Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

Giáo dục phục vụ cho ai? - ‘Bản chất ngầm’ của cuộc chiến Hải Dương- 981?

Giáo dục phục vụ cho ai?

Theo công bố của Diễn đàn Kinh tế Thế giới – World Economic Forum – vào đầu tháng 9/2013, nền giáo dục Việt Nam so với khu vực Asean vào hạng “đội sổ”, thua kém hơn cả Cam-pu-chia! Trong đó, Singapore vượt lên đứng đầu (nên nhớ rằng ông Lý Quang Diệu đã từng mơ ước Singapore có được nền giáo dục khai phóng của Việt Nam từ những năm 1960.
Thật là xót xa!
Qua 68 năm, đảng cộng sản Việt Nam đã đẩy nền giáo dục nước ta xuống tới đáy. Nguyên nhân hàng đầu chính là do giáo dục dưới sự lãnh đạo của đảng không phải để nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước mà giáo dục chỉ có một mục đích phục vụ chính trị, phục vụ cho đảng cũng như văn học nghệ thuật. Điều này đã được khẳng định ngay từ năm 1948 trong Đề cương văn hóa Việt Nam trong bài viết của ông Trường Chinh.
GIÁO DỤC PHỤC VỤ CHO AI?

Hiện nay, giáo dục chỉ được coi là một phần của công tác dân vận, công tác tuyên huấn, làm giáo dục để phục vụ cho đảng, chứ giáo dục chưa được coi là một khoa học. Vì thế, giáo dục:
1. Chỉ nhằm chứng minh nhờ có đảng cộng sản Việt Nam (từ sau sẽ viết gọn là “đảng”, không viết hoa) tài ba, sáng suốt đã lãnh đạo giáo dục không ngừng phát triển. Trong chiến tranh thì dù bom đạn của đế quốc Mỹ ác liệt thế nào nhưng học sinh vẫn đến trường, vẫn lên lớp, vẫn đỗ tốt nghiệp 100%. Kinh tế vô vàn khó khăn nhưng nhờ đảng lãnh đạo sáng suốt nên vẫn phổ cập giáo dục tiểu học rồi đến phổ cập trung học cơ sở. Đến bây giờ, dù kinh tế có suy thoái, nhưng trường trung học, đại học ở khắp nơi. Nhiều tới mức không có người học! Nhưng những trường ấy mở ra nhằm phục vụ cho ai? Học sinh có nhu cầu học tập thật sự không hay chỉ là học theo phong trào, là tâm lý chạy theo đám đông. Học xong đều nằm dài chờ việc, tới nay, đã có tới 72.000 người có bằng cử nhân thạc sĩ mà không sao kiếm được việc làm. Điểm thi đầu vào 3 môn mà chỉ 6, 7 điểm, thấp như thế thì học đại học thế nào? Nhưng bất chấp tất cả, trường vẫn cứ như nấm sau cơn mưa. Vì những người mở trường có lợi nhuận, giáo viên thêm chỗ dạy, có thể kiếm thêm bù vào tiền lương do nhà nước trả quá rẻ mạt, các cấp quản lý do đảng lập ra cũng có lợi vì anh nào mở trường mà chẳng phải có phong bì, xin một cái dấu ở phường ở xã còn phải phong bì nữa là xin mở cả một trường đại học. Khá nhiều trường không có địa điểm, không có giáo viên cơ hữu, thậm chí còn không có cả người học (vì không đủ điểm sàn), người dạy thì cũng chỉ là “cử nhân đào tạo cử nhân”. Đất nước chậm phát triển, lạc hậu nhưng vẫn tự hào vì số lượng tiến sĩ nhiều nhất Đông nam Á. Từ đó, gian dối trở thành căn bệnh phổ biến. Cái gì, ở đâu cũng trong tình trạng “nói vậy mà không phải vậy”. Tỷ lệ lên lớp luôn luôn là 100% mặc dù nhiều học sinh học đến lớp 6 lớp 7 vẫn chưa biết đọc, học sinh tiên tiến của lớp 9 vẫn không làm nổi một phép tính chia. Số lượng tiến sĩ thì nhiều nhất Đông nam Á nhưng chẳng có mấy tiến sĩ viết được luận văn, phần lớn là phải “đạo” ở các “chợ luận văn”, chẳng có công trình nghiên cứu nào được thế giới ghi nhận. Và suốt ngần ấy năm, con Lạc cháu Hồng vẫn đứng đội sổ trong những đóng góp cho nhân loại. Gian dối bất chấp quy luật. Đi học phải có người giỏi, người kém, người đủ khả năng lên lớp, người phải ở lại học thêm một năm nữa, …nhưng luôn luôn lên lớp 100%. Phụ huynh thấy con mình học kém, cần phải học lại để củng cố kiến thức lớp dưới mới hy vọng tiếp thu được kiến thức ở lớp trên, xin học lại một năm nữa, nhà trường cũng không cho vì như thế “ảnh hưởng đến thi đua”. Lẽ ra, gia đình học trò nghèo thì chỉ nên giúp họ đạt một trình độ tối thiểu (hết tiểu học, hay trung học cơ sở chẳng hạn), rồi giúp họ đi học nghề. Còn ít tuổi, đi học nghề, tiếp thu càng nhanh, càng có thời gian rèn luyện tay nghề, trau dồi phẩm chất của người làm nghề. Nhưng vì đảm bảo chỉ tiêu đến lớp nên tìm mọi cách vận động họ đến lớp, dù họ chẳng có hứng thú gì để học. Thế là suốt mấy năm học, tưởng là sẽ tốt hơn nhưng thực ra chỉ hư hỏng con người. Kiến thức thì chẳng thêm được bao nhiêu nhưng tiêm nhiễm thêm bao nhiêu thói xấu nhất là lười biếng và gian dối.
2. Chương trình học lạc hậu, rất nhiều tri thức đã bị người ta vứt vào sọt rác của lịch sử rồi nhưng vẫn bắt học sinh phải học. Tục ngữ có câu “Nó lú nhưng chú nó khôn”. Sách giáo khoa, thầy cô thì dạy như thế, nhưng gia đình học sinh không ít người hiểu biết họ thừa biết đó là những điều đã lỗi thời, chẳng lẽ học trò không biết. Biết rồi liệu có hy vọng học sinh toàn tâm toàn ý mà học không? Vì sao học sinh chán môn sử? Một nguyên nhân quan trọng là do sách giáo khoa lịch sử chỉ nhằm phục vụ cho quyền lợi của đảng. Gọi là lịch sử Việt Nam nhưng thực chất là lịch sử đảng. Lịch sử chỉ chứng minh là đảng tài giỏi, “công ơn đảng như biển rộng núi cao”, chiến đấu thì “ta thắng địch thua”, xây dựng chú nghĩa xã hội thì “thắng lợi rực rỡ”, lúc nào, ở bất cứ đâu, trong hoàn cảnh nào cũng “chiến thẳng vẻ vang” cả, không bao giờ có sai lầm khuyết điểm thất bại. Thậm chí, nhiều nhân vật, sự kiện lịch sử cũng bịa đặt nhằm phục vụ cho lợi ích của đảng. Sao học trò có thể hứng thú mà học được?
3. Vì chỉ để phục vụ cho mục đích của đảng nên sử dụng con người cũng vô cùng sai lầm. Ai làm đúng ý đồ của đảng thì được đảng sử dụng, đề bạt, bất kể tài năng, đức độ. Gần đây đã xuất hiện tục ngữ mới, đó là những người “tài năng có hạn, khốn nạn vô biên”. Ai hành xử theo lương tâm nghề nghiệp, tâm huyết với sự nghiệp thì bạc đãi, vô hiệu hóa. Chỉ nói chuyện nhỏ, như việc coi, chấm thi. Ai coi thi nghiêm túc không cho học trò gian lận thì không cử đi coi nữa. Vì như thế ảnh hưởng đến danh hiệu thi đua. Những người mặc kệ cho thí sinh muốn làm gì thì làm, phòng thi ồn ào như cái chợ thì chẳng sao. Khi nào có cấp trên đến kiểm tra, khi xe ô tô “toe toe” còi ngoài cổng trường, trong lúc bảo vệ từ từ đi mở khóa cổng, lãnh đạo hội đồng coi thi đi từng phòng nhấm nháy ra hiệu, trông thật bất lương đáng xấu hổ. Sau khi dạo qua một vòng, nhận thấy “tình hình coi thi rất nghiêm túc”, cấp trên nhận cái phong bì thế là xong cuộc thanh tra. Ô tô cấp trên ra khỏi cổng trường thì đâu lại hoàn đấy. Đi chấm thi ai chấm đúng đáp án, biểu điểm, không chịu thay đổi, nâng điểm cho những bài do lãnh đạo chấm thi đưa xuống thì lần sau không cử đi chấm nữa. Để dễ sai khiến, người ta dùng tiền “bồi dưỡng”. So với tiền lương, tiền bồi dưỡng coi, chấm thi không phải là nhỏ. Tiền này do học sinh đóng góp, dân gian gọi là tiền “chống trượt”. Thực chất, đây là một khoản tiền “lót tay” để thầy cô giáo làm ngơ cho học sinh gian dối khi coi thi, dễ dãi lúc chấm thi. Từ trước khi bước vào thiên niên kỷ mới, ngoài số tiền phụ huynh đóng góp cho nhà trường ra, đã có hiện tượng thí sinh trong một phòng thi nộp tiền, cho vào phong bì đặt trên bàn của giám thị.Thế là hai bên đều có lợi. Học sinh thì đỗ cao, còn đảng thì được mang tiếng lãnh đạo tài tình. Chỉ có dân là thiệt. Dân thiệt là vì mất tiền cho con đi học, cứ tưởng con mình được học hành “đến nơi đến chốn” nhưng thực chất là học hành chẳng ra gì, chỉ có cái đầu rỗng tuếch; dân thiệt là vì, mất tiền cho con đi học, đã không được kiến thức, còn nhiễm thêm cái tính dối trá, dối trá ngay từ khi vào lớp 1 nên đến lớp 12 thì bệnh dối trá này đã trầm trọng lắm rồi, cho đến hết đời không chữa nổi, thế là cả đời thành kẻ dối trá, dối trá mà không mảy may áy náy; dân thiệt là vì tiền thuế đóng góp tưởng là để xây dựng đất nước, nhưng thực tế, cái tiền thuế mồ hôi nước mắt ấy cuối cùng nó quay lại hại chính mình.
Cấp dưới dối cấp trên, cấp trên thừa biết nhưng vẫn làm như không biết, vẫn tỏ ra tin là thật. Rồi cấp trên lại dối cấp trên nữa…Cấp trên nói, cấp dưới nghe, biết thừa là cấp trên “xạo”, nhưng vẫn tỏ ra tin tưởng, xoa tay khen cấp trên sáng suốt. Vì cứ “Tít mù nó lại vòng quanh” như thế thì hai ba bên đều có lợi.
Lối làm ăn gian dối khiến cho những người có tâm huyết chán nản. Nếu thi cử nghiêm túc thì ai dạy thế nào có thể biết ngay. Tỷ lệ thi đỗ sẽ là công cụ nhắc nhở hữu hiệu cho người thầy. Trò không cố, vì không làm được thì nhìn bài của người bên cạnh, thì sẽ có người ném bài cho. Sự kiện Đồi Ngô (Bắc Giang) năm ngoái, Nam Lương Sơn (Hòa Bình) năm nay đâu có hiếm. Chỉ có người ta làm như thể không biết mà thôi. Thầy cũng chẳng cố nữa, vì cố để làm gì, mình chẳng dạy “nó” cũng vẫn cứ đỗ. Học trò đỗ là “hoàn thành xuất sắc rồi”! Có những thầy do lương tâm cắn rứt vẫn cố thì học trò cũng chẳng học.
Tôi vẫn hay nói vui, ngày trước thực dân Pháp ngu dân bằng cách không cho đi học (số người đi học chỉ khoảng 5% ), còn ta bây giờ ngu dân bằng cách cho đi học nhưng không cho biết gì. Cứ xem cách học ngoại ngữ là đủ biết. Trước đây, học trò chỉ cần học hết trung học cơ sở (thành chung) là đã có thể sử dụng thành thạo tiếng Pháp, ai học hết trung học (đỗ tú tài) thì trình độ đã cao lắm rồi. Tôi biết các dịch giả nổi tiếng như nhóm Lê Quý Đôn (các cụ Huỳnh Lý, Đỗ Đức Hiểu, Lê Trí Viễn,…)dịch tiếng Pháp. Các cụ Bùi Phụng, Bùi Ý, Đặng Thế Bính, Vũ Cận, …dịch tiếng Anh đâu có học đại học, làm gì có điều kiện đi du học nước ngoài? Nhưng đến nay hình như cũng chưa thấy có ai vượt được các cụ. Nhưng nay, học tiếng Anh từ lớp 6 dến lớp 12, 7 năm tất cả, trình độ thế nào? Sinh viên các trường ngoại ngữ học thêm 4, 5 năm nữa, có mấy ai đọc hết được một cuốn sách bằng thứ tiếng ấy. Thế mà đang định dạy tiếng Anh từ cấp tiểu học. Thật “xót tiền dân”!
Nhân đây, tôi mong các cụ đã học qua thời Pháp kể lại cách học ngoại ngữ cũ để các vị quan chức Bộ Giáo dục được “mở rộng tầm nhìn”.
Từ mục đích đã không được xác định một cách đúng đắn, giáo dục ta suốt gần bảy mươi năm nay vẫn lạc hướng, vẫn chẳng làm được những điều có lợi cho dân cho nước.
Dương Đình Giao
(Blog Ông Giáo Làng) 

‘Bản chất ngầm’ của cuộc chiến Hải Dương- 981?

