Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

Bài đáng chú ý

Chính trị - kinh tế: chiếc cầu đã gẫy


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (giữa) tại lễ khai mạc Diễn đàn Kinh tế Thế giới Đông Nam Á tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Myanmar ở Naypyidaw hôm 06/6/2013 (AFP photo)

Việt Nam luôn bảo lưu quan điểm chính trị và kinh tế không cần thiết phải song hành trong khi khái niệm này được thế giới chứng minh ngược lại. Điều gì đang xảy ra trong nền kinh tế và chính trị không thể đồng hành ấy? Mặc Lâm phỏng vấn Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng để tìm câu trả lời.

Nhiều tướng lĩnh lên tiếng

Mặc Lâm: Thưa ông, kinh tế và chính trị đối với các nước không cộng sản là cặp phạm trù tương quan không thể tách rời. Đối với Việt Nam phải chăng hậu quả đang xảy ra xung đột trên cả hai lĩnh vực kinh tế và chính trị?

TS. Phạm Chí Dũng: Câu hỏi của anh không chỉ có tính triết học mà còn cả về “thần học”. Vật chất và ý thức thượng tầng luôn đi đôi và dính liền với nhau. Nhưng cái mà tôi muốn đề cập là hình như đang có một thế lực “thần quyền” nào đó ở Việt Nam, đang dụng tâm lấy ý thức và trên hết là ý thức hệ để làm mờ nhạt những xung đột xã hội có nguy cơ sắp bùng nổ.

Hãy tự hỏi, sau 38 năm từ ngày chấm dứt chiến tranh, dù rằng GDP và đời sống người dân luôn được báo cáo là “năm sau tăng cao hơn năm trước”, nhưng nạn tham nhũng và mức sống dân tình vẫn tỷ lệ nghịch với nhau như thể theo cấp số nhân.

Chưa bao giờ nhóm lợi ích và chủ nghĩa thân hữu lại bộc lộ nanh vuốt của chúng một cách lộ liễu, bài bản và thủ đoạn như hiện nay – như một hình ảnh mà người phương Tây đã đúc kết là “chủ nghĩa tư bản dã man”. Cũng chưa bao giờ hố phân cách giữa người giàu và người nghèo trong xã hội lại lớn đến như thế này.

Thế thì cứ mãi “Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh” để làm gì? Điều gì sẽ có ích từ lời dạy của tiền nhân nếu không được nhập tâm tới nơi tới chốn đối với lớp hậu bối để trở thành “công bộc” xứng đáng?

Xung đột giai cấp cũng từ đó mà khơi nguồn. Xung đột tư tưởng và những gì thuộc về thượng tầng cũng bắt nguồn từ xung đột giai cấp. Hậu quả cho đến nay của kinh tế và nền chính trị mà anh hỏi cũng là một cặp phạm trù mang tính hệ lụy tất yếu.

Chúng ta hãy quay trở lại với biểu đồ “suy thoái tư tưởng” của nền kinh tế từ những năm 2005-2006 đến nay. Cách đây 7-8 năm, tình hình kinh tế vẫn còn trong sức chịu đựng của người dân, tham nhũng lộ diện nhưng chưa hoành hành lộ thiên như bây giờ. Còn hiện nay, dường như mọi việc đang mất kiểm soát, không ai đứng ra trị tham nhũng, không ai dám chịu trách nhiệm về một nền kinh tế lụn bại và bị lũng đoạn từ trong ra ngoài.
Nhiều tướng lĩnh về hưu và cách mạng lão thành đã phải thốt lên là chưa bao giờ Đảng bị phân hóa như hiện nay, chưa bao giờ mầm mống xung đột trong Đảng xuất hiện dày đặc đến thế...
- TS. Phạm Chí Dũng
Thế thì chính trị đi xuống cũng là tất yếu thôi. Hệ lụy ấy - một người dân bình thường cũng có thể nhìn thấy còn rõ hơn đêm giữa ban ngày. Ở vỉa hè, người dân công khai nói về những mâu thuẫn trong nội bộ đảng, không chỉ về một đồng chí X nào đó mà còn cả về các nhóm và phe phái đang đấu tranh với nhau, nhưng không phải là cuộc tranh đấu để có hạnh phúc giai cấp như Mác nói, mà là vì động cơ cá nhân.

Mặc Lâm: Có phải xuất phát từ những điều như ông vừa nói làm cho sự lên tiếng ngày càng nhiều của những tướng lãnh đã về hưu hay các nhà cách mạng lão thành trong thời gian gần đây?

TS. Phạm Chí Dũng: Nhiều tướng lĩnh về hưu và cách mạng lão thành đã phải thốt lên là chưa bao giờ Đảng bị phân hóa như hiện nay, chưa bao giờ mầm mống xung đột trong Đảng xuất hiện dày đặc đến thế trong bối cảnh chân đứng chính trị của Đảng đang trở nên mong manh hơn lúc nào hết.

Những vị tướng lĩnh lão thành như Nguyễn Quốc Thước và Nguyễn Trọng Vĩnh đều là nhân chứng sống động cho rạng bình minh đã lướt qua và ráng hoàng hôn đang ập đến.

Đó là cái gì, nếu không phải là một dạng đồng pha giữa đồ thị lao dốc của kinh tế với biểu đồ suy thoái của chính trị? Nhưng ở một thái cực ngược lại, chưa bao giờ kinh tế và chính trị, hay nói chính xác hơn là chính trị với kinh tế, lại bị lại tách rời đến thế này. Dường như chính khách chỉ là chính khách mà quên bẵng mình là “công bộc”, và người ta lo lắng đến chức phận của mình hơn hẳn chuyện cơm no áo ấm của nhân dân.

Hãy trở lại câu hỏi của anh, trong đó nêu rằng ở các nước phát triển, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là không thể tách rời. Còn nếu sự tách rời đó đang và sẽ xảy ra ở Việt Nam thì sự thể sẽ như thế nào?

Hiển nhiên, ai cũng thấy là một nền chính trị sẽ không thể giữ được chân đứng vững chắc nếu nó tách rời cơ sở hạ tầng kinh tế, thoát ly cái chức trách lo lắng cho đồng bào của mình.

Làm sao để thay đổi?
000_Hkg7408985-250.jpg
Một người chạy xe ôm đang chờ khách ở Sài Gòn bên ngoài buồng rút tiền ATM. AFP photo

Mặc Lâm: Ông dự đoán thế nào nếu ông Thống đốc ra đi? Một nền kinh tế tươi mới hơn hay cần thời gian chuyển tiếp chờ đợi người kế vị rửa sạch những gì mà ông Bình để lại?

TS. Phạm Chí Dũng: Thành thật mà nói, tôi cũng không dám hy vọng rằng bỏ đi một nhân vật như Thống đốc Nguyễn Văn Bình có thể làm cho tình hình kinh tế tốt hơn, nhất là với bệnh trạng các huyết mạch tài chính đã xơ vữa cùng tắc nghẽn, luôn chực chờ một sang chấn bùng vỡ.

Tôi hiểu câu hỏi của anh và tâm tư của những người mà tôi có thể đồng cảm. Không phải vì những người này không quá chán ngán não trạng và cung cách của giới quan chức lợi ích và những người theo chủ nghĩa thân hữu, mà có thể họ chưa tìm được một lối ra nào từ thực trạng mà họ coi là “đánh bùn sang ao”. Thay kẻ này thì sẽ có ngay một kẻ khác trám vào, có khi còn tệ hơn nữa - họ nghĩ thế.

Nhưng bài toán đang thắt nút tại điểm sinh tử của nó: nếu những lãnh đạo vô trách nhiệm không ra đi thì ai sẽ phải đi ra? Người dân chăng? Mà nhân dân thì còn nơi nào để mà đi khi mọi nơi đều là quan chức, và hơn thế, mọi nơi đều vang lên tiếng chuông báo động về nạn quan chức lộng hành nhũng nhiễu.

Sự thay đổi tối thiểu, khả dĩ nhất và an toàn nhất đối với Đảng và Chính phủ là cần từ bỏ chế độc quyền kinh doanh và độc quyền quản lý tài chính – điều mà chính Quốc hội cũng đã một số lần phải lên tiếng. Nhưng sự lên tiếng này vẫn còn quá nhỏ nhẹ trong thời buổi âm thanh lũng đoạn ồn ã hơn rất nhiều.
Sự thay đổi tối thiểu, khả dĩ nhất và an toàn nhất đối với Đảng và Chính phủ là cần từ bỏ chế độc quyền kinh doanh và độc quyền quản lý tài chính – điều mà chính Quốc hội cũng đã một số lần phải lên tiếng.
- TS. Phạm Chí Dũng
Nhưng nói gì thì nói, hãy nên bắt đầu từ việc nhỏ với những kết quả nhỏ, bởi những người muốn có một sự thay đổi mang tính cải tổ ngay lập tức sẽ phải rước lấy nỗi thất vọng tức thì. Trong bối cảnh chính trị “đồng hành” với kinh tế như thế này, thật khó có thể xảy ra một biến đổi nào đủ lớn để thỏa mãn một phần nhỏ yêu cầu dân quyền và dân sinh, ít ra cho đến năm 2015.

Mặc Lâm: Ông có chờ đợi một thay đổi chính trị nào từ phía chính phủ để kích hoạt nền kinh tế hiện nay?

TS. Phạm Chí Dũng: Một thay đổi nào đó, nếu có, theo tôi chỉ có thể xảy đến từ Chính phủ. Nếu 2008 là thời điểm khởi đầu cho chu kỳ lao dốc của đường biểu diễn kinh tế quốc gia, thì biểu đồ suy thoái niềm tin công dân đối với Chính phủ cũng song hành không kém thua về khía cạnh bĩ cực.

Chưa bao giờ trong lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam lại có một chính phủ, với một bộ máy công quyền đậm dấu ấn tư quyền và quá tươi hồng trong công tác tham mưu, bị sói mòn niềm tin xã hội đến như thế.

Uy tín cá nhân thủ tướng cũng vì thế bị “giảm sút nghiêm trọng” – như tổng kết của không ít nhà phân tích chính trị trong nước và quốc tế. Nhưng tôi cho rằng tính từ “nghiêm trọng” còn mang hàm ý khiêm tốn, nếu tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân thật sự công khai và minh bạch.

Thật quá rõ, một bộ máy tham mưu như các bộ ngành hiện thời là quá khó cho bất cứ thủ tướng nào trên thế giới để lấy lại những gì đã mất.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.
RFA

Việt Nam thiếu vắng lãnh tụ?

http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2012/12/leader5.jpg
I. Những lãnh tụ của “Bên thắng cuộc”
Đọc xong Bên Thắng Cuộc (Huy Đức, OsinBook 2012), ai lại không khỏi ngậm ngùi trước những mất mát to lớn của dân tộc mình, những đau khổ thê lương của người dân Việt trong gần 200 năm, kể từ ngày Pháp thôn tính cả nước Việt làm thuộc địa cho tới nay, gần 40 năm sau khi CS miền Bắc toàn thắng và chiếm trọn miền Nam. Ai là người biết suy tư lại không lo sợ cho viễn ảnh đất nước ngày càng tiếp tục tụt hậu, tức tối cho những sai lầm to lớn không tha thứ được của nhà cầm quyền CSVN từ sau khi thống nhất cả nước 1975 cho tới nay.
Tuy nhiên, nếu người viết lịch sử mà không phản ảnh hoàn toàn được sự thực lịch sử hoặc làm rõ bộ mặt thực của những nhân vật lịch sử, hoặc vì bị một ràng buộc nào đó để tránh né, biện minh cho một bên, thì hậu thế sẽ không học được gì ở giai đoạn lịch sử bi thương này, vì suy nghĩ ở người đọc bình thường sẽ bị định hướng như sau:
- Trên hết, vì những lãnh tụ, lãnh đạo này đã có công lớn làm cách mạng giải phóng dân tộc, đã có hy sinh chiến đấu, có cố gắng phục vụ, có quyết tâm sửa sai, khắc phục v.v... cho nên nếu họ có làm sai thì chỉ là vì thiếu kiểm soát, vì vấp phạm lỗi lầm... thì vẫn có thể tha thứ được...
- Lỗi lầm của những lãnh tụ, lãnh đạo này chẳng qua là do trình độ văn hóa thấp kém, vì thiếu khả năng, vì dốt, hoặc chỉ là do bệnh “cuồng tín giáo điều”, hoặc “ấu trĩ tả khuynh”, hoặc “chủ quan duy ý chí”, cho nên cần có thời gian để “từng bước khắc phục”. Hơn nữa, vì họ “xuất thân nhân dân lao động”, cho nên và phải được cho cơ hội để “vừa học vừa làm”.
Đó là những hình ảnh cuối cùng mà sau khi đọc Bên Thắng Cuộc, người đọc có thể nhìn thấy ở các lãnh tụ CS nổi bật như Hồ Chí Minh (chống thực dân, nhưng lại phục tùng Stalin, Mao Trạch Đông), Lê Duẩn (tham vọng quyền lực và độc đoán, vừa chủ trương thanh trừng nội bộ để chống xét lại, vừa chủ trương theo Nga chống Tàu), Võ Văn Kiệt (chủ trương “Đổi mới” chỉ đủ để chữa cháy cho chế độ), và Nguyễn văn Linh (Đổi mới nửa mùa, Cuồng tín giáo điều, sẵn sàng phục tùng CS đàn anh dù là Nga hay Tàu). Cảm tưởng chung của người đọc, nếu không hoặc chưa đọc được những nguồn tài liệu khả tín khác, sẽ chỉ tới mức độ tiếc rẻ, và dễ dàng tin vào lời bào chữa rằng, chính sách thì đúng nhưng thực hiện chưa tốt, hoặc trên chủ trương đúng nhưng dưới thi hành sai, hoặc quá lắm thì chẳng qua chỉ vì các lãnh tụ CS dốt và cuồng tín, giáo điều, duy ý chí tả khuynh... cho nên kết luận chung sẽ chỉ là: thật đáng tiếc cho vận nước nổi trôi, đáng thương cho dân tộc mình, đáng trách nhưng cũng đáng tội nghiệp cho các nhà lãnh tụ, thế thôi.
Có thể là tác giả cũng chỉ nghĩ tới mức độ đó, cho nên điều mà tác giả viết gần như lời một luật sư bào chữa cho tội nhân. Ngay cả khi kết nối lịch sử, nhắc lại cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1956, tác giả cũng không thấy được hoặc cố gắng để có thể làm cho người đọc thấy được bản chất tay sai cho Tàu và Nga của Hồ Chí Minh khi ngay từ những ngày đầu nắm quyền lực đã cam tâm chấp nhận sự thao túng của quan thầy CS Tàu, để mặc cho bàn tay thâm độc của Tàu tung đòn đánh quyết liệt vào nguyên khí dân Việt, thực hiện mưu sâu diệt nhân tài cố tình lồng vào các chiến dịch đẫm máu đó: đoàn cố vấn Tàu do Hồ Chí Minh mời sang, núp dưới vai trò đại diện cho Mao Trạch Đông chỉ đạo việc thực hiện chiến dịch CCRĐ và Đấu tranh giai cấp, Rèn cán chỉnh quân, đã áp lực Hồ Chí Minh phải để chúng trực tiếp điều khiển những đội đặc nhiệm giết và thanh trừng hơn nửa triệu người, cố tình lồng vào trong danh sách đó để tiêu diệt hơn 1/2 số cán bộ đảng viên Việt Minh thuộc thành phần có học, có tinh thần dân tộc, có công trạng lớn trong chống Pháp (những lãnh đạo, lãnh tụ trong tương lai) (*1). Cố vấn Tàu cố tình chỉ để cho HCM giữ lại đám đàn em thân Tàu, phục Tàu, sợ Tàu, những kẻ cuồng tín giáo điều, những cán bộ vô học, và đám quần chúng hoang mang sợ hãi, sẵn sàng chịu nhồi sọ mà thôi.
Trong cuộc chiến Tàu Việt từ ngàn xưa tới nay, sách lược muôn đời của Tàu vẫn là tàn hại nguyên khí của dân Việt, và chúng ra tay rất sớm, “tiên hạ thủ vi cường”, trong thời gian kể từ 1956, Tàu đã thực hiện mục tiêu đó một cách rất quyết liệt và hiệu quả: ở miền Bắc, chỉ trong thời gian vài năm, đã tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa hầu như hoàn toàn những người có tinh thần dân tộc, những người có khả năng tư duy độc lập, những người có tiềm năng lãnh đạo, tóm lại là những nhân tài quý hiếm của đất nước, chỉ để lại những kẻ phục Tàu, sợ Tàu, những thành phần chịu cúi đầu khuất phục hoặc tay sai, những kẻ cuồng tín dốt nát nhưng có tham vọng quyền lực độc tài và bọn cơ hội, những loại người này sẵn sàng đổ máu dân lành vô tội để thực hiện tham vọng của họ dưới chiêu bài “xây dựng chuyên chính vô sản”. Những kẻ này chính là bọn giặc nội xâm, là những kẻ đã bị nhiễm nọc độc CSCN. Theo bản năng và quán tính, họ sẵn sàng tiêu diệt hết những kẻ khác có tiềm năng cạnh tranh vai trò lãnh tụ của mình, bất kể là đó là người yêu nước, nhân tài của đất nước, hay đồng chí đồng đội của mình.
Như một quy luật, một guồng máy đã được định hình thế nào, thì sẽ chỉ chế tạo ra được 1 thứ sản phẩm nhất định. Thực tế lịch sử cho thấy hầu như toàn thể thanh thiếu niên miền bắc VN đã bị tê liệt vì tẩy não và bạo lực chuyên chính, cho nên đã nhắm mắt tung hô bọn lãnh tụ cuồng tín, lao vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn xâm lăng miền nam. Đồng thời lịch sử cho thấy đám người theo CSCN thay nhau cầm quyền kể từ sau 1956 cho tới nay chỉ giỏi trong chiến tranh, giết chóc và phá hoại, nhưng lại rất bất lực, vụng về và hoàn toàn không có khả năng trong xây dựng đất nước. Trong thực tế, sau khi phải từ bỏ lối kinh tế kiểu XHCN để tránh chết đói, đứng trước những mối lợi to lớn khi kinh tế khá lên, họ bị suy thoái nhanh chóng trong đạo đức, mau chóng phân hóa thành những nhóm lợi ích cạnh tranh nhau về quyền và lợi, sẵn sàng đàn áp nhân dân và lệ thuộc ngoại bang để bảo vệ quyền lợi đó, do đó không lạ gì đất nước ta sau 40 năm thống nhất và hòa bình, lại ngày càng tụt hậu thê thảm mọi mặt so với các nước láng giềng trong khu vực như ngày nay. (*2)
Theo dõi những diễn biến lịch sử tiếp theo năm 1956, không khó để nhận thấy đòn đánh quyết liệt đầu tiên của Tàu qua các chiến dịch khủng bố nhà nước năm 1956 là rất hiệu quả, triệt để, và có tính quyết định trong sách lược tiêu diệt nguyên khí đất nước Việt vừa mới bắt đầu phục hồi sau khi thắng thực dân Pháp. Đòn đánh này cũng tạo tiền đề, tạo điều kiện cho các vụ khủng bố nhà nước khác tiếp diễn liên tục như: Vụ án xét lại chống đảng (1967-1973 nhằm củng cố thế lực độc tôn của Lê Duẩn), trận Mậu Thân 1968 (nhằm tiêu diệt lực lượng quân sự của những người theo Mặt trận Giải phóng MN vì tinh thần dân tộc chủ nghĩa, có tiềm năng chia sẻ quyền lực chính trị với miền Bắc sau khi thống nhất đất nước), chính sách bội ước và thanh trừng phe Mặt trận GPMN, chính sách cào bằng kinh tế miền Nam, phá hủy văn hóa phẩm miền Nam, chính sách cầm tù, đày đọa quân nhân viên chức VNCH sau 1975, và cái quái thai “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” còn đang được vá víu thực hiện cho tới ngày nay, đều là những hệ luận không thể tránh khi đất nước được điều khiển bởi những lãnh tụ cuồng tín, giáo điều, độc tài độc đoán mà lại thiếu học vấn, thiếu kiến thức và kinh nghiệm xây dựng kinh tế như những tập đoàn Lê Duẩn, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh v.v...
Hệ lụy của chuỗi sai lầm do “chủ quan, duy ý chí, và ấu trĩ tả khuynh...” này rất bi đát ngoài sức tưởng tượng cho dân Việt, nó trở thành chuỗi khủng bố, phá hoại liên tục vào nguyên khí và tiềm lực kinh tế của đất nước VN, nó làm băng hoại khối đoàn kết dân tộc, làm cạn kiệt nhân tài, tiêu hao trầm trọng sinh khí của dân tộc, đồng thời cũng tiếp tục là nguyên nhân sâu xa của tình trạng ngày càng tụt hậu mọi mặt của VN so với các nước láng giềng mà trước 1975 từng thua xa VN (Thái, Miên), hoặc chỉ tương dương miền Nam VN (Nam Hàn, Đài Loan...)
Động thái mà chính quyền CSVN hiện nay đang làm: một mặt dùng bạo lực đỏ và đen để đàn áp những cuộc biểu tình chống xâm lược, chống tham nhũng, chống cướp đất cướp nhà, đàn áp các nhà đối lập, các blogger, các phản kháng của tôn giáo, trí thức v.v.., mặt khác dung dưỡng tham nhũng phá hoại kinh tế, phá sản giáo dục, làm thối nát xã hội, hư hỏng thanh thiếu niên đã tiếp tục làm suy sụp thêm nguyên khí đất nước, và làm tê liệt khả năng liên minh với các siêu cường như Mỹ, Nga để có đối trọng với sức mạnh kinh tế quân sự áp đảo của Tàu.
Hiện tượng bế tắc tương lai và suy yếu toàn diện vừa về lãnh đạo, vừa về văn hóa, xã hội, kinh tế và quốc phòng của Việt Nam chứng tỏ rằng Tàu đã thành công trong sách lược làm Việt Nam suy thoái triệt để. Mối nguy hiểm lớn nhất là ở chỗ bọn xâm lược không cần phải trực tiếp ra mặt, mà lại sai khiến được chính nhà cầm quyền Việt để thực hiện việc “giết tiềm lực” (*3): tiêu diệt nhân tài, đàn áp bóc lột nhân dân, phá hoại tiềm lực kinh tế quốc phòng của chính dân tộc mình. Hậu quả sự tự mình phá hoại mình (còn gọi là nội xâm, hoặc tự thực dân) do đó còn triệt để và nghiêm trọng gấp rất nhiều lần so với bị ngoại bang tấn công trực tiếp.
Điều quan trọng mà nhân dân và đất nước đang cần ở những người viết lịch sử là phải vạch rõ cái nguyên nhân sâu xa của mọi hiện tượng suy sụp của đất nước chính là từ âm mưu tiêu diệt tinh thần Việt, nguyên khí Việt nằm trong sách lược ngàn năm bành trướng Đại Hán, thể hiện qua tập đoàn lãnh đạo CSVN kể từ HCM, là tập đoàn đã được khuôn đúc và dung dưỡng để phục vụ chủ nghĩa Đại Hán. Từ đây mới đi đến kết luận dứt khoát là phải giải thể chế độ độc tài đảng trị của CSVN thì mới mong có cơ may thoát khỏi mất nước vào tay Tàu.
Phải làm sao để người trong nước nhìn thấy ngay cái nguy mất nước ở chỗ nào, thì mới có hiệu quả giải độc và giáo dục quần chúng, giải phóng cả nước khỏi nạn nội xâm để chung sức chung lòng chống ngoại xâm cứu nước. Đối tượng quan trọng để vận động chính là những người đang bị áp bức, những người có tinh thần dân tộc trong nước để tạo thành phong trào quần chúng rộng khắp.
Chỉ sợ rằng đến khi mà quần chúng nhân dân, trí thức trong và ngoài nước thấy rõ rệt được bản chất tay sai cho Tàu của những người lãnh đạo đảng CSVN (vốn đã bộc lộ ngay từ những năm 30), đồng thời thấy rõ âm mưu rất thâm độc, rất mực kiên trì và khôn khéo của Tàu để trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển tập đoàn lãnh đạo tay sai đó đưa dần dần đất nước VN vào tình thế buộc phải chấp nhận trở thành phiên thuộc của Tàu, thì đã quá muộn rồi-

II. Lãnh tụ của cuộc chiến vì dân chủ và độc lập dân tộc
Tình hình ở VN hiện nay như nước sôi lửa bỏng, tuy rằng nhân tài VN chưa đến nỗi kiệt quệ, nhất là ở miền Trung và miền Nam do trước đây ở dưới sự kiểm soát của chính quyền Cộng Hòa nên không bị ảnh hưởng của cuộc CCRĐ 1956, trong giới trí thức kể cả ở những thành phần trụ cột của chế độ hầu như đều nhận thấy tính vô năng và suy thoái của chế độ và lãnh đạo sẽ đưa đến nguy cơ mất nước, và đều muốn thay đổi trước khi quá muộn, nhưng mối lo lớn nhất là ở chỗ ta có thể có nhiều Nguyễn Trãi mà không có Lê Lợi, nhiều La sơn phu tử mà không có Nguyễn Huệ... thì đất nước sẽ tan nát, đại nạn dân mình sẽ lớn lắm...
Cho tới nay, trước mắt người dân, chính quyền và Đảng CSVN chỉ còn đủ “nhân tài” để đấu đá tranh chấp lẫn nhau quyền lợi, địa vị, bóc lột nhân dân và làm vừa lòng quan thầy bằng cách đàn áp phong trào đấu tranh yêu nước. Chính quyền CSVN đang trở thành vô năng lực trong bảo vệ chủ quyền và quản trị đất nước. Văn hóa xã hội băng hoại khủng khiếp, giáo dục phá sản đến mức tuyệt vọng, khoa học công nghệ và nền kinh tế sản xuất thì tụt hậu khiến cho Quốc phòng suy yếu, đối sách chính trị thụ động và phụ thuộc vào Tàu mọi mặt đến mức chưa từng thấy trong lịch sử. Đất nước suy yếu đến như vậy mà không rơi vào tay ngoại bang thì mới là chuyện lạ. Không khó để nhận thấy rằng tới nay trong sách lược bành trướng thôn tính VN, Tàu đã hầu như thành công trong 2 mục tiêu: Mục tiêu căn bản là biến miền Bắc vĩnh viễn trở thành lá chắn an toàn che chở phía Nam nước Tàu, giống như Bắc Hàn là lá chắn phía đông bắc- Mục tiêu thứ 2 là thôn tính Việt và Đông Dương để bành trướng xuống Nam Á, tiến ra biển Đông tranh dành ảnh hưởng với Mỹ và Nga, từng bước thực hiện giấc mộng bá chủ thế giới.
Suy nghĩ theo hướng đó, thì thấy rõ là hành động liên tục trấn áp dân và liên tiếp nhượng bộ Tàu vừa lén lút, vừa công khai của nhà cầm quyền VN chứng tỏ Tàu đã nắm được tập đoàn cầm quyền CSVN, nắm được bộ máy công an... như vậy chính là Tàu đang cai trị VN. Mọi động thái phản kháng chiếu lệ của nhà cầm quyền CSVN đối với hành vi xâm lược, ngang ngược của Tàu ở biển Đông và biên giới phía Bắc chỉ là để che mắt thiên hạ để chuẩn bị giao hết căn nhà VN cho chủ mới là Tàu...
Tuy nhiên, bên này biên giới mong manh của sự bi quan trước hiểm họa mất nước vào tay Tàu, qua các phong trào chống đối ngày càng lớn mạnh của tuổi trẻ và người dân trong nước, và xu thế dân chủ hóa trên thế giới, chúng ta vẫn có thể tin vào tiền đồ của một dân tộc đã chiến đấu mấy ngàn năm để tồn tại. Ngày nay không còn là thời kỳ của Hung nô và Mông cổ nữa và nước Việt Nam sẽ không cô đơn trong trận chiến tự vệ, các lân bang và siêu cường khác sẽ không để cho Tàu, một tên to xác nhưng man rợ, hành xử ngang ngược, muốn làm gì thì làm đối với sự toàn vẹn lãnh thồ của Việt Nam vốn là 1 phần thiết yếu đối với nền hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á và thế giới- Đến một lúc nào đó không xa, khi thời cơ đến, sẽ có một bậc anh hùng xuất đầu lộ diện để lãnh đạo toàn dân trong cuộc chiến chống xâm lược, dành lại độc lập và chủ quyền cho đất nước.
Thời cơ đó sẽ đến khi nước Tàu phải đối mặt với nguy cơ động loạn nội bộ, vì xã hội rộng lớn và nền kinh tế chỉ huy tập trung của Tàu vốn có nhiều bất cập to lớn mà một hệ thống chính trị độc đoán độc tài phản dân chủ không thể giải quyết nổi. Với những nhược điểm có tính cơ cấu của một nước lớn, đất không nuôi nổi dân, Tàu đang bị buộc phải phát triển theo hướng bá quyền cổ điển, Tàu sẽ bị lôi kéo vào cơn lốc xoáy của những tranh chấp quốc tế, và chạy đua vũ trang với Mỹ. Tình trạng nổ tung giống như Liên Xô trước đây đối với Tàu do đó không thể tránh khỏi. (*4)
Một khi Tàu bị suy thoái kinh tế, biến động xã hội và chính trị sẽ rất lớn, sẽ có những cuộc nổi dậy của những dân tộc bị áp bức ở Tây Tạng, Nội Mông, Tân Cương... Tình thế lúc này sẽ tạo điều kiện cho những phong trào đấu tranh ở VN phát triển rộng đến mọi thành phần dân chúng, nhất là nông dân, dân nghèo thành thị, và quân đội, là những thành phần bị chính quyền và đảng CSVN bóc lột đến tận cùng.
Những phản ứng biểu lộ lòng yêu nước trong nhân dân, nhất là tầng lớp trí thức và sinh viên học sinh nay đã vượt quá mức độ dư luận, tuyên ngôn tuyên cáo, sáng tác văn thơ yêu nước, những bản nhạc yêu nước. Phản ứng của người dân Việt trong nước tỏ ra có tiềm năng lan rộng và quyết liệt dù bị đàn áp và kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên, với kỹ thuật kìm kẹp đàn áp tinh vi của nhà cầm quyền tay sai và sự tác động, can thiệp vừa trực tiếp vừa gián tiếp của Bắc Kinh, cuộc cách mạng vì dân chủ và độc lập dân tộc trong nước chỉ có thể thành công khi có được 1 lãnh tụ thực sự đáp ứng được khát vọng sinh tồn của dân tộc, có khả năng tập hợp được quần chúng, hoặc thành lập được 1 lực lượng kháng chiến đủ năng lực du kích chiến để tồn tại và phát triển khi có cơ hội. Người lãnh tụ này chỉ có thể xuất hiện và hoạt động hiệu quả khi rối loạn xã hội hoặc bạo loạn xảy ra ở khắp nơi mà chính quyền tay sai không còn kiểm soát nổi. Hiển nhiên là một lãnh tụ của phong trào quần chúng phải là người của quần chúng, và phải là 1 chiến sĩ đang cùng đấu tranh với chiến hữu và đồng bào mình.
Quan sát tình thế hiện nay, nhân dân VN bị chính quyền CS tay sai khống chế không khác gì thời dưới ách đô hộ của Tàu hoặc Tây. Một lãnh tụ giải phóng dân tộc nếu có chắc chắn là chưa thể lộ diện, và hiện nay chưa một ai biết đến, vì nếu lộ diện, sẽ bị tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa ngay. Đến lúc thời cơ thuận tiện, vị lãnh tụ này sẽ xuất hiện từ nhân dân như Ngô Quyền, Lê Lợi, Quang Trung, từ lực lượng vũ trang như Lê Đại Hành, hoặc từ chính quyền đương đại như Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo...
Thuận lợi lớn nhất và căn bản cho sự tồn tại của dân Việt, của nước Việt hiện nay về tinh thần vẫn là niềm tin vào sức sống dân tộc, và về lực lượng vật chất, nhân sự vẫn là tầng lớp thanh niên sinh viên trí thức, quân nhân, công nhân, nông dân bị bóc lột, và dân nghèo thành thị, đồng thời với lực lượng việt kiều, trí thức, khoa học gia, công kỹ nghệ gia có mặt trên khắp các nước lớn trên thế giới, nhất là ở Mỹ, Pháp, Úc, Canada... là những nơi người Việt đang từ từ tụ họp với nhau thành những cộng đồng dân số đủ đông để có sức mạnh chính trị thông qua lá phiếu, và tổ chức được những hội đoàn sinh hoạt để tương trợ nhau hoặc bảo tồn văn hóa Việt- Thuận lợi này không thấy có ở những dân tộc khác đang bị Hán hóa, đang bị CS Tàu đàn áp như Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương.
Trên căn bản những thuận lợi lớn lao đó, nếu tính cho một kế sách lâu dài và hiệu quả để chống lại nạn bị Hán hóa và mất nước, rõ ràng là phải củng cố các cộng đồng người Việt, chống chia rẽ, phân hóa nội bộ và âm mưu phá hoại của nhiều phía và phe nhóm, đồng thời thống nhất mục tiêu, nội dung và phương pháp hành động trong các công tác chung, điều này khó thực hiện vì chưa có thống nhất chỉ huy (chưa có lãnh tụ?) và vì bối cảnh chính trị hiện nay khiến không thể có yểm trợ từ chính quốc như các sắc dân khác. Trong điều kiện hiện nay, công việc khẩn cấp và quan trọng nhất là hướng mục tiêu hoạt động cộng đồng vào việc xây dựng thế hệ kế thừa, bằng cách khuyến khích, giúp đỡ những chương trình, kế hoạch duy trì và phát huy truyền thống, văn hóa Việt cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài, dạy lịch sử Việt, dạy tiếng dạy chữ Việt và văn hóa Việt cho thanh thiếu niên Việt ở nước ngoài, như lời nhà học giả Phạm Quỳnh đã nói: “Tiếng Việt còn, thì nước ta còn”. Mặt cần thiết khác là đầu tư hoặc ủng hộ các chương trình nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, nhất là nhân tài, trí thức trong nước, các chương trình cứu trợ trẻ nhỏ, các nạn nhân của thiên tai, nghèo đói và bất công, kể cả trợ giúp thân nhân bạn bè đang gặp khó khăn, bao dung và giúp đỡ tinh thần các du học sinh và lao động hợp tác từ VN qua nếu họ có thành tâm và thiện chí hòa nhập v.v... Kết quả của những chương trình này không những đáp ứng về mặt tình cảm và nhân đạo, mà còn là giải pháp khả thi và hiệu quả duy nhất để thực hiện đoàn kết dân tộc, bồi dưỡng và phát triển nguyên khí dân tộc.
Việc ủng hộ các chương trình Cứu trợ Y-tế Xã-hội và nâng cao đời sống, nâng cao dân trí cho đồng bào trong nước dù chỉ đơn giản là vì mục đích nhân đạo, trước mắt có thể hoặc đã bị không ít người chống đối, sự chống đối này có lý do chính đáng, là vì tiền bạc vật phẩm cứu trợ cũng đã rơi nhiều vào tay tham nhũng ở VN, và phải làm những việc mà đáng lẽ là bổn phận của chính quyền VN. Tuy nhiên, đấu tranh để cấm vận hoặc cô lập hoàn toàn VN cũng không phải là biện pháp khả thi và hiệu quả. Khách quan nhận xét, những nước như Bắc Hàn rất cô lập và nghèo đói thì lại càng lệ thuộc Tàu, và xem như Cuba, bị cấm vận trên 50 năm nay cũng đâu có sụp đổ? chỉ có dân là tàn mạt thôi. Đồng thời phải tự hỏi xem, thời xưa nếu không có sẵn Nguyễn Trãi và những nhân tài vật lực trong nhân dân, thì vua Lê Lợi lấy ai giúp đỡ để chiến đấu chống giặc Minh suốt 10 năm gian lao để cởi ách nô lệ cho dân ta? và vua Quang Trung làm sao chiến thắng giặc xâm lược Mãn Thanh một cách thần tốc nếu không có sẵn tướng giỏi, quân khỏe?
Tháng 6-2013
Phạm Dzũng
______________
Chú thích:
(*1) Nhìn lại cuộc Cải cách ruộng đất, Bùi Tín: Những bài học còn nóng hổi -
(trích): “….Trong CCRĐ nông dân Việt Nam đã chịu bao nhiêu tổn thất? Theo thống kê nội bộ của ĐCS (chưa được công khai hóa), ở những vùng đã làm CCRĐ: ... Vậy là tính sơ sơ, số nạn nhân trực tiếp nói chung lên đến nửa triệu con người.
- Chưa hết, theo thống kê nội bộ, trong chỉnh đốn tổ chức được tiến hành ở 2.876 chi bộ ĐCS gồm có 15 vạn đảng viên, đã có đến 84.000 đảng viên bị xử trí (bị tù, tra tấn, xỉ vả, bị giết) chiếm 47%. Con số khủng khiếp này - nhiều hơn số địa chủ bị đấu tố - đã được giữ rất kín. Tôi có những bạn thân, đồng đội cấp trung đoàn (hồi ấy chưa có quân hàm) là trung đoàn trưởng, tỉnh đội trưởng… bị đánh rụng hết răng, mù mắt, gẫy chân; một số khi sửa sai thì đã bị lao phổi nặng do phải nằm đất ẩm, chỉ có manh chiếu rách. Số đảng viên bị tra tấn còn tàn khốc hơn dân thường vì bị coi là phần tử thù địch chui vào đảng để phá từ bên trong. Hầu hết là đảng viên trí thức, có trình độ học vấn khá. ….” (ngưng trích).
* Xem thêm: Hồ Chí Minh và Cải Cách Ruộng Đất. Đại Nghĩa:
“Ông Hoàng Tùng, nguyên Tổng Biên tập báo Nhân Dân (1954-1982) kể lại trong chuyện “Bí mật HCM” cho chúng ta thấy được sự nô lệ của ông Hồ và đảng Lao Động Việt Nam (tiền thân của đảng CSVN) như thế nào: “Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi bác sang, nhất định bắt phải thực hiện CCRĐ. Sau thấy không thể từ chối được nữa, bác mới quyết định phải thực hiện CCRĐ…. Mục đích của họ không phải là CCRĐ mà là đánh vào đảng ta...
Ngay sau khi Bác quyết định cải cách ruộng đất, Trung Quốc đã cử các đoàn cố vấn sang. Đoàn Cố vấn Cải cách ruộng đất do Kiều Hiểu Quang, phó bí thư Tỉnh ủy Quảng Tây, phụ trách”.
* Xem thêm: Bên Thắng Cuộc, Huy Đức, NXB OsinBook, California, USA 2012, trg 255 “... Cùng với cải cách ruộng đất, chiến dịch “Chỉnh đốn tổ chức Đảng và chính quyền” mà Hồ Chủ tịch ca ngợi trong báo cáo trước Hội Nghị Trung ương 5 cũng đã gây tổn thương nặng nề cho đảng”.
“... tôi thật sự đau xót vị ta đã bỏ lỡ mất cơ hội củng cố thế đứng của Việt Nam trong hoà bình để tập trung phát triển đất nước sau bao năm chiến tranh, lỡ cơ hội san bằng khoảng cách với các nước cùng khu vực. Trong tập hồi ký của mình13, Lý Quang Diệu đã nhận xét: “Năm 1975 thành phố Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Bangkok. Nhưng nay (năm 1992) nó tụt lại đằng sau tới hơn 20 năm...”
(*3) Xem: Chính Đề (Tùng Phong & Ngô Đình Nhu) http://phamthientho.wordpress.com/2011/07/30/1888/
“... Liên tục, và lúc này hơn lúc nào hết, nạn ngoại xâm vẫn đe dọa dân tộc Việt Nam. Để duy trì ách thống trị của mình, các cường quốc xâm lăng thường áp dụng,đối với các dân tộc bị trị, nhiều biện pháp, tuy có khác nhau về hình thức, nhưng chung qui vẫn thuộc hai loại chính:
* Ngăn ngừa không để cho các quyền lợi kinh tế thuộc vào tay người bản xứ.
* Kiềm hãm không để cho dân trí phát triển.
Các loại biện pháp thứ nhứt nhằm mục đích tiêu diệt tất cả các phương tiện vật chất của người bị trị.
Các loại biện pháp thứ hai nhằm mục đích tiêu diệt những người có khả năng xửdụng các phương tiện vật chất trên, nghĩa là các nhà lãnh đạo xứng danh.
Đối với các dân tộc bị trị hai loại biện pháp trên đều có những hậu quả vô cùng thảm khốc…
Vì vậy cho nên, đối với một quốc gia mà nền độc lập bị đe dọa hay đã mất, thì phương pháp hữu hiệu nhứt và điều kiện thiết yếu nhứt để chống lại ngoại xâm là nuôi dưỡng và phát triển sự lãnh đạo.
Trong thực tế, nuôi dưỡng và phát triển sự lãnh đạo có nghĩa là tạo hoàn cảnh thuận lợi để cho cái tinh túy của tập thể hun đúc nên thiểu số lãnh đạo xứng danh...
Như thế thì, tới đây, chúng ta đã làm sáng tỏ được ba điểm:
1. Việt Nam của chúng ta là một nước nhỏ và yếu lúc nào cũng bị nạn ngoại xâm đe dọa.
2. Trong công cuộc chống ngoại xâm, một khí giới hữu hiệu nhứt là phát triển lãnh đạo.
3. Trong công cuộc phát triển lãnh đạo, điều kiện thiết yếu cần được thỏa mãn là: Thiểu số lãnh đạo phải thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của cộng đồng...”
* Xem thêm: Huyền thoại Hồ Chí Minh- Trần Gia Phụng (Đàn Chim Việt- 20/3/2013):
“Việt Minh thủ tiêu hàng loạt các đảng viên Quốc Dân Đảng, các nhà trí thức khác, và hàng ngàn tín đồ đạo Cao Đài.(5) Việt Minh thủ tiêu tất cả những ai không theo chủ nghĩa CS và có thể tranh quyền với Việt Minh, từ trung ương, ở các thành phố lớn, đến những đơn vị nhỏ nhất ở các làng xã, dù họ là những người yêu nước hay là những nhân tài của đất nước. Việt Minh gọi hành động nầy là “giết tiềm lực”, tức giết những người có tiềm lực nguy hiểm cho CS về sau.”
(*4) Xem The coming collapse of China, Gordon G. Chang 2001
(DLB)

Đào Tuấn - Bộ trưởng không nên giật mình

Thủ tướng Thái Lan vừa có quyết định cách chức đối với Bộ trưởng Bộ Thương mại do chính sách thu mua lúa gạo tạm trữ từ tháng 10/2011 khiến Chính phủ phải bù lỗ tới 4,5 tỷ USD. Chính sách này khiến giá gạo lên cao và làm giảm lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Cụ thể là cao hơn giá của Việt Nam, Ấn Độ, khiến Thái Lan mất danh hiệu “nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới”.
Đây không phải là một tin sốc. Bởi rất đơn giản, đó là câu chuyện ở Thái. Người bị cách chức là Bộ trưởng Thương mại Boonsong, người khởi xướng chương trình thu mua gạo tạm trữ giá cao.
Làm bộ trưởng không dễ, nhất là một bộ trưởng cân bằng được những lợi ích với những chính sách vừa có lợi cho dân, vừa có lợi cho nước. Nhưng các bộ trưởng cũng chẳng có gì phải giật mình.
Có một chi tiết đáng chú ý trong bản tin vài trăm chữ này. Thứ nhất, Chính phủ sẵn sàng bỏ 4,5 tỷ USD trong vòng một năm để mua gạo giá cao giúp đỡ nông dân. Thái Lan từng cương quyết bán lúa gạo giá cao để nông dân được lợi và đó gần như là cơ hội duy nhất để Việt Nam “đương nhiên về nhì” trong top 3 cường quốc bán gạo lớn nhất thế giới.

Nhìn qua Thái Lan, để thấy ở Việt Nam, sẽ chẳng bao giờ có chuyện một bộ trưởng mất chức vì giá lúa. Nguyên nhân không phải do chúng ta sợ “thâm hụt” bộ trưởng, sợ không có người làm nếu cách chức (như một vị lãnh đạo từng trả lời trước Quốc hội), cũng chẳng do thể chế chính trị,  cơ chế trách nhiệm… Có khi đơn giản chỉ bởi chương trình xây kho (tạm trữ) 4 triệu tấn lúa gạo mà đến giờ vẫn đang đâu đó trên giấy. Kho tạm trữ không đủ năng lực thì bất cứ bộ trưởng có năng lực nào cũng lắc đầu, dù muốn mua lúa tạm trữ cho dân đến mấy.
Những tính toán của Cục Trồng trọt cho thấy, đến hết tháng 6, nông dân ĐBSCL sẽ thu hoạch ngót nghét 1 triệu tấn lúa. Tháng 7, 8, mỗi tháng dự kiến có thêm 3,7 triệu tấn chờ kho. Như thế là 7 triệu tấn lúa đang chờ bán.
Lượng lúa nhiều đến đến vậy, trong khi năng lực kho chứa toàn bộ ĐBSCL chỉ đạt khoảng 2,5 triệu tấn. Một câu hỏi được đặt ra và chờ các vị bộ trưởng trả lời: 4,5 triệu tấn lúa để đâu?!
Chỉ trong tuần đầu của tháng 6, cả nước đang tồn kho 2,8 triệu tấn gạo và không phải DN nào cũng có hợp đồng xuất khẩu khi giá gạo xuất khẩu đang rất thấp. Vì thế, tính chuyện bán tươi 4,5 triệu tấn gạo với mức giá để nông dân có lãi 30%, không phải là quá  khó mà gần như nhiệm vụ bất khả thi. Bởi chuyện ai cũng nhìn ra là “sức kéo giá” của 1 triệu tấn lúa tạm trữ là không mạnh mẽ gì.
Quả là làm bộ trưởng không dễ. Song, làm nông dân càng không đơn giản!
Hôm qua, 2 tuần sau khi chủ trương thu mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo hè thu được triển khai, giá lúa vẫn ì ạch. Tờ Dân Việt cho biết, giá lúa tươi ở nhiều nơi chỉ còn 3.500 đồng/kg. Ngang với giá bán rơm, thứ phế phẩm của lúa lâu nay vẫn dùng để đốt hoặc làm thức ăn cho trâu bò. Giá thấp đến thế, càng trồng càng nợ, càng trồng càng chỉ nhận về rất nhiều “cái lỗ”.
Giá lúa thấp đến nỗi ở huyện Ba Tri, Bến Tre, tính toán cho thấy tiền lãi từ lúa còn kém xa so với tiền lãi từ… rơm. Cái khó ló cái khôn, những người nông dân có sáng kiến dùng nghề trồng lúa để… nuôi bò. Nuôi bằng rơm, tất nhiên. Và nuôi cả bằng lúa, khi giá lúa thấp hơn cả giá rơm nuôi bò.
Câu chuyện Ba Tri là một cái lẽ ngậm ngùi. Nhưng nhìn rộng ra, cũng rất khó tìm nổi những cái “được” của những người làm lúa gạo nhiều thứ nhì thế giới.
“Bức tranh nông thôn, nông dân VN nhìn từ cuộc điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình” là tên một báo cáo nghiên cứu do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông thôn VN công bố mới đây. Và đọc cáo cáo này người ta thấy rằng sức dân đã kiệt.
42% nông dân đang không hài lòng với cuộc sống hiện tại, trong đó nguyên nhân lớn nhất là thu nhập không tương xứng với kết quả lao động. Một nửa các gia đình nông thôn đã và đang chịu các cú sốc về thu nhập. Cú sốc tập thể, khi cả làng, cả xã, cả huyện, cả tình cùng bị, cùng gặp thiên tai, bão lũ, dịch bệnh, và cả cơn bão giá. Cú sốc cá nhân khi gia đình có người ốm đau, kinh doanh thua lỗ và bị thu hồi đất.
Và những cú sốc từ việc phải đương đầu với rất nhiều “bão tố”, điển hình là bão giá gây thiệt hại kép, không có bảo hiểm, không có thị trường giao sau, không được dự báo, và mỗi lần ốm đau thì gần như sạt nghiệp. Các cú sốc có khuynh hướng ngày càng gia tăng, còn nông dân chống chịu chỉ bằng nguồn thu từ hạt gạo, đang rất rẻ mạt, và bằng “sợi dây lạt” trong hành vi thắt lưng buộc bụng, thực chất là đang tiêu vào tương lai hay… tự ăn thịt mình.
Nếu thước đo của người nông dân là làm ra nhiều hạt lúa, thật tình cờ, có hình dáng không mấy khác giọt mồ hôi, để đất nước từ chỗ đói ăn phải “vác rá” đi vay bo bo, mì trở thành cường quốc xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới. Thì thước đo của bộ trưởng, dứt khoát phải là đưa giá gạo về mức để người nông dân không chỉ đủ sống, mà còn có thể làm giàu – một mơ ước đáng ra là lẽ đương nhiên.
Đào Tuấn
(Tuần Việt Nam)

Cuộc chiến đất đai: Khủng hoảng quyền sử dụng đất tại Việt Nam

Chị Siêu cho biết gia đình chị đã sống nhiều thế hệ trên một mảnh đất nhỏ gắn liền với những cây điều cho tới khi họ trở thành nạn nhân của một vụ cướp đất bởi một nhóm người địa phương có quyền lực, số phận chung của những người nông dân bản địa trên những vùng đồi xanh tươi ở Tây Nguyên.
Theo các nhà hoạt động thì tất cả đất đai trong quốc gia Cộng sản được Nhà nước sở hữu và quyền sử dụng thường không rõ ràng, cho phép những viên chức địa phương tham nhũng và những doanh nhân có quan hệ mật thiết chiếm giữ đất đai mà không bị trừng phạt.
Tây Nguyên từ lâu vốn là một điểm nóng về thái độ bất mãn của dân chúng liên quan đến quyền sử dụng đất, một phần là do kế hoạch của chính phủ thu hút các công ty nông nghiệp lớn và những người di dân vùng đồng bằng tìm kiếm vận may của mình trong các ngành công nghiệp cao su, cà phê và hạt điều đang phát triển mạnh.
Các số liệu chính thức cho thấy dân số của khu vực này đã tăng từ 1,5 triệu người vào năm 1975 lên đến khoảng 6 triệu người vào năm 2010, dẫn đến những khiếu nại của người dân tộc thiểu số bản địa bị những người dân tộc Kinh mới đến, chiếm đến 90% dân số, dùng vũ lực đuổi đi.
Một nhóm nông dân thuộc dân tộc thiểu số Ê Đê đang chuẩn bị đất để trồng khoai mì tại tỉnh Đắc Lắc (Tây Nguyên) vào ngày 12 tháng 03 năm 2013.
Chị Siêu là người M’Nông, một trong những mảng người dân tộc thiểu số bản địa tạo nên 10% dân số còn lại của khoảng 90 triệu người dân Việt Nam.
Chị cho biết cây trái của gia đình đã bị đốn sạch và mồ mả tổ tiên bị phá hủy vào năm 2011 để mở đường cho một đồn điền cao su được điều hành bởi một công ty tư nhân với sự hỗ trợ của các quan chức địa phương.
Chị Siêu, 42 tuổi, nói với đài AFP: “Họ nói nếu chúng tôi không đi họ sẽ đánh đập và giết chúng tôi. Không có bồi thường gì cả. Họ chặt hết cây của chúng tôi. Chúng tôi đã mất hết mọi thứ – đất đai và cây trồng của chúng tôi”.
“Hầu hết đất đai trong khu vực chúng tôi hiện nay thuộc về những người có tiền. Nhiều người trong số họ là người Kinh”, chị nói.
“Hiện nay cộng đồng người M’Nông chúng tôi không có nhiều đất đai. Chúng tôi đã bị đuổi ra khỏi khu vực mà chúng tôi đã sống qua nhiều thế hệ. Chúng tôi bị buộc phải trở thành những người lao động nông nghiệp” chị Siêu nói thêm.
Nhiều bộ tộc địa phương như vậy – được gọi chung là người Thượng – đã sát cánh với miền Nam được Mỹ hậu thuẫn trong cuộc chiến kéo dài nhiều thập niên của Việt Nam. Một số đang kêu gọi thêm quyền tự trị, trong khi những người khác ở nước ngoài thậm chí còn ủng hộ sự độc lập cho khu vực.
Những vụ biểu tình lớn cuối cùng phản đối việc đất đai truyền thống bị mất cho những vụ trồng rừng quy mô lớn diễn ra năm 2004 và chính quyền vẫn đang săn lùng những người liên quan. Mới đây, 8 người đã bị tuyên án những mức án lên đến 11 năm tù giam cho một vụ biểu tình vào năm 2002.
Cách đây ba thập niên, trước khi Việt Nam bãi bỏ tập thể hóa và bắt đầu quá trình cải cách thị trường, các vụ tranh chấp đất đai phần lớn dựa trên số liệu thống kê dân số và lịch sử và tập trung vào những “điểm nóng” như Tây Nguyên.
Nhưng khi đất nước phát triển và giá trị đất đai gia tăng, sự rắc rối lan sang những thành phố có giá đất cao hơn.
Người ta nhận ra rằng, bằng việc sở hữu đất gần thành phố, họ có thể “kiếm được rất nhiều tiền hơn” so với từ các đồn điền cà phê xa xôi, giáo sư Adam Fforde, một chuyên gia về Việt Nam của trường Đại học Victoria ở Úc, nói.
Theo cụ Lê Hiền Đức, một nhà hoạt động đã trên 80 tuổi, người bắt đầu làm việc về những vấn đề đất đai vào thập niên 1980 – những vụ cướp đất trước đây biệt lập nay đã trở nên “tràn lan”.
“Các viên chức địa phương đã cướp đất của dân làng vì lợi ích”, cụ Đức (người trước đây từng giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập tôn kính của đất nước) nói.
Dân làng không có cách nào đòi bồi thường, khi chính quyền địa phương – nơi đầu tiên để họ khiếu kiện – thường có liên quan đến những vụ mua bán đất đai tham nhũng, bà nói vậy khi kêu gọi một đạo luật đất đai rõ ràng và một đợt phát động chống tham nhũng nghiêm túc
Trên toàn quốc, khoảng 70% đơn thư khiếu nại gửi đến chính quyền có liên quan đến đất đai.
“Nhưng không có giải pháp”, cụ Đức nói, “người ta bị đá lòng vòng như trái banh giữa các cấp chính quyền – xã, huyện, tỉnh. Cuối cùng, họ đổ về Hà Nội”.
Chị Siêu đã đến Hà Nội 3 lần – với chi phí cá nhân tốn kém – để nộp đơn khiếu kiện hầu mong lấy lại đất của mình ở Tây Nguyên, nhưng không thành công. Chị không đơn độc trong nỗ lực của mình.
Bất kể mưa nắng hay bị công an đàn áp, người ta có thể thấy những người biểu tình đứng ở một góc phố đông người gần những tòa nhà chính quyền ở trung tâm Hà Nội, nắm trong tay những tấm biểu ngữ viết bằng tay kể chi tiết những khiếu nại đất đai của họ.
“Tôi đã ở đây được 4 tháng rồi. Công an đã cố đuổi tôi đi nhiều lần. Nhưng tôi sẽ không bỏ đi – chúng tôi sẽ không bỏ đi – cho đến khi họ giải quyết vấn đề này”, bà Đỗ Thị Ngọc Nguyên, một người đến từ tỉnh Đồng Nai ở miền Nam, nói.
Với tất cả đất đai do nhà nước sở hữu, người dân phải dựa vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng trong thực tế họ được bảo vệ rất kém.
Vấn đề được đặt ra trở nên gay gắt hơn trong năm nay với việc hết hạn hợp đồng thuê sử dụng đất 20 năm, mang lại cho nhiều nông dân yêu sách hợp pháp nào đó đối với đất đai của họ. Chính phủ đã không làm rõ là vấn đề sẽ được giải quyết như thế nào.
“Việc cướp đất đai, bởi chính quyền địa phương, các viên chức và các doanh nghiệp, là nguồn gốc của tất cả mọi bất ổn mà chúng ta thấy”, một học giả Việt Nam hàng đầu ở Hà Nội nói với điều kiện giấu tên, dẫn ra càng ngày nhiều vụ phản đối tại thủ đô.
“Dân làng luôn bị thua cuộc”, ông nói, giải thích rằng chính quyền sung công đất đai với danh nghĩa “lợi ich công cộng” chỉ để bán cho những người phát triển để xây dựng những ngôi nhà đắt tiền và các khu trung tâm mua sắm.
Công luận kiên quyết đứng về phía những người phản đối về chuyện đất đai.
Nông dân Đoàn Văn Vươn đã trở thành một người hùng của dân chúng sau khi sử dụng súng tự chế để chống lại vụ cưỡng chế trục xuất vào năm ngoái – vụ xô xát đã khiến một trang blog được nhiều người biết đến đặt cho ông danh hiệu “Người của Năm 2012”. Ông đã bị cầm tù 5 năm vào tháng 4 vừa rồi”.
Một người bảo vệ đất đai khác đã trả một cái giá khác. Ông Lê Thạch Bàn, 74 tuổi, đi khập khiễng sau vụ ông bị những tên côn đồ tấn công vào năm ngoái, khi ông từ chối giao đất cho một dự phát triển đô thị tại Hưng Yên, một tỉnh gần Hà Nội.
“Phổi tôi bị thủng và đầu bị nhiều chấn thương, gẫy 3 xương sườn và phải nằm 23 ngày ở bệnh viện”, ông cho biết, đồng thời tuyên bố sẽ ở lại bất chấp những nỗ lực hòng đuổi ông đi.
Ông nói: “Chúng tôi sẽ bảo vệ đất đai vốn thuộc về tổ tiên của chúng tôi”.
Bản dịch của Lâm Thành Nhân
(Defend the Defenders)

Vì sao giá vàng không thu hẹp?

Sáng nay (2/7) phiên đấu thầu vàng đầu tiên sau khi quá trình vàng tất toán dành cho các ngân hàng đã kết thúc, đây sẽ được xem là “phép kiểm tra” cho nhu cầu vàng thực sự của người dân trong nước. Tìm hiểu về vấn đề này, Vũ Hoàng có cuộc trao đổi với PGS, TS Ngô Trí Long một chuyên gia kinh tế của Hà Nội để tìm hiểu về diễn biến này và những vấn đề có liên quan khác.
Bất cập thị trường vàng
Vũ Hoàng: Trước hết cám ơn P.G.S, T.S Ngô Trí Long đã cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Thưa ông mấy ngày gần đây, tình hình diễn biến của thị trường vàng trong nước rất nhiều thay đổi, mà cụ thể là giá vàng liên tiếp sụt giảm, ông đánh giá về diễn biến này như thế nào ạ?
PGS.TS Ngô Trí Long: Giá vàng vừa rồi diễn biến trong nước giảm xuống là theo giá vàng thế giới, vì giá vàng thế giới giảm rất sâu, hiện nay khoảng 1.200 đô la, mà thời kỳ cao nhất là 1.800 đô la. Đây là thời kỳ giảm sâu nhất của nó, vì giá vàng trong nước hoàn toàn phụ thuộc vào giá vàng thế giới, khi giá vàng thế giới giảm thì giá vàng trong nước cũng giảm. Nhưng sự cách biệt và tốc độ giảm của giá vàng trong nước vẫn chậm hơn so với thế giới, cho nên vẫn có khoảng chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới.
Hiện nay chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới là khoảng 5 triệu đồng/ 1 lượng, khoảng cách này tương đối là xa. Giai đoạn bình thường nhất từ trước Nghị định 24, giá vàng trong nước chỉ giảm khoảng từ 200, 300 hoặc 400.000 đồng thậm chí hơn 1 triệu, nhưng trong bối cảnh hiện nay, nó giảm rất sâu.
Vũ Hoàng: Vậy theo T.S ngoài lý do là tác động chung của thị trường thế giới, những điều tiết của Nhà nước mà vẫn hay nói “chỉ điều tiết mà không bình ổn giá vàng” có ảnh hưởng gì đến những diễn biến gần đây không ạ?
PGS.TS Ngô Trí Long: Mục đích của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam là trong quá trình khi vàng của VN cách xa với thế giới và khi 5 ngân hàng cùng với một công ty vàng tung vàng ra bán để đáp ứng nhu cầu, sau khi họ bán xong thì không cho họ nhập, nên cuối cùng làm cho lượng vàng của các ngân hàng bị sụt giảm rất lớn. Và theo quyết định của NHNN 30/6 là tất toán toàn bộ trạng thái vàng của các NH. Để đáp ứng nhu cầu đó, NHNN đã tung vàng ra để đấu thầu, nhằm cân bằng cung cầu. Mặc dù, lượng tung ra rất lớn nhưng giá vàng vẫn không thu hẹp.
Nguyên nhân của giá vàng không thu hẹp, một là, do cầu vàng của Việt Nam vẫn còn lớn, thứ hai, khi đưa vàng ra đấu thầu, NHNN lại đặt giá sàn sát với giá thị trường trong nước, mà giá vàng trong nước lại cao hơn giá vàng thế giới vào khoảng 5-6 triệu đồng/ lượng, chính vì lý do đó, làm cho khoảng cách của giá vàng trong nước luôn luôn cách xa giá vàng thế giới mặc dù NHNN có tung một lượng vàng rất lớn ra để cân đối cung cầu trên thị trường, nhưng giá vàng trong nước cũng không sát được với giá vàng thế giới.
Vàng miếng thương hiệu quốc gia SJC
Vàng miếng thương hiệu quốc gia SJC - RFA
Nghị định 24
Vũ Hoàng: Cám ơn T.S, vào sáng ngày 2/7, NHNN sẽ tiến hành phiên đấu thầu vàng mới và đây là phiên đầu tiên sau khi quá trình tất toán vàng cho các ngân hàng đã kết thúc và phiên sáng 2/7 được xem là thước đo cho nhu cầu thực sự của người dân trong nước phải vậy không ạ?
PGS.TS Ngô Trí Long: Nhu cầu vàng của VN hiện nay có 2 nguồn chính, một là của các ngân hàng đang còn thiếu trong trạng thái tất toán, đồng thời có một số ngân hàng không được Nhà nước cho độc quyền về xuất nhập khẩu, họ không được quyền xuất nhập khẩu, cho nên nguồn vàng từ NHNN đối với họ để làm lượng bán ra cho thị trường cũng là nhu cầu thứ nhất.
Ngoài ra, nhu cầu thứ hai là đối với người dân. Mặc dù trong bối cảnh đến 30/6 là buộc các ngân hàng phải đóng trạng thái, tất toán toàn bộ trạng thái vàng thì nhu cầu vàng trong nền kinh tế quốc dân vẫn còn, thế cho nên NHNN vẫn tiếp tục tung vàng ra với hình thức đấu thầu nhằm cung cấp một lượng vàng cho thị trường. Theo tôi được biết, vào ngày mùng 2, NH sẽ đưa ra một lượng tiếp để đưa ra đấu thầu với giá sàn, chào ban đầu là 36,8 triệu.
Vũ Hoàng: Vâng, vậy theo đánh giá của ông, trong ngắn hạn và dài hạn, giá vàng và nhu cầu vàng sẽ như thế nào ạ?
PGS.TS Ngô Trí Long: Nói chung hiện nay, dù là trong ngắn hạn hay dài hạn, trước mắt là ngắn hạn, nhu cầu vàng đối với thị trường vàng Việt Nam rất lớn vì thị trường chứng khoán còn èo uột, thị trường bất động sản không có lối ra, đang đóng băng, sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, cho nên, hiện nay kênh đầu tư chủ yếu đối với người Việt Nam, đồng thời, do tâm lý về kinh tế vĩ mô là không ổn định, lạm phát vẫn có khả năng quay trở lại. Cho nên tâm lý của nhà đầu tư Việt Nam phần lớn vẫn đầu tư vào vàng.
Mặc dù trong mấy ngày hôm nay, giá vàng thế giới lên xuống thất thường, đặc biệt xuống rất sâu thì dân Việt Nam đổ xô đi mua vàng. Trước mắt, ngắn hạn là như vậy. Còn trong dài hạn, vàng vẫn là một kênh đầu tư, đồng thời với tập quán truyền thống của người Việt Nam thì người ta vẫn đầu tư vào vàng, là một trong những kênh hết sức quan trọng.
Cho nên đòi hỏi sau hơn một năm thực hiện Nghị định 24, nghị định này đã bộc lộ một số bất cập. Vì thế, theo quan điểm của tôi, Nhà nước cần phải nắm được những bất cập của nghị định này, xem những gì còn tồn tại mà không đi vào cuộc sống và chưa ổn định, đòi hỏi phải sửa đổi cho phù hợp để làm sao quản lý thị trường vàng một cách hiệu quả và tốt nhất.
Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối thưa T.S, ông có dành một lời khuyên nào đối với những người muốn đầu tư vào thị trường vàng Việt Nam không ạ?
PGS.TS Ngô Trí Long: Ai muốn đầu tư vào thị trường vàng Việt Nam cần phải xem xét Nghị định 24 bởi nghị định này không phù hợp với thông lệ quốc tế, không phù hợp với điều kiện thị trường trong điều kiện hội nhập. Theo quan điểm cá nhân tôi, Nghị định 24 vẫn còn nhiều bất cập và nhiều bộc lộ đòi hỏi phải sửa đổi.
Vũ Hoàng: Xin được cám ơn PGS TS Ngô Trí Long rất nhiều đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn hôm nay.
Thưa quí vị, nghị định 24 do Thủ tướng ký ban hành ngày 3/4/2012, Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng theo quy định. Theo nhiều chuyên gia đánh giá Nghị định 24 nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ và tiến tới xóa bỏ tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế... Với động thái này, NHNN sẽ là người dập ra vàng SJC (loại vàng miếng duy nhất hợp pháp trong nền kinh tế VN) sau đó bán đầu tiên và qua đó xác định giá vàng trong nước.
Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2013-07-02

Ai bảo lãnh Chủ tịch Vĩnh Hưng vay hàng trăm tỷ?

Ông chủ Vĩnh Hưng, Megastar thế chấp dự án để vay vốn, trong đó rất nhiều dự án mặc dù chưa được Sở xây dựng cấp phép nhưng vẫn được đảm bảo, cho vay.
Sau hàng loạt vụ bê bối liên quan đến các dự án bất động sản tầm cỡ ở Hà Nội, mới đây nhất, PC46 Công an Hà Nội đã tiến hành bắt khẩn cấp, khởi tố bị can Nguyễn Hoàng Long về hành vi “Lừa đảo, chiếm đoạt tài sản”. Cơ quan công an cũng làm rõ nhiều vấn đề liên quan đến quá trình huy động vốn, thế chấp dự án để vay vốn đối với ông Nguyễn Hoàng Long.
Một điều đáng quan tâm là đến thời điểm thế chấp dự án để vay vốn, một số dự án của ông chủ Vĩnh Hưng và Vina Megastar chưa được Sở xây dựng Hà Nội cấp phép. Thế nhưng, những bộ hồ sơ này vẫn “lọt” vào hệ thống, dù rằng, quá trình thẩm định năng lực tài chính, năng lực pháp lý là hết sức nghiêm ngặt. Sau khi tiến hành thế chấp các dự án này,  ông Nguyễn Hoàng Long đã vay được hàng trăm tỷ.
Sở Xây dựng TP Hà Nội xác nhận với báo VietNamNet hàng loạt các dự án: 409 Lĩnh Nam, Hesco Văn Quán, C2 Xuân Đỉnh của Công ty cổ phần tập đoàn Vina Megastar (Vina Megastar) đều chưa xin phép và chưa được Sở xây dựng cấp giấy phép xây dựng. 

vina megastar, vĩnh hưng, nguyễn hoàng long
Dự án Hesco Văn Quán từng là niềm hy vọng có nhà ở của nhiều người giờ vẫn là bãi đất hoang.
Một cán bộ Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, từ năm 2012 đến đầu năm 2013, thành phần hồ sơ của các dự án này chưa được nộp về Sở. Theo giải thích của cán bộ này thì những trường hợp như vậy có thể do chủ đầu tư chưa thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về tài chính, thiếu các giấy tờ quy hoạch…
Đối với dự án 409 Lĩnh Nam, kết quả giám sát của HĐND thành phố Hà Nội cho thấy, quá trình triển khai dự án này có quá nhiều nhiều sai phạm: tự điều chỉnh quy hoạch, chưa làm thủ tục điều chỉnh đã triển khai xây dựng...
Thông tin từ đơn vị quản lý dự án 409 Lĩnh Nam – Quận Hoàng Mai – TP Hà Nội cho biết: năm 2011 chủ đầu tư đã cho khởi công dự án dù chưa được cấp phép. Địa phương đã có biên bản xử lý và đã báo cáo lên UBND TP Hà Nội. 
Việc nhiều dự án của ông Nguyễn Hoàng Long chưa được cấp phép xây dựng, chưa hoàn thành các nghĩa vụ về pháp lý nhưng vẫn được giải ngân số tiền hàng trăm tỉ khiến dư luận đặt câu hỏi: Động cơ nào khiến ông chủ Vina Megastar được cho vay? Việc giải ngân, cho vay như thế có đúng với quy định của Ngân hàng nhà nước hay không?
Điêu đứng với Vina Megastar 
Việc ông Nguyễn Hoàng Long - Chủ tịch HĐTV công ty TNHH kinh doanh nhà Vĩnh Hưng, Vina Megastar bị bắt khiến những khách hàng của các dự án rơi vào hoàn cảnh điêu đứng. Bởi, hàng trăm tỉ có nguy cơ biến mất theo những thương vụ của Nguyễn Hoàng Long.
Nhiều khách hàng cho biết từ năm 2009 họ đã cho Công ty Hạ Long đại diện là ông Phạm Như Quỳnh vay vốn đề kinh doanh dự án 409 Lĩnh Nam. Theo đó, những khách hàng này sẽ được ưu tiên mua căn hộ hình thành trong tương lai của dự án với giá 12 triệu đồng/m2. 
Sau gần 3 năm khởi công, dự án vẫn giữ thế “đắp chiếu”. Đến đầu năm 2012 nhiều nhà đầu tư vội vã xin rút vốn khỏi dự án. Tuy nhiên, khi tìm đến Công ty Hạ Long rút vốn thì khách hàng  nhận được câu trả lời: toàn bộ số tiền  đã được chuyển cho Công ty Vĩnh Hưng, muốn đòi thì đến Công ty Vĩnh Hưng mà đòi. Đến Vĩnh Hưng, người đại diện lại thoái thác: qua Hạ Long mà đòi. Cứ thế, quả bóng trách nhiệm được đá đi đá lại, lăn tròn trên quyền lợi của khách hàng.

vina megastar, vĩnh hưng, nguyễn hoàng long
Dự án 409 Lĩnh Nam được vẽ đẹp lung linh giờ cũng là bãi đất hoang.
Một khách hàng tại dự án cho biết: “Tháng 8/2011, tôi có mua lại một “suất” tại dự án với giá hơn 16,5 triệu đồng/m2. Sau một thời gian, phát hiện chủ đầu tư có nhiều dấu hiệu lừa đảo, chúng tôi đã chạy vạy đi đòi lại tiền nhưng vẫn vô vọng. Thậm chí, ông Phạm Như Quỳnh – Công ty Hạ Long còn đem xã hội đen để giải quyết vấn đề với khách hàng.  
Thông tin từ khách hàng cho biết đầu năm 2013, nhiều khách hàng nhận được thông báo chuyển hợp đồng đầu tư từ Công ty Hạ Long sang Công ty Vĩnh Hưng đi kèm những điều khoản nửa vời. Trong đó có không ít khách hàng đã thực hiện hợp đồng chuyển đổi.
Một khách hàng khác bức xúc cho biết: “Chuyện doanh nghiệp – ngân hàng lục đục không phải là vấn đề chúng tôi quan tâm. Đó là hoạt động kinh doanh là chuyện nội bộ giữa các bên. Bản thân khách hàng góp vốn vào dự án chỉ biết rằng chúng tôi thực hiện đầy đủ hợp đồng ký kết nhưng đến nay dự án vẫn không thực hiện. Tìm đến Công ty Hạ Long, Công ty Vĩnh Hưng hay phía Megastar để được thanh lý hợp đồng cũng không được. 
Khách hàng chúng tôi bị “đem con bỏ chợ”. Vấn đề đặt ra liệu Công ty Vĩnh Hưng có khả năng để thực hiện tiếp các dự án? Và số tiền hàng trăm tỷ đồng khách hàng đã nộp cho Vĩnh Hưng để sở hữu căn hộ tại 409 Lĩnh Nam có được biến thành nhà hoặc trả lại cho khách hàng hay không?”
Hàng trăm tỉ mà khách hàng đầu tư vào các dự án của ông Nguyễn Hoàng Long đang có nguy cơ mất trắng. Hàng trăm tỉ đồng đã được giải ngân cho ông chủ Công ty Vĩnh Hưng bằng việc thế chấp những dự án – dù rằng những dự án này chưa được cấp phép xây dựng khiến dư luận hoài nghi về những thế lực ngầm đã thao túng tiền bạc.

TRÍCH QUY CHẾ CHO VAY  CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG

(Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)
Điều 7. Điều kiện vay vốn
Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:
1. Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo  quy định của pháp luật:
a) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam:  
- Pháp nhân  phải có năng lực pháp luật dân sự;
- Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và  năng lực hành vi dân sự;
- Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;
- Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;
- Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;
b) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định.  
2. Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
3. Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
4. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật.
        5. Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 
Điều 25. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng
1. Tổ chức tín dụng có quyền:
a) Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay;
b) Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn, dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc tổ chức tín dụng không có đủ nguồn vốn để cho vay;
c) Kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng;    
d) Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng;
Nhóm phóng viên điều tra

Vụ “vỡ trận” bến xe Mỹ Đình: Báo cáo Thủ tướng nhiều nội dung “bất thường”

Mặc dù Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo UBND TP. Hà Nội báo cáo kết quả xử lý những bất cập tại bến xe Mỹ Đình lên Thủ tướng trước ngày 15/6, nhưng mãi đến ngày 21/6, UBND TP. Hà Nội mới có báo cáo gửi Thủ tướng về vụ việc trên.
Điều đáng nói là tại báo cáo này, UBND TP. Hà Nội đã báo cáo nhiều nội dung “bất thường” khác xa với tình trạng quá tải trầm trọng, hiện tượng “xe dù”, “bến cóc” gia tăng và những bất cập trong việc cấp phép các tuyến tại bến xe khách Mỹ Đình.
Vụ “vỡ trận” bến xe Mỹ Đình: Báo cáo Thủ tướng nhiều nội dung “bất thường”
Các cơ quan báo chí đặc biệt quan tâm và phản ánh bóng dáng “nhóm lợi ích” đang cố thủ “chống” chủ trương chung - là tác nhân chính gây ra việc "vỡ trận" bến xe Mỹ Đình, kéo theo cảnh “xe dù, bến cóc” hoành hành, ùn tắc giao thông, gây nhức nhối dư luận.
Cụ thể, điều bất thường thứ nhất là ngày 28/5, Văn phòng Chính phủ đã có công văn hỏa tốc số 4293/VPCP-TTĐT gửi UBND TP. Hà Nội, Bộ GTVT, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia nêu rõ: 
Trong thời gian qua, một số báo (Báo Dân trí đăng 8 bài liên tiếp – PV) đăng loạt bài viết phản ánh tình trạng quá tải trầm trọng, hiện tượng “xe dù”, “bến cóc” gia tăng và những bất cập trong việc cấp phép các tuyến xe tại bến xe khách Mỹ Đình (Hà Nội), gây ảnh hưởng trật tự an toàn giao thông khu vực, có biểu hiện tiêu cực tham nhũng...
Về vấn đề này, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia giao UBND TP. Hà Nội kiểm tra, làm rõ sự việc báo nêu; Chủ trì, phối hợp với Bộ GTVT, Ủy ban An toàn giao thông quốc gia có biện pháp xử lý triệt để những bất cập trong tổ chức hoạt động của các bến xe khách trên địa bàn TP. Hà Nội, bảo đảm an toàn giao thông, an ninh trật tự trên địa bàn Thủ đô; báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/6/2013.
Tuy nhiên, cho đến mãi ngày 21/6/2013 (chậm 6 ngày so với thời gian Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo), thì ông Nguyễn Văn Sửu, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội mới ký văn bản số 110A báo cáo Thủ tướng về vụ việc trên.
Điều bất thường thứ hai của văn bản số 110A báo cáo Thủ tướng là: Tại văn bản này UBND TP. Hà Nội thừa nhận tình trạng quá tải của bến xe Mỹ Đình lên đến hơn 400 lượt xe xuất bến/ngày (công suất thiết kế của bến xe Mỹ Đình là 800 lượt xe xuất bến/ngày), nhưng trong cả 7 trang báo cáo, UBND TP. Hà Nội không chỉ rõ trách nhiệm làm “vỡ trận” bến xe Mỹ Đình thuộc về cá nhân ai? Và đến ngày ký văn bản trên (21/6), bến xe này đã giảm tải được bao nhiêu lượt xe xuất bến? Do vậy, với cách báo cáo kiểu chung chung, chịu trách nhiệm tập thể như trên có lẽ bến xe Mỹ Đình còn tiếp tục phải hứng chịu cảnh “vỡ trận”, quá tải nghiêm trọng trên.

Văn bản của UBND TP. Hà Nội báo cáo Thủ tướng Chính phủ chậm 6 ngày
Từ năm 2006, Sở GTVT Hà Nội đã khẳng định công suất tối đa của bến xe Mỹ Đình là 800 lượt xe trên/ngày. Vậy mà "nhóm lợi ích" đã thả cửa bổ sung thêm gần 500 lượt xe xuất bến/ngày tại bến Mỹ Đình khiến bến xe này "bội thực" và "vỡ trận", hậu quả đổ lên đầu hàng triệu hành khách/năm.
Điều bất thường thứ ba của văn bản số 110A báo cáo Thủ tướng là: Trước tình trạng bến xe Mỹ Đình “vỡ trận”, ngày 2/4/2013, Sở GTVT đã có tờ trình số 391/TTr-SGTVT gửi UBND TP. Hà Nội kiến nghị di chuyển 525 phương tiện thuộc 59 đơn vị vận tải đang hoạt động tại bến xe Mỹ Đình. Nhưng đến ngày 18/4/2013, UBND TP. Hà Nội lại ban hành công văn hồi âm không rõ ràng, chỉ nhấn mạnh việc xử lý tình trạng xe dù, bến cóc, mà không trả lời dứt khoát là có đồng ý, hay bác đề xuất trên của Sở GTVT Hà Nội. Do vậy, cho đến ngày hôm nay kế hoạch di chuyển 525 phương tiện ra khỏi bến Mỹ Đình vẫn chỉ nằm trên giấy. Tuy vậy, tại văn bản báo cáo Thủ tướng, UBND TP. Hà Nội vẫn không nhìn thẳng vào sự thật này, mà dành hẳn 1 trang giải trình rất chung chung, và rốt cuộc là vẫn không nói rõ là đồng ý hay bác đề xuất di chuyển 525 phương tiện để giảm tải bến xe Mỹ Đình theo tờ trình của Sở GTVT Hà Nội.
Điều bất thường thứ tư của văn bản số 110A báo cáo Thủ tướng là: Sau khi Báo Dân trí và một số cơ quan báo chí khác phản ánh dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng trong quá trình tiếp nhận, bổ sung xe vào bến Mỹ Đình, đáng lẽ ra UBND TP. Hà Nội phải thành lập tổ công tác xác minh cụ thể vấn đề, kết quả ra sao khi đó mới báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ. Nhưng tại văn bản số 110A, UBND TP. Hà Nội lại dựa vào văn bản số 14/2013/HH-CV ngày 23/5/2013 của Hiệp hội Vận tải (Báo Dân trí đã có bài phân tích những "bất thường" của văn bản này) cho rằng bến xe Mỹ Đình không quá tải, hoạt động bình thường để kết luận rằng “chưa phát hiện những hiện tượng tiêu cực, tham nũng như báo chí phản ánh” là thể hiện sự thiếu trách nhiệm, thiếu khách quan của UBND TP. Hà Nội trong việc làm rõ nội dung này theo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.
Văn bản của UBND TP. Hà Nội báo cáo Thủ tướng Chính phủ chậm 6 ngày
Văn bản của UBND TP. Hà Nội báo cáo Thủ tướng Chính phủ chậm 6 ngày
(Ảnh: Vũ Văn Tiến)
Vi phạm đã rõ, sao chưa xử lý?
Theo thống kê của Sở GTVT Hà Nội cho thấy, hiện nay, tổng số lượt phương tiện vận tải khách liên tỉnh/ngày tại 6 bến xe khách liên tỉnh của Thành phố (gồm các bến Mỹ Đình, Giáp Bát, Nước Ngầm, Yên Nghĩa, Gia Lâm, Lương Yên) là 3.630 lượt xe/ngày, trong khi đó tổng công suất thiết kế của 6 bến xe là 5.150 lượt xe/ngày. Tức là nếu thực hiện việc điều chuyển phương tiện theo đúng quy hoạch của UBND TP. Hà Nội thì đâu có chuyện thiếu chỗ "Tái định cư" cho phương tiện như ông Chủ tịch Hiệp hội viện dẫn để bảo vệ cho thủ phạm gây nên cảnh "vỡ trận" bến xe Mỹ Đình.

Trong loạt bài điều tra “Vụ “vỡ trận” bến xe Mỹ Đình”, Báo Dân trí đã chỉ rõ: Chính Sở GTVT Hà Nội là đơn vị ban hành hàng loạt văn bản chấp thuận cho doanh nghiệp đưa xe mới vào bến Mỹ Đình hoạt động, mặc dù từ năm 2009, Sở GTVT Hà Nội đã có Thông báo số 1382 yêu cầu không bổ sung xe vào bến Mỹ Đình.

Đến nay, có thể khẳng định Sở GTVT Hà Nội là tác nhân chính gây ra cảnh “vỡ trận” bến xe Mỹ Đình.

Có thể hệ thống những văn bản do Sở GTVT Hà Nội ban hành đã liên tiếp gây “nhiễu loạn” hạt động vận tải ở Thủ đô như sau: Năm 2009, Sở GTVT Hà Nội ban hành Thông báo 1382 yêu cầu không tiếp nhận bổ sung xe vào bến Mỹ Đình. Nhưng sau đó, Sở GTVT Hà Nội chấp thuận cho hàng loạt xe vào bến này hoạt động gây ra cảnh “vỡ trận”.

Đầu tháng 4/2013, Sở GTVT Hà Nội có phương án điều chuyển các xe khách chạy từ Thái Bình, Nam Định, Hòa Bình, Lai Châu, Điện Biên đến bến Mỹ Đình về bến Yên Nghĩa, Gia Lâm.

Ngày 3/6/2013, Sở GTVT Hà Nội có kế hoạch điều chuyển 313 lượt xe tuyến Thái Bình, Nam Đình, Hà Nam, Hòa Bình từ bến xe Mỹ Đình về bến Yên Nghĩa, Nước Ngầm, Gia Lâm.

Ngày 5/6/2013, Sở GTVT Hà Nội lại có thông báo điều chuyển các xe tuyến Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh từ bến xe Mỹ Đình về bến Yên Nghĩa, Nước Ngầm.

Chưa dừng lại, ngày 25/6/2013, Sở GTVT Hà Nội lại có văn bản chỉ điều chuyển tuyến Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh từ bến xe Mỹ Đình về bến Yên Nghĩa, Nước Ngầm đối với các xe vào bến Mỹ Đình sau ngày 14/10/2009 (ngày ban hành Thông báo 1382).

Liệu trong quá trình thực hiện giảm tải bến Mỹ Đình, Sở GTVT Hà Nội còn ban hành bao nhiêu văn bản thay đổi kiểu "tiền hậu bất nhất" như trên nữa? Quan trọng hơn, liệu kế hoạch giảm tải để cứu bến Mỹ Đình khỏi cảnh “vỡ trận” có được thực hiện như lời hứa của ông Nguyễn Quốc Hùng, Giám đốc Sở GTVT Hà Nội? Hay các kế hoạch này lại tiếp tục thay đổi, “nói không đi đôi với làm” như tiền lệ quản lý ở Sở này (?!).

Báo Dân trí sẽ tiếp tục thông tin về vụ việc trên.
Vũ Văn Tiến
(Dân trí)

Ông Đinh Đức Lập ký quyết định sa thải nhà báo Hữu Nguyên

Ông Đinh Đức Lập
    CƠ QUAN ĐIỀU TRA CA TP ĐÀ NẴNG LÀM VIỆC VỚI TBT. ĐINH ĐỨC LẬP
    ÔNG ĐINH ĐỨC LẬP KÝ QĐ SA THẢI NHÀ BÁO HỮU NGUYÊN
    Hôm nay (2/7/2013) các cán bộ điều tra Công an TP. Đà Nẵng đã tới yêu cầu ông Lập và ông Khánh phải cung cấp các văn bản, bằng chứng liên quan đến việc bán công sản Văn phòng báo Đại Đoàn Kết tại 82 Trần Quốc Toản, TP. Đà Nẵng.
    Trước đó, chiều 24/6/2013, với cương vị Chủ tịch Hội đồng kỷ luật được ông Nguyễn Quốc Khánh – Bí thư chi bộ Phó Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết đã chủ trì cuộc họp tiến hành “đấu tố” nhà báo Hữu Nguyên (Bùi Hữu Phước) – Phó Trưởng Ban đại diện báo Đại Đoàn Kết tại TP. Hồ Chí Minh.
    Các cán bộ thân tín của ông Lập thay nhau “nã đạn” vào người vắng mặt nhà báo Hữu Nguyên. Cuộc đấu tố có phần hơi chùng lại khi ông Chu Ninh – Trưởng Ban đại diện báo Đại Đoàn Kết tại TP. Hồ Chí Minh – Thành viên Hội đồng kỷ luật đưa ra biên bản họp của Ban đại diện. Theo đó, cả Ban đại diện đều nhất trí cho rằng: Tất cả những lỗi gọi là sai phạm của nhà báo Hữu Nguyên đều vô căn cứ và đây chính là hành động trả thù của ông Lập và ông Khánh vì đã bị tố cáo.
    Ông Chu Ninh cũng phát biểu, cái gọi là bằng chứng mà Hội đồng kỷ luật do bà Trịnh Thị Ngọc Thủy soạn ra và cung cấp đều là “sáng tác” chứ không phải căn cứ bằng chứng pháp lý. Tất nhiên là ông Chu Ninh phát biểu xong liền bị nhóm lợi ích xúm lại phê bình.
    Kết cục cuộc bỏ phiếu, ông Chu Ninh tuyên bố bỏ phiếu trắng. Và theo kịch bản đã chuẩn bị trước, 4 người khác trong Hội đồng kỷ luật là: Ông Nguyễn Quốc Khánh, bà Nguyễn Mai Loan, bà Trịnh Thị Ngọc Thủy, ông Mai Ngọc Tuyền đều bỏ phiếu với hình thức cao nhất: Buộc thôi việc.
    Hai hôm sau, ngày 26/6/2013, ông Khánh ký tờ trình và ông Lập ngay lập tức đã ký bản Quyết định.
    Riêng với trường hợp nhà báo Đặng Thị Kim Ngân, ông Lập chưa kịp xuống tay thì đột nhiên có “trát” của Luật sư Trần Đình Triển gửi tới yêu cầu báo phải cung cấp các bằng chứng liên quan đến việc tiến hành kỷ luật bà Ngân.
    Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề trong vài ngày tới.
    P.V
(Blog Tễu)

Kiểu đưa tin kích động của RFA

Hình minh họa
 Ngay khi vụ việc xảy ra, một số phạm nhân trong nhóm gây rối đã gọi cho đài Châu Á Tự do (RFA, Hoa Kỳ), từ đó thông tin này được nhiều trang mạng sử dụng và rêu rao, xuyên tạc.
Chỉ sau vài câu nói chuyện điện thoại phóng viên RFA đã đưa tin theo kiểu lên án Việt Nam về nhân quyền. Cách đưa tin của RFA mang tính kích động và dẫn dắt khi thổi vụ gây rối lên thành “cuộc nổi dậy của tù nhân”.

Về nguyên tắc báo chí, việc nghe và thu thập thông tin phải từ nhiều phía. Ở đây, trả lời một số trang mạng, phạm nhân Nguyễn Ngọc Cường khoe khoang việc họ đã phá phách các phòng ốc trong trại K1 và khống chế Đại tá Thắng, phá khu kỷ luật của trại. Cường cố tình không kể và RFA cùng lờ đi một sự thật rằng sự việc xảy ra khi các phạm nhân đang được cán bộ trại tổ chức cho chơi thể thao, thi đấu bóng đá. Rằng cán bộ trại giam đã không hề dùng vũ lực để khống chế phạm nhân. Ngay cả lực lượng cảnh sát cơ động và công an các trại giam gần đó được huy động cũng chỉ bảo vệ vòng ngoài, lấy kiên trì thuyết phục làm chính. Những điều đó tự thân nó đã phủ nhận luận điệu của RFA về việc đàn áp tù nhân.

Cao giọng cổ súy cho dân chủ nhân quyền, nhưng RFA hình như có khẩu vị là thọc sâu vào những chuyện nội bộ VN với bình luận phiến diện và cách đưa tin “minh họa” cho luận điệu của mình.

Không một chính quyền nào chấp nhận việc gây rối an ninh trật tự, gây rối trong trại giam lại càng không. Ngay tại Mỹ, mọi cuộc gây rối trong tù đều được dập tắt bằng vũ lực. Ngày 9-8-2009, một vụ gây rối đã xảy ở nhà tù California Institute for Men, Cảnh sát của các khu vực lân cận đã được huy động để dẹp loạn bằng súng hơi cay và và dùi cui. Khi trật tự được vãn hồi, 1300 tù nhân lập tức bị cấm thăm viếng trong một thời gian.

Lên án chính quyền bưng bít thông tin và vi phạm nhân quyền, nhưng chính RFA lờ đi những thông tin hai chiều, mượn miệng tù nhân để minh họa cho ý đồ của mình, cổ súy cho việc gây rối trật tự. Với một vụ việc cụ thể, người đọc, người nghe cũng có thể hình dung ra cách làm báo và sự khách quan của RFA và những trang mạng “ăn theo”.

Nguyên Phong
(PLTP)

Phương Bích - Ai đọc báo Nhân Dân và Hà Nội Mới?

Tháng ngày mê mải thế nào mà tui quên béng mất đặt báo quý III. Sáng nay ra sạp báo khá to ở chùa Hà, hỏi mua một tờ HNM. Bà chủ sạp lắc đầu bảo:

- Không có!

- Không có hay là hết hả chị?

- Ôi giời ơi, là không có. Bây giờ chị cứ hỏi báo Nhân dân với báo Hà Nội mới thì chả đâu có cả. Ai đọc? Chỉ có các cơ quan đoàn thể được phát không thì người ta mới đọc thôi.

Cái này là nhà chị sai rồi nhá. Làm gì có chuyện phát không. Cơ quan đoàn thể nào mà chả phải bỏ tiền ra mua? Nhưng bao nhiêu người đọc thì tui không dám chắc.

Tui chưa kịp hỏi có thể mua báo HNM ở đâu được, nghe chị ấy nói vậy thì tiêu tan hy vọng. Nhưng tui không giấu nổi nụ cười rộng tới tận mang tai. Cứ cười hoài cho đến khi về nhà, bá cáo cho cụ nhà tui rõ. Cụ cũng cười tít mắt, bảo rằng chuyện hài nhưng mà đúng thật.

Ấy thế nhưng cụ tui cười thì cứ cười, nhưng vưỡn bảo tui chiều ra bưu điện đặt báo HNM!

Cái này gọi là thói quen khó dời đây.

Đầu giờ chiều, chưa kịp đi đặt báo thì cụ tui gọi, bảo thôi không mua báo HNM nữa!

He he, thế là báo HNM lại mất thêm một độc giả trung thành.

Phương Bích
(chimkiwi.blogspot.com)

Vì sao Trung Quốc thích sao chép?


Nhiều người Trung Quốc thích chụp ảnh cưới ở thành phố 'nhái' kiến trúc Anh

Trung Quốc vẫn nổi tiếng với các loại đĩa hình lậu và điện thoại giả iPhone, nhưng văn hóa ‘hàng nhái’ này cũng được mở rộng sang lĩnh vực kiến trúc – đôi khi họ làm giả cả một thành phố.

Khi bạn bước vào Thames Town (thị trấn Thames), tiếng còi xe và cuộc sống đô thị lộn xộn dần chìm đi.

Không còn những người bán bánh bao rong, hay tiếng rao của người đi thu đồng nát trên xe ba bánh.

Con đường bắt đầu uốn lượn, và từ xa xa, bạn thấy có chiếc tháp trông tựa tháp đồng hồ ở làng cổ Cotswold.

“Nơi này trông như châu Âu trong mơ,” ông Tony Mackay, kiến trúc sư người Anh nói về quy hoạch tổng thể nhà của Thames Town và các khu vực xung quanh quận Tùng Giang.

Khi Mackay được chính quyền địa phương thuê thực hiện khu làng này năm 2001, nơi đây chỉ toàn trại nuôi vịt.

Nay là những con đường rải đá, quán rượu và nhà khung gỗ kiểu Tudor.

Thậm chí có cả tượng của Winston Churchill và nhà họp theo kiến trúc thời trung cổ có quảng cáo cánh gà rán và bia bằng chữ Trung Quốc.

Nhưng Mackay không hài lòng lắm. “Trông vẫn không ổn,” ông nói. “Nhìn nó vẫn giả.”

Thames Town ở Trung Quốc

Ông Mackay cho rằng các kiến trúc sư thiết kế các khu nhà theo kiểu cóp nhặt, đặt các phong cách kiến trúc khác nhau vào cùng một khuôn viên và đã bỏ đi tính chân thực.

Chẳng hạn như một số nhà khung gỗ cao tới sáu tầng, và cửa sổ ở nhà thờ trông không được, ông nói.

“Các tỷ lệ bị sai. Cách sử dụng đá cũng sai hết. Họ sẽ không dùng như thế ở các nhà thờ Anh,” ông nói.

Nhà ở khu Thames Town phần lớn được mua để đầu tư, nên nơi này còn yên tĩnh và chỉ mới bắt đầu có hơi thở của cuộc sống bình thường.

Theo Mackay, khu này trông giống phim trường. Một blogger người phương Tây thậm chí còn viết rằng, thị trấn Thames khiến ông nhớ tới bộ phim The Truman Show.

Nhưng Phạm Dụ Triết không quan tâm.

Tôi tìm thấy chú rể Phạm và cô dâu Tốn Kỳ Dao đang nhìn nhau say đắm trong khi người trợ lý ra sức tung cánh hoa để chụp ảnh.

Chụp ảnh cưới ở Thames Town

Thames Town đầy những đôi bạn trẻ đi chụp ảnh cưới.

“Tôi thích bóng đá châu Âu, nên tôi rất quan tâm đến những gì của châu Âu,” chú rể nói.

“Tôi mong là sẽ có dịp đến thăm sông Thames thật, ngồi bên bờ sông, uống cốc cà phê và tận hưởng mặt trời Anh quốc.”

Gần đó, người phụ nữ tên Trương Lê ngồi ăn quýt, chơi bài với mẹ và dì.

Cô Trương cho biết cô đến đây vào ngày nghỉ vì các thị trấn Trung Quốc đều quá đông và quá thị trường, nhưng ở đây xanh tươi và êm đềm hơn. Và vì chỉ làm công việc bàn giấy, cô không thể kiếm đủ tiền sang nước Anh.

“Bình thường, nếu bạn muốn nhìn thấy các tòa nhà nước ngoài, bạn phải ra nước ngoài,” cô Zhang nói. “Nhưng chúng tôi đã mang nó vào Trung Quốc, mọi người có thể tiết kiệm tiền mà vẫn được thưởng ngoạn kiến trúc nước ngoài.”

Trung Quốc có đầy những thứ như thế.

Thames Town nằm trong dự án “Một thành phố, Chín Thị trấn” của Thượng Hải, với các thị trấn vệ tinh xây xung quanh thành phố được xây theo kiến trúc quốc tế khác nhau.

Ở những nơi khác ở Trung Quốc, có tháp Eiffel, cầu Tháp – thậm chí Stonehenge cũng có hàng nhái.

Năm ngoái, ngôi làng mô hình của thành phố Hallstatt nước Áo được dựng ở tỉnh Quảng Đông. Bản gốc của ngôi làng được Unesco công nhận là Di sản Thế giới.


Làng Hallstatt thật ở Áo (trái) và làng ở Trung Quốc (phải)

Đây là những ví dụ cho khao khát “duplitecture” (nhại kiến trúc) của Trung Quốc, theo cách gọi của bà Bianca Bosker, tác giả cuốn Original Copies: Architectural Mimicry in Contemporary China.

Tất nhiên, không chỉ có người Trung Quốc thích hàng copy. Một thế kỷ rưỡi trước, nước Mỹ hùng mạnh cũng từng là nơi hay làm đồ giả, hàng nhái, và giờ vẫn còn nhiều dấu vết nhại kiến trúc, kể cả khu đền ở Epcot, Florida, và rất nhiều ví dụ khác ở Las Vegas.

Nhưng theo bà Bosker, trong khi rất nhiều người phương Tây cho rằng, sao chép kiến trúc là điều kỳ lạ, người Trung Quốc lại thấy điều đó đáng yêu.

Hầu hết các thành phố lớn ở Trung Quốc có các khu nhà ở ngoại ô nơi người dân sống trong các tòa nhà lớn, và hai phần ba số nhà cửa được rao bán bởi các nhà môi giới bất động sản theo kiểu phương Tây, bà nói.

Bà Bosker cho rằng, một phần nguyên do là vì người Trung Quốc có thái độ khác đối với copy mẫu mã.

“Văn hóa sao chép ở Trung Quốc rất khác với những gì chúng ta thấy ở phương Tây, nơi coi đây là hành động rất đáng kỵ, và phải tránh bằng mọi giá.”

Ở Trung Quốc, tài bắt chước được xem là “một nghề tinh hoa, thế nên không có gì đáng ngăn cản, mà nên khuyến khích.

Văn hóa này có lịch sử khá lâu đời. Khi vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc Tần Thủy Hoàng, đánh chiếm các vương quốc vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, ông cho xây bản sao của mỗi vương thành của họ trong chính kinh thành của mình.

Cho tới ngày nay, chính phủ Trung Quốc vẫn là nhà đầu tư cho các dự án sao chép này.

Đây là cách để chứng tỏ sức mạnh, bà Bosker nói. “Theo một cách hình tượng, Trung Quốc muốn khoe mẽ khả năng sắp xếp vũ trụ, để sắp xếp những gì tuyệt nhất của phương Tây theo trật tự của họ.”


Tô Châu Viên Lâm được công nhận là di sản thế giới của UNESCO

Không có gì là tình cờ ở đây, theo tác giả, rằng nhà Trắng – biểu tượng tối cao của quyền lực nước Mỹ - là một trong những kiến trúc được sao chép nhiều nhất ở Trung Quốc.

Nhưng không phải tất cả người Trung Quốc đều ủng hộ kiểu kiến trúc sao chép này.

“Tôi chẳng thích chút nào,” Đường Minh, kiến trúc sư ở Thượng Hải nói.

Trung Quốc có di sản kiến trúc riêng giàu có, chẳng hạn như Tô Châu Viên Lâm (vườn cây cổ điển) hay Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh, và những tòa nhà gỗ theo kiểu truyền thống, ông Đường Minh nói.

Người Trung Quốc coi trọng lịch sử, nhưng ở thời mọi sự thay đổi rất nhanh chóng, người ta thấy thực dụng hơn – thậm chí dễ dàng hơn – khi sao chép phong cách phương Tây.

“Tôi nghĩ đây chỉ là thời điểm nhất định – người ta không thể giữ mãi thói quen khi mọi sự đang thay đổi.

“Thế nên có thể hiểu được khi họ đi theo những gì họ khâm phục, hoặc hay xuất hiện trên truyền thông đại chúng,” kiến trúc sư Đường Minh nhận xét.

Theo thời gian, kiến trúc Trung Quốc sẽ tìm được con đường của mình, theo ông Đường Minh.

Dự án Soho ở Vọng Kinh
Hình đồ họa dự án Soho ở Vọng Kinh (trái) và mô hình dự án ở Trùng Khánh (phải)

Kiến trúc sư người Anh, Tony Mackay cho rằng, các thành phố bắt chước của Trung Quốc chỉ là mốt nhất thời – là sản phẩm của niềm mong muốn của Trung Quốc được kết nối với thế giới sau nhiều thập kỷ cô lập – và ông thấy có xu hướng mới đang dần trỗi dậy.

Một ví dụ là dự án xây khu phố hiện đại Soho ở Vọng Kinh, ngoại thành Bắc Kinh, bởi kiến trúc sư người Anh gốc Iraq Zaha Hadid.

Khu này được cho là trông như ba con cá lớn nổi dậy từ lòng sông.

Vấn đề là ở chỗ, một kiến trúc tương tự đang được xây ở thành phố Trùng Khánh.

Theo một bài báo trong ngành kiến trúc, bản sao có lẽ sẽ được hoàn thành trước cả bản chính.
(BBC)

Trịnh Hội - Manila - Hong Kong

Nhiều người Việt, kể cả một số anh chị em tỵ nạn mà tôi quen biết, thường chê người Philippines là lười biếng, ham vui và không biết lo xa. Nhưng tôi thì cho là họ biết trân trọng những giá trị căn bản của một đất nước văn minh, có can đảm đứng lên tranh đấu cho quyền con người của chính họ, và quan trọng hơn hết là trong suốt hơn ba thập niên vừa qua, họ đã cưu mang, cứu giúp hàng chục ngàn người Việt tỵ nạn. Chứ tôi chưa thấy có người Philippines nào vượt biên sang Việt Nam xin ẩn trú.


