Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Lượm tin tức

CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
Rạch Gầm – Xoài Mút: Trận thủy chiến lừng lẫy trong lịch sử Việt Nam (ĐĐK).
- NGÔ NGHÈN: HÃY NHỚ (Nguyễn Tường Thụy). “Đừng cậy bà già trên tám mươi, đầu bạc răng long/ Mà nhà nước để yên, muốn chống gì cũng được/ Đến mồ mả chúng tao còn ủi đào tan nát/ Thì há chi một bà lão trên tám mươi”.  – BIỂN ĐEN: Nhắn ông tiến sĩ Hán Nôm.
Nước nhà gặp nhiễu sự, dân còn giúp Nhà nước? (ĐV). Vì sao khi xảy ra những vụ việc như Tiên Lãng – Hải Phòng, Văn Giang – Hưng Yên chẳng thấy Quốc hội sớm vào cuộc. Tại sao xảy ra hiện tượng người Trung Quốc nuôi cá ngay địa bàn quân sự Cam Ranh, người phát hiện chỉ là báo chí ... Thử đặt ra một câu hỏi vào thời điểm này khi nhiễu sự liệu dân có ra gánh vác như những thời kỳ đầy thử thách trong quá khứ lịch sử oai hùng của chúng ta không?“.
KINH TẾ
Chọn “nội thất” nào cho ngôi nhà kinh tế? (TT).  - Quốc hội góp ý vào Đề án Tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế: Băn khoăn về nguồn lực (ĐĐK).
- Ông Cao Sĩ Kiêm: Thừa tiền trong ngân hàng là có thật (Tin tức).
VĂN HÓA-THỂ THAO
Vẻ đẹp Thành Nhà Hồ (LĐ).
- Vụ vé mời in phù hiệu lục quân Mỹ: Nhà hát Tuổi trẻ đình chỉ chuyến lưu diễn của đoàn kịch III (NLĐ).
GIÁO DỤC-KHOA HỌC

Bộ trưởng nói về vụ ném ‘phao’ thi (BBC). - Thêm một thí sinh quay clip thi tốt nghiệp ở Bắc Giang (Infonet).  - Tiếp tục “sốc” với hình ảnh gian lận môn Địa lí ở Bắc Giang(GDVN).  - Đổi mới thi cử để chống tiêu cực (TT).  - Nỗi lòng nhức nhối của giám thị coi thi (TT).  - Những người chống tiêu cực thường thiệt thòi (GDVN).  - Gian lận thi THPT tại Bắc Giang: Đình chỉ công tác 28 giám thị (VOV).  - Thanh tra Sở GD-ĐT Bắc Giang mời HS quay clip lên làm việc (DT).  - Chấm thi tốt nghiệp 2012: Kiểm dò từng bài thi (DV).  -Hội đồng thi Đồi Ngô không phải thi lại (VnMedia).  - Ngẫm chuyện thi cử qua góc nhìn của Clip “sốc” (NĐT).
XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG
Bộ Y tế tập trung giảm thiểu tử vong do ‘bệnh lạ’ ở Quảng Ngãi (Zing).
Cơ khổ trong phố cổ! (Petrotimes).
QUỐC TẾ
Tìm thấy “mùi thịt cháy khét lẹt” ở làng thảm sát Syria (VOV).  - Phương Tây không bắt tay với Iran trong vấn đề Syria (Telegraph, BBC/NLĐ).  - Lực lượng an ninh Syria bị cáo buộc gây ra vụ thảm sát (NĐT).

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

NGUY CƠ XUNG ĐỘT TIỀM ẨN Ở TÂY TẠNG

Tài  liệu tham khảo đặc biệt
Thứ sáu, ngày 8/6/2012
TTXVN (Angiê 4/6)
Chính sách đồng hóa không khả thi
Vào thời kỳ đảo lộn xã hội và kinh tế diễn ra nhanh chóng, ngoài những mâu thuẫn trong phát triển, Trung Quốc còn phải tìm cách thích ứng với sự đa dạng sắc tộc trong chính dân tộc mình. Tại phương Tây, người ta cảm nhận được tầm quan trọng mà Bộ chính trị Đảng cộng sản Trung Quốc dành cho vấn đề hội nhập của các cộng đồng ngoại lai tản mác. Nhưng chuyên gia các vấn đề quốc tế Francis Dahou của tạp chí “Tin Trung Hoa” cho rằng Bắc Kinh vẫn không ý thức được vấn đề sắc tộc có tầm quan trọng như thế nào đối với họ về phương diện chính trị.

Tây Tạng và Tân Cương hiện đang là chủ đề thời sự với các vụ tự thiêu liên tiếp xảy ra do không thấu hiểu về văn hóa và tôn giáo, trong bối cảnh người Hán tự cho mình là người kế tục lịch sử xuyên suốt. Cội rễ văn hóa đó có từ thời các triều đại Hạ, Thương và Chu cổ xưa – từ năm 2200 đến năm 481 trước Công nguyên – đến Khổng Tử, rồi Đế chế Tần đầu tiên đã đặt tên cho nước Trung Quốc ngày nay, sau đó là nhà Hán – đế chế đầu tiên tiến hành bành trướng ở châu Á.
Nhưng cũng có nhiều sắc tộc thiểu số khác nói các thứ tiếng khác nhau và lấy chuẩn mực từ các truyền thống lịch sử và văn hóa khác. Các thiểu số người này chỉ chiếm khoảng 7% dân số Trung Quốc, một tỷ lệ không lớn nhưng có số người cũng gần bằng dân số Pháp và Tây Ban Nha cộng lại. Hơn nữa, các thiểu số người đó chiếm tới gần 50% số dân sống trên một số vùng lãnh thổ rộng hơn 1/2 diện tích Trung Quốc.
Các không gian sinh sống của các sắc tộc thiểu số khác nhau chạy từ tỉnh Tân Cương, giáp với vùng Trung Á và giàu nguồn năng lượng và khoáng sản, đến vùng cao nguyên rộng lớn Tây Tạng bao gồm không chỉ tỉnh tự trị mà cả vùng Thanh Hải và các vùng có đa số dân là người Tây Tạng sinh sống hiện đã bị thôn tính thuộc các tỉnh Cam Túc và Tứ Xuyên, ở phía Tây-Nam, những thiểu số người này sống rải rác tới tận vùng giáp với Vân Nam và Quảng Tây liền kề với tỉnh Quảng Đông. Ba tỉnh này có tới hơn 40 triệu người không phải người Hán mà thuộc các thiểu số người còn ít được biết đến ở ngoài Trung Quốc, là Naxi, Di và Thái.
Vào thời kỳ lộn xộn, cũng không phải xa lắm, do kình địch giữa các thủ lĩnh chiến tranh, từng mảng lãnh thổ của Trung Quốc bị kiểm soát bởi các thủ lĩnh phe phái có khi không thuộc dân tộc Hán chiếm đa số. Trong bối cảnh chính trị và văn hóa trong đó khả năng bảo đảm có được sự thống nhất tập trung của cả nước vẫn là một trong những yếu tố đánh dấu tính hợp pháp của chính quyền, thực tế sắc tộc – vấn đề mà Đảng cộng sản Trung Quốc luôn ghi nhớ – là lý do khiến các nhà lãnh đạo nước này lo ngại trước nguy cơ làn sóng ly khai lan rộng, đồng thời thúc đẩy họ quyết tâm đè bẹp làn sóng đó mà không chùn tay.
Trong lịch sử gần đây, lời giải đáp cho các mối đe dọa chia rẽ có nguồn gốc sắc tộc không còn như trước. Vào giữa những năm 1980, Hồ Diệu Bang, lúc đó là Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc, nổi lên với những ý tưởng rất không phù hợp với trào lưu lúc đó về vấn đề Tây Tạng. Ông ra lệnh giảm bớt số viên chức người Hán làm việc ở tỉnh này và buộc những người ở lại công tác phải học tiếng Tây Tạng. Đối với vị cựu Tổng bí thư theo khuynh hướng tự do này, muốn cải thiện tình hình ở Tây Tạng trước hết phải tăng ngân sách dành cho tỉnh này, cải thiện điều kiện giáo dục và, đặc biệt là phải đổi mới văn hóa Tây Tạng.
Một số chiến lược được thực hiện đối với các tỉnh có đông dân từ bên ngoài đến, chủ yếu là Tây Tạng và Tân Cương, hai vùng mang đậm dấu ấn văn hóa và tôn giáo riêng, cũng là nơi liên tiếp nổ ra bạo loạn trong thời gian gần đây. Nhưng từ khi Hồ Diệu Bang bị phế truất vào năm 1987, các chính sách này chỉ dựa trên hai trụ cột chính là dùng cảnh sát để kiềm soát và đàn áp khốc liệt các nhân vật ly khai, cộng với phát triển kinh tế-xã hội. Chính sách thứ hai được hỗ trợ bằng một chính sách khác là ồ ạt đưa dân từ nơi khác đến. Tất cả đều nằm trong chiến lược phát triển miền Tây, với một trong những hệ quả là dần dần đảo ngược cán cân sắc tộc.
Khái niệm này không phải không có lôgích, vì đó là bảo đảm cho chính sách “Hán hóa” từng bước, được củng cố bằng việc ồ ạt đưa người Hán đến định cư, đồng thời được hỗ trợ bằng những tiến bộ về vật chất và xã hội, cộng với sự cộng tác của giới tinh hoa địa phương khi họ có thể được bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo trong tỉnh để đổi lấy việc phải trung thành với Đảng.
Phải nói rằng ở Tây Tạng, chiến lược này cho đến nay không mang lại kết quả mong muốn. Trong khi Trần Toàn Quốc, người đứng đầu Đảng bộ Lhasa, cam kết tiến hành “cuộc chiến chống phá hoại mang tính ly khai”, ít nhất cũng có thể nói rằng lòng tin giữa một bộ phận lớn trong dân chúng ở Tây Tạng và Chính quyền trung ương Bắc Kinh, đã không còn. Từ một năm nay, ít nhất 23 người – nhà tu hành hay thành viên xã hội dân sự – đã tự thiêu và phần lớn trong số đó đã chết.
Nhiều người Tây Tạng không ủng hộ hành động tự thiêu mà họ cho là quá khích hay thiếu suy nghĩ và áp lực của chính quyền khiến nhiều nhà tu hành mất hy vọng. Một số khác không phủ nhận chính sách của Bắc Kinh mang lại điều tốt lành cho dân chúng ở vùng cao nguyên này. Nhưng không phải vì thế mà giới tu hành không bị cảnh sát và cán bộ địa phương hành hạ và hiện dường như bị dồn đến chỗ tuyệt vọng cùng cực. Sau vụ nổi loạn ở Lhasa năm 2008, Vương Lực Hùng, nhà văn li khai, cáo buộc Đảng cộng san Trung Quốc gây ra mối đe dọa chết người đối với Phật giáo dòng Đạtlai Lạtma”.
Mới đây, Chính quyền Trung Quốc do sợ bạo loạn bùng nổ đã ép buộc hàng trăm nhà tu chuyển đi nơi khác trong khi các hiệp hội ủng hộ Tây Tạng cáo buộc cảnh sát bắn chết hai người dân Tây Tạng và làm bị thương một chục người khác trong một cuộc biểu tình ở huyện tự trị Seda vào ngày 24/1. Chính quyền địa phương nói họ phản ứng trước hành động xâm phạm nhằm vào các đồn cảnh sát. Đó là điều không thể không xảy ra trong tình hình ngày càng căng thẳng và nặng nề do cảnh sát kiểm soát nghiêm ngặt và có thể lại nổ ra sự kiện như hồi tháng 3/2008 tại Lhasa khi người Tây Tạng nổi dậy tấn công người Hán.
Thủ lĩnh tinh thần của người Tây Tạng, Đạtlai Lạtma, nhân vật thường bị Chính quyền Bắc Kinh nghi ngờ gây ra các vụ lộn xộn ở Tây Tạng, cáo buộc Bắc Kinh tiến hành “diệt chủng văn hóa” và qua đó khẳng định chính sách đàn áp của Chính quyền Bắc Kinh là nguyên nhân gây ra tình hình trên. Ông cho rằng có tới 400 người Tây Tạng bị chết trong các cuộc đàn áp và hơn 2.000 người khác bị bắt sau các vụ bạo loạn.
Bắc Kinh bác bỏ lời cáo buộc trên và nhấn mạnh rằng những gì chính quyền thực hiện ở Tây Tạng đã nâng cao đáng kể mức sống của dân chúng. Bắc Kinh cũng nhắc lại rằng năm 1951, chính Đạtlai Lạtma đã chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Tạng, về phần mình, Đạtlai Lạtma thường xuyên bác bỏ việc Bắc Kinh cáo buộc ông đòi độc lập và yêu cầu Bắc Kinh tôn trọng lời hứa cho Tây Tạng tự trị ký năm 1951.
Vấn đề ở đây là rạn nứt về vãn hóa và không hiểu nhau là có thực và trở thành yếu tố rất nhạy cảm đối với Đảng cộng sản Trung Quốc. Bởi lẽ trong vấn đề Tân Cương, hình ảnh của Đảng bị xấu đi do không tin đạo Hồi, trong khi Tây Tạng, theo dư luận phương Tây, lại cho thấy hình ảnh tích cực và điềm tĩnh của một tôn giáo có một trong những đặc tính là chủ trương kiểm soát thể lực và tinh thần bằng thiền.
Có người nói rằng phương Tây ủng hộ Tây Tạng quá mức, rằng Đảng cộng sản đã đưa vùng cao nguyên này khỏi tình trạng lạc hậu như thời Trung cổ và khỏi một xã hội phong kiến bị các nhà tu hành nô dịch và bị xáo động bởi tình trạng kình địch chết người giữa các giáo phái, rằng số tiền đầu tư khổng lồ mà Bắc Kinh rót vào đây đã thúc đẩy nhanh quá trình xóa nạn mù chữ, mở rộng diện bảo hiểm y tế và đưa một bộ phận dân chúng thoát khỏi nghèo khổ. Những người này đã không lầm.
Nhưng bộ máy “Hán hóa” mà người Tây Tạng coi là cách để buộc xã hội Tây Tạng phải tuân thủ “chuẩn mực Trung Hoa”, đang bị trục trặc. Cú sốc giữa các lối sống và các nền văn hóa mạnh đến mức tuy có được tiên bộ không thể phủ nhận trong phát triển theo kiểu Trung Hoa, song tâm lý tức giận bộc lộ trong bối cảnh cơ chế phối hợp và đối thoại, đáng lẽ phải cho phép “kiểm soát” được sự khác biệt, bất đồng và hành động xâm hại, lại hoạt động rất không trơn tru.
Mặc dù Bắc Kinh nỗ lực xóa bỏ nạn mù chữ, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe của dân chúng ở Tây Tạng và đưa họ vào tiến trình phát triển, họ vẫn coi chính sách của chính quyền trung ương là nhằm buộc họ phải tuân thủ “chuẩn mực Trung Hoa”. Đối với các tổ chức hoạt động vì Tây Tạng tự do, chuẩn mực Trung Hoa càng không thể chấp nhận được vì từ năm 2006, tuyến đường sắt cao nhất thế giới hoàn thành và chạy từ Bắc Kinh qua Tây Ninh và Golmud đến Lhasa chỉ mất 48 tiếng đồng hồ, là yếu tố gia tăng sự di cư của người Hán đến vùng này. Theo Đạtlai Lạtma, tỷ lệ người Hán ở Tây Tạng có thể lên quá 50% dân số vùng này.
Hiệu quả của cơ chế đó, trên thực tế, còn bị hủy hoại bởi sự nghi ngại từ cả hai phía, bởi những ý định không rõ ràng, bởi nỗi sợ làn sóng ly khai lan rộng, bởi lập trường cố hữu, trong đó tồi tệ nhất là quan điểm cho rằng Đạtlai Lạtma là một nhân vật ly khai nguy hiểm trong khi ông chỉ đòi tôn trọng thỏa thuận 17 điểm được ông ký với Mao Trạch Đông vào năm 1951.
Về tương lai của Tây Tạng, người ta không thể không nhận thấy sự khác biệt sâu sắc giữa quan điểm của Bắc Kinh và chính phủ Tây Tạng lưu vong. Đồ Thanh Lâm, Chủ tịch ủy ban Mặt trận thống nhất thuộc Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, từng nhắc lại sự khác biệt này khi nói rằng vấn đề ở đây “không phải là làm cho Luật cơ bản đi trệch hướng”. Theo ông, “ý tưởng về một vùng ‘Đại Tây Tạng’ và ‘quyền tự trị rộng rãi’ là trái ngược với Hiến pháp và chỉ có thể mở lại thương lượng nếu Đạtlai Lạtma bỏ hoàn toàn các ý tưởng đó”.
Thực tế là không dễ hàn gắn được rạn nứt sâu sắc giữa một bên là người Hán, vốn là những nông dân kém hiểu biết sống ở vùng đồng bằng, và bên kia là người Tây Tạng, Vốn là người du mục sống ở vùng núi cao và, ở các vùng nông thôn, dành tới 60% thời gian cho mối quan hệ với tu viện. Cuộc sống nặng về tâm linh như vậy, theo một số nhà quan sát có thể là tàn dư của quá khứ, không có chỗ đứng ở Trung Quốc, nơi chủ nghĩa thực dụng của người Hán bó chặt trong đạo Khổng cứng nhắc, thắng thế và ca ngợi ban lãnh đạo chính trị trung ương cũng như chính sách hiện đại hóa về phương diện vật chất. Lòng sùng đạo Phật và đạo Thiên chúa hồi sinh ở Trung Quốc, nhưng bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ và theo dõi các tín đồ.
Làn sóng tự thiêu đòi tự trị
Hai nhà sư Tây Tạng vừa tự thiêu trước đền Jokhang tại Lhasa thuộc vùng Tây Tạng. Lực lượng an ninh Trung Quốc đã nhanh chóng đưa hai nhà sư đi nơi khác và dọn sạch địa điểm này. Đây là vụ tự thiêu đầu tiên xảy ra ngay trên vùng đất Tây Tạng, các vụ trước đây đều xảy ra ở các tỉnh khác, chẳng hạn như Tứ Xuyên. Theo ông Pierre Haski, nhà phân tích của tạp chí “Tin Trung Hoa”, làn sóng tự thiêu để phản kháng chính quyền từ Thiên An Môn đã lan đến Tây Tạng và các vụ tự thiêu nối tiếp nhau và hình ảnh về các sự kiện này để lại những dấu ấn mà Chính quyền Bắc Kinh không thể xóa được.
Ngày 21/10/2011, một người Trung Quốc tự thiêu tại quảng trường Thiên An Môn, trước bức chân dung Mao Trạch Đông khổng lồ. Một du khách Anh chụp được ảnh và bức ảnh này được đăng trên tờ “Daily Telegraph of London”. Wang, tên người đàn ông tự thiêu, muốn bằng hành động tuyệt vọng của mình phản đối bản án dân sự mà ông phải là “nạn nhân”. Nhưng đối với Bắc Kinh, vụ này “không có gì là chính trị”. Vụ việc xảy ra ở ngay giữa Bắc Kinh, nhưng phải 26 ngày sau mới được công bố. Từ 10 năm nay, đây là vụ tự thiêu đầu tiên tại nơi được coi là biểu tượng của Trung Quốc và cũng là nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng của nước này. Cách đây 10 năm, hai thành viên Pháp luân công đã chết sau khi tự thiêu tại đây để phản đối đàn áp đối với giáo phái này. Từ đó đến nay, quảng trường Thiên An Môn được canh gác cẩn mật hơn.
Cũng vào cuối năm 2011, một phụ nữ 81 tuổi đã chết vì tự thiêu tại tỉnh Hà Nam, miền Trung Trung Quốc, để phản đối chính quyền dỡ nhà mình. Một số khác cũng hành động tương tự để phản đối chính quyền. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến người dân bất bình ở trong nước.
Nhưng ở Tây Tạng, làn sóng tự thiêu để phản kháng diễn ra ở quy mô lớn hơn. Trong năm 2011, xảy ra 11 vụ, chủ yếu là các nhà tu hành, để phản đối sự chiếm đóng của Chính quyền Bắc Kinh. Theo các hãng tin phương Tây, từ tháng 3/2011 đến nay, ít nhất 34 nhà tu hành Tây Tạng tự thiêu. Phần lớn trong số họ chỉ dưới 20 tuổi và 13 người trong số đó đã chết.
Từ tháng Giêng đến nay, tình hình ở Tây Tạng ngày càng xấu đi giữa dân chúng và chính phủ. Ngày 3/2, tại huyện sắc Đạt, phía Tây tỉnh Tứ Xuyên, vụ tự thiêu của 3 mục đồng tạo thêm áp lực đối với bắc Kinh. Một trong số đó chết, còn hai người bị thương nặng, sắc Đạt nằm ở vùng núi giáp với Tây Tạng, từ tháng Giêng nổ ra cuộc đối đầu giữa người biểu tình Tây Tạng và cảnh sát. Theo các tổ chức ủng hộ Tây Tạng, 7 người biểu tình chết và hàng chục người khác bị thương. Nhưng hãng thông tấn Nhà nước Tân Hoa Xã khẳng định chỉ có một người chết khi cảnh sát có hành động phòng vệ chính đáng trước những người biểu tình.
Bắc Kinh định phong tỏa thông tin tù; Tây Tạng và các vùng có người Tây Tạng sinh sống. Internet và điện thoại gần như bị cắt. Mọi con đường dẫn đến các vùng có biểu tỉnh ở Tứ Xuyên, Tây Tạng và các vùng khác có người Tây Tạng sinh sống, đều bị cảnh sát lập trạm kiểm soát chặn lại. Báo chí cũng không được phép đến đây. Tuy nhiên, cũng có lúc Bắc Kinh buộc phải nhượng bộ và đưa ra một số lời giải thích. Tuy chậm hai hoặc ba ngày, song những điều được Bắc Kinh nói ra khẳng định biểu tình là có thật và chính thức thừa nhận có người chết.
Điều quan trọng, theo bà Prancoise Pommeret, nhà Tây Tạng học và Giám đốc nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS), là xác định bối cảnh diễn ra các sự kiện đó mới hiểu được những gì thực sự đang diễn ra hiện nay. Các cuộc biểu tình tuyệt vọng này chủ yếu nổ ra ở các tỉnh có người Tây Tạng sinh sống. Phần đông dân chúng Tây Tạng coi vùng đất của họ thuộc “Đại Tây Tạng” chiếm tới 25% diện tích của Trung Quốc. Các vùng thuộc huyện Aba và tu viện Kitri ở Tứ Xuyên, nơi xảy ra 8 trong tổng số 11 vụ tự thiêu, bị canh sát kiểm soát ngặt nghèo khiến giới tu sĩ trở lại phản kháng từ ba năm nay.
Đối với Bắc Kinh, các vụ tự thiêu và các cuộc biểu tình là sự lăng nhục đối với chính quyền và đàn áp khốc liệt. Theo nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế, 300 nhà tu thuộc tu viện Kitri hiện không có tin tức gì, có thể đã bị chính quyền cầm tù. Để người phản kháng không có cơ hội tập họp nhau lại, Chính quyền Bắc Kinh ra lệnh thật hạn chế đi lại giữa các vùng khác nhau của Tây Tạng, khiến nhiều vùng bị cô lập như ở Thạch Cừ hay Lhasa. Ngoài vấn đề thiếu quyền tự do văn hóa và tôn giáo, những người biểu tình còn tố cáo các ‘”chiến dịch cải huấn” do chính quyền tiến hành. Các nhà tu hành buộc phải tuyên bố công khai từ bỏ Đạtlai Lạtma và khẳng định trung thành với Trung Quốc do bị uy hiếp và đe dọa. Các “nhóm công tác” của chính quyền thường xuyên đến các tu viện để tìm kiếm và phát hiện dấu hiệu của tâm lý bất bình. Khu nhà ngủ của các tu sĩ thường xuyên bị lục soát. Những người phản đối có thể bị hành hung, thậm chí bị giết. Từ năm 2007, người Tây Tạng không được phép làm hướng dẫn viên cho du khách nước ngoài. Chính phủ Trung Quốc thậm chí còn quyết định không cho phép du khách nước ngoài đến vùng tự trị Tây Tạng cho đến cuối tháng Ba vừa rồi. Các biện pháp này cho thấy Chính quyền Bắc Kinh phần nào nóng vội.
Nhiều vụ tự thiêu xảy ra trong khi tự vẫn về nguyên tắc bị cấm trong Phật giáo Tây Tạng. Hiện tượng đó cho thấy rõ mức độ tuyệt vọng trong các cộng đồng người Tây Tạng, đặc biệt là trong số thành viên tăng lữ Phật giáo sống ở vùng này. Các nhà hoạt động nhân quyền và Thủ tướng chính phủ Tây Tạng lưu vong, Lobsang Sangay, cho rằng chính sách thiển cận của Bắc Kinh là nguyên nhân dẫn đến hành động này. Ông nhấn mạnh đến sự cần thiết phải giải quyết tận gốc thái độ thù hận của người Tây Tạng, trong đó có việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và ngôn luận.
Dù mang tính xã hội hay dân tộc chủ nghĩa, nỗi thất vọng của người tự thiêu phản bác những gì mà Chính quyền Bắc Kinh cho là “hài hòa” trong xã hội. Lobsang Sangay khẳng định tâm lý thù hận của người Tây Tạng tăng lên sau khi cuộc bạo loạn tháng 3/2008 bị chính quyền đàn áp. Những người biểu tình đòi giải phóng Tây Tạng và đưa lãnh tụ tinh thân Đạtlai Lạtma của họ trở lại. ít người dám bộc lộ suy nghĩ của mình, nhưng những ai đã nói ra đều có chung một tâm trạng: “Chúng tôi rất đau khổ trong lòng và khi không thể chịu đựng được nữa, chúng tôi sẽ thiêu cháy mọi thứ.”
Cuối tháng Giêng, Bộ Ngoại giao Trung Quốc coi những người tự thiêu là “khủng bố” và cáo buộc Đạtlai Lạtma kích động hành động gây rối với mục đích ly khai. Thủ lĩnh tinh thần Tây Tạng luôn tuyên bố muốn vùng đất này được hưởng tự trị, nhưng vẫn không muốn “cắt cầu” với Bắc Kinh. Lời kêu gọi của ông được xem như một lời cảnh báo: “Các vị sẽ không dập tắt được yêu sách chính đáng của người Tây Tạng, cũng không bao giờ thiết lập được ổn định ở Tây Tạng bằng vũ lực và ám sát. Cách duy nhất để giải quyết vấn đề Tây Tạng và thiết lập hòa bình lâu dài là tôn trọng quyền của người Tây Tạng và đối thoại với họ.
Trong khi năm 2008, nhiều trí thức Trung Quốc tỏ thái độ phê phán chính sách của Nhà nước và đàn áp ở Tây Tạng, lần này ít người trong đó lên tiếng. Nổi lên trong số họ là Vương Lực Hùng, một nhà văn ly khai, chuyên gia về sắc tộc thiểu số. Ông cũng là người gắn bó về tinh thần với Tây Tạng vì có vợ Duy Sắc là người Tây Tạng. Bản thân bà cũng là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, và có bố là sĩ quan cao cấp Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa và mẹ là người Tây Tạng.
Vương Lực Hùng đang tìm kiếm một chiến lược thích hợp hơn cho cuộc đấu tranh đòi quyền tự trị của người Tây Tạng. Trong một thông điệp lúc đầu được viết bằng tiếng Trung Quốc ngày 14/1 và đăng tải trên blog của người vợ, rồi ngày 20/1 được tung lên mạng Tibetan Political Review, Vương Lực Hùng nói về ý nghĩa của các vụ tự thiêu, vai trò của Đạtlai Lạtma và chính phủ Tây Tạng lưu vong, cũng như đường lối cần theo để thực hiện mục tiêu chính trị là nền tự trị cho Tây Tạng.
Theo nhà văn ly khai này, nghịch lý là các vụ tự thiêu, vốn là hành động bạo lực đã đạt đến giới hạn cuối cùng của phi bạo lực, đòi hỏi phái có lòng dũng cảm vượt bậc, song do thiếu chiến lược nên trở thành hành động phung phí năng lượng. Do bản chất của chính quyền độc tài Trung Quốc, với cơ cấu cứng nhắc và lôgích quan liêu lạnh lùng và nhẫn tâm, rất ít khả năng các vụ tự thiêu khiến Chính quyền Bắc Kinh động lòng.
Đối với Vương Lực Hùng, điều cấp thiết là hướng năng lượng đó vào một mục tiêu thực tế hơn chứ không thể chỉ trông chờ hoàn toàn vào hành động cua Đạtlai Lạtma. Chính phủ Tây Tạng lưu vong cũng không thể chỉ đưa ra tuyên bố suông. Ông nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tính đến một chiến lược và công bố cho người dân Tây Tạng biết. Theo Vương Lực Hùng, cần phải nói với họ những gì họ cần làm. Nếu biết được mình có thể làm hay không thể làm cái gì, họ sẽ tiếp tục sống hơn là hy sinh cuộc sống của mình với hy vọng được báo chí quan tâm, dù chỉ là nhất thời.
Đề xuất của Vương Lực Hùng nhằm mục đích truyền bá quyền tự trị trong toàn tỉnh và xuất phát từ ví dụ gần đây ở làng Ô Khảm thuộc tỉnh Quảng Đông. Mỗi gia đình ở đây đều có đại diện trong hội đồng ủy quyền để bầu ra Hội đồng làng. Hội đồng này giữ gìn trật tự và bảo đảm hoạt động của cộng đồng kể cả sau khi chính quyền rút đi và đồn cảnh sát đóng cửa. Một tờ báo Hồng Công gọi Hội đồng làng Ô Khảm là tổ chức dân cử đầu tiên được chính phủ thừa nhận.
Tuy nhiên, Vương Lực Hùng băn khoăn về tính thực tế của loại hội đồng này ở Tây Tạng, nơi mọi ý đồ tự trị của làng sẽ bị coi là mưu đồ ly khai và bị bóp chết từ trong trứng bằng đàn áp. Ông cho rằng những gì người Trung Quốc được phép làm đều bị cấm ở Tây Tạng. Nhưng người Tây Tạng đã không sợ tự thiêu thì họ không còn sợ cái gì khác nữa.
Mọi lập luận của nhà văn ly khai Vương Lực Hùng và những người Tây Tạng thuộc phái ôn hòa đều căn cứ vào quyền tự trị của tỉnh này được ghi trong Hiến pháp, về vấn đề này, có thể nói đến sự trái ngược giữa tình trạng căng thẳng; và bế tắc hiện nay với thời khi Chính phủ Trung Quốc ý thức được tình hình và đưa ra những biện pháp thực thụ để thực hiện. Chuẩn mực được đưa ra bởi cựu Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc, Hồ Diệu Bang, là một chính sách đáng lưu ý, nhưng chỉ là nhất thời.
Nội dung kế hoạch của Hồ Diệu Bang được nêu trong báo cáo năm 1994 do Vương Nghiêu, lúc đó là trợ lý của Hồ Diệu Bang, soạn thảo. Báo cáo này nói về sứ mệnh tại Tây Tạng của một nhóm công tác do Hồ Diệu Bang dẫn đầu và được Robert Bamett và Shirin Akiner đăng tải trong cuốn sách “phản kháng và cải cách ở Tây Tạng”.
Trong tài liệu đó, Vương Nghiêu nhấn mạnh ngoài lời hứa hẹn phát triển giáo dục, y tế và nông nghiệp mà ông cho là quá lạc hậu, Hồ Diệu Bang đưa vào danh sách các nhiệm vụ cần được ưu tiên đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Tây Tạng là “để cho người Tây Tạng được toàn quyền thực hiện quyền tự chủ của mình ở toàn vùng”. Đồng thời, Hồ Diệu Bang còn quyết định triệu hồi phần lớn cán bộ người Hán đang công tác tại vùng đất này.
Hai biện pháp này hoàn toàn ngược lại với mọi chính sách hiện nay của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhiều chuyên gia về vấn đề này cho rằng những bước thụt lùi này cộng với chiến lược đưa dân ồ ạt đến, tăng cường bộ máy đàn áp và mở rộng kiểm soát vùng đất này cũng như một số vùng có đông người Tây Tạng sinh sống, là nguyên nhân dẫn đến tình hình rối loạn hiện nay.
Liệu tình hình có dịu đi không? Theo chuyên gia Francoise Pommeret, việc Bắc Kinh chấm dứt các biện pháp hà khắc chống người Tây Tạng lúc này là điều không thể. Tình hình thậm chí có nguy cơ xấu đi và đó thực sự là ngõ cụt đối với cả hai phía./.


Council On Foreign Relations

Xung đột vũ trang ở Biển Đông

Bản ghi nhớ số 14 về kế hoạch đối phó với các sự cố bất ngờ
Tác giả: Bonnie S. Glaser
Người dịch: Dương Lệ Chi
Tháng 4 năm 2012
Giới Thiệu
Nguy cơ xung đột ở biển Hoa Nam (ND: biển Đông) là đáng kể. Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippines có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán, đặc biệt là quyền khai các thác nguồn dầu khí bao la, có thể có trong khu vực. Tự do hàng hải trong khu vực cũng là vấn đề gây tranh cãi, đặc biệt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, về quyền của các tàu quân sự Mỹ hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (EEZ) của Trung Quốc. Các căng thẳng này đang hình thành và được định hình do lo ngại ngày càng gia tăng về sự phát triển sức mạnh quân sự của Trung Quốc và ý định của họ trong khu vực. Trung Quốc đã thực hiện việc hiện đại hóa đáng kể lực lượng hải quân bán quân sự, cũng như năng lực hải quân để thực thi các tuyên bố chủ quyền và quyền tài phán bằng vũ lực, nếu cần. Cùng lúc, họ đang phát triển các khả năng sẽ gây nguy hiểm cho lực lượng của Mỹ trong khu vực trong một cuộc xung đột, do đó có khả năng từ chối, không cho Hải quân Hoa Kỳ đi vào khu vực Tây Thái Bình Dương.
Do tầm quan trọng trong mối quan hệ Mỹ – Trung ngày càng gia tăng, và nói chung, ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương đối với nền kinh tế toàn cầu, Hoa Kỳ có mối quan tâm lớn trong việc ngăn chặn bất kỳ một trong các tranh chấp ở biển Đông, biến thành leo thang quân sự.
Các sự cố bất ngờ
Về nhiều sự cố bất ngờ có thể hình dung được, liên quan đến một cuộc xung đột vũ trang ở biển Đông, đặc biệt ba trong số đó, đe dọa lợi ích của Mỹ và có khả năng có thể thúc đẩy Hoa Kỳ sử dụng vũ lực.
Sự cố bất ngờ nguy hiểm và có khả năng xảy ra nhất, là một cuộc đụng độ bắt nguồn từ các hoạt động quân sự của Mỹ trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, gây ra sự đáp trả bằng vũ trang từ phía Trung Quốc. Hoa Kỳ cho rằng, trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) hay thông lệ quốc gia, không có chỗ nào phủ nhận quyền của các lực lượng quân sự của tất cả các nước, tiến hành các hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế mà không thông báo cho một nước ven biển hoặc được sự đồng ý của nước đó. Trung Quốc khẳng định rằng, các hoạt động do thám được thực hiện mà không thông báo trước và không được phép của một nước ven biển là vi phạm luật Trung Quốc và luật pháp quốc tế.
Trung Quốc thường xuyên ngăn chặn các chuyến bay do thám của Mỹ thực hiện trong vùng đặc quyền kinh tế của họ và thường làm như thế một cách hiếu chiến, gia tăng nguy cơ xảy ra tai nạn tương tự như vụ va chạm giữa một máy bay do thám của Mỹ, EP-3, với máy bay chiến đấu F-8 của Trung Quốc hồi tháng 4 năm 2001 gần đảo Hải Nam. Sự cố hàng hải tương tự có thể đã được kích hoạt bởi các tàu Trung Quốc quấy rối một tàu thăm dò của Hải quân Mỹ trong khu vực này, chẳng hạn như sự cố đã xảy ra hồi năm 2009, liên quan đến tàu USNS Impeccable và tàu Victorious USNS.
Việc Trung Quốc gia tăng số lượng lớn tàu ngầm, cũng gia tăng sự nguy hiểm của các sự cố, chẳng hạn như khi một tàu ngầm Trung Quốc va chạm với hệ thống định vị của một tàu khu trục Mỹ hồi tháng 6 năm 2009. Do máy bay trinh sát cũng như các tàu thăm dò đại dương của Mỹ không được trang bị vũ khí, Hoa Kỳ có thể đáp trả lại hành vi nguy hiểm của máy bay hoặc tàu Trung Quốc, bằng cách điều động các [phương tiện] hộ tống có vũ trang. Một tính toán sai lầm hay một sự hiểu lầm lúc đó có thể đưa tới một cuộc đọ súng chết người, dẫn đến sự leo thang quân sự hơn nữa và làm cho một cuộc khủng hoảng chính trị lớn sớm xảy ra. Sự mất lòng tin giữa hai nước  Mỹ – Trung gia tăng và việc gia tăng cạnh tranh chiến lược song phương, có thể sẽ khó khăn hơn trong việc giải quyết một cuộc khủng hoảng như thế.
Một sự cố có thể xảy thứ hai liên quan đến cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Philippines về nguồn khí đốt thiên nhiên, đặc biệt ở khu vực tranh chấp tại bãi Cỏ Rong (Reed Bank), cách Palawan 80 hải lý. Các tàu khảo sát dầu khí hoạt động ở bãi Cỏ Rong theo hợp đồng, ngày càng bị tàu của Trung Quốc quấy nhiễu. Được biết, Tập đoàn Forum Energy có trụ sở ở Vương quốc Anh, có kế hoạch bắt đầu khai thác dầu khí ở bãi Cỏ Rong trong năm nay, điều này có thể gây ra một phản ứng hiếu chiến của Trung Quốc. Forum Energy là một trong 15 hợp đồng thăm dò mà Manila dự định cấp trong vài năm tới để thăm dò ngoài khơi, gần đảo Palawan. Bãi Cỏ Rong là lằn ranh đỏ cho Philippines, vì vậy sự cố có khả năng xảy ra này, nhanh chóng có thể leo thang thành bạo lực nếu Trung Quốc can thiệp để ngăn chặn khai thác dầu khí.
Hoa Kỳ có thể bị lôi kéo vào một cuộc xung đột giữa Trung Quốc với Philippines do đã ký Hiệp ước Phòng thủ chung với Philippines năm 1951. Hiệp ước đã nêu: “Mỗi bên nhận thấy rằng, một cuộc tấn công vũ trang trong khu vực Thái Bình Dương vào một trong hai nước, sẽ nguy hiểm cho hòa bình và an toàn của chính nước mình và tuyên bố rằng, sẽ hành động để đáp trả những mối nguy hiểm chung, phù hợp với các quy trình lập pháp“. Các quan chức Mỹ nhấn mạnh rằng, Washington không đứng về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông và từ chối bình luận về việc Hoa Kỳ có thể đáp trả sự xâm lược của Trung Quốc trong vùng biển đang tranh chấp như thế nào. Tuy nhiên, có một khoảng cách rõ rệt, tồn tại giữa các quan điểm của Mỹ về nghĩa vụ của Mỹ đối với những kỳ vọng của Manila. Giữa tháng 6 năm 2011, một phát ngôn viên của tổng thống Philippines nói rằng, trong trường hợp có xung đột vũ trang với Trung Quốc, Manila mong muốn Hoa Kỳ sẽ đến để giúp đỡ họ. Phát biểu của các quan chức cao cấp của Mỹ có thể vô tình đã khiến Manila đi đến kết luận rằng, Hoa Kỳ sẽ cung cấp viện trợ quân sự nếu Trung Quốc tấn công các lực lượng của Philippines trong quần đảo Trường Sa đang tranh chấp.
Với việc cải thiện các mối quan hệ chính trị và quân sự giữa Manila và Washington, gồm một thỏa thuận đang chờ đợi để mở rộng hơn nữa cho Hoa Kỳ đi vào các cảng của Philippines và các sân bay Philippines để tiếp nhiên liệu và phục vụ các tàu chiến và máy bay của họ, Hoa Kỳ sẽ gặp rất nhiều rủi ro liên quan đến những sự cố bất ngờ, nếu có xảy ra giữa Trung Quốc với Philippines. [Nếu Mỹ] thất bại trong việc đáp trả, không những sẽ cản trở mối quan hệ của Mỹ với Philippines, mà còn có khả năng làm giảm uy tín của Mỹ trong khu vực với các nước đồng minh và đối tác lớn hơn. Tuy nhiên, quyết định của Mỹ cử các tàu hải quân đến khu vực, sẽ có nguy cơ là một cuộc đối đầu hải quân giữa Mỹ với Trung Quốc.
Tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam về khảo sát địa chấn và khai thác dầu khí, cũng có thể kích hoạt một cuộc đụng độ vũ trang cho một sự cố thứ ba có khả năng xảy ra. Trung Quốc đã quấy nhiễu tàu khảo sát dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trước đây, trong khi đang thăm dò dầu khí ở vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Năm 2011, Hà Nội cáo buộc Trung Quốc đã cố tình cắt đứt cáp của tàu thăm dò dầu khí trong hai trường hợp khác nhau. Mặc dù Việt Nam đã không đáp trả bằng vũ lực, nhưng họ không lùi bước và Hà Nội cam kết tiếp tục nỗ lực khai thác các khu vực mới, bất chấp cảnh báo từ Bắc Kinh. Quan hệ Mỹ-Việt bắt đầu nảy nở có thể khuyến khích Hà Nội đối đầu hơn với Trung Quốc về vấn đề biển Đông.
Hoa Kỳ có thể bị lôi kéo vào một cuộc xung đột giữa Trung Quốc với Việt Nam, mặc dù cuộc xung đột này có khả năng thấp hơn là cuộc đụng độ giữa Trung Quốc với Philippines. Trong một kịch bản về việc Trung Quốc có hành động khiêu khích, Hoa Kỳ có thể có sự lựa chọn gửi các tàu hải quân đến khu vực để cho thấy sự quan tâm của Mỹ đối với hòa bình và ổn định trong khu vực. Việt Nam và có thể là các nước khác, cũng có thể yêu cầu Mỹ giúp đỡ trong các trường hợp như vậy. Nếu Hoa Kỳ tham gia, các hành động tiếp theo của Trung Quốc hoặc tính toán sai lầm giữa các lực lượng hiện tại, có thể dẫn đến một cuộc đọ súng.
Một kịch bản khác có khả năng xảy ra, đó là một cuộc tấn công của Trung Quốc vào các tàu hoặc các giàn khoan của Mỹ đang hoạt động thăm dò hoặc khai thác dầu khí, có thể làm cho Hoa Kỳ tham gia ngay lập tức, đặc biệt khi mạng sống của người Mỹ bị đe dọa hoặc bị giết chết. Exxon Mobil có kế hoạch thăm dò ngoài khơi vùng biển Việt Nam, đây là một nguy cơ hiện hữu. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, khả năng dự phòng thứ ba này có thể xảy ra là tương đối thấp, do quan hệ Việt – Trung gần đây đã tan băng. Tháng 10 năm 2011, Trung Quốc và Việt Nam đã ký một thỏa thuận, phác thảo các nguyên tắc giải quyết các vấn đề trên biển. Hiệu quả của bản thoả thuận này vẫn có thể đoán được, nhưng hiện tại, căng thẳng được xoa dịu.
Các chỉ dấu cảnh báo
Các tín hiệu cảnh báo chiến lược cho thấy nguy cơ của các cuộc xung đột đang dâng cao, bao gồm các quyết định chính trị và tuyên bố của các quan chức cấp cao, tin tức từ các phương tiện truyền thông chính thức và không chính thức, và các thay đổi hậu cần và sửa đổi thiết bị. Trong các tình huống dự phòng về các sự cố có khả năng xảy ra, đã được mô tả ở trên, các chỉ dấu cảnh báo chiến lược có thể gồm “khẩu chiến” lớn từ tất cả các nước hoặc một số nước tranh chấp, liên quan đến lợi ích chiến lược và lãnh thổ của họ. Chẳng hạn như, rõ ràng là Trung Quốc xem khu vực biển Đông là lợi ích cốt lõi, trong năm 2010, Bắc Kinh đã cho thấy như thế, nhưng sau đó lại rút khỏi sự khẳng định này.
Bắc Kinh cũng cảnh báo rằng họ không thể “ngồi yên” khi các nước đang từ từ gặm nhấm lãnh thổ Trung Quốc, một phát biểu mà trong quá khứ thường có nghĩa là Trung Quốc ra tín hiệu sẵn sàng sử dụng vũ lực. Các bài bình luận và xã luận trên các phương tiện truyền thông chính thức của Trung Quốc cũng mô tả kết cục và ra tối hậu thư, đây cũng có thể là một chỉ dấu cảnh báo. Ngôn ngữ cứng rắn cũng có thể được các viên chức cấp cao của Quân đội Giải phóng Trung Quốc (PLA) sử dụng trong các cuộc họp với những người đồng nhiệm Mỹ. Sự gia tăng những lời lẽ mang tính chủ nghĩa dân tộc trên các phương tiện truyền thông không chính thức và các blog Trung Quốc, ngay cả khi không đại diện cho chính sách chính thức của Trung Quốc, nhưng đưa ra tín hiệu gây áp lực lên các lãnh đạo Trung Quốc để bảo vệ lợi ích của Trung Quốc. Các chỉ dấu cảnh báo tương tự có thể tìm thấy ở Việt Nam và Philippines, có thể báo hiệu lập trường cứng rắn của các nước này.
Các chiến thuật cảnh báo đã báo hiệu nguy cơ cao về khả năng một cuộc xung đột có thể xảy ra ở một thời điểm và địa điểm cụ thể, bao gồm các thông báo thương mại và các sự chuẩn bị, các tuyên bố ngoại giao và/ hoặc quân sự, cảnh báo của một nước đòi chủ quyền khác, yêu cầu chấm dứt các hoạt động khiêu khích hoặc phải gánh chịu hậu quả, các cuộc tập trận quân sự được thiết kết để đe dọa một nước đòi chủ quyền khác, và việc di chuyển tàu bè đến các khu vực tranh chấp. Đối với một sự cố sắp xảy ra liên quan đến các hoạt động giám sát của Mỹ, các tuyên bố và các sự chuẩn bị bất thường của PLA có thể cho thấy một sự sẵn sàng lớn hơn trong việc sử dụng các phương tiện hiếu chiến hơn, để ngăn chặn các tàu và máy bay Mỹ.
Những ảnh hưởng đối với lợi ích của Hoa Kỳ
Lợi ích của Hoa Kỳ về chính trị, an ninh, kinh tế bị ảnh hưởng đáng kể nếu một trong những sự cố dự phòng nói trên xảy ra.
  • Các quy định và luật lệ toàn cầu: Hoa Kỳ có lợi ích quan trọng trong việc giải quyết hòa bình ở biển Đông theo luật pháp quốc tế. Ngoại trừ Trung Quốc, tất cả các nước tranh chấp ở biển Đông  đều cố gắng biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của họ dựa trên đường biển của họ và quy định của UNCLOS. Tuy nhiên, Trung Quốc dựa trên sự kết hợp của các quyền lịch sử và các tuyên bố pháp lý, trong khi vẫn cố tình nhập nhằng về ý nghĩa của “đường chín đoạn đứt khúc” trên biển, được vẽ trên bản đồ Trung Quốc. Thất bại trong việc duy trì luật pháp quốc tế và các quy tắc có thể gây tổn hại cho lợi ích của Mỹ trong và ngoài khu vực. Bảo đảm tự do hàng hải là một lợi ích quan trọng của Hoa Kỳ và các nước khác trong khu vực. Mặc dù Trung Quốc tuyên bố rằng họ ủng hộ tự do đi lại, nhưng họ nhấn mạnh rằng quân đội nước ngoài phải xin phép trước để đi vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của họ, làm cho người ta nghi ngờ về lập trường của Bắc Kinh. Trung Quốc phát triển khả năng nhằm chống hải quân Mỹ đi vào những vùng biển này trong một cuộc xung đột, cho thấy, bằng chứng về ý định của Trung Quốc có thể ngăn chặn tự do trên biển trong trường hợp có sự cố xảy ra.
  • Liên minh an ninh và ổn định khu vực: Các nước đồng minh và bạn bè của Mỹ quanh khu vực biển Đông trông cậy vào Hoa Kỳ để duy trì tự do thương mại, an toàn và an ninh trên các tuyến thông thương trên biển (SLOCs), và hòa bình, ổn định trên toàn khu vực. Những nước có tranh chấp và không tranh chấp chủ quyền đối với các vùng đất, đảo, đá (land features) và vùng biển ở biển Đông xem sự hiện diện quân sự của Mỹ là cần thiết, để cho phép họ ra quyết định mà không bị đe dọa. Nếu các nước trong khu vực biển Đông mất niềm tin vào Hoa Kỳ, không xem Mỹ là một nước bảo đảm an ninh thiết yếu trong khu vực, họ có thể bắt tay vào việc gia tăng mua sắm vũ khí tốn kém và có khả năng gây bất ổn, để bù lại hoặc điều tiết với nhu cầu của một nước Trung Quốc mạnh bạo. Cả hai điều này không có lợi cho Mỹ. Thất bại trong việc trấn an các nước đồng minh về các cam kết của Mỹ trong khu vực, cũng có thể làm suy yếu khả năng bảo đảm an ninh của Hoa Kỳ ở khu vực rộng lớn hơn: châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là với Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, cùng lúc Hoa Kỳ phải tránh bị lôi kéo vào các vụ tranh chấp lãnh thổ  –  và có khả năng [bị lôi kéo] vào một cuộc xung đột  –  bởi các nước trong khu vực, những nước tìm kiếm sự ủng hộ của Mỹ để hợp pháp hóa các tranh chấp chủ quyền của họ.
  • Lợi ích kinh tế: Mỗi năm, thương mại trị giá 5.300 tỉ đô la đi qua khu vực biển Đông, trong đó phần của Mỹ là 1.200 tỉ đô la. Nếu một cuộc khủng hoảng xảy ra, các tàu vận chuyển hàng hóa sẽ chuyển sang các tuyến đường khác, điều này sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế của các nước trong khu vực, kéo theo sự gia tăng tỷ lệ bảo hiểm và các chuyến quá cảnh dài hơn. Xung đột với bất kỳ quy mô nào ở biển Đông cũng đều cản trở các nước tranh chấp được hưởng lợi từ sự giàu có sẵn có và tiềm năng từ biển Đông.
  • Mối quan hệ hợp tác với Trung Quốc: Những rủi ro và các tác động của bất kỳ sự cố nào liên quan đến hai nước Mỹ-Trung đều lớn hơn nhiều so với các tình huống khác (ND: Nghĩa là giữa Trung Quốc với các nước khác). Hoa Kỳ có lợi ích trong việc giữ gìn sự ổn định trong mối quan hệ Mỹ-Trung, để có thể tiếp tục bảo đảm sự hợp tác của Bắc Kinh trong một danh sách mở rộng về các vấn đề khu vực và toàn cầu và [giúp] Trung Quốc hội nhập chặt chẽ hơn vào hệ thống quốc tế hiện hành.
Lựa chọn các biện pháp ngăn ngừa
Cần tiếp tục các nỗ lực để giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ ở các vùng đất, đảo, đá (land features) trên biển Đông, quyền tài phán chính đáng trên các vùng biển và đáy biển, và tính hợp pháp trong việc tiến hành các hoạt động quân sự bên trong vùng đặc quyền kinh tế của một nước, nhưng khả năng để có bước đột phá trong bất kỳ lĩnh vực này là mong manh, trong tương lai gần. Trong khi đó, Hoa Kỳ nên tập trung vào việc hạ thấp nguy cơ của cuộc đụng độ vũ trang tiềm tàng, phát sinh từ sự tính toán sai lầm hay một sự leo thang trong tranh chấp ngoài ý muốn. Có vài lựa chọn để phòng ngừa, có sẵn cho các nhà hoạch định chính sách ở Mỹ và các  nước khác, nhằm ngăn chặn một cuộc khủng hoảng và xung đột ở biển Đông. Những lựa chọn này không loại trừ lẫn nhau.
Các biện pháp hỗ trợ giúp giảm rủi ro giữa Mỹ và Trung Quốc
Các biện pháp an toàn hoạt động và mở rộng hợp tác hải quân giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể giúp giảm nguy cơ về một vụ tai nạn giữa các tàu và máy bay. Việc tạo ra Hiệp định Tư vấn Hàng hải Quân sự (MMCA) năm 1988, dự định để thiết lập các “quy tắc lộ trình” trên biển tương tự như Hiệp định Ngăn chặn Đụng độ Trên Biển (INCSEA) giữa Mỹ và Liên Xô, nhưng đã không thành công. Cơ chế thông tin liên lạc có thể cung cấp một phương tiện để xoa dịu căng thẳng trong một cuộc khủng hoảng và ngăn chặn sự leo thang.
Các đường dây nóng để liên lạc, liên quan đến các vấn đề chính trị và quân sự đã được thiết lập, mặc dù các viên chức Mỹ không tin tưởng những người đồng nhiệm Trung Quốc sẽ sử dụng trong cuộc khủng hoảng. Thêm một đường dây nóng khác để xử lý các trường hợp khẩn cấp trên biển nên được thiết lập ở mức độ hoạt động, cùng với một thỏa thuận chính trị đã ký, cam kết cả hai nước phải trả lời điện thoại khi có một cuộc khủng hoảng xảy ra. Tập trận hải quân chung nhằm gia tăng khả năng của hai nước hợp tác chống cướp biển, hỗ trợ nhân đạo, và các hoạt động cứu trợ thiên tai, có thể gia tăng sự hợp tác và giúp ngăn chặn một cuộc xung đột Mỹ – Trung.
Củng cố khả năng của các nước trong khu vực
Có thể thực hiện các bước nhằm nâng cao hơn nữa khả năng của quân đội Philippines, để bảo vệ các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của họ, nâng cao nhận thức lãnh thổ trong nước, điều này có thể ngăn cản hành động hiếu chiến của Trung Quốc. Tương tự, Hoa Kỳ có thể giúp gia tăng khả năng giám sát trên biển cho Việt Nam, cho phép lực lượng quân sự theo đuổi hiệu quả hơn chiến lược chống tiếp cận và chống xâm nhập (A2/ AD). Các biện pháp như thế có thể gặp rủi ro là khuyến khích Philippines và Việt Nam thách thức Trung Quốc nhiều hơn và có thể gia tăng sự mong đợi của các nước này về sự giúp đỡ của Hoa Kỳ trong một cuộc khủng hoảng.
Khuyến khích giải quyết tranh chấp chủ quyền
Hoa Kỳ có thể thúc đẩy việc đệ trình tranh chấp lãnh thổ ra Tòa án Công lý Quốc tế hoặc Tòa án Quốc tế về Luật biển để giải quyết, hoặc khuyến khích một tổ chức bên ngoài hay kêu gọi một bên trung gian để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, triển vọng về sự thành công trong những trường hợp này là mỏng manh do Trung Quốc có khả năng chống lại các lựa chọn như vậy. Các sự lựa chọn khác để giải quyết tranh chấp chủ quyền sẽ khó khăn, nhưng không có nghĩa là không thể được sử dụng để đàm phán. Một trong những đề xuất như thế, đã được [các tác giả] Mark Valencia, Jon Van Dyke và Noel Ludwig đưa ra trong cuốn sách: Chia sẻ tài nguyên ở biển Đông, sẽ thiết lập “chủ quyền khu vực” đối với các đảo ở biển Đông trong sáu nước đòi chủ quyền, cho phép họ cùng quản lý tập thể các đảo, lãnh hải và không phận.
Một sự lựa chọn khác do Peter Dutton thuộc trường Cao đẳng Hải chiến đưa ra, sẽ tranh đua với việc giải quyết các tranh chấp về đảo Svalbard, một hòn đảo nằm giữa Na Uy và Greenland. Hiệp ước Spitsbergen, được ký vào năm 1920, trao phần lớn chủ quyền đảo Svarlbard cho Na Uy nhưng được giao các quyền liên quan đến tài nguyên cho tất cả các nước ký tên. Giải pháp này tránh được sự xung đột về tài nguyên và cho phép việc tiến tới nghiên cứu khoa học. Áp dụng mô hình này vào biển Đông có thể đưa đến việc trao chủ quyền cho Trung Quốc, trong khi cho phép các nước khác được hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên. Trong tương lai gần, ít nhất  một giải pháp như thế có thể không được các nước tranh chấp khác chấp nhận.
Thúc đẩy các biện pháp giảm rủi ro trong khu vực
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc đồng ý các biện pháp đa phương nhằm giảm rủi ro và xây dựng lòng tin trong Tuyên bố Ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) năm 2002, nhưng đã không tôn trọng các quy định trong tuyên bố (ví dụ, để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán mà không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực), cũng không thi hành các đề nghị của mình để thực hiện các hoạt động xây dựng lòng tin và hợp tác. Việc nối lại các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và ASEAN sau một thập kỷ gián đoạn, cho thấy có sự hứa hẹn khôi phục lại các hoạt động hợp tác theo DOC.
Về phương diện đa phương, các cơ chế hiện có và thủ tục đã tồn tại để thúc đẩy an toàn hoạt động giữa các lực lượng hải quân trong khu vực, một thỏa thuận mới là không cần thiết. Hoa Kỳ, Trung Quốc và tất cả các nước thành viên ASEAN, ngoại trừ Lào và Miến Điện là thành viên của Hội nghị Hải quân Tây Thái Bình Dương (WPNS). Được thành lập vào năm 1988, WPNS đưa các nhà lãnh đạo hải quân trong khu vực ngồi lại với nhau, hai năm một lần, để thảo luận về an ninh hàng hải. Năm 2000, WPNS đã cho ra đời quy tắc về các cuộc đụng độ không báo trước trên biển (CUES), trong đó bao gồm các biện pháp an toàn và các thủ tục, cách thức để tạo điều kiện thông tin liên lạc khi tàu và máy bay tiếp xúc. Hơn nữa, còn có các cơ chế khác như Quy tắc Phòng ngừa Đâm va trên biển (COLREGS) của Tổ chức Hàng hải Quốc tế và các quy tắc trên không của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế. Ngoài ra, các lực lượng hải quân trong khu vực có thể hợp tác trong việc bảo vệ môi trường trên biển, các hoạt động nghiên cứu khoa học trên biển, các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra.
Việc tạo ra các cơ chế đối thoại mới cũng có thể đáng để xem xét. Diễn đàn Tuần duyên Biển Đông, theo mô hình Diễn đàn Tuần duyên Bắc Thái Bình Dương, hợp tác trên nhiều lĩnh vực an ninh hàng hải và các vấn đề pháp lý, có thể tăng cường hợp tác thông qua việc chia sẻ thông tin và kiến thức về cách thực hành tốt nhất. Việc tạo ra một trung tâm chia sẻ thông tin trên biển Đông cũng sẽ cung cấp một nền tảng để nâng cao nhận thức và giao tiếp giữa các bên liên quan. Trung tâm chia sẻ thông tin này cũng có thể phục vụ như một cơ chế trách nhiệm, nếu các nước được yêu cầu phải thu thập tài liệu của bất kỳ sự cố nào xảy ra và gửi đến trung tâm.
Ủng hộ khai thác chung/ Hợp tác kinh tế đa phương
Hợp tác [khai thác] tài nguyên là một lựa chọn khác để ngăn ngừa sự cố xảy ra, chưa được các nước tuyên bố chủ quyền trên biển Đông sử dụng đúng mức. Chẳng hạn như, hợp tác khai thác các nguồn tài nguyên dầu khí có thể làm giảm căng thẳng giữa Trung Quốc với Việt Nam, giữa Trung Quốc với Philippines, về các vấn đề liên quan đến an ninh năng lượng và tiếp cận nguồn tài nguyên dầu khí. [Hợp tác] khai thác như thế có thể làm mô hình cho một trong nhiều thoả thuận hợp tác phát triển hiện có ở biển Đông và biển Hoa Đông. Các bên cũng có thể hợp tác về việc tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng thay thế để giảm sự phụ thuộc vào dầu khí.
Các mối quan tâm chung về việc trữ lượng cá ở biển Đông bị giảm sút, cho thấy lợi ích của việc hợp tác nhằm thúc đẩy bảo tồn và phát triển bền vững. Thiết lập một ủy ban nghề cá chung giữa các nước tranh chấp có thể chứng minh sự hữu ích. Hiệp định đánh cá giữa Trung Quốc và các nước láng giềng đã có, có thể mở rộng vào các khu vực tranh chấp để khuyến khích hợp tác nhiều hơn.
Các cam kết của Mỹ phải được truyền tải rõ ràng
Hoa Kỳ nên tránh vô tình khuyến khích các nước tranh chấp tham gia vào các hành vi đối đầu. Chẳng hạn như, hồi tháng 11 năm 2011, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nói tới biển Hoa Nam (tức biển Đông) là biển Tây Philippine, có thể gây hậu quả không lường, như khuyến khích Manila chống lại Trung Quốc thay vì tìm cách giải quyết các khác biệt một cách hòa bình.
Các lựa chọn giúp giảm bớt căng thẳng
Nếu các lựa chọn ngăn ngừa không thể ngăn chặn một cuộc khủng hoảng xảy ra, thì các nhà hoạch định chính sách cũng có một số lựa chọn để giảm bớt những ảnh hưởng tiêu cực tiềm tàng.
Xoa dịu một sự cố giữa Mỹ với Trung Quốc
Lịch sử về việc xử lý khủng hoảng trong quan hệ Mỹ – Trung cho thấy, các nhà lãnh đạo hai nước đã cố gắng hết sức để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng từ leo thang sang xung đột quân sự. Tuy nhiên, trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra, có thể được thực hiện các bước, nhằm hạn chế hậu quả tai hại của cuộc đối đầu. Các thỏa thuận chính trị có thể đạt được sẽ giúp gia tăng khả năng về các cơ chế thông tin liên lạc có sẵn, được sử dụng trong một cuộc khủng hoảng. Các bước cần được thực hiện để tăng cường hoạt động an toàn trên biển giữa các tàu Mỹ và tàu Trung Quốc. Các biện pháp xây dựng lòng tin cũng cần được thực hiện để xây dựng lòng tin và thúc đẩy hợp tác.
Giảm nhẹ một cuộc khủng hoảng khu vực với Trung Quốc
Việc điều các lực lượng hải quân và không quân đến tiếp cận ngay lập tức trong một cuộc đụng độ vũ trang để bảo vệ lợi ích của Mỹ và ngăn chặn sự leo thang hơn nữa, là một sự lựa chọn luôn được cân nhắc. Tuy nhiên, các hành động như thế phải được cân bằng với khả năng rằng nó sẽ tạo ra hiệu ứng ngược lại, khuyến khích một phản ứng mạnh mẽ hơn nữa từ Trung Quốc và gây ra sự leo thang về một cuộc đối đầu nhiều hơn nữa. Một lựa chọn ít rủi ro hơn sẽ là cảnh cáo hậu quả về sự trừng phạt phi quân sự – như các lệnh trừng phạt về ngoại giao và kinh tế – để buộc Trung Quốc phải quay rút lui và ngăn chặn hành động quân sự đi xa hơn. Nhưng, cũng vậy, các biện pháp này có thể kích động hành vi thù địch và làm cho cuộc khủng hoảng leo thang. Cũng không rõ là trong bất kỳ trường hợp nào, liệu các biện pháp như thế có được nhiều nước trong khu vực hỗ trợ hay không, do tầm quan trọng về kinh tế của Trung Quốc.
Có nhiều phản ứng ít khiêu khích có thể ngăn một cuộc khủng hoảng vừa chớm nở, trong khi tránh sự leo thang hơn nữa. Một lựa chọn cho Mỹ sẽ là, khuyến khích một cuộc đối thoại qua trung gian giữa các bên liên quan. Tuy nhiên, trong khi các nước Đông Nam Á có thể chào đón một người hòa giải trung lập, Trung Quốc có thể sẽ phản đối chuyện này. Vì vậy, một nỗ lực như thế có khả năng thất bại.
Các quan chức quân sự liên lạc trực tiếp có thể có hiệu quả trong việc giảm thang một cuộc khủng hoảng. Các nước có liên quan nên thiết lập các cơ chế thông tin liên lạc, bao gồm các điều khoản về các cuộc họp khẩn cấp theo lịch trình và các cuộc họp khẩn cấp chỉ thông báo trong một thời gian ngắn, và tham vấn chỉ thị trong thời gian khủng hoảng. Các cuộc họp khẩn cấp sẽ tập trung vào giải quyết các hành động khiêu khích cụ thể dẫn đến cuộc khủng hoảng. Các đường dây nóng hoạt động, bao gồm các đường dây điện thoại và tần số vô tuyến, với các thủ tục rõ ràng và các điểm tiếp xúc, cũng nên được thiết lập. Để có hiệu quả, các đường dây nóng cần được thiết lập và sử dụng trước khi một cuộc khủng hoảng xảy ra, mặc dù không có sự bảo đảm rằng các đường dây này sẽ được hai bên sử dụng nếu một cuộc khủng hoảng nổ ra. Trung Quốc và Việt Nam đã đồng ý thiết lập một đường dây nóng, đây có thể là mô hình cho các nước khác trong khu vực và Trung Quốc. Mục đích nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản, nhưng để ngăn chặn các căng thẳng trong trường hợp xảy ra một cuộc giao tranh nhỏ và ngăn chặn sự leo thang.
Kiến nghị
Trong bối cảnh cân đối lại lực lượng và chú ý tới khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Hoa Kỳ nên tiến hành các bước để ngăn một cuộc xung đột ở biển Đông và xoa dịu một cuộc khủng hoảng có khả năng diễn ra. Mặc dù khả năng một cuộc xung đột quân sự lớn xảy ra là rất thấp, nhưng một cuộc đụng độ tiềm năng ở biển Đông trong tương lai không xa thì rất cao, do hành động trong quá khứ của các nước trong khu vực và các rủi ro ngày càng gia tăng. Do đó, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ và các nước trong khu vực nên tìm cách tạo ra các cơ chế để xây dựng lòng tin, ngăn ngừa xung đột và tránh sự leo thang.
Trước hết, Mỹ nên phê chuẩn Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS), mặc dù [Hoa Kỳ] tự nguyện tuân theo các nguyên tắc của UNCLOS và chính phủ Obama đã cam kết phê chuẩn công ước, nhưng thực tế là Hoa Kỳ chưa phê chuẩn hiệp ước này, điều đó làm cho người ta tin rằng Hoa Kỳ chỉ tuân theo các công ước quốc tế khi nó gắn liền với lợi ích quốc gia của Mỹ. Phê chuẩn UNCLOS sẽ chấm dứt sự suy đoán này. Phê chuẩn UNCLOS cũng sẽ củng cố lập trường của Mỹ về việc ủng hộ hành vi dựa theo luật lệ, cho phép Hoa Kỳ tham gia hội đàm khi các nước ký kết UNCLOS, thảo luận về các vấn đề như quyền hành trong vùng đặc quyền kinh tế, và nói chung là thúc đẩy lợi ích kinh tế và chiến lược của Mỹ.
Thứ hai, các nước có lực lượng hải quân hoạt động ở biển Đông, gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Việt Nam, và Philippines, nên tận dụng tốt hơn các biện pháp an toàn của các quy tắc và các quy trình về các cuộc đụng độ không báo trước trên biển (CUES) để giảm thiểu tình trạng không rõ ràng và cải thiện thông tin liên lạc trong trường hợp có một sự cố xảy ra trên biển. Theo các thỏa thuận hiện tại, tuân theo các quy trình của CUES là tự nguyện. Những nước tham gia nên cân nhắc việc bắt buộc tuân theo để bảo đảm các quy trình được chuẩn hóa. Các nước cũng nên tham gia vào các cuộc diễn tập trên biển, đa phương và song phương, để thực hành các quy trình này trong một môi trường có kiểm soát, trước khi một sự cố bất ngờ xảy ra.
Thứ ba, Hoa Kỳ cần làm rõ việc hỗ trợ các biện pháp giảm thiểu rủi ro và các biện pháp xây dựng lòng tin giữa các nước tranh chấp ở biển Đông. Hoa Kỳ cần tiếp tục lên tiếng ủng hộ việc thực hiện đầy đủ Tuyên bố Ứng xử (DOC) của Trung Quốc – ASEAN và các thỏa thuận tiếp theo về một quy tắc ứng xử ràng buộc. Bắc Kinh cần một môi trường an ninh khu vực thuận lợi và do đó, họ có động cơ quan trọng để thúc đẩy họ thực hiện một thỏa thuận tạm thời với các nước láng giềng, nhưng không có khả năng họ sẽ làm như thế mà không bị áp lực. Thỏa thuận về một quy tắc ứng xử ràng buộc, đòi hỏi sự đoàn kết giữa tất cả các nước thành viên khối ASEAN và sự ủng hộ mạnh mẽ từ Hoa Kỳ. Trong khi đó, hợp tác cũng cần được tiếp tục, thông qua các chuyến viếng thăm mở rộng, tập trận song phương và đa phương, và tăng cường hợp tác chống cướp biển. Ngoài ra, hợp tác về năng lượng và thủy sản cũng cần được tiếp tục phát huy.
Thứ tư, việc tạo ra các cơ chế đối thoại mới – chẳng hạn như Diễn đàn Tuần duyên Biển Đông, một trung tâm chia sẻ thông tin, và một ủy ban nghề cá chung – sẽ cung cấp cơ hội lớn hơn cho các nước bị ảnh hưởng để thông tin liên lạc trực tiếp và tạo cơ hội phối hợp lớn hơn.
Thứ năm, Hoa Kỳ cần xem xét các hoạt động giám sát và do thám trên không và trên biển, tiếp giáp với đường biên giới lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc và đánh giá tính khả thi trong việc giảm tần số hoặc tiến hành các hoạt động ở một khoảng cách xa hơn. Bất kỳ sự giảm bớt các hoạt động giám sát và do thám gần của Mỹ, đòi hỏi phải có sự đánh giá, liệu chỉ có hoạt động giám sát hay do thám đó mới cung cấp thông tin có giá trị hay còn có cách nào khác để thu thập thông tin tình báo, có thể cung cấp thông tin đầy đủ về sự phát triển quân sự của Trung Quốc. Hoa Kỳ không nên đơn phương thực hiện một bước như thế, mà nên tìm kiếm sự nhượng bộ từ Bắc Kinh để Trung Quốc không phải diễn giải hành động đó là bằng chứng Mỹ bị suy yếu.
Thứ sáu, Thỏa thuận Tư vấn Quân sự Hàng hải nên làm cho nó có hiệu lực hoặc hủy bỏ. Một nhu cầu bức thiết để Mỹ và Trung Quốc đồng ý về các quy tắc an toàn hoạt động nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra một cuộc xung đột trong những năm tới. Một thỏa thuận về “sự cố trên biển” chính thức, cần được xem xét.
Thứ bảy, Washington cần phải làm rõ từng cuộc đối thoại riêng với Manila và Hà Nội về nghĩa vụ và các cam kết của Hoa Kỳ, cũng như các giới hạn về sự tham gia của Mỹ trong các tranh chấp trong tương lai. Làm rõ các điểm này là cần thiết, để tránh một kịch bản mà các nước trong khu vực được khuyến khích đối đầu mạnh mẽ hơn với Trung Quốc, cũng như để ngăn chặn sự rút lui trong các mối quan hệ của Mỹ với các nước trong khu vực, do nhận thức về các kỳ vọng của họ không được đáp ứng.
Tác giả: Bonnie S. Glaser là Chuyên gia nghiên cứu cao cấp, thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS).
Nguồn: Council On Foreign Relations
Bản tiếng Việt © BS2012


Những sự thật không thể chối bỏ (phần 2) – Hồ Chí Minh và vai trò trong công hàm 1958

Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Để nối tiếp chuỗi bài về những sự thật không thể chối bỏ, tôi xin trình bày về các vấn đề: Có hay không công hàm 1958, công hàm đó có phải là công hàm bán nước hay không và vai trò của ông Hồ Chí Minh trong công hàm bán nước 1958 cho Trung cộng. Từ trước đến giờ chúng ta luôn coi nó là tác phẩm của ông Phạm Văn Đồng. Nhưng sự thực có phải thế không. Vấn đề này không mới nhưng nó được chứng minh theo hướng mới và quan trọng hơn là vai trò của ông Hồ trong sự kiện này. Tôi xin trình bày dưới bài viết này.

Công hay tội?

Le Nguyen (Danlambao) - Cuộc cách mạng mùa thu năm 1989 nổ ra ở Đông Âu, khởi đầu từ Ba Lan (Poland) lan sang Hung Gia Lợi (Hungary), Đông Đức (East Germany), Bảo Gia Lợi (Bungary), Tiệp Khắc (Czechoslovakia), Lỗ Ma Ni (Rumany)… đánh sập hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa và tiến thẳng vào tận sào huyệt Liên Bang Xô Viết (Soviet Union) được những người cộng sản ra rả ca ngợi là thành trì xã hội chủ nghĩa. Sự sụp đổ thảm hại đó, cũng chính là lúc khẩu hiệu “chủ nghĩa Marx-Lenin bách chiến bách thắng” được cộng sản Việt Nam âm thầm hạ xuống và nhanh chóng biến khỏi đời sống của người dân Việt Nam. Thế nhưng, khi tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoang tưởng kia không còn lừa bịp được ai nữa, trừ những kẻ có vấn đề về tư duy cùng với những người cộng sản mê cuồng, họ lại dồn nỗ lực, tập trung vào “tuyên truyền giáo dục” cái được gọi là đạo đức Hồ Chí Minh, là sự lãnh đạo sáng suốt tài tình của đảng cộng sản Việt Nam nhằm lừa mị nhân dân để bảo vệ vị thế độc quyền cai trị đất nước của đảng cộng sản.

Vụ tố cáo “tổ chức đánh bạc” tại trụ sở THADS Tp. Lào Cai: Sẽ xử lý nghiêm

Xuân Thao (congly.vn) - Đó là quan điểm của Uỷ ban kiểm tra (UBKT) Thành uỷ Lào Cai, cũng là chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành uỷ Lào Cai mà trực tiếp là Bí thư Thành uỷ về vụ việc tổ chức đánh bạc tại trụ sở THADS (Thi hành án dân sự) Tp. Lào Cai. Cùng với việc xem xét trách nhiệm của Chi uỷ Chi cục THADS, sẽ xử lý những đảng viên vi phạm quy định của Đảng…

Vốn ODA: Việt Nam nói “Đ.M. kiểm toán nhầm!”

David Thiên Ngọc (Danlambao) - Trong xã hội CSVN từ các cấp chính quyền, cơ quan, tổ chức TƯ đến cán bộ thôn xóm nơi xa xôi hẻo lánh thì cái văn hóa “Nhầm” và kéo theo những lời thề thốt, hứa hẹn, đổi trắng ra đen… hình như không có gì để ta phải bàn hay quan tâm. Bởi đó là bản chất của con người và chủ nghĩa cộng sản.

Cán bộ văn hóa hiếp dâm người thuê trọ

Duy Nhân (NLĐO) - Ngày 8-6, Cơ quan CSĐT Công an TP Cà Mau (Cà Mau) cho biết hiện đang tiếp tục điều tra làm rõ hành vi hiếp dâm của Lê Trọng NgHĩa (41 tuổi), cán bộ phụ trách văn hóa đồng thời là đại biểu HĐND của phường 6, TP Cà Mau.

Thương lái Trung Quốc lại giở trò

Nguyễn Hải (NLĐO) Nhiều thương lái Trung Quốc yêu cầu các doanh nghiệp Việt Nam trộn gạo trắng thường với gạo thơm theo tỉ lệ 50:50 rồi mua về nước bán với mác gạo thơm. Theo lãnh đạo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, đây là hành động cố tình phá hoại nền sản xuất và xuất khẩu gạo của nước ta.

Gái đẹp đè bẹp Quốc hội

Phan An Thông tin về các kỳ họp Quốc hội luôn thu hút sự quan tâm của dư luận, đặc biệt là các phiên chất vấn của các ông nghị đối với các thành viên Chính phủ. Nhưng, tại kỳ họp này (21/5/2012-21/6/2012) dường như nghị trường im hơi lặng tiếng hơn trên mặt báo, đặc biệt là báo điện tử. Mà thay vào đấy là những Trang Nhung, Mỹ Xuân, Thiên Kim, … đua nhau ra giá, quất.. bao nhiêu một phát, giá của gái đẹp nào cao hơn gái đẹp nào… trên trang chính, tiêu điểm của từng tờ báo.

Viết tiếp câu chuyện hai anh em nhà gấu

Xin cảm ơn TS Alan, lấy cảm hứng từ bài viết của TS: “Chuyện con ve và con kiến”
Nguyễn Văn Thạnh (Danlambao) - Hẳn, trong chúng ta, thời tuổi trơ cắp sách đến trường, ai cũng được cô giáo kể cho nghe câu chuyện về hai anh em nhà gấu. Câu chuyện được tóm tắt như sau:

Vũ khí và Nhân quyền

Biếm họa : Kỳ Văn Cục (Facebook Nguyễn Tâm Thiện)
 

Trung Quốc – Việt Nam Những cảnh báo về quan hệ thương mại bất đối xứng

SGTT.Vn – Buôn bán với Trung Quốc chiếm khoảng 18,4% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam, trong khi Việt Nam chỉ chiếm 0,98% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc.
Trung Quốc đang sử dụng kết hợp cả sức mạnh quân sự và kinh tế để chèn ép các nước mà Trung Quốc đang tranh chấp ở Biển Đông. Nạn nhân đầu tiên từ đòn trừng phạt kinh tế của Trung Quốc là Philippines. Mặc dù xuất khẩu trái cây và ngành du lịch đang chịu thiệt hại nặng nề, nhưng Manila vẫn phải xuống nước khi đối thoại với Bắc Kinh, cũng như bác bỏ các ý kiến của một số quan chức chính phủ nước này đòi trừng phạt trả đũa Trung Quốc. Sự yếu thế của Philippines là do tính bất đối xứng trong thương mại giữa hai nước. Vậy nếu Trung Quốc sử dụng cách này đối với Việt Nam thì sẽ có những hệ quả gì, đặc biệt từ góc nhìn về tính bất đối xứng trong thương mại Việt – Trung?
Từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc luôn giữ vị trí đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam với mức tăng trưởng kim ngạch thương mại đạt trên 20%/năm. Tổng kim ngạch thương mại Việt Nam – Trung Quốc trong năm 2011 là 35,7 tỉ USD và Chính phủ hai nước đã thông qua mục tiêu “60 tỉ USD vào năm 2015”. Buôn bán với Trung Quốc chiếm khoảng 18,4% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam, trong khi Việt Nam chỉ chiếm 0,98% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc.
Năm 2011, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam (chiếm 11,3% tổng giá trị xuất khẩu) nhưng lại là thị trường nhập khẩu lớn nhất (23,2% tổng giá trị nhập khẩu). Trong khi đó, giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ chiếm 0,6% tổng giá trị nhập khẩu của Trung Quốc và tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc chỉ chiếm 1,3% tổng giá trị xuất khẩu của nước này. Nguy hiểm hơn, cán cân thương mại Việt Nam – Trung Quốc đang mất cân bằng trầm trọng với tốc độ gia tăng nhanh chóng. Nhập siêu từ Trung Quốc vào Việt Nam đã tăng từ 135 triệu USD năm 2001 lên tới 13,5 tỉ USD vào năm 2011.
Những con số chênh lệch trên đã cho thấy phần nào sự bất đối xứng nghiêm trọng về lượng trong quan hệ thương mại hai nước; nhưng đó chỉ mới là các con số tổng quan.
Nếu đi sâu vào các sản phẩm xuất khẩu và nhập khẩu giữa hai nước, sự bất đối xứng về chất còn đáng chú ý hơn. Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là nguyên liệu, nhiên liệu và khoáng sản sơ chế như khoai mì (chiếm hơn 90% tổng sản lượng xuất khẩu), cao su (61,4% tổng sản lượng xuất khẩu), dầu thô (15,2% tổng sản lượng xuất khẩu), than đá (78,3% tổng sản lượng xuất khẩu)…, bao gồm cả alumin sơ chế của dự án bôxít Tây Nguyên.
Trong khi đó, sản phẩm chúng ta nhập khẩu nhiều nhất là máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử và Trung Quốc là nhà xuất khẩu hàng đầu các sản phẩm này vào Việt Nam (chiếm khoảng 33,3% tổng giá trị nhập khẩu máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử và 5% tổng giá trị nhập khẩu của tất cả các sản phẩm) nhưng với họ, việc xuất khẩu những sản phẩm trên chỉ chiếm khoảng 0,26% tổng giá trị xuất khẩu. Sự bất đối xứng còn cay đắng hơn khi Việt Nam xuất khẩu cao su và nhập lại vỏ ruột xe, xuất khẩu quặng khoáng sản và nhập lại sắt thép, xuất khẩu than và nhập lại điện… từ Trung Quốc.
Những ngày vừa qua, nổi lên hai sự kiện làm người nông dân điêu đứng là việc thương lái Trung Quốc không mua dứa sau khi đã đặt trạm thu mua với giá cao và ép giá khoai nhờ thao túng thị trường. Hậu quả là hai mặt hàng này rớt giá nhanh chóng, thậm chí là dứa rớt giá hơn một nửa và khoai lang nhập khẩu sang Trung Quốc rớt giá hơn 70%. Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc sử dụng “cái bẫy tăng giá” thời gian đầu để thao túng thị trường rồi sau đó đồng loạt ngừng mua và ép giá để thu mua số lượng lớn, khiến người nông dân khốn đốn và gây thiệt hại lớn đến sản xuất nông sản của Việt Nam.
Mặc dù Trung Quốc là đối tác nông sản hàng đầu và gần như nắm quyền thao túng thị trường một số sản phẩm nông sản Việt Nam nhưng việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thực phẩm sang Trung Quốc vẫn theo hình thức biên mậu, không có hợp đồng nên người dân bị ép giá là chuyện thường xảy ra. Dứa và khoai lang không phải là hai sản phẩm xuất khẩu chủ lực sang Trung Quốc và có thể bảo quản được lâu hơn các mặt hàng khác nên thiệt hại vẫn chưa quá lớn, nhưng nếu Trung Quốc đồng loạt sử dụng “cái bẫy” trên đối với tất cả các mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc thì hậu quả thật khó lường, đặc biệt là đối với các mặt hàng khó bảo quản như rau, dưa hấu, xoài, vải thiều,…
Đối với các sản phẩm máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử… lại xảy ra một rủi ro khác. Hiện nay, Việt Nam đang quá phụ thuộc vào nguồn cung này từ phía Trung Quốc bởi nó rẻ và phù hợp với tình trạng phát triển của Việt Nam, nhưng sự chênh lệch thị phần xuất nhập khẩu của máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử giữa hai nước lại quá lớn, do đó, nếu Trung Quốc cấm xuất khẩu các sản phẩm (có chất lượng) sang Việt Nam thì sự phát triển và quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá của Việt Nam sẽ bị đình trệ.
Đó là sự bất đối xứng về độc quyền khi thị trường xuất khẩu nguyên liệu, nhiên liệu, khoáng sản sơ chế và thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử của Việt Nam quá phụ thuộc vào Trung Quốc và gần như không có nguồn nào khác để thay thế. Chỉ mới bất đối xứng về lượng và chất nhưng Philippines đã chịu thiệt hại lớn do lệnh trừng phạt của Trung Quốc, thì sự bất đối xứng cả về lượng, chất và độc quyền đối với những mặt hàng xuất nhập khẩu chủ lực của Việt Nam lại vẽ ra một thiệt hại khủng khiếp hơn nhiều.
Lời cảnh báo về bất đối xứng quan hệ thương mại trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông đang gia tăng sức nóng – hơn bao giờ hết – cần được “đặt lại trên bàn nghị sự”.
Vũ Thành Công
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét