Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Trật tự đang phân rã: làm thế nào để đối phó một thế giới hỗn loạn

  • Dư luận Mỹ tán đồng bài Diễn văn về Tình hình Liên bang của ông Obama (RFI) - « Tối nay, chúng ta lật sang trang mới ». Với câu trên đây ngay trong đoạn mở đầu bài Diễn văn về Tình hình Liên bang trình bày vào hôm qua trước toàn thể hai viện Quốc hội Mỹ, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã trình bày đại cương chương trình hành động của ông trong thời gian tới đây. Đánh giá rằng nước Mỹ đang bước vào một giai đoạn mới, với những chỉ số kinh tế đầy phấn khởi, Tổng thống Mỹ đã kêu gọi Quốc hội Mỹ là nên mạnh dạn tấn công vào tình trạng bất công vẫn tồn tại trên đất Mỹ. Nội dung các đề nghị của ông Obama có dấu hiệu được dư luận Mỹ hoan nghênh.
  • Obama đọc Thông điệp Liên bang (BBC) - Tổng thống Obama công bố các đề xuất về cải cách kinh tế, an ninh mạng, chống khủng bố và chính sách ngoại giao trong Thông điệp Liên bang.
  • Thủ tướng Shinzo Abe rút ngắn công du vì vụ 2 con tin Nhật Bản (RFI) - Một ngày sau khi tổ chức Nhà nước Hồi giáo tung video đòi tiền chuộc và dọa giết hai con tin người Nhật, hôm nay 21/01/2015, Thủ tướng Shinzo Abe đã rút ngắn chuyến công du Israel trở về Tokyo để xử lý khủng hoảng. Chính phủ Nhật kêu gọi các nước giúp đỡ giải cứu con tin.
  • Mỹ và Cuba mở hội đàm « lịch sử » về bình thường hóa quan hệ (RFI) - Trong hai ngày kể từ hôm nay, 21/01/2015, hai phái đoàn thương thuyết Mỹ và Cuba gặp nhau tại La Habana để thảo luận về việc bình thường hóa quan hệ song phương. Đây là cuộc họp Mỹ-Cuba ở cấp cao nhất từ 35 năm nay. Phái đoàn Mỹ do Trợ lý Ngoại trưởng Roberta Jacobson dẫn đầu.
  • Giới trẻ nghĩ gì về phát biểu của lãnh đạo ĐCSVN? (RFA) - Lời phát biểu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong Hội nghị TW lần thứ 10 khóa 11 của ĐCSVN kết thúc hôm 12/1 cho rằng: “Đổi mới chính trị không phải là thay đổi chế độ, mà là đổi mới cơ chế chính sách, chống tham nhũng, tăng cường quốc phòng an ninh”. Giới trẻ nhận định về lời phát biểu này như thế nào?
  • Nhân sự cấp cao Việt Nam: ai đi, ai ở? (VOA) - Một nhà quan sát nói rằng hiện rộ lên "các tin đồn ở Hà Nội cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng có tham vọng trở thành Tổng bí thư kế tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam”.
  • Gần 3.700 cơ sở y tế vi phạm trong năm 2014 (RFA) - Có gần 3.700 cơ sở y tế và dược phẩm trong số 20.000 cơ sở hoạt động trong lĩnh vực y dược được thanh tra trong năm 2014, vi phạm các quy định trong lĩnh vực này.
  • Kiến nghị xử lý LS Võ An Đôn là không có cơ sở (RFA) - Kiến nghị xử lý luật sư Võ An Đôn của thành phố tuy Hòa là không có cơ sở và không phù hợp với quy định pháp luật. Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh trích nguồn tin giấu tên cho biết như vậy vào tối hôm qua 21/1.
  • Những lý do cho cuộc ân xá Tết Ất Mùi (VOA) - Suốt mấy ngày nay ở Pháp, Tổ chức Phóng viên không biên giới cùng các trường đại học báo chí tổ chức thảo luận rộng rãi về quyền tự do báo chí
  • Áp phích biển đảo Việt Nam lên báo Mỹ (BaoMoi) - Phóng viên báo New York Times Edward Wong viết về những tấm áp phích nói lên lập trường của Việt Nam đối với chủ quyền Biển Đông, sau chuyến đi tới Việt Nam vào tháng trước.
  • Đằng sau “tin đồn” Trung Quốc sẽ gây xung đột quân sự ở Biển Đông (BaoMoi) - (PetroTimes) - Khi bình luận trên tờ The National hôm 15/1, Joshua Kurrlantzick, thành viên cấp cao phụ trách khu vực Đông Nam Á trong Hội đồng Quan hệ đối ngoại Mỹ cho rằng, đối đầu giữa Trung Quốc với các nước láng giềng có thể tạo ra chiến tranh ở châu Á. Và khu vực quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam dù diện tích nhỏ bé, nhưng đang là trung tâm của một cuộc tranh chấp quốc tế và có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh ở châu Á trong tương lai.
  • Bức thư xúc động của nữ sinh THPT viết về Hoàng Sa (BaoMoi) - “Hoàng Sa vẫn luôn ngời sáng trong tâm tưởng thế hệ trẻ Việt Nam!” - Đó là khẳng định của nguyên Trưởng ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng Bùi Văn Tiếng, về thành công của cuộc thi “Viết về huyện đảo Hoàng
  • Đối thoại chiến lược song phương Phi-líp-pin - Mỹ (BaoMoi) - Ngày 21-1, kết thúc cuộc Đối thoại chiến lược song phương (BSD) Phi-líp-pin - Mỹ lần thứ 5, hai bên đã ra tuyên bố chung tái khẳng định cam kết đối với các thỏa thuận quốc phòng song phương. Theo tuyên bố trên, Phi-líp-pin và Mỹ nhấn mạnh "cam kết trước sau như một" đối với Hiệp ước phòng thủ chung năm 1951, như đã nêu rõ trong Tuyên bố Ma-ni-la tháng 11-2011 và Hiệp định tăng cường hợp tác phòng thủ (EDCA). Hai nước quyết định tiếp tục các nỗ lực đôi bên cùng có lợi, theo đó củng cố năng lực quốc phòng và năng lực phòng thủ tập thể, trong đó có chống khủng bố; tăng cường an ninh trên biển và ý thức về lãnh hải; nâng cao kiểm soát nguy cơ thảm họa, phòng chống thảm họa và ứng phó nhanh với thảm họa. Hai bên cũng trao đổi quan điểm về tình hình khu vực và toàn cầu, trong đó nêu "quan ngại" về những diễn biến ở Biển Đông và thảo luận những biện pháp nhằm bảo đảm "liên minh (Phi-líp-pin - Mỹ) tiếp tục đóng góp cho hòa bình và ổn định khu vực".
  • Nga mở rộng hợp tác quân sự với Iran (RFI) - Nhân chuyến viếng thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Nga, Serguei Shoigu, vào hôm qua, 20/01/2015, hai bên đã ký kết tại Téhéran một thỏa thuận nhằm mở rộng thêm hợp tác Quốc phòng. Ông Shogui là viên chức quốc phòng cao cấp Nga công du Iran từ năm 2002 đến nay, và chuyên thăm diễn ra trong bối cảnh cả hai quốc gia đều chịu trừng phạt của phương Tây.
  • LHQ: Vụ nhân chứng nói dối không thay đổi bản chất vấn đề nhân quyền BTT (RFI) - Những lời kể được coi là dối trá của nhân chứng sống sót trong trại tù của Bắc Triều Tiên không thay đổi được thực tế trấn áp và đối xử vô nhân đạo của chế độ cộng sản Bình Nhưỡng đối với dân chúng. Trên đây là nhận định của lãnh đạo tiểu ban điều tra đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về tình trạng nhân quyền Bắc Triều Tiên.
  • Một học sinh Hàn Quốc tìm cách gia nhập thánh chiến (RFI) - Cảnh sát Hàn Quốc hôm nay 21/01/2015 cho biết : Một học sinh Hàn Quốc được gia đình báo cáo mất tích có lẽ đang tìm cách gia nhập lực lượng thánh chiến ở Syria. Trên trang Twitter của mình thanh niên này đã viết : « Tôi muốn gia nhập IS ». IS là từ tắt tiêng Anh chỉ tổ chức Nhà nước Hồi giáo.
  • Thời sự qua hình ảnh (RFA) - Sinh viên Myanmar diễu hành ở Mandalay, thành phố lớn thứ hai của Myanmar, vào ngày 20, năm 2015 chống lại một dự luật giáo dục mà họ cho là phi dân chủ
  • Indonesia sẽ không công bố báo cáo về vụ tai nạn AirAsia (RFI) - Theo Reuters, hôm nay 21/01/2015, một quan chức của Ủy ban An toàn Giao thông Indonesia cho biết sẽ không công bố báo cáo sơ bộ nêu chi tiết điều tra về vụ tai nạn chiếc máy bay của hãng hàng không AirAsia mang số hiệu QZ8501.
  • Phát hiện nhiều cựu quân nhân Pháp tham gia thánh chiến (RFI) - Theo nguồn tin mà RFI có được thì khoảng một chục cựu quân nhân Pháp hiện đang chiến đấu dưới cờ của nhiều nhóm thánh chiến tại Syria và Irak. Tại cuộc họp báo sáng nay 21/01/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Jean-Yves Drian đã xác nhận thông tin trên và ông nói đó là những trường hợp « cựu kỳ hãn hữu ».
  • Pháp thông báo tăng nhân sự cho chống khủng bố (RFI) - Hai tuần sau các vụ khủng bố đẫm máu tại Paris, hôm nay 21/01/2015, Thủ tướng Pháp Manuel Valls thông báo tăng thêm 2.600 nhân viên phục vụ cho cuộc chiến chống khủng bố. Ngân sách chi cho các hoạt động trên cũng được tăng lên 735 triệu euro trong 3 năm.
  • Tranh luận tại Pháp về việc xét xử khẩn cấp các vụ cổ xúy khủng bố (RFI) - Từ sau loạt khủng bố tại Paris, tư pháp của Pháp đã xét xử rất nhiều vụ với tội danh cổ xúy khủng bố, và tuyên các bản án nghiêm khắc. Trong bối cảnh đó, một bộ phận công luận Pháp tỏ ra lo ngại về nguy cơ xét xử vội vàng, bị chi phối do tình hình khẩn cấp, xúc cảm mạnh, và điều này có thể vi phạm đến quyền tự do ngôn luận.
  • Nga sẽ cấm các tổ chức phi chính phủ ngoại quốc hoạt động (RFI) - Mátxcơva sắp tới đây có thể cấm các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hay quốc tế hoạt động tại Nga nếu xem đấy là một mối đe dọa cho thể chế hay nền an ninh quốc gia. Quốc hội Nga vào hôm qua 20/01/2015 đã thông qua sơ bộ một dự luật theo chiều hướng này.
     
  • Chủ tịch Kim Jong Un có thể sẽ thăm Nga (RFA) - Nga đã nhận được những dấu hiệu ban đầu tích cực từ phía Bắc Hàn sau khi Tổng thống Nga Vladimir Putin mời lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un đến dự lễ kỷ niệm chiến thắng của Hồng quân Liên Xô hồi thế chiến thứ hai. Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov cho biết như vậy vào hôm qua 21/1.
  • Thụy Sĩ và trận chiến ngoại hối (RFA) - Sáng Thứ Năm 15/1, giờ Âu Châu, Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ bất ngờ công bố hai quyết định là chấm dứt việc ràng giá đồng Phật lăng Thụy Sĩ vào đồng Euro theo tỷ giá một đồng 20, và hạ lãi suất dưới số âm thêm 75 điểm. Quyết định ấy gây chấn động cho các thị trường tài chính toàn cầu.
  • Trung-Nhật khởi động vòng đàm phán mới về vấn đề hàng hải (BaoMoi) - Theo Kyodo và THX, ngày 21/1, Trung Quốc tuyên bố trong tuần này sẽ khởi động các cuộc tham vấn mới liên quan tới vấn đề hàng hải với Nhật Bản, trong đó tập trung bàn thảo việc quản lý khủng hoảng và phát triển tài nguyên trên Biển Hoa Đông.
  • Các tỉnh miền Bắc: Thời tiết tiếp tục nắng ấm (BaoMoi) - Ngày 21-1, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Trung ương cho biết, các tỉnh thành miền Bắc tiếp tục duy trì thời tiết nắng ấm, nắng xuất hiện sớm và cường độ nắng khá mạnh kéo dài vào ban ngày nên nhiệt độ có xu hướng tăng nhanh, tuy nhiên sáng sớm có sương mù và sương mù nhẹ rải rác gây cảm giác rét buốt hơn.
  • Nền nhiệt miền Bắc tăng nhanh (BaoMoi) - Theo Trung tâm Khí tượng Thủy văn Trung ương, các tỉnh thành miền Bắc tiếp tục duy trì thời tiết nắng ấm trong hôm nay (21/1), nắng xuất hiện sớm và cường độ nắng khá mạnh kéo dài vào ban ngày nên nhiệt độ có xu hướng tăng nhanh, tuy nhiên sáng sớm có sương mù và sương mù nhẹ rải rác gây cảm giác rét buốt hơn.

