báo tư nhân nào được hiện diện, ngược lại báo chí tư nhân lại được tự do xuất bản tràn ngập trong xã hội các quốc gia láng giềng Asean!?
Thêm nữa, chỉ tính từ đầu năm 2013 đến nay chúng ta đã chứng kiến nhiều phiên xử kín nhưng gọi là công khai đầy bất công, phi nghĩa. Cụ thể 22 tín đồ của Hội Đồng Công luật Công án Bia Sơn bị xử tổng cộng một án chung thân, 300 năm tù và 120 năm quản chế; 14 thanh niên ôn hòa đấu tranh cho dân chủ bị kết án 82 năm tù và 56 năm quản chế; ông Ngô Hào ở Phú Yên bị xử 15 năm tù và 5 năm quản chế; 8 tín đồ người Thượng của đạo Hà Mòn bị xử tù tổng cộng 63 năm tù; luật sư Lê Quốc Quân bị đưa ra xử về tội kinh tế do đã có các hoạt động dân chủ và nhân quyền. Tổng cộng đã có 51 công dân Việt Nam bị đưa ra xử án tù vì tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88 của Bộ luật Hình sự, trong đó có cả các PV báo chí, blogger.
Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng trăm blogger và các người hoạt động ôn hòa vì quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền sở hữu ruộng đất đã bị đánh đập, tạm giữ, sách nhiễu, bỏ tù. Lương tâm thế giới chưa bao giờ bị một ứng viên vào UNHRC nào thách thức như vậy, ngoài trừ CSVN.
Một câu hỏi đặt ra cho công luận và cho các chóp bu “nhà nước, đảng CSVN”, Tại sao (trừ Việt Nam) phần còn lại, các thành viên trong khối Asean không có quốc gia nào diễn ra các trường hợp bắt bớ xét xử kết án tù thường xuyên công dân nước mình như nói trên? Chắc chắn không có câu trả lời, bởi “ngậm miệng” để ăn tiền là bản chất của các chóp bu CSVN hôm nay.
Chúng ta trong và ngoài nước đoàn kết hổ tương mạnh mẽ lên tiếng bằng đủ loại ngôn ngữ khác nhau trước công luận và HĐ/LHQ cũng như (UNHRC) để phản đối và có những vận động đối với các phái đoàn quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc vạch trần những mưu mô xảo quyệt, đạo đức giả của CSVN nhằm chen chân vào UNHRC để gián tiếp “hợp pháp hóa” sự độc tài toàn trị vi phạm nhân quyền tàn bạo của CSVN. Chậm nhất, trước ngày 12/11/2013, các tổ chức nhân quyền quốc tế cần thiết phải mời đại diện CS/XHCN/Việt Nam đến trả lời trước các bằng chứng vi phạm nhân quyền qua cuộc chất vấn ứng cử viên để cân nhắc trước khi bỏ phiếu.
Hoàng Thanh Trúc
_________________________________
Chú thích:

Vì sao nên nỗi?

Theo báo Dân Trí ở trong nước, một vụ án động trời vừa mới xảy ra. Dù đã có chồng và 3 con nhưng Nguyễn Thị Thắm (SN 1981) vẫn lén lút quan hệ với người tình trẻ hơn mình 5 tuổi, khiến gia đình tan vỡ. Bị mẹ ruột ngăn cản, Thắm đã kêu người tình ra tay giết mẹ, cướp tài sản và ném xác xuống sông để phi tang. Hết trích từ Báo Dân Trí.

 

Người Việt Nam của chúng ta vốn trọng nhân nghĩa và đạo đức làm người. Ngày trước, dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa, học sinh khi mới bước chân vào trường học lớp mẫu giáo thì phải học môn “Đức dục” và câu đầu tiên phải học là: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Lễ nghĩa đạo đức là những gì mà trẻ em khi mới bước chân vào trường học đều phải học. Sau năm 1975, trẻ em vào trường học hầu như là môn “Đức dục” không còn nữa mà thay thế bằng việc nhổi sọ về chính trị, về yêu Hồ Chí Minh, yêu đảng Cộng Sản..mà việc giiáo dục đạo đức làm người đã bị quên lãng. Trẻ em mới bước chân vào trường học đã cho quàng khăn màu đỏ vào cổ còn câu nói “Tiên học lễ hậu học văn” hòan toàn không có. Kết quả là trẻ em khi ra đường gặp người lớn không biết chào hỏi là gì.

 

Trở lại bản tin của báo Dân Trí vừa đưa ra, con gái xúi tình nhân giết mẹ quả là một hành động quá sức khủng khiếp, vượt qua mọi điều mà người ta không thể nào chấp nhận được. Đạo đức xã hội Việt Nam trong thời đại Cộng Sản lại suy đồi và xuống cấp quá sức nghiêm trọng. Chúng ta cũng có xem những video clip được post trên internet cảnh học sinh nữ đánh nhau một cách dã man bên cạnh những ánh mắt nhìn hờ hững của bạn bè hoặc còn có sự cổ vũ nữa. Cái ác dường như càng ngày càng trở nên thường xuyên xảy ra hơn trên đất nước Việt Nam dưới thời đại Cộng Sản. Cộng Sản Việt Nam đã làm cho những giá trị đạo đức của dân tộc càng ngày càng mai một đi mà thay vào đó là những cái ác, những tính hung hãn mà những thế hệ trước của dân tộc Việt Nam hoàn toàn không có, hoặc nếu có chỉ là một vài trường hợp hãn hữu chứ không trở nên nhiều và phổ biến như trong giai đoạn hiện nay.

 

Vì đâu mà đạo đức người Việt Nam càng ngày càng trở nên tồi tệ như thế này?

  Phi Vũ

Ngày 6 tháng 11 năm 2013

Toàn quốc phản kháng

 Nguyễn Nhơn (Danlambao) - (General Disobedience)

 Mỹ Yên, xứ Nghệ truyền thống “đấu tranh ”
Trực diện chiến đấu chống sói lang cọng sản
Hai mươi xứ đạo Vinh hợp đoàn biểu dương sức mạnh
Mìn plastic nỗ vang nơi trụ sở bí thư xã
Nông dân Văn Giang kiên trì phản kháng
Quyết đòi lại quyền sống, quyền làm người
Nông dân Dương Nội từng trương Khẩu hiệu:
“Nông dân – hỏa tốc – Có Ruộng cày”
Dân oan xứ Đồng Nai lạc loài ra Hà Nội khiếu kiện
Dân oan An Giang lê la nơi công viên Đàm Quảng Xương từ nhiều năm nay
Ngọn lửa Mẹ Bạc Liêu Đặng Thị Kim Liêng rực cháy có ngày

Văn Giang mồ chôn giặc cộng


Tôi tiếc rằng tôi không phải là thi sĩ
Viết nên lời thơ Văn Giang kiêu dũng
Để nối tiếp Bạch Đằng Giang oanh liệt
Tôi tiếc rằng tôi không phải là nhạc sĩ
Viết nên lời ca Văn Giang kiêu hùng
Để nối tiếp “Bạch Đằng Giang
Sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng
Giống anh hùng Nam, Bắc, Trung “
Tôi chỉ biết một điều theo tâm niệm
Rồi sẽ có một ngày, toàn dân Việt vùng lên
Đánh đuổi bọn giặc cọng mãi quốc cầu vinh
Ra khỏi cánh đồng “Chầu” Phụng Công
Trả lại mãnh đất lịch sử nơi hai Bà Trưng
Mở tiệc khao quân trước khi tiến vào Luy Lâu
Đánh tan bọn xâm lược nhà Đông Hán
Đuổi bọn thái thú Tô Định chạy về Tàu
Ngày nay người dân Văn Giang bất khuất
Quyết nối chí Trưng Nữ Vương liệt oanh
Tái hiện lịch sử từ non hai ngàn năm trước
Đánh đuổi bọn con cháu Tô Định xâm thực
Và cả bọn nội xâm cọng sản chạy về Tàu
Theo lời nguyền Mê Linh:
“Một xin trả sạch nước thù
Hai xin thu lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẽn vẹn sở công lịnh nầy”

(Mùa Thu 2012)
___________________________________
RFA - Mấy trăm nông dân thuộc ba xã Xuân Quan, Cửu Cao, Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên sáng nay lại phải kéo nhau đến văn phòng Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc tại 46 Tràng Thi, Hà Nội. Mục đích được cho biết nhằm yêu cầu cơ quan chức năng trung ương có ý kiến với các cấp chính quyền địa phương có biện pháp cụ thể ổn định trận tự tại địa phương trước những thành phần bất hảo công khai hoành hành tại đó.
Một người dân đi khiếu kiện trong đoàn cho biết như sau:
“Hôm nay bà con đi độ khoảng 400-500 người thôi. Mục đích sang tại Mặt trận Tổ quốc là muốn họ giúp dân vì tình hình địa phương hiện nay rất phức tạp. Phức tạp là chỗ đất mà chúng tôi giữ lại để giữ nguyên hiện trường chờ đợi giải quyết, hiện nay họ cho máy múc, máy ủi rồi bơm cát vào khu đồng mà chúng tôi giữ. Đặc biệt nhất là nhóm gọi là xã hội đen cứ ngông cuồng dao kiếm trong đường làng. Dân chúng tôi không hài lòng chỗ đó. Bức xúc là ở chỗ đó. Đặc biệt nhất các cháu còn trẻ toàn là con em địa phương, và điều làm chúng tôi phải suy nghĩ là công an huyện bảo kê cho chúng làm như thế; nên chúng tôi không chấp nhận điều đó được.”
Một phụ nữ trong gia đình cho Đài chúng tôi biết sự việc như sau:Trong khi đó tại phía nam, một hộ gia đình tại khu phố 8, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa từ hôm qua đến hôm nay 6 tháng 11 tỏ ra vô cùng bức xúc khi một đoàn công tác gồm các lực lượng chức năng đến đóng cọc phân mốc trên đất của gia đình này mà không có văn bản thông báo theo đúng qui định của pháp luật.
“Tôi nói đây không phải là cưỡng chế mà là bức chế, vì không hề có thông báo, không hề có quyết định mà bây giờ bảo gia đình chúng tôi chống đối. Chúng tôi không nhận là chống đối mà dùng quyền lực áp bức gia đình tôi để đóng cọc mốc. Chúng tôi đã sống và canh tác trên mảnh đất này là 27 năm rồi. Tôi nói với anh công an khu vực, đây là quyền sử dụng, chỉ sau 6 tháng tôi là người có quyền sử dụng. Anh ấy có hỏi tôi rằng quan trọng là quyền sở hữu. Tôi nói nếu quyền sở hữu thì tôi đấu tranh kiểu khác chứ không nói bằng miệng như thế này. Không thông báo gì cả mà hiên ngang vào.

Lực lượng chiều hôm qua: cả công an, cả bộ đội và phường khoảng dưới 50 người. Lực lượng công an đông hơn 10 người với còng, súng… cùng với một xe thùng nữa. Lực lượng của phường cũng huy động đông hơn, có 4-5 chị em phụ nữ nữa. Theo như anh Châu bên hình sự thành phố nói là phạm nhân. Còn lực lượng bộ đội xuống khu vực ruộng nhà tôi khoảng trên 100 người. Tôi nghe người ta nói còn rải đều cách khu vực đóng cọc chừng 100 mét đổ ra, họ sợ gia đình chúng tôi khủng bố gì đó; nhưng gia đình chúng tôi trẻ già, lớn bé chỉ có hơn 10 người và đấu tranh bằng lời, đúng pháp luật, đúng sự thật.”
Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam báo cáo tại kỳ họp đang diễn ra tại Hà Nội rằng từ năm 2003 đến năm 2010, các cơ quan chức năng từ cấp địa phương đến Trung ương tiếp nhận và xử lý trên 1,2 triệu đơn thư khiếu nại, tố cáo. Trong đó lĩnh vực đất đai chiếm đến 70%.
Trường hợp ba xã ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên là một vụ lớn vẫn chưa được giải quyết và trường hợp của gia đình vừa nêu tại khu phố 8, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hẳn sẽ là một vụ mới nếu như vẫn tiếp diễn như lời người trong cuộc vừa cho biết.

Một Lăng khác cho bác Hồ?

Chào Bác,
Nằm trong ấy chẳng hay bác có biết một cổng thông tin điện tử của nhà nước anh hai - Thượng tọa Thích Cháu Bác, tức Thích Chân Quang dạy chúng sinh rằng, Tàu là anh hai của VN- trang mạng 张军棉|CHINA.ORG.CN bầu chọn 10 tòa nhà xấu nhất thế giới, trong đó lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam xếp thứ sáu?
Ngoài này cháu ngoan của bác, anh chị nào cũng có vẻ bức xúc tức muốn hộc máu nhưng sợ anh hai nên không dám hó hé. Vì anh Hai khi nào cũng đúng và bác cháu ta thì phải cùng nhau luôn luôn chấp hành nghiêm chỉnh lời anh hai. Chẳng hạn anh hai bảo bác cháu ta phải đạt chỉ tiêu 5% dân làng là địa chủ trong thời CCRĐ mà đem ra đấu tố là bác cháu ta có ngay, nếu làng nào toàn là khố rách áo ôm thì cũng rán lên mà tìm cho ra địa chủ (1); anh hai bảo bắn bà Cát Hanh Long/ Nguyễn Thị Năm là bác cháu ta rẹc rẹc đạn lên nòng bắn bà cái đùng, bất kể bà ấy là đại ân nhân của Kách Mạng và có con làm Trung Đoàn Trưởng Bộ đội cụ Hồ (2); anh hai bảo Hoàng Sa Trường Sa là của anh hai tức thì bác nháy mắt cho chú Đồng vẩu ký ngay công hàm bán nước 14/9/1958 dâng Hoàng Sa, Trường Sa cho China(3)... nên khi anh Hai bảo lăng bác trông hệt như “một cái nhà xí công cộng khổng lồ thời Hy Lạp - La Mã” (4) là nó phải là cái nhà xí công cộng...
Thưa bác,
Thực ra thì Tèo nghe đâu trang báo này xuất hiện cả năm nay rồi, các chú ấy với một rừng CAM mênh mông bất tận đã biết tỏng từ lâu nhưng ỉm lặng là “bốn tốt”; đúng với tinh thần “mèo dấu kít”, đảng dấu “nhà xí“ bác là phải đạo cháu ngoan lắm rồi. Nào ngờ nay có tên phản động chống phá tổ cò tò mò Hoàng Thanh Trúc “bắt được tại trận” anh Hai đang ngồi ị chỗ miếu đền em út, đem ra lêu lêu giữa làng.
Ai không hiểu cứ chép mồm chặc lưỡi tội nghiệp các chú Cả Lú, Tư Sâu, Ba Ếch, Hù Hói và những con à chú tương cận đang thời kỳ quá độ bức xúc đủ thứ nay lại bị áp lực lăng bác đè trên đầu như cái nhà xí công cộng khổng lồ thời Hy-La.
Thực ra thì các cháu ngoan của bác bức xúc đấy, nhưng các chú ấy cực kỳ nhạy cảm tinh ý và ăn ý anh Hai lắm. Ngày nay các chú ấy không bá cổ chụp mặt ôm hôn chùn chụt như bác bá cổ chụp mặt hôn đáo hôn để ông nội Chu ân Lai năm nào, nhưng lại hai tay ôm cứng lấy tay anh hai như ôm Điều 4 HP “buông ra là chết”. Nên nhất cử nhất động các chú ấy đánh hơi được ráo trọi và chấp hành ráo riết.
Anh Hai ví lăng bác như nhà xí công cộng là anh Hai cố bắn tiếng nhắc nhở em út rằng cái lăng bác đang ngọa nay lạc hậu rồi; lo mà xây lại cái lăng khác cho hợp thời trang.
Thời bác “đi gặp cụ Mác”, cả bác cháu đều chẳng những vô thần mà còn báng bổ thần thánh, gọi ông trời bằng thằng. Nhưng nay thì bác đà đổi mới tư duy bỏ đi bon chen vô chùa dành oản của Phật, còn các cháu thì nhà nhà nghi ngút khói hương, lại còn khấm khá thêm lên nhờ buôn thần bán thánh, nhờ úm bà là xương lợn chó ra xương... liệt sĩ.
Xương chó xương lợn mà còn được cái chỗ cắm nến nhang nơi đặt oản, xác bác ngự trong cái gọi là lăng lừng lựng giữa Ba Đình nhưng tứ bề láng cóng, chẳng chỗ quà cáp hương hoa.
Các chú ấy thấm nhuần tư tưởng bác “không có gì quý hơn” đ... ập lăng cũ xây lăng mới, cho nhiều bên đều có lợi có lời. Bác có lăng mới hợp thời trang; các cháu nhỏ có công ăn việc làm, lớn đã có còn có cơ hội tăng thêm thu nhập; còn anh hai thì thế nào cũng trúng thầu chứ còn ai vào đó được. Rồi nếu như đến cuối thế kỷ 21 này chưa xây dựng xong thì chờ cuối thế kỷ 22 không chừng xoay xong cái CNXH. Khi đó lăng bác sẽ biến thành trung tâm hành hương cho tín đồ Hồ Giáo, như Thánh địa Mecca của Hồi Giáo. Khỏi phải tốn công tướng CaCa điều động liên quân người chó đi cưỡng chế đất nghĩa trang của những kẻ khác để xây lăng bác.
____________________________________
Chú thích:
 

Thối hoắc tự nhiên… thơm!


Pho tượng đồng được trụ trì Thích Minh Phượng tự ý đúc, để thay thế bức tượng phật cổ trong chùa Chân Long, bị người dân trong xã Chàng Sơn kéo ra giữa chợ.

Nguyên Anh (Danlambao) - Đừng có ai cho là vu khống đây là luận điệu của bọn thế lực thù địch phản động sau khi xem xong bài này nhé… Dưới sự điều hành đất nước của đảng CS, Việt Nam đã là một quốc gia tự sướng! 
Do niềm tin về những giá trị cao cả của nhân loại đã không còn tồn tại cho nên họ dễ dàng tìm đến những giá trị thấp hèn hơn là tự sướng để thỏa mãn cái bản ngã của mình, trong đó không thể không kể đến cái công ơn trời biển của cái ban tuyên giáo (láo) của Đinh Thế Huynh với nhiều vị tiền nhiệm như ngài Tô Rựa và các vị trước nữa…
Một quốc gia nghèo nàn nhỏ bé có diện tích chưa bằng một góc một tiểu bang của các quốc gia khác lại là quốc gia đáng sống nhất thế giới do bọn báo đài đưa tin?
Đúng rồi! đáng sống nhất hành tinh vì những ai đến đây sẽ được sống với một bầu không khí ô nhiểm, một nguồn nước nhiểm bẩn và một cái chết bất thình lình vì những lý do không đâu! Thế nhưng giá nhà đất tại đấy có cái giá trên trời không hề kém cạnh những quốc gia tiên tiến (!)
Chưa hết đâu, quốc gia này còn tự sướng với tất cả các công dân của mình, nhà nước thì luôn luôn ca ngợi bản thân đã có công đánh Pháp đuổi Mỹ dành độc lập cho dân tộc, ca hàng ngày, hàng tháng, hàng năm về cái được gọi là ưu việt là thần phần tinh hoa của dân tộc còn đằng sau đó là biến tướng của đảng cầm quyền với vòi xúc tu con bạch tuột thò ra tham nhũng chi phối hết mọi lĩnh vực xã hội.
Nhà nước thì đã vậy, hạng thứ dân lẽ nào chịu kém?
Mấy ông bà Đại biểu Quốc Hội, Bộ trưởng, Thứ trưởng đều có cái học vị học hàm đính kèm chức danh, nào là Tiến sỹ, Thạc sỹ, Cữ nhân, nào là Phó giáo sư, giáo đầu, giáo đĩ ấy vậy mà nếu kiểm tra lý lịch học vấn của các vị ấy một cách khách quan thì nhiều người trong số đó đã từng tốt nghiệp hệ tại chức một dạng bổ sung kiến thức chắp vá cá biệt còn có quan phụ mẫu của tỉnh nào đấy có bằng tiến sỹ của trường đại học nước ngoài cấp cho hẳn hoi thế nhưng ngài ấy lại chưa hề tốt nghiệp cấp 3 (lớp 12)!
Thành ra các vị ấy làm đâu hư đó, mùi thối bay xa khắp nước nhưng có hề gì khi đã là đảng viên nằm trong đội ngũ ưu tú và được sự chiếu cố ân cần của các vị quan bại não của cái bộ được gọi là Chính trị. Thật là một quốc gia hiếu học và sính lễ nghĩa…
Có thể thấy bất cứ ai là công dân nước này đều có danh thiếp, từ những chức danh được xã hội nể trọng cho đến hạng thứ dân tầm thường thậm chí ngay cả anh xe ôm chị xe thồ cũng in cho mình để móc ra cho mọi người biết mặt:
- Nguyễn văn A-hội viên hội cựu chiến binh-đội viên đội dân phòng - hiệp sỹ chuyên bắt cướp-thành viên nghiệp đoàn xe lôi bến XYZ!
Nhưng nào đâu đã hết, ngay cả thành phần tu hành cũng không ngoại lệ, trước đây không lâu có một ông thầy chùa già gần đất xa trời đã in cái danh thiếp kín mít chức danh làm trò cười cho thiên hạ thì nay lại có một ông sư (không biết có phải hổ mang không?) làm cái trò mà bọn thứ dân tự sướng khi tạc tượng vinh danh chính bản thân của mình!

Bức tượng mới được cho là đúc y khuôn vị sư trụ trì được rước vào chùa. (Hình: báo Tuổi Trẻ)
Trích:
"Đột nhiên, hôm 5 tháng 11 vừa qua, vị trụ trì Thích Minh Phượng cho hay, sẽ làm lễ “hô thần nhập tượng”, an vị một pho tượng mới đặt vào chỗ tượng cổ trước đây. 

Ông Nguyễn Văn Viên nói rằng, thông báo của Hòa Thượng Thích Minh Phượng khiến dư luận xôn xao. Sự kiện trên còn gây phản ứng mạnh trong giới tín hữu Phật Giáo và cư dân xã Chàng Sơn, vì cho rằng vóc dáng và khuôn mặt pho tượng mới y hệt vị trụ trì". [1]
Trên thế giới xưa nay hình như ít có ai tự xây tượng vinh danh mình, thế nhưng tại quốc gia đấy đó là điều bình thường, có thể giàu quá họ tạc tượng của mình để ngắm thì chuyện đó không có gì đáng để nói nhưng dùng một pho tượng Phật mang khuôn mặt mặt mình thì vấn đề khác hoàn toàn!
Có lẽ do mình thối quá, mình xấu xa quá cho nên phải lợi dụng một khuôn mặt thần tượng tâm linh khoác vào, cũng có thế do mình vĩ cuồng tự thần thánh hóa chính bản thân của mình (dấu hiệu của bệnh tâm thần!) hoặc dùng nó vào mục đích lừa mị người dân ngỏ hầu tiếp tục trường tồn như cái đảng cầm quyền thối hoắc đang ra rả đêm ngày.
Suy cho cùng chuyện nhà sư đức mỏng tiền dầy Thích Minh Phương cũng không có gì là lạ, cái trơ trẻn của ông sao y cái chính phủ cầm quyền chỉ biết nói như rồng leo làm như mèo mửa, lúc nào cũng tự ca và tự sướng cho nên không cần phải học hỏi tấm gương Hỹ Xã Từ Bi của giáo chủ cõi Ta Bà Đức Thích Ca Mâu Ni, một hoàng tử Ấn Độ đã bỏ hết ngai vàng để theo tìm đến sự giải thoát cho nhân loại!
Vẫn chưa hết, các trò tự sướng tiếp tục tiếp diễn trong một xã hội được điều hành bằng những tên tự sướng, họ vẫn tiếp tục đưa mặt trái ra trình làng với những hào quang đẹp đẽ còn khuôn mặt thật của những tên thoái hóa, tham nhũng, cường quyền, làm láo, bốc phét, ăn bẩn thì được dấu kín như bưng!
Vì vậy không ngạc nhiên khi lâu lâu bọn bồi bút lại vinh danh người giàu nhất Việt Nam, tỷ phú đô la, đại gia đỏ, anh hùng dân tộc, chủ nghĩa anh hùng, chế độ ưu việt… chung quy cũng chỉ vì thối quá nên phải làm màu…
Người xưa thường nói Hữu xạ tư nhiên hương quả thật không sai nhưng tại Việt Nam có lẽ nên sửa lại thành: Thối hoắc tự nhiên… thơm!
Nguyên Anh
danlambaovn.blogspot.com

___________________________________
Chú thích: