Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2014

Báo chí có bị hạn chế khi đưa tin ở QH?

'VN có vẻ đang làm sạch khối ngân hàng'

Đánh giá mới nhất của hai tờ báo nước ngoài tuần này cho thấy Việt Nam có vẻ đang tăng cường nỗ lực làm sạch hệ thống ngân hàng.
Tạp chí Anh The Economist ngày 15/11 đặt vấn đề: “Với các ông chủ ngân hàng Việt Nam, nhà tù đang trở thành nơi sinh hoạt bất tiện.”
Sự kiện mới nhất là vụ bắt giữ ông Hà Văn Thắm hôm 24/10.
Cùng với vụ bắt tạm giam bốn tháng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đình chỉ chức vụ chủ tịch, thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương đối với ông Hà Văn Thắm.
Thị trường bị sốc vì vụ bắt ông Hà Văn Thắm
Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương, một trong 37 ngân hàng tư nhân ở Việt Nam, cũng miễn nhiệm chức danh Chủ tịch HĐQT của ông Thắm.
Trước đó hồi tháng Sáu, một trong những người từng giàu nhất Việt Nam, ông Nguyễn Đức Kiên, bị án tù 30 năm.
Nhiều cán bộ tại ngân hàng lớn nhất Việt Nam, Agribank, đã mất chức, và một người còn nhận án tử hình.

Nợ xấu
Theo The Economist, các ngân hàng Việt Nam “rõ ràng mắc bệnh quản lý kém và giám sát yếu”.
“Bốn ngân hàng nhà nước mạnh tay cho vay với các doanh nghiệp nhà nước quản lý kém, trong khi các ngân hàng tư nhân (chiếm đa số các khoản cho vay) thì đổ tiền cho giới xây dựng, dẫn đến bong bóng bất động sản đã nổ vào năm 2010.”
Một luật sư từ văn phòng luật nước ngoài ở Tp HCM được báo này dẫn lời nói “Chuyện thường xảy ra là nhân viên phê duyệt các khoản vay hoặc giám đốc ngân hàng nhận hối lộ để giải quyết cho vay."
Đầu năm nay, cơ quan đánh giá Moody’s ước tính nợ xấu ở Việt Nam là 15%, cao hơn nhiều so với con số 4.7% do Ngân hàng Nhà nước đưa ra.
Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam được cho là đang giảm bớt
Tạp chí The Economist chỉ ra rằng dù con số thật là gì, thì nợ xấu đang dần biến khỏi sổ sách ngân hàng nhờ Công ty quản lý tài sản Việt Nam (VAMC), được chính phủ thành lập năm 2013.
Có vẻ như VAMC mua lại nợ xấu dựa trên giá trị sổ sách của ngân hàng, vốn cao hơn giá trị thật.
VAMC cho biết đã mua lại khoản nợ trị giá 2.5 tỉ đôla và hy vọng con số này lên tới 5 tỉ đôla vào cuối năm.
Đổi phương pháp
Theo trang tin của Mỹ Bloomberg, từ khi VAMC ra đời, tỉ lệ nợ xấu đã giảm từ 17% năm 2012 xuống còn 5.4%.
Cũng theo Bloomberg ngày 13/11, VAMC sẽ bắt đầu áp dụng thí điểm mua nợ theo giá thị trường chứ không còn dựa vào giá trị sổ sách và hoàn toàn chuyển sang mô hình này vào năm 2016.
Trả lời Bloomberg, ông Nguyễn Quốc Hùng, Chủ tịch VAMC nói phương pháp mới sẽ “giúp thúc đẩy quá trình xử lý nợ xấu và khuyến khích tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng”.
“Tôi tin rằng, VAMC sẽ có thể mua và bán nợ xấu với tiến độ nhanh hơn trong năm tới khi đã có hơn 1 năm kinh nghiệm.”, ông Hùng nói.
Ông Hùng cho biết 95% các khoản nợ xấu mà VAMC đã mua có tài sản đảm bảo là bất động sản.
Bà Phan Thị Chinh, Phó Tổng giám đốc ngân hàng BIDV, nhận xét việc chuyển sang cơ chế mua nợ theo giá thị trường sẽ giúp đẩy mạnh quá trình xử lý nợ xấu.
“Tuy nhiên, điều này phải đi kèm với một phương thức thanh toán tốt hơn, chẳng hạn như tiền mặt, chứ không phải chỉ là phát hành trái phiếu cho các ngân hàng như hiện nay,” bà nói.
Các diễn biến mới nhất dường như cho thấy Việt Nam đang cố gắng cải thiện lòng tin của thị trường vào hệ thống ngân hàng.
Nói với The Economist, ông Eugene Tarzimanov từ Moody’s, nói các vụ bắt giữ gần đây là “dấu hiệu tích cực rằng giới quản lý và nhà chức trách nghiêm túc” muốn làm sạch ngân hàng.
Nhưng ngược lại, The Economist nói, nhiều người Việt Nam lại chỉ xem các vụ bắt giữ là “cuộc tranh đấu quyền lực giữa một thủ tướng cải cách và một chủ tịch nước cùng tổng bí thư bảo thủ hơn”.
Ít ai biết sự thực là thế nào. Nhưng điều rõ ràng, theo The Economist, “nếu thiếu khu vực ngân hàng lành mạnh, Việt Nam sẽ khó quay lại thời kỳ tăng trưởng 7-8% đã từng có trước khủng hoảng”.
(BBC)

Báo chí có bị hạn chế khi đưa tin ở QH?

Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Việt Nam giải thích có hay không việc báo chí “không được đưa tin công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm”.
Chiều 13/11, Văn phòng Quốc hội gây ngỡ ngàng khi ra thông cáo báo chí “đề nghị” báo chí không tham dự, đưa tin việc công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với 50 chức danh được Quốc hội bầu và phê chuẩn.
Việc lấy phiếu tín nhiệm với các quan chức sẽ diễn ra ngày thứ Bảy 15/11.
Ngay sau đó, Văn phòng Quốc hội lại có thông cáo mới để đính chính rằng báo chí được đưa tin, nhưng không rõ các phóng viên được tham dự như thế nào.
Chiều 14/11, ông Nguyễn Hạnh Phúc Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, lên tiếng chính thức rằng "không có chủ trương hạn chế báo chí".
Báo chí sẽ được quay hình ảnh bỏ phiếu vào sáng 15/11.
“Sau đó khi kiểm phiếu thì chờ, sau khi có kết quả rồi thì báo chí được ghi, nghe, thông tin đầy đủ cho cử tri biết về kết quả của việc bỏ phiếu đó,” ông Phúc được báo Người Lao Động dẫn lời.
Trang VTC News trích thêm lời ông Phúc giải thích đã có “nhầm lẫn trong cách diễn đạt” của cán bộ văn phòng.
“Quốc hội không có chủ trương hạn chế báo chí, tất cả đều được làm theo đúng tinh thần Nghị quyết 35, thông tin công khai minh bạch kết quả lấy phiếu tín nhiệm đến cử tri,”, ông Phúc khẳng định.
’30 phút suy nghĩ’
Theo ông Phúc, một điểm mới trong lần lấy phiếu thứ hai này là Quốc hội sẽ dành thời gian 30 phút để các đại biểu có thời gian suy nghĩ, cân nhắc trước khi ghi vào phiếu.
Ông nói sau khi chuyển về địa điểm Quốc hội mới, các đại biểu có chỗ ngồi rộng rãi, không phải ngồi ghi phiếu cạnh nhau như lần trước.
“Bây giờ thì hội trường của ta cũng rộng rãi rồi, đại biểu ngồi đâu cũng được, ngồi trong hội trường cũng được, về các đoàn của mình ghi phiếu cũng được, sau đó hẹn nhau 30 phút quay lại. Như vậy thì các đại biểu không phải chịu áp lực gì, thoải mái thời gian suy nghĩ, cân nhắc trước khi ghi vào lá phiếu,” ông Phúc nói.
Ông cũng nói thêm: “Lần này khi các đại biểu ghi phiếu thì phóng viên không vào, để thời gian cho đại biểu yên tĩnh suy nghĩ, để ghi phiếu cho chính xác.”
Quốc hội Việt Nam sẽ lấy phiếu tín nhiệm với 50 chức danh, trong đó có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch QH, Phó chủ tịch QH, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng…
(BBC)

Hải Như - Cần biết xấu hổ

Nhìn ra xã hội hôm nay, chúng ta có nên “báo động” với nhau về một lớp người đã không còn biết liêm sỉ, không còn biết xấu hổ?
Có một lần khi coi trên màn ảnh nhỏ, mấy em gái con nhà lành do ham chơi đua đòi và cả do đến tuổi không có công ăn việc làm, đã nghe kẻ xấu rủ rê đi làm nghề “bán mình dễ dãi”. Mấy em gái đó bị công an truy quét bắt được trong lúc “hành nghề”. Tôi không khỏi bùi ngùi khi thấy các em lấy hai tay che mặt trước ống kính máy ghi hình.
Thú thật, tôi thấy lòng đau nhói vì đọc thấy những bàn tay của các em đưa lên che mặt dấu hiệu của sự ăn năn hối lỗi. Các em biết hổ thẹn vì chót lầm lỡ làm nhục gia đình, dòng họ. Giận mà thương. Mừng thay các em còn biết xấu hổ!
Hanowindow® Group cam kết nói không với thuốc lá tại nơi công cộng!
Ảnh minh họa
Một lần khác, tôi coi lên màn ảnh nhỏ theo dõi một phiên tòa xử vụ án tham nhũng. Mấy bị can là quan chức phải ra đứng trước vành móng ngựa vẫn ngang nhiên đi đứng vẻ “quan dạng” khi tòa hỏi cung. Tôi quan sát thấy nét mặt họ không mảy may xao động ăn năn tội lỗi, mà lại nhơn nhơn như thường.
Nhìn ra xã hội hôm nay, chúng ta có nên “báo động” với nhau về một lớp người đã không còn biết liêm sỉ, không còn biết xấu hổ nữa rồi. Khi báo chí đưa tin ở một vài địa phương có các quán “cơm tù” tự do hoành hành khách đi xe đò (xe khách) mà người đứng đầu địa phương đó cùng người đứng đầu ngành giao thông không biết xấu hổ thì thật hết chỗ nói!
Khi các cơ quan thông tin đại chúng đưa tin về một bến sông của địa phương nọ có người lái đò mù đã mấy chục năm chở người sáng mắt mà người đứng đầu địa phương đó cùng lãnh đạo ngành giao thông không thấy giật mình về việc thiếu đi sâu đi sát dân. Các vị “công bộc” trên không cảm thấy xấu hổ về bệnh quan liêu mãn tính thâm nhập cơ thể bộ máy công quyền thì ôi thôi?
Khóa họp Quốc hội kỳ này đánh dấu một dấu hiệu mới đáng hoan nghênh, khuyến khích tranh cãi và không để các vị Bộ trưởng chỉ có báo cáo thành quả là cơ bản mà còn đòi hỏi các người đứng đầu ngành phải trả lời thẳng vào các câu chất vấn của đại biểu.
Nhưng… cử tri cả nước theo dõi trên màn hình không thể không chép miệng buồn về thái độ nhận thiếu sót của vài vị. Những thiếu sót làm nên những “mảng tối” của đời sống người dân, kéo lùi bước đi lên của đất nước đổi mới.
Trên nét mặt các vị quan đầu ngành tuy có lúng túng trong việc trả lời nhưng không thấy lộ ra một nét nào bộc lộ sự hổ thẹn về năng lực quản lý yếu kém của mình.
Không thấy một vị nào đỏ mặt về việc quản lý ngành mình để xảy ra sai sót, thảm họa gây nên những thất thoát tiền hàng trăm nghìn tỷ của dân.
Tôi quan sát ngược lại, thấy người xấu hổ và đỏ mặt đến nổi giận lại là những cử tri ngồi trước màn hình khi họ liên hệ về sự phát triển chậm trễ đất nước mình so với các quốc gia láng giềng.
Chúng ta đều biết nước Nhật sau khi thua trận trong thế chiến thứ hai theo nhà báo Pháp Robert Guillain trong cuốn phóng sự: “Nước Nhật cường quốc thứ 3 thế giới” đã phát hiện cả nước Nhật có một khẩu hiệu duy nhất mà nhà báo tới đâu cũng gặp.
Khẩu hiệu “Phẫn Nộ Đồ Cường” dịch tạm là Hãy biết tức giận sao đất nước mình lại không “mạnh giàu?”. Tôi cứ nghĩ nên chăng Nhà nước ta hôm nay có nên nghiên cứu đưa ra một khẩu hiệu tương tự.
Khẩu hiệu “Hãy Cần Biết Xấu Hổ” thức tỉnh cả quan và dân để chóng đưa đất nước ra khỏi đói nghèo, sánh vai cùng các quốc gia bạn trong khu vực. Sự “im lặng đáng sợ” không còn biết xấu hổ đang là căn bệnh ác tính xâm nhập hủy hoại cơ thể tâm hồn lành mạnh của chúng ta. Có thể nào chúng ta lại không dám nhìn vào sự thật đáng xấu hổ này để “báo động” với nhau?
“Xấu hổ lại loại hình nổi giận hướng vào bên trong, nếu như cả một dân tộc biết xấu hổ thì nó sẽ mang sức mạnh của con sư tử thu mình lại để chuẩn bị phóng tới”. Câu nói trên đây là của Marx, tôi xin trích dẫn trong “Toàn tập Marx-Engels” do Nhà xuất bản Sự thật ấn hành - tập 1 trang 487.
Nhà Thơ Hải Như
(Tiền Phong)

Kỳ Duyên - Nghi án “hoa hồng” và Đại tướng quân xứ người

Cả hai vụ có “yếu tố nước ngoài”, dù xấu tốt, hay dở khác hẳn nhau, nhưng đều cho thấy tư duy quản lý, nền quản trị quốc gia từ vĩ mô tới vi mô của nước Việt đang phải “Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước/ Chọn một dòng hay để nước trôi?”
Chọn dòng tư duy văn minh, văn hóa mềm dẻo, thực tiễn của nhân loại hay… ngược lại.
I-Nổi bật trong tuần có hai vụ việc, một dở, một hay, đều liên quan đến “yếu tố nước ngoài”, đều gây sốc, nhưng dư âm của nó, như tên gọi một ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý xa xưa thuở nào, thì đều rất… đáng buồn
Xin nói về chuyện dở trước.
Đó là nghi án “hoa hồng” của công ty sản xuất và kinh doanh dụng cụ y khoa Bio-Rad Laboratories (gọi tắt là Bio-Rad) ở bang California (Mỹ).
Nghi án, hoa hồng, Đại tướng quân, xứ người, Ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, hối lộHoa hồng vốn thơm và rất đẹp. Còn ở trường hợp này, “hoa hồng” là thứ hoa rất xấu. Mùi của nó chỉ nói lên nhân cách tồi tệ của cả hai bên, bên nhận- bên cho.
Hoa hồng của công ty Bio- Rad được “tặng” cho ba quốc gia, trong đó, VN là một. Và giá trị hoa hồng không nhỏ- 2,2 triệu USD cho các quan chức ngành y tế VN, trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2010. Đổi lại, Bio-Rad ký kết được hợp đồng ở VN với doanh số 23,7 triệu USD, gấp hơn chục lần.
Trát lệnh đăng trên trang web của Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái (Mỹ) đã cho thấy con đường gieo trồng “hoa hồng” cho một số quan chức y tế VN của công ty này tinh vi, già đời thế nào.
Từ năm 2005 đến cuối năm 2009, Bio-Rad duy trì một văn phòng đại diện ở VN. Theo chỉ đạo của giám đốc văn phòng đại diện, các nhân viên bán hàng của công ty đã “chi tiền mặt cho lãnh đạo các bệnh viện và phòng thí nghiệm tại Việt Nam để họ ký hợp đồng mua các sản phẩm của Bio-Rad” (Tuổi trẻ, ngày 07/11). Với quan niệm của vị GĐ văn phòng đại diện “đưahối lộ là lệ thường ở VN”. Cũng theo sổ sách của công ty, tiền hối lộ được gọi là tiền hoa hồng, chi phí quảng cáo và chi phí huấn luyện.
Nghi án, hoa hồng, Đại tướng quân, xứ người, Ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, hối lộ
Thiết bị y tế của Bio- Rad. Ảnh: VTC
Đúng là “lệ thường”. Đến người Mỹ cũng hiểu sâu sắc đặc tính người VN đến thế.
Và cái nhân danh chi phí quảng cáo, chi phí huấn luyện cũng thật là khôn khéo, vì rất ít ai nghĩ rằng đó chính là tiền hối lộ. Nhưng chắc chắn nó là lạt mềm buộc chặt với những ai ai và đem lại mối lợi không nhỏ cho Bio- Rad?
Có điều ở nước Mỹ, với nền quản trị quốc gia khoa học, luật pháp chặt chẽ của họ, thì cái lạt mềm buộc chặt này bị bung ra không thương tiếc. Mới đây, Bio- Rad phải nộp 55 triệu USD để được miễn truy tố hình sự.
Còn với nước Việt, vụ việc này không phải vụ hối lộ có “yếu tố nước ngoài” đầu tiên.
Nếu tính theo những vụ lớn, nổi tiếng, đến nay, tạm thống kê được mấy vụ “có máu mặt”:  Đó là vụ hối lộ của Công ty PCI- Công ty tư vấn Quốc tế Thái Bình Dương (Nhật Bản), với một số quan chức Ban Quản lý dự án PMU tại t/p HCM, điển hình là ông Huỳnh Ngọc Sĩ, nguyên là GĐ Ban Quản lý PMU Đông- Tây.
Gần đây nhất là vụ Nhật Bản xét xử các quan chức nước này phạm tội hối lộ quan chức 03 quốc gia trong đó có VN, để giành được các dự án đường sắt sử dụng nguồn vốn ODA của CP Nhật Bản. Các bị cáo đã khai nộp khoảng 70 triệu yên (640.000 USD) cho 03 quan chức cấp cao của công ty Đường sắt VN, từ 2009 đến 2014.
Và nay, đến vụ công ty Bio- Rad.
Khỏi phải nói sự phản ứng tích cực của ngành y tế trước vụ việc động trời này. Ngay lập tức, Bộ Y tế có công văn đề nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền vào cuộc điều tra xem xét. Bản thân Bộ cũng thành lập một tổ công tác đặc biệt do một Thứ trưởng phụ trách điều tra, thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến các trang thiết bị, hóa chất, thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế do công ty này sản xuất, lưu hành và sử dụng tại VN từ 2005-2009.
Kết quả điều tra bước đầu của cơ quan chức năng cho thấy, có 06 công ty và 08 bệnh viện lớn “dính líu” tới việc mua sắm thiết bị, sản phẩm của công ty này. Tuy nhiên, trong 06 công ty đó, chưa một công ty nào chủ động báo cáo về việc mua sắm các thiết bị, hóa chất, thuốc men. Mọi việc điều tra, tìm kiếm thông tin, chứng cứ vẫn đang còn tiếp tục, và chưa thể có kết luận gì rõ ràng.
Dù vậy, có rất nhiều điểm rõ ràng cần được đặt ra ở các vụ việc hối lộ, tham nhũng mang yếu tố nước ngoài, từ trước tới nay, trong đó có vụ Bio- Rad.
Vì sao tất cả các vụ tham nhũng, ăn hối lộ của người Việt có yếu tố nước ngoài đều bị phát hiện ở … ngoài nước Việt? Để đến khi vỡ lở trên thông tin quốc tế, nổi tiếng khắp cõi hồng trần, các cơ quan, các ngành chức năng nước Việt mới “chạy theo”, “ăn theo” điều tra, tìm chứng cứ?
Ở cả 03 vụ tham nhũng, ăn hối lộ trước đây, trừ vụ PCI đã đưa ra ánh sáng chứng cứ ăn hối lộ của một số quan chức Việt, còn lại  dự án liên quan đến đường sắt VN, rút cục lửng lơ, không tìm ra kẻ phạm tội.
Điều đó vô tình tạo ra một tiền lệ tâm lý rất xấu cho những kẻ tham nhũng rắn mặt rằng, ngay cả khi vụ việc bị bại lộ, cũng chắc gì đã tìm ra được nhân chứng, vật chứng? Thế nên ta cứ nhận (hối lộ) nhưng ta không sợ nhé (xin mượn ý thơ của Hồ Dzếnh). Không phải vô lý khi báo Lao động, ngày 08/11 có bài viết nhan đề: “Những vụ hối lộ được điều tra một nửa”. Vì, một nửa còn núp bóng đêm đen.
Đó là vì “có những trường hợp, kẻ đưa hối lộ đã nhận tội nhưng… không có kẻ nhận hối lộ”. Tài thế! Chả lẽ những kẻ đưa hối lộ xứ người mắc bệnh hoang tưởng?
Nhưng nguyên nhân căn cốt nhất của cả hai hiện tượng trên nằm ở chính cơ chế quản lý của nước Việt. Đó là “văn hóa tiền mặt” vẫn là dòng chủ lưu chính trong đời sống giao thương, trong các dịch vụ dân sự. Chính “văn hóa tiền mặt” là vật cản khủng cho công cuộc phòng, chống quốc nạn tham nhũng. Bởi cơ quan chức năng không hề nắm được nguồn gốc của đồng tiền chính trực hay bất chính, lấy đâu cơ sở thực tiễn để điều tra?
Cái mà lâu nay gọi là công khai minh bạch tài sản, thực chất chỉ là kê khai tài sản của đối tượng, dựa trên “của nổi” không che giấu được, và hoàn toàn không bạch hóa được nguồn gốc của những “của nổi” kia, chưa nói đến “của chìm”.
Vì thế, sự công khai chỉ là nửa vời, và bản chất của sự công khai đó vẫn không hề… minh bạch. Một nửa bánh mì là bánh mì, một nửa sự thật không còn là sự thật. Liệu có ai tin được một vị đại úy công an, sinh năm 1981, con ông cựu Chánh TTCP lại là chủ sở hữu thực chất của 08 sổ đỏ?
Chính vì thế, một khi “văn hóa tiền mặt” còn được ưa chuộng, thì việc kê khai tài sản chỉ là một giải pháp mang tính hình thức. Thì các vụ tham nhũng trong nước cho đến những vụ tham nhũng mang yếu tố nước ngoài còn là phép tính hóc búa không có lời giải, bởi thiếu hẳn một dữ kiện cần thiết nhất để lôi ra nửa sự thật còn lại.
                                                     ***********************
II- Còn đây là chuyện hay.
Báo chí nước Việt mới đây xôn xao vì một thông tin bất ngờ mà nóng sốt: “Hai nông dân Việt được nhà nước Campuchia trao tặng huân chương Đại tướng quân” (Một thế giới ,ngày 10/11). Đó là hai cha con ông Trần Quốc Hải (Tân Châu, Tây Ninh) và con trai ông, Trần Quốc Thanh. Cùng với huân chương Đại tướng quân, Quốc vương Campuchia cũng cấp giấy chứng nhận cha con ông Hải là những nhà kỹ thuật sửa chữa xe bọc thép BRDM 2 và BTR60PB, ghi nhận những đóng góp của hai người cho nền kỹ thuật của đất nước Chùa Tháp.
Nghi án, hoa hồng, Đại tướng quân, xứ người, Ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, hối lộ
Ông Trần Quốc Hải nhận huân chương đại tướng quân. 
Nhưng sau nỗi mừng vui cho hai cha con người nông dân, nay là những nhà kỹ thuật được nước người công nhận, là nỗi buồn đầy day dứt.
Vì sao họ lại nổi danh, và được vinh danh ở xứ người, mà không phải ở nước Việt mình? Như nhiều trường hợp người tài khác.
Vì tên tuổi ông Trần Quốc Hải không hề xa lạ với người nông dân Tây Ninh, cũng không xa lạ với giới truyền thông nước Việt. Nhiều năm trước đây ông nổi danh và có duyên với những cải tiến kỹ thuật phục vụ cho nhà nông, giúp người nông dân tiết kiệm chi phí, thời gian, mang lại hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp. Có thể kể đến những sáng chế, cải tiến kỹ thuật của ông như rơ mooc tự hành, giàn cày cải tiến, máy thổi lá cao su, máy bón phân tự động, máy giặt mủ cao su, máy trồng mì (sắn)…
Nói không ngoa, ông Trần Quốc Hải cũng là một… cái máy cái chế tạo, sinh nở nhiều loại máy nông nghiệp. Điều thú vị, những chiếc máy sáng chế của ông, vừa giảm chi phí, hiệu suất lao động cao, lại rất phù hợp với mặt bằng môi trường lao động ở nông thôn VN.
Khát vọng lớn ở người nông dân ham tìm tòi kỹ thuật này đã đưa ông đến với những cánh bay tự chế. Chiếc máy bay, tuy chưa thành công- nhưng cũng đã khiến ông … thành nhân, khi dân gian trìu mến đặt cho ông cái tên nhà khoa học “Hai Lúa” Trần Quốc Khải. Đủ thấy khát vọng sáng tạo của người nông dân Trần Quốc Khải chưa bao giờ có điểm dừng.
Chỉ có điều, rất có thể những ham mê chế tạo đó mãi mãi ở góc trời miền đông Nam Bộ mà thôi, nếu không có một cơ may bất ngờ. Cơ may đó đưa tên tuổi ông vượt qua lũy tre làng, vượt qua biên giới nước Việt và rạng rỡ ở ngay một quốc gia đang có những bước đi lên đáng chú ý- Campuchia.
Từ người nông dân đến một Đại tướng quân, là khoảng cách của niềm say mê học hỏi và sáng tạo vô hạn.
Cơ may đó bắt đầu từ sự run rủi thường tình. Qua nước bạn để hỗ trợ kỹ thuật máy trồng mì tại lữ đoàn 70, số phận lại đưa ông đến chỗ tự bỏ tiền túi 25000 USD để sửa xe bọc thép BRDM 2 (do Liên xô cũ sản xuất), cho quân đội CPC. Từ chiếc xe đầu tiên được ông sửa, vận hành giảm bớt nhiên liệu chỉ bằng một phần hai, các chức năng hoạt động lại mạnh hơn trước, ông đã sửa chữa thêm 10 chiếc xe bọc thép khác, và bắt tay vào nghiên cứu chế tạo một xe bọc thép với tính năng mới hoàn toàn (Tuổi trẻ, 10/11).
Sản phẩm chế tạo mới đó khỏi nói, gây chấn động thế nào với nước Việt quê hương. Ông không phải người đầu tiên thành công trên xứ người. Có hàng nghìn người Việt thành đạt trên xứ người, thậm chí lừng lẫy tên tuổi. Nhưng sự thành công của ông nó đặc thù quá, khác người quá. Bởi ông xuất thân chỉ là người nông dân.
Thế nhưng, trả lời phỏng vấn của báo chí, ông Trần Quốc Khải đã nói một câu, cũng rất đặc thù nước Việt: Ở xứ ta, mình chưa làm đã bị đặt câu hỏi: Anh có học không mà đòi làm. Nói thật, làm khoa học ở xứ mình buồn lắm!
Trước đó dư luận xã hội cũng đã xôn xao câu chuyện của ông Phan Bội Trân- (hậu duệ của nhà CM Phan Bội Châu) xuất khẩu 05 chiếc tàu lặn mini phục vụ du lịch sang Malaysia. Sau 05 chiếc đầu tiên này, 25 chiếc tàu lặn mini nữa sẽ được ông ký kết, và sản xuất, lắp ráp trực tiếp tại Malaysia.
Cả hai ông khi trả lời báo Một thế giới, ngày 12/11, đều buồn bã: Xuất ngoại là việc chẳng đặng đừng. Nhưng không có cách nào khác!
Nói cho công bằng, khái niệm làm khoa học của ông Trần Quốc Hải chưa chuẩn xác lắm. Bản chất những công việc của ông là công việc của một nhà kỹ thuật, có những sáng kiến cải tiến, thậm chí có những chế tạo. Nhưng sự thờ ở của những người có trách nhiệm, nỗi buồn của hai ông Phan Bội Trân, Trần Quốc Hải, và nhất là câu trả lời khiến ông Trần Quốc Hải cay đắng mãi- Anh chế (tạo) rất là giỏi, nhưng thôi đừng chế nữa, vô tình, đụng chạm đến những vấn đề bản chất nhất này:
Nghi án, hoa hồng, Đại tướng quân, xứ người, Ấn tượng trong tuần, Kỳ Duyên, hối lộ
Xe bọc thép mới do cha con ông Hải chế tạo. Ảnh: TTO
Xã hội nước Việt tuy rất hiếu học, trọng đạo học, nhưng ở góc độ khác, cũng là xã hội “hư học” (chữ của GS Hoàng Tụy), rất trọng “hư danh”. Từ xa xưa, người Việt đi học để làm quan, chứ chưa bao giờ học để… làm (việc). Bằng cấp, tự lúc nào như một tiêu chí  học vấn để tuyển dụng, đề bạt, thăng cấp. Điều đó không dở, nhưng nó trở thành sự “lập lờ đánh lận trắng đen” các giá trị thật, ảo trong thời buổi mua bằng, bán cấp dễ dàng.
Cái tư duy trọng bằng cấp, trọng hư danh nghiễm nhiên tạo cho người Việt một tâm lý định kiến rạch ròi: Nghiên cứu, sáng tạo, sáng chế như một đặc ân, đặc tính của những người có học vấn, có bằng cấp, học vị nhất định, chứ không phải của những người nông dân chân đất.
Mặt khác, đời sống sinh hoạt dân chủ, và tâm lý xã hội tôn trọng sự khác biệt là điều mà nước Việt đang phải xóa đi khoảng cách còn rất… dài hiện nay. Trong cái khoảng cách đó, hiện tượng khác biệt của Phan Bội Trân, của Trần Quốc Khải đương nhiên khó có đất để nảy nở và phát triển, nếu không có cơ may tìm cách nương xứ người. Người viết bỗng nhớ đến cậu bé Đỗ Nhật Nam tài năng, dịch giả nhỏ tuổi nhất hiện nay, khi mới xuất hiện, đã phải hứng chịu biết bao “đá ảo” của dư luận. Đến nỗi một nhà báo từng viết bài thốt lên: Thiên tài sẽ không xuất hiện ở VN. Ai cho họ xuất hiện?
Cái câu hỏi ai cho họ xuất hiện còn bắt nguồn cả từ sự rắc rối của những quy định, những thủ tục hành chính nặng nề, nhiêu khê, tư duy quản lý kiểu hành chính, công chức, máy móc của những ngành chức năng có thẩm quyền trước những cái mới nảy sinh trong nghiên cứu, chế tạo. Vô hình chung, nó là cánh cửa “vũ môn” vô cùng nhỏ hẹp, mà chắc chắn những chế tạo của người như ông Trần Quốc Khải rất khó… hóa rồng.
Không biết sau những sự kiện ở nước người, nước Việt có sự thay đổi trong cách nhìn nhận, trong chính sách với những tài năng sáng tạo như ông Phan Bội Trân, ông Trần Quốc Hải, và như của bao nhà khoa học chân đất khác hay không? Trong khi những nghiên cứu khoa học sáng giá, những sáng chế có tầm vĩ mô của hàng nghìn tiến sĩ, nhà khoa học được đào tạo bài bản lại quá… hẻo!
Cả hai vụ có “yếu tố nước ngoài”, dù xấu tốt, hay dở khác hẳn nhau, nhưng dư âm của nó đều cho thấy một điều- tư duy quản lý, nền quản trị quốc gia từ vĩ mô tới vi mô của nước Việt đang phải Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước/ Chọn một dòng hay để nước trôi?
Vâng. Chọn dòng tư duy văn minh, văn hóa mềm dẻo, thực tiễn của nhân loại hay… ngược lại.
  Kỳ Duyên  
(Tuần Việt Nam)

Người Buôn Gió - Vỉa hè, bến tàu ở Châu Âu

Lúc trên tàu, có ba cậu người Đông Nam Âu thì phải, mặt mũi cũng rất bặm trợn đứng giữa chỗ khoang trống cửa ra vào. Mình đi vào thấy các cậu nhìn rất kỹ. Lúc mình lướt mắt qua, kiểu soi mói của các cậu ấy biến mất. Thay vào đó là cái nháy mắt.
 Quá chán, sao các cậu ấy lại nháy mắt với mình chứ. May là không ai nhìn thấy.
Lần trước cũng đi qua chỗ hay có trò móc túi, mấy cậu làm ăn ở đấy thấy mình cũng nháy mắt cười. Làm cậu em đi cùng mình ngạc nhiên hỏi sao anh lại quen bọn đấy.
Đm, điên thật, mình đã gặp bao giờ đâu mà quen. Nhưng phải nói mấy bọn móc túi, bán heroin, xin đểu ở bên này thấy mình hay nháy mắt như chào đồng đội. Từ Pháp hay Vác Xa Va đến Berlin đều hay gặp cảnh thế.
Người Buôn Gió
Lúc nhìn thấy ba cậu Đông Nam Âu kia, mình cố làm vẻ lơ đãng, mệt mỏi như sau một ngày đi làm về. Thế nào các cậu ấy vẫn nháy mắt chào một cái khi ánh mắt mình gặp các cậu ấy. Tàu vừa đến bến Bernau có ba cậu nháo nhác vội vàng đi theo mấy người xuống, mình biết các cậu ấy đã săn được con mồi. Các cậu ấy sẽ ra tay lúc mới bước ra khỏi cửa tàu hay lúc đi lên bậc thang.  Sở dĩ vì lúc xuống tàu nhanh chóng cho người khác lên, sự đụng chạm chen lấn ít bị để ý vì vội vàng. Còn lúc ở cầu thang bước lên, cơ thể chuyển động không như đi bộ, lúc đó túi xách ở trạng thái dao động theo nhịp bước chân lên xuống gập gềnh, người có túi dễ mất cảm giác khi ai động vào túi.
 Một lần đứng cùng ông anh ở bến tàu chờ người đến đón, mình đi vệ sinh bảo anh ấy trông đồ. Ông anh ở châu Âu này cũng đã mấy chục năm. Khi mình đi rồi quay đầu lại nhìn cái kiểu ông ấy đứng, chán quá lại phải quay lại bảo anh đứng thế này thì mất đồ luôn. Ông anh ngạc nhiên bảo làm sao mà nó lấy được, mình đừng khoảng trống thế này cơ mà.
 Mình phải vẽ tình huống, hỏi ví dụ có một người phụ nữ bế đứa trẻ đi ngang qua mặt anh, chẳng may đánh rơi gì đó, anh có nhặt hộ không.
Ông anh gật đầu. Mình hỏi tiếp, thế khi nhặt đưa, người phụ nữ cảm ơn, bỗng anh thấy bên trái có bóng đàn ông thoáng qua, anh có giật mình nhìn thằng đó xem nó có lấy túi của mình hay anh nhìn đống túi xem mất gì không.? Thường phản xạ anh sẽ nhìn thằng đó xem nó có cầm của mình cái gì không, trước khi anh quay lại nhìn đống hành lý xem mất gì không. Như thế anh sẽ mất hai khoảnh khắc, khoảnh khắc thứ nhất là nhặt hộ người phụ nữ, khoảng khắc thứ hai là anh nhìn thằng kia xem nó lấy gì. Khoảng khắc thứ ba anh sẽ quay lại xem đống đồ còn không. Khi thấy mất anh sẽ nhao ra chặn một kẻ khả nghi ở đằng sau đang giấu gì trong vạt áo, đó là khoảnh khắc phí phạm nhất vì sau vài phút giằng co nó sẽ thò ra chai rượu hay cái gì đó không phải của anh. Lúc này đồ của anh đã đi rất xa.
Ông anh ngán ngẩm lắc đầu, như thế thì mình chịu thật. Chả lẽ nó lại đi đến mấy người sao, như thế thì mình làm cách nào tránh.
Mình phải giải thích, trộm cắp ở đâu cũng thế thôi. Bọn móc túi bên này thường dân Đông Nam Âu, so với Đông Nam Á là Việt Nam thì chả tài hơn được. Cái đầu tiên cần tránh nhất là thế trân,  như ngày xưa người ta đánh trận họ nhìn khe núi, cánh rừng họ phải sợ có phục binh. Đi tàu điện thì tránh đứng hay ngồi gần cửa, có đi ra thì đi sau cùng. Nhìn thấy một tốp lên mà trông lanh lẹn, quần áo, giầy tất gọn nhẹ mà có vẻ cùng nhóm thì phải tránh. Đặc điểm nữa của bọn nó là luôn phải đảo mắt nhìn để quan sát con mồi, nên thấy mấy thằng nào mắt nó liếc nhìn khắp nơi thì cứ tránh nó ra. Trong trường hợp này, tay nhặt hộ đồ nhưng mắt phải ngoái lại nhìn đồ ngay.
 Dân trộm cắp nơi công cộng ở Tây Âu đa phần là dân của các nước Đông Nam Âu, những vùng đất thuộc CNXH khi trước. Đại khái là nhóm di dân, chứ người bản địa có thể họ bẩn thỉu, say xỉn nằm vạ vật xin tiền, chứ không mấy ai đi ăn cắp. Mà họ xin tiền cũng rất lịch sự, họ để một cái cốc nhựa và ngồi im. Có lúc họ còn đọc sách hay vuốt ve con chó của mình bên cạnh. Hay có thể họ chọn khoảng trống nào đó đánh đàn, ca hát. Người bản địa không bao giờ thấy lên tàu điện thổi điệu kèn ầm ĩ chừng 30 giây rồi đi xin tiền như những nhóm di dân từ Đông Nam Âu kéo sang. Người bản địa chơi nhạc xin tiền, họ chơi một cách bài bản, đầy đủ một bản nhạc nổi tiếng hay quen thuộc đến nốt nhạc cuối cùng. Sau đó gật đầu chào người đi qua trước khi bắt đầu chơi bản khác, họ không cầm mũ hay cốc lên để đi quanh xin tiền.
Ngày nào cũng đi tàu như vậy, thấy đủ hạng người, đủ thứ dân. Hôm nay thấy một cậu ngồi duỗi thẳng chân, chắc do đi bộ mệt. Làm một người đi qua vấp vào. Người duỗi chân chửi.
- Đm mẹ mày đi không có mắt à.?
Người bị vấp chửi lại.
- Đm mẹ mày đã sai lại còn chửi người ta, ai cho mày duỗi chân ra đường đi.
Người duỗi chân đứng dậy chửi.
- A , đcm mày thích chết à, bố mày duỗi chân mày phải nhìn chứ, mày thích chết không?
Người bị vấp lao tới luôn tóm ngực người kia.
- Bố mày thích chết đấy con à, mày làm được gì.?
Hai người đấm nhau mấy cái, một người rút dao ra xiên cho người kia một nhát, máu phun phè phè. Mọi người trên tàu quay mặt đi, mình thấy có cô gái còn níu người bạn trai đi cùng ngay từ lúc hai người mới chửi nhau, cô ấy nói.
- Kệ bọn nó, can làm gì.
Người bị đâm nằm chỏng queo, máu chảy lênh láng. Kẻ đâm người đi mất,  bấy giờ mới có tiếng xôn xao , thằng này chết rồi, máu ra thế kia cơ mà. Người khác phụ hoạ, đâm đúng động mạch phải ra đến lít rưỡi máu ý nhở. Một bà trung niên thì thầm với bà bạn, thằng này chắc 30 tuổi, hôm nay cứ làm con 30, 31, 32 xem sao.
Tàu lắc một cái, mình bừng tỉnh. Thấy người duỗi chân đứng dậy xin lỗi người bị vấp, anh ta thanh minh mình nghe loáng thoáng viel zu Fuss , arbeite, uhr bis, vor gì gì đó đoán là anh ấy nói mình đi làm , đi bộ, nhiều giờ, mệt quá vô ý. Còn người bị vấp cũng xin lỗi anh ta, cậu ấy bảo vì chậm mất hẹn gì đó lên vội. Cả hai cười xoà vỗ vai nhau.
Hoá ra trộm cắp có thể còn giống nhau, nhưng những va chạm thế này thì ở đây không giống như ở Việt Nam. Mình nhiều khi cứ nghĩ theo phản xạ thói quen ở nhà, cái gì cũng nghĩ nó giống nhau.
   Người Buôn Gió
(Blog Người Buôn Gió)

Lực lượng nào sẽ làm thay đổi Việt Nam?

Nguyễn Hưng Quốc - Lực lượng nào sẽ làm thay đổi Việt Nam?

Rất nhiều người có chung một nỗi băn khoăn: Bao giờ thì Việt Nam được dân chủ hoá? Để trả lời câu hỏi ấy, hầu như ai cũng biết một cuộc cách mạng dân chủ ở Việt Nam chỉ có thể xảy ra với một trong hai tình huống: Một, từ trên xuống; và hai, từ dưới lên.
Dân chủ hoá từ trên xuống là một cuộc cách mạng lý tưởng nhất bởi nó nhanh nhất và ít bị trả giá nhất: Đó là các cuộc cách mạng đã diễn ra tại Liên Xô và Đông Âu vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, khi giới lãnh đạo ý thức là không thể kéo dài nguyên trạng và chấp nhận thay đổi chế độ ngay cả khi biết với sự thay đổi ấy họ sẽ mất tất cả quyền lực.
Theo tôi, một cuộc cách mạng loại này rất khó xảy ra ở Việt Nam. Có hai lý do chính.
Biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội, ngày 13/5/2014.
Biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội, ngày 13/5/2014.
Thứ nhất, ở Việt Nam không có, và sẽ không có một nhà lãnh đạo nào, dù sáng suốt đến đâu, có quyền lực để tự mình quyết định những sự thay đổi lớn lao liên quan đến số phận của cả chế độ. Kết cấu quyền lực ở Việt Nam khác hẳn ở các quốc gia cộng sản khác trước đây cũng như hiện nay: Ở các nước ấy, chủ tịch đảng cũng đồng thời là chủ tịch nước. Khi nắm trong tay cả hai chức vụ ấy, người ta dễ dàng trở thành kẻ quyết định cuối cùng. Ở Việt Nam, ngược lại, người lãnh đạo đảng và người lãnh đạo nhà nước và chính phủ khác nhau, do đó, không ai thực sự có quyền quyết định những vấn đề lớn cả. Tất cả đều phải thông qua ý kiến tập thể, ít nhất của Bộ Chính trị. Để cả tập thể ấy thống nhất với nhau về việc thay đổi chế độ để dân chủ hoá là một không tưởng.
Thứ hai, chắc chắn Trung Quốc sẽ không thể chấp nhận Việt Nam được dân chủ hoá trước. Khi thấy Việt Nam có dấu hiệu rục rịch từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, chắc chắn Trung Quốc sẽ can thiệp ngay. Trong tình hình hiện nay, khi Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung Quốc trong rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế đến chính trị, những sự can thiệp ấy rất dễ thực hiện.
Bởi vậy, triển vọng lớn nhất của xu hướng dân chủ hoá ở Việt Nam là từ dưới lên. Tuy nhiên, ở đây lại có một vấn đề lớn: Lực lượng nào sẽ đảm nhiệm công việc thay đổi theo chiều hướng dân chủ ấy? Để trả lời câu hỏi ấy, các nhà bình luận chính trị và xã hội có thói quen nhìn vấn đề từ góc độ kinh tế - xã hội với những thành phần giai cấp khác nhau.
Trước hết, đông đảo nhất ở Việt Nam là các nông dân. Trong nhiều năm qua, những kẻ bị áp bức và bóc lột nhiều nhất ở Việt Nam cũng là các nông dân. Những cuộc biểu tình đông đảo và gây chú ý trong dư luận nhất cũng gắn liền với nông dân. Lý do dễ hiểu: một trong những yếu tố quan trọng nhất bị giới lãnh đạo Việt Nam khai thác để làm giàu và phân phối lợi nhuận để mua chuộc sự trung thành của các đảng viên chính là đất đai. Việc cướp đất ấy dẫn đến sự bất mãn của nông dân ở nhiều địa phương khác nhau. Lâu nay, rải rác đây đó, có các cuộc biểu tình của nông dân nhằm chống lại lệnh cưỡng chế của chính quyền.
Nhưng những sự bất mãn và các cuộc biểu tình ấy có thể dẫn đến việc làm thay đổi chế độ hay không? Câu trả lời hầu như chắc chắn: Không. Lý do đầu tiên là hầu hết nông dân thường chỉ nghĩ đến những cái lợi cụ thể trước mắt: khi chính quyền cướp đất của mình thì mình vùng lên tranh đấu, nhưng khi chính quyền cướp đất của người khác thì người ta dễ khoanh tay đứng ngó, hoặc, khi tình hình căng thẳng quá, chính quyền chỉ cần nhân nhượng một tí, họ cũng dễ dàng thoả mãn và từ bỏ mọi toan tính chống đối. Lý do thứ hai là tuy nông dân chiếm một phần lớn dân số nhưng họ bị cô lập về phương diện địa lý: làng này xuống đường tranh đấu, làng khách chưa chắc đã biết. Từ việc cô lập về địa lý dẫn đến sự cô lập về truyền thông và hậu quả là không có nhiều người biết. Điều này dẫn đến hai hậu quả khác: Một, ít người ủng hộ; và hai, khó phát triển thành những cuộc xuống đường rầm rộ để có thể uy hiếp được chính quyền.
Còn lực lượng công nhân? Ở Việt Nam, giai cấp công nhân càng ngày càng lớn và đời sống kinh tế của họ cũng gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, sự bất mãn của họ, nếu có, thường nhắm vào chủ nhân của xí nghiệp hơn là vào chính quyền. Chủ nhân của các công ty lớn lại thường gắn liền với người ngoại quốc, do đó, thù hận của họ cũng hướng ra bên ngoài. Đó là lý do tại sao cho đến nay, hầu hết các cuộc đình công hay biểu tình thường diễn ra trong các xí nghiệp và công ty do người ngoại quốc làm chủ.
Giới thanh niên và trí thức Việt Nam hiện nay có thể được xem là thành phần “tiến bộ” nhất: Nhiều người trong họ thấy được những sự bất lực và bế tắc của nhà cầm quyền cũng như có khát vọng được tự do. Tuy nhiên, “nhiều” không có nghĩa là đa số. Khác với ở Ai Cập và các quốc gia Trung Đông trong cách mạng mùa xuân đầu năm 2011, nơi tỉ lệ thanh niên, dù đã tốt nghiệp đại học, thất nghiệp rất cao, ở Việt Nam, về phương diện kinh tế, thanh niên không đến nổi quá khó khăn, do đó, rất khó hy vọng họ sẽ kết tập lại thành một trận chung để đấu tranh cho dân chủ.
Một thành phần khác có khả năng đương đầu với chính quyền là các tôn giáo. Ở tôn giáo nào cũng có những người phản kháng, nổi bật nhất là Cao Đài, Hoà Hảo, Phật giáo và Công giáo. Hai tôn giáo đầu chỉ giới hạn ở các tỉnh phía Nam; Phật giáo thì bị quá phân tán; chỉ có Công giáo là tương đối thống nhất, và do đó, khá mạnh, nhưng dù mạnh đến mấy thì, một mặt, Công giáo cũng chỉ chiếm khoảng 10 phần trăm dân số; mặt khác, do chỉ là một thiểu số, họ khó trở thành những nhà lãnh đạo cho phong trào dân chủ trong cả nước.
Nói tóm lại, từ góc độ kinh tế và xã hội, sẽ không có lực lượng nào đủ sức để chống lại chính quyền, thậm chí, gây sức ép để chính quyền phải thay đổi chế độ.
Một vấn đề có thể được đặt ra: Tại sao tất cả các thành phần trên không thể kết hợp lại với nhau để thành một lực lượng duy nhất và mạnh mẽ? Dĩ nhiên, điều đó có thể xảy ra, và trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, đó là niềm hy vọng duy nhất để có dân chủ. Có điều: khi nào, và với điều kiện nào, tất cả các thành phần trên có thể đứng lại được với nhau? Câu trả lời: Tinh thần dân tộc hay chủ nghĩa quốc gia (nationalism). Người Việt Nam, bất kể thành phần kinh tế, xã hội và tôn giáo, sẽ đoàn kết lại khi đất nước bị uy hiếp và khi chính quyền bất lực, thậm chí, đầu hàng trước những sự uy hiếp ấy. Tất cả những sự uy hiếp ấy chỉ đến từ một nguồn: Trung Quốc.
Nói cách khác, theo tôi, lực lượng đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam chỉ đoàn kết và trở thành mạnh mẽ khi Trung Quốc gia tăng mức độ lấn chiếm biển đảo và khi chính quyền Việt Nam càng lộ rõ bản chất nhu nhược của họ trong thế trận đối đầu với tham vọng bành trướng ấy.
Nguyễn Hưng Quốc
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
(VOA)

Quốc hội cần minh bạch việc lấy phiếu tín nhiệm

Ngày 15/11 tới đây, Quốc hội VN sẽ tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh dân cử do Quốc hội bầu và chỉ định trong một phiên họp kín. Dư luận đặt câu hỏi, một Quốc hội của dân sao lại thiếu minh bạch và công khai trong vấn đề giám sát quyền lực nhà nước của cử tri như vậy?
Làm cảnh cho đẹp?
Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm nhằm mục đích nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Cách làm này giúp những người liên quan nhận thấy được mức độ tín nhiệm để có biện pháp phấn đấu, rèn luyện, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của mình.
000_Hkg2394941-622.jpg
Một phiên họp Quốc Hội tại Hà Nội, ảnh minh họa.
Đồng kết quả tín nhiệm cũng là cơ sở cho việc đánh giá cán bộ của cơ quan có thẩm quyền và việc miễn nhiệm chức vụ đối với người mà Quốc hội không còn tín nhiệm.
Theo nghị quyết của Quốc hội, ngày 15.11.2014 tới đây, Quốc hội VN sẽ tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm đối với 50 chức danh dân cử do Quốc hội bầu và chỉ định trong một phiên họp kín.
Các chức vụ được lấy phiếu tín nhiệm đó là: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước…
Cái chuyện lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm là việc làm ngược đời, ở trên thế giới chúng tôi biết rằng không có nước nào họ làm như thế cả.  - GS Nguyễn Minh Thuyết
Nói về ý nghĩa và sự cần thiết của việc bỏ phiếu tín nhiệm lần này, LS.Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội của Việt Nam cho biết:
“Nếu chúng ta không tìm được trách nhiệm của những người đứng đầu, mà để cho đất nước suy đồi như thế này, làm cho người dân bất bình, bất mãn như thế này thì rõ ràng cuộc bỏ phiếu tín nhiệm đó chỉ làm cảnh cho đẹp. Mà lại còn bỏ phiếu bí mật nữa thì thôi đừng bỏ, vì nó lại càng làm phũ phàng cái lòng tin tưởng lần cuối cùng của người dân vào cái cơ quan quyền lực cao nhất. ”
Khi được hỏi, ông có đánh giá thế nào về việc Quốc hội tiến hành tổ chức họp kín để lấy phiếu tín nhiệm?
GS. Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội nhận định:
“Cái chuyện lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm là việc làm ngược đời, ở trên thế giới chúng tôi biết rằng không có nước nào họ làm như thế cả. Tức là chia thành hai bước, lấy phiếu và bỏ phiếu. Lấy phiếu thì lại là 3 mức chứ không phải 2 mức, mà cả 3 mức đều là tín nhiệm, đó là tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp. Và lấy phiếu tín hiệm thì chỉ lấy một lần giữa nhiệm kỳ thôi. Thế thì làm sao thúc đẩy được công việc, làm sao thúc đẩy được người?Mà lại còn bỏ phiếu kín nữa thì bỏ phiếu làm gì? Cái đó nó đi ngược với xu hướng công khai minh bạch hiện nay, vì thế tôi cho rằng tốt nhất là không bỏ phiếu nữa. Bởi vì nếu tổ chức thì mất thì giờ, tốn kém vả lại còn dấu phiếu kín kể cả Đại biểu Quốc hội cũng không biết thì tôi không biết bỏ phiếu để làm gì?”

000_Hkg9116355-305.jpg
Kỳ họp thứ 6 Quốc hội Việt Nam khóa 13 hôm 21 tháng 10 năm 2013 tại Hà Nội.
LS.Trần Quốc Thuận thấy rằng theo Luật tổ chức Quốc hội thì Quốc hội có thể họp kín đối với những vấn đề quan trọng như an ninh, quốc phòng… Theo ông, việc lấy phiếu tín nhiệm là Quốc hội thực hiện vai trò giám sát đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, do đó theo ông không cần thiết phải họp kín.
LS.Trần Quốc Thuận khẳng định:
“Còn bây giờ bỏ phiếu kín thì tôi coi là hoạt động không bình thường, vì các vị đó là do Quốc hội bầu và phê chuẩn, toàn dân đều biết. Bây giờ sự tín nhiệm của các vị ấy cũng là sự tín nhiệm của các cử tri, sao không báo cho cử tri họ biết? Kín là thế nào, như là Hội nghị TW6 trước đây đề xuất kỷ luật người nọ người kia cuối cùng cũng không biết đề xuất ai? Cho nên người ta nói không nên có việc kín, kín rồi kiểu gì người ta cũng biết, vì gần 500 đại biểu Quốc hội họ về họ sẽ nói toang ra hết. Đã là đại biểu Quốc hội, là người công khai và chịu trách nhiệm trước cử tri mà không biết mình được tín nhiệm thế nào, mà còn bỏ phiếu kín thì đó là công việc tôi cho là không bình thường và đi ngược với xu thế chung.”
Thiếu sự cạnh tranh?
Nói về nguyên nhân khiến cho Quốc hội thường có các quyết định không phù hợp với lòng dân, cụ thể là việc tổ chức họp kín khi lấy phiếu tín nhiệm lần này. TS. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện phản biện IDS nhận xét:
Vì không có bất kỳ sự cạnh tranh, không có một sự vận động, không có sự chọn lọc của các nhóm xã hội để đưa ra các ứng cử viên sang giá, thì làm sao chúng ta có thể đòi hỏi một Quốc hội có chất lượng?  - TS Nguyễn Quang A
“Cái Quốc hội này, kể cả cái Quốc hội trước cũng thế là Quốc hội mà đại bộ phận là các đại biểu đảng cử, dân bầu thì không thể nào có chất lượng được. Vì không có bất kỳ sự cạnh tranh, không có một sự vận động, không có sự chọn lọc của các nhóm xã hội để đưa ra các ứng cử viên sang giá, thì làm sao chúng ta có thể đòi hỏi một Quốc hội có chất lượng?”
Khi được hỏi về giải pháp để có thể có một Quốc hội hoạt động thực sự có hiệu quả, GS. Nguyễn Minh Thuyết thấy rằng cơ chế đảng cử dân bầu là điểm cần phải dần dần tháo gỡ để khắc phục. Theo ông quan trọng nhất là sự nhận thức của người dân.
GS. Nguyễn Minh Thuyết nói:
“Chính người dân cũng phải tự trách mình, vì người dân thế nào thì Quốc hội như thế. Nếu bao giờ người dân của mình thật giác ngộ, mình đi bầu với sự chọn lựa cẩn thận thì khi ấy người dân sẽ có một Quốc hội như ý của mình. Còn bây giờ người ta bảo đưa ra 5 người lấy 3 người ông cũng tìm bằng được cho đủ 3 người mặc dù ông không biết mặt 3 người ấy, tài của 3 người ấy thì sẽ bầu vào các đại biểu như thế thôi. Theo tôi quan trọng là giác ngộ của người dân, bây giờ mà cứ một người cầm cả nắm phiếu đi bầu cho cả nhà thì làm sao mà chính xác? Chỉ khi nào người dân giác ngộ được quyền làm chủ của mình thì lúc ấy đất nước sẽ có dân chủ hơn và lá phiếu của người dân sẽ có giá trị hơn.”
Đại biểu Quốc hội là người thay mặt cử tri thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc Hội, do đó Quốc hội phải công khai, minh bạch kết quả bỏ phiếu tín nhiệm cho cử tri biết. Nay việc Quốc hội lại tổ chức họp kín để lấy phiếu tín nhiệm cho các chức danh Quốc hội bầu hoặc chuẩn thuận, điều đó không chỉ đi ngược với xu hướng công khai minh bạch, mà còn gây thất vọng cho đa số dân chúng, vì họ có cảm giác rằng đã bị Quốc hội phản bội họ.
Anh Vũ
(RFA)

Luật Báo chí không thực thi tự do báo chí

Hiến pháp Việt Nam 2013 cũng như các bản hiến pháp trước đó đều bảo đảm người dân có quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận. Nhưng Luật Báo chí ban hành năm 1989 sửa đổi 1999 trên thực tế chỉ là một bộ Luật quản lý hoạt động báo chí vốn dĩ là trực thuộc nhà nước. Luật Báo chí sẽ được sửa đổi vào năm 2015, nhưng thông tin cho thấy Dự Luật này cũng không thực thi quyền tự do báo chí theo Hiến pháp qui định, mà thực tế là để kiểm soát sự xé rào của truyền thông đa phương tiện.
Sửa đổi để kiểm soát?

Đáp câu hỏi phải chăng các nhà báo công dân ở Việt Nam đang tự thực hiện quyền tự do báo chí qua blog, facebook và các mạng xã hội khác. Ông Nguyễn Quốc Thái, nguyên Tổng Thư Ký báo Doanh Nghiệp từ Sài Gòn nhận định:
000_Hkg7508717-600.jpg
Một sạp báo vỉa hè Hà Nội chụp hôm 26/6/2012
“Hiến pháp qui định mọi người công dân được quyền tự do ngôn luận, họ dùng chính phương tiện họ có trong tay để nói điều họ suy nghĩ, họ nhận định về một vấn đề gì đó. Nếu anh lên tiếng cấm cản điều đó… anh biết bây giờ là vấn đề này là vấn đề toàn cầu không còn của riêng quốc gia nào hay của khu vực nữa rồi. Vấn đề là chúng ta nhìn nhận nhau, hiểu nhau, thông cảm nhau, lắng nghe được nhau đó là điều căn bản điều chính. Còn dùng bạo lực để trấn áp thì tôi nghĩ rằng sẽ đưa đến hậu quả không hay.”
Theo báo điện tử VnMedia, Tại Hội nghị tổng kết 15 năm thi hành Luật Báo chí tổ chức ngày 12/11/2014 tại Hà Nội, ông Nguyễn Bắc Son Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền Thông báo động về hiện tượng “tư nhân hóa báo chí”, “thương mại hóa báo chí”. Ông Bộ trưởng nhấn mạnh phát triển báo chí đi đôi với quản lý báo chí và phải thể chế hóa một cách chi tiết và cụ thể quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác báo chí đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.
Qua lời Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son, có thể hiểu rằng dù Việt Nam không chấp nhận báo chí tư nhân, nhưng Nhà nước hiện nay vẫn không yên tâm đối với hoạt động báo chí truyền thông của chính nhà nước. Việt Nam hiện có 838 cơ quan báo chí, 67 đài phát thanh truyền hình với đội ngũ nhà báo lên tới 40.000 người.
Nhà báo Võ Văn Tạo từng có hơn chục năm làm báo chuyên nghiệp trong hệ thống báo chí nhà nước từ Nha Trang phát biểu:
“Một trong những biểu hiện của tự do báo chí là có báo chí tư nhân, không nói thì nhân dân cũng biết, lực lượng báo chí của nhà nước cũng biết và quốc tế cũng biết. Ở những thể chế cộng sản nói chung và Việt Nam nói riêng thì chuyện tự do báo chí là một điều cấm kỵ. Tại sao thế, rất nhiều người đồng ý với tôi rằng những thể chế độc tài thì bao giờ cũng sợ sự thật.”
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam dự hội nghị tổng kết Luật Báo chí được Báo Xây Dựng và Đời sống Pháp luật trích lời nói rằng, sửa đổi Luật Báo chí lần này phải có tầm nhìn xa vì thế giới đã thay đổi rất nhanh và báo chí là lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất. Ông Đam nhấn mạnh rằng, sự phát triển của công nghệ thời gian qua diễn ra đặc biệt nhanh chóng, do vậy khi xây dựng Luật phải tính được những thay đổi này.
_MG_1652-250.jpg
Một sạp báo ở Saigon. RFA photo
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tỏ ra có chút phóng khoáng về hoạt động truyền thông. Nếu Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son chỉ đạo phải thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng phủ trùm hoạt động truyền thông báo chí và đề phòng tư nhân hóa báo chí, thì ông Vũ Đức Đam quan niệm không nên đóng sập cánh cửa, bịt hết mọi thứ  trong nhu cầu phát triển báo chí chỉ vì một vài biểu hiện tiêu cực. Ông Đam nêu ra ví dụ trong phát triển của Hệ thống Truyền hình Việt Nam VTV có sự liên kết, xã hội hóa một số chương trình cũng như nội dung. Điều này đặt ra yêu cầu mới và theo Phó Thủ tướng khi xây dựng Luật cần tính đến nhu cầu phát triển chính đáng của cơ quan báo chí tương lai.
Những điều Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nêu ra có lẽ là khá mới mẻ đối với các cán bộ phụ trách văn hóa tư tưởng. Xã hội hóa theo cách nói ở Việt Nam ngày nay có nghĩa có sự tham gia của mọi tầng lớp trong xã hội vào một lĩnh vực nào đó và tất nhiên trong trường này hợp được hiểu là có sự tham gia của tư nhân trong hoạt động truyền thông báo chí.
Không thể cấm phương tiện thông tin toàn cầu
Bên cạnh 838 cơ quan báo chí 67 đài phát thanh truyền hình, Việt Nam hiện có 90 báo điện tử, 207 trang thông tin điện tử tổng hợp của các báo in. Mặc dù tất cả các lĩnh vực báo chí dù truyến thống hay đa phương tiện, đa truyền thông đều chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước. Nhưng rõ ràng Luật Báo chí sửa đổi lần cuối vào năm 1999 chỉ mới đề cập xơ sài về lãnh vực báo chí điện tử đa phương tiện. Dự luật báo chí 2015 được cho là sẽ kiến tạo khung pháp lý chặt chẽ hơn nữa để Nhà nước quản chặt hơn những đứa con của chính mình.
Theo nhà báo Nguyễn Quốc Thái hiện nghỉ hưu ở Sài Gòn, Internet và các ứng dụng tuyệt vời của nó phát triển rất mạnh trong báo chí truyền thông lề phải. Nhưng đồng thời cũng là phương tiện để các nhà báo công dân thực hiện quyền tự do báo chí. Ông nói:
“Phương tiện thông tin đa truyền thông không thể cấm được, muốn cấm cũng không được bởi vì đây là phương tiện thông tin toàn cầu. Trên tất cả các hệ thống mạng phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới có những mạng nhà nước không thể kiểm soát được. Vì thế thông tin trên mạng là chuyện đương nhiên không thể ngăn cản nổi. Ở Việt Nam ngay cả chuyện sử dụng điện thoại di động có nhiều trẻ mục đồng vừa chăn trâu vừa gọi điện thoại di động. Huống hồ là với các phương tiện thông tin đa truyền thông thì làm sao cấm cản được nhất là ở thành thị.”
Tuy nhà nước không thể cấm các trang mạng có máy chủ ở nước ngoài nhưng công an có thể trấn áp bắt giữ những nhà báo công dân đang sống trong nước và truyền tải thông tin lên các trang mạng đó. Một danh sách dài những tên tuổi như  Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Phạm Bá Hải, Phạm Viết Đào, Trương Duy Nhất, Lê Quốc Quân, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy là những thí dụ điển hình.
Trả lời Hải Ninh trên TV Online Đài RFA, nhà báo cũng là blogger Đoan Trang một nghiên cứu sinh tại Hoa Kỳ nhận định:
“Cái hay của trang web anh Ba Sàm là anh đã tạo được một cộng đồng gần như một gia đình trên blog của anh ấy. Từ khi anh chưa bị bắt thì trang web của anh ấy liên tục bị tấn công. Rất nhiều đợt tấn công đã xoá bỏ dữ liệu luôn, đóng cả trang luôn. Mỗi lần như vậy bà con độc giả lo lắng lắm. Họ mong chờ anh, họ làm thơ về anh rằng bao giờ anh trở lại chúng đánh anh chết rồi. Mọi người rất quan tâm, quý vị cũng có thể hình dung được là sau khi anh Ba Sàm bị bắt thì nó gây làn sóng cảm xúc như thế nào ở trong cộng đồng blogger việt Nam. Người ta phẫn nộ, người ta lo lắng mà thực sự là cũng có nỗi sợ. Người ta sợ rằng bắt quá dễ, mà bắt chỉ vì việc đã post bài lên mạng hoặc là chỉ vì đã làm chủ cái blog nổi tiếng như vậy mà cũng bị bắt được. Thế thì chúng ta đều là các tù nhân dự khuyết cả.”
Luật Báo chí 1989 được Quốc hội sửa đổi năm 1999 có đoạn mở đầu rất đặc biệt: “Để bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của nhân dân…Luật này qui định chế độ báo chí.” Từ đó đến nay công dân Việt Nam chưa bao giờ có quyền tự do báo chí, cũng không có báo chí tư nhân.
Dự luật Báo chí sửa đổi để thực thi Hiến pháp 2013 đang được góp ý để Quốc Hội xem xét thông qua vào nghị trình 2015. Nếu như Bộ trưởng Thông tin Truyền Thông Nguyễn Bắc Son cương quyết với thể chế hóa sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong hoạt động báo chí do nhà nước quản lý và đề phòng chặt mọi manh nha tư nhân hóa báo chí, thì giấc mơ tự do báo chí ở Việt Nam vẫn còn xa vời vợi.
Nam Nguyên
(RFA)

TIN LÃNH THỔ

TIN XÃ HỘI

TIN KINH TẾ

TIN DIỄN ĐÀN

TIN GIÁO DỤC

TIN ĐỜI SỐNG

TIN CÔNG NGHỆ

TIN VĂN HÓA GIẢI TRÍ

TIN THẾ GIỚI