Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Ngày 3/6/2014 - Nhật Bản thành lập liên minh chống Trung Quốc

TIN LÃNH THỔ

TIN XÃ HỘI

TIN KINH TẾ

TIN GIÁO DỤC

TIN ĐỜI SỐNG

TIN CÔNG NGHỆ

TIN VĂN HÓA GIẢI TRÍ

TIN THẾ GIỚI

Nhật Bản thành lập liên minh chống Trung Quốc

Phan Ba dịch từ Nhật báo Phổ thông Frankfurt [FAZ] -

Việc Trung Quốc tiến vào biển Đông và biển Hoa Đông gây lo ngại ngày một nhiều hơn. Vào chiều hôm thứ sáu này, thủ tướng Nhật Shinzo Abe sẽ trình bày chiến lược của ông ấy về một “chủ nghĩa hòa bình chiến lược”, để đặt ra giới hạn cho Bắc Kinh.
Đảo Thị Tứ ở biển Đông. Hình: DPA
Đảo Thị Tứ ở biển Đông. Hình: DPA

Hội nghị thượng đỉnh thứ hai trong vòng một tuần sắp diễn ra ở châu Á, và vẫn tiếp tục về tình hình an ninh. Trên diễn đàn kinh tế vào cuối tuần rồi, người Đông Nam Á đã cảnh báo Trung Quốc trước một xâm nhập tiếp tục vào biển Đông. Vào cuối tuần này, tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore, thủ tướng Nhật Shinzo Abe sẽ trình bày ý tưởng của ông về một cấu trúc an ninh ở châu Á. Người Mỹ hiện diện ở đó sẽ ủng hộ ông mạnh mẽ.

Nguyên nhân là hai vụ việc vừa xảy ra trong thời gian vừa qua, đã đốt nóng lên thêm nữa cuộc giằng co quanh giàn khoan dầu Trung Quốc ở trong vùng biển do Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Ban đầu là những cuộc bạo động lớn ở Việt Nam, trút sự giận dữ bị đè nén lâu nay vào người Trung Hoa lục địa và nhà máy của họ ở Việt Nam. Nhưng người dân cũng chống lại cả các điều kiện lao động trong những nhà máy này. Kể từ lúc đó, xe cứu hỏa đỗ sẵn sàng ở Hà Nội, vì cảnh sát không có xe phun nước, và máy tính bị công nhân hôi của từ các nhà máy hiện được chất thành chồng trong các trạm cảnh sát. Ở hậu trường, giới lãnh đạo Việt Nam giằng co với ý định khởi kiện Trung Quốc. Nhưng việc này có thể làm giảm mạnh nhập khẩu từ Trung Quốc.

Ngay từ bây giờ đã có vẻ như 60.000 việc làm ở Việt Nam bị đe dọa trực tiếp nếu như Bắc Kinh giới hạn các đầu tư ở đó. Hà Nội phải xem xét hết sức kỹ, họ dám chống lại láng giềng to lớn cho tới đâu. Hay là ngồi chịu đựng sự khiêu hích này, chờ cho tới khi thời tiết thay đổi trong tháng Tám, lúc Trung Quốc rút giàn khoan đi như đã loan báo. Đối với người Trung Quốc, cuối cùng thì Việt Nam, đồng minh của Mỹ, không gì khác hơn là một con thỏ thí nghiệm để thử sự kiên nhẫn của người Mỹ.

Nhưng vào đầu tuần, dầu đã được đổ thêm vào lửa cho tới hai lần. Một lần thì một chiếc tàu đánh cá Việt Nam đã chìm trong vùng biển quanh giàn khoan từ những lý do chưa được rõ ràng. Người Việt quả quyết tàu Trung Quốc đã đánh chìm nó. Người Trung Quốc quả quyết nó đã tấn công các tàu Trung Quốc và bị chìm trong lúc đó. Nhưng hẳn còn nguy hiểm hơn nữa là vụ suýt va chạm nhau ở xa hơn về phía Bắc: Ở đó, máy bay chiến đấu Trung Quốc và máy bay Nhật Bản đã tiếp cận chỉ còn cách nhau 30 mét. Lần gây hấn do Trung Quốc chủ định xảy ra trong không phận mà người Trung Quốc mới đây đã tuyên bố có chủ quyền.

Abe đề nghị hỗ trợ Philippines và Việt Nam

Người Nhật nói về một “hành động nguy hiểm”, rồi người Mỹ thêm vào: “Chúng tôi không chấp nhận tuyên bố của Trung Quốc về một vùng nhận dạng riêng của Trung Quốc trên biển Hoa Đông và yêu cầu Trung Quốc không đưa ra vùng này. Thêm nữa, chúng tôi yêu cầu Trung Quốc hãy tiếp tục cùng các nước khác tạo những biện pháp xây dựng lòng tin, kể cả những kênh trao đổi thông tin trong trường hợp khẩn cấp mà qua đó có thể đề cập tới các mối nguy hiểm nhằm làm giảm căng thẳng”, theo Bộ Ngoại giao. “Mỗi một cố gắng giới hạn sự tự do đi qua không phận quốc tế đều dẫn tới căng thẳng khu vực và tăng khả năng đánh giá sai lầm, đối đầu và những sự cố không dự định trước.” Người Trung Quốc và người Nhật tranh chấp nhau về quần đảo Senkaku, được người Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và nằm trong biển Hoa Đông. Nhật Bản cũng ủng hộ cố gắng của các nước Đông Nam Á chống lại việc nhượng lãnh thổ cho Trung Quốc ở biển Đông. Song song với việc đó, Bắc Kinh cũng đã công bố yêu cầu phải có giấy phép cho không phận quốc tế.

Bây giờ thì người Nhật hoạt động tích cực hơn. Abe đã định nghĩa một chiến lược của “Chủ nghĩa Hòa bình tích cực”. Ông muốn chế ngự Trung Quốc qua đó, và đồng thời tìm sự gần gũi – cả về phương diện kinh tế – với Đông Nam Á. Nếu cả Ấn Độ dưới thủ tướng mới Narendra Modi của họ cũng thúc đẩy hướng tới Đông Á, thì Đông Nam Á cũng là đối tác tất nhiên của ông. “Abe sẽ công bố vào cuối tuần, nhờ trục giữa Nhật Bản và Mỹ mà muốn tiếp nhận một vai trò tích cực hơn ở châu Á”, Koichi Nakano, nhà chính trị học ở Đại học Sophia, Tokio, dự đoán.

Ngay từ bây giờ, Abe đã đề nghị hỗ trợ Philippines và người Việt, chịu ảnh hưởng nặng nề từ sự xâm lấn của Trung Quốc, cả với việc gửi tàu tuần tra bờ biển. Từ khi nhậm chức năm 2012, tuy Abe đã gặp tất cả các chính phủ Đông Nam Á, nhưng chưa đến Trung Quốc. Bây giờ thì trong bài diễn văn của mình vào chiều thứ sáu tại lễ khai mạc hội nghị thượng đỉnh ở Singapore, ông sẽ nhấn mạnh tới một “đối thoại xây dựng với Bắc Kinh”, thư ký chính phủ Yoshihide Suga giải thích. Đồng thời, ông cũng sẽ nhắc nhở Trung Quốc cần phải tuân theo luật pháp hiện hành. Ngay trong một cuộc phỏng vấn trước đó, Abe đã nói rằng “hoạt động khoan dầu đơn phương của Trung Quốc làm tăng thêm căng thẳng”: “Chúng tôi sẽ không bao giờ khoan dung cho một sự thay đổi hiện trạng bằng bạo lực hay cưỡng ép”, rồi ông thêm vào sau đó.

Christoph Hein sanh năm 1960, là thông tín viên kinh tế cho Nam Á/Thái Bình Dương với trụ sở ở Singapore.

© Phan Ba dịch từ Nhật báo Phổ thông Frankfurt [FAZ]
Japan schmiedet Allianzen gegen China 
(Đàn Chim Việt) 

Trung Quốc thật vĩ đại!!!

"...Bất cứ nơi nào có người Trung Quốc tụ tập sinh sống, việc điều đầu tiên ai cũng thấy được là " đông, ồn, bẩn, loạn ". " Đông " vì chen chúc nhau mới vui nhộn, " ồn " vì người Trung Quốc thích ra oai hù dọa đối phương, " bẩn " vì không có bụi bay thì làm sao thấy được nắng đẹp, " loạn " vì tinh thần tự do, tự tại..."


Một cái nhìn của nhà văn, giáo sư Bá Dương (Đài Loan)

Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Trung Quốc, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Trung Quốc, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy-Lạp thời nay với người Hy-Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai-Cập cũng vậy. Nhưng người Trung Quốc hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Trung Quốc cổ đại. Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo nguợc, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược.

Thế kỷ thứ XIX, quần đảo Nam Dương - thời nay tức là Đông Nam Á, còn là thuộc địa của Anh và Hà Lan, có một chuyên viên Anh đóng ở Malaysia nói rằng: "Làm người Trung Quốc ở thế kỷ thứ XIX là một tai họa". Bởi vì ông này đã thấy cộng đồng người Hoa sống ở quần đảo Nam Dương giống một lũ lợn, vô tri vô thức, tự sinh tự diệt, tùy thời còn có thể bị sát hại hàng loạt. Thế mà tôi thấy người Hoa ở thế kỷ XX so với người Hoa ở thế kỷ XIX tai họa của họ còn lớn hơn.

Điều làm chúng ta đau khổ nhất là bao mong đợi của người Hoa từ một trăm năm nay cơ hồ như đã bị tiêu tan toàn bộ. Cứ mỗi lần có một mong chờ trở lại, hứa hẹn nước nhà một tương lai sáng sủa hơn, thì kết quả lại càng làm cho chúng ta thất vọng và tình hình lại càng trở nên tệ hại hơn. Một mong chờ khác lại đến, để rồi lại đem về những ảo vọng, thất vọng, những tồi tệ liên miên vô tận.

Dân tộc cố nhiên là trường tồn, sinh mệnh của cá nhân là hữu hạn. Một đời người có được bao ước vọng lớn? Có được bao lý tưởng lớn, chịu được mấy lần tan vỡ ? Con đường trước mặt sáng sủa thế nào? Hay lại đen tối? Thật khó nói cho hết!

Bốn năm trước, lúc tôi diễn giảng tại New York, đến đoạn "chối tai", có một người đứng dậy nói: "Ông từ Đài Loan đến, ông phải nói cho chúng tôi nghe về những hy vọng, phải cổ võ nhân tâm. Sao lại đi đả kích chúng tôi?". Con người đương nhiên cần được khích lệ, vấn đề là khích lệ rồi sau đó làm gì nữa? Tôi từ nhỏ cũng từng được khích lệ rồi. Lúc 5, 6 tuổi, tôi được người lớn nói với tôi: "Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các cháu đấy!" Tôi cho rằng trách nhiệm của tôi lớn quá, chắc không thể nào đảm đương nổi. Sau đó tôi lại nói với con tôi: "Tiền đồ của Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!" Bây giờ con tôi lại nói với cháu tôi: "Tiền đồ Trung Quốc nằm trong tay thế hệ các con đấy!"

Một đời, rồi một đời, biết bao nhiêu lần một đời? Đến đời nào thì mới thật khá lên được? Tại Trung Quốc đại lục rộng lớn, sau thời Phản hữu (Phong trào chống phe hữu năm 1958), tiếp theo lại là Đại Cách Mạng Văn Hóa long trời lở đất. Từ ngày loài người có lịch sử đến nay chưa bao giờ thấy được một tai họa do con người làm ra to lớn đến như vậy. Chẳng nói đến tổn thất sinh mạng, cái tổn thương lớn lao nhất là sự chà đạp nhân tính, dầy xéo lên phẩm hạnh cao quý. Con người nếu rời bỏ nhân tính và những đức hạnh cao quý thì sánh với cầm thú

Bây giờ người ta nói nhiều về Hương Cảng [Hồng-Kông]. Bất cứ nước nào, nếu có đất đai bị nước ngoài chiếm cứ đều cảm thấy tủi nhục. Chờ cho đến lúc lấy được về chẳng khác nào lòng mẹ bị mất con. Ai cũng nhớ chuyện nước Pháp lúc phải cắt hai tỉnh Alsace vàLorraine giao cho Đức đã đau khổ như thế nào, lúc lấy lại được về đã sung sướng ra sao.

Nhưng Hương Cảng của chúng ta chỉ cần nghe đến việc trả về tổ quốc là lập tức hồn bay phách lạc. Chuyện gì mà lạ thế?

Còn nói về Đài Loan, hiện nay nhiều thanh niên người tỉnh này hoặc người nơi khác ở đây đều chủ trương Đài Loan độc lập. Tôi nhớ lại 30 năm trước đây, lúc Nhật Bản trả lại Đài Loan cho Trung Quốc (1945), mọi người sung sướng như si cuồng chẳng khác nào đứa con lạc mẹ lại tìm được đường về nhà. Cái gì đã xảy ra sau 30 năm đó để cho đứa con kia lại muốn bỏ nhà ra đi?

Ở nước ngoài, có lúc tôi dừng lại trong công viên, nhìn trẻ con ngoại quốc, thấy sao chúng sung sướng thế. Trong lòng tôi lúc ấy tự nhiên cảm thấy thèm thuồng quá. Chúng không phải mang gánh nặng, con đường chúng đi bằng phẳng, rộng rãi quá, tâm lý khỏe mạnh, sung mãn, sảng khoái. Con trẻ Đài Loan chúng ta đến trường học, đeo kính cận, mặt khó đăm đăm vì phải đối phó với áp lực bài vở. Mẹ ngất ngã xuống đất, con đến đỡ mẹ dậy, mẹ kêu rống lên:

"Mẹ có chết cũng chẳng sao, việc gì đến con! Con đi học bài đi! Đi học bài đi!"

Vợ tôi lúc dạy học ở Đài Loan, thỉnh thoảng cứ đề cập đến đạo đức làm người, tức thì sinh viên nhao nhao phản đối: "Chúng tôi không cần học làm người, chỉ cần học để ứng phó với việc thi cử". Lại nhìn về trẻ con ở Trung Quốc lục địa, từ nhỏ đã phải học đánh đấu nhau, lừa dối bịp bợm nhau, lại luyện tập cách lừa bạn, phản đồng chí, lại phải học cách bốc phét, bịa đặt. Một nền giáo dục đáng sợ thay! Một thế hệ nữa những đứa trẻ này lớn lên sẽ như thế nào?

Người ta thường nói: "Mình nắm tương lai mình trong tay mình". Lúc đã luống tuổi, tôi thấy câu này không ổn; sự thực, có lẽ chỉ nắm được một nửa trong tay mình, còn một nửa lại ở trong tay của kẻ khác.

Kiếp người trên đời này giống như một cục sỏi trong một máy nhào xi-măng, sau khi bị nhào trộn, thân chẳng tự chủ được. Điều ấy khiến tôi cảm thấy đó không phải là một vấn đề của riêng một cá nhân nào, nhưng là một vấn đề xã hội, văn hóa.

Lúc chết, Chúa Giê-Su (Jesus) bảo: "Hãy tha thứ cho họ, họ đã làm những điều mà họ không hề hiểu". Lúc trẻ, đọc câu này tôi cho rằng nó chỉ là một câu tầm thường. Lớn lên rồi lại vẫn thấy nó không có gì ghê gớm cả, nhưng đến cái tuổi này rồi tôi mới phát hiện rằng nó rất thâm thúy, thật đau lòng thay! Có khác nào người Trung Quốc sở dĩ trở thành xấu xí như ngày nay bởi chính vì họ không hề biết rằng mình xấu xí.

Chúng ta có đủ tư cách làm chuyện đó và chúng ta có lý do tin rằng Trung Quốc có thể trở thành một nước rất tốt đẹp. Chúng ta không cần cứ phải muốn có một quốc gia hùng mạnh. Quốc gia không hùng mạnh thì có can hệ gì ? Chỉ cần sao cho nhân dân hạnh phúc rồi thì đi tìm quốc gia hùng mạnh cũng chưa muộn.

Tôi nghĩ người Trung Quốc chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Trung Quốc thoát khỏi khổ nạn?

Nguyên do vì sao?

Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Trung Quốc có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh.

Có người sẽ bảo: "Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!". Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng "Quần ma" (Những con ma) của Ibsen (íp-sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: "Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à!?" Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta.

Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được. Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Trung Quốc chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ!

Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Trung Quốc đến ở là những người khác phải dọn đi. Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Pa-ri sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: "Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!" (Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Trung Quốc). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: "Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?" Cô ta đáp: "Làm sao nổi!"

Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn.

Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: " Chúng tôi đang thì thầm với nhau".

Tại sao tiếng nói người Trung Quốc lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế?

Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Trung Quốc bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau.

Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Trung Quốc. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch.

Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại người Trung Quốc không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Trung Quốc mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20.

Cho nên, có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư.

Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi - nơi không cần quan hệ với người khác - thì lại có thể phát triển tốt.

Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau.

Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Trung Quốc không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: "Anh có biết người Trung Quốc vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!" Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng.

Người Trung Quốc không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹ với những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau.

Ở Trung Quốc có câu: "Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống". Người đông thì dùng để làm gì? Người Trung Quốc trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết.

Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học - anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước...

Ngày hôm sau tôi bảo:

"Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!". Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: "Anh đưa tôi đi một lát nhé!". Anh ta bảo: "Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!".

Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Hoa cắn xé nhau là một đặc trưng nghiêm trọng.

Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Trung Quốc với nhau.

Bán rẻ người Trung Quốc, hăm dọa người Trung Quốc lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa.

Tại Ma-lai-xi-a có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Ma-lai-xi-a tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: "Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?". Người kia bảo: "Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?"

Cho nên kẻ thù của người Trung Quốc lại là người Trung Quốc.

Không hiểu vì sao người ta lại so sánh người Trung Quốc với người Do Thái được? Tôi thường nghe nói "người Trung Quốc và người Do Thái giống nhau ở chỗ cần cù". Điều này phải chia làm hai phần:

Phần thứ nhất: cái đức tính cần cù từ mấy nghìn năm nay cũng chẳng còn tồn tại nữa, nó đã bị thời kỳ "Tứ nhân bang" (bè lũ bốn tên) phá tan tại lục địa rồi.

Phần thứ hai: chúng ta còn gì để có thể đem so sánh với người Do Thái được? Báo chí Trung Quốc thường đăng: "Quốc hội Do Thái (Knesset) tranh luận mãnh liệt, ba đại biểu là ba ý kiến trái ngược nhau", nhưng cố ý bỏ sót một sự kiện quan trọng là sau khi họ đã quyết định với nhau thì hình thành một phương hướng chung. Tuy bên trong quốc hội tranh cãi tơi bời, bên ngoài đang giao chiến, bốn phía địch bao vây, nhưng I-xra-en vẫn tổ chức bầu cử. Ai cũng biết cái ý nghĩa của bầu cử là vì có đảng đối lập. Không có đảng đối lập thì bầu cử chỉ là một trò hề rẻ tiền.

Tại Trung Quốc chúng ta, hễ có ba người sẽ cũng có ba ý kiến, nhưng cái khác nhau là: sau khi đã quyết định xong, ba người đó vẫn làm theo ba phương hướng khác nhau. Giống như nói hôm nay có người đề nghị đi New York, người đề nghị đi San Francisco. Biểu quyết, quyết định đi New York, nếu ở I-xra-en cả hai người sẽ cùng đi New York, nhưng ở Trung Quốc thì một người sẽ bảo: "Anh đi New York đi, tôi có tự do của tôi, tôi đi San Francisco!".

Người Trung Quốc không thể đoàn kết, hay cắn xé nhau, những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Không phải vì phẩm chất của họ không đủ tốt. Nhưng vì con siêu vi trùng trong văn hóa Trung Quốc ấy làm cho chúng ta không thể đè nén, khống chế hành vi của chúng ta được. Biết rõ rành rành là xâu xé nhau, nhưng vẫn xâu xé nhau. Nếu nồi vỡ thì chẳng ai có ăn, nhưng nếu trời sụp thì người nào cao hơn người đó phải chống đỡ.

Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: "Chết cũng không chịu nhận lỗi". Có ai nghe thấy người Trung Quốc nhận lỗi bao giờ chưa? Giả sử anh nghe một người Trung Quốc nói: "Việc này tôi đã sai lầm rồi!" Lúc đó anh phải vì chúng tôi mà uống rượu chúc mừng.

Con gái tôi hồi bé có một lần bị tôi đánh, nhưng cuối cùng hóa ra là nó bị oan. Nó khóc rất dữ, còn tâm can tôi thì đau đớn. Tôi biết rằng đứa con thơ dại và vô tội của tôi chỉ biết trông cậy vào bố mẹ, mà bố mẹ bỗng nhiên trở mặt thì nó phải sợ hãi biết nhường nào. Tôi ôm con vào lòng rồi nói với nó: "Bố xin lỗi con. Bố không đúng. Bố làm sai. Bố hứa lần sau bố không làm như vậy nữa. Con gái ngoan của bố, con tha thứ cho bố nhé!" Nó khóc mãi không thôi. Cái sự việc này qua rồi mà lòng tôi vẫn còn đau khổ. Nhưng đồng thời tôi lại cảm thấy vô cùng kiêu hãnh bởi tôi đã dám tự nhận lỗi của mình đối với nó.

Người Trung Quốc không quen nhận lỗi và có thể đưa ra hàng vạn lý do để che dấu cái sai trái của mình. Có một câu tục ngữ: "Đóng cửa suy gẫm lỗi lầm" (Bế môn tư quá). Nghĩ về lỗi của ai ? Dĩ nhiên của đối phương.

Lúc tôi đi dạy học, học sinh hàng tuần phải viết tuần ký để kiểm thảo hành vi trong tuần. Kết quả kiểm thảo thường là: "Hôm nay tôi bị người này người nọ lừa tôi. Cái người lừa tôi ấy đã được tôi đối xử mới tốt làm sao, cũng bởi vì tôi quá trung hậu!". Lúc đọc đến kiểm thảo của đối phương, lại cũng thấy anh học trò kia nói mình quá trung hậu. Mỗi người trong kiểm thảo của mình đều là người quá trung hậu. Thế còn ai là người không trung hậu?

Người Trung Quốc không thể nhận lỗi, nhưng cái lỗi vẫn còn đó, đâu phải vì không nhận mà nó biến mất. Để che đậy một lỗi của mình người Trung Quốc không nề hà sức lực tạo nên càng nhiều lỗi khác hòng chứng minh rằng cái đầu tiên không phải là lỗi. Cho nên có thể nói người Trung Quốc thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa.

Họ liên miên khoa trương về dân Trung Quốc, về tộc Đại Hán, huyên thuyên về truyền thống văn hóa Trung Quốc, nào là có thể khuếch trương thế giới,v.v...Nhưng bởi vì không thể đưa ra chứng cớ thực tế nào nên tất cả chỉ toàn là những điều bốc phét.

Tôi chẳng cần nêu ví dụ về chuyện nói khoác, láo toét làm gì. Nhưng về chuyện nói độc của người Trung Quốc thì không thể không nói được. Ngay như chuyện phòng the, người phương Tây vốn rất khác chúng ta, họ thường trìu mến gọi nhau kiểu "Em yêu, em cưng" [Bá Dương dùng chữ "đường mật" và "ta linh" để dịch chữ Honey, Darling của tiếng Anh -ND] thì người Trung Quốc gọi nhau là "kẻ đáng băm vằm làm trăm khúc" (sát thiên đao đích).

Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hoặc tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định, khiến cho ai nấy nghe thấy cũng phải tự hỏi: "Tại sao người Trung Quốc lại độc ác và hạ lưu đến thế?"

Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: "Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!". Còn người Trung Quốc sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là "Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!" Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời.

Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: "Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!" Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu.

Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi.

Trung Quốc diện tích rộng thế, văn hóa lâu đời thế, đường đường là một nước lớn. Thế mà, thay vì có một tấm lòng bao la, người Trung Quốc lại có một tâm địa thật hẹp hòi.

Cái tấm lòng bao la đáng lẽ chúng ta phải có ấy chỉ đọc thấy được trong sách vở, nhìn thấy được trên màn ảnh. Có ai bao giờ thấy một người Trung Quốc có lòng dạ, chí khí sánh ngang được với tầm vóc nước Trung Quốc không? Nếu chỉ cần bị ai lườm một cái là đã có thể rút dao ra rồi, thử hỏi nếu có người không đồng ý với mình thì sự thể sẽ ra sao?

Người Tây phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cừu hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đời cũng chưa hết.

Mọi người Trung Quốc đều sợ sệt đến độ không còn biết quyền lợi mình là gì thì làm sao còn biết đấu tranh, gìn giữ nó được? Mỗi khi gặp một chuyện gì xảy ra y nhiên lại nói: "Bỏ qua cho rồi!"

Mấy chữ "bỏ qua cho rồi" này đã giết hại không biết bao nhiêu người Trung Quốc và đã biến dân tộc Trung Quốc thành một dân tộc hèn mọn.

Giả sử tôi là một người nước ngoài hoặc một bạo chúa, đối với loại dân tộc như thế, nếu tôi không ngược đãi nó thì trời cũng không dung tôi.

Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chúa, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa bạo quan ở Trung Quốc không bao giờ bị tiêu diệt.

Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, các vị có thể xem ở "Tư trị thông giám" (Một pho sử của Tư Mã Quang tóm hết chuyện hơn 2.000 năm để làm gương cho người đời sau), cái việc bo bo giữ mình đã được xem là kim chỉ nam và nhấn mạnh năm lần bảy lượt. Bạo chúa, bạo quan cũng chỉ cần dân chúng cứ bo bo giữ mình là được, cho nên người Trung Quốc mới càng ngày càng khốn đốn đến như thế.

Nơi nào người Trung Quốc đã đặt chân đến thì không thể có chỗ nào là không bẩn. Có hơn một tỷ người Trung Quốc trên thế giới này, làm sao mà không chật chội được? Ngoài ồn, chật, bẩn, loạn, lại còn thêm cái tật "thích xem" (người khác đau khổ), hoặc "chỉ quét tuyết trước nhà mình mà không động tý gì đến sương trên mái ngói nhà người khác".

Họ luôn mồm "nhân nghĩa" mà tâm địa ích kỷ, tham lam. Một đằng hô to khẩu hiệu: "Phải tử tế với người và súc vật!", trong khi đó ngày ngày không ngừng xâu xé lẫn nhau.

Tóm lại, người Trung Quốc đúng là một dân tộc vĩ đại, vĩ đại đến độ làm cho người đời nay không có cách nào hiểu nổi tại sao họ có thể tồn tại được trên quả địa cầu này những 5.000 năm?

Bá Dương
Trích cuốn Người Trung Quốc xấu xí

Bài học cho những ai còn mơ hồ về “16 chữ vàng”, về “4 tốt" - Khoan Dung, Gốc Rễ Của Dân Chủ

Kiện Trung Quốc: Yếu tố quyết định thành bại là nhân chứng

(TBKTSG Online) Nhân chứng chính là nhân tố làm nên sự khác biệt chung cuộc trong vụ kiện tại cơ quan tài phán quốc tế.
Trong thông điệp tại “Diễn đàn An ninh Châu Á” vào thứ sáu tuần rồi tại Singapore, Thủ tướng Nhật Bản - Shinzo Abe nhấn mạnh tầm quan trọng của tinh thần thượng tôn pháp luật quốc tế (The rule of laws), trong bối cảnh Trung Quốc đang “leo thang” các hành vi gây hấn tại khu vực Biển Đông.
Ba nguyên tắc mà Thủ tướng Abe khuyến cáo các quốc gia nên tuân thủ: (1) các quốc gia giải quyết vụ việc trong khuôn khổ luật pháp quốc tế, (2) không quốc gia nào được phép sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp, (3) các quốc gia phải nỗ lực giải quyết các xung đột trong hòa bình.
Chuẩn bị nhân chứng sẽ là cả một quá trình Việt Nam cần thực hiện cho một vụ kiện trong khuôn khổ công pháp quốc tế về luật biển. Ảnh TL
Ông Shinzo Abe cũng nhấn mạnh rằng Nhật Bản đang cố gắng chủ động trong việc duy trì sự hòa bình và thịnh vượng chung cho khu vực Châu Á - Thái Bình Dương dựa trên nền tảng tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế. Thông điệp này có lẽ là bài học “vỡ lòng” nhằm gửi đến một nước lớn nhưng hành xử “nhược tiểu” như Trung Quốc, khi chính phủ nước này vẫn đơn phương phong tỏa Biển Đông và lạm dụng “tay chân” để áp đặt giải quyết tranh chấp với các quốc gia ven biển liên quan.
Nhật Bản, Philippines cũng như Việt Nam và một số nước ASEAN đang phải đối đầu với Trung Quốc trong những tranh chấp liên quan đến chủ quyền lãnh hải. Trong bối cảnh đạt được sự đồng thuận cao của cộng đồng quốc tế như hiện nay, việc Việt Nam khởi động một vụ kiện trong khuôn khổ thuộc thẩm quyền của cơ quan tài phán quốc tế về luật biển xem ra rất thuận lợi. Tuy nhiên, bên cạnh phương diện ngoại giao, kinh tế - chính trị, rất nhiều yếu tố thuộc kỹ thuật mà Việt Nam cần phải cân nhắc khi chọn lựa thời điểm đệ trình và thúc đẩy vụ kiện.
Trong một phiên tòa trọng tài quốc tế giải quyết các xung đột về thương mại nói chung, tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia nói riêng, khâu chuẩn bị lực lượng nhân chứng (gồm nhân chứng sự kiện – witnesses of facts và nhân chứng chuyên gia - expert witnesses) là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại chung cuộc của vụ việc.
Nhân chứng và cơ chế thẩm vấn chéo (cross-examination)
Không tương đồng với “tập quán tố tụng” của Việt Nam, nơi vai trò nhân chứng (người làm chứng) trong vụ tranh chấp dân sự, thương mại ít được khai thác, đôi khi chỉ giữ vai trò tố tụng hình thức thứ yếu, ngược lại trong một phiên tài phán của tòa án, trọng tài quốc tế, nhân chứng lại đóng vai trò trọng yếu. Những người này được mệnh danh là “tai nghe và mắt thấy của công lý”.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều kiện chính để một chủ thể có thể trở thành người làm chứng là từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự. Người làm chứng ở đây là người phải biết rõ về sự kiện mà mình được yêu cầu làm chứng và chịu trách nhiệm về tính xác thực lời chứng của bản thân. Điều này đồng nghĩa nếu làm chứng gian dối, sai sự thật có thể bị áp dụng chế tài và bị buộc bồi thường nếu gây thiệt hại. Nhân chứng chuyên gia là người phải đạt yêu cầu về kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực cần giám định khi được cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu ý kiến chuyên môn. Những nhân chứng này có quyền tiếp cận thông tin, chứng cứ tài liệu thuộc vụ việc, và phát hành kết luận, báo cáo độc lập về vấn đề mình được yêu cầu giám định.
Chế định xác lập chứng cứ, nhân chứng trong tài phán thương mại quốc tế hiện nay chủ yếu dựa trên Quy tắc về Chứng cứ của Trọng tài Quốc tế do Liên đoàn Luật sư Quốc tế (IBA) ban hành năm 1999 (“IBA Rules”) sửa đổi tháng 5-2010. IBA Rules đã đưa ra cơ chế tổng thể về thu thập, đệ trình, đánh giá chứng cứ cũng như cơ chế hoạt động của nhân chứng.
Chuyên biệt hơn, quy tắc Tòa Trọng tài Thường trực (Permanent Court of Arbitration) sẽ áp dụng cho tranh chấp trọng tài giữa hai quốc gia như vụ kiện của Philippines và Trung Quốc, trên cơ sở áp dụng luật nội dung quy định tại Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (“UNCLOS”).
Điểm chung ở đây, các nhân chứng sự kiện được yêu cầu chứng thực phải tuyên thệ chỉ được phép nói toàn bộ sự thật. Nhân chứng sẽ được thẩm vấn chéo (cross - examination) bởi luật sư từ hai phía cũng như tòa án hoặc hội đồng trọng tài. Hội đồng trọng tài UNCLOS bao gồm các chuyên gia về luật biển, tố tụng công pháp quốc tế hàng đầu, do vậy chỉ cần một sự chểnh mảng, nhân chứng có thể bị dẫn dắt, bác bỏ bởi nhân chứng đối lập hoặc bởi luật sư đối phương hoặc HĐTT. Thực tế, trong tranh tụng đôi khi một nhân chứng chuyên gia rất am tường nội dung tranh chấp cũng có thể bị biến thành người “ngây ngô” ít đáng tin cậy sau khi đối mặt hàng loạt kỹ thuật thẩm vấn chéo được áp dụng.
Phẩm chất của nhân chứng
Trong vụ kiện thương mại khác của tổ chức Tòa án Trọng tài Quốc tế - Phòng Thương mại Quốc tế (ICC), một nhân chứng sự kiện quan trọng của đương đơn Việt Nam đã bị hội đồng trọng tài ICC (“HĐTT”) bãi bỏ tư cách ngay khi không “vượt qua” được hai câu hỏi chào đầu. Bản khai của nhân chứng này được đệ trình bằng tiếng Anh, theo đó nhân chứng đã nộp một bản khai tiếng Anh hoàn hảo. HĐTT chấp nhận cho nhân chứng được trình bày bằng tiếng Việt thông qua phiên dịch trực tiếp.
Trong phiên thẩm vấn chéo, luật sư đối phương mở đầu bằng câu hỏi đơn giản: “Sir, can you speak English?” (Ông nói được tiếng Anh không?). Nhanh nhẹn, nhân chứng này đáp “Sorry, I can’t speak English” (Xin lỗi, tôi không nói được tiếng Anh) thay vì phải chừng mực đợi phiên dịch đúng quy trình và có câu trả lời bằng tiếng Việt như là “Xin lỗi, tôi không nói được tiếng Anh” hoặc “Tôi nói được tiếng Anh nhưng rất hạn chế”. Luật sư đối phương tiếp “tiếng Anh ở bản khai này viết rất tốt, ông tự làm hay nhờ ai làm?” Đáp trả bởi nhân chứng: “tôi nhờ luật sư bên tôi làm giúp” (chỉ vào luật sư) thay vì câu trả lời thích hợp và đúng sự thật là “tôi tự làm bằng tiếng Việt và luật sư tôi giúp dịch ra tiếng Anh”. Kết quả là nguyên đơn thành công khi đề nghị HĐTT bác bỏ tư cách của nhân chứng quan trọng này vì có biểu hiện “thiếu trung thực” và “không độc lập”.
Trong vụ kiện khác cũng tại ICC, một bên đương đơn thành công khi chứng minh cho HĐTT là nhân chứng sự kiện của đối phương không đáng tin cậy cho rằng các nhân chứng này không được “cách ly” một cách thích hợp khi nhân chứng đã được thẩm vấn có biểu hiện “thông cung” với nhân chứng chưa được thẩm vấn chéo. Các nhân chứng quan trọng do sự đề cử của một bên luôn là trọng tâm cho đối phương tìm cách loại bỏ dưới sự dẫn dắt của luật sư có kinh nghiệm, hơn là các đương đơn kỳ vọng giành lợi thế xuất phát từ các luận cứ chuẩn bị sẵn. Thực tế, sẽ không có cuộc đối đầu trực tiếp thực sự quan trọng giữa luật sư hai bên trong phiên tranh tụng quốc tế ngoại trừ phiên thẩm vấn chéo các nhân chứng do luật sư đảm trách.
Nguồn nhân chứng của Việt Nam
Vấn đề đặt ra là Việt Nam cần tập hợp và phát triển nhân chứng sự kiện và chuyên gia từ nguồn nào. Do đặc thù một quốc gia có đường bờ biển dài, Việt Nam có khá nhiều chuyên gia nghiên cứu về chủ quyền Biển Đảo. So với các quốc gia ven Biển Đông, Việt Nam thuận lợi hơn cho việc chuẩn bị các bằng chứng lịch sử và pháp lý xác lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa -Trường Sa ít nhất từ thế kỷ 17. Năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có tuyên bố rõ trước quốc dân đồng bào rằng từ năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Năm 1974, nước này dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo này lúc đó còn trong sự quản lý của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn lúc đó và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam cũng ra tuyên bố phản đối, lên án hành vi chiếm đóng này, và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Các chuyên gia ngoại giao, chính trị, các nhà nghiên cứu, sử học trong nước và quốc tế hiện là nguồn nhân chứng góp phần cho công cuộc pháp lý hóa tuyên bố trên thành một đúc kết sự thật lịch sử, trong nỗ lực bảo vệ chủ quyền Việt Nam.
Tuy nhiên, tận dụng được những chuyên gia này để đảm trách được vai trò làm nhân chứng sự kiện hoặc chuyên gia trong khuôn khổ vụ kiện quốc tế đều cần sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Đôi khi đệ trình một bằng chứng chưa đủ độ tin cậy, một phát biểu hoặc hành vi thiếu cẩn trọng trong quá khứ, một thông tin không đồng nhất của nhân chứng cũng sẽ làm ảnh hưởng đến mức độ “xác tín” (credibility) của nhân chứng này, và vì vậy ảnh hưởng đến vị thế pháp lý của đương đơn. Luật sư quốc tế hoặc HĐTT thuộc các chế định tòa án, trọng tài quốc tế lớn như PCA, ICC, ICJ, ITLOS... sẽ không bỏ qua cơ hội phản bác những nhân chứng như vậy. Hậu quả có thể biến một chuyên gia hàng đầu về lịch sử, địa lý, một nhân chứng là cựu chiến binh”sống” từ các trận hải chiến Hoàng Sa 1974, Trường Sa 1988 thành “nhân chứng ít tin cậy” như chưa bao giờ được nhìn thấy thực địa lãnh thổ.
Chẳng hạn đối với chứng cứ lịch sử về việc Trung Quốc dùng vũ lực để chiếm đóng Hoàng Sa như viện dẫn trên, Trung Quốc dường như phạm một điều cơ bản mà cơ quan tài phán có thể xem xét là việc chiếm hữu có hợp pháp hay bất hợp pháp (Effective Occupation). Điều này được hiểu: một là quốc gia ven biển phải thể hiện ý chí chiếm hữu, hai là thực hiện chiếm hữu trên thực tế (thời gian chiếm hữu, thực hiện quyền lực nhà nước, xây dựng công trình…) và quan trọng là việc chiếm hữu đó không bị phản đối bởi các quốc gia khác (acquiescence by silence).
Do vậy, Trung Quốc không dễ đơn phương tuyên bố xác lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực và dưới sự phản đối quyết liệt của Việt Nam cũng như cộng đồng quốc tế. Có nhiều chuyên gia Việt Nam và Quốc tế đủ để bác bỏ luận điểm này.
Tuy nhiên liên quan đến sự kiện thực tế, chẳng hạn, ai là bên chiếm hữu thực thể quần đảo Hoàng Sa trước và từ 1956 đến 1974, quân đội hoặc người dân nào chiếm các bãi đá trong đó có Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa, công hàm lên án và phản đối lên Liên Hiệp Quốc của chính quyền Sài Gòn thực tế thực hiện như thế nào sau khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa vào năm 1974, một cách lý giải nhất quán về xuất xứ, ý chí Công thư 1958 v.v.. thì có lẽ không có nhân chứng sống nào tốt hơn là các nhà sử học, chính trị ngoại giao, các chuyên gia công pháp của thời kỳ này.
Đặc biệt là các cựu chiến binh hiện hữu, những người chứng kiến toàn bộ diễn biến tình tiết lịch sử xung quanh cuộc xung đột này. Tuy vậy, nếu lướt qua các diễn đàn tranh luận rộng rãi thì ngay cả đối với một câu hỏi trên thì các nhân chứng sự kiện và các chuyên gia cũng có nhiều cách diễn đạt, lý giải khác biệt nhau. Đây có thể là rủi ro pháp lý vì trong một phiên tài phán quốc tế một sự kiện bị diễn dịch không nhất quán, chủ quan trong bản chứng của nhân chứng có thể gây bất lợi cho chung cuộc. Về mặt kỹ thuật, các bên đương đơn sẽ “đấu trí” để khai thác hoặc bác bỏ sự kiện từ nhân chứng sống này theo hướng có lợi cho mình.
Do vậy, tận dụng được các nhân chứng chuyên gia trong nước và quốc tế có nhiều nghiên cứu về chủ quyền lãnh thổ là điều quý giá đối với Việt Nam lúc này, đặc biệt những chuyên gia là cuốn “từ điển sống” về chủ quyền biển đảo của Việt Nam, những cựu chiến binh đã tham chiến để bảo vệ tổ quốc. Điều cần bổ sung cho lực lượng nhân chứng là một hệ thống kỹ năng cách tập hợp và trình bày xác thực chuỗi sự kiện lịch sử một cách có hệ thống khoa học cho một chủ đích pháp lý rõ ràng. Cho dù đôi khi sự chuẩn bị kỳ công của đội ngũ nhân chứng chỉ để hiện diện trước HĐTT quốc tế trong phiên thẩm vấn phúc trình cho những câu hỏi hàm tưởng là giản đơn nhưng hàm chứa nhiều rủi ro pháp lý “đúng hay sai” hoặc “có hay không” và nếu dài hơn là “tại sao”. Đôi khi chỉ vậy nhưng cũng có thể thay đổi cục diện của vụ kiện ở quy mô quốc tế.
Quy trình tố tụng nào cho nhân chứng theo UNCLOS
Trong Quy trình Tố tụng (Rules of Procedure) cho vụ Philippines khởi kiện Trung Quốc, tại Điều 23 và 24, vào ngày 27-8-2013 HĐTT cho phép các bên tiến hành thẩm vấn (examination) và thẩm vấn chéo (cross - examination) bất cứ nhân chứng hoặc chuyên gia nào đã có bản khai chứng thực bằng văn bản (written testimony). Nhân chứng này có thể do một bên yêu cầu nhân chứng, chuyên gia của mình cho phiên thẩm vấn. Thủ tục mời nhân chứng cần xác lập chậm nhất 30 ngày trước phiên xử. Các nhân chứng chuyên gia chỉ được tham gia thẩm vấn, đối chất sau khi có đệ trình bản chứng bằng văn bản. Các bản khai đệ trình của nhân chứng trở thành bằng chứng chính yếu của vụ kiện. Các câu hỏi thử thách trực tiếp do hai bên hoặc HĐTT thực hiện. HĐTT có thể tự chỉ định thêm nhân chứng độc lập.
Nhân chứng sự kiện hoặc chuyên gia giàu chuyên môn, nhiều thông tin nhưng ít kinh nghiệm tố tụng là cơ hội tốt cho đối phương khai thác. Các phẩm chất của nhân chứng dễ bị thử thách trong phiên tranh tụng là ngoài khả năng, kiến thức, chuyên môn nhận thức đối với vấn đề mình chứng thực. Ngoài ra thành tố quan trọng của nhân chứng là năng lực, sự khách quan và độc lập của nhân chứng (qualification, impartiality and independence). Hạn chế một trong các yếu tố này, nhân chứng có thể bị HĐTT bãi bỏ tư cách, và bản chứng có thể bất lợi cho chính bên đề cử. Quyền và nghĩa vụ của nhân chứng cũng được quy định tại Điều 6, Phụ lục VII của Công ước 1982.
Theo đó, quốc gia tranh chấp phải cung cấp đủ thông tin liên quan tài liệu thích hợp khi nhân chứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ của họ. Trong giới hạn quyền và nghĩa vụ của mình, các bên phải thực hiện được quy định tại điều khoản tham chiếu (TOR), các bên phải tạo điều kiện tối đa cho nhân chứng có thể quan sát thực địa tranh chấp thực tế có liên quan vụ kiện.
Nhân chứng: Nói thật, nói đúng chưa phải là đủ
Các báo cáo kỹ thuật (technical reports) hoặc các bản chứng sự kiện (Statements of facts), các lời chứng trực diện (Testimony) đều bị “soi” kỹ cả về hình thức lẫn nội dung. Do vậy, các nhân chứng ít kỹ năng hoặc không được chuẩn bị tối thiểu về kỹ năng cơ bản tố tụng quốc tế cho một giải quyết tranh chấp về lãnh thổ nhiều khi lợi bất cập hại. Nguy hại hơn, nhân thân, quan điểm thể hiện qua các phát biểu của nhân chứng trong quá khứ ở diễn đàn này hay diễn đàn khác về cùng một vấn đề mà nếu có bất nhất, bất lợi thì cũng có thể là điểm yếu để đối phương khai thác, tận diệt.
Do đặc thù về vai trò, tính chất nghề nghiệp, luật sư có thể có nhiều cách diễn đạt, lý giải khác nhau cho một sự kiện lịch sử, pháp lý trong khuôn khổ luật pháp, tố tụng cho phép, trong khi nhân chứng thì chỉ được phép nói sự thật và toàn bộ sự thật. Tuy vậy, trong một phiên tài phán quốc tế như vụ kiện tranh chấp lãnh hải chưa có tiền lệ đối với Việt Nam, các nhân chứng, chuyên gia chỉ nói sự thật hay nói đúng đôi khi chưa đủ, mà cần một phương pháp diễn đạt sự thật, có bản lĩnh và kỹ năng chứng minh sự thật, có chuẩn mực và uy lực đủ mạnh để lời chứng của mình được xác tín thì mới có thể kì vọng đồng nhất chân lý với công lý khi đối đấu với Trung Quốc một nước lớn ưa chuộng bá quyền và nhiều bao biện.
Một nhân chứng thành công là nhân chứng tự bảo vệ được mức độ xác tín của chính mình xuyên suốt phiên tài phán. Ngược lại khi uy tín của nhân chứng bị thử thách thì ảnh hưởng nghiêm trọng đến vị thế pháp lý của đương đơn. Chuẩn bị nhân chứng sẽ là cả một quá trình Việt Nam cần thực hiện cho một vụ kiện trong khuôn khổ công pháp quốc tế về luật biển.
LS. Châu Huy Quang
(*) Hãng luật Rajah & Tann LCT Lawyers

Bài học cho những ai còn mơ hồ về “16 chữ vàng”, về “4 tốt"

 
Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Đặng Ngọc Tùng phát biểu ý kiến.

Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Đặng Ngọc Tùng nhắc lại rằng: Kinh tế cần xem xét trên cả 3 lĩnh vực: Kinh tế, thương mại đầu tư và tín dụng, và “thương mại với các nước phải cân bằng và trên cơ sở đôi bên cùng có lợi”.
Chủ tịch Đặng Ngọc Tùng nhắc lại con số nhập siêu từ Trung Quốc năm 2013 lên đến hơn 23 tỷ USD, trong khi về đầu tư, chúng ta còn nhiều hạn chế cả về vốn, quản trị, công nghệ, thị trường và cạnh tranh. “Tôi không hiểu sao 90% dự án nguồn điện, 80% dự án giao thông, các nhà thầu Trung Quốc đều trúng thầu - Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Đặng Ngọc Tùng nói - Trúng thầu, sau đó để xảy ra tình trạng tiến độ chậm, chất lượng không đảm bảo, làm tăng giá thành, và đặc biệt là không sử dụng nhân công Việt Nam”.
Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam đề nghị: “Đây là vấn đề trong điều hành kinh tế, Chính phủ cần nghiên cứu để giảm nhập siêu”.
Nhìn nhận việc dự báo nắm tình hình, Chủ tịch Đặng Ngọc Tùng cũng cho là “chưa tốt, nếu như không nói là yếu kém”. Chủ tịch Đặng Ngọc Tùng nêu ví dụ việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa là “hoàn toàn bất ngờ, không có trong dự báo, trong khi phản ứng, đối phó của chúng ta là không linh hoạt và chậm”; hay như sự kiện ngày 12.5, khi công nhân phản đối các hành động của Trung Quốc rất đáng hoan nghênh, nhưng “có những thế lực âm mưu, tổ chức kích động, lôi kéo, lợi dụng lòng yêu nước xúi giục đập phá nhà máy”. Những phản ứng của cơ quan chức năng sau đó, theo Chủ tịch Tổng LĐLĐ VN Đặng Ngọc Tùng, là chưa kịp thời, gây hậu quả rất lớn về kinh tế, đặc biệt là niềm tin của các nhà đầu tư, cũng như dư luận thế giới. “Đây là bài học lớn” - Chủ tịch Đặng Ngọc Tùng nói.
Đối với việc Trung Quốc đưa dàn khoan Hải Dương 981 trái phép vào vùng biển Việt Nam, Chủ tịch Đặng Ngọc Tùng khẳng định nhân dân Việt Nam luôn mong muốn hòa bình hữu nghị, nhưng nhất định không chấp nhận một thứ hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó, như lời khẳng định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. “Đây là bài học cho những ai còn mơ hồ về 16 chữ vàng, về 4 tốt”- ông Tùng nói.
Bày tỏ sự đồng tình và đánh giá cao với chính sách của Chính phủ đối với ngư dân, Chủ tịch Đặng Ngọc Tùng cho rằng với quyết sách này, ngư dân sẽ có điều kiện bám biển: “Ngư dân đang cần tàu lớn, tàu sắt, tàu hậu cần nghề cá để mua sản phẩm cho ngư dân ngay trên biển, để họ không những bám ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa mà còn hướng ra đại dương rộng lớn”.
(Lao động)

Chính quyền Việt Nam đang đối mặt với những nguy cơ nào?

Bản điều trần của tiến sĩ, nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, Việt Nam

Tại Tiểu Ban Nhân Quyền thuộc Ủy Ban Thường Trực về Đối Ngoại và Phát triển Quốc Tế của Quốc hội Canada, thông qua Liên Hội Người Việt Canada, vào ngày 29.5.2014

(bài đăng báo có điều chỉnh và bổ sung so với bản điều trần)

Chưa bao giờ kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh Nam - Bắc vào năm 1975, những người lãnh đạo ở Việt Nam lại phải đối mặt với 5 nguy cơ quá lớn như hiện nay:

1. Nguy cơ khủng hoảng kinh tế:

Đây là nguy cơ lớn nhất và giải thích vì sao giới lãnh đạo Hà Nội lại quá cần đến Hiệp định kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Cuộc suy thoái kinh tế ở Việt Nam kéo dài từ năm 2008 đến nay đã làm kiệt quệ gần như toàn bộ nền kinh tế. GDP giảm đến 50%, tương ứng với các ngành kinh tế chủ chốt như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và du lịch đều suy giảm trầm trọng. Khoảng 50% số doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản, giải thể, hoặc tạm ngưng hoạt động. Tỷ lệ thất nghiệp thực tế lên đến khoảng 20%. Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng lên đến ít nhất 500.000 tỷ đồng (khoảng 25 tỷ USD), khoảng 75% nợ xấu tập trung vào thị trường bất động sản. Còn nợ công quốc gia lên đến ít nhất 95% GDP.

Tuy nhiên, đáng chú ý là gần như toàn bộ hậu quả cho đến nay vẫn chưa hề được giải quyết. Nhiều chuyên gia phản biện cho rằng đáy kinh tế vẫn chưa lộ ra, và nền kinh tế vẫn còn tiếp tục lao dốc trong những năm tới. Trong những năm sắp tới, Nhà nước Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ vỡ nợ như Argentine vào năm 2001.

2014 có thể là năm đầu tiên của một chu kỳ khủng hoảng ngân hàng, bắt đầu từ sự đổ vỡ của vài ngân hàng hạng trung và có thể dẫn đến sụp đổ dây chuyền trong ít nhất 50% số ngân hàng hiện hữu, dẫn đến khủng hoảng gần như toàn bộ nền kinh tế. Chu kỳ khủng hoảng kinh tế có thể lên đến cao điểm vào năm 2016-2017 và trở thành sóng nhấn cuối cùng đối với con thuyền chính trị. Đây là diễn biến quan yếu nhất.

2. Bất ổn xã hội và phản kháng dân chúng:

Bất ổn xã hội và phản kháng dân chúng đã gia tăng đột ngột từ năm 2011 cho tới nay. Trong những năm tới, phản kháng xã hội sẽ tăng cao về số lượng, quy mô, tạo nên áp lực lớn đối với chính thể và nằm trong giai đoạn đầu của một cuộc khủng hoảng xã hội trong những năm sau. Xu hướng này sẽ mau chóng biến thành xu thế ở rất nhiều địa phương, liên quan đến đất đai, môi trường, đình công, quan hệ giữa người dân và nhân viên công lực, nạn tham nhũng…

Quy luật khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng xã hội đang ứng nghiệm ở Việt Nam. Nếu hệ thống ngân hàng bị vỡ một phần, tình trạng đó sẽ lập tức ảnh hưởng rất xấu đến hoạt động của số doanh nghiệp còn lại và đẩy cao tình trạng thất nghiệp. Lạm phát cũng được thổi bùng và làm cho đồng tiền mất giá, có thể tái hiện một phần tình trạng lạm phát đến 600% những năm 1985-1986. Tỷ lệ thất nghiệp có thể tăng vọt đến 30-40% và đẩy phần lớn người lao động ra đường. Tình cảnh đó rất có thể làm cho niềm tin chính thể của người dân hoàn toàn tan vỡ và tạo nên làn sóng phản kháng rộng khắp, đặc biệt là trong nông dân và công nhân.

Khả năng cạn kiệt ngân sách và kinh phí an sinh xã hội cũng khiến cho nguy cơ vỡ quỹ lương hưu và quỹ bảo hiểm xã hội trở nên rất hiện hữu. Nếu khả năng này xảy ra, phần lớn cán bộ đảng viên về hưu, vốn đã tích tụ bất mãn và bức xúc đối với đảng và chính quyền, sẽ có thể trả thẻ đảng, tạo nên một phong trào thoái đảng trên diện rộng và gia nhập vào làn sóng biểu tình của người dân.

3. Phong trào dân chủ - nhân quyền và sức ép quốc tế:

Từ năm 1975 đến nay, chưa bao giờ đảng cầm quyền phải đối đầu với một là sóng phản kháng của giới bất đồng chính kiến và dân chủ - nhân quyền trong nước như hiện nay. Từ đầu năm 2013, xã hội dân sự đã chính thức hình thành ở Việt Nam, cho dù không được chính quyền thừa nhận. Vào tháng 4/2014, lần đầu tiên từ năm 1975, Nhà nước Việt Nam phải thỏa hiệp với Hoa Kỳ để thả đến 5 tù nhân chính trị.

Cũng chưa bao giờ giới lãnh đạo Việt Nam lại ở thế yếu ớt như hiện thời trong mối tương quan với Hoa Kỳ và phương Tây. Cuộc đi dây của Việt Nam giữa hai quốc gia Trung Quốc và Hoa Kỳ được xem là rất phiêu lưu và không mang lại hiệu quả.

4. Hiểm họa Trung Quốc:

Việt Nam càng bị phụ thuộc và Trung Quốc và càng bị Trung Quốc lấn ép ở Biển Đông và trong vấn đề nhập khẩu. Trong tương lai gần, nguy cơ từ Trung Quốc là rất tiềm tàng và có thể xảy ra những đột biến, không chỉ ở Biển Đông mà có thể là những can thiệp vào nội trị ngay tại Hà Nội và cả quân sự ở biên giới phía Bắc Việt Nam. Không loại trừ vào giai đoạn 2016-2017, khi Việt Nam có thể rơi vào khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng xã hội và nội bộ phân hóa sâu sắc, Trung Quốc có thể tung ra một chiến dịch tấn công quân sự tổng lực vào Việt Nam.

Trước sức ép và hiểm họa liên tục từ Trung Quốc, gần đây đã có vài dấu hiệu cho thấy ngay cả phe bảo thủ nhất trong đảng cũng đang có xu hướng dần chuyển sang quan hệ thỏa hiệp hơn với các đòi hỏi về dân chủ và nhân quyền của Hoa Kỳ và phương Tây, nhằm đổi lại quan hệ TPP, đầu tư, thương mại đa phương và hợp tác quân sự Biển Đông.

5. Cuộc tranh đoạt không khoan nhượng giữa các nhóm lợi ích:

Khác với sự thống nhất tạm thời trong quá khứ, hiện thời và tương lai gần của đảng cầm quyền không cho thấy những dấu hiệu khả quan về tính đồng thuận. Ngược lại, mối mâu thuẫn và xung khắc nội bộ ngày càng lớn, chủ yếu xuất phát từ quyền lợi của các nhóm lợi ích kinh tế và nhóm thân hữu chính trị. Đây là cuộc tranh đoạt ở giai đoạn cuối cùng, không khoan nhượng và cũng là một mối nguy rất lớn mà có thể làm tan vỡ đảng cầm quyền ở Việt Nam, ngay cả trong điều kiện nền kinh tế chưa thật sự rơi vào khủng hoảng.

* Kết luận:

Một cách đương nhiên, việc xem xét và lượng giá 5 nguy cơ nêu trên có thể bổ túc cho giới chính khách và các nhà đầu tư Canada một cái nhìn đầy đủ hơn về tình hình thực tại và tương lai trung hạn ở Việt Nam, từ đó đưa ra những chính sách đối xử Canada - Việt Nam không nhất thiết phải quá mềm dẻo về thương mại song phương, đầu tư và viện trợ nhân đạo.

Tôi cho rằng chính sách và áp lực về thực thi dân chủ, nhân quyền của phương Tây, chính sách xoay trục về châu Á- Thái Bình Dương của Hoa Kỳ vẫn còn nguyên giá trị và sẽ phát huy tác dụng lớn trong những năm tới, đặc biệt vào giai đoạn 2016-2017 là thời gian mà nền kinh tế Việt Nam nhiều khả năng đạt đỉnh khủng hoảng kinh tế, dẫn đến những biến loạn xã hội khôn lường và có thể tiếp biến một cuộc khủng hoảng chính trị ghê gớm.

Xin cám ơn quý vị đã lắng nghe.

Bản tiếng Anh

Dear Mr. Chair, ladies and gentlemen,

Since the end of the Vietnam war in 1975, never have the leaders in Vietnam faced 5 greater risks than present:

1. Risk of economic crisis:

This is the biggest risk and explains why Hanoi leaders desperately need the Trans-Pacific Partnership Agreement (TPP).

The economic downturn in Vietnam since 2008 has drained nearly the entire economy. The GDP fell 50%. Approximately 50% of businesses fell into bankruptcy, dissolution, or inactivity. The actual unemployment rate is about 20%. Bad debts in the banking system are at over $25 billion. The national debt is at least 95% of the GDP.

2014 may be the first year in a banking crisis cycle, starting from the collapse of several mid-sized banks, and can lead to a chain of collapses of at least 50% of the existing banks.

However, many experts note that these problems are not yet resolved and argue that the economic bottom has not even been identified. Vietnam is facing the risk of insolvency as Argentina did in 2001.

2. Social instability and people’s resistance:

Social instability and people’s resistance have increased dramatically since 2011. Protests will increase in quantity and size, and create great pressure on the regime, which is in the early stages of a social crisis. This trend will quickly spread into many locales, pertaining to land expropriation, strikes, police brutality, corruption, et cetera.

The theory of economic crisis leading to social crisis is proven. A broken banking system would immediately and adversely affect the operation of the remaining businesses. A skyrocketing unemployement rate of 30-40% would shatter the people’s faith in the regime and create a wave of protests, especially among farmers and workers.

Also, the risk of depleting the pension and social insurance funds is very much a reality. At that time, most retired party members who had accumulated discontent with the communist party will renounce their membership, creating a wide movement to quit the party and join the people’s protests.

3. Democracy movement - human rights and international pressure:

Since 1975, the ruling party has never faced a wave of protests from dissidents, human rights and democracy activists within the country as it is today. Also, Communist leaders have never been in a weaker position than now in relations with the United States and the West. Vietnam’s foreign policy tightrope between China and the United States only makes Vietnam more dependent on China and leads to it being bullied by China in the East Sea (also known as South China Sea).

4. Danger from China:

In the near future, there is high potential for sudden turmoils not only in the East Sea but also at the northern border of Vietnam, and interferences in domestic politics in Hanoi by China.

5. The unyielding dispute between interest groups within the Communist Party:

In contrast to their past unity, the present and near future of the Communist Party does not show signs of consensus between their own leaders. In fact, internal conflicts are growing, mainly derived from varying interests of interest groups. This uncompromising battle in its final stage can break up the ruling party, even if the economic crisis does not peak.

Conclusion:

Canadian politicians and investors can review and evaluate the 5 above risks in order to have a more complete view of the present and near future of Vietnam to appropriately reconsider their foreign policy and investments.

I think the Western policy of using economic pressure to advocate for democracy and human rights remains valueable and will have greater effect in the coming years for a free and democratic Vietnam.

Thank you for listening.
Tác giả gửi BVN.

HD 981 có thể khiến GDP VN giảm hơn 1%

000_Hkg8718978-600.jpg
Lưu thông trên đường phố Hà Nội hôm 21/6/2013, bên cạnh dự án xe lửa đang bị hoãn, được tài trợ bởi Trung Quốc.
AFP photo
Cơ hội vàng cho VN?

Trong báo cáo thường niên 2014 mang tên “Những ràng buộc đối với tăng trưởng”, VEPR dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam suy giảm nghiêm trọng trong năm nay với mức độ tăng trưởng dự báo giảm từ 1,65% đến 0,92% so với mục tiêu tăng trưởng ban đầu 5,8% mà Quốc hội thông qua cho năm 2014. Theo T.S Nguyễn Đức Thành, giám đốc VEPR thì “dự báo là mất hơn 1% tăng trưởng quý giá của chúng ta, tới đây, chúng ta phải chịu đựng khó khăn gian khổ để ứng phó với người láng giềng ứng xử xấu như vậy.” Được biết, bản báo cáo trên sử dụng các mô hình và đo ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp từ Trung Quốc hay từ các doanh nghiệp FDI khác.

Trên thực tế, trong thời gian qua, liên tục báo chí trong nước lẫn nước ngoài đều có những bài phân tích với sự lo lắng của giới đầu tư nước ngoài sẽ rút ra khỏi Việt Nam vì những bất ổn chính trị, khiến kinh tế Việt Nam sẽ chịu những thiệt hại lớn từ góc độ đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hơn nữa, tình hình bất ổn cũng xảy đến sau những vụ bạo động diễn ra ở các khu công nghiệp có nhiều doanh nghiệp nước ngoài có vốn FDI tại Vũng Áng, Hà Tĩnh hay tại Bình Dương.

Tuy nhiên, mới đây, khi nhận xét về những tác động tiêu cực mà Việt Nam có thể sẽ phải đối mặt khi xung đột với Trung Quốc xảy ra, T.S Lê Đăng Doanh đã ví von “trong họa có phúc, trong nguy có cơ” bởi theo ông, đây sẽ là cơ hội để kinh tế Việt Nam sẽ có một vị thế cân bằng hơn đối với Trung Quốc:

Việt Nam hiện nay có quan hệ thương mại rất là bất bình đẳng với Trung Quốc. Việt Nam xuất khẩu năm 2013 sang Trung Quốc là 13 tỷ 360 triệu đô la, chủ yếu là các sản phẩm nông sản và sản phẩm thô. Trong khi đó Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc là 36 tỷ 960 triệu đô la và chủ yếu là các nguyên vật liệu cho may mặc, da giày, và các trang thiết bị cho các nhà máy điện cũng như là các nhà máy khác.

Xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam thì chỉ bằng 1% xuất khẩu của Trung Quốc thôi, còn nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc chiếm đến 28% tổng nhập khẩu của Việt Nam. Vì vậy cho nên chắc chắn nếu như mà Trung Quốc có những biện pháp cấm vận hoặc hạn chế xuất khẩu sang Việt Nam thì Việt Nam sẽ chịu những thiệt hại tương đối nặng nề trong thời gian nhất định.

Tuy vậy, trong họa cũng có phúc, trong nguy cũng có cơ. Việt Nam hiện nay có quan hệ thương mại với 240 nền kinh tế trên thế giới và nếu như Trung Quốc ngừng xuất khẩu các linh kiện đó cho Việt Nam thì Việt Nam cũng có thể tìm kiếm linh kiên thay thế ở các thị trường khác, và sau đó thì nền kinh tế Việt Nam sẽ hồi phục; kinh tế Việt Nam sẽ có một vị thế cân bằng hơn đối với Trung Quốc.

Theo giới học giả, hiện tại nền kinh tế Việt Nam đang bị phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc nên đây sẽ là thời điểm để Việt Nam “giảm phụ thuộc”. Nếu nhìn vào cán cân thương mại, giá trị nhập khẩu từ Việt Nam thường gấp đến 2-3 lần giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc và không có dấu hiệu thu hẹp. Hơn thế nữa, mới đây Chính phủ 2 nước dự kiến sẽ tăng kim ngạch hai chiều lên 60 tỷ đô la vào năm 2015 vì thế cán cân thương mại Việt Nam càng bị thâm hụt hơn là điều khó tránh khỏi, do đó, trong “họa có phúc” là xung đột trên biển Đông sẽ là cơ hội để Việt Nam thoát khỏi nhập siêu từ Hoa Lục và có thêm nhiều bạn hàng khác.

Quan hệ bất bình đẳng với TQ

072_K76605-250.jpg
Một người dân buôn bán đồ gốm sứ Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai hôm 10/5/2014. AFP photo
Trên góc độ đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam, có thể thấy, FDI của nước này vào Việt Nam không nhiều so với các nước trong khu vực, Trung Quốc vẫn đứng sau Nhật, Singapore, Hàn Quốc. Đồng thời, khi đầu tư vào Việt Nam, FDI của họ không mang lại nhiều ngoại tệ cho Việt Nam như các đối tác khác, mà họ lại hưởng lợi cao hơn rất nhiều so với những nhà đầu tư nước ngoài: từ chuyện công nhân Trung Quốc tràn ngập các khu làng Việt Nam hay họ đưa sang Việt Nam các thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, điều này được thấy rõ nhất qua các dự án đấu thầu trọn gói EPC mà nhiều học giả Việt Nam cảnh báo:

Hầu hết các dự án Việt Nam đưa ra đấu thầu thường rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc, trong các công trình lớn thì phải đến 90% là rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc, gây ra rất nhiều hệ lụy, trước hết, nó tước đoạt đi những cơ hội của các công ty Việt Nam, tranh việc làm của các công ty Việt Nam.

Thường họ bỏ thầu với giá thấp để thắng thầu, nhưng khi họ thắng thầu rồi họ tìm cách trì hoãn và đội giá lên, nhiều công trình khi chào ban đầu thì thấp hơn nhưng trên thực tế khi thực hiện thì cao vọt hơn hẳn, cao hơn cả những nhà thầu của các nước phương Tây có công nghệ, thiết bị hiện đại hơn.

Hơn nữa, họ thường làm kéo dài tiến độ, càng kéo dài, càng gây tổn thất cho Việt Nam về nhiều mặt, làm cho Việt Nam mất đơn mất kép. Sau khi công trình đã hoàn thành rồi Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào họ như bảo dưỡng, vật liệu thay thế.

Vừa rồi là lời phân tích của nhà kinh tế độc lập Phạm Chi Lan trong một lần trao đổi trước đây với chúng tôi về những thiệt thòi mà Việt Nam thường đối mặt khi làm ăn với Trung Quốc. Cũng theo bà Phạm Chi Lan khi trả lời phỏng vấn truyền thông những ngày gần đây thì xung đột từ vụ giàn khoan HD981 sẽ là động lực và ý chí để Việt Nam giải quyết các vấn đề vốn tồn tại dai dẳng nhiều năm qua như: việc người Trung Quốc tràn lan ở Việt Nam, loại bỏ các nhà thầu Trung Quốc với những dự án FDI hạ giá bất kể chất lượng và không tôn trọng các chỉ tiêu nội địa hóa của Việt Nam.

Nếu xâu chuỗi vấn đề kinh tế với chuyện xâm chiếm lãnh hải, đặt trong bối cảnh kinh tế Việt Nam từ mấy năm qua không có gì khởi sắc, có thể thấy dự tính GDP Việt Nam sẽ giảm 1% trong năm nay không phải là không có cơ sở, nhưng “tái ông mất ngựa” trong rủi có may, người ta cho rằng đây sẽ là lúc Việt Nam xem xét lại mình trong vấn đề tái cơ cấu kinh tế, phát huy nội lực, mở rộng giao thương.

Hầu hết các học giả và giới phân tích kinh tế cho rằng Trung Quốc đúng là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, nhưng họ không phải là đối tác duy nhất và bền vững nhất. Việt Nam của gần 30 năm sau thời mở cửa đã có đến 240 bạn hàng quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam tham gia nhiều tổ chức thương mại quốc tế: WTO và trong tương lai là TPP, cộng đồng kinh tế ASEAN. Vì lẽ đó, mọi người đều cho rằng dù trở ngại kinh tế trước mắt là không thể tránh khỏi, nhưng về lâu về dài, đây lại là liều thuốc để Việt Nam dành lại thế cân bằng thương mại và khẳng định chủ quyền quốc gia, toàn vẹn dân tộc là điều quan trọng hơn bất kể thứ gì.
 
Vũ Hoàng, phóng viên RFA 
2014-06-02
 

Trần Kiên - Khoan Dung, Gốc Rễ Của Dân Chủ

Tác giả: Bài này được Người Đô Thị đăng lại với tiêu đề ngắn gọn "Khoan Dung", tuy chỉ có hai chữ mà vẫn được "ưu ái" để ý, cũng là một trải nghiệm đáng nhớ và cần nhớ.
Biểu tình chống giàn khoan Trung Quốc

Dường như bên cạnh một khuôn khổ chính trị, dân chủ cũng cần một nền tảng nhân văn để có thể dung hoà những sự khác biệt trong một xã hội đa dạng. Khoan dung có lẽ là câu trả lời ít người trông đợi nhất, nhưng lại là câu trả lời cốt yếu.

Dân chủ hoá không chỉ liên quan đến cải cách tổ chức chính quyền để quyền lực nhà nước thật sự thuộc về nhân dân mà quan trọng hơn, dân chủ chỉ có thể bền vững nếu các cá nhân, nhóm trong xã hội hiểu và có cơ hội thực hành sự đối thoại trên tinh thần tôn trọng sự khác biệt, hướng đến thoả hiệp vì lợi ích chung trên nền tảng bất bạo động. Nói cách khác, khoan dung là cốt lõi của nền dân chủ.
Từ chuyện xung đột xã hội

Nếu giờ có hỏi dân chủ là gì, chắc không ít người sẽ dễ dàng trả lời dân chủ là dân làm chủ. Sâu xa hơn, có nghĩa là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhưng dường như định nghĩa hàn lâm đó lại không lý giải được tại sao ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước chuyển đổi từ chế độ chuyên chính, toàn trị như Ai Cập hay Myanmar, ngay khi quyền lực nhà nước được trả về cho nhân dân thì cũng là lúc xung đột xã hội xuất hiện, bạo lực kéo dài có khi dẫn đến đảo chính, quân đội trở lại nắm quyền như ở Ai Cập, hoặc có khả năng đe doạ tiến trình dân chủ hoá như đang diễn ra ở Myanmar.

Dường như bên cạnh một khuôn khổ chính trị, dân chủ cũng cần một nền tảng nhân văn để có thể dung hoà những sự khác biệt trong một xã hội đa dạng. Khoan dung có lẽ là câu trả lời ít người trông đợi nhất, nhưng lại là câu trả lời cốt yếu. Đó là các giá trị tôn trọng sự khác biệt, hợp tác và thỏa hiệp giữa những giá trị và ý kiến khác nhau. Theo Mahatma Gandhi: “Bản thân sự không khoan dung cũng là một hình thức của bạo lực và là cản trở đối với sự phát triển tinh thần dân chủ thật sự”. Ở mức cao nhất là câu tuyên ngôn của Voltaire: “Tôi hoàn toàn không đồng ý với quan điểm của bạn. Nhưng tôi sẽ chiến đấu tới chết để bảo vệ quyền của bạn được nói lên quan điểm đó”.

Lịch sử cho thấy công cuộc chuyển đổi dân chủ từ các chế độ độc tài thường gặp nhiều trắc trở và mong manh. Một phần do sự phản kháng của các chính thể này đối với tiến trình dân chủ, mặt khác cũng do những cá nhân trong đó chưa học và biết cách lắng nghe, cách khoan dung với nhau, bắt tay nhau vì mục tiêu chung. Lâu dài, nó sẽ tạo ra một văn hoá loại trừ có tính chất khủng bố giữa các cá nhân và các nhóm trong xã hội.
Đến cách thức hoá giải

Vậy làm sao để xây dựng được văn hoá khoan dung trong xã hội để vận hành một nền dân chủ bền vững? Giáo dục là câu trả lời quan trọng nhất. Nhưng có lẽ không phải là một nền giáo dục đồng nhất nặng về đọc chép hiện nay dựa trên phương pháp học thuộc, diễn giải, sử dụng bài mẫu vốn là môi trường màu mỡ cho sự nảy nở của văn hoá độc quyền chân lý, loại trừ. Thay vào đó, cần có một nền giáo dục hướng đến việc xây dựng những con người tự do, dựa trên nền tảng tôn trọng cá nhân với tư duy phê phán. Nói cách khác, đó nên là một nền giáo dục khai minh hướng đến việc phát huy bản tính tự chủ của cá nhân.

Thừa nhận và tạo điều kiện cho xã hội dân sự phát triển cũng là một giải pháp quan trọng. Kinh nghiệm của Việt Nam thời gian qua cho thấy xã hội dân sự không chỉ là một khu vực nằm ngoài và đối lập với nhà nước. Trong không ít trường hợp, xã hội dân sự đã giúp điều hoà và giải toả các xung đột lợi ích trong lòng xã hội trong tinh thần bất bạo động, thúc đẩy và cổ vũ các giá trị nhân văn như quyền con người, bảo vệ môi trường. Kiến tạo một không gian rộng mở cho xã hội dân sự hoạt động cũng đồng nghĩa với việc kiến tạo cơ hội để thực hành sự đối thoại, tôn trọng, thỏa hiệp với nhau - các giá trị căn bản tạo nên văn hoá khoan dung.
Và những chuyển động của Việt Nam

Giáo sư Johnathan London trong một bài viết ngắn trên blog riêng của ông đã miêu tả cảm giác về một cái gì đó đang xảy ra ở Việt Nam. Thời gian vừa qua, chúng ta đã được chứng kiến những sự thay đổi lặng lẽ nhưng mạnh mẽ trong lòng xã hội Việt Nam; theo đó, chúng ta đang học cách tôn trọng và chấp nhận những ý kiến khác biệt nhau, thoả hiệp với nhau để theo đuổi mục tiêu chung, cương quyết từ chối cách giải quyết bạo lực.

Các nhóm xã hội đã biết tập hợp nhau lại để vận động thay đổi quan điểm về một điều cấm kỵ nào đó, đơn cử như vận động chấp nhận những người đồng tính, chuyển giới hay song giới. Là đối thoại dựa trên sự khác biệt ví như những tranh luận, đóng góp của các nhân sỹ trí thức về vấn đề Hiến pháp hay cải cách kinh tế, giáo dục. Là dũng cảm đối đầu thuyết phục người khác từ bỏ hành vi bạo lực, giúp đỡ công nhân Trung Quốc bị tấn công của những công nhân và người dân ôn hoà tại Bình Dương và Hà Tĩnh. Rõ ràng, xã hội chúng ta đã bắt đầu tự kiến tạo và biết nắm bắt cơ hội để học cách khoan dung với nhau ngay cả trong những điều kiện ngặt nghèo nhất.

Vẫn còn đó những cái nhìn, cách nghĩ và ứng xử tiêu cực, định kiến khi có những ý kiến khác biệt được nêu lên, nhưng những ai quan tâm đều có thể nhận ra, đúng là đang có một cái gì đó đang xảy ra trong lòng xã hội Việt Nam. Cái gì đó chính là việc người Việt đang học cách khoan dung với nhau, tôn trọng lẫn nhau và thoả hiệp với nhau vì mục tiêu chung lớn lao của đất nước. Chính điều đó là cơ sở cho niềm tin rằng khi đất nước chúng ta hoàn tất tiến trình dân chủ hoá, quyền lực thuộc về nhân dân thì chúng ta cũng sẽ có hy vọng tránh được các xung đột, mâu thuẫn như đã xảy ra ở nơi này, nơi khác trên thế giới.

Trần Kiên 
Nghiên cứu sinh, tiến sĩ ngành Luật, Anh
Nguồn: http://nguoidothi.vn/khoan-dung.ndt

Ngày 03/6/2014 - Dứt khoát không chịu hèn, chịu nhục

  • Quốc hội Mỹ chỉ trích Obama thả khủng bố Taliban (RFI) - Vụ trao đổi tù binh thả năm lãnh đạo Taliban đánh đổi tự do cho một binh sĩ Mỹ bị bắt cóc từ năm 2009 gây tranh cãi tại Hoa Kỳ. Phe Cộng hòa chỉ trích chính quyền Obama không thông báo cho Quốc hội biết trước 30 ngày quyết định thả tù binh, vi phạm nguyên tắc không thương thuyết với khủng bố có nguy cơ gây tổn hại cho sinh mạng công dân Mỹ ở nước ngoài.
  • Nhật phản bác lời công kích lớn lối của Bắc Kinh (RFI) - Thông điệp của Thủ tướng Shinzo Abe tại Diễn đàn an ninh khu vực Shangri-La kêu gọi« các nước trong vùng phải tôn trọng luật pháp» đã bị trưởng đoàn Trung Quốc Vương Quán Trung lênán là« khiêu khích Trung Quốc». Tokyo không ngại dùng đòn ăn miếng trả miếng của Bắc Kinh,"phản pháo" ngay tại chỗ.
  • Úc ủng hộ Mỹ cáo buộc Trung Quốc gây mất ổn định tại Biển Đông (RFI) - Từ Singapore, Bộ trưởng Quốc phòngÚc David Johnston đã trả lời phỏng vấn báo Sydney Morning Herald, số ra ngày hôm nay, 02/06/2014 và cho biếtông ủng hộ cáo buộc của đồng nhiệm Mỹ Chuck Hagel, theo đó, Trung Quốc có những hành động gây mất ổn định trong khu vực Biển Đông.
  • Cuộc biểu tình trước hai sứ quán Trung Quốc và Việt Nam tại Washington (RFA) - Một phụ nữ đứng tuổi, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, từ Virginia, nói lên tâm tư của bà: "... hôm nay là chủ nhật, với tuổi già sức yếu chúng tôi có thể nghỉ ngơi ở nhà, nhưng không thể như vậy, vì giặc đến nhà, dù là người già hay đàn bà cũng đều phải có hành động ... "
  • Bài viết không dành cho những người "sợ ma" (RFA) - Người Trung Hoa từ xưa đã có câu: "Quân bất hí ngôn" để thấy rằng, mọi việc dù lớn hay nhỏ, dù bình thường hay rất quan trọng, "vua" đã nói thì không thể coi là lời giỡn chơi được.
  • Bangkok tê liệt vì các vụ biểu tình lẻ tẻ (RFI) - Tại Thái Lan, cho đến ngày hôm qua Chủ nhật 01/06/2014, 10 ngày sau cuộc đảo chính quân sự hôm 22/05 vừa qua, thủ đô Thái Lan vẫn bị tê liệt bởi các vụ biểu tình lẻ tẻ chống quân đội. Thông qua các trang mạng xã hội, các cuộc biểu tình“chớp nhoáng” xuất hiện rải rác đó đây nhằm phân tán lực lượng quân đội phân bố đông đảo tại thủ đô.
  • Còn Đảng còn mình (VOA) - Câu khẩu hiệu 'còn Đảng còn mình', cho đến nay, chỉ xuất hiện trước các đồn công an
  • Tại sao Bình Nhưỡng mềm dẻo với Tokyo trong hồ sơ bắt cóc công dân Nhật? (RFI) - Đàm phán tại Stockholm thay vì ở Bắc Kinh. Mềm mỏng thay vì ngang ngược. Chính quyền Kim Jong Un bất ngờ chấp nhận các điều kiện của Tokyo mở lại hồ sơ người Nhật bị điệp viên Bắc Triều Tiên bắt cóc trong thập niên 1970 có thể lên đến 400 người chứ không giới hạn ở 13 người như Bình Nhưỡng nhiều lần khẳng định. Do đâu mà Nhật Bản biết rõ Bắc Triều Tiên là thủ phạm và vì sao lần này chiếm được thế thượng phong ?
  • Biển Đông : Trung Quốc đề nghị Việt Nam không kiện lên tòa án quốc tế (RFI) - Theo Reuters, bên lề Hội nghị Shangri-la, ở Singapore, ngày hôm qua, 01/06/2014, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, tướng Nguyễn Chí Vịnh, cho biết là Hà Nội chưa quyết định lúc nào sẽ đưa vụ tranh chấp chủ quyền biển đảo ra trước tòaán trọng tài Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, quyết định của Việt Nam tùy thuộc vào hành động của Trung Quốc ở Biển Đông.
  • Trung Quốc : Gieo gió, gặp bão (RFI) - Người dân Trung Quốc bắt đầu phải đối mặt với nạn khủng bố. Các vụ tấn công xảy ra ngày càng thường xuyên hơn. Nhưng đó là hậu quả từ chính sách đànáp các sắc tộc thiểu số mà Bắc Kinh đã liên tục theo đuổi từ hàng chục năm qua.
  • Hải tặc cướp tàu dầu Thái lan trong biển Đông Nam Á (RFI) - Sau sáu ngày mất tích, một tàu chở dầu Thái Lan trở lại bến với hầm chứa trống không.Theo Văn phòng hàng hải quốc tế BMI, trụ sở đặt tại Kuala Lumpur, chiếc tàu MT Orapin là nạn nhân mới của nạn cướp biển trong vùng biển Đông NamÁ.
  • Tân Hoa Xã tiếp tục cáo buộc Việt Nam gây căng thẳng (RFI) - Thông điệp nhún nhường của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh tại Singapore, gọi Trung Quốc là“bạn” dường như không tạo được kết quả. Tân Hoa Xã Trung Quốc tiếp tục luận điểm mạ lị Việt Nam qua hai bài“phân tích” của hai chuyên gia của Viện quan hệ quốc tế cận đại : Hà Nội gây sự để định hướng công luận đang bất mãn chế độ và bắt Asean trả giá cho mình.
  • Xây dựng nền kinh tế tự chủ (BaoMoi) - Trước việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981, các đại biểu Quốc hội cùng đề nghị Chính phủ có kế sách, kịch bản thoát khỏi sự lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc, khởi động ngay trong năm 2014
  • KỲ 1: Việt Nam có đủ luận cứ công pháp quốc tế (BaoMoi) - QĐND - Phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc phỏng vấn với Tiến sĩ Tạ Văn Tài, luật sư, cựu giảng viên và hiện đang là nghiên cứu viên tại Trường Luật Harvard (Mỹ) về những cơ sở pháp lý và lịch sử cho thấy Trung Quốc đã vi phạm như thế nào khi hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở Biển Đông.
  • Nam Hàn chấp thuận 2 ngư phủ miền Bắc tỵ nạn (RFA) - Chính phủ Nam Hàn chấp thuận lời yêu cầu xin được tỵ nạn của 2 trong 3 ngư phủ miền Bắc, sau khi chiếc tầu đánh cá của họ trôi dạt vào hải phận của miền Nam hôm thứ Bảy tuần trước.
  • Cơ hội cho doanh nghiệp Mỹ đầu tư ở Việt Nam (BaoMoi) - Các doanh nghiệp (DN) Mỹ sẽ tiếp tục gắn bó lâu dài với Việt Nam bất chấp những căng thẳng ở biển Đông. Đây là một trong những thông điệp của Bộ trưởng Thương mại Mỹ Penny Pritzker đưa ra trong cuộc họp báo tại Hà Nội chiều qua (2.6).
  • Cựu cầu thủ danh tiếng Phạm Huỳnh Tam Lang qua đời (RFA) - Theo thông tin chúng tôi nhận được, cựu cầu thủ Phạm Huỳnh Tam Lang vừa qua đời do đột quỵ, hưởng thọ 72 tuổi. Ông đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Chợ Rẫy, TP HCM ngày 02 tháng 6, 2014.
  • Một bài phát biểu thô kệch (BaoMoi) - Hội nghị thường niên diễn đàn An ninh châu Á-Thái Bình Dương (Đối thoại Shangri-La) kết thúc ngày 1-6 với nhận định chung của các học giả và diễn giả là chính Trung Quốc gây căng thẳng trên biển Đông với việc đưa giàn khoan Hải Dương-981 tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Tuy nhiên, các hoạt động của đoàn Trung Quốc tại Đối thoại Shangri-La, trong đó có bài phát biểu của Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc Vương Quán Trung vẫn tỏ thái độ rất ngoan cố.
  • 24h Biển Đông: Không chịu hèn, chịu nhục (BaoMoi) - Thắt lưng buộc bụng để tập trung nguồn lực cho quốc phòng an ninh. “Dứt khoát không chịu hèn chịu nhục để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ" là khẳng định của ĐBQH trước việc TQ đặt giàn khoan trái phép trên vùng biển chủ quyền của VN.
  • Ngày Mồng Năm Tháng Năm ở miền Trung (RFA) - Khác quan niệm của người Trung Quốc, với người Việt Nam, tết Đoan Ngọ là một cái Tết diệt những sâu bọ có hại và đón ánh sáng mạnh nhất trong năm để tích tụ dương khí mà đối phó với mùa Đông phía trước. Tết Đoan Ngọ trùng với ngày Hạ Chí, đây cũng là dịp người ta rủ nhau vào rừng hoặc ra đồng nội để hái lá thuốc, phơi và cất dành.
  • Vì lợi ích, danh dự của nhân dân, đất nước (BaoMoi) - Với gần 90 triệu người con nước Việt dù sinh sống trong nước hay hải ngoại, dù già hay trẻ, dù quan niệm xã hội và tín ngưỡng - tôn giáo có khác nhau,... thì Hoàng Sa và Trường Sa luôn là vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Vì thế theo tác giả Hồ Ngọc Thắng - một người Đức gốc Việt, khi chủ quyền của Tổ quốc bị xâm phạm, mọi người Việt Nam ở nước ngoài đều rất bức xúc và tự thấy phải có trách nhiệm.
  • Phát triển kinh tế-xã hội gắn với củng cố quốc phòng-an ninh (BaoMoi) - QĐND - Đó là ý kiến tâm huyết của nhiều đại biểu Quốc hội trong phiên họp ngày hôm qua (2-6) khi thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội và ngân sách Nhà nước. Phiên họp do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì và Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân điều khiển diễn ra sôi động, được Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam tường thuật trực tiếp, thu hút sự quan tâm đặc biệt của cử tri.
  • Giao tranh bùng nổ gần biên giới Nga (VOA) - Giao tranh bùng ra khi khoảng 100 chiến binh đòi ly khai tấn công một đơn vị biên phòng Ukraine ở ngoại ô thành phố Luhansk, cách biên giới Nga 30 kilomét
  • Hỏi đáp y học: Chứng ngáy khi ngủ (VOA) - Trong chương trình Hỏi đáp Y học tuần này, thính giả Huỳnh Thị Hằng, ở Cần Thơ thắc mắc về chứng ngáy khi ngủ và sự hữu dụng của các dụng cụ chống ngáy
  • Hải tặc thả tàu Thái Lan sau khi cướp dầu (VOA) - Một chiếc tàu chở dầu của Thái Lan mất tích trong chuyến đi từ Singapore tới Indonesia đã cập cảng Thái Lan với thủy thủ đoàn, nhưng dầu trên tàu bị cướp mất
  • Trường thi “dậy sóng” biển Đông (BaoMoi) - Vấn đề thời sự biển Đông đã đi vào đề thi văn và sử của kỳ thi tốt nghiệp THPT 2014, thu hút sự quan tâm và thích thú của phụ huynh và thí sinh.
  • Tạo đà để người Việt ưu tiên dùng hàng Việt (BaoMoi) - (SGGP).- Tại buổi họp báo thường kỳ tháng 5 diễn ra hôm qua (2-6), trước câu hỏi về việc giảm phụ thuộc về thị trường xuất, nhập khẩu với Trung Quốc trước diễn biến phức tạp trên biển Đông vừa qua, ông Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công thương cho biết, đây là cú hích làm mạnh hơn việc người Việt ưu tiên dùng hàng Việt.
  • Đặc biệt trên báo in ngày 3.6.2014 (BaoMoi) - Cập nhật Thông tin nóng về Biển Đông; Kỳ thi tốt nghiệp THPT; Chọn đầu bếp làm đại sứ du lịch… là các thông tin hấp dẫn bạn đọc có thể đón xem trên Báo Thanh Niên số ra ngày 3.6.2014.
  • Những tín hiệu đáng chú ý từ dư luận Nga (BaoMoi) - (Cadn.com.vn) - Ngày 1-6, trang mạng Gazeta.ru, một trong ba báo điện tử tư nhân lớn nhất ở Liên bang Nga với lượng truy cập trung bình 3 triệu lượt/ngày có bài viết: “Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận” của nhà báo Vladimir Koryagin. Tác giả đã đưa ra một số chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, bác bỏ yêu sách chủ quyền phi căn cứ của Trung Quốc và cung cấp cho độc giả thông tin khái quát về diễn biến tranh chấp xung quanh quần đảo này.
  • Nhiều thí sinh kết thúc ngày đầu thi tốt nghiệp THPT với tâm lý thoải mái (BaoMoi) - Các sĩ tử đã bắt đầu bước vào kỳ thi tốt nghiệp THPT và hoàn thành ngày thi đầu tiên với môn Văn, Lý và Sử. Đa phần các em trong buổi thi này đều nhận xét đề sát với chương trình học và đặc biệt hứng thú với đề thi môn Văn và môn Sử khi có câu hỏi liên quan đến chủ đề biển Đông.
  • Sử đời nhà… tùy! (BaoMoi) - QĐND - Bị chất vấn về cái gọi là “đường 9 đoạn” tại diễn đàn Đối thoại Shangri La lần thứ 13 diễn ra ở Xin-ga-po mới đây, tướng Vương Quán Trung, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa tuyên bố: “Có người cho rằng “đường 9 đoạn” là vấn đề Trung Quốc khó giải thích với thế giới, nhưng sự thật lại không phải như vậy!”.
  • Sáng ngời chính nghĩa và truyền thống Việt Nam (BaoMoi) - QĐND - Bài phát biểu của Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, tại Đối thoại Shangri-La 13 đã thu hút sự quan tâm, nhận được sự ủng hộ của dư luận...
  • Sản xuất công nghiệp tăng trưởng tốt (BaoMoi) - (VTV Online) - Tháng 5 vừa qua, bất chấp những căng thẳng trên Biển Đông, sản xuất công nghiệp của Việt Nam vẫn trên đà tăng trưởng. Đó là khẳng định của Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trong cuộc họp báo thường kỳ tháng 5 diễn ra chiều 2/6, tại Hà Nội.
  • Dư luận Nga: 'Trách nhiệm thuộc hoàn toàn phía Trung Quốc' (BaoMoi) - Ngày 1/6, báo “gazeta.ru”, một trong 3 tờ báo điện tử tư nhân lớn nhất ở Nga với lượng truy cập trung bình 3 triệu lượt/ngày có bài viết: “Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận”của nhà báo Vladimir Koryagin. Ngoài phân tích các dữ kiện lịch sử khẳng định chủ quyền không tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, tác giả còn có cuộc trò chuyện với 5 chuyên gia hàng đầu của Nga về nghiên cứu Biển Đông và quan hệ Việt Nam-Trung Quốc (TQ) nhằm cung cấp cho độc giả góc nhìn đa chiều của dư luận xã hội Nga về vấn đề này. Pv TTXVN tại LB Nga trích giới thiệu nội dung các cuộc trao đổi:
  • Bộ Công thương: Việt Nam sẽ giảm nhập siêu, tăng xuất khẩu (BaoMoi) - NDĐT - Tại cuộc họp báo thường kỳ tháng năm của Bộ Công thương diễn ra chiều 2-6, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết, hiện nay quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc vẫn đang tiếp tục phát triển và là mối quan hệ hai bên cùng có lợi.
  • Góc nghị trường: Một ngày đặc biệt (BaoMoi) - 70 đại biểu bấm nút đăng ký, 47 vị được phát biểu, từ người đầu tiên đến người sau cuối đều tỏ rõ thái độ với tác động từ giàn khoan 981 của Trung Quốc. Quốc hội Việt Nam đã có một ngày đặc biệt.
  • Ngư dân Việt Nam vạch trần bịa đặt của Trung Quốc trên CNN (BaoMoi) - Ngày 26.5, một tàu của ngư dân Việt Nam đã bị tàu của Trung Quốc (TQ) đâm chìm trên vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Đó là một trong những hành động gây hấn liên tiếp của Trung Quốc thời gian qua tại biển Đông, sau khi họ đơn phương đặt giàn khoan Hải Dương (Haiyang Shiyou) 981 trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Dứt khoát không chịu hèn, chịu nhục

TTO - Mở đầu phiên thảo luận của Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội chiều nay, đại biểu Lê Nam (Thanh Hóa) khẳng định trước sự hung hăng, bạo lực của Trung Quốc ở biển Đông, chúng ta dứt khoát không hèn!


Đại biểu Lê Nam: Dứt khoát bảo vệ toàn vẹn giang sơn đất nước mà cha ông để lại. Dứt khoát không chịu hèn, chịu nhục, không bán mình cho quỷ dữ và không đẩy nhân dân của chúng ta vào chốn hòn tên mũi đạn chiến tranh' - Ảnh: Việt Dũng



“Điều rất đặc biệt là các nhà lãnh đạo Trung Quốc chọn thời điểm xâm lấn biển Đông đúng vào lúc Quốc hội chúng ta tổ chức kỳ họp thứ 7. Có lẽ đó cũng là một sự tính toán để thử thách tấm lòng trung kiên, bản lĩnh, trí tuệ của các đại biểu Quốc hội và cả Quốc hội” - ông Nam nói.

Bảo vệ giang sơn của cha ông để lại

Ông Lê Nam bày tỏ sự đồng tình với chủ trương giải quyết, đặc biệt là sự thể hiện của Thủ tướng về vấn đề biển Đông. “Dứt khoát bảo vệ toàn vẹn giang sơn đất nước mà cha ông để lại. Dứt khoát không chịu hèn, chịu nhục, không bán mình cho quỷ dữ và không đẩy nhân dân của chúng ta vào chốn hòn tên mũi đạn chiến tranh” - ông Nam nhấn mạnh.

Theo đại biểu Nam, Chính phủ đã quyết định những chính sách mới hỗ trợ ngư dân. Đó là quyết sách rất quan trọng, nhất là trong tình hình hiện nay, hàng ngày chúng ta đang chứng kiến khí phách của ngư dân bảo vệ chủ quyền biển đảo. Trong khi vẫn còn khó khăn nhưng Chính phủ đã dự kiến dành ra 16.000 tỷ đồng để tăng cường trang thiết bị cho cảnh sát biển, kiểm ngư. Dành 10.000 tỷ đồng cho ngư dân vay với lãi suất cực kỳ ưu đãi 3%/năm và được mang chính con tàu ấy thế chấp. Những ước mơ, khao khát của ngư dân đã lâu lắm rồi giờ mới có khả năng được đáp ứng.

Đồng thời, đại biểu Nam đề nghị cùng với quyết sách mới thì công tác chỉ đạo của Chính phủ phải quyết liệt. “Bóng ma của các dự án đánh bắt xa bờ từ những năm 90 của thế kỷ trước vẫn còn lởn vởn” - đại biểu Nam nhắc lại và đề nghị Chính phủ “theo dõi chặt chẽ việc thực hiện chính sách dành cho ngư dân, ngăn chặn kịp thời việc ăn chặn của ngư dân”.

Đề nghị Quốc hội ra lời kêu gọi toàn dân

“Tròn một tháng qua, hàng ngày, từng giờ nhân dân VN và người VN ở nước ngoài hướng về biển Đông với sự quan tâm, lo lắng, phẫn nộ, bất bình lên án hành vi ngang ngược, bất chấp đạo lý, nhân nghĩa láng giềng, trắng trợn xâm phạm chủ quyền lãnh thổ VN của Trung Quốc” - đại biểu Nguyễn Thái Học (Phú Yên) nói.

Đại biểu Học cảm động chứng kiến hình ảnh: bằng các hình thức khác nhau, từ người già đến con trẻ, đã có những việc làm cụ thể, thiết thực khẳng định lòng yêu nước, khẳng định ý chí bảo vệ chủ quyền đất nước. Những cựu chiến binh bày tỏ nguyện vọng sẵn sằng ra Hoàng Sa sát cánh cùng cảnh sát biển, kiểm ngư. Những em nhỏ dành khoản tiết kiệm để đóng góp cho chương trình chung sức bảo vệ chủ quyền Biển Đông, đã có 850.000 tin nhắn góp sức bảo vệ biển đảo quê hương…

“Hòa bình và an ninh bị đe dọa” - ông Học nhắc lại lời Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu khai mạc kỳ họp Quốc hội.

Và ông nhắc lại lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Từ đó, đại biểu Học đề nghị: “Đại biểu Quốc hội chúng tôi trân trọng và thiết tha đề nghị Quốc hội ra lời kêu gọi toàn dân phát huy truyền thống quý báu theo lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ra sức thi đua lao động sản xuất và công tác, toàn dân tộc đoàn kết một lòng sát cánh cùng trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”.

“Đây sẽ là tiếng gọi thiêng liêng của non sông đất nước, là nguyện vọng tiềm ẩn của dân tộc VN. Hưởng ứng lời kêu gọi này, toàn thể dân tộc VN sẽ đoàn kết một lòng, tạo thành làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn để lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc” - đại biểu Nguyễn Thái Học nhấn mạnh.
LÊ KIÊN 
(Tuổi trẻ)