(UPI) - Nhà thương lượng hàng đầu của Bắc Việt đã gợi ý Hoa Kỳ ám sát
Tổng thống miền Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu như là điều kiện cho hòa
bình. Tạp chí Newsweek số ra ngày hôm nay trích dẫn lời của vị tướng Mỹ
đã về hưu nói trong cuốn sách sắp ra mắt.
Tạp chí này nói Trung tướng Vernon Walters (1), người tham dự các cuộc
hòa đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ vào đầu thập niên những năm 1970,
bàn đến vụ này trong hồi ký sắp ra mắt, "Những sứ mạng thầm lặng"
(Silent Missions).
"Các ông biết nên làm cái gì... phải trừ khử hắn."
Và Lê Đức Thọ đáp: "Đúng, nhưng các ông không viết ra trong hiệp ước".
(1) Tướng Vernon Walters tùy viên quân sự cấp cao ở tòa đại sứ Mỹ tại
Paris. Ông là người liên lạc và sắp xếp các cuộc mật đàm "đi dêm" giữa
Kissinger và Lê Đức Thọ.
Sau khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, cho đến ngày hôm nay ông vẫn còn giữ
lá cờ VNCH trong phòng làm việc của mình. Khi được hỏi tại sao ông vẫn
giữ lá cờ ấy, ông giải thích lá cờ này tượng trưng cho "công việc còn
dang dở. Chúng ta đã để 39 triệu người rơi vào cảnh nô lệ."
(Theo Larry Berman trong tác phẩm "No peace, No Honor", nhà xuất bản Free Press, trang 273.)
Vấn đề “giật mình” mà báo TN đặt ra cũng chỉ chúng ta giật mình với nhau
thôi, các quan không giật mình đâu. Vì sao à? Thì đây, hãy nghe một
facebooker trên Blog Phương Bích (tại đây):
Sinh viên đi biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn trên biển Đông, cắt
cáp tàu thăm dò dầu khí thì bị đe dọa đuổi học, ra lệnh cho hiệu trưởng
gây sức ép với sinh viên;
Đi đá bóng mà hô “Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam” thì ép chủ sân không cho thuê sân đá;
Tuyên truyền cho lính hải quân rằng “Hoàng Sa đã được giao cho bạn quản
lý hộ, bà con ngư dân cứ ra đó đánh bắt thì bị họ bắt là đúng rồi, còn
kêu ca gì”…
Tất cả lời than phiền trên chứng tỏ các quan không giật mình, nếu có
giật mình thì giật mình vì sao báo lề đảng dám đặt vấn đề giật mình ra
cho dân chúng biết – Chết chết chết, khéo không chóp bu Trung Nam Hải
biết, người ta lại giận thì bỏ mẹ!
Tối nay ăn tết với báo Thanh Niên, một người nói mình phải đoàn kết với
Philippines, kiện thằng TQ cho nó trắng mắt ra, đừng để nó bẻ đũa từng
chiếc. Mấy người cười to, nói ông này sao lạc hậu thế, đũa Việt Nam đã
gãy từ tám hoánh rồi ông ơi!
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là cháu ngoại Cụ Nguyễn Sinh Sắc (!?)

Nói thiệt tình, về cá nhân, tôi không ghét mà cũng không thương gì ông
Nguyễn Tấn Dũng (NTD) nhưng bởi vì ông ta mới lên làm thủ tướng, lại
được một số nhà báo, chính trị gia ở Mỹ có tiếng khen ông ta nên nhân
dịp nầy tôi lại muốn viết đôi điều về xứ sở của ông, nơi ông ta sinh ra,
lớn lên rồi làm… Việt Cộng. Chuyện tôi viết, nói cho cùng, cũng là
chuyện tầm phào Miền Tây Nam Bộ, chuyện “Hương Rừng Cà Mau” thời chiến
tranh. Nhiều người biết “Hương Rừng Cà Mau” hay “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang”
của Sơn Nam, là chuyện miền Tây Nam Bộ hồi xưa, khi người Việt mới tới
vùng nầy lập xóm lập làng, cho tới “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư” là chuyện
thời Tây thuộc. Chuyện tôi viết hôm nay là chuyện thời chiến tranh,
chuyện xảy ra từ thời Nam Bộ Kháng Chiến, chuyện đánh Tây giành độc lập
hồi 9 năm (1945-54), hay là chuyện “Chống Mỹ Cứu Nước” mà thực ra chỉ là
chuyện “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược”, nồi da xáo thịt giữa người Việt
hai miền Nam-Bắc mà thôi.
Trong bài trước, nói tới nhân vật chính - Chị Sứ trong “truyện phong
thần Hòn Đất” của “nhà văn cộng sản Anh Đức”, tôi có nói qua về lý lịch
thuở nhỏ của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nay xin nói lại đôi điều, sau khi
“tham khảo” với vài người bạn thân từng sinh trưởng hay phục vụ cho
chính quyền Quốc Gia ở Rạch Giá, Kiên Giang trước 1975.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau khi “tổng thống Lê Lai cứu chúa” Dương
Văn Minh tuyên bố đầu hàng Việt Cộng, ở Hà Tiên, lực lượng Cộng Sản cũng
chưa dám xuất đầu lộ diện ra tiếp thu chính quyền Quốc Gia. Từ trong
rừng tràm mật khu Trà Tiên, họ chỉ tiến ra mấy chỗ vắng vẻ, trên Liên
Tỉnh Lộ 8A Rạch Giá - Hà Tiên. (Liên Tỉnh Lộ 8A (LTL 8A) bắt đầu từ “Ngã
Ba Lộ Tẻ” trên LTL 9 và LTL 27, đường Cần Thơ - Châu Đốc, tới mãi tận
Hà Tiên). Họ đóng quân chờ trên trục lộ, không chặn xe đò bắt lính đem
bắn tại chỗ như trước kia, không nổ một tiếng súng. Mãi tới sáng hôm
sau, ngày 1 tháng năm, trung tá Thảo quận trưởng Hà Tiên thì rút vào
rừng, thế chỗ Việt Cộng ẩn núp trước kia, còn thiếu tá Sầm Long, Quận
trưởng Kiên Lương, nhờ “thân hào nhân sĩ” vào núi Hòn Chông “mời” Việt
Cộng ra bàn giao chính quyền theo lệnh tổng thống Dương Văn Minh, họ mới
ra tới quân lỵ Kiên Lương. Chỗ nầy, Việt Cộng gọi là “Thị Trấn Kiên
Lương” là một thị trấn quan trọng vì là nơi tọa lạc của “Nhà Máy Xi Măng
Kiên Lương”, có hai lò đốt đá vôi thành clinker trước khi xà lan chở về
Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên Thủ Đức, trên xa lộ Saigon Biên Hòa, xay thành
bột và vô bao.
Bấy giờ ông Nguyễn Tấn Dũng mới ở trong rừng mò ra với các đồng chí,
đồng đội của ông ta. Chức vụ NTD lúc đó là “Truởng Ban Quân Y” Huyện Đội
Hà Tiên, cấp bậc “Thiếu tướng một sao một gạch đít”. Đó là nói đùa theo
cách của mấy ông bộ đội chớ “Một sao một gạch đít” thì chỉ mới thiếu úy
mà thôi. Khi ở trong rừng mới ra, ông ta chỉ mặc một bộ đồ xanh bộ đội,
mũ tai bèo (Mũ tai bèo là “Bộ đội địa phương” hoặc du kích, “Cộng Sản
Bắc Việt Xâm Lược” mới đội nón cối). Nói như thế là theo nhận xét của
dân chúng địa phương. Hễ khi nào vô rừng đốn tràm mà thấy Việt Cộng đội
mũ tai bèo thì biết đó là “Xã Đội”, “Huyện Đội”, cao hơn là “Tỉnh Đội”;
còn thấy “Đội nón cối” thì về báo cáo với chính quyền Quốc Gia rằng Việt
Cộng ngoài Bắc mới vô, từ Cămpuchia mới qua - Việc nầy sẽ kể sau, để
quí độc giả biết thêm.
Ngoài bộ đồ xanh và mũ tai bèo, NTD không mang “loon lá” gì cả. Ít lâu
sau, “thống nhứt” lực lượng võ trang, Việt Cộng trong Nam mới đội nón
cối và mang “loon lá” giống như bộ đội miền Bắc xâm nhập. Bấy giờ NTD
mang “quân hàm” là “Một sao một gạch đít”, tức thiếu úy như nói ở trên.
Mấy người bạn tôi nhận xét rằng ở “Ban Quân Y Huyện Đội Hà Tiên”, ông
NTD lúc đó cũng chưa hẵn là “nhân vật quan trọng”. Huyện Đội Hà Tiên từ
trong rừng ra tiếp thu hai địa điểm: Thị xã Hà Tiên và thị trấn Kiên
Lương. Huyện Ủy Hà Tiên từ trong rừng ra đóng ở Hà Tiên. Ở thị trấn Kiên
Lương chỉ có Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu, dân chúng thường gọi là Hai Tiếu,
gốc gác ở ấp Ngã Ba, xã An Bình, quận Kiên Lương, vì trốn đi lính Quốc
Gia nên thoát ly theo Việt Cộng hồi trước tết Mậu Thân, nay là bí thư xã
An Bình, ra tiếp thu xã. Nguyễn Văn Ngộ, tự Hai Ngộ, xã đội trưởng Ba
Hòn thì ra tiếp thu xã Dương Hòa (Ba Hòn). Hai Ngộ trước kia là trung
đội trưởng nghĩa quân, thoát ly theo Việt Cộng vì chống lại ông quận
trưởng Kiên Lương hồi đó, thiếu tá N. bắt trung đội trưởng “đóng hụi
chết”. Hai Ngộ bị thương ở chân trái. Nhìn dấu chân y in trên ruộng có
thể biết tối hôm qua y có về hoạt động nơi đó. Vì bên phía Chính Quyền
Quốc Gia có thành lập quận Kiên Lương (Hà Tiên và Kiên Lương là hai quận
riêng biệt, trong khi Việt Cộng chỉ có chung một huyện Hà Tiên mà thôi)
nên lực lượng chính thì ra tiếp thu thị xã Hà Tiên còn lực lượng phụ
thì ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương vì ở đây cũng có quận đường, Bộ Chỉ
Huy Cảnh Sát, các chi, trong đó có Chi Y Tế và bệnh xá Dân Quân Y Kiên
Lương. NTD ở trong lực lượng phụ, có nghĩa là anh trưởng ban Quân Y ra
tiếp thu Hà Tiên to chức to quyền hơn anh ra tiếp thu thị trấn Kiên
Lương. Có lẽ vậy.
Như vậy, gốc gác ông NTD là bên ngành Y, học Y ở Cục Rờ (R) hay có ra Hà
Nội? Ai mà biết. Chưa được một năm, NTD thuyên chuyển về tỉnh ủy Cà
Mau, chuyển qua ngành Công An và đời NTD lên hương từ đó.
Khi tôi làm việc ở Kiên Giang, trước 1975, dư luận ở thị xã Rạch Giá và
xã Mỹ Lâm, nơi lớn lên và học hành của Nguyễn Tấn Dũng, nói rằng Nguyễn
Tấn Dũng là cháu ngoại cụ Nguyễn Sinh Huy, có nghĩa mẹ Nguyễn Tấn Dũng
là chị hay em gì đó của Vương Chí Việt, tức Thích Chân Quang. Chồng của
người đàn bà nầy là Mười Minh, bố ruột của “Ba Dũng” tức Nguyễn Tấn
Dũng. Mười Minh là “đồng chí thân cận” của Võ Văn Kiệt, bị Tây bắn trong
một trận càn trước hiệp định Genève 1954. Khi hấp hối, Mười Minh có gởi
gắm con trai mình, tức Nguyễn Tấn Dũng cho Võ Văn Kiệt. Đó là hai lý do
- lời hứa của Kiệt và là cháu ngoại ông Nguyễn Sinh Sắc (Huy)(2)
Nguyễn Tấn Dũng quê ở xã Mỹ Lâm. Xã Mỹ Lâm nằm kế cận phía tây thị xã
Rạch Giá, trên LTL 8A Rạch Giá - Hà Tiên, thuộc quận Kiên Thành. Quận lỵ
Kiên Thành đóng ở Rạch Sỏi, cũng trên LTL 8A nhưng ở phía bắc thị xã.
Từ Rạch Sỏi muốn đi Mỹ Lâm, theo trục lộ thì phải đi qua thị xã. Có thể
tuởng tượng như Rạch Sỏi ở góc vuông mà cạnh kia là thị xã Rạch Giá vậy.
Cũng xin nói thêm một chút về ông Tư La và ca sĩ nổi danh La Thạch
Tuyền ở Saigon một chút. Mấy năm nay ở Saigon thiên hạ bỗng bàn tán xôn
xao về ca sĩ La Thạch Tuyền, không phải vì hát hay mà vì cái tên La
Thạch Tuyền khá hay. Anh ca sĩ nầy chẳng có bà con gì với La Thoại Tân
cả. Anh ta quê ở Rạch Sỏi. Nói theo danh từ Hán-Việt thì Rạch là con
suối, là Tuyền (Như nữ danh ca Thanh Tuyền vậy); Sỏi là một loại Đá, tức
là Thạch. Còn La là bởi anh ta con ông Tư La. Ông nầy có cái tật xấu,
“rượu vào lời ra” nên khi uống ruộng xong, ông ta hay la lối om sòm. Vì
cái tật say rượu hay la nên chòm xóm gọi là ông Tư La (Ông thứ Tư). Nói
chung lại, ca sĩ La Thạch Tuyền là con ông Tư La ở Rạch Sỏi. Nếu giới
thiệu anh ta là con ông Tư La ở Rạch Sỏi, chắc người ta cười bể bụng.
Nhưng nếu giới thiệu đây là ca sĩ La Thạch Tuyền, thính giả sẽ vổ tay
hoan hô. Ai nói tiếng Việt không hay?! Từ con ông Tư La ở Rạch Sỏi mà
biến thành La Thạch Tuyền là hay lắm! Cũng ý đó nên ông tổng thống Ngô
Đình Diệm bảo rằng một nước có bốn ngàn năm văn hiến như nước ta không
thể có những cái tên nôm na như Rạch Giá mà phải đổi lại là Kiên Giang;
không thể Giồng Riềng mà phải là Kiên Bình; không thể là Bù-Đốp mà phải
là Bố Đức!!!
Trở lại chuyên quê hương ông Nguyễn Tấn Dũng thì cái tên Mỹ Lâm cũng là
văn vẻ lắm, giàu có và xã nầy cũng nổi tiếng vì có nhiều… Việt Cộng.
Ông Nguyễn Tấn Dũng sinh đẻ ở xã, năm 1952, cắp sách đi học ở trường Sơ
Cấp xã thời ông Ngô Đình Diệm làm tổng thống. Mặc dù dưới thời ông Ngô
Đình Diệm, nền giáo dục đã phát triển, nhưng ở cấp xã cũng chỉ mở tới
trường Sơ Cấp mà thôi. Trường Sơ Cấp chỉ có ba năm đầu của bậc tiểu học,
tức chỉ có lớp Một, lớp Hai, lớp Ba. (Trước kia thì gọi là lớp Năm, lớp
Tư, lớp Ba). Kể ngược kể xuôi bằng cách nào thì cũng chỉ tới lớp Ba là
hết. Vậy thì ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ mới học có lớp Ba?
Không!
Một trong mấy người bạn của tôi ở Kiên Lương, từng làm việc với ông NTD
khi ông ra tiếp thu bệnh xá Dân Quân Y Kiên Lương nói với tôi rằng ông
NTD đã học hết bậc tiểu học Việt Nam Cộng Hòa. Người bạn tôi nhấn mạnh
chữ Việt Nam Cộng Hòa vì việc học của Việt Nam Cộng Hòa và của Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) khác nhau xa lắm. Khác như thế nào thì không
thể nói ở đây, không có thì giờ! Xin để có dịp tôi sẽ nói lại.
Xã Mỹ Lâm ở sát cạnh thị xã Rạch Giá, nhà nào khá giả, muốn cho con cái
học tiếp thì cứ ghi tên học lên lớp Nhì, lớp Nhứt ở trường tiểu học thị
xã. Thị xã Rạch Giá có rất nhiều trường, nhất là ở bậc tiểu học, trường
công, trường tư và có cả trường Tàu. Ông Nguyễn Tấn Dũng được gia đình
cho ra học hết bậc tiểu học ở Rạch Giá. Nếu vậy thì nhà ông Nguyễn Tấn
Dũng không có nghèo đâu, không phải bần nông, cố nông là “thành phần cơ
bản” của chế độ quí độc giả ạ!
Sau khi có bằng tiểu học, cũng hơn 10 tuổi vì ở nhà quê trẻ con thường đi học chậm, NTD thoát ly vào mật khu theo Việt Cộng.
Tại sao ông ta theo Việt Cộng. Điều nầy rắc rối lắm, xin phân giải từ từ.
2. Từ Xã Mỹ Lâm đến Dinh Điền Cái Sắn
Sau khi có bằng tiểu học, cũng hơn 10 tuổi vì ở nhà quê trẻ con thường đi học chậm, NTD thoát ly vào mật khu theo Việt Cộng.
Tại sao ông ta theo Việt Cộng. Điều nầy rắc rối lắm, xin phân giải từ từ.
Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-54), lần thứ hai
(1960-75) và lần thứ ba (1979-89), bao giờ xứ chùa Tháp cũng đóng một
vai trò quan trọng. Chiến trường thì xảy ra bên phía Việt Nam, còn hậu
cần thì nằm ở Kampuchia. Không tấn công vào hậu cần, chiến tranh khó
chấm dứt. Đó cũng là một trong những lý do khiến Việt Nam Đệ Nhất Cộng
Hòa âm mưu đảo chánh Sihanouk hay quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa tấn công
qua Miên hồi tháng 3 năm 1970.
Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, người và vũ khí từ Kampuchia
chuyển qua tiếp tế cho quân Cộng Sản ở miền Tây Nam Bộ. Con đường tiếp
vận của Việt Minh (danh xưng hồi đó) từ Miên xuyên qua mật khu Trà Tiên,
vượt qua đoạn đường phía bắc thị xã Rạch Giá và thẳng về U-Minh.
Vì vùng nầy đất thấp, tới mùa nước, nước tràn lên khắp mọi chỗ, ngoại
trừ vùng Thất Sơn (Việt Cộng gọi là Bảy Núi). Ai đọc “Mùa Len Trâu” của
Sơn Nam trong quyển “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang” thì biết hiện tượng nầy.
Người ta chỉ có thể dùng thuyền, ghe di chuyển. Tới khi nước rút, di
chuyển theo kinh rạch là tiện lợi nhứt. Vì vậy, hồi đó, Việt Minh cho
đào một con kinh nhỏ dọc theo ranh giới hai tỉnh Long Xuyên-Rạch Giá.
Kinh nầy được đặt tên là kinh Kháng Chiến vì nó được đào trong thời gian
kháng chiến chống Pháp. Sau nầy, trong chiến tranh Đông Dương lần thứ
hai, con đường di chuyển nầy của Việt Cộng được gọi là đường giây 1C.
Đường giây 1C từ Miên, qua mật khu Trà Tiên, vượt qua LTL 8A ở cây số 15
bắc thị xã Rạch Giá, thuộc xã Mông Thọ, (Cách thị xã Rạch Giá 15Km) và
đi thẳng về Chương Thiện-U Minh.
Tại sao vượt qua ở Cây Số 15 mà không qua chỗ Dinh Điền Cái Sắn như
trong cuộc chiến tranh trước. Dễ hiểu thôi. Dân Dinh Điền Cái Sắn là dân
Bắc di cư 1954. Việt Cộng đút đầu vào đó là coi như đút đầu vào rọ.
Hồi chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, vì vùng Dinh Điền Cái Sắn chưa
có nên việc vượt qua LTL 8A rất dễ dàng. Đại tướng Trần Thiện Khiêm khi
đó còn mang “loon” trung úy, chỉ huy một đơn vị Quân Đội Quốc Gia đóng ở
Mông Thọ, có thể đêm đêm nghe tiếng bộ đội Việt Minh vượt qua LTL 8A ở
đoạn Cái Sắn mà không dám động tỉnh (1). Đoạn nầy, có cụ già Nam Bộ kể
cho tôi nghe: “Tụi nó di chuyển qua lại như đi chợ.”
Vùng Cái Sắn ngày xưa là vùng ruộng của mấy ông chủ điền, ruộng cò bay
thẳng cánh hay còn gọi là “Đồng Chó Ngáp”, cũng là chỗ nầy. Kể từ kinh
Núi Sập tới kinh Cái Sắn (Còn gọi là Thạnh Đông) dài 12Km. Từ kinh Thạnh
Đông tới kinh Thạnh Tây cũng dài 12Km. Có con chó nào chạy một mạch từ
kinh Núi Sập tới kinh Thạnh Tây dài 24Km mà không ngáp mới thật là chó
hay?!
Vùng nầy đất thấp, chỉ làm lúa sạ. Mỗi năm, mùa hè, sau khi gặt xong,
đồng bỏ hoang. Khi chuẩn bị làm ruộng mùa tới thì người ta đốt đồng. Dân
địa phương cũng gọi là “Mùa Đốt Đồng”. Cứ sau trưa một chút, chờ có gió
mạnh, người ta giăng một cái lưới phía dưới gió, rồi đi ngược lên phía
trên gió, cầm một cây đuốc mà đốt những gốc rạ, bụi cây khô. Buổi chiều,
gió thổi mạnh, lửa cháy rần rần. Vậy là thỏ, rùa, rắn, chồn, cáo, cần
đước, ba ba, tranh nhau chạy trốn. Chúng chạy về hướng cuối gió, chui
vào lưới mà nằm, chờ người ta tới nắm cổ lôi đi bán hay làm thịt nhậu
chơi. Vùng nầy dân ưa nhậu thịt rắn. Nếu độc giả tới thăm họ, gặp người
quí khách, họ sẽ mời quí độc giả nhậu thịt rắn. Con rắn - thường là loại
rắn độc mới bổ -, được làm thịt, móc ruột, luộc chín, chặt khúc, sắp
từng khúc quanh cái dĩa bàn to, tưởng như con rắn đang nằm ngủ. Ai có
gan thì cầm đũa gắp ra ăn. Tôi thì chịu vì tôi là chúa sợ rắn. Ngoài
thịt rắn, còn có một nồi cháo rắn, “ăn dằn bụng” trước khi tan hàng.
Phải được người dân quí lắm, họ mới mời mình nhậu thịt rắn. Khoảng thập
niên cuối 60 đầu 70, một con gà giá chỉ vài trăm bạc, còn một con rắn
giá 2 ngàn. Mời nhậu thịt gà, có phải rẻ hơn không!
Đốt đồng xong, người ta bắt đầu cày. Lần đầu thì gọi là cày lật, nghĩa
là cày sao cho đất lật úp, cỏ xuống dưới, đất lên trên. Cỏ sẽ bị thúi mà
chết, thành ra phân hữu cơ. Lần sau thì cày cho đất nhỏ ra, chờ nước
lên - khoảng tháng 8 tháng 9 âm lịch – đem lúa ra sạ. Lúa lên, nước lên.
Gần tết, nước rút xuống, lúa cũng bắt đầu chín. Khi nước rút hết thì
người ta lo gặt. Lúa gặt xong đem sắp vòng tròn cho xe máy cày chạy
quanh cán lên cho hột rời ra. Lúa chất thành đống cao như ngọn đồi, dân
địa phương gọi là “cà tang” lúa. Có lẽ “cà tang” là tiếng Miên. Hôm qua
đi ngang, thấy đồng trống không, nay thấy có ngọn đồi hiện ra xa xa. Đó
là “cà-tang” lúa. Bên phía Dinh Điền Cái Sắn thì Việt Cộng không dám,
còn bên phía Cờ Đỏ, thuộc Long Xuyên, bọn kinh tài đêm khuya thường mò
ra thu thuế nông nghiệp. Bọn nó thâu thuế “ác lắm”, nghĩa là thuế cao
lắm nên dân chúng ghét. Nhờ đó mà phe Quốc Gia biết chúng xuất hiện ở
đâu để “phục kích lấy tiền nhậu chơi”. Hễ tới mùa lúa thì bọn nó thu
thuế nông nghiệp, mùa cày thì chúng nó thu thuế máy cày, cũng “ác” như
thu thuế nông nghiệp. Tới mùa chúng nó đi thu thuế, “phe ta” đi săn giặc
nên tôi gọi giặc ở đây là “Giặc Mùa.” Chuyện nầy cũng sẽ nói thêm về
sau. Hồi xưa, người ta cày bằng trâu, chủ điền nuôi hàng trăm con trâu
mới đủ cày. Như ông chủ Ry, bố vợ ông Trần Thiện Khiêm nuôi những hai
trăm con trâu. Đó cũng là đề tài truyện “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam nay
đã được quay thành phim. Thời Ngô Đình Diệm phải nhập trâu Murat bên Ấn
Độ về cho dân cày. Sau nầy thì cày bằng máy. Máy cày John Deer, Somecar,
v.v… rất được dân chúng ưa chuộng.
Tôi không rành cách tính diện tích ruộng ở đây. Người ta tính theo công:
Công tầm cắt và công tầm điền khác nhau. Năm nào trúng, mỗi công được
khoảng trên dưới 35 giạ là cao. Có năm trên 40 chục giạ là trúng lắm.
Việt Minh nổi lên bắt giết, bỏ tù (Rồi cũng chết trong tù luôn) các ông
chủ điền. Hầu hết chủ điền chạy trốn lên Rạch Giá, Cần Thơ hay Saigon.
Việt Minh gọi là “theo Tây”. Không theo Tây cũng không được, bị Việt
Minh giết sao?! Ruộng của họ sau nầy, thời Đệ Nhứt Cộng Hòa bị truất hữu
để lập Dinh Điền Cái Sắn. Sau nầy, tôi cũng có gặp vài người là con
cháu của mấy ông chủ điền ngày trước. Nói chung, họ đã sa cơ và nghèo
túng, tuy vẫn còn mang cái tên Tây như Bôn, gốc là Paul; Răng, gốc là
Jean. Bố vợ ông Trần Thiện Khiêm, dân chúng gọi là ông chủ Ri, vì tên
Tây là Henry, con trai lớn ông nầy, tên là Hai Re vì tên Tây là Robert
và chị Tư Nết, chính hiệu con nai vàng là Annette, đích thị là bà Trần
Thiệm Khiêm. Chuyện gia đình nầy sẽ kể thêm ở phần sau, cũng là chuyện
vui mà thôi! Cũng có người tên họ cũng hay, nửa Nôm nửa Hán như anh bạn
Trần Thông Đến của tôi, con một ông chủ điền lớn ở Cái Sắn trước 1945.
Anh nầy thường hay trốn làm việc để “đi mây về gió” nên ai hỏi tới thì
tôi nói đùa là Trần Không Đến.
Khi chiến tranh Đông Dương lần thứ hai nổ ra thì Dinh Điền Cái Sắn đã
thành lập xong, kéo dài từ ngã Ba Lộ Tẻ Long Xuyên tới Kinh Tư gần xã
Mông Thọ. Việt Cộng không thể vượt qua LTL 8A dễ dàng. Cây số 15 là điểm
duy nhất, Việt Cộng cố sống cố chết để vượt qua LTL ở đây.
Cách Cây Số 15 cỡ 10 Km, về phía tây là ấp Tà Keo. Gọi là ấp nhưng thật
ra đó là một vùng rừng tràm nước mênh mông. Ấp Tà Keo là cứ điểm quan
trọng để Việt Cộng xuất phát vượt qua LTL 8A ở cây số 15. Khi quân Cộng
Sản từ Miên vượt qua mật khu Trà Tiên, di chuyển dọc theo kinh Kháng
Chiến, đi về phía đông để về U-Minh, tới ấp Tà Keo thì chúng phải dừng
quân, chờ trời tối, tình hình thuận tiện mới vượt qua LTL 8A ở cây số
15. Hạ tầng cơ sở Việt Cộng ở Tà Keo giữ nhiệm vụ giao liên, an ninh để
bộ đội vượt lộ. Bên cạnh LTL là kinh Cái Sắn. Họ phải vượt qua kinh rồi
mới vượt qua lộ, cố tránh khỏi bị quốc gia phục kích. Thường phe Quốc
Gia phục kích bên bờ kinh hay bên lộ, chờ Việt Cộng vượt qua là nổ súng.
Tình hình chỗ nầy rất căng. Phía Quốc Gia hoạt động rất ráo riết để cố
ngăn chận không cho Việt Cộng đi qua. Phía Việt Cộng thì cố sống cố chết
vượt qua cho được.
Cuối năm 1974, đầu 1975, khi tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lệnh Quân Đoàn
4, Quân Khu 4, ông rất chú trọng nơi nầy, ra lệnh cho các lực lượng địa
phương như Quận, Tỉnh và cả Khu phải hết sức ngăn chận Việt Cộng qua
lộ. Trước khi có lệnh tướng Nam, tôi từng dẫn vài chục lính phục kích
Việt Cộng ở đây nhưng lại đụng nhằm cỡ một trung đoàn quân Việt Cộng qua
lộ, đành phải ôm súng nằm im mà run. Bọn chúng đông như thế, nổ súng,
bọn chúng tới đạp lên đầu mình cũng đủ chết, nói chi tới chuyện đánh
nhau. Chuyện nầy hồi sau xin kể tiếp.
Trở lại chuyện ấp Tà Keo. Ấp Tà Keo thuộc xã Mỹ Lâm. Việt Cộng cố sống
cố chết giữ Tà Keo. Muốn giữ Tà Keo phải mở rộng hoạt động toàn xã Mỹ
Lâm. Đó là lý do tại sao xã Mỹ Lâm có nhiều Việt Cộng và NTD thoát ly
theo Việt Cộng sau khi học xong bậc tiểu học.
Hoàng Long Hải (Tuệ Chương)
-------------------
(1) Xã Mông Thọ thuộc tiểu khu Rạch Giá (Secteur de Rachgia là nói theo
Tây). Trung úy Trần Thiện Khiêm vào ra tiểu khu nầy và quen chị Tư Nết,
con ông chủ Ry, trước 1945 là điền chủ nay là chủ câu lạc bộ. Dân Rạch
Giá nói rằng đó là giây nhợ để sau nầy ông trung úy Quân Đội Quốc Gia
cưới chị Tư Nết. Phần sau sẽ xin nói thêm về ông chủ Ry.
(2) Làm ăn không khá và do cuộc đời đưa đẩy, lại muốn trốn tránh người
Pháp vì bấy giờ Nguyễn Tất Thành đã theo Cộng Sản Nga, Thành bị thực dân
Pháp truy nã, nên cụ Nguyễn Sinh Sắc lưu lạc về Cao Lãnh, đổi sang họ
Vương, lấy một người vợ rất trẻ, sinh một người con trai, đặt tên là
Vương Chí Nghĩa. Ông nầy có 7 người con, Một trong bảy người con đó tên
là Vương Chí Việt, đi tu theo đạo Phật, pháp danh là Thích Chân Quang,
trụ trì chùa Phật Quang ở núi Dinh, Bà Rịa, gần Vũng Tầu (xem hình).
Hình như sau 1975, ông thầy tu nầy có về Nghệ An để xác nhận lại là dòng
dõi ông Nguyễn Sinh Huy, tức cháu ông Hồ Sĩ Tạo. (Họ Hồ, đổi qua họ
Nguyễn, rồi họ Vương, nay muốn lấy lại họ gì!?
(quanvan.net)
Trần Vinh Dự - Làn sóng vượt biên lần thứ hai
 |
| Hình minh họa |
Tôi có hai người bạn thành đạt. H là tổng giám đốc trong một quỹ đầu tư
lớn ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh từng đi du học và lập gia đình ở nước
ngoài. Cách đây 8 năm, anh bỏ việc ở nước ngoài để về nước với niềm phấn
khích cao độ. Giờ đây, anh đang tính nộp hồ sơ xin di trú cho gia đình
sang Bắc Mỹ. Anh chưa tính sẽ sang Bắc Mỹ sống ngay, nhưng với anh, đó
là một cách bảo hiểm.
T là chủ một doanh nghiệp cổ phần cũng ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh từng
bán một công ty trước đây do anh gây dựng và thu về một khoản tiền lớn.
Giờ đây anh vẫn còn hai công ty nữa ở Việt Nam. Tuy nhiên hiếm khi anh ở
Việt Nam. Anh dành phần lớn thời gian ở Mỹ với gia đình, nơi anh mới
mua một căn biệt thự giá hơn 3 triệu USD hồi đầu năm 2012.
Trở thành thường trú nhân, hay còn gọi là người có “thẻ xanh”, hoặc trở
thành người song tịch, tức là vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc
tịch một nước khác, đang trở thành một xu thế thời thượng. Có nhiều hãng
tư vấn di trú đang hoạt động tích cực ở Việt Nam như IMG, Kornova,
USIS, Harvey Law Group (HLG), Immigration (IMM), US Investment (USI),
ImmiCa… để phục vụ những khách hàng tiềm năng như H và T. Một số đang
trong tình trạng chạy hết công suất vì khách hàng quá đông.
Hợp pháp và hợp lý
Việc làm thủ tục xin định cư ở nước ngoài là việc hoàn toàn hợp pháp ở
Việt Nam. Thậm chí, ở một khía cạnh nào đó nó còn được khuyến khích. Kể
từ ngày 1 tháng 7 năm 2009, Luật Quốc tịch mới của Việt Nam có hiệu lực
và luật này quy định công dân Việt Nam có quyền có hai quốc tịch. Theo
Bộ Tư pháp, kể từ ngày đó, người Việt Nam ra định cư, nhập quốc tịch ở
nước ngoài đương nhiên mang quốc tịch Việt Nam mà không phải đăng ký.
Điều đó có nghĩa là người Việt Nam có thể xin quốc tịch nước khác như Mỹ
hay Canada mà không cần phải sợ mất quốc tịch Việt Nam.
Với nhiều người, việc có quốc tịch thứ hai cũng không quá quan trọng.
Điều họ cần là quyền được định cư lâu dài ở nước mà họ lựa trọn ngoài
Việt Nam. Và như vậy, chỉ cần là thường trú nhân (có thẻ xanh) là đủ.
Điều đó có nghĩa là việc có hay không có quyền có hai quốc tịch theo
luật Việt Nam không phải là yếu tố thúc đẩy họ xin định cư nước ngoài.
Xét về mặt cá nhân, việc thu xếp để có thêm một lựa chọn về nơi ở là
chuyện bình thường và hợp lý. Cả H và T đều muốn con cái khi lớn lên
được sống trong một môi trường an toàn và được hưởng thụ một nền giáo
dục tốt. Ngay cả nếu không định cư dài hạn ở một nước khác, thì có được
tự do trong việc đi lại và thay đổi môi trường sống theo sở thích cũng
là một quyền lợi thú vị, mặc dù tốn kém. Đó là chưa kể việc một số người
trở nên giàu có như T muốn đa dạng hoá tài sản của mình, vì thế, giữ
một số tài sản bất động sản ở nước ngoài cũng là một lựa chọn thông
minh.
Xã hội Việt Nam đang giàu lên. Cùng với sự phát triển chung của xã hội,
Việt Nam ngày càng có nhiều người giàu. Đi kèm với nó là ngày càng nhiều
những người có nhu cầu làm thường trú nhân ở các nước phát triển như H
và T. Điều này xem ra có vẻ rất bình thường.
Không có số liệu chính thức về số hồ sơ xin định cư mà các hãng tư vấn
định cư hoạt động ở Việt Nam đang giải quyết. Vì nhiều lý do tế nhị,
cũng ít có người công khai tự nhận mình đang xin quyền định cư ở nước
khác. Thế nhưng có nhiều bằng chứng gián tiếp cho thấy phong trào này
hiện nay đang phát triển mạnh. Ngày càng có nhiều hãng tư vấn di trú
quốc tế tham gia vào thị trường Việt Nam, ngày càng có nhiều đại lý độc
lập mọc lên phục vụ khách hàng trên thị trường này. Một số hãng lớn
trong năm 2012 thậm chí đã bị quá tải và phải outsource ra bên ngoài để
có đủ nhân lực xử lý hồ sơ.
Thậm chí đã xuất hiện một số doanh nghiệp Việt Nam ngấp nghé đầu tư vào
Bắc Mỹ hoặc Úc trong các ngành liên quan đến nông - lâm nghiệp với mục
đích tạo càng nhiều công ăn việc làm ở các nước này càng tốt. Lý do là
số lượng công ăn việc làm tạo ra càng nhiều thì các chủ dự án này càng
xin được nhiều xuất thẻ xanh. Các xuất thẻ xanh này sau đó có thể bán
lại cho các “nhà đầu tư”- thực chất là những người bỏ tiền ra mua thẻ
xanh vào các nước phát triển.
Nhiều câu chuyện có vẻ hợp lý về mặt cá nhân nhưng khi gộp với nhau lại
là tín hiệu cho thấy nhiều sự bất bình thường về mặt xã hội. Và câu
truyện xin di trú ồ ạt này cũng vậy.
Bất bình thường về xã hội
Thông thường những đợt di cư ồ ạt ra nước ngoài thường là chỉ dấu cho
thấy những vấn đề về mặt xã hội. Lý do thông thường nhất là sự khó khăn
về kinh tế, hiểm hoạ chiến tranh, bất ổn chính trị, phân biệt chủng
tộc…Làn sóng vượt biên ở Việt Nam trong những năm cuối thập kỷ 70 và đầu
thập kỷ 80 trước đây là một thí dụ. Nền kinh tế Việt Nam trước đổi mới
đã rơi vào tình trạng kiệt quệ và điều này đã làm cho nhiều người Việt
tìm cách vượt biên với hi vọng tìm được miền đất hứa.
Thế nhưng trào lưu di cư lần này của người Việt khác xa với trào lưu
vượt biên trước đây, mặc dù có nhiều người gọi vui là phong trào vượt
biên lần thứ hai. Khác biệt cơ bản nhất là phong trào hiện nay là phong
trào di cư của những người giàu, những người thực sự có tiền để trở
thành các nhà đầu tư và lấy thẻ xanh qua hình thức đầu tư. Nếu trước đây
các thuyền nhân vượt biên nghèo đói chen chúc trên những thuyền cá nhỏ
bé, thì những người di cư lần này đi máy bay trên ghế hạng C (hạng sang)
và trong tài khoản đầy tiền.
Lý do thông thường khiến những người giàu muốn định cư ở nước phát triển
là tìm đến một môi trường xã hội tốt hơn cho gia đình khi họ trở thành
những người có khả năng chi trả cho một cuộc sống tốt hơn. Thế nhưng đây
không phải là lý do tạo ra các đợt di cư đột biến.
Lý do thường được nghe đến nhiều nhất trong số các chủ doanh nghiệp muốn
di cư ra nước ngoài ở Việt Nam là sự bế tắc về cơ hội kinh doanh hiện
nay cũng như sự bi quan về triển vọng trong tương lai. Các doanh nhân
luôn muốn tìm kiếm môi trường kinh doanh nơi họ có thể kiếm tiền nhiều
nhất. Khi thấy Việt Nam không phải là nơi họ có thể kiếm nhiều nhất nữa,
họ đương nhiên muốn kiếm tìm một chân trời mới.
Cũng từ sự bi quan về hiện trạng và tương lai của nền kinh tế khiến
nhiều chủ doanh nghiệp lo lắng về các bất ổn xã hội có thể xảy ra trong
tương lai. Điều này dẫn họ tới chuyện lo xa cho gia đình. Từ những mối
lo sợ có thật như môi trường xã hội ngày càng kém an toàn, đặc biệt là ở
thành phố Hồ Chí Minh, tới những mối lo xa xôi như bất ổn và rối loạn
xã hội hoặc chiến tranh. Trong khi còn có điều kiện về tài chính, việc
thu xếp để gia đình có quyền thường chú ở nước khác xem ra là một dạng
mua bảo hiểm khôn ngoan.
Ẩn sau câu chuyện đó, còn có những lý do tế nhị hơn. Việt Nam trong một
giai đoạn dài phát triển rất mạnh. Do hệ thống luật pháp và chính sách
không hoàn thiện và phải thay đổi thường xuyên, các lỗ hổng pháp lý rất
nhiều và dẫn đến một thực tế là có nhiều người làm giàu dựa vào sự lỏng
lẻo của quản lý hoặc các bất cập trong hệ thống pháp luật. Kết quả là
các rủi ro pháp lý luôn luôn tồn tại, mặc dù không dưới các hình thái cụ
thể. Ý thức về rủi ro pháp lý đối với các chủ doanh nghiệp Việt Nam
thường không được rõ ràng lúc “thái bình” nhưng lại được làm sâu sắc hơn
mỗi khi có các vụ bắt giữ hoặc điều tra quy mô lớn liên quan đến các
chủ doanh nghiệp. Năm 2012 vừa qua là một năm như vậy.
Ra đi không tay trắng
Cuộc di cư của những người giàu thường là tai hại cho nền kinh tế nếu nó
diễn ra trên diện rộng. Đầu tiên là sự thất thoát về chất xám. Không
phải ai giàu có cũng giỏi, nhưng nhiều trong số những người này là những
người có kinh nghiệm, có khả năng kinh doanh, hiểu biết, và thông minh.
Sự ra đi của những cá nhân này là một thiệt thòi lớn cho nền kinh tế
xét về mặt chất xám trong kinh doanh.
Thứ hai là sự thất thoát về của cải. Những người ra đi không phải với
hai bàn tay trắng như phần lớn những người vượt biên bằng tàu cá hồi 30
năm trước. Những người ra đi lần này mang theo những khối tài sản lớn,
thường là hàng triệu USD, ra nước ngoài. Rất nhiều, nếu không muốn nói
là phần lớn, chủ doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đều đã có bất động sản và
số dư tài khoản tiền mặt lớn ở nước ngoài.
Thứ ba, đó là các phong trào này tạo ra hiệu ứng tâm lý, làm tăng sự dao
động, làm sâu sắc thêm tâm lý lo ngại, cũng như làm giảm nhiệt huyết
của những người còn ở lại. Nó cũng đồng thời làm nản lòng những người
muốn tới Việt Nam đầu tư và làm ăn. Đây cũng là một bất lợi nghiêm trọng
mà các phong trào di cư của người giàu gây ra cho thị trường.
Dù có những tác động bất lợi như vậy, việc lựa chọn di cư là một quyền
hợp pháp của người dân. Vì thế không thể ngăn chặn xu hướng này bằng các
mệnh lệnh hành chính. Cũng không thể ngăn chặn nó bằng những lời kêu
gọi suông.
Giữ chân người tài bằng cách tạo niềm tin
Để chống lại xu hướng “vượt biên lần thứ hai” này cần phải giải quyết
tận gốc nguyên nhân khiến nhiều người có tiền đang muốn dứt áo ra đi. Đó
là niềm tin vào sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam và niềm tin vào sự
an toàn của bản thân họ và gia đình ở Việt Nam. Việc này không dễ dàng.
Để khôi phục lại lòng tin vào tương lai phát triển của đất nước, điều
quan trọng là nhà nước phải chứng minh được cho thị trường và công chúng
thấy khả năng dẫn dắt, lộ trình và giải pháp cụ thể, và uy tín chính
trị của lãnh đạo.
Liên quan đến lộ trình và giải pháp cụ thể, đưa Việt Nam ra khỏi vũng
lầy hiện nay không phải là một nhiệm vụ bất khả thi. Ngược lại, tất cả
các vấn đề này đều có giải pháp. Khủng hoảng kinh tế không phải là một
câu chuyện xa lạ mà nó đã xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, trong mọi
hình thái kinh tế mà loài người đã trải qua. Việt Nam không phải là
ngoại lệ. Thực tế là các lời giải này đã được bàn đến nhiều, trong giới
chuyên gia, trong các cơ quan tư vấn, từ các tổ chức hỗ trợ quốc tế, tới
cả các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước Việt Nam.
Vì thế, vấn đề còn lại nằm ở việc chứng tỏ năng lực cũng như uy tín chính trị của người lãnh đạo.
Uy tín này phải được khôi phục và nó chỉ được khôi phục khi người dân
nhìn thấy các động thái quyết đoán của Đảng và nhà nước liên quan đến tư
cách, trình độ, đạo đức, phẩm chất, tính chuyên nghiệp, tinh thần phụng
sự đất nước, và cái nhìn viễn kiến của bộ máy lãnh đạo.
Phải từ việc khôi phục uy tín này, lãnh đạo quốc gia mới có thể vực dậy
lòng tin của người dân về tính khả thi của sự đổi thay tích cực. Đi kèm
với lòng tin này, các quyết sách thực tế của nhà nước nhằm thẳng vào các
vấn đề giai góc nhất đang tồn tại mới có thể giúp Việt Nam vượt qua khó
khăn hiện tại.
Chỉ khi làm được như vậy, lòng tin của thị trường cũng như của giới
doanh nhân vào tương lai ở Việt Nam mới được khôi phục. Và chỉ có thế,
câu chuyện “vượt biên lần thứ 2” của những người có tiền và những người
có tài mới giảm bớt và dần dần đảo ngược giống như thời kỳ các doanh
nhân Việt kiều lũ lượt về nước làm ăn hồi 10 năm trước.
(VOA)