Tổng số lượt xem trang

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Ngày 24/9/2013 - Việt Nam lại chơi bài “vừa đánh vừa đàm” khi đàm phán về nhân quyền

TIN LÃNH THỔ

TIN XÃ HỘI


TIN KINH TẾ

TIN GIÁO DỤC

TIN ĐỜI SỐNG

TIN CÔNG NGHỆ

TIN VĂN HÓA GIẢI TRÍ


TIN THẾ GIỚI


Việt Nam lại chơi bài “vừa đánh vừa đàm” khi đàm phán về nhân quyền

Hàng chục năm qua, chiến lược đàm phán của cộng sản Việt Nam vẫn là “vừa đánh vừa đàm” – đầu tiên là nhằm đối phó với người Pháp, rồi với người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, và giờ đây là trong các cuộc đàm phán Mỹ-Việt về Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Chiến lược “vừa đánh vừa đàm” là kéo đối phương vào bàn đàm phán, trì hoãn hầu kéo dài thời gian, đồng thời chỉnh đốn lại, triển khai lại và trang bị lại cho quân đội khi họ giành được thêm địa bàn cũng như sự nhượng bộ từ đối phương. Theo Ernest Bower, cố vấn cao cấp về Đông Nam Á của Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS – Hoa Kỳ): “Chính phủ Mỹ thán phục tư duy chiến lược của Việt Nam”.
Ngoài Việt Nam, TPP còn bao gồm 9 nước khác và được khuếch trương như một hiệp định thương mại thế hệ mới, chuẩn mực cao của thế kỷ 21. Việc ký kết và thực thi hiệp định thương mại này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ kinh tế Mỹ-Việt, đem lại cho Việt Nam cơ hội tiếp cận còn lớn hơn đến thị trường xuất khẩu lớn nhất của mình: Hoa Kỳ.
Trong khi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tiếp tục vòng vo và dao động khi đàm phán về đến nhân quyền thì những tên tay sai cộng sản vẫn tăng cường đàn áp ở Việt Nam. Như để đánh lạc hướng, cộng sản Việt Nam sử dụng chiêu bài “cần kiềm toả Trung Quốc” trong khi tìm kiếm vũ khí sát thương từ Mỹ, điều nhận được sự ủng hộ của cả hai nhà vận động chính cho Việt Nam – Thượng nghị sỹ John McCain và Ngoại trưởng John Kerry.
Các nhà đàm phán TPP của Hoa Kỳ đang bày tỏ những quan ngại vô hại về tình trạng vi phạm nhân quyền trắng trợn và triền miên của Hà Nội, vì thế người ta có thể cho rằng yêu cầu cải thiện các quyền tự do cho người dân Việt Nam sẽ được đưa vào bản hiệp định trước khi nó được phê chuẩn. Tuy nhiên, lịch sử lại cho thấy là cộng sản Việt Nam chưa bao giờ tôn trọng bất kỳ hiệp định nào với Hoa Kỳ cả, bởi vậy người ta có đủ lý do để tin rằng những tên tay sai cộng sản vẫn tung tẩy trên con đường của mình, vừa tiếp tục chính sách đàn áp vừa chế nhạo Hoa Kỳ.
TPP là một thoả thuận đã xong xuôi nếu người ta tin lời Scott Busby, Quyền Phó Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách dân chủ, nhân quyền và lao động, người mới đây đã phát biểu ở Falls Church, tiểu bang Virginia: “Hoa Kỳ và Việt Nam đang tiếp tục cải thiện mối quan hệ kinh tế và thương mại, kể cả thông qua Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương… hiệp định tự do thương mại.”
Việt Nam là một nhà nước công an trị, nơi cứ 6 người làm việc thì có 1 người tham gia đầy đủ trong mạng lưới an ninh quốc gia khổng lồ hoặc cộng tác với nó.
“Plus ça change, plus c’est la même chose” (Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời).
Dưới đây chỉ là một ít vụ vi phạm nhân quyền mà cộng sản Việt Nam gây ra thời gian gần đây:
  • Ngày 3.9: Ban đầu, nó chỉ là một vụ phản đối ôn hoà cho đến khi công an Việt Nam tấn công hàng trăm giáo dân Công giáo đang phản đối trước nhà thờ của giáo xứ Mỹ Yên, tỉnh Nghệ An; công an đã bắn đạn thật và ném lựu đạn. Những người phản đối yêu cầu thả tự do cho hai giáo dân bị bắt hồi tháng Sáu và giam giữ vô cớ. Một số người được đưa tới bệnh viện cấp cứu với những chấn thương nghiêm trọng ở đầu, tay, bụng và cổ sau khi bị hành hung bởi những viên công an ngăn chặn việc khám chữa bệnh cho những người bị thương.
  • Ngày 1.8: Sau ba năm ngồi tù ở tỉnh Gia Lai và thường xuyên bị đánh đập, mục sư Tin Lành Pyap Rolan đã bị chết đói vì bị từ chối thức ăn và nước uống. Pyap bị truy bức bởi ông là một mục sư nhà thờ tại gia và bởi cha ông, Bre Puih, đã đào thoát sang Mỹ.
  • Ngày 1.8: Các thành viên nhà thờ tại gia Beu Siu và Pet Ksor từ làng Plei Pong (Gia Lai) bị công an bắt giữ. Pet bị đánh rồi được thả tự do, nhưng số phận của Beu thì chưa ai biết thế nào.
  • Ngày 19.8: Các thành viên nhà thờ tại gia Kla Rmah, Sop Rahlan và H’Bleng Rmah (nữ) từ làng Plei Sur (Gia Lai) bị công an bắt và đánh đập; Sop bị đánh dã man đến mức không thể đi được. Kla vẫn bị giam giữ, còn hai người khác đã được phóng thích. Những tin tức trên đây đến từ thân nhân của họ ở North Carolina.
  • Ngày 17.3: Theo một số nguồn tin, thủ lĩnh nhà thờ Công giáo người Hmong Vam Ngaij Vaj ở huyện Cư Jút, tỉnh Đak Nông bị tra tấn bằng roi điện và bị đánh đến chết trong thời gian bị công an giam giữ.
  • Ngày 12.4: Hoàng Văn Ngài, một trưởng lão thuộc đạo Tin Lành Việt Nam, cũng ở tỉnh Đak Nông, đã bị đánh đập đến chết (theo lời kể của người em trai ông, cũng bị giam ở buồng kế bên). Ngoài ra, “hơn 300 nhân chứng đã nhìn thấy thi thể của Ngài với những vết bầm tím, các vết cắt sâu và hộp sọ bị vỡ”.
Trong báo cáo gần đây, Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ (USCIRF) nói rằng Việt Nam, dưới sự cai trị độc tài của Đảng Cộng sản, đang tăng cường kiểm soát tất cả các hoạt động tôn giáo, hạn chế ngặt nghèo sự thực hành tôn giáo độc lập, đồng thời đàn áp những cá nhân và nhóm tôn giáo mà họ cho là thách thức quyền lực của mình. “Nhà cầm quyền Việt Nam sử dụng một lực lượng công an tôn giáo chuyên trách cùng các điều luật mơ hồ về an ninh quốc gia để đàn áp những hoạt động độc lập của Phật giáo, Tin lành, Hoà Hảo và Cao Đài, đồng thời tìm cách ngăn chặn sự phát triển của Tin lành và Công giáo trong các nhóm sắc tộc thiểu số thông qua hình thức phân biệt đối xử, bạo lực và ép buộc từ bỏ tín ngưỡng.”
Tự do tôn giáo đã đi từ xấu đến tồi tệ ở Việt Nam khi một văn bản pháp luật về kiểm duyệt Internet, gọi là Nghị định 72, bắt đầu có hiệu lực trong tháng này và chỉ cho phép mọi người đăng tải trên mạng các thông tin cá nhân. Nghị định mới trừng phạt bất kỳ người nào bàn luận về thời sự hay những tin tức nhạy cảm với sự tồn tại của chế độ. Nghị định cấm blogger và người sử dụng truyền thông xã hội trích dẫn, tập hợp hay tổng hợp thông tin từ các cơ quan báo chí hay các trang mạng của chính quyền. Ngoài ra, các nhà cung cấp dịch vụ Internet còn được giao nhiệm vụ ngăn chặn những câu chuyện với nội dung phê phán Việt Nam hoặc có thể gây nguy hiểm cho “an ninh quốc gia”. Chỉ riêng năm 2013, Hà Nội đã bắt giữ hơn 40 nhà hoạt động vì cái gọi là “tội chống nhà nước”.
Trong khi chính quyền Obama thiếu quyết đoán thì Nghị viện Châu Âu gần đây đã lên án mạnh mẽ tình trạng vi phạm nhân quyền và tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do hội họp ở Việt Nam, kể cả những hình thức như đe doạ chính trị, sách nhiễu, hành hung, bắt bớ tuỳ tiện, án tù hà khắc và xét xử bất công mà nhà cầm quyền dành cho các nhà hoạt động chính trị, nhà báo, blogger, người bất đồng chính kiến và người bảo vệ nhân quyền. Nghị viện Châu Âu còn lên án “sự truy bức tôn giáo nghiêm trọng” nhằm vào Công giáo cũng như các tôn giáo không được thừa nhận như Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và các nhà thờ Tin lành.
Mỉa mai thay, Việt Nam lại đang vận động để giành một ghế trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016.
Chuyến thăm Nhà Trắng
Giữa lúc mọi tai mắt đều đổ dồn vào Tổng thống Obama và Syria, gần như mọi người đã quên mất cuộc gặp tại Nhà Trắng giữa Obama và Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang hồi tháng Bảy, cũng như những lời lẽ lố bịch từ cả hai người. Trương Tấn Sang khoác lác rằng Hồ Chí Minh, nhà sáng lập đất nước Việt Nam cộng sản, là một người theo chủ nghĩa dân tộc lấy cảm hứng từ bản Tuyên ngôn Độc lập và Thomas Jefferson. Chủ tịch Sang và các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam vẫn trung thành với nguyên lý “điều dối trá lớn” của Joseph Goebbels: con người ta thường sẵn sàng tin vào điều dối trá lớn nhiều hơn so với điều dối trá nhỏ, và nếu bạn lặp lại điều dối trá đó đủ thường xuyên thì cuối cùng mọi người sẽ tin nó.
Không muốn để người đồng nhiệm cộng sản của mình qua mặt, Tổng thống Obama cũng đồng tình rằng nhà cách mạng cộng sản nhiệt thành Hồ Chí Minh đã được thôi thúc bởi bản Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Mỹ, cũng như những lời lẽ của Jefferson và các nhà sáng lập nước Mỹ. Ông ta tiếp tục rằng cả hai nước đều chia sẻ sự ngưỡng mộ dành cho Thomas Jefferson và những nguyên lý nền tảng của chúng ta.
Au contraire, mon président (Trái lại, thưa ngài Chủ tịch!). Nhà sáng lập chế độ cộng sản ở Việt Nam không phải là Chúa Trời của Jefferson,[i] mà chính là Hồ Chí Minh, một điệp viên quyền biến của Quốc tế Cộng sản (Comintern) do Moscow trả tiền, người mà lòng trung thành chỉ dành cho Phong trào Cộng sản Thế giới. Và những nguyên lý nền tảng của Mỹ không bao gồm việc sát hại hàng chục ngàn đồng bào của chúng ta, như họ đã làm. Thay vì “tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng”, chế độ của Trương Tấn Sang gần gũi hơn với sự phúng dụ châm biếm về chủ nghĩa cộng sản mà Georgel Orwell thể hiện trong tác phẩm “Trại súc vật” (Animal Farm), nơi mà một số súc vật bình đẳng hơn rất nhiều so với số khác./.
  • Michael Benge từng làm việc ở Việt Nam 11 năm trong vai trò của một quan chức ngoại giao và quan tâm đến chính trị Đông Nam Á. Ông là người vận động rất tích cực cho nhân quyền, tự do tôn giáo và dân chủ cho các dân tộc trong khu vực và viết nhiều về các chủ đề này.
        Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả.
Nguồn: American Thinker / Defend the Defenders


[i] Thomas Jefferson đã đưa Chúa Trời vào trong bản Tuyên ngôn Độc lập của mình: “When in the Course of human events, it becomes necessary for one people to dissolve the political bands which have connected them with another, and to assume among the powers of the earth, the separate and equal station to which the Laws of Nature and of Nature’s God entitle them, a decent respect to the opinions of mankind requires that they should declare the causes which impel them to the separation…” Tạm dịch: “Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn trái đất vị thế độc lập và bình đẳng mà các quy luật của tự nhiên và Chúa Trời đã ban cho họ thì sự tôn trọng đầy đủ đối với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi rằng họ cần tuyên bố những nguyên do thúc đẩy họ đi đến sự độc lập đó…” (ND)

Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận Dự án Luật Đầu tư công: Tham nhũng lớn nhất là từ chủ trương đầu tư



Nhiều ý kiến cho rằng, luật phải tăng cường, siết chặt kỷ luật về đầu tư công, khắc phục triệt để những tồn tại yếu kém trong quản lý nhà nước về đầu tư công, nhất là khâu quyết định chủ trương đầu tư.
Sáng 23.9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cho ý kiến về Dự án Luật Đầu tư công.
Nhiều ý kiến cho rằng, luật phải tăng cường, siết chặt kỷ luật về đầu tư công, khắc phục triệt để những tồn tại yếu kém trong quản lý nhà nước về đầu tư công hiện nay, nhất là khâu quyết định chủ trương đầu tư.

Lãng phí do chủ trương đầu tư sai

Bộ trưởng Bộ KHĐT Bùi Quang Vinh trình bày tờ trình về dự án luật đã khẳng định, thời gian qua, do thiếu hệ thống pháp luật đồng bộ, đặc biệt là việc phân cấp quá rộng lại thiếu các chế tài và biện pháp quản lý giám sát, nên đã phát sinh nhiều tồn tại, hạn chế trong đầu tư công. Đó là: Phê duyệt chủ trương và quyết định đầu tư tràn lan không tính đến khả năng cân đối vốn, bố trí vốn dàn trải dẫn đến thời gian thi công kéo dài, hiệu quả đầu tư kém và lãng phí nguồn lực của Nhà nước…
Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cũng khẳng định thêm, tham nhũng lớn nhất là từ chủ trương đầu tư. Ông Vinh chia sẻ, Thủ tướng từng bức xúc tại sao đường miền núi làm rộng đến 60-70m, ai quyết định. Những công trình hàng nghìn tỷ quyết một phát xong ngay, đến lúc thấy kém hiệu quả vẫn phải lao theo… Những việc này gây ra lãng phí vô cùng. “Chủ trương đầu tư là khâu hết sức quan trọng.
Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa được chú trọng, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể quy trình lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình, dự án đầu tư công” – ông Vinh khẳng định. Và ông dẫn chứng: Trong giai đoạn vừa qua, nhiều chương trình, dự án đã được đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư công khi cân đối vốn không cân đối đủ do chủ trương đầu tư phê duyệt ồ ạt; nhiều chương trình, dự án được bố trí đủ vốn khi đưa vào sử dụng không mang lại hiệu quả hoặc hiệu quả rất thấp.
Ví dụ như đầu tư xây dựng đường ven biển miền Trung thì hiệu quả rất thấp do ít người sử dụng; hoặc đầu tư xây dựng một số chợ dân sinh, một số trung tâm thương mại tại cửa khẩu… xong không có người vào mua bán nên đã bị bỏ hoang, gây lãng phí tiền của Nhà nước.

Xác định rõ hơn trách nhiệm cá nhân

Ông Nguyễn Văn Giàu – Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội – đơn vị thẩm tra dự án luật cho biết, Thường trực Ủy ban tán thành với quan điểm của tờ trình. Tuy nhiên, theo ông Giàu, một số ý kiến cho rằng, việc ban hành Luật Đầu tư công cần phải khắc phục triệt để những tồn tại yếu kém trong quản lý nhà nước về đầu tư công hiện nay, nhất là khâu quyết định chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thực hiện nghiêm khắc kỷ cương trong việc phân bổ vốn đầu tư phù hợp chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.
Băn khoăn việcthưởng vượt tiến độ
Chiều 23.9, thảo luận về Dự án Luật Xây dựng, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội Nguyễn Văn Giàu than phiền:
Đường cao tốc vành đai 3 ở Hà ?Nội làm xong xin thưởng 197 tỷ đồng, nhưng chỉ sau 10 tháng đã có vấn đề về chất lượng.
Trong dự thảo luật có quy định hoàn thành vượt tiến độ được thưởng 5% tổng khối lượng hoàn thành. Nhưng nếu dự án trị giá 10.000 tỷ đồng thì 5% sẽ rất lớn.
Cũng theo ông Giàu, qua nghiên cứu chưa thấy nước nào có thưởng thi công hoàn thành trước tiến độ như ở ta.
Cũng theo Chủ nhiệm Nguyễn Văn Giàu, dự án luật cần xác định cụ thể hơn trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu, người có thẩm quyền phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư, dự án đầu tư để nâng cao tính chế tài của luật đối với các trường hợp phê duyệt dự án đầu tư sai, kém hiệu quả, vốn tăng so với dự toán ban đầu, không cân đối được nguồn vốn để thực hiện, gây thất thoát, lãng phí.
Góp ý về dự án luật, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhận định: Riêng về vấn đề đấu thầu các dự án đầu tư công, tôi muốn một giá thôi, trúng thầu bao nhiêu trả bấy nhiêu, chứ như hiện nay, trúng thầu 100 tỷ đồng, thanh toán vài trăm tỷ là bình thường.
Vậy theo luật này, việc điều chỉnh các giá đấu thầu có bảo đảm không? Còn nếu cứ tiếp tục thế này thì luật sửa cũng vẫn chưa đạt yêu cầu. Chính phủ không làm thì không sao chống tham nhũng trong đầu tư công được”.
Về việc này, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cho biết sẽ chỉ đạo Ban soạn thảo nghiêm túc tiếp thu ý kiến, nếu làm được như vậy sẽ rút bớt được rất nhiều thời gian chờ chỉnh sửa dự toán.
Tuy nhiên, ông Vinh cũng giải đáp: “Luật đang theo hướng tổ chức đấu thầu trọn gói, trong đó đã có cả dự phòng rủi ro là chính. Chỉ khi trượt giá quá lớn, CPI tăng, chính sách thay đổi thì mới đưa vào dự toán và chuyển đấu thầu sang hình thức khác”.
THEO DÂN VIỆT

Ủy ban Kinh tế quan ngại về độc quyền vàng


Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vừa phát hành Bản tin Kinh tế vĩ mô số 9. Đáng chú ý, trong bản tin này, Ủy ban Kinh tế đã có báo cáo về thị trường vàng, ngoại hối.
Bản tin nhận xét Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có những can thiệp chủ động để ổn định thị trường ngoại hối. Yếu tố cơ bản đạt được mục tiêu này là nhờ lạm phát được kiềm chế, kinh tế vĩ mô ổn định, lãi suất huy động vẫn duy trì ở mức thực dương và còn tương đối hấp dẫn so với các môi trường đầu tư khác.
Bản tin nhận định: Việc quản lý thị trường vàng chưa đạt được mục tiêu quan trọng do Quốc hội đặt ra là giảm chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế. Mặc dù NHNN liên tục cung cấp khối lượng vàng lớn thông qua các phiên đấu thầu nhưng chênh lệch giá vàng vẫn duy trì ở mức đáng kể.
Việc NHNN độc quyền nhập khẩu vàng và cung ứng cho thị trường gây ra mối quan ngại là dự trữ ngoại hối có thể bị ảnh hưởng do phải sử dụng để nhập khẩu vàng cùng các hệ lụy khác.
Các tác giả bản tin cũng lo ngại là các chức năng quản lý, giám sát thị trường vàng và trực tiếp kinh doanh vàng chưa được tách bạch rõ ràng. Việc điều tiết thông qua những áp chế hành chính có thể đạt được một số mục tiêu nhất định trong ngắn hạn song có thể có những hệ lụy trong trung đến dài hạn. Bên cạnh đó, nếu chính sách độc quyền còn kéo dài, các nguyên tắc của kinh tế thị trường chưa được tuân thủ đầy đủ thì rủi ro sẽ bị dồn nén và có thể sẽ bùng phát khi vượt qua ngưỡng nhất định.
THEO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Phát hiện hàng loạt doanh nghiệp FDI khai lỗ lớn


Thanh tra Chính phủ đã phát hiện hàng loạt doanh nghiệp FDI khai lỗ lớn trong khi vẫn mở rộng hoạt động…
Thực hiện kế hoạch thanh tra năm 2012, Thanh tra Chính phủ đã tiến hành một đợt thanh tra về việc chấp hành pháp luật về thu nộp ngân sách nhà nước tại khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất trên địa bàn thành phố Hà Nội, Tp.HCM, Bình Dương và Đồng Nai.
Kết quả thanh tra đã nêu lên nhiều vấn đề bất cập liên quan đến vấn đề này cũng như từng doanh nghiệp cụ thể, trong đó đặc biệt đáng chú ý là tình trạng các doanh nghiệp FDI liên tục khai lỗ lớn trong thời gian qua.
Cụ thể, tại thời điểm 31/12/2011, qua kiểm tra 399 doanh nghiệp ở khu chế xuất có số thu phải nộp thuế, đã phát hiện ra 125 doanh nghiệp hạch toán lỗ trong ba năm 2009 – 2011. Trong số này, có tới 36 doanh nghiệp lỗ 3 năm liên tiếp với tổng mức lỗ lên tới trên 2.800 tỷ đồng; 69 doanh nghiệp khác có mức lỗ 2 năm liên tiếp với tổng mức lỗ 1.829 tỷ đồng.
Trong số này, đáng chú ý là trường hợp Công ty TNHH Sumitomo Bakelite Việt Nam. Công ty 100% vốn Nhật Bản có trụ sở tại Khu công nghiệp Thăng Long, Hà Nội này có số lỗ lũy kế 3 năm lên tới hơn 777 tỷ đồng.

Phát hiện hàng loạt doanh nghiệp FDI khai lỗ lớn

Cũng tại Hà Nội, Công ty TNHH điện tử Meiko Việt Nam có số lỗ 3 năm là hơn 300 tỷ đồng. Công ty TNHH Điện tử Meiko Việt Nam chính thức được trao giấy chứng nhận đầu tư vào Khu Công nghiệp Thạch Thất – Quốc Oai, huyện Thạch Thất, Hà Nội vào cuối năm 2010. Nhà máy của Meiko tại Hà Nội là một trong 10 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất năm 2006 và là dự án sản xuất điện tử có vốn FDI lớn nhất vào Việt Nam tại thời điểm cấp phép.
Đồng Nai đóng góp tới 4 cái tên trong danh mục doanh nghiệp khai lỗ lớn được kiểm tra đợt này, trong đó đáng chú ý là Công ty TNHH sản phẩm công nghiệp Toshiba Asia với mức lỗ lũy kế 3 năm là hơn 430 tỷ đồng.
Xếp tiếp theo trong danh sách là Công ty TNHH Fujitsu Việt Nam với số lỗ lũy kế 2 năm là hơn 292 tỷ đồng. Sau 13 năm hoạt động tại Việt Nam, Công ty này đã đầu tư trên 200 triệu USD và từng đạt mức doanh thu xuất khẩu lên tới gần 500 triệu USD vào những năm 2006-2007, nhưng hiện nay doanh thu sụt giảm mạnh.
Hai cái tên đáng chú ý còn lại cũng thuộc địa bàn Đồng Nai là Công ty TNHH Kureha Việt Nam với mức lỗ lũy kế 3 năm là 264 tỷ đồng và Công ty TNHH Olympus Việt Nam với mức lỗ lũy kế 2 năm là 256 tỷ đồng.
Tp.HCM và Bình Dương cũng “đóng góp” hai đại diện trong danh sách lỗ lớn được thanh tra, bao gồm Công ty TNHH Freetrend Industriala Việt Nam (Tp.HCM) với mức lỗ 2 năm là trên 222 tỷ đồng và Công ty TNHH Saigon Stec (Bình Dương) với mức lỗ lũy kế 3 năm trên 218 tỷ đồng.
Tuy nhiên, điều mà Thanh tra Chính phủ phát hiện là trong bối cảnh khai lỗ liên tục và lớn, một số doanh nghiệp vẫn có “tốc độ tăng doanh thu hàng năm vẫn cao, hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục được mở rộng, nhiều doanh nghiệp đã có số lỗ vượt quá số vốn chủ sở hữu”.
Cơ quan này cũng cho rằng việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chế xuất không hiệu quả do nhiều nguyên nhân, trong đó “có nguyên nhân từ việc chuyển giá trong giao dịch liên kết”. Tình trạng này đã “không chỉ gây thất thu ngân sách mà còn tạo nên sự mất công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và nhiều hệ quả xã hội khác”.
Tuy nhiên, cho đến nay, do không xác minh được thông tin đầu ra đối với các doanh nghiệp nước ngoài nên cơ quan thuế không đủ cơ sở để xem xét, xử lý tình trạng này.
Các nội dung khác liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp chế xuất được tổng hợp trong báo cáo của Thanh tra Chính phủ sẽ tiếp tục được VnEconomy thông tin rộng rãi đến bạn đọc.
THEO DOANH NGHIỆP

Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á: Giải pháp cho tranh chấp Biển Đông ?

Trong hai ngày 19-20/09/2013, một cuộc hội thảo khu vực về Biển Đông đã diễn ra tại Phnom Penh với chủ đề « ASEAN và Biển Đông : Những thành tựu, các thách thức và hướng đi tương lai (ASEAN and the South China Sea : Achievement, Challenges and Future Direction) ». Hội thảo do Viện Cam Bốt vì Hòa bình và Phát triển CICP (Cambodian Institute for Cooperation and Peace) tổ chức, đã quy tụ một số chuyên gia đến từ các nước ASEAN cũng như từ Trung Quốc, Canada và Úc.
Đáng chú ý tại cuộc hội thảo này, có tham luận của giáo sư Carlyle A.Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Úc : « Kết hợp một Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông COC vào Cộng đồng Chính trị an ninh của ASEAN: Con đường trước mặt (Incorporating a Code of Conduct for the South China Sea into ASEAN’s Political-Security Community: The Road Ahead) ». Điểm nổi bật trong tham luận là đề nghị theo đó khối ASEAN nên sớm đúc kết một « Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á », một văn kiện có khả năng trở thành phương tiện tốt góp phần mang lại ổn định cho vùng Biển Đông.
Trong tạp chí hôm nay, RFI sẽ giới thiệu một số nét chính trong đề nghị về Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á đã được Giáo sư Thayer nêu lên trong tham luận trình bày tại Phnom Penh, một ý kiến mà chính ông cũng thừa nhận là còn được tiếp nhận một cách thận trọng.
Trả lời phỏng vấn nhanh của RFI hôm 20/09 sau khi báo cáo của ông được trình bày tại cuộc hội thảo ở thủ đô Cam Bốt, Giáo sư Thayer cho biết :
« Trong phiên họp cuối cùng Đại sứ Pou Sothirak (Giám đốc Điều hành Viện Cam Bốt vì Hòa bình và Phát triển) đã gián tiếp nói rằng đề nghị của tôi quá chung chung và không thể đạt được. Nên tập trung vào đề nghị của Việt Nam về việc không sử dụng vũ lực trước tiên.
Việt Nam đã đề nghị là ASEAN và Trung Quốc cùng đồng ý rằng không ai trong số họ sẽ là bên đầu tiên sử dụng vũ lực trong tranh chấp Biển Đông. Đây sẽ là một cam kết của tất cả các bên theo đó, khi xảy ra sự cố, họ sẽ tự kiềm chế và không dùng đến vũ lực. Đấy sẽ là một biện pháp xây dựng lòng tin quan trọng. »
Xin nhắc lại là ý tưởng về một thỏa thuận « không sử dụng vũ lực trước tiên » giữa Hiệp hội Đông Nam Á và Trung Quốc đã được Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đề xuất tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN ngày 07/05/2013 ở Brunei. Sau đó ít lâu, ý kiến này đã được Bộ trưởng Quốc phòng Singapore tỏ ý ủng hộ tại Hội nghị An ninh châu Á – tức Đối thoại Shangri-La – ngày 02/06/2013.
Đối với Giáo sư Thayer, nếu Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á trở thành hiện thực, Việt Nam sẽ tránh được tình trạng khối ASEAN mất đoàn kết trên vấn đề Biển Đông như đã từng xẩy ra trong quá khứ, có hại cho đối sách của Việt Nam nhằm chống lại tham vọng chủ quyền của Bắc Kinh. Tuy nhiên, về phần mình, Việt Nam cũng phải điều chỉnh một số yêu cầu. Giáo sư Thayer giải thích :
« Hiệp ước sẽ gắn kết toàn bộ các nước ASEAN vào vấn đề an ninh trên biển. Việt Nam sẽ được độc lập nhiều hơn (không bị lệ thuộc) vào vấn đề quan điểm thống nhất của ASEAN. Thế nhhưng Việt Nam sẽ phải điều chỉnh lại đường cơ sở của mình ở khu vực đông nam cho phù hợp với luật pháp quốc tế, cũng như làm rõ các đòi hỏi chủ quyền của mình, bao gồm cả việc phân biệt rõ ràng các thực thể địa lý như bãi đá, độ cao thủy triều lúc xuống thấp, hải đảo.
Khi nhìn vào bản đồ vùng đặc quyền kinh tế EEZ của Việt Nam, có một chỗ phình ra trông thấy – hoặc là phần mở rộng được gọi nôm na là ‘người phụ nữ mang bầu’ – tại vùng bờ biển phía đông nam, để bao gồm cả khu vực bãi Tư Chính ( hoặc Vạn An Bắc theo phía Trung Quốc). Đây là một yêu cầu quá mức. Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cần được quy định theo đường cơ sở vẽ thẳng từ bờ biển.
Khi dự thảo Luật Biển của Việt Nam được chuyển lên Bộ Chính trị, giới chuyên gia về biển đã đề nghị làm cho các tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế. Đề nghị này đã bị từ chối với lý do là Việt Nam sẽ phải đàm phán với Trung Quốc vào một thời điểm nào đó trong tương lai và yêu sách quá mức về vùng đặc quyền kinh tế đó là điểm khởi đầu cho cuộc đàm phán. »
Dẫu sao thì công việc hình thành một Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á không thể được thực hiện trong một sớm một chiều, đặc biệt trong bối cảnh giữa một số nước ASEAN, các tranh chấp biển đảo đã có từ rất lâu. Trên các khó khăn này, Giáo sư Thayer ghi nhận :
« Đây là một dự án phải mất ít ra là 10 năm mới thực hiện được, nhưng nó có thể là đầu mối để xây dựng một Cộng đồng Chính trị-An ninh ASEAN.
(Cái khó là) có một số tranh chấp hàng hải nhất định đã tồn tại từ lâu đời và một số nước Đông Nam Á cảm thấy nên duy trì nguyên trạng, vì hướng tới một hiệp ước sẽ khơi lại những vết thương cũ. »
Cần tiến tới Hiệp ước Hàng hải vì COC bị Trung Quốc trì hoãn
Trong bản báo cáo khoa học của mình, Giáo sư Thayer đã nêu bật nguyên do chính thúc đẩy ông nghĩ đến giải pháp « Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á ». Đó là triển vọng được ông cho là còn rất xa vời của Bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc, chủ yếu xuất phát từ thái độ trì hoãn của Bắc Kinh.
Trong phần đề cập đến cách thức đạt được COC, ông ghi nhận là từ trung tuần tháng Chín 2013, quan chức cao cấp ASEAN và Trung Quốc đã bắt đầu mở tham vấn về COC. Tuy nhiên, đối với với Giáo sư Thayer, ngay từ khởi điểm, Bắc Kinh đã đặt ra một số điều kiện làm cho khó có thể tiến nhanh đến một bộ Quy tắc Ứng xử. Ông giải thích :
« Trung Quốc nhấn mạnh rằng hai tiến trình (thực hiện) bản Tuyên bố Ứng xử DOC và (xây dựng) bộ Quy tắc Ứng xử COC tương quan chặt chẽ với nhau, và chỉ có thể được thúc đẩy, một khi đạt được tiến bộ trong việc tiến hành các hoạt động hợp tác được liệt kê trong bản Tuyên bố DOC. Tuy nhiên, cùng một lúc, Trung Quốc lại xác định rằng thỏa thuận nhanh chóng trên bộ Quy tắc COC là điều không thực tế.
Để có thể đạt được một bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông, ASEAN cần phải tách biệt các cuộc thảo luận về DOC ra khỏi thảo luận về COC. Vào tháng 08/2013, tại cuộc họp đặc biệt Trung Quốc – ASEAN, Ngoại trưởng Malaysia Datuk Seri Anifah Aman đã cho rằng ‘công việc tham vấn về COC phải được bắt đầu càng sớm càng tốt và không nên gắn liền với việc thực thi DOC, cả hai tiến trình nên được thực hiện song song với nhau’.
Để cho các cuộc đàm phán về việc thực thi bản Tuyên bố DOC có thể bắt đầu, thì Trung Quốc phải làm rõ các đòi hỏi chủ quyền của mình tại Biển Đông như là một điều kiện tiên quyết cho việc khởi sự các hoạt động hợp tác ở Biển Đông. »
Đồng thuận khó khăn về COC vì bị Bắc Kinh phá quấy
Một khó khăn khác trong việc tiến tới bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông là tìm được sự đồng thuận ngay trong nội bộ khối ASEAN về bản dự thảo COC của riêng mình để có thể trình bày với phía Trung Quốc. Công việc tìm kiếm đồng thuận này lại càng khó khăn hơn trong bối cảnh Trung Quốc không ngần ngại gây chia rẽ giữa các nước ASEAN.
« Tiến trình tham vấn/đàm phán ASEAN – Trung Quốc về DOC/COC là cần thiết nhưng chưa đủ để có được một Bộ Quy tắc Ứng xử mang tính ràng buộc.
ASEAN bám sát trọng tâm đàm phán về COC với Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng cho dù đây là một mục tiêu an ninh quan trọng, về cơ bản đó là một ưu tiên không đúng chỗ. Các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và ASEAN về COC đã làm cho ASEAN bị chia thành hai nhóm – có tranh chấp và không tranh chấp – làm cho việc thông qua một chính sách chung vô cùng khó khăn.
Cách tiếp cận đó cũng cho phép Trung Quốc khai thác sự khác biệt giữa các thành viên ASEAN và trì hoãn không chỉ thảo luận về các biện pháp hợp tác trong khuôn khổ bản Tuyên bố DOC nhưng trên cả việc xây dựng COC. Điều đó cung cấp cho Trung Quốc thời gian để củng cố sự hiện diện của họ, tức là quyền kiểm soát trên vùng biển đảo tại Biển Đông. »
COC còn bị giới hạn về phạm vi áp dụng
Riêng về bộ Quy tắc Ứng xử COC, Giáo sư Thayer cho rằng phạm vi áp dụng của văn kiện này còn quá hạn chế về mặt địa lý, không bao trùm toàn bộ các vùng biển Đông Nam Á.
« Thảo luận ASEAN-Trung Quốc về bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông COC không bao gồm các vùng biển Đông Nam Á bên ngoài Biển Đông. Trong thực tế, như các khó khăn nẩy sinh trong việc đàm phán với các cường quốc hạt nhân để họ gia nhập Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân từng cho thấy, không hề có thoả thuận về những gì tạo thành khu vực địa lý được gọi là Biển Đông.
Lĩnh vực hàng hải của Đông Nam Á bao gồm không chỉ Biển Đông và Vịnh Thái Lan mà còn là các vùng biển xung quanh các quốc gia ven biển và quần đảo. Khu vực rộng lớn bao trùm các vùng đặc quyền kinh tế của toàn bộ các quốc gia Đông Nam Á (gồm cả Đông Timor)…
Vùng biển Đông Nam Á rất thiết yếu cho giao thông vận tải, và giao dịch thương mại của các nước trong khu vực cũng như các cường quốc bên ngoài. Tóm lại, vùng biển Đông Nam Á quan trọng đối với con người, lương thực và an ninh năng lượng. Những vấn đề đó liên quan chặt chẽ với nhau.
Các quốc gia ven biển trong ASEAN đang gặp phải khó khăn trong việc phát triển các nguồn tài nguyên nằm trong vùng EEZ của họ do việc yêu sách chủ quyền nằm trong bản đồ đường chín đoạn của Trung Quốc bao trùm khoảng 80% Biển Đông. Cạnh tranh chiến lược Trung-Mỹ có thể làm khu vực bất ổn thêm, trong lúc việc khai thác tài nguyên Biển Đông thêm khó khăn. »
Theo giáo sư Thayer, vì tất cả các lý do kể trên, do nguy cơ thảo luận ASEAN – Trung Quốc về COC rất có thể sẽ kéo dài vô tận, ASEAN cần phải có phương án giải quyết riêng. Đó là vừa đàm phán với Trung Quốc về việc tách hai cuộc thương thuyết về DOC và COC thành hai tiến trình riêng biệt, vừa yêu cầu Bắc Kinh làm rõ chính sách về các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ DOC.
Trong nội bộ, ASEAN phải bắt đầu đàm phán giữa các thành viên về một Hiệp ước Hòa bình, Hợp tác và Phát triển vùng biển khu vực Đông Nam Á (gọi tắt là Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á). Theo giáo sư Thayer, Hiệp ước này dựa trên hai tiền đề :
« Trước hết, sự an toàn của vùng biển toàn Đông Nam Á là một thể thống nhất đối với tất cả các thành viên ASEAN, cho dù đó là nước thuộc khối ven biển hoặc trên lục địa. Hiệp ước sẽ làm cho tất cả các thành viên ASEAN có liên can như nhau với vấn đề biển. Điều này sẽ khắc phục tình trạng phân cách hiện nay giữa các nước ASEAN có tranh chấp và không có tranh chấp tại Biển Đông.
Thứ hai, luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, được áp dụng đồng đều trên toàn vùng biển Đông Nam Á và không đơn thuần là Biển Đôn, và được áp dụng cho tất cả các nước. Việc thông qua Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á sẽ củng cố bản chất tập thể và pháp lý của ASEAN và tăng cường khả năng đối phó của khối với các cường quốc bên ngoài. Nó sẽ cung cấp cho ASEAN một đòn bẩy cần thiết trong đối sách với Trung Quốc. »
Giải quyết tốt tranh chấp trong nội bộ ASEAN để tôn cao vai trò khu vực
Theo Giáo sư Thayer, Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á phải là một phần không thể tách rời của Cộng đồng Chính trị- An ninh ASEAN. Văn kiện pháp lý này cần được thiết kế để giải quyết rất nhiều vấn đề biên giới trên biển và tranh chấp lãnh thổ trên biển chưa được giải quyết giữa các nước Đông Nam Á, từ đó lôi kéo toàn bộ các tác nhân khác cùng tham gia kết ước.
« Tranh chấp trên biển trong khu vực liên quan đến cả vấn đề đòi chủ quyền đối với các đảo và các thực thể địa lý, cũng như quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên ở vùng biển và thềm lục địa. Mục đích của Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á là giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Nói cách khác, ASEAN có thể khẳng định tốt vị trí của mình bằng cách dọn dẹp ngôi nhà riêng của mình trong địa hạt tranh chấp lãnh hải giữa các thành viên. Điều đó sẽ tăng cường đoàn kết và sự gắn kết của ASEAN và giúp toàn khối phát huy quyền tự chủ và vai trò trung tâm của ASEAN trong vấn đề an ninh khu vực. »
Vấn đề then chốt, theo Giáo sư Thayer, là toàn thể các thành viên ASEAN có mặt tiền nhìn ra biển phải phân định rõ cái gì là của mình.
« Tất cả các nước ASEAN cần điều chỉnh đòi hỏi chủ quyền trên biển của mình sao cho phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt chú ý đến việc từ bỏ các đường cơ sở quá mức. Các quốc gia sau đó phải phân định lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Các quốc gia cần phân biệt rõ ràng đảo với đá để phân định hải phận cho đúng…
Các quốc gia cần chỉ rõ những vùng lãnh thổ và thực thể địa lý khác mà họ đòi chủ quyền ở ngoài biển…
Một khi tiến trình đó hoàn tất, tất cả các nước nên tiến hành đàm phán để giải quyết các tranh chấp nổi bật nơi các vùng biển chồng lấn, hoặc tại nơi có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. Các quốc gia cần đồng ý trên một thời hạn (đàm phán) để cho sau đó, nếu tranh chấp chưa được giải quyết, thì các nước chấp thuận quyền tài phán của Hội đồng Tối cao ASEAN, hay trong khuôn khổ các quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS (Tòa án Quốc tế về Luật Biển hoặc Tòa án Công lý Quốc tế), hoặc theo thủ tục khác đã được thoả thuận.
Tất cả các bên tham gia Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á cần cam kết phi quân sự hóa các đảo, đá mà họ đang chiếm đóng, trong đó có việc cấm triển khai một số loại vũ khí cụ thể, chẳng hạn như tên lửa chống hạm bắn đi từ đất liền… »
Mở rộng Hiệp ước đón các đối tác đối thoại
Nội dung Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á do Giáo sư Thayer đề nghị còn bao gồm nhiều yếu tố khác, nhưng ý tưởng quan trọng chính là phạm vi áp dụng cũng như tính chất mở của Hiệp định này.
Theo ông Thayer, Hiệp ước phải bao trùm toàn bộ vùng biển trong khu vực Đông Nam Á – chứ không chỉ Biển Đông mà thôi – tương tự như phạm vi của Khu vực Tự do Hòa bình và Trung lập (1971), Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (1976) và Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (1995). Bên cạnh đó, ngoài mười thành viên ASEAN hiện hữu và thành viên tương lai như Đông Timor, Hiệp ước cần phải được mở rộng cho các đối tác đối thoại của ASEAN và các cường quốc hàng hải khác tham gia.
Theo giáo sư Thayer trước thái độ trì hoãn cũng như các động thái chia rẽ ASEAN của Trung Quốc nhằm củng cố sự hiện diện của họ tại Biển Đông, ASEAN cần trang bị cho mình những công cụ hữu hiệu hơn để đối phó. Điều đó có thể được thực hiện bằng cách hình thành một Hiệp ước Hàng hải Đông Nam Á.
THEO RFI

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét