Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

40 năm Hoàng Sa bị cưỡng chiếm: “Không lên tiếng cho thế giới biết thì sẽ không ai giúp ta đòi lại Hoàng Sa” - Kiện Trung Quốc Việt Nam được gì? - Cái ác lộng hành

Cái ác lộng hành
Tạp ghi Huy Phương
Xem những đoạn phim ngắn quay cảnh các cô “bảo mẫu” đối xử với các cháu trong bữa ăn tại nhà trẻ Phương Anh trong thành phố mang tên “Bác” vừa được đưa lên Internet, không ai không khỏi giật nảy mình và sau đó không cầm được nước mắt. Giật nảy mình là vì thấy những cử chỉ tàn ác quá đột ngột không ai ngờ trước, như bóp mũi em bé, đút liên tục rất nhanh thức ăn vào miệng em, và khi phải nói là quá đau đớn khi thấy cô “trồng người” dốc ngược đầu em bé vào thùng nước. Khốn nạn hơn nữa là cô “bảo mẫu” bé kẹp đầu em bé vào chỗ kín để rảnh tay đánh tới tấp vào lưng đứa trẻ, cũng như một cô khác lắc em bé như lắc một con gấu nhồi bông, hay đút chỗ thức ăn trẻ vừa nôn mửa ra vào lại mồm đứa bé!
Phản ứng của người xem đoạn phim trên là phải đồng loạt la lên: “Sao lại có loại người ác độc như thế?”

Danh từ Hán Việt “bảo mẫu” mà Việt Nam đang dùng có nghĩa là vú nuôi, bây giờ phải nghĩ đó chính là “ác phụ,” cũng như lối đặt chữ của người trong nước bây giờ: “Lương Y như Hà Bá - Thầy thuốc kiêm Mẹ Mìn”. Chúng ta đặt hy vọng gì cho thế hệ tương lai, khi một cô gái mới 19 tuổi, trong tương lai sẽ là người sinh nở, cho con bú mớm, nuôi dạy con, đã có những lối hành xử như thế!

Nhà trẻ này lấy cớ vì đồng lương của “bảo mẫu” quá ít, cha mẹ mỗi đứa trẻ chỉ đóng một triệu đồng mỗi tháng, trong khi đó phải chi ra bao nhiêu thứ, tốn phí nhất là tờ giấy phép, hay chưa có phép thì phải chi cho công an, phường khóm để làm ngơ cho nhà trẻ hoạt động. Nhưng đây chỉ là lý do đưa ra để biện minh cho sự lơ là nhiệm vụ, chứ không thể nào giải thích cho cái ác lộng hành.

Một ông bố kết hợp với bà dì ghẻ, đánh một đứa trẻ mới lên sáu gẫy một cái xương sườn, xong bỏ vào bao bố, đem vứt ra nghĩa địa gần nhà, cho nó khóc la hết hơi, gọi là để răn đe. Một “lương y” làm đẹp cho phụ nữ, lỡ tay làm chết khách hàng, thản nhiên mang xác đi vứt xuống sông. Một đứa con bất hiếu đi làm về, thấy mẹ bệnh chưa nấu cơm, nổi giận đánh chết mẹ. Một bà vợ đánh chồng đến chết, con thắc mắc thì nói dối, bố uống rượu ăn tiết canh bị nôn ra, xong gói xác chồng đi chôn. Một ông sư tằng tịu với tín đồ lỡ mang thai, đem giết người tình rồi chôn sau vườn chùa. Rất nhiều cô gái lỡ lầm sinh con rồi ném con xuống ao hay vứt vào thùng rác! Những viên công an sẵn sàng đánh chết người vì lý do thi hành nhiệm vụ.

Chúng ta kể sao cho hết những cái ác chúng ta đã nghe, thấy mỗi ngày ở Việt Nam?

Chưa lúc nào cái ác hiện hình nhan nhản và lộng hành trong xã hội như hiện nay, vì nhìn đâu cũng thấy ác, nên con người lâu ngày trở nên chai lì và thấy cái ác của người khác là bình thường, và sẵn sàng làm điều ác như một bản năng mà không thấy.

Ở Việt Nam, sau khi Sài Gòn bị đổi tên, có một tờ báo bán chạy nhất là tờ “Công An TP. Hồ Chí Minh” và có ông ký giả “to lon” nổi tiếng nhất là “ký giả, nhà văn Trung Tướng Hữu Ước,” người cầm đầu tờ báo này trong 17 năm. Ông này đã từng hãnh diện tuyên bố lúc về hưu: “Nhiều báo trên thế giới đã đánh giá hệ thống truyền thông của Bộ Công An Việt Nam là mạnh nhất thế giới so với các hệ thống truyền thông của các nước, kể cả Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc. Hệ thống truyền thông của công an Việt Nam có ảnh hưởng xã hội, có tia ra (*) phát hành lớn nhất, kênh truyền hình cũng là một trong những kênh truyền hình có số lượng người xem nhiều nhất. Như vậy thì tôi đã hoàn thành một sứ mệnh lịch sử rất vinh quang.”

Hệ thống truyền thông của Bộ Công An Việt Nam đã vượt xa các cường quốc văn minh như Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc... vì các cường quốc khác mãi lo chuyện “vô bổ” như phổ biến đến quần chúng những thông tin về văn hóa, khoa học, xã hội, tôn giáo, công dân giáo dục... thì báo đài của Bộ Công An Việt Nam chuyên loan tin hiếp dâm, giết người, cướp của và những hành động tàn độc nhất của con người Việt Nam, tập cho độc giả, từ đứa trẻ con đến ông già làm quen với máu me, chết chóc. Tờ “Công An TP. Hồ Chí Minh” hãnh diện là tờ báo bán chạy nhất, ngày này đã thành một tờ nhật báo “không thể thiếu trong mọi gia đình” để mỗi buổi sáng thức dậy, bên ly cà phê, người dân bắt đầu một ngày với những tin hiếp dâm cắt cổ, đánh mẹ chửi cha, hiếp dâm trẻ nhỏ.

Trong một đất nước dân trí cao, thì con người có nhu cầu tìm hiểu, học hỏi và khao khát những thông tin về nghệ thuật, văn hóa, chính trị, tôn giáo... còn dân trí như Việt Nam dưới chế độ này thì thích nghe ngóng lượm tin, bàn tán chuyện giết người, hiếp dâm, cắt cổ... qua báo Công An và băng tần Công An, mà ông Hữu Ước khoe khoang là báo Công An có số lượng nhiều nhất và kênh truyền hình Công An có số lượng người xem nhiều nhất, điều đó có gì đâu để hãnh diện, mà phải thấy xấu hổ.

Chúng ta ở Mỹ, không thấy có nhật báo Cảnh Sát, cũng chẳng thấy đài truyền thanh, truyền hình riêng của FBI, và người dân mỗi buổi sáng mua tờ nhật báo phải lật xem “Tin Thế Giới” hay mục “Thể Thao” hay trang “Kinh Tế” trước, phải chăng là một đất nước tụt hậu kém cỏi thua nước CHXHCN Việt Nam?

Ông Cao Tuấn, một người trong nước, đã viết trên báo Lao Ðộng là: “Trong khi nhiều người đua nhau thể hiện 'đẳng cấp' bằng hình ảnh nhà cao, xe đẹp, hàng hiệu... thì một thông tin từ Bộ Văn Hóa-Thể Thao và Du Lịch đưa ra khiến dư luận không khỏi giật mình: Người Việt Nam đọc trung bình 0.8 cuốn sách/người/năm, khá thấp so với các nước trong khu vực. Thông tin này có thể giúp giải thích đôi điều về cái ác.”

Theo tôi, có lẽ trung bình một năm người Việt Nam không đọc được một cuốn sách nhưng đọc hết 365 tờ báo Công An. Ðây là tờ báo chuyên thông tin và đồng lõa với cái ác.

Nhà văn Trần Mạnh Hảo đã có lần phát biểu: “Người Cộng Sản vì theo chủ nghĩa Karl Max, một chủ nghĩa 'duy ác,' không phải 'duy tâm,' cũng không phải 'duy vật,' nên đã làm cho đất nước chúng ta lâm vào cảnh điêu tàn...” Trong lịch sử nhân loại vào thế kỷ XX, có ba người bị coi là đồ tể lớn nhất, giết hơn 100 triệu người, ngoài Phát Xít Hitler, có hai người Cộng Sản được thần dân CSVN ca tụng hết mình là Staline giết 12 triệu người từ 1924 đến 1953, Mao Trạch Ðông với 65 triệu người chết từ 1949 đến 1976, chưa kể đến Hồ Chí Minh và Pol Pot trong danh sách các ác nhân của thời đại.

Phật Giáo có nói: “Ðừng thấy điều thiện nhỏ mà không làm, thấy điều ác nhỏ mà làm!”

Công Giáo cũng có câu: “Ðừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy tiếp tục lấy điều thiện thắng điều ác” (Rô-Ma 12:21). Lẽ cố nhiên muốn đẩy lùi cái ác thì xã hội cần phải biểu dương cái thiện, nêu những tấm gương thiện để giáo dục con người về nhân cách sống.

Nhưng trong khi Bác Sĩ Nguyễn Thu Thủy tố cáo vụ tráo đổi thủy tinh thể ở bệnh viện mắt Hà Nội và của chị Hoàng Thị Nguyệt tố cáo giả mạo kết quả xét nghiệm ở bệnh viện Ða Khoa Hoài Ðức bị gặp rắc rối, thì Dược Sĩ Trần Kiều Oanh đứng lên tố chuyện ăn tiền hối lộ tại phòng Giám Ðịnh Y Khoa, Sở Y Tế Bình Phước, bị đuổi việc.

Ai nói cái thiện luôn luôn thắng cái ác?

Có, nhưng không phải dưới chế độ Cộng Sản!
(*) “tia ra”: Ông Hữu Ước không để trong ngoặc kép, chữ “tirage”(tiếng Pháp) là số lượng phát hành!

Vì sao tỉnh giàu cũng... xin gạo cứu đói?

15 tỉnh đề nghị cấp gạo cứu đói dịp Tết và giáp hạt 2014 phần lớn do khó khăn thật sự, nhưng có địa phương khá giả, như Khánh Hòa, cũng xin gạo cứu đói.

Ngày 13/1, trao đổi với PV, ông Thái Phúc Thành, Phó cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội Bộ Lao động, thương binh và xã hội, cho biết Bộ đã nhận được đề nghị hỗ trợ gạo cứu đói của 15 tỉnh với nhu cầu hơn 28.000 tấn gạo. 
“Trong số 15 tỉnh xin cấp gạo có ba tỉnh đề xuất nhiều nhất là Quảng Bình cần 5.200 tấn, Quảng Trị cần 4.300 tấn, Nghệ An cần 4.200 tấn. Đây là ba tỉnh năm vừa rồi chịu thiệt hại nặng nề do các đợt thiên tai, bão lũ liên tiếp”, ông Thành cho hay.
Học sinh nghèo Trường tiểu học Bạch Đích (Hà Giang) nhận quà Tết Giáp Ngọ.
Học sinh nghèo Trường tiểu học Bạch Đích (Hà Giang) nhận quà Tết Giáp Ngọ. 
Quà Tết của Chính phủ cho người nghèo  
 
Lý giải chuyện xin gạo, ông Nguyễn Đức Chính, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Quảng Trị, cho biết trong năm qua tình hình tăng trưởng kinh tế của tỉnh nhà ở mức khá nhưng vẫn phải xin gạo cứu trợ do mức tính tỷ lệ tăng trưởng là tính trung bình. Thực tế vẫn còn một bộ phận khá lớn người dân trong tỉnh sống dưới mức nghèo khổ, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Pa Cô, Vân Kiều. Những hộ này vẫn thường xuyên thiếu gạo ăn dịp giáp hạt. Năm 2013 những vùng này còn bị lũ lụt, khả năng thiếu gạo còn cao hơn.  
 
Không có chuyện Bình Thuận xin gạo cứu đói
Những ngày qua, một số phương tiện thông tin đại chúng đưa tin một số tỉnh đề nghị hỗ trợ gạo cứu đói, trong đó có Bình Thuận. Tuy nhiên ông Nguyễn Thanh Hồng, giám đốc Sở Lao động - thương binh và xã hội Bình Thuận, cho biết đến nay cơ quan này chưa có văn bản gửi trung ương xin gạo.
“Nếu người dân ở tỉnh đói thì tỉnh có đủ khả năng giúp chứ không đến mức phải cần gạo cứu đói từ trung ương. Năm nay Bình Thuận không có thiên tai hay mất mùa gì lớn. Chúng tôi đang liên hệ lại với trung ương để hỏi rõ về thông tin này”, ông Hồng nói. Bình Thuận những năm gần đây được chú ý với tên gọi “thủ đô resort” hay “vựa thanh long” của cả nước. Vì vậy khi xuất hiện thông tin Bình Thuận có trong danh sách xin hỗ trợ gạo cứu đói thì một số cư dân mạng đã “ném đá” về sự việc trên. Thông tin từ HĐND tỉnh Bình Thuận cho biết trong năm 2013 tốc độ tăng GDP của Bình Thuận đạt 8,6% (kế hoạch 9%).
Theo quan điểm của ông Chính, với những hộ nghèo khó như thế này, nếu được hỗ trợ gạo, họ may ra mới thừa được chút tiền mua cái áo cái quần hay đầu tư nuôi con heo con gà, giúp khả năng thoát nghèo sẽ cao hơn.Tình cảnh Quảng Bình cũng tương tự, ông Trương An Ninh, Chánh văn phòng UBND tỉnh Quảng Bình, cho biết: “Tỉnh hiện vẫn còn nhiều vùng mà đời sống bà con gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vùng miền núi, nơi có đồng bào các dân tộc ít người sinh sống...Năm qua tỉnh cũng là vùng phải gánh chịu nhiều thiệt hại nhất do bão, lũ gây ra khiến đời sống của bà con vốn đã gặp khó khăn càng khó khăn thêm. Vì vậy tỉnh phải đề nghị trung ương cấp thêm gạo khi thiếu, hơn nữa trong chính sách hỗ trợ gạo của Nhà nước vào dịp Tết và giáp hạt hằng năm thì Quảng Bình vẫn nằm trong diện được hỗ trợ...”.Riêng với Nghệ An thì đây là năm tăng trưởng kinh tế khá cao. Trong 10 sự kiện tiêu biểu của tỉnh năm 2013 có hai sự kiện nổi bật là tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7% (năm 2012 đạt 6,13%; cả nước 5,4%), thu ngân sách đạt 6.487 tỷ đồng (đạt 123,1%). Nghệ An được đánh giá là tỉnh thu ngân sách đứng đầu sáu tỉnh Bắc Trung bộ và đứng thứ 16 toàn quốc.Trả lời về câu hỏi vì sao xin gạo, ông Nguyễn Xuân Đường, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, giải thích: “Nghệ An đạt tốc độ tăng trưởng và thu ngân sách vượt trội như vậy nhưng tỉnh phải chi trên 16.000 tỷ đồng/năm. Do dân số của tỉnh lớn (trên 3 triệu người) nên tỉ lệ hộ nghèo cũng lớn, đang ở mức 12,5%, cao hơn bình quân của cả nước (7,8%).Tỉnh có hai huyện biên giới giáp Lào thuộc diện 30A và một huyện miền núi vừa mới được hưởng chính sách của Nhà nước tương đương với huyện 30A. Mặt khác, gạo cứu đói cho hộ nghèo còn có ý nghĩa là quà Tết của Chính phủ với hộ nghèo”.  
 
“Thông lệ” mỗi khi Tết về 
 
 Trả lời về việc là tỉnh có tiềm năng kinh tế nhưng vẫn xin cấp gạo cứu đói dịp Tết và giáp hạt, ông Phạm Sỹ Lợi, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam, thừa nhận những năm qua Hà Nam đã có những thành tựu phát triển nhất định. Tuy nhiên về tổng thể thì Hà Nam vẫn là tỉnh còn nhiều khó khăn.Trước ý kiến việc cứu đói cần phải cân đối ngân sách địa phương trước khi đề nghị trung ương hỗ trợ, ông Lợi cho rằng “những năm vừa qua dù tốc độ phát triển của tỉnh thuộc loại khá nhưng vẫn không cân đối đủ. Ví như tổng dự toán giao năm 2013 số thu ngân sách chỉ đạt hơn 2.000 tỷ đồng, nhưng nguồn chi thường xuyên trong năm lên tới hơn 4.000 tỷ đồng”.Cụ thể hơn, ông Trần Văn Thắng, Phó chánh Văn phòng UBND tỉnh Hà Nam, cho biết: “Chúng tôi đề xuất cấp gạo cứu đói cho hai nhóm. Thứ nhất là những trường hợp hộ cận nghèo bị thiệt hại hoa màu vụ đông trong bão số 14. Thứ hai là hỗ trợ cứu đói cho các trường hợp là hộ nghèo”. Cũng theo ông Thắng, việc đề xuất cấp gạo cứu đói của tỉnh dựa trên tinh thần xin cho mỗi hộ nghèo 15kg gạo/khẩu/tháng, thời gian hỗ trợ cứu đói là ba tháng.
 
 Xe chở gạo của Chính phủ cứu trợ học sinh tỉnh Hà Giang chạy vào huyện Quản Bạ của tỉnh chiều 11/1.
Xe chở gạo của Chính phủ cứu trợ học sinh tỉnh Hà Giang chạy vào huyện Quản Bạ của tỉnh chiều 11/1. 
Tương tự, tỉnh Ninh Thuận cũng xin Chính phủ hỗ trợ 860 tấn gạo dịp Tết này. Ông Nguyễn Văn Bình, Phó giám đốc Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Ninh Thuận, cho biết đây là “thông lệ” nhiều năm nay mỗi khi Tết về. “Tỉnh cố gắng hỗ trợ cho mỗi hộ nghèo 150.000 đồng dịp Tết này, nhưng nếu không có gạo của Chính phủ thì địa phương khó có nguồn lực để cứu đói cho toàn bộ người nghèo của tỉnh ăn Tết tươm tất được”, ông Võ Đại, phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận, cho hay. Giàu cũng xin cứu đói Trong số các địa phương xin Chính phủ cấp gạo năm nay, rất ngạc nhiên là có Khánh Hòa - một trong những tỉnh “giàu”, tăng trưởng kinh tế cao - nhưng vẫn xin với số lượng 550 tấn.Theo báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế năm 2013 của tỉnh Khánh Hòa, GDP của tỉnh tăng 8,3% so với năm 2012, thu ngân sách đạt 11.335 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2012 và bằng 108% dự toán năm 2013. Tỉ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm còn 4,26%, thấp hơn tỉ lệ bình quân của cả nước (7,8%)...Chiều 13/1, khi hỏi lý do, một phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa nói rằng “hỏi khó trả lời quá, nhưng tất cả cũng là lo cho dân thôi mà” và đề nghị phóng viên hỏi giám đốc Sở Lao động, thương binh và xã hội. Chúng tôi hỏi ông Nguyễn Hữu Thấu, Giám đốc Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Khánh Hòa, ông cho biết: “Mấy năm trước Khánh Hòa tự cân đối ngân sách để cấp gạo cứu đói cho dân, nhưng năm nay lãnh đạo UBND tỉnh nói thu ngân sách khó quá nên chỉ đạo xin số gạo trên từ Chính phủ để cấp cho số hộ thiếu đói giáp hạt trên địa bàn cả tỉnh. Riêng hộ nghèo thì không cấp gạo đợt này, mà tỉnh hỗ trợ mỗi hộ 250.000 đồng ăn Tết”. Khi chúng tôi nêu vấn đề rằng Khánh Hòa thu ngân sách năm 2013 tăng nhiều so với năm 2012 thì ông Thấu cười nói: “Cái này lãnh đạo UBND tỉnh cân đối ngân sách rồi chỉ đạo như vậy”.Giáp Khánh Hòa, Phú Yên từ lâu được mệnh danh là “vựa lúa của miền Trung”. Theo báo cáo của UBND tỉnh Phú Yên trình HĐND tỉnh tại kỳ họp vừa diễn ra tháng 12/2013, trong năm 2013 tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội đạt 10,67%, vượt kế hoạch năm 0,07%. Đáng kể nhất là năng suất lúa vụ đông xuân 2013 của Phú Yên đạt cao nhất từ trước đến nay với 67,5 tạ/ha, còn năng suất lúa hè thu đạt 65 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha so với cùng vụ năm trước. Tỉ lệ hộ nghèo của Phú Yên còn 13,03%, giảm 2,66% so với năm 2012... Dù vậy, Phú Yên vẫn xin Chính phủ cấp 761 tấn gạo cứu đói.Ông Trần Thanh Bình, chánh văn phòng Sở Lao động - thương binh và xã hội tỉnh Phú Yên, cho biết: “Phú Yên không xin Chính phủ hỗ trợ gạo cứu đói giáp hạt hằng năm, mà chỉ năm nào khó khăn mới xin. Hộ đói, hộ thiếu ăn được xem xét từ cấp thôn, xã rồi đề xuất lên huyện, huyện kiểm tra rồi mới chuyển sang Sở Lao động - thương binh và xã hội tổng hợp tham mưu để tỉnh đề xuất xin Chính phủ... Trong đó các vùng dân tộc thiểu số xin hỗ trợ nhiều nhất”.Khi được hỏi năm nay tình hình kinh tế - xã hội của Phú Yên có bước phát triển đáng kể, nông nghiệp cũng tăng trưởng khá, vì sao phải xin gạo cứu đói, ông Bình nói: “Tăng trưởng là đánh giá chung, còn cụ thể ở một số địa phương người dân gặp nhiều khó khăn như hộ nghèo, hộ bị lũ lụt gây thiệt hại, bị mất mùa do hạn hán... nên vẫn cần được cứu đói”.
Chủ tịch UBND tỉnh chịu trách nhiệm Theo ông Thái Phúc Thành, Phó cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội Bộ Lao động, thương binh và xã hội, nguồn gạo cấp cứu đói dịp Tết và dịp giáp hạt 2014 được lấy từ nguồn dự trữ quốc gia. “Việc xin cấp gạo cứu đói dịp Tết và dịp giáp hạt đều phải làm theo quy trình và chủ tịch UBND tỉnh phải chịu trách nhiệm về đề xuất xin cấp gạo cứu đói của địa phương. Bình thường việc tổng hợp nhu cầu cần xin cấp gạo cứu đói được làm từ thôn, xã lên tới huyện. Tỉnh sẽ tổng hợp và kiểm tra nhu cầu cần cấp gạo có sát với thực tiễn, sau đó gửi lên Bộ Lao động, thương binh và xã hội xem xét. Lên tới cấp trung ương thì liên bộ Lao động, thương binh và xã hội, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Tài chính sẽ cùng xem xét đề nghị cấp theo đề xuất của các tỉnh và cùng hậu kiểm việc thực hiện cấp gạo cứu đói”, ông Thành cho biết thêm. Về những người được cấp gạo cứu đói, theo ông Thành, gồm các trường hợp bị ảnh hưởng nặng nề từ thiên tai, ảnh hưởng nặng nề do thiệt hại sản xuất. “Quan điểm chung đã được Thủ tướng chỉ đạo là không được để gia đình nào đói... Tuy nhiên, trước khi xin cứu trợ gạo thì tỉnh phải sử dụng ngân sách địa phương. Nếu ngân sách địa phương lo đủ thì không xin cứu trợ và cũng không được xét cấp gạo cứu trợ, còn nếu ngân sách địa phương không đảm bảo được thì đề xuất xin cấp gạo từ quỹ dự trữ quốc gia để cứu đói. Vấn đề ngân sách có đảm bảo đủ hay không thì Bộ Tài chính kiểm tra rất chặt” - ông Thành nói. Cũng theo ông Thành, việc tổng hợp cấp gạo cứu đói mặc dù đã được liên bộ tổng hợp trình Chính phủ, nhưng đến ngày 13/1 vẫn chưa có quyết định. Ông Thành cũng cho biết 15 tỉnh xin cấp gạo cứu đói dịp Tết và dịp giáp hạt gồm: Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, Yên Bái, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên, Kon Tum.
Theo TTO

40 năm Hoàng Sa bị cưỡng chiếm: “Không lên tiếng cho thế giới biết thì sẽ không ai giúp ta đòi lại Hoàng Sa”


Ngày 11.1, các học giả của Quỹ nghiên cứu biển Đông đã soạn thảo “Thư gửi Liên Hiệp Quốc nhân 40 năm Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa” nhằm nhắc với thế giới về hành vi cưỡng đoạt của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền của Việt Nam và tìm mọi cách yêu cầu Trung Quốc đưa tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án Công lý Quốc tế. Ngày 14.1, báo điện tử Một Thế Giới đã đã trao đổi về sự kiện này với Thạc sĩ Công pháp quốc tế Nguyễn Thái Linh hiện đang sống tại Ba Lan.

Thưa bà, với nội dung thư gửi này, Ban Pháp quyền của Liên Hiệp Quốc sẽ trả lời như thế nào?

Có lẽ chúng ta không nên đặt vấn đề “Ban Pháp Quyền của LHQ sẽ trả lời như thế nào” hay “Tổng Thư ký LHQ sẽ trả lời thế nào”, bởi mục đích của việc viết là thư là để nhắc nhở về sự tồn tại của tranh chấp Hoàng Sa và việc cưỡng chiếm ngang ngược bằng vũ lực của Trung Quốc.

Trái với tranh chấp Trường Sa là tranh chấp đa phương được cộng đồng quốc tế biết đến nhiều, nhất là trong thời gian gần đây, thì tranh chấp Hoàng Sa hầu như không được biết đến, bởi chỉ có hai bên liên quan là Việt Nam và Trung Quốc, mà Trung Quốc thì không bao giờ chịu đưa vấn đề ra trước quốc tế.

Nếu chúng ta không lên tiếng cho thế giới biết thì sẽ không có ai giúp chúng ta!

Để Ban Pháp Quyền hay Tổng thư ký LHQ biết đến tranh chấp Hoàng Sa và sự chiếm đóng trái pháp luật của Trung Quốc, cũng như thiện chí của chúng ta muốn thượng tôn luật pháp quốc tế, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, mà một trong những biện pháp đó là đưa ra Tòa Án Công Lý Quốc tế. Làm được như thế thì đó đã là thành công của chúng ta rồi.

Đã từng có một tiền lệ tương tự trong lịch sử hay không? Và kết quả là như thế nào?

Viết thỉnh nguyện thư hay thư ngỏ gửi cho Liên Hợp Quốc về các vấn đề khác nhau như nhân quyền, biến đổi khí hậu, quyền trẻ em, …. là một thực tế xảy ra không ít.

Về các vấn đề thuộc tranh chấp lãnh thổ thì ít hơn, nhưng cũng đã xảy ra. Kết quả trước hết luôn là sự quan tâm hơn của dư luận đối với vấn đề đó, mức độ nhiều ít như thế nào thì còn phụ thuộc vào từng vấn đề.

Nhìn từ góc độ Việt Nam mà nói, thì kết quả trước tiên của việc viết thư gửi cho Liên Hợp Quốc như lần này là xây dựng và củng cố, giữ vững ý chí về Hoàng Sa trong chính chúng ta.

Tuy Hoàng Sa đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm hoàn toàn từ 40 năm nay, nhưng chúng ta không chấp nhận mất chủ quyền, không buông xuôi và không quên. Chúng ta càng nhận thức rõ được những khó khăn trong việc giành lại Hoàng Sa thì chúng ta càng phải bền bỉ, kiên gan, càng không nản lòng, càng cần có ý chí vững mạnh.

Sơ bộ mới qua hơn 2 ngày thu thập chữ ký, đến chiều 14.1 số lượng chữ ký đã lên tới hơn 6.000, từ trong và ngoài nước, có lẽ chưa bao giờ chúng ta có một sự đồng lòng đến thế. Đó là điều chúng ta được trước tiên, khiến chúng tôi rất cảm động và vui mừng và chính chúng tôi cũng thấy bất ngờ.

Lá thư này sẽ tác động như thế nào đối với việc thúc đẩy giải quyết tranh chấp biển Đông bằng biện pháp hòa bình theo quan điểm của Chính phủ Việt Nam?

Việt Nam luôn muốn giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình – đó cũng là thông điệp chính của bức thư và chúng tôi muốn cho thế giới biết đến điều đó để họ ủng hộ chúng ta. Tất nhiên Trung Quốc không đời nào chịu đưa vấn đề ra Tòa án Quốc tế, nhưng như vậy cũng cho thế giới thấy họ sợ lẽ phải và quen dùng bạo lực.

Được biết vào đầu năm nay, Philippines đã đệ đơn kiện Trung Quốc ra Tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc, vậy chúng ta có nên hợp tác với Philippines để cùng kiện Trung Quốc hay không?

Việc Philippines kiện Trung Quốc có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của Việt Nam, do đó vấn đề “chúng ta có nên hợp tác với Phillipines để kiện Trung Quốc hay không” phụ thuộc vào việc Việt Nam xác định quyền lợi của mình ở quần đảo Trường Sa như thế nào.

Việc xác định nội dung yêu sách và các quyền lợi của Việt Nam là việc cần thiết, phải làm càng sớm càng tốt!

Vũ Thành Công
(Một thế giới)

-Kiện Trung Quốc Việt Nam được gì?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
Đường lưỡi bò trên bản đồ của Trung Quốc gây bất bình với các nước trong khu vực.
Đường lưỡi bò trên bản đồ của Trung Quốc gây bất bình với các nước trong khu vực. AFP
Nghe bài này
Trong những hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày Hoàng Sa bị Trung Quốc đánh chiếm người Việt khắp nơi đang vận động khởi kiện hành vi này ra trước tòa Công lý quốc tế. Mặc Lâm tìm hiểu thêm những góc cạnh của vấn đề này.
Lịch sử chứng minh một cách xác thực rằng vào ngày 17 tháng Giêng năm 1974 Trung Quốc đã phát động cuộc chiến chống lại hải quân VNCH để chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam một cách bất hợp pháp. Đối với luật pháp quốc tế thì hành vi xâm lược này phải bị lên án và phân xử. Đối với tinh thần dân tộc, bất cứ người Việt Nam nào cũng dặn lòng rằng tới một lúc nào đó phải đứng lên dành lại phần máu thịt này bằng mọi cách, trong đó không loại trừ khả năng đem Trung Quốc ra tòa án quốc tế để tố cáo hành động xâm lăng của phương bắc.
Kiện càng sớm càng tốt
40 năm so với lịch sử không phải là dài nhưng đối với luật pháp quốc tế thì không hề ngắn. Nếu xem công hàm Phạm Văn Đồng là một trở ngại pháp lý thì Việt Nam càng phải nhanh chóng nộp đơn kiện Trung Quốc trong thời điểm này.
Trong khi công hàm Phạm Văn Đồng vẫn còn gây tranh luận giữa giới luật học, học giả và các nhà nghiên cứu Biển Đông cũng như án lệ của tòa quốc tế về thuyết Estoppel thì một vụ kiện về cuộc chiến xâm lược sẽ chứng minh sự phân chia địa chính trị cũng như hoạt động chính phủ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền bắc và Việt Nam Cộng hòa tại miền nam là vấn đề lịch sử và mọi biến chuyển chung quanh tờ công hàm mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký phải được Tòa Công lý quốc tế xem xét như một áp lực từ Trung Quốc khi cuộc chiến đang xảy ra giữa hai miền nam bắc.
Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ nhận định:
-Thời điểm 40 năm ngày Trung Quốc xâm lược hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa thì cũng là một thời điểm rất là tốt để chúng ta một lần nữa tố cáo và nói cho dư luận biết rõ cái hành vi sai trái đó của Trung Quốc. Chúng ta dùng mọi biện pháp có thể để giành lấy chủ quyền của Việt Nam đã được công luận dư luận và luật pháp quốc tế thừa nhận thì tôi nghĩ đây là một cơ hội.
Việc đó nhà nước Việt Nam đã có những hoạt động chống lại từ khá lâu chứ không phải đến bây giờ chúng ta mới làm nhưng thời điểm này đáng lưu ý để đẩy mạnh thêm hoạt động cụ thể của nó nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà Trung Quốc vẫn không bao giờ dừng bước và càng ngày càng lấn tới.

Thời điểm 40 năm đã quá dài cho Việt Nam mặc dù Hà Nội từng lên tiếng chống đối sự xâm lăng này sau năm 1979, chỉ sau khi Trung Quốc tiếp tục xâm lăng Việt Nam lần thứ hai. Sự lên tiếng ấy có giá trị nhóm lên ngọn lửa chống xâm lăng trong nước nhưng không có kết quả cụ thể gì đối với quốc tế.
40 năm so với lịch sử không phải là dài nhưng đối với luật pháp quốc tế thì không hề ngắn. Nếu xem công hàm Phạm Văn Đồng là một trở ngại pháp lý thì Việt Nam càng phải nhanh chóng nộp đơn kiện Trung Quốc trong thời điểm này
Một vụ kiện Trung Quốc trong thời điểm này sẽ giúp Việt Nam thoát được cái bẫy “acquiescement” được quy định tại Tòa quốc tế. Theo lời của bà Giáo sư Monique Chemillier Gendreau của Pháp khi giúp Việt Nam nghiên cứu về vấn đề đòi lại Hoàng Sa đã cho rằng Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý cũng như lịch sử về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa, tuy nhiên nếu Hà Nội không nhanh chóng có hành động công khai chống lại việc Trung Quốc chiếm giữ Hoàng Sa thì sẽ bị Tòa Quốc tế buộc có thái độ thụ động trong một thời gian dài và do đó quy định acquiescement, tức sự đồng thuận, có thể được thành lập.
Tuy nhiên trở ngại đầu tiên là nếu Việt Nam chính thức khởi kiện Trung Quốc có thể sẽ bị nước này từ chối tham gia vụ kiện và theo lý thuyết, nếu một bên từ chối thi hành phán quyết của tòa, vấn đề có thể được chuyển lên cho Hội đồng Bảo an LHQ xử lý. Trung Quốc là một trong 5 nước thành viên thường trực của Hội đồng này thì khả năng bác bỏ vụ kiện sẽ là 100%.
Thực tế này được Thạc sĩ Hoàng Việt hiện đang giảng dạy tại Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ:
-Phát biểu của một số người cho rằng hiện nay là thời điểm tốt để Việt Nam đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhưng một vần đề rất quan trọng và khó khăn là đưa theo hình thức nào bởi vì sự từ chối tham dự một phiên tòa quốc tế nó khác, nó rất quan trọng vì tòa án quốc tế đòi hỏi phải có sự đồng thuận các bên mà bây giờ Trung Quốc họ đang từ chối vì vậy khi chúng ta đơn phương đưa ra thì tòa sẽ không chấp thuận.