Trật tự đang phân rã: làm thế nào để đối phó một thế giới hỗn loạn

Trần Ngọc Cư dịch
RICHARD N. HAASS là Chủ tịch của Council on Foreign Relations [Hội đồng Nghiên cứu các Quan hệ đối ngoại], một trung tâm nghiên cứu chính sách tại Hoa Kỳ.
Trong tác phẩm kinh điển của mình, The Anarchical Society [Xã hội vô chính phủ], học giả Hedley Bull lý luận rằng có một sự căng thẳng thường xuyên giữ các thế lực bảo vệ trật tự và các thế lực gây rối loạn, với các chi tiết của sự quân bình giữa hai thế lực xác định tính cách riêng biệt của mỗi thời đại. Nguồn của trật tự gồm các thế lực tham gia vào việc bảo vệ các luật lệ và các thỏa thuận quốc tế và tuân theo một thủ tục nào đó để sửa đổi chúng; nguồn của rối loạn gồm các thế lực chối bỏ trên nguyên tắc các luật lệ và các thỏa thuận nói trên đồng thời cảm thấy có quyền làm ngơ hoặc phá hoại chúng. Sự quân bình giữa trật tự và hỗn loạn còn có thể bị tác động bởi các xu thế toàn cầu, ở những mức độ khác nhau nằm ngoài sự kiểm soát của các chính phủ, những xu thế tạo bối cảnh cho các lựa chọn của nhiều thế lực khác nhau. Ngày nay, sự quân bình này đang nghiêng về phía hỗn loạn. Một số nguyên nhân có tính cơ cấu, nhưng một số nguyên nhân khác phát xuất từ các lựa chọn sai lầm của những thế lực có vai trò quan trọng – và ít ra một số nguyên nhân có thể và phải được chỉnh sửa.
Khu vực dầu sôi lửa bỏng hiện nay là Trung Đông. Mặc dù nhiều người đã so sánh tình hình tại đây với Thế chiến I hay Chiến tranh Lạnh, nhưng những gì đang diễn ra trong khu vực này rất giống Cuộc chiến Ba mươi năm [the Thiry Years’ War], ba thập kỷ xung đột đã tàn phá phần lớn châu Âu trong nửa đầu của Thế kỷ 17. Cũng như châu Âu thời đó, trong những năm tới, phần lớn Trung Đông có khả năng trở thành khu vực của những quốc gia yếu kém không đủ sức canh phòng các vùng lãnh thổ rộng lớn của mình, các lực lượng dân quân và các nhóm khủng bố hoạt động ngày một lộng hành, và cả nội chiến lẫn xung đột giữa các quốc gia. Bản sắc giáo phái và cộng đồng sẽ khuynh loát bản sắc dân tộc. Nhờ được tiếp sức bằng những nguồn tài nguyên thiên nhiên bao la, các cường quốc địa phương sẽ tiếp tục can thiệp vào công việc nội bộ của các nước láng giềng, trong khi các cường quốc bên ngoài vẫn không đủ khả năng hoặc không muốn nhảy vào để ổn định tình hình khu vực.
Ở vùng biên của châu Âu, tình hình bất ổn lại tái diễn. Dưới sự lãnh đạo của Vladimir Putin, Nga có vẻ đã từ bỏ đề xuất hội nhập có ý nghĩa vào trật tự châu Âu và trật tự toàn cầu hiện nay và thay vào đó hoạch định cho mình một tương lai khác dựa vào các quan hệ đặc biệt với các nước láng giềng và các nước đàn em kế cận. Cuộc khủng hoảng tại Ukraine có lẽ là biểu hiện nổi bật nhất, mặc dù chưa phải là biểu hiện cuối cùng, của cái gọi là dự án phục hồi địa vị của nước Nga hay, nói đúng hơn, địa vị của Liên Xô.
Tại châu Á, vấn đề nằm ở tình hình bất ổn hiện nay thì ít, mà nằm ở tiềm năng xung đột đang gia tăng thì nhiều. Tại đó, hầu hết các quốc gia là không yếu kém mà cũng không thể suy sụp; trái lại, họ là những quốc gia vững mạnh và ngày càng mạnh hơn. Một hỗn hợp gồm nhiều nước có bản sắc dân tộc mạnh mẽ, những nền kinh tế năng động, những ngân sách quốc phòng đang gia tăng, những ký ức lịch sử cay đắng, và những tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết dễ dàng tạo công thức cho những vận động địa chính trị có thể dẫn đến xung đột vũ trang. Cộng vào những thách thức trong khu vực này của thế giới là một Bắc Triều Tiên có nguy cơ sụp đổ và một Pakistan hỗn loạn, cả hai đều có vũ khí hạt nhân (và một trong hai nước lại là nơi trú ẩn của một số quân khủng bố nguy hiểm nhất thế giới). Một trong hai nước có thể là nguyên nhân của một cuộc khủng hoảng địa phương hay toàn cầu, phát xuất từ hành động liều lĩnh hay sự sụp đổ của nhà nước.
Một số thách thức đối với trật tự thế giới hiện nay mang tính toàn cầu, phản ánh những khía cạnh nguy hiểm của tiến trình toàn cầu hóa, gồm các dòng chảy xuyên biên giới của quân khủng bố, của vi-rút (thuộc thế giới hữu hình và thế giới ảo), và của khí thải do hiệu ứng nhà kính. Vì thiếu các cơ chế để chặn đứng hay quản lý chúng, các dòng chảy này có tiềm năng hủy hoại hay làm xuống cấp chất lượng của hệ thống toàn cầu nói chung. Và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy [populism] giữa lúc kinh tế đình đốn và bất bình đẳng gia tăng khiến cho việc cải thiện hệ thống quản trị toàn cầu thậm chí trở nên khó khăn hơn.
Những nguyên tắc ảnh hưởng lên trật tự quốc tế cũng còn ở trong vòng tranh cãi. Một mức độ đồng thuận nào đó đã hiện hữu về việc không chấp nhận sự chiếm đoạt lãnh thổ bằng vũ lực, và chính đồng thuận này đã củng cố một liên minh rộng lớn hậu thuẫn cho việc đảo ngược mưu toan sáp nhập Kuwait vào lãnh thổ Iraq của Hussein vào năm 1990. Nhưng sự đồng thuận này đã bị bào mòn qua thế hệ tiếp theo đến mức độ nó đã cho phép Nga thoát khỏi một sự lên án rộng lớn tương tự sau khi Nga chiếm Crimea vào mùa Xuân năm trước, và không ai biết trước sẽ có bao nhiêu nước trên thế giới sẽ phản ứng trước một âm mưu dùng vũ lực của Trung Quốc để chiếm lấy vùng trời, vùng biển và lãnh thổ đang tranh chấp hiện nay. Sự đồng thuận quốc tế về vấn đề chủ quyền thậm chí còn rã rệu hơn nữa khi nói đến quyền của các thế lực bên ngoài can thiệp vào nội bộ nước khác khi một chính phủ đàn áp công dân của mình hay, nói cách khác, không chu toàn các bổn phận của một nhà nước có chủ quyền. Một thập kỷ sau khi được Liên Hiệp Quốc phê chuẩn, khái niệm “trách nhiệm bảo hộ [the responsility to protect]” không còn hưởng được hậu thuẫn rộng lớn, và do đó sẽ không có một đồng thuận nào cả về cái gọi là một sự can thiệp chính đáng vào công việc nội bộ của nước khác.
Chắc chắn là, các thế lực duy trì trật tự thế giới vẫn hoạt động hữu hiệu. Trong nhiều thập kỷ nay, vẫn chưa có chiến tranh giữa các đại cường, và không có một viễn cảnh đáng kể nào về một cuộc chiến tranh như thế sẽ xảy ra trong tương lai gần. Trung Quốc và Hoa Kỳ hợp tác với nhau trong một số trường hợp và cạnh tranh nhau trong một số trường hợp khác, nhưng thậm chí trong trường hợp sau, sự cạnh tranh cũng có giới hạn. Sự lệ thuộc lẫn nhau là một thực tế, và cả hai nước đã ào ạt đầu tư vào nhau (theo nghĩa đen cũng như nghĩa bóng), làm cho bất cứ một gián đoạn nghiêm trọng và kéo dài nào trong mối quan hệ đều trở thành một khả năng đáng lo ngại cho cả hai nước.
Nga cũng bị ràng buộc vào sự tương thuộc [interdependence] này, mặc dù ở mức độ ít hơn Trung Quốc, căn cứ vào nền kinh tế tập trung vào năng lượng và mức độ ngoại thương và đầu tư khiêm nhượng của Nga. Điều này có nghĩa là các biện pháp trừng phạt kinh tế có một cơ may ảnh hưởng lên lối ứng xử của Nga qua thời gian. Mặc dù chính sách đối ngoại của Nga có mục đích giành lại lãnh thổ, nhưng các nguồn lực cứng cũng như mềm của Nga đều bị hạn chế. Nga không tượng trưng cho bất cứ một giá trị nào hấp dẫn đối với bất cứ ai, ngoại trừ các người Nga thiểu số đang sống ở nước khác. Do đó, các mối lo ngại địa chính trị mà Nga đặt ra sẽ chỉ tồn tại ở ngoại biên của châu Âu, chứ không ảnh hưởng đến trung tâm của châu lục này. Thật vậy, những yếu tố quan trọng tạo nên chuyển biến tại châu Âu trong 70 năm qua – tiến trình dân chủ hóa nước Đức, sự hòa giải Pháp-Đức, việc hội nhập kinh tế trong một khối – là rất vững mạnh đến nỗi chúng được coi là sự kiện đương nhiên. Tính cục bộ và sự yếu kém về mặt quân sự của châu Âu có thể khiến khu vực này trở thành một đối tác yếu kém đối với Mỹ trong các vấn đề toàn cầu, nhưng bản thân châu lục này không còn là một vấn đề an ninh; đó là một bước tiến vĩ đại so với quá khứ.
Nếu nhìn vào tình hình châu Á-Thái Bình Dương rồi đặt ra những giả thuyết tồi tệ nhất, đấy cũng là một điều sai lầm. Khu vực này đã và đang trải qua tăng trưởng kinh tế không có tiền lệ trong nhiều thập kỷ qua và đã quản lý việc này một cách hòa bình. Tại đây, cũng thế, sự tương thuộc kinh tế [economic interdependence] có chức năng của một cái phanh kềm hãm khả năng xung đột. Và các nước vẫn có đủ thời gian để vận động ngoại giao và hoạch định chính sách sáng tạo nhằm tạo ra những cơ chế giảm va chạm [institutional shock absorbers] hầu giúp giảm bớt rủi ro đối đầu quân sự bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc đang trỗi dậy và sự thiếu tin cậy lẫn nhau đang gia tăng.
Kinh tế toàn cầu, trong khi đó, đã ổn định tiếp theo sau hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính, và các điều lệ mới đã được đặt ra để giảm bớt các rủi ro và hạn chế phạm vi ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng tương lai. Tỉ lệ tăng trưởng của Mỹ và châu Âu vẫn còn nằm dưới chuẩn mực lịch sử, nhưng những gì đang kềm hãm Mỹ và châu Âu không phải là di lụy của cuộc khủng hoảng tài chính mà là nhiều chính sách khác nhau đã hạn chế một sự tăng trưởng mạnh mẽ.
Bắc Mỹ một lần nữa có thể trở thành đầu máy kinh tế thế giới, dựa vào nền kinh tế cởi mở, phồn thịnh, và ổn định; 470 triệu dân; và sự tự túc về năng lượng đang trở thành hiện thực trong khu vực. Đại bộ phận châu Mỹ La tinh đang sống trong hòa bình. Mexico là một nước ổn định và thành công rõ rệt so với một thập kỷ trước đây, và Colombia cũng thế. Những vấn đề đang ám ảnh tương lai của những nước như Brazil, Chile, Cuba, và Venezuela không thể thay đổi tiến trình cơ bản của một khu vực đang đi đúng hướng. Và châu Phi, cũng thế, ngày càng có nhiều nước trong đó sự điều hành quốc gia và thành tích kinh tế tốt đẹp đang trở thành thông lệ chứ không còn là biệt lệ.
Các phương pháp phân tích truyền thống gần như không thể lý giải các xu thế có vẻ mâu thuẫn này. Một đường lối phân tích cổ điển, chẳng hạn, sẽ đóng khung sự tương tác quốc tế hiện nay trong thế thịnh suy của các đại cường, đối chiếu thế đi lên của Trung Quốc với thế đi xuống của Mỹ. Nhưng lối phân tích này sẽ cường điệu những nhược điểm của Mỹ và giảm nhẹ những nhược điểm của Trung Quốc. Mặc dù gặp phải nhiều vấn đề, nhưng Mỹ vẫn có lợi thế để phát triển mạnh trong Thế kỷ 21, trong khi Trung Quốc phải đối diện với nhiều thách thức, như tăng trưởng kinh tế đang chậm lại, nạn tham nhũng tràn lan, một dân số già nua, sự xuống cấp của môi trường, và bị các nước láng giềng e ngại. Không một nước nào trên thế giới thậm chí gần hội đủ một sự kết hợp cần thiết gồm cả khả năng quân sự lẫn cam kết quốc tế để làm một địch thủ thách thức với Mỹ và giành lấy địa vị siêu cường toàn cầu.
Tổng thống Mỹ Barack Obama gần đây được trích dẫn là đã bác bỏ những mối quan ngại về một thế giới đang phân rã; ông nhận xét rằng “thế giới vốn luôn luôn bề bộn như thế” và rằng những gì đang xảy ra ngày nay “không phải là điều có thể so với những thách thức mà chúng ta đã gặp phải trong Chiến tranh Lạnh.” Tuy nhiên, sự lạc quan của ông được biểu lộ không đúng chỗ, vì thế giới ngày nay còn bề bộn hơn nhiều, do sự xuất hiện ngày càng nhiều các thế lực có ý nghĩa trong khi các nước thiếu hẳn các lợi ích tương đồng hay các cơ chế để kềm hãm khả năng của những thế lực cực đoan nhất hay để tiết chế hành vi của chúng.
Thật vậy, trong khi bá quyền Mỹ đang suy yếu nhưng không có cường quốc nào kế vị sẵn sàng nhận trách nhiệm lãnh đạo thế giới, thì khả năng lớn nhất là một tương lai trong đó hệ thống quốc tế hiện nay sẽ nhường bước cho một hệ thống quốc tế rối loạn, với nhiều trung tâm quyền lực ngày càng hoạt động theo đường lối tự trị, ít quan tâm đến lợi ích và ưu tiên của Mỹ. Việc này sẽ tạo ra các vấn đề mới thậm chí làm cho những vấn đề đang có khó giải quyết hơn nữa. Tóm lại, trật tự hậu Chiến tranh Lạnh đang phân rã, và mặc dù nó không hoàn hảo, một ngày nào đó thế giới sẽ luyến tiếc nó.
CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA VẤN ĐỀ
Tại sao thế giới bắt đầu phân rã? Có nhiều lý do khác nhau, một số lý do mang tính cơ cấu, một số khác do ý chí con người. Tại Trung Đông, chẳng hạn, trật tự bị xói mòn do một truyền thống gồm các chính phủ bất hợp pháp, bất ổn, thường là tham nhũng; do thiếu vắng xã hội dân sự; do mối họa tiềm ẩn trong các nguồn năng lượng phong phú (thường làm trì trệ việc cải tổ chính trị và kinh tế); do hệ thống giáo dục yếu kém; và do nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến tôn giáo, như chia rẽ giáo phái, xung đột giữa các nhóm ôn hòa và các nhóm cực đoan; và do thiếu một đường phân định rõ ràng và được chấp nhận rộng rãi giữa các lãnh vực tôn giáo và thế tục. Nhưng các tác động bên ngoài cũng tạo thêm vấn đề, từ các biên giới quốc gia được vẽ ra quá thô thiển đến các cuộc can thiệp gần đây của nước ngoài.
Sau hơn một thập kỷ nhìn lại, chúng ta thấy rằng quyết định của Mỹ trong việc lật đổ Saddam và cơ cấu lại nước Iraq thậm chí còn có vẻ sai lầm hơn so với thời điểm đó. Không những lý do chiến tranh nêu ra – tước đoạt vũ khí hủy diệt hàng loạt từ tay Saddam – được chứng minh là sai lầm. Mà nay nhìn lại, sai lầm nổi cộm hơn cả chính là việc lật đổ Saddam và tăng quyền hành cho khối đa số Shiite tại Iraq đã đưa nước này từ vị thế chống lại đến vị thế phục vụ các tham vọng chiến lược của Iran và trong tiến trình này đã làm tồi tệ thêm các xung đột giữa khối Hồi giáo Sunni và Hồi giáo Shiite tại Iraq nói riêng và trong toàn khu vực nói chung.
Việc thay đổi chế độ cũng không mang lại kết quả tốt đẹp hơn tại hai nước khác, nơi sự thay đổi này được thành tựu. Tại Ai Cập, việc Mỹ kêu gọi Tổng thống Hosni Mubarak rời bỏ quyền lực đã gia tăng tình trạng phân cực trong xã hội. Những biến cố sau đó cho thấy rằng Ai Cập chưa sẵn sàng cho một cuộc chuyển đổi dân chủ. Và việc Mỹ rút lui hậu thuẫn đối với một người bạn và đồng minh lâu đời [tức Mubarak] đã đặt ra nhiều nghi vấn ở những nơi khác (đặc biệt là tại các thủ đô Ả Rập khác) về tính khả tín trong các cam kết của Washington. Trong khi đó, tại Libya, việc lật đổ Muammar al-Qaddafi do một nỗ lực hỗn hợp của Mỹ và châu Âu đã đưa đến một nhà nước thiếu hẳn điều kiện và trách nhiệm cơ bản của một chính phủ có thực lực [a failed state], một nhà nước bị các lực lượng dân quân và quân khủng bố khống chế. Sự cần thiết vốn thiếu cơ sở của hành động can thiệp vào nội tình Libya kết hợp với sự thiếu sót các hành động hữu hiệu tiếp theo, và toàn bộ chiến dịch – diễn ra chỉ một vài năm sau khi Qaddafi đã được thuyết phục từ bỏ các chương trình vũ khí phi qui ước – chắc chắn gia tăng giá trị được cảm nhận của vũ khí hạt nhân và giảm thiểu khả năng thuyết phục các quốc gia khác noi gương Qaddafi.
Tại Syria, Mỹ đã bày tỏ hậu thuẫn đối với việc lật đổ Tổng thống Bashar al-Assad nhưng sau đó gần như không làm gì cả để thực hiện việc này. Obama tiếp tục làm cho tình hình tồi tệ thêm bằng cách tuyên bố một loạt các lằn ranh đỏ [redlines] liên quan việc Syria sử dụng vũ khí hóa học nhưng sau đó không có hành động nào cụ thể nào khi những đường ranh này bị vượt qua. Sự bất động này làm sa sút tinh thần phe chống đối vừa thành hình, bỏ mất cơ hội hiếm có để làm suy yếu chính quyền Assad và thay đổi đà phát triển của cuộc nội chiến, và giúp tạo ra một môi trường trong đó tổ chức ISIS (the Islamic State of Iraq and al-Sham), tự xưng là Quốc gia Hồi giáo, có thể phát triển. Lời nói không đi đôi với việc làm cũng làm sâu sắc thêm nhận thức của thế giới bên ngoài về sự không đáng tin cậy của Mỹ.
Tại châu Á, cũng thế, sự phê bình chính yếu khả dĩ có thể nhắm vào chính sách của Mỹ là một sự chỉ trích về sự lơ là [omission]. Trong khi các xu thế có tính cơ cấu đang gia tăng nguy cơ xung đột truyền thống giữa các quốc gia, Washington không có một động thái cương quyết nhằm ổn định tình hình – không chịu gia tăng sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực một cách đáng kể để trấn an các đồng minh và ngăn chặn các cường quốc đang thách thức vai trò của Mỹ, gần như không làm gì cả để tạo hậu thuẫn trong nước cho một hiệp định thương mại khu vực, và không tận tình theo đuổi các cuộc đối thoại tích cực và bền vững để ảnh hưởng lên tư tưởng và hành động của các lãnh đạo địa phương trong khu vực.
Đối với Nga, các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài đã khiến cho tình hình trở nên tồi tệ. Bản thân Putin đã lựa chọn phương án củng cố quyền lực chính trị và kinh tế của mình, đồng thời theo đuổi một chính sách đối ngoại ngày càng làm cho Nga trở thành địch thủ của một trật tự quốc tế được Mỹ qui định và lãnh đạo. Nhưng chính sách của Mỹ và phương Tây không luôn luôn khuyến khích các lựa chọn có tính cách xây dựng từ phía Putin. Bất chấp cả châm ngôn nổi tiếng của Winston Churchill về cách đối xử với một địch thủ bại trận, phương Tây gần như không bày tỏ một hành vi cao thượng nào tiếp theo sau chiến thắng của mình trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Việc mở rộng khối NATO bị nhiều người Nga coi như là một cách nhục mạ, một sự phản bội, hoặc cả hai, của phương Tây. Lẽ ra Quan hệ Đối tác vì Hoà bình [Partnership for Peace], một chương trình được thiết kế để thúc đẩy quan hệ tốt đẹp hơn giữa Nga và NATO, có thể đạt thêm nhiều thành quả. Nói cách khác, lẽ ra Nga có thể được mời gia nhập NATO, mà kết quả của hành động này gần như sẽ không làm thay đổi quân bình lực lượng quân sự, vì NATO không còn thuần túy là một liên minh theo ý nghĩa cổ điển, mà chỉ là một tổ hợp thường trực gồm các nước có tiềm năng đóng góp cho “các liên minh của những nước tự nguyện.” Kiểm soát vũ khí, một trong những lãnh vực hiếm hoi trong đó Nga còn có thể tự hào là một đại cường, cũng không còn giữ vị trí trung tâm, khi chủ nghĩa đơn phương [unilateralism] và các hiệp ước có sự đồng thuận tối thiểu [minimalist treaties] đã trở thành thông lệ. Có thể chính sách của Nga vẫn triển khai theo cách nó đã diễn ra, cho dù Mỹ và phương Tây nói chung có tỏ ra hào hiệp hay mở rộng vòng tay để chào đón đi nữa, nhưng trên thực tế chính sách của phương Tây đã gia tăng khả năng mang lại một hậu quả như hiện nay.
Trong lãnh vực quản trị toàn cầu, các thỏa ước quốc tế thường khó thành tựu vì nhiều lý do. Nội con số đông đảo gồm quá nhiều quốc gia đã làm cho sự đồng thuận trở nên khó khăn hoặc không thể thực hiện. Lợi ích quốc gia không trùng hợp cũng là một lý do khác nữa. Do đó, những nỗ lực xây dựng các thỏa hiệp toàn cầu nhằm thúc đẩy mậu dịch và ngăn chặn vấn đề thay đổi khí hậu thường gặp nhiều trở ngại. Lắm khi các nước chỉ bất đồng về một điểm nào đó cần được thực hiện hoặc một điểm nào đó cần phải hi sinh để đạt được một mục tiêu to lớn hơn, hoặc họ ngại phải hậu thuẫn một sáng kiến nào đó vì sợ tạo ra một tiền lệ về sau có thể được dùng để chống lại họ. Do đó, rõ ràng là “cộng đồng quốc tế” thiếu hẳn cái nội dung mà việc sử dụng thường xuyên cụm từ này muốn nói đến.
Tuy nhiên, xin nhắc lại, trong những năm gần đây, các diễn biến bên trong nước Mỹ và các hành động của Chính phủ Mỹ cũng làm phức tạp thêm vấn đề nói trên. Trật tự hậu Chiến tranh Lạnh đặt cơ sở trên địa vị siêu cường của Mỹ, vốn là một hàm số không những của quyền lực Mỹ mà còn của ảnh hưởng Mỹ, phản ánh ý muốn của nhiều nước khác trong việc chấp nhận sự lãnh đạo của Mỹ. Ảnh hưởng này đã suy giảm vì điều mà thế giới thường nhận ra là một chuỗi thất bại hoặc sai lầm của Mỹ, gồm việc điều hành kinh tế lỏng lẻo đã đưa đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các chính sách an ninh quốc gia quá hiếu chiến đã chà đạp các qui phạm quốc tế, và sự bất lực trong việc quản trị công việc nội bộ và sự rối loạn chức năng chính trị trong nước.
Tóm lại, trật tự [do Mỹ lãnh đạo] đã phân rã vì sự đồng qui của ba xu thế. Quyền lực trên thế giới được phân tán giữa một con số đông đảo và trên một phạm vi rộng lớn gồm nhiều thế lực khác nhau. Sự kính nể dành cho mô hình chính trị và kinh tế Mỹ đã suy giảm. Các lựa chọn chính sách cụ thể của Mỹ, nhất là tại Trung Đông, gia tăng mối hoài nghi về khả năng phán đoán của Mỹ cũng như về sự đáng tin cậy trong các lời dọa dẫm và hứa hẹn mà Mỹ đưa ra. Kết quả chung cuộc là, mặc dù quyền lực xác thực của Mỹ vẫn còn đáng kể, nhưng ảnh hưởng của Mỹ đã sút giảm.
PHẢI LÀM GÌ?
Nếu Mỹ nhắm mắt làm ngơ, sự rối loạn của thế giới hiện nay không thể dần dần biến mất hay tự giải quyết lấy. Tình hình vốn đã tồi tệ có thể trở nên tồi tệ hơn nữa một cách quá dễ dàng nếu Mỹ tỏ ra thiếu quyết tâm hoặc thiếu khả năng thực hiện các phương án sáng suốt và xây dựng hơn hiện nay. Cũng không thể có một giải pháp đơn thuần nào cho vấn đề này, vì bản chất của các thách đố hiện nay thay đổi theo từng khu vực và theo từng vấn đề. Trên thực tế, không có một loại giải pháp nào có thể áp dụng cho một tình hình mà trong khả năng tối ưu chỉ có thể được quản lý, chứ không thể được giải quyết.
Nhưng có một số biện pháp có thể và phải được sử dụng. Tại Trung Đông, Mỹ nên theo đúng lời thề Hippocrate là trước hết sẽ không gây thêm thương tích cho con bệnh. Mỹ cần phải thu hẹp khoảng cách giữa tham vọng và khả năng hành động của mình tại khu vực này, và cứ lẽ thường việc giảm bớt tham vọng là hợp lý hơn việc gia tăng các hành động. Thực tế đáng buồn là, các chuyển đổi dân chủ tại các xã hội khác thường nằm ngoài khả năng thực hiện của các thế lực bên ngoài. Không phải tất cả mọi xã hội đều sẵn sàng trở thành dân chủ vào bất cứ thời điểm nào. Các điều kiện tiên quyết về cơ cấu có thể chưa sẵn sàng; một văn hóa chính trị phản dân chủ có thể tạo ra các lực cản. Các thể chế dân chủ thực sự tự do có thể đào tạo những công dân quốc tế ưu tú, nhưng việc giúp các nước đạt đến trình độ đó là khó khăn hơn thường được nhìn nhận – các nỗ lực tiến tới dân chủ thường gặp nhiều rủi ro, vì các thể chế dân chủ non trẻ hoặc bất toàn có thể bị các khuynh hướng mị dân hoặc dân tộc chủ nghĩa cưỡng chiếm nửa chừng. Cổ vũ trật tự giữa các quốc gia – ảnh hưởng lên chính sách đối ngoại của những nước này nhiều hơn chính trị nội bộ của họ – là một mục tiêu tạm gọi là tham vọng mà các nhà làm chính sách Mỹ có thể theo đuổi.
Nhưng nếu các âm mưu thay đổi chế độ tại Trung Đông cần phải được dẹp bỏ, thì các cam kết dựa vào một thời khóa biểu nhất định cũng nên tránh. Các lợi ích của Mỹ tại Iraq không được phục vụ đúng mức do Mỹ không thể dàn xếp để duy trì sự hiện diện liên tục một lực lượng Mỹ trú đóng tại đó, một lực lượng có thể đã ngăn ngừa được sự xung khắc giữa các phe phái tại Iraq và đưa ra các chương trình huấn luyện rất cần thiết cho các lực lượng an ninh Iraq. Điều này cũng đúng cho trường hợp Afghanistan, nơi tất cả các lực lượng Mỹ buộc phải rút khỏi nước này vào cuối năm 2016. Những quyết định như thế lẽ ra phải gắn liền với lợi ích của Mỹ và tình hình thực tế hơn là dựa vào một thời khắc biểu. Can thiệp quá ít cũng có thể gây tổn thất và rủi ro như can thiệp quá nhiều.
Một số việc khác mà các thế lực bên ngoài có thể tiến hành một cách hữu hiệu trong khu vực này gồm đẩy mạnh và hậu thuẫn xã hội dân sự, giúp người tị nạn và người li tán, chống chủ nghĩa khủng bố và hiếu chiến, và ra sức chận đứng sự bành trướng vũ khí hủy diệt hàng loạt (như cố gắng đặt một mức trần có ý nghĩa trên chương trình hạt nhân của Iran.) Muốn làm suy yếu lực lượng ISIS, Mỹ cần phải sử dụng không lực thường xuyên nhắm vào các mục tiêu bên trong Iraq cũng như Syria, cùng với các nỗ lực hiệp đồng với những nước như Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ để chặn đứng sự xâm nhập của các tay súng mới tuyển mộ và các nguồn tài chính. Có một số đối tác tiềm năng trên đất Iraq và một số ít hơn tại Syria – nơi các hoạt động chống ISIS phải được tiến hành trong bối cảnh của một cuộc nội chiến. Không may là, cuộc chiến chống ISIS và các nhóm tương tự có thể là khó khăn, tốn kém, và lâu dài.
Tại châu Á, bài bản cần áp dụng là giản dị hơn nhiều: Mỹ phải triệt để thực thi chính sách hiện có. Chiến lược “xoay trục” hay “tái quân bình lực lượng” hướng về châu Á của chính quyền Obama có mục đích mở ra các đối thoại ngoại giao thường xuyên ở cấp cao nhằm giải quyết và làm lắng dịu một con số quá nhiều các cuộc tranh chấp của khu vực; gia tăng sự hiện diện của không quân và hải quân Mỹ trong khu vực; và xây dựng hậu thuẫn trong nước và quốc tế cho một hiệp định thương mại khu vực. Tất cả những hành động này có thể là và phải là những ưu tiên cao của chính quyền, cũng như một nỗ lực đặc biệt nhằm thăm dò các điều kiện theo đó Trung Quốc có thể sẵn sàng cân nhắc lại sự cam kết của mình đối với một Bán đảo Triều Tiên bị chia cắt.
Đối với Nga và Ukraine, điều cần thiết là phải kết hợp những nỗ lực được thiết kế nhằm nâng đỡ Ukraine về mặt kinh tế và quân sự, tăng cường sức mạnh của NATO, và áp dụng biện pháp trừng phạt đối với Nga. Đồng thời, cũng phải cho Nga một lối thoát ngoại giao, một lối thoát đảm bảo rằng Ukraine sẽ không trở thành một thành viên của NATO một sớm một chiều hay có những quan hệ đặc biệt với EU. Giảm bớt sự lệ thuộc năng lượng của châu Âu vào Nga cũng phải đặt thành ưu tiên – việc này cần nhiều thời gian nhưng phải bắt đầu ngay bây giờ. Đồng thời, trong việc giao dịch với Nga hay với các cường quốc khác nói chung, Washington nên tránh các toan tính nối kết vấn đề này với vấn đề khác [linkage], cố tình đặt điều kiện hợp tác trong lãnh vực này trên sự hợp tác trong lãnh vực khác. Ngày nay, bất cứ một dạng thức hợp tác nào trong bất lãnh vực nào vốn đã là quá khó để thực hiện, vì thế Washington không nên làm tổn thương các cơ hội hợp tác bằng cách đi ra ngoài các giới hạn.
Ở mức độ toàn cầu, mục tiêu của chính sách Mỹ vẫn là hội nhập, phải cố gắng thúc đẩy các nước khác ký kết các thoả ước để quản lý các vấn đề toàn cầu như thay đổi khí hậu, nạn khủng bố, bành trướng vũ khí hạt nhân, mậu dịch, y tế, và duy trì một môi trường chung an toàn và thông thoáng. Trong những lãnh vực mà các thoả ước có thể mang tính toàn cầu thì đó là một điều rất tốt, nhưng trong những lãnh vực không thể toàn cầu hóa, thì các thỏa ước cần mang tính khu vực hay tính chọn lọc, gồm những quốc gia có lợi ích và khả năng to lớn hoặc chia sẻ một mức độ nào đó về đồng thuận chính sách.
Mỹ cũng cần phải chấn chỉnh lại công việc nội bộ của mình, vừa để nâng cao mức sống của dân Mỹ vừa để tạo ra các nguồn lực cần thiết để duy trì một vai trò toàn cầu tích cực. Một xã hội bế tắc và bất bình đẳng sẽ không thể đặt niềm tin vào Chính phủ của mình hay hậu thuẫn mạnh mẽ các nỗ lực quốc tế. Nhưng, điều này không nhất thiết có nghĩa là Mỹ phải cắt giảm các ngân sách quốc phòng; trái lại, có nhiều lý do cho thấy việc chi tiêu quốc phòng cần được gia tăng phần nào. Điều đáng mừng là, Mỹ có đầy đủ vũ khí và lương thực, chừng nào mà các nguồn lực được phân phối hợp lý và có hiệu quả. Một lý do khác để chỉnh sửa công việc nội bộ là Mỹ phải giảm bớt những sơ hở của mình. Mặc dù an ninh năng lượng của Mỹ đã cải thiện nhanh chóng trong những năm gần đây, nhờ các cuộc cách mạng dầu khí, nhưng sự lạc quan này không thể áp dụng cho các vấn đề khác, như cơ sở hạ tầng công cộng của Mỹ đang trở nên cũ kỹ, một chính sách nhập cư bất cập, và các vấn đề tài chính công dài hạn.
Như gần đây đã được bàn đến trên tạp chí này [tức Foreign Affairs], sự rối loạn chức năng chính trị Mỹ ngày càng gia tăng, chứ không giảm bớt, vì các chính đảng trở nên yếu kém, vì các nhóm lợi ích thu tóm nhiều quyền lực, vì sự xuất hiện các điều lệ mới về tài chính vận động chính trị, và vì các thay đổi dân số. Những người cho rằng đất nước này chỉ cần một thỏa thuận về ngân sách là có thể trở nên tốt đẹp cũng sai lầm như những người cho rằng đất nước này cần phải trải qua một cuộc khủng hoảng mới có thể phục hồi đoàn kết quốc gia. Thế giới bên ngoài có thể thấy được điều này, và cũng thấy được rằng công chúng Mỹ đã trở nên hoài nghi về việc Mỹ dính líu đến các vấn đề toàn cầu, đừng nói chi đến lãnh đạo thế giới. Một thái độ như thế hẳn là không đáng ngạc nhiên, căn cứ trên tình trạng kéo dài của những khó khăn kinh tế và thành tích tồi tệ của những cuộc can thiệp quân sự ở nước ngoài gần đây của Mỹ. Nhưng Tổng thống có bổn phận phải thuyết phục một xã hội Mỹ đã thấm mệt vì chiến tranh rằng thế giới bên ngoài vẫn còn quan trọng – dù nó có trở nên tốt hơn hay xấu hơn – và rằng Mỹ có thể và phải theo đuổi một chính sách đối ngoại tích cực mà không gây nguy hại cho an sinh của người dân trong nước.
Thật vậy, các chính sách đối ngoại và đối nội hợp lý sẽ tăng cường lẫn nhau: một thế giới ổn định là có lợi cho mặt trận quốc nội, và một mặt trận quốc nội thành công sẽ cung cấp các nguồn lực cần thiết cho vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ. Thuyết phục được dân chúng Mỹ về điểm này sẽ là một việc khó khăn, nhưng có một cách để giành hậu thuẫn dễ dàng hơn là đưa ra một chính sách đối ngoại nhằm lập lại trật tự thế giới chứ không phải là cải tạo thế giới. Nhưng cho dù nỗ lực này được thực hiện đi nữa, nó cũng không đủ sức ngăn cản sự xói mòn thêm nữa của trật tự thế giới, phát xuất từ sự phân tán quyền lực rộng rãi và việc làm quyết sách mất dần tính tập trung, cũng như từ nhận thức của thế giới về quyền lực Mỹ và hành động của Mỹ. Vấn đề không còn là thế giới sẽ tiếp tục phân rã hay không, mà là phân rã nhanh hay chậm và đến mức độ nào.
R. N. H.
Dịch giả gửi BVN.

Bài diễn văn của Obama khiến hàng nghìn người Mỹ bật khóc


Ngày 20/1/2009, ông Barack Obama đã đọc diễn văn nhậm chức Tổng thống đời thứ 44 của Mỹ trước toàn thể người dân nước này.

Dưới đây là toàn văn bài phát biểu nhậm chức Tổng thống nhiệm kỳ đầu tiên của ông Barack Obama. Hàng nghìn người dân Mỹ đã khóc khi theo dõi bài diễn văn và lễ nhậm chức của vị Tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ.


ổng thống Obama đọc diễn văn trong lễ nhậm chức năm 2009.

Thưa đồng bào,

Tôi đứng đây hôm nay, nhỏ bé trước nhiệm vụ đang đặt ra trước mắt, cảm kích trước sự tin tưởng của đồng bào, và thấu hiểu về những hy sinh của các bậc tiền bối.

Tôi xin cảm ơn Tổng thống Bush về những cống hiến của Ngài cho đất nước, về tấm lòng rộng lượng và sự hợp tác của Ngài trong quá trình chuyển giao này.

Đã có bốn mươi bốn người dân Mỹ từng tuyên thệ nhậm chức tổng thống. Có lời tuyên thệ được vang lên trong những thời khắc thịnh vượng và yên bình, nhưng cũng có những lời tuyên thệ được vang lên trong giai đoạn sóng gió.

Vào những thời khắc đó, nước Mỹ đã vượt qua, không đơn giản chỉ nhờ vào kỹ năng hay tầm nhìn của các nhà lãnh đạo, mà bởi vì dân tộc Mỹ chúng ta luôn giữ vững niềm tin vào lý tưởng của cha ông, và luôn trung thành với những văn tự lập quốc.

Nó đã như vậy. Và nó cũng sẽ như vậy với thế hệ người Mỹ hôm nay.

Giờ đây ai cũng biết rõ chúng ta đang ở trong khủng hoảng. Đất nước chúng ta đang trong thời chiến chống lại một mạng lưới bạo lực và hận thù.

Nền kinh tế của chúng ta bị suy yếu nghiêm trọng - hậu quả từ sự tham lam và vô trách nhiệm của một số người, nhưng cũng là thất bại của tất cả chúng ta khi không biết chấp nhận những lựa chọn khó khăn và chuẩn bị cho đất nước bước vào một kỷ nguyên mới.

Nhiều gia đình mất nhà; nhiều người mất việc; nhiều doanh nghiệp đình đốn.

Chi phí y tế quá đắt đỏ; chất lượng trường học khiến nhiều người thất vọng; và mỗi ngày lại có thêm bằng chứng cho thấy cách chúng ta sử dụng năng lượng càng khiến kẻ thù của chúng ta mạnh thêm và đe doạ hành tinh này.

Đó là những dấu hiệu của khủng hoảng, theo các dữ liệu và con số thống kê.

Khó đo lường hơn, nhưng cũng không kém phần sâu sắc, là sự suy thoái lòng tin trên khắp cả nước - một tâm lý sợ hãi đeo đẳng rằng sự suy thoái của Mỹ là không tránh khỏi, và rằng thế hệ sau sẽ phải hạ bớt tầm nhìn.

Hôm nay, tôi xin tuyên bố với quý vị rằng, những thách thức mà chúng ta đang đối mặt là có thật. Những thách thức đó rất nhiều và rất nghiêm trọng.

Những thách thức đó không thể giải quyết được một cách dễ dàng hoặc trong ngày một ngày hai. Nhưng hãy tin rằng chúng sẽ được giải quyết.

Người đàn ông vô gia cư Farrington James khóc khi theo dõi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama.

Hôm nay, chúng ta tụ hội về đây bởi chúng ta đã lựa chọn hy vọng thay vì sợ hãi, đoàn kết vì một mục tiêu chung thay vì xung đột và bất hòa.

Hôm nay, chúng ta tới đây để tuyên bố chấm dứt lời chỉ trích nhỏ nhen và những lời hứa hẹn dối trá, những lời buộc tội lẫn nhau cùng những lời nói giáo điều nhàm chán, những thứ từ lâu đã bóp nghẹt nền chính trị của chúng ta.

Chúng ta vẫn là một quốc gia non trẻ, nhưng như Kinh thánh nói, đã tới lúc gạt sang một bên những điều nông nổi.

Đã đến lúc chúng ta xốc lại tinh thần kiên định, để lựa chọn một lịch sử tốt đẹp hơn, để tiếp tục mang theo món quà quý giá, ý tưởng cao đẹp đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác:

Thượng đế trao cho mọi người quyền bình đẳng, quyền được tự do, và mọi người ai cũng đều có quyền mưu cầu hạnh phúc.

Thêm một lần khẳng định sự vĩ đại của dân tộc mình, chúng ta hiểu rằng sự vĩ đại đó không bao giờ là thứ được cho không. Chúng ta phải tạo dựng nó.

Hành trình chúng ta đi chưa bao giờ là một con đường tắt hoặc một điều gì đó dễ dàng hơn. Đó chưa từng là con đường dành cho những người nhút nhát, cho những người ưa thích tiêu khiển hơn lao động, hoặc chỉ tìm kiếm những thú vui của sự giàu sang và nổi tiếng.

Ngược lại, chính những người dám mạo hiểm, những người lao động, những người làm ra của cải vật chất - một vài người nổi tiếng nhưng thường vô danh trong lao động - đã đưa chúng ta vượt qua con đường dài đầy khó khăn gập ghềnh đến với thịnh vượng và tự do.

Vì chúng ta, họ đã gói ghém chút của cải của mình và băng qua các đại dương để kiếm tìm một cuộc sống mới.

Vì chúng ta, họ đã phải vất vả lao động ở những công xưởng hà khắc và khai phá miền Tây, chịu đựng những trận đòn roi da và cấy trồng trên nền đất cứng.

Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh.

Hết lần này đến lần khác, những người nam nữ đó đã tranh đấu, hy sinh và làm việc tới tận khi đôi bàn tay của họ chai sạn để chúng ta có thể có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Họ nhìn thấy một nước Mỹ lớn hơn tất cả những tham vọng cá nhân, lớn hơn tất cả những khác biệt về nguồn gốc, của cải hay phe phái.

Đó chính là hành trình chúng ta đang tiếp bước hôm nay. Chúng ta vẫn là quốc gia cường thịnh nhất trên Trái Đất

Một người phụ nữ gạt nước mắt khi nghe bài diễn văn của Tổng thống.

Công nhân của chúng ta không hề làm việc kém năng suất hơn thời điểm bắt đầu khủng hoảng. Trí óc của chúng ta không hề kém sáng tạo, hàng hoá và dịch vụ của chúng ta không hề bị giảm cầu so với tuần trước, tháng trước hay năm trước.

Năng lực của chúng ta vẫn không hề bị giảm sút. Nhưng thời kỳ của sự trì trệ, bảo vệ những lợi ích hẹp hòi và lảng tránh những quyết định không vừa ý chắc chắn đã qua đi.

Bắt đầu từ hôm nay, chúng ta phải tự mình đứng dậy, tự phủi bụi và bắt đầu lại với công việc tái thiết nước Mỹ.

Nhìn vào bất cứ đâu, chúng ta cũng sẽ thấy có việc phải làm. Tình trạng kinh tế hiện nay kêu gọi chúng ta hành động, can đảm và mau lẹ, và chúng ta sẽ hành động – không chỉ để tạo ra những việc làm mới, mà còn đặt nền móng mới cho sự tăng trưởng.

Chúng ta sẽ xây dựng những cây cầu, con đường, lưới điện và đường dây kỹ thuật số phục vụ cho thương mại và kết nối chúng ta lại với nhau.

Chúng ta sẽ khôi phục lại khoa học cho xứng với vị trí của nó và áp dụng những thành tựu công nghệ để nâng cao chất lượng và hạ thấp chi phí dịch vụ y tế.

Chúng ta sẽ khai thác năng lượng từ mặt trời, gió và đất để cung cấp nhiên liệu cho xe hơi, vận hành các nhà máy. Chúng ta cũng sẽ cải cách các trường phổ thông, đại học và cao đẳng để đáp ứng các nhu cầu của một thời đại mới.

Chúng ta có thể làm được tất cả những điều này và chúng ta sẽ làm.


Cụ ông Herbert Bridges, 94 tuổi, khóc khi theo dõi lễ nhậm chức của Tổng thống Obama qua truyền hình

Vào lúc này, một số người vẫn còn hoài nghi về tầm vóc những tham vọng của chúng ta, những người cho rằng hệ thống của chúng ta không thể kham nổi quá nhiều kế hoạch lớn.

Đầu óc của họ quá thiển cận. Bởi họ đã quên rằng những gì đất nước này đã làm được, những gì những con người tự do, nam cũng như nữ, có thể đạt được khi mà tất cả đều hướng về một mục đích và thấy cần phải can đảm.

Điều mà những kẻ hoài nghi không hiểu nổi là mặt đất đang chuyển dịch dưới chân họ - rằng những luận điểm chính trị cũ rích làm héo mòn chúng ta bấy lâu đã không còn phù hợp nữa.

Câu hỏi dành cho chúng ta hôm nay không phải là liệu chính phủ quá lớn hay quá nhỏ, mà là liệu nó có hiệu quả hay không - liệu nó có thể giúp các gia đình tìm được việc làm với đồng lương tử tế, có thể chi trả dịch vụ y tế, và có được một suất lương hưu xứng đáng.

Ở đâu chúng ta tìm được câu trả lời, chúng ta sẽ tiến tới. Nơi nào không tìm được câu trả lời, các chương trình sẽ kết thúc.

Ai trong chúng ta đang quản lý những đồng đô-la của người dân sẽ phải có trách nhiệm - để sử dụng một cách khôn ngoan, để sửa những thói xấu và làm việc minh bạch – vì chỉ khi đó chúng ta mới có thể khôi phục được lòng tin sống còn giữa người dân và chính phủ.

Câu hỏi mà chúng ta phải đối mặt cũng không phải liệu thị trường là lực lượng tốt hay xấu.

Sức mạnh của thị trường nhằm sản xuất ra của cải và mở rộng tự do là không gì sánh nổi, nhưng cuộc khủng hoảng này nhắc chúng ta rằng nếu thiếu thận trọng, thị trường có thể vượt khỏi vòng kiểm soát, rằng 1 quốc gia không thể thịnh vượng lâu dài khi chỉ tạo thuận lợi cho người giàu.

Thành công của nền kinh tế chúng ta luôn dựa trên không chỉ quy mô của Tổng sản phẩm Quốc nội, mà còn dựa trên sự lan toả của thịnh vượng, dựa trên khả năng mở rộng cơ hội cho tất cả những ai sẵn sàng đón nhận.

Nó không phải vì lòng từ thiện, mà vì đó là con đường chắc chắn nhất dẫn tới lợi ích chung của chúng ta.

Một người phụ nữ da màu khóc và cầu nguyện khi theo dõi bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống qua truyền hình.

Về quốc phòng, chúng ta bác bỏ sự lựa chọn giữa an toàn và các lý tưởng của chúng ta.

Những Bậc khai quốc, vốn từng phải đương đầu với những hiểm nguy mà ngày nay chúng ta khó có thể hình dung được, đã soạn thảo một bản hiến chương nhằm đảm bảo nền pháp trị và quyền con người, một hiến chương được vun đắp bằng máu của nhiều thế hệ.

Những lý tưởng đó vẫn đang tiếp tục soi sáng nhân loại, và chúng ta sẽ không từ bỏ chỉ vì lợi ích.

Vì vậy, với tất cả các dân tộc và chính phủ đang theo dõi chúng ta hôm nay, từ các thủ đô lớn nhất cho tới ngôi làng nhỏ nơi cha tôi ra đời:

Quý vị hãy tin rằng Hoa Kỳ là người bạn của mỗi quốc gia, mỗi con người, và của mỗi em thơ, những người đang tìm kiếm một tương lai hoà bình và được tôn trọng phẩm giá, và chúng ta sẵn sàng một lần nữa là những người tiên phong.

Hãy nhớ rằng những thế hệ đi trước từng quật ngã chủ nghĩa phát xít... không chỉ bằng tên lửa và xe tăng mà bằng những liên minh vững chắc và những niềm tin bền bỉ.

Lớp cha anh hiểu rằng chỉ sức mạnh không thôi sẽ không thể bảo vệ chúng ta, cũng không thể cho phép chúng ta làm những gì mình muốn.

Họ hiểu rằng sức mạnh của chúng ta được nhân lên nhờ sử dụng nó một cách cẩn trọng; nền an ninh của chúng ta được xây dựng từ sự chính nghĩa, từ sự gương mẫu, từ sự khiêm nhường và biết kiềm chế của chúng ta.

Chúng ta là những người gìn giữ di sản này. Tuân theo những nguyên tắc này, một lần nữa chúng ta có thể đương đầu với những nguy cơ mới, đòi hỏi những nỗ lực lớn hơn – thậm chí cả sự hợp tác và hiểu biết sâu sắc hơn giữa các quốc gia.

Chúng ta sẽ bắt đầu chuyển giao có trách nhiệm đất nước Iraq cho người dân Iraq, và củng cố nền hòa bình vất vả mới có được ở Afghanistan.

Cùng với bạn cũ thù xưa, chúng ta sẽ nỗ lực không ngừng nhằm giảm bớt nguy cơ hạt nhân và đảo ngược tiến trình ấm lên của trái đất. Chúng ta sẽ không xin lỗi vì cách sống của chúng ta và không do dự để bảo vệ lối sống này.

Đối với những kẻ muốn đạt được mục tiêu bằng cách kích động khủng bố và giết người vô tội, các người cần biết rằng ý chí của chúng tôi mạnh hơn và không thể bẻ gãy; các người không thể tồn tại lâu hơn chúng tôi, và chúng tôi sẽ đánh bại các người.

Chúng ta biết rằng di sản đa dạng của chúng ta chính là thế mạnh, không phải là điểm yếu. Chúng ta là một quốc gia của người Thiên Chúa Giáo và người Hồi giáo, người Do Thái giáo và người Ấn Độ giáo, và của cả những người không tôn giáo.

Chúng ta được hình thành từ mọi ngôn ngữ và văn hóa, hội tụ về từ mọi nơi trên trái đất; và vì đã từng nếm trải sự đau xót của nội chiến và phân biệt màu da, và vươn dậy từ thời kỳ đen tối đó để trở nên mạnh mẽ hơn, đoàn kết hơn.

Chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng rồi sẽ đến ngày hận thù xưa cũng nguôi ngoai, những chia cắt giữa các sắc tộc sẽ được giải quyết, rằng khi thế giới trở nên nhỏ bé hơn, lòng nhân hậu sẽ ngự trị và Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò mở ra một kỷ nguyên mới của hoà bình.


Một sinh viên đại học khóc khi theo dõi bài phát biểu của Tổng thống Obama qua truyền hình

Với thế giới Hồi giáo, chúng ta tìm hướng đi mới, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau.

Với các nhà lãnh đạo trên thế giới đang muốn gieo rắc xung đột hay đổ lỗi cho phương Tây về những xấu xa trong xã hội của họ: quý vị cần hiểu rằng người dân sẽ đánh giá dựa trên những gì quý vị xây dựng chứ không phải những gì quý vị phá huỷ.

Với những người bám lấy quyền lực nhờ tham nhũng, dối trá và bịt miệng những quan điểm đối lập, hãy biết rằng quý vị đang đi ngược lại lịch sử; nhưng chúng tôi sẽ chìa bàn tay nếu quý vị sẵn sàng từ bỏ nắm đấm.

Với người dân của các với các quốc gia nghèo khó, chúng tôi cam kết sẽ sánh vai cùng các bạn để giúp đồng ruộng xanh tươi, để dòng nước sạch được tuôn trào, để nuôi dưỡng những cơ thể đói khát và bồi đắp những tâm hồn thiếu thốn.

Với những quốc gia được hưởng sự đầy đủ như chúng ta, chúng ta nói với họ rằng chúng ta không thể tiếp tục thờ ơ với những nỗi thống khổ phía bên ngoài lãnh thổ, cũng không thể tiếp tục sử dụng tài nguyên thế giới mà không quan tâm tới những tác động của nó.

Thế giới đã thay đổi và chúng ta phải thay đổi theo.

Khi chúng ta cân nhắc con đường đi phía trước, chúng ta tưởng nhớ với lòng biết ơn trân trọng trước những người Mỹ dũng cảm, mà chính lúc này đây, đang tuần tra trên các sa mạc hay dãy núi xa xôi.

Họ nói với chúng ta điều gì đó, giống như những anh hùng ngã xuống ở Arlington đã thì thầm suốt chiều dài lịch sử.

Chúng ta vinh danh họ không chỉ vì họ là những người bảo vệ nền tự do của chúng ta, mà còn vì họ hiện thân cho tinh thần phục vụ; sẵn sàng tìm ý nghĩa trong những điều lớn lao hơn chính bản thân họ.

Và chính trong khoảnh khắc này - một khoảnh khắc sẽ định hình cả một thế hệ - chính tinh thần đó phải hiện hữu trong tất cả chúng ta.

Vì cho dù chính phủ có thể làm gì và phải làm gì, đất nước này suy cho cùng phải dựa vào niềm tin và quyết tâm dân tộc Mỹ.

Đó là lòng hảo tâm đùm bọc người xa lạ khi những con đê bị vỡ, là sự vị tha của những công nhân thà làm bớt giờ chứ không để bạn mình mất việc, chính những điều đó đưa chúng ta ra khỏi thời kỳ đen tối nhất.

Chính sự dũng cảm của người lính cứu hoả khi băng qua cầu thang đầy khói, cũng như tấm lòng của một bậc cha mẹ sẵn sàng dang tay nuôi dưỡng một đứa trẻ, rốt cuộc sẽ quyết định số phận của chúng ta.

Những thách thức chúng ta đối mặt có thể mới. Những công cụ chúng ta dùng để đương đầu với những thách thức đó có thể mới.

Nhưng các giá trị đã tạo dựng nên thành công của chúng ta - trung thực và chăm chỉ, dũng cảm và công bằng, khoan dung và tò mò, trung thành và ái quốc – là những điều không mới. Những điều đó là có thật.

Chúng đã là động lực âm thầm cho những tiến bộ suốt chiều dài lịch sử của chúng ta. Điều chúng ta cần là phải quay trở lại với những chân lý đó.

Điều chúng ta cần giờ đây là một kỷ nguyên mới của trách nhiệm – một sự giác ngộ của từng người Mỹ rằng chúng ta có những nghĩa vụ với chính bản thân, với đất nước, và với cả thế giới.

Đó là những nghĩa vụ chúng ta không phải miễn cưỡng chấp nhận mà thậm chí còn nắm lấy một cách vững vàng và vui vẻ với nhận thức rằng, không có điều gì làm tinh thần thỏa mãn và định hình nhân cách của chúng ta bằng sự cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp gian khó.

Đó là giá trị và cam kết của quyền công dân.

Đó là nguồn gốc của sự tự tin của nước Mỹ - một sự nhận thức rằng Thượng đế trông cậy vào chúng ta để tạo dựng một vận mệnh chưa định hình.

Đó là ý nghĩa của tự do và tín điều của chúng ta – rằng vì sao nam, nữ và trẻ em thuộc mọi chủng tộc và tín ngưỡng có thể cùng nhau tham dự buổi lễ tại quảng trường quốc gia vĩ đại này.

Và vì sao một người mà cha của anh cách đây gần 60 năm có thể không được phép ăn tại một nhà hàng ở địa phương, nay lại được đứng trước mặt quý vị để đọc lời thề thiêng liêng nhất.

Vậy chúng ta hãy đánh dấu ngày hôm nay bằng cách nhớ lại chúng ta là ai và chúng ta đã đi được đến đâu.

Vào năm đất nước Hoa Kỳ được khai sinh, trong những tháng giá lạnh nhất, một nhóm nhỏ những người yêu nước chụm lại bên nhau, cạnh đống lửa trại gần tàn trên bờ sông băng giá.

Thủ đô đã bị bỏ hoang. Kẻ thù đang tiến tới. Tuyết loang lổ vết máu. Vào thời điểm khi kết quả cuộc cách mạng gần như rơi vào hồ nghi, người khai sinh ra đất nước đã ra lệnh đọc những lời kêu gọi nhân dân sau đây:

“Hãy nói cho thế giới tương lai... rằng trong cái giá lạnh của mùa đông, khi chỉ còn hy vọng và nghị lực... rằng thành phố này và đất nước này, lo lắng trước mối nguy hiểm chung, đã tiến lên để đương đầu.”

Nước Mỹ, trước những mối nguy hiểm chung, trong chính mùa đông gian khó này, hãy cùng nhau nhớ những lời bất tử đó. Với hy vọng và nghị lực, chúng ta hãy một lần nữa can đảm vượt qua dòng nước băng giá và hứng chịu bất kỳ cơn bão nào sẽ đến.

Hãy để con cháu chúng ta kể lại rằng khi gặp thử thách, chúng ta đã không dừng bước, rằng chúng ta không quay đầu hay ngập ngừng.

Với đôi mắt luôn hướng về phía chân trời và ân phước mà Thượng Đế ban tặng, chúng ta đã mang theo món quà tự do và giao lại nguyên vẹn cho những thế hệ mai sau.

Cử người thay Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh

Ông Phan Đình Trạc, Phó trưởng ban Nội chính Trung ương sẽ điều hành giải quyết công việc của Ban Nội chính Trung ương và của Trưởng Ban Nội chính Trung ương khi ông Nguyễn Bá Thanh vắng mặt hoặc được uỷ quyền.
Ban Nội chính Trung ương vừa ban hành văn bản số 1458-CV/BNCTW thông báo về việc phân công ông Phan Đình Trạc, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương làm nhiệm vụ Phó trưởng Ban Thường trực Ban Nội chính Trung ương.
Ông Phan Đình Trạc. Ảnh: Ban Nội chính Trung ương.

Ông Phan Đình Trạc. Ảnh: Ban Nội chính Trung ương.

Theo đó, thực hiện ý kiến của Thường trực Ban Bí thư và trên cơ sở ý kiến của ông Nguyễn Bá Thanh - Trưởng ban Nội chính Trung ương kiêm Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã được thống nhất tại cuộc họp lãnh đạo ban vào ngày 16/1/2015, phân công ông Phan Đình Trạc làm nhiệm vụ Phó trưởng Ban Thường trực Ban Nội chính Trung ương.

Ông Phan Đình Trạc sẽ điều hành giải quyết công việc của Ban Nội chính Trung ương và của Trưởng Ban Nội chính Trung ương khi ông Nguyễn Bá Thanh vắng mặt hoặc được uỷ quyền.

Được biết, ông Phan Đình Trạc từng làm Chủ tịch UBND và Bí thư Tỉnh ủy Tỉnh Nghệ An trước khi được điều động ra Hà Nội, phân công giữ chức vụ Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương.

Hiện ông Nguyễn Bá Thanh đang được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng. 

Thế Kha
(Dân trí)

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

“Văn hóa Tấm-Cám”

  • Trung Quốc công bố có toàn quyền xây đảo nhân tạo ở Trường Sa (RFA) - Tuần trước, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc có nói rằng chính phủ Hoa Lục có toàn quyền thực hiện các dự án phát triển ở vùng biển đảo mà chủ quyền thuộc về họ, kể cả những dự án cải tạo, xây đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang thực hiện ở Trường Sa.
  • Hồng Kông : Sinh viên tố cáo việc sách nhiễu người đòi dân chủ (RFI) - Một lãnh đạo phong trào sinh viên biểu tình đòi dân chủ trong thời gian qua, vào hôm nay 18/01/2015, lên tiếng tố cáo cảnh sát là tiến hành cả một chiến dịch nhằm sách nhiễu những người tham gia phong trào. Sinh viên Chu Vĩnh Khang (Alex Chow) là gương mặt đối kháng sau cùng bị cảnh sát Hồng Kông câu lưu để thẩm vấn trước khi được thả ra.
  • Indonesia xử bắn 6 người về tội buôn ma túy trong đó có một người Việt (RFI) - Vào hôm nay, 18/01/2015, chính quyền Jakarta đã cho xử bắn sáu tử tù bị kết tội buôn bán ma túy, bao gồm một người Indonesia và 5 công dân ngoại quốc đến từ Việt Nam, Brazil, Hà Lan, Malawi và Nigeria. Vụ hành quyết đã lập tức gây căng thẳng trong quan hệ ngoại giao giữa Indonesia và hai nước Brazil và Hà Lan, vốn đã khẩn thiết yêu cầu Jakarta đình hoãn việc hành hình.
  • Nhật Bản hứa viện trợ 2,5 tỷ đô la cho Trung Đông (RFI) - Ai Cập, Jordanie, Israël, Lãnh thổ Palestine là trọng tâm vòng công du Trung Đông của thủ tướng Nhật, mở ra từ ngày hôm qua 17/01/2005. Tiếp kiến Quốc vương Jordanie sáng nay, ông Shinzo Abe cam kết viện trợ hai tỷ rưỡi đô la cho Trung Đông vì lý do nhân đạo.
  • Tại Manila, sáu triệu người dự thánh lễ do Đức Giáo Hoàng cử hành (RFI) - Theo các nhà chức trách Manila đã có tới 6 triệu tín đồ Philippines đến dự thánh lễ do Đức Giáo Hoàng Phanxicô cử hành vào ngày 18/01/2015. Chính quyền huy động 40.000 cảnh sát để bảo vệ an ninh cho buổi lễ. Tại Philippines, thông điệp lên án nạn tham nhũng và nghèo khó của người đứng đầu Tòa thánh Vatican chinh phục lòng người.
  • Câu hỏi của cô bé 12 tuổi làm Đức Giáo hoàng xúc động (RFA) - Những câu hỏi của một cô bé gái Philippines đã khiến Đức Giáo Hoàng Phan Xi Cô xúc động, tới mức Ngài hủy bỏ bài giảng đã được soạn trước, thay thế bằng những lời phát biểu kêu gọi mọi người cùng với Giáo Hội và với Ngài bảo vệ cho trẻ em.
  • Trung Quốc: Tăng trưởng 2014 thấp nhất từ 24 năm qua (RFI) - Tổng sản phẩm nội địa Trung Quốc trong năm 2014 tăng 7,3 %. Đây là mức thấp nhất từ phong trào dân chủ Mùa xuân Bắc Kinh. Tăng trưởng của Trung Quốc tiếp tục bị chựng lại trong năm 2015. Trên đây là nhận định của 15 chuyên gia kinh tế được AFP tham khảo ý kiến.
  • Tổng thống Obama sắp đưa TPP ra Quốc hội Mỹ? (BaoMoi) - (NLĐO)- Trả lời phỏng vấn báo giới tại Thành phố Hồ Chí Minh hôm 18-1, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius nhấn mạnh sự tự tin hơn bao giờ hết đối với sự thành công của tiến trình đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).
  • Báo chí vẫn là công cụ của đảng (RFA) - Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI Đề án Quy hoạch báo chí đến năm 2025 là một vấn đề trong chương trình thảo luận. Theo đó, báo chí Việt Nam tiếp tục được nhấn mạnh là công cụ tuyên truyền của đảng, và không cho phép các nhóm lợi ích chi phối báo chí.
  • 65 năm quan hệ Việt Nam-Trung Quốc (RFA) - Ông Phạm Bình Minh công bố luôn coi trọng quan hệ hợp tác bình đẳng, mong muốn quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung ngày càng phát triển.
  • Nhạc sĩ Linh Phương (RFA) - Nhạc sĩ, giáo sư giảng dạy piano Linh Phương hiện đang sống tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Trong suốt hơn 45 năm cống hiến cho âm nhạc, bà đã cho ra đời hơn 35 album nhạc và có khoảng trên 150 bài thơ phổ nhạc...
  • Charlie Hebdo và quyền ngôn luận ở VN (BBC) - Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung cho rằng chỉ có nền 'cộng hòa chính danh' mới đem lại tự do và quyền ngôn luận thực sự ở VN nhân vụ Charlie Hebdo mới xảy ra ở Pháp.
  • Hình ảnh nhạy cảm trên facebook và rủi ro (RFA) - Hiện nay có một số các cô gái trẻ trong độ tuổi trên dưới 20 thi nhau đăng những hình ảnh mát mẻ trên trang Facebook cá nhân của họ. Số lượng các cô gái này tuy chưa nhiều nhưng nó đang dần trở thành một xu hướng nguy hiểm, ảnh hưởng không nhỏ tới chính các cô gái đó và giới trẻ hiện nay.
  • Đức : phong trào bài Hồi giáo Pegida ngưng kêu gọi biểu tình (RFI) - Nhiều thành viên trong ban tổ chức của phong trào bài đạo Hồi ở Đức bị tổ chức Nhà nước Hồi giáo đe dọa. Pegida thông báo ngưng kêu gọi tập hợp tại Dresden vào mỗi thứ Hai hàng tuần. Sau loạt khủng bố tại Paris, tuần hành ở Dresden đã được 25.000 người hưởng ứng.
  • Charlie Hebdo : Biểu tình bạo động ở Niger làm ít nhất 10 người chết (RFI) - Trang nhất tuần báo Pháp Charlie Hebdo số mới nhất tiếp tục khuấy động thế giới Hồi giáo, với nhiều cuộc biểu tình phản đối biến thành bạo động như tại Niger (Châu Phi), đã làm ít nhất 10 người thiệt mạng, tính đến trưa nay, 18/01/2015. Vấn đề là biểu tình chống Charlie Hebdo đã biến thành chống Thiên Chúa giáo hay chống Pháp.
  • Iran : Một tờ báo bị đình bản vì tít lớn « Tôi là Charlie » trên trang nhất (RFI) - Dù cũng lên án các vụ khủng bố tại Pháp, đặc biệt là vụ thảm sát tại toà soạn báo Charlie Hebdo ở Paris, chính quyền Iran không chấp nhận việc tờ báo Pháp vẽ hình Mohammed. Tư pháp Iran vào hôm qua 17/01/2015 đã ra lệnh đình bản một tờ báo theo xu hướng cải tổ vì dám chạy trên trang nhất câu nói bất hủ « Tôi là Charlie ».
  • Đông Ukraina : Giao tranh vẫn ác liệt quanh phi trường Donetsk (RFI) - Tại miền Đông Ukraina, hòa bình vẫn rất xa vời. Chiến sự đã bùng lên trở lại một cách dữ dội chung quanh phi trường Donetsk. Từ hai ngày qua lực lượng ly khai thân Nga ra sức tấn công vào khu vực được cho là chiến lược mà quân đội Ukraina còn chiếm giữ được.
  • Thêu dệt về nhà tù Bắc Triều Tiên ? (RFI) - Ngày 18/01/2015, Shin Dong Hyuk, nhân chứng của tội ác trong các nhà tù Bắc Triều Tiên xin lỗi đã « che giấu một phần quá khứ » trong cuốn sách « Camp 14 ». Trong tác phẩm này của tác giả người Mỹ, Blaine Harden, Shin kể lại về nạn tra tấn ở các trại tù Bắc Triều Tiên mà ông đã trải qua cho đến khi vượt ngục vào năm 2005.
  • Máy ảnh Leica kỷ niệm sinh nhật 100 tuổi (RFI) - Dân ưa thích chụp ảnh, không ai là không biết đến máy ảnh Leica. Năm 2014, nhà sản xuất máy ảnh nổi tiếng thế giới kỷ niệm một thế kỷ ngày ra đời sản phẩm đầu tiên. Một trăm năm sau, Leica vẫn là một huyền thoại, một sản phẩm cao cấp. Tất cả những nhiếp ảnh gia lừng danh thế giới đều có ít nhất một máy ảnh Leica, như Henri Cartier-Bresson, Raymond Depardon, William Klein...
  • Khủng bố tại Paris : 9 người vẫn bị tạm giam (RFI) - Liên quan đến loạt khủng bố tại Paris, cho tới hôm nay 9 trong số 12 người bị câu lưu hôm thứ Sáu 16/01/2015 vẫn còn bị tạm giam. Những người này bị nghi ngờ đã hỗ trợ Amedy Coulibaly, kẻ đã sát hại một nữ cảnh sát ở Montrouge và 4 con tin tại cửa hàng thực phẩm của người Do Thái ở Vincennes.
  • Bài 47 : Một tờ hóa đơn cần thiết (RFI) - Mời quý thính giả theo dõi chương trình học tiếng Pháp trong kinh doanh : "Comment vont les Affaires ?", tìm hiểu công ty Paragem, một công ty Pháp và làm quen với Đăng Minh.
  • Thủ Tướng Nhật bản đến Tel Aviv (RFA) - Thủ Tướng Shinzo Abe của Nhật bản đã đến Tel Aviv hồi tối qua, khởi đầu chuyến viếng thăm kéo dài 3 ngày của ông ở Do Thái, trong đó có cả phần viếng thăm vùng Tây Ngạn sông Jordan.
  • Thời sự qua hình ảnh (RFA) - Philippines: 6 triệu người dự thánh lễ của Đức Giáo Hoàng, ngày 18 tháng 1, 2015
  • Biển Đông đón gió to, sóng lớn (BaoMoi) - Theo thông tin mới cập nhật từ Trung tâm khí tượng thủy văn, do ảnh hưởng của không khí lạnh nên vùng biển Đông sẽ có gió mạnh, độ rủi ro cao đối với tàu bè đi lại. Trước đó, ngày 17/1, một chiếc tàu cá đã gặp nạn do bị sóng đánh chìm ngoài bờ biển Nhật Lệ (Quảng Bình). Rất may là cả 7 ngư dân trên tàu đã bơi vào bờ thoát nạn.
  • Cú hích quốc phòng - kinh tế từ sân bay Phan Thiết (BaoMoi) - Nằm trên địa bàn chiến lược Nam Trung Bộ, Bình Thuận là địa phương có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng, và có tiềm năng về phát triển kinh tế xã hội, du lịch, sân bay Phan Thiết sau khi hoàn chỉnh sẽ là hạ tầng giao thông đảm bảo an ninh quốc phòng, góp phần bảo vệ biển Đông, hải đảo.
  • Bắc Bộ ấm dần, trời nắng và tiếp tục hanh khô (BaoMoi) - Theo Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, chủ nhật (18/1), thời tiết các tỉnh phía Bắc đang tiếp tục có xu hướng tốt hơn, nắng lên sớm với cường độ khá mạnh kéo nền nhiệt tăng, trời vẫn hanh khô nhưng ấm hơn ngày hôm qua.

Vũ Trọng Khải - “Văn hóa Tấm-Cám”

http://img.giaoduc.net.vn/Uploaded/doquyen/2012_10_13/tam-cam-1-giaoduc.net.vn.jpg

Dân tộc nào cũng có những truyện cổ tích. Truyện cổ tích được hình thành, biến đổi theo chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của mỗi dân tộc, rồi mới được "định hình". Khi "định hình", truyện cổ tích đã kết tinh được những giá trị phổ quát mang tính triết học, mỹ học và tâm linh mà dân tộc đó tôn thờ, trở thành một bộ phận cấu thành nền văn hoá của dân tộc đó.

Nhớ lại hồi học tiểu học, lớp 3 hay 4, sách giáo khoa tập đọc cho học sinh có truyện cổ tích "Tấm-Cám". Học sinh phải tập đọc và còn được thầy, cô giáo đọc hay kể lại nhiều lần với những phân tích "đắt giá", cố làm cho học sinh "hiểu sâu sắc" hơn những "giá trị" của truyện Tấm Cám như: phản ánh cuộc đấu tranh giữa cái "thiện" và cái "ác", giữa "chính" và "tà"; kết cục luôn có hậu là "cái thiện" thắng "cái ác", "cái chính" thắng "cái tà" bằng những âm mưu lừa gạt và hành vi độc ác, giống như cách hành xử của “cái ác”, nhưng không bị lên án! Mỗi khi đọc hay kể đến những lần cô Tấm bị mẹ con cô Cám bày mưu lừa gạt, hãm hại, máu căm thù trong tôi lại sôi lên sùng sục. Ngược lại, khi đọc, hay nghe đến những đoạn “cô Tấm thảo hiền” lừa và trả thù được mẹ con cô Cám, cũng bằng những thủ đoạn, mưu mô và hành vi độc ác tương tự như mẹ con cô Cám, thì lòng tôi lại hả hê, thích thù vô cùng! Đến đoạn kết, cô Tấm lừa được cô Cám nghe theo lời mình, tắm gội bằng nước sôi để trắng da nên bị chết; cô Tấm băm xác cô Cám để làm mắm, gửi về “biếu” mẹ cô Cám, thì sự độc ác của câu chuyện đạt đến tột đỉnh, nhưng bọn trẻ và có lẽ cả người lớn, lại vui mừng, sung sướng cũng đến tột đỉnh!??

Bây giờ nghĩ lại thấy rùng mình, không hiểu nổi tại sao mình lại có tình cảm căm thù và hả hê đến tột đỉnh như thế khi đọc truyện Tấm Cám? Cả câu truyện là một chuỗi những âm mưu lừa gạt, những hành vi trả thù độc ác, “lấy oán trả oán”, không có điểm dừng. Đúng là “thù muôn đời, muôn kiếp không tan; “căm hờn lại giục căm hờn, máu kêu trả máu, đầu van trả đầu” (Tố Hữu). Tuy vậy, trong lịch sử dân tộc ta, đạo Phật đã tồn tại gần như quốc đạo trong suốt gần 400 năm dưới 2 triều đại Lý, Trần, với triết lý “lấy ân báo oán”, hòng chặn đứng chuỗi âm mưu lừa gạt và hành vi độc ác của con người. Muốn lấy ân báo oán, con người phải biết sống khoan dung. UNESCO (1995) quan niệm “khoan dung là hài hòa trong khác biệt; khoan dung vừa là bổn phận đạo đức, vừa là một đòi hỏi pháp lý và chính trị”. Tuy coi đạo Phật gần như là quốc giáo, nhà Trần vẫn tôn trọng các tôn giáo khác. “Tam giáo đồng nguyên”, Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo cùng tồn tại bên nhau, không kì thị, bài xích nhau. Hơn thế nữa, sau khi chiến thắng quân Nguyên-Mông lần thứ 3, vua Trần Nhân Tông không những không đọc mà còn buộc đốt bỏ tất cả những đơn thư tố cáo, vật chứng kết tội một số quan chức đã đầu hàng, thậm chí làm tay sai cho giặc, rồi tha cho viên quan Hoàng Cự Đà đã trốn chạy quân Nguyên… Sau sự kiện này mấy trăm năm, tổng thống Hoa Kì Abraham Lincol cũng có hành vi tương tự khi kết thúc cuộc chiến Nam-Bắc Mỹ mà phần thắng thuộc về các bang miền Bắc do ông lãnh đạo.

Sự khoan dung, vị tha trong lịch sử Việt Nam có lẽ đạt đến đỉnh cao dưới thời vua Lê Thánh Tông, thể hiện trong bộ luật Hồng Đức. Luật Hồng Đức không những miễn tội cho những kẻ không tố cáo người thân (ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh, chị em ruột) phạm tội, mà còn cấm con, cháu tố cáo ông bà, cha mẹ khi họ phạm tội, trừ tội đại nghịch, giết người thân một cách độc ác; con cháu có nghĩa vụ che giấu tội cho ông bà, cha mẹ.

Đó là những điểm sáng văn hóa trong lịch sử hình thành và phát triển dân tộc và nhà nước Việt Nam. Nhưng cũng rất tiếc là phải thừa nhận rằng triết lí sống lấy oán trả oán vẫn lấn át triết lí sống lấy ân trả oán trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam. Lừa bịp và dối trá, căm hờn và trả thù một cách độc ác, nói gọn là “dối trá và độc ác” có thể được định danh là “Văn hóa Tấm – Cám”.

“Văn hóa Tấm-Cám” có lẽ bắt nguồn sâu xa từ văn hóa làng Việt. Có thể khi mới ra đời, truyện Tấm-Cám chỉ phản ánh khát vọng chiến thắng cái ác của những người yếu thế, lương thiện, mà chủ yếu là nông dân. Nhưng cùng với quá trình lịch sử phát triển của dân tộc Việt, nó đã trở thành văn hoá lúc nào không hay. Mỗi làng là một “tiểu vương quốc”, “ phép vua, thua lệ làng”. Trai, gái kết hôn theo tập tục bất thành văn “trong làng, ngoài họ” (tất nhiên vẫn có ngoại lệ). Trai làng này sang “tán” gái làng kia dễ dẫn đến ẩu đả, đổ máu giữa con trai 2 làng. Trong mỗi làng, không chỉ có những vị thuộc lớp Kì, Hào, Mục hãnh tiến về mình và tranh giành vị thế, uy danh với nhau, với làng bên, mà đến tên mõ làng cũng vậy. Thằng mõ là kẻ có chức “tệ” nhất trong một làng, mà còn có cảnh “thằng mõ làng lớn bắt nạt thằng mõ làng bé”. Mõ làng lớn phải “oai” hơn, hãnh tiến hơn các mõ làng bé. Thế thì các vị Kì, Hào, Mục ở làng lớn cũng sẽ ra oai với các vị Kì, Hào, Mục ở làng bé gấp nhiều lần bọn mõ làng. Muốn tỏ ra “oai hơn” tất phải âm mưu lừa gạt và hành động độc ác theo “Văn hóa Tấm – Cám”. Người Việt từ xa xưa và dường như vẫn tồn tại đến bây giờ cái “lí tưởng”, cái mục tiêu cao nhất, gần như duy nhất của sự học là để làm quan, chứ không phải làm doanh nhân hay khoa học gia. Bởi kẻ làm quan mới có vị thế quyền hành bắt nạt người khác, ra oai với mọi người, tự hào với dòng tộc, làng nước, để “Một người làm quan, cả họ được nhờ”. Tất nhiên, để đạt được “khát vọng” đó, từ thằng mõ đến các quan lớn, nhỏ đều phải thực hiện các hành vi “lừa bịp và độc ác”. Dường như, người ta, dù có học vấn, cao hay thấp, có địa vị hay sang hèn, đều cảm thấy sung sướng, hãnh tiến và tự hào khi làm người khác đau khổ bằng những âm mưu lừa gạt thấp hèn và hành vi độc ác của mình. Chả thế mà một anh dân phòng, giữ trật tự ở chợ, lại dám vặn cổ một người bán hàng rong; Một viên cảnh sát giao thông dám đánh chết người dân ở đồn công an chỉ vì người này mắc lỗi vi phạm luật giao thông: đi xe máy không đội mũ bảo hiểm… Bộ máy cầm quyền cai trị bằng cách làm cho người dân luôn luôn nơm nớp lo sợ trước những âm mưu lừa gạt và hành vi độc ác của kẻ có, dù chỉ một chút, quyền lực. Nhà cầm quyền dù là vua, quan dưới thời phong kiến hay quan lại dưới thời thực dân đều cai trị dân theo kiểu như vậy: Tạo ra tâm lí sợ hãi trước uy quyền, không cần biết uy quyền ấy có chính danh hay không.

Nhưng “tức nước vỡ bờ”, “con giun xéo mãi cũng oằn”, người bị cai trị đến một ngưỡng nào đó sẽ vượt qua sự sợ hãi, dám đứng lên chống lại kẻ cầm quyền. Đến lượt họ, người dân, theo “Văn hóa Tấm – Cám”, cũng dùng những âm mưu lừa gạt và hành vi độc ác để trả thù bọn cầm quyền, nhiều khi còn độc ác hơn bọn quan lại. Sự hận thù, lấy oán trả oán của người dân đối với bọn quan lại thực dân còn tệ hại, độc ác hơn đối với bọn quan lại phong kiến. Lúc đầu sự phản kháng của người dân thường bằng những câu truyện tiếu lâm, những lời nói châm biếm, chế giễu bọn quan lại, như “miệng quan, trôn trẻ”, “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”; “thằng ấy tuy là đảng viên nhưng mà tốt”; “Nó tuy là giáo sư, nhưng mà giỏi”… “Nó tuy là giám đốc, nhưng biết thương người lao động”… Nhưng khi đã vượt qua sự sợ hãi, sự uất ức của người dân biến thành những hành động độc ác, như “Trí, phú, địa, hào: Đào tận gốc, trốc tận rễ”, cất lên lời ca đầy hãnh tiến “thề phanh thây, uống máu quân thù; đường vinh quang xây xác quân thù” (Văn Cao). Tuy thế, dân tộc Việt Nam cũng đẻ ra những trí thức tinh hoa, thấy được tai hại của “Văn hóa Tấm - Cám”. Phan Chu Trinh và nhóm Nguyễn Ái Quốc ở Paris đầu thế kỉ 20 đã kế thừa văn hóa đạo Phật thời Lý-Trần, kết hợp với văn hóa phương tây “Tự do, bình đẳng, bác ái”, không muốn dùng bạo lực, đổ máu của người dân để có độc lập dân tộc, nên đưa ra khẩu hiệu “Pháp-Việt đề huề”, “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Điều đáng tiếc là, người Việt rất kính trọng chí sĩ Phan Chu Trinh, hàng vạn người dân đã dự lễ tang cụ ở Sài Gòn năm 1926, nhưng lại không chấp nhận tư tưởng của cụ. Phần lớn người Việt cho tư tưởng của cụ Phan Chu Trinh là cải lương, là ảo tưởng… Vì thế, Tản Đà đã phải thốt lên “ Dân hai mươi triệu, ai người lớn/ Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”. Họ đã dùng bạo lực để có độc lập dân tộc, mặc dù phải hy sinh tính mạng đến mức “núi xương, sông máu”, “dù có phải đốt cả dãy Trường Sơn” (Hồ Chí Minh). Nhưng khi đã thoát khỏi ách nô lệ thực dân, người ta lại tự đeo vào cổ gông cùm mới, đậm “Văn hóa Tấm – Cám”, thằng mõ làng lớn bắt nạt thằng mõ làng bé. Vì thế , lí thuyết đấu tranh giai cấp, đấu tố địa chủ diễn ra không chỉ trong mỗi làng mà cả trong mỗi gia tộc, đến mức “Ông không phải là bố tôi” (Lưu Quang Vũ). Người ta hô hào :

Giết, giết nữa, bàn tay không ngừng nghỉ

Cho đồng ruộng lúa tốt, thuế mau xong

Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít ta lin bất diệt (Tố Hữu)

Trong cải cách ruộng đất 1953-1956, con đấu tố cha mẹ, vợ đấu tố chồng, kẻ mang ơn bịa đặt tố cáo người gia ơn… diễn ra phổ biến mà điển hình tột bậc là vụ đấu tố, xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở Thái Nguyên năm 1953. Theo cuốn sách “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000” của Viện kinh tế học Việt Nam, trong cải cách ruộng đất, có tới 586.000 nạn nhân bị xử lí, 172.008 người bị giết, trong đó oan sai là 123.266 người, chiếm 71,66% số người bị giết. Lưu ý là người bị giết oan sai là theo tiêu chuẩn của nhà cầm quyền. Luật hình sự 1985 qui định con cháu phải tố cáo ông, bà, cha, mẹ, vợ chồng phải tố cáo nhau, khi cho là họ mắc tội. Lòng khoan dung, nhân bản của bộ luật Hồng Đức thời Lê Thánh Tông bị xóa bỏ. “Văn hóa Tấm – Cám” vẫn có giá trị phổ quát, trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển nhanh chóng của học thuyết “đấu tranh giai cấp, với tư cách là động lực của sự phát triển xã hội”. Bởi, theo Các – Mác, trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản 1848, “suy cho đến cùng, lịch sử loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp”. Và kết quả cuối cùng của đấu tranh giai cấp tất yếu phải là sự thiết lập nhà nước chuyên chính của giai cấp vô sản, không phải là nhà nước của toàn dân, do dân, vì dân”. Vì thế, trong những năm 1952-1954 ở Việt Bắc, giới trí thức đi kháng chiến phải “chỉnh huận” để giác ngộ lập trường giai cấp công-nông, tự nguyện “đầu hàng giai cấp công-nông”, tự lên án cha mẹ, bản thân mình là thấm đậm nền giáo dục thực dân, làm công trong bộ máy cầm quyền thực dân là phản cách mạng, có xưởng máy, đồn điền là bóc lột, học vấn càng cao, càng nhiễm độc văn hóa của thực dân, phong kiến, chỉ thích hưởng thụ cá nhân, không dám dấn thân. Ai không “tự ngộ”, tự “xỉ vả” mình thì các đồng chí sẽ giúp mình giác ngộ, bằng những ngày dài, đêm thâu thực hiện phê bình, kiểm điểm theo kiểu đấu tố xỉ vả nhau. Không tự tìm thấy khuyết điểm của mình là ngoan cố, không thành khẩn, chưa giác ngộ giai cấp, là tiểu tư sản, phải cố nghĩ ra khuyết điểm để chứng tỏ mình đã thấm nhuần học thuyết Mác-Lenin, Mao Trạch Đông….

Sau 30/4/1975, “bên thắng cuộc” (Huy Đức), đã cất những lời ca hào hùng, kiêu hãnh, sảng khoái, hân hoan… “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” (Phạm Tuyên), “Đất nước trọn niềm vui” (Hoàng Hà), “Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác” (Cao Việt Bách…). Niềm kiêu hãnh ấy và “Văn hóa Tấm-Cám” đã dẫn đến những chính sách bịp bợm và trả thù độc ác đối với “bên thua cuộc”, như chính sách cải tạo mà thực chất là tù không án đối với những người đã tham gia vào bộ máy cầm quyền của “bên thua cuộc”, thực thi chiến dịch X1, X2 đối với tư sản, tiêu diệt tầng lớp doanh nhân văn minh vừa mới hình thành trong nền kinh tế thị trường, để sau đó hơn 10 năm (1986) lại bắt đầu mở ra kinh tế thị trường hoang dại, hình thành một tầng lớp doanh nhân thân hữu, liên kết với những kẻ thoái hóa trong bộ máy cầm quyền, tạo ra các nhóm lợi ích kiểu mafia, chuyên “buôn cơ chế, chính sách”, thay vì buôn vua như Lã Bất Vi ngày xưa, dẫn đến quốc nạn tham nhũng không thể khắc phục được, đến những vụ cướp đất, làm bần cùng hóa nông dân, gây nên những “núi” oan ức thấu trời cao, cùng đất kiệt.

Bên cạnh nền “Văn hóa Tấm-Cám”, cũng có điểm sáng tuy chỉ le lói của văn hóa khoan dung, nhân bản. Văn nghệ sĩ chân chính và tài ba là những con chim báo bão, dự đoán tương lai phát triển của mỗi dân tộc. Năm 1976, bài ca “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao ra đời là một trong những tia sáng le lói ấy. Hình như ông đã sám hối, khi cất lên lời ca: “Từ đây người biết quê hương, từ đây người biết thương người; từ đây người biết yêu người” trong giai điệu valse nhẹ nhàng, du dương, êm đềm, đầm ấm. “Mùa xuân đầu tiên” lại là sự kết thúc của quá trình tự ngộ của Văn Cao, của dân tộc, đi từ triết lí lấy oán trả oán, “thề phanh thây uống máu quân thù”, “đường vinh quang xây xác quân thù” đến triết lí khoan dung “người biết thương người, biết yêu người”. Chính vì sự “mơ hồ lập trường giai cấp,” nhưng đậm tính nhân loại, nên “Mùa xuân đầu tiên” chỉ xuất hiện trên báo “Sài Gòn giải phóng” xuân Bính Thìn 1976, và phải đợi 20 năm sau, khi Văn Cao chết, nó mới được cất lên trên sàn diễn và các phương tiện thông tin đại chúng. Một chính trị gia hiếm hoi, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng đã ngộ ra như Văn Cao khi ông phát biểu, đại ý: “Ngày 30 tháng 4 nên gọi là ngày hòa bình, thống nhất nước nhà, đừng gọi là ngày giải phóng Miền Nam. Bởi vì ngày đó, có một triệu người vui, thì cũng có một triệu người buồn”.

Những hậu quả tiêu cực của xã hội ta hôm nay trên tất cả các lĩnh vực bắt nguồn từ “Văn hóa Tấm-Cám”. Đừng đổ cái lỗi ấy cho bất kỳ nhóm người nào, cho ý thức hệ nào. Bởi vì, dù là ý thức hệ nào, nó cũng chỉ là trào lưu tư tưởng của xã hội loài người, vốn rất đa nguyên, nhiều nhóm lợi ích… Tiếp thu ý thức hệ nào tùy thuộc ở văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi gia tộc và mỗi con người cụ thể. Bản thân ý thức hệ không có lỗi. Nhóm người nào, dù có ý thức hệ quốc gia hay quốc tế cộng sản đều là một bộ phận của dân tộc Việt, là kết quả của hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, của quốc gia Việt Nam, đều là “con Lạc, cháu Hồng”. Tại sao các nước quanh ta, như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanmar, India…, họ không tiếp thu học thuyết đấu tranh giai cấp? Không dùng bạo lực để chống bạo lực? Chính quyền của họ không được đẻ ra trên nòng súng như Mao Trạch Đông nói? Không lấy oán trả oán? Nhưng cuối cùng, hiện nay, họ không những giành được độc lập dân tộc trọn vẹn, mà còn phát triển, hơn ta nhiều lần, về mọi mặt. Rất tiếc là đã có một Mahatma Gandhi, một Nelson Mandela của Việt Nam, là Phan Chu Trinh, nhưng dân ta lại không chấp nhận tư tưởng của ông, nên đã không đạt được thành tựu như India và Nam Phi.

Nhưng lịch sử không có “chữ nếu” hay “giá như”. Sự kiện lịch sử chỉ diễn ra một lần duy nhất, tuy rằng người ta có thể viết nhiều lần về cùng một sự kiện ấy, dưới góc nhìn khác nhau. Phê phán nhau lúc này là “xa xỉ”. Phải trở lại tư tưởng Phan Chu Trinh: mọi tầng lớp xã hội sống đề huề trong khoan dung, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Có dân trí và dân khí cao, con người sẽ vượt qua nỗi sợ hãi, để xây dựng lại đất nước từ nền móng, theo xu hướng thời đại, hội nhập với thế giới văn minh. Bởi dân nào chính phủ ấy, chứ không phải ngược lại. Cho nên tầng lớp trí thức tinh hoa phải dấn thân trong sự nghiệp khai dân trí, xóa bỏ “Văn hóa Tấm –Cám”, xây dựng văn hóa khoan dung, nhân bản, mọi người đều thắng. Hãy khép lại cánh cửa của quá khứ hàm hồ [Dương Thu Hương] và mở ra cánh cửa của tương lai nhân bản và dân chủ cho Việt Nam. Nelson Mandela, sau 27 năm bị tù đày, đã rất chí lí và sâu sắc, khi nói, đại ý: “Bước ra khỏi cánh cửa nhà tù, nếu tôi vẫn mang theo lòng hận thù, thì tôi vẫn là một tù nhân”. Hòa giải, tha thứ và khoan dung để cùng nhau xây dựng lại (reengineering hay perestroika, không phải tái cấu trúc- restructuring) đất nước về mọi mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường tự nhiên và nhân văn. Đó là con đường duy nhất đưa Việt Nam đến vị thế sánh vai cùng các nước phát triển trong khu vực và thế giới./

P/S: Không có quốc gia nào chọn được quốc gia láng giềng. Không con người nào có thể chọn được sắc tộc, dân tộc và cha mẹ. Nhưng con người có thể chọn được quốc tịch. Mà những con người có khả năng tự chọn quốc tịch cho mình hầu hết là người thông minh thuộc giới tinh hoa, là nguyên khí của quốc gia. Thế hệ hôm nay phải làm hết sức mình để con cháu chúng ta không buộc phải chọn cách “bỏ phiếu bằng chân” để thay đổi quốc tịch của mình.

Tháng 1/2015
Vũ Trọng Khải
Tác giả gửi BVN
(Bauxite)

Báo chí vẫn là công cụ của đảng

 Nhà báo Hữu Thọ, nguyên Trưởng ban Tư tưởng văn hoá Trung ương
Nhà báo Hữu Thọ, nguyên Trưởng ban Tư tưởng văn hoá Trung ương
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI Đề án Quy hoạch báo chí đến năm 2025 là một vấn đề trong chương trình thảo luận. Theo đó, báo chí Việt Nam tiếp tục được nhấn mạnh là công cụ tuyên truyền của đảng, và không cho phép các nhóm lợi ích chi phối báo chí
Căn bản vẫn là độc tài, độc quyền về báo chí
Nhà báo Hữu Thọ, nguyên Trưởng ban Tư tưởng văn hoá Trung ương, cho biết đây là lần đầu tiên Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản bàn đến quy hoạch cho báo chí. Tuy nhiên, theo nhận định thì những luận điểm trong đề án này không hề khác biệt so với những quan điểm vốn có của đảng Cộng sản Việt Nam đối với các cơ quan truyền thông trong nước.
Nhận định về điều này, tiến sĩ, nhà báo Phạm Chí Dũng nhận định:
"Họ vẫn nói như trước và từ bao nhiêu năm rồi. Thực chất là không để tư nhân hoá báo chí, vì họ rất sợ tư nhân hoá sẽ dẫn đến đa chiều, đa diện, và dẫn đến đa nguyên, đa đảng. cho nên, một nền chuyên chính báo chí hữu sản chứ không phải một nền chuyên chính báo chí kiểu vô sản là cái mà họ đang cần và họ luôn giữ độc tài, độc quyền về báo chí. Chừng nào họ không ở chân tường thì họ chưa buông báo chí đâu."
Đề án về quy hoạch báo chí cho rằng các cơ quan truyền thông của Việt Nam chưa được tổ chức hợp lý, hoạt động xa rời tôn chỉ, hoạt động và đi vào hướng giật gân, câu khách.
Ông Phạm Ngọc Chênh, blogger từng đoạt giải nhà báo công dân của tổ chức Phóng viên Không biên giới, cho rằng đề án này thể hiện tính bảo thủ và giáo điều của đảng Cộng sản. Theo ông, nó cũng nhằm tái khẳng định lại vai trò kiểm soát của đảng Cộng sản đối với báo chí. Ông nói:

"Thực ra, báo chí lâu nay vẫn nằm trong quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng, tới bây giờ khẳng định lại sự lãnh đạo đó thì để nhắc nhở mọi người rằng đảng vẫn còn tiếp tục nắm báo chí. Chuyện quy hoạch mục đích cũng là sắp xếp cho gọn bộ máy báo chí. Nó nhiều quá, nó lộn quá, bây giờ quy hoạch, sắp xếp lại."
Các nhóm lợi ích chưa đủ mạnh
Trong một bài báo đăng trên tờ New York Times hồi tháng 11 năm ngoái, cựu tổng biên tập tờ báo Thanh Niên, ông Nguyễn Công Khế, nhận định rằng báo chí Việt Nam đang phát triển chóng mặt trong vòng 5 năm qua, tới mức giới chức Việt Nam khó kiếm soát. Theo ông, điều đó đã dẫn đến những hệ quả được cho là nghiêm trọng, chẳng hạn như người đọc trẻ tuổi tìm đến những nguồn tin khác, ngoài nguồn tin chính thống của nhà nước. Cũng theo đề án nói trên, ban chấp hành trung ương tái khẳng định việc không để các nhóm lợi ích chi phối báo chí.
Theo ông Huỳnh Ngọc Chênh, điều này thực ra không cần nói đến trong đề án vì ở Việt Nam không hề có nhóm lợi ích nào đủ sức gây ảnh hưởng tới giới truyền thông ở quy mô lớn, có chăng chỉ là ảnh hưởng nhỏ, trong một khoảng thời gian nhất định. Ông nói:
"Chưa có tập đoàn nào náo loạn được báo chí hết chưa có doanh nghiệp nào, nhóm lợi ích nào mà lũng loạn báo chí được một cách công khai. Trừ những chuyện lũng đoạn nhỏ mà lũng đoạn nhỏ thì bất cứ tờ báo nào cũng có thể bị. Người ta có thể đưa tiền bằng cách này hoặc bằng cách khác thông qua quảng cáo để đăng được một số thông tin này thông tin khác theo ý người ta."
Ông Phạm Chí Dũng thì cho rằng có sự manh mún phát triển của nhóm lợi ích trong vòng 2-3 năm trở lại đây và nó mang tính chính trị nhiều hơn. Ông nói:
"Đó là khái niệm những lợi ích đang chi phối tờ báo, không chỉ vì lí do kinh tế mà cả về lý do chính trị. Tôi nghĩ rằng đó là một trong những hàm ý mà bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam họ đang đề cập tới, đang lo ngại là nhóm lợi ích báo chí và đang lấn sang những câu chuyện về mặt chính trị."
Ông lấy ví dụ về sự ra đời của trang blog Chân Dung Quyền Lực đang làm mưa làm gió trong công luận thời gian gần đây. Trang blog ẩn danh này liên tục đưa tin về những khối tài sản khổng lồ của các vị tai to mặt lớn trong chính quyền Việt Nam, đi kèm với nó là những bằng chứng rõ ràng, khiến người ta khó có thể nghi ngờ tính xác thực của nó.
Ông Phạm Chí Dũng nhận định:
"Có thể bằng cách nào đó có thể coi đó là một nhóm quyền lực chi phối báo chí, chi phối mạng xã hội nhưng mà không phải để phục vụ cho mục tiêu tạo ra những diễn đàn dân chủ, phản biện và các ý kiến trái chiều mà để phục vụ cho công cuộc đấu đá lẫn nhau, để tranh giành quyền lực về mặt chính trị."
Đề án này cho thấy một tương lai tăm tối cho báo chí Việt Nam, vốn đã không mấy sáng sủa.
Bảng xếp hạng tự do báo chí năm 2014 của tổ chức Phóng viên Không biên giới cho thấy Việt Nam đứng thứ 174 về tự do báo chí. Báo cáo của tổ chức Freedom House trong năm 2014 cũng cho thấy Việt Nam là một trong những môi trường tồi tệ nhất đối với các nhà báo, nhất là những cây viết tự do không muốn bị sai khiến bởi Ban Tuyên giáo Trung ương, cơ quan được cho là tổng biên tập duy nhất của tất cả các cơ quan truyền thông của Nhà nước.
Hải Ninh
(RFA)

Nhân tài của Đảng đang ở đâu?

                                             Dàn lãnh đạo của Đảng ra mắt tại Đại hội 11
Có phải là anh Nguyễn Minh Triết, mới 24 tuổi mà đã chức trọng quyền cao ngồi vào ban lãnh đạo cả một tỉnh?
Có phải là ông Nguyễn Bá Thanh, người mà thành tích, công lao đã được người dân Đà Nẵng biết ơn và ghi nhận?
Kẻ lên người xuống
Điều trớ trêu là đúng lúc Trung ương Đảng họp để tìm kiếm nhân tài thì người được cho là có tài lại đang mang bệnh hiểm nghèo.
Phải nói chưa từng thấy quan chức nào ở Việt Nam mà tình hình ốm đau phải họp báo để trấn an dư luận đến như vậy.
Lẽ nào đối với người dân, hai trăm ủy viên trung ương đang họp bàn chuyện quốc gia đại sự cũng không đáng quan tâm bằng bệnh tình sức khỏe của một vị trong số đó?
Người dân cầu mong cho ông Thanh bình an khỏe mạnh để ra gánh vác việc dân việc nước. Họ tin ông là người xứng đáng cầm cương chèo lái đất nước trong lúc khó khăn hiện nay.
Nhưng Trung ương Đảng có lẽ không đồng ý.
Ngay cả khi được Tổng bí thư hết lòng hậu thuẫn mà ông Thanh còn không được Trung ương cho vào Bộ Chính trị nữa là giờ đây khi mà ông đã đau yếu như vậy.
Khác với ông Thanh tương lai đã vào ngõ cụt, con đường thăng tiến của anh Nguyễn Minh Triết nhiều khả năng sẽ tiếp tục thênh thang bằng phẳng.
                                                 Anh Nguyễn Minh Triết là nhân tài của đất nước?
Trong khi bạn bè trang lứa học trắng con mắt, chạy mòn cả dép để tìm việc kiếm tiền thì anh Triết du học về là vào thẳng Trung ương Đoàn chẳng cần phấn đấu rèn luyện chi cả.
Được đưa về Bình Định làm lãnh đạo Đoàn, vừa ngồi xuống ghế cấp phó anh Triết đã lên thế chỗ bí thư. Giờ đây theo chỉ thị của Trung ương Đảng anh đã đường hoàng nằm trong ban lãnh đạo tỉnh.
Có lẽ anh Triết có tài năng xuất chúng hơn người chăng? Chằng phải có tờ báo có con mắt tinh đời nào đó đã nhìn thấy ở anh 'dáng dấp lãnh đạo' hay sao?
Không rõ với tài năng như thế anh Triết có nằm trong diện vừa được Trung ương quy hoạch cho các khóa sau hay không? Nhưng với tốc độ thăng tiến như vậy thì chẳng mấy chốc anh sẽ đuổi kịp người anh trai Nguyễn Thanh Nghị để vào Trung ương.
Rõ ràng Đảng rất tin tưởng gia đình anh. Không chỉ hai anh em được Trung ương giao trọng trách mà thân phụ hai anh, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, còn được Trung ương tín nhiệm cao nhất như lời Giáo sư Carl Thayer dẫn nguồn tin riêng của ông xác nhận với BBC.
Đúng là tài thì không đợi tuổi. Nếu đã có tài thì trẻ như anh Triết vẫn là tài mà đã dại thì có khi đến 70 tuổi vẫn còn dại. Nếu anh Triết, anh Nghị đúng tuổi trẻ tài cao thì quả là may cho đất nước, phúc cho dân tộc vậy.
Nhưng ngẫm ra một đất nước có tới 90 triệu dân mà nhân tài tập trung hết ở gia đình thủ tướng thì nên mừng hay lo? Bởi lẽ có mấy ai đồng trang lứa được như anh em Nghị, Triết?
Có người nhưng dân không biết
                                Sự nghiệp chính trị của ông Nguyễn Bá Thanh coi như đã hết?
Ông Thanh hay anh Triết nhiều khả năng không nằm trong ‘tầm phủ sóng’ của Hội nghị 10 vừa qua. Đảng chọn ai thì đã lên danh sách nhưng có điều dân chưa được biết mà thôi.
Nhân sự được quy hoạch chừng nào bầu lên chính thức dân sẽ biết nhưng lấy phiếu tín nhiệm đã có kết quả xong xuôi hết rồi mà người dân vẫn không được biết là sao?
Mà trong những người được lấy tín nhiệm lần này có những vị chắc chắn sẽ trở thành lãnh đạo chủ chốt của đất nước trong năm, mười năm tới. Như thế thì người dân lại càng phải biết.
Chẳng thà Đảng không cầm quyền thì đó chuyện riêng của Đảng thì người dân chẳng cần quan tâm làm gì, nhưng đằng này việc của Đảng nhưng ảnh hưởng đến vận mệnh của người dân và tương lai đất nước thì đương nhiên họ phải biết chứ?
Mọi mặt đời sống đất nước cái gì Đảng cũng đòi lãnh đạo hết thì khi đụng tới không có cái lý gì là việc riêng của Đảng được.
Khi lòng dân hướng về ông Nguyễn Bá Thanh như thế, mong ông lên làm lãnh đạo như thế cho thấy họ đã nản lòng với hiện trạng đất nước như thế nào và muốn mình có thể chọn ai đó lên xoay chuyển tình hình tham nhũng, cải thiện kinh tế xã hội và có cách đảm bảo chủ quyền quốc gia đến mức nào.
                                  Hội nghị 10 chuẩn bị nhân sự cho Đại hội 12 của Đảng
Nhưng trong chế độ một đảng cầm quyền thì họ dù có muốn mấy cũng không được. Chỉ đành phó mặc mọi sự cho Đảng. Đảng có chọn ai họ cũng không nói gì được và bây giờ ngay cả việc Đảng đánh giá lãnh đạo thế nào họ cũng không được biết luôn!
Mà kết quả tín nhiệm có gì phải giấu? Các vị lãnh đạo ăn lương của dân, dân đã không trực tiếp đánh giá được thì họ phải có quyền biết các vị được đánh giá thế nào chứ? Bên Mỹ, bên Pháp các tổng thống đôi khi vẫn bị công bố kết quả được lòng dân quá thấp đấy thôi?
Mà giấu thì liệu có giấu được trong thời buổi thông tin mạng này? Gần 200 người biết chứ nào phải người một, người hai. Trước sau gì cả xã hội đều biết.
Cũng kết quả đấy nhưng giữa việc người dân biết là do Đảng cho họ biết với việc họ biết trong khi Đảng vẫn giấu có ý nghĩa khác nhau hoàn toàn.
Chưa kể cảm giác bị gạt ra bên lề là cảm giác rất ức chế. Người dân sẽ thấy mình ở một phía còn bên kia là Đảng có quyền. ‘Đảng của dân’ nhưng đang ngày càng đẩy dân ra xa Đảng.
Cho nên đừng nói tại sao dân quan tâm đến ông Thanh bị ốm hơn là Trung ương đang họp. Họp kín như bưng có cho dân biết gì đâu mà quan tâm? Mà quan tâm thì làm được gì?
Cơ chế chọn người

  Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói tại buổi bế mạc Hội nghị 10 Đảng sẽ thu hút người tài ra phục vụ
Khi không thể tác động gì đến việc của Đảng thì người dân chỉ còn biết mong mỏi Đảng chọn được người tài đức để cuộc sống của họ đỡ được khó khăn phần nào.
Tôi thì không biết Trung ương đã cơ cấu những ai cho Bộ Chính trị khóa tới cũng như tín nhiệm ai trong Bộ Chính trị, nên không rõ Đảng đã chọn được người tài đức như thế nào.
Tuy nhiên nếu trừ hết số ủy viên Bộ Chính trị đến tuổi nghỉ hưu thì số ủy viên còn lưu nhiệm chỉ vừa hơn năm ngón trên một bàn tay. Cho nên sẽ không có nhiều lựa chọn cho những chức danh lãnh đạo chủ chốt trong khóa tới.
Đành rằng trong trường hợp thiếu người như thế thì sẽ có biệt lệ cho chức danh Tổng bí thư. Sẽ có ai đó đến tuổi về hưu nhưng sẽ được cho ở lại.
Nhưng từ trường hợp ông Nguyễn Phú Trọng đã có biệt lệ để rồi ông làm tổng bí thư chỉ một nhiệm kỳ, bây giờ nếu hai khóa liên tục đều phải dùng biệt lệ thì chỉ càng cho thấy Đảng đang cạn kiệt người tài mà thôi.
Đó là chưa nói biệt lệ về nguyên tắc dành cho người xứng đáng làm tổng bí thư chứ không phải vì thiếu tổng bí thư mà tạo điều kiện cho ai đó tham quyền cố vị.
              Các đại biểu đi dự Đại hội Đảng có được quyền quyết định đối với nhân sự của Đảng?
Ở đây công tác nhân sự của Đảng liệu có vấn đề gì không?
Ai có quyền quyết định nhân sự trong Đảng? Đảng viên quần chúng chắc chắn là không rồi còn đảng viên đi dự Đại hội cũng chưa chắc có.
Chẳng phải từ Đại hội toàn quốc mà bầu ra Ban Chấp hành trung ương, Bộ Chính trị và Tổng bí thư?
Nhưng cũng như dân đi bầu Quốc hội, đảng viên đi dự Đại hội chỉ có thể bầu ra Trung ương từ danh sách có sẵn. Và cứ thế Trung ương bầu ra Bộ Chính trị và Tổng bí thư cũng từ một danh sách và hầu hết các trường hợp bầu tổng bí thư chỉ có một ứng cử viên.
Và ngoài danh sách có sẵn đó, không đảng viên nào có quyền ra ứng cử hay đề cử ai khác.
Có thể thấy quyền lựa chọn của đảng viên hết sức hạn chế, còn quyền quyết định nằm trong tay những người soạn ra danh sách để bầu kia.
Đó chẳng phải là cái danh sách mà Hội nghị 10 đã bàn bạc để đưa ra Đại hội 12 sao? Và các ủy viên trung ương cũng chỉ bàn bạc trên cơ sở những gì mà Bộ Chính trị và Tổng bí thư định hướng.
                   Đây sẽ là thành viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong khóa tới?
Nói như thế để thấy dân chủ trong Đảng chỉ là có lệ để cho quyền lực tập trung về một mối. Mọi việc trong Đảng không phải mở ra cho tất cả đảng viên tham gia mà là ở trên quyết định xuống dưới, khóa trước quyết định khóa sau và nếu một lãnh đạo nào đó đủ mạnh thì có thể một mình quyết định tất cả mọi vệc trong Đảng.
Ở một Đảng mà lúc nào cũng ám ảnh về 'đoàn kết, thống nhất' thì nguyên tắc 'tập trung trên dân chủ' này chính là cơ sở loại trừ tất cả những đảng viên nghĩ khác và làm khác. Nhưng mặt khác nó là tường thành chống lại sự đột phá và là điều kiện sinh ra chuyên chế.
Cho nên mới có chuyện Mao Trạch Đông hay Lê Duẩn có thể cầm quyền suốt từng ấy năm hay một mình Đặng Tiểu Bình hay trong chừng mực nào đó là Lê Đức Thọ có thể một tay quyết định nhân sự lãnh đạo của Đảng.
Cũng do cách làm nhân sự như vậy nên không khó chi để Trung Quốc có thể can thiệp nếu có ai đó họ không vừa ý. Chỉ cần tác động được vào giới chóp bu của Việt Nam là đủ.
Dĩ nhiên quyền quyết định trong tay một người hay một nhóm người thì vẫn có thể chọn ra người tài. Tuy nhiên mỗi cá nhân khó tránh khỏi các yếu tố lợi ích, sở thích hay cảm tính. Chỉ có bầu chọn với số đông thì mới loại bỏ được hoàn toàn các yếu tố này.
Dàn xếp hay bầu cử?
                               Cả ba ông Trọng, Sang, Dũng đều đến tuổi về hưu tại Đại hội 12
Rõ ràng khi mọi quyết định đã có từ trên đưa xuống thì việc bỏ phiếu chẳng còn giá trị bao nhiêu. Nói cách khác công tác nhân sự trong Đảng chín phần dàn xếp và chỉ một phần bầu cử.
Mà hễ dàn xếp thì chắc chắn dính đến đấu đá, phe phái.
Ở các đảng nước ngoài, các phe phái trong đảng có đấu đá thì cũng đấu công khai để bầu lãnh đạo, còn trong Đảng Cộng sản Việt Nam, việc đấu đá được chuyển vào đằng sau hậu trường.
Cho nên nói sao đảng nước ngoài bầu bán gay cấn như thế còn Việt Nam bầu cử luôn êm đềm tốt đẹp. Có ai biết đằng sau đấy có khi còn gay cấn khốc liệt hơn?
Cũng chính vì dàn xếp bí mật nên mới tạo lỗ hổng cho sự ám muội. Chẳng hạn như gần đến Hội nghị 10 bỗng xuất hiện trang 'Chân dung quyền lực' với những thông tin có thể đánh đổ tiền đồ của nhiều vị tai to mặt lớn.
Tôi không rõ nó có tác động đến đâu đến kết quả lấy phiếu tín nhiệm. Tuy nhiên ở cách vận động tranh cử, nếu ai đó có thắc mắc nghi ngờ thì có thể chất vấn công khai để người khác giải trình, chứ không nên chơi trò ném đá giấu tay như vậy.
Tranh cử công bằng thì chỉ có khả năng mới là yếu tố quyết định thắng lợi. Còn việc dàn xếp mặc dù cũng tính đến tài năng nhưng còn có chỗ cho thủ đoạn, luồn lách hay tranh đoạt. Người được chọn chưa chắc đã là người tài nhất mà có khi là người gian nhất.
                                Các lãnh đạo Đảng Cộng hòa ở Mỹ đang tranh luận công khai
Đó là chưa kể các đảng phái nước ngoài không tự nhiên có quyền lực nên phải bầu cho người lãnh đạo đủ tài năng để đưa đảng của họ lên nắm quyền còn ở Việt Nam bầu cho ban lãnh đạo Đảng cũng là bầu cho người đấy có quyền lực nên không tránh khỏi khả năng bầu cho người nào đấy lên nắm quyền có lợi cho mình.
Vậy Đảng có thể học cách tranh cử công khai được không?
Nên nhớ đảng phái các nước gốc là sự cạnh tranh nên lẽ tự nhiên họ cũng áp dụng nguyên tắc cạnh tranh vào trong đảng của họ trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam đã ôm trọn quyền lực chưa bao giờ biết cạnh tranh nên tự họ cũng hoạt động theo cách sắp xếp quyền lực. Muốn trong Đảng có tranh cử công khai thì chẳng khác cá lên trên bờ hay chim bơi dưới nước.
Không chỉ cơ chế chọn người của Đảng có vấn đề mà chính bản thân Đảng cũng có giới hạn trong việc sử dụng hiền tài.
Một Đảng chủ trương chuyên chính vô sản luôn đặt yêu cầu trung thành với chế độ lên trên hết mà người cộng sản thì chưa chắc đã là người tài và người tài thì không phải ai cũng là cộng sản.
Kiểu dùng người như thế lãng phí tài năng đất nước không biết bao nhiêu mà kể!
Người xưa có câu 'Hiền tài là nguyên khí quốc gia' và 'Cầu hiền tài như khát nước'. Một đất nước dù mất hết, dù không có gì nhưng chỉ cần có người tài. Hãy xem Lý Quang Diệu đã làm cho Singapore khác biệt như thế nào?
Trong khi đó, Việt Nam vốn 'hào kiệt đời nào cũng có', đã hòa bình thống nhất tròn 40 năm mà sao vẫn lẹt đẹt đi sau người ta?
Chỉ sợ không có người tài. Chứ còn có mà không dùng hoặc không biết dùng thì quá xót xa.
Đảng mà không có người tài thì sẽ ngày càng lụn bại. Đất nước mà không có người tài thì đất nước đó coi như mạt vận.
Nguyễn Lễ
(BBC)

Niềm tin VN-TQ "chưa bao giờ phục hồi"

Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc (thứ ba từ trái sang) trong lễ kỷ niệm 65 năm thành lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước tại Bắc Kinh
Niềm tin giữa Việt Nam, Trung Quốc "chưa bao giờ" phục hồi kể từ khi bị đổ vỡ cuối những năm 1970, theo nhận định của một nhà quan sát.
Ý kiến trên được nghiên cứu gia Dương Danh Dy, cựu Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 16/1.
Nhận định của ông Dy được đưa ra giữa lúc Việt Nam và Trung Quốc kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (18/1/1950-18/1/2015).
Trong cuộc họp báo tại Bắc Kinh hôm 14/1, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ nhấn mạnh Trung Quốc là "láng giềng lớn" và là "đối tác quan trọng của Việt Nam" dù thừa nhận "quan hệ hai nước gặp một số khó khăn", báo Dân Trí đưa tin.
Cũng theo Dân Trí, ông Thơ đã kêu gọi truyền thông hai nước "tăng cường tuyên truyền tích cực về quan hệ Viêt - Trung", nhất là cho giới trẻ.
Trong khi đó, ông Thơ được Tân Hoa Xã dẫn lời khẳng định "Việt Nam sẽ không cùng một bên thứ ba kiềm chế Trung Quốc".
BBC: Nói một cách công bằng, mối quan hệ ngoại giao với Trung Quốc đã mang lại cho Việt Nam những lợi ích gì trong suốt 65 năm qua, thưa ông?
Ông Dương Danh Dy: Trong cuộc chiến chống Pháp, Mỹ và xây dựng ở miền Bắc sau này, phải nói là nhân dân Trung Quốc đã giúp chúng tôi rất nhiều.
Họ giúp người Việt ngay cả khi người Trung Quốc khi đó ăn không đủ no.
Tôi ở Trung Quốc trong thời gian đó, có một lần hỏi chuyện một cán bộ quen tôi, họ nói phải để dành 4-5 năm tem phiếu mới có được xe đạp.
Vậy mà họ vẫn viện trợ cho Việt Nam mỗi năm mấy trăm nghìn xe đạp để thồ hàng hóa vào Nam.
Sự giúp đỡ của nhân dân Trung Quốc trong cả những năm họ thiếu thốn nhất, khan khổ nhất cần phải nhớ.
Không nên vì sự thù hận mà quên những điều đó.
Niềm tin "chưa bao giờ" khôi phục
Làm sao tránh va chạm, xung đột được, khi chúng tôi ở với nước láng giềng có tham vọng bá quyền ngày càng lớn
Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy
BBC: Sau hàng loạt các xung đột kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, theo ông thì đã có bao giờ hai bên thực sự khôi phục được niềm tin?
Ông Dương Danh Dy: Chưa bao giờ, nhất là sau khi họ mang mấy chục vạn quân qua đánh bất ngờ rồi tàn sát.
Tôi lúc đó đang làm bí thư thứ nhất của đại sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh. Đến tháng 6 năm 1979 tôi được đồng chí đại sứ cho về Việt Nam công tác một thời gian.
Lúc đó tôi liên hệ bên quân đội dẫn tôi lên Thị xã Lạng Sơn và Chi Lăng.
Tôi không thể tin vào mắt mình, tất cả là bình địa, cây cối cũng không còn, đường sắt cũng không còn.
Dân ở đó họ nói tôi là sự tàn phá của Trung Quốc không thua gì B52 của Mỹ.
BBC: Chỉ trong 65 năm kể từ khi thành lập quan hệ ngoại giao, hai nước đã trải qua nhiều lần xung đột. Không biết từ đây cho đến 65 năm tới, có còn cuộc xung đột nào khác, thưa ông?
Ông Dương Danh Dy: Làm sao tránh va chạm, xung đột được, khi chúng tôi ở với nước láng giềng có tham vọng bá quyền ngày càng lớn?
Trong khi chúng tôi ngày càng trưởng thành hơn, biết bảo vệ độc lập của mình hơn?
Tôi nghĩ chỉ có những người nằm mơ mới không nghĩ là có chuyện đó thôi, nhất là khi chuyện biển đảo đang rất gay go.
                            Cuộc chiến biên giới năm 1979 đã để lại nhiều tổn thất cho cả hai bên
'Không đối đầu tay đôi'
BBC: Trong buổi họp báo hôm 14/1 tại Bắc Kinh, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, ông Nguyễn Văn Thơ tuyên bố 'Việt Nam sẽ không cùng một bên thứ ba chống lại Trung Quốc'. Nhưng nếu xét những động thái gần đây giữa Việt Nam với Hoa Kỳ cũng như giữa Việt Nam với các đối tác của Hoa Kỳ trong khu vực như Nhật Bản, Philippines, có thật là Việt Nam đang không cùng với một bên thứ ba chống Trung Quốc?
Ông Dương Danh Dy: Ông đại sứ nói thì là chuyện của ông đại sứ. Việt Nam không bao giờ đối đầu tay đôi cả.
Cách đây hàng trăm, hàng nghìn năm, thế giới chưa thành thể thống nhất như bây giờ, chúng tôi phải một mình chống Trung Quốc.
Nhưng bây giờ thì không có lý do gì chúng tôi không thể sử dụng sức mạnh của các lực lượng tiến bộ để ủng hộ mình.
Tôi nghĩ rằng Việt Nam sẽ ở vào thế gần giống trước đây, khi chúng tôi vừa phải với Trung Quốc, vừa phải chơi với Liên Xô để lấy Liên Xô chống Trung Quốc, cũng giống như sắp tới vừa phải chơi với Trung Quốc, vừa phải chơi với Mỹ.
BBC: Ông Thơ cũng nói truyền thông hai nước cần tuyên truyền tốt đẹp về mối quan hệ giữa hai nước, nhất là cho giới trẻ. Theo ông thì điều này có thực tế, trong bối cảnh hiện nay?
Ông Dương Danh Dy: Tôi từng làm đối ngoại nên tôi biết khi nào thì nhà ngoại giao nói gì. Có khi là không thật đâu.
Trong thời gian ngắn sắp tới thì quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc không thể nào tốt lên, dù Việt Nam có muốn cũng không được,
(BBC)

Người Việt 'đã sợ hãi từ lâu'

                        Ông Menras Andre hay Hồ Cương Quyết trong buổi thảo luận hôm 15/01
Ông Menras André hay Hồ Cương Quyết, người mang hai quốc tịch Pháp – Việt, cho rằng việc người Việt Nam không xuống đường tuần hành tự do “không phải vì họ sợ, không phải vì họ hèn, mà vì những nguy cơ trước một chế độ cảnh sát”.
Trả lời câu hỏi liệu người Việt do sợ hãi mà không lên tiếng trước bất công trong chương trình Bàn tròn thứ Năm hôm 15/01 về tự do ngôn luận sau vụ tấn công tòa báo Charlie Hebdo (xem video thảo luận qua YouTube: http://bit.ly/1y4iIuc và Google+ http://bit.ly/1B9Jfpg), ông André phân tích:
“Sự sợ hãi từ thời xưa, hồi trước năm 1975 ở Sài Gòn, tôi đã sống qua nó, tôi đã thấy nhiều người sợ hãi mà dám nói xấu về chế độ Nguyễn Văn Thiệu, là điều rất nguy hiểm.
“Mà bây giờ, dám “nói xấu” chế độ cộng sản này cũng rất nguy hiểm. Như đoạn trước tôi có nói rằng cái gen tự do của dân tộc Pháp đã mọc rễ ra sao, nhưng trong cái gen của dân tộc Việt Nam, sự sợ hãi không phải từ hôm qua, mà từ mấy thế kỷ rồi.”
Ông André nói từng chứng kiến tận mắt ‘côn đồ do chế độ thuê’ để đàn áp người biểu tình, và nhiều người bị ‘ném đá’, đẩy vào đồn công an trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Sài Gòn.
“Nếu người Việt Nam không xuống đường đi biểu tình thì không phải vì họ sợ, không phải vì họ hèn, không bao giờ, mà vì nguy cơ trước một chế độ cảnh sát, cảnh sát toàn diện.
“Người dân thường không có tổ chức, không có ai bảo vệ. Nên họ phải suy nghĩ rất kỹ trước khi đi, và có khi đi là liều, không phải chỉ cho riêng họ mà cho cả gia đình,” ông Hồ Cương Quyết nói.
Ông Nguyễn Văn Huy tham gia chương trình từ Paris cũng cho rằng, người Việt Nam phải chịu di sản lịch sử nặng nề về vấn đề tự do, và tâm lý phục tùng đã “ăn sâu vào trí óc người Việt”.
“Hơn nữa về văn hóa, ở Việt Nam cái gì cũng liên quan đến gia đình. Tôi cũng có một thời chống đối chế độ cộng sản sau năm 1975, tôi thấy cái giá mà gia đình phải trả rất cao.”
Nhà nghiên cứu về dân tộc học phân tích, gia đình chính là trở ngại đầu tiên khiến người Việt không đấu tranh, và do chính sách lý lịch của Việt Nam – được ông so sánh với chế độ ‘tam tộc’ của thời phong kiến. (Xem video thảo luận qua YouTube: http://bit.ly/1y4iIuc và Google+ http://bit.ly/1B9Jfpg).
“Nếu họ đấu tranh chống lại một chế độ bạo quyền thì gia đình họ sẽ phải trả cái giá đó, mà gia đình không phải chỉ là cá nhân tôi, cha mẹ tôi, hay con cháu của tôi mà cả những người thân thuộc của mình. Chính vì vậy mà họ rất sợ.
“Hành trình giành tự do cho con người phải được tập dượt thường xuyên. Tự do không phải tự nhiên mà có, đây là cuộc đấu tranh trường kỳ qua nhiều thế hệ,” ông Huy nói.
Bình luận về việc chính quyền Việt Nam lên án hành động tấn công tòa báo Charlie Hebdo ‘dã man’, nhưng vẫn đàn áp blogger từ trong nước, anh Nguyễn Tiến Trung nói:
“Dùng súng bắn người là dã man, nhưng tôi cho rằng, việc bắt những nhà văn, những người nói lên tiếng nói trung thực về đất nước mình, nói những gì mình thực sự nghĩ về tình hình đất nước chứ không phải nói xấu, nên cần phải có định chế tòa án độc lập xét xử.”
‘Không thể lật đổ’ tự do

Chuyên viên nghiên cứu của Viện nghiên cứu Đông Á ở Lyon nói ông và cả gia đình cũng xuống đường sau vụ tấn công Charlie Hebdo: “Khi tự do ngôn luận bị tấn công thì cần phải phát biểu ý kiến về điều đó.”
“Người Pháp muốn tập trung với nhau để lên tiếng rằng không thế phá vỡ tự do ngôn luận trên đất nước mình. Đó là giá trị văn hóa Pháp, một nét văn hóa Pháp mà không thể bị lật đổ,” ông Francois Guillemot nói thêm.
Theo giải thích của ông Guillemot, Charlie Hebdo là biểu tượng của phong trào 1968 của Pháp, là thế hệ “có ‎y’ kiến trào phúng mạnh mẽ về chính trị, chế nhạo hoặc chỉ trích mạnh mẽ những ‎y’ kiến bảo thủ. Với tôi, người Pháp xuống đường là dĩ nhiên. Nét trào phúng của Pháp bị tấn công quá dữ, người ta phải có phản ứng nào đó, tập trung với nhau để nói rằng mình không sợ hãi sự khủng bố đó.”
Tuy nhiên, trong số những người xuống đường ở Pháp không phải ai cũng đồng tình với cách châm biếm của Charlie Hebdo, nhà văn Thuận bình luận. “Nhưng họ hiểu rằng khủng bố đã đụng đến quyền tự do ngôn luận. Bảo vệ Charlie Hebdo lúc này cũng là bảo vệ chính họ.”
Và với người Pháp, tự do quan trọng như ‘ánh sáng’, ‘như oxy’, ông Hồ Cương Quyết nói, nhưng tự do của Pháp chỉ có thể có được qua lịch sử đấu tranh lâu dài, từ thời Cách mạng 1789 và từ đó đưa ra tuyên ngôn độc lập với ba tiêu chí quan trọng nhất: Tự do, Bình đẳng, Bác ái.
Nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huy, phụ trách trang ethongluan.org so sánh, “khi vừa qua Pháp năm 1983, sang được một đất nước tự do tôi rất mừng. Và tôi thấy quan trọng nhất trong tự do ở Pháp là tự do tư tưởng.
“Người ta dạy cho đứa trẻ từ lúc còn nhỏ quyền tự do phát biểu. Tức là nó có quyền nói lên những gì nó muốn, chứ không như ở Việt Nam mình là cha mẹ bảo sao con nghe vậy.
“Và tự do ăn sâu vào tâm hồn của người đó và dẫn dắt họ hành động theo một con đường, và ảnh hưởng suốt cuộc đời của họ."
Hàng triệu người Pháp đã đổ xuống đường trong nhiều ngày để biểu lộ tinh thần bảo vệ tự do sau vụ Charlie Hebdo
Tự do với nhà văn Thuận, là điều “tối thượng”.
“Một nhà văn nếu không suy nghĩ tự do chắc chắn sẽ ‘tự kiểm duyệt’ và đó là cái tai hại nhất cho sáng tạo.”
Tuy nhiên, “tự do ngôn luận không phải là tự do muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói mà nó cũng có những giới hạn của nó. Chẳng hạn như nếu tự do đó ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, ảnh hưởng đến cộng dồng khác, ảnh hưởng đến những tập thể khác là phạm luật.”
Nhưng trong trường hợp Charlie Hebdo, bên cạnh phong trào ủng hộ Je suis Charlie, cũng có phong trào Je ne suis pas Charlie, với một số ý kiến cho rằng tòa báo đã khiêu khích hận thù qua những bức tranh biếm họa đấng Tiên tri của người Hồi giáo khiến hàng triệu người giận dữ.
Tác giả của nhiều tiểu thuyết tiếng Việt và tiếng Pháp bình luận, luật pháp nước Pháp là ‘vô thần’.
“Tội phỉ báng đã bị loại bỏ khỏi luật pháp từ năm 1881 nên đứng trước luật pháp Charlie Hebdo không phạm luật.
“Không phải chỉ đến bây giờ vì những bức tranh biếm họa của Charlie mới gây ra khủng bố ở Pháp. Khi nước Pháp ra lệnh cấm đội khăn chẳng hạn, nước Pháp cũng bị khủng bố rất nhiều tuy rằng họ đã phát hiện ra.
“Nhưng những người Hồi giáo cực đoan có tư tưởng sẵn sàng nã súng vào những người không cùng tư tưởng với họ, nên tôi nhắc lại, là cần phải có những nhà báo, những nhà báo dũng cảm như Charlie Hebdo.” (Xem video thảo luận qua YouTube: http://bit.ly/1y4iIuc và Google+ http://bit.ly/1B9Jfpg).
Người Hồi giáo ở Đức biểu tình với biểu ngữ: 'Nhà Tiên tri Mohammed, xin đừng giận dữ, người Hồi giáo luôn bên ngài'
Trong thư viết cho BBC sau cuộc thảo luận, ông Guillemot giải thích, vụ khủng bố cho thấy hai thế giới quan khác nhau, "hai khái niệm về sự thiêng liêng".
"Một thế giới của đạo Hồi hay nhà Tiên tri Mohammed không thể, dưới bất kỳ hình thức nào, bị xúc phạm.
"Một thế giới khác là của Pháp, khẳng định rằng chính tự do ngôn luận là thiêng liêng. Hai thế giới này không thể hiểu nhau, và hôm nay lại càng khó hiểu nhau nữa. Xung đột này đặt ra câu hỏi về vị trí của Pháp trong thế giới ngày càng bất ổn định vì tôn giáo."
Quan sát từ Việt Nam, nhà hoạt động Nguyễn Tiến Trung, người từng bị ngồi tù vì tội danh ‘Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ nhận xét:
“Với một chính thể cộng hòa chính danh, thì cần phải bảo vệ tự do cho người dân và hạn chế quyền của chính phủ, giới hạn quyền lực của nhà nước thì như vậy tự do của dân mới được đảm bảo.
“Từng cá nhân phải được phát triển thì khi đó một quốc gia, một dân tộc mới có thể phát triển tối đa tiềm năng của mình.
"Cho nên tôi phải vận động để có được tự do cho Việt Nam. Hiện nay Đảng cộng sản Việt Nam đang độc quyền nhà nước mà quyền làm chủ mà chưa có thì chưa thể nói đến quyền tự do khác được."
(BBC)