Như vậy, giàn khoan Hải Dương – 981 hay các giàn khoan khác, đảo nhân tạo tại Gạc Ma hay bãi Chữ Thập đang cho thấy bản chất “ngầm” thật sự hiện nay.
Khi các giàn khoan Trung Quốc đang tiến thêm vào thềm lục địa VN, khi cả thế giới đang bàn luận về một chính sách hung hãn hơn từ Bắc Kinh, khi những bước chân đang dồn dập theo tiếng gọi non sông trên đường phố Hà Nội, Đà Nẵng hay Sài Gòn, khi những tranh luận gay gắt về việc kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế chưa ngã ngũ… thì có vẻ như, câu chuyện chính về biển Đông vẫn đang để ngỏ nhiều lời giải.
Câu chuyện đó có vẻ đang xoay quanh một cuộc chiến thầm lặng đang diễn ra mà tiêu điểm của nó đi ra ngoài các yếu tố quân sự đơn thuần. Điều chúng tôi muốn bàn trong phạm vi bài viết này, đó là “cuộc đấu” sức mạnh của tri thức và khoa học kỹ thuật biển, quanh chuyện giàn khoan Hải Dương 981.
Theo nguồn dẫn từ tờ Forbes, trong năm 2013 Trung Quốc đã vượt qua Đức trở thành quốc gia sở hữu số bằng sáng chế lớn thứ ba thế giới. Những bước chuyển đổi nền kinh tế từ “sản xuất tại Trung Quốc” sang “sáng chế tại Trung Quốc” đưa Trung Quốc từ vị trí thứ 6 (2008) lên vị trí thứ 3 khi chiếm 16% số lượng bằng sáng chế toàn cầu, đứng sau Mỹ (28%) và Nhật Bản (21%).
Bên cạnh đó, hai tập đoàn công nghệ Trung Quốc ZTE và Huawei cũng đạt được vị trí 2 và 3 trong bảng xếp hạng của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO). Một trong những dấu hiệu khác cho thấy sự mạnh mẽ của Trung Quốc trong lĩnh vực đầu tư kinh tế công nghệ chính là con số hơn 6 tỷ USD đã được Trung Quốc “đổ” vào lĩnh vực công nghệ tại Mỹ.
Tốc độ phát triển thần kỳ này xuất phát từ sự hỗ trợ của phía Chính phủ, kể từ khi các nhà lãnh đạo nước này nhận thức được rằng cần phải phát huy sức mạnh tri thức. Đặc biệt, Trung Quốc giờ đây đã gia nhập nhóm các nước có thể tự xây dựng các giàn khoan có khả năng khai thác sâu dưới lòng biển. Khác với các nước trong nhóm, Trung Quốc là quốc gia duy nhất có vấn đề tranh chấp hàng hải nghiêm trọng với các nước láng giềng. Chính vì vậy, đây được xem như một công cụ hữu hiệu không chỉ trong giải quyết vấn đề an ninh năng lượng mà còn đóng vai trò chiến lược quan trọng.
Những phân tích này lý giải động cơ muốn thúc đẩy ngành khai thác năng lượng xa bờ của Trung Quốc và vạch ra những tác động của hành vi này tại khu vực biển Đông.
“Bản chất ngầm”?
Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) được Chính phủ thành lập vào tháng 2/1982 với mức vốn 95 tỷ NDT (48 tỷ USD). Một trong những mục tiêu ban đầu của tập đoàn này chính là xây dựng quy định về khai thác dầu xa bờ. Vì vậy, công bằng mà nói, CNOOC và các quy định về khai thác dầu xa bờ là cặp bài trùng đánh dấu sự khởi đầu cho ngành công nghiệp khai thác xa bờ của Trung Quốc.
Giàn khoan nước sâu đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu hoạt động gần quần đảo ở Biển Đông trong một động thái nhằm để khẳng định tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh.
Chủ tịch CNOOC từng tuyên bố “Giàn khoan nước sâu là vũ khí lãnh thổ di động mang tính chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí ngoài khơi của nước này.” Công nghệ đi trước một bước thể hiện trong tuyên bố này. Khẳng định của quan chức trên cũng cho thấy, TQ xem giàn khoan như một phương thức hiệu năng nhất để tăng cường sự hiện diện trên các vùng biển, là chiến lược mà không gây ra những xung đột về mặt quân sự.
Cách chọn khu vực khai thác cho thấy, những gì mà Trung Quốc đang khẳng định đều không tồn tại trong Luật biển công nhận nền tảng cấu trúc hoặc là lãnh thổ có chủ quyền. Câu nói của chủ tịch CNOOC cũng cho thấy rằng Trung Quốc có ý định sử dụng các nền tảng CNOOC để từ từ giành quyền kiểm soát khu vực ngoài khơi bằng cách tạo ra một sự nhập nhằng về lập luận, cũng như mù mờ về bằng chứng pháp lý.
Cách thức “nối chủ quyền” này tiếp tục lặp lại một lần nữa khi các hình ảnh vệ tinh chứng thực những hòn đảo nhân tạo đang được Bắc Kinh nhào nặn. Theo nguồn tin từ tờ báo Đài Loan Want China Times, một cơ sở quân sự tại Gạc Ma mà Trung Quốc đánh chiếm của Việt Nam năm 1988 đang được gấp rút hình thành. Cơ sở này được dự đoán mang hình hài của một sân bay quân sự mới với mục đích tăng cường khả năng triển khai lực lượng tại khu vực các vùng biển giáp quanh.
Một giáo sư Mỹ tại Đại học Nhân dân ở Bắc Kinh cho biết rằng kế hoạch biến Bãi Chữ Thập thành đảo nhân tạo đã được trình lên Trung Nam Hải xem xét. Chưa biết rõ bên trong kế hoạch đó sẽ bao gồm những công trình cụ thể gì, nhưng có thể dự đoán Bãi Chữ Thập sẽ được “tân trang” thành một cứ điểm quân sự với chức năng trung chuyển và tiếp liệu cho các tàu và máy bay xung kích. Tờ Global Times của Trung Quốc còn bật mí rằng đó có thể là đường băng và một bến tàu. Các dự án này đã được giới khoa học đại dương của Trung Quốc nghiên cứu và tính toán từ nhiều năm trước.
Như vậy, giàn khoan Hải Dương-981 hay các giàn khoan khác, đảo nhân tạo tại Gạc Ma hay bãi Chữ Thập đang cho thấy bản chất “ngầm” thật sự hiện nay.
Một bên đang áp đặt sức mạnh quân sự. Trong khí đó một bên lại đang chiếm lợi thế về lý lẽ chủ quyền, và được dư luận bên ngoài ủng hộ. Quan trọng hơn cả là cuộc cạnh tranh về mặt công nghệ và con người (theo hàm nghĩa chất xám và chuyên môn).
Việt Nam trong tư cách một quốc gia đang chiếm ưu thế về mặt dư luận và tính chính nghĩa, song nếu không cụ thể hóa những ưu thế này thành hành động, thì các yếu tố được xem là lợi thế sẽ không thể duy trì mãi.
Trong mặt trận khoa học kỹ thuật, đặc biệt những ngành nghề có liên quan trực tiếp đến nghiên cứu biển Đông, khoảng cách thực lực sẽ không thể rút ngắn, mà nó sẽ giãn ra theo thời gian. Tìm ra một ngành khoa học công nghệ biển “trọng điểm” và “đủ chuyên sâu” là câu hỏi của các nhà chính trị và giới khoa học nước nhà. Trong từng địa hạt, thị trường “ngách” đang là mặt trận mà các chiến sĩ học giả cần phải dấn thân.
Mọi căng thẳng đều có điểm chung: kẻ đối đầu và điểm dừng của kết quả. Nhưng cuộc chiến này là trường kỳ, và đối thủ chủ chốt sẽ là chính mình. Vượt qua bản thân mình là việc phải làm trong thời điểm này, dẫu có nhìn từ góc độ pháp lý, hay từ quyết tâm xây dựng một liên ngành khoa học “biển Đông” tinh nhuệ.
Vũ Quỳnh
(VNN)

Không thể vừa gây rối vừa la làng

TTO - Trong bài viết đăng trên tờ Matichon ngày 23-6-2014, đại sứ Trung Quốc tại Thái Lan Ninh Phú Khôi (Ning Fuikui) đã hoàn toàn đúng khi chỉ ra rằng dư luận quốc tế đang hết sức thất vọng trước những hành động sai trái gần đây của Trung Quốc.
 
Sau khi đâm tàu kiểm ngư 951 ở mạn phải, tàu Hữu Liên 9 tiếp tục ghìm chặt, không cho tàu 951 xoay trở được để tàu kéo 285 lấy đà lao vào, phía xa tàu hải tuần 11 dùng vòi rồng phun nước uy hiếp - Ảnh: Văn Vững
Trung Quốc đã đơn phương hạ đặt trái phép giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, chủ ý đâm va, làm chìm tàu Việt Nam đang hoạt động bình thường trong vùng biển của mình.

Những hành động trên không chỉ vi phạm luật pháp quốc tế, trái với Tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), đi ngược lại các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao Việt Nam - Trung Quốc mà còn làm trầm trọng tình hình ở biển Đông, gia tăng căng thẳng ở khu vực.

Tuy nhiên, để biện minh cho những hành động hoàn toàn sai trái của phía Trung Quốc, đại sứ Ninh đã không ngần ngại xuyên tạc, bịa đặt và đổ lỗi cho Việt Nam nhằm bóp méo sự thật. Vậy những sự thật nào đang được đại sứ Ninh cố gắng che giấu?

Quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, không phải của Trung Quốc

Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam là quốc gia đầu tiên đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền một cách liên tục và hòa bình tại hai quần đảo này. Ít nhất kể từ thế kỷ 17, khi mà vùng lãnh thổ này còn vô chủ, các chúa Nguyễn của Việt Nam đã thành lập những đội dân binh, gọi là đội Hoàng Sa, để cai quản và khai thác quần đảo Hoàng Sa. Đội Hoàng Sa này có nhiệm vụ hằng năm tới quần đảo Hoàng Sa để khai thác sản vật, đo đạc, trồng cây, dựng bia, xây dựng chùa chiền, cứu hộ tàu thuyền…  Tất cả những hoạt động này đều được ghi lại trong các tài liệu chính thức.

Trong khi đó, Trung Quốc đã phủ nhận ý định thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa khi vào năm 1898, sau sự kiện tàu Bellona và Himeji Maru đắm tại Hoàng Sa bị ngư dân Trung Quốc cướp tài sản, Phó vương Quảng Đông đã tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là vùng đất vô chủ, không thuộc về Trung Quốc, không có liên quan gì về mặt hành chính đối với bất cứ quận nào của Hải Nam và không cơ quan nào có trách nhiệm kiểm soát khu vực này.

Mặt khác, nhiều tài liệu của Trung Quốc, như Hải ngoại kỷ sự (Haiwai jishi) năm 1696 hay Hải lục (Hailu) năm 1820 đã công nhận quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam.

Các Hội nghị Cairo năm 1943 và Potsdam năm 1945 mà Trung Quốc là một bên tham dự đã yêu cầu Nhật Bản phải trả lại các đảo trong Thái Bình Dương đã cưỡng chiếm trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Theo đó, các lãnh thổ Nhật Bản phải trả Trung Quốc là Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, không có Hoàng Sa và Trường Sa. Không có bất cứ tài liệu quốc tế liên quan nào ghi rằng Trung Quốc giành lại Hoàng Sa từ Nhật Bản năm 1946, như luận điệu của đại sứ Ninh.

Đặc biệt, tại Hội nghị San Francisco năm 1951, đề xuất yêu cầu Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với quần đảo Hoàng Sa đã bị bác bỏ với 46 phiếu chống. Cũng tại hội nghị này, trưởng đoàn Việt Nam, Thủ tướng Trần Văn Hữu đã tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp phải bất kỳ phản đối nào của 51 nước tham dự.

Năm 1956, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực đánh chiếm khu vực phía đông và năm 1974 chiếm khu vực phía tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Hành động này đã vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia khác, một nguyên tắc mang tính mệnh lệnh của luật pháp quốc tế. Hành động xâm lược này cũng như tất cả những hành động sai trái khác của phía Trung Quốc nhằm xâm phạm quần đảo Hoàng Sa vẫn luôn bị phía Việt Nam lên án một cách mạnh mẽ.

Việc đại sứ Ninh cố ý úp mở về một số tài liệu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa trước năm 1974 để nói Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa là hành động xuyên tạc lịch sử. Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Việt Nam Dân chủ cộng hòa được giao quản lý phần lãnh thổ miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra, không bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Là một bên tham gia Hội nghị Giơ-ne-vơ, hiển nhiên là Trung Quốc biết rất rõ điều này.

Trung Quốc xâm phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam

Mặc dù đã cố ý đánh lạc hướng dư luận sang vấn đề chủ quyền, đại sứ Ninh cũng không thể làm thay đổi được một sự thật khác. Đó là dù cho diễn giải theo bất cứ cách nào thì giàn khoan của Trung Quốc vẫn hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Nếu Đại sứ Ninh chịu khó bỏ chút thời gian ra đọc một số tài liệu cơ bản về luật biển thì sẽ biết là cả cái gọi là “vùng biển 17 hải lý” của bãi đá Tri Tôn lẫn “đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa” mà Trung Quốc vẽ ra đều đi ngược lại Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982.

Vì thế, với việc đơn phương hạ đặt trái phép giàn khoan tại khu vực có vị trí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam từ 60-80 hải lý, Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Trước sau như một, Việt Nam kiên quyết phản đối những hành động xâm phạm tới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Chính đại sứ Ninh đã thú nhận là Trung Quốc đã nhiều lần xâm phạm các vùng biển của Việt Nam này để tiến hành đơn phương khảo sát. Những lần như vậy, Việt Nam đã đưa tàu thực thi pháp luật tới cảnh báo, xua đuổi các tàu và giàn khoan Trung Quốc hoạt động bất hợp pháp, đồng thời gửi công hàm ngoại giao phản đối. Tất cả những sự việc này đã được ghi lại một cách hết sức rõ ràng.

Đại sứ Ninh cũng tự cho phép mình đưa ra những lời vu cáo không dựa trên bất cứ bằng cớ nào. Ông Ninh lớn tiếng nói rằng Việt Nam cử người nhái đến khu vực hạ đặt giàn khoan, rằng tàu Việt Nam đã đâm tàu Trung Quốc 1.416 lần, nhưng cả ông đại sứ lẫn chính quyền Trung Quốc đều không thể đưa ra bất kỳ bằng chứng nào chứng minh cho những tuyên bố sai trái nói trên. Trái lại, theo những băng ghi hình mà Việt Nam công bố cũng như theo những gì các phóng viên quốc tế ghi lại tại hiện trường thì sự thật hoàn toàn ngược lại.

Chính Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng hùng hậu tàu bè các loại, có lúc lên tới gần 140 chiếc, trong đó có cả những tàu quân sự hiện đại, trang bị vũ khí đầy đủ để hộ tống giàn khoan Hải Dương 981 hoạt động trái phép trong vùng biển Việt Nam. Tàu Trung Quốc đã cố tình đâm va, phun vòi rồng vào các tàu dân sự Việt Nam, gây thương tích cho hàng chục cán bộ kiểm ngư và ngư dân, gây hư hại nhiều tàu thực thi pháp luật của Việt Nam và thậm chí đâm chìm một cách dã man tàu cá của Việt Nam.

Thật là nực cười khi đại sứ Ninh nhắc tới “một lượng lớn chướng ngại vật, trong đó có lưới đánh cá và các vật trôi nổi” trên biển để công kích Việt Nam. Đó không là gì khác ngoài những bộ phận, vật dụng rơi ra từ tàu Việt Nam sau khi bị tàu Trung Quốc tấn công và đây cũng chính là những bằng chứng rất rõ ràng về sự hung hãn của tàu Trung Quốc.

Tất cả bằng chứng về sự hiếu chiến và vô nhân đạo của tàu Trung Quốc đều đã được công bố một cách rộng rãi. Các bạn Thái cũng có thể tham khảo những hãng thông tấn có trụ sở tại Thái Lan đã cử phóng viên ra hiện trường để biết thêm chi tiết.

Xuất phát từ sự bức xúc, phẫn nộ trước những hành động phi pháp, vô nhân đạo của Trung Quốc và để bày tỏ lòng yêu nước, người dân Việt Nam đã tuần hành phản đối tự phát. Một số người đã lợi dụng lòng yêu nước của người dân Việt Nam, có các hành vi kích động, phi pháp, gây ảnh hưởng ngoài ý muốn đối với một số công nhân Trung Quốc và nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Ngay lập tức, Chính phủ Việt Nam đã triển khai quyết liệt một loạt biện pháp như bắt giữ, xử lý những kẻ gây rối, đảm bảo an ninh, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp bị thiệt hại.

Cho đến nay, tình hình đã hoàn toàn ổn định, các doanh nghiệp nước ngoài đã quay trở lại sản xuất bình thường. Cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài đánh giá rất cao những nỗ lực vừa qua của Chính phủ Việt Nam. Vậy mà đại sứ Ninh vẫn không ngừng đổ lỗi cho Chính phủ Việt Nam, cố tình rêu rao, bóp méo sự thật. Và trước khi vội vàng chỉ trích Chính phủ Việt Nam, phải chăng đại sứ Ninh nên tự hỏi chính quyền Trung Quốc đã có chính sách gì với các doanh nghiệp Nhật Bản bị thiệt hại tương tự do những vụ bạo động chống Nhật Bản tại Trung Quốc 2 năm về trước.

Trung Quốc phớt lờ thiện chí của Việt Nam

Ngay từ ngày đầu tiên Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương - 981, Việt Nam đã nỗ lực chủ động đề xuất tiếp xúc, trao đổi, yêu cầu Trung Quốc dừng các hành động vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, tiến hành đàm phán song phương thực chất để giải quyết các vấn đề trên biển giữa hai nước.

Cho tới nay, Việt Nam đã tiến hành hơn 30 cuộc trao đổi với phía Trung Quốc ở tất cả các cấp, gần đây nhất Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã mời Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì tới Hà Nội để trao đổi. Tuy nhiên, cho đến nay phía Trung Quốc vẫn kiên quyết từ chối rút giàn khoan và đàm phán thực chất với Việt Nam để ổn định tình hình.

Tôi hoàn toàn đồng ý với đại sứ Ninh khi cho rằng một quốc gia nên biết trọng lời hứa của mình và khẩn thiết kêu gọi Trung Quốc tôn trọng lời hứa của Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình với Bí thư Thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam hồi tháng 9-1975 là giải quyết những bất đồng giữa hai nước đối với quần đảo Hoàng Sa thông qua hiệp thương hữu nghị, cũng như kêu gọi Chính phủ Trung Quốc tôn trọng tất cả cam kết liên quan tới việc giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước.

Việt Nam luôn tôn trọng luật pháp quốc tế, nỗ lực vì hòa bình

Việt Nam luôn tôn trọng luật pháp quốc tế, nỗ lực vì hòa bình, ổn định và phát triển ở vịnh Thái Lan nói riêng và ở biển Đông nói chung bằng hành động cụ thể. Năm 1997, Việt Nam đã ký kết với Thái Lan Hiệp định phân định vịnh Thái Lan. Đây là hiệp định phân định biên giới biển đầu tiên tại Đông Nam Á sau khi Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 có hiệu lực và cũng là hiệp định phân định biển đầu tiên ở vịnh Thái Lan.

Chính phủ hai nước Việt Nam và Thái Lan triển khai nhiều hoạt động hợp tác hiệu quả nhằm bảo đảm an ninh hàng hải và bảo vệ tài nguyên sinh vật biển tại khu vực này, tiến hành hoạt động tuần tra chung.

Việt Nam cũng đã ký kết các hiệp định phân định biên giới biển với nhiều quốc gia khác trong vịnh Thái Lan và trên biển Đông, trong đó có Hiệp định phân định vịnh Bắc bộ với Trung Quốc năm 2000, hiệp định phân định biên giới biển đầu tiên của Trung Quốc. Việt Nam cũng triển khai nhiều sáng kiến hợp tác song phương và đa phương quan trọng trên biển Đông trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, các bên cùng có lợi trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, thăm dò khai thác dầu khí. Đặc biệt, ngay trước khi Trung Quốc đơn phương tiến hành khoan thăm dò, Việt Nam và Trung Quốc đã thành lập nhóm thảo luận hợp tác cùng phát triển trên biển.

Kiên định chủ trương tôn trọng luật pháp quốc tế, hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực, Việt Nam sẵn sàng sử dụng tất cả biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế để bảo vệ những quyền và lợi ích trên biển chính đáng của mình. Việt Nam mong rằng chính phủ và người dân trên toàn thế giới, trong đó có Chính phủ và người dân Thái Lan, sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong các nỗ lực thực hiện chủ trương đúng đắn này.

Có vẻ như đại sứ Ninh rất thích trích dẫn ngạn ngữ. Vậy cũng xin kết thúc bài viết này bằng việc trích dẫn một câu ngạn ngữ Trung Quốc “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Trung Quốc nên tự hỏi vì sao mình lại bị dư luận quốc tế lên án như thế hơn là trách cứ, bắt bẻ cộng đồng quốc tế một cách vô căn cứ.
TRẦN VĂN
  (Tuổi trẻ)

Nhiều thay đổi trong quy chế bầu cử trong Đảng


Xê Nho NVP: Tờ Pháp luật TPHCM có cái tin rất hay (tít: Nhiều thay đổi trong quy chế bầu cử trong Đảng).
Nội dung chính: “... trong việc bầu cử ở BCH Trung ương thì các ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư không được ứng cử, đề cử và nhận đề cử ngoài danh sách mà Bộ Chính trị đã chuẩn bị. Tương tự, việc bầu cử ở hội nghị BCH đảng bộ cấp dưới trung ương, ủy viên Ban Thường vụ cũng không được ứng cử, đề cử và nhận đề cử ngoài danh sách mà BCH đã chuẩn bị. Nguyên tắc này cũng được áp dụng chặt chẽ tại đại hội đảng bộ các cấp. Riêng việc bầu cử tại Đại hội Đảng toàn quốc sẽ do đại hội quyết định”.
Tin này hay vì việc thảo luận nội dung quy chế này xảy ra từ ngày 12/5 mà đến nay mới có tin về nội dung, chứ lúc đó tất cả các báo chỉ đưa tin “Ban Chấp hành Trung ương Đảng thảo luận về dự thảo Quy chế bầu cử trong Đảng vào ngày làm việc thứ 5 tại Hội nghị lần thứ 9”.
Thời sự hóa một thông tin quan trọng như thế là hữu ích cũng như nhờ người lý giải cách bầu cử như thế thì “yếu tố dân chủ được nhấn mạnh hơn” làm tin hay hơn nhiều! Không có bản tin trên tờ Pháp luật TPHCM thì bảo đảm chịu, không ai biết câu chuyện hấp dẫn và vô đối này.

Quy chế về bầu cử trong Đảng, do Hội nghị Trung ương 9 thông qua, vừa được phát hành, phổ biến tới các chi bộ. Quy chế này thay cho Quy chế năm 2009 với một số điểm mới đáng chú ý.

Cụ thể, trong việc bầu cử ở BCH Trung ương thì các ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư không được ứng cử, đề cử và nhận đề cử ngoài danh sách mà Bộ Chính trị đã chuẩn bị. Tương tự, việc bầu cử ở hội nghị BCH đảng bộ cấp dưới trung ương, ủy viên Ban Thường vụ cũng không được ứng cử, đề cử và nhận đề cử ngoài danh sách mà BCH đã chuẩn bị. Nguyên tắc này cũng được áp dụng chặt chẽ tại đại hội đảng bộ các cấp. Riêng việc bầu cử tại Đại hội Đảng toàn quốc sẽ do đại hội quyết định.

Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, một ủy viên BCH Trung ương cho biết Quy chế bầu cử mới này được thảo luận kỹ lưỡng qua hai hội nghị Trung ương 8 và 9. Qua đó, Trung ương đi đến thống nhất là yếu tố dân chủ phải được nhấn mạnh hơn trong quá trình chuẩn bị nhân sự dự kiến. Trong quá trình đó, tất cả cấp ủy viên hoặc ủy viên thường vụ đã được thể hiện chính kiến đầy đủ thì tới khi bầu cử họ phải chấp hành kết quả chuẩn bị đó. Họ không được tự ứng cử, nhận đề cử nếu mình không được tập thể giới thiệu. Họ cũng không được đề cử người khác nằm ngoài danh sách mà chính mình đã tham gia chuẩn bị.

NGHĨA NHÂN

’Cơ chế’ an ninh nào phù hợp cho Việt Nam?

’Cơ chế’ an ninh nào phù hợp cho Việt Nam?

http://baodatviet.vn/the-gioi/quan-he-quoc-te/co-che-an-ninh-nao-phu-hop-cho-viet-nam-3044390/
Lê Ngọc Thống
(Quan hệ quốc tế) – Liên minh quân sự của Việt Nam với quốc gia nào đó chỉ vì tự vệ và chỉ khi tự vệ.
Trong quan hệ an ninh quốc phòng giữa hai hay nhiều quốc gia xuất hiện nhiều cách thức mà cơ chế khác nhau như, liên minh; hợp tác, trao đổi đôi bên cùng có lợi…theo hình thức công khai hay là bí mật.
Tùy theo sức mạnh, vị thế của các bên tham gia mà có những cơ chế an ninh phù hợp cho từng bên. Chẳng hạn “Liên minh quân sự Mỹ-Philipines”, thì với vị trí chiến lược quan trọng của mình, Philipines cho phép Mỹ đặt căn cứ quân sự tại đây và đổi lại Mỹ sẽ bảo vệ Philipines trước ngoại xâm.

a
Hai tàu chấp pháp Trung Quốc chiếc thì phun vòi rồng, chiếc thì đâm húc tàu Kiểm Ngư Việt Nam trên Biển Đông. Hành động “hữu nghị” kiểu đại Hán?
Tuy nhiên, xung đột quân sự tại khu vực tranh chấp chủ quyền biển đảo thì đến nay ngoại trừ quần đảo Senkaku của Nhật Bản tranh chấp với Trung Quốc thì Mỹ tuyên bố là nó nằm trong cơ chế liên minh quân sự Mỹ-Nhật Bản, nghĩa là Mỹ sẽ trực tiếp tham gia quân sự nếu xung đột xảy ra, còn với Philipines thì chưa nghe Mỹ tuyên bố như vậy.
Tất nhiên, đằng sau việc Philipines rộng cửa cho Mỹ vào các vị trí chiến lược của quốc gia gần đây không đơn thuần là chỉ để bảo vệ Philipines bởi vì nguy cơ Philipines bị Trung Quốc tấn công xâm lược là không có, Trung Quốc không cần Philipines, cái mà Trung Quốc cần là các bãi cạn, đảo mà Philipines đang kiểm soát trên quần đảo Trường Sa cơ, cho nên, những điều kiện Philipines muốn gì ở Mỹ thì thỏa thuận đó chỉ có họ biết, là bí mật.
Không chỉ với Mỹ, Philipines còn có mối quan hệ an ninh với Nhật Bản rất thân thiết, Philipines công khai ủng hộ Nhật Bản tái vũ trang, ủng hộ quyền phòng vệ tập thể của Nhật Bản…và chẳng ngạc nhiên khi Nhật Bản quyết định viện trợ cho Philipines 10 tàu tuần tra để đối phó với Trung Quốc, ủng hộ Philipines kiện Trung Quốc.
Như vậy với vai trò trung tâm của Mỹ, một cơ chế an ninh giữa Mỹ-Nhật Bản-Philipines được củng cố và phát triển phù hợp với tình hình mới khi Trung Quốc đang hung hăng trỗi dậy, tạo ra một vành đai mà nếu thêm Việt Nam hoặc Malaysia là bao trọn châu Á-Thái Bình Dương.
Với Việt Nam hiện nay về công khai, chúng ta chưa có một cơ chế an ninh chính trị với quốc gia nào trong khu vực. Để xây dựng một chiến lược “hòa bình chủ động” trong tình hình hiện nay thì dứt khoát phải chủ động tham gia vào các cơ chế an ninh khu vực, quốc tế mới có thêm sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Nói “các cơ chế an ninh” vì Việt Nam có nhiều đối tác, không chỉ Nga, Ấn Độ mà còn có Nhật Bản, Philipines, Mỹ…mà qua đó Việt Nam có được những cơ chế an ninh khác nhau, phù hợp với lợi ích quốc gia.
Đừng mơ tưởng khi “có được” một liên minh quân sự với Mỹ thì Mỹ sẽ đánh Trung Quốc để bảo vệ Trường Sa cho Việt Nam, không bao giờ, với lại, Việt Nam cũng không muốn như vậy nếu như có một cơ chế an ninh cho 2 bên. Đành rằng còn quá sớm để bàn đến chuyện liên minh quân sự với Mỹ khi Mỹ vẫn đang cấm vận VKST với Việt Nam nhưng khi tính đến một cơ chế an ninh mà cả 2 cùng thỏa thuận thì đã đến lúc.
Trong chiến lược Mỹ, Việt Nam có 2 thứ mà rất có giá trị với Mỹ, đó là, thứ nhất Việt Nam có một vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng trong chiến lược xoay trục sang châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ, đặc biệt là quân cảng Cam Ranh.
Thứ hai là Việt Nam đã, đang thể hiện một ý chí, bản lĩnh, trước sự hung hăng, ngang ngược, bất chấp đạo lý, pháp lý của Trung Quốc, xâm hại đến chủ quyền biển đảo với một tinh thần “thà hy sinh tất cả…”. Như vậy, Trung Quốc muốn vượt qua Việt Nam không phải dễ dàng và Mỹ liệu có được lợi gì không khi Trung Quốc sẽ bị sa lầy khi đối đầu với Việt Nam???
Về logic lợi ích thì Trung Quốc chỉ thay vai Mỹ cách đây mấy chục năm về trước mà thôi, có điều, Việt Nam thay vì như ngày xưa chỉ có quyền lựa chọn theo sự áp đặt của Trung Quốc thì ngày nay có rất nhiều sự lựa chọn. Chắc chắn Việt Nam sẽ, đã chọn một cơ chế an ninh nào đó với Mỹ có lợi cho cả hai.
Với Nga. Có thể nói hợp tác quốc phòng và dầu khí của Việt Nam-Nga đã rất sâu cho nên một cơ chế an ninh Việt-Nga đã, đang có là bắt buộc, là nhu cầu tất yếu.
Bằng cách nào Nga bảo vệ được lợi ích quốc gia trực tiếp là các dàn dầu khí của mình trên Biển Đông? Bằng cách nào Nga bảo vệ được các hợp tác quốc phòng của mình với Việt Nam tại căn cứ Hải quân Cam Ranh? Nói cách khác, bằng cách nào Nga duy trì được chiến lược ngắn hạn và dài hạn ở châu Á-TBD…?
Trước hết chúng ta hãy để ý một chút về Cam Ranh. Khi nói về vị trí quân sự chiến lược của Việt Nam trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương người ta nghĩ ngay đến Cam Ranh, một vị trí còn độc đắc hơn cà Subic của Philipines. Người Trung Quốc rất sợ điều tồi tệ nhất xảy ra là khi Cam Ranh trở thành căn cứ quân sự của nước ngoài (Nga, Mỹ, Nhật Bản), vì thế họ luôn chỉ trích, lu loa rằng Việt Nam “dùng Cam Ranh làm vũ khí” để chống Trung Quốc…(Cũng không sai, vì ở Việt Nam, “cỏ sẽ biến thành chông, sông sẽ biến thành sông lửa” để tấn công quân xâm lược thì có lẽ nào một Cam Ranh lại không…gì?).
Cơ chế an ninh nào cho Việt-Nga? Trước hết tại Cam Ranh, Nga được ưu tiên, Việt Nam coi Nga như “người nhà”. Và, dĩ nhiên, chắc rằng Việt Nam cần mua loại vũ khí nào của Nga để phục vụ cho chiến thuật, chiến lược…thì Nga cũng không ngần ngại khi bán nó cho “người nhà”.
Nếu như ngoài quân đội Nga ra chỉ Việt Nam là có hệ thống tên lửa phòng thủ biển Bastion-P thì chẳng có gì là không thể xảy ra để Việt Nam có một sức mạnh đủ để răn đe những cái đầu hiếu chiến. Vũ khí người Nga tại Việt Nam làm cho Trung Quốc lo ngại nhiều chứ vũ khí người Nga tại Trung Quốc người Việt không mấy lo lắng.
Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 sâu trong thềm lục địa Việt Nam tại thời điểm khi Nga bắt tay với Trung Quốc để phá thế bao vây của Mỹ và phương Tây là thử phản ứng của Nga và gây chia rẻ mối quan hệ Nga-Việt, một trong những mục tiêu chính mà Trung Quốc nhắm đến.
Chúng ta để ý, cứ mỗi lần Trung Quốc gây áp lực mạnh với Việt Nam là Hạm đội Nga thăm Việt Nam đến Cam Ranh. Phải chăng đó là biểu hiện của cơ chế an ninh Việt-Nga?
Tuy nhiên, vũ khí và ý chí, bản lĩnh, trí tuệ mới chỉ là lực, là chưa đủ mà phải tạo ra thế mới có sức mạnh bền vững, cho nên, dứt khoát chủ động tham gia vào cơ chế an ninh với Nhật Bản, Philipines, Ấn Độ…để tạo thế, trong đó Nhật Bản, Philipines là then chốt.
Rất có thể một liên minh quân sự Việt Nam-Nhật Bản sẽ xuất hiện.
Nếu như một liên minh quân sự Việt Nam-Nhật Bản hình thành thì đó cũng là điều tự nhiên mang tính tất yếu.
  Có thể nói tình thế an ninh giữa 3 quốc gia Việt Nam, Nhật Bản và Philipines đã tạo ra những điều kiện cần và đủ để rất dễ xảy ra liên minh quân sự nhất so với khả năng Việt Nam liên minh quân sự với Nga, Mỹ, Ấn.
Điều kiện cần là Trung Quốc đã, đang hung hăng, cậy mạnh, đe dọa sử dụng vũ lực để xâm hại chủ quyền biển đảo cả 3 nước ngày càng leo thang đến nấc thang nguy hiểm.
Điều kiện đủ là cả 3 quốc gia có cùng kẻ thù trực tiếp; Việt Nam không có bất kỳ mâu thuẫn nào về lợi ích với Nhật Bản, với Philipines tuy có tranh chấp nhưng 2 nước đã thống nhất giải quyết bằng biện pháp hòa bình; Việt Nam, Philipines đều án ngữ tuyến hàng hải sống còn của Trung Quốc và Nhật Bản, đồng thời có địa quân sự quan trọng thách thức rất lớn đến tham vọng chiếm trọn Biển Đông của Trung Quốc. Và khi 3 quốc gia này liên thủ thì có tính khả thi cao, có nghĩa là tham vọng của Trung Quốc sẽ sụp đổ là rất lớn.
Đến đây nhiều người sẽ đặt câu hỏi, vậy thì tại sao không liên minh ngay đi…Đúng vậy, liên minh quân sự Mỹ-Nhật Bản và Mỹ-Philipines đã có trước khi Trung Quốc trỗi dậy và hiện nay trên Biển Đông, Hoa Đông đang rất căng thẳng bởi sự hung hăng ngang ngược của Trung Quốc mà nếu xuất hiện liên minh quân sự Nhật Bản-Việt Nam-Philipines thì liên minh đó được hiểu là để chống Trung Quốc, đối đầu với Trung Quốc.
Trong khi đó, tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc không phản ánh toàn bộ mối quan hệ với Trung Quốc. Bởi vậy sự ra đời một liên minh quân sự là phải cân nhắc đúng thời điểm, nhưng trước đó cần thiết phải có những cơ chế an ninh song phương, đa phương.
Trong chơi cờ chỉ có quân xe, quân mã là chiếu tướng trực diện, nghĩa là nó đối diện trực tiếp với tướng mà không có quân cản, còn lối tấn công của quân pháo thì không như vậy. Quân pháo chiếu tướng phải có một quân làm ngòi và điều đặc biệt là quân làm ngòi đó đó bất kể là quân của ai.
Có thể nói trên bàn cờ chiến lược Tây Thái Bình Dương, để đối phó với sự hung hăng thôn tính Biển Đông của Trung Quốc, Việt Nam đang sử dụng lối tấn công của quân pháo để chủ động tham gia vào cơ chế an ninh khu vực nhằm tạo ra một sức mạnh răn đe ngăn ngừa chiến tranh trong chiến lược hòa bình chủ động.
Việt Nam không muốn đối đầu quân sự với Trung Quốc, một cường quốc láng giềng trừ phi phải tự vệ. Vì thế liên minh quân sự của Việt Nam với ai đó cũng chỉ vì tự vệ và chỉ khi tự vệ. Chắc chắn trong chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo, Việt Nam đủ khả năng để lựa chọn và đủ khôn ngoan để đi những nước cờ có lợi cho quốc gia.
  • Lê Ngọc Thống

    Việt Nam cần ‘thoát Trung’ hay không?


    Nhiều nhà quan sát tình hình Việt Nam hồi gần đây cho rằng việc Trung Quốc đặt giàn khoan gần quần đảo Hoàng Sa đã làm tan vỡ ảo tưởng của một số người có lẽ không nhiều ở Việt Nam về mối quan hệ “bốn tốt” với nước láng giềng khổng lồ ở phương bắc. Sự tan vỡ đó xảy ra đồng thời với sự hình thành của một cuộc vận động tư tưởng trong giới trí thức Việt Nam nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc của Trung Quốc trong các lãnh vực văn hóa, chính trị và kinh tế. Ban Việt Ngữ đài VOA đã tiếp xúc với Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, cựu Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, để tìm hiểu thêm về diễn tiến đáng chú ý này. Mời quí thính giả theo dõi cuộc phỏng vấn do Duy Ái thực hiện sau đây.

    VOA: Thưa giáo sư Đoàn Viết Hoạt, trước hết chúng tôi xin cám ơn ông đã có nhã ý dành thời giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Và câu hỏi thứ nhất chúng tôi xin hỏi là nội dung chính của chủ trương Thoát Trung là gì.

    Đoàn Viết Hoạt: Đây là vấn đề thời sự và đang được cả trong nước lẫn hải ngoại cũng như quốc tế quan tâm. Xét trên vấn đề thời sự như vậy, vấn đề Thoát Trung nó khá rõ về nội dung. Tức là, hiện nay chúng ta thấy quan hệ giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam với Đảng Cộng Sản Trung Quốc rất là chặt chẽ; nhất là từ khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã quyết định gắn chặt với Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

    Thành ra, Thoát Trung đầu tiên là thoát ra khỏi cái sự gắn chặt đó. Cái mà bình dân người ta gọi là “cái vòng kim cô Thành Đô.” Tôi nghĩ đấy là cái quan trọng nhất, và làm sao Thoát Trung thì là vấn đề khác, nhưng Thoát Trung đầu tiên là phải có tư tưởng độc lập và tìm cách ra khỏi những trói buộc mà chính Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tự đặt mình vào sự trói buộc đó với Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Như vậy là thoát về đường lối, chính sách và về tư tưởng. Và điều đó đặt đến rất nhiều về những nội dung cụ thể về luật pháp, hành chánh và những vấn đề khác, nhất là vấn đề kinh tế.
    VOA: Thưa giáo sư, chắc ông cũng biết là trong bài viết “Thoát Trung Luận” của ông Giáp Văn Dương, ông ấy đã kết thúc bài viết bằng khẩu hiệu “Thoát Trung hay là chết”. Nhưng, trong một bài viết “phản biện” bài viết đó của ông Dương, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, một nhà tranh đấu dân chủ ở Hà Nội, có nói rằng “nếu nhìn ở phạm vi ngay trước mắt thì Việt Nam cần phải xa rời Trung Quốc để hướng đến và thắt chặt với phương Tây, nhưng nếu nhìn ở phạm vi dài hạn thì vấn đề không phải là “Thoát Trung” hay không “Thoát Trung” mà vấn đề là đất nước phải có sự sáng suốt, tỉnh táo để nhận ra được cần phải du nhập cái gì, tránh cái gì… Mà để có sự sáng suốt, tỉnh táo đó thì dân chúng và đặc biệt là giới trí thức phải có suy nghĩ độc lập, khoa học và có khả năng ảnh hưởng, tham gia vào các quyết định liên quan đến mọi vấn đề của quốc gia, xã hội. Khi đó mọi vấn đề “thoát” hay “nhập” với bất cứ cái gì không còn là vấn đề khó khăn, mông lung hay bế tắc nữa.” Ngoài ra, một nhà sử học có uy tín ở Việt Nam, ông Dương Trung Quốc, mới đây cũng nói với báo chí trong nước là Việt Nam “không cần thiết phải ‘thoát Trung’, mà phải biết cách để sống cạnh Trung Hoa như thế nào.” Ông nghĩ sao về các nhận định đó?
    Đoàn Viết Hoạt: Tôi có đọc cả ba bài này. Tôi chia sẻ cái nhìn của anh Phạm Hồng Sơn cũng như là của ông Dương Trung Quốc. Tôi cũng nghĩ rằng ông Giáp Văn Dương muốn đề cập đến vấn đề một cách thời sự trước mắt, còn hai vị kia, nhất là Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, nói đến cái vấn đề căn bản hơn. Tôi nghĩ rằng cũng cần phải chia sẻ với rất nhiều người, đặc biệt là giới trí thức và những người làm chính trị, về nền tảng lâu dài cho sự độc lập của Việt Nam. Thoát Trung chỉ là một dịp để chúng ta thấy sự lệ thuộc của Việt Nam nói chung vào nước ngoài – trước đây là Pháp, Mỹ rồi đến Liên Xô và giờ đây đến Trung Hoa. Thành ra, những vị có suy nghĩ lâu dài, muốn tìm ra một giải pháp bền vững cho nền độc lập của Việt Nam thì cần phải suy nghĩ xa hơn một chút về Thoát Trung.

    Thật sự là đúng như Bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã nói, không phải chỉ vấn đề Thoát Trung mà chúng ta phải thoát ra khỏi tất cả những sự lệ thuộc vào nước ngoài, nhất là vấn đề về tư tưởng và đường lối. Thành ra việc Thoát Trung hiện nay đòi hỏi một cái lớn, đó là Thoát Cộng; và đòi hỏi một cái lớn hơn nữa là chấp nhận một hệ thống xã hội, chính trị như thế nào để chúng ta có thể thật sự độc lập và phát huy sức mạnh của người dân. Đây là vấn đề mà tôi nghĩ là các vị như ông Phạm Hồng Sơn hay ông Dương Trung Quốc muốn đề cập tới.
    VOA: Thưa giáo sư, qua những gì mà giáo sư vừa nói, chúng tôi nhận thấy dường như “Thoát Trung” chỉ là một cái tên mới của những nỗ lực hiện đại hóa hay Tây hóa mà sĩ phu Việt Nam đã thực hiện hay hô hào từ rất lâu. Xin ông cho biết cuộc vận động Thoát Trung hiện nay có gì khác với những nỗ lực của trí thức Việt Nam từ Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ cho tới Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lý Đông A … để hiện đại hóa Việt Nam? Và phải chăng cuộc chiến đấu của Việt Nam Cộng Hòa chống lại quân đội Bắc Việt cũng chính là một nỗ lực Thoát Trung?
    Đoàn Viết Hoạt: Nếu chúng ta đặt vấn đề Thoát Trung không thì nó có thể là khác. Nhưng nếu ta nhìn như là thoát ra khỏi tất cả những ảnh hưởng ngoại lai, những gì đến với đất nước chúng ta bằng hình thức áp đặt, hay bị lệ thuộc, thì chúng ta thấy rằng nó là một cuộc đấu tranh lâu dài của dân tộc và của đất nước, có lẽ là cả trăm năm nay rồi. Đặc biệt là từ khi bắt đầu tiếp cận với Tây Phương qua việc người Pháp đến và đô hộ nước ta. Cuộc đấu tranh đã bắt đầu từ đó, và nó tìm cách bắt đầu phục hồi niềm tin vào dân tộc và tìm ra con đường phát triển dân tộc mà không phải lệ thuộc ảnh hưởng quốc tế hay ngoại lai hay siêu cường nào, kể cả Á Đông lẫn Âu Mỹ. Con đường đó bắt đầu từ trăm năm nay và vẫn chưa hoàn tất.

    Thoát Trung, theo tôi, là giai đoạn cuối cùng trong tiến trình này và chúng ta phải tìm cho được lời giải đáp căn bản. Những người đi trước chúng ta mà tôi đặc biệt chú ý tới là Lý Đông A, bởi vì ông đã nêu ra vấn đề đối với Tàu này từ năm 1943 và ông đã cảnh giác chúng ta về “Đại Họa Hán” sẽ đến trong những thập niên mà chúng ta đang thấy bây giờ, và ông cho đó là cái “đại địch cuối cùng” mà chúng ta phải thoát khỏi thì may ra mới vươn mình lên được. Nhưng mà có lẽ ông còn nói hơn nữa là tinh thần độc lập mà ông gọi là “độc lập siêu nhiên”, tức là thoát ra khỏi mọi cái ảnh hưởng. Không có nghĩa là chúng ta cô lập, bởi vì thời đại hiện nay chúng ta không thể cô lập được, nên phải độc lập cùng với các dân tộc khác trong khu vực và trên toàn thế giới. Nhưng mà mình phải phát huy bản sắc của mình. Nếu không thì mình Thoát Trung nhưng lại lệ thuộc vào Mỹ chẳng hạn; cũng như trước đây lệ thuộc vào Liên Xô ở Miền Bắc và Miền Nam lệ thuộc vào ảnh hưởng của Mỹ. Chúng ta cần phải thoát khỏi những cái đó để vươn mình lên, đồng thời tổng hợp được tất cả những tinh hoa để giúp cho đất nước phát triển. Tôi nghĩ đó là vấn đề căn bản mà nếu có thời giờ chúng ta có thể đề cập thêm.
    VOA: Giáo sư vừa nói tới lời cảnh cáo ông Lý Đông A đưa ra năm 1943 về “hiểm họa nòi Hán”. Xin giáo sư nói rõ thêm.
    Đoàn Viết Hoạt: Lý Đông A là người có thể nói là người chưa được nhiều người biết đến. Đặc biệt là vì những tài liệu của ông bị cấm đoán trong tất cả các chế độ, nhất là chế độ độc tài và đặc biệt là chế độ Cộng Sản. Chưa kể rằng bản thân ông cũng như nhiều nhà yêu nước khác như Trương Tử Anh hay Huỳnh Phú Sổ đã bị Cộng Sản giết hoặc thủ tiêu. Những người nào đọc tài liệu của ông Lý Đông A sẽ biết ông đã nói từ năm 1943 về tình hình thế giới hậu Đệ Nhị Thế Chiến. Ông đã tiên liệu Nhật và Đức sẽ thua trong vòng 45, 46. Và ông nói rằng sau đó, hiểm họa hiện nay của Anh, Mỹ là Nhật, Đức, nhưng hiểm họa, “đối địch”, sau đó là nước Nga và sau nước Nga là nước Tàu. Ông nói rất rõ trong những tài liệu đó và mong rằng quí vị tìm đọc. Nhưng mà riêng về Việt Nam thì ông nói điều mà ông gọi là “đại địch tối hậu”, tức là cuối cùng, là Tàu; Ông viết khá dài về hiểm họa đó và ông nói rằng nó đang bộc lộ bằng chính những tuyên bố của Tưởng Giới Thạch tại hội nghị quốc liên khi Thế Chiến Thứ Hai chưa thật sự chấm dứt. Tưởng Giới Thạch đã đòi lại những vùng đất mà Trung Hoa cho rằng trước đây thuộc họ. Ông Lý gọi đó là “chủ nghĩa Đại Hán mới” và chúng ta cần phải cảnh giác. Rõ ràng là bây giờ chủ nghĩa này đang trở lại.
    VOA: Giáo sư nghĩ như thế nào về cuộc chiến đấu của Việt Nam Cộng Hòa chống lại quân đội Bắc Việt trước đây? Phải chăng đó cũng là một nỗ lực Thoát Trung, thoát khỏi sự kềm kẹp hay sự xâm lăng của Trung Quốc?

    Đoàn Viết Hoạt: Tất nhiên, trước hết là sự xâm lăng của Bắc Việt. Bởi vì Hiệp định Genève chia đôi đất nước không cho phép việc xâm chiếm Miền Nam bằng quân sự. Do đó, quyền bảo vệ và tự vệ là đương nhiên. Đặc biệt là Việt Nam Cộng Hòa là nước đã bắt đầu phát triển chế độ tự do và chế độ dân chủ. Cho nên nó hoàn toàn ngược lại chế độ Miền Bắc. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai là vì nó nằm trong cuộc chiến tranh Lạnh giữa hai ý thức hệ tư bản với cộng sản quốc tế. Thứ ba là rõ ràng lúc đó Trung Quốc hậu thuẫn cho Miền Bắc, cùng với Liên Xô, để phát triển chủ nghĩa Cộng sản cũng như ảnh hưởng của Trung Quốc. Như chúng ta biết, Trung Quốc có mục tiêu riêng của họ là phát triển tiếp cái Đại Hán của họ. Và vì vậy, quả nhiên là cuộc chiến đấu của Việt Nam Cộng Hòa có nhiều mục tiêu: thứ nhất là bảo vệ tự do dân chủ, thứ hai là chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản và thứ ba là chống lại sự bành trướng của Trung Quốc.
    VOA: Cám ơn giáo sư rất nhiều. Chúng tôi rất mong có dịp hầu chuyện thêm với giáo sư về “Thoát Trung.”
    Đoàn Viết Hoạt: Cám ơn anh.
      (VOA)

    Từ đỏ vải thiều đến đỏ khoai tây

    (TBKTSG) - 1. Lục Ngạn - Bắc Giang, vựa vải lớn nhất nước năm nay được mùa. Theo mô tả của báo chí, vải chín đỏ những ngọn đồi, nhuộm đỏ những nẻo đường ra chợ, nhưng lòng người nông dân lại không vui.
    Sự bấp bênh của thời tiết cộng với sự bất thường của giá cả thị trường là những nỗi lo canh cánh của người trồng vải khi rộ mùa. Nhưng năm nay, người nông dân Lục Ngạn đối diện với một nỗi lo mới: sự hụt hẫng về thị trường khi số tiểu thương Trung Quốc tìm đến mua vải giảm đi so với năm ngoái. Tình trạng ép giá xảy ra nặng nề hơn, khiến chính quyền địa phương phải tính đến phương án tìm kiếm thị trường mới cho vải thiều để giảm sự lệ thuộc thị trường Trung Quốc, nhất là trong bối cảnh chính trị giữa hai nước theo dự báo sẽ khó trở lại như trước đây.
    Theo thông tin từ VietNamNet, năm 2013, Lục Ngạn đã xuất sang Trung Quốc hơn 44.000 tấn vải, chiếm gần 50% tổng sản lượng vải toàn huyện. Việc tìm kiếm thị trường mới cho trái vải thiều để giảm phụ thuộc vào thị trường lớn của nước láng giềng và chủ động hơn về giá cả chắc chắn sẽ diễn ra theo một lộ trình rất dài, khó khăn mà nếu người nông dân đồng lòng cùng chính quyền địa phương theo đuổi đến cùng mục tiêu ấy, thì cũng sẽ mất dăm bảy mùa vải nữa mới tìm lại sự ổn định như hiện tại.
    Chuyện trái vải thiều có thể xem là một dẫn chứng cho thấy sự “thoát Trung” trong kinh tế, đặc biệt lĩnh vực xuất khẩu nông sản theo đường tiểu ngạch không hề giản đơn. Và vấn đề cấp thiết không phải ở khẩu hiệu, mà cần đặt lại trọng tâm, đó là làm sao tổ chức cho được quy trình chế biến, xuất khẩu nông sản các địa phương một cách chuyên nghiệp, chặt chẽ với hệ chuẩn tắc chế biến và đóng gói cao hơn, nâng giá trị cho sản phẩm dù cho đầu ra hướng đến bất kỳ thị trường nào.
    2.Tuần qua, truyền thông cũng xôn xao chuyện khoai tây Trung Quốc nhập khẩu được thương lái cho trộn đất đỏ Đà Lạt bán giá thấp khiến củ khoai tây Đà Lạt điêu đứng.
    Thực ra, chiêu thức lấy khoai tây Trung Quốc trộn đất đỏ Đà Lạt giả mạo nông sản địa phương là vấn đề từ nhiều năm trước, thậm chí chính quyền địa phương đã có những xử lý rất mạnh tay.
    Song vấn đề năm nay, tình hình xảy ra phức tạp hơn: các lô khoai tây Trung Quốc “đội lốt” đều có giấy tờ nhập khẩu hợp lệ và bày bán công khai. Khi lực lượng chức năng hỏi đến, thì người bán sỉ chỉ việc nói “lật lọng”:
    “Tôi bán hàng Trung Quốc nhập khẩu có chứng từ và sở dĩ phải nhuộm đỏ là vì đáp ứng yêu cầu của khách hàng”. Nhưng trên thực tế, khi những sản phẩm này tuồn ra thị trường và được bán lẻ, không mấy người phân biệt được đâu là khoai Trung Quốc, đâu là khoai Đà Lạt chính gốc. Một nhà vườn Đà Lạt cho chúng tôi biết rằng, ngay cả khoai tây Đà Lạt khi thu hoạch thấy vỏ đen, nhìn không bắt mắt thì nhà vườn cũng lấy đất đỏ trộn lên cho thẫm màu, dễ bán.
    Câu chuyện đặt ra ở đây là chỉ có thể phát hiện, chế tài khi củ khoai tây Tàu giả mạo hàng địa phương hoặc những lô hàng nhập khẩu có dư lượng thuốc trừ sâu hay bảo quản quá mức quy định.
    Như vậy là củ khoai tây Trung Quốc với mức giá rất thấp cứ việc “ngụy trang” bằng đất đỏ, ngang ngược tràn vào cạnh tranh và đánh gục củ khoai tây địa phương, khiến nông dân Lâm Đồng khóc ròng, còn chính quyền địa phương thì không ngừng kêu khó.
    3. Câu chuyện mùa vải thiều đỏ xứ Lục Ngạn cho đến củ khoai tây Trung Quốc trộn đất đỏ xứ Lâm Đồng, tuy hai chiều vận hành, phân phối hàng hóa nông sản khác nhau (một bên là xuất khẩu, một bên là nhập khẩu), nhưng lại xuất phát từ một nguyên do: thị trường sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã sống trong sự lệ thuộc vào Trung Quốc quá sâu. Và nếu bất ngờ buộc phải giảm sự lệ thuộc khi thiếu giải pháp thị trường thay thế và cả ý thức tự chủ nơi người dân thì sẽ gây ra cú sốc lớn, trực tiếp cho người nông dân.
    Lẽ ra những chiến lược trong xuất, nhập khẩu nông sản, giảm lệ thuộc vào nước láng giềng đầy bất trắc, sự quan tâm đến lợi ích lâu dài của nông dân phải được thực hiện từ rất lâu trước đó, chứ không phải đến khi “có biến” mới bàn tính đến. Nhưng dù sao, muộn còn hơn không. Cần những bước đi quyết đoán và hiệu quả để người nông dân không tiếp tục phải lao đao.
    Nguyễn Vinh

Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam – không chỉ áp lực từ bên ngoài - Nhìn HD-981 nhớ chuyến bay 93 119

"Hữu nghị viển vông" hay cúc cung phục vụ tỉnh Quảng Đông ?

(do ko thể kiểm chứng nguồn tin nên đề nghị bạn đọc tham khảo với thái độ thận trọng!)
Sau chuyến thăm của Bí thư Quảng Đông, đây là 16 công việc mà các Bộ và tỉnh thành Việt Nam “phải làm”, được ghi rõ trong công văn của Bộ ngoại giao VN gửi các Bộ và UBND tỉnh, thành phố.
Chúng tôi vừa nhận được, từ ba bạn đọc ở Hà Nội và Sài Gòn, bản chụp công văn số 1832/BNG/ đề ngày 03 tháng 6 năm 2014 của Bộ ngoại giao, do thứ trưởng Hồ Xuân Sơn ký tên, đóng dấu, liên quan đến “danh mục các công việc cần làm sau chuyến thăm Việt Nam của Bí thư tỉnh Quảng Đông Hồ Xuân Hoa“.
H6 
Công văn nay được gửi cho : một là, “Các Bộ Công Thương ; Kế hoạch và Đầu tư ; Giao thông Vận tải ; Giáo dục và Đào tạo ; Tài chính ; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ; Khoa học và Công nghệ ; Văn hóa, Thể thao và Du lịch” ; hai là, “Ủy ban nhân dân các tỉnh / thành phố : Hà Nội ; Thành phố Hồ Chí Minh ; Quảng Ninh ; Hải Phòng ; Quảng Nam ; Đà Nẵng“.

Đính kèm công văn (1 trang) này là “Danh mục công việc phải làm sau chuyến thăm Việt Nam của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (13 – 17/4/2014)
H7

Dưới đây là toàn văn bản công văn :

Ngày 20/5/2014, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc gửi Bộ Ngoại giao bản Danh mục các công việc cần làm sau chuyến thăm Việt Nam của Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (13 -17/4/2014).

Để triển khai tốt các chương trình hợp tác giữa các Bộ/ngành, địa phương ta với tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, Bộ Ngoại giao xin chuyển đến Quý Cơ quan Danh mục này để tham khảo, đưa vào chương trình hợp tác của Quý Cơ quan với tỉnh Quảng Đông.

Bộ Ngoại giao xin trân trọng cảm ơn sự phối hợp của Quý Cơ quan./.”

Kèm theo là danh mục (hai trang) 16 “công việc phải làm” (xem hình kèm theo)
H8
H9

Để có một ý niệm cụ thể về công văn ký tên Hồ Xuân Sơn nhằm thực hiện ý muốn của Hồ Xuân Hoa, bí thư (hay tổng đốc ?) Quảng Đông, chỉ cần chép lại nguyên văn hai “công việc phải làm” số 1 và số 2 :

“1. Thúc đẩy Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải thăm Quảng Đông.

“2. Trong khuôn khổ bồi dưỡng đào tạo cán bộ giữa hai Đảng Trung Việt, triển khai công tác đào tạo cho cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Kế hoạch trong 05 năm đào tạo 300 cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ; trong đó Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi địa phương 100 cán bộ, 100 cán bộ của các tỉnh thành có quan hệ hợp tác với Quảng Đông nhiều như TP. Hải Phòng, Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam“.

Thiết tưởng mọi bình luận là quá thừa.Câu hỏi duy nhất đáng đặt ra : đây là công văn của “Bộ ngoại giao Việt Nam” hay là của Sở nội vụ tỉnh Quảng Đông ?
B.T. 
28-06-2014
  (Diễn Đàn)

Tạp chí tình báo nổi tiếng của Anh tiên đoán tranh chấp Biển Đông sẽ thách thức sự ổn định của chính phủ Việt Nam

Viet-studies.info: Tạp chí tình báo nổi tiếng của Anh tiên đoán tranh chấp Biển Đông sẽ thách thức sự ổn định của chính phủ Việt Nam: Escalation of Sino-Vietnamese South China Sea dispute poses longer term challenges to stability of Vietnam's government (Janes's Intelligence Weekly 26-6-14) -- Jane's Intelligence Weekly là tuần báo cực kỳ uy tín (và subscription cực kỳ mắc! Xin cám ơn một thân hữu gửi tặng bài này)
Ủy Viên Bộ Chính Trị Trung Quốc Dương Khiết Trì (bên trái) và Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. Hình chụp tại Hà Nội, Việt Nam hôm Thứ Tư ngày 18 tháng 6 năm 2014, sau các cuộc đàm phán về việc tranh chấp tại Biển Đông.

Tạp chí tình báo nổi tiếng của Anh tiên đoán tranh chấp Biển Đông sẽ thách thức sự ổn định của chính phủ Việt Nam:

Sự leo thang tranh chấp giữa Việt-Trung tại Biển Đông, đặt ra những thách thức đối với sự ổn định của chính phủ Việt Nam
Biến cố

Ngày 26 tháng 6 chính quyền Việt Nam công bố, tính đến nay đã có 27 tàu giám sát thủy sản của Việt Nam, bị tàu Trung Quốc cố tình va chạm, đâm chìm.

Tranh chấp hàng hải leo thang sau khi Trung Quốc chuyển giàn khoan (HYSY-981) vào vùng biển tranh chấp gần quần đảo Hoàng Sa. Việc Trung Quốc triển khai giàn khoan HD981 đã gây ra làn sóng bạo lực chống các hãng xưởng của Trung Quốc, Đài Loan, và Hàn Quốc trong các khu công nghiệp phía Nam Việt Nam, khiến 361 nhà máy bị tàn phá. Quy mô của cuộc bạo động khiến một số ý kiến cho rằng, đã có một tổ chức nào đó đứng ra giật dây. Nhật báo South China Morning đưa tin, nhiều người chứng kiến một nhóm đàn ông đi xe máy kích động bạo loạn, trong khi công an Việt Nam tuyên bố: Việt Tân (danh xưng của "một tổ chức khủng bố" bất hợp pháp chống chính phủ), xúi giục bạo loạn nhằm mục đích lật đổ đảng cầm quyền.
Dự báo

Mặc dù quy mô bạo lực trong tháng 5/2014 không lập lại giống nhau, sự leo thang tranh chấp kéo dài đã trở thành thách thức đối với việc điều hành của chính phủ, khi mối quan hệ Trung Việt ngày càng trở nên gắn bó với nền chính trị Việt Nam. Tính danh của Đảng Cộng Sản Việt Nam có lịch sử dựa trên sự độc lập dân tộc, và cuộc đấu tranh chống lại sự chiếm đóng của ngoại bang. Do đó lời chỉ trích của chính phủ được các nhà hoạt động trình bày như “chủ nghĩa dân tộc,” vì thế Đảng Cộng Sản gặp nhiều khó khăn khi biện minh cho việc đàn áp những người yêu nước. Mặc dù vào những năm 2011-2012, các cuộc biểu tình trước đó bề ngoài là “chống Trung Quốc,” nhưng rõ ràng cũng là để đặt câu hỏi: Phải chăng Đảng Cộng Sản thiếu khả năng đối phó với sự xâm lăng của Trung Quốc. Năm 2009, quyết định gây tranh cãi của chính phủ trong việc phê duyệt dự án khai thác bauxite của Trung Quốc, đã khiến các nhóm đối lập đoàn kết chống lại các khu định cư của Trung Quốc, và của thực dân kinh tế tại Việt Nam. Đảng Cộng Sản sẽ phải đối mặt với nhiều câu hỏi về tính hợp pháp (trong lúc cố đấu tranh để tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế), khi chính sách tê liệt nghiêm trọng, và trước sự tiên liệu sẽ có những phản đối công khai, vì chính phủ bị áp lực phải chứng minh tiến độ của nhiều vấn đề, chắng hạn như việc mở rộng nền kinh tế vốn đã thâm hụt của Việt Nam với Trung Quốc, việc nhập cảng sản phẩm kém chất lượng của Trung Quốc, việc tranh chấp hàng hải, và việc đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài.

Nguồn: Tuần báo Jane's Intelligence Weekly/Viet-studies.info
Bản dịch của Dân Luận
  (Dân luận) 

Vấn đề Trung Quốc của Việt Nam – không chỉ áp lực từ bên ngoài

Tàu Trung Quốc trước giàn khoan, tháng Năm 2014
Cuộc tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc về các quần đảo ở biển Đông thống trị những cuộc thảo luận ở Việt Nam. Áp lực nặng nề của láng giềng to lớn cũng thúc đẩy cuộc tranh cãi nội bộ về những cải cách cần thiết và để cho người ta nhận ra được sự hình thành phe phái trong Đảng Cộng sản.

Leo thang trên biển
Từ ngày 1 tháng Năm, Trung Quốc đã đặt giàn khoan HD-981 to lớn vào vùng biển 200 hải lý được Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở biển Đông. Sự kiện này đã dẫn tới bước leo thang lớn nhất lâu nay trong quan hệ vốn cũng đã căng thẳng giữa hai đất nước cộng sản. Hiện giờ, Trung quốc đã gởi sáu tàu chiến, 36 tàu cảnh sát, 21 tàu vận tải và 44 tàu đánh cá tới vùng biển tròn mười hải lý quanh giàn khoan. Ở phía Việt Nam có 63 tàu cảnh sát và đánh cá. Việt Nam cáo buộc Trung Quốc đã đâm va vào tàu thuyền của họ và đã tấn công bằng súng phun nước mạnh. Qua đó 24 tàu cảnh sát Việt Nam được cho là đã bị hư hỏng nặng và hàng chục người đã bị thương. Một tàu đánh cá Việt Nam bị chìm. Ngược lại, Trung Quốc cáo buộc Việt Nam đã đâm húc tàu của họ 1416 (!) lần. Trong một kháng thư gửi lên Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc cáo buộc Việt Nam tiến hành một chính sách thù địch đối với Trung Quốc và người Trung Quốc. Có ý muốn nói tới là những cuộc biểu tình bạo lực ở miền Nam và Trung Việt Nam trong tháng Năm mà trong đó hàng trăm xí nghiệp Trung Quốc và nước ngoài khác đã bị phá hủy, bốn người Trung Quốc bị giết chết và hơn một trăm bị thương.
Phản ứng trên đất liền
Kể từ lúc đó, bước leo thang này là tâm điểm trong các truyền thông Việt Nam do nhà nước định hướng. Nhiều trí thức Việt Nam và cựu quan chức cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), những người thường được gọi là “nhà cải cách”, nhìn tình huống này không chỉ là một mối đe dọa và còn là cơ hội, để giải phóng Việt Nam ra khỏi “ách Trung Quốc” và cải tổ đất nước theo hướng dân chủ. Vì trước sau thì đất nước này vẫn đứng dưới sự thống trị của một đảng và mặc cho sự phát triển hết sức nhanh chóng về kinh tế vẫn chiếm những thứ hạng sau cùng trong các chỉ số như Freedom Barometer Asia.
Bức thư ngỏ của giới trí thức gởi Đảng
Vào ngày 25/5/2014, hàng trăm nhà trí thức đã viết một bức thư ngỏ gởi ĐCSVN. Lá thư này được đăng trong diễn đàn Internet boxitvn.net từ nhiều tuần nay. Giới trí thức và khoa học đã thành lập diễn đàn này năm năm trước, để phản đối các dự án bôxít của chính phủ, cộng tác với công ty Trung Quốc tại Lâm Đồng trên cao nguyên Việt Nam. Hiện nay đã có hàng người người Việt ký tên, các nhà trí thức nổi tiếng của Việt Nam trong và ngoài nước. “Tình thế hiểm nghèo … đòi hỏi phải phân tích, dự báo diễn biến và có đối sách chủ động ứng phó. Trách nhiệm này được đặt ra trước hết cho cơ quan lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)”. Những phản ứng dè dặt như phản ứng của tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng bị phê phán là “vô trách nhiệm”. Ngược lại, các hành động của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại nhận được nhiều khen ngợi. Trong một bài diễn văn ở Manila vào ngày 22/5, thủ tướng đã nói: “Chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi … nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó.”
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Manila , 22/5/2014. Hình: Sikarin Thanachaiary
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Manila , 22/5/2014. Hình: Sikarin Thanachaiary
Phe phái hình thành trong ĐCSVN
Những lời đồn đại về sự chia rẽ trong ĐCSVN đã có từ lâu. Người ta cho rằng có một cánh theo phương Tây với thủ tướng Dũng và một cánh theo Trung Quốc với sếp ĐCSVN Trọng. Người ta cũng có thể nhận ra phỏng đoán này trong bức thư ngỏ của giới trí thức gởi ĐCSVN. Trong đó có viết: “Tình hình hiện nay đòi hỏi và tạo cơ sở cho các cán bộ, đảng viên trung thành với tâm nguyện vì dân vì nước cùng với nhân dân vạch rõ và đấu tranh không khoan nhượng chống lại những quan điểm và thái độ nhu nhược đối với kẻ xâm lược…đặc biệt là những kẻ có quan hệ mờ ám với nhà cầm quyền Trung Quốc.” Cuối cùng, bức thư đi tới thông điệp chính, rất đáng để chú ý: “Chúng tôi tin tưởng rằng cuộc đấu tranh nêu trên của những đảng viên vì nước vì dân của Đảng CSVN sẽ được nhân dân nhiệt tình ủng hộ, góp sức. Mọi người Việt Nam hãy đồng lòng kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia bằng nhiều hình thức thể hiện rõ tính chính nghĩa và nhân văn, hết sức cảnh giác trước những thủ đoạn kích động của thế lực bành trướng Trung Quốc và tay sai, hết lòng cổ vũ, hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ biển đảo và ngư dân bám biển, đồng thời góp phần tích cực thúc đẩy cải cách chính trị, xây dựng nền dân chủ và pháp trị thực sự, đổi mới và phát triển kinh tế, văn hóa để bảo vệ chủ quyền, đưa đất nước thoát khỏi lệ thuộc và tụt hậu.”
“Làm thế nào để thoát Trung?”
Trong một hành động hết sức đáng chú ý, nhà xuất bản Tri Thức (Knowledge Piblishing House) đã cùng với quỹ Phan Chu Trinh tổ chức một cuộc hội thảo công khai vào ngày 5/6/2014 với đề tài “Làm sao để thoát Trung?” Người tổ chức là giáo sư Chu Hảo nổi tiếng, giám đốc nhà xuất bản Tri Thức. Chu Hảo, sanh năm 1940, đã từng là thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ từ 1996 đến 2005. Cha ông, Chu Đình Xương, là một nhà cách mạng trước đây đã thuộc giới thân cận nhất xung quanh Hồ Chí Minh (Chu Đình Xương là sếp công an của miền Bắc Việt Nam trong năm 1945). Trong những năm 1950, Chu Hảo là học trò được gởi sang Trung Quốc, rồi ông học đại học ở Liên Xô trong những năm 60 và hoàn thành luận án tiến sĩ trong những năm 70 ở Paris. Năm 2005, ông lui ra khỏi tất cả các chức vụ chính trị và thành lập nhà xuất bản Tri Thức nằm dưới sự bảo trợ của Hội Khoa học và Kỹ thuật. Từ đó, ông đã xuất bản hàng trăm quyển sách cổ vũ khai trí, nhà nước pháp quyền và dân chủ, một phần cũng được Viện Friedrich Naumann vì tự do hỗ trợ, ví dụ như Chủ nghĩa Tự do của Ludwig von Mises.
Từ một vài năm nay, nhiều nhà trí thức nổi tiếng đã tụ tập quanh nhà xuất bản Tri Thức, quỹ văn hóa Phan Chu Trinh và diễn đàn Bauxite, ví dụ như khoa học gia và nhà phê phán Nguyễn Quang A (ông bị ĐCSVN nhìn như là một nhà bất đồng chính kiến), tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (cựu đại sứ tại Trung Quốc) hay triết gia, người dịch Kant Bùi Văn Nam Sơn. Cho tới nay, các diễn đàn này được ĐCSVN khoan dung cho, có lẽ vì những người trí thức này không trực tiếp chống lại quyền lực của ĐCSVN (phần lớn họ là đảng viên), mà ủng hộ một cuộc cải cách từng bước một.
Tiến sĩ Chu Hảo (đứng) tại hội thảo "Làm thế nào để thoát Trung?". Hình: Nguyen Duc Thanh, VEPR
Tiến sĩ Chu Hảo (đứng) tại hội thảo “Làm thế nào để thoát Trung?”. Hình: Nguyen Duc Thanh, VEPR
Ba tiên đề và bảy trụ cột
Đã có nhiều mong đợi hội thảo này, nhưng đáng tiếc là ít nghe được những điều gì thật sự mới. Hai đề tài được những người tham dự thảo luận: sự phụ thuộc về ý thức hệ và về kinh tế vào Trung Quốc. Từ nhiều thập niên nay, ĐCSV nhìn mô hình Trung Quốc và thành công kinh tế như là một tấm gương và cố gắng sao chép càng nhiều càng tốt từ Trung Quốc. Nhưng đó là một sai lầm, theo thảo luận, vì qua đó, Việt Nam tiếp tục đi sau Trung Quốc cả về kinh tế lẫn ý thức hệ. Liệu đó có là một luận cứ thuyết phục và nên theo đuổi hay không thì vẫn còn là câu hỏi. Nhưng rất đáng tiếc là cho tới nay vẫn chưa được thảo luận một cách hợp lý. Người ta đơn giản chấp nhận nó và nhanh chóng đi đến những giải pháp mang tính hời hợt, truyền thống.
Tiến sĩ Giáp Văn Dương, người được mời đến để diễn thuyết và cũng là nhà thành lập học viện trực tuyến độc lập đầu tiên ở Việt Nam (GiapSchool), ngược lại đã giải thích rõ ràng: Giải pháp duy nhất cho câu hỏi “Làm sao để thoát Trung?” là: Việt Nam phải phát triển nhanh hơn và bền vững hơn Trung Quốc! Làm thế nào để đạt được điều đó? Bằng cách là giới lãnh đạo Việt Nam tuân theo ba tiên đề: (1) Ưu tiên cho lợi ích quốc gia (chứ không cho lợi ích ý thức hệ), (2) Phát triển tốt hơn và bền vững hơn trên cơ sở chất lượng của các thể chế và nguồn nhân lực, và (3) Ổn định qua phát triển (chứ không phải phát triển qua ổn định).
Trong đó, xã hội Việt Nam cẩn phải đứng trên bảy trụ cột, tức là (1) Con người tự do, (2) Giáo dục khai phóng, (3) Xã hội dân sự, (4) Hành chánh chuyên nghiệp, (5) Mô hình dân chủ (6) Kinh tế thị trường tự do, (7) Nhà nước pháp quyền.
Tất nhiên là các giải pháp do tiến sĩ Giáp Văn Dương đưa ra được những nhà cải cách và đấu tranh cho dân chủ ủng hộ. Tuy vậy, chúng không phải là mới và trước hết là trong hình thức này thì không đủ cụ thể. Những giải pháp tương tự như vậy, đặc biệt là về việc cải cách chính trị ý thức hệ của đất nước, đã được thảo luận từ nhiều năm nay trong các diễn đàn khác nhau. Thế nhưng hiện thực cho tới nay là: giới lãnh đạo ĐCSVN không muốn lắng nghe bất cứ điều gì từ đó và ngay cả khi họ có nghe điều gì từ đó thì họ cũng không muốn thảo luận.
“Làm thế nào để thoát Trung? Thưa quý vị, câu hỏi tốt hơn là: Làm thế nào để thoát ĐCSVN?”, tiến sĩ nguyễn Quang A nói với tính hài hước vốn có của ông. Những người tham dự cười to. Nhưng không có câu trả lời cho câu hỏi này.
Hội thảo "Làm thế nào để thoát Trung?". Hình: Nguyen Duc Thanh, VEPR
Hội thảo “Làm thế nào để thoát Trung?”. Hình: Nguyen Duc Thanh, VEPR
Cũng là thời gian sôi động cho đề tài công đoàn tự do
Câu hỏi cải cách và dân chủ hóa đất nước cho tới nay không được thảo luận công khai ở Việt Nam. Các nhà phê phán Đảng và hệ thống bị lực lượng an ninh giám sát chặt chẽ. Mỗi năm có hàng chục người và nhóm, trong đó có nhiều blogger, bị tuyên xử án tù nhiều năm vì có những “hành động trái pháp luật” như “tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa”, “phổ biến tài liệu phản cách mạng”, “mưu đồ lật đổ chính quyền nhân dân” hay “trốn thuế”. Việt Nam vẫn còn chưa có các đạo luật cho hội họp nơi công cộng (như biểu tình), công đoàn độc lập hay tổ chức phi chính phủ.
Mối đe dọa Trung Quốc, láng giềng “không ưa thích” với cùng một mô hình chính trị, có thể sẽ trở thành một cơ hội được chào đón để thúc đẩy Việt Nam phát triển theo hướng dân chủ Phương Tây. Các quan hệ mật thiết hơn với Hoa Kỳ và Nhật Bản đang được thảo luận sôi nổi. Việt Nam cần đồng minh và đối tác mới. Nhưng giá phải trả cho việc đó là sự thay đổi của Việt Nam.
Vào ngày 8/6/2014, đại diện của 17 “tổ chức dân sự” Việt Nam đã hội họp tại thành phố Hồ Chí Minh – tất cả đều không được nhà nước công nhận – để đưa ra một tuyên bố chung về “Sự cần thiết của công đoàn độc lập ở Việt Nam”. Lần này thì tiếng nói của họ có được ĐCSVN lắng nghe hay không? Hay họ lại bị truyền thông nhà nước mắng chửi hạ thấp là “vô lý” và “không đúng lúc” như các nhóm khác trong quá khứ (Nhóm 8406, Nhóm 72)?
Kết luận
Liệu mối đe dọa từ bên ngoài có dẫn tới các cải cách chính trị trong nước hay không, điều này khó mà tiên đoán được. Kinh nghiệm của quá khứ thường hay minh chứng cho điều ngược lại. Hans Georg Jonek, giám đốc văn phòng Viện Friedrich Naumann ở Việt Nam, cho rằng mặc dù vậy, người ta có thể nhận thấy rõ tại các cuộc thảo luận này, rằng sự việc giàn khoan Trung Quốc không chỉ là một vấn đề chưa được giải quyết về tranh chấp lãnh thổ mà còn dẫn tới các câu hỏi về ý thức hệ và hệ thống. “Cuộc xung đột một phần được sử dụng trong chính trị đối nội một cách rõ ràng đến mức đáng ngạc nhiên”, theo Jonek.
Đội ngũ văn phòng Viện Friedrich Naumann tại Hà Nội, Việt Nam.
Phan Ba dịch từ http://www.freiheit.org/Vietnams-Chinaproblem-nicht-nur-Druck-von-aussen/1804c29925i/index.html
  Viện Friedrich Naumann vì tự do
Phan Ba dịch
Theo blog Phan Ba
 

CON ĐƯỜNG VIỆT NAM ?

Boxitvn

Hoàng Quỳnh
Mặc dù tác giả tự nhận là một trí thức bình thường, “viết ra vài dòng tâm huyết, hy vọng góp chút sức lực nhỏ bé để cùng mọi người tìm ra con đường đúng đắn cho dân tộc trong thời điểm sinh tử này”, nhưng tư tưởng của bài viết không nhỏ bé chút nào. Những tư tưởng này, nếu biến thành hiện thực, chắc chắn sẽ làm thay đổi hoàn toàn cục diện hiện nay của đất nước ta.
Một giấc mơ đẹp! Hy vọng, vào một ngày đẹp giời nào đó, giấc mơ sẽ biến thành hiện thực!

Bauxite Việt Nam
Tôi là một trí thức ở Sài Gòn. Mấy hôm nay đứng trước sứ biến động của vận mệnh dân tộc, trong lòng nhấp nhổm không yên, ban ngày theo dõi tình hình mà lòng như có lửa đốt, đêm nằm trằn trọc, ưu tư… Xin viết ra đây vài dòng tâm huyết, hy vọng góp chút sức lực nhỏ bé để cùng với mọi người tìm ra con đường đúng đắn cho dân tộc trong thời điểm sinh tử này.
NÊN KIỆN HAY NÊN LÀM GÌ

Đi kiện không phải là điều quyết định
Thật ra đi kiện cũng là điều tốt, tốt hơn nhiều lần dậm chân tại chỗ mà không làm gì cả, vì nó thể hiện cái tinh thần phản kháng, không chấp nhận áp bức của dân tộc. Nhưng kiện không phải là điều cốt lõi nhất, càng không nên coi đó là tất cả!
Tại sao kiện không phải là điều thiết yếu nhất? Chúng ta đều thừa nhận với nhau là kiện để tranh thủ thêm sự ủng hộ của các nước, từ đó họ gây áp lực làm chùng bước Trung Quốc. Nhưng mọi người nên nhớ rằng, bản chất của Tàu cộng là dối trá và ngang ngược, không ai có thể gây áp lực lên nước này được bằng lời nói. Muốn làm cho nước này dừng lại, chỉ có cách là phải mạnh ngang bằng với họ, làm cho họ cảm thấy họ có thể bị tổn thương khi ức hiếp chúng ta. Điều này chúng ta chỉ làm được khi có liên minh quân sự với Mỹ, và có thêm Nhật, Ấn, Úc càng tốt
Nếu chúng ta thắng kiện thì có thể có thêm vài nước lên tiếng ủng hộ, chẳng giải quyết được vấn đề gì. Riêng Mỹ, Úc, Ấn, Nhật đứng về phía VN ngay từ đầu (nhưng không muốn làm đồng minh vì ta chưa có dân chủ), chẳng phải vì chính nghĩa gì cả, mà đó là sợ Trung Quốc nuốt trọn biển Đông, gây khó khăn cho lưu thông hàng hải của họ. Phải nói rằng, nếu VN có dân chủ, thì 4 nước này chìa cả 2 tay ra với VN mà đề nghị liên minh, còn bây giờ thì họ chỉ biết đứng ngoài và nói “ủng hộ” thôi, không thể làm gì hơn cả, dù VN có thắng kiện hay thua kiện. Còn ASEAN và EU thì chỉ dùng lời nói chứ không bao giờ dùng hành động. Nước Nga thì hiện tại và tương lai có mắc mướu quá lớn với TQ
Còn nếu chúng ta thua kiện thì sao. VN sẽ mất trắng. TQ sẽ dùng toàn lực đánh một trận để tống VN ra khỏi biển Đông. Các nước khác chỉ biết nói “rất tiếc” chứ không biết làm gì khác, vì TQ đang thực thi pháp luật quốc tế!. Chúng ta có khả năng thua kiện không? Điều này không có gì là chắc chắn, khi mà công hàm Phạm Văn Đồng còn đó, và VN cộng sản hiện tại vẫn được coi là kế tục của nhà nước VN DCCH trước kia. Ngoài ra, chưa chắc tất cả các quan tòa đều có cảm tình với VN, đều công tâm. Nên nhớ, cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền, mà rất nhiều tiền thì Trung Quốc có!
Ngoài ra một tác hại khác nữa là người dân và chính phủ VN sẽ ảo tưởng, xem kiện là tất cả việc cần làm, trong khi bỏ qua những cơ hội, những thời cơ để làm việc khác đem lại lợi ích thật sự hơn
Điều duy nhất cần làm: thúc đẩy dân chủ
Dân chủ, đó là điều cần làm duy nhất lúc này
Có nhiều người hỏi: không dân chủ vẫn có thể liên minh với Mỹ được không? Điều này hoàn toàn không thể xảy ra, trước tiên là vì quốc hội và người dân Mỹ không cho phép. Kế đến nữa là điều này quá rủi ro cho Mỹ, vì nếu VN vẫn là Cộng sản, thì sẽ có một ngày thằng Tàu cộng quay ra vuốt ve, o bế, lãnh đạo VN lúc đó sẽ ngả về Trung cộng, thì có phải quá thiệt hại cho người Mỹ không. Những đầu tư của người Mỹ như căn cứ quân sự, bí mật về khí tài .v.v., tất cả sẽ lọt về tay Trung cộng.
Tất nhiên là vô cùng khó khăn để đạt được dân chủ. Nhưng cả dân tộc VN có nghĩ rằng, mình đã cố gắng tột cùng cho mục tiêu đó chưa, cần phải làm thêm điều gì nữa để điều đó dễ có cơ hội thành hiện thực hơn không?!
Cơ hội lớn chưa từng có trong suốt cả chiều dài lịch sử của dân tộc!
Xưa tới giờ VN chưa bao giờ khuất phục Trung Quốc nhưng đơn thương độc mã, và luôn đóng vai yếu thế hơn vì là nước nghèo. Nay nếu có dân chủ thì VN được sự ủng hộ của gần như tất cả các cường quốc trên thế giới: Hoa kỳ, Nhật, Ấn, Úc
Không chỉ phát triển liên minh quân sự, các nước trên đều hiểu rằng điều cốt lõi và lâu bền nhất là VN phải trở nên hùng mạnh, như Nhật hay Hàn quốc , thì mới đảm đương nổi việc bảo vệ thông suốt biển Đông, cộng với tình cảm sẵn có, họ sẽ đầu tư mạnh mẽ về kinh tế, chính trị. Từ đó có cơ sở để tin rằng VN sẽ trở thành quốc gia hùng cường, có thể đứng vào TOP ĐẦU CỦA THẾ GIỚI, và ĐỘC LẬP VĨNH VIỄN với Trung Quóc
Dân chủ ở VN sẽ thúc đẩy dân chủ ở TQ. Khi TQ trở nên dân chủ, rất có khả năng họ sẽ bị ly khai, nên suy yếu hơn. Ngoài ra, cho dù tính tham lam, bá quyền vẫn còn đó, nhưng khi đó họ trở nên đàng hoàng hơn một chút, tôn trọng luật pháp hơn, thì VN sẽ đỡ khổ hơn nhiều.
VẬY CẦN THÊM GIẢI PHÁP NÀO KHÁC
1. Cổ súy cho “Hiến Pháp Hòa Giải”
Người Nhật có Hiến Pháp Hòa Bình nổi tiếng, đó là bước đi vô cùng khôn ngoan của dân tộc Nhật, để tất cả các nước an tâm, quên đi quá khứ quân phiệt của họ, sẵn sàng làm ăn, bang giao với họ …, từ đó họ có điều kiện phát triển kinh tế vượt bật và trở thành nước Nhật hùng cường như ngày nay
Còn VN, mọi người cứ hình dung, sau khi chuyển sang dân chủ thì chuyện gì sẽ xảy ra: sẽ có sự trả thù vô cùng ghê gớm, bao nhiêu đòn thù được tích tụ bấy lâu sẽ trút lên đầu giới lãnh đạo cộng sản và gia đình, tay chân của họ…
Trong khi tất cả mọi người am hiểu thời cuộc đều công nhận rằng, sự thay đổi để trở nên dân chủ không thể do bất cứ lực lượng nào khác, mà sẽ do một bộ phận trong chính giới lãnh đạo VN hiện tại. Cứ coi như có một số người trong giới lãnh đạo có lòng yêu nước, bỏ qua lợi ích cá nhân, kêu gọi những lãnh đạo khác thực hiện cải cách chính trị … thì họ cũng không dám làm cái việc thay đổi chế độ, cái việc mà tự dưng đưa bản thân và gia đình, con cháu mình vào vòng nguy hiểm vô cùng, có thể mất tất cả, kể cả mất mạng …
Vậy tại sao chúng ta không NGHĨ CHO HỌ một chút, không mở con đường bảo đảm sự an toàn và cuộc sống của họ, để cho mục tiêu của dân tộc dễ xảy ra hơn không.
Tôi xin đề xuất 2 điểm quan trọng nhất trong Hiến Pháp Hòa Giải này:
- Việt Nam chuyển thành đất nước dân chủ đa đảng
- Không được truy cứu, phán xét, buộc tội … đối với cá nhân hay tập thể, ở bất cứ phe phái đảng phái nào của người Việt Nam trong vòng 100 năm qua, và điều này có giá trị trong vòng 100 năm tới
Nếu điều này được thực hiện, thì những người cộng sản đang nắm chính quyền hiện nay và trước đây hoàn toàn có thể yên tâm là không bị trả thù cho tới đời cháu của họ!
Chúng ta đang cần cái gì: đang cần dân chủ để thay đổi vận mệnh dân tộc hay cần trả thù. Rõ ràng là đề xuất trên không có gì là quá đáng, nhưng nó dẹp bớt chông gai, mở ra còn đường rộng hơn, dễ đi hơn trên con đường tiến tới dân chủ của dân tộc.
2. Gây áp lực liên tục vào chính quyền bằng trưng cầu dân ý và các hoạt động ôn hòa
- Hiện tại có nhiều trang mạng bất đồng chính kiến, nhưng đa số đều dùng những lời lẽ gay gắt, điều đó khiến chính quyền đặt nó ngoài vòng pháp luật, làm nhiều người khó truy cập, khó phổ biến. Tôi nhắc lại, chúng ta đang cần dân chủ hơn bất cứ cái gì khác. Vậy tại sao chúng ta không làm một trang web trưng cầu dân ý (trungcaudany.com chẳng hạn), với lời lẽ vô cùng ôn hòa. Trong đó, chúng ta sẽ ghi những giá trị tốt đẹp của nền dân chủ là như thế nào, những nền dân chủ nổi tiếng trên thế giới ra sao, Truyền thống chống Bắc thuộc VN xưa giờ ra sao, Sự bá quyền của Trung Cộng như thế nào, Giải pháp nào để thoát vĩnh viễn khỏi sự áp bức của người Hán…. Chỉ nhận đăng bài nào có lời lẽ ôn hòa và có lợi cho mục tiêu chung. Và 1 phần chính là tiến hành trưng cầu dân ý, với câu hỏi: “có nên hướng VN theo dân chủ đa đảng hay không”, để mọi người ghi tên mình vào, biểu quyết.
- Thêm vào đó chúng ta thường xuyên tổ chức những buổi tụ tập, giương cao biểu ngữ với lời lẽ ôn hòa như: “Cùng cầu mong cho nền dân chủ VN”, “Cổ xúy cho hiến pháp hòa giải”, “hãy vào trungcaudany.com để thể hiện lòng yêu nước của bạn”, “Dân chủ để gia nhập TPP”, “Dân chủ thật sự để liên kết với bạn bè chân chính” … Những cuộc xuống đường đó được tổ chức thường xuyên, bền bỉ, ôn hòa, và có thể giải tán ngay khi có dấu hiện bạo lực … Được như vậy, ngoài việc huy động tinh thần toàn dân, chúng ta đặt chính quyên vào cái thế phải thường xuyên tự hỏi lại mình: có thể trì hoãn cải cách chính trị được nữa không ?!
H.Q
Tác giả gửi BVN

Buồn ơi, chào mi!

 Boxitvn

Hạ Đình Nguyên
Tháng 5 này, một cơn phẫn nộ, rồi phẫn uất đã tràn đến với toàn dân Việt Nam, rồi đến cuối tháng lại biến thành một nỗi buồn mênh mông, sau các phát biểu đều khắp của các lãnh đạo Nhà nước – Đảng.
Hóa ra đều đáng hoài nghi cả!
Dù đã có rất nhiều lời cảnh giác từ nhân dân, rằng không nên đặt hy vọng vào nơi không đúng chỗ, vào những con số đứng đầu trước một dãy hàng triệu con số không, thế mà niềm tin mơ hồ đó vẫn phất phơ bay. Những con số đứng đầu ấy đã hóa thành số âm.
Từ sự lên tiếng sớm sủa và rất hùng hồn không gây hiệu quả của ông Thủ tướng, đến việc lặp lại lời nguyền xa thăm thẳm của tiền nhân, do Chủ tịch nước truyền tải một cách vô hồn, lại đến lời kêu gọi thê thiết và mong ước mông lung về tình hữu nghị của ông Tổng Bí thư, đến cả cái quyết tâm im lặng của 500 con người đại biểu, giàn khoan HY 981 vẫn điềm nhiên sừng sững ở Biển Đông, các con tàu của bọn “hữu nghị” vẫn gào thét và đâm húc, đặc biệt tiếng đe dọa trịch thượng của thiên sứ Dương Khiết Trì còn vang vọng trên nóc Thủ đô: “Phụng khuyến Việt Nam tảo nhật hồi đầu” (khuyên bảo Việt Nam sớm quay đầu). Ở đó có diễn ra một cuộc khiêu vũ hóa trang!

Tiếng vọng ấy của Dương hôm nay đã đáp lại lời tiền nhân của nghìn năm trước vừa được nhắc lại, được chăng?
Cách đây không lâu, cả nước nghe lời trọng trách đầy hào sảng: “để cho Đảng lo”. Nay cũng hùng hồn một sự phân công màu nhiệm: “để mai sau con cháu lo”, mai sau là 10 năm, 100 năm, hay cho dù cuối thế kỷ cũng chưa chắc đã “hoàn thiện”. Cái mệnh đề cho tương lai khó lòng mà thoái thác. Cái quyết tâm chống trả đó của lớp anh hùng hôm nay, nghĩ cho cùng, thật là ghê gớm! Nó song hành với quyết tâm cũng đã từng rất lâu dài của đối phương. Con cháu đã nhận lãnh sự ủy thác thiêng liêng và vĩ đại. Người nhận vĩ đại thì người giao cũng vĩ đại vậy. Thấp thoáng ta nhớ lại hình ảnh của Nguyễn Phi Khanh ở cửa ải Nam Quan của “ngày xưa” trong ký ức, dặn Nguyễn Trãi: “Đừng bi lụy nữa, con hãy quay về mà lo trả thù cho cha, đền nợ cho nước”. Ngày nay, hẳn đã có nhiều Phi Khanh, và cũng nhiều Nguyễn Trãi? Nhưng cũng không tránh khỏi chút lòng ái tuất cho niềm hy vọng về sự vinh quang của những đứa trẻ đang và sẽ sinh ra đời của nhiều thế hệ, ở khắp hang cùng ngõ hẻm trên mảnh giang sơn này. Thế mà, sự im lặng nhịn nhục hôm nay được đội lốt là “thương dân” đấy.
Cũng không thể trách lời đối đáp ngạo mạn mà thông minh của bọn Dương Khiết Trì: “Đứa con đi hoang hãy quay trở về”. Họ đã trải lòng ra để đón nhận, bởi vì trước đó Phùng Đại tướng đã chẳng từng nói, chuyện của hai bên là “chuyện trong một nhà”, và Tổng Bí thư lần cuối chia tay cũng đã tha thiết bịn rịn tấm tình “hữu nghị” đó sao? Sao lại trách người ta đã dùng những từ ngữ nặng phần thân thiết? Thế mới biết đối phó với bên ngoài chẳng giống cách nói chuyện bề trên kiểu ăn gi trong làng, đánh địch không “đẹp” như đánh nông dân Đoàn Văn Vươn.
Cả bốn trụ cột lương đống và 500 rui mè sĩ phu đã cùng đoàn kết gắn bó, quyết tâm chịu lép một bề “không kiện”. Vì kiện là phạm điều khiêu khích bất kính, còn đâu cơ hội “tảo nhật hồi đầu”. Thằng Hoàn Cầu nói cũng đúng, gọi Dương Khiết Trì là ông thầy kiên nhẫn (“Patient Teacher”) đã “phụng khuyến” thành công.
Người dân ngẩn ngơ mà chấp nhận cái khoảnh khắc nặng nề đang lồ lộ bước đến, không thể chối từ, đành: Buồn ơi, chào mi!
 H. Đ. N.
Tác giả gửi BVN.

Nguyễn Văn Hoàng - Nhìn HD-981 nhớ chuyến bay 93 119

Ngày 11/9/2001, bọn khủng bố cướp được bốn chiếc máy bay đang chở hành khách.

Chuyến bay 11 đâm vào tòa tháp phía bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới; chuyến bay 175 đâm vào toà tháp phía nam; chuyến bay 77 làm sập một góc Lầu Năm Góc. Chiếc phi cơ thứ tư - chuyến bay 93 bọn khủng bố dự định đâm vào Điện Capitol (Trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ) hoặc Nhà Trắng lao xuống một cánh đồng hẻo lánh gần Shanksville. Nơi này cách trụ sở Quốc hội Mỹ 20 phút bay.



Theo hộp đen trên chuyến bay 93, sau khi nhận được thông tin về vụ cướp máy bay lao vào tòa nhà trong buổi sáng cùng ngày và đoán được âm mưu của bọn khủng bố, hành khách và phi hành đoàn đã đoàn kết dũng cảm ào lên bẻ gãy ý đồ đen tối hèn hạ của chúng.

Điều khiến hành khách và phi hành đoàn trở nên phi thường ở chỗ họ xác định chiến đấu, hy sinh để ngăn chặn những kẻ giết người chứ không vì để tìm lấy con đường sống. Giống như nhân dân Việt Nam muốn đuổi bằng được giàn khoan Trung Quốc vì mục tiêu thiêng liêng, cao cả giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ, vì danh dự, tương lai dân tộc chứ không vì lo cho tính mạng của mình.

Yếu tố giúp chuyến bay cuối cùng làm được điều anh hùng nhiều khả năng là do họ có thời gian, nhận được đủ lượng thông tin. Nếu sau khi nắm được thông tin, họ sợ hãi ngồi yên chờ chết cũng chẳng ai dám trách họ. Nếu không làm như thế, họ vẫn chết và hậu quả với đất nước họ không thể biết xảy ra nghiêm trọng thế nào?

Nhưng họ đã chứng tỏ họ không bạc nhược đớn hèn, không tham sống sợ chết cho dù họ đang có cuộc sống đẹp đẽ và vô cùng đầy đủ. Họ không vì thế mà quỳ gối van xin bọn khủng bố cho họ cơ hội sống, hoặc chí ít sợ hãi, khiếp nhược mặc bọn khủng bố muốn làm gì thì làm để tìm lấy một chút hy vọng sống. Họ không hèn hạ như thế.

Trước khi dấn thân, họ thừa thông minh để hiểu cơ hội sống là rất ít. Và họ mãi mãi đi vào sử sách của đất nước họ, đi vào trái tim từng người dân của dân tộc họ bằng cái chết vinh quang. Hơn ai hết, họ hiểu phía dưới có con cháu, gia đình, bè bạn, đồng nghiệp, đồng bào của họ. Họ chấp nhận chết để giữ cho những người ở dưới mặt đất, cho chính tổ quốc mình, cho tương lai dân tộc mình.

Được biết trong những giây phút ngắn ngủi quý báu, họ đã "biểu quyết" cho lựa chọn. Điều tưởng chừng nhỏ nhoi đơn giản này minh chứng nơi xứ sở của họ, con người luôn luôn được tôn trọng bất kể người đó là ai, trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đó chính là động lực, là mấu chốt thúc đẩy con người ta sẵn sàng đến với cái chết để người khác được sống. Đấy là yếu tố làm nên thương hiệu Mỹ. Điều đó đủ để khẳng định đất nước họ, dân tộc họ không thể bị sai khiến, bắt nạt, làm nhục. Đấy là cái người Việt chúng ta phải thấy xẩu hổ và học hỏi.

Đấy cũng là đức tính không thể thiếu nếu chúng ta muốn ngẩng đầu, kiêu hãnh, giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chủ quyền.

Nguyễn Văn Hoàng.
Theo FB  Hoang Nguyen Van  

Dùng tất cả mọi biện pháp chưa.?

Nguoibuongio -ĐCV

Blogger Người Buôn Gió
Trong vấn đề nổi cộm ở biển Đông,nhà cầm quyền Trung Quốc dùng mọi thủ đoạn từ hành động đến lời nói để lấn át Việt Nam. Không nhừng gia tăng cường độ khiêu khích nghiêm trọng, thậm chí là dùng đến cả vũ lực để đe nẹt Việt Nam.
Từ phía nhân dân Việt Nam đã có nhiều tiếng nói đòi hỏi nhà cầm quyền Việt Nam phải có động thái mạnh. Nhưng nhà cầm quyền Việt Nam tuyên bố kiên trì dùng mọi biện pháp hòa bình để giữ chủ quyền. Trong tuyên bố của mình, nhà cầm quyền Việt Nam theo đuổi hướng đi tuyên truyền với thế giới hành động phi pháp của nhà cầm quyền Trung Quốc, thể hiện mình là nước yêu chuộng công lý , hòa bình, thân thiện để dư luận thế giới bênh vực.
Cứ hãy cho ở vị trí của nhà cầm quyền Việt Nam, lựa chọn đó là giải pháp phù hợp với họ lúc này đi.
Vậy thử nhìn xem, họ ( nhà cầm quyền Việt Nam ) đã làm hết sức mình trong việc dùng công lý, hòa bình, thân thiện để lấy lòng dư luận quốc tế chưa.?
Một cách tiến bộ về truyền thông thì trên trang website của báo VNN đã có mục chuyển ngữ sang tiếng Anh về vấn đề biển Đông.

http://english.vietnamnet.vn/fms/marine-sovereignty/index.html
Trong chuyến đến VN của bộ trưởng ngoại giao TQ Dương Khiết Trì mới đây. Các lãnh đạo của VN đã có những tuyên bố ( tạm gọi ) là bày tỏ quan điểm dứt khoát về vấn đề khẳng định chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đến nỗi khi trở về nước, Dương Khiết Trì đã không cần che dấu những quan hệ mờ ám trong lịch sử trước đó của hai nước, để gọi VN là đứa con hoang hãy quay đầu trở lại duy trì quan hệ trước đây như cũ với Trung Quốc.
Chính phủ, nhà nước Việt Nam đã có những tuyên bố tương đối rõ ràng. Về phía Đảng thì ông Nguyễn Phú Trọng tuy không có vẻ hài lòng với TQ, nhưng ông Trọng trên cương vị cao nhất của Đảng vẫn kêu gọi vì quan hệ đại cục hai nước anh em, mong TQ xem xét. Còn quốc hội của ông Nguyễn Sinh Hùng thì né tránh việc ra nghị quyết bằng cách giải thích quy trình của nghị quyết là phải có trình tự.
Vậy có thể nói, có một góc nào đó của các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa dùng hết biện pháp hòa bình, đó là những lãnh đạo cao cấp chủ chốt ở bộ phận mình quản lý, chưa có phát biểu chính kiến rõ ràng trong vấn đề biển Đông. Điển hình là trường hợp ông Nguyễn Sinh Hùng giữ quyền chủ tịch quốc hội và đặc biệt ông Phùng Quang Thanh đại diện Việt Nam trong diễn đàn quốc tế Shang rila đã hạ thấp tình hình biển Đông thành mâu thuẫn nhỏ giữa hai nước anh em.
Trong các biện pháp tuyên truyền hòa bình, thì biện pháp để dân chúng biểu tình phản đối hành vi xâm lược của TQ là một biện pháp rất gây ấn tượng với quốc tế. Thế nhưng chỉ vì yếu kém trong nghiệp vụ an ninh, dẫn đến những cuộc biểu tình bạo động ở Bình Dương, Hà Tĩnh. Đi đến quyết định ngăn cấm biểu tình trong nước. Nếu nhà cầm quyền Việt Nam không kiểm soát được những cuộc biểu tình, phải dùng đến biện pháp cực đoan là ngăn cấm, thử hỏi làm sao có thể giải quyết những vấn đề phức tạp hơn.
Chỉ vài chục cảnh sát ở Berlin dẫn đường cho hàng ngàn người Việt Nam biểu tình từ trung tâm thành phố diễu hành đến trước đại sứ quán TQ mà không hề có đáng tiếc nào xảy ra. Ở Ba Lan, ở Hoa Kỳ, Nhật Bản đều tương tự như vậy. Trong khi đó ở VN với đội ngũ cảnh sát, an ninh, cựu chiến binh, thanh niên đoàn viên, phụ nữ…hùng hậu lại để xẩy ra biểu tình bạo động như ở Bình Dương, Hà Tĩnh đã là đáng trách. Nhưng vin vào đó để không cho biểu tình tiếp tục càng đáng trách hơn. Nó nói nên sự yếu kém quản lý của VN, cũng như sự chưa hết mình,  chưa quyết tâm dùng hết biện pháp của nhà cầm quyền. Nếu sau sự việc Bình Dương, Hà Tĩnh nhà cầm quyền VN vẫn tiếp tục cho biểu tình và đảm bảo được trật tự. Đấy sẽ là điểm sáng thể hiện bản lĩnh của nhà cầm quyền. Cũng là cho quốc tế thấy nhân dân VN yêu chuộng hòa bình, phản đối ôn hòa. Vụ việc Bình Dương, Hà Tĩnh không phải bản chất của người VN.
Cấm biểu tình sau cuộc bạo động như vậy, vừa vô tình cho thế giới nhận lầm người VN hiếu chiến, vô kỷ luật. Vừa làm mất đi tính chính nghĩa của một biện pháp tuyên truyền. Đây cũng là một điểm nữa mà nhà cầm quyền Việt Nam đã không làm hết sức mình trong cái gọi là ” dùn mọi biện pháp hòa bình để tuyên truyền, đấu tranh ủng hộ dư luận”.
Một cách nữa rất hiệu quả và ấn tượng với dư luân quốc tế và dễ làm, nhưng dường như nhà cầm quyền VN đã bỏ lơ cơ hội lấy thiện chí của quốc tế.
Đó là thả một số tù nhân lương tâm. Nhất là những người đã từng bày tỏ chính kiến mạnh mẽ với hành vi xâm lược của TQ. Như Nguyễn Hữu Vinh, Bùi Thị Minh Hằng, Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Lê Thị Phương Anh….một số thanh niên Công Giáo từng tham gia biểu tình chống TQ.
Việc thả những người này, là một tín hiệu mạnh mẽ không kém gì thông điệp của bất cứ cuộc biểu tình nào hay phát biểu của một lãnh đạo cao cấp nào. Trọng lượng của việc thả những người này chắc chắn sẽ gây tiếng vang với quốc tế, lấy được thiện cảm của họ về quan điểm kiên quyết của VN trong đấu tranh giữ chủ quyền. Cũng như là cái tát đích đáng cho TQ thấy VN sẵn sàng làm tất cả để giữ được chủ quyền. Một người như Nguyễn Văn Hải, Bùi Thị Minh Hằng được thả về không điều kiện là thông điệp với TQ rằng VN không không ngại khơi dậy tinh thần dân tộc để làm đối trọng giữ chủ quyền.
Đồng thời việc thả những người này , cũng làm giảm áp lực đòi hỏi nhân quyền của các nước tiến bộ. Việt Nam vửa cải thiện về mặt nhân quyền, vừa bày tỏ quyết tâm giữ chủ quyền qua hành động thả những người tiêu biểu cho ý chí chống TQ xâm lược này. Cũng tranh thủ được tình cảm của những người bất đồng chính kiến trong việc kêu gọi đoàn kết giữ vững chủ quyền.
Nếu xét theo luận điểm ” Việt Nam kiên trì dùng mọi biện pháp hòa bình để giữ vững chủ quyền ”. Rõ ràng chỉ kể sơ sơ vài điều đã thấy nhà cầm quyền Việt Nam vẫn chưa làm hết mọi biện pháp. Thực hiện những điều nêu trên không phải là việc khó, đòi hỏi tốn xương máu. Nhưng nếu không làm, thì trông mong dư luận quốc tế và người dân ủng hộ là một điều ” viển vông ” trong việc dùng ” tất cả biện pháp hòa bình để giữ chủ quyền”.
© Người Buôn Gió