Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 24 tháng 6, 2014

VN ‘đang có động thái’ để khởi kiện TQ - Giảm lệ thuộc vào Trung Quốc như thế nào?

VN ‘đang có động thái’ để khởi kiện TQ

Việt Nam có thể kiện Trung Quốc về việc đưa giàn khoan ra 'vùng biển tranh chấp'

Một nhà nghiên cứu về Biển Đông từ trong nước nói với BBC rằng chính quyền Việt Nam đang xúc tiến việc khởi kiện Trung Quốc xung quanh việc nước này đưa giàn khoan ra Biển Đông chứ ‘không nói suông’.

Trong lúc này, Chính phủ Việt Nam và Tòa Trọng tài thường trực (PCA) cũng vừa ký hiệp định về việc hợp tác giữa hai bên, trang chủ của Chính phủ Việt Nam tường thuật.
Với việc ký kết này thì Việt Nam cho phép PCA có thể tham gia giải quyết các tranh chấp quốc tế có liên quan đến nước này bằng biện pháp hòa bình.

Việc ký kết đã diễn ra hôm thứ Hai ngày 23/6 giữa Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn và Tổng thư ký PCA Hugo Hans Siblesz.

Văn bản mà hai bên ký kết sẽ thúc đẩy sự hợp tác trong lĩnh vực trao đổi thông tin, đào tạo và tư vấn các vấn đề thủ tục thuộc quy trình trọng tài quốc tế do PCA điều hành, theo trang chủ chính phủ.

Tòa Trọng tài thường trực có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp, bao gồm cả tranh chấp lãnh thổ, giữa các quốc gia thành viên, trừ khi các quốc gia thỏa thuận lựa chọn một phương thức giải quyết khác.

Hiện tại PCA có 115 nước thành viên, trong đó có Trung Quốc.

‘Quá trình lâu dài’
Trao đổi với BBC, Thạc sỹ Luật Hoàng Việt cho biết chính quyền Việt Nam ‘có quyết tâm’ trong việc sử dụng các biện pháp pháp lý đối với Trung Quốc.

“Nhiều lãnh đạo Việt Nam từ thủ tướng và nhiều nhân vật cấp cao khác đã khẳng định Việt Nam sẵn sàng sử dụng biện pháp pháp lý để bảo vệ lợi ích đất nước trên Biển Đông,” ông Việt nói.

Ông cho biết trong hội thảo quốc tế về Biển Đông vừa diễn ra ở Đà Nẵng, các quan chức Việt Nam đã đặt vấn đề với các chuyên gia về ‘các bước khởi kiện là gì, căn cứ khởi kiện như thế nào’.

“Khởi kiện là một vấn đề cân nhắc rất lâu dài,” ông nói và cho biết ‘Việt Nam sẽ hành động cụ thể’.

“Từ lúc Trung Quốc bắt đầu thâm nhập và lấn chiếm bãi cạn Scarborough của Philippines thì Philippines cũng đã đe dọa khởi kiện,” ông nói thêm, “Ít nhất sau hai, ba lần tuyên bố thì đến năm 2013 họ mới chính thức khởi kiện.”


Thạc sỹ Hoàng Việt nói khởi kiện Trung Quố̃c là một 'công việc khó khăn'

“Đây là vấn đề khó khăn nên cũng phải cân nhắc và có những bước đi rất thận trọng,” ông giải thích.

Về khả năng thắng kiện của Việt Nam, Thạc sỹ Việt cho biết đây là ‘một vấn đề phức tap chưa thể nói được’.

“Phán quyết của tòa dù có lợi cho Việt Nam đi chăng nữa thì cũng không có cơ quan tài phán quốc tế nào buộc Trung Quốc phải thi hành.”

“Tuy nhiên việc này cho thấy quyết tâm của Việt Nam để thế giới có thái độ ủng hộ rõ ràng hơn đối với Việt Nam,” ông nói thêm.

Ông Việt cũng dự đoán rằng nếu Việt Nam kiện thì việc Trung Quốc trả đũa ‘là điều chắc chắn sẽ xảy ra’.

“Hậu quả chắc chắn là lớn,” ông nói.

“Ngay từ trường hợp Philippines đã bị Trung Quốc đe dọa rất nhiều. Họ áp lực cả về chính trị, quân sự và kinh tế. Hơn nữa Việt Nam còn nằm sát với Trung Quốc và có quan hệ với Trung Quốc về nhiều mặt,” ông nói thêm.
(BBC)

Giảm lệ thuộc vào Trung Quốc như thế nào?

clip_image001
Những năm gần đây, sự hiện diện của Trung Quốc ở Việt Nam có hai mặt đặc biệt quan trọng. Về kinh tế, họ là một đối tác ngày càng lớn của Việt Nam, xét cả về mặt thương mại và đầu tư, và xu thế nổi bật nhất trong quan hệ kinh tế giữa hai nước là vấn đề nhập siêu đặc biệt lớn của Việt Nam. Về chính trị, Trung Quốc là một đối tác đặc biệt của Việt Nam nhưng xu thế nổi bật nhất trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước là chủ trương lấn tới trong việc khẳng định chủ quyền trên thực tế của Trung Quốc ở Biển Đông.

Hai mặt này tạo ra một cặp đối lập đặc biệt thú vị xét về khía cạnh phân tích chính sách. Vì Trung Quốc là một đối tác kinh tế quan trọng, Việt Nam cần Trung Quốc để phát triển (và dĩ nhiên Trung Quốc cũng hưởng lợi đáng kể từ quan hệ kinh tế này). Thế nhưng chính sách thù địch của Trung Quốc đối với Biển Đông lại đẩy Việt Nam vào thế không thể coi Trung Quốc là một đối tác đáng tin cậy, nếu không muốn nói là đối thủ cần phải cảnh giác / đề phòng cao độ. Chính cặp đối lập này khiến những người Việt có tâm huyết với đất nước không khỏi đau đáu câu hỏi làm thế nào để thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc.

Không nên cô lập Trung Quốc

Làm thế nào để giảm lệ thuộc vào Trung Quốc là một câu hỏi hay và quan trọng không chỉ đối với Việt Nam. Ngay cả những cường quốc lớn như Hoa Kỳ cũng vẫn phải đặt ra câu hỏi này. Thế nhưng giả sử tạm gác câu chuyện riêng của Việt Nam sang một bên, và giả sử rằng phần còn lại của thế giới đang cân nhắc ảnh hưởng của Trung Quốc, thì câu hỏi đầu tiên có phải là “có nên giảm lệ thuộc vào kinh tế của Trung Quốc và kiềm chế Trung Quốc về mặt chính trị hay không?”

Câu trả lời có lẽ là không. Vì sao? Thứ nhất, xét về góc độ kinh tế, một quy luật mang tính bản lề của kinh tế thế giới là thương mại tự do đem lại lợi ích cho tất cả các bên, mặc dù có những bên được lợi nhiều hơn và có những bên được lợi ít hơn. Cho dù chê trách kinh tế Trung Quốc như thế nào thì cũng ít ai phủ nhận rằng sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc có đóng góp lớn vào sự tăng trưởng chung của kinh tế thế giới trong nhiều thập kỷ qua, và có ít doanh nghiệp nào làm ngơ với mối lợi khi làm ăn với Trung Quốc. Đây là sự thật. Cô lập Trung Quốc về mặt kinh tế không có lợi cho phần còn lại của thế giới, và dĩ nhiên rất không có lợi cho Trung Quốc.

Về mặt chính trị, việc cô lập Trung Quốc cũng không có lợi. Tư duy cô lập theo kiểu chiến tranh lạnh sẽ đẩy đất nước này lún sâu vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan và hận thù đối với các nước khác. Kết hợp với sự cô lập về kinh tế, hai gọng kìm này có thể biến Trung Quốc thành một con thú bị thương và trở nên hung hăng hơn với phần còn lại của thế giới.

Vì thế, cho tới nay học thuyết ngoại giao của các nước lớn đối với Trung Quốc vẫn là vừa hợp tác phát triển vừa tìm cách kiềm chế giống như mô hình cây gậy và củ cà rốt. Về lâu dài là khuyến khích sự phát triển của các xu hướng tiến bộ trong nội tại đất nước Trung Quốc, giúp cho tầng lớp trung lưu ở đây phát triển, mở rộng nhận thức, và hòa nhập với thế giới. Dĩ nhiên có nhiều người phê phán học thuyết này, nhưng ít ra, trong những thập kỷ gần đây, sự trỗi dậy của Trung Quốc vẫn mang tính hòa bình (dù rằng có vẻ như về ngoại giao họ ngày càng trở nên cứng rắn và mang màu sắc bá quyền hơn).

Tiền của họ nhưng chủ quyền của ta

Quay lại câu chuyện của Việt Nam, Việt Nam có được lợi từ quan hệ kinh tế với Trung Quốc hay không? Dĩ nhiên là có, và ngược lại Trung Quốc cũng vậy. Việt Nam có chịu thiệt hại từ đường lối ngoại giao mang tính bành trướng và “cá lớn nuốt cá bé” của Trung Quốc hay không? Đương nhiên là Việt Nam đã và đang phải chịu thiệt hại rất nhiều, nhất là câu chuyện chủ quyền trên Biển Đông.

Nếu giảm thiểu các quan hệ kinh tế của Việt Nam với Trung Quốc có giúp gì cho Việt Nam trong vấn đề khẳng định và xác lập chủ quyền thực tế của Việt Nam trên Biển Đông hay không? Theo chúng tôi, câu trả lời là không. Trung Quốc đang được lợi từ quan hệ kinh tế bình thường với Việt Nam. Nếu giảm quan hệ kinh tế giữa hai nước, lợi ích đến từ quan hệ này với Việt Nam sẽ ít đi, và Trung Quốc sẽ có ít lý do hơn phải thỏa hiệp với Việt Nam, và vì vậy chắc chắn sẽ trở nên hiếu chiến hơn nữa. Điều này không có lợi cho cả Trung Quốc và Việt Nam.

Điều đó có nghĩa gì? Chẳng lẽ Việt Nam phải nhân nhượng chủ quyền để đổi lấy quan hệ kinh tế với Trung Quốc? Câu trả lời theo chúng tôi cũng là không nốt. Đứng trên khía cạnh quyền lợi dân tộc, Việt Nam phải có lập trường kiên quyết về vấn đề chủ quyền. Khi chủ quyền bị xâm hại, Việt Nam phải phản ứng bằng mọi cách có thể. Dù Việt Nam chắc chắn không bao giờ đơn phương sử dụng vũ lực trước, Việt Nam phải đáp trả khi đối phương sử dụng vũ lực. Thế nhưng trước khi bị đẩy vào nước cờ chiến tranh này, Việt Nam không có lý do gì phải chấm dứt quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Ngược lại, trong thời bình, thậm chí Việt Nam nên đẩy mạnh các quan hệ kinh tế này.

Nếu người Trung Quốc đổ tiền vào Việt Nam đầu tư, hãy cứ để họ làm vậy. Các khoản đầu tư này sẽ tạo ra các tài sản trên đất nước Việt Nam. Nói một cách bóng bẩy như một chủ doanh nghiệp lớn ở Việt Nam thì “tiền là của họ nhưng chủ quyền là của chúng ta”. Người Trung Quốc càng có nhiều tài sản ở Việt Nam thì họ càng chịu thiệt nếu có xung đột giữa hai nước dẫn tới việc tài sản của họ bị đóng băng hoặc biến mất. Tương tự như vậy, người Trung Quốc càng có lợi khi giao thương với Việt Nam thì họ càng không muốn quan hệ này biến mất vì căng thẳng leo thang.

Giảm lệ thuộc vào Trung Quốc như thế nào

Vậy có nên giảm lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc? Ở đây không phải là câu chuyện giảm bớt quan hệ kinh tế, mà là thay đổi về chất lượng các quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với Trung Quốc, trong đó có vấn đề cán cân mậu dịch, và tái cân bằng sức ảnh hưởng tương đối của Trung Quốc ở Việt Nam. Nói cách khác, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc nên ngày một tăng lên, nhưng với chất lượng khác đi, và bên cạnh đó Việt Nam cần đẩy mạnh các quan hệ kinh tế với nước khác để xét về mặt tương đối, vai trò của Trung Quốc có thể giảm dần.

Về mặt chất lượng quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, vấn đề thâm hụt mậu dịch của Việt Nam đối với Trung Quốc là vấn đề lớn. Đáng tiếc là việc xóa bỏ thâm hụt mậu dịch với Trung Quốc là việc không dễ làm, và không thể làm một sớm một chiều. Nó liên quan đến hàng loạt các vấn đề lớn của nền kinh tế, trong đó có câu chuyện chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Để làm được việc này thì phải tạo dựng các gốc dễ để thay đổi được cơ cấu kinh tế về dài hạn. Thí dụ các doanh nghiệp Việt Nam luôn phàn nàn rằng đấu thầu với các doanh nghiệp Trung Quốc luôn bị thua vì họ bỏ thầu rẻ hơn. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam quay sang chỉ trích rằng nhà thầu Trung Quốc bỏ thầu rẻ nhưng khi làm thì chất lượng thấp. Điều đó có thể đúng. Nhưng điều quan trọng hơn là liệu doanh nghiệp Việt Nam có thể hạ thấp chi phí sản xuất xuống nữa hay không? Đây là một câu hỏi khó, ngoài câu chuyện trực tiếp của doanh nghiệp, nó còn liên quan đến rất nhiều vấn đề của hệ thống chính trị, trong đó có câu chuyện tham nhũng, nhũng nhiễu, và không minh bạch.

Hay một câu chuyện khác là vấn đề xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là tài nguyên, và nhập vào chủ yếu là nguyên vật liệu, bán thành phẩm, và máy móc. Việt Nam khó có thể cạnh tranh với Trung Quốc về sản xuất máy móc công nghiệp, đơn giản vì Trung Quốc có lợi thế kinh tế nhờ quy mô (có nghĩa là có thị trường lớn, vì thế có thể có quy mô sản xuất lớn, và nhờ đó giá thành hạ). Thế nhưng nếu Việt Nam có thể tạo được các sản phẩm có trí tuệ cao thì vấn đề lợi thế nhờ quy mô (vốn gắn liên với sản xuất công nghiệp truyền thống) không còn quá quan trọng nữa. Đáng tiếc là điều này còn lâu mới thành hiện thực. Và lý do là chúng ta đang có nút thắt cổ chai về giáo dục trong nhiều thập kỷ nay và cho đến giờ vẫn không có lời giải ngoài một số chủ trương hay dự án “trên trời” theo kiểu bỏ 35 nghìn tỷ đồng mua sắm thiết bị giáo dục (để rồi vứt xó) như một đề xuất mới đây của quan chức Bộ Giáo dục.

Những giải pháp ngắn hạn kiểu như thay đổi chính sách để tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam dễ trúng thầu hơn có thể là những viên thuốc giảm đau nhưng không phải là loại kháng sinh để chữa dứt bệnh. Trái lại nó có thể tạo nên những “hố đen lobby” mới đem lại lợi ích cho một nhóm thiểu số thạo lobby chính sách, và gây hại cho nền kinh tế về lâu dài.

Khi thay đổi được nền tảng bên dưới, cơ cấu kinh tế Việt Nam chuyển theo hướng hiện đại hơn, doanh nghiệp Việt Nam sẽ tự khắc tìm đến các nhà cung cấp chất lượng cao từ các nước khác thay vì từ Trung Quốc. Khi quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam và phần còn lại của thế giới tăng nhanh hơn so với quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam và Trung Quốc, người Việt sẽ cảm thấy Việt Nam bớt lệ thuộc vào Trung Quốc hơn. Câu chuyện thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc có vẻ như nên nhìn theo hướng này thay vì các động tác lobby chính sách mang tính bơm vá của một số doanh nghiệp và nhóm lợi ích.

Trần Vinh Dự
Nguồn:voatiengviet.com

Phạm Chí Dũng - Ðối thoại nhân quyền Việt-Mỹ: Làm sao để hơi nóng thoát ra?

Bình nước sôi
Mùa Hè năm 2014, cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ diễn ra vào trung tuần Tháng Năm đã không có mặt Dan Baer - viên trợ lý điển trai của ngoại trưởng Hoa Kỳ, người dẫn đầu đoàn đàm phán Mỹ tại cuộc đối thoại cùng tên vào Tháng Tư năm 2013, cũng là nhân vật được giới quan sát đánh giá là rất nhiệt tình cho công cuộc phục hồi các giá trị dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.
Tuy thế, cuộc gặp mặt giữa hai quốc gia cựu thù vào năm nay lại được dẫn dắt bởi một gương mặt không kém mẫn cảm so với trưởng phái đoàn Hoa Kỳ năm ngoái: Tom Malinowski. Cũng như Dan Baer, ông Malinowski phụ trách về dân chủ và nhân quyền và lao động - những lĩnh vực mà Hà Nội không thú vị chút nào.
http://dddn.vcmedia.vn/LF6tz33VxjHf1M3q2wAGVkArG1Pd/Image/2013/07/sansangkhitau14a1-4145c.jpg

Song những gì mà ông Malinowski lan truyền cho giới truyền thông quốc tế sau cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ lần này lại thú vị hơn hẳn lần trước. Cho dù xuất hiện với độ trễ đến ba tuần sau thời điểm đối thoại, nhưng điểm đáng ghi nhận đầu tiên chính là sự có mặt trực tiếp của chính Tom Malinowski, chứ không phải chỉ là một phát ngôn viên Nhà Trắng như ông Patrick Ventrell chỉ để đưa ra vài tuyên bố chung nhất theo cách “hữu nghị viển vông” trong cuộc họp báo sau cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ vào năm trước, trong khi Dan Baer có vẻ cô mình trong tâm thế thất vọng tràn trề vì không thể đến thăm những nhân vật bất đồng chính kiến mà ông muốn gặp.
“Giống như một bình nước sôi, sẽ tốt hơn nhiều nếu ta mở nắp để hơi nóng thoát ra thay vì cố gắng đậy lại để rốt cuộc dẫn tới một sự bùng nổ lớn hơn” - khác hẳn với không khí rất trầm lắng trong đối thoại nhân quyền năm ngoái, vào năm nay thậm chí Tom Malinowski còn nêu ra một ví von ẩn dụ rất tượng hình và mang phong cách thường xuất hiện trong hoàn cảnh tự tin của giới chính trị gia phương Tây. Ðây là điểm thứ hai đáng ghi nhận.
Bối cảnh người Mỹ có vẻ tự tin hơn hẳn như vậy lại diễn ra cùng thời điểm mà giới lãnh đạo Trung Nam Hải biếu không cho Việt Nam một món quà đắt giá: giàn khoan HD 981. Ngay sau chiến dịch được xem như bước đầu tái nô thuộc Việt Nam như thế, hàng loạt sự kiện từ việc người đứng đầu đảng Nguyễn Phú Trọng bị Tập Cận Bình từ chối tiếp ở Bắc Kinh theo tiết lộ của tờ The New York Times, những cuộc bạo động ở Bình Dương, Ðồng Nai và Hà Tĩnh, đến thái độ không thể lừng chừng hơn của Bộ Chính Trị Hà Nội đối với việc kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, đã cho thấy chưa bao giờ từ năm 1945 đến nay, dân tộc Việt Nam phải chứng kiến một nhà nước Việt Nam cô đơn và chia rẽ đến thế, bất chấp phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” và hàng chục đối tác chiến lược toàn diện mà nhà nước này đã “dày công vun đắp” suốt hàng chục năm qua.
Phỏng theo tục ngữ “tham thì thâm,” món quà không thể giá trị hơn của “đối tác chiến lược toàn diện” giá trị nhất là Trung Quốc đã khiến chiến thuật “đu dây” của Việt Nam hầu như phá sản. Hệ lụy còn lại không phải là Hà Nội dung hòa mối quan hệ “mười sáu chữ vàng” như thế nào, mà sẽ phải đối phó với những đòn tấn công tổng lực từ chính trị, kinh tế và cả quân sự của Bắc Kinh trong những năm tới ra sao.
Nâng ly chúc mừng
“Nhân quyền là một phần hết sức quan trọng trong mối quan hệ Việt-Mỹ hiện nay giữa căng thẳng Biển Ðông, chính sách tái cân bằng của Washington ở Châu Á, và các cuộc thương lượng hiệp định tự do thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP” - một hãng tin quốc tế tiếp tục thuật lại câu chuyện với Malinowski. Cần chú ý, trạng từ “hết sức” như thế đã rất ít khi được phía Mỹ nêu ra trên các bàn đàm phán từ nhân quyền đến TPP với Việt Nam. Dù chưa có thông tin cụ thể nào từ cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ tháng 5, 2014 được công bố, nhưng ai cũng hiểu là bất kỳ vào thời điểm bế tắc nào của Hà Nội, những người hướng đến tầm nhìn “xoay trục” ở Washington đều hiểu rõ ưu thế mà họ nắm được so với một đối tác đã hầu như “hết sức.”
“Sở dĩ có hy vọng cao rằng đối thoại nhân quyền năm nay đạt tiến bộ xuất phát từ đối thoại TPP. Cho nên, cuộc đối thoại nhân quyền là cách mà qua đó chúng tôi có thể thảo luận chính xác các bước nào Việt Nam cần thiết phải thực hiện để có thể trở thành thành viên của TPP trong năm nay” - không phải từ bất kỳ thành viên nào trong chính phủ Việt Nam, mà Tom Malinowski mới là người phát ra tín hiệu về một triển vọng mà vào năm ngoái đã không hề nhận ra tương lai.
Bắt đầu có thể nâng ly chúc mừng nhà nước Việt Nam. Mặc cho các vòng đàm phán về TPP vẫn chưa đi đến kết thúc và vẫn còn “vô số việc phải làm” như lời nhắn nhủ của bộ trưởng thương mại Mỹ trong cuộc gặp với Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 9, 2013 tại New York, nhưng lần gặp gỡ của Bộ Trưởng Thương Mại Hoa Kỳ Penny Pritzker cũng với ông Dũng tại Hà Nội vào đầu tháng 6, 2014 - một tháng sau đối thoại nhân quyền - đã phác ra một bức tranh không đến nỗi quá xấu xí: TPP có cơ hội được kết thúc vào cuối năm nay, và do đó người Việt cũng có thể tạm gột rửa vết dơ Trung Quốc trên mặt mình.
Trong một khoảnh khắc nồng nàn hơi thái quá, Tom Malinowski còn cho rằng, “Việt Nam có cơ hội, một cơ hội thật sự.” Quả thật, nửa cuối năm nay có vẻ là cơ hội gần cuối cho giới đàm phán Hà Nội, vì nếu đến năm sau khi tất cả các ứng cử viên Hoa Kỳ đều phải tất bật bởi chuyện vận động tranh cử, sẽ chẳng còn mấy ai tha thiết vận động cho Việt Nam vào TPP nữa.
Tuy nhiên, người Mỹ không hẳn trầm lặng này vẫn không quên thòng lời tự sự: “Nhưng liệu nhà nước Việt Nam có thực hiện những bước cần thiết để nắm bắt cơ hội hay không là câu hỏi mà tôi không thể trả lời thay họ được.”
Rất đúng. Không ai có thể trả lời thay và làm thay cho người Việt, nếu bản thân giới lãnh đạo quá thiếu quả quyết ở đất nước “ngàn năm Bắc thuộc” này không tự xác quyết được tư thế “hãy cố gắng ký khi còn có thể đứng.”
Hãy chờ xem
Một lần nữa, dư luận trên dải đất chữ S lại nổi lên bão tố về những nghi biến quá tiềm tàng trong Hội Nghị Thành Ðô giữa Việt Nam và Trung Quốc vào năm 1990 - sự kiện đánh dấu nguy cơ vong quốc đậm đà nhất kể từ sau cuộc chiến năm 1979 giữa “hai nước xã hội chủ nghĩa anh em.” Kể từ đó đến nay, điều mà không ít trí thức và người dân cho là “chính sách ngoại giao đầu gối” quả đã phát huy hiệu năng xuất thần của nó: Việt Nam đang đối diện với nguy cơ có thể bị biến thành một tỉnh lỵ của chủ nghĩa Ðại Hán.
Trước tình thế “nước mất nhà tan” ấy, không quá khó hiểu trước lời nhận xét của Tom Malinowski: “Chúng tôi khá ấn tượng về việc phái đoàn Việt Nam sang đây làm việc với chúng tôi, tìm cách đạt tiến bộ trong các mối quan tâm của chúng tôi về thực trạng nhân quyền tại Việt Nam.” Lẽ dĩ nhiên ở vào thời điểm quá nhạy cảm này, những gì mà chính phủ Việt Nam và ông Nguyễn Tấn Dũng chưa thực hiện hoặc chưa muốn thực hiện từ trước khi quốc gia này được chấp thuận vào Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc tháng 11, 2013 cho đến cuộc Kiểm Ðiểm Ðịnh Kỳ Phổ Quát Về Nhân Quyền Việt Nam vào tháng 2, 2014 sẽ có cơ hội để biểu tả.
Lần đầu tiên kể từ động tác của Trương Tấn Sang trao bản sao lá thư của Hồ Chí Minh gửi Harry Truman cho Barack Obama vào tháng 7, 2013, người Mỹ mới hé lộ về khả năng “đối tác chiến lược” với Việt Nam. Cũng là lần đầu tiên trong các cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ, trưởng đoàn Hoa Kỳ nhắc tới từ “quân sự” nhằm khẳng định quan hệ Việt-Mỹ sẽ tiến sâu hơn nữa khi Hà Nội cải thiện nhân quyền.
Còn hơn cả TPP, vai trò xung yếu của hạm đội 7 Hoa Kỳ cho đến lúc này mới hiển thị rõ hơn lúc nào hết trong con mắt yếu đuối của giới lãnh đạo Hà Nội. Nếu Trung Quốc đang phung phí tin đồn về chuyện có thể độc chiếm Biển Ðông đến năm 2020, có lẽ không ít tướng lĩnh quân đội Việt Nam lại tin rằng chỉ có hạm đội 7 mới đủ sức hóa giải nỗi đe dọa từ hạm đội Nam Hải của Bắc Kinh.
Tuy nhiên, “Chúng ta phải chờ xem bởi vì sự trắc nghiệm không nằm ở chất lượng cuộc đối thoại mà ở các bước sẽ diễn ra trong những ngày sắp tới” - Tom Malinowski kết luận. Ðó cũng là ván bài lật ngửa theo thế không thể còn đi dây của một bộ phận lãnh đạo Việt Nam, nếu quả thực họ muốn “xoay trục” sang phương Tây.
Lẽ đương nhiên, đó cũng là triển vọng đang hé cửa hơn cho ít nhất vài ba chục tù nhân lương tâm như Ðỗ Thị Minh Hạnh đang bị lấp kín bởi cánh cửa nhà tù; cho vài ba thứ quyền tối thiểu của người dân Việt Nam như lập hội, công đoàn độc lập và biểu tình; và trên hết là cho nền tảng dân quyền thực sự trong một xã hội dân sự đang khát dân chủ đến khô cả họng.
Phạm Chí Dũng
(Người Việt)

Đoan Trang - Thư gửi một nhân viên an ninh (2)

Những người đi biểu tình ở Hà Nội, không biết có để ý đến ngày 5/8/2012? Đó là ngày đầu tiên lực lượng “chống phản động” (bao gồm cả an ninh, công an và dân phòng) có sáng kiến bắt người biểu tình, gom về trại lưu trú, tức trung tâm phục hồi nhân phẩm Lộc Hà, ngoại thành Hà Nội.

Riêng tôi, tôi rất nhớ 5/8/2012 là một ngày hè nóng bức, nắng vàng ong ong và mọi người – cả công an lẫn người bị bắt, lẫn những người đứng chờ ngoài cổng trại – đều nhễ nhại mồ hôi. Và tôi rất nhớ ánh mắt mệt mỏi của một anh công an trẻ, ngồi ở một góc phòng hỏi cung, trong lúc “đám biểu tình” đang bị “làm việc” đồng loạt. Khi buổi thẩm vấn tập thể kết thúc, căn phòng trở lại yên ắng. Nắng chiều đổ vào chỗ anh ta ngồi, nóng gay gắt. Anh bỏ mũ xuống cái bàn trước mặt, gục xuống một lúc rồi lại ngồi thẳng lên, ngáp dài, đôi mắt đỏ ngầu thiếu ngủ.

- Anh có mệt lắm không? – Tôi hỏi.

- Mệt mỏi lắm chị Trang ơi! Đấy chị xem, tuần nào cũng thế này. Tuần nào mấy người cũng đi biểu tình. Mà có thấy thằng Trung Quốc nào đâu cơ chứ…

Tôi cũng chỉ biết mỉm cười. Thật khó nói để anh hiểu, rằng việc người dân biểu tình ôn hòa chống những hành vi gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông là việc làm tốt, thể hiện lòng yêu nước, chính kiến của người dân, hình thành một mặt trận ngoại giao nhân dân, cùng với nhà nước bảo vệ chủ quyền quốc gia. Ngay kể cả nó không có mục đích ấy, hoặc không đạt được mục đích ấy đi chăng nữa, thì biểu tình, tự do tập hợp và biểu đạt chính kiến, vẫn là quyền tự do căn bản của công dân; và nhiệm vụ của lực lượng công an là phải bảo vệ biểu tình chứ không phải là đánh đập, bắt bớ người biểu tình, rồi còn có các biện pháp “đánh nguội” sau đó như đe dọa, miệt thị, bôi nhọ họ trên truyền thông.

Nhưng, nói sao anh hiểu? Suy cho cùng, quyền tự do biểu đạt, quyền tham gia chính trị, v.v. của người dân là những khái niệm hoàn toàn xa lạ với anh và những công an viên như anh. Còn trước mắt là chuyện tuần nào anh cũng phải ra đường bêu nắng, chụp bắt và sau đó “làm việc” với những người mà cấp trên của anh (đại diện cho “Nhà nước”) luôn bảo là phản động, là Việt Tân trá hình, lợi dụng lòng yêu nước để gây rối trật tự công cộng và chống phá chế độ.

“Tuần nào cũng thế này!”. Nghĩa là chủ nhật tuần nào, anh cũng phải bỏ vợ con, gia đình ở nhà, lếch thếch ra đường đấu tranh với “bọn biểu tình”, trong cái nóng nực, trong sự mệt mỏi và thiếu ngủ. Rồi phải bắt chúng lên xe buýt, đưa về đồn hoặc về trại phục hồi nhân phẩm, nghe chúng chửi mắng, rồi cũng không quyết định được gì cả, hơi một tí lại phải gọi điện báo cáo, chờ cấp trên cho chỉ thị…

Nghĩ như vậy, làm sao không thấy thương anh?



Nếu là người yêu nước đi biểu tình mà bị đối xử thế này, bạn có ôn hòa được không?

Truyền thống của ngành an ninh

Nhưng thành thực mà nói, lực lượng an ninh-công an Việt Nam có một đặc điểm kỳ lạ, là: Đối với họ, không hiểu sao, có muốn thương cũng không được.

Từ lâu nay ở Việt Nam, vẫn có một lực lượng đông đảo những người mà tôi gọi là “thành phần thứ ba” hay “các nhà bất mãn với các nhà dân chủ”. Đó là những người hiểu về các giá trị của dân chủ, hiểu rằng chính thể hiện nay của Việt Nam là một chính quyền tồi tệ, được lãnh đạo bởi một đảng độc tài tồi tệ. Nhưng họ hoàn toàn ngờ vực, không tin, thậm chí ghét bỏ những người đấu tranh cho dân chủ hay nói chung là “phong trào đối lập”, vì thấy phe đối lập có quá nhiều điều bất ổn. Một trong những điểm bất ổn là sự đối đầu gay gắt với lực lượng bảo vệ chế độ và bạ ai, bạ cái gì cũng chửi; ví dụ, gọi công an là “chó”, “lợn”, gọi đảng cộng sản là “bọn bán nước”, “tay sai Bắc Kinh”, v.v.

Nhưng có một điều khổ tâm cho phe đối lập, mà “các nhà bất mãn với các nhà dân chủ” không hiểu cho: Ấy là, với lực lượng an ninh, thật sự có muốn thương yêu, muốn nghĩ tốt về họ, muốn ôn hòa với họ, cũng rất khó. Xin lưu ý là điều này đặc biệt đúng với những cán bộ an ninh cấp cao, những đồng chí ngồi ở vị trí lãnh đạo và/hoặc tham mưu cho lãnh đạo. Chứ còn những người đã phải ra đường trực tiếp “đấu tranh với bọn phản động” thì là cấp thấp rồi, không hẳn đại diện cho bộ mặt của an ninh Việt Nam.

Dẫu ta có ôn hòa, lịch thiệp với họ, thì cũng chỉ được vài câu là lại thấy cái đặc thù công an Việt Nam ở họ bộc lộ: Lại là giọng khiêu khích, mỉa mai, châm chọc, kiểu: “Thế nào, đi biểu tình được bao nhiêu tiền”, “Bây giờ cho ra Hoàng Sa chiến đấu bảo vệ đất nước nhé”, “Được giải nhân quyền vui chứ hả, anh em bạn bè chúc mừng chưa”… Lại là giọng răn dạy, “định hướng”, tóm lại là muốn “quản lý” dân, coi dân như lũ ngu, không có thông tin, chẳng biết gì, chứ không thèm đối thoại, càng không cần nghe. Lại là giọng nói xấu, “dìm hàng”, bôi nhọ người thứ ba (vắng mặt):

- Lúc bắt đầu biểu tình, thấy H. hô hào to lắm. Đến lúc thấy công an đến, H. lại chạy ra một chỗ khuất giả vờ gọi điện thoại, hí hí… Bỏ mặc anh em, hí hí…

- Tay T. đó bọn tôi lạ gì. Trình độ văn hóa lớp 3, chữ không đầy cái lá mít mà viết lách gì.

- Bà đó làm ăn thua lỗ, mất tiền, sinh ra điên điên dở dở thế rồi đi biểu tình, rồi được bọn trên mạng nó bơm lên thôi. Khổ…

Trong mắt họ, đặc biệt là các cán bộ của ngành an ninh, dường như ngoài lãnh đạo Đảng, lãnh đạo ngành ra, chẳng còn ai là người tốt, phàm là dân thì ai cũng xấu xa, nhất là “phản động” thì còn xấu nữa. Người nào cũng bần tiện, lưu manh, ít hiểu biết, còn nếu có chút kiến thức hay bằng cấp thì lại là phường cơ hội, háo danh, hoặc hoang tưởng.

Nói về luật sư Trịnh Hội, người có bằng thạc sĩ luật nhân quyền ở ĐH Oxford, một tờ báo của ngành công an viết: “Đó là những danh xưng hão, nhiều kẻ học đòi nghe lớp lý lịch của Hội thì át vía chứ chẳng tài cán gì. Cái danh ấy có được chủ yếu cũng đến từ “ngoại” – như cái cách mà Hội làm ở hải ngoại, ấy là nấp dưới mác bố vợ Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống ngụy”. Than ôi, họ tưởng Oxford cũng giống như trường đại học ở Việt Nam, có thể nhận “chỉ đạo” từ ông Nguyễn Cao Kỳ, gửi gắm con cái vào học hay sao? Họ tưởng các đại học ở phương Tây đều giống như ĐH Kiến trúc TP.HCM, nơi Ban Giám hiệu “giật mình” khi biết “có con trai của một cán bộ cao cấp Chính phủ học tập ở trường mình” ư?

Khi tôi viết những dòng này, tôi biết rằng nếu có đọc được, họ sẽ lại ngay lập tức bật cái cơ chế tự động nói xấu và bôi nhọ người khác trong não của họ lên, để bảo rằng “Đoan Trang viết bài bênh vực cho quan thầy Trịnh Hội, ông chủ của Trang ở Việt Tân”. Nói sao để họ hiểu?

Quen lối suy nghĩ xấu xa về người dân, về xã hội, làm sao họ tin được trên đời này, có những người đi biểu tình thực sự vì yêu nước? Có những người bỏ công việc trị giá vài nghìn USD mỗi tháng để dấn thân vào con đường xây dựng xã hội dân sự, tạo nền móng cho một nền dân chủ bền vững ở Việt Nam trong tương lai? Làm sao họ hiểu được xã hội dân sự thực chất là gì, nhân quyền là gì, tự do-dân chủ là gì?

Đã thành một thứ truyền thống của ngành, đó là: An ninh Việt Nam không bao giờ nghĩ được cái gì tốt đẹp. Không bao giờ.


Anh ấy du học ở một nước phương Tây.

Và anh ấy được báo chí quốc doanh ca ngợi là "đi lên bằng chính đôi chân mình".

Ai cần tình thương yêu?

Điều khủng khiếp mà tôi nhận ra trong quá trình cố gắng tìm hiểu lực lượng an ninh và thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay là: Chính quyền công an trị ở Việt Nam không cần người dân yêu thương họ, mà thật ra cũng không cần người dân thương yêu ai cả. Đối với chính quyền, tốt nhất là dân chúng Việt Nam đừng yêu thương ai/cái gì hết, kể cả yêu Đảng Cộng sản, bởi vì yêu Đảng rồi lại ý kiến ý cò, đòi Đảng phải cải cách, phải đổi mới, phải làm cái nọ cái kia để xứng đáng với tình yêu ấy, phức tạp lắm, mệt lắm.

Bản thân lực lượng an ninh cũng có nhiệm vụ khiêu khích, chọc ngoáy, cốt làm sao cho các gương mặt đối lập “nổi điên” lên, phản ứng lại, mà tất nhiên là chẳng làm gì được, rồi thành ra ức chế, bí bức và rốt cục là sống trong thù hằn. Nói cách khác, chính quyền chỉ sợ các nhà đấu tranh trở thành những nhân cách lớn, tràn đầy tình yêu thương, cao thượng, thu hút quần chúng; chứ sợ gì những kẻ hằn học, bất mãn, thất bại.

Dân ghét Đảng ư? Tốt, không cần dân yêu, chỉ cần nghe lời – tức là chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng – là được.

Dân ghét “phong trào dân chủ”, “lực lượng đối lập” ư? Quá tốt.

Dân ghét nhau ư? Càng tốt, để khỏi “chung tay xây dựng xã hội dân sự”, khỏi thành lập những “No-U xóa đường lưỡi bò, bảo vệ Tổ quốc”, “Cơm có thịt”, “Hội bầu bí tương thân”, v.v.

Cái khó đối với chúng ta bây giờ, là phải làm gì trong một xã hội có một chính quyền và một lực lượng an ninh chỉ chăm chăm gieo rắc những suy nghĩ xấu xa và lòng thù hận như thế? Mà chúng ta thì không phải là thánh để có thể đem yêu thương đối đãi hận thù…

Bài liên quan: Thư gửi một nhân viên an ninh
  Đoan Trang
  (Blog Đoan Trang)

Ông Hoàng Thu, người tự thiêu để phản đối giàn khoan 981, đã qua đời

Thông báo về Người Việt tự Thiêu chống Trung Cộng tại Bradenton, Florida

"...Thi thể của ông Hoàng Thu Hùng, 71 tuổi,  được nhà chức trách cho phép mang về để ở nhà quàn, có thể ngày mai chúng tôi sẽ biết rõ hơn nơi quàn linh cữu, ngày giờ thăm viếng cũng như tang lễ. Ông là một phật tử..."

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA TAMPA BAY, FLORIDA
8740 47th Street, Pinellas, FL 43781
727-403-4090, 727-541-6603

Thông báo về Người Việt tự Thiêu chống Trung Cộng tại Bradenton, Florida


Ngày 23/6/2014 - Sau khi tìm hiểu từ cảnh sát Bradenton, FL, chúng tôi đã liên lạc được với gia đình của người tự thiêu. Ông tên là Hoàng Thu Hùng, 71 tuổi, người vợ của ông là bà Quả Phụ Lê Thị Huế, vẫn còn đi làm. Người con gái tên Hoàng Oanh, không biết nhiều về tiểu sử của người cha, chỉ biết là thân phụ thuộc pháo binh, sức khỏe của ông trước đó vẫn bình thường.

Buổi sáng xảy ra sự việc, ông đã nói lời từ giã với bà vợ, sau đó mọi người trong gia đình không biết gì thêm. Người con gái ghi nhận gần đây khi xem tin tức về Biển Đông, ông tỏ ra rất tức giận.

Theo tin báo chí đã loan, một người đàn ông 71 tuổi đã dùng xăng tự thiêu vào lúc 11:15 sáng thứ Sáu 21-6-2014 trước khu gia cư Silver Lake Community thuộc thành phố Bradenton, Florida, cách Tampa khoảng 1 giờ lái xe về hướng nam. Nhân chứng thấy người đàn ông này đang bốc cháy, họ cố gắng dập tắt lửa nhưng không kịp, trực thăng cấp cứu đưa ngay vào bệnh viện Tampa General Hospital, một bệnh viện lớn ở thành phố Tampa nhưng cứu không kịp.

Cảnh sát cho hay họ tìm thấy một bình xăng, vật dụng quần áo, và hai mảnh giấy ghi tiếng Việt, một mảnh ghi "Hai Yang 981 phải rời khỏi V-N hải phận" và "Anh hùng tử khí hùng không tử", dưới ký tên không rõ "thu hung”. Hai Yang đọc theo âm tiếng Việt là Hải Dương, tên của một giàn khoan mà Trung Cộng đặt trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ngày 2 tháng 5, 2014 đã gây ra tức giận cho người Việt trong và ngoài nước.

Thi thể của ông được nhà chức trách cho phép mang về để ở nhà quàn, có thể ngày mai chúng tôi sẽ biết rõ hơn nơi quàn linh cữu, ngày giờ thăm viếng cũng như tang lễ. Ông là một phật tử.

Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Tampa Bay, Florida đang tìm cách giúp đỡ gia đình để lo tang lễ, rất mong được các cộng đồng, người Việt khắp nơi gửi lời phân ưu, chia buồn, và giúp đỡ cho tang quyền. Chúng tôi sẽ thông báo đầy đủ sau khi biết rõ các chi tiết.

Xin vui lòng liên lạc với Chủ tịch Ban Chấp Hành CĐNVQG Tampa Bay như sau:

Ông Trần Công Thức,
điện thoại 727-403-4080,
email: TTran33@tampabay.rr.com


Tác giả gửi trực tiếp đến VAOL&TTHN







https://scontent-b-sjc.xx.fbcdn.net/hphotos-xap1/t1.0-9/10447512_659109180849522_6310370745906330735_n.jpg-Ông Hoàng Thu, người tự thiêu để phản đối giàn khoan 981, đã qua đời

Tin không lề FB


“Trong tiếng khóc nức nở, con gái của người đàn ông vừa thực hiện một hành động quả cảm bằng cách tự thiêu để phản đối hành vi xâm lấn của Trung Quốc, cho biết, ‘Không ai trong nhà biết gì hết về chuyện ba làm như vậy. Ba tôi rất bình thường, không có một biểu hiện gì khác thường hết, ba rất khỏe mạnh, không có bệnh đau gì hết’.”
Lời cuối với vợ trước khi tự thiêu: ‘Bà ở lại trông chừng mấy đứa nhỏ. Tôi đi nghe.’ http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=190515&zoneid=1#.U6j-hrHCfQs
Man who set himself on fire in East Manatee dies:
http://www.bradenton.com/2014/06/23/5221380/man-who-set-himself-on-fire-in.html
 

Quan điểm chống Trung Quốc trước đây và hiện nay - Kiện Trung Quốc về Biển Đông : Lợi nhiều hơn hại

Quan điểm chống Trung Quốc trước đây và hiện nay

Tàu Trung quốc ngang nhiên đâm chìm một tàu cá Việt Nam trước sự chứng kiến của nhiều ngư dân trên các tàu cá khác ngày 26 tháng 5, 2014.

Nghe bài này
Một số sinh viên trẻ tại Việt Nam như Nguyễn Phương Uyên, Từ Anh Tú vì công khai lên tiếng cho một xã hội dân chủ hay tích cực đấu tranh chống tham nhũng và chống Trung Quốc xâm lược Việt Nam đã bị đuổi học hay tù tội; thế nhưng họ vẫn kiên định với chính kiến của bản thân. Nhất là trong tình hình hiện nay, việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển của Việt Nam càng củng cố, chứng minh những điều mà họ theo đuổi lâu nay là đúng đắn.

Biện pháp kiện và ngưng kiện

Hồi trung tuần tháng 6 vừa qua, sinh viên Nguyễn Phương Uyên ký đơn gửi Tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh khởi kiện hiệu trưởng Đại học Công nghiệp Thực phẩm Minh về quyết định buộc thôi học đối với bản thân cô.

Lý do khởi kiện vì quyết định đó không được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, qui định, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Đơn khởi kiện được làm ra sau khi bản thân sinh viên Nguyễn Phương Uyên nhận được thư trả lời đơn khiếu nại cũng nêu rõ việc làm trái pháp luật của trường Đại học Công Nghiệp Thực Phẩm thành phố Hồ Chí Minh.




Trong tình trạng đất nước hiện nay, hệ thống pháp luật không có khả năng thực hiện công lý, thì bằng những đơn kiện để giải quyết công việc của mọi người là nhằm đánh động để ngành pháp luật VN có những khả năng thực hiện lại công lý

Nguyễn Phương Uyên
Theo sinh viên Nguyễn Phương Uyên, dù biết rằng khả năng giải quyết đơn khởi kiện theo đúng qui định của luật pháp cũng chẳng hứa hẹn gì, nhưng đây là việc cần làm để ngành tư pháp Việt Nam phải có thay đổi. Trả lời chúng tôi vào ngày 23 tháng 6, sinh viên Nguyễn Phương Uyên nói:

Trong tình trạng đất nước hiện nay, hệ thống pháp luật không có khả năng thực hiện công lý, thì bằng những đơn kiện để giải quyết công việc của mọi người là nhằm đánh động để ngành pháp luật Việt Nam có những khả năng thực hiện lại công lý!

Cô Nguyễn Phương Uyên (files photos)
Một sinh viên khác ở Bắc Giang, anh Từ Anh Tú, cũng bị trường Cao Đẳng Y tế Thái Nguyên cho thôi học hồi năm 2011 vì bị cho hoạt động dân chủ. Sau vài lần làm đơn khiếu kiện, nay anh không kiện nữa vì cho rằng hệ thống tư pháp hiện nay không khách quan. Anh trình bày:

Tôi thấy chế độ ở Việt Nam là một chế độ độc tài nên việc bao che cùa cấp trên cho cấp dưới làm những việc sai trái là một việc rất phổ biến. Nếu tiếp tục làm đơn khiếu nại, đơn kiện họ không bao giờ giải quyết. Giống như một ngôi nhà bị dột, nếu cứ tiếp tục lau nền nhà mà không sửa mái đi thì sẽ dột mãi. Tôi đã chứng kiến nhiều người ở Việt Nam, có người kiện đến 20-30 năm rồi mà đơn kiện của họ cũng không được giải quyết. Nếu đơn đưa đến mà bộ máy chính quyền không giải quyết thì thà rằng mình dừng lại để dành sức lực và tất cả mọi thứ để đấu tranh cho một đất nước Việt Nam dân chủ.

Viễn kiến về chuyện Trung Quốc xâm chiếm biển đảo Việt Nam

Một trong những lý do khiến sinh viên Nguyễn Phương Uyên bị bắt và bị đưa ra tòa là vì tham gia cùng một bạn trẻ khác là Đinh Nguyên Kha rải truyền đơn tố cáo các đảng viên cao cấp tham nhũng gây ra những hệ quả xấu cho đất nước. Bên cạnh đó, các bạn còn lên tiếng chống Trung Quốc xâm chiếm Biển Đông của Việt Nam.

Nguyễn Phương Uyên hiện đang bị án treo ba năm tại nhà cho biết suy nghĩ hiện nay của bản thân về diển biến giàn khoan Hải Dương 981 hoạt động trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam:




Giống như một ngôi nhà bị dột, nếu cứ tiếp tục lau nền nhà mà không sửa mái đi thì sẽ dột mãi. Tôi đã chứng kiến nhiều người ở Việt Nam, có người kiện đến 20-30 năm rồi mà đơn kiện của họ cũng không được giải quyết

anh Từ Anh Tú
Ngay cả trong đơn gửi Giám đốc thẩm gần đây, tôi cũng ghi rõ hành động của bản thân liên quan việc chống Tàu là hành động đúng đắn và nhất là trong tình trạng hiện nay khi giàn khoan 981 được đưa vào Việt Nam thì càng thể hiện sự đúng đắn đó hơn nữa. Tôi yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, trả lại sự tự do cho tôi.

Anh Từ Anh Tú (files photos)
Từ Anh Tú cũng từng tham gia những cuộc biểu tình chống Trung Quốc gây hấn với Việt Nam, đưa ra nhận định về vấn đề Trung Quốc lấn chiếm biển đảo của Việt Nam:

Cũng như trước đây, tôi suy nghĩ rằng dã tâm của Trung Quốc đã có từ hằng ngàn năm nay- từ thời ông cha của họ và đến nay thể hệ hiện nay cũng tiếp bước cha ông họ thôi.

Đánh giá biện pháp của chính quyền và cách giải quyết

Trước tình hình đất nước với diễn biến phức tạp hiện nay ngoài Biển Đông, Nguyễn Phương Uyên có đánh giá về hành xử của Nhà nước hiện nay và ý kiến về cách thức giải quyết vấn đề:

Chính quyền đang rất bối rối và những việc như biểu tình hay chống Tàu bằng những bài viết, theo tôi nhận thấy, đang bị giới hạn lại bởi Nhà nước. Điều thể hiện ở đây là truyền thông chính thống cũng bị lệ thuộc rất nhiều vào Nhà nước và không thể hiện được chức năng của nó. Viễn cảnh cho đất nước hiện nay là Nhà nước thâu tóm tất cả mọi quyền lực, cũng như thâu tóm mọi sự nên Nhà nước không lo liệu hết được.




Cần phải có những điều chỉnh trong đấu tranh, ví dụ như trước đây tập trung vào những việc như biểu tình chống Trung Quốc…; nhưng nay theo tôi một việc song hành nữa là phải chống lại chính những ‘bọn tay sai bán nước’ đang có tại Việt Nam

Từ Anh Tú
Trong tình hình Trung Quốc gây hấn như thế, tôi mong muốn Nhà nước không bao giờ bao cấp, không bao giờ lo liệu được tất thảy. Nhà nước cần chia nhỏ công việc đó ra để người dân cùng chung sức với Nhà nước. Chính quyền phải phục vụ cho cộng đồng và mở đường cho xã hội dân sự phát triển hơn. 

Gần đây tôi thấy những thỉnh nguyện thư không còn tác dụng đối với Nhà nước nữa vì quá nhiều và tràn lan trên mạng. Tôi mong muốn có hành động thiết thực hơn, có thể tạo dựng một xã hội (dân sự) đứng độc lập với chính quyền, với một người đứng đầu lấy chữ ký và rồi đưa Trung Quốc ra kiện.

Đối với Từ Anh Tú cần có biện pháp khác nhau trước hết đối với chính quyền hiện nay và song song đó là nâng cao hiểu biết cho nhiều người dân khác nữa:

Cần phải có những điều chỉnh trong đấu tranh, ví dụ như trước đây tập trung vào những việc như biểu tình chống Trung Quốc…; nhưng nay theo tôi một việc song hành nữa là phải chống lại chính những ‘bọn tay sai bán nước’ đang có tại Việt Nam. Đó là một lực lượng rất nguy hiểm. 

Ngoài ra việc tuyên truyền cho người dân cũng rất quan trọng. Trong bất cứ trường hợp nào, người dân cũng là lực lượng rất quan trọng trong việc đưa đất nước thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Giáo dục Việt Nam làm cho người ta quên đi hành động xâm lược Việt Nam ngay trước mắt. Chẳng hạn như cuộc chiến tranh biên giới phía bắc năm 79 và cuộc hải chiến Trường Sa năm 1988 hầu như trong cách sách và đài báo không nhắc đến. Cần làm cho người dân biết đến những việc đó.

Đối với bản thân chắc chắn có những khó khăn, thậm chí còn bị gây áp lực đến gia đình, đe dọa; nhưng tôi nghĩ rằng cần quyết tâm và có tâm huyết đấu tranh cho một đất nước Việt Nam thực sự dân chủ thì những trở ngại như thế không quan trọng lắm.

Số lượng những người trẻ có ý thức rõ ràng như hai bạn Nguyễn Phương Uyên và Từ Anh Tú hiện không phải là nhiều tại Việt Nam. Tuy nhiên, trước biết bao khó khăn thậm chí cản trở, sách nhiễu họ vẫn kiên định với con đường đã chọn.
Gia Minh,
biên tập viên RFA, Bangkok
Theo RFA

Kiện Trung Quốc về Biển Đông : Lợi nhiều hơn hại

Sau khi đưa giàn khoan HD-981 vào cắm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ngoài khơi Biển Đông vào đầu tháng 05/2014, Trung Quốc duy trì thái độ cứng rắn. Ngoài các hành vi đe dọa Việt Nam tại vùng tranh chấp, Bắc Kinh còn cử lãnh đạo ngành ngoại giao đến Hà Nội để đòi Việt Nam không được cản trở hoạt động của giàn khoan và nhất là không được phản đối hành vi đơn phương của Trung Quốc trên trường quốc tế.

Theo các chuyên gia phân tích, trong thế yếu về mặt quân sự, biện pháp tốt nhất hiện nay mà Việt Nam có thể tiến hành để ngăn chặn mưu đồ bành trướng của Trung Quốc, là kiện Bắc Kinh ra trước các định chế tài phán quốc tế, và đưa vấn đề Trung Quốc đe dọa an ninh khu vực bằng giàn khoan HD-981 ra trước Hội đồng Bảo an cũng như Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. 
Quần đảo Hoàng Sa chụp từ máy bay trinh sát - DR
Quần đảo Hoàng Sa chụp từ máy bay trinh sát - DR
Trong bài phân tích « Chiến dịch tuyên truyền của Trung Quốc và Biển Đông : Cứ thử xem ! » (China’s Information Warfare Campaign and the South China Sea : Bring It On !) trên báo The Diplomat ngày 16/06/2014, Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia kỳ cựu về Biển Đông thuộc Học viện Quốc phòng Úc đã cho rằng cần phải lợi dụng việc Trung Quốc công bố « Tuyên cáo lập trường » về vụ giàn khoan HD-981 tại Liên Hiệp Quốc để yêu cầu Hội đồng Bảo an mở thảo luận về vấn đề này, buộc Bắc Kinh lộ rõ bản chất muốn lợi dụng của mình.

Một dân biểu Việt Nam, ông Trương Trọng Nghĩa, thuộc đơn vị Thành phố Hồ Chí Minh, hôm 19/06/2014 vừa qua cũng công khai yêu cầu Quốc hội Việt Nam ra nghị quyết hay tuyên bố về các hành vi « ‘vừa ăn cướp, vừa la làng’ của Trung Quốc », trong đó có việc đề nghị chính phủ Việt Nam « khởi kiện Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam bằng vũ lực ra các tổ chức tài phán quốc tế ».

Trên đây chỉ là hai ví dụ trong số rất nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam phải tranh thủ thời cơ tốt hiện nay để kiện Trung Quốc ra trước quốc tế về những đòi hỏi chủ quyền quá đáng kèm theo là những động thái hung bạo nhằm áp đặt yêu sách của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Vấn đề đặt ra là sau khi chính Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã nêu lên khả năng kiện Trung Quốc trong bài trả lời phỏng vấn báo chí ngoại quốc ngày 31/05/2014, chính phủ Việt Nam như vẫn án binh bất động để cân nhắc lợi hại.

Trả lời phỏng vấn của RFI, Giáo sư Ngô Vĩnh Long chuyên gia về Biển Đông tại Đại học Maine (Hoa Kỳ) đã cho rằng trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng leo thang tranh chấp để ép buộc Việt Nam chấp nhận các yêu sách chủ quyền của họ tại Biển Đông, vấn đề kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế trước Liên Hiệp Quốc đã trở thành cấp bách. Việt Nam phải tranh thủ thời cơ thuận lợi để xúc tiến các vụ kiện vốn có lợi cho Việt Nam nhiều hơn là có hại.

Sau đây là toàn văn bài phỏng vấn Giáo sư Ngô Vĩnh Long.

RFI : Giáo sư đánh giá sao về kết quả các cuộc hội đàm cấp cao đầu tiên giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hà Nội hôm thứ Tư 18/06/2014?

Ngô Vĩnh Long : Kết quả cuộc hội đàm vừa qua cho thấy rằng Trung Quốc chỉ muốn dùng cơ hội để tuyên truyền rằng Trung Quốc vẫn muốn đàm phán với Việt Nam, tuy chỉ song phương thôi như lập trường Trung Quốc đã lập đi lập lại từ trước đến nay.

Ngoài ra, Trung Quốc muốn viện cớ là vì Việt Nam vẫn ngoan cố và không chịu phục tùng nên Trung Quốc phải tiếp tục dạy cho Việt Nam một vài bài học, trong đó có việc đưa thêm vài giàn khoan vào Biển Đông như đã công bố trong những ngày vừa qua.

Rõ ràng là Trung Quốc đã mưu tính việc gia tăng áp lực đối với Việt Nam và leo thang trong khu vực Biển Đông.

Sau cuộc hội đàm, các tờ báo của Trung Quốc còn cho biết là phía Trung Quốc nói rằng việc cắm giàn khoan là việc riêng của Trung Quốc và Việt Nam phải ngưng ngay các hành động quấy nhiễu trái phép. Các báo này nói thêm là Việt Nam và Trung Quốc đã đồng ý giải quyết song phương các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông để những căng thẳng hiện nay không làm tổn hại đến đại cuộc giữa hai nước.

Theo tôi, đây cũng là việc chuẩn bị dư luận để nếu Việt Nam phản đối các hành động leo thang của Trung Quốc thì Trung Quốc nói là Việt Nam ngoan cố và thất hứa.

RFI : Trong thế yếu về mặt quân sự hiện nay của Việt Nam so với Trung Quốc, Việt Nam phải ưu tiên đấu tranh trên các lãnh vực nào ?

Ngô Vĩnh Long : Việt Nam nên ưu tiên cho việc vận động sự ủng hộ của nhân dân trong nước và nhân dân thế giới.

« Cần ủng hộ vụ Philippines kiện Trung Quốc » 

Để được thế giới ủng hộ, thì Việt Nam trước tiên cần ủng hộ Phi Luật Tân trong việc kiện Trung Quốc lên Tòa án Trọng tài theo phụ lục 7 của Luật Biển Liên Hiệp Quốc, tức ITLOS của UNCLOS. Đây là việc dễ làm và nhanh nhất vì Phi Luật Tân đã có nhã ý mời Việt Nam hoặc ủng hộ hoặc kiện chung.

Phi Luật Tân đã nộp hồ sơ luận cứ dài khoảng 4.000 trang, trong đó có các luận chứng phủ nhận đường 9 đoạn, hay “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đã đơn phương dùng để khoanh vùng hơn 80% toàn bộ Biển Đông. Việt Nam là nước có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất trong khu vực cho nên đường lưỡi bò xâm lấn Việt Nam nhiều nhất. Do đó, nếu vụ kiện của Phi Luật Tân thắng thì nước được hưởng lợi nhiều nhất là Việt Nam.

« Giải quyết tranh chấp Trường Sa với các nước ASEAN »

Ngoài ra, Việt Nam cũng nên thương lượng với Phi Luật Tân và các nước khác ở Đông Nam Á như Mã Lai và Brunei để giải quyết các vấn đề tranh chấp trong khu vực Trường Sa để có thể thiết lập một liên minh trong việc ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc.

Trung Quốc hiện nay đang xây cất trên một số đảo đã chiếm đóng bằng vũ lực ở Trường Sa hòng làm bàn đạp để xâm chiếm thêm và để đe doạ các nước khác. Việt Nam là một nước đang quản lý nhiều đảo nhất trong khu vực Trường Sa. Do đó việc giải quyết các vấn đề tranh chấp với Phi Luật Tân, Mã Lai và Brunei để củng cố quan hệ giữa Việt Nam với các nước này, cũng có lợi cho Việt Nam nhiều nhất.

« Tăng cường quan hệ với Mỹ »

Ngoài ra, Phi Luật Tân là đồng minh của Mỹ và các nước kia cũng gần với Mỹ cho nên liên minh với các nước này cũng giúp Việt Nam tăng cường quan hệ với Mỹ.

Mỹ là nước vẫn có sức mạnh hải quân mạnh nhất trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương và Mỹ sẽ không thể để Trung Quốc thao túng trong khu vực quan trọng nhất của Thái Bình Dương - tức là khu vực Biển Đông - vì khoảng 60% lưu thông mậu dịch hàng hải trên thế giới là qua đấy.

Điều kiện là Mỹ cần được sự ủng hộ và trợ giúp của các nước trong khu vực, trong đó sự ủng hộ và trợ giúp của Việt Nam là quan trọng nhất.

« Nên đưa tranh chấp Hoàng Sa ra Toà án Quốc tế »

Ngoài việc Việt Nam nên kiện Trung Quốc ra Toà án Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS, chung với Phi Luật Tân hay riêng rẽ, Việt Nam nên đòi đưa tranh chấp Hoàng Sa ra Toà án Quốc tế (International Court of Justice - ICJ).

Lẽ dĩ nhiên là Trung Quốc sẽ bác bỏ đề nghị của Việt Nam, nhưng qua đó Việt Nam có thể chứng minh cho thế giới biết được sự chiếm đóng phi pháp của Trung Quốc và vận động được dư luận trong nước và trên thế giới ủng hộ sự nghiêm túc của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông.

RFI : Tháng 5/2004, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã nêu lên khả năng Việt Nam kiện Trung Quốc ra trước quốc tế. Thế nhưng trong giới lãnh đạo Việt Nam dường như vẫn còn thái độ dè dặt. Theo phân tích của Giáo sư, cái lợi và cái hại của việc kiện Trung Quốc ra trước quốc tế là như thế nào ?

Ngô Vĩnh Long : Đúng là trong giới lãnh đạo Việt Nam dường như vẫn có thái độ dè dặt, có thể vì sợ Trung Quốc gây rối trong các lãnh vực kinh tế, chính trị, và xã hội của Việt Nam. Nhưng Việt Nam càng chần chừ thì Trung Quốc sẽ càng lấn tới.

Trung Quốc đã và đang cố tình phân hoá và cô lập Việt Nam bằng cách tạo một hình ảnh là càng ngày Việt Nam càng tiến sâu vào quỹ đạo của Trung Quốc. Như thế thì Trung Quốc có thể làm cho chính quyền Việt Nam càng ngày càng mất đi sự tin tưởng của nhân dân trong nước và mất sự ủng hộ của nước ngoài. Đến khi suy yếu và không còn có lựa chọn nữa, thì lúc đó Trung Quốc sẽ dùng Việt Nam để trao đổi với các nước khác và để chia vùng ảnh hưởng như Trung Quốc đã từng làm.

« Thời điểm thuận lợi nhất để Việt Nam kiện Trung Quốc » 

Theo tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng hồ sơ kiện Trung Quốc rồi. Thì bây giờ là thời điểm thuận lợi nhất từ trước đến nay để chính phủ Việt Nam khởi kiện Trung Quốc.

Trong trường hợp chính phủ Việt Nam chưa chuẩn bị chu đáo thì Việt Nam cũng nên khởi kiện rồi hoàn tất hồ sơ như Phi Luật Tân đã làm. Vấn đề quan trọng là trong thời điểm hiện tại Việt Nam phải cấp tốc chứng minh rằng Việt Nam sẵn sàng bảo vệ quyền lợi của mình cũng như an ninh của khu vực và của thế giới trước sự đe doạ và bành trướng của Trung Quốc.

« Cái lợi lớn nhất : Được sự ủng hộ trong nước và trên thế giới » 

Cái lợi lớn nhất là qua vụ kiện Việt Nam có thể vận động sự ủng hộ của nhân dân trong nước và của thế giới để không những ngăn chặn sức ép của Trung Quốc, mà còn có thể được các toà án quốc tế xét xử và phán quyết là việc Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa và các đảo khác ở Trường Sa là sai trái.

Trong khoảng hơn một chục vụ kiện ra trước các toà án quốc tế về tranh chấp trên biển mà tôi đã nghiên cứu, phán quyết của các toà án đều được tuân thủ.

Nếu ra được Toà án Quốc tế việc xấu nhất có thể xảy ra là toà sẽ phán quyết chia quần đảo Hoàng Sa, phần phía bên đảo Phú Lâm cho Trung Quốc và phần phía bên Hoàng Sa cho Việt Nam. Nhưng dù như thế, Trung Quốc không thể đòi là Phú Lâm có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) để biện hộ cho việc cắm giàn khoan Hải Dương 981 trên thềm lục địa và trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam như họ đang làm.

Nếu Trung Quốc ỷ thế nước lớn và không chịu tuân theo phán quyết của toà – mà đấy sẽ là trường hợp chưa từng xẩy ra - thì Trung Quốc sẽ chứng tỏ cho thế giới thấy rõ bộ mặt ngoan cố của mình và tự cô lập mình đối với cộng đồng thế giới.

« Cái hại lớn nhất : Bị Trung Quốc trả thù bằng kinh tế, nhưng … »

Cái hại lớn nhất đối với Việt Nam là Trung Quốc sẽ trả thù bằng cách phá hoại kinh tế Việt Nam như gián đoạn trao đổi hàng hóa, gián đoạn mậu dịch hay gây trì trệ cho các công trình đang đấu thầu trong nước.

Việt Nam có thể bị khó khăn trong một giai đoạn, nhưng Trung Quốc cũng sẽ bị thiệt hại về nhiều mặt, trong đó có sự e dè của nhiều nước trong việc làm ăn với Trung Quốc. Do đó có thể các nước đó sẽ rút bớt hoạt động và đầu tư ở Trung Quốc và chuyển về Việt Nam hay các nước khác. Nhưng Việt Nam phải năng động trong vấn đề xây dựng môi trường tốt để thu hút đầu tư và mậu dịch của các nước này khi họ chuyển dịch.

RFI : Việt Nam cũng cần phải thúc đẩy việc đưa vụ giàn khoan ra trước Hội đồng Bảo an và Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ?

Ngô Vĩnh Long : Tôi đã đề nghị đưa vụ giàn khoan ra trước Hội đồng Bảo an và Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vì Trung Quốc đã gây mất an ninh cho khu vực và cho thế giới qua việc đưa tàu chiến tháp tùng giàn khoan để đe doạ, cũng như việc dùng các tàu hải giám gây tổn hại cho tàu cá và tàu tuần tra của Việt Nam.

« Đưa vụ HD-981 ra Liên Hiệp Quốc : Hiệu quả nhanh nhất » 

Theo đánh giá của tôi, đây là việc làm có hiệu quả nhanh nhất trong việc vận động dư luận và sự ủng hộ của các nước trên thế giới, trong đó có các cường quốc như Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Anh, Pháp và Đức.

Nhưng trong khi Việt Nam chưa thúc đẩy việc trên thì Trung Quốc vào ngày 9 tháng 6 đã gửi « bản tuyên cáo lập trường » của họ lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon về giàn khoan Hải Dương-981 và đòi ông gởi đến tất cả các nước thành viên.

Bản tuyên cáo này khẳng định rằng hoạt động khoan dầu của giàn khoan Hải Dương-981 « là một phần trong quy trình thăm dò và khai thác giếng dầu thường xuyên bên trong vùng chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc ». Trung Quốc còn vu cáo Việt Nam cản trở « trái phép » hoạt động của giàn khoan Hải Dương-981 bằng cách điều động tàu có vũ trang và cho tàu đâm vào tàu Trung Quốc cả hơn nghìn lần.

Tuy Trung Quốc có hành động ngang ngược và vu khống như trên, tôi nghĩ đây là dịp tốt để Việt Nam yêu cầu Hội đồng Bảo an và Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thảo luận một cách triệt để vấn đề Biển Đông, trong đó có việc Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa và Trường Sa, và việc đơn phương đưa ra đường lưỡi bò để lấn chiếm hơn 80% khu vực Biển Đông và đe doạ an ninh của khu vực và thế giới.

« Trung Quốc há miệng mắc quai nhưng Việt Nam phải vận động »

Tôi nghĩ rằng nếu Việt Nam thúc đẩy vấn đề này, Trung Quốc không thể ngăn chặn được vì Trung Quốc là người đã đưa vấn đề này ra trước Liên Hiệp Quốc và ông Ban Ki Moon đã công bố rằng ông sẵn sàng giúp hòa giải – tất nhiên là đưa vấn đề này ra trước Hội đồng Bảo an và Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.

Nhưng để làm được việc này, ông Ban Ki Moon phải có sự ủng hộ của một số nước lớn trên thế giới, cho nên Việt Nam phải vận động… và vận động ! Chứ không thể ngồi chờ.

Và tôi thấy rằng gần đây Mỹ cũng đã có thay đổi trong chính sách của họ. Ví dụ như gần đây, ông Daniel Russel, Trợ lỹ Ngoại trưởng Mỹ đặc trách châu Á Thái Bình Dương đã tuyên bố rằng theo ông và Bộ Ngoại giao Mỹ, Hoàng Sa đúng là khu vực có tranh chấp.

Trước đây, Mỹ nói là Mỹ không can thiệp vào chủ quyền Hoàng Sa, những bây giờ Mỹ thấy rằng việc Trung Quốc dùng Hoàng Sa để bào chữa cho việc cắm giàn khoan HD-981 và tiếp tục đưa giàn khoan vào thì đúng là có sự liên hệ giữa tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa với an ninh của khu vực và của thế giới.

Thì lúc này là dịp rất tốt cho Việt Nam để vận động thế giới, vận động Mỹ giải quyết cùng một lúc vấn đề đe dọa của Trung Quốc và vấn đề Hoàng Sa.

RFI xin thành thật cảm ơn giáo sư Ngô Vĩnh Long. 
  Trọng Thành
  (RFI)

Giá xăng Việt Nam bỏ xa Malaysia, Indonesia

http://baodatviet.vn/kinh-te/thi-truong/gia-xang-viet-nam-bo-xa-malaysia-indonesia-3043613/
(Thị trường) – Từ 20h tối 23/6, các đầu mối kinh doanh được phép tăng giá xăng thêm 330 đồng mỗi lít. Trừ điêzen, các mặt hàng khác đều đồng loạt tăng giá.
Theo thông cáo phát đi lúc hơn 21h của Bộ Tài chính, do biến động trên thị trường thế giới, giá cơ sở xăng dầu đang cao hơn mức bán lẻ của các doanh nghiệp từ vài chục tới gần 700 đồng.
Sau khi cho phép doanh nghiệp sử dụng quỹ bình ổn giá 300 đồng mỗi lít (hoặc kg) xăng dầu để bù đắp chi phí, Bộ đồng ý tăng giá xăng tối đa 338 đồng một lít. Mức tăng tối đa với dầu điêzen 0,05S là 26 đồng, dầu hỏa 174 đồng và dầu madút là 270 đồng mỗi lít.

Từ 20h, các doanh nghiệp đầu mối trong đó có Petrolimex đã niêm yết giá bán mới, trong đó xăng tăng 330 đồng, lên 25.230 đồng một lít RON 92 và 25.730 đồng một lít RON 95 (ở vùng một). Với các địa bàn xa trung tâm, cảng biển (vùng hai), xăng RON 92 và 95 lần lượt là 25.730 và 26.240 đồng một lít.
Trước đó, trong văn bản cho phép, liên Bộ Tài chính – Công Thương yêu cầu các doanh nghiệp điều chỉnh với điều kiện sau khi sử dụng Quỹ bình ổn, giá mới không cao hơn mức cơ sở. Cơ quan quản lý cho biết, giá cơ sở tính bình quân 30 ngày từ ngày 24/5 đến 22/6 của xăng RON 92 đã cao hơn giá bán 638 đồng một lít.
Cùng với việc điều chỉnh giá, Bộ Tài chính cũng yêu cầu các doanh nghiệp giảm mức sử dụng quỹ bình ổn giá xăng từ 440 đồng xuống 300 đồng mỗi lít và dầu madút từ 410 đồng còn 300 đồng.
Đây là lần tăng giá thứ 5 liên tiếp của nhiên liệu này từ ngày 11/11 năm ngoái (tổng cộng 1.600 đồng). Và là lần tăng giá thứ 4 đối với mặt hàng giá xăng từ đầu năm đến nay. Trước đó, ngày 22/4, giá xăng được điều chỉnh tăng 210 đồng một lít, do đó mặt hàng xăng RON 92 tối đa lên mức 24.900 đồng.
Với lần tăng giá lần này, so sánh với giá xăng của Malaysia, giá một gallon xăng là 2,42 USD, tương đương giá một lít: 0,64 USD tức 13.500 đồng/lít và giá xăng của Indonesia, giá một gallon xăng là 3,73 USD, tương đương giá một lít: 0,98 USD, tức là 20.900 đồng/lít, Việt Nam với mức giá là 25.730 đồng/lít đã cao hơn Malaysia, Indonesia lần lượt là 12.230 đồng/lít và 4.830 đồng/lít.
Đổi chiến thuật, tăng ít nhưng nhiều lần
Theo thống kê đây cũng là lần tăng giá mạnh nhất kể từ đầu năm tới nay. Ba đợt tăng trước lần lượt rơi vào các tháng 2, 3 và 4, với mức tăng cao nhất là 300 đồng và thấp nhất là 180 đồng mỗi lít.
Trong khi đó, trước đây, mỗi lần điều chỉnh tăng giá dù tăng một lần những lần giảm giá tiếp theo vẫn không bù được mức tăng đó thì sang năm 2014, giá xăng tăng nhiều lần mức giá thấp song vẫn chưa một lần điều chỉnh giảm dù có thời điểm quỹ bình ổn dư hàng trăm tỷ đồng.
Cụ thể, vào ngày 8/4, Bộ Tài chính đã công bố về tình hình trích lập, sử dụng và số dư Quỹ Bình ổn giá xăng dầu (BOG). Theo đó, số dư Quỹ BOG tại thời điểm 31/12/2013 khoảng 169,219 tỷ đồng. Số dư Quỹ BOG ước đến hết Quý I/2014 khoảng 842,016 tỷ đồng.
Trong hơn 840 tỷ đồng tính đến hết quý I/2014, Tập đoàn xăng dầu Việt Nam có số dư quỹ là 649,3 tỷ đồng; Tổng công ty xăng dầu Quân đội với số dư trên 154 tỷ đồng. Công ty TNHH MTV Dầu khí TPHCM và Công ty xuất nhập khẩu Thanh Lễ có số dư lần lượt là 100 và xấp xỉ 109 tỷ đồng.
Hà Anh

Chiến tranh tại Irak: Nguy cơ hình thành nhà nước Sunistan cực đoan


Vùng gạch chéo thuộc tầm ảnh hưởng của Tổ chức thánh chiến Nhà nước Hồi giáo tại Irak và Trung Đông.
Xuất hiện trên chiến trường Syria vào mùa xuân 2013, cách nay đúng một năm, tổ chức thánh chiến Hồi giáo mang tên Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông đã nhanh chóng phát triển. Cuộc tấn công của lực lượng võ trang thuộc hệ phái Sunni chống chính phủ Bagdad của phe Shia có khả năng làm nước Irak tan vỡ thành ba mảnh: Sunni, Shia và Kurdistan.

Trong vòng một tuần lễ, cuộc tấn công của phiến quân Sunni Irak dưới danh xưng Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông đã làm cho quốc gia Irak, sáng sinh từ đống tro tàn của đế chế Otttoman năm 1920, và độc lập năm 1930, chia thành ba khu vực.

Phía Tây Bắc do phe thánh chiến ước lượng từ 10 ngàn đến 15 ngàn quân kiểm soát. Phía đông, lực lượng võ trang của sắc tộc Kurdistan khẩn cấp bung ra bảo vệ vùng dầu hỏa Kirkouk, thủ phủ của khu tự trị sau khi quân đội chính phủ Irak bỏ chạy. Còn ở phía nam, chính phủ Maliki và đại bộ phận quân đội và an ninh Irak thuộc hệ phái Shia thiết lập hàng rào phòng thủ bảo vệ phần còn lại của lãnh thổ. Thanh niên Irak được giáo trưởng hệ phái Shiakêu gọi cầm súng chống phe Sunni.

Nhiều câu hỏi được đặt ra: trước hết Nhà nước Irak và Trung Đông do ai chỉ huy? Mục tiêu chiến lược của phe Sunni cực đoan này là gì? Tại sao quân đội Irak, ít nhất là các đơn vị trấn giữ phía bắc tan rã nhanh chóng và hệ quả địa lý chính trị trong tương lai?

Lời giải đáp là một chuỗi nguyên nhân và hậu quả trùng trùng của chính sách kỳ thị của phe Shia do thủ tướng Maliki đại diện, bất chấp mọi khuyến cáo đưa đến sự hình thành của Nhà nước hồi giáo Irak và Trung Đông.

Abu Bakr Al-Baghdadi, một Ben Laden mới nhưng độc hiểm hơn Al Qaida

Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông là tên mới của tổ chức Nhà nước Hồi giáo Irak do Abu Bakr Al-Baghdadi lãnh đạo, đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến tại Syria trước khi quay súng bắn sau lưng các lực lượng kháng chiến ôn hòa và Al Nostra của Al Qaida để tạo sức mạnh riêng.

Thoạt đầu, chiến binh của Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông được phe đối lập Syria ủng hộ nhiệt tình. Nhưng sau đó, hành vi bắt cóc thủ tiêu người không cùng phe đã làm tan rã liên minh chống nhà độc tài Bachar al Assad. Ngay Al Qaida tại Syria cũng là nạn nhân của Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông.

Trong khu vực tây bắc Irak, lãnh địa của hệ phái Hồi giáo Sunni, quân đội Irak tan chảy như nước đá gặp mặt trời. Lực lượng thánh chiến Sunni tiến như chẻ tre, chiếm kho vũ khí đạn dược, chiến xa, trực thăng võ trang. Sau khi chiếm thành phố lớn thứ hai của Irak, chiến binh Sunni kéo quân tiến về thủ đô Bagdad cách đó 100 cây số về phía nam. Qua đoạn băng thu sẵn, Abu Bakr Al-Baghdadi lãnh tụ của Nhà nước Irak và Trung Đông thúc giục tiến chiếm thủ đô.

Theo các chuyên gia, tổ chức thánh chiến cuồng tín này được sản sinh từ Al Qaida và chiến dịch quân sự Anh-Mỹ năm 2003, lật đổ nhà độc tài Irak Saddam Husein. Tuy nhiên, người cha tinh thần của tổ chức không phải là Ben Laden mà là Abu Mussab Al- Zarkaoui, một kẻ tội phạm người Jordanie. Sau một thời gian trốn sang Afghanistan, đến 2002 nhân vật này về ẩn náo tại miền bắc Irak.

Khi liên quân Anh-Mỹ tiến vào Irak, quân đội Saddam Hussein thua trận nhưng đây là cơ hội để Abu Mussab Al- Zarkaoui ra tay. Tuy chỉ là cán bộ thừa hành của Al Qaida, nhưng Abu Mussab Al- Zarkaoui đã nhanh chóng cầm đầu chiến tranh chống « quân ngoại xâm ». Hàng loạt vụ khủng bố tự sát bằng xe bom nhắm vào quân nhân Mỹ, nhà ngoại giao Liên Hiệp Quốc, phóng viên quốc tế, doanh nhân và chủ nhân mới của Irak, chính trị gia theo hệ phái Shia đa số nhưng bị Saddam Husein trấn áp suốt ba thập niên.

Một hành động của Zarkaoui để « tạo uy tín » và gây chấn động công luận quốc tế là vụ đích thân ông ta chặt đầu doanh nhân Mỹ Nicolas Berg năm 2004. Một đặc điểm khác của Zarkaoui, và khác với Al Qaida, là ông ta thảm sát hàng loạt người Hồi giáo Shia với những đợt khủng bố bằng xe bom. Hành động này rất được lòng một bộ phận công luận Ả Rập Xê Út, vốn xem hệ phái Shia là bọn « khùng điên ».

Tuy nhiên, đầu não của Al Qaida nhất là bác sĩ Ai Cập Ayman Al-Zawari, bất bình chiến lược cực đoan này vì lo sợ hệ quả chia rẽ hàng ngũ Hồi giáo. Al Qaida ra lệnh cho Abu Mussab Al- Zarkaoui phải ngưng khủng bố người Shia Irak nhưng Zarkaoui bất chấp.

Đến năm 2006, Abu Mussab Al- Zarkaoui bị Không lực Mỹ oanh kích chết tại Dyala, quê hương của Abu Bakr Al-Baghdadi. Những năm kế tiếp, lực lượng thánh chiến do hành động cực đoan cuồng tín lộ ra khi chiếm Fallouja năm 2004 bị dân cư địa phương tẩy chay. Trong khi đó thì quân đội Mỹ và các lực lượng sắc tộc theo hệ phái Sunni thân Mỹ, quân đội Irak mới thành lập lại, tấn công ráo riết làm cho phe thánh chiến gần như tan hàng chỉ còn vài trăm quân.

Al Qaida liền điều một « ủy viên chính trị » bí danh Abu Hamza Al Mujaher đến Irak phối hợp với một thân hào người Irak lãnh đạo tổ chức và đặt tên Nhà nước Hồi giáo Irak. Thế nhưng đến tháng 4 năm 2010, hai lãnh đạo này bị oanh kích chết. Abu Bakr Al-Baghdadi lên cầm cương tổ chức võ trang, tuy lực lượng suy yếu, nhưng gồm những tay súng quen với chiến trường.

Tiếp theo đó, Mỹ rút quân, chính quyền Maliki tóm thâu quyền lực về tay phe Shia, kỳ thị người Sunni, và nạn tham nhũng đã tạo ra mảnh đất mầu mỡ cho tổ chức Nhà nước Irak phát triển lực lượng. Khi phong trào đòi dân chủ tại Syria biến thành nội chiến thì Nhà nước Irak đưa chiến binh sang Syria, đổi tên thành Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông, công khai hóa mục tiêu chiến lược thành lập một quốc gia hồi giáo Sunni bao trùm phần lớn Irak và Syria.

Sức mạnh của Abu Bakr Al-Baghdadi là chỉ chém giết mà không bao giờ nói. Giới tình báo Tây phương chỉ có tấm ảnh bán thân duy nhất của lãnh đạo Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông. Trong khi Ben Laden quay phim dàn dựng kịch bản tuyên truyền thì Abu Bakr Al-Baghdadi im lặng tạo ra một thứ huyền thoại kích thích giới trẻ bất mãn xã hội.

Do vậy, khi Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông tham chiến tại Syria thì hàng hàng tình nguyện quân từ bốn phương, Châu Âu, Úc, vùng Vịnh, Kavkaz đổ về gia nhập phong trào thánh chiến xuyên quốc gia thay vì theo lực lượng kháng chiến Quân đội Syria Tự Do do Tây phương yễm trợ hay tổ chức Mặt trận Al Nostra, bàn tay nối dài của Al Qaida tại Syria.

Theo đài truyền hình song ngữ Pháp-Đức Arte, tổ chức khủng bố này có từ 7000 quân tại Syria và 6000 tại Irak. Trong số này, có chiến binh Hồi giáo người Đức, Anh, Pháp và các nước Châu Âu khác.

« Chiến thuật của Stalin: chống thù nhưng giết bạn »

Trên chiến trường, Abu Bakr Al-Baghdadi chứng tỏ là một nhà chiến lược lợi hại. Quân của ông ta tránh giao tranh với quân đội Syria nhưng thừa cơ hội đánh úp Al Nostra và giành quyền kiểm soát biên giới hầu tạo ra một hành lang an toàn nối với…Irak.

Bị ám ảnh bởi kinh nghiệm 10 năm trước tại Irak vừa bị quân Mỹ tấn công vừa bị các đơn vị võ trang Sunni chống Al Qaida, Abu Bakr Al-Baghdadi áp dụng chiến thuật « tiêu thổ », thanh toán tất cả những người cùng chiến đấu chống Damas nhưng thuộc các tổ chức khác kể cả Al Qaida. Một nhà ngoại giao Tây phương nhận định: phương pháp của phe này là phương pháp của lực lượng cộng sản theo xu hướng Stalin trong chiến tranh Tây Ban Nha, tức là thanh toán lực lượng của Đệ tứ quốc tế và phe vô chính phủ thay vì đánh kẻ thù chính là nhà độc tài Franco ».

Khủng bố Hồi giáo mạnh vì quân đội Irak suy yếu

Theo phóng viên Céline Hennion của nhật báo Le Monde, chính sự tan hàng rã ngũ của quân đội Irak đã giúp cho lực lượng thánh chiến Hồi giáo tiến quân như gió lốc. Nguyên nhân đầu tiên là do chính quyền của thủ tướng Irak Maliki.

Không rõ có phải để trả thù hệ phái Sunni thiểu số trấn áp hệ phái Shia đa số suốt 100 năm hay không, hay do tâm lý nghi kỵ, Thủ tướng Maliki,cầm quyền đến nhiệm kỳ thứ ba, đã loại trừ người Sunni ra khỏi các chức vụ quan trọng trong quân đội. Biện pháp thanh trừng này làm cho lực lượng võ trang quốc gia suy yếu thêm.

Sai lầm thứ hai là chính phủ Irak từ đầu năm nay không phát lương cho lực lượng Sahwa, theo hệ phái Sunni, nhưng chống khủng bố từng chứng minh hiệu năng tiêu diệt Al Qaida ở các thành phố phía bắc.

Nhưng đối với các đối thủ của Tổng thống Mỹ Barack Obama thì lỗi đầu tiên là do chính quyền đảng Dân chủ đã quyết định rút quân quá sớm trong khi quân đội Irak chưa đủ kinh nghiệm để đối đầu với một chiến trường rộng lớn.

Ngược lại, nhiều chuyên gia độc lập cho rằng căn nguyên nguồn cội là quyết định sai lầm của Tổng thống George W Bush. Khi lật đổ xong Saddam Husdein, toàn quyền Mỹ Paul Bremer đã xóa sổ quân đội Irak, giải thể các đại đơn vị, loại hết sĩ quan của đảng Baas. Sau đó, Hoa Kỳ chi ra hơn 25 tỷ đôla để thành lập quân đội mới. Không ít sĩ quan đảng Baas gia nhập Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông tạo vây cánh cho phe cực đoan.

Nguy cơ chia cắt lãnh thổ

10 năm khủng bố bạo lực đã làm hàng chục ngàn người chết và đào sâu hố phân cách giữa hai cộng đồng cùng tôn giáo nhưng khác hệ phái.

Ngày nay, tổ chức Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông trở thành đảng Sunni của Irak, và đã thành công « thánh chiến hóa » người dân trong vùng họ kiểm soát như Taliban đã làm ở vùng dân cư Pachtounes ở Afghanistan và Pakistan.

Nếu quân đội Irak không tái chiếm được miền bắc đã mất thì Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông sẽ thiết lập được một quốc gia mới mà giới phân tích gọi là Sunistan, chỉ gồm toàn dân cư thuộc hệ phái Sunni. « Quốc gia » này bao trùm phần lớn lãnh thổ của hai nước Irak và Syria.

Cách thức đối xử tàn bạo của Abu Bakr Al-Baghdadi ở Syria và ở những vùng mới chiếm đóng tại Irak như xử tử hàng ngàn binh sĩ Shia không cho phép lạc quan.

Một chuyên gia dầu khí có uy tín quốc tế, bà Ruba Husari phân tích: Hoa Kỳ đã phá bỏ các định chế chính trị quân sự của Irak, nhưng Thủ tướng Makiki mới là người đánh mất toàn vẹn lãnh thổ. Tương lai chính trị, kinh tế và dầu hỏa của Irak tùy thuộc vào khả năng của các thành phần chính trị người Sunni và Shia bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ trước khi con tàu bị đắm. Tuy nhiên, chuyên gia này tỏ ý hoài nghi khả năng này nhất là ở phía đông bắc, người Kurdistan Irak đã khai thác thời cơ tung dân quân võ trang kiểm soát toàn lãnh thổ tự trị mà từ lâu nay họ muốn độc lập.

Tuy nhiên, cũng có chuyên gia quốc tế không nghĩ là Irak sẽ bị tan vỡ. Arthur Quesney thuộc viện Nghiên cứu Cận Đông của Pháp cho là các nhà hoạt động Hồi giáo Sunni kể cả phiến quân thật ra là những người có tinh thần dân tộc. Họ sử dụng chiêu bài tôn giáo để đòi hỏi quyền lợi chính trị, kinh tế tương xứng chứ không có ý chia cắt lãnh thổ.

Mỹ làm được gì?

Hy vọng cuối cùng của chính quyền Irak là hỏa lực của Mỹ. Nhà ngoại giao Brett McGurk, được gửi sang Bagdad khẩn cấp để điều nghiên tình hình và tìm cách giúp Maliki lôi kéo một bộ phận sắc tộc thuộc hệ phái Sunni thân Mỹ trợ lực cho chính phủ.

Ba năm sau khi triệt thoái toàn bộ 180 ngàn quân về nước vì Irak từ chối ký hiệp ước hợp tác song phương (Afghanistan cũng chưa chịu ký với Mỹ thỏa thuận tương tự) liệu Hoa Kỳ sẽ phải trở lại Irak? Chuyên gia Mỹ Brian Katulis cho rằng thế nào Washington cũng có biện pháp nhưng với cá tính thận trọng của chủ nhân Nhà Trắng, khó dự đoán hành động từ phía Hoa Kỳ.

Tổng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, đại tướng Martin Dempsey xác nhận Irak đã chính thức kêu gọi Mỹ yểm trợ không lực. Tuy nhiên, trong cuộc điều trần tại Quốc hội Mỹ, tướng Martin Dempsey thẩm định chính chế độ Bagdad tự gieo gió gặt bão. Từ bao nhiêu năm nay, bất chấp khuyến cáo của Mỹ, chế độ Maliki đã khinh rẻ một bộ phận lớn dân chúng. Hệ phái Sunni bị loại ra khỏi các chức vụ quan trọng. Bagdad cũng không thực tâm hợp tác với lãnh đạo hệ phái Sunni và lãnh đạo Kurdistan. Nhiều sĩ quan bất mãn đã làm « tay trong » cho thánh chiến Hồi giáo. Cấp chỉ huy vắng mặt, binh sĩ cầm súng để làm gì?

Giúp Mỹ: Iran và Syria nhập cuộc cứu nguy Irak?

Theo chuyên gia Mỹ Brian Katulis, Hoa Kỳ chỉ có thể phản ứng “bên lề” bằng cách củng cố sức mạnh cho những nước có thể bị thánh chiến khuynh đảo như Jordanie và vùng Kurdistan tự trị. Một giải pháp chiến lược cấp vùng bao gồm cả Iran và Syria cần phải được tính tới.

Phải chăng đây là một trong những giải pháp mà Tổng thống Mỹ dự kiến khi ông tuyên bố « không loại trừ giải pháp nào » trừ đưa quân tác chiến trên bộ.

Những tuyên bố của Teheran, nơi hệ phái Shia nắm quyền như ở Irak, sẵn sàng giúp láng giềng chận làn sóng thánh chiến cực đoan vang lên như tiếng vọng từ Washington, kêu gọi Iran nỗ lực giúp Irak. Báo chí quốc tế trong đó có Le Monde xác nhận tướng Iran Qassem Suleimani, chỉ huy trưởng lực lượng đặc nhiệm Al-Qods của vệ binh Hồi giáo Iran đang có mặt tại Bagdad.

Từ Damas, tổng thống Bachar al-Assad, nhà độc tài mà Washington muốn lật đổ nhưng bị Nga chận lại vào phút chót, cũng lên tiếng đề nghị hợp tác chống tổ chức Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông.

Trong khi đó thì Israel, trong bài bình luận trên đài phát thanh quân đội, tỏ ý lo ngại động thái tiến gần lại nhau giữa Hoa Kỳ và Iran. Chưa biết mỗi bên sẽ khai thác tình hình Irak như thế nào để giành nhiều lợi thế nhất từ địa lý chiến lược, tài nguyên và sống còn chính trị?

Chỉ có Trung Quốc, rút kinh nghiệm mất cả chì lẫn chài ở Libya, tuyên bố sẽ bỏ hết đầu tư chạy về nước nếu Bagdad bị tấn công.
  Tú Anh
  (RFI) 

Truy tố “quý bà thành đạt” Trương Thị Tuyết Nga về tội lừa đảo

TTO - Viện KSND tối cao vừa tống đạt cáo trạng vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, truy tố bà Trương Thị Tuyết Nga (người đoạt giải Quý bà thành đạt năm 2009, nguyên Tổng giám đốc Công ty TNHH Bệnh viện đa khoa quốc tế Vũ Anh, nguyên Giám đốc Công ty TNHH đầu tư xây dựng Vũ Lan) về tội danh trên.
 
Bà Nga đang nghe cơ quan chức năng đọc quyết định khám xét nhà tại tòa nhà Ruby 2 (P.22, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) chiều 27-4 - Ảnh: CTV

Theo cáo trạng, từ tháng 10-2007 đến tháng 1-2008, bà Trương Thị Tuyết Nga (53 tuổi, trú Q.Bình Thạnh, TP.HCM) đã thuê người vẽ thiết kế dự án đầu tư xây dựng trên khu đất thuộc P.Bình Khánh, Q.2 để xin cấp phép xây dựng.

Tuy nhiên, đơn xin cấp phép của bà Nga không được đồng ý. Sở Tài nguyên - môi trường (TN-MT) TP.HCM đã có công văn trả lời với nội dung không chấp thuận cho bà Nga thực hiện dự án nhà ở cao cấp và trung tâm thương mại trên diện tích 35.000m2 tại P.Bình Khánh vì đó là khu dự án ga Thủ Thiêm.

Mặc dù vậy, bà Nga vẫn mang thiết kế này đi chào bán và đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 30.000m2 đất cho bà D.M.L, giám đốc một doanh nghiệp ở Q.3 với giá 1.800 USD/m2. Tổng giá trị cả lô đất là 54 triệu USD.

Theo hợp đồng, bà D.M.L đã chuyển 3,1 triệu USD cho bà Nga để đặt cọc trong thời gian chờ hoàn tất các giấy tờ, thủ tục và bàn giao. Tuy nhiên, trong thời gian trên, bà Nga đã mang một phần diện tích khu đất này bán cho ông T.V.M và thỏa thuận đặt cọc hơn 1,45 tỉ đồng.

Sau đó bà Nga tiếp tục làm hợp đồng ủy quyền toàn bộ lô đất này cho con trai là Vũ Hải Anh (đại diện Công ty TNHH đầu tư xây dựng Vũ Lan) toàn quyền chuyển đổi mục đích sử dụng, cho tặng, sang nhượng... để mang đến thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Tín, Chi nhánh Sài Gòn vay 131 tỉ đồng và lại mượn lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để làm thủ tục tặng quyền sử dụng đất cho con trai.

Cho đến nay, bà Nga vẫn chưa hoàn trả tiền cho hai nạn nhân D.M.L và T.V.M. Viện KSND tối cao xác định hành vi của bà Nga phạm vào tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên truy tố để xét xử theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra vụ án này, cơ quan điều tra, Viện KSND tối cao phát hiện thêm có hành vi “đưa hối lộ; làm môi giới hối lộ” nên đã khởi tố để điều tra làm rõ. Tuy nhiên, do thời hạn điều tra vụ án đã hết nên cơ quan điều tra tách vụ án “đưa hối lộ; làm môi giới hối lộ” để tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của các cá nhân liên quan.
M.QUANG
(Tuổi trẻ)

Bộ GTVT: Đường lún sụt như ruộng bậc thang vì ... đông xe

Đường lộ mới chỉ đưa vào khai thác một thời gian ngắn là lún sụt, hư hỏng như ruộng bậc thang, ông thứ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải CSVN đổ thừa cho “mật độ xe quá lớn”.


Người dân tố đường quốc lộ số 5 lún là do chất lượng thi công (đoạn Nguyễn Văn Vinh- Hải Phòng). (Hình: Dân Trí)

Hôm Chủ Nhật 22/6/2014, báo Đất Việt có một bài viết mô tả nhiều đường quốc lộ, đường cao tốc hoặc mới được đưa vào sử dụng, hoặc chỉ một thời gian ngắn là lún sụt, chỗ cao chỗ thấp như bậc thang, rất nguy hiểm cho xe cộ. Trước đó ba ngày, báo Dân Trí viết về quốc lộ số 5, từ Hà Nội đi Hải Phòng, mới được nâng cấp tốn hàng trăm tỉ đồng nhưng “hằn lún như ruộng bậc thang” suốt quãng đường dài hơn 20km.
Ngày Thứ Hai 23/6/2014, theo tin Đất Việt, ông thứ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải CSVN, Nguyễn Hồng Trường “cùng các bộ phận liên quan đã có buổi kiểm tra thực tế trên quốc lộ 5”. Kết quả ra sao?

"Chúng tôi đã nghiên cứu rất kỹ tại sao lại có hiện tượng như vậy thì có những nguyên nhân cơ bản như sau: Thứ nhất là trong quá trình khai thác các vị trí ngã tư đèn đỏ, tại đó xe phanh lại để dừng chờ đèn, tạo ra sự trùng phục rất lớn gây lún đường. Bên cạnh đó, mật độ xe quá lớn chứng tỏ nền nhựa chưa đáp ứng được lưu lượng xe hiện nay. Vì thế mỗi ngày đường bị bào mòn và lún thêm một ít theo hằn bánh xe. Hiện nay Bộ GTVT đang phân tích hiện tượng này trên lập luận khoa học hoàn toàn không phải do chất lượng thi công". Báo Đất Việt đăng tải lời ông Nguyễn Hồng Trường giải thích.

Câu hỏi đặt ra là khi lập dự án xây dựng đường xá, chuyên viên của Bộ GTVT đã có tính tới mật độ xe cộ lưu thông “mật độ quá lớn” và “xe phanh lại chờ đèn” mà gây ra tình trạng lún sụt như thế không, để nó đủ sức chịu đựng?

Theo tờ Dân Trí, vì quốc lộ 5 xuống cấp nghiêm trọng  “lâu nay được cho là do xe quá khổ, quá tải”. Nhưng tuyến đường này vừa được “nâng cấp” hồi đầu năm 2014 thì “mặt đường còn nhẵn bóng, nguyên màu nhựa mới mà đã xuất hiện nhiều vết lún sâu hoắm”. Từng có các lời tố cáo xe tải 12 tấn hầu hết đã cơi nới để chở lên tới 30 tấn, đường lộ xây dựng không chịu đựng nổi. Được biết, tài xế các xe tải đều “làm luật” ở các trạm thu phí hay trạm kiểm soát nên dù chở “quá tải” đến đâu cũng không thành vấn đề.

Đây không phải chuyện hiếm hoi mà xảy ra trên cả nước từ bắc chí nam, ở mọi con đường được nhà nước CSVN đầu tư xây dựng với tốn kém đắt gấp ba gấp bốn lần chi phí xây dựng đường xá ở Mỹ.
Theo tờ Đất Việt ngày 21/6/2014 đường cao tốc Cầu Giẽ-Ninh Bình dài hơn 100km “mới thông xe hơn một năm nay, nhưng đoạn đường này đã xuất hiện những điểm lún mang tính "tử thần" mà giới tài xế chạy xe tải chuyên nghiệp nói rằng tai nạn xảy ra rất thường trên con đường cao tốc “tử thần”.

Theo báo cáo của Kiểm Toán Nhà Nước, đoạn đường Cầu Giẽ-Ninh Bình được “đội vốn” xây dựng hai lần, từ 3,734 tỉ đồng lên thành 8,974 tỉ đồng khi hoàn tất. Vậy mà vẫn không có được một con đường tử tế. Cơ quan vừa kể báo cáo tình trạng “đội vốn” nhiều như thế chỉ vì “bớt xén đủ kiểu” của đám quan chức Bộ GTVT.

Đã vậy, đám quan chức “kiểm định chất lượng công trình” cũng được chia chác đầy đủ nên “lộ ra nhiều điều vi phạm”. Vật liệu không đúng tiêu chuẩn cũng cho qua. Chiều dày của các lớn kết cấu “không đạt yêu cầu thiết kế” cũng cho qua. Các bên liên quan tới xây dựng cao tốc Cầu Giẽ-Ninh Bình không hư hỏng sớm mới là điều lạ.

Theo VNExpress ngày 28/5/2014, tuyến quốc lộ Uông Bí – Hạ Long vừa được khánh thành ngày 18/5/2014 sau hơn 2 năm xây dựng, tốn kém 2,800 tỉ đồng đầu tư. Tuy nhiên, “Đoạn đường gần 9 km trên địa bàn thành phố Hạ Long từ khu Đồn Điền (phường Hà Khẩu) đến khu 2 (phường Đại Yên) xuất hiện nhiều rãnh lún dài theo vết xe. Hiện tượng lún, vỡ mặt nhựa thấy rõ nhất tại một số đoạn qua tổ 91 khu Đồn Điền. Có những vết nứt dài 3-5 m, lún sâu 4-5 cm so với mặt đường. Nhiều chỗ lớp nhựa mới trải bung ra lộ rõ nền đường cũ”.

Theo tờ Đất Việt “Được đánh giá là dự án chiến lược về quy hoạch phát triển giao thông đô thị của thành phố Sài Gòn, đại lộ Đông Tây được đầu tư xây dựng với tổng số vốn lên đến hơn 13,000 tỷ đồng. Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau khi đưa vào sử dụng để giảm tải cho liên tỉnh lộ 25B, mặt đường phía quận 2 từ giao lộ Đồng Văn Cống - đại lộ Đông Tây đến cầu vượt Cát Lái bắt đầu xuất hiện tình trạng sụt, lún, nhiều chỗ bị nứt. Tất cả các đoạn đường cứ chỗ lồi, chỗ lõm, nhìn đúng như ruộng bậc thang của đồng bào dân tộc Tây Bắc.”

Ngày 22/4/2014 nhà cầm quyền trung ương CSVN ban hành nghị định số 32/2014/NĐ-CP về “Quản lý, khai thác và bảo trì công trình đường cao tốc”. Tại điều 11 của nghị định này viết rằng “Công trình đường cao tốc chỉ được đưa vào khai thác sử dụng khi bảo đảm yêu cầu thiết kế, bảo đảm chất lượng và đạt tiêu chuẩn theo quy định và phương án tổ chức giao thông được phê duyệt”.

Theo Bộ Xây dựng CSVN, vốn đầu tư (mức chi phí cần thiết để đầu tư xây dựng công trình mới, tính cho một đơn vị diện tích) làm đường cao tốc bốn làn xe ở Việt Nam “bình quân khoảng 11.8 triệu USD/km (tương đương 240 tỉ đồng). Trong đó, khu vực đồng bằng Nam Bộ là trên 17 triệu USD/km (tương đương khoảng 360 tỉ đồng), thấp nhất là khu vực miền núi phía Bắc (khoảng 7 triệu USD/km, tương đương 150 tỉ đồng).”

Trong khi đó, làm xa lộ ở Mỹ chỉ tốn 4.5 triệu USD/km, còn ở Trung quốc tốn khoảng 5 triệu USD/km.

Dù vậy, không có cuộc điều tra nào quy trách nhiệm cho bất cứ quan chức nào về phẩm chất của các đường lộ “ruộng bậc thang” và tìm hiểu xem cái “đội vốn” khủng khiếp đó chui vào chỗ nào, túi ai.
  (Người Việt)