Cái lợi của vụ kiện
Nhiều vụ kiện cho thấy kể cả vụ kiện này nếu được Trung Quốc chấp nhận thì các phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế trước sau gì cũng chỉ mang ý nghĩa chính trị và không có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, phán quyết của Tòa sẽ có một hiệu lực khác đó là lương tâm, là nền công lý của nhân loại mà bất cứ nước nào cũng phải tôn trọng nếu không sẽ bị thế giới nhìn dưới ánh mắt phủ định trong tất cả mọi giao dịch.
Một vụ kiện vào lúc này cũng có tác dụng làm cho thế giới thấy được dã tâm của Bắc Kinh trước vấn đề Biển Đông. Hành động áp đặt vùng cấm đánh cá trên hầu hết khu vực Biển Đông…làm thế giới hiểu rõ hơn động cơ khiến Việt Nam phải khởi kiện Bắc Kinh về cuộc chiến xâm lăng năm 1974
Hai nữa ngay cả khi Tòa Công lý Quốc tế phán quyết rằng cả hai nước phải tự thỏa thuận với nhau thì lúc ấy việc Trung Quốc cấm tàu cá Việt Nam ra hành nghề tại quần đảo Hoàng Sa sẽ bị thế giới lên án.
Vụ kiện giữa Thái Lan và Campuchia về các khu đất chung quanh ngôi đền cổ Preah Vihear được Tòa Công lý Quốc tế phán quyết vào ngày 11 tháng 11 năm 2013 là một thí dụ. Hai nước tranh chấp đã dịu lại những cơn sốt có thể gây ra chiến tranh và tự xem lại chính sách của mình cũng như trấn an, giải thích cho dân chúng biết sự phán xét này cho công luận trong mỗi nước.
Nếu Trung Quốc từ chối tham gia vụ kiện, quốc tế sẽ thấy rằng Bắc Kinh thiếu bằng chứng cũng như lập luận chính đáng về sự xâm lược Việt Nam. Thái độ một nước lớn như vậy khó thuyết phục được thế giới nhất là khối ASEAN đang bị lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc một cách nặng nề. Sự từ chối của Trung Quốc là tiền đề cho các nước trong khối ASEAN thấy rằng khi có tranh chấp kinh tế với Trung Quốc xảy ra thì hãy cam chịu vì Bắc Kinh luôn có thái độ bất hợp tác với các nước nhỏ khi họ có vấn đề pháp lý.
Một vụ kiện vào lúc này cũng có tác dụng làm cho thế giới thấy được dã tâm của Bắc Kinh trước vấn đề Biển Đông. Hành động áp đặt vùng cấm đánh cá trên hầu hết khu vực Biển Đông cộng với thái độ hung hăng của Trung Quốc sẽ làm thế giới hiểu rõ hơn động cơ khiến Việt Nam phải khởi kiện Bắc Kinh về cuộc chiến xâm lăng năm 1974. Khi hồ sơ khởi kiện được nộp Việt Nam có lợi trước mắt là truyền thông quốc tế sẽ đưa tin, bình luận, giải thích cũng như lật lại trận hải chiến này khắp nơi. Nếu điều này xảy ra Trung Quốc sẽ khó lòng áp đặt thêm những bất hợp lý trong chính sách thanh toán toàn bộ Biển Đông.
Một điểm quan trọng khác, Trung Quốc từ trước tới nay vẫn rất ngại vấn đề Biển Đông bị quốc tế hóa. Họ muốn bẻ từng chiếc đũa cho tới khi không còn chiếc nào nữa mới thôi. Chỉ cần quốc tế hóa thì âm mưu này sẽ bị bẻ gãy. Đó là lý do quan trọng khiến Việt Nam cần khởi kiện Trung Quốc trong lúc này.
Đối với trong nước, một vụ kiện như thế còn có cái lợi rất lớn là giúp cho người dân Việt Nam biết rõ hơn những gì đã xảy ra cho quần đảo Hoàng Sa và tại sao đảo của Việt Nam nhưng ngư dân Việt luôn bị Trung Quốc trấn áp và bách hại
Đối với trong nước, một vụ kiện như thế còn có cái lợi rất lớn là giúp cho người dân Việt Nam biết rõ hơn những gì đã xảy ra cho quần đảo Hoàng Sa và tại sao đảo của Việt Nam nhưng ngư dân Việt luôn bị Trung Quốc trấn áp và bách hại. Việc công nhận và loan tải rộng rãi trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 vừa qua là một ví dụ. Nghệ sĩ Kim Chi, một người rất nổi tiếng đã hoạt động lâu năm trong ngành điện ảnh Việt Nam nhưng không hề biết cuộc chiến lịch sử này huống chi là thế giới, bà cho biết:
-Sự thừa nhận này của nhà nước hiện nay tôi thấy là tất nhiên, đáng lẽ nó phải được làm từ lâu rồi. Điều này làm cho tôi rất vui vì qua đó tôi mới biết được nhiều chuyện mà trước đây mình không biết, thực sự là như thế. Mà khi mình biết rồi thì mình rất kính trọng và ngưỡng mộ những người chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa đã đổ máu, đã hy sinh và đã có những lời rất đanh thép để bảo vệ tổ quốc mình.
Từ bao lâu nay giới bất đồng chính kiến trong nước luôn khẳng định rằng lý do duy nhất làm Việt Nam không thể tiến hành vụ kiện đó là sợ mất chỗ dựa vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam sợ mất chỗ dựa vững chắc nơi người đồng chí nhưng lại không sợ mất một chỗ dựa khác lớn hơn gấp ngàn lần đó là lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam.

Nhật phê phán TQ về Biển Đông

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, Itsunori Onodera nói các quy định nghề cá do tỉnh Hải Nam của Trung Quốc đưa ra có hiệu lực từ 1/1/2014 chỉ khiến cộng đồng quốc tế lo ngại.
Phát biểu này của phía Nhật đã bị Trung Quốc bác bỏ hôm 13/1/2014.

Bà Hoa Xuân Oánh, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã nói trong ngày rằng phía Trung Quốc “hoàn toàn không thoải mái” về phát biểu của quan chức Nhật Bản.
Phía Trung Quốc cũng nhắc rằng Nhật Bản không hề có liên quan gì đến Biển Đông.
Quy định của tỉnh Hải Nam nói các tàu thuyền đánh cá nước ngoài phải xin phép khi vào ‘vùng biển thuộc thẩm quyền của chính quyền đảo Hải Nam ở Nam Hải”.
Tỉnh này định nghĩa khu vực do họ quản lý chiếm gần hết Biển Đông và họ bác bỏ các tuyên bố chủ quyền từ Philippines, Đài Loan, Malaysia, Brunei và Việt Nam, theo Reuters.
Tuần trước, Hoa Kỳ đã nói tuyên bố đòi hỏi của Trung Quốc buộc ngư dân nước ngoài đánh bắt ở Biển Đông phải xin phép là 'khiêu khích và nguy hiểm'.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng ngay lập tức đã phản hồi lại bình luận của phía Hoa Kỳ, qua lời bà Hoa Xuân Oánh nói rằng "Chúng tôi bày tỏ sự không hài lòng và phản đối những nhận xét của phía Hoa Kỳ."
Phía Trung Quốc khi đó nói, "Trong 30 năm qua, các quy định về ngành thủy hải sản có liên quan của Trung Quốc đã được thực hiện nhất quán một cách bình thường, và chưa bao giờ gây ra bất kỳ căng thẳng nào".
Hiện quan hệ Trung Quốc với Nhật Bản vẫn căng thẳng vì các tranh chấp quanh nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông.
(BBC)

Thông báo về lễ tưởng niệm 40 năm ngày Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa, ngày 19/1/2014.

No – UFC – Facebook

Thông báo về lễ tưởng niệm 40 năm ngày Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa
Hoà chung không khí tưởng niệm của nhân dân Việt Nam toàn thế giới.
Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung.
Dựa trên quyền con người cơ bản là quyền tự do bày tỏ quan điểm, bao gồm quyền tự do bày tỏ lòng yêu nước, tự do thờ phụng và tưởng nhớ những chiến sĩ đã hi sinh bảo vệ Tổ quốc.
Với thực tế không thể chối cãi là Trung Quốc đã xâm lược, chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và đang tiếp tục gây hấn, xâm lấn và thôn tính nước ta một lần nữa.
Chúng tôi kêu gọi đồng bào hãy tham gia Lễ tưởng niệm 40 năm ngày Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa 17-19/01/1974!
Thời gian: Từ 8h30 – ngày 19/01/2014
Địa điểm: Tại tượng đài Lý Thái Tổ – Hồ Gươm – Hà Nội
Hãy đến với chúng tôi để chứng tỏ với cộng đồng quốc tế Hoàng Sa mãi mãi là của Việt Nam, để tưởng nhớ các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã hi sinh để bảo vệ Tổ quốc và để khẳng định chúng ta không sợ hãi trước bất kỳ sự đe doạ nào khi bày tỏ lòng yêu nước của mình!
Đề nghị UBND thành phố Hà Nội cùng các lực lượng chức năng đảm bảo an toàn cho buổi lễ, không tổ chức lễ hội, hát hò, vui chơi thể thao trong khu vực quanh Hồ Gươm và không cản trở, gây khó dễ cho những người tham gia buổi tưởng niệm này.

Phỏng vấn về Hải chiến Hoàng Sa và các chiến sỹ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa.

Phạm thanh Nghiên


Phạm Thanh Nghiên:Không phải ai trong số chúng ta cũng biết và đựợc biết sự thật về tất cả những gì thuộc về quá khứ, nhất lại là một giai đoạn, một câu chuyện lịch sử với những biến cố đầy đau thương và oán hận.Trận hải chiến Hoàng Sa là một câu chuyện lịch sử như thế. Bốn mươi năm trước, khi bẩy  mươi tư người lính Hải quân Việt Nam Cộng Hòa “vị quốc vong thân”trên vùng biển Hoàng Sa, tôi và đuơng nhiên những bạn cùng trang lứa còn chưa ra đời.Tại miền Bắc ngày đó, nhiều “cô, cậu” thanh niên đang là bộ đội của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nhiều người trong số họ hiện giờ đã trở thành những cán bộ đang làm việc,phục vụ cho đảng và nhà nước.Trong số họ, không thể không nói rằng họ không biết hay hoàn toàn không biết về trận hải chiến cũng như sự hy sinh anh dũng của những nguời anh hùng tại Hoàng Sa ruột thịt ngày ấy.
 
Là một người sinh sau biến cố năm 1975, tôi cũng như rất nhiều nguời dân miền Bắc và nhất là những bạn trẻ đã không có cơ hội để biết về trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Hơn thế, tôi cũng đã từng lĩnh án 4 năm tù giam chỉ vì lên tiếng cỗ vũ cho Nhân quyền và công khai khẳng định chủ quyền biển đảo của dân tộc. Giống như tất cả những bạn trẻ yêu nước khác, Trường Sa- Hoàng Sa luôn ở trong trái tim tôi. Trong hoàn cảnh của một  người tù đang bị quản chế, tôi chỉ có thể huớng về Hoàng Sa bằng cách riêng rất hạn chếcủa mình: thực hiện một chương trình phỏng vẫn để kỷ niệm 40 năm Hải chiến Hoàng Sa.Với mong muốn xóa đi, hoặc ít ra cũng thu hẹp lại những ranh giới, khác biệt từ nhiều thành phần trong quá khứ, tuổi tác và chính kiến để có một cái nhìn trung thực,công bằng, biết tri ân với những nguời đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc.Để thấy được rằng, bất cứ một sự khác biệt nào cũng có thể vượt qua với một lý do chung, đó là Lòng Yêu Nước.
Bài phỏng vấn đầu tiên này được thực hiện với 3 người để như là một phần nói lên tâm tình của những người dân Việt, có những quá khứ khác nhau, về cuộc Hải chiến Hoàng Sa bảo vệ biển đảo của các Hải quân VNCH. 
 
Vì đây là câu hỏi chung dành cho nhiều người ở những lứa tuổi khác nhau, xin phép được dùng chung từ “bạn”trong cách xưng hô để thuận tiện cho việc đặt câu hỏi.
- Lê Hưng: Một bạn trẻ ở Hải Phòng sinh sau năm 1975. Sau khi tốt nghiệp Phổ thông trung học, Hưng tham gia nghĩa vụ quân sự và khi dời quân ngũ,  anh tiếp tục theo học đại học.Tuy nhiên, trước đây anh không hề biết về trận Hải chiến Hoàng Sa cách đây 40 năm về trước.
Ông Ngô Nhật Đăng.
- Ông Ngô Nhật Đăng: Là con trai của nhà thơ Xuân Sách. Ông đã từng phục vụ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam từ năm 1978 đến năm 1982 và tham gia chiến trường biên giới tại Cao Bằng trong cuộc chiến Việt Trung. Ông Ngô Nhật Đăng là thành viên của nhóm No-U Hà Nội và từng nhiều lần xuống đường biểu tình phản đối Trung Quốc xâm chiếm biển đảo của Việt Nam. Hiện ông đang sống tại Hà Nội và vẫn tiếp tục có những hoạt động cổ vũ cho Nhân quyền và nhất là vấn đề toàn vẹn lãnh thổ.
- Bà Ngô Thị Hồng Lâm: sinh 1957 tại HN. Hiện đang sống tại Sài Gòn. Bà Hồng Lâm nguyên là một cán bộ công tác chuyên ngành nghiên cứu lịch sử đảng. Sau khi dời công tác, bà dành phần lớn thời gian cho các hoạt động từ thiện và công khai bày tỏ quan điểm ủng hộ cho Dân chủ, Nhân quyền và đặc biệt là vấn đề Toàn vẹn lãnh thổ.
 
Xin bạn cho biết, bạn biết gì về cuộc hải chiến HS cách đây 40 năm? 
Lê Hưng: Rất tiếc là tôi không hề biết gì về trận hải chiến đó. Vì từ truớc tới nay tôi không thấy báo chí đưa tin hay những người quen của mình nhắc tới. Hoàn toàn không có trong lịch sử mà tôi được học. Có thể thông tin về trận hải chiến 40 năm trước đã hoàn toàn bị che giấu, bưng bít cho đến ngày hôm nay.
 
Ngô Nhật Đăng: Ngày đó tôi mới bước sang tuổi 16, cũng như tuyệt đại đa số người dân miền Bắc lúc đó tôi chưa bao giờ được nghe nhắc tới Hoàng Sa – Trường Sa. Tôi được biết đến sự kiện này do nghe bố tôi và các bạn của ông nhắc tới: “Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gửi thư ra Hà Nội yêu cầu chính phủ VNDCCH lên tiếng về việc Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa”. Chính câu chuyện đó gây ấn tượng mạnh với bản thân tôi.
Bà Ngô Thị Hồng Lâm
Ngô Thị Hồng Lâm: Đó là một cuộc xâm lăng phi pháp, chà đạp lên Luật pháp quốc tế của Trung Quốc cách đây 40 năm của thế kỉ trước nhằm thực hiện ý đồ “muốn biến nước ta từ cái tổ Con Đại bàng thành tổ con Chim Chích” như lời của ông cha ta đã dạy.
Xin cho biết cảm nghĩ của bạn đối với sự hy sinh của 74 người lính hải quân VNCH?
Lê Hưng: Tôi rất kính trọng sự hy sinh cao cả của những người đã chiến đấu bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của dân tộc ta. Tôi là một người theo Đạo Mẫu Việt Nam, tôi tôn thờ những người đã có công giúp dân, đánh đuổi giặc ngoại xâm.
Ngô Nhật Đăng: Đó là một sự kiện bi tráng, sau này được đọc các tư liệu, các tác phẩm thơ văn tất nhiên là của VNCH tôi càng thấy ngưỡng mộ họ. Có một điều an ủi là sau bao nhiêu năm bị quên lãng các anh đã được “chiêu tuyết” lại, điều đó càng khẳng định: Nhân dân sẽ không bao giờ quên những người con đã đổ máu để giữ gìn đất đai của Tổ Quốc và lịch sử sẽ công bằng.
Ngô Thị Hồng Lâm: Vào thời điểm 19/1/1974, khi ấy mọi thông tin còn bị cộng sản bưng bít rất chặt. Người dân miền Bắc VN hầu như chỉ có một luồng thông tin giáo điểu từ cái gọi là “Đài Tiếng nói VN” nên không được biết kịp thời cuộc đánh chiếm đảo Hoàng Sa của người có bộ mặt nạ “anh em” Trung Quốc. Đây là một cuộc chiến không cân sức giữa Hải quân VNCH và bọn Trung Quốc xâm lược. Mặc dù VNCH không giữ được đảo Hoàng Sa nhưng các chiến sĩ đã thể hiện lòng yêu nước vô cùng mãnh liệt trong cuộc chiến đấu bao vệ Tổ Quốc. Đó là những hy sinh đau thương nhưng rất vẻ vang của tất cả các chiến sĩ VNCH và đặc biệt là 74 người lính Hải Quân VNCH. Họ đã ngã xuống trong trận đánh này, để lại trong lòng chúng tôi hình ảnh đẹp và sự ngưỡng mộ những người con của Tồ Quốc Việt Nam. Chúng ta không được phép quên họ.
Suy nghĩ của bạn về những người lính của cả 2 bên chiến tuyến bảo vệ đất nước? Đối với bạn, có sự khác biệt gì không giữa giữa những người lính VNCH như trung tá Ngụy Văn Thà và với những người lính QĐVN (đặc biệt là đồng đội của ông Ngô Nhật Đăng) đã hy sinh ở chiến trường biên giới Việt Trung vào năm 1979 và 1984?
Và ngày xưa những người lính VNCH bị gán với từ “ngụy”, ngày hôm nay bạn nghĩ sao về điều ấy? 
Lê Hưng: Với tôi, những người lính dù là VNCH hay VC đều không không có tội. Là lính, họ chỉ hành động theo lý tưởng và tuân theo mệnh lệnh. Họ là những con người có trái tim yêu nước, yêu dân tộc của mình. Tôi cũng không được biết về cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1984. Cuộc xâm lược của Trung Quốc năm 1979 thì có nghe nói tới. Nhưng tôi nghĩ, sự thật vẫn là sự thật dù có bị bưng bít. Và việc làm ngu ngốc, hèn nhát nhất chính là phủ nhận và bưng bít sự thật.
Về việc những người lính VNCH bị gán với từ “ngụy”, tôi xin phép không trả lời dài dòng vì hiểu biết của tôi có hạn. Nhưng những người lính dù là VNCH hay lính QĐND, họ đều đã đổ máu xương, hy sinh để bảo vệ chủ quyền, bảo vệ tổ quốc. Người thân của họ đã phải chịu quá nhiều mất mát đau thương. Mẹ già mất con, vợ trẻ mất chồng, trẻ thơ mất bố, bạn bè chiến hữu mất đi một người anh em.
Ngô Nhật Đăng: Tôi đã có thời gian là lính (1978-1982) có tham gia chiến trường biên giới tại Cao Bằng trong cuộc chiến Việt Trung. Tôi tin rằng không có sự khác biệt nào giữa những người lính dù dưới thể chế chính trị nào khi chiến đấu để bảo vệ Tổ Quốc, chúng tôi cũng không hề đắn đo và sẵn sàng hy sinh chống bọn cướp nước hồi năm 1979 cũng như các anh hùng giữ đảo Hoàng Sa năm 1974 vậy. Điều đó là chắc chắn.
Không riêng gì người lính và cả những người từng phục vụ trong chính quyền VNCH cũng bị gọi là “ngụy” (xin lỗi, tôi coi đây là một từ “mất dạy”) mà cả những người từng tham gia chính quyền trước năm 1954 cũng bị gọi như vậy. Số này ở lại Hà Nội không di cư vào Nam cũng khá đông, họ cũng bị đi tù (gọi là cải tạo) một thời gian. Tôi cũng có một số bạn bè cùng học là con cái của những người này, quan sát họ tôi cũng có những suy nghĩ khác với những điều thường được “giáo dục” trong nhà trường. Tất cả sách giáo khoa và cả các tác phẩm văn học của Việt nam lẫn Liên Xô mà chúng tôi chỉ được phép đọc đều miêu tả những người phía bên kia cực kỳ xấu xa, độc ác, mất hết nhân tính, sẵn sàng mổ bụng ăn gan kẻ thù… Dù không tin hoàn toàn nhưng dù sao vẫn để lại dấu vết trong đầu óc. Cũng may mắn từ bé tôi đã được đọc các cuốn sách trong tủ sách gia đình những cuốn như “Chuông nguyện hồn ai”, “Phía Tây không có gì lạ” v.v… nó làm cho tôi có những suy nghĩ đúng đắn hơn. Quay về câu hỏi của bạn về những người lính VNCH. Thời chúng tôi cũng thường nghe lén các đài phát thanh Sài Gòn (việc này rất nguy hiểm), các bài hát về chiến tranh về thân phận người lính của phía VNCH cũng gây những xúc động mạnh cho chúng tôi. Tôi còn nhớ, vào cuối năm 1973 (lúc này đã có Hiệp định Paris) một anh bộ đội từ chiến trường ra đến nhà tôi báo tin người cậu ruột của tôi đã chết tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Là con út của bà ngoại, ông chỉ hơn tôi có 6 tuổi nên hai cậu cháu thường quấn quýt với nhau.
Đây là cú gõ cửa đầu tiên của chiến tranh thăm viếng nhà tôi, bố tôi cũng thường đi chiến trường trong những thời gian ác liệt (kể cả thời chống Pháp) nhưng ông chỉ đi ngắn chừng 1 năm và lần nào cũng trở về nguyên vẹn. Anh ở lại nhà tôi 2 ngày trước khi về đơn vị và ngủ chung với tôi, tôi được nghe nhiều chuyện về chiến tranh, khi tôi hỏi anh về những người lính “ngụy” anh văng tục: “Hay ho cái đéo gì, anh em trong nhà tàn hại lẫn nhau”. Và tôi mới biết các anh cũng thường hay nghe lén những ca khúc của Trịnh Công Sơn.
Sau này có một thời gian tôi sống và làm việc ở Sài Gòn, quen biết nhiều hơn, thậm chí có một người từng là Đại úy cũng nhận tôi là em kết nghĩa (anh đã vượt biên năm 84). Theo tôi, dù đã muộn màng, chúng ta phải đánh giá lại giai đoạn lịch sử đau thương này của đất nước, trả lại danh dự cho những người đã nằm xuống vì đạn bom, những người còn sống bị đày ải vì lao tù, chiến tranh đã lùi xa mà vết thương này vẫn chưa lên da non đó là điều không thể chấp nhận.
Ngô Thị Hồng Lâm: Thực tế thì một điều bất hạnh nhất cho một đất nước là có chiến tranh. Bất hạnh hơn nếu đó lại là một cuộc nội chiến muốn thống trị nhau bằng bạo lực. Với nhận thức của tôi thì cuộc chiến của quân đội 2 miền Nam và Bắc Việt Nam là một cuộc nội chiến, “người chiến thắng” chẳng có gì để tự cho mình là cuộc chiến chính nghĩa và vẻ vang. Đây là điều ngộ nhận rất thiếu nhân văn của những người cầm quyền Hà Nội. Cuộc chiến đã tàn 40 năm rồi, đủ độ lùi của thời gian rồi, để “từ nay người biết thương người”. Tuy nhiên, mỗi kỉ niệm 30/4 Ban Tuyên huấn họ vẫn cứ cho phát lại những cuốn băng thời sự cũ “quân ta hừng hực khí thế chiến đấu” nghe sao mà thấy vết thương lòng của dân tộc Việt Nam mãi mãi không thể hàn gắn và câu nói của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt “ngày 30/4 có một triệu người vui thì có một triệu người buồn” vẫn còn nguyên tính thời sự và cuối cùng thì người lính cả 2 bên chiến tuyến họ chỉ là những nạn nhân của cuộc chiến.
Vì thế cho nên không thể có sự khác biệt trong đối xử với người lính của 2 bên chiến tuyến, không thể giữ mãi sự khác biệt bên trọng bên khinh. Càng không thể dùng từ “ngụy” đối với người lính VNCH Trung tá Ngụy Văn Thà và đồng đội của ông đã anh dũng chiến đấu bảo vệ Hoàng Sa, đã anh dũng hy sinh vì Tổ Quốc Việt Nam. Cần vinh danh họ. Cũng như những người lính đã hy sinh ở biên giới Việt-Trung vào năm 1979 họ đều là những anh hùng xứng đáng được Tổ Quốc Việt Nam ghi công và đời đời nhớ ơn họ.
Những người lính VNCH bị chính quyền cộng sản gán cho họ từ “ngụy” là một điểu ngô nhận của họ. Cân phải có một sự đổi mới về nhận thức với những người ở bên kia chiến tuyến, để xóa bỏ sự hằn thù dân tộc cho vết thương mau liền da liền thịt, tiến đến hòa hợp dân tộc để tăng cường sức mạnh của Việt Nam trong tình hình hiện nay. Bản thân tôi cực lực phản đối sự phân biệt đối xử hoặc xúc phạm với những người ở bên kia chiến tuyến trong đời sống cũng như nghĩa trang nơi họ yên nghỉ.
Bạn có nghĩ là nên vinh danh những người lính VNCH ở trận chiến HS năm 1974 không? Nếu có, bạn có sẵn sàng tham gia không? 
Lê Hưng: Họ xứng đáng được vinh danh, họ xứng đáng được ca ngợi. Nếu không thì máu xương, tuổi trẻ, gia đình mà họ đã phải đánh đổi để dành lấy chủ quyền cho đất nước lẽ nào lại là vô nghĩa hay sao. Chúng ta, thế hệ sau này vô ơn quá.
Ngô Nhật Đăng: Ồ, đó là việc rất nên làm và tất nhiên tôi sẵn sàng tham gia.
Ngô Thị Hồng Lâm: Việc vinh danh những người lính VNCH đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 là việc phải làm để tỏ lòng biết ơn những người con của Tổ Quốc Việt Nam đã hy sinh bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của ông cha ta để lại và qua đó giáo dục nhắc nhở các thế hệ trẻ của Việt Nam lớn lên sau này phải biết ơn những người đã vì bảo vệ biển đảo của Tồ Quốc mà hy sinh. Không được phép vong ân với những chiến sĩ VNCH đã ngã xuống trong trận chiến bảo vệ đảo Hoàng Sa năm 1974 và những chiến sĩ QĐNDVN trong chiên trận bảo vệ biên giới phía Bắc 1979.
Việc bạn hỏi chúng tôi có sẵn sàng tham gia không? Xin thưa rằng, tôi vốn xuất thân trong chuyên ngành Nghiên Cứu Lịch Sử, chúng tôi đã cùng các đồng nghiệp của mình cùng các thế hệ học trò tổ chức lễ giỗ tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ của VNCH đã ngã xuống trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa ngày 19/1/1974 hàng năm mà không cần phải xin phép bất cứ một “ông Kẹ” nào.
Theo bạn, những tương đồng hay khác biệt gì giữa những người lính ngày xưa hy sinh bảo vệ biển đảo và những công dân VN ngày nay xuống đường thể hiện lòng yêu nước và phản đối TQ xâm lấn HS, TS và Biển Đông? 
Lê Hưng: Theo tôi, những người cách đây 40 năm bảo vệ TS và những người hôm nay xuống đường biểu tình phản đối TQ xâm lấn nước ta, họ rất tương đồng. Họ là những người yêu nước, dám đứng lên bảo vệ đất nước mình dù biết trước hậu quả là có thể sẽ phải hy sinh mất mát nhiều, thậm chí tù đày hy sinh.
Về cá nhân tôi bất kỳ lúc nào đất nước cần tôi sẽ chiến đấu vì tôi cũng đã từng là lính. Và quan trọng hơn tôi là một con dân đất Việt. Tôi chiến đấu cho Dân tộc, cho Tổ Quốc của chúng ta chứ không phải chiến đấu cho bất cứ một chế độ, một chủ thuyết hay một đảng phái nào.
Ngô Nhật Đăng: Tất nhiên với sự xa cách về thế hệ nên sẽ có những khác biệt, nhưng lòng yêu nước và sự cảnh giác trước “hiểm họa phương Bắc” thì sẽ mãi trường tồn, điều đó ăn vào máu mỗi con dân Việt chân chính.
Ngô Thị Hồng Lâm: Theo tôi sự khác nhau của những người lính VNCH ngày xưa hy sinh bảo vệ biển đảo với những công dân VN ngày nay xuống đường biểu tình phản đối TQ xâm lăng Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông đó là về thời gian. Còn sự tương đồng ở đây chính là lòng tự trọng dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước, mảnh đất thiêng ngàn đời của ông cha ta để lại mà mỗi chúng ta phải có trách nhiệm và ý chí bằng mọi giá phải bảo vệ và gìn giữ. Rất tiếc là khi nhân dân xuống đường phản đối Trung Quốc xâm lược thì lại bị nhà cầm quyển đàn áp bằng bạo lực để làm vừa lòng “ông bạn vàng” Trung Quốc với cái “mặt nạ 4 tốt và 16 chữ vàng”.
40 năm kể từ ngày 74 chiến sĩ VNCH hy sinh để bảo vệ biển đảo, ngày hôm nay HS vẫn bị chiếm đóng bởi TQ. Theo bạn chúng ta phải cần có những hành động, công việc cụ thể gì mà cá nhân bạn có thể thực hiện hay tham gia góp phần để giành lại HS, TS cho Tổ quốc VN? 
Lê Hưng: Tôi xin được nói rằng, con người của tôi không giống như bọn ngu bị nhồi sọ, tôi không bị mù hay bị điếc mà không biết chế độ này như thế nào. Người dân Việt Nam khổ sở ra sao và đang mong chờ điều gì, nhưng họ chưa làm được có thể họ chưa tìm thấy những người bạn đồng hành. Hoặc là chưa vượt qua được nỗi sợ hãi.
Ngô Nhật Đăng: Xin quay trở lại, ngoài câu chuyện về bức thư của ông Nguyễn Văn Thiệu, tôi được nghe kể về sự trả lời từ phía Hà Nội: “Ông Phạm Văn Đồng nói ở hành lang: “Có còn là của mình nữa đâu mà đòi”. Lúc đó Hà Nội đã cảm thấy sock trong việc TQ bắt tay với Mỹ (từ năm 72 qua “ngoại giao bóng bàn” và Nixon thăm Bắc Kinh).
Thầy dạy tôi cũng là một nhà sử học nói với chúng tôi: “Từ năm 1928, Pháp đã cắm các cột mốc chủ quyền “Indochina” (Đông Dương) lên tất cả các hòn đảo ở Hoàng Sa và một số ở Trường Sa”. Có lần tôi hỏi ông về Hoàng Sa và Trường Sa,
Ông trả lời: – Hồi năm 1957, Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai có ký một hiệp ước giữa 2 đảng nội dung: Vì hải quân Việt Nam (DCCH) còn yếu nên Hải quân TQ sẽ giúp Bắc Việt bảo vệ Biển Đông (lúc đó trong sự kiểm soát của VNCH) và Vịnh Bắc Bộ. Hai bên sẽ cùng nhau khai thác các nguồn lợi ở đây, nếu có nước thứ ba thì cũng phải có sự đồng ý của cả hai bên. Đổi lại, TQ trả lại VN 2 hòn đảo Cái Chiên và Bạch Long Vỹ mà họ chiếm lại từ Tưởng Giới Thạch (trước đó là người Nhật).
Riêng điều này thì chính xác vì mẹ tôi kể từng ra Cái Chiên và Bạch Long Vỹ làm “Lễ tiếp quản” (hồi đó bà đang là diễn viên của văn công Quân đội). Tất nhiên thông tin này cần phải kiểm chứng, nhất là từ những người chép Sử.
Tôi có hỏi ông: – Như thế thì làm sao có thể đòi lại được?
Ông trả lời: – Hiệp định ký giữa 2 đảng sẽ trái với luật pháp quốc tế vì nếu hai nước có ký kết một hiệp định tương tự thì phải do chính phủ ký và phải thông qua Quốc hội. Nhưng nếu lôi ra thì lại động chạm đến ông Hồ Chí Minh, đó cũng lại là một điều “kiêng kỵ”. Dù sao đi nữa, việc TQ chiếm Hoàng Sa năm 1974 cũng không thể coi là việc đã rồi, việc này đòi hỏi phải có sức mạnh của cả dân tộc nhất là những người đang ở cương vị lãnh đạo đất nước. Trước hết chúng ta cần phải có quyền được biết tất cả những sự thật liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa. Được công khai lên án những việc làm ngang ngược, càn rỡ của nhà cầm quyền Trung Quốc và tranh thủ sự đồng tình của Quốc tế cũng như tôn trọng các luật biển mà cả hai bên từng cam kết đồng ý.
Ngô Thị Hồng Lâm: Sự chiếm đóng trái phép đảo Hoàng Sa thể hiện sự ngang ngược của nhà cầm quyền Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế về chủ quyền lãnh thổ của từng nước trên trường quốc tế. Vì thế mà tất cả mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam rất bất bình và đã từng diễn ra nhiều cuộc biểu tình ở các thành phố lớn của Việt Nam mà mở đầu là cuộc biểu tình cuối năm 2007, rồi rất nhiều các cuộc khác trong năm 2011 và 2012. Đây là việc làm chính đáng của nhân dân cả nước. Lẽ ra phải được những người cầm quyền ủng hộ và tán thành NHƯ một bước quan trọng trong mở đầu cho kênh ngoại giao và đàm phán. NHỮNG CUỘC BIỂU TÌNH CỦA NHÂN DÂN CẦN PHẢI được tôn trọng. Cá nhân tôi hoàn toàn ủng hộ những cuộc biểu tình đầy ý nghĩa lịch sử trong việc giữ nước của nhân dân Việt Nam.
Được biết anh Ngô Nhật Đăng cũng là một trong số những người đã nhiều lần xuống đường biểu tình và thậm chí bị công an bắt giữ chỉ vì thể hiện lòng yêu nước, phản đối Trung Quốc chiếm biển đảo của Việt Nam. Anh nghĩ sao về hành động này của chính quyền? Và nếu sau này lại có một hoặc nhiều cuộc xuống đường để bày tỏ lòng yêu nước, anh có tiếp tục tham gia không? 
Ngô Nhật Đăng: Rất tiếc cho họ, đáng lẽ đây là một dịp để chính quyền có thể “mượn” được sức dân không những chỉ trong việc bảo vệ chủ quyền mà còn nhiều vấn đề khác nữa. Họ lo sợ những cái không có thật, chứng tỏ họ là những người lãnh đạo thiếu cái tâm và tầm nhìn xa. Rất tiếc, nếu cứ có những hành xử với người dân như vậy thì điều họ lo sợ có thể trở thành sự thật. Đó là điều mà không ai muốn nhưng sức chịu đựng cũng chỉ có giới hạn. Nếu lại có những cuộc biểu tình nữa để bày tỏ lòng yêu nước thì tôi coi việc phải tham gia như là một nghĩa vụ công dân.
Không giống như gần 40 năm qua, báo chí của đảng luôn né tránh, thậm chí bưng bít về trận hải chiến Hoàng Sa năm 74, hoặc chỉ đưa tin một cách rất hạn chế. Năm nay, báo chí “lề đảng” đã không ngần ngại đưa tin về trận hải chiến này và không ngần ngại gọi 74 người lính hải quân VNCH là “anh hùng”, bạn nghĩ sao về việc này? 
Ngô Nhật Đăng: Đó là điều họ phải làm từ lâu rồi mới phải, nhưng dù sao muộn còn hơn không. Hơn ai hết họ quá hiểu sự o ép khó chịu của tay “láng giềng to xác”. Đây là lúc lựa chọn giữa đất nước và quyền lợi cá nhân, không có kiểu lập lờ nước đôi được.
Ngô Thị Hồng Lâm: Đúng là năm nay là một năm khá đặc biệt. Trước áp lực của quần chúng bắt buộc Tuyên Huấn chỉ thị báo chí phải đưa tin, bài về cuộc chiến giữ đảo Hoàng Sa của Hải quân VNCH mà những thập kỉ trước họ rất kiệm lời và cho là việc “nhạy cảm” hay “chạm húy”. Hay nói cách khác thì đây là một sự hèn nhát của những người cầm quyền. Nhưng họ không thể làm ngơ mãi được vì lương tâm của họ chắc đã hối thúc họ không thể ngậm miệng thêm nữa trước xu hướng tiến lên của một dân tộc ngàn đời không chịu sống quỳ.
Từ ngàn năm nay, qua bất kỳ thời đại nào, chế độ nào người dân VN ta đều thể hiện lòng yêu nước nồng nàn. Anh nghĩ sao về những bạn trẻ vẫn đang ra sức truyền bá sự thật hiện tại và lịch sử về HS – TS bất chấp tù đầy và bắt bớ, sách nhiễu hay đánh đập? 
Ngô Nhật Đăng: Tuyệt vời!!! Tôi không còn biết dùng từ gì hơn để nói về các bạn trẻ đó. Tôi được gặp, được nghe, được nói chuyện với các bạn và đó là niềm hạnh phúc. Không riêng tôi, nhiều người thuộc thế hệ cha chú của tôi cũng vui mừng. Họ bảo: Vẫn có những cô bé, cậu bé như vậy, đất nước này không thể mất.
Theo bạn, 40 năm sau những thế hệ tương lai sẽ đánh giá và nghĩ gì về thế hệ chúng ta ngày hôm nay khi họ cùng chung nhau tổ chức Kỷ niệm 80 năm hải chiến HS năm 1974? 
Lê Hưng: Theo tôi nghĩ 40 năm sau, có thể mọi chuyện đã thay đổi rất nhiều. Cũng có thể chúng ta đã lấy lại được Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng nếu vậy thì ngày hôm nay và ngay bây giờ, chúng ta phải dũng cảm và quyết tâm đứng lên tranh đấu đòi lại đất mẹ. Nếu không, thế hệ kế tiếp sẽ lên án chúng ta là những kẻ vô ơn, những kẻ hèn nhát, những kẻ không dám nhìn vào sự thật, những kẻ ngu xuẩn bị tẩy não, bị nhồi sọ.
Nhân đây, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn thành kính sâu sắc tới những người lính VNCH, nhất là 74 vị anh hùng đã “vị quốc vong thân”. Xin hãy tha thứ cho tôi, một cho một thế hệ trẻ sinh sau năm 1975 vì đã suốt một thời gian dài, chúng tôi đã không biết về một phần của sự thật lịch sử. Cảm ơn vì đã cho tôi cơ hội nói lên phần nào tâm tư, trăn trở của tôi.
Ngô Nhật Đăng: Tôi tin rằng lúc đó HSTS đã trở về trong lòng Tổ Quốc, nếu tên những người trong chúng ta được nhắc đến thì đó sẽ là niềm vui sướng vô bờ.
Xin cảm ơn cô Ngô Thị Hồng Lâm, anh Ngô Nhật Đăng và bạn Lê Hưng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét