Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: 'Không tham nhũng lấy đâu tiền mà chạy chức vụ …'.

Máu đã đổ, người đã chết… vì cưỡng chế đất

000_Hkg2312974-305.jpg
Khu vực tranh chấp đất đai giữa chính quyền Hà Nội và người Công giáo tại giáo xứ Thái Hà chụp hôm 24/4/2009. Ảnh minh họa. AFP photo

Chiều ngày 11/09/2013, ông Đặng Ngọc Viết, 42 tuổi, trú tại phường Kỳ Bá, Thái Bình xông vào trụ sở Uỷ ban Nhân dân thành phố dùng súng bắn 5 cán bộ thuộc Trung tâm phát triển Quỹ đất Thành phố Thái Bình khiến một người chết, ba người bị thương.

Sau đó, ông Viết về quê ở huyện Kiến Xương, Thái Bình và tự sát dưới chân tượng Phật trong buổi chiều cùng ngày.

Theo thông tin trên các báo, nguyên nhân bức xúc của ông Viết có liên quan đến chuyện thu hồi đất đai và chính sách đền bù của chủ trương xây dựng khu đô thị mới ở phường Kỳ Bá.

Sự việc gây chấn động này một lần nữa nhắc người ta nhớ đến các bất cập trong những vụ giải phóng mặt bằng.

Trong nhiều năm gần đây, số lượng người đi khiếu nại, khiếu kiện các vấn đề liên quan đến đất đai ngày càng gia tăng.

Đỉnh điểm là năm ngoái tại Hải Phòng, gia đình ông Đoàn Văn Vươn cũng đã buộc phải nổ súng vào đoàn công an, cán bộ tham gia cưỡng chế để bảo vệ tài sản của mình. Luật đất đai năm 2003 ở điều 7 có quy định: “Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai”.

Rất khó để viện dẫn, giải thích cho toàn dân hiểu vì sao đất đai do mình sở hữu nhưng nhà nước lại đại diện quản lý.

Trên thực tế, trong những dự án giải phóng mặt bằng, với những quy định có sẵn trong luật đất đai 2003, trong những dự án thu hồi đất do nhà nước làm chủ đầu tư thì nhà nước sẽ áp giá đền bù, hỗ trợ tái định cư…

Đối với các dự án phục vụ mục đích phúc lợi công cộng như bệnh viện, trường học, chợ… thì hầu như người dân không còn cách lựa chọn nào ngoài việc đồng ý với các thoả thuận do phía nhà nước đưa ra, nhanh chóng nhận tiền đền bù hoặc chấp nhận di dời theo phương án tái định cư nếu không muốn bị cưỡng chế giải toả trắng.

Nhưng vấn đề dễ gây cho người dân bức xúc nhiều nhất đó chính là những dự án mà nhà nước đứng ra thu hồi đất để giao cho tư nhân đầu tư xây dựng và quản lý.

Đây chính là kẽ hở lớn nhất để nhà nước và các chủ dự án mập mờ đánh lận con đen với quyền lợi của người dân. Bởi khi nhà nước thu hồi đất thì sẽ áp mức đền bù theo giá do nhà nước quy định (thường giá này thấp hơn nhiều so với thị trường thực tế), sau khi đã có đất sạch (đất đã giải toả xong) thì nhà nước giao lại cho chủ đầu tư tư nhân tiếp quản, toàn quyền định đoạt.

Những mảnh đất đó thường sẽ được tư nhân bán lại với giá cao gấp chục lần giá đền bù mà người dân nhận được. Đây chính là mấu chốt của nhiều vụ việc bức xúc đã xảy ra.

Một nút thắt thứ hai thường gặp trong những vấn đề liên quan đến đất đai, giải phóng mặt bằng chính là quy trình, thủ tục triển khai của các dự án. Theo quy định của luật đất đai và các nghị định hướng dẫn thi hành luật này thì những trình tự pháp lý liên quan tới chủ trương, thu hồi, đền bù, giải tỏa, hỗ trợ tái định cư... đất của người dân đều có những quy định rất rõ ràng nhưng trên thực tế người dân hầu như không được biết (ví dụ như quyết định thu hồi, đền bù, hỗ trợ học nghề, tái định cư..).

Theo quy định của pháp luật, tất cả phải được thông báo công khai hoặc gửi tận tay người dân có quyền lợi liên quan, nhưng thực tế nhiều dự án đã lơ đi chuyện này. Tôi đã từng tận mắt chứng kiến các cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng làm việc với các gia đình bị mất đất.

Thay vì làm rõ việc đảm bảo quyền lợi cho người dân, đa số các văn bản, các thủ tục hướng dẫn lại thường chỉ muốn người dân đồng ý ký vào các biên bản thoả thuận càng sớm càng tốt.

Đặc biệt với các biên bản giao nhận đất tái định cư, hoặc biên bản đồng ý với việc nhận tiền đền bù. Thậm chí có những địa phương còn áp dụng đủ thứ “lệ”, để lừa dân ký cho bằng được, và với quan niệm “một khi đã ký nhận đền bù thì coi như kết thúc không thoả thuận, đàm phán gì nữa”.

Cũng có tình trạng các cán bộ đi vận động, “bỏ nhỏ” với từng hộ dân rằng “khu này đã nhận đền bù hết, gia đình cũng nhận đi chứ không khi tất cả đã đồng ý thì ở trên buộc phải ra lệnh cưỡng chế nhà anh (chị)”.

Nhiều người dân không có đủ thông tin và không được hỗ trợ về mặt kiến thức luật pháp đã chấp nhận ký kết thoả thuận.

Đến khi người dân có điều kiện tiếp cận đầy đủ thông tin, được tư vấn đầy đủ về pháp luật và biết được nhà nước hoặc chủ đầu tư lừa mình thì đi việc khiếu nại, khiếu kiện sẽ diễn ra rất dây dưa và chậm chạp trong khi dự án vẫn cứ triển khai, nhà cửa vẫn bị giải toả.

Chính điều này đã dẫn đến những hệ luỵ khó giải quyết: Có nhiều người mất nhà cửa, mất ruộng vườn lặn lội khiếu kiện ròng rã từ năm này sang năm khác. Có nhiều người im lặng trong cay đắng chấp nhận làm lại từ đầu và góc nhìn của họ với xã hội thay đổi hẳn đi. Và cũng có người đã lựa chọn cách hành động theo bản năng để giải thoát cho bản thân và gia đình như ông Vươn, ông Viết.

Câu hỏi luôn được đặt ra là liệu luật pháp đã đảm bảo được hoàn toàn quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của những gia đình có đất đai bị giải toả hay chưa? Pháp luật và những quy định của nó được tạo ra là để đảm bảo quyền lợi của người dân, để hướng dẫn mọi người hiểu và thực hiện nghĩa vụ công dân của mình chứ không phải để đánh lừa họ.

Vì sao những người như ông Đoàn Văn Vươn, ông Đặng Ngọc Viết phải chấp nhận đổ máu để bảo vệ quyền lợi của mình? Phải chăng là họ không còn tin rằng mình sẽ được bảo vệ bởi luật pháp nữa?

Một khi công dân mất niềm tin rằng nhà nước sẽ bảo vệ được mình, thì vai trò của nhà nước nằm ở đâu trong xã hội này?

Với tình trạng người dân phải đổ máu để bảo vệ quyền lợi của mình như hiện nay, liệu có tồn tại một nhà nước “do dân và vì dân” như người ta thường được nghe tuyên truyền hay không?

* Tựa bài do RFA đặt
Mẹ Nấm, viết từ Việt Nam
2013-09-18
(RFA)

Văn Giang : Căng thẳng do chính quyền phá đất canh tác của dân

Máy xúc phá hủy khu đất canh tác thuộc xã Xuân Quan - huyện Văn Giang - tỉnh Hưng Yên, ngày 17/09/2013. Ảnh blogger Nguyễn Xuân Diện
Máy xúc phá hủy khu đất canh tác thuộc xã Xuân Quan - huyện Văn Giang - tỉnh Hưng Yên, ngày 17/09/2013. Ảnh blogger Nguyễn Xuân Diện

Sáng hôm qua, 17/09/2013, một lực lượng khoảng 20 xe ủi, máy xúc, với sự có mặt của các đại diện chính quyền, đã được đưa đến một khu vực đất trồng lúa và cây ăn quả thuộc xã Xuân Quan, huyện Văn Giang (tỉnh Hưng Yên) và phá đi nhiều cây ăn quả, cùng một diện tích lúa đang sắp thu hoạch. Hôm nay 18/09, nhiều người dân Xuân Quan có mặt tại khu vực đang có nguy cơ bị phá hoại để sẵn sàng bảo vệ hoa màu và chờ đợi phản ứng từ phía chính quyền.

Theo mô tả của người dân tại chỗ, chính quyền xã mượn cớ đào mương ngòi, đã để xe ủi, máy xúc vào khu vực này phá hoại cây trồng, hàng chục côn đồ cũng có mặt để đe dọa gây hấn.

Cánh đồng xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, hiện do 210 hộ quản lý chung (cùng với hai xã Phụng Công và Cửu Cao), là nơi đã từng xẩy ra vụ « cưỡng chế đất », cho dự án của công ty Ecopark, ngày 24/04/2012, với sự tham gia của hàng nghìn nhân viên an ninh, do chính quyền địa phương huy động. Hành động này đã bị dân chúng địa phương phản ứng quyết liệt. Ngày 01/05/2012, hàng trăm nhân sĩ, trí thức người Việt đã ký "Tuyên bố về việc cưỡng chế giải tỏa đất đai Văn Giang bằng vũ lực", phản đối hành động của chính quyền Văn Giang và tỉnh Hưng Yên.

Trong một thông cáo đề ngày 24/04/2013, một năm sau vụ « cưỡng chế » nông dân Văn Giang một lần nữa kêu gọi các lãnh đạo Việt Nam giải quyết vụ này, đồng thời kêu gọi dư luận trong và ngoài nước ủng hộ.
Ông Lê Văn Dũng, một người dân xã Xuân Quan, mô tả lại vụ việc xẩy ra hôm qua :

Ông Lê Văn Dũng : « Hôm qua, chúng tôi nghe tin là chính quyền xã Xuân Quan có muốn múc một con ngòi ở quanh làng. Với tính chất là để (phục vụ) dân sinh, chúng tôi cũng cảm thấy con ngòi đó phục vụ cho việc tiêu thoát nước cho dân, thì ủng hộ. Nhưng sau là các anh ấy lấy một cái cớ như thế, múc ngòi xong rồi lợi dụng việc bà con mình không ra nữa là nó cũng phá hết cả chuối.

Sau khi bà con phát hiện được cái hiện tượng nó làm khác ý định, bà con mới ra giữ đất. Ra giữ đất, thì (thấy) rất là đông, toàn những bọn các cháu (trạc tuổi) gọi là con cháu của gia đình chúng tôi, chỉ vì đồng tiền mà đi theo. Đánh đập chúng nó, chúng tôi không có lương tâm.

Cái thứ hai nữa, là cả chính quyền địa phương và công an huyện cũng lên hỗ trợ tổ thi công này, thì sức mạnh của bên nhà đầu tư và chính quyền lớn lên, thì bà con thấy công an, thì bà con cũng tránh va chạm thôi.

Về tài sản bị mất, chúng tôi bị mất mấy nghìn gốc chuối, cũng đang thu hoạch, rồi là đu đủ, chục mẫu lúa sắp đến ngày thu hoạch rồi. Chúng tôi rất là xót.

Bà con rất bất bình trong việc nó không công khai cái đó. Chúng tôi rất mong muốn là đồng bào trên cả nước, thấy việc làm của bà con theo pháp luật, được nhà nước bảo hộ quyền lợi, thì cũng góp sức vào cho chúng tôi giành lại cho bà con mình. Mấy năm nay đấu tranh thấy rất là khó. Đến các cấp cơ quan thì không giải quyết, ở nhà thì nó cứ hoành hành, có làm gì, động gì, thì người ta lại vu cho là chống người thi hành công vụ, thì một con người làm sao chịu được tiếng nói như thế được. »

Luật sư Trần Vũ Hải cho biết vắn tắt về tình trạng pháp lý chung của khu đất này :

Luật sư Trần Vũ Hải : « Tôi cũng có nói với các bác nông dân rằng, thật ra chính quyền cưỡng chế, nhưng thực ra năm ngoái họ không đưa ra được quyết định cưỡng chế nào cả. Hiện nay, họ đang khiếu nại về vấn đề ấy, nhưng tòa án và ủy ban cũng chưa thụ lý giải quyết. Cái đất này, theo chúng tôi, cũng chưa rõ ràng là như thế nào, có thể coi là liên quan đến khu đất được coi là ‘‘cưỡng chế’’ năm ngoái. Nhưng năm ngoái, thực ra không phải cưỡng chế quyền sử dụng đất, mà là họ dùng một cái lệnh cưỡng chế xác định xử phạt hành chính. Cho nên, theo tôi hiểu mặt luật pháp, cái đất này đang là thuộc quyền sử dụng của bà con. Không có quyết định thu hồi đất là một, và cũng không có quyết định cưỡng chế thu hồi đất. Vấn đề (vụ việc đang xẩy ra) tôi cũng chưa nắm rõ lắm, nhưng tôi có thể trình bày để tạm hiểu như vậy.

Đến giờ phút này không có quyết định thu hồi đất của bà con, và cũng không có quyết định cưỡng chế thu hồi đất, nên hiện nay Ủy ban nhân dân huyện và Tòa án huyện Văn Giang đang lúng túng không biết giải quyết như thế nào, mặc dù… đã khiếu kiện hơn một năm nay rồi ».
Trọng Thành (RFI)
 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: 'Không tham nhũng lấy đâu tiền mà chạy chức vụ …'.

Sáng 18/9, tại cuộc họp thảo luận về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2013, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhận định: 'Không tham nhũng lấy đâu tiền mà chạy chức vụ này chức vụ kia…'.
 
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng .
Tham nhũng trong đấu tranh phòng chống tham nhũng?
Báo cáo của Thanh tra Chính phủ về chống tham nhũng bị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đánh giá không có gì mới và đề nghị báo cáo cần thể hiện được mối quan hệ với Ban chỉ đạo T.Ư về Phòng chống tham nhũng. 
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cũng cho rằng báo cáo còn “đánh giá còn nhẹ hơn cả nghị quyết Trung ương” và đề nghị đánh giá lại hoạt động đấu tranh phòng chống tham nhũng từ đánh giá của quốc tế, thông tin từ Mặt trận Tổ quốc, từ báo chí, từ nội bộ Đảng.
Chủ tịch Quốc hội cũng cho rằng sau khi sửa luật, cần đánh giá công tác phòng chống tham nhũng có thay đổi gì, nếu không đánh giá đây vẫn là một khoảng trống và khó để 500 đại biểu Quốc hội thông qua.
Mặt khác, trong báo cáo cũng chưa thấy nói rõ lực lượng đấu tranh phòng chống tham nhũng có tiêu cực, bỏ sót, bao che không? Có tham nhũng trong đấu tranh phòng chống tham nhũng hay không?”"Bên cạnh thanh tra, các ngành kiểm toán, điều tra, kiểm sát, tòa án thì sao, đã làm hết trách nhiệm chưa?" Chủ tịch Quốc hội đặt hàng loạt câu hỏi. 
Bên cạnh đó cũng cần phải xem trách nhiệm của tranh tra, kiểm toán, kiểm sát, điều tra đã làm hết sức, hết trách nhiệm chưa? Vai trò của BCĐ TW về phòng chống tham nhũng, cũng chưa thấy thể hiện trong báo cáo lần này.
Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn cũng cho rằng, báo cáo của Chính phủ mới nêu được hiện tượng và đánh giá tình hình chưa sát, chưa có gì thống nhất với Ban Nội chính T.Ư.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý cho rằng, dư luận về tham nhũng nhiều, nhưng phát hiện lại ít so với dư luận. Qua thanh kiểm tra 14 nghìn vụ nhưng lại chuyển sang bên hình sự chỉ 11 vụ. "Vậy chúng ta không biết tội phạm chìm, tội phạm nổi ra sao", ông Lý nói.
Trả lời các vấn đề này, Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh cho biết đây là năm đầu tiên thực hiện Luật phòng chống tham nhũng sửa đổi, nên rất khó đưa hoạt động của Ban chỉ đạo T.Ư về Phòng chống tham nhũng vào. Bởi Ban chỉ đạo trực thuộc Bộ Chính trị, nên việc này cần phải xin ý kiến của Quốc hội.
Tổng Thanh tra Chính phủ nhận định công tác phòng, chống tham nhũng "tuy đã đạt kết quả tích cực, nhưng tình hình tham nhũng chưa có dấu hiệu giảm, diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với những thủ đoạn tinh vi, kín đáo, khó phát hiện".
Có bao nhiêu ý kiến can thiệp vào các vụ án tham nhũng?
Chủ tịch Hội đồng dân tộc Ksor Phước đặt câu hỏi số thông tin liên quan đến tham nhũng trong năm đã nhận được bao nhiêu? Xử lý như thế nào? Điều này thể hiện quyết tâm của ta có xử lý đến nơi đến chốn không. Có bao nhiêu vụ án có ý kiến của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, có bị cản trở hoặc làm hẹp vụ án lại?
 
Chủ tịch Hội đồng dân tộc Ksor Phước
Chủ tịch Hội đồng dân tộc Ksor Phước. Ảnh: VNN
 Trong năm 2014 cần tập trung thanh tra vào lĩnh vực cầu đường, đất đai. Vì nhiều quan chức tập trung mua đất sau này về hưu ở, nên phải đánh thẳng vào đó mới là những con cá lớn .
Đại biểu Ksor Phước
Ông Ksor Phước cho rằng nhiều vụ án nghiêm trọng kéo dài 2 – 3 năm mà vẫn chưa xử được, làm giảm lòng tin trong nhân dân, trong cán bộ Đảng viên. Có những vụ án thông tin đã đưa ra báo chí công luận, thậm chí còn đưa cả kết luận của Thủ tướng Chính phủ, nhưng cả năm trời vẫn thấy im lặng.
“Tôi cũng băn khoăn, không biết chuyện tới đâu, đúng sai thế nào. Có bao nhiêu ý kiến can thiệp vào các vụ án? Cứ mập mờ, ngay cả cán bộ như chúng tôi còn băn khoăn, nói gì đến Đảng viên bình thường” – ông Ksor Phước nói.
Lo lắng vì một số vụ án thuộc lĩnh vực ngân hàng chưa được xử lý rốt ráo, Chủ tịch Hội đồng dân tộc khẳng định"Nơi nào nhiều tiền, nhiều quyền thì nơi đó nhiều nguy cơ tham nhũng, cần đấu tranh trọng điểm vào những nơi như tổ chức cán bộ, quy hoạch, đấu thầu...".
Khen thưởng người tố cáo tham nhũng còn hình thức
Chủ nhiệm UB Tư pháp Nguyễn Văn Hiện cho rằng án tham nhũng phát hiện nhiều nhưng thu hồi tài sản ít; xử lý hành chính nhiều, áp dụng tình tiết giảm nhẹ, xử dưới khung, án treo hoặc phạt cải tạo không giam giữ chiếm tỷ lệ cao, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm; một số vụ án nghiêm trọng, phức tạp bị kéo dài, bị đình chỉ điều tra…  Ông Hiện nhận định thực trạng trên ảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào công tác phòng chống tham nhũng.
 
Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội trao tặng giấy khen kèm 350.000 đồng tiền thưởng cho 3 cá nhân dũng cảm tố cáo tiêu cực tại Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức, Hà Nội. Ảnh: Thái Hà.
Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội trao tặng giấy khen kèm 320.000 đồng tiền thưởng cho 3 cá nhân dũng cảm tố cáo tiêu cực tại Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức, Hà Nội. Ảnh: Thái Hà.
 Ở một số tỉnh cả năm chỉ nhận được 1 - 2 đơn tố cáo tham nhũng, dân cho phát hiện tham nhũng là việc của Nhà nước, người tố cáo có thể bị trả thù, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản... của bản thân và gia đình.
"Khen thưởng người tố cáo tham nhũng còn hình thức, dư luận chưa đồng tình như vụ bệnh viện đa khoa Hoài Đức. Có người tố cáo tham nhũng từ chối khen thưởng, vì thấy chưa giải quyết đến nơi, đến chốn, còn biểu hiện bao che như vụ ở Trung tâm y tế Thăng Bình, Quảng Nam", Chủ nhiệm UB Tư pháp nói.
Về vấn đề này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đặt câu hỏi "Dân nào mà không muốn đấu tranh phòng, chống tham nhũng? Hay là người ta chán rồi? Người ta đấu tranh mãi, góp ý mãi, đưa lên báo mãi nhưng không có tác dụng gì? "
Xử lý hình sự 4 người đứng đầu vì để xảy ra tham nhũng
Tổng Thanh tra CP Huỳnh Phong Tranh cho biết đầu năm nay đã phát hiện 73 vụ, 80 đối tượng có hành vi liên quan tham nhũng, số tiền 117 tỷ đồng, đã chuyển cơ quan hình sự 11 vụ, 34 đối tượng. Đã có 36 người đứng đầu bị xử lý vì để xảy ra tham nhũng, trong đó 4 người bị xử lý hình sự.
Về minh bạch tài sản, thu nhập năm 2012, đã có hơn 113 nghìn người kê khai lần đầu, hơn 519 nghìn người kê khai bổ sung, hơn 376 nghìn bản kê khai được công khai, 3 trường hợp được xác minh là không trung thực, 58 trường hợp bị xử lý do nộp chậm.
N.C.KHANH
(Tiền phong)

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Có tham nhũng trong lực lượng phòng chống tham nhũng?

VOV.VN-Đây là một trong các câu hỏi mà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khi đánh giá báo cáo của Chính phủ về phòng chống tham nhũng. 
 
Một trong những nội dung quan trọng trong phiên họp thứ 21 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hôm nay là việc cho ý kiến vào báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2013. Thảo luận về nội dung này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị làm rõ trách nhiệm trong phòng ngừa tham nhũng của cơ quan, tổ chức, cá nhân và trách nhiệm người đứng đầu.

Tại phiên họp, Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh cho biết, từ tháng 1 đến tháng 8 năm nay, cơ quan chức năng đã thực hiện nhiều biện pháp đấu tranh phòng chống tham nhũng và đạt hiệu quả nhất định. Kết quả, đã có 36 trường hợp người đứng đầu bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng (Ảnh: V.DŨNG/tuoitre)

Cụ thể, có 4 người bị xử lý hình sự (ở Bắc Giang và Bắc Ninh), 4 trường hợp khác đang được xem xét, còn lại chỉ xử lý hành chính. Cũng trong thời gian này, đã có hơn 360 cán bộ, công chức nộp, trả lại quà tặng, với tổng giá trị 178 triệu đồng. 
Về kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập, Tổng Thanh tra Chính phủ cho hay, trong quá trình xác minh đã phát hiện ra ba trường hợp kê khai không trung thực và các đối tượng này đều bị xử lý cảnh cáo. Gần 60 trường hợp (trong đó đa phần ở TP.HCM) bị xử lý kỷ luật vì chậm kê khai, chậm nộp báo cáo. Đáng lưu ý, mặc dù đã có một số vụ án điểm được đưa ra xé xử , được dư luận quan tâm, song nhìn chung tiến độ xử lý còn châm, án treo vẫn còn nhiều…
Theo đánh giá của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, báo cáo của Chính phủ chưa làm rõ được thế giới đánh giá công tác phòng chống tham nhũng của Việt Nam như thế nào, dư luận trong nước thế nào, Mặt trận đánh giá ra sao, trong khi đây là những kênh đánh giá hết sức quan trọng. Báo cáo chưa nói rõ, lực lượng phòng chống tham nhũng có tiêu cực, có bao che không, có tham nhũng ngay trong lực lượng phòng chống tham nhũng không? Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị làm rõ trách nhiệm trong phòng ngừa tham nhũng của cơ quan, tổ chức, cá nhân và trách nhiệm người đứng đầu.
“Thanh tra làm hết sức chưa? Kiểm sát, kiểm toán, điều tra đã làm hết sức chưa? Ví dụ trong trong lực lượng này có chuyện này, chuyện kia, có tiêu cực hay không? Xử sai hay không là trách nhiệm của Viện kiểm sát. Các đồng chí phải làm rõ. Còn cơ quan khác là chủ yếu là thủ trưởng, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức. Dư luận, đánh giá của quốc tế, trong nước, chưa nói rõ, có tiêu cực hay bao che, bảo kê, tham nhũng trong nội bộ, tới mức nào chưa đề cập rõ và trách nhiệm của các cơ quan này?...” – Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh.
Cho ý kiến vào báo cáo của Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Kso Phước đề nghị cho biết số thông tin liên quan đến tham nhũng mà các cơ quan có thẩm quyền nhận được trong năm và cách xử lý thông tin đó. Chủ tịch Hội đồng Dân tộc cũng cho rằng, báo cáo cần nêu rõ vụ việc nào diễn ra trong thời gian dài mới phát hiện, vụ nào được phát hiện ngay, tỉnh nào kém nhất, bộ nào có vấn đề và điển hình là cái gì? Quốc hội cần địa chỉ. Báo cáo có chiều sâu thì mới thể hiện được hiệu qủa công tác phòng chống tham nhũng đến đâu.
Trong khi đó, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý nhấn mạnh, vì là báo cáo của Chính phủ về công tác phòng chống tham nhũng năm 2013 nên cần bổ sung thông tin cho toàn diện, tổng quá. Chính phủ có thể yêu cầu các cơ quan cung cấp thêm thông tin trước khi báo cáo Quốc hội, trong đó cần thể hiện rõ hơn về tình hình, số liệu, tránh báo cáo chung chung. Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Văn Hiện cho rằng, báo cáo cần có đánh gía về mặt điều tra xã hội học, để thấy được mức độ hài lòng của người dân về công tác phòng, chống tham nhũng.
Cũng trong ngày hôm nay, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật công chứng và kế hoạch kiểm toán năm 2014./.

‘‘Xét nghiệm máu giả" - Lỗi hệ thống (mà đã là lỗi hệ thống rồi thì tốt nhất là xóa đi làm mới thôi!)

Nhiều người Việt Nam có thẻ Bảo hiểm y tế phàn nàn vì bị phân biệt đối xử. Ảnh báo trong nước.
Nhiều người Việt Nam có thẻ Bảo hiểm y tế phàn nàn vì bị phân biệt đối xử. Ảnh báo trong nước.

Tháng 8/2013 vừa qua, tại Việt Nam, công luận xôn xao với vụ bê bối giả mạo xét nghiệm máu tại Bệnh viện đa khoa Hoài Đức, một huyện ngoại thành Hà Nội. Vụ bê bối giả mạo xét nghiệm máu quy mô lớn để rút tiền từ Quỹ Bảo hiểm Y tế vang lên như một tiếng chuông báo động công luận trước nhiều tệ nạn phổ biến trong y tế Việt Nam hiện nay.

Một kỹ thuật viên Khoa xét nghiệm của bệnh viện nói trên (bà Hoàng Thị Nguyệt) đã bí mật thu thập chứng cứ trong vòng gần một năm liền để cuối cùng lên tiếng tố cáo sự giả mạo mang tính hệ thống này. Báo chí dẫn lời của cơ quan điều tra cho biết, trong khoảng thời gian gần một năm trời, trong số hơn 24.000 xét nghiệm huyết học thực hiện, có gần 1.500 trường hợp trùng nhau, có nghĩa là xét nghiệm của một bệnh nhân đã được sao lại để đưa vào hồ sơ của một bệnh nhân khác. Vụ việc gây chấn động vì đây là lần đầu tiên một hiện tượng giả mạo xét nghiệm y tế trên quy mô lớn như vậy được phát hiện tại Việt Nam.

Cơ quan điều tra Hà Nội đã khởi tố 10 bị can, trong đó có các lãnh đạo bệnh viện này. Theo giải thích ban đầu của cơ quan công an, mục tiêu của việc « nhân bản » các xét nghiệm này là nhằm được Bảo hiểm Y tế (BHYT) thanh toán. Cơ quan điều tra đã tìm gặp được khoảng 300 người trên tổng số hơn 700 người có xét nghiệm bị nhân bản. Cho đến thời điểm hiện tại, phía công an xác định là chưa có bệnh nhân nào bị điều trị theo các xét nghiệm giả mạo nói trên. Mặc dù vậy, báo chí trong nước đã ghi nhận thông tin về việc "nhiều trường hợp bệnh nhân phản ánh nghi ngờ kết quả xét nghiệm" (xem bài : "Cụ ông 98 tuổi chung kết quả xét nghiệm máu với thiếu nữ 17", báo mạng vnexpress.net).

Vụ bê bối giả mạo xét nghiệm máu quy mô lớn để rút tiền từ Quỹ Bảo hiểm Y tế vang lên như một tiếng chuông báo động công luận trước nhiều tệ nạn phổ biến trong y tế Việt Nam hiện nay. Nhân vụ bê bối xét nghiệm máu này, xã hội Việt Nam một lần nữa có dịp trực diện đối mặt với một bê bối, trên thực tế đã trở thành kinh niên từ nhiều năm nay. Tạp chí Xã hội của RFI tuần này xin chuyển đến quý thính giả các góc nhìn khác nhau trong vấn đề này.

Vụ nhân bản xét nghiệm Hoài Đức và sự bất lực của hệ thống giám sát

Trước hết chúng tôi xin mời quý vị nghe tiếng nói của Bác sĩ Trần Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng (RTCCD) :

Bác sĩ Trần Tuấn : « Khi mà tiếp nhận thông tin về vụ việc này, điểm đầu tiên chúng ta nhận thấy là : Đây là một việc hoàn toàn không thể giải thích được bằng những thông tin chúng ta hay thường thấy trong ngành y tế, ví dụ như tử vong do vấn đề tiêm vắc-xin hoặc do vấn đề chết sơ sinh, hoặc tử vong mẹ… Những cái đó, chúng ta đều còn có các giải thích là có một nguyên nhân nào đấy, hoặc chưa rõ ràng, hoặc nằm trong những cái mà chúng ta đang còn nghi ngờ… Nhưng riêng đối với việc Hoài Đức, thì hoàn toàn do chủ ý của con người. Mà chủ ý của con người, trong trường hợp này là một cách không thể tưởng tượng nổi trong điều kiện, mà chúng ta đều biết, nếu như môi trường y tế - chăm sóc sức khỏe cho người bệnh -, xét nghiệm là một cái điều kiện cần thiết để phục vụ cho y bác sĩ trong tiến trình chẩn đoán, điều trị bệnh ».

Nhìn về các nguyên nhân trực tiếp khiến vụ giả mạo xét nghiệm tồn tại trong một thời gian dài, Bác sĩ Trần Tuấn nhận định :

« Trong trường hợp này, chúng ta thấy rằng : À, chúng ta phải xem xét ngay là, tại sao công tác giám sát, thanh tra làm việc như thế nào, mà lại để xẩy ra một tình trạng kéo dài như vậy. mà để xẩy ra một tình trạng mà chúng ta nghĩ rằng là không thể chấp nhận được trong môi trường y tế.

Chúng ta đều biết rằng, công tác giám sát đánh giá và quy trình đảm bảo chất lượng chuyên môn cho các cơ sở y tế, thì chúng ta ít nhất có hai hình thức, mà hiện nay, các hệ thống bệnh viện đều đang làm. Thứ nhất là vấn đề giám sát chất lượng nội bộ, trong mỗi bệnh viện hiện nay, họ đều tổ chức cái hệ thống gọi là kiểm tra, thanh tra, giám sát chất lượng công việc hàng ngày, việc thực hiện các quy trình, cụ thể trong trường hợp này là các quy trình xét nghiệm, rồi là quy trình khám chữa bệnh. Thế thì tại sao lại để xẩy ra kéo dài như vậy.

Điểm thứ hai là, trong hệ thống hàng năm vẫn có những giám sát đánh giá từ bên ngoài. Đây là tôi muốn nói đến trong nội bộ của ngành y, chứ chưa nói là độc lập từ bên ngoài. Tại sao hệ thống giám sát đánh giá này không phát hiện được vấn đề. Thế thì, khi trả lời được câu hỏi này, thì chúng ta sẽ bật ra được vấn đề, mà tôi đã nhìn nhận thấy, tương tự như các vụ việc khác. Đó là, dường như hệ thống giám sát đánh giá hoặc là kiểm định chất lượng của chúng ta không được hoạt động theo như thiết kế. Các bằng chứng trong trường hợp này nó thể hiện ngay rằng là cả một thời gian dài mà không phát hiện được, mà các vụ việc này không phải là không được đề cập, không có những người thể hiện là không đồng ý. Vậy, tại sao nó lại tồn tại một môi trường như vậy ? Các quy chế, môi trường bệnh viện hiện tại, có phải là môi trường đúng thực chất như chúng ta thiết kế, nhằm tạo được các dịch vụ bảo đảm được chất lượng cơ bản cho người dân hay không ?

Phần nổi của tảng băng chìm

Vụ bê bối vỡ lở tại Bệnh viện Hoài Đức là điều dường như khiến ban lãnh đạo ngành y tế Việt Nam bất ngờ, nhưng trên thực tế, vụ bê bối này có thể nói chỉ là phần nổi của tảng băng chìm khổng lồ của các thói tệ hoành hành trong lĩnh vực y tế tại Việt Nam lâu nay.

Theo ông Phạm Lương Sơn, Trưởng ban thực hiện chính sách Bảo hiểm Y tế : « Vụ việc ở Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức không phải là cá biệt. Tình trạng lạm dụng những xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, khá phổ biến và ngày càng tinh vi hơn, mang tính trục lợi nhiều hơn. Không chỉ là chỉ định bất hợp lý, chỉ định quá mức nữa mà là kê khống thuốc, làm phiếu xét nghiệm khống. Không chỉ quỹ BHYT phải gánh chịu những chi phí bất hợp lý này, mà bản thân người bệnh cũng bị “móc túi” vì những chỉ định xét nghiệm, chiếu chụp không liên quan đến bệnh lý » (Báo Dân trí).

Ra đời từ gần 20 năm nay, hệ thống Bảo hiểm Y tế do Nhà nước chủ trì tại Việt Nam có xu thế hướng đến phổ cập toàn dân. Đặc biệt trong những năm gần đây Bảo hiểm Y tế tiếp tục phát triển với tốc độ rất nhanh. Về mặt nguyên tắc hệ thống an sinh xã hội này có mục tiêu mang lại lợi ích thấp cho các cá nhân mắc bệnh, thay vì phải trả các khoản tiền lớn trong các dịch vụ tự chi trả, nhưng trong thực tế vận hành, Bảo hiểm Y tế đã trở thành con bò sữa bị lợi dụng dưới đủ hình thức khác nhau.

Theo Bác sĩ Trần Tuấn, vụ giả mạo xét nghiệm kể trên gắn liền với các khuyết tật hệ thống của Bảo hiểm Y tế và của ngành y tế nói chung tại Việt Nam hiện nay.

Bác sĩ Trần Tuấn : « Cái câu chuyện xét nghiệm này có liên quan đến vấn đề thanh toán của Bảo hiểm Y tế. Chúng ta biết rằng, Việt Nam cho đến nay có được 20 năm kinh nghiệm làm Bảo hiểm Y tế. Cái tỷ lệ bao phủ bây giờ cũng đạt được đến 70% rồi. Nếu nhìn về con số tỷ lệ bao phủ thôi, thì như thế cũng là một sự tiến bộ lớn. Nhưng trên thực tế, về mặt cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm Y tế vận hành như thế nào ? Bảo hiểm Y tế nằm trong hệ thống an sinh Nhà nước, một tỷ lệ khá lớn trong Bảo hiểm Y tế hiện nay là ngân sách dành cho người nghèo, cho người cận nghèo. Bên cạnh đó là phần của đối tượng khác. Thế thì, vùng Hoài Đức là vùng thôn quê, người dân đến khám chữa bệnh ở bệnh viện huyện hầu hết là người nông dân, và tôi nghĩ một bộ phận đáng kể, tỷ lệ này, tôi nghĩ là không dưới 50% người đến khám và điều trị ở bệnh viện huyện là những người nghèo. Cho nên là, cái nhân bản xét nghiệm này chắc chắn có liên quan nhiều đến Bảo hiểm Y tế.

Thế thì, khi người dân sử dụng Bảo hiểm Y tế hiện nay, liệu Bảo hiểm Y tế có đúng thực chất vận hành theo nguyên tắc đầu tư của người dân. Hoặc thậm chí trong trường hợp này là đầu tư của Nhà nước, để cho những nhóm yếu thế. Tức là đầu tư để tránh các rủi ro cho chi phí y tế sau này hay không ? Thì đấy quả đây là vấn đề còn rất lớn đối với ngành Bảo hiểm Y tế Việt Nam. Bởi vì nếu như đây là một đầu tư, theo đúng vận hành như thế, thì có nghĩa là phải được phân tích rạch ròi, theo « kinh tế thị trường », và Bảo hiểm lúc này sẽ sử dụng phần tiền của người dân đóng vào cho Bảo hiểm, để rồi sau đó, chúng ta tạo được chi phí thấp, thì Bảo hiểm mới tồn tại được. Nếu như Bảo hiểm làm tốt, thì chúng ta phải nhận thấy rằng, chúng ta luôn luôn mong người dân ít đi khám chữa bệnh, hoặc đi khám chữa bệnh thì sử dụng các thuốc, các xét nghiệm, các cách nào hiệu quả nhất, tức là giá thành thấp, nhưng lại đạt được yêu cầu chất lượng. Hay nói khác đi, Bảo hiểm lúc đó phải có nhiệm vụ là đánh giá xem việc thực thi của người bác sĩ trong tiến trình khám chữa bệnh, đánh giá xem các vấn đề kỹ thuật, các vấn đề xét nghiệm sử dụng ra sao, vấn đề thuốc sử dụng hợp lý đến đâu… Tóm lại Bảo hiểm sẽ đóng vai trò hết sức tích cực trong việc giám sát chất lượng của bên cung cấp dịch vụ - tức bên bệnh viện, bên khám chữa bệnh.

Thế nhưng, trong trường hợp này, chúng ta nhận thấy rằng là Bảo hiểm Y tế, dường như không có tiếng nói gì. Hay nói khác đi, người ta phải đặt lại vấn đề vai trò của Bảo hiểm Y tế trong vấn đề thanh quyết toán hồ sơ khám chữa bệnh của Bệnh viện Hoài Đức. Khi hệ thống các dịch vụ y tế vận hành theo cơ chế thị trường, coi bệnh nhân là nguồn thu, tính chất lạm dụng xét nghiệm, lạm dụng các vấn đề khác, nó xẩy ra (xem thêm bài của Bác sĩ Trấn Tuấn : « Quản lý kiểu công - tư lẫn lộn: Đẩy cán bộ y tế rời xa các cam kết y đức »). Sự lạm dụng này nó sẽ gia tăng lên rất nhiều, nếu như bên phía người sử dụng không có kiến thức, không có trợ giúp, không có phân tích, không có giám sát chất lượng dịch vụ mình (được) cung cấp, mình nhận được. »

Rất nhiều người dân không có hiểu biết tối thiểu về BHYT

Bức tranh của nền y tế Việt Nam nói chung, đặc biệt là những gì liên quan đến hệ thống bảo hiểm y tế, việc khám chữa bệnh tại các bệnh viện công không chỉ thuần một màu xám. Nhiều y bác sĩ, nhà chuyên môn hay nhà quản lý nhìn nhận ở hệ thống này những điều tích cực hết sức quan trọng (về mặt nguyên tắc, giống như Tiến sĩ Trần Tuấn trình bày ở trên), trong việc mang lại những cơ hội được chăm sóc đối với một số lượng rất đông đảo những người thuộc các nhóm xã hội yếu thế, hay những người mắc bệnh hiểm nghèo, sống được là nhờ Bảo hiểm Y tế.

Bác sĩ Khuất Hải Oanh – giám đốc Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phát triển cộng đồng (SCDI) -, là một trong những người ủng hộ một cách nhìn nhận như vậy, đồng thời nhấn mạnh rằng những khuyết tật hiện nay của khu vực y tế công và hệ thống Bảo hiểm Y tế một phần rất lớn bắt nguồn từ sự chập chững của một hệ thống mới đang trong thời kỳ hình thành ban đầu.

Bác sĩ Khuất Hải Oanh : « Thật ra thì, cái vấn đề phân biệt đối xử giữa những người có thẻ Bảo hiểm Y tế và những người trả tiền trực tiếp, thì có lẽ nó cũng là những mặt trái của cơ chế thị trường, mà Nhà nước, Bảo hiểm Y tế, Bộ Y tế cần phải điều chỉnh. Mặt trái ở đây là người đến trả tiền trực tiếp, gọi là ‘‘tiền tươi thóc thật’’, thanh toán luôn, bệnh viện có tiền luôn. Có thể là cái giá dịch vụ nó cũng cao hơn. Cho nên, dường như là người ta cũng theo cơ chế thị trường, thì ưu ái những người bệnh ấy hơn.

Tuy nhiên, Oanh nhìn nhận việc đó ở góc độ là : Cái việc bệnh viện có những cơ chế tài chính khác nhau, có các nguồn thu khác nhau. Nó cũng chưa phải là… Bảo hiểm Y tế, các bệnh viện trong thời gian gần đây mới có một lượng bệnh nhân Bảo hiểm Y tế nhiều, cho nên là cái giai đoạn đầu có những sự bất cập, trục trặc như thế này, nó cũng là điều mà phần nào cũng có thể hiểu được. Tất nhiên là mình không biện minh cho nó, tức là cần phải giải quyết, nhưng nếu mà mình nhìn nó theo hướng rằng là cái việc áp dụng Bảo hiểm Y tế ở Việt Nam là tương đối mới, các bệnh viện áp dụng các cơ chế tài chính khác nhau, các cơ chế thu tiền khác nhau đấy là cũng là tương đối mới, để cho mình trông bức tranh nó không quá ảm đạm, và từ đó thì tìm ra cái cách để mà giải quyết.

RFI : Theo chị, thì điều này có thể làm được trong một thời gian gọi là gần không ? Hay phải là một tương lai tương đối xa vời ?

Bác sĩ Khuất Hải Oanh : Trên thực tế, Oanh bắt đầu làm việc về Bảo hiểm Y tế, thì thấy rằng là rất nhiều người dân không biết đầy đủ về Bảo hiểm Y tế, không biết cái cách làm thế nào để có được thẻ Bảo hiểm Y tế và không biết cách sử dụng thẻ Bảo hiểm Y tế như thế nào. Thì có lẽ là việc tuyên truyền cung cấp thông tin cho người dân để có hiểu biết đầy đủ hơn về Bảo hiểm Y tế cũng là một việc rất cần phải làm ».


Vì sao báo giới ít đưa tin về các tác hại của xét nghiệm giả ?

Giải thích lý do vì sao ít có thông tin trên truyền thông Việt Nam về hậu quả của xét nghiệm giả đối với người bệnh, Bác sĩ Trần Tuấn cho biết : « Thực ra thì chúng ta đều nhận thấy, kết quả xét nghiệm có mà lại sai lạc, thì chắc chắn nó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của y bác sĩ, nhưng trong trường hợp này chúng ta thấy báo chí không nói nhiều và người ta cũng không tập trung phân tích nhiều nữa. Bởi vì các kết quả xét nghiệm bất thường đó, cho đến nay, các đối tượng trực tiếp không thấy có tử vong, và không có ý kiến gì, cho nên người ta mới quên đi. Còn thực ra, chúng ta biết, trong một xã hội ở trong đó quyền của người bệnh được tôn trọng, thì vấn đề sẽ phức tạp hơn rất nhiều cho bệnh viện Hoài Đức, cũng như những người liên quan. Bởi vì người dân có thể đề xuất, nêu ra những hậu quả, tính ra những tổn hại từ vấn đề đó xẩy ra, kể cả về vấn đề sức khỏe sức khỏe, liên quan đến những cái chết, thì sẽ rất phức tạp. Tôi nghĩ trong trường hợp này, có thể báo chí cũng như giới truyền thông, người dân người ta cũng nhìn nhận ở một mức độ…

Như chúng ta thấy, là họ tự rút kinh nghiệm cho họ nhiều hơn. Tại sao thế ? Vì họ thấy tình trạng như thế này nó là (đáng) ngạc nhiên thật, nhưng nó có thể là hậu quả có thể là báo trước đối với tình trạng quản lý hiện nay. Vì có nhiều chuyện đã xẩy ra như thế rồi, mà phân tích những cái đó chúng ta đều biết : Ngành y là liên quan trực tiếp đến tính mạng của người bệnh, thậm chí dẫn đến tử vong, có những trường hợp đã tử vong rồi. Cho nên trong trường hợp này, có thể nhiều người họ còn bảo là, thôi thế là cũng mừng, bởi vì rằng là cái xét nghiệm họ làm sai như thế mà bác sĩ cũng không đưa đến những quyết định… mà (nhờ thế) mình còn sống đến ngày hôm nay, thế là mừng. Ví dụ như thế. Điều đó nó thể hiện một sự mệt mỏi (hoặc chán nản – ndr) (của người dân) đối với việc phân tích những hậu quả xẩy ra do những hành động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng điều trị (như trường hợp xét nghiệm giả kể trên) ».

Phẫn nộ xã hội phổ biến với ngành y

Trong xã hội phổ biến một tình cảm phẫn nộ đối với những tệ nạn tràn lan trong ngành y tế, gây nhiều tổn hại về nhân mạng và thiệt hại về tài chính, do thái độ thờ ơ, nhẫn tâm, coi đồng tiền hơn hết của rất nhiều người làm nghề y. Anh Từ Anh Tú, một cựu sinh viên cao đẳng y tế ghi nhận thực trạng này, qua các kinh nghiệm cá nhân :

Anh Từ Anh Tú : « Theo em, y tế ở Việt Nam các dịch vụ chăm sóc người dân chưa được tốt cho lắm. Ở các bệnh viện, như ở chỗ em, thường diễn ra hiện tượng quá tải, nhiều bệnh nhân nằm chung một giường. Còn đối với cái Bảo hiểm Y tế, em nghĩ là đóng (góp tiền vào) nó thì cũng tốt thôi. Bởi vì về mặt lý thuyết, khi mình đóng Bảo hiểm Y tế, thì khi mình ốm đau bệnh tật, thì được một phần đỡ đần. Nhưng mà ở Việt Nam, nhiều khi, kể cả khi mình đóng Bảo hiểm Y tế, thì khi mình nằm viện vẫn phải mất tiền bình thường. Nếu mà mình không mất, mà mình cứ đưa Bảo hiểm ra, thì chắc chắn là người ta sẽ không chăm sóc như ý muốn. Thậm chí còn bị hoạnh họe.

Rất nhiều trường hợp bệnh nhân đến viện, có Bảo hiểm Y tế mà không có tiền, thì ở bệnh viện họ cũng không chăm sóc được hẳn hoi. Một số trường hợp người ta còn để cho bệnh nhân thậm chí chết. Em cũng được chứng kiến một trường hợp, hồi em học trên Thái Nguyên, có một sinh viên bị đánh, mất nhiều máu quá, lúc nằm viện, chưa có đủ tiền viện phí, bệnh viện họ cứ để đấy và cuối cùng thì sinh viên đó bị chết ».

Những bất công và tệ nạn trong lĩnh vực y tế, mà đối tượng bị phân biết đối xử trước hết thường là những người sử dụng Bảo hiểm Y tế, cũng có nghĩa là những người không có điều kiện chi trả dịch vụ hoàn toàn bằng tiến cá nhân, ngày càng nhận được một phản ứng chung trong công luận. Ngay trong cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đầu tháng này về « Kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT 2009-2012 », rất nhiều tiếng nói của các giới chức lãnh đạo cất lên chỉ trích mạnh mẽ thực trạng phân biệt nặng nề này.

Các bê bối y tế : Tệ nạn của « hệ thống »

Dù giải thích như thế nào về những tệ nạn trong ngành y tế hiện nay và có lạc quan hay không về khả năng cải thiện của nó, không thể không ghi nhận một tình cảm bất bình và phẫn nộ phổ biến trong xã hội đối với các dịch vụ y tế. Trong cuộc họp nói trên, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội Việt Nam Phan Trung Lý khái quát tình trạng thê thảm của nạn phân biệt đối xử với rất nhiều người sử dụng thẻ Bảo hiểm Y tế qua câu « Chìa BHYT ra bị tiêm đau hơn », một nhận xét được báo chí trong nước nhất loạt trích dẫn.

Vụ xét nghiệm giả quy mô lớn tại một bệnh viện Hà Nội là phần nổi của tảng băng chìm của một loạt tệ nạn trong ngành y tế. Nhiều khảo sát cho thấy hệ thống BHYT - với rất nhiều lợi ích nhờ việc chung tay chia sẻ các rủi ro bệnh tật của xã hội – trên thực tế đã bị lạm dụng một cách tràn lan ở mọi nơi, đặc biệt trong các cơ sở y tế công, nơi vừa cung cấp các dịch vụ công, lẫn dịch vụ theo giá cả thị trường. Hiện tượng này gây bất bình sâu sắc và ngày càng lớn trong công luận. Tuy nhiên, những tệ nạn trong y tế tại Việt Nam không chỉ dừng trong ngành này, đây cũng là các tệ nạn có mặt trong hầu hết các lĩnh vực khác trong xã hội. Sau đây là nhận định của nhà xã hội học Trịnh Hòa Bình về vấn đề này :

Nhà xã hội học Trịnh Hòa Bình : « Không cứ gì lĩnh vực y tế, cả giáo dục, có thể xem như hai thiết chế, cũng đồng thời là hai dịch vụ xã hội cơ bản đó, hàm chứa những nguy cơ. Đấy là chỗ tiêu biểu thôi, chỗ người ta dễ nhìn thấy thôi.

Như vậy là, từ ở sâu xa trong loại hình, cấu tạo của tổ chức hoạt động xã hội. Khi mà những ‘‘giá trị ảo’’, những sự ‘‘giả giá trị’’, ‘‘phản giá trị’’, nó vẫn có đất để tồn tại… Tôi không nói là nó phổ biển –, nhưng mà có thể nói nó tồn tại đầy rẫy ở nhiều nơi, mà không bị ngăn chặn, không bị đẩy lùi, thì nó tạo nên điều kiện để cho người ta lợi dụng cái vị thế, lợi dụng cái vị trí hoạt động, công tác, đặc biệt là trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công, là kiếm chác thoải mái. Ở đây, nó có điều liên quan đến chuyện không tách bạch, nhập nhèm công – tư lẫn lộn.

Người ta nhân danh việc này việc khác, thậm chí lợi dụng luôn cả chủ trương « xã hội hóa » ở trong lĩnh vực đời sống xã hội, các loại hình cơ bản trong các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, tổ chức xã hội… để mà hình thành lên các lợi ích nhóm, những lợi ích cục bộ của nhóm này, nhóm khác. Người ta có hình ảnh, Nhà nước là ‘‘con bò gầy’’, để phản ảnh xu hướng là mạnh ai nấy đục khoét, lợi dụng. Ở đây, nó liên quan đến điều mà chúng ta nói ‘‘công tư lẫn lộn’’. Có điều, khi người ta hành xử, vì cái tôi, vì cái lợi ích nhóm, người ta vẫn có thể là ra rả nêu lên, vẫn nói là nhân danh một thứ chủ nghĩa tập thể, nhân danh cái chung. Chỉ những cái hoạt động, những cái việc làm xấu nó bộc lộ và bị phát hiện, thì mới lộ rõ cái chân tướng chỗ này, chỗ khác, chứ… Điều đó làm cho cộng đồng xã hội, làm cho người dân mất lòng tin. Ở đây có thể nói là, mất lòng tin một cách sâu sắc ở cái hệ thống cung cấp dịch vụ công, cơ quan công quyền. Và đặc biệt là ở những khu vực hết sức nhạy cảm. Đó là giáo dục và y tế.

RFI : Thưa Tiến sĩ, như thực trạng vừa rồi Tiến sĩ có cho một phác họa. Vậy thì, giải pháp nào có thể có được, để mà mọi người có quyền hy vọng, và đồng thời có thể tham gia vào một sự cải tổ, hoặc làm thay đổi cái thực trạng này ?

Nhà xã hội học Trịnh Hòa Bình : Thực ra thì, có những điều hết sức giản dị. Tưởng như dễ làm, hóa ra là khó. Xét đến cùng, người ta có kiên quyết thực hiện hay không mà thôi. Giải pháp ở đây là luôn luôn đúng cho mọi tình huống. Tức là phải minh bạch hóa, trong tất cả mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Phải thực thi cái dân chủ hóa một cách triệt để hơn nữa. Và để khắc phục các tình trạng lợi dụng những ‘‘chủ thuyết’’, ‘‘chủ nghĩa tập thể’’, thì có một tinh thần, tức là coi trọng hơn nữa cái cá nhân ở trong mọi ‘‘rường mối tổ chức lao động, hoạt động (của) đời sống xã hội’’. Điều này chắc chắn nó thoạt nhìn, thoạt nghe, thoạt trông, nó có vẻ mâu thuẫn với cái gọi là ‘‘chủ nghĩa xã hội’’, nhưng xét đến cùng, chỉ cái đó mới tạo nên sức sống, mới tạo nên cái sự lành mạnh hóa, công khai hóa và minh bạch hóa thực sự trong đời sống xã hội.

Thực ra, tôi cho rằng là, đây là liều thuốc có thể xem như chữa được bách bệnh, nhưng mà có thực hiện được hay không phụ thuộc vào cái quyết tâm của cả cộng đồng, và trước hết là ở ‘‘rường mối phức hợp trong việc tổ chức và quản lý xã hội'’ phải chuyển động trước. Cái mà người ta vẫn nói là ‘‘đổi mới hệ thống chính trị’’ là thật sự có ý nghĩa quyết định ở khâu này ».

***

Từ vụ bê bối nhân bản xét nghiệm máu ở một bệnh viện Hà Nội, công luận Việt Nam có dịp một lần nữa đối diện với những tệ nạn trầm kha của ngành y tế. Công-tư lẫn lộn, lối sống thu lợi cá nhân-nhóm nhân danh lợi ích toàn xã hội, được nhiều nhà chuyên môn chỉ ra như những nguồn gốc cơ bản trực tiếp của các tệ nạn này. Nhiều nhà nghiên cứu đặt vấn đề cần phải truy tìm cội rễ của các thói tệ phổ biến và hết sức nghiêm trọng này, của ngành y cũng như của nhiều lĩnh vực khác, trong chủ trương duy trì « các khuyết tật mang tính hệ thống » kể trên. Trong thời gian gần đây, tên gọi « các nhóm lợi ích » đã được nhiều người sử dụng để đưa ra ánh sáng những sức mạnh đen tối, nhưng đầy uy lực ảnh hưởng đến hiện trạng này. Cùng lúc với việc « những nhóm lợi ích » - nằm trong hay có liên hệ chặt chẽ với các lực lượng cầm quyền - được dung dưỡng, trong đất nước Việt Nam hiện tại, các cơ hội của xã hội dân sự tự gắn kết một cách thực chất thành các tổ chức, để tự vệ trước các tệ nạn tràn lan nói trên, gặp phải rất nhiều trở lực. Thiếu các hình thức tự tổ chức có hiệu quả này, khả năng tự vệ của các thành viên xã hội dân sự thông qua con đường huy động các sức mạnh cộng đồng, đàm phán, gây áp lực để bảo vệ cho quyền lợi của « các nhóm lợi ích » của những người thấp cổ bé họng chống lại « các nhóm lợi ích » - tuy nằm trong bóng tối nhưng đầy sức mạnh - , bị hạn chế nghiêm trọng. Một loạt những phản ứng bạo lực bùng phát của người dân chống lại các nhân viên công quyền, đôi khi dẫn đến tử vong cho các đối tượng này, trong thời gian gần đây trong các lĩnh vực y tế, đất đai…, hay các hình thức bạo lực mang tính « tự xử » khác, cho thấy kết cục đáng sợ của những phẫn uất, thất vọng cùng cực trước các bất công không được lắng nghe, không được chuyển hóa thành tiếng nói chỉ trích có tổ chức.

RFI: xin chân thành cảm ơn Bác sĩ Khuất Hải Oanh, Tiến sĩ Trần Tuấn, anh Từ Anh Tú và Tiến sĩ Trịnh Hòa Bình đã dành thời gian cho Tạp chí.

Các bài liên quan
Trẻ tử vong sau khi tiêm vắc-xin viêm gan B : Phản ứng tại Việt Nam
Lê Hiếu Đằng : Cần cho lập thêm các đảng đối lập với đảng Cộng sản Việt Nam
Việt Nam: Công an, Y tế, Nhà đất tham nhũng nhất
Lo ngại thay đổi chế độ, lãnh đạo Việt Nam giữ nguyên tên nước
Đức GM Nguyễn Thái Hợp : "Phải phát triển xã hội dân sự ở Việt Nam"
Bạo lực phổ biến tại Việt Nam : tìm hiểu cội rễ
Việc ban hành Luật biểu tình ngày càng cấp thiết
Giới trí thức Việt Nam đòi thực hiện dân chủ để bảo vệ và phát triển đất nước
Mất an toàn thực phẩm : trách nhiệm của Nhà nước và khả năng tham gia của xã hội dân sự


"Các bộ phận" bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng dịch vụ y tế

Bác sĩ Trần Tuấn : « Các bằng chứng cho đến nay, về các vụ lình sình trong y tế, nó thể hiện chất lượng dịch vụ y tế hiện nay đang thiếu đi một sự đánh giá giám sát khách quan khoa học và thực hiện một cách độc lập.

Điểm thứ hai, tôi chơ rằng, đối với mỗi một trường hợp xẩy ra, bên cạnh việc xử lý trực tiếp, điểm quan trọng hơn hết là phải xem những sự việc xẩy ra đó là một cơ hội cho chúng ta nhìn nhận toàn bộ hệ thống, nhìn nhận toàn bộ các căn nguyên đã xẩy ra, cái môi trường đã tạo các (vấn đề) này. Cái mong đợi của tôi là làm sao cho mỗi một cái trường hợp xẩy ra như thế này, thì sau đó sẽ tạo ra được hàng loạt những bài (tổng) kết, những bài phân tích, những bài nghiên cứu, để cung cấp các bài học kinh nghiệm. Thế còn nếu như chúng ta không nhìn nhận những vấn đề này như một cơ hội cho chúng ta xem xét chính mình, mà chỉ là đối phó với dư luận, thì tôi cho rằng rất tiếc trong tương lai tới vẫn lại có những chuyện khác xẩy ra ở mức độ không thể nào biết trước được cái hậu quả khôn lường đối với xã hội.

Còn đối với người dân, thì tôi nghĩ thế này : Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thì chúng ta bên cạnh việc cảnh giác đối với những thông tin thu nhận được, thì cũng phải chuẩn bị cho chúng ta những phương án đối phó, hay nói khác đi, những kiến thức cụ thể trong vấn đề khi đi tìm kiếm và sử dụng dịch vụ. Vấn đề này, đặc biệt trong y tế, cũng rất khó nói với người dân. Đòi hỏi họ có được những kiến thức cơ bản, trong khi tình trạng sức khỏe (y tế) hiện nay có rất nhiều vấn đề, thậm chí phức tạp. Ý của tôi muốn nói ở đây là : Việc đầu tiên là chúng ta phải xây dựng cho mình ý thức là phải tìm hiểu về vấn đề sức khỏe của chính bản thân mình. Và trên cơ sở cái mong mỏi như vậy của xã hội khi nó hình thành được như vậy, thì lập tức nó sẽ ra đời các tổ chức, hệ thống để kiểm định giám sát, đánh giá chất lượng dịch vụ và cung cấp thông tin cho người dân. Hay nói khác đi, vai trò của các tổ chức của bên xã hội dân sự cũng như của người dân sẽ được tăng cường mạnh hơn, chứ không thể ngồi chờ đợi vào hệ thống hiện tại, hệ thống của Nhà nước cung cấp dịch vụ y tế nào, thì chúng ta chấp nhận sử dụng một cách bị động như tình trạng hiện nay.

Thực tế của Việt Nam hiện nay cho thấy cần phải có các bộ phận đứng ra bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng dịch vụ y tế. Vì chúng ta biết rằng dịch vụ y tế là dịch vụ ‘‘đặc biệt’’, người sử dụng không tự đánh giá được đúng chất lượng dịch vụ mà mình được nhận, cũng như cái chi phí mà mình phải bỏ ra cho dịch vụ mình được nhận, có xứng đáng, có tương xứng hay không.

Trong thời gian tới, mong mỏi của chúng tôi là ra được một bộ khung pháp lý, giống như là một cái luật về vấn đề giám sát đánh giá chất lượng dịch vụ cung cấp cho người dân, trên cơ sở đó, trong thị trường sẽ hình thành các tổ chức bám theo các hành lang pháp lý đó, để thực hiện đáp ứng các yêu cầu của thực tế hiện nay về vấn đề trả lời cho người dân xem là chất lượng dịch vụ y tế nay ra sao, rồi là những thắc mắc của người dân, cũng như những vấn đề xẩy ra, sự thật đến đâu. »
Trọng Thành (RFI)

Nguyễn Hưng Quốc - Độc tài: Mạnh hay yếu?


Ở Đức, dưới thời Hitler, đảng Nazi chỉ có trên năm triệu đảng viên trên tổng số khoảng 80 triệu dân

18.09.2013
Người ta thường dễ có ấn tượng là các chế độ độc tài đều mạnh: Chúng có quân đội, có công an, có mật vụ, có chỉ điểm viên (và gần đây, ở một số nước, có “dư luận viên”) trùng trùng điệp điệp. Song song với các lực lượng ấy, chúng có súng đạn, tòa án, nhà tù và các bãi bắn hoặc phòng chích thuốc độc. Nếu các yếu tố trên chưa đủ để khiến mọi người khiếp sợ, các chế độ độc tài còn có thêm một yếu tố này nữa để “thuyết phục” mọi người nên tiếp tục khiếp sợ: Chúng thường có một lịch sử rất dài hoặc khá dài.

Trước hết, nên lưu ý: trong lịch sử nhân loại, độc tài có “tuổi thọ” cao hơn hẳn dân chủ. Dân chủ chỉ là một hiện tượng mới. Thực sự là dân chủ lại càng mới. Mới và lạ: Không phải ở đâu người ta cũng thấy được mặt mũi của dân chủ. Chính vì sống quá lâu với độc tài, từ độc tài phong kiến đến độc tài thực dân và độc tài Cộng sản như vậy, nhiều người cảm thấy quen thuộc, ngỡ nó là số mệnh, như một cái gì đương nhiên. Không thể thoát được. Sự chấp nhận dễ dàng ấy càng làm cho độc tài có vẻ mạnh mẽ hơn.

Độc tài càng có vẻ mạnh hơn nữa khi người ta so sánh nó với dân chủ. Dân chủ, ngay cả khi được xem là hình thức tổ chức hoàn hảo nhất trong tiến trình phát triển của nhân loại, như một điểm “tận cùng của lịch sử” không bao giờ gợi lên ấn tượng về sự mạnh mẽ. Một xã hội càng dân chủ bao nhiêu càng làm cho người ta quên cảm giác về quyền lực bấy nhiêu. Không bị ám ảnh về quyền lực, người ta cũng không có ý niệm về sức mạnh của nó.

Thật ra, tất cả các ấn tượng trên đều giả. Từ góc độ thực tế, các nước dân chủ bao giờ cũng giàu, mạnh và ổn định hơn hẳn các nước độc tài. Từ góc độ lịch sử, xu hướng phát triển chung của nhân loại là chiến thắng của dân chủ trên độc tài chứ không phải ngược lại. Từ góc độ lý thuyết, chính phủ dân chủ bao giờ cũng là chính phủ của đa số, hơn nữa, vì được xây dựng trên nền tảng hiến pháp và luật pháp vững chắc và công minh, luôn luôn bị áp lực của các lực lượng đối lập và của xã hội dân sự mạnh mẽ, chính phủ dân chủ nào cũng cố gắng trở thành chính phủ của toàn dân, của mọi người chứ không phải chỉ giới hạn trong những người đã ủng hộ và bỏ phiếu cho mình.

Chính phủ độc tài, ngược lại, bao giờ cũng là chính phủ của thiểu số. Không bao giờ có thiểu số tuyệt đối: Ngay ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, mọi quyền lực hầu như tập trung hết vào tay nhà vua, kẻ được xem là con Trời. Nhưng vua bao giờ cũng tìm cách liên minh với tầng lớp quý tộc và quan lại để tạo thế lực. Do đó, chính nhà vua cũng phải tự động san sẻ quyền lực với những người khác. Thời hiện đại, các nhà độc tài cũng tìm cách san sẻ quyền lực và quyền lợi với người khác, chủ yếu qua hệ thống đảng mà họ lãnh đạo. Nhưng dù mở rộng đến mấy thì đó cũng vẫn là thiểu số. Ở Đức, dưới thời Hitler, đảng Nazi chỉ có trên năm triệu đảng viên trên tổng số khoảng 80 triệu dân. Ở Việt Nam hiện nay, trên tổng số gần 90 triệu dân, số đảng viên Cộng sản chỉ có khoảng bốn triệu. Vẫn là thiểu số.

Chỉ cần làm một bài tính nhẩm cũng có thể thấy ngay thế yếu của các chế độ độc tài: Đó là sự đối đầu của thiểu số đối với đa số, của một nhóm người ít ỏi với một đám quần chúng đông đảo. Các nhà độc tài thừa hiểu điều đó nên bao giờ cũng tìm cách củng cố sức mạnh của họ bằng ít nhất ba biện pháp chính: Thứ nhất, trong khi củng cố tổ chức của họ thật chặt chẽ, họ tìm cách phân hoá cái khối đa số quần chúng đông đảo kia, không cho phép quần chúng tập hợp lại và thống nhất với nhau. Thứ hai, dùng biện pháp tuyên truyền để, một mặt, khuếch đại sức mạnh của mình, mặt khác, để tạo ảo tưởng là họ đang đại diện cho đa số, thậm chí, đại đa số, hơn nữa, của mọi người. Và thứ ba, sử dụng bạo lực để đàn áp và khủng bố mọi người.

Có thể nói, sức mạnh của các chế độ độc tài chủ yếu được xây dựng trên ba nền tảng chính: Một, phân hoá dân chúng, hai, lừa dối, và ba, khủng bố. Biện pháp đầu làm cho người ta nghi ngờ nhau; hai biện pháp sau làm cho người ta sợ hãi. Cũng có thể nói, sức mạnh các chế độ độc tài không nằm ở bản thân nó mà chủ yếu nằm ở sự chia rẽ và  khiếp nhược của mọi người. Khi, vì lý do nào đó, mọi người đoàn kết và can đảm đòi hỏi quyền lợi và quyền lực cho mình thì các nhà độc tài chỉ có thể làm giống như Muammar Gaddafi ở Libya năm 2012: chui xuống ống cống.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Kami - Văn hóa đối thoại và tranh luận cần được khuyến khích


Người Việt mình có câu "Bàn tay có ngón dài ngón ngắn" dùng để biện minh hay lý giải sự khác biệt của sự vật, sự việc hay con người. Câu nói đơn giản ấy nếu nhìn nhận dưới góc độ học thuật thì có thể được coi là một câu giải thích ngắn, gọn và dễ hiểu về một vấn đề hết tưởng chừng sức bình thường nhưng vô cùng nhạy cảm ở Việt nam. Đó là sự đa nguyên.

Nói như thế để thấy đa nguyên là một quy luật tự nhiên, chấp nhận đa nguyên đó là sự xác nhận và chấp nhận tính đa dạng của các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội. Suy nghĩ của con người cũng vậy, trước mỗi vấn đề mỗi người có thể các suy nghĩ và cách nhìn nhận khác nhau. Do vậy chỉ có những vấn đề đã được xác nhận là chân lý của loài người, thì khi ấy mới có thể có sự đồng nhất về suy nghĩ. Sở dĩ hơi dông dài về chuyện đa nguyên và đang nguyên tư tưởng cũng vì trong xã hội ta hiện nay có tình trạng sự áp đặt tư tưởng một cách khá thô bạo của một số tác giả đại diện cho truyền thông nhà nước. Điều mà ta thường thấy qua các bài viết về chủ đề "Phòng chống Diễn biến Hòa bình" hay "Nhận định và bình luận" trên các tờ báo hàng đầu của đảng CSVN. Điều đáng nói là người đọc có cảm giác các tác giả trên tự cho những suy nghĩ của (đảng) họ toàn là vấn đề thuộc về chân lý, và từ đó họ tự cho mình quyền phê phán thậm chí là mạt sát đối tượng có suy nghĩ khác với họ. Kể cả những đối tượng ấy là những người có tên tuổi và từng đã có nhiều đóng góp cho chế độ hiện nay.

Vấn đề ở đây có lẽ là do sự ngộ nhận của các tác giả nói trên, họ không biết rằng Chân lý chỉ xuất hiện khi một ý kiến mang tính tổng quát hóa có tính khoa học, được chứng minh và kiểm nghiệm thực tế, thể hiện tính chất phổ quát và không tìm được sự kiện trái ngược, thì ý kiến sẽ được coi là đúng. Có nghĩa là mọi ý kiến ngoài việc mang tính khoa học thì nó còn phải được chứng minh, kiểm nghiệm thực tế và không tìm được sự kiện trái ngược. Thì khi ấy ý kiến đó mới tạm được coi là chân lý. Để tìm đến chân lý, thì biện pháp tranh luận, dùng các luận cứ từ thực tế để chứng minh nhằm đưa các suy nghĩ trái ngược trở nên đồng thuận chấp nhận. Chứ không ai bình thường lại tự cho mình quyền khẳng định những ý kiến của họ đưa ra không thông quan tranh luận là duy nhất đúng, buộc mọi người phải khuất phục và chấp nhận. Điều đó chỉ thấy ở những kẻ độc tài hoặc điên khùng.

Chính vì cái lỗi tự cho mình quyền khẳng định những ý kiến của mình đưa ra không thông quan tranh luận là duy nhất đúng, buộc mọi người phải khuất phục và chấp nhận trong một thời gian dài của đảng CSVN nói chung và cơ quan tuyên giáo nói riêng đã bào mòn lòng tin của quần chúng nhân dân. Điều đó dẫn tới việc báo Nhân dân bây giờ chỉ phát không mà không có mấy ai mua để đọc. Chuyện khi nói về báo Nhân dân, ngày xưa họ bảo nhau rằng tờ báo ấy chỉ có đúng mỗi cái địa chỉ của tòa báo là 71 - Phố Hàng Trống - Hà nội là chuyện không oan. Đó là chuyện ngày xưa, còn ngày nay đặc biệt là vào thời điểm này các có lẽ còn nặng nề hơn, khi các cây bút “Phản tuyên truyền”, hay “tuyên truyền theo định hướng” của đảng vẫn còn mắc phải cái lỗi sơ đẳng này. Có lẽ đó chính là lý do trong một bài viết của mình gần đây, nhà báo Phạm Chí Dũng ở Sài gòn đã viết rằng "Một nhân viên an ninh có thâm niên, tất nhiên giấu tên, đã bình luận về chất lượng phản tuyên truyền trên báo đảng: “Họ vẫn viết như ngày nào… Cứ viết thế này thì sẽ chẳng có ai đọc nữa.”. Câu chuyện trên là một điều thật là bi hài và trớ trêu, họ viết thế nào để rồi ngay những người có trách nhiệm bảo vệ đảng của họ còn không tiêu hóa nổi chứ đừng nói gì đến nhân dân có chút hiểu biết.

Tôi không có ý ngăn cản hay đả phá các cây bút chuyên viết về đề tài "Phòng chống Diễn biến Hòa bình" hay "Nhận định và bình luận" v.v... trên các báo của nhà nước. Cũng vì những ai chấp nhận và tôn trọng đa nguyên và đã là đa nguyên tư tưởng thì mặc nhiên phải biết chấp nhận sự khác biệt trong việc biểu lộ suy nghĩ của mọi người khác. Cho dù đảng CSVN vẫn tán đồng và cho rằng đa nguyên, nhất là đa nguyên chính trị và đa nguyên tư tưởng là sự sai trái, là không đúng đắn. Nhưng điều đó không có nghĩa là những ý kiến hay suy nghĩ của các tác giả nhân danh đảng CSVN luôn luôn là chân lý. Mà mọi cái vướng mắc hay bất đồng cần phải được thông qua tranh luận, phản biện trên cơ sở khoa học và thực tế, cộng với sự tôn trọng người trong cuộc để lắng nghe những ý kiến của họ. Nếu thông qua tranh luận để tìm ra chân lý và sự thật thì không chỉ người tham gia tranh luận mà hàng ngàn, hàng vạn người theo dõi cuộc tranh luận ấy sẽ tâm phục khẩu phục và biết rõ đâu là sự thật. Và khi đó, cũng là lúc một vấn đề được chấm dứt, khi cái đúng, cái sai đã rõ ràng. Đó là cách tốt nhất để giải quyết triệt để lần lượt từng vấn đề nhỏ trong một mảng đề tài lớn mà dư luận xã hội quan tâm và những ai đã dám cho rằng ý kiến mình (sẽ) là chân lý thì chẳng có lý do gì mà sợ phía đối diện trong việc tranh luận cả, trừ khi tự họ biết rằng mình sai hoặc yếu thế hơn.

Gần đây, trên mạng internet có một số hiện tượng đáng mừng

1. Mấy ngày vừa qua được đọc bài "Sự thật không như những điều anh Lê Hiếu Đằng suy nghĩ" trên báo Đại Đoàn Kết của ông Nguyễn Túc - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ Ban TƯ MTTQ Việt Nam. Trong đó ông Nguyễn Túc phản bác việc ông Lê Hiếu Đằng viết rằng: "Trước đây, Việt Nam có 3 Đảng… Thế nhưng hai Đảng Dân chủ và Xã hội bị Đảng Cộng sản Việt Nam bức tử, giải tán một cách ngang nhiên”. Cho dù cá nhân tôi cũng đã biết rằng trong các thập kỷ 60,70,80 của thế kỷ trước các đảng viên cũ của đảng Dân chủ (đảng của giới công chức), đảng Xã hội (đảng của lực lượng trí thức) hầu như không còn tham gia sinh hoạt. Một số các dảng viên của các dảng này đã tự nguyện xin chuyển sang đảng Lao động Việt nam nhưng đã bị từ chối. Do vậy sự giải thích của ông ông Nguyễn Túc - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ Ban TƯ MTTQ Việt Nam về việc đảng CSVN không "bức tử" đảng Dân chủ và đảng Xã hội, mà là do theo nguyện vọng của lãnh đạo hai đảng nói trên. Điều đó là có sức thuyết phục đối với cá nhân tôi và không ít người khác, vì nó có lý đối với những ai có chút hiểu biết thực tế hoạt động của hai đảng này trong quá khứ.

2. Theo dõi cuộc trao đổi của ông Mai Thái Lĩnh với TS Trần Công Trục trên báo Giáo dục Việt Nam, xung quanh bài viết "Sự thật về Thác Bản Giốc: ai là người nhận thức sai lầm?". Vì cuộc trao đổi này đang tiến hành, không chỉ có hai bên mà còn có nhiều học giả khác đã và đang đưa ra các bằng chứng, các dữ liệu của mình để chứng minh các luận điểm của mình cũng như phản bác cá ý kiến của đối phương để đi đến cái đích cuối cùng "Đâu là sự thật của vấn đề?". Kể cả khi ông Trần Công Trục cho rằng các tài liệu sau năm 1979 của ta đưa ra có tính chất tuyên truyền trong khi hai bên lâm chiến cho nên có thể là không khách quan, như sau “Mọi người đều biết rằng, hệ thống tài liệu tuyên truyền chính thức của cả 2 phía Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn này, trong đó có những nội dung đề cập đến đường biên giới trên bộ giữa 2 nước đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi xu thế chính trị của cả xã hội thời kỳ đó. Hai nước giao tranh, việc phát hành tài liệu liên quan đến đường biên giới, chủ quyền trong các tài liệu tuyên truyền ít nhiều đã mất đi tính khách quan, lại được tuyên truyền thường xuyên và rộng rãi nên những thông tin trong đó ăn sâu vào tiềm thức người dân.” Điều mà rất nhiều người quan tâm đến vấn đề chủ quyền biên giới của đất nước hết sức quan tâm, một phần cũng vì những câu hỏi nghi vấn từ lâu đã rơi vào sự im lặng đáng sợ. Điều đó đã khiến cho loạn thông tin trong vấn đề "Chính quyền cắt đất, chia biển cho Trung quốc" (!?) Tại sao một vấn đề lớn, có sự ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ cũng như tư tưởng của người dân và uy tín của chính quyền như vậy mà truyền thông nhà nước lại im tiếng? Phải chăng họ không biết rằng sự im lặng sẽ trở thành sự đồng lõa với sự dối trá và càng khiến cho người ta nghi ngờ hơn?

3. Vấn đề đang xảy ra quanh việc Tuyên bố 258 của Mạng lưới Bloggers Việt Nam thể hiện mong muốn Nhà nước sửa đổi, hoàn thiện pháp luật theo hướng tôn trọng nhân quyền, và cải thiện nhân quyền trên thực tế, để xứng đáng là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-201. Được biết Mạng lưới Bloggers Việt Nam đã trao Tuyên bố 258 cho các tổ chức quốc tế và cơ quan đại diện ngoại giao các nước ở Việt Nam để bày tỏ mong muốn đó và phản ánh tình hình nhân quyền Việt Nam đến cộng đồng quốc tế. Sự việc này càng được hâm nóng lên bởi sự xuất hiện của một phong trào phản bác Ký tên phản đối bè lũ phản động. Với mục đích : Chứng minh cho cộng đồng quốc tế thấy, nhóm “Tuyên bố 258” chỉ là một thiểu số ít ỏi phản bội lợi ích dân tộc, mạo danh cộng đồng/dân tộc, lừa bịp dư luận làm những việc tổn hại nghiêm trọng đến lòng tự tôn dân tộc, trái với pháp luật quốc tế, chia rẽ tinh thần đoàn kết của dòng máu Lạc Hồng, khiến cho cộng đồng và các tổ chức quốc tế hiểu sai, ấn tượng xấu về con người Việt Nam. Điều này cho thấy sự tiến bộ trong cách giải quyết các bất đồng về quan điểm giữa các nhóm người khác nhau, thông qua các bài viết thể hiện quan điểm và trao đổi giữa các thành viên. Không đi sâu vào việc xem xét các nhóm nói trên do ai hay thế lực nào đứng đằng sau, nhưng qua đó cho thấy sự chuyển biến cơ bản trong tư duy của những người trong cuộc. Họ đã bỏ ngỏ sự lựa chọn cho những người quan tâm đến chủ đề này thông qua chữ ký của mình thay bằng sự trấn áp từ một phía mà mọi người chúng ta đã quá quen thuộc.

Những sự việc trên là các dấu hiệu đáng mừng của truyền trông nhà nước và cộng đồng bloggers, là biểu hiện ban đầu của sự đối thoại thay cho sự đối đầu thông tin để đi tới sự thật. Đây là biểu hiện của sự văn minh trong việc dùng văn hóa đối thoại với mục đích để đi tìm sự thật của một số vấn đề mà dư luận xã hội quan tâm. Qua đó để thấy cái người đọc bây giờ họ cần biết rõ sự thật trắng đen của vấn đề, cho dù phần thắng nghiêng về bên nào cũng vậy. Chứ họ đâu cần sự chụp mũ, mạt sát đối phương như các tác giả báo đảng vẫn làm, đừng quên dân trí của người dân bây giờ nhiều lúc, nhiều nơi còn cao hơn quan trí của các vị. Họ thừa khả năng nhận xét và đánh giá. Đây còn là sự biểu hiện của tính minh bạch cấn có của một thể chế chính trị tự nhận là "của dân, do dân và vì dân". Chứ không thể chấp nhận một nhà nước "của dân, do dân và vì dân" mà người dân hoàn toàn không hay biết bất cứ một điều gì, ở mức tối thiểu nhất là sự đúng hay sai về thông tin liên quan đến các vấn đề mà dư luận xã hội đang quan tâm. Chứ không thể để tình trạng "kiên quyết" đã có đảng và nhà nước lo. Một nhà nước "của dân, do dân và vì dân" có nghĩa là ở đó nhân dân là người làm chủ, họ là người ủy thác cho chính quyền thay mặt họ để điều hành nhà nước. Do vậy, nếu có các phát sinh bất đồng về suy nghĩ giữa người làm chủ và người được thừa ủy quyền, thì phương pháp trao đổi, đối thoại hoặc tranh luận sẽ là một phương cách khoa học, văn minh và biểu thị sự tôn trọng giữa hai bên để cùng đi tới sự thật. Việc người được ủy thác tự cho mình quyền định đoạt và khẳng định suy nghĩ của mình là chân lý, hòng buộc người (chủ) uỷ quyền cho mình phải khuất phục với các ngôn từ vu khống hay cáo buộc kiểu như "luận điệu sai trái", "thủ đoạn chống phá" v.v... như cơ quan tuyên giáo của đảng vẫn đang làm từ trước tới nay. Đó là hành động thiếu văn hóa, vô đạo đức mà lẽ ra ở vai trò những người làm tự nhận mình làm công tác giáo dục tư tưởng cho nhân dân không nên mắc phải.

Trong những ngày gần đây, dư luận xã hội lại nóng lại về thông tin CT. Hồ Chí Minh rất có thể là ông Hồ Tập Chương, người Khách Gia ở Đài Loan, Trung Quốc. Còn CT. Hồ Chí Minh thì đã bị bệnh lao, chết năm 1932. Thông tin này xuất hiện vài năm trước đây, khi giáo sư sử học Đài Loan Hồ Tuấn Hùng công bố quyển sách “Hồ Chí Minh Sinh bình Khảo”, ông ta khẳng định CT. Hồ Chí Minh là ông Hồ Tập Chương, là ông bác họ với nhà sử học Hồ Tuấn Hùng, Ai cũng biết đảng và chính quyền đã và đang sử dụng hình tượng của CT Hồ Chí Minh làm điểm tựa của chế độ để xây dựng niềm tin của nhân dân, chính vì thế vấn đề này đã khiến một cựu nhà báo của đảng đã bức xúc và bộc lộ suy nghĩ của mình qua bài viết “Niềm tin của tôi bị lung lay”. Để đề nghị các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước làm rõ thực hư về thông tin này. Đây là một đòi hỏi hợp lý mang tính xây dựng, không chỉ thế mà nó còn liên quan đến lòng tự trọng của mỗi con người, mỗi quốc gia và mỗi dân tộc.

Chuyện này từ trước đến nay thường bị coi là những hành động bôi nhọ để hạ bệ thần tượng của các thế lực thù địch, trong chiến lược diễn biến hòa bình. Nhưng sự việc này có xuất xứ từ một GS. Sử học người Đài loan thì cũng không nên xem thường, vì không có lý gì để tác giả nhà sử học Hồ Tuấn Hùng bôi nhọ người mà ông ta phải gọi là bác họ và là lãnh tụ kính yêu của một dân tộc láng giềng. Điều mà lẽ ra nhà sử học Hồ Tuấn Hùng phải tự hào mới phải chứ? Do đó vấn đề ở đây ở chỗ đâu là sự thật? Quan trọng là thông tin đó là đúng hay sai? Cứ thử tưởng tượng vào một ngày đẹp trời nào đó, toàn thể nhân dân Việt nam trong và ngoài nước tá hỏa khi biết vị lãnh tụ kính yêu, cha già của dân tộc Việt nam là người Khách Gia ở Đài Loan, Trung Quốc thì sự thể sẽ ra sao?

Người ta có câu "Nói phải thì củ cải cũng nghe" huống chi là con người. Đã là con người thì trước sự thật và lẽ phải thì ai cũng như ai cũng dễ chấp nhận, nếu những cái đó khi họ không tìm được sự kiện hay ý kiến trái ngược để bảo vệ luận điểm của họ. Không những thế, việc làm này còn có tác dụng đưa những người có ý kiến và suy nghĩ khác nhau sẽ xích lại gần nhau hơn, xóa bỏ ranh giới bất đồng về quan điểm, tư tưởng hay suy nghĩ để làm tiền đề cho một khối đại đoàn kết của cả dân tộc. Dưới góc nhìn văn hóa thì việc tranh luận đối thoại cũng là cơ hội để cho các bên học hỏi lẫn nhau và xây dựng một văn hóa tranh luận trên cơ sở bình đẳng. Đó chính là sự tôn trọng người khác để người khác tôn trong bản thân chính mình. Đó là điều đang ngày dần bị mai một trên thực tế cũng như trong suy nghĩ của một bộ phận không nhỏ người trong xã hội Việt nam hiện nay.

Mọi câu hỏi đều có câu trả lời, mọi sự việc đều có sự thật của nó. Tất cả cần được minh bạch thông qua tranh luận và đối thoại để đi tới sự thật và chân lý.
Ngày 16 tháng 09 năm 2013
© Kami

Đặc điểm xã hội dân sự ở Đông Nam Á và vai trò của nó trong phát triển, chú ý đến Việt Nam

Cho đến nay, các nước Đông Nam Á đã chuyển sang kinh tế thị trường và bắt đầu hình thành xã hội dân sự. Nhìn vấn đề từ góc độ lịch sử, việc chuyển sang kinh tế thị trường và hình thành xã hội dân sự ở khu vực Đông Nam Á quả thật là bước ngoặt trong đời sống xã hội, để khu vực này có thể phát triển theo xu hướng chung của thời đại hiện nay. Vì vậy, làm rõ đặc điểm hình thành xã hội dân sự ở khu vực này và vai trò của nó trong phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là đối với Việt Nam.
I. Đặc điểm hình thành xã hội dân sự ở Đông Nam Á
Lịch sử khu vực Đông Nam Á trước khi chuyển sang kinh tế thị trường đều là những nước nông nghiệp lạc hậu với chế độ phong kiến, hoặc nửa phong kiến, nửa thực dân, với nền văn hoá tương ứng. Đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hoá ấy là điểm xuất phát của quá trình hình thành xã hội dân sự. Những đặc điểm ấy còn ảnh hưởng lâu dài cản trở quá trình phát triển xã hội dân sự. Riêng đối với Việt Nam, quá trình hình thành xã hội dân sự có những đặc điểm riêng về kinh tế, chính trị và văn hoá, khác nhiều với các nước Đông Nam Á (sẽ phân tích sau).

1.Đặc điểm về kinh tế ở các nước Đông Nam Á khi hình thành xã hội dân sự
Nhìn chung ở các nước Đông Nam Á, trừ Việt Nam, đều chuyển sang kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa, do đó hình thành xã hội dân sự tương ứng. Ở đây, sự hình thành các tập đoàn kinh tế tư bản, gắn liền với lợi ích nhà nước đã tạo ra bộ mặt xã hội dân sự ở giai đoạn đầu của nền văn minh công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Trong đó, tính chất văn minh công nghiệp xen lẫn tính chất hoang dã; xã hội công nghiệp bước đầu, xen lẫn với "xã hội đen", làm méo mó bộ mặt ban đầu của xã hội dân sự.
2.Đặc điểm về chính trị khi hình thành xã hội dân sự ở Đông Nam Á
Chế độ chính trị độc quyền, độc tài (Philippine Indonesia, Mianma...) đều là điểm xuất phát của sự hình thành xã hội dân sự ở các nước này. Tác động của đặc điểm chính trị này còn kéo dài ảnh hưởng đến xây dựng chế độ chính trị dân chủ và xã hội dân sự, biểu hiện ở các cuộc đấu tranh phê phái giành quyền lực, những vấn đề nhân quyền, tôn giáo... làm cản trở quá trình phát triển kinh tế và xã hội. Ngoài ra, ảnh hưởng của đặc điểm chính trị xuất phát này còn thể hiện ở sự phát triển dân trí chậm chạp.
3.Đặc điểm về văn hoá khi hình thành xã hội dân sự
Đa dân tộc, đa tôn giáo là đặc điểm nổi trội về văn hoá ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển xã hội dân sự. Đây sẽ là vấn đề lâu dài trong quá trình lịch sử phát triển kinh tế thị trường, phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ, hội nhập quốc tế. Nhờ đó mà xã hội dân sự sẽ là kết quả tổng hợp của phát triển kinh tế, chính trị và văn hoá. Hơn nữa, đối với mỗi nước thì xã hội dân sự còn mang bản sắc văn hoá của mình, góp phần làm phong phú sắc màu của nền văn minh mới.
II. Vai trò của xã hội dân sự trong phát triển
Khác với "xã hội thần dân", xã hội dân sự về lâu dài sẽ trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển, dù cho hiện nay nó tồn tại dưới thể chế chính trị, văn hoá nào cũng không né tránh được. Căn cứ để nói như vậy là do bản chất xã hội hoá của kinh tế thị trường. Lịch sử kinh tế thị trường cho thấy: sự phát triển của hình thái kinh tế này đã làm sụp đổ tất cả mọi chế độ chuyên chế, độc tài. Ngày nay, kinh tế thị trường đã ở quy mô toàn cầu hoá, có tác động ngày càng sâu đối với mỗi quốc gia, dân tộc, tôn giáo và chính trị. Chỉ có sự phát triển kinh tế thị trường thì vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người dân trong xã hội dân sự mới được nâng cao, được khẳng định và bảo vệ bằng pháp luật.
Đó là một quá trình lịch sử. Trong thời đại kinh tế công nghiệp, kinh tế thị trường phát triển phiến diện, tức là chỉ coi trọng tăng trưởng của cải, coi thường vấn đề xã hội và bỏ qua những tác hại đối với môi trường. Thời đại kinh tế công nghiệp phải trải qua 300 năm là tất yếu. Con người, cho dù là người cầm quyền, cũng không thể tuỳ tiện lựa chọn hình thái kinh tế hay xã hội. Lịch sử ngắn ngủi 70 năm của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô với những thành tựu huy hoàng, cũng không thoát khỏi tất yếu về kinh tế.
Ngày nay, khi kinh tế thị trường bước vào thời đại kinh tế tri thức, đã tạo ra điều kiện cần và đủ cho sự phát triển đồng thuận giữa kinh tế với xã hội và môi trường. Nếu thời đại kinh tế công nghiệp coi việc tăng của cải là động lực và mục tiêu thì thời đại kinh tế tri thức hướng tới sự phát triển tự do và toàn diện của con người. Đây là một tất yếu về kinh tế và chính trị. Đó cũng là văn hoá của phát triển bền vững. Không có gì ngăn cản được xu hướng của thời đại kinh tế tri thức. Chính vì vậy, không chỉ các chế độ chuyên chế, mà cả chế độ dân chủ chỉ vì lợi ích một số người cũng đã tới giới hạn, phải chuyển sang chế độ dân chủ của mọi người.
Trong quá trình đó, xã hội dân sự đóng vai trò động lực của tiến bộ. Không nắm lấy động lực này thì mọi hoạt động kinh tế và chính trị không có tương lai.
Vai trò của xã hội dân sự ngày càng quan trọng, rất phù hợp với các mục tiêu phát triển theo hướng nhân văn, nhưng vai trò đó chỉ phát huy được trong một thể chế kinh tế chính trị phù hợp với trình độ phát triển trong từng giai đoạn về kinh tế và chính trị.Quy luật chung về cấu trúc và vận hành của thể chế đã được lịch sử kinh tế thị trường cho thấy rõ: Đó là cấu trúc của một hệ thống bao gồm ba bộ phận là Nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường (thể hiện ở hệ thống doanh nghiệp) và xã hội dân sự. Cấu trúc đó vận hành trong mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận. Nhờ đó, mỗi bộ phận tìm ra phương án tối ưu cho hoạt động của mình, đồng thời tạo ra sức đẩy của cả một hệ thống.
III. Đặc điểm hình thành xã hội dân sự ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra
Quan tâm đến đặc điểm hình thành xã hội dân sự mới nhận rõ được những cơ hội và thách thức đặt ra, không chỉ cho việc xây dựng xã hội dân sự, mà cả cho sự phát triển về kinh tế, chính trị và văn hoá. Hình thái xã hội nào cũng đều "lọt lòng" từ lịch sử. Những đặc điểm về chính trị và kinh tế luôn in dấu đậm vào tiến trình phát triển xã hội.
Đối với các nước từng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, việc thừa nhận Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự thật không dễ dàng. Với quan điểm giáo điều, các nước này đều cho rằng kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự đều là của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, các Đảng Cộng sản cầm quyền đều thực hiện nhà nước hoá nền kinh tế và xây dựng "xã hội dân chủ" theo kiểu bao cấp, ban ơn. Việc trả giá cho quan điểm sai lầm ấy thật quá lớn với sự sụp đổ toàn bộ hệ thống, chỉ có Trung Quốc, Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường mới tồn tại được. Nhưng vấn đề phát triển như thế nào vẫn đặt ra trước mắt.
Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường với công cuộc đổi mới. Vì tiếp cận với môi trường lạ và mới, nên sau khi chuyển sang kinh tế thị trường hơn 10 năm, mới dám xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền trong nghị quyết, và mới tập trung vào cải cách hành chính, do bộ máy quản lý không theo kịp đòi hỏi của kinh tế thị trường.
Ở nước ta, sau hơn 20 năm chuyển sang kinh tế thị trường, và do phân công lao động xã hội phát triển nên hiện nay đã hình thành hàng vạn tổ chức xã hội ngoài nhà nước. Đó là các tổ chức khoa học và kỹ thuật, văn học nghệ thuật, các hội, hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác.
Điều kiện cầncho việc xây dựng xã hội dân sự kiểu mới đã có, nhưng điều kiện đủ còn chờ. Do thiếu vai trò của xã hội dân sự nên thể chế kinh tế chính trị chưa được hình thành, ảnh hưởng lớn đến xây dựng Nhà nước pháp quyền và hệ thống doanh nghiệp.
Nguyên nhân chủ yếu của việc chậm hình thành xã hội dân sự và xây dựng Nhà nước pháp quyền là do tư duy chính trị chậm đổi mới ngang tầm đòi hỏi về phát triển kinh tế và xã hội. Một nguyên nhân quan trọng khác là vấn đề nhận thức, xây dựng thể chế kinh tế chính trị nước ta trong thời đại mới với các đặc trưng như: Kinh tế thị trường phát triển theo định hướng mới - hướng phát triển bền vững; nhà nước pháp quyền tư sản đang khủng hoảng về thể chế; xã hội dân sự có những biến đổi sâu sắc về cơ cấu và phân tầng xã hội so với trước, trong đó lao động tri thức ngày càng là lực lượng chủ yếu, có vai trò quan trọng trong phát triển.
Hai nguyên nhân nói trên, tự nó đặt ra những vấn đề trước mắt khi định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra ở Việt Nam.
Thứ nhất, phải đổi mới mô hình kinh tế,từ mô hình công nghiệp hoá kiểu cũ (đã lỗi thời từ cuối thế kỷ 20 và hơn chục nước đã phải trả giá do phát triển theo mô hình đó) với những vấn nạn về xã hội và môi trường nghiêm trọng, sang mô hình kinh tế thị trường phát triển bền vững mà đường lối Đảng đã từng nêu ra hàng chục năm trước đây là "Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường" nhưng chưa thực hiện.
Thứ hai, cần nhận thức và thực hiện "Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân" như quan điểm Hồ Chí Minh. Đây phải là một đề tài khoa học, làm rõ nội hàm của từng khái niệm: "của dân", "do dân", "vì dân" và thể hiện nội hàm đó trong cấu trúc tổ chức nhà nước và trong xây dựng thể chế kinh tế chính trị. Từ kinh nghiệm nghiên cứu của mình, tôi tin chắc rằng nội hàm nhà nước của dân, do dân, vì dân mới là căn cứ tổ chức và hoạt động của Đảng và Nhà nước.
Trong lịch sử kinh tế thị trường, mới có hình thức nhà nước pháp quyền tư sản với đặc điểm dân tộc và giai đoạn phát triển khác nhau. Khi kinh tế thị trường bước vào giai đoạn kinh tế tri thức thì các nhà nước đó đều khủng hoảng và đang điều chỉnh thích nghi. Hiện tượng ấy phát đi tín hiệu: Kinh tế thị trường phát triển bền vững phải có Nhà nước pháp quyền kiểu mới hướng vào xã hội và con người. Có thể nói, đây là cơ hội chưa từng có để các Đảng Cộng sản chân chính có thể thực hiện lý tưởng của mình, nếu không muốn để thực tiễn vượt qua.
Thứ ba,xã hội dân sự đang chuyển từ xã hội dân sự ở thời đại kinh tế công nghiệp lên xã hội dân sự bước vào thời đại kinh tế tri thức, với chất lượng cao hơn. Chất lượng này hình thành từ kinh tế thị trường gắn liền với tiến bộ xã hội, tạo ra mối quan hệ xã hội mới trong cộng đồng. Chất lượng này còn hình thành từ kinh tế thị trường gắn với bảo vệ môi trường, tạo ra mối quan hệ mới giữa con người với tự nhiên. Vì vậy, chất lượng cao hơn của xã hội dân sự thể hiện ở hình thành mối quan hệ mới giữa con người với con người và giữa con người với tự nhiên. Đó mới đích thực là xã hội dân sự kiểu mới.
Do tác động của xu hướng phát triển bền vững trong thời đại mới, nên hiện nay các đảng chính trị trên thế giới đều đang lúng túng hoặc suy thoái dần. Tác động đó còn báo hiệu về một nền chính trị nhân văn đang phát sinh, bảo đảm cho nhân loại vượt qua được nguy cơ huỷ diệt vì thiên tai, vì xung đột, có được cuộc sống xứng đáng với CON NGƯỜI.
Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2009
Trần Ngọc Hiên
(Văn hóa Nghệ an)

Châu Âu nêu tình cảnh của một số cá nhân với Việt Nam


Đại diện Mạng lưới Blogger Việt Nam trao Tuyên bố 258 cho bà Veronique Arnault, đại diện Phái đoàn EU sang dự Đối thoại Nhân quyền 2013 với Việt Nam.

18.09.2013
Liên hiệp châu Âu cho biết đã đề cập tới một số trường hợp cá nhân mà tổ chức này quan tâm với Việt Nam và nhắc lại yêu cầu được tiếp cận những cá nhân đó cũng như được tham dự các phiên tòa xét xử họ.

Bà Maja Kocijancic, nữ phát ngôn viên của người phụ trách chính sách đối ngoại của Liên hiệp châu Âu Catherine Ashton, đã cho VOA Việt Ngữ biết như vậy về lần đối thoại nhân quyền thường niên thứ ba mới diễn ra ở Hà Nội.

Bà Kocijancic cho hay rằng cuộc đối thoại đã diễn ra trong không khí ‘cởi mở và thẳng thắn’.

Bà nói: “Hai bên đánh giá những tiến triển về nhân quyền ở Việt Nam. Liên hiệp châu Âu đã nêu lên các vấn đề khác nhau, như vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí, trong đó có việc triển khai Nghị định 72”.

Hai bên đánh giá những tiến triển về nhân quyền ở Việt Nam. Liên hiệp châu Âu đã nêu lên các vấn đề khác nhau, như vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí, trong đó có việc triển khai Nghị định 72. Bà Kocijancic nói.
Nữ phát ngôn viên này nói thêm rằng đối thoại nhân quyền là một trong các công cụ quan trọng mà Liên Hiệp châu Âu sử dụng khi trao đổi với các đối tác trên thế giới.

Theo EU, có một số ‘tiến triển tích cực’ về nhân quyền ở Việt Nam như các tiến bộ liên quan tới người đồng tính, kế hoạch ký kết và phê chuẩn Công ước Quốc tế chống Tra tấn năm 2014 cũng như việc mời một Đại diện Đặc biệt của LHQ về Tự do Tôn giáo tới thăm Việt Nam vào năm tới.

Tuy nhiên, tổ chức của châu Âu vẫn còn những quan ngại sâu xa, trong đó có ‘việc áp dụng rộng rãi các điểu khoản an ninh quốc gia trong bộ luật hình sự’.

Liên hiệp châu Âu cũng đã nêu lên vấn đề thực thi tự do tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam.

Bên lề cuộc đối thoại, các giới chức châu Âu đã gặp gỡ và trao đổi với một số blogger, các nhà hoạt động nhân quyền và các tổ chức phi chính phủ.

Bà Kocijancic nói rằng EU cần phải tiếp xúc với những kênh thông tin như vậy: “Điều quan trọng là Liên hiệp châu Âu phải có các mối liên hệ ở các cấp độ khác nhau để hiểu rõ hơn tình hình nhân quyền ở Việt Nam để phục vụ cho các cuộc trao đổi với phía Việt Nam’.

Ngoài những bản báo cáo nhân quyền tốt đẹp mà Việt Nam đưa ra cho quốc tế thì có một sự thật khác mà mọi người phải lắng nghe, đó là tình trạng bắt giữ tùy tiện những người sử dụng blog và mạng xã hội để nói lên tiếng nói của mình.
Blogger Mẹ Nấm, một trong những người viết blog tham dự cuộc gặp, từng cho VOA Việt Ngữ biết rằng Mạng lưới blogger Việt Nam trao Tuyên bố 258 cùng với bản kết luận điều tra trường hợp Đinh Nhật Uy ‘để nói với Hội đồng Nhân quyền của châu Âu rằng chúng tôi ở đây để nói một sự thật khác’.

Blogger này nói thêm: “Ngoài những bản báo cáo nhân quyền tốt đẹp mà Việt Nam đưa ra cho quốc tế thì có một sự thật khác mà mọi người phải lắng nghe, đó là tình trạng bắt giữ tùy tiện những người sử dụng blog và mạng xã hội để nói lên tiếng  nói của mình”.

Đó cũng chính là một vấn đề bà Maja cho biết EU đã nêu lên với phía Việt Nam.

Nữ phát ngôn viên này cho hay, Liên hiệp châu Âu kêu gọi Việt Nam cứu xét việc cho phép tự do bày tỏ ý kiến bởi vì điều đó sẽ giúp mang lại các lợi ích để đối phó với các thách thức nẩy sinh trong xã hội hiện đại.

Bà nói: “Chúng tôi khuyến khích Việt Nam cân nhắc dòng chảy thông tin tự do vì nó mang lại các lợi ích sẽ giúp nước này đối mặt với các thách thức trong quá trình hiện đại hóa xã hội”.

Chúng tôi khuyến khích Việt Nam cân nhắc dòng chảy thông tin tự do vì nó mang lại các lợi ích sẽ giúp nước này đối mặt với các thách thức trong quá trình hiện đại hóa xã hội.
Ngoài ra, tổ chức lớn nhất châu Âu cho biết lấy làm tiếc về việc thi hành án tử hình trở lại ở Việt Nam và khuyến khích Việt Nam giảm hơn nữa số án tử hình cũng như cải thiện điều kiện giam giữ cho các tù nhân phải thi hành án tử hình.

Liên quan tới việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016, EU cho biết đã khuyến khích Việt Nam đưa ra những cam kết cụ thể.

Thời gian qua, một nhóm có tên gọi Mạng lưới blogger Việt Nam đã ra ‘Tuyên bố 258’, nhấn mạnh rằng Việt Nam phải sửa đổi pháp luật để chứng minh cam kết tranh cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Bà Kocijancic cho biết nhân quyền là một yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa EU và Việt Nam nên phía châu Âu sẽ ‘cương quyết và thường xuyên nêu lên vấn đề này’.

Hồi đầu năm nay, Chủ tịch Hội đồng châu Âu và Ủy ban châu Âu đã lên tiếng về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam trong buổi tiếp xúc với Tổng bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng ở Brussels, Bỉ.
VOA Tiếng Việt
 

John Dewey - Niềm tin của tôi về giáo dục


I. Giáo dục là gì

Tôi tin rằng

giáo dục luôn diễn ra bằng sự dự phần của cá nhân trong ý thức xã hội về con người. Tiến trình này khởi đầu một cách vô thức khi một người vừa chào đời, và sẽ liên tục vun đắp năng lực cá nhân, hình thành thói quen, tạo ra ý tưởng, và khơi dậy xúc cảm. Thông qua sự giáo dục vô thức này, cá nhân dần dần sẽ đi đến việc đóng góp vào kho tàng tri thức và luân lý, mà nhờ vào đó, nhân loại đã thành công trong việc chung sống với nhau. Khi ấy, cá nhân sẽ trở thành kẻ thừa kế số vốn tích lũy của nền văn minh. Nền giáo dục chính thống không thể nào đi chệch khỏi tiến trình chung này một cách an toàn được. Chỉ có thể sắp xếp hoặc nhận diện nó theo một chiều hướng chuyên biệt nào đó.

nền giáo dục đích thực là nền giáo dục khuyến khích mọi năng lực của đứa trẻ, thông qua sự đòi hỏi của hoàn cảnh xã hội, mà trong đó đứa trẻ luôn tìm được chính mình. Trước sự đòi hỏi này, đứa trẻ được khích lệ để có thể hành xử như là một thành viên đơn nhất, lộ diện từ tính cách độc đáo trong hành động và cảm xúc của chính nó, và nhận biết được mình từ quan điểm lợi ích của tập thể mà nó thuộc về. Thông qua những phản ứng mà người khác gây ra cho các hành vi của chính nó, nó sẽ đi đến sự hiểu biết ý nghĩa của các hành vi trong mối tương giao xã hội. Giá trị mà các hành vi này hàm chứa sẽ thể hiện ý nghĩa của chúng. Ví dụ như, qua phản ứng đối với các tiếng bập bẹ có tính chất bản năng của đứa trẻ, nó dần dần biết được những tiếng bập bẹ ấy mang ý nghĩa như thế nào; sau đó, chúng được chuyển thành một dạng ngôn ngữ lưu loát, để rồi từ đó, đứa trẻ được dẫn dắt vào thế giới liên kết giữa ý niệm và cảm xúc, mà giờ đây đã được cô đọng bằng ngôn ngữ.

tiến trình giáo dục này gồm hai khía cạnh – một có tính chất tâm lý và một có đặc tính xã hội – và không cái nào có thể bị xem là kém quan trọng hơn, hoặc bị bỏ qua, mà không đưa đến những hệ lụy tồi tệ. Trong cả hai, khía cạnh tâm lý là nền tảng. Bản năng và khả năng của đứa trẻ sẽ cung cấp chất liệu và tạo ra xuất phát điểm cho mọi hình thức giáo dục. Khi nhà giáo dục luôn cố công tác động đến một hành vi nào đó mà đứa trẻ tự mình thực hiện một cách độc lập, thì giáo dục chỉ sẽ trở thành một áp lực. Thực ra, nhìn bề ngoài, điều ấy cũng mang lại một số kết quả, nhưng chắn chắn không thể gọi đó là giáo dục. Không có cái nhìn sâu thẳm vào bên trong cấu trúc tâm lý và các hành vi cá nhân, thì giáo dục sẽ trở nên bừa bãi và độc đoán. Nếu giáo dục có cơ hội đồng bộ và tương thích với hoạt động của đứa trẻ, nó sẽ có tác dụng của chiếc đòn bẩy làm cho tinh thần đứa trẻ thăng hoa; trái lại, nó sẽ mài mòn, phá hủy và kềm hãm bản chất hồn nhiên của trẻ.

hiểu biết về hoàn cảnh xã hội, về tình trạng hiện tại của nền văn minh xem ra rất cần thiết để giải thích khả năng của trẻ. Đứa trẻ luôn có những khuynh hướng và hành vi bản năng riêng biệt, nhưng chúng ta thường không biết ý nghĩa của chúng, cho đến khi chúng ta có thể diễn dịch chúng thành những khái niệm xã hội tương ứng. Chúng ta phải có khả năng mang chúng về một bối cảnh dĩ vãng nào đó và xem chúng như là sự kế thừa của các hành vi nòi giống trước đó. Chúng ta phải có thể phóng chúng vào tương lai để nhìn thấy được hậu quả và mục đích của chúng là gì. Trong ví dụ minh họa dẫn thượng, thông qua những lời bập bẹ của đứa trẻ, chính khả năng nhận biết triển vọng và uy lực của cuộc đối thoại và mối tương giao xã hội tương lai đã khiến người ta có thể quan tâm đến bản năng của trẻ bằng một phương cách thích hợp.

khía cạnh xã hội và tâm lý luôn có mối tương quan đặc biệt với nhau, và giáo dục không thể được xem như là sự thỏa hiệp giữa hai khía cạnh đó, hoặc là sự đề cao một trong hai khía cạnh. Chúng ta thường được bảo rằng định nghĩa của tâm lý học về giáo dục rất khô khan và kinh viện – nó chỉ mang lại cho chúng ta ý niệm về sự phát triển nào đó của năng lực tinh thần, nhưng lại không đưa đến bất cứ ý niệm gì về sự khả dụng của các năng lực này. Bên cạnh đó, người ta thuyết phục rằng định nghĩa xã hội về giáo dục, khi được điều chỉnh cho phù hợp với nền văn minh, sẽ biến giáo dục thành một tiến trình hời hợt và gượng gạo; từ đó đưa đến hệ quả là sự tự do cá nhân bị lệ thuộc vào các định kiến chính trị và xã hội.

cả hai ý kiến phản đối nói trên đều đúng, một khi khía cạnh này được đặt biệt lập với khía cạnh kia. Để thực sự biết năng lực là gì, ta phải hiểu rõ mục đích, công dụng hoặc chức năng của nó, và sẽ không thể thấu đạt điều này, trừ khi chúng ta quan niệm cá nhân như là một thực thể chủ động trong các quan hệ xã hội. Song song với đó, sự điều chỉnh hợp lý duy nhất mà ta có thể mang lại cho đứa trẻ trong những hoàn cảnh hiện tồn chỉ là sự điều chỉnh xuất phát từ việc để cho đứa trẻ được sử dụng toàn bộ năng lực của nó. Với sự xuất hiện của thể chế dân chủ và các yếu tố kỹ nghệ hiện đại, không thể tiên liệu chính xác nền văn minh nào sẽ chi phối xã hội trong vòng hai mươi năm tới kể từ bây giờ. Vì lẽ đó, cũng không thể chuẩn bị sẵn cho trẻ con những điều kiện chu toàn nào cả. Sửa soạn hành trang vào đời tức là trao cho đứa trẻ quyền làm chủ chính bản thân nó; điều đó có nghĩa phải huấn luyện đứa trẻ ấy mai này sẽ sử dụng trọn vẹn mọi khả năng có thể có của mình; đôi mắt, đôi tay của nó phải là những công cụ đắc dụng; óc xét đoán của nó phải có thể thông hiểu hoàn cảnh làm việc, và mọi sức mạnh phải được rèn luyện để hành động một cách hiệu quả và kinh tế. Không thể nào đạt được tất cả những điều này, nếu không có mối quan tâm kiên định đến năng lực, thị hiếu và sở thích cá nhân; nói cách khác, nếu giáo dục không liên tục biến đổi thành các biện pháp tâm lý.

Tóm lại, tôi tin rằng cá nhân – kẻ được giáo dục – là một cá thể mang tính xã hội, và xã hội là một tập hợp mang tính hữu cơ của nhiều cá nhân. Nếu chúng ta loại trừ yếu tố xã hội ra khỏi đứa trẻ, chúng ta chỉ còn lại một cá thể trừu tượng, lạc lõng; nếu chúng ta tách yếu tố cá nhân ra khỏi xã hội, chúng ta chỉ còn lại một đám đông ù lì và tẻ nhạt. Giáo dục, vì thế, phải khởi hành từ một cái nhìn tâm lý thấu suốt đối với khả năng, sở thích và thói quen của đứa trẻ. Những khả năng, sở thích và thói quen này phải không ngừng được giải thích tỏ tường – nghĩa là chúng ta phải biết chúng là gì. Chúng phải được diễn dịch thành ngôn ngữ của khái niệm xã hội tương ứng – ngôn ngữ của những gì có ích cho sự phục vụ xã hội.

II. Trường học là gì?

Tôi tin rằng

trường học, trước hết, là một thiết chế xã hội. Vì giáo dục là một tiến trình xã hội, nên trường học đơn giản chỉ là một mô thức của đời sống cộng đồng, trong đó mọi hoạt động được tập trung nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong việc chia sẻ cho đứa trẻ di sản tri thức nhân loại và làm cho nó có thể sử dụng khả năng của mình vào các mục đích xã hội.

do đó, giáo dục là một hoạt động của cuộc sống, chứ không phải là sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai.

trường học phải là mẫu mực cho đời sống hiện tại – một đời sống chân thực và sinh động đối với đứa trẻ, giống như đời sống mà nó vẫy vùng tại gia đình, nơi xóm giềng, hay chỗ vui chơi.

nền giáo dục mà không nảy sinh từ mọi hình thức của cuộc sống, và vì mục đích của cuộc sống, chỉ là vật thay thế nghèo nàn của thực tế chân xác và có khuynh hướng bó buộc, câu thúc và u mê.

trường học nên đơn giản hóa đời sống xã hội hiện tại và tiết giảm nó về một hình thức phát triển chân phương thuở ban sơ. Cuộc sống hiện hoạt vốn quá phức tạp, khiến không thể mang đứa trẻ tiếp xúc với cuộc sống hiện tại mà không tránh khỏi sự nhầm lẫn, hoang mang; đứa trẻ hoặc sẽ bị chôn vùi, lấn áp bởi vô số hoạt động đang diễn ra, để rồi bị mất khả năng ứng phó thích hợp, hoặc bị kích động bởi những hoạt động đa dạng này, khiến cho mọi năng lực bị thúc bách phát triển quá sớm và đứa trẻ sẽ hoặc trở nên già trước tuổi, hoặc bị nghiền nát.

đời sống học đường – đời sống xã hội đã được đơn giản hóa – nên từng bước phát triển dựa trên đời sống gia đình; nhà trường phải gánh vác và duy trì các hoạt động mà đứa trẻ đã hết sức quen thuộc khi còn sống với gia đình.

nhà trường nên bày biện và mô phỏng các hoạt động ấy cho đứa trẻ theo cách thức khiến nó có thể dần dần học được ý nghĩa của chúng, và có khả năng đóng tròn vai trò của nó trong mối tương quan với các hoạt động ấy.

đây là một nhu cầu tâm lý thiết yếu, bởi vì đó là phương cách duy nhất để bảo vệ sự phát triển không gián đoạn của đứa trẻ và để xây dựng một nền tảng kinh nghiệm quá khứ cho những ý tưởng mới được cung cấp bởi nhà trường.

ngoài ra, đó còn là một nhu cầu xã hội thiết yếu, bởi vì gia đình là một hình thức của đời sống xã hội, trong đó đứa trẻ được dưỡng nuôi, chăm sóc, và thụ nhận những bài học luân lý. Trách nhiệm của nhà trường là tăng cường và mở rộng cảm quan của đứa trẻ về các giá trị sẵn có trong đời sống gia đình của nó.

đa phần công cuộc giáo dục hiện tại đã bị thất bại, bởi vì không chú ý đến nguyên tắc cơ bản: nhà trường phải được xem là một mô thức của đời sống cộng đồng. Nền giáo dục thất bại ấy quan niệm nhà trường là nơi một khối lượng thông tin nào đó được cung cấp, nơi một số bài học nào đó được giảng dạy hoặc nơi một vài thói quen được hình thành. Giá trị của những điều này chỉ được cảm nhận trong một tương lai xa xôi; đứa trẻ phải thi hành chúng vì lợi ích của một điều khác mà chúng sẽ thực hiện; chúng đơn thuần chỉ là những sự chuẩn bị. Hậu quả là chúng không trở thành một bộ phận thuộc kinh nghiệm sống của đứa trẻ và do đó không thực sự có tính chất giáo dục.

giáo dục luân lý luôn lấy ý niệm trường học là một khuôn mẫu của đời sống xã hội làm trung tâm. Sự rèn luyện luân lý sâu sắc nhất và hiệu quả nhất, nói một cách chính xác, là cái mà người ta trải qua khi phải dấn sâu vào các mối quan hệ đúng khuôn phép với kẻ khác trong sự thống nhất bằng hành động và ý nghĩ. Các hệ thống giáo dục hiện nay, khi phá hủy hoặc xao lãng sự thống nhất này, khó có thể, hoặc không thể tạo được sự rèn luyện luân lý chân thực và thường xuyên.

trẻ con nên được khuyến khích và điều khiển thông qua sinh hoạt cộng đồng.

trong hoàn cảnh hiện nay, có quá nhiều sự khuyến khích và điều khiển xuất phát từ phía người thầy, bởi vì có sự xao lãng đối với quan niệm xem trường học là một mô thức của đời sống xã hội.

địa vị và công việc của người thầy trong nhà trường phải được hiểu là hoàn toàn giống nhau. Người thầy hiện diện trong học đường không phải để áp đặt ý tưởng hay hình thành thói quen nào đó cho đứa trẻ, mà người thầy hiện diện chốn này với tư cách một thành viên của cộng đồng để chọn lọc những tác động có ảnh hưởng đến đứa trẻ và trợ giúp nó ứng phó một cách thích hợp với các tác động ấy.

kỷ luật học đường nên bắt nguồn từ sự hoạt động của nhà trường và không nên từ chính ông thầy.

việc của người thầy đơn giản chỉ là quyết định, dựa trên nền tảng kinh nghiệm và sự hiểu biết chín chắn, kỷ luật sẽ được áp dụng cho đứa trẻ như thế nào.

tất cả các vấn đề xếp loại và ban khen nên được định đoạt bằng một tiêu chuẩn nhất quán. Thi cử chỉ có tác dụng trắc nghiệm đến một mức độ nào đó khả năng thích ứng của đứa trẻ với đời sống xã hội, và để phát hiện lãnh vực nào nó thực hiện hoàn hảo nhất và lãnh vực nào nó cần có sự trợ giúp chu đáo nhất.

III. Chủ đích của giáo dục

Tôi tin rằng

đời sống xã hội của đứa trẻ là nền tảng trọng tâm trong toàn bộ quá trình rèn luyện và phát triển của nó. Đời sống xã hội mang lại sự hòa hợp vô thức và cơ sở cho mọi nỗ lực và thành tựu của đứa trẻ.

chúng ta xâm phạm bản chất của đứa trẻ và đẩy các thành quả luân lý tốt đẹp vào một tình trạng khó khăn bằng cách đột ngột buộc trẻ phải tiếp nhận một số lượng lớn các môn học không liên quan đến đời sống xã hội.

trọng tâm đích thực trong mối tương quan giữa các môn học không phải là khoa học, văn chương, lịch sử hay địa lý, mà là các hoạt động xã hội của đứa trẻ.

không thể đồng nhất giáo dục với nghiên cứu khoa học, hay với cái được gọi là nghiên cứu thiên nhiên, bởi vì nếu tách khỏi các hoạt động của con người, thiên nhiên tự thân không còn là một thực thể trọn vẹn; thiên nhiên, về bản chất, bao gồm các vật thể khác nhau trong không gian và thời gian, và cố gắng biến nó thành trung tâm của công tác giáo dục chỉ là giới thiệu một nguyên tắc phân tán hơn là tập trung.

văn học là sự bộc tả và diễn giải có tính chất phản ánh kinh nghiệm xã hội; vì thế, nó phải đến sau và là hệ quả của kinh nghiệm; do đó, không thể là nền tảng của giáo dục.

lịch sử có giá trị giáo dục ở khía cạnh trình bày các giai đoạn của đời sống và sự phát triển xã hội. Nó phải chịu sự chi phối của đời sống xã hội. Khi được xem là lịch sử, nó bị ném vào dĩ vãng xa xăm và trở nên thiếu sinh lực và trì trệ. Khi được xem như là sự ghi chép lại đời sống xã hội và sự phát triển của con người, nó trở nên tràn đầy ý nghĩa. Tuy nhiên, tôi tin rằng nó không thể được nhìn nhận như thế, trừ phi đứa trẻ cũng được thâm nhập vào đời sống xã hội.

nền tảng quan trọng của giáo dục nằm ở năng lực làm việc của đứa trẻ, cùng với những hoạt động hữu ích có tính cách phổ biến, tương tự những gì đã làm cho nền văn minh được sinh tồn.

cách thức duy nhất để khiến đứa trẻ ý thức được di sản xã hội của nó là cho phép nó thực hiện các loại hoạt động nền tảng đó – tức là những hoạt động làm cho nền văn minh được trở thành cái nó hiện là.

nghiên cứu khoa học chỉ có tính chất giáo dục khi đưa ra được những thông tin và quy trình làm cho đời sống xã hội được trở thành cái mà nó hiện là.

một trong những điều khó khăn lớn nhất của việc huấn giảng khoa học hiện nay là thông tin được trình bày bằng một hình thức hoàn toàn khách quan, hoặc được xử lý như là một dạng kinh nghiệm mới lạ mà đứa trẻ có thể bổ sung vào kinh nghiệm sẵn có của mình. Trên thực tế, khoa học có giá trị, bởi vì nó mang lại khả năng giải thích và điều khiển kinh nghiệm sẵn có. Nó nên được giới thiệu không phải như là một đề tài mới, mà như là việc trình bày các yếu tố có liên quan đến những kinh nghiệm trước đó, và như là những công cụ mà nhờ vào đó, kinh nghiệm có thể được điều chỉnh một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.

cho đến nay, chúng ta đã đánh mất quá nhiều giá trị của các môn văn học và ngôn ngữ do sự loại bỏ yếu tố xã hội. Ngôn ngữ, trong các giáo trình, hầu như luôn được đối xử như là một phương tiện diễn đạt của tư tưởng. Thật ra, ngoài việc là một công cụ thuần lý, ngôn ngữ, một cách căn bản và chủ yếu, còn là một công cụ xã hội. Ngôn ngữ được sử dụng cho mục đích giao tiếp, và là phương tiện, thông qua đó, mỗi cá nhân có thể chia sẻ ý tưởng và xúc cảm với người khác. Khi được đối xử như là một cách tiếp nhận thông tin, hoặc là phương thức phô bày những điều đã học, nó đã bị mất động cơ và cứu cánh xã hội.

bởi vậy, sẽ không có sự xếp hàng các môn học trong một chương trình giảng dạy lý tưởng. Nếu giáo dục đồng nghĩa với cuộc sống, thì cuộc sống, ngay từ khởi điểm, phải mang một yếu tố khoa học nào đó, một yếu tố của nghệ thuật và văn hóa, và một yếu tố của sự truyền thông. Cho nên, không thể đối với cấp lớp này, thì các môn học thích hợp chỉ là tập đọc và tập viết, và khi đến một cấp lớp cao hơn, thì thêm vào văn chương hoặc khoa học. Sự tiến bộ không nằm ở việc xếp hàng các môn học, mà nằm ở sự phát triển của các quan điểm và mối quan tâm mới đối với kinh nghiệm.

giáo dục phải được quan niệm như là một sự tái thiết kinh nghiệm liên tục; quy trình và mục đích của giáo dục là một và hoàn toàn như nhau.

dựng lên bất cứ mục đích nào ngoài giáo dục có nghĩa là tước đi phần lớn ý nghĩa của tiến trình giáo dục và khiến chúng ta có khuynh hướng dựa dẫm vào những tác động kích thích giả tạo bên ngoài trong sự hành xử giành cho đứa trẻ.

IV. Bản chất của phương pháp

Tôi tin rằng

vấn đề phương pháp cuối cùng chỉ là vấn đề thứ tự phát triển của khả năng và lợi ích của đứa trẻ. Quy luật để trình bày và thảo luận vấn đề ở đây chính là quy luật ẩn tàng trong bản chất trẻ con. Vì thế, tôi tin những lời phát biểu sau đây có tính chất tối quan trọng, khi định rõ tinh thần mà qua đó sự giáo dục được thực thi:

yếu tố chủ động xuất hiện trước yếu tố thụ động trong sự phát triển của bản chất trẻ con; sự bộc lộ đến trước sự tiếp nhận có ý thức; sự phát triển cơ bắp xảy ra trước sự phát triển giác quan; sự đi đứng xảy ra sớm hơn so với sự xúc cảm có ý thức; tôi tin rằng ý thức, về cơ bản, mang tính thúc đẩy và các trạng thái ý thức luôn luôn có khuynh hướng hiện diện trong hành động.

xao lãng nguyên tắc này là nguyên nhân của phần lớn sự hoang phí thời gian và sức lực trong học tập. Đứa trẻ cứ bị áp đặt quan điểm học tập mang tính chất thụ động theo kiểu chỉ biết tiếp thu. Tình trạng đó có nghĩa đứa trẻ không được phép tuân thủ quy luật bản chất của nó; kết quả là sinh lực bị hao mòn và hoài phí.

ý tưởng (tiến trình thuộc về lý trí và tri thức) có kết quả từ hành động và được chuyển giao để đạt được sự kiểm soát hành động một cách tốt hơn. Cái mà ta gọi là lý trí chủ yếu vẫn là quy luật của hành động mang đặc tính trật tự hoặc hiệu quả. Nỗ lực phát triển các năng lực lý trí, năng lực của sự xét đoán, mà không đề cập đến sự chọn lọc và xếp đặt trong hành động, chính là một sai lầm căn bản trong phương pháp. Hậu quả là chúng ta chỉ trao cho đứa trẻ các biểu tượng độc đoán. Biểu tượng là yếu tố cần thiết trong sự phát triển tinh thần, nhưng chúng chỉ có vai trò như là những công cụ dành cho sự cố gắng tiết kiệm sinh lực; ngoài ra, chúng chỉ là tập hợp của những ý tưởng áp đặt vô nghĩa và độc đoán.

hình ảnh là công cụ giảng dạy hiệu quả. Điều mà đứa trẻ tiếp nhận được từ tất cả các môn học chính là những hình ảnh do nó tự hình thành liên quan đến các môn học đó.

nếu như ta dùng chín phần mười năng lượng hiện đang sử dụng để buộc đứa trẻ học một điều gì đó vào việc giúp đỡ cho đứa trẻ có thể hình thành các hình ảnh thích hợp, thì công tác huấn giảng sẽ có những thuận tiện không thể nào tả xiết.

phần lớn thời gian và sự quan tâm đến việc chuẩn bị và trình bày bài giảng có thể được dùng một cách thông minh và hiệu quả hơn vào việc rèn luyện khả năng hình dung của đứa trẻ và giúp đỡ nó có thể không ngừng hình thành những hình ảnh rõ ràng, sống động về các môn học khác nhau mà nó hiện đang tiếp xúc bằng kinh nghiệm riêng.

sở thích là dấu hiệu của một khả năng đang lớn mạnh. Do đó, quan sát chu đáo và thường xuyên chúng là công việc tối quan trọng của nhà giáo dục.

quan sát các sở thích này để thấy rõ tình trạng phát triển mà đứa trẻ đạt tới.

sở thích sẽ tiên đoán cho ta biết giai đoạn mà đứa trẻ sắp sửa bước vào.

chỉ có thông qua sự quan sát mang tính đồng cảm và liên tục đối với sở thích tuổi thơ, người lớn mới có thể xâm nhập vào đời sống của chúng, và nhận biết đời sống ấy đang chờ đón điều gì.

không thể chìu chuộng, cũng như không thể cấm đoán sở thích. Cấm đoán sở thích là dùng người lớn để thay thế cho đứa trẻ, và do đó, là làm suy yếu tính ham hiểu biết, đè nén sáng kiến và giết chết lòng say mê nơi chúng. Chìu chuộng sở thích là dùng sự nhất thời để thay cho sự trường cửu, và là sự thất bại trong việc xâm nhập vào chiều sâu tâm hồn của đứa trẻ. Vì vậy, hậu quả chắn chắn sẽ là dùng sự thất thường để thay thế cho lòng say mê chân thực.

cảm xúc là hình ảnh phản xạ của hành động.

cố gắng khích động hay đánh thức những cảm xúc không gắn liền với các hành vi tương ứng là thể hiện một trạng thái tinh thần ốm yếu và bệnh hoạn.

nếu ta có thể bảo vệ những thói quen tốt trong hành động và suy nghĩ bằng các yếu tố chân-thiện-mỹ, thì cảm xúc sẽ tự được vun bồi.

bên cạnh sự thiếu sinh khí và tẻ nhạt, chủ nghĩa hình thức và tính khuôn sáo, nền giáo dục của chúng ta không bị cái xấu nào đe dọa bằng cái xấu của chủ nghĩa đa cảm ủy mị.
chủ nghĩa đa cảm này là hậu quả tất yếu của nỗ lực tách rời cảm xúc ra khỏi hành động.

V. Nhà trường và sự tiến bộ xã hội

Tôi tin rằng

giáo dục là biện pháp căn bản của sự tiến bộ và cải cách xã hội.

tất cả mọi cải cách mà chỉ đơn thuần dựa vào việc ban hành luật pháp, hay sự răn đe bằng các hình phạt, hoặc dựa vào những đổi thay trong các biện pháp cải tiến có tính cách máy móc và hình thức, đều là những hành động nhất thời và phù phiếm.

giáo dục là sự chỉnh đốn tiến trình chia sẻ ý thức xã hội, và sự tu chỉnh hành vi cá nhân dựa trên căn bản ý thức xã hội này chắn chắn là biện pháp duy nhất trong việc tái thiết xã hội.

ý niệm này dành sự quan tâm thích đáng đến cả lý tưởng xã hội lẫn cá nhân. Nó mang tính cá nhân bởi vì nó thừa nhận sự hình thành cá tính là nền tảng xác thực duy nhất của cuộc sống lương hảo. Nó mang tính xã hội bởi vì nó nhìn nhận cá tính không hình thành bởi mệnh lệnh, khuôn mẫu hay sự khích động cá nhân, mà bởi sự ảnh hưởng từ một hình thức nào đó của đời sống đoàn thể hay cộng đồng.

trường học lý tưởng là nơi chốn có sự hòa hợp giữa lý tưởng cá nhân và xã hội.

vì lẽ đó, trách nhiệm của cộng đồng đối với giáo dục là một trách nhiệm tinh thần tối cao. Bằng luật pháp và hình phạt, bằng những thảo luận và ưu tư, xã hội có thể tự điều chỉnh và hình thành theo một phương cách ít nhiều mang tính chất bừa bãi và ngẫu nhiên. Nhưng thông qua giáo dục, xã hội có thể vạch ra nhiều mục tiêu, có thể tổ chức các phương tiện và nguồn lực để tự định hình một các rõ ràng và tiết kiệm theo một phương hướng mà nó mong muốn vươn tới.

một khi xã hội nhìn nhận các khả năng có thể thực hiện trong phương hướng này, và những nghĩa vụ mà chúng áp đặt, thì không thể nào phó mặc các nguồn tài lực, thời gian và sự quan tâm cho nhà giáo dục.

một trong những vấn đề cần được quan tâm trong lãnh vực giáo dục là phải nhất mực xem trường học như là công cụ hàng đầu và hữu hiệu nhất trong việc phát triển và cải cách xã hội, để khi đó, xã hội có thể bị đánh động mà nhận ra được vai trò của nhà trường và ý thức được sự cần thiết phải cung cấp đầy đủ cho nhà giáo dục các phương tiện để thi hành bổn phận của mình.

giáo dục được quan niệm như thế mới biểu lộ được sự hợp nhất sâu sắc và hoàn hảo của khoa học và nghệ thuật trong kinh nghiệm con người.

do đó, nền nghệ thuật bộc lộ rõ ràng các khả năng của con người và khiến chúng có thể phục vụ cho xã hội chính là một nền nghệ thuật tối thượng.

với sự phát triển của ngành tâm lý học, một ngành đã tạo ra cách nhìn sâu sắc hơn đối với cá nhân và các quy luật phát triển, và với sự lớn mạnh của ngành khoa học xã hội, một ngành đã bổ sung cho sự hiểu biết của chúng ta về quan hệ giữa các cá nhân, tất cả các nguồn lực khoa học đều có thể được dùng cho các mục tiêu giáo dục.

khi khoa học và nghệ thuật phối hợp chặt chẽ với nhau, thì suối nguồn phẩm hạnh của con người sẽ được khơi dòng.

người thầy không chỉ đơn giản là người tham gia vào việc huấn giảng cá nhân, mà còn là kẻ đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành một đời sống xã hội hợp lẽ.

mỗi người thầy nên nhận thức rõ phẩm giá nghề nghiệp của mình; người thầy là một viên chức xã hội có vai trò duy trì trật tự thích hợp và bảo vệ sự phát triển đúng đắn của xã hội.
John Dewey
Cao Hùng Lynh (trích dịch) 

Nguồn: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9377&rb=0501

Trà Giang - Hoan hô nông dân! Hoan hô ông tư bản!

http://www.binhduong.gov.vn/data/upload_file/2(14).jpg

Khu Liên hợp Công nghiệp – Dịch vụ Việt Nam – Singgapore (VSIP) thứ năm được khởi công trang trọng, hoành tráng và đấy xúc cảm tại xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi vào giờ hoàng đạo Bính Ngọ, ngày Nhâm Ngọ, tháng Tân Dậu, năm Quí Tỵ, tức Thứ sáu, 13/9/2013.

Công trình đầu tư được nhà nước Việt Nam, trung ương cũng như địa phương, xem là biểu tượng cao đẹp của tình hữu nghị truyền thống và bền vững Việt Nam – Singapore. Tỉnh Quảng Ngãi cũng thêm vào đó vài cái nhất để bù lại cho thứ tự 5 so với cả nước: đầu tiên ở miền trung; giải phóng mặt bằng nhanh nhất; và thêm, có Thủ tướng 2 nước dự khởi công. Những cái nhất đó sẽ được tính vào công trạng của những người trực tiếp chỉ đạo, vận động và xúc tiến đầu tư để chuẩn bị cho những tiền đồ toan tính khác.

Nhìn khuôn mặt rạng ngời, tươi cười của các vị lãnh đạo tỉnh khi chào đón, trao hoa cho ông Lý Hiển Long, trùm sò của nhà nước tư bản tài phiệt quốc đảo Singapore, tôi bỗng nhớ lại sự tươi cười của người dân Quảng Ngãi khi được chính quyền Việt Minh huy động ra dọc đường thiên lý để chào đón Phái bộ Đồng Minh vào giải giáp quân Nhật phía nam vĩ tuyến 16 năm 1945, tươi cười có chuẩn bị để chào đón một số đồng bào miền Bắc di cư năm 1954, tươi cười của trẻ em nhận kẹo của lính Mỹ và người dân nhận thùng dầu ăn có in hình biểu tượng bắt tay của Hội Việt - Mỹ những năm 60 của thế kỷ trước trên Tạp chí ảnh “Thế giới tự do” của VNTTX và Tạp chí Life, tươi cười có tổ chức chào đón Phái đoàn kiểm soát đình chiến 4 bên của Liên Hiệp Quốc sau hiệp định Paris 1973...

Đúng là sự kiện bước ngoặt, vô tiền khoáng hậu ở cái tỉnh lẻ này. Với nguồn vốn dồi dào và rất có trách nhiệm khi triển khai dự án, nhà đầu tư sẽ sớm tạo ra ở đây những tiền đề để tỉnh Quảng Ngãi cất cánh, cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp năm 2020.

Không vui, tươi cười sao được khi giấc mơ truyền kiếp của người dân vùng lúa gieo, quanh năm thiếu nước một thời “đóng nhanh lúa tốt càng mau thắng thù” của phía bắc đông bắc Quảng Ngãi này.

Qua chiến tranh, hòa bình trở lại, họ thực hiện công cuộc làm cho “Núi Ấn sông Trà nở hoa” bằng cách theo đảng làm ăn hợp tác, song càng cố càng đói nghèo. Những năm 1976 - 80, nhiều người dân của nơi ấy chỉ biết lấy bao đựng cát làm công sự của lính Nam Hàn làm quần áo lao động. Phần lớn cư dân phiêu dạt vào kiếm ăn ở Sài Gòn, đi kinh tế mới, vất vơ như một lũ ma đói.

Bây giờ với sự kiện ấy, giấc mơ được chắp lại, một cơ hội lên thiên đàng khác được tái khởi động với sự kiên quyết đầu tư của nhà tư bản ngoại quốc giẫy chết tại đất nước của họ nhưng lại sẵn lòng vô tư giúp nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Nhân sư kiện ấy, tờ báo đầy sức chiến đấu của tỉnh phỏng vấn nhiều nông dân trẻ của xã Tịnh Phong. Tất cả đều tươi cười và đồng loạt trả lời rằng “ra đi trong hân hoan”. Xin cảm ơn sự đồng thuận vốn dĩ, bản chất của nông dân, sự hào phóng có tính chất xã hội chủ nghĩa của các ông tư bản Singapore, cảm ơn sự nỗ lực không chùn bước của các vị lãnh đạo tỉnh.

Tuy nhiên, cũng cần nhắc mấy ông tư bản, trong qui hoạch của VSIP Quảng Ngãi, cần dành phần cho mấy huyệt mộ, phòng 49 năm nữa, khi hết hạn thuê đất, Việt Nam đã tiến lên chủ nghĩa xã hội, các ông phải tự chôn mình ngay tại mảnh đất đã có lời thề chủ nghĩa cộng sản cuối cùng của trái đất này.
  Trà Giang
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét