Tài liệu tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba,
chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực”, do
Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày
4-5 tháng 11 năm 2011
TS. Koh Choong-suk và Ông Yearn Hong Choi
Tiến sĩ Koh, nguyên Hiệu trưởng Đại học Quốc gia Cheju, là Chủ
tịch của Hiệp Hội Nghiên cứu Ieodo (Society of Ieodo Research) và Tiến
sĩ Choi là học giả cao cấp của Hiệp Hội Nghiên cứu Ieodo và Nghiên cứu
viên của Hiệp hội Nghiên cứu của các chuyên gia tư vấn năm đại dương
(Research Assoiate of Five Oceans Consultants), Hoa Kỳ.
Giới thiệu
Tất cả các quốc gia ven biển đều cố gắng
mở rộng lãnh thổ biển của mình bằng cách kéo dài hoặc mở rộng vùng đặc
quyền kinh tế đến tối đa có thể. Vùng đặc quyền kinh tế là một khái niệm
mới và là một quy chế pháp lý cụ thể trong Công ước Luật biển, được xây
dựng dựa trên khái niệm “vùng đánh bắt cá độc quyền” và “vùng bảo tồn
đánh bắt cá”. Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế trong Công ước
chủ yếu nhằm vào tài nguyên sinh vật của các vùng nước phía trên đáy
biển. Mặc dù Điều 56 (1) (a) quy định rằng trong vùng đặc quyền kinh tế,
“Quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác,
bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh
vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy
biển”, nhưng Điều 56 (3) khẳng định rằng các quyền liên quan đến đáy
biển và lòng đất nêu trong điều này sẽ được thực hiện theo phần VI của
Công ước. Theo đó thì vùng đặc quyền kinh tế phải là một khái niệm mang ý
nghĩa bảo vệ môi trường: Tuy nhiên, đây không phải là một khái niệm mới
lạ trong thực tế. Nó được coi như hoặc giải thích như là một đặc quyền
của các quốc gia ven biển để khẳng định chủ quyền trên biển. Các quyền
không kèm theo nghĩa vụ hoặc trách nhiệm đã được tuyên bố, một cách khá
mù quáng. Đây là điều sai trái hoặc rất vô lý. Trong những trường hợp
này, tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý là vô lý.
Việc thăm
dò và khai thác vô độ nguồn cá, dầu khí và các kim loại quý hiếm khác đã
trở nên khả thi với công nghệ tiên tiến và lòng tham vô tận của con
người vì sự thịnh vượng của quốc gia. Nỗ lực bảo vệ môi trường biển và
bảo tồn các nguồn tài nguyên chưa được cân bằng hoặc tương xứng với việc
khai thác và thăm dò các nguồn tài nguyên ở biển khơi. Ngoài vùng đặc
quyền kinh tế, một quốc gia ven biển còn có thể tuyên bố Thềm lục địa là
“phần kéo dài tự nhiên” lãnh thổ đất liền của quốc gia đó lên đến 350
hải lý. Ai mà biết được? Độ dài 350 hải lý này chắc chắn sẽ bị tranh cãi
trong tương lai không xa.
Bài nghiên cứu này hướng đến tìm hiểu
những phát hiện của giới học thuật tập trung vào vùng đặc quyền kinh tế
trong năm 2011, từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng tám. Những vấn đề
nào liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế trong mối quan hệ với các vấn
đề trên biển và đại dương đã được thảo luận? Điều gì đã được đề xuất để
mang lại vùng biển và đại dương hòa bình và để bảo vệ môi trường biển và
bảo tồn các nguồn tài nguyên biển và đại dương? Cơ sở dữ liệu của công
trình nghiên cứu này là ProQuest. Cơ sở dữ liệu này có sẵn trong hệ
thống thư viện công cộng ở Hòa Kỳ, tập hợp 80 tạp chí chuyên ngành và
các tờ báo lớn.
Cơ sở dữ liệu ProQuest là gì?
Dưới đây là thông tin về ProQuest tại Google:
ProQuest kết nối mọi người với những
thông tin đáng tin cậy và đã được thẩm định. Nó được coi là chìa khóa
đối với công tác nghiên cứu. Công ty đã với 70 năm danh tiếng được coi
như một cánh cửa đối với tri thứ của thế giới bao gồm các bài luận văn,
các tài liệu lưu trữ về văn hóa và chính phủ, tin tức về tất cả các lĩnh
vực. Nó đóng vai trò cần thiết đối với các thư viện và các tổ chức có
sứ mệnh phụ thuộc vào việc cung cấp các thông tin đầy đủ và đáng tin
cậy.
Kho thông tin khổng lồ ProQuest, được
xây dựng thông qua quan hệ đối tác với những người sáng tạo nội dung,
thường xuyên được đổi mới công nghệ cho phép người dùng nhanh chóng tìm
thấy thông tin chính xác. Công ty hiện đang tung ra tất cả các cơ sở dữ
liệu ProQuest® mới, tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu sử dụng, tạo
ra, và chia sẻ nội dung qua đó thúc đẩy hiệu quả nghiên cứu.
Là một tổ chức năng động và phát triển
nhanh chóng, trong năm 2009 ProQuest đã cho ra mắt dịch vụ tìm kiếm dữ
liệu trên web SummonTM, mang lại lợi ích cho các thư viện đại
học trên toàn thế giới. Trong năm 2010 ProQuest mở rộng vào thị trường
doanh nghiệp và chính phủ, phát động dịch vụ Dialog ProQuestTM
và giành được Dịch vụ Thông tin Quốc hội và Các ấn phẩm đại học của
Châu Mỹ. Đầu năm 2011, công ty này cho ra đời thư viện điện tử, mở rộng
nội dung của ProQuest bao gồm các sách điện tử và tuyển dụng thêm các
nhân viên thành thạo công nghệ vào khắp tổng công ty, trong đó bao gồm
các đơn vị như Serials Solution®, RefWorks-COSTM, và Bowker®.
Vùng Đặc Quyền Kinh Tế
Có rất nhiều bài viết bao gồm từ khóa
“vùng đặc quyền kinh tế” trong cơ sở dữ liệu ProQuest. Vì vậy, người
viết chỉ giới hạn các bài viết trong năm 2011. Vùng đặc quyền kinh tế đã
tạo ra tranh chấp biên giới và các quan hệ quốc tế căng thẳng ở Biển
Đông nhiều hơn ở bất kỳ vùng biển nào khác. Đối với nhiều nước ven biển,
vùng đặc quyền kinh tế chỉ là một phần mở rộng của lãnh hải: EEZ 200
hải lý được coi là lãnh thổ của quốc gia, bởi vì nó là một vùng đặc quyền
về kinh tế. Vùng kinh tế bao gồm tất cả những gì có ý nghĩa trong biển
từ đường bờ biển của một quốc gia. Kinh tế có nghĩa là hầu như mọi thứ.
Hai hay nhiều quốc gia có chung một phần biển tại Biển Đông (South China
Sea) và Biển Hoa Đông (East China Sea) đã không thể giải quyết một cách
hòa bình các tranh chấp liên quan vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn.
Vùng đặc quyền kinh tế có thể là một trong những khái niệm tồi tệ nhất
trong Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Các quốc gia khác nhau sẽ
có giải thích khác nhau về vùng đặc quyền kinh tế và việc này bắt nguồn
từ Sắc lệnh của Tổng thống Mỹ Harry Truman. Có thể tìm hiểu tình hình
hiện tại và các vấn đề của vùng đặc quyền kinh tế bằng việc xem xét các
bài viết của các hãng truyền thông lớn có chứa từ khóa “vùng đặc quyền
kinh tế” trong năm 2011. Nội dung của bài báo về vùng đặc quyền kinh tế
có thể chia thành 10 nhóm chủ đề dưới đây:
1. Biển Đông và sức mạnh hải quân Trung Quốc.
2. Môi trường đại dương và vấn đề bảo vệ môi trường
3. Ấn Độ Duonwg
4. Hàn Quốc
5. Nhật Bản
6. Hòa Kỳ và vùng biển Caribê
7. Các đảo Thái Bình Dương
8. Biển Địa Trung Hải
9. Các đảo nhỏ của châu Phi ở Đại Tây Dương
10. Bắc Băng Dương
Biển Đông
Chủ đề có liên quan đến Vùng đặc quyền
kinh tế được bàn đến nhiều nhất là về tình hình xung đột và căng thẳng
giữa Trung Quốc và các nước ASEAN và giữa các quốc gia ASEAN là Việt
Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia. Có 43 bài báo về chủ đề
này trong cơ sở dữ liệu ProQuest từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 đến thời
điểm hiện tại. Trung Quốc đã khiêu khích Việt Nam khi những chiếc thuyền
đánh cá trá hình của Hải quân Trung Quốc quấy rối cuộc khảo sát dầu khí
của Petro Việt Nam. Việt Nam đã quyết tâm đi đến chiến tranh chống lại
Trung Quốc. Mặc dù lời tuyên bố về chiến tranh đã không trở thành cuộc
chiến thực sự, nhưng Biển Đông đã thu hút sự chú ý rất lớn từ thế giới
trong năm 2011. Trung Quốc đã cảnh báo Hoa Kỳ không can dự vào Biển
Đông. Hai siêu cường này giải thích vùng đặc quyền kinh tế theo hai cách
khác nhau: Mỹ cho rằng vùng đặc quyền kinh tế có nghĩa là sự tự do hàng
hải, bao gồm sự tự do đi lại của các tàu Hải quân Hoa Kỳ, nhưng Trung
Quốc tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển độc quyền của quốc gia
ven biển. Tuy nhiên, có một thực tế đã và đang xảy ra là các tàu hải
quân Trung Quốc vẫn tự do đi qua các vùng đặc quyền kinh tế của các quốc
gia khác. Vẫn tồn tại sự khác biệt về không gian của vùng đặc quyền
kinh tế giữa các quốc gia. Các quốc gia có chung biển như Biển Đông và
Biển Hoa Đông vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về vấn đề này.
Các cuộc xung đột giữa Trung Quốc và
Việt Nam đã được biết đến trong những năm qua và được các phương tiện
truyền thông quan tâm theo dõi. Ngoài các cuộc xung đột giữa Trung Quốc
và Việt Nam, các xung cuộc giữa Trung Quốc và Philippines trong tháng 6
năm 2011 (ngày 2 và 3 tháng sáu) cũng được Asian Pulse đưa tin. Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Philippines Alberto del Rosario đã cảnh báo rằng
“bất cứ trường hợp xây dựng nào của Trung Quốc tại vùng biển gần khu vực
không có người ở Iroquois Bank tại Biển Đông đều vi phạm Tuyên bố về
ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) được Trung Quốc và các nước ASEAN
ký kết năm 2002” và cáo buộc rằng tàu hải giám Trung Quốc đang đi lại
trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines. Các tàu
quân sự của Trung Quốc được đưa tin đã bắn vào các tàu đánh cá của
Philippines tại bãi san hô Jackson, cách đảo Palawan 140 hải lý vào ngày
15 tháng hai năm 2011. Trong tháng 3 năm 2011, tàu tuần tra hải quân
Trung Quốc bị cáo buộc quấy rối một tàu khảo sát dầu khí của Philippines
tại khu vực Reed Bank (bãi Cỏ Rong), một phần của tỉnh Palawan và không
thuộc Trường Sa. Trong tháng 5 năm 2011, các máy bay MIG được cho là
của Trung Quốc đã tiến hành hoạt động quấy rối máy bay trinh sát của
Không quân Philippines trên vùng trời Bãi Cỏ Rong. Tờ Malaya cho rằng
công trình mà Trung Quốc xây dựng trên các rạn san hô của Trường Sa là
một căn cứ quân sự chứ không phải là nơi trú ẩn cho ngư dân. Sự thiếu
tin tưởng giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng là điều đáng chú ý.
Tăng ngân sách quốc phòng lên hai chữ số
và thực hiện chính sách ngoại giao thô bạo, Trung Quốc đã làm náo động
các quốc gia láng giềng trong vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông. Sự cạnh
tranh giữa Trung Quốc và Ấn Độ ở Ấn Độ Dương cũng phải được một số bài
báo đề cập đến. Căng thẳng tại Biển Đông không phải là một vấn đề pháp
lý phức tạp, nhưng nó lại là một mối đe dọa cận kề và nguy hiểm đối với
nền kinh tế toàn cầu và hệ sinh thái khu vực. Các tuyến đường hàng hải
đi qua Biển Đông kết nối Châu Âu với Châu Á, đã giúp Biển Đông trở thành
một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất trên thế giới. Gần một
nửa thương thuyền của thế giới đi qua Biển Đông và vận chuyển từ Trung
Đông một lượng dầu đáng kể cho Đông Bắc Á.
Biển Đông có một trữ lượng hydrocarbon
dồi dào và phong phú, nhưng việc khai thác đầy đủ các nguồn tài nguyên
này bị cản trở do các đường biên giới biển vẫn chưa được giải quyết và
do sự đe dọa quân sự trắng trợn. Cuối cùng, việc đánh bắt quá mức dẫn
đến đánh bắt cá ngày càng khó khăn, điều này càng khiến các ngư dân sử
dụng các chiến thuật hiếu chiến hơn.
Một số nước ASEAN đề nghị đổi tên Biển
Đông thành Biển Đông Nam Á (Southeast Asia Sea). Ben Bland đã đưa tin về
tên gọi của vùng biển này trong bài viết trên tờ Financial Times ngày
21 tháng sáu 2011. South China Sea (biển Nam Trung Hoa) là Biển Đông
(East Sea) đối với người Việt Nam, là Biển Tây Philippines (West
Philippine Sea) đối với người Philippines và là Biển Nam Hải (South Sea)
đối với người Trung Quốc. Tên gọi “South China Sea” đã được các nhà
xuất bản bản đồ phương Tây sử dụng rất lâu mà không có sự đồng ý cũng
như sự phản đối của người dân Châu Á. Nó có thể bắt nguồn từ việc các
nhà làm bản đồ ở châu Âu đã không ý thức về tác động lâu dài của nó có
thể xảy ra sau đó. Việc đặt tên biển ngày càng trở nên nhạy cảm với các
quốc gia ASEAN, vì việc đặt tên Biển Nhật Bản (Sea of Japan) đối với
vùng biển giữa Nhật Bản và Hàn Quốc đã trở thành một vấn đề nhạy cảm với
người dân Hàn Quốc. Tờ National Geographic đã đưa ra một tên kép “Biển
Nhật Bản/Đông Hải (Sea of Japan/ East Sea)”. Một số đề xuất một tên biển
trung lập chẳng hạn như biển Xanh (Blue Sea hoặc Green Sea) đối với
vùng biển giữa hai quốc gia này.
Quần đảo Trường Sa với trữ lượng lớn
hydrocacbon cũng là khu vực xung đột giữa các quốc gia ASEAN. Nó là một
vùng biển phức tạp nhất vì những xung đột giữa các quốc gia có chung
Biển Đông dường như không thể giải quyết. Tiêu đề chính của tờ
Washington Post vào ngày 18 Tháng Chín năm 2011 là: Disputed Territory
(Lãnh thổ tranh chấp). Bài viết tóm lại các cuộc xung đột trong một câu:
Chính cơn khát dầu của Trung Quốc tại Biển Đông đã đặt Trung Quốc vào
mâu thuẫn với các yêu sách của các quốc gia khác (Higgins, 2011).
Nỗ lực tìm kiếm giải pháp cho xung đột
Biển Đông đã được thể hiện thông qua Tuyên bố ứng xử Biển Đông giữa
ASEAN và Trung Quốc. Ngoài Tuyên bố ASEAN-Trung Quốc, tôi còn chú ý đến
một đề xuất mang tính học thuật Mark J. Valencia, Jon Van Dyke và Noel
Ludwig của Trung tâm Đông-Tây, Đại học Hawaii đã đề xuất một đáy biển
chung cho của tất cả các bên tranh chấp, trong đó các quốc gia cùng chia
sẻ các nguồn tài nguyên. Cơ quan đảm bảo mục đích trên là Viện Quản lý
tài nguyên Biển Đông (South China Sea Institute for Marine Resources
Management), sẽ chịu trách nhiệm tiến hành một cuộc khảo sát chung và
đánh giá tiềm năng khoáng sản và hydrocarbon, và cùng hợp tác thực hiện
an toàn hàng hải và thực thi các biện pháp giám sát. Họ cũng đề xuất Cơ
quan Hợp tác Trường Sa (Spratly Coordinating Agency) quản lý các khu vực
chung và nguồn tài nguyên của các khu vực đó. Họ đề nghị chia 50% thành
quả cho Trung Quốc và Đài Loan và 50% còn lại dành cho các quốc gia
ASEAN. Điều này có thể bị phản đối bởi các quốc gia ASEAN, trong đó có
Việt Nam. Họ cũng thảo luận về điểm mạnh và điểm yếu của các bên tranh
chấp của quần đảo Trường Sa (Valancia, và các đồng nghiệp, 1997).
Sam Bateman đã chỉ ra các “vấn đề xấu”
thách thức các giải pháp và đề xuất một diễn đàn khu vực để giải quyết
vấn đề. Các vấn đề đó bao gồm cách giải thích khác nhau về Luật biển làm
cơ sở cho an ninh hàng hải khu vực, sự thiếu trật tự trên biển, rất
nhiều tuyên bố xung đột về thẩm quyền hàng hải, ẩn ý của hoạt động hải
quân đang ngày càng gia tăng trong khu vực và thiếu ranh giới hàng hải.
Ông đề xuất tạo ra một Viện nghiên cứu Hòa bình châu Á (Asian Peace
Research Institute) theo mô hình Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế
Stockholm để thúc đẩy tư duy độc lập và hợp tác hơn nữa. Ông nhấn mạnh
các kế hoạch hành động để thực hiện Tuyên bố chung về Quan hệ đối tác
chiến lược ASEAN – Trung Quốc vì Hòa bình và Thịnh vượng (2011-2015).
Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra rằng chỉ có ít tiến triển đã đạt được
(Bateman, 2011).
Tuyên bố Hợp tác ASEAN-Trung Quốc 2002
(DOC) đã tạo điều kiện cho việc chuyển khu vực này thành một Khu vực Hòa
bình, Hữu nghị, Tự do và Hợp tác (ZOPFF/C) thông qua tham vấn và đối
thoại bền vững. ZOPFF/C cung cấp một khuôn khổ phân tách rõ các vùng
biển tranh chấp và các vùng biển không tranh chấp tại Biển Đông. Tuy
nhiên, người ta vẫn chưa nhìn thấy tinh thần hướng tới việc đạt được các
mục tiêu của DOC và ZOPFF/C. Chúng tồn tại như những cam kết hoặc những
lời nói “sáo rỗng”.
Tựu chung lại, DOC, đề xuất của Trung
tâm Đông Tây, Đại học Hawaii và bài viết của Bateman có thể coi là ánh
sáng soi đường cho một Biển Đông hòa bình và thịnh vượng.
Ngày 28 tháng 7 năm 2011, tờ Asian Pulse
thuật lại một câu chuyện, một câu chuyện rất thú vị với tôi. Câu chuyện
này khiến tôi liên tưởng đến tình hình Biển Đông.
Vào mùa hè năm 2011, các công nhân Hàn
Quốc đang cố gắng để kéo một tàu chuyên chở hàng hóa nặng 50.905 tấn, bị
chìm vào tháng tư sau khi va chạm với một rạn san hô gần Ieodo, khoảng
150 km về phía tây nam của đảo Cheju. Theo các quan chức ngoại giao,
Trung Quốc đã gửi tàu tuần tra tới nơi bị nạn vào tháng trước và đầu
tháng này và yêu cầu Hàn Quốc ngừng mọi hoạt động trong vùng đặc quyền
kinh tế của Trung Quốc. Các quan chức ở Seoul cho biết Trung Quốc đã yêu
cầu Hàn Quốc tạm dừng việc kéo một con tàu thương mại bị chìm tại gần
bãi đá đất ngầm Ieodo tại Nam Hải nơi mà Bắc Kinh tuyên bố là lãnh thổ
của mình.
Nhóm nghiên cứu này sau đó đã lên tiếng
chỉ trích tham vọng biển của Trung Quốc trong tờ Korea Times và Korea
Monitor trong số ra tháng 8.
Tham vọng biển của Trung Quốc
Trung Quốc đang mở rộng sức mạnh của
mình sang Biển Đông và Biển Hoa Đông với các lý lẽ riêng của mình bao
gồm: những lý do địa lý dựa trên lý thuyết rìa phía ngoài thềm lục địa
và lý lẽ lịch sử về những hành trình cổ xưa tới các vùng biển xa. Trung
Quốc đã đụng chạm với Việt Nam và Philippines. Trung Quốc cũng đưa ra
yêu sách tại vùng biển của Malaysia và Indonesia.
Trung Quốc cũng đụng chạm với Nhật Bản ở
Biển Hoa Đông xung quanh việc thăm dò dầu, khí tự nhiên và các tài
nguyên khoáng sản quanh quần đảo Senkaku. Gần đây nhất, thậm chí Trung
Quốc còn can thiệp vào hoạt động cứu hộ mà Hàn Quốc tiến hành với một
tàu vận chuyển than bị chìm ở khu vực đường trung tuyến trên vùng biển
của Hàn Quốc. Biển Hoa Đông và Biển Đông không phải là các đại dương, mà
là vùng biển hẹp có sự chia sẻ bởi nhiều quốc gia láng giềng. Trung
Quốc không thể tuyên bố chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý hoặc
thềm lục địa ở các vùng biển này.
Điều đó nghe có vẻ nực cười hoặc mang
hơi hướng của chủ nghĩa đế quốc. Tòa án quốc tế từng sử dụng lý thuyết
thềm lục địa để giải quyết tranh chấp giữa Đức – Đan Mạch và Hà Lan ở
Biển Bắc. Trung Quốc đang sử dụng quyết định của tòa án này như một tiền
lệ. Kể từ khi phán quyết được đưa ra, phần lớn các tranh chấp biên giới
hàng hải được giải quyết bằng lý thuyết đường trung tuyến giữa hai quốc
gia ven biển. Chính sách đường trung tuyến có thể khiến các quốc gia
tuân thủ một cách mạnh mẽ, giản đơn và dễ dàng.
Trung Quốc và Hàn Quốc chưa giải quyết
được đường biên giới biển giữa hai quốc gia. Điều này không nên là cái
cớ để Trung Quốc can thiệp một cách tùy tiện vào nỗ lực cứu hộ tàu chìm
của Hàn Quốc. Trung Quốc đã từng làm một điều vô lý tương tự khi Hàn
Quốc xây dựng tháp nghiên cứu đại dương ở đảo đá ngầm Leodo. Người
phương Tây đặt tên đảo này là Socotra Rock vào năm 1900. Đảo nằm trong
phạm vi đường trung tuyến của Hàn Quốc.
Trung Quốc đang khiêu khích các quốc gia láng giềng ở vùng biển hòa bình.
Trung Quốc đang tìm cách ngăn chặn hoạt
động thăm dò dầu khí ngoài khơi xa của Việt Nam bằng các tàu đánh cá trá
hình. Vào giữa tháng 6 vừa qua, các nhà chức trách Việt Nam đã cáo buộc
một tàu đánh cá của Trung Quốc cắt cáp của tàu thăm dò của tập đoàn dầu
khí quốc gia Việt Nam, Petro Việt Nam.
Trung Quốc tự mình đưa ra tuyên bố chủ
quyền với toàn bộ Biển Đông, bằng cách trích dẫn những bản đồ cổ xưa với
rìa phía nam kéo dài tới tận bờ biển phía bắc của Malaysia. Trong khi
đó, Việt Nam, Philippines, Brunei và Malaysia đều có tuyên bố chủ quyền
đối với nhiều phần khác nhau ở Biển Đông nhằm mục đích phát triển khu
đặc quyền kinh tế của họ. Trong mùa hè năm 2011, Trung Quốc đã cho ra
mắt tàu sân bay đầu tiên, đe dọa các quốc gia trong Biển Đông và Biển
Hoa Đông. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã phát triển hai con số
và chính sách đối ngoại Trung Quốc mang tính quyết đoán.
Sự ngờ vực và nỗi quan ngại của Châu Á
về Trung Quốc là dựa trên các tham vọng lãnh thổ mà nước này đưa ra đối
với Tây Tạng mà giờ đây là việc theo đuổi tham vọng lãnh thổ biển để có
thể có nhiều hơn các nguồn dầu khí đốt, các kim loại quý dưới đáy biển
và nguồn thủy sản.
Tham vọng của Trung Quốc cần được cân
bằng bởi nước Mỹ như một đối tác của các nước châu Á – Thái Bình Dương
và bởi một liên minh châu Á thống nhất được trang bị với công lý và sự
công bằng trong cộng đồng quốc tế.
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã
đưa ra một tuyên bố căng thẳng với người dân của mình để chuẩn bị chiến
tranh với Trung Quốc, bởi vì chủ quyền của Việt Nam đối với Trường Sa là
“không thể chối cãi”. Cuộc tập trận chung của quân đội Việt Nam và Hoa
Kỳ đã khiến Trung Quốc có những lời chỉ trích gay gắt về sự can thiệp
của Hoa Kỳ, nhưng nó đã ngăn cản một tình huống chiến tranh chó thể xảy
ra. Sự đoàn kết mạnh mẽ của các quốc gia Đông Nam Á cũng góp phần làm
giảm bớt sự hiếu chiến của Trung Quốc.
Hành vi thô bạo của Trung Quốc trong
việc kiểm soát Tây Tạng bằng quân đội và dung dưỡng nhà độc tài Bắc
Triều Tiên Kim Jong-il, người làm 20 triệu người dân Bắc Triều Tiên bị
chết đói đáng bị khiển trách. Thế giới nên chú ý đến tuyên bố của Trung
Quốc rằng vùng đặc quyền kinh tế của mình là vùng cấm đối với tàu hải
quân nước ngoài, đây là một sự suy diễn Luật biển hết sức thâm độc hay
sáng tạo của Trung Quốc. Tuy nhiên, tàu ngầm Trung Quốc vẫn đang đi lại
một cách tự do hoặc kín đáo trong các vùng đặc quyền kinh tế của các
quốc gia lân cận.
Đã tới lúc xem xét một cách tổng thể
vùng đặc quyền kinh tế và ranh giới ngoài thềm lục địa. Không một quốc
gia nào nên lạm dụng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Các vùng
biển và đại dương về cơ bản nên là tài sản của nhân loại, không chỉ
thuộc về một hay một vài siêu cường. Bảo vệ môi trường biển và đại
duonwg và bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật ở biển và
dưới đáy biển trước hết nên là nhiệm vụ cơ bản của nhân loại. Có một
cách lựa chọn khác đó là phân định ranh giới biển duy nhất có thể chấp
nhận được nên là một đường trung tuyến ở các vùng biển và nhỏ giữa các
quốc gia ven biển.
Trung Quốc đã từng là nạn nhân của chủ
nghĩa đế quốc phương Tây và chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản trước và trong
thế kỷ 20. Nhưng bây giờ, Trung Quốc lại hành động như một đế quốc đối
với các quốc gia láng giềng. Đó có phải là một sự mỉa mai của lịch sử?
Trung Quốc nên kiềm chế sức mạnh và sự tự tôn của mình. Tuy nhiên, Trung
Quốc đã phô diễn sức mạnh quân sự với mức chi tiêu quốc phòng khổng lồ
11,6% trong thực thế mỗi năm. Ngày càng có nhiều tàu thuyền, tàu ngầm và
tàu sân bay hoạt động trong các vùng nước bị giới hạn một cách tương
đối trong khu vực. Những vùng nước này được đánh dấu bằng các tranh chấp
chủ quyền và các ranh giới hàng hải chưa được giải quyết. Tăng cường
các hoạt động quân sự trên biển làm gia tăng nguy cơ xảy ra các sự cố
tai nạn giữa lực lượng hải quân, đặc biệt là liên quan đến tàu ngầm. Sự
gia tăng tàu ngầm trong khu vực đặt ra thách thức về ngoại giao phòng
ngừa, xây dựng lòng tin hàng hải và bảo đảm sự an toàn của hoạt động tàu
ngầm trong khu vực, nhưng những thách thức này chưa được giải quyết.
Dana Dillon lập luận trong bài viết của
mình cho tờ Policy Review (tháng 6/ tháng 7 năm 2011) rằng: Mối nguy
hiểm nhất là sự bất ổn ở châu Á là một Trung Quốc trỗi dậy đang tìm cách
tái khẳng định bản thân, và nơi mà Trung Quốc có khả năng gây ra một
cuộc xung đột quân sự nhất chính là Biển Đông. Trong thập kỷ thứ hai của
thế kỷ 21, các vùng nước hiếm khi bình lặng của Biển Đông liên tục dậy
sóng do các cuộc tập trận hải quân và những lời lẽ gay gắt.
2. Môi trường Đại dương và Năng lượng
Chủ đề liên quan đến Vùng đặc quyền kinh
tế được bàn đến nhiều tiếp theo là về bảo vệ môi trường biển và bảo tồn
nguồn tài nguyên biển. Có 23 bài báo thuộc nhóm này. Các vấn đề: bảo
tồn sinh học, thủy sản trong vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia và
vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn, bảo vệc các loài di trú và cá mập,
nuôi trồng đánh bắt cá, tràn dầu và khôi phục thiệt hại về môi trường đã
được xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Phí dân sự và hình sự
để các công ty sản xuất dầu ngoài khơi ở vùng Vịnh Mexico trong năm
2010 đã được thảo luận trong năm 2011. Các bài báo về môi trường trải
rộng từ Thái Bình Dương đến vùng đặc quyền kinh tế của Hoa Kỳ, Canada và
Mexico, vùng đặc quyền kinh tế của vùng biển Chile và Peru, biển
Ca-ri-bê được chia sẻ bởi Bahamas, Honduras và Haiti, Ấn Độ Dương, Úc,
New Zealand, vùng biển Đại Tây Dương của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và
Ma-rốc, biển Beaufort của Hoa Kỳ và Canada, và các vấn đề hợp tác môi
trường giữa Ý và Trung Quốc đã được thảo luận trên các tờ báo giấy khác
nhau. Việc giảm khí thải CO2 từ các tàu cũng được thảo luận một cách
hùng hồn để giảm thiểu biến đổi khí hậu.
Laura Bush, đệ nhất phu nhân của Hoa Kỳ
đã có một bài viết thú vị nhằm bảo vệ đại dương và các nguồn tài nguyên
biển. Bài viết được đăng trên tờ Wall Street Journal như một lời nhắc
nhở đối với phu quân của bà trong việc đặt tên cho bốn công trình hàng
hải quốc gia ở Thái Bình Dương – công viên đại dương quốc gia năm 2006.
Công trình kỷ niệm hàng hải quốc gia Papahanaumokuakea,
Công trình kỷ niệm quốc gia kênh đào Marianas,
Các hòn đảo xa xôi ở Thái Bình Dương, và
Đảo san hô vòng Rose Atoll tại vùng Samoa thuộc Mỹ.
Bốn công trình này có diện tích 330.000
dặm vuông và cộng thêm với khu vực biển được bảo vệ đầy đủ lớn nhất trên
thế giới, lớn hơn tất cả các vườn quốc gia Hoa Kỳ và những người tị nạn
có cuộc sống hoang dã kết hợp lại. Chúng nuôi dưỡng một số lượng lớn
các loài cá, cung cấp môi trường sống cho những rạn san hô tuyệt đẹp, và
vô số cá mập – được xem như yếu tố góp phần đảm bảo sức khỏe của hệ
sinh thái.
Bảo vệ đại dương là sứ mệnh và nhiệm vụ
của nhân loại cho các thế hệ hiện tại và trong tương lai. Gần một nửa
dân số thế giới hiện đang sống trong vòng 60 dặm của một đại dương nào
đó, và tỷ lệ này sẽ tăng lên vì ngày càng có nhiều người định cư tại các
cộng đồng ven biển.
Laura Bush đã viết rằng:
Thế giới đại dương hoang dã của chúng ta
đang dần biến mất và, như chúng ta đã làm công viên quốc gia
Yellowstone, việc bảo tồn những khu vực hoang dã quan trọng nhất còn lại
phụ thuộc vào chúng ta. Làm như vậy sẽ bảo vệ những cái có thể dễ dàng
phá hủy nhưng không thể thay thế: các lồng ấp tự nhiên và không bị quấy
rầy của sự sống. Đánh bắt quá mức và làm biến thoái các vùng nước đại
dương gây hại cho những sinh vật cần thiết để duy trì số lượng các loài
sinh vật biển đa dạng.
Dự án năng lượng ngoài khơi ở Biển Bắc
và các biện pháp cấp vốn, thăm dò dầu khí và khí đốt của vùng thềm lục
địa bên dưới đại dương, và việc khám phá nguồn dầu và khí đốt dưới nước
của cơ quan Khảo sát Địa chấn Hoa Kỳ (US Geological Survey) cũng đã được
thảo luận cùng với vụ tràn dầu năm 2010 tại Vịnh Mexico. New Zealand
công bố chiến lược dầu mỏ của mình trong đó New Zealand sẽ là một nước
xuất khẩu dầu thực sự trong vòng hai thập kỷ tới khi mà quốc gia này
tăng cường tìm hiểu về các lưu vực dầu khí của mình vào tháng tám. Nước
này cũng nhấn mạnh rằng những tác động của hoạt động thăm dò dầu đến môi
trường sẽ được quan tâm, nhưng các đảng đối lập và các hiệp hội môi
trường vẫn chỉ trích kế hoạch chiến lược này (Theo Asian Pulse, ngày 30
tháng 8).
3. Ấn Độ Dương
Chủ đề xuất hiện nhiều tiếp theo trong
các bài báo về EEZ, bao gồm chín bài, là về Ấn Độ Dương, bao gồm thỏa
thuận về khu vực đánh bắt cá Tây Sumatra Ấn Độ, thăm dò dầu ngoài khơi,
thỏa thuận đánh bắt cá Ấn Độ-Sri Lanka, xuất khẩu hải sản ngày một tăng
của Ấn Độ, hợp tác giữa Ấn Độ và các quốc gia châu Phi nhằm kiểm soát
cướp biển, và nền kinh tế của vùng Seychelles dựa vào việc gia tăng đánh
bắt cá ngừ. Những tên cướp biển từ Somali đã thu hút được sự chú ý trên
toàn thế giới, và khả năng giám sát của Hải quân Ấn Độ đã được đưa tin
kịp thời.
4. Hàn Quốc
Hàn Quốc là chủ đề của những bài báo khá
lớn về vùng đặc quyền kinh tế, bao gồm bảy bài. Cái bài báo đưa tin về
việc thuyền tuần tra của Trung Quốc yêu cầu các thuyền cứu hộ Hàn Quốc
phải xin phép trước khi tiến hành hoạt động cứu hộ trong vùng đặc quyền
kinh tế của Hàn Quốc gần đảo Ieodo hoặc đảo đá Socotra, việc đánh bắt cá
bất hợp pháp của Trung Quốc, ngành công nghiệp đánh cá của Hàn Quốc
ngày càng phát triển, và các hiệp định đánh cá Hàn Quốc – Nhật Bản và
thiết lập hạn ngạch trên vùng biển Hàn Quốc giữa Trung Quốc và Nhật Bản.
Trong đó có một bài báo thú vị viết về vấn đề nhân quyền của các công
nhân Indonesia làm việc trên các tàu đánh cá Hàn Quốc trong vùng đặc
quyền kinh tế của New Zealand.
5. Nhật Bản
Nhật Bản đối tượng nghiên cứu của sáu
bài viết về: khai thác dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế chống lấn
của Trung Quốc và Nhật Bản, Nhật Bản đánh bắt cá hợp pháp ở vùng biển
của Nga, và hợp tác cứu trợ thiên tai biển giữa Nhật và Indonesia.
6. Mỹ
Bốn bài viết liên quan đến Hoa Kỳ và các
quốc gia láng giềng trong vùng biển Caribê đã được đăng tải: Mỹ, Cuba
và Bahamas trong việc xác định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế, Hoa Kỳ
và New Zealand hợp tác an ninh biển, và các tranh chấp chủ quyền biển
giữa các nước Columbia, Nicaragua, Honduras và Costa Rica. Tổng thống
Barrack Obama đã kêu gọi những người đứng đầu của tất cả các phòng ban
điều hành thiết lập một Nhóm công tác liên ngành về chính sách đại dương
sau vụ tràn dầu của tập đoàn dầu khí Anh ở Vịnh Mexico là những thông
tin đáng giá.
7. Các đảo của Thái Bình Dương
Các hòn đảo nhỏ của Thái Bình Dương đã
được thảo luận về các vấn đề sau: khai thác biển khơi của Papua New
Guinea, tranh chấp của Tonga và hợp tác giữa Tonga và Hàn Quốc trong
khai thác biển khơi, và hợp tác đánh bắt cá của Fiji và Kiribati.
8. Biển Địa Trung Hải
Các bài báo về Vùng đặc quyền kinh tế
của biển Địa Trung Hải viết về Thỏa thuận về vùng đặc quyền kinh tế giữa
Israel và đảo Síp, giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Síp, và thỏa thuận đường ống dẫn
khí tại Biển Đen giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Nga.
9. Đại Tây Dương
Các hòn đảo nhỏ ở Đại Tây Dương gần lục
địa Châu phi cũng là chủ đề của các bài báo liên quan đến EEZ: thỏa
thuận đánh bắt cá của Cape Verde với Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp, và
Sao Tome và thỏa thuận về vùng đặc quyền kinh tế của Principe với
Nigeria và các thỏa thuận thăm dò dầu khí với một công ty Nigeria.
10. Bắc Băng Dương
Có hai bài báo thảo luận về quyền sở hữu Bắc Băng Dương hay Bắc Cực và Hội đồng Bắc Băng Dương.
Kết luận
Vùng đặc quyền kinh tế đã thu hút sự
quan tâm đa dạng từ các cơ quan truyền thông lớn và các tạp chí chuyên
ngành. Thật không may là việc xem vùng đặc quyền kinh tế như là các di
sản chung của nhân loại đã không được thảo luận một cách đầy đủ, mặc dù
chúng đã được thảo luận trong giới trí thức. Không có bất cứ một bài
viết nào bàn về thực tế rằng các quốc gia không có bờ biển thì sẽ không
được hưởng lợi của các đại dương và biển. Thực tế là các quốc gia có
chung biển, đặc biệt là các biển hẹp đã không tìm được cách phân định
đường biên giới biển một cách hòa bình và hợp lý. Trung Quốc đang nổi
lên như một đế quốc mới tại Biển Đông và Biển Hoa Đông. Trung Quốc đang
cố gắng sử dụng lý thuyết thềm lục địa từ phán quyết của vụ Biển Bắc để
tuyên bố chủ quyền đối với vùng lãnh thổ rộng lớn là Biển Đông và Biển
Hoa Đông với các tài liệu lịch sử mơ hồ và xa xôi của nền văn minh Trung
Quốc cổ đại đối với các quốc gia láng giềng. Các quốc gia đã không thể
hiện hoặc không thực hiện nỗ lực chia sẻ biển với các quốc gia láng
giềng. Chia sẻ các tài nguyên thiên nhiên và trách nhiệm bảo vệ biển và
bảo tồn nguồn tài nguyên biển là nguyên tắc chi phối trong chính sách
biển quốc tế. Điều đó sẽ mang lại hòa bình cho biển cả.
Các văn kiện hợp tác giữa ASEAN-Trung
Quốc là nguyên tắc dẫn lối cho hòa bình tại Biển Đông. Tinh thần của DOC
cần phải được khích lệ. Hiện tại vẫn đang thiếu điều đó.
Hạn chế và xóa bỏ thềm lục địa và vùng
đặc quyền kinh tế phải là nhiệm vụ của giới trí thức. Sứ mệnh của chúng
ta là bảo vệ các đại dương và các vùng biển và bảo tồn các nguồn tài
nguyên biển cho nhân loại. Các bài viết trên các tờ báo và tạp chí nên
tập trung thảo luận về môi trường biển và bảo tồn các nguồn tài nguyên
Trái đất là hành tinh duy nhất trong vũ trụ có biển và sự sống. Khai
thác và thăm dò các nguồn tài nguyên một cách vô trách nhiệm là điều
không thể dung thứ. Khai thác là một từ không đúng đắn trong khái niệm
vùng đặc quyền kinh tế, và không nên dùng trong khái niệm vùng đặc quyền
kinh tế. Cần phải cấm tuyệt chiến tranh hủy diệt hàng loạt trên biển,
bởi vì nó phá hủy đời sống của biển và đại dương. Cần trục xuất các tàu
hạt nhân, tàu ngầm hạt nhân ra khỏi biển. Công ước của Liên Hợp Quốc về
Luật Biển đưa ra khái niệm vùng đặc quyền kinh tế chính đáng, nhưng nó
đã bị lợi dụng hoặc suy diễn theo hướng trái với mục đích ban đầu. Chúng
ta cần bảo vệ thủy sản và tài nguyên thiên nhiên từ ven bờ cho đến biển
cả. Điều này nghe có vẻ không tưởng, đó là điều cần phải làm. Biển,
biên giới cuối cùng của Trái đất, cần phải được bảo vệ.
Các bài báo đăng trong tạp chí Marine
Policy mô tả các hoạt động đánh bắt cá trong những thập kỷ gần đây nhắm
mục tiêu vào các vùng biển cả không bị kiểm soát sau khi các nguồn cá
gần bờ bị đánh bắt quá mức. Elliott Norse, chủ tịch của Viện Bảo tồn
biển (Marine Conservation Institute) và chủ bút của bài báo, mô tả đại
dương và thế giới như “sa mạc nước”. Thế giới đã chuyển sang đánh bắt cá
ngoài khơi chỉ vì “tuyệt vọng” mà không nhận thức được rằng các đàn cá
cần rất nhiều thời gian để có thể phục hồi. Khai thác và đánh bắt cá
ngoài khơi đang làm suy giảm đời sống của biển, do đó, các nhà khoa học
kêu gọi chấm dứt việc khai thác mỏ và đánh cá tại biển khơi (Eilperin,
2011).
Karen Sack, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn
biển quốc tế thuộc Tập đoàn môi trường Pew (International Ocean
Conservation at Pew Environmental Group), cảnh báo việc phá hủy biển
khơi bằng trợ cấp đánh bắt cá của chính phủ. Bà kết luận: Chúng ta đang
chi hàng triệu đô la công quỹ để phá hỏng cảnh quan biển – cái mà phải
mất đến hàng thiên nhiên kỷ mới có thể hình thành. Chính phủ không chỉ
phải thừa nhận rằng đánh bắt cá ngoài khơi lãng phí tiền của của những
người phải chịu thuế mà việc phá hủy đời sống biển đặc thù để đánh bắt
một lượng tương đối nhỏ các loài cá chậm phát triển là một sự đầu tư tồi
tệ (theo Sack, 2011).
Biển Đông là mối quan tâm chính của tờ
báo và tạp chí chuyên ngành trong năm 2011. Tôi đã tìm thấy bài viết hay
nhất trên về Biển Đông trong cuốn sách của các học giả của trường đại
học Hawaii. Dưới đây là phát biểu đáng chú ý trong công trình của họ mà
nên được đưa thảo luận trong Hội thảo tới.
Việt Nam đã kiểm soát rất nhiều đảo ở
Trường Sa từ năm 1973. Philippines đã kiểm soát một số hòn đảo kể từ năm
1978. Malaysia bắt đầu kiểm soát phía năm của khu vực này vào năm 1983,
và Trung Quốc bắt đầu nỗ lực để chiếm các đảo vào năm 1988. Trong mỗi
trường hợp, các quốc gia khác đều thiết lập sự chiếm đóng. Kết quả của
việc này là một sự chồng chéo các khu vực chiếm đóng và một sự bế tắc
không dễ giải quyết. Mặc dù sự chiếm đóng này trong một số trường hợp có
thể là cơ sở cho một khẳng định chủ quyền hợp pháp, nhưng rõ ràng sẽ
thích hợp hơn nếu các quốc gia thương lượng một số giải pháp công bằng
cho các bế tắc (Valencia, cùng các đồng sự, 1997. Tr.40).
Việc thăm dò và thám hiểm biển của Chủ
nghĩa đế quốc phương Tây đã không tồn tại trong lịch sử châu Á, do đó,
phán quyết của Tòa án công lý quốc tế (ICJ) chỉ nên nằm ngoài lề và
không nên áp dụng đối với tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông.
Chúng tôi tin vào quy tắc xét xử chính là sự gần gũi về mặt địa lý và
đường trung tuyến giữa hai hay các quốc gia có chung một biển nhỏ hẹp.
Các quốc gia có chung Biển Đông và Biển Hoa Đông nên thảo ra Công ước
luật biển dành riêng cho Biển Đông và Biển Hoa Đông. Công ước của Liên
Hợp Quốc về Luật Biển, một sản phẩm biện minh cho chủ nghĩa đế quốc
phương Tây dựa trên quá trình thăm dò và khai thác của họ không nên là
yếu tố tham khảo cho các công ước của Châu Á.
Các bài trong Blog được collect từ nhiều nguồn & các bài viết trong blog này không thể hiện quan điểm của chủ BLog!
Tổng số lượt xem trang
Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2011
XAYABURI: CON CỜ DOMINO TRONG CHUỖI ĐẬP Ở KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG MÊ CÔNG
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ sáu, ngày 9/12/2011
(Đài RFA 4/12)
Nếu không trì hoán được ít nhất một thập niên, Xayaburi như con cờ Domino đầu tiên đổ xuống, sẽ kéo theo những bước khai thác ồ ạt các con đập hạ lưu khác và hậu quả tác hại trước mắt và lâu dài trên toàn hệ thống sinh thái của sông Mê Công và đồng bằng sông Cửu long là không thể lường trước được.
Lịch sử chuỗi đập ở hạ lưu sông Mê Công
Từ những năm 1940, các nhà xây đập Mỹ đã quan tâm tới tiềm năng thủy điện của con sông Mê Công. Năm 1957, giữa thời kỳ Chiến tranh lạnh, với sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc, một Ủy ban sông Mê Công thành lập bao gồm 4 nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam với văn phòng thường trực đặt tại Băng Cốc. Ủy ban sông Mê Công thời đó đã có một kế hoạch vĩ mô phát triển toàn diện nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân sống trong lưu vực, trong đó phải kể tới chuỗi những con đập thủy điện trên vùng hạ lưu sông Mê Công. Cho dù có một nửa chiều dài sông Mê công chảy qua Vân Nam nhưng Trung Quốc lúc đó còn là một quốc gia khép kín và đã không được nhắc tới.
Nhưng rồi, Chiến tranh Việt Nam đã lan rộng ra cả ba nước Đông Dương qua hơn ba thập niên, nên kế hoạch xây dựng các đập thủy điện lớn chắn ngang sông Mê Công vùng hạ lưu và các chương trình khai thác đã phải gián đoạn, khiến cho sông Mê Công còn giữ được sự nguyên vẹn thêm một thời gian nữa.
Ngày 5/4/1995, tại Chiang Rai của Thái Lan, bộ trưởng Noại giao Nguyễn Mạnh Cầm đại diện cho Việt Nam đặt bút ký tên trên bản “Hiệp ước hợp tác phát triển bền vững hạ lưu sông Mê Công” với một tên mới là Ủy hội sông Mê Công là không một quốc gia nào có quyền phủ quyết như quy định của Ủy ban sông Mê Công trước kia. Tác giả cũng đưa ra nhận định cách đây hơn một thập niên là Ủy hội sông Mê Công có thể được coi là một “biến thể và xuống cấp” so với Ủy ban sông Mê Công.
Sau đó những con đập hạ lưu từ thời Ủy ban sông Mê Công đã được các cơ quan tham vấn Canađa và Pháp tái đề xuất và được Ban Thư Ký sông Mê Công chấp thuận năm 1994. Nhưng rồi toàn thể các dự án ấy bị gác lại vì quá tốn kém và cả do mỗi e ngại về tác hại rộng lớn về môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới các cộng đồng cư dân ven sông.
Kể từ đầu năm 2006, các công ty Thái Lan, Malaixia và Trung Quốc lại được phép tiếp tục thực hiện những cuộc khảo sát về tính khả thi của những con đập thuộc hạ lưu sông Mê Công.
Thứ tự những dự án đập ấy từ Bắc xuống Nam: Đập Pak Beng, Lào 1320 MW; bảo trợ dự án: công ty Trung Quốc Datang Iternational Power Generation Co. Và chính phủ Lào. Đập Luang Prabang, Lào 1410 MW; bảo trợ bởi Petro Vietnam Power Co. Và chính phủ Lào. Đập Luang Prabang, Lào 1410 MW; bảo trợ bởi Petro vietnam Power Co. Và chính phủ Lào. Đập Xayaburi, 1260 MW, tỉnh Xayaburi, Lào; bảo trợ bởi công ty Thái Lan Ch. Karnchang và Chính phủ Lào. Đập Pak Lay, Lào, 1320 MW, tỉnh Xayaburi; bảo trợ bởi công ty Trung Quốc Sinohydro Co. Đập Xanakham, Lào. 1000 MW; bảo trợ bởi công ty Trung Quốc Datang International Power Generation Co. Đập Pak Chom, biên giới Lào – Thái Lan, 1079 MW. Đập Ban Koum, biên giới Lào – Thái Lan, 2230 MW, tỉnh Ubon Ratchathani: bảo trợ bởi Italian – Thai Development Co. Ltd và Asia Corp Holdings Ltd. Và chính Phủ Lào. Đập Lat Sua, lào, 800 MW; bảo trợ bởi Charoen Energy and Water Asia Co. Ltd./ Thái Lan và chính phủ Lào. Đập Don Sahong 360 MW, tỉnh Champasak, Lào: bảo trợ bởi công ty Malaixia Mega First Berhad Co. Đập Sambor, Campuchia; bảo trợ bởi công ty Trung Quốc China Southern Power Grid Co./CSGP.
Bắc Kinh đã sở hữu 14 con đập thuộc lưu vực trên ở Vân Nam trên, nay lại có mặt thêm 4 dự án thuộc vùng hạ lưu, Chính công ty Trung Quốc Datang Iternationnal Power Generation Co. đã có liên hệ trong công trình xây con đập Myitsone 6,000 MW ở Mianma trên sông Irrawaddy lớn nhất Đông Nam Á gây rất nhiều tranh cãi. Riêng Việt Nam là quốc gia ở cuối nguồn nhưng vì lợi ích, cũng bảo trợ cho dự án đập Luang Prabang 1.410 MW lớn hơn đập Xayaburi.
Xayaburi: con đập đầu tiên
Là con đập chính đầu tiên vùng hạ lưu sông Mê Công, cách thủ đô Viêng Chăn 350 km về phía Bắc, cách con đập Cảnh Hồng trong chuỗi đập bậc thềm Vân Nam của Trung Quốc 770 km và cách cố đô Luang Prabang 150 km về phía Nam. Xayaburi được coi là một trong số 300 con đập lớn của toàn cầu.
Xayaburi có chiều rộng 830m, cao 32m, với hồ chứa diện tích 49 km2. Phí tổn xây dựng đập là 3,5 tỉ USD với công xuất 1.260 MW, dự trù hoạt động vào năm 2019 với 95% lượng điện sản xuất sẽ được chuyển về tỉnh Loei của Thái Lan qua một đường dẫn dây cáp dài 200km. Tiềm năng hoạt động lâu dài của đập Xayaburi đang còn là một dấu hỏi lớn do lượng phù xa quá lớn bị giữ lại có thể mau chóng làm cạn hồ chứa.
Diễn tiến các bước triển khai dự án Xayaburi:
- tháng 5/2007, Chính phủ Lào ký kết với công ty Ch. Karchang Thái Lan để thực hiện dự án đập Xayaburi
- Tháng 11/2008, công ty AF Calenco Thụy Sĩ kết hợp với đoàn tham vấn Thái Lan khảo sát tình hình khả thi của con đập.
- Tháng 2/2010, bản tưởng trình đánh giá ảnh hưởng môi sinh (EIA) được đệ trình cho chính phủ Lào
- Tháng 7/2010, Chính phủ Lào chính thức ký kết hợp đồng bán điện từ đập Xayaburi cho Thái Lan qua công ty/Electricity Generating Authority of Thailand (EGAT).
- Tháng 4/2011, Ủy ban Liên hợp Ủy hội Mê Công ra thông cáo báo chí là các thành viên chưa đạt được một thỏa thuận để tiến hành dự án Xayaburi.
- Tháng 6/2011, chính phủ Lào đơn phương “bật đèn xanh” cho công ty Thái Lan Ch.Karnchang triển khai dự án.
Một khủng hoảng niềm tin trong nỗ lực hợp tác khu vực giữa các thành viên để bảo vệ hệ sinh thái của con sông Mê Công bắt đầu. theo nội dung của Hiệp định 1995 của Ủy hội sông Mê Công (MRC) tuy không một thành viên nào có quyền phủ quyết (như quy định của Ủy ban sông Mê Công trước kia) nhưng các dự án trên sông Mê Công cũng phải trải qua ba giai đoạn: (1) Thủ tục thông báo, (2) Tham vấn trước, (3) Thỏa thuận viết tắt là PNPCA. Có thể nói, Xayaburi thực sự là dự án đầu tiên phải trải qua tiến trình quyết định PNPCA trên quy mô khu vực.
Cũng nói thêm về những quy định và khung thời gian cho từng bước trong tiến trình PNPCA theo tinh thần Hiệp định Ủy hội sông Mê Công 1995: khi có một dự án sông Mê Công, quốc gia thành viên sẽ phải đệ trình và thông báo cho Ủy hội sông Mê Công để khởi đầu tiến trình PNPCA; (1) Ủy hội sông Mê Công đã được Chính phủ Lào thống báo chính thức về đề án Xayaburi từ tháng 9/2010. (2) bước thứ hai là Tham vấn trước. theo điều lệ 5.5.1 thì thời gian giành cho Tham vấn trước là 6 tháng kể từ ngày nhận được Thông báo. Nhưng cũng có thêm một điều khoản khác 5.5.2 là nếu các nước thành viên chưa đạt được đồng thuận thì khung thời gian 6 tháng có thể được Ủy ban Liên hợp Ủy hội sông Mê Công gia hạn thêm.
Chính phủ Lào cho rằng các tác động xuyên biên giới của đập Xayaburi đối với các quốc gia hạ lưu không chắc sẽ sảy ra nên cũng không thực tế và cần thiết khi yêu cầu kéo dài thời gian Tham vấn trước và cho dù có thêm thời gian lâu hơn nữa, thì cũng không thể nào thỏa mãn hết các mối quan tâm của mỗi thành viên. Viraphonh Viravong, trưởng phái đoàn Lào phát biểu : “Chúng tôi ghi nhận mọi ý kiến đóng góp, chúng tôi sẽ xem xét nhằm có thể đáp ứng tất cả những mối quan ngại”.
Phái đoàn đại diện Lào đã đưa ra cam kết: Sẽ tuân thủ những hướng dẫn thiết kế sơ khởi của Ban Thư Ký Ủy hội sông Mê Công, và sẽ thực hiện tối ưu theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng trên mọi khía cạnh như giao thông đường thủy, các đoàn cá di cư, lượng phù sa, chất lượng nước, hệ sinh thái nước và cả mức an toàn của con đập ở mức độ có thể chấp nhận được.
Nhưng các quốc gia thành viên khác như Việt Nam, Campuchia và cả Thái Lan thì vẫn bày tỏ mốii quan ngại về những khiếm khuyết kỹ thuật của dự án, chưa tiên liệu được ảnh hưởng ra sao đối với môi trường và đời sống của cộng đồng cư dân trong lưu vực; do đó cần có thêm những cuộc tham khảo rộng rãi trong dân chúng. Phái đoàn Việt Nam thì cho rằng thì chưa có những đánh giá thỏa đáng về những tác động tích lũy và xuyên biên giới trên vùng hạ lưu, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long. do đó thời gian 6 tháng là không đủ để các quốc gia ven sông có thể tiến hành những cuộc ngiên cứu toàn diện mang tính định lượng về những tác hại tích lũy có thể có từ con đập Xayaburi. Và Việt Nam đã đưa ra đề nghị hoãn dự án Xayaburi cùng với những dự án đập hạ lưu khác ít nhất 10 năm.
Phái đoàn Campuchia cũng cho rằng phải cần nhiều thời gian hơn nữa cho giai đoạn Tham vấn trước với các nước thành viên và cả với các cộng đồng cư dân sao cho có hiệu quả. Ngoài phần phát biểu về sự cần thiết phải có những cuộc nghiên cứu và đánh giá toàn diện về tác động đối với môi trường và ảnh hưởng tích lũy của con đập Xayaburi; điểm rất đặc biệt mà phía Campuchia nêu ra là “phần chia sẻ lợi nhuận” từ con đập đối với các quốc gia bị ảnh hưởng, cho vấn đề bảo vệ môi trường liên quốc gia cũng như lập những quỹ xã hội.
Phái đoàn Thái Lan, tuy cùng với lào hưởng lợi nguồn điện từ con đập Xayaburi, nhận định rằng đập thủy điện Xayaburi có tầm quan trọng trong kế hoạch phát triển của quốc gia Lào, nhưng đồng thời cũng gây mối quan ngại vê suy thoái môi trường với các vùng đất ngập và mất đi nguồn cá, và như vậy sẽ ảnh hưởng tới các cộng đồng cư dân sống ven sông Mê Công. Jatuporn Buruspat, Tổng giám đốc Vụ Tài nguyên nước Thái Lan đã có một phát biểu thể hiện mối quan tâm tới xã hội công dân Thái Lan: “Chúng tôi muốn biết quan điểm của dân chúng và đặc biệt chú ý tới những mối quan tâm của họ”.
Xayaburi là dự án đập được khởi động đầu tiên trong chuỗi 12 con đập hạ lưu trên dòng chính sông Mê Công, cũng là con đập thứ nhất nằm bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Theo đánh giá ban đầu thì sẽ có hơn 200.000 người trực tiếp bị ảnh hưởng vì con đập, trong đó 2.100 dân làng trên vùng xây đập bị cưỡng bức di dời và phải tái định cư. chứa kể tới ảnh hưởng đối với hàng chục triệu cư dân Lào, Campuchia và Việt Nam từ bấy lâu phụ thuộc vào nguồn nước, nguồn cá của sông Mê Công như mạch sống của họ.
Trước những bất trắc và thiệt hại hiển nhiên ấy, câu hỏi được đặt ra là ai đứng phía sau thúc đẩy dự án Xayaburi? Đó chính là thế lực tài phiệt và các công ty năng lượng Thái Lan. Thế lực tài chính thì gồm 4 ngân hàng lớn: Kasikorn Bank, Bangkok Bank, Krung Thai Bank và Siam Commercial Bank. Công ty xây đập là Thai Construction Company Ch. Karnchang. Khi con đập hoàn tất, thì 95% lượng điện sẽ chuyển về Thái Lan bán cho công ty EGAT.
Hãy cứu lấy sông Mê Công
Tháng 3/2011: quyết liệt nhất phải kể tới thỉnh nguyện thư của tổ chức SavetheMêCông.org gửi tới 2 Thủ tướng Lào và Thai Lan với yêu cầu “hủy bỏ” chữ không phải trì hoãn, toàn bộ dự án đập Xayaburi với mối quan ngại về sự hủy hoại hệ sinh thái trong vùng, và những tàn phá do đập Xayaburi gây ra sẽ là một tổn thất vĩnh viễn đối với nguồn sống của cư dân trong vùng và cũng là đối với một trong những con sông quý giá nhất của hành tinh này.
Nguồn cá phong phú của sông Mê Công chỉ đứng thứ hai sau sông Amazon, với hơn 1.000 chủng loại cá, và con đập Xayaburi sẽ ngăn chặn các đoàn cá di cư (hơn 23 chủng loại), đe dọa làm tuyệt chủng thêm 41 loại cá khác, trong đó phải kể tới cá Pla Beuk, cùng với cá Irrawaddy Dophin, được coi là chủng loại quan trọng biểu tượng cho sự lành mạnh của hệ sinh thái Mê Công. Ame Trandem, giám đốc Chương trình Đông Nam Á của tổ chức Mạng lưới sông quốc tế (IRN) có một nhận định tương tự: “Nếu đập Xayaburi được xây song, nó sẽ mở cửa cho hàng loạt những đập khác gây tổn hại không thể đảo ngược trên toàn hệ sinh thái của con sông”.
Tháng 4/2011: do sự phản đối rộng rãi của cư dân trong vùng hạ lưu sông Mê Công và các tổ chức môi sinh địa phương và quốc tế, các chính phủ trong vùng đã phải hoãn đi tới quyết định về con đập Xayaburi. Nhưng từ đó tới nay, Lào và công ty xây đập Thái Lan vẫn cứ âm thầm đơn phương cho tiến hành dự án. Bằng chứng là mới đây (19/9/2011), phóng viên tờ Bangkok Post trở lại hiện trường xây đập Xayaburi đã thấy rằng mọi trang thiết bị nặng kể cả những giàn máy đào xới vẫn liên tục hoạt động, với hơn 90% công trình làm con đường dẫn tới vùng xây đập đã hoàn tất. Viraphonh Viravong, Tổng giám đốc điện lực của nhà nước Lào, đã cố gắng giải thích và bào chữa cho sự kiện rất nghịch lý và như một sự vi phạm này: “Dĩ nhiên là chỉ khi nào công trình đập Xayaburi được khởi động, con đường dẫn mới được sử dụng. Bằng không thì mọi tiện nghi sẽ thuộc về chính quyền sở tại, giúp họ có đường xá đi tới những làng mạc thôn bản”.
Đánh giá môi sinh thiên lệch
Mới đây, vào tháng 5/2011, Chính phủ Lào đã lại thuê công ty Thụy Sĩ có tên là Poyry Energy AG thực hiện “chỉ trong vòng 3 tháng” một cuộc khảo sát đánh giá Ảnh hưởng Môi sinh (EIA) của con đập Xayaburi, như thêm một đáp ứng chiếu lệ theo yêu cầu của MRC, chuẩn bị cho bước “quyết định cấp vùng” nên hay không nên khởi công xây dựng con đập Xayaburi vào cuối năm nay.
Chỉ trong thời gian ngắn ngủi ấy, tuy phải đối đầu với bao nhiêu bất trắc, với những vẫn nạn chưa có câu trả lời nhưng Poyry đã đi tới ngay kết luận mang tính phỏng đoán rằng tác hại của con đập là không đáng kể trên cư dân Lào và các quốc gia kế cận và cho rằng Lào có thể tiến hành xây con đập. Poyry đã tự quảng cáo là một công ty tham vấn và kỹ thuật toàn cầu, với phẩm chất cao nhất đưa tới giải pháp toàn diện; có khả năng chuyên sâu trong các lĩnh vực năng lượng, kỹ nghệ, Thiết kế đô thị, nước và môi trường. Poyry có tới 7.000 chuyên viên với mạng lưới văn phòng trên 50 quốc gia. Trị giá cổ phiếu của công ty năm 2010 lên tới 682 triệu euro.
Lào chọn thuê Poyry do công ty này đã có một công trình liên hệ với các dự án đập trong vùng Hạ lưu sông Mê Công. Poyry cũng đã và đang có liên hệ với công ty xây đập Thái Lan Ch. Karnchang trong dự án đập Nam Ngum – 2 và cũng dễ hiểu là tại sao Poyry luôn luôn đưa ra những “đánh giá thuận lợi” cho người bạn đối tác làm ăn lâu dài của mình, cho dù có những bằng chứng hiển nhiên là trái ngược. Nam Ngum-2 là con đập thứ hai trên sông Nam Ngum, một phụ lưu chính của sông Mê Công, công suất 615 MW, cách đập Nam Ngum-1 35km về phía thượng nguồn, cũng do công ty Poyry đánh giá ảnh hưởng môi sinh và tính khả thi của con đập. Toàn thể lượng điện từ Nam Ngum-2 cũng sẽ được chuyển nhượng cho Thái Lan/EGAT.
Năm 1971, đập Nam Ngum-1 (1971 – 2011), Lào vẫn là đất một nước kém phát triển và nghèo nhất so với các quốc gia trong vùng. Chiến lược của Lào là sẽ trở thành một “nước Côoét thủy điện Đông Nam Á”. Nam Viyaketh, Bộ trưởng Công Thương của Chính phủ Lào tuyên bố: “Nếu mọi nguồn năng lượng được khai thác, Lào sẽ trở thành Bình Ácquy của Đông Nam Á, chúng tôi sẽ bán nguồn điện ấy cho các nước láng giềng và Lào sẽ trở nên giàu có”.
Nhưng còn rủi ro đối với sông mẹ – Mae Nam Khong – như mạch sống của người dân Lào thì vẫn là những ẩn số.
Xayaburi và hiệu ứng Domino
Hiệu ứng domino là một chuỗi phản ứng tiếp theo một biến động đầu tiên tạo nên những chuyển biến tương tự nơi vùng kế cận và cứ tiếp tục phản ứng như vậy theo chuỗi. Tượng hình là một chuỗi những con cờ domino, được xếp thẳng đững và khi quân cờ Domino đầu tiên bị đổ xuống sẽ tạo hiệu ứng sô ngã những con cờ tiếp theo và cứ tiếp tục một chuỗi phản ứng như vậy cho tới con cờ Domino cuối cùng.
Đập Xayaburi sẽ là quân cờ Domino đầu tiên ấy, nếu không trì hoãn ít nhất một thập niên tới năm 2020, theo như khuyến cáo của Ủy hội sông Mê Công, sẽ có hiệu ứng kéo theo những bước triển khai ồ ạt của chuỗi những con đập hạ lưu khác và hậu quả đối với hệ sinh thái sông Mê Công và đồng bằng sông Cửu Long phải nói là không lường trước được.
Làm gì trong mười năm tới 2010-2020?
Một năm qua đi kể từ ngày Ủy hội sông Mê Công ra khuyến cáo về đánh giá Môi trường Chiến lược 2010: sẽ không có con đập hạ lưu nào khởi công trong vòng 10 năm tới để có thêm thời gian cho những cuộc khảo sát nghiên cứu. Tiến sĩ Lê Đức Trung, trưởng đoàn Việt Nam trong thông cáo báo chí 14/4/2011, cũng chính thức đề nghị trì hoãn dự án Xayaburi và các dự án thủy điện khác trên dòng chính sông Mê Công ít nhất là 10 năm cho dù Chính phủ lào vẫn nhấn mạnh quá trình PNPCA đã hoàn chỉnh.
Mười năm (2010-2020) không phải là một thời gian dài cho một chiến lược môi sinh nhằm bảo vệ sông Mê Công và Đồng bằng sông Cửu Long. Cách đây gần một thập niên, khi viết về Đại học Cần Thơ, tác giả đã nhận định là không thể thụ động ngồi chờ nguồn thông tin do bên ngoài tùy tiện cung cấp mà vì lý do sống còn, chúng ta phải hết sức tích cực và trực tiếp đi tìm kiếm những gì mà chúng ta cần biết, đó là những dữ kiện khách quan. Điều đấy đòi hỏi cho một chiến lược bảo vệ môi sinh với tầm nhìn xa, với một đội ngũ chuyên viên không những có trình độ mà còn nhiệt huyết vối công việc chuyên môn của họ.
Tác giả sau đó cũng đưa ra những đề xuất, đến nay tuy đã hơn 10 năm nhưng vẫn còn nguyên tính thời sự và cấp bách đối với tình hình hiện tại. Đại học Cần Thơ từng được mệnh danh là ngọn hải đăng của đồng bằng sông Cửu Long, rất cần có phân khoa sông Mê Công như một tổ chức tư vấn chiến lược, một trung tâm nghiên cứu giảng dạy và là nguồn cung cấp chất xám. Ban tư vấn ngoài các cán bộ của nhà trường, sẽ bao gồm các chuyên gia của Ủy hội sông Mê Công, Ủy hội sông Mississippi, nhóm chuyên viên Tham vấn quốc tế bên cạnh MRC. Họ sẽ được mời như những Giáo sư thỉnh giảng. Tài liệu giảng của họ sẽ là nguồn thông tin vô cùng quý giá do từ những đúc kết qua thực tiễn. Chọn lọc tuyển sinh không phải chỉ chỉ có Việt Nam mà cả từ các quốc gia trong khu vực, hướng tới đào tạo các thạc sĩ khoa học được tiếp cập với thực tiễn bằng những chuyến du khảo qua các trọng điểm của con sông Mê Công, qua các con đập, và không thể thiếu một thời gian thực tập tại các cơ sở của Ủy hội sông Mê Công. Họ sẽ ra trường với một đồ án tốt nghiệp về những đề tài khác nhau liên quan tới sinh thái của con sông Mê Công.
Về phương diện chính quyền, cần thiết lập ngay một mạng lưới “Tùy viên Môi sinh” (Đã có những tùy viên quân sự, tùy viên văn hóa, tại sao không thể có tùy viên môi sinh) đặc trách sông Mê Công trong các đại sứ quán và lãnh sự quán tại các quốc gia trong lưu vực: như tòa lãnh sự Việt Nam ở Côn Minh của Vân Nam, bốn tòa đại sứ cử Việt Nam ở Mianma, Thái Lan, Lào và Campuchia. Họ sẽ là tai mắt, là những trạm quan sát sống cho phân khoa Sông Mê Công, Ủy ban sông Mê Công Việt Nam và bộ tài nguyên và môi trường.
Trong một cuộc phỏng vấn 2/10/2010 của Đài RFA, trả lời câu hỏi là chính phủ các nước hạ nguồn sông Mê Công cần phải làm gì để cứu vãn môi sinh và sinh kế cho toàn bộ dân cư trong khu vực hạ lưu? Kỹ sư Phạm Phan Long, thuộc Hội Sinh thái Việt đã phát biểu: ngoài quyết định ngưng xây đập Xayaburi và các con đập khác trên sông Mê Công cần thêm những biện pháp khác mà các nước hạ lưu có thể làm,bao gồm: thiết lập quỹ “Mê Công Fund” bảo vệ môi trường và cứu trợ hạn hán, lũ lụt; phục hồi rừng và thảm thực vật; phát triển nông ngư nghiệp, sống với hạn hán và sống với mặn như đã sống với phèn và sống với lũ; phát triển hoạt động kinh tế bớt dựa vào thiên nhiên sông hồ; trong 10 năm tới nghiên cứu thủy điện theo tiêu chuẩn quốc tế và cần có dung tích hồ chứa dành riêng cho ưu tiên chống lụt và giảm hạn.
đây cũng là quan điểm của phái đoàn Campuchia khi nói tới “chia sẻ lợi nhuận” từ các con đập như một sự đền bù cho những thiệt hại đối với cộng đồng cư dân ven sông. “Mê Công Fund” sẽ là một quỹ bảo hiểm cho mọi rủi ro cho dù lớn hay nhỏ, trong tiến trình khai thác nguồn tài nguyên từ sông Mê Công trong đó có tài nguyên nước và những con đập thủy điện. Một câu hỏi cấp thiết đặt ra cho Ủy ban sông Mê Công Việt Nam là làm sao để kịp thời đưa ra những tiêu chuẩn cơ bản, những thông số khoa học không phải chỉ riêng cho đập Xayaburi mà cho cả những con đập khác trong tiến trình PNPCA như (1) bảo đảm lưu lượng tối thiểu trong mùa khô hạn, (2) lưu lượng tối đa trong mùa lũ với con sông Tonle sáp chảy hai chiều, (3) bảo đảm nguồn cá và đường di chuyển của các đoàn cá di cư, (4) chất lượng nước và trữ lượng phù xa cho đồng bằng sông Cửu Long, (5) và quan trọng và sự cam kết tuân thủ cùng với những biện pháp theo dõi và chế tài khi bất cứ một thành viên nào vi phạm các tiêu chuẩn cơ bản ấy.
Cũng vẫn câu hỏi ấy, đặt ra cho Ủy ban sông Mê Công Việt Nam là: tiến trình PNPCA sẽ diễn tiến ra sao nếu đó là dự án đập Luang Prabang 1.410 MW của Petro Vietnam Power Co, thay vì là con đập Xayaburi với công ty Ch. Karnchang Thái Lan; tác giả có cho rằng Việt Nam cũng đang liều lĩnh đi trên những tảng băng mỏng, và với tiêu chuẩn nước đôi, Việt Nam sẽ không dễ giàng gì để có những câu trả lời thuyết phục và thỏa đáng./.
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ sáu, ngày 9/12/2011
(Đài RFA 4/12)
Nếu không trì hoán được ít nhất một thập niên, Xayaburi như con cờ Domino đầu tiên đổ xuống, sẽ kéo theo những bước khai thác ồ ạt các con đập hạ lưu khác và hậu quả tác hại trước mắt và lâu dài trên toàn hệ thống sinh thái của sông Mê Công và đồng bằng sông Cửu long là không thể lường trước được.
Lịch sử chuỗi đập ở hạ lưu sông Mê Công
Từ những năm 1940, các nhà xây đập Mỹ đã quan tâm tới tiềm năng thủy điện của con sông Mê Công. Năm 1957, giữa thời kỳ Chiến tranh lạnh, với sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc, một Ủy ban sông Mê Công thành lập bao gồm 4 nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam với văn phòng thường trực đặt tại Băng Cốc. Ủy ban sông Mê Công thời đó đã có một kế hoạch vĩ mô phát triển toàn diện nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân sống trong lưu vực, trong đó phải kể tới chuỗi những con đập thủy điện trên vùng hạ lưu sông Mê Công. Cho dù có một nửa chiều dài sông Mê công chảy qua Vân Nam nhưng Trung Quốc lúc đó còn là một quốc gia khép kín và đã không được nhắc tới.
Nhưng rồi, Chiến tranh Việt Nam đã lan rộng ra cả ba nước Đông Dương qua hơn ba thập niên, nên kế hoạch xây dựng các đập thủy điện lớn chắn ngang sông Mê Công vùng hạ lưu và các chương trình khai thác đã phải gián đoạn, khiến cho sông Mê Công còn giữ được sự nguyên vẹn thêm một thời gian nữa.
Ngày 5/4/1995, tại Chiang Rai của Thái Lan, bộ trưởng Noại giao Nguyễn Mạnh Cầm đại diện cho Việt Nam đặt bút ký tên trên bản “Hiệp ước hợp tác phát triển bền vững hạ lưu sông Mê Công” với một tên mới là Ủy hội sông Mê Công là không một quốc gia nào có quyền phủ quyết như quy định của Ủy ban sông Mê Công trước kia. Tác giả cũng đưa ra nhận định cách đây hơn một thập niên là Ủy hội sông Mê Công có thể được coi là một “biến thể và xuống cấp” so với Ủy ban sông Mê Công.
Sau đó những con đập hạ lưu từ thời Ủy ban sông Mê Công đã được các cơ quan tham vấn Canađa và Pháp tái đề xuất và được Ban Thư Ký sông Mê Công chấp thuận năm 1994. Nhưng rồi toàn thể các dự án ấy bị gác lại vì quá tốn kém và cả do mỗi e ngại về tác hại rộng lớn về môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới các cộng đồng cư dân ven sông.
Kể từ đầu năm 2006, các công ty Thái Lan, Malaixia và Trung Quốc lại được phép tiếp tục thực hiện những cuộc khảo sát về tính khả thi của những con đập thuộc hạ lưu sông Mê Công.
Thứ tự những dự án đập ấy từ Bắc xuống Nam: Đập Pak Beng, Lào 1320 MW; bảo trợ dự án: công ty Trung Quốc Datang Iternational Power Generation Co. Và chính phủ Lào. Đập Luang Prabang, Lào 1410 MW; bảo trợ bởi Petro Vietnam Power Co. Và chính phủ Lào. Đập Luang Prabang, Lào 1410 MW; bảo trợ bởi Petro vietnam Power Co. Và chính phủ Lào. Đập Xayaburi, 1260 MW, tỉnh Xayaburi, Lào; bảo trợ bởi công ty Thái Lan Ch. Karnchang và Chính phủ Lào. Đập Pak Lay, Lào, 1320 MW, tỉnh Xayaburi; bảo trợ bởi công ty Trung Quốc Sinohydro Co. Đập Xanakham, Lào. 1000 MW; bảo trợ bởi công ty Trung Quốc Datang International Power Generation Co. Đập Pak Chom, biên giới Lào – Thái Lan, 1079 MW. Đập Ban Koum, biên giới Lào – Thái Lan, 2230 MW, tỉnh Ubon Ratchathani: bảo trợ bởi Italian – Thai Development Co. Ltd và Asia Corp Holdings Ltd. Và chính Phủ Lào. Đập Lat Sua, lào, 800 MW; bảo trợ bởi Charoen Energy and Water Asia Co. Ltd./ Thái Lan và chính phủ Lào. Đập Don Sahong 360 MW, tỉnh Champasak, Lào: bảo trợ bởi công ty Malaixia Mega First Berhad Co. Đập Sambor, Campuchia; bảo trợ bởi công ty Trung Quốc China Southern Power Grid Co./CSGP.
Bắc Kinh đã sở hữu 14 con đập thuộc lưu vực trên ở Vân Nam trên, nay lại có mặt thêm 4 dự án thuộc vùng hạ lưu, Chính công ty Trung Quốc Datang Iternationnal Power Generation Co. đã có liên hệ trong công trình xây con đập Myitsone 6,000 MW ở Mianma trên sông Irrawaddy lớn nhất Đông Nam Á gây rất nhiều tranh cãi. Riêng Việt Nam là quốc gia ở cuối nguồn nhưng vì lợi ích, cũng bảo trợ cho dự án đập Luang Prabang 1.410 MW lớn hơn đập Xayaburi.
Xayaburi: con đập đầu tiên
Là con đập chính đầu tiên vùng hạ lưu sông Mê Công, cách thủ đô Viêng Chăn 350 km về phía Bắc, cách con đập Cảnh Hồng trong chuỗi đập bậc thềm Vân Nam của Trung Quốc 770 km và cách cố đô Luang Prabang 150 km về phía Nam. Xayaburi được coi là một trong số 300 con đập lớn của toàn cầu.
Xayaburi có chiều rộng 830m, cao 32m, với hồ chứa diện tích 49 km2. Phí tổn xây dựng đập là 3,5 tỉ USD với công xuất 1.260 MW, dự trù hoạt động vào năm 2019 với 95% lượng điện sản xuất sẽ được chuyển về tỉnh Loei của Thái Lan qua một đường dẫn dây cáp dài 200km. Tiềm năng hoạt động lâu dài của đập Xayaburi đang còn là một dấu hỏi lớn do lượng phù xa quá lớn bị giữ lại có thể mau chóng làm cạn hồ chứa.
Diễn tiến các bước triển khai dự án Xayaburi:
- tháng 5/2007, Chính phủ Lào ký kết với công ty Ch. Karchang Thái Lan để thực hiện dự án đập Xayaburi
- Tháng 11/2008, công ty AF Calenco Thụy Sĩ kết hợp với đoàn tham vấn Thái Lan khảo sát tình hình khả thi của con đập.
- Tháng 2/2010, bản tưởng trình đánh giá ảnh hưởng môi sinh (EIA) được đệ trình cho chính phủ Lào
- Tháng 7/2010, Chính phủ Lào chính thức ký kết hợp đồng bán điện từ đập Xayaburi cho Thái Lan qua công ty/Electricity Generating Authority of Thailand (EGAT).
- Tháng 4/2011, Ủy ban Liên hợp Ủy hội Mê Công ra thông cáo báo chí là các thành viên chưa đạt được một thỏa thuận để tiến hành dự án Xayaburi.
- Tháng 6/2011, chính phủ Lào đơn phương “bật đèn xanh” cho công ty Thái Lan Ch.Karnchang triển khai dự án.
Một khủng hoảng niềm tin trong nỗ lực hợp tác khu vực giữa các thành viên để bảo vệ hệ sinh thái của con sông Mê Công bắt đầu. theo nội dung của Hiệp định 1995 của Ủy hội sông Mê Công (MRC) tuy không một thành viên nào có quyền phủ quyết (như quy định của Ủy ban sông Mê Công trước kia) nhưng các dự án trên sông Mê Công cũng phải trải qua ba giai đoạn: (1) Thủ tục thông báo, (2) Tham vấn trước, (3) Thỏa thuận viết tắt là PNPCA. Có thể nói, Xayaburi thực sự là dự án đầu tiên phải trải qua tiến trình quyết định PNPCA trên quy mô khu vực.
Cũng nói thêm về những quy định và khung thời gian cho từng bước trong tiến trình PNPCA theo tinh thần Hiệp định Ủy hội sông Mê Công 1995: khi có một dự án sông Mê Công, quốc gia thành viên sẽ phải đệ trình và thông báo cho Ủy hội sông Mê Công để khởi đầu tiến trình PNPCA; (1) Ủy hội sông Mê Công đã được Chính phủ Lào thống báo chính thức về đề án Xayaburi từ tháng 9/2010. (2) bước thứ hai là Tham vấn trước. theo điều lệ 5.5.1 thì thời gian giành cho Tham vấn trước là 6 tháng kể từ ngày nhận được Thông báo. Nhưng cũng có thêm một điều khoản khác 5.5.2 là nếu các nước thành viên chưa đạt được đồng thuận thì khung thời gian 6 tháng có thể được Ủy ban Liên hợp Ủy hội sông Mê Công gia hạn thêm.
Chính phủ Lào cho rằng các tác động xuyên biên giới của đập Xayaburi đối với các quốc gia hạ lưu không chắc sẽ sảy ra nên cũng không thực tế và cần thiết khi yêu cầu kéo dài thời gian Tham vấn trước và cho dù có thêm thời gian lâu hơn nữa, thì cũng không thể nào thỏa mãn hết các mối quan tâm của mỗi thành viên. Viraphonh Viravong, trưởng phái đoàn Lào phát biểu : “Chúng tôi ghi nhận mọi ý kiến đóng góp, chúng tôi sẽ xem xét nhằm có thể đáp ứng tất cả những mối quan ngại”.
Phái đoàn đại diện Lào đã đưa ra cam kết: Sẽ tuân thủ những hướng dẫn thiết kế sơ khởi của Ban Thư Ký Ủy hội sông Mê Công, và sẽ thực hiện tối ưu theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng trên mọi khía cạnh như giao thông đường thủy, các đoàn cá di cư, lượng phù sa, chất lượng nước, hệ sinh thái nước và cả mức an toàn của con đập ở mức độ có thể chấp nhận được.
Nhưng các quốc gia thành viên khác như Việt Nam, Campuchia và cả Thái Lan thì vẫn bày tỏ mốii quan ngại về những khiếm khuyết kỹ thuật của dự án, chưa tiên liệu được ảnh hưởng ra sao đối với môi trường và đời sống của cộng đồng cư dân trong lưu vực; do đó cần có thêm những cuộc tham khảo rộng rãi trong dân chúng. Phái đoàn Việt Nam thì cho rằng thì chưa có những đánh giá thỏa đáng về những tác động tích lũy và xuyên biên giới trên vùng hạ lưu, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long. do đó thời gian 6 tháng là không đủ để các quốc gia ven sông có thể tiến hành những cuộc ngiên cứu toàn diện mang tính định lượng về những tác hại tích lũy có thể có từ con đập Xayaburi. Và Việt Nam đã đưa ra đề nghị hoãn dự án Xayaburi cùng với những dự án đập hạ lưu khác ít nhất 10 năm.
Phái đoàn Campuchia cũng cho rằng phải cần nhiều thời gian hơn nữa cho giai đoạn Tham vấn trước với các nước thành viên và cả với các cộng đồng cư dân sao cho có hiệu quả. Ngoài phần phát biểu về sự cần thiết phải có những cuộc nghiên cứu và đánh giá toàn diện về tác động đối với môi trường và ảnh hưởng tích lũy của con đập Xayaburi; điểm rất đặc biệt mà phía Campuchia nêu ra là “phần chia sẻ lợi nhuận” từ con đập đối với các quốc gia bị ảnh hưởng, cho vấn đề bảo vệ môi trường liên quốc gia cũng như lập những quỹ xã hội.
Phái đoàn Thái Lan, tuy cùng với lào hưởng lợi nguồn điện từ con đập Xayaburi, nhận định rằng đập thủy điện Xayaburi có tầm quan trọng trong kế hoạch phát triển của quốc gia Lào, nhưng đồng thời cũng gây mối quan ngại vê suy thoái môi trường với các vùng đất ngập và mất đi nguồn cá, và như vậy sẽ ảnh hưởng tới các cộng đồng cư dân sống ven sông Mê Công. Jatuporn Buruspat, Tổng giám đốc Vụ Tài nguyên nước Thái Lan đã có một phát biểu thể hiện mối quan tâm tới xã hội công dân Thái Lan: “Chúng tôi muốn biết quan điểm của dân chúng và đặc biệt chú ý tới những mối quan tâm của họ”.
Xayaburi là dự án đập được khởi động đầu tiên trong chuỗi 12 con đập hạ lưu trên dòng chính sông Mê Công, cũng là con đập thứ nhất nằm bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Theo đánh giá ban đầu thì sẽ có hơn 200.000 người trực tiếp bị ảnh hưởng vì con đập, trong đó 2.100 dân làng trên vùng xây đập bị cưỡng bức di dời và phải tái định cư. chứa kể tới ảnh hưởng đối với hàng chục triệu cư dân Lào, Campuchia và Việt Nam từ bấy lâu phụ thuộc vào nguồn nước, nguồn cá của sông Mê Công như mạch sống của họ.
Trước những bất trắc và thiệt hại hiển nhiên ấy, câu hỏi được đặt ra là ai đứng phía sau thúc đẩy dự án Xayaburi? Đó chính là thế lực tài phiệt và các công ty năng lượng Thái Lan. Thế lực tài chính thì gồm 4 ngân hàng lớn: Kasikorn Bank, Bangkok Bank, Krung Thai Bank và Siam Commercial Bank. Công ty xây đập là Thai Construction Company Ch. Karnchang. Khi con đập hoàn tất, thì 95% lượng điện sẽ chuyển về Thái Lan bán cho công ty EGAT.
Hãy cứu lấy sông Mê Công
Tháng 3/2011: quyết liệt nhất phải kể tới thỉnh nguyện thư của tổ chức SavetheMêCông.org gửi tới 2 Thủ tướng Lào và Thai Lan với yêu cầu “hủy bỏ” chữ không phải trì hoãn, toàn bộ dự án đập Xayaburi với mối quan ngại về sự hủy hoại hệ sinh thái trong vùng, và những tàn phá do đập Xayaburi gây ra sẽ là một tổn thất vĩnh viễn đối với nguồn sống của cư dân trong vùng và cũng là đối với một trong những con sông quý giá nhất của hành tinh này.
Nguồn cá phong phú của sông Mê Công chỉ đứng thứ hai sau sông Amazon, với hơn 1.000 chủng loại cá, và con đập Xayaburi sẽ ngăn chặn các đoàn cá di cư (hơn 23 chủng loại), đe dọa làm tuyệt chủng thêm 41 loại cá khác, trong đó phải kể tới cá Pla Beuk, cùng với cá Irrawaddy Dophin, được coi là chủng loại quan trọng biểu tượng cho sự lành mạnh của hệ sinh thái Mê Công. Ame Trandem, giám đốc Chương trình Đông Nam Á của tổ chức Mạng lưới sông quốc tế (IRN) có một nhận định tương tự: “Nếu đập Xayaburi được xây song, nó sẽ mở cửa cho hàng loạt những đập khác gây tổn hại không thể đảo ngược trên toàn hệ sinh thái của con sông”.
Tháng 4/2011: do sự phản đối rộng rãi của cư dân trong vùng hạ lưu sông Mê Công và các tổ chức môi sinh địa phương và quốc tế, các chính phủ trong vùng đã phải hoãn đi tới quyết định về con đập Xayaburi. Nhưng từ đó tới nay, Lào và công ty xây đập Thái Lan vẫn cứ âm thầm đơn phương cho tiến hành dự án. Bằng chứng là mới đây (19/9/2011), phóng viên tờ Bangkok Post trở lại hiện trường xây đập Xayaburi đã thấy rằng mọi trang thiết bị nặng kể cả những giàn máy đào xới vẫn liên tục hoạt động, với hơn 90% công trình làm con đường dẫn tới vùng xây đập đã hoàn tất. Viraphonh Viravong, Tổng giám đốc điện lực của nhà nước Lào, đã cố gắng giải thích và bào chữa cho sự kiện rất nghịch lý và như một sự vi phạm này: “Dĩ nhiên là chỉ khi nào công trình đập Xayaburi được khởi động, con đường dẫn mới được sử dụng. Bằng không thì mọi tiện nghi sẽ thuộc về chính quyền sở tại, giúp họ có đường xá đi tới những làng mạc thôn bản”.
Đánh giá môi sinh thiên lệch
Mới đây, vào tháng 5/2011, Chính phủ Lào đã lại thuê công ty Thụy Sĩ có tên là Poyry Energy AG thực hiện “chỉ trong vòng 3 tháng” một cuộc khảo sát đánh giá Ảnh hưởng Môi sinh (EIA) của con đập Xayaburi, như thêm một đáp ứng chiếu lệ theo yêu cầu của MRC, chuẩn bị cho bước “quyết định cấp vùng” nên hay không nên khởi công xây dựng con đập Xayaburi vào cuối năm nay.
Chỉ trong thời gian ngắn ngủi ấy, tuy phải đối đầu với bao nhiêu bất trắc, với những vẫn nạn chưa có câu trả lời nhưng Poyry đã đi tới ngay kết luận mang tính phỏng đoán rằng tác hại của con đập là không đáng kể trên cư dân Lào và các quốc gia kế cận và cho rằng Lào có thể tiến hành xây con đập. Poyry đã tự quảng cáo là một công ty tham vấn và kỹ thuật toàn cầu, với phẩm chất cao nhất đưa tới giải pháp toàn diện; có khả năng chuyên sâu trong các lĩnh vực năng lượng, kỹ nghệ, Thiết kế đô thị, nước và môi trường. Poyry có tới 7.000 chuyên viên với mạng lưới văn phòng trên 50 quốc gia. Trị giá cổ phiếu của công ty năm 2010 lên tới 682 triệu euro.
Lào chọn thuê Poyry do công ty này đã có một công trình liên hệ với các dự án đập trong vùng Hạ lưu sông Mê Công. Poyry cũng đã và đang có liên hệ với công ty xây đập Thái Lan Ch. Karnchang trong dự án đập Nam Ngum – 2 và cũng dễ hiểu là tại sao Poyry luôn luôn đưa ra những “đánh giá thuận lợi” cho người bạn đối tác làm ăn lâu dài của mình, cho dù có những bằng chứng hiển nhiên là trái ngược. Nam Ngum-2 là con đập thứ hai trên sông Nam Ngum, một phụ lưu chính của sông Mê Công, công suất 615 MW, cách đập Nam Ngum-1 35km về phía thượng nguồn, cũng do công ty Poyry đánh giá ảnh hưởng môi sinh và tính khả thi của con đập. Toàn thể lượng điện từ Nam Ngum-2 cũng sẽ được chuyển nhượng cho Thái Lan/EGAT.
Năm 1971, đập Nam Ngum-1 (1971 – 2011), Lào vẫn là đất một nước kém phát triển và nghèo nhất so với các quốc gia trong vùng. Chiến lược của Lào là sẽ trở thành một “nước Côoét thủy điện Đông Nam Á”. Nam Viyaketh, Bộ trưởng Công Thương của Chính phủ Lào tuyên bố: “Nếu mọi nguồn năng lượng được khai thác, Lào sẽ trở thành Bình Ácquy của Đông Nam Á, chúng tôi sẽ bán nguồn điện ấy cho các nước láng giềng và Lào sẽ trở nên giàu có”.
Nhưng còn rủi ro đối với sông mẹ – Mae Nam Khong – như mạch sống của người dân Lào thì vẫn là những ẩn số.
Xayaburi và hiệu ứng Domino
Hiệu ứng domino là một chuỗi phản ứng tiếp theo một biến động đầu tiên tạo nên những chuyển biến tương tự nơi vùng kế cận và cứ tiếp tục phản ứng như vậy theo chuỗi. Tượng hình là một chuỗi những con cờ domino, được xếp thẳng đững và khi quân cờ Domino đầu tiên bị đổ xuống sẽ tạo hiệu ứng sô ngã những con cờ tiếp theo và cứ tiếp tục một chuỗi phản ứng như vậy cho tới con cờ Domino cuối cùng.
Đập Xayaburi sẽ là quân cờ Domino đầu tiên ấy, nếu không trì hoãn ít nhất một thập niên tới năm 2020, theo như khuyến cáo của Ủy hội sông Mê Công, sẽ có hiệu ứng kéo theo những bước triển khai ồ ạt của chuỗi những con đập hạ lưu khác và hậu quả đối với hệ sinh thái sông Mê Công và đồng bằng sông Cửu Long phải nói là không lường trước được.
Làm gì trong mười năm tới 2010-2020?
Một năm qua đi kể từ ngày Ủy hội sông Mê Công ra khuyến cáo về đánh giá Môi trường Chiến lược 2010: sẽ không có con đập hạ lưu nào khởi công trong vòng 10 năm tới để có thêm thời gian cho những cuộc khảo sát nghiên cứu. Tiến sĩ Lê Đức Trung, trưởng đoàn Việt Nam trong thông cáo báo chí 14/4/2011, cũng chính thức đề nghị trì hoãn dự án Xayaburi và các dự án thủy điện khác trên dòng chính sông Mê Công ít nhất là 10 năm cho dù Chính phủ lào vẫn nhấn mạnh quá trình PNPCA đã hoàn chỉnh.
Mười năm (2010-2020) không phải là một thời gian dài cho một chiến lược môi sinh nhằm bảo vệ sông Mê Công và Đồng bằng sông Cửu Long. Cách đây gần một thập niên, khi viết về Đại học Cần Thơ, tác giả đã nhận định là không thể thụ động ngồi chờ nguồn thông tin do bên ngoài tùy tiện cung cấp mà vì lý do sống còn, chúng ta phải hết sức tích cực và trực tiếp đi tìm kiếm những gì mà chúng ta cần biết, đó là những dữ kiện khách quan. Điều đấy đòi hỏi cho một chiến lược bảo vệ môi sinh với tầm nhìn xa, với một đội ngũ chuyên viên không những có trình độ mà còn nhiệt huyết vối công việc chuyên môn của họ.
Tác giả sau đó cũng đưa ra những đề xuất, đến nay tuy đã hơn 10 năm nhưng vẫn còn nguyên tính thời sự và cấp bách đối với tình hình hiện tại. Đại học Cần Thơ từng được mệnh danh là ngọn hải đăng của đồng bằng sông Cửu Long, rất cần có phân khoa sông Mê Công như một tổ chức tư vấn chiến lược, một trung tâm nghiên cứu giảng dạy và là nguồn cung cấp chất xám. Ban tư vấn ngoài các cán bộ của nhà trường, sẽ bao gồm các chuyên gia của Ủy hội sông Mê Công, Ủy hội sông Mississippi, nhóm chuyên viên Tham vấn quốc tế bên cạnh MRC. Họ sẽ được mời như những Giáo sư thỉnh giảng. Tài liệu giảng của họ sẽ là nguồn thông tin vô cùng quý giá do từ những đúc kết qua thực tiễn. Chọn lọc tuyển sinh không phải chỉ chỉ có Việt Nam mà cả từ các quốc gia trong khu vực, hướng tới đào tạo các thạc sĩ khoa học được tiếp cập với thực tiễn bằng những chuyến du khảo qua các trọng điểm của con sông Mê Công, qua các con đập, và không thể thiếu một thời gian thực tập tại các cơ sở của Ủy hội sông Mê Công. Họ sẽ ra trường với một đồ án tốt nghiệp về những đề tài khác nhau liên quan tới sinh thái của con sông Mê Công.
Về phương diện chính quyền, cần thiết lập ngay một mạng lưới “Tùy viên Môi sinh” (Đã có những tùy viên quân sự, tùy viên văn hóa, tại sao không thể có tùy viên môi sinh) đặc trách sông Mê Công trong các đại sứ quán và lãnh sự quán tại các quốc gia trong lưu vực: như tòa lãnh sự Việt Nam ở Côn Minh của Vân Nam, bốn tòa đại sứ cử Việt Nam ở Mianma, Thái Lan, Lào và Campuchia. Họ sẽ là tai mắt, là những trạm quan sát sống cho phân khoa Sông Mê Công, Ủy ban sông Mê Công Việt Nam và bộ tài nguyên và môi trường.
Trong một cuộc phỏng vấn 2/10/2010 của Đài RFA, trả lời câu hỏi là chính phủ các nước hạ nguồn sông Mê Công cần phải làm gì để cứu vãn môi sinh và sinh kế cho toàn bộ dân cư trong khu vực hạ lưu? Kỹ sư Phạm Phan Long, thuộc Hội Sinh thái Việt đã phát biểu: ngoài quyết định ngưng xây đập Xayaburi và các con đập khác trên sông Mê Công cần thêm những biện pháp khác mà các nước hạ lưu có thể làm,bao gồm: thiết lập quỹ “Mê Công Fund” bảo vệ môi trường và cứu trợ hạn hán, lũ lụt; phục hồi rừng và thảm thực vật; phát triển nông ngư nghiệp, sống với hạn hán và sống với mặn như đã sống với phèn và sống với lũ; phát triển hoạt động kinh tế bớt dựa vào thiên nhiên sông hồ; trong 10 năm tới nghiên cứu thủy điện theo tiêu chuẩn quốc tế và cần có dung tích hồ chứa dành riêng cho ưu tiên chống lụt và giảm hạn.
đây cũng là quan điểm của phái đoàn Campuchia khi nói tới “chia sẻ lợi nhuận” từ các con đập như một sự đền bù cho những thiệt hại đối với cộng đồng cư dân ven sông. “Mê Công Fund” sẽ là một quỹ bảo hiểm cho mọi rủi ro cho dù lớn hay nhỏ, trong tiến trình khai thác nguồn tài nguyên từ sông Mê Công trong đó có tài nguyên nước và những con đập thủy điện. Một câu hỏi cấp thiết đặt ra cho Ủy ban sông Mê Công Việt Nam là làm sao để kịp thời đưa ra những tiêu chuẩn cơ bản, những thông số khoa học không phải chỉ riêng cho đập Xayaburi mà cho cả những con đập khác trong tiến trình PNPCA như (1) bảo đảm lưu lượng tối thiểu trong mùa khô hạn, (2) lưu lượng tối đa trong mùa lũ với con sông Tonle sáp chảy hai chiều, (3) bảo đảm nguồn cá và đường di chuyển của các đoàn cá di cư, (4) chất lượng nước và trữ lượng phù xa cho đồng bằng sông Cửu Long, (5) và quan trọng và sự cam kết tuân thủ cùng với những biện pháp theo dõi và chế tài khi bất cứ một thành viên nào vi phạm các tiêu chuẩn cơ bản ấy.
Cũng vẫn câu hỏi ấy, đặt ra cho Ủy ban sông Mê Công Việt Nam là: tiến trình PNPCA sẽ diễn tiến ra sao nếu đó là dự án đập Luang Prabang 1.410 MW của Petro Vietnam Power Co, thay vì là con đập Xayaburi với công ty Ch. Karnchang Thái Lan; tác giả có cho rằng Việt Nam cũng đang liều lĩnh đi trên những tảng băng mỏng, và với tiêu chuẩn nước đôi, Việt Nam sẽ không dễ giàng gì để có những câu trả lời thuyết phục và thỏa đáng./.
Đôi lời: Nhân kỷ niệm 4 năm nổ ra các cuộc biểu tình tự phát đầu tiên của quần chúng tại hai thành phố Hà Nội và HCM chống Trung Quốc xâm phạm chủ
quyền Hoàng Sa-Trường Sa, B S xin đăng lại một bài báo hiếm hoi cùng lời
bình của BS khi đó. Bài viết thể hiện lòng yêu nước, chống bá quyền Bắc
Kinh, nhưng lại phải chịu sức ép ghê gớm từ những cá nhân nắm quyền
sinh sát trong các cơ quan quản lý báo chí và cả Bộ Ngoại giao. Chỉ tới
khi có ý kiến của ông cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh, tác giả bài viết và
ông Tổng biên tập mới tạm tai qua nạn khỏi.Và một hiếm hoi khác. Một tuần sau, trên tờ Sài Gòn Giải phóng của đảng tại TPHCM, một tiểu phẩm biếm ám chỉ những hành động bán nước, bán chủ quyền quốc gia và đủ thứ cũng lặng lẽ được lên trang. Mời đọc bản sao chụp bài báo được đăng lại trên blog BS khi đó.
———-
Tin vắn từ Thông-tấn-xã-Vỉa-hè
Chống Ngoại xâm: định cách chức vì bài báo yêu nước.Chống Nội xâm: đổ Tàu E1, thối PMU18, nát Đề án 112, sập Cầu Cần Thơ v.v.. cách chức ai không ?!
———————————————————————————————————————————————
Bài (gồm cả hai bức ảnh) đăng trên VietNamNet ngày 10/12/2007
nhưng sau khoảng sáu tiếng đồng hồ thì bị rút xuống
nhưng sau khoảng sáu tiếng đồng hồ thì bị rút xuống
VietNamNet
Sức mạnh đồng thuận Việt Nam: Nhìn từ Hoàng Sa -Trường Sa
10/12/2007 12:41 (GMT + 7)
Cho dù nhiều giá trị có thể bị lẫn lộn, nhiều đường biên quốc gia mờ nhoà trong thời toàn cầu hoá thì lòng yêu nước sẽ và mãi là những giá trị trường tồn. Và mỗi khi chủ quyền dân tộc, sự toàn vẹn lãnh thổ đất nước bị xâm phạm, là lúc những người Việt, trong và ngoài nước, ở mọi thành phần, mọi lứa tuổi, bằng cách này hay cách khác đã lên tiếng!
Tình yêu nước và ý thức dân tộc không phải của riêng ai. Và mỗi người, khi mang trong mình dòng máu Việt, đã chọn cách không im lặng.
Trong hàng nghìn lá thư của độc giả trong và ngoài nước gửi về Tuần Việt Nam – VietNamNet những ngày qua, kể từ khi sự kiện Hoàng Sa – Trường Sa xảy ra, thấy gì?
Trên các diễn đàn mạng tràn ngập cờ Tổ quốc và những bài viết về Trường Sa, Hoàng Sa của cộng động mạng Việt Nam, thấy gì?
Trong cuộc biểu tình hoà bình của người dân hôm qua (8/12), thấy gì?
Đó là lòng yêu nước cháy bỏng, sục sôi trong từng lời từng chữ. Là nỗi đau đớn khi chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc bị xâm phạm. Là sự đau đáu đến vận mệnh đất nước, ở ngay những người trẻ, mà những tưởng cuộc sống bộn bề lo toan và đề cao hưởng thụ cá nhân này đã làm phai nhoà.
Và sau mỗi dòng thư, đó còn là lời khẳng định ý sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc.
Không cần một lời hiệu triệu. Cũng chẳng cần những sự hô hào. Bạn và tôi, bất kể quá khứ hay chính kiến khác nhau, đã cùng nhìn về một hướng. Để nói lên rằng: Tình yêu với đất nước này, dân tộc này, ngôn ngữ này là vĩnh cửu. Để nói rằng: khi chủ quyền bị xâm phạm, mọi người Việt, dù đứng ở vị trí nào sẵn sàng đoàn kết một lòng vì sự tồn vong của dân tộc!
Trong những dòng thư tâm huyết gửi về, nhiều nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước thiết tha kêu gọi, hơn lúc nào hết, người Việt hãy cùng nhau đoàn kết một lòng vì lợi ích dân tộc. Chính những người Việt ở nước ngoài sẽ là những đại sứ góp phần vận động bạn bè thế giới hiểu và ủng hộ Việt Nam. Vượt qua những khác biệt và quá khứ, rất nhiều người đang âm thầm tự nhận lãnh sứ mệnh “bảo vệ Tổ quốc từ xa” như lời cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh nói về họ.
Chỉ người Việt Nam mới thương lấy nhau, mới thiết tha và sẵn sàng xả thân bảo vệ lợi ích dân tộc. Chân lý bất biến đó, phải qua nhiều trả giá đau đớn mới được vỡ lẽ.
Trong suốt thế kỷ XX đầy bão táp, đã chứng kiến bao nhiêu cuộc móc ngoặc, mặc cả và chia chác của các nước lớn trên lưng dân tộc nhỏ bé này?
Khi hai cuộc chiến tranh khốc liệt bước vào giai đoạn kết thúc, khi các bên đã ngồi vào bàn đàm phán cho một kết cục hoà bình thì phía hậu trường, những đồng minh tưởng như thân tín cũng bước vào cuộc mặc cả sau lưng chúng ta.
Đương nhiên, chẳng có gì là khó hiểu khi các nước lớn sẵn sàng hy sinh lợi ích của nước khác, vì lợi ích của chính mình. Lợi ích quốc gia đã biến những khẩu hiệu về tình đoàn kết thuỷ chung như nhất, những mỹ từ của đồng minh duy nhất, đồng minh truyền thống trở thành sáo rỗng.
Ngày nay, không còn dễ dàng cho một nước, cho dù quyền lực có lớn mạnh đến đâu có thể xâm lược các nước khác. Nhưng trong một thế giới toàn cầu hoá, khi chủ nghĩa nước lớn ngày càng có nhiều hình dạng mới, khi những hành động xâm phạm chủ quyền dân tộc ngày càng trở nên tinh vi hơn, sự nghiệp bảo vệ chủ quyền và độc lập toàn vẹn (về cả lãnh thổ cũng như về tinh thần) của một quốc gia nhỏ, yếu vì thế phải đối mặt với những khó khăn khôn lường.
Yếu thực lực thì luôn bị chèn ép, lấn lướt. Yếu thực lực đồng nghĩa với chấp nhận thiệt thòi trong mọi tranh chấp. Đó là thực tế hiển nhiên dù vô cùng cay đắng.
Một nhà lãnh đạo thuộc cấp cao nhất Việt Nam, khi nói về thực tế này, đã kết luận: Muốn thoát khỏi mọi uy hiếp, muốn phát triển được để tồn tại trong thế giới này, muốn bảo vệ được chủ quyền và độc lập dân tộc thực sự, toàn vẹn, nhất thiết dân tộc này phải phấn đấu bằng mọi giá thoát ra khỏi nỗi nhục nghèo, hèn.
Đất nước này phải mạnh lên!
Đột phá để phát triển, giải phóng mọi nguồn lực, trong đó có tiềm lực con người để thoát khỏi thân phận nghèo hèn, chính là sứ mệnh lịch sử của những thế hệ ngày hôm nay.
Hãy để sự kiện hôm nay, như lời giục giã đối với mọi người dân Việt lên đường cho cuộc dấn thân vĩ đại đó.
Minh Anh
( Nguồn : Tuần Việt Nam – VNN/Viet-Studies)
Tin TTX Vỉa Hè: bị phản ứng mạnh từ các bô lão nên những cái tay “cầm còi” còn run chưa dám cách chức TBT-Nguyễn Anh Tuấn (đang ở Mỹ, 18/12 mới về)
—

Lượm tin
CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
- Kêu gọi Việt-Trung đàm phán về Hoàng Sa — (BBC).
- Những công trình trăm năm tuổi (Lê Dũng). – Nhà hát Lớn Hà Nội xưa và nay (VNE). – Nhà hát Lớn Hà Nội: Di sản sống giữa lòng thủ đô (TQ). – Công trình kiến trúc đẹp nhất Đông Nam Á ở VN (ĐV).
- Các trường tự quyết sẽ nảy sinh chỉ tiêu ảo (DV).
- PHÚC THẨM VỤ TÂN HOÀNG PHÁT: VKS bị HĐXX bắt bẻ từng câu chữ (NLĐ). – Đề nghị bác kháng cáo của Tân Hoàng Phát (TT).
- Syria: Nổ ống dẫn dầu, bạo động leo thang — (VOA). – “Mỹ huấn luyện phiến quân Syria ở Thổ Nhĩ Kỳ” (DVT).
- Kêu gọi Việt-Trung đàm phán về Hoàng Sa — (BBC).
- Đà Nẵng nhận đá chủ quyền quần đảo Trường Sa (TTXVN).
- Chủ tịch nước thăm Pác Pó, thác Bản Giốc (VOV). - Chủ tịch nước làm việc với cán bộ chủ chốt tỉnh Cao Bằng (VOV). – Thác Bản Giốc – nàng công chúa ngủ trong rừng (DT).
- Tin chính thức về việc chị Bùi Thị Minh Hằng bắt đi “cải tạo” 24 tháng (DLB). – Cơ sở giáo dưỡng Thanh Hà- Thông tin chính thức về chị Bùi Minh Hằng — (Người buôn gió). – THÔNG TIN CHÍNH THỨC VỀ CHỊ BÙI THỊ MINH HẰNG (Nguyễn Xuân Diện).
- Thủ tướng: “Vinashin như thế, tôi hết sức đau xót” (VNEco). Hu hu! Rõ là Nghệ sĩ tài ba! – Thủ tướng yêu cầu tập đoàn dừng đầu tư ngoài ngành (VNN).
- Sẽ có quy định chế độ từ chức (VNN).
- Giải tắc Hà Nội, lãnh đạo TP trả lời “rối” (GDVN). – Xử ùn tắc, Hà Nội mới quyết liệt trên giấy? (VNN). – Hà Nội cần rút kinh nghiệm phân làn phân tuyến (SGTT).
- Đại biểu hỏi hóc búa, giám đốc sở xin thông cảm (DV). – Cần người dân cung cấp chứng cứ ô nhiễm môi trường (SGTT).
KINH TẾ- Những công trình trăm năm tuổi (Lê Dũng). – Nhà hát Lớn Hà Nội xưa và nay (VNE). – Nhà hát Lớn Hà Nội: Di sản sống giữa lòng thủ đô (TQ). – Công trình kiến trúc đẹp nhất Đông Nam Á ở VN (ĐV).
- Tủ sách dòng họ ở một vùng quê Thái Bình (CAND).
- Người Bão trở lại (Cát Khuê).
GIÁO DỤC-KHOA HỌC- Các trường tự quyết sẽ nảy sinh chỉ tiêu ảo (DV).
- Vượt sông dữ đi lấy chữ (VNN).
- Chịu thua bạo lực học đường? (NLĐ). – Học sinh lớp 6 bị đánh hội đồng (NLĐ).
XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG- PHÚC THẨM VỤ TÂN HOÀNG PHÁT: VKS bị HĐXX bắt bẻ từng câu chữ (NLĐ). – Đề nghị bác kháng cáo của Tân Hoàng Phát (TT).
- CSGT điều khiển xe gây sự cố? (SGTT).
- Tình thương chiến thắng hủ tục (SGTT).
- “Giải mã” việc doanh nghiệp ồ ạt mua lá vải khô bán ra nước ngoài (DT). – Mua lá vải thiều khô ở Bắc Giang làm đất nhân tạo? (Bee).
QUỐC TẾ- Syria: Nổ ống dẫn dầu, bạo động leo thang — (VOA). – “Mỹ huấn luyện phiến quân Syria ở Thổ Nhĩ Kỳ” (DVT).
- Mỹ lo lắng vì tên lửa mới của Triều Tiên (NLĐ/Washington Times).
- An ninh Nga tìm cách ngăn chận mạng lưới đối lập — (VOA). – 30.000 người được phép biểu tình ở Moscow (NLĐ/Newsru, RIA Novosti). – Những cải cách trong nước của ông Gorbachev dẫn đến sự tan rã của Liên Xô — (VOA). – Chính sách đối ngoại của ông Gorbachev góp phần vào sự sụp đổ Liên Xô — (VOA).
- Tiết lộ video ông Strauss-Kahn ở khách sạn Sofitel (NLĐ/Daily Mail).
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