Tôi phỏng vấn gia đình anh Hoàng ở Manila đúng vào ngày nghỉ lễ quốc khánh của Philippines nên đường phố vắng lặng hơn ngày thường. Từ văn phòng ở Makati thường ngày phải mất độ 45 phút cho đến một tiếng mới ra đến công viên Rizal Park là nơi tôi dự định sẽ gặp mọi người để phỏng vấn. Nhưng hôm đó chỉ trong vòng 20 phút tôi đã lái xe đến nơi. May mắn hơn nữa là tôi còn tìm được chổ đậu xe ngay bên kia đường của đài tưởng niệm. Thế là chắc chắn tôi sẽ phỏng vấn kịp để ngay tối hôm đó còn đủ thời gian để bay sang Hong Kong, trạm dừng chân thứ hai của tôi.
Rizal Park là nơi tưởng niệm vị anh hùng dân tộc nổi tiếng nhất của Philippines: Dr. Jose Rizal. Ông là người có công khởi xướng cuộc đấu tranh giành độc lập từ Tây Ban Nha. Cũng chính vì sự nghiệp này mà ông đã bị hành quyết ngay thành bên cạnh Rizal Park hơn 100 năm trước.
Nhưng không thành công thì cũng thành nhân và thành danh. Ngày nay, đến nơi nào trên đất nước có hơn 7.000 hải đảo lớn nhỏ này, bạn cũng sẽ thấy hai chữ Jose Rizal. Từ công viên cho đến các building, khách sạn.
Không ầm ĩ phô trương chủ nghĩa dân tộc kiểu Tàu. Cũng chẳng cứng nhắc giáo điều như ở Việt Nam. Nhân dân Philippines rất tôn sùng và yêu mến vị anh hùng dân tộc Jose Rizal của họ nhưng họ không lấy danh tánh của ông để đặt tên cho thành phố Manila hay một hòn đảo to lớn nào đó.
Thay vào đó tên của ông được ghi nhớ ở mọi nơi vì chính người dân, các gia đình, các công ty lớn nhỏ đua nhau lấy tên ông để đặt cho doanh nghiệp của mình. Theo tôi, chính sự chọn lựa hoàn toàn tự do này của người dân trong một đất nước dân chủ mới là thước đo chính xác nhất cho uy danh của những anh hùng dân tộc.
Hơn thế nữa, đối với người Philippines, cái tên Jose Rizal có hỏi họ mới nói. Chứ chưa bao giờ tôi thấy họ tự động tuyên bố này nọ hoặc ca tụng ông một cách quá đáng. Nhất là bạn sẽ không bao giờ thấy cờ xí phất phới bay trên đường phố để tuyên truyền kiểu “Sống và học tập theo gương Jose Rizal vĩ đại”!
Ngay cả trong ngày lễ Quốc khánh của họ.
Điều khác biệt duy nhất mà tôi nhận thấy ngày hôm đó là đường phố Manila ít bị kẹt xe hơn. Có nhiều người đến viếng thăm khu công viên, chụp hình trước đài tưởng niệm hơn. Và có nhiều cờ xí được treo trong khu vực. Tuyệt nhiên không có lời tuyên bố hùng hồn nào. Từ Tổng thống Aquino hay Thị trưởng tân cử Estrada.
Đây cũng là một đặc điểm mà tôi rất thích ở người Philippines. Họ rất giản dị, tự nhiên, thuần phác, và không tính toán. Có thể vì vậy mà Philippines là nước duy nhất ở Đông Nam Á không có chương trình cưỡng bách người tỵ nạn hồi hương (đơn giản có lẽ vì họ không nỡ) và cũng là nước duy nhất cho phép người Việt tỵ nạn được tự do làm ăn, mua bán trong lúc chờ xin được định cư ở một quốc gia thứ ba từ giữa thập niên 1990 cho đến bây giờ.
Đối với một số khách du lịch, có thể Manila là một thành phố nghèo nàn, đông đúc, chật chội và... không được đẹp cho lắm. Nó không có những khu mua sắm sầm uất như ở Hồng Kông. Không có những đền đài nguy nga, thành quách cổ kính như ở Bangkok. Người Philippines nhìn chung cũng không có những nét văn hóa dân tộc độc đáo như người Nhật, người Thái.
Nhưng đối với tôi, Philippines là nơi mà tôi có nhiều kỷ niệm nhất của một thời. Nơi đã cho tôi thấy tình người quan trọng hơn vẻ hào nhoáng của những kiến trúc đồ sộ, và cũng là nơi đã nhận rõ sự cần thiết phải ra tay cứu giúp những người cùng quẫn ngay cả khi chính mình đang gặp khó khăn. Thực tế hơn nữa, đây là đất nước mà bạn có thể sử dụng tiếng Anh dễ dàng nhất, với bất kỳ ai và ở bất cứ nơi nào.
Philippines thường được (hay bị) cho là “tây phương hóa” nhất trong các nước ở Á Châu.
Không phải ngẫu nhiên mà có nhiều học sinh, sinh viên từ Trung Quốc, Nam Triều Tiên, v.v... chọn đến Philippines để học tiếng Anh. Và cũng nhờ “bị” tây phương hóa cao độ mà họ mới trở thành dân tộc đầu tiên trên thế giới trong lịch sử cận đại dám đứng lên lật đổ một chế độ độc tài - chế độ Ferdinand Marcos - vào năm 1986.
Họ đi trước cả Thiên An Môn, Bức Tường Bá Linh của năm 1989. Và sức mạnh “People Power” của dân tộc Philippines đã đi trước phong trào Mùa Xuân Ả-Rập hơn một phần tư thế kỷ mà không cần bất kỳ một sự giúp đỡ nào từ Internet!
Nhiều người Việt, kể cả một số anh chị em tỵ nạn mà tôi quen biết, thường chê người Philippines là lười biếng, ham vui và không biết lo xa. Nhưng tôi thì cho là họ biết trân trọng những giá trị căn bản của một đất nước văn minh, có can đảm đứng lên tranh đấu cho quyền con người của chính họ, và quan trọng hơn hết là trong suốt hơn ba thập niên vừa qua, họ đã cưu mang, cứu giúp hàng chục ngàn người Việt tỵ nạn. Chứ tôi chưa thấy có người Philippines nào vượt biên sang Việt Nam xin ẩn trú.
Bởi thế tôi thường nghĩ thế này: trước khi chúng ta mạnh miệng chê bai một dân tộc nào đó, phê phán là họ thế này, thế nọ, cho là người Việt chúng ta thông minh, cần cù, cầu tiến, giỏi giang đến độ nào thì chúng ta cần phải hỏi: Thế thì tại sao nước ta vẫn nghèo và cho đến bây giờ vẫn còn có nhiều người phải bỏ nước ra đi? Tại sao tuyệt đại đa số người dân vẫn phải cam chịu, chấp nhận sống trong sợ hãi ngay cả khi những quyền con người căn bản nhất của họ bị tước bỏ và chà đạp từ ngày này sang tháng khác?
Chưa cần lạm bàn đến khía cạnh chính trị và lỗi do đâu - do sự đàn áp dã man của chế độ Cộng sản hay sự thờ ơ của chính dân tộc mình. Ở đây tôi nghĩ mỗi người Việt chúng ta chỉ cần đặt câu hỏi cho chính mình là đủ để thấy rằng chúng ta còn phải đi, đọc và học nhiều hơn nữa mới thật sự “biết người, biết ta”. Bằng không thì cũng như là “ếch ngồi đáy giếng” như quyển Tổ Quốc Ăn Năn của nhà hoạt động Nguyễn Gia Kiểng (mà tôi đang đọc) đã chứng minh cho thấy.
Ôi mà thôi. Có thể tôi lại hơi bị lạc đề nữa rồi. Đã gần hết giờ mà tôi vẫn chưa ra phi trường để bay sang Hồng Kông. 9 giờ tối máy bay cất cánh mà 7.30pm tôi vẫn còn ở nhà lo packing hối hả. Phải chạy thôi. Hẹn gặp lại các bạn sau 2 tiếng nữa ở Hồng Kông, hỉ?
Trịnh Hội
 

Cà Mau - những bi kịch mang tên “cho con học đại học” (1)

Nếu như ở miền Trung, miền Bắc…, một gia đình nghèo, phải vay mượn cho con cái thực hiện giấc mơ đổi đời bằng cách học đại học, và sẽ trở thành “tấm gương” của hàng xóm thì ngược lại ở nhiều địa phương của Đồng bằng sông Cửu Long, điều đó sẽ bị miệt thị kiểu “thân ốc mà bày đặt đòi mang mai rùa”. Chính sự khinh rẻ này là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều bi kịch đẫm nước mắt và máu trong thời gian qua…
Kỳ 1: Mẹ treo cổ chết vì... không có tiền đóng học phí cho con
Đã hơn 20 ngày, nhưng gia đình và người dân ấp 5, xã An Xuyên, thành phố Cà Mau vẫn chưa thôi bàng hoàng về cái chết của chị Nguyễn Thị Mỹ Nhân. Họ không tin và không thể nào lý giải nổi rằng vì sao, một bà mẹ của 3 người con, đã sống trên đời này đến 48 năm như chị Nhân lại có thể tự tay kết liễu cuộc sống của mình chỉ vì không vay được 4 triệu đồng cho con đóng học phí…
Tôi gặp anh Đinh Ngọc Bảo - người đàn ông trông hom hem và cam chịu trước mọi thứ - là chồng chị Nhân tại chi nhánh NHNN&PTNT thành phố Cà Mau, khi anh đang làm thủ tục trả nợ số tiền 25 triệu đồng mà vợ chồng anh vay cho con đi học trước đó. “Cũng... nhờ có tiền phúng điếu và cô bác hỗ trợ sau cái chết của vợ, tui mới trả được nợ ngân hàng, nếu không thì chẳng biết đến năm tháng nào tui mới trả được”. Nói rồi anh cười, trông như mếu, bảo tôi “ráng chờ chút nữa rồi cùng về nhà nói chuyện”. Đó là nụ cười duy nhất mà tôi nhận được từ anh Bảo trong suốt cả một ngày nói chuyện sau đó.
Di ảnh chị Nhân. Ảnh: H.V.M
“Không lối thoát…”
Giữa trưa. Nhà anh Bảo, giống như bao gia đình nghèo khác ở miền Tây bốn bề bọc tôn, nóng nực tới mức tưởng như di ảnh của chị Nhân trên bàn thờ cũng toát mồ hôi như người lạ đang thắp hương cho mình. Hương vừa cắm xong là anh Bảo lấy tay quệt nước mắt, nắm tay tôi kéo vội xuống nhà sau. Anh gọi con trai út đang ngồi thu lu một mình sau vườn vào lấy nước mời khách.
“Nó tên là Ngân. Từ ngày bả mất, nó trở nên lầm lỳ. Nhớ hôm má nó chết, bà con ra trường chở nó vào. Nó bảo tưởng má hôm nay làm bánh gì ngon kêu nó vào ăn nên mừng hú...”. Ông Bảo thở dài thườn thượt, nói “hai mươi ngày nay, đêm nào tui cũng thức trắng, ngồi một mình với hàng trăm câu hỏi vì sao? Thời gian gần đây, đêm nào vợ tui cũng nói chắc em sẽ chết thì may ra các con mình mới có cơ hội được tiếp tục đi học. Tui cũng có la rầy, khuyên bảo, nhưng chỉ nghĩ là vợ mình túng quẫn quá nên nói bậy, ai ngờ bả chết thiệt...”.
Rồi anh kể, điều được điều mất, trước sau lẫn lộn. Anh và chị Nhân cưới nhau năm 1990, sinh được ba con trai: Đinh Công Bằng, đang học Cao đẳng Dầu khí Vũng Tàu; Đinh Thành Tâm, đang học lớp 11 và Đinh Phát Ngân, đang học lớp 8. Anh chị được cha mẹ hai bên cho 5 công (5 ngàn mét vuông) đất ruộng. Việc trồng trọt thất bát, cộng thêm vài trận bệnh của chị, đất phải bán đi để trả nợ nần và lo việc học cho các con.
Khác với phần lớn người dân trong ấp, anh chị cùng có ước mơ sẽ nuôi ba đứa con trai ăn học đến nơi đến chốn để được đổi đời. Với quyết tâm này, họ đã quần quật mười mấy năm qua bằng đủ nghề, từ phụ hồ, bán rau cải, bánh mì ngoài chợ... Và bi kịch cũng bắt đầu từ ước mơ này.
Đầu năm 2011, chị Nhân bị viêm thần kinh số 7, miệng méo và sức khỏe sa sút. Mỗi ngày chị phải chích thuốc hết 140 ngàn đồng, trong khi tiền công phụ hồ của anh Bảo chỉ có 100 ngàn đồng một ngày. Không thể cùng chồng phụ hồ được nữa nên chị xin giúp việc nhà cho một gia đình ở thành phố Cà Mau.
Khi đó, con trai lớn của chị là Đinh Công Bằng thi đỗ vào Trường Cao đẳng Dầu khí Vũng Tàu, tiền nong gia đình vì vậy càng thêm bức bách, nhất là khoản học phí một năm 8 triệu của Đinh Công Bằng. Túng quá, chị làm đơn ra xã chứng nhận hoàn cảnh khó khăn của gia đình để vay Ngân hàng Chính sách Cà Mau cho con đi học. Tuy nhiên, ngân hàng từ chối vì chị không có sổ hộ nghèo.
Chị lại về xin công nhận hộ nghèo nhưng xin mãi chẳng ai cho chị nghèo với lý do: Nhà chị có hai lao động chính, thu nhập 5 triệu đồng một tháng (anh làm thợ hồ 3 triệu, chị đi giúp việc được 2 triệu). Số tiền đó chia cho 5 nhân khẩu thì bình quân mỗi người được 1 triệu đồng một tháng. Trong khi theo quy định hiện hành, một gia đình muốn được công nhận là nghèo thì phải có thu nhập bình quân đầu người 401.000 đồng trở xuống.
Trước buổi chiều định mệnh 24.4 mấy hôm, chị Nhân xin chủ nhà nghỉ một hôm để đi chạy 4 triệu cho con nộp học phí và sau đó bất ngờ chị bị chủ nhà cho thôi việc luôn. Không chạy được tiền, lại mất việc, bệnh tật, rồi nợ nần, cực khổ, tủi nhục chồng chất bây lâu... đã khiến chị Nhân tìm đến cái chết bằng cách treo cổ ngay trong nhà mình.
Chị chết vào chiều 24.4, để lại một một bức thư tuyệt mệnh 4 trang giấy học trò. Mở đầu chị viết: “Anh! Trong hoàn cảnh quá khổ sở, không lối thoát, em đành phải xa anh và các con...”. Chị nói mình chọn cái chết là vì để cho chồng bớt gánh nặng tiền thuốc men cho vợ, dành phần tiền này lo cho các con ăn học vì bản thân bệnh nặng, sức khỏe tinh thần đều suy sụp, vì muốn phù hộ cho chồng con khỏe mạnh, trúng số độc đắc và cuối cùng là để chính quyền địa phương xót thương mà cấp cho chồng con chị cái sổ hộ nghèo hoặc cận nghèo. Chị viết: “Xin các cấp chính quyền ấp 5 thấu hiểu cho hoàn cảnh không lối thoát của chúng tôi hiện nay mà cấp sổ hộ nghèo cho chồng con tôi để sống những ngày tháng còn lại trên đời...”.
Chết vì sự vô cảm?
Cái chết của chị Nhân đã dấy lên những luồng dư luận trái chiều trên báo chí và ở Cà Mau, trong đó sự công kích nặng nề nhất dành cho chính quyền địa phương vì đã cứng nhắc trong việc xét hộ nghèo cho gia đình chị Nhân, dẫn đến thảm cảnh đau lòng chưa từng thấy ở vùng đất này. Ông Trần Đại Đoàn - Bí thư Đảng ủy xã An Xuyên; bà Nguyễn Thị Tiến - Hội trưởng Hội Phụ nữ ấp 5 - những người tôi gặp để tìm hiểu về nguyên nhân cái chết của chị Nhân, đều khẳng định là chính quyền địa phương không có lỗi trong cái chết của chị Nhân.
“Dư luận, báo chí nói chị Nhân chết do ấp, xã An Xuyên không xét cấp hộ nghèo cho chị Nhân là không chính xác. Thực tế là gia đình chị Nhân không hề nghèo theo quy định và trong ấp, trong xã còn hàng chục gia đình khác nghèo hơn chị Nhân nhiều, nhưng không ai tìm đến cái chết cả” - bà Tùng bức xúc.
Theo lời bà Tùng (có xác nhận của ông Đinh Ngọc Bảo) thì “nguyên nhân cơ bản và quan trọng nhất dẫn đến việc chị Nhân phải thắt cổ tự vẫn ngoài bệnh tật, thiếu nợ, không chạy được tiền đóng học phí cho con... là sự vô cảm của anh em, bà con bên nhà chị Nhân”.
Bà Tùng nói: “Từ nhà chị Nhân vạch bán kính một ngàn mét trở lại, đâu đâu cũng là anh em, bà con của chị. Và chị Nhân từng nhiều lần tâm sự với tui rằng, trong cơn túng quẫn, đã nhiều lần, kể cả trước khi chết mấy hôm, chị Nhân đã tìm đến họ, gõ cửa từng nhà để cầu xin sự giúp đỡ, nếu không chị sẽ tự vẫn chết, nhưng ai cũng làm ngơ. Thậm chí có ông anh ruột của chị Nhân còn nói đại ý mày về đào mả cha mẹ tao lên để bán mà lấy tiền cho con mày đi học...”.
Ông Bảo ngồi rũ xuống, nước mắt lăn dài khi nghe bà Tùng nhấn mạnh câu cuối cùng. Ông kể cách đây mấy hôm, Chi bộ ấp 5 có tổ chức họp để bình xét lại chuyện nghèo của gia đình anh sau khi chị Nhân chết, có người đã đứng lên phê phán vợ chồng anh “thân ốc mà bày đặt đòi mang mai rùa” (ý nói nghèo không có tiền mà bày đặt cho con đi học đại học). Anh nấc lên từng hồi: “Mấy năm nay, chỉ vì ước mơ cho các con được đổi đời bằng cách đi học mà vợ chồng tui chịu không biết bao nhiêu điều tiếng của bà con cô bác. Ai cũng nói vợ chồng tui ngu, nghèo mà không để con ở nhà đi làm kiếm tiền, cho đi học làm chi để mang nợ...”. Bà Tùng thở dài: “Đó là lý do khiến cả ấp, cả xã này, số em tốt nghiệp đại học chỉ đếm trên đầu ngón tay...”.
Ông Bảo lại khóc, nói “cũng may là bả chết không vô nghĩa”. Ông kể sau khi chị Nhân mất, tiền phúng điếu và cô bác khắp nơi gửi về cho đến nay đã nhận được hơn 200 triệu đồng, đủ để trả nợ và để dành cho các con đi học. Rồi một nhà báo giấu tên đã hứa sẽ bảo trợ cho Đinh Công Bằng đến lúc tốt nghiệp; đích thân Chủ tịch thành phố Cà Mau cũng đã gặp anh Bảo hứa sẽ dành một suất việc cho Đinh Công Bằng sau khi tốt nghiệp. Với Đinh Thành Tâm và Đinh Phát Ngân, Giám đốc Sở GDĐT tỉnh Cà Mau cũng hứa sẽ miễn học phí cho hai em bắt đầu từ năm nay cho đến khi tốt nghiệp 12.
“Vợ tui thắt cổ chết cũng chỉ vì mong có được cái sổ nghèo để vay tiền cho các con tui đi học. Nghe nói sắp tới ấp và xã sẽ họp lần nữa để xét công nhận hộ nghèo cho tui. Nhưng tui quyết định rồi, sẽ không xin, không nhận hộ nghèo nữa...”.
(Lao động)

Việt Nam 'giải độc dư luận' vụ tù nhân nổi dậy

Hệ thống truyền thông của nhà cầm quyền Việt Nam đang tiếp tục đưa thêm nhiều thông tin liên quan đến vụ tù nhân nổi dậy, chiếm trại giam, bắt giám thị, xảy ra hôm 30 tháng 6.
Đây là lần đầu tiên, hệ thống này loan báo rộng rãi những tình tiết và diễn biến một vụ tù nhân nổi dậy, chống lại những kẻ quản lý một trại giam, thuộc quyền kiểm soát của Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ Tư pháp, Bộ Công An.
Trước đây, hệ thống truyền thông của chính quyền Việt Nam từng có vài lần cung cấp thông tin về những cuộc nổi loạn, đào thoát tập thể của học viên trong một số “cơ sở giáo dưỡng”, vốn là những nơi chuyên cưỡng bức cai nghiên ma túy. Những “cơ sở giáo dưỡng” đó không được xem là trại giam theo đúng nghĩa của hai từ này.
Phân trại 1 của trại giam Z30A – nơi vừa xảy ra sự kiện tù nhân chiếm trại giam, tạm giữ giám thị. (Hình: Tuổi Trẻ)
Theo nhiều cựu tù nhân, chuyện tù nhân nổi dậy phản đối sự đối xử khắc nghiệt của trại giam, đòi cải thiện chế độ lao tù không phải là hiếm, song những vụ nổi dậy đó chưa bao giờ được hệ thống truyền thông của chính quyền Việt Nam tường thuật.
Nay, vụ tù nhân Phân trại 1, của trại giam Z30A, tọa lạc ở huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nổi dậy chiếm trại giam, tạm giữ giám thị hôm 30 tháng 6 được hệ thống này tường thuật, có thể vì thông tin về vụ nổi dậy, nhằm phản đối việc đánh đập tù nhân, cắt xén thực phẩm dành cho tù nhân, phản đối trại giam không tôn trọng, đáp ứng những yêu cầu hợp pháp, chính đáng của người tù đã được đưa lên Internet gần như ngay lập tức.
Nhờ tù nhân tịch thu được một điện thoại di động, các tù chính trị đang bị giam giữ tại Phân trại 1 đã thông báo về vụ nổi dậy với bên ngoài. Cũng vì vậy, ban đầu, một số nguồn tin khẳng định, vụ nổi dậy do tù chính trị khởi xướng.
Vào lúc này, dựa trên các tình tiết mới, có thể xác định, vụ nổi dậy do tù hình sự thực hiện và họ đã nhờ tù chính trị hỗ trợ để đánh động dư luận bên ngoài.
Vụ nổi dậy mới đây có nhiều tình tiết giống hệt vụ nổi dậy xảy ra hồi năm 2007, cũng xảy ra tại trại giam Z30A.
Năm 2010, Đài Á châu Tự do có một loạt bài mang tựa “Đặc tả nhân quyền theo kiểu Việt Nam”. Khi trò chuyện với đài này, nhiều cựu tù chính trị đã kể về vụ nổi dậy năm 2007 ở trại giam Z30A.
Theo đó, vụ nổi dậy năm 2007 diễn ra ở Phân trại 3. Tù hình sự đã chiếm phân trại này, tạm giữ một số giám thị để đòi chấm dứt ngược đãi tù nhân, cải thiện chế độ lao tù. Trong vụ nổi dậy hồi năm 2007, tù hình sự cũng yêu cầu tù chính trị hỗ trợ.
Đây là lý do sau đó, trong một thời gian dài, trại Z30A cách ly tù chính trị với tù hình sự, không giam chung như trước, nhằm tránh tình trạng tù hình sự bị tù chính trị tác động.
Sau vụ nổi dậy năm 2007, nhiều tù chính trị và tù hình sự đã bị chuyển sang giam giữ tại các trại giam khác. 
Điều này lại vừa xảy ra tại trại giam Z30A. Thân nhân nhiều tù chính trị vừa cho biết, ngay sau khi Công an Việt Nam dập tắt được cuộc nổi dậy hôm 30 tháng 6, người thân của họ đã bị chuyển từ trại giam Z30A ở huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai sang trại giam Xuyên Mộc, tọa lạc tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. 
Khi loan tin về vụ nổi dậy vừa xảy ra tại trại giam Z30A hôm 30 tháng 6, các cơ quan truyền thông của chính quyền Việt Nam xác nhận những tù nhân “gây rối trật tự” là để đòi cải thiện chế độ lao tù. Các nguồn tin độc lập chi tiết hóa yêu cầu của tù nhân là đòi trại giam ngưng bớt xén khẩu phần của họ, ngưng việc bán thực phẩm với giá cao gấp vài lần so với bên ngoài.
Báo chí Việt Nam cũng cho biết rằng, một viên trung tướng là Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ Tư pháp đã từ Hà Nội vào Đồng Nai để “trực tiếp giải quyết vụ gây rối”. Cũng theo báo chí Việt Nam, Công an Việt Nam đã điều động nhiều đơn vị của Công an tỉnh Đồng Nai, Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Công an tỉnh Bình Thuận  đến trại giam Z30A để “ổn định trật tự”.
Hồi đầu, báo chí Việt Nam cho biết, Công an Việt Nam xác định có 40 tù nhân tham gia vào vụ “gây rối” và liệt kê danh tính ba tù nhân được cho là cầm đầu vụ nổi dậy. Cả ba (Phạm Văn Trí, 36 tuổi. Phạm Ngọc Hường, 29 tuổi. Nguyễn Văn Tân, 22 tuổi) đều là tù hình sự. Song đến hôm qua, cũng theo báo chí Việt Nam thì số lượng tù nhân tham gia vào vụ “gây rối” đã giảm xuống chỉ còn mười người.
Trả lời báo chí Việt Nam, viên tướng là Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ Tư pháp, cho biết, những người gây rối là “lưu manh chuyên nghiệp, không chịu cải tạo, thường xuyên vi phạm nội quy, kỷ luật của trại giam”.
Một viên tướng khác thì khẳng định những người tù tham gia “gây rối” sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “gây rối trật tự”.
Luật Hình sự Việt Nam có qui định về tội “chống phá trại giam” với hình phạt tới chung thân. Hình phạt tối đa của tội “gây rối trật tự” chỉ đến bảy năm. Một vài người nhận xét, việc Công an Việt Nam không đả động gì đến tội “chống phá trại giam”        có thể vì họ không muốn cộng đồng quốc tế chú ý thái quá tới thực tế của hệ thống trại giam ở Việt Nam.
Cũng theo những người này, công chúng và cộng đồng quốc tế cần chú ý đến số phận của Phạm Văn Trí, Phạm Ngọc Hường, Nguyễn Văn Tân – vừa bị cáo buộc là cầm đầu vụ nổi dậy vừa qua.
(Người Việt)
 

Hà Nội lấy phiếu tín nhiệm 18 lãnh đạo thế nào?

nguyensinhhung-phieu

ĐB Chu Sơn Hà (Phó trưởng Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội) trao đổi với Tiền phong bên hành lang Kỳ họp HĐNDTP Hà Nội diễn ra từ 1-5/7.
Ông Chu Sơn Hà cho biết: Đợt lấy phiếu tại QH vừa rồi thành công, làm tăng thêm niềm tin của cử tri đối với Quốc hội. Nhưng chính kết quả đó cũng làm tiền đề, làm mẫu chung cho Hội đồng nhân dân các cấp trong việc lấy phiếu tín nhiệm lần này.

Đại biểu Chu Sơn Hà (Phó trưởng Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội)
Đại biểu Chu Sơn Hà (Phó trưởng Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội).

Đây là lần đầu tiên HĐND TP.Hà Nội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm 18 chức danh do HĐNDTP bầu ra, ông có kỳ vọng gì không?
Hà Nội đã có kinh nghiệm trong việc lấy phiếu tín nhiệm tại Thành ủy trước đó. Việc này cũng góp phần bổ sung kinh nghiệm cho lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc hội vừa qua. Từ các kinh nghiệm đó, chắc chắn việc lấy phiếu các chức danh chủ chốt lần này tại HĐND Thành phố sẽ có thuận lợi, được tổ chức tốt như tại Quốc hội. Bởi khi Quốc hội lấy phiếu, lãnh đạo HĐND Thành phố và các địa phương cũng đã được tham dự, thị sát thực tế việc ĐBQH bỏ phiếu tại nghị trường, thể hiện tín nhiệm của mình với các chức vụ QH bầu và phê chuẩn.

-Với những người mà tín nhiệm thấp quá, như chỉ đạt tín nhiệm dưới 50%, ông có cho rằng cũng cần xem xét về trách nhiệm? - Đây là hậu quả của việc lấy phiếu. Nghị quyết 35 của Quốc hội đã quy định và nói rất rõ rồi, chúng ta sẽ thực hiện đúng theo quy định.

Trước khi lấy phiếu, các chức danh chủ chốt phải gửi báo cáo công tác tới ĐB, ông có hài lòng với các báo cáo đó không?
Vừa qua gần 500 ĐBQH nhận được báo cáo của các chức danh chủ chốt, bộ trưởng, trưởng ngành, chỉ duy nhất một ĐB đề nghị một bộ trưởng có báo cáo bổ sung. Còn ở đây, chúng tôi cũng chưa thấy có ĐB nào đề nghị 18 vị ấy báo cáo thêm vấn đề gì. Chắc thường trực HĐNDTP sẽ có báo cáo cụ thể vấn đề này trước khi làm thủ tục lấy phiếu. Với riêng tôi, cũng không đặt vấn đề là ai báo cáo bổ sung thêm nội dung gì.
Qua nghiên cứu các báo cáo đó, có báo cáo nào thẳng thắn nhận trách nhiệm hay chỉ rõ yếu kém cần khắc phục của lãnh đạo thành phố hay không?
Ngay như Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng vừa rồi tại Quốc hội đã nói, để tai nạn giao thông xảy ra nhiều, có một phần trách nhiệm của bộ trưởng. Tôi nghĩ, chắc chắn trong tồn tại của Thành phố hiện nay, rõ ràng mỗi cá nhân có một phần trách nhiệm. Trong các báo cáo công tác ấy, các đồng chí ấy cũng đã thẳng thắn kiểm điểm những việc đã làm được, những việc chưa làm được, nêu ra giải pháp cho thời gian tới đây là gì. Trong 18 báo cáo, tôi thấy các đồng chí ấy cũng đề cập đầy đủ hai nội dung theo yêu cầu Nghị quyết 35 của Quốc hội, đó là đánh giá công tác và đánh giá quá trình rèn luyện phẩm chất đạo đức.

Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị phát biểu tại kỳ họp thứ 7, HĐND TP Hà Nộ
Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị phát biểu tại kỳ họp thứ 7, HĐND TP Hà Nội.

Cần sàng lọc thông tin
Hà Nội vẫn còn nhiều vấn đề dân sinh bức xúc, tình trạng lãng phí có ở mọi nơi, đặc biệt Thành phố vừa bị tụt bậc xuống mức thấp hơn. Ông có nghĩ kết quả lấy phiếu sẽ tương xứng với mong muốn của cử tri thủ đô?
Tôi cho rằng tất cả ĐB đều phải có trách nhiệm đối với nhân dân thủ đô. Cũng như ĐBQH, ĐBHĐND TP sẽ nghiên cứu rất kỹ các báo cáo của 18 vị được lấy phiếu đợt này, làm cơ sở bỏ phiếu. Ngoài ra, có rất nhiều luồng thông tin khác nhau có thể tác động tới ĐB. Vì vậy ĐB càng phải thể hiện trách nhiệm với cử tri, chứ không phải nghe dư luận, nghe các thông tin trái chiều mà tin ngay vào đó.
Xem thêm thông tin việc lấy phiếu tín nhiệm:
Cũng như tại Quốc hội, mỗi ĐB khi bỏ phiếu phải hết sức thể hiện trách nhiệm với tinh thần xây dựng cao nhất. Bằng các kênh thông tin khác nhau, ví dụ như báo cáo công tác là một kênh quan trọng, đồng thời còn có quá trình theo dõi, giám sát thường xuyên của HĐND và các Ban chuyên môn. Đợt này HĐNDTP đã gửi rất nhiều Báo cáo giám sát, thậm chí có cả Báo cáo giám sát riêng để ĐB tham khảo. Như vậy, ĐB sẽ có nhiều cơ sở đánh giá, sàng lọc thông tin để đi đến quyết định hết sức chính xác, trước khi bỏ lá phiếu của mình.
Vừa qua sau khi lấy phiếu tại Quốc hội, nhiều ĐB và cử tri cho rằng chỉ nên lấy hai mức tín nhiệm thôi, không nên chia ra ba mức, để tránh cho ĐB phân vân và để kết quả phiếu tập trung hơn?
Cái này tôi không nói thêm vì tại Kỳ họp thứ tư (tháng 10/2012), Quốc hội đã bàn rất kỹ. Nhiều ý kiến ĐBQH cho rằng nên chia thành hai mức phiếu (tín nhiệm, không tín nhiệm), nhưng đa số ý kiến là nên chia ra ba mức (tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp). Nhưng sau đó, Quốc hội đã ban hành nghị quyết với ba mức phiếu tín nhiệm. Cho nên, tôi nghĩ rằng chúng ta chưa cần bàn đến việc này nhiều.
Với kết qủa chỉ đạo, điều hành của Thành phố thời gian qua, theo ông kết quả lấy phiếu lần này sẽ như thế nào, liệu rằng sẽ có những người đạt tín nhiệm rất cao không?
Vừa qua lấy phiếu ở Quốc hội, tất cả những người được lấy phiếu đều quá bán, có nhiều người đạt được nhiều phiếu tín nhiệm cao. Nhưng cũng có một số vị nhận phiếu tín nhiệm thấp với tỷ lệ tương đối. Tôi nghĩ các đồng chí ấy cũng đã nhận thấy vấn đề, nên đã có sự tiếp thu, có biểu hiện rất rõ để khắc phục tình hình. Còn ở HĐND Thành phố, tôi nghĩ là kết quả lần này sẽ phản ánh đúng thực chất những gì chúng ta đã làm được.

Theo chương trình, sáng 4/7 Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội sẽ lấy phiếu tín nhiệm đối với 18 chức danh chủ chốt do HĐNDTP bầu. Kết quả lấy phiếu sẽ công bố trong ngày.
Theo Tiền Phong

Nguyễn Phú Trọng: “Chia ba mức tín nhiệm không phải là thủ thuật”

Trước những băn khoăn của cử tri vì sao lấy phiếu tín nhiệm lại chia làm ba loại tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, đây không phải là thủ thuật hay tính toán không trong sáng để cuối cùng hòa cả làng…

Ngày 28/6, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đại biểu Quốc hội đơn vị bầu cử số một, thành phố Hà Nội tiếp xúc cử tri quận Ba Đình báo cáo kết quả kỳ họp thứ V Quốc hội khóa XIII. Nội dung trao đổi ý kiến của 12 cử tri phần lớn tập trung đánh giá kết quả lấy phiếu tín nhiệm 47 chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.Vì sao không sử dụng hai loại phiếu cho ngắn gọn?
Mở đầu phần trao đổi ý kiến, cử tri Võ Trọng Hốt (phường Trúc Bạch) cho rằng, kỳ họp Quốc hội vừa qua thể hiện tính dân chủ cao. Điều đó được minh chứng rất rõ qua việc Quốc hội đã lấy phiếu tính nhiệm 47 chức danh do mình bầu hoặc phê chuẩn. Điều quan trọng hơn nữa là kết quả lấy phiếu tín nhiệm được công bố công khai. “Điều này chắc chắn sẽ góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm toàn diện hơn đối với các vị đã được Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn vào vị trí lãnh đạo đất nước”, cử tri Hốt đánh giá.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri quận Ba Đình
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri quận Ba Đình

Cử tri Trần Toại (phường Cống Vị) nhận thấy, trong đợt lấy phiếu tín nhiệm vừa qua, số thành viên Chính phủ có phiếu tín nhiệm thấp đều ở những bộ, ngành rất quan trọng như ngân hàng, giáo dục, y tế, xây dựng… Ông Toại thẳng thắn đề nghị Tổng Bí thư và Quốc hội đánh giá chất lượng bộ máy Hành pháp hiện nay và vì sao tất cả những bộ, ngành lớn lại có phiếu tín nhiệm thấp? Đến nay Quốc hội đã phân tích nguyên nhân những vị trí có phiếu tín nhiệm thấp hay chưa, liệu có phải do năng lực, đạo đức hay do các nguyên nhân khác? Vì theo ông Toại có làm như vậy mới đưa ra được biện pháp giúp họ nâng cao mức tín nhiệm trong đợt lấy phiếu tiếp theo.
Kỳ họp Quốc hội vừa qua có sự tiến bộ rất nhiều là cảm nhận của cử tri Lương Quân Ngọc (phường Trung Trực). Tuy nhiên, điều ông Ngọc còn băn khoăn là tại sao lấy phiếu tín nhiệm lại phân ra làm ba loại tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp. “Tôi cho rằng lần sau lấy phiếu tín nhiệm chỉ cần đánh giá được hay không được chứ không nên phân làm ba loại nữa!”, ông Ngọc nêu.
Theo cử tri Nguyễn Hữu Thứ, nhân dân rất mừng vì Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm đối với 47 chức danh do mình bầu hoặc phê chuẩn. Vì theo ông Thứ có làm như vậy lãnh đạo ở các vị trí chủ chốt mới biết được tín nhiệm của cử tri, đại biểu dành cho mình. Nhưng cũng như ông Ngọc, ông Thứ cũng băn khoăn việc lấy phiếu tín nhiệm chia làm ba loại. “Nay Quốc hội sử dụng hai công đoạn (hai loại phiếu) cho ngắn gọn được không”, ông Thứ đề nghị.
Theo cử tri Trương Đức Ngãi (phường Cống Vị), các chức danh có phiếu tín nhiệm thấp là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với hệ thống lãnh đạo cấp trên. Ngoài ra, ông Ngãi đề nghị thời gian tới cho cử tri thể hiện sự tín nhiệm đối với đại biểu Quốc hội do mình bầu ra. Lý do cử tri Ngãi đưa ra là vì ông biết không ít đại biểu Quốc hội khi ứng cử thì rất hăng hái, hứa thật nhiều nhưng khi trúng cử thì thờ ơ với công việc.
Cái chính là cảnh tỉnh, răn đe
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích rõ từng ý kiến về lấy phiếu tín nhiệm mà cử tri quận Ba Đình quan tâm. Đầu tiên, về lấy phiếu tín nhiệm được chia làm ba loại phiếu tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp, Tổng bí thư cho rằng: “Đây là sáng kiến của Việt Nam, ở các nước người ta là bỏ phiếu tín nhiệm, nói chính xác hơn là bỏ phiếu bất tín nhiệm. Theo Nghị quyết Trung ương 4 chúng ta là lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm. Lấy phiếu tín nhiệm là thăm dò tín nhiệm, cũng là một cách để xem anh làm việc đã được lòng dân chưa, được lòng cử tri chưa, được lòng đại biểu Quốc hội hay chưa. Ở đây không phải chỉ có Quốc hội mà các cơ quan Đảng cũng phải lấy phiếu tín nhiệm để anh kịp thời chấn chính lại mình nếu phiếu tín nhiệm chưa được cao hoặc thấp. Đó cũng là sự cảnh tỉnh, cảnh cáo, răn đen nhắc nhở”.
Nhiều băn khăn của cử tri đã được Tổng Bí thư giải đáp
Nhiều băn khăn của cử tri đã được Tổng Bí thư giải đáp

Tổng Bí thư cho biết, ngay cả trong quá trình thảo luận ở Quốc hội cũng vẫn có ý kiến nên chia làm hai loại một là tín nhiệm hai là không tín nhiệm. Nhưng khi bỏ phiếu các đại biểu đã chọn ba loại. “Đây không phải là thủ thuật hay tính toán không trong sáng để cuối cùng hòa cả làng. Thực ra, đây là thăm dò tín nhiệm và là một kênh để góp phần đánh giá cán bộ chứ không phải hoàn toàn có tính chất quyết định nhưng nó rất quan trọng”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh.
Tổng Bí thư cho biết cái chính của việc lấy phiếu tín nhiệm là để cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và ngăn ngừa. Từ đó, để những vị trí có phiếu tín nhiệm thấp phải hết sức cố gắng.
Trước những băn khoăn của cử tri về những bộ ngành chủ chốt nhận được nhiều phiếu tín nhiệm thấp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, bản thân câu hỏi của cử tri đã là câu trả lời. Trong kết của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cũng nói rõ kết quả đó là cơ bản sát với tình hình kinh tế – xã hội, tình hình đất nước hiện nay. “Điều đó cũng phản ánh đúng ngành bị dân than phiền nhiều nhất thì phiếu thấp như ngân hàng, giáo dục, y tế… Nhưng cũng có ý kiến cho rằng mấy lĩnh vực đó khó quá, quay kiểu nào, cựa kiểu nào cũng vướng thế này thế khác”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói.
Trước các cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, thời điểm lần đầu tiên Quốc hội tổ chức lấy phiếu tín nhiệm nhiều người hết sức hồi hộp. Hơn nữa, việc lấy phiếu tín nhiệm tất cả các chức danh được Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn từ Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng đến các Bộ trưởng, trưởng ngành là điều hiếm có nước nào làm được cùng lúc. Sắp tới đến Trung ương Đảng cũng phải lấy phiếu tín nhiệm từ Tổng Bí thư trở xuống; các cấp ủy và HĐND cũng vậy.
Theo Dân Trí

Nhiều nghịch lý quá!

truong-thamnhung

Có lẽ trên thế giới, ít có quốc gia nào đang tồn tại những nghịch lý lạ lùng như ở Việt Nam ta. Hiện trạng của nghịch lý này lan rộng, phổ cập khắp nơi, trong mọi thời gian và mọi tầng lớp xã hội…
Hãy bắt đầu câu chuyện của chúng ta tại một ngã tư, ngã năm hay ngã sáu nào đó ngay giữa thủ đô Hà Nội. Đèn đỏ đã bật lên nhưng những chiếc xe máy loại đắt tiền thản nhiên lao qua. Người điều khiển những chiếc xe đó là những cô, cậu thanh niên có hình thức bề ngoài lộ rõ là con nhà giàu đang sùng bái các loại mốt. Đầu trần, áo quần, giày dép, túi xách, kính mát… toàn thuộc loại hàng hiệu, tóc nhuộm xanh đỏ hay cắt theo kiểu tóc đang thịnh hành của các siêu sao.
Tôi để ý, người vượt đèn đỏ không chỉ là thanh niên mà ngay cả những người đứng tuổi, càng tỏ ra sành điệu bao nhiêu càng thích vượt đèn đỏ bấy nhiêu. Xe họ lao vun vút ngay dưới biểu ngữ: “Mỗi người sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật” căng trên phố. Tôi chợt nhớ khung cảnh Viêng Chăn (Lào) vào năm 1992, khi tôi qua công tác. Nước Lào còn kém ta nhiều mặt, vậy mà khi đã quá 12 giờ đêm, đường Viêng Chăn vắng teo nhưng gặp tín hiệu đèn đỏ, một người đi xe đạp vẫn dừng lại trước hàng đinh. Nỗi khiếp sợ nhất của người nước ngoài đến Việt Nam khi qua đường ở Hà Nội chính là sự hỗn tạp này.
Cảnh chen lấn cả đêm để mua hồ sơ ở một trường mầm non Hà Nội
Hà Nội – thành phố được mệnh danh là thành phố “hòa bình, xanh, sạch, đẹp” nhưng quanh Hồ Gươm, trước tòa thị chính, người ta thoải mái vứt rác; còn trong những ngày lễ, ngày hội thì rác ngập tràn trên đường, trên bãi cỏ. Quốc hoa anh đào xứ Phù Tang vượt nghìn trùng đến Hà Nội khoe sắc cũng bị dân lao vào xâu xé, vặt nát. Đường Hoàng Hoa Thám kề bên Hồ Tây, từng tốp người xách những con chim gọi là sâm cầm (loài chim quý mang biểu trưng của Hồ Tây một thuở) bị vặt trụi lông rao bán. Ngay ngã năm Cửa Nam, một trong những nơi sầm uất của Hà Thành, người ta ngang nhiên treo băng rôn “lẩu chim rừng, vịt trời”. Không chỉ thủ đô Hà Nội, ở thành phố Bắc Giang cũng nổi tiếng với hàng loạt nhà hàng cùng các món ăn chế biến từ chim trời.
Tại chùa Hương, ngôi chùa nổi tiếng của đạo Phật với nguyên lý kinh điển “cấm sát sinh” nhưng từ cửa Thiên Trù đến cửa động Hương Tích nhan nhản hàng quán kinh doanh thịt thú rừng với những cảnh nai rừng, khỉ, voọc bạc má…, những loài nằm trong sách đỏ, bị phanh thây còn tươi màu máu. Tiếng hót của chim khuyên, chào mào, chim sáo, chim gáy… ngày càng vắng nơi núi rừng, làng quê Việt Nam vì mạng lưới vây bắt, tận diệt để biến những con chim tội nghiệp thành món hàng cung cấp cho chợ chim mở ra hằng ngày ở đường Kim Ngưu, chợ Hàng Da, chợ Đồng Xuân… Để rồi trong mỗi căn nhà ống, nhà tầng, chung cư lại có vài ba lồng chim phủ vải thỉnh thoảng vang lên đôi ba tiếng hót đơn lẻ cho ông, bà chủ nhà hoài niệm về làng quê, về thời thơ ấu phóng khoáng.
Nghịch lý thay, khi bị Tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã thế giới xếp hạng Việt Nam là quốc gia kém nhất trong bảo vệ động vật hoang dã thì tổ chức cùng chức năng này của Việt Nam lại lên tiếng phản đối. Song, đáng buồn là năm 2011, Hội Sinh vật quý hiếm nước ta buộc lòng phải ra tuyên bố cá thể tê giác cuối cùng ở vườn quốc gia Cát Tiên đã chết. Voi rừng quốc gia Bản Đôn cũng mất dần những cá thể cuối cùng.
Lại cũng xin cung cấp thêm một nghịch lý xung quanh việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em ở nước ta. Chúng ta luôn khẳng định về các chính sách ưu tiên chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Vậy mà mỗi khi vào mùa khai giảng, để con cháu được vào trường mẫu giáo công lập, ông bà, cha mẹ phải dậy từ 2-3 giờ sáng đi xếp hàng ghi tên cho con cháu mình. Quy định mỗi lớp 1, 2, 3… ở cấp phổ thông cơ sở chỉ có 40-45 học sinh… nhưng hiện nay đa phần các lớp này đều nhồi nhét 60-65. Cá biệt có lớp lên đến 70 em. Lý do của sự quá tải này vì thiếu trường, lớp. Chỗ vui chơi của trẻ em ngay tại thủ đô Hà Nội cũng không có. Hơn nửa thế kỷ nay, cung văn hóa dành cho thiếu nhi duy nhất ở Hà Nội năm nào vào hè cũng lâm vào tình trạng quá tải đơn xin cho các cháu vào các lớp vui chơi hè.
Tiếp quản thủ đô, Nhà nước dạo đó còn nghèo nhưng vẫn xây rạp chiếu bóng Kim Đồng dành cho trẻ. Nay rạp này bị phá để xây trung tâm văn hóa, thương mại để cho thuê hội họp và đám cưới. Vậy là điểm văn hóa cuối cùng dành cho trẻ em Hà Nội đã mất. Trong khi riêng Bắc Kinh, Tokyo, mỗi thành phố có tới 7 rạp chiếu bóng dành cho thiếu niên, nhi đồng. Việt Nam ta với gần 90 triệu dân mà không có một nhà hát nào dành riêng cho thiếu nhi. Từ thành phố đến nông thôn, trẻ em bị mất dần chỗ vui chơi được tổ chức và quản lý. Phải chăng đây là một trong những nguyên nhân khiến mỗi dịp hè, số trẻ em bị chết đuối ngày một tăng?!
Trong tiêu dùng, cách sống của người xứ ta càng thấy nghịch lý. Nước ta đang khó khăn về kinh tế, bình quân thu nhập người dân vẫn thuộc hàng thấp so với mặt bằng của thế giới. Nhưng kỳ lạ thay, bất kỳ một thứ hàng tiêu dùng nào mới nhất, hiện đại nhất cũng được người Việt nhanh chóng biết và khao khát bằng mọi giá để được sở hữu. Iphone 5, một loại điện thoại di động hiện đại nhất thế giới của Hãng Apple vừa tung ra thị trường làm xôn xao thị trường nước Mỹ (chỉ trong vòng 24 giờ tung ra đã bán được 2 triệu cái, bình quân 1 phút bán được 1.400 chiếc) với giá 700USD. Sang Việt Nam, giá mỗi chiếc lên đến 15-20 triệu đồng. Vậy mà các nam thanh, nữ tú tuổi teen, kể cả các cô cậu đang ăn nhờ bố mẹ, những chàng thanh niên lương một tháng chưa đến 3 triệu đồng cũng đặt mục tiêu bằng mọi giá để được sử dụng sản phẩm “quả táo cắn dở”, kể cả bán thân, bán nội tạng của mình. Có Iphone 5 nhưng đa phần dân Việt ta chỉ sử dụng chưa đầy 20% tính năng của vật dụng đắt tiền này. Iphone 5 trong tay họ chỉ là vật để khoe mẽ, tỏ sự sành điệu hơn người…
Cũng cần kể thêm một nghịch lý nữa. Nước ta là nước nông nghiệp mà nhiều nơi, nông dân phải nhìn những bờ xôi ruộng mật của mình đang biến mất sau những dự án treo, sau những sân golf, những khu công nghiệp làm ăn thất bát. Người nông dân trở thành kẻ làm thuê trên chính mảnh đất của mình, thành món hàng lao động, sống bất đắc dĩ trên hè đường các thành phố…
Những nghịch lý này bắt đầu nảy sinh từ khi nền kinh tế nước ta nước ta chuyển sang cơ chế thị trường. Bên cạnh những ưu điểm của sự năng động, sáng tạo và nhạy bén để hội nhập, thúc đẩy cuộc sống đi lên thì đồng thời cũng phát sinh những yếu kém tiêu cực. Một lối sống xô bồ, chụp giật và tư tưởng cuốn hút theo đồng tiền đã làm mất đi nhiều thuần phong mỹ tục vốn có lâu đời. Vì lợi nhuận, người ta quên cả kỷ cương, phép tắc, phá vỡ những nền nếp trật tự. Người này làm được, người kia muốn làm được nhiều hơn thế, không ai chịu lép về trước ai.
Phải chăng cuộc sống người Việt Nam ngày càng căng thẳng với nhiều bức xúc và trở thành căn bệnh trầm kha bởi nghịch lý ngày càng nhiều, càng dày và bủa vây chúng ta ngày một gia tăng
Theo Petrotimes

‘TAM NÔNG’ SẮP ĐƯỢC SƯỚNG LÊN ?!


Các quy hoạch, dự án cần có đất. Chỉ có khu vực nông thôn, nông dân, nông nghiệp mới là “nguồn” đất đai phong phú, nguồn ‘quỹ đất’ dồi dào. Các nhà chính quyền và đại gia muốn “ăn đất”, giàu lên từ đất, vơ tiền tỉ vàng tạ cũng phải “bám chạt tam nông” (Nông thôn, nông dân, nông nghiệp). Họ rất quyết tâm, quyết liệt ca vang bài ‘Từ đất dấy lên’.
Thế nên, từ khi rầm rộ đầu tư, dự án, đất trở thành thứ hàng hóa, quý hơn vàng. Những cơn sốt đất không do người dân gây ra, mà chủ yếu do kinh doanh bất động sản đẩy lên. Những khu ruộng lầy ao sâu rau muống, những bãi bồi hoang hóa, khi đã vào dự án là giá đât tăng vọt lên cả nghìn lần, so với giá trị thực vốn có của nó. Các cuộc lừa đảo bằng các dự án ảo, các công ty ma cũng xuất hiện. Cạnh tranh mặt bằng gay gắt, cơn sốt đất tăng nhiệt vèo vèo. Khu vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân vốn nghèo khó nhiều đời, nay trở thành “mục tiêu” nhắm tới của chính quyền và đại gia.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, rồi đô thị hóa…trở thành một thế mạnh bị lợi dụng để vơ vét, vun quén, chiếm đất nông nghiệp. Và do đó, địa phương nào cũng đua nhau “đo thị hóa”. Bởi ai cũng thừa biết: Đô thị hóa, cùng với quy hoạch này, dự án kia thì mới có cớ để khoanh đất của dân, khoanh được mới chiếm được. Chõ nào đất đai “vinh dự” nằm trong diện quy hoạch, dự án thì giá tăng rất cao, cao lên chót vót.
Chưa có thống kê chính xác, nhưng các nhà hoạch định và chuyên môn cũng sơ sơ nhẩm tính chỉ trong 20 năm qua, đất nông nghiệp cả nước bị vào quy hoạch, dự án lấn tới bình quân 12-16%. Một số vùng ven các đô thị và trong các dự án vẽ vời rất đẹp mắt hầu như gần 100% nông dân bị mất đất. Nhưng rồi, những nơi mà đại ca, đại gia đã vơ những khoản lợi nhuận béo ngậy thì nay (cả chục năm) thành đất hoang hóa trong các dự án treo, dân cũng bị treo niêu! Người nông dân đã chấp nhận tin tưởng đi theo Đảng, đổ biết bao máu xương, mồ hôi, nước mắt để “Người cày có ruộng”, mà nay “Người cày mất đất”! Nhiều khu đất thuần nông, đất ‘thục’ đang canh tác lúa xuất khẩu ngon lành, đời sống nông dân đang khấm khá lên, bỗng dưng bị khoanh vào quy hoạch, từ quy hoạch đẻ thêm hàng loạt dự án ‘ăn theo’ thế là nông dân mất ruộng vườn, mất cả nhà cửa. Không những đất nông nghiệp bị thu hối trắng tay, nhận bồi thường rẻ mạt, mà hậu họa là họ bị thất nghiệp, không nơi ở, rơi vào cảnh bơ vơ, nghèo đói. Có điều nghịch lý ở hai chữ “thu hồi”. Hồi là trở về, thu về (cái mình đã có), nhưng đấy đai bao đời để lại đổ biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của người dân, mới giữ được đến hôm nay. “Của dân, đâu của ông cha đứa nào mà “thu hồi” (Ý kiến một cử tri).
Sáng qua (1-7), trong phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Hội NDVN, diễn ra tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Hội Nông dân Việt Nam (NDVN) phải kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng xa rời nông thôn, coi thường nông nghiệp, xem nhẹ vai trò người nông dân trong quá trình phát triển”. TBT cùng kêu gọi chống tư tưởng rời xa nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Và rằng: Hội NDVN cần tập trung thảo luận, xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng để xác định rõ hơn phương hướng xây dựng giai cấp nông dân VN trong thời kỳ mới; cần nắm vững các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chuyển tải tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nông dân; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng các phong trào thi đua “nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi”, “xây dựng nông thôn mới”.
Nói vậy là đúng đường lối của đảng. Mà đường lối đảng đề ra bao giờ cũng chỉ có đúng, rất “kêu”. Nhưng trong thực tế lại khác: Năm 2010, UBND TP Hà Nội đã dùng một cái quy định về việc thu hồi đất, để thực hiện dự án đầu tư và thu hồi đất, giao đất làm nhà ở nông thôn tại địa điểm dân cư nông thôn trên địa bàn TP Hà Nội, áp dụng vào việc thu hồi đất chung cư ở Thành Công, Ba Đình, Hà Nội. Từ đó, quy hoạch thỏa sức vẽ với, dự án tràn lan, các đại gia bất động sản kéo đến ùn ùn, chính quyền vui đỏ rực mặt mày…Nhưng, qua diễn biến của các mánh lới, các thủ đoạn “xâm lược nông thôn”, nay mới biết: Hóa ra, hơn 90 tòa nhà chung cư 5 tầng cũ của phường Thành Công, thuộc quận Ba Đình là địa điểm cư dân nông thôn đấy. Dân có thắc mắc thì chả biết thắc mắc với ai, vì chính quyền chưa bao giờ ra mặt đối thoại với dân.
“Chống tư tưởng rời xa nông thôn, nông nghiệp và nông dân…” – Quả là TBT kêu gọi rất hay, rất ngân vàng. Những khẩu hiệu, tư tưởng chỉ đạo và tiêu chí lãnh đạo này dân ta đã quá quen rồi, nói ở đâu, lúc nào cũng không sợ trật đường lối. Nhưng rồi, không riêng Hà Nội mà cả 64 tỉnh, thành phố hiện nay nông dân mất đất ngày càng nhiều thì túi tiền của nhiều nhà chức trách và của đại gia càng phình to. Đô thị hóa đã thành “làn sóng” rầm rộ phong trào đua nhau để được công nhận các thị xã là thành phố thuộc tỉnh (nhỏ tý, còn bệ rạc cũng mặc, cứ phải thành phố mới …đất có giá, mở rộng ra thoải mái). Nay lại phát sinh làn sóng mới: Có những tỉnh đang đệ trình Trung ương xem xét để mở ra tới 4-5 thị xã…
Từ đó, một nguy cơ đặt ra: Nước nông nghiệp đứng hàng nhất-nhì xuất khẩu gạo trên thế giới không khéo với đà này, sau này đến mức phải đi nhập khẩu lương thực cứu đói cho dân.
Ôi, nào là nông nghiệp hàng đầu, ưu tiên nông dân, nông thôn, chiến lược sản xuất lương thực….và nay lại được nghe “không được rời xa ‘tam nông’. Nghe vậy, cũng thấy khấp khởi! Thế thì, ‘tam nông’ sắp được sướng lên rồi!
Theo Bùi Văn Bồng

Sau một đêm, mất hàng trăm tỷ đồng

tien-dollar

Ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước công bố điều chỉnh tỷ giá đồng USD tăng thêm 1%, các doanh nghiệp (DN) nhập khẩu sau một đêm mất hàng trăm tỷ đồng.

Ngành thức ăn chăn nuôi sẽ gặp khó. Ảnh: Phạm Anh
Ngành thức ăn chăn nuôi sẽ gặp khó. Ảnh: Phạm Anh.

Doanh nghiệp nhập khẩu kêu trời
Ông Trần Ngọc Năm – Phó Tổng GĐ Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho biết, các DN nhập khẩu như Petrolimex chủ yếu thanh toán bằng ngoại tệ.
Do tỷ giá USD tăng nên tiền thanh toán bằng VND cũng tăng theo. Theo ông Năm, Petrolimex luôn ở trong trạng thái phải đi vay; nợ ngân hàng bằng ngoại tệ. Hơn nữa, khi bán hàng, nước ngoài thường cho trả chậm từ 30 đến 60 ngày.
Ông Năm cho biết, năm 2011 điều chỉnh tỷ giá, Petrolimex đã phải chịu khoản chênh lệch gần 1.800 tỷ đồng. “Đợt này, Petrolimex cũng mất đứt 190 tỷ đồng chỉ sau một đêm”, ông Năm nói.
Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn Chăn nuôi Việt Nam Lê Bá Lịch cho biết, việc điều chỉnh tỷ giá lần này sẽ ảnh hưởng ngành thức ăn chăn nuôi. Bởi vì ngành này phụ thuộc vào 60-65% nguyên liệu nhập khẩu. Năm 2012, cả nước chi tới 3,9 tỷ USD nhập các loại nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi; 5 tháng đầu năm 2013 cũng bỏ ra khoảng 1,2 tỷ USD.
Theo ông Lịch, tăng tỷ giá, các DN xuất khẩu mừng, còn nhập khẩu sẽ khó khăn hơn khi phải bỏ tiền ra mua ngoại tệ giá cao. Thời gian qua, giá nguyên liệu như khô dầu đậu tương, đậu tương, ngô, lúa mỳ… cám các loại, cước vận tải quốc tế đều tăng.
Lần này, chưa kể các loại phí ở cửa khẩu khi nhập về, việc nâng tỷ giá sẽ có thể khiến giá thức ăn chăn nuôi trong nước tăng trong thời gian tới. Điều này gây áp lực lên người chăn nuôi, nhất là trong cảnh người nuôi đang thua lỗ nặng.
Với các DN chế biến xuất khẩu gỗ, việc tăng tỷ giá dù sẽ tác động tích cực với xuất khẩu, nhưng với các DN nhập khẩu gỗ nguyên liệu cũng ảnh hưởng không nhỏ. Theo ông Nguyễn Tôn Quyền-Phó Chủ tịch, kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện có một số DN chuyên nhập khẩu nguyên liệu gỗ đã dừng nhập, chuyển về làm nguyên liệu trong nước. Việc tăng tỷ giá, có thể khiến số DN này dừng nhập tăng lên, gây khó khăn nguyên liệu chế biến. Mặt khác, có thể DN nước ngoài, lợi thế về ngoại tệ sẽ nhảy vào để cung cấp nguyên liệu cho DN chế biến Việt Nam.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Nguyễn Tiến Nghi cho biết, việc điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ tăng lên 1% chắc chắn ảnh hưởng đến các DN đang nhập khẩu thép. Hiện, sản phẩm thép và nguyên liệu sản xuất thép nhập vào Việt Nam mỗi năm khoảng 7 tỷ USD nên điều chỉnh tỷ giá sẽ tác động trực tiếp đến các DN đang khó khăn, nay càng khó khăn hơn.
Con dao hai lưỡi
Trao đổi với PV Tiền Phong, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng, khi tăng tỷ giá sẽ mất đi 1% tiền đồng, nhập khẩu nguyên liệu sẽ đắt hơn so với trước đây. Tức là, nguyên liệu để phân phối tiêu dùng trong nước, giá hàng nhập về sẽ đắt hơn.
Theo ông Thành, dù điều chỉnh tỷ giá có được lợi thế để gia tăng xuất khẩu. Tuy nhiên, đây cũng là con dao hai lưỡi. Bởi vì Việt Nam nhập khẩu 90% nguyên liệu để sản xuất. Một khi giá hàng nguyên liệu nhập về tăng, giá hàng xuất đi cũng sẽ tăng.
Cũng theo ông Thành, hiện nay, tiền đồng đang được đánh giá không phản ánh đúng thực lực, yếu hơn nhiều so với thực tế. Nhưng bấy lâu nay, chúng ta cố gắng giữ mà không hạ tỷ giá hối đoái nên đến lúc cũng phải điều chỉnh.
“Nhập siêu ở Việt Nam chủ yếu nguyên liệu về gia công (rồi bán) chứ không phải hàng tiêu dùng. Do đó, giá nguyên liệu nhập về sẽ đội lên dẫn đến giá thành sản phẩm của mình cũng bị đội lên do tỷ giá thay đổi. Khi giá cả hàng hoá đội lên, sẽ tác động trực tiếp đến đời sống người dân vì các mặt hàng phải nhập khẩu (xăng dầu, sữa, lúa mỳ…) sẽ phải tăng thêm 1% phần giá phải trả cho nước ngoài”, ông Thành nói.
Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho biết, việc điều chỉnh tỷ giá làm cho thị trường ngoại tệ minh bạch hơn vì sẽ không còn 2 loại giá cách xa nhau. Ngay cả hoạt động của các ngân hàng thương mại cũng không còn rối ren như trước đây.
Tuy nhiên, bà Lan cho rằng, việc tăng tỷ giá cũng có những mặt trái. “Muốn hay không, điều chỉnh tỷ giá cũng sẽ ảnh hưởng đến sự tăng giá các mặt hàng, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát tăng cao”, bà Lan nói.

Ông Bùi Kiến Thành cho biết: Điều chỉnh tỷ giá có được lợi thế để gia tăng xuất khẩu. Tuy nhiên, đây cũng là con dao hai lưỡi. Sở dĩ như vậy vì Việt Nam nhập khẩu tới 90% nguyên liệu để sản xuất. Khi giá hàng nguyên liệu nhập về tăng, giá hàng xuất đi cũng sẽ tăng”.
Theo Tiền Phong

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét