Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 30 tháng 7, 2014

Trung Quốc đã chớp mắt ở Biển Đông?

Đề nghị của luật sư Trần Vũ Hải

Ls Trần Vũ Hải

Liên đoàn Luật sư Việt Nam cần có ý kiến ngay để hủy bỏ Điều 38 Thông tư số 28/2014/TT – BCA của Bộ Công an, trước khi Thông tư này có hiệu lực vào 25/8/2014

 Lời dẫn ( Rút từ băng ghi âm ls Trần Vũ Hải trả lời pv BBC ( tại đây!):
Chúng tôi, những luật sư rất ngạc nhiên khi xuất hiện điều 38 Thông tư 28/2010/TT-BCA liên quan trực tiếp đến việc hành nghề luật sư của chúng tôi. Chúng tôi không rõ tại sao lại có quy định như vậy trong Thông tư này. Tôi xin trích nguyên văn điều 38 này như sau:

Khi phát hiện thấy người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự hoặc trợ giúp viên pháp lý có hành vi cản trở, gây khó khăn cho hoạt động điều tra như: cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, ngăn cản việc khai báo, tiết lộ bí mật, cung cấp tài liệu sai sự thật, khiếu nại, kiến nghị không có căn cứ hoặc có hành vi trái pháp luật khác thì Điều tra viên tiến hành lập biên bản sự việc trên, có thể ghi âm, ghi hình hoặc tiến hành biện pháp khác nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi cản trở, gây khó khăn cho hoạt động điều tra của họ.
Như vậy Thông tư này có vẻ cho phép điều tra viên (“ĐTV”) tiến hành những biện pháp điều tra ngược lại đối với luật sư. Chúng tôi đọc kỹ thì không có điều luật nào cho phép quy định như vậy. Thực tế trên thế giới cũng không có điều này. Điều này rất nguy hiểm bởi vì ở đây chỉ cần nói rằng khiếu nại, kiến nghị không có căn cứ. Vậy thế nào là khiếu nại, kiến nghị không có căn cứ? Bên này bảo có, bên kia bảo không. Hoặc về hành vi trái pháp luật khác thì đó là hành vi nào? Việc quy định như vậy rất chung chung. Mà chỉ việc đó thôi ĐTV lập biên bản sự việc. Ngoài ra còn cho phép ghi âm, ghi hình nhưng không quy định ghi âm, ghi hình ở đâu, như thế nào. Biện pháp khác là biện pháp nào? Những biện pháp này giả sử có thì phải thông qua các cơ quan như tòa án, viện kiểm sát và thậm chí phải khởi tố ở vụ án hình sự về việc một luật sư hay ai đó cản trở việc thực hiện công lý của các cơ quan tố tụng chứ không thể nào quy định điều tra viên được tự quyền thực hiện.

PV: Nội dung điều 38 như ông vừa mới trích nguyên văn tôi có cảm giác như quá trình tiếp xúc giữa luật sư với các bị can có thể bị ghi hình, ghi âm đúng không ạ?

Vâng, như vậy chỉ cần ĐTV xác định như thế thôi, ĐTV tiến hành lập biên bản. Tôi nghĩ rằng việc lập biên bản có mặt luật sư có thể công khai, nhưng biện pháp ghi âm ghi hình có thể là không công khai. Tất nhiên họ chỉ nói rằng, việc chúng tôi làm như vậy chỉ ghi âm ghi hình luật sư trong trại giam. Nhưng tôi nghĩ điều đó cũng không được bởi vì việc tiếp xúc giữa luật sư với các bị can là gặp riêng, không thể ghi âm ghi hình. Còn nếu gặp trong quá trình điều tra mà có mặt điều tra viên thì việc ghi âm hình (nếu có)  phải công bố cho luật sư  và các bị can là có ghi âm, ghi hình và tiến hành các biện pháp đó thì không trái Bộ luật Tố tụng hình sư.

Nhưng ở đây người ta nói rằng có hành vi cản trở gây khó khăn cho hoạt động điều tra như cưỡng ép, xúi giục người khác, ở đây họ không chỉ nói đến các bị can trong trại tạm giam, mà tất cả các đối tượng là nhân chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị hại v..v.., và cả những người được coi là có liên quan đến vụ án chứ không phải là không. Tức là không chỉ là trong khuôn viên của một trại giam hoặc trong cơ quan điều tra mà có thể ở ngoài. Tôi nghĩ như vậy sẽ rất nguy hiểm, các điều tra viên nói rằng cái này tôi không biết, tôi làm theo thông tư của ngành công an, đấy là quyền của chúng tôi. Cái này phải báo động kinh khủng.

PV: Xin hỏi luật sư liệu có thể hiểu được rằng  quy định này có thể là hình thức mở đường cho tình trạng nghe lén hoặc ghi âm lén hoặc ghi hình lén của cơ quan điều tra ở mọi môi trường, mọi địa điểm, mọi đối tượng không ạ?
Chúng tôi cho rằng việc này rất bất lợi và rất nguy hiểm cho các luật sư. Thế thì việc ghi âm, ghi hình … người ta coi là các biện pháp nghiệp vụ để nhằm bảo vệ quyền của họ và trách nhiệm của họ trong tố tụng, nhưng thực ra họ có thể sử dụng kết quả của việc này để làm các việc khác, vì điều 38 khoản 2 họ có nói rằng tùy theo mức độ vi phạm của người bào chữa, điều tra viên báo cáo thủ trưởng hoặc phó thủ trưởng của cơ quan điều tra quyết định thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, giấy chứng nhận người bảo vệ của đương sự hoặc đề xuất biện pháp sử lý khác theo quy định của pháp luật. Ở đây chúng tôi muốn nói cái này có thể dẫn đến việc tùy tiện. Thậm chí điều tra viên không thấy nói rằng là trước khi tiến hành những biện pháp này họ phải báo cho cấp trên của họ, tức là không có sự giám sát của cấp trên trong thông tư này nói, nghĩa là điều tra viên có quyền làm những việc đối phó với luật sư, từ đó có thể dẫn đến những hậu quả khác mà chúng ta cũng chưa thể lượng được. Ví dụ tôi là luật sư, tôi nói chuyện với một ai đó, họ nghi rằng tôi xúi giục chẳng hạn, thế thì tôi nói chuyện với vợ tôi, hoặc tôi nói chuyện với bố mẹ của đương sự… chúng tôi chưa chắc nói chuyện về vụ này, nhưng họ nghi rằng chúng tôi nói về cái việc này, cho nên họ sẽ tiến hành ghi âm, ghi hình và các biện pháp khác. Chúng ta biết rằng trên internet có những phương pháp ghi âm, ghi hình, ghi lén một cách rất tinh vi. Có lẽ chúng tôi phải có một văn bản yêu cầu ngay để trấn chỉnh điều 38, khoản 1, khoản 2 này như vậy.

PV: Ông nghĩ rằng việc kiến nghị của luật sư sẽ thực hiện trong thời gian sắp tới là trong thời gian bao nhiêu lâu và liệu có nhận được câu trả lời gì không?

Tôi đã gọi cho 2 phó chủ nhiệm đoàn luật sư của 2 thành phố lớn rồi và tôi sẽ trao đổi với liên đoàn luật sư trong thời gian sớm nhất, và chúng tôi sẽ yêu cầu họ phải lên tiếng giải thích, và họ phải làm việc với Bộ Công an để giải thích điều 38 này như thế nào, nó có phù hợp với quy định của pháp luật hay không? Nó có vượt quá thẩm quyền của cơ quan điều tra và điều tra viên hay không? Nếu mà các vị mà định áp dụng thì làm thế nào để ngăn ngừa. Cá nhân tôi thì cho rằng không thể áp dụng điều 38 này. Tóm lại điều 38 khoản 1 này là không nên có.



                            ĐỀ NGHỊ CỦA LUẬT SƯ TRẦN VŨ HẢI
(Liên đoàn Luật sư Việt Nam cần có ý kiến ngay để hủy bỏ Điều 38 Thông tư số 28/2014/TT – BCA của Bộ Công an, trước khi Thông tư này có hiệu lực vào 25/8/2014)


Kính gửi:  Liên đoàn luật sư Việt Nam
           Tôi – Luật sư Trần Vũ Hải, Trưởng Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải xin gửi tới Quý Liên đoàn lời chào trân trọng và đề nghị như sau:
            Thông tư  số 28/2014/TT – BCA ngày 07/07/2014 của Bộ Công an về công tác điều tra hình sự trong công an nhân dân (có hiệu lực từ ngày 25/8/2014) tại điều 38 có quy định về trách nhiệm của Điều tra viên trong việc xử lý vi phạm đối với người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự hoặc trợ giúp viên pháp lý như sau:

1. Khi phát hiện thấy người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự hoặc trợ giúp viên pháp lý có hành vi cản trở, gây khó khăn cho hoạt động điều tra như: cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, ngăn cản việc khai báo, tiết lộ bí mật, cung cấp tài liệu sai sự thật, khiếu nại, kiến nghị không có căn cứ hoặc có hành vi trái pháp luật khác thì Điều tra viên tiến hành lập biên bản sự việc trên, có thể ghi âm, ghi hình hoặc tiến hành biện pháp khác nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi cản trở, gây khó khăn cho hoạt động điều tra của họ.

2. Tùy theo mức độ vi phạm của người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự hoặc trợ giúp viên pháp lý, Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận người bào chữa, Giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi của đương sự hoặc đề xuất biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Chúng tôi thấy rằng quy định trên sẽ dẫn đến áp dụng tùy tiện, gây cản trở hoạt động hành nghề của luật sư, thậm chí cho phép điều tra viên tự ý dùng các biện pháp trái pháp luật để điều tra luật sư, gây nguy hiểm về nhiều mặt cho giới luật sư, vô hiệu hóa vai trò của luật sư.

Chúng tôi đề nghị lãnh đạo Liên đoàn Luật sư khẩn cấp họp về vấn đề này. Trong trường hợp chưa họp được, chúng tôi đề nghị ông Chủ tịch Liên đoàn Luật sư sớm yêu cầu Bộ Công an hủy bỏ quy định trên trước ngày 25/8/2014 và đề xuất với Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp,  Bộ Tư pháp, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Ban Nội chính Trung ương, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội sớm có ý kiến về quy định nhằm vô hiệu hóa luậ sư  của Thông tư số 28/2014/TT-BCA

Luật sư Trần Vũ Hải
 Tác giả gửi Quê Choa
  ( Theo Quê Choa )

Thủ tướng có thực muốn nghe phản biện của trí thức?

Thủ tướng: Phản biện khoa học, tranh luận, thảo luận dân chủ là những cách thức để đi đến chân lý. Ảnh Vnn
Trong buổi làm việc với Hiệp hội khoa học Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có nhấn mạnh:

“Trong hoạt động chỉ đạo, điều hành, Chính phủ hết sức quan tâm, mong muốn lắng nghe được nhiều ý kiến tư vấn phản biện từ xã hội, các nhà khoa học, giới trí thức trên tinh thần dân chủ, khách quan, khoa học. Chính phủ cho rằng phản biện khoa học, tranh luận, thảo luận dân chủ là những cách thức để đi đến chân lý, là cơ sở cho những quyết sách khoa học và đúng đắn”

Nếu đúng như thế thì quan điểm của Thủ tướng đã thay đổi hoàn toàn. Trước đây chính quyền nhà nước đã gây sức ép cho viện Nghiên cứu phát triển IDS do tiến sĩ Nguyễn Quang A và giáo sư Hoàng Tụy lãnh đạo. Viện IDS quy tự nhiều trí thức có tâm huyết và có nhiều phản biện hết sức khoa học. Thế nhưng chính phủ đã cho ban hành Quyết định 97/2009/QĐ-TTg nhằm quản lý chặt các ý kiến phản biện.

Tự nhận thấy IDS không có cơ hội hoạt động trong một môi trường như thế, các vị lãnh đạo IDS đã tự giải thể viện.

Hành động giải thể viện IDS được chính phủ nhìn nhận như một hành động phản kháng, chống đối quyết định của lãnh đạo cao cấp. Phía chính phủ đã có ý kiến kỉ luật ông Nguyễn Quang A, chính Thủ tướng có nhắc lại ý kiến này.

Vụ việc này đã được GS Ngô Bảo Châu từng nhận xét:

"Tôi có theo dõi tuy không chi tiết như giới nhà báo. Nhưng một xã hội mà không biết lắng nghe các ý kiến phản biện là một chuyện tương đối dở"

Nếu bây giờ Thủ tướng kêu gọi giới trí thức phản biện và chính phủ lắng nghe thì nghị định 97 có còn hiệu lực nữa không? Chính phủ có công khai bãi bỏ kỉ luật cho tiến sĩ Nguyễn Quang A hay không?

Nếu nghị định 97 còn được duy trì thì lời nói của Thủ tướng chỉ là mua vui mà thôi.
    FB Quê Choa
(Quê Choa) 

Cấm xe máy thì đi lại bằng gì?

 (VTC News) - Câu trả lời đơn giản nhất là cấm xe máy thì đi lại bằng các thứ không phải xe máy.
Với hơn 37.000 lượt biểu quyết trên báo VTC News về lộ trình cấm xe máy tại các đô thị lớn (Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng), 52% bạn đọc chọn phương án "Cần có lộ trình cấm từ bây giờ", 15% chọn "Không nên cấm" và 33% chọn phương án "Chỉ cấm khi có các phương tiện hiện đại thay thế".

Hơn 37.000 lượt biểu quyết là con số rất cao trong một đợt điều tra xã hội học qua báo điện tử. Nó thể hiện sự quan tâm cao độ của người dân đối với vấn đề này. Về tiêu chí điều tra, nó hoàn toàn đủ tính đại diện.

Có nghĩa là phần đông (85%) người dân không muốn xe máy làm phương tiện giao thông ở các đô thị tương lai. Không nhiều (15%) người dân muốn mãi mãi giữ giao thông xe máy.
Cấm xe máy thì đi lại bằng gì?
Người dân đã quá mệt mỏi vì đi xe máy, thậm chí sợ nền giao thông xe máy và nhiều hệ luỵ của nó.
Kết quả này làm không ít người ngạc nhiên. Không ít người nghĩ là người Việt "yêu" xe máy đến mức không thể hình dung được một đô thị Việt Nam vắng bóng xe máy như ở nước ngoài. Thậm chí người ta còn dùng các cụm từ "nền văn hoá xe máy", "nền văn minh xe máy" khi nói về giao thông đô thị Việt Nam.

Nghị quyết số 88 năm 2011 của Chính phủ đã đề cập đến lộ trình cấm xe máy tại các đô thị lớn, giao cho Bộ GTVT và các thành phố xây dựng đề án, lộ trình báo cáo Chính phủ, nhưng việc này đến nay còn chưa triển khai. Có thể các cơ quan quản lý của ta nghĩ người dân "yêu" xe máy quá, không nỡ làm cho người dân mất đi sở thích này.

Nhưng trên thực tế, người dân đã quá mệt mỏi vì đi xe máy, thậm chí sợ nền giao thông xe máy và nhiều hệ luỵ của nó. Người dân không muốn tiếp tục "lấy thịt bọc thép" khi ra đường, mà muốn "lấy thép bọc thịt" cho khoẻ người và an toàn. Người dân không muốn tiếp tục sống với chợ cóc, quán cóc, nơi bán các thực phẩm độc hại, gây bụi bặm, rác rưởi, ruồi muỗi, làm phát sinh bệnh tật, nhất là ung thư.

Mặc dù vậy, nhiều người vẫn đặt câu hỏi: cấm xe máy thì đi lại bằng gì?

Trước hết, phải khẳng định rằng để cấm xe máy cần có lộ trình chứ không phải cấm ngay. Lộ trình này có thể kéo dài 10 - 15 năm tuỳ thuộc vào quyết tâm của cơ quan quản lý nhà nước và người dân.

Câu trả lời đơn giản nhất là cấm xe máy thì đi lại bằng các thứ không phải xe máy. Rất may, có rất nhiều thứ giúp ta đi lại mà không phải là xe máy. Đó là xe buýt, tàu điện, tàu điện ngầm, ô-tô riêng, xe đạp và... đôi chân của chính mình. Không chính phủ nào khi cấm xe máy lại để cho người dân không có phương tiện đi lại cả.

Ở các thành phố cấm xe máy tại Trung Quốc (Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu) và Myanmar (thành phố Yangon), mọi người đều đi lại bằng các thứ "không phải xe máy" như vậy. Không có ai vì không được đi xe máy mà phải ngồi lỳ ở nhà.

Ở Hong Kong hay Singapore, nơi gần như không có xe máy, người dân đi lại cũng bằng những phương tiện "không phải xe máy" như vậy. Hai phương tiện đi lại chủ yếu ở Hong Kong và Singapore là tàu điện ngầm (MRT) và xe buýt, chiếm trên 80% lượt đi lại, còn lại là tàu điện, ô-tô riêng và taxi.

Riêng tại Hong Kong, do có nhiều đường và hẻm nhỏ, có hai loại xe buýt: xe buýt lớn (5.700 chiếc) và xe buýt nhỏ (4.300 chiếc). Xe buýt nhỏ vận chuyển người dân từ các đường và hẻm nhỏ ra bến xe buýt lớn, tàu điện, tàu điện ngầm. Đây là một giải pháp hợp lý cho các đô thị có nhiều đường và hẻm nhỏ.

Việc cấm xe máy không chỉ thực hiện ở các thành phố có tàu điện ngầm. Yangon (Myanmar) là ví dụ điển hình về việc cấm xe máy khi chưa có tàu điện ngầm. Trên thực tế, chỉ có xe buýt là phương tiện có thể toả đi khắp mọi nơi trong một thành phố và thay thế được xe máy.

Tàu điện ngầm chỉ hoạt động hiệu quả trên một số trục lớn. Mỗi thành phố thường chỉ có 5-10 tuyến tàu điện ngầm, trong khi đó số tuyến xe buýt thường là hàng trăm tuyến. 01 tỷ USD có thể mua được 10.000 xe buýt, nhưng mới chỉ đủ làm khoảng 10 km tàu điện ngầm. Nếu muốn Hà Nội, TP Hồ Chí Minh có hơn 200 km tàu điện ngầm như ở Singapore, cần trên dưới 25 tỷ USD vốn đầu tư cho mỗi thành phố.

Khi có xe máy, người dân ít khi dùng đến đôi chân để đi lại. Nhiều người ngồi lên xe máy ngay từ phòng khách và "phi" ra đường. Khi về nhà, cũng "phi" thẳng xe máy vào phòng khách. Nhưng khi không còn xe máy, ít nhiều chúng ta phải dùng đến đôi chân của mình. Không ở đâu ngay trước cửa mỗi gia đình lại có một bến xe buýt hoặc bến tàu điện ngầm.

Người dân phải đi bộ từ nhà ra bến xe, bến tàu, cũng như đi bộ từ bến xe về nhà. Thường thì thời gian đi bộ giữa nhà và bến xe, bến tàu ở nước ngoài trên dưới 01 km, tối đa 15 phút. Trời nắng, trời mưa đã có dù (ô) che đầu. Người Mỹ, người Pháp, người Úc, người Singapore, người Hong Kong... chấp nhận được thì chắc người Việt Nam ta cũng chấp nhận được.

Nói tóm lại, khi không có xe máy thì đi lại bằng những thứ không phải xe máy và điều đó đã và đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở hầu hết các thành phố trên trái đất này. Xe máy chưa bao giờ là thứ mà nếu không có nó thì việc đi lại bị tê liệt.

Vấn đề thực ra không phải ở chỗ cấm xe máy thì đi lại bằng gì, mà cần bao nhiêu thời gian để có đủ các phương tiện giao thông thay thế xe máy. Đây là vấn đề cốt lõi, chính vì nó mà lộ trình cấm xe máy mới cần đặt ra. Cấm xe máy không phải là mục tiêu. Mục tiêu là phát triển giao thông công cộng hiện đại, an toàn, văn minh thay cho xe máy, để người dân được "lấy thép bọc thịt" thay vì "lấy thịt bọc thép" khi đi lại trên đường. Sẽ cần ai đó bỏ tiền đầu tư phát triển các phương tiện giao thông công cộng, chủ yếu là đầu tư vào xe buýt.

"Ai đó" khả năng sẽ là các nhà đầu tư tư nhân. Nếu chỉ chờ nhà nước đầu tư, sẽ không bao giờ có giao thông công cộng đủ nhiều, đủ tốt thay thế được hoàn toàn xe máy. Về dịch vụ, không có cái gì của nhà nước lại vừa nhiều, vừa tốt cả, ở Việt Nam và trên toàn thế giới. Ở Hong Kong, cả 5 công ty xe buýt đều là tư nhân. Họ không nhận trợ giá của nhà nước mà còn phải trả tiền nhượng quyền kinh doanh cho nhà nước.

Khi không phải cạnh tranh với xe máy thì kinh doanh xe buýt có lãi và họ phải mua quyền kinh doanh xe buýt. Nhưng nếu người dân sử dụng xe máy tràn lan, không ai dại dột đầu tư vốn vào xe buýt để lỗ thảm hại (nếu không được nhà nước bù lỗ). Khi nhà nước chưa có lộ trình cấm xe máy, việc thu hút hàng tỷ USD vốn tư nhân vào xe buýt đô thị là vô vọng. Nếu có tiền bạn cũng không làm. Nếu bạn không làm, đừng bao giờ hy vọng ai đó khác sẽ làm.

Theo bạn, có nên cấm xe máy ở đô thị lớn?

    - Không nên cấm
    - Cần có lộ trình cấm từ bây giờ
    - Chỉ cấm khi có các phương tiện hiện đại thay thế
    - Cấm xe máy thì đi lại bằng gì? Cấm xe máy thì đi lại bằng gì?

Cũng đừng nói kiểu các anh cứ đầu tư thật nhiều xe buýt đi, tôi sẽ tự bỏ xe máy, chuyển sang dùng xe buýt. Không nhà đầu tư tư nhân nào tin điều đó để dốc hầu bao. Nếu Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Yangon bỏ "cấm vận" xe máy, chắc chắc ở các thành phố này xe máy sẽ quay lại kín đường ngay. Xe máy có cái tiện của xe máy và nhiều người thích cái tiện đó.
  Lương Hoài Nam
 (VTC News)

Trung Quốc đổi chiến thuật trên Biển Đông?

Ảnh: Hải quân Việt Nam sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc (ảnh: Global Post)
Ảnh: Hải quân Việt Nam sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc (ảnh: Global Post)

Đây là nội dung bài viết “China's Big Course Correction in the South China Sea?” của Ted Galen Carpenter, đăng trên trang National Interest ngày 25.7. Một Thế Giới xin trích dịch:

Sau nhiều tháng Trung Quốc hành xử hung hăng với các láng giềng, gần đây có những dấu hiệu cho thấy có thể Bắc Kinh đổi qua các chủ trương mang tính hòa giải hơn.

Như TQ bất ngờ đem giàn khoan Haiyang Shiyou 981 gây tranh cãi về nước, sau hai tháng hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Cuối tháng 6, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình họp thượng đỉnh với nữ Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hee, tìm cách cải thiện quan hệ với nước này, sau vụ căng thẳng năm ngoái khi Bắc Kinh đơn phương tuyên bố Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên biển Hoa Đông.

Ngay cả giọng điệu sôi sục của TQ cảnh cáo Mỹ nên đứng ngoài vụ tranh chấp chủ quyền biển Đông cũng “tắt tiếng”. Thay cho những tuyên bố inh ỏi rằng Mỹ can thiệp, các quan chức TQ nay yêu cầu Mỹ “hãy công bằng” trong các tuyên bố về các vấn đề.

Có thể đó chỉ là một đường lối hòa giải tạm thời, hoàn toàn là sự thay đổi chiến thuật. Nhưng cũng có một cách giải thích đáng khích lệ hơn:

Cuối cùng Bắc Kinh nhận ra mình phản ứng quá đáng trong việc gây sức ép đòi chủ quyền khu vực, và cách hành xử hung hăng ấy đã khiêu khích sự bức xúc của các nước láng giềng, vốn trở nên nghiêng nhiều hơn về chủ trương kiềm cương TQ một cách trực tiếp, do Mỹ khởi xướng.

Rõ ràng đã có nhiều chứng minh về sự phẫn nộ ngày càng tăng nơi các quốc gia Đông Á, đối với lối hành xử hung hăng ngang ngược của TQ trong 3, 4 năm qua, và chỉ có quan chức TQ nào "trì trệ, chậm hiểu" nhất mới có thể không biết những tín hiệu cảnh cáo ấy.

Từ những hành xử nguy hiểm nhất này của TQ, Nhật Bản đã “giải thích lại” điều khoản 9 trong Hiến pháp Nhật, để cho phép Nhật có các biện pháp phòng thủ tập thể.

Nhưng còn những thay đổi tinh tế khác. Hồi tháng sáu, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe tuyên bố chính phủ của ông sẽ ủng hộ Việt Nam và các nước khác có tranh chấp chủ quyền biển với TQ.

Vài tháng trước đó, Nhật cùng Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) khai thác các nỗ lực để có quyền tự do hàng hải an toàn hơn, một cái tát thẳng vào tuyên bố độc chiếm biển Đông kiểu bành trướng của TQ.

Cách tiếp cận mới của Nhật rõ ràng nhắm tới một loạt đối tác an ninh ngày càng lớn. Nhật và Úc thương lượng một thỏa thuận để Nhật bán công nghệ tàu ngầm cho Úc.

Nhật cũng công bố xem xét việc cung cấp tàu tuần dương cho Việt Nam, dù Nhật cũng đang có căng thẳng với TQ, nên việc giao tàu đòi hỏi phải đợi thêm một thời gian.

Quan hệ an ninh giữa Nhật và Ấn Độ cũng ấm lên, đến độ các học giả được tôn trọng nay nói đến khả năng hình thành một liên minh quân sự Nhật - Ấn.

Nhưng những nỗi lo ngại của TQ không chỉ giới hạn ở các chương trình hành động của Nhật vì an ninh khu vực.

Ngay cả các nước láng giềng nhỏ của TQ cũng có những phản ứng trước các hành vi hung hăng của TQ.

Việt Nam và Philippines đã tăng cường hợp tác quân sự và ngoại giao. Hàn Quốc đồng ý cung cấp tàu chiến cho hải quân Philippines  hồi cuối tháng 6.

Indonesia đang chủ trương hiện đại hóa quân đội để có thể đối phó những “tình trạng khẩn cấp” ở Đông Nam Á, vì họ ngày càng quan ngại những tham vọng của TQ.

Dù có quan hệ kinh tế song phương lớn với TQ, Úc cũng ra một cảnh báo với TQ, rằng các hành vi của họ trên biển Đông là “khiêu khích và vô tích sự”.

Ngay sau đó, Úc đồng ý chi 11,6 tỉ USD để mua 58 chiến đấu cơ F-35 của Mỹ, một nỗ lực nâng cấp lớn của không quân Úc.

Sẽ không phải ngạc nhiên, nếu các quan chức TQ đầy mánh khóe trở nên cảnh giác trước các biện pháp đề phòng TQ của những nước láng giềng.
Trần Trí (lược dịch theo National Interest )
( Một Thế Giới )

Một tờ báo TQ "thú nhận" 3 lý do di dời giàn khoan 981

Một tờ báo TQ "thú nhận" 3 lý do di dời giàn khoan 981

 Đã nửa tháng trôi qua sau khi Trung Quốc di dời giàn khoan ra khỏi khu vực hạ đặt trái phép trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nhưng đến giờ mới có một tờ báo của Trung Quốc phân tích rõ nguyên nhân của vụ việc này.

Sau khi đột ngột di dời giàn khoan sớm một tháng so với những gì họ tuyên bố, rêu rao ban đầu về hành động thăm dò phi pháp trên biển Đông, dân Trung Quốc rất chưng hửng và không biết lý do thật sự của vụ việc này.
Các trang báo xuất bản tại Trung Quốc đều trích dẫn lời của ông Hồng Lỗi, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng "do quá trình thăm dò hoàn tất" và giàn khoan Haiyang Shiyou 981 nhận nhiệm vụ mới ở ven đảo Hải Nam. Sau đó trong 10 ngày liên tiếp, tin bài có cụm từ Haiyang Shiyou hay Hải Dương Thạch Du 981 không xuất hiện trên các báo Trung Quốc. Có chăng thì chủ đề về giàn khoan chỉ xuất hiện trên diễn đàn với những lời phân tích bàn luận không chính thống.

Mãi hôm qua, trang Wlstock, chuyên viết về tài chính ở Quảng Đông mới có một bài phân tích với những ý kiến mới hơn về chuyện của nửa tháng trước. Họ không tin vào cách giải thích của Bộ ngoại giao Trung Quốc trong việc di dời giàn khoan mà đưa ra 3 lý do để giải thích sự kiện này.

Thứ nhất, thời tiết xấu?

Tờ này phân tích thời tiết xấu là lý do khách quan để di dời giàn khoan vì cơn bão "Thần sấm" mạnh khủng khiếp và không ai chắc nó có thể phá hủy giàn khoan trị giá 1 tỉ USD hay không. Nhưng nếu di dời giàn khoan vì thời tiết thì Trung Quốc có hai cách để thực hiện. Thứ nhất, cho giàn khoan xuống sâu phía nam với lực lượng tàu bảo vệ đông đảo và khi bão tan thì quay về. Phương án này cực kỳ phiêu lưu vì nó sẽ khiến các nước có liên quan tức giận. Tuy nhiên, Trung Quốc đã chọn giải pháp thứ hai là đưa giàn khoan về luôn đảo Hải Nam và tuyên bố "hoàn thành nhiệm vụ".

Thứ hai, không thể đùa Việt Nam

Tờ này cho rằng Trung Quốc không thể ngờ Việt Nam phản ứng mạnh mẽ khi cảnh sát biển Việt Nam ngày đêm đấu tranh trên thực địa quanh giàn khoan. Tờ này cho rằng Bắc Kinh nhận ra Việt Nam không có dấu hiệu nhượng bộ và nếu tiếp tục thì sẽ già néo đứt dây.

Khi sự kiên nhẫn đã cạn, Việt Nam có thể nhân vụ này kiện ra quốc tế thì sẽ không hay cho TQ chút nào, nhất là thời điểm cộng đồng quốc tế đều ủng hộ và bênh vực quan điểm của Việt Nam.

Thứ ba, sợ quốc tế thù địch
Lý do thứ ba mà tờ này tin tưởng nhất là TQ đang sợ thái độ thù địch của các nước trên thế giới và trong khu vực. Tờ này dùng nguyên văn cụm từ "việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào khu vực đặc quyền kinh tế Việt Nam khiến một loạt nước như Nhật, Úc, Ấn Độ, Philippines thay đổi chính sách quân sự nhằm đáp ứng hiệu quả hơn hành vi của Trung Quốc".
Nhìn sự thay đổi mang tính bất lợi đó thì Trung Quốc cần phải điều chỉnh.
Anh Tú (lược dịch)
( Một Thế Giới )

Trung Quốc đã chớp mắt ở Biển Đông?

“Tìm hiểu sâu vào câu hỏi này không những làm sáng tỏ quyết tâm của Trung Quốc, mà còn khám phá những bài học có giá trị về cách đối phó với sự hung hăng của Bắc Kinh.”
Trong bảy mươi lăm ngày, kể từ ngày 02 tháng 5, Trung Quốc (TQ) đơn phương triển khai giàn khoan dầu HD-981 trị giá 1 tỷ đô-la để khoan ở vùng biển nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ). Giàn khoan ban đầu được dự kiến ​​sẽ ở lại cho đến ngày 15 tháng 8, nhưng vào ngày 15 tháng 7 TQ thông báo rằng giàn khoan đã hoàn thành công việc và sẽ được chuyển tới đảo Hải Nam. Việc rút giàn khoan đi là một quyết định đơn phương và bất ngờ cũng như việc triển khai. Khi giàn khoan này được cắm trong khu vực tranh chấp, nó đã gây ra một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong quan hệ Trung-Việt kể từ năm 1988.
Như với các cuộc khủng hoảng tương tự khác, bế tắc này cũng là một trận chiến của ý chí. Nếu quyền lực là chìa khóa để chiến thắng một cuộc xung đột quốc tế, sự quyết tâm cũng không kém phần quan trọng. Bên nào với quyết tâm lớn hơn có thể giành chiến thắng ngay cả khi nó là bên yếu hơn. Với chủ quyền của mình bị đe dọa, hai quốc gia thử nghiệm quyết tâm của nhau để xem ai sẽ chớp mắt trước.
Trong bối cảnh đó, việc thu hồi giàn khoan của TQ một tháng trước thời hạn không chứng minh được quyết tâm của mình. Như vậy thì TQ đã chớp mắt trước? Tìm hiểu sâu vào câu hỏi này không những làm sáng tỏ quyết tâm của TQ, mà còn khám phá những bài học có giá trị về cách đối phó với sự hung hăng của Bắc Kinh. Trong số rất nhiều những lời giải thích có thể có, chúng ta hãy xem xét ba giải thích đáng tin cậy nhất.

Cú đánh của Thiên Nhiên
Lý do đơn giản nhất, và thoạt nhìn thì cũng là lý do thuyết phục nhất, việc TQ di chuyển giàn khoan là thời tiết xấu. Một ngày trước khi rút giàn khoan, thời tiết tại địa điểm giàn khoan trở nên xấu, cảnh báo trước của cơn bão Rammasun đang đi tới. Được xem như là một “siêu bão” Rammasun đã được dự kiến ​​sẽ đổ bộ vào đảo Hải Nam ở gần đó trong ba ngày nữa, vào ngày 18. Mặc dù Hoàng Sa về phía tây nam, nơi mà giàn khoan đang cắm, đã được dự báo sẽ không nằm trực tiếp trên con đường của bão Rammasun, không ai có thể đảm bảo rằng cơn bão nghiêm trọng này sẽ không gây thiệt hại cho cấu trúc giàn khoan, tàu bè và con người tại nơi đó. Mặc dù giàn khoan HD-981 được cho là có thể chịu được bão mạnh, sẽ có quá nhiều rủi ro nếu giàn khoan và các tàu hộ tống nằm ở giữa đại dương trong thời tiết xấu.
Lúc đó TQ phải đối mặt với hai sự lựa chọn. Một là di chuyển giàn khoan xa hơn về phía nam để tránh khỏi con đường đi của cơn bão. Làm vậy sẽ di chuyển giàn khoan sâu hơn vào EEZ của Việt Nam, và sẽ tạo ra nhiều vấn đề lớn hơn về hậu cần cho đội tàu bảo vệ trong khi leo thang cuộc xung đột với VN. Một lựa chọn khác là di chuyển giàn khoan vào gần bờ của TQ hơn và ra khỏi vùng biển mà VN tuyên bố chủ quyền. Điều này sẽ cho phép giàn khoan được neo tại một nơi cạn hơn, và không đòi hỏi phải có nhiều tàu bè để bảo vệ giàn khoan. TQ đã chọn cách thứ hai, là cách ít rủi ro hơn, và thông báo rằng giàn khoan đã hoàn thành công việc của mình. Thông báo này cũng là sự lựa chọn tốt hơn cho TQ. Nếu tuyên bố tạm thời rút giàn khoan đi thì phải quay trở lại ngay sau cơn bão chấm dứt. Khi kéo giàn khoan trở lại sẽ bị một đội tàu thuyền lớn của VN chận lại và TQ sẽ có nguy cơ mất mặt vì không thể cài đặt giàn khoan tại vị trí cũ.
Tuy nhiên lý do “thời tiết xấu” sẽ không giải thích được một sự kiện liên quan. Vào ngày 15, cùng ngày với giàn khoan bắt đầu dời đi, TQ thả tất cả mười ba ngư dân VN bị bắt giữ trong cuộc khủng hoảng giàn khoan. Đây có phải là kết quả của một thỏa thuận sau hậu trường với VN hay chỉ vì TQ nhận thức rằng cuộc khủng hoảng đã đạt đến giới hạn của nó?
Một thỏa thuận ngầm
Chúng ta không biết có hay không một thỏa thuận bí mật đã thành hình, nhưng những gì chúng ta biết có dấu hiệu một mặc cả ngầm đã diễn ra. Trong khi tàu thuyền của TQ và VN chơi trò mèo và chuột gần giàn khoan dầu gây nhiều tranh cãi, các nhà lãnh đạo Hà Nội đã tìm cách thương lượng với Bắc Kinh, và BK đã trả lời với bốn điều kiện tiên quyết cho các cuộc đàm phán. Điều kiện đầu tiên là VN phải chấm dứt quấy rối giàn khoan dầu và tàu bè hộ tống của TQ. Thứ hai, VN không được tranh chấp quyền sở hữu quần đảo Hoàng Sa của TQ. Điều kiện thứ ba là VN không được theo đuổi các thủ tục pháp lý chống lại tuyên bố và hành động của TQ ở Biển Đông. Và cuối cùng, VN không được dính líu đến một bên thứ ba, đặc biệt là Mỹ và phương Tây, trong vấn đề song phương này.
Hai điều kiện đầu tiên về mặt chính trị là điều không thể đáp ứng đối với bất kỳ chính phủ nào tại Hà Nội. Nhưng Hà Nội đã quyết định hai chuyện tạo tín hiệu nhượng bộ hai điều kiện kia. Mặc dù đã có một chiến dịch lớn trong các phương tiện truyền thông nhà nước và một vài kêu gọi mạnh mẽ từ một số cá nhân đòi đưa Bắc Kinh ra tòa, tập thể lãnh đạo của VN đã quyết định không nộp các hồ sơ pháp lý để kiện TQ. Họ cũng hoãn lại chuyến đi Mỹ của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, mà ban đầu đã được phê duyệt và dự kiến vào ​​tháng Sáu sau cuộc điện đàm giữa Minh với người đồng nhiệm Mỹ John Kerry vào ngày 21 tháng 5. Việc TQ rút giàn khoan đi và phóng thích ngư dân VN có thể được hiểu như một hành động đối ứng của sự xuống thang.
Ngoại trừ có một thỏa thuận bí mật mà trong đó Hà Nội có thể cam kết sẽ nhượng bộ nhiều điều quan trọng hơn, thỏa thuận ngầm gợi ý ở trên chỉ đáng chú ý vì tính chất đối xứng của nó và sự mong manh của sự nhượng bộ ở cả hai phía. Giống như động tác xuống thang của TQ, sự nhượng bộ của VN không có giá trị nhiều và có thể đảo ngược. Thay vì gửi Bộ trưởng Ngoại giao Minh, VN cử người đứng đầu phía đảng CS của thành phố Hà Nội là Phạm Quang Nghị đi Hoa Kỳ ngày 20 tháng 7, chỉ một vài ngày sau khi giàn khoan được rút. Là một thành viên của Bộ Chính trị, Nghị về mặt chính trị ở cấp cao hơn Minh, là người chưa được ngồi vào bậc thang cao nhất của chính trị VN. Hơn nữa, Nghị được biết là thân cận với tổng bí thư đảng Cộng Sản Nguyễn Phú Trọng, là người ở cấp cao nhất trong cả nước. Chuyến đi Mỹ của Nghị sẽ mang lại một số cảm nhận trực tiếp cho Trọng, từ đó sẽ định hình chuyến đi của Minh, mà bây giờ được dời lại vào tháng Chín.
Các hành động pháp lý chống lại TQ là một cái gì đó mà Hà Nội sẽ phải trì hoãn cho dù khi không có áp lực của TQ. Trong khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đi trước với kế hoạch chuẩn bị cho việc kiện TQ ra tòa, hầu hết các thành viên chủ chốt khác của Bộ Chính trị không chắc rằng việc kiện cáo này sẽ là lựa chọn tốt nhất. Sợ bị TQ trả đũa cộng thêm khả năng tòa án sẽ có một phán quyết bất lợi, và thực tế là không có phán quyết nào có thể được thực thi mà không có sự đồng ý của TQ là những yếu tố chính trong tính toán của họ.
Sự nhượng bộ của Hà Nội có phải là lý do để Bắc Kinh xuống thang? Nếu có thì cũng chỉ đóng một phần nhỏ vì những nhượng bộ này mong manh và rẻ tiền. Lý do thật sự làm cho TQ phải xuống thang cuộc xung đột là trên thực tế một số diễn viên, bao gồm cả VN và Hoa Kỳ, đã tăng đáng kể mức trần cho phép những hành động đối phó với TQ. Phản ứng của Bắc Kinh có thể trông giống như kết quả một thỏa thuận ngầm, nhưng bản chất thực sự của nó là một cái gì khác.
Những lát salami dày thêm
Nếu chúng ta xét hành vi của TQ qua lăng kính của chiến thuật cắt lát xúc xích salami thì sẽ thấy nó rõ nghĩa nhất. Đây là phương pháp đặc trưng của Bắc Kinh để thực hiện yêu sách về chủ quyền lãnh thổ của mình và thay đổi tình trạng hiện tại trong khu vực Biển Đông và Biển Hoa Đông. Điểm mấu chốt của chiến thuật cắt salami là phải đánh đúng điểm cân bằng mong manh giữa sự gây hấn và sự kiềm chế để các hành động của bạn đủ để thay đổi thực tế hiện trường nhưng không đủ để tạo ra một lý do chính đáng cho những người khác quyết định chống lại bạn. Có rất nhiều lý do để nghĩ rằng sự cân bằng mong manh này đã đạt đến giới hạn của nó và cơn bão Rammasun đã cho TQ một lý do tốt để xoa dịu căng thẳng mà không bị mất mặt.
Việc triển khai giàn khoan HD-981 ở vùng đặc khu kinh tế của VN đã gây ra cuộc khủng hoảng quốc tế lớn nhất ở Đông Nam Á kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh. Vì TQ bắt nạt các nước láng giềng nhỏ hơn một cách hung hăng trong một thời gian rất lâu, nhận thức của thế giới của TQ đã thay đổi theo chiều hướng xấu. Chúng ta đã thấy các thành viên của Quốc hội Việt Nam gọi TQ là một kẻ thù, một chuyện không thể có trước biến cố giàn khoan. VN cũng làm sống lại những ký ức về chiến tranh với TQ, đó là một điều cấm kỵ trong hai thập kỷ qua. Trong giữa tháng Bảy, lần đầu tiên Hà Nội kỷ niệm các vụ đụng độ quân sự ở Vị Xuyên gần biên giới Việt-Trung trong các năm 1984-1988, với những câu chuyện về cuộc chiến tranh đẫm máu được các phương tiện truyền thông VN loan tin rộng rãi, và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang công khai ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của những người VN đã tham gia cuộc chiến. Tất cả những điều này chưa từng xảy ra trước đây và cùng với các mối đe dọa của một thực tế liên minh với Hoa Kỳ đã chỉ ra một sự thay đổi lớn trong cách Hà nội tiếp cận Bắc Kinh.
Tại Hoa Kỳ vào ngày 10 tháng 7, Thượng viện nhất trí thông qua một nghị quyết (S.Res.412) lên án hành động cưỡng chế của TQ và thúc giục TQ rút lui giàn khoan và các lực lượng hàng hải liên quan. Nghị quyết cũng “đưa ra chính sách của Mỹ liên quan đến hỗ trợ các đồng minh và đối tác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương và phản đối những tuyên bố vi phạm đến các quyền hạn, sự tự do, và những sử dụng hợp pháp trong vùng biển.” Một số nhà hoạch định chính sách Mỹ có ảnh hưởng và các học giả bắt đầu kêu gọi một cách tiếp cận cứng rắn hơn đối với TQ. Một ví dụ là ở trang ý kiến của tờ báo Washington Post có bài viết tựa đề “Hoa Kỳ phải kềm chế việc lấn chiếm lãnh thổ của TQ” của Michèle Flournoy và Ely Ratner. Một ví dụ khác là chủ tịch Ủy ban Tình báo Hạ viện Mike Rogers nhận xét rằng Hoa Kỳ phải phản ứng cứng rắn hơn những tuyên bố chủ quyền của TQ và phải làm cho các đồng minh và đối tác trở nên mạnh mẽ hơn.
Tóm lại xu hướng chung là việc TQ đơn phương đưa giàn khoan vào trong đặc khu kinh tế VN đã tạo thêm động lực cho một số quốc gia, gồm có Nhật Bản, Philippines, Australia, Ấn Độ và Việt Nam, điều chỉnh tư thế quân sự của họ và sắp xếp chính sách đối ngoại để chống lại sự hung hăng của TQ một cách hiệu quả hơn. Nhìn thấy xu hướng này và sự thay đổi trong nhận thức của các nước liên quan, TQ chắc chắn phải cảm thấy rằng hành động gây hấn của họ đã gây tổn hại cho chiến lược và uy tín của TQ.
Vậy thì sao đây?
Trong nhiều năm, các đối thủ của Trung Quốc, chẳng hạn như Việt Nam và Hoa Kỳ, đã chấp nhận một chính sách kềm chế vì sợ khiêu khích con rồng khổng lồ. Họ đã tự tạo ra giới hạn đối với những gì họ cảm thấy nên làm trong việc đối phó với cường quốc đang nổi lên này. TQ, về phần mình, đã khéo léo khai thác nỗi sợ hãi này với chiến lược cắt xúc xích. Chiến lược cắt xúc xích có hiệu quả khi phía bên kia thiếu quyết tâm để thoát khỏi sự tự kiểm duyệt, vì sợ hãi tình hình có thể leo thang. Sự thành công của chiến lược cắt xúc xích dựa vào một thủ đoạn: nếu bạn có thể làm cho đối thủ tự kềm chế một cách đơn phương, bạn có thể giành chiến thắng mà không cần chiến đấu. Khi đã hiểu như vậy, dĩ nhiên cách đối phó với thủ đoạn đó là: bạn phải cho đối thủ của bạn thấy rằng kềm chế không thể là đơn phương.
Biến cố giàn khoan mà TQ tạo ra là kết quả của một quá trình lâu dài của chiến lược cắt xúc xích. Nhưng cũng chính vì biến cố này TQ đã tạo cơ hội cho các nước đối thủ của họ phá vỡ những giới hạn mà lâu nay đã hạn chế hành động của các nước đó. Kết quả của cuộc khủng hoảng này cho thấy rằng TQ không khác bao nhiêu so với các diễn viên khác - TQ cũng có nỗi sợ hãi riêng về tình hình có thể leo thang.
29/07/2014
Alexander Vuving  - The National Interest
Người dịch: Đỗ Tùng  - Nguyên tác: Did China Blink in the South China Sea?
Tác giả: Dr. Alexander L. Vuving là Associate Professor ở The Asia-Pacific Center for Security Studies, Honolulu.
(DLB)

Bán xôi vỉa hè lãi "khủng" gấp 3 lương nhân viên ngân hàng

 Bán xôi ở vỉa hè ở Hà Nội chẳng mất tiền thuê chỗ, mất chút công sức, thu nhập cỡ 15 - 17 triệu đồng. Trong khi nhân viên ngân hàng chịu đủ áp lực cũng chỉ nhận 5-8 triệu đồng mỗi tháng.

Bán xôi lãi bộn, ngân hàng lương bèo


Nấn ná bữa sáng tại quán xôi quen của bà M. ở Đại Từ (Hoàng Mai, Hà Nội), qua trò chuyện tôi giật mình khi nhẩm tính mức lãi hàng tháng mà bà có thể thu về tới 15 - 17 triệu đồng.

Quán của bà lúc nào cũng rất đông khách, chỉ 9 giờ sáng là không còn hàng để bán, có hôm mát trời đắt hàng còn hết sớm hơn. Để “hút” được lượng khách đông đến mua món quà sáng này, quán xôi bà M. rất phong phú về chủng loại, đáp ứng đủ nhu cầu thực khách, cả thảy có tới 7 loại xôi: đỗ, lạc, thịt, ngô, xéo, xôi gấc và xôi vò chè đường.
Các quán xôi vỉa hè thường rất đông khách vì tiện đường đi lối lại, nhưng quan trọng phải vừa ngon lại vừa rẻ mới giữ được khách. Ảnh: Minh Thư
Trong khi đó, thu nhập nhân viên ngân hàng làm việc trong các tòa nhà, cao ốc mỗi tháng trung bình 7-8 triệu đồng/người/tùy vị trí.

Riêng nhân viên ngân hàng thuộc diện thử việc hoặc mới làm thì lương mỗi tháng chỉ vẻn vẹn … 3 triệu đồng “cứng”.

Huyền Trang – nhân viên tín dụng ngân hàng V. có trụ sở ở Cầu Giấy than thở, “ mọi người cứ nghĩ làm ngân hàng thì thu nhập cao lắm, khủng lắm. Nhưng có ai biết đâu là lương bọn em mới ra trường đi làm cũng thấp lẹt đẹt như các ngành nghề khác thôi. Như em lương chỉ có 3 triệu đồng/tháng. Mức lương này sẽ duy trì trong năm đầu tiên, sau đó sẽ được xét tăng theo chính sách của ngân hàng”.

Ai khổ hơn ai?

Bà M. bán xôi kể, bán hàng này bà phải xem thời tiết liên tục, cả ngày để còn “tùy cơ ứng biến”. Bình thường mỗi hôm đều đặn ngâm 10kg gạo nếp, nếu hôm nào trời mưa hoặc thời tiết mát thì nấu nhiều hơn, thêm vài cân gạo nữa vẫn bán hết veo.

Trong số 7 loại xôi nói trên, bà M. bật mí: “Xôi vò chè đường là lãi nhất, cứ 1kg gạo với 3 lạng đỗ xanh là thổi được 2kg xôi. Gạo thì 30.000 đồng/kg, cộng với tiền đỗ xanh, bột sắn, vài lạng đường để nấu chè cũng chỉ mất thêm khoảng 50.000 đồng nữa. Chi phí khoảng 80.000 đồng, nhưng khi bán lẻ thì tính 50.000 đồng/kg xôi, cứ 10.000 đồng/xuất được 1 lạng xôi và nửa cốc chè… Tính ra, cũng lãi được tới 120.000 đồng mỗi kg gạo nếp”.
Xôi vò chè đường là loại xôi được một chủ quán tiết lộ là có mức lãi nhất trong các loại xôi, cứ mỗi xuất thế này có giá 10.000 đồng. Ảnh: Minh Thư
Còn các loại xôi khác, theo bà M. nếu nấu khéo, sau khi trừ chi phí các loại thì mỗi kg gạo cũng lãi được 40.000 - 50.000 đồng. Đấy là chưa kể, để chiều lòng đủ đối tượng thực khách, bà còn bán thêm cả trứng vịt lộn và bánh giò cũng thu thêm về một khoản lãi.

Bí quyết chọn nguyên liệu cũng như cách nấu xôi và tự chế biến các nguyên liệu đi kèm như ruốc, hành khô phi thơm, mỡ hành…. là điều cuốn hút thực khách ăn tới ăn lui tại quán bán xôi nằm ngay đầu một ngõ nhỏ ở Đại Từ của bà M.
10.000 đồng một xuất xôi xéo, nhưng để níu thực khách chủ quán phải tự làm ruốc và tự phi hành khô để có hương vị riêng. Ảnh: Minh Thư
“Nguyên liệu chính là gạo nếp thì tôi chọn loại gạo nếp Điện Biên, 30.000 đồng/kg chứ không dùng nếp cái hoa vàng vì nếp cái hoa vàng cứng và không có độ dẻo như nếp Điện Biên. Nhiều thực khách “nghiện” món ruốc bởi đó là loại ruốc tự tay tôi đi chọn thịt và chế biến, vừa thơm ngon lại đảm bảo vệ sinh. Ngoài ra, hành khô phi mỡ hành dùng cho món xôi xéo cũng tự tay tôi chưng nên hành có độ thơm, ngậy rất tới tầm”, bà M. chia sẻ.

Song, dù chỉ là quán xôi nhỏ nhưng tiêu thụ đều đặn hàng yến gạo nếp mỗi ngày, bà M. cũng phải thức khuya, dậy sớm để có đủ loại xôi phục vụ thực khách vào mỗi buổi sáng sớm.

Với kinh nghiệm của mình, bà chỉ ngâm gạo nếp khoảng 4 tiếng, rồi đồ xôi sẵn từ tối hôm trước, đến sáng sớm hôm sau chỉ việc đồ lại.

“Sau khi đồ xôi chin, phải dỡ xôi ra rổ giá, bật quạt cả đêm cho nguội và không bị thiu, 4 giờ sáng sớm hôm sau bắt đầu cho vào đồ lại. Thế nhưng, không phải xôi nào cũng đồ trước được như thế, riêng xôi ngô bắt buộc sáng dậy sớm mới đồ, bởi với loại xôi này nếu nấu sẵn rồi đồ lại sẽ bị nhão nát”, bà M. bật mí.

Hay như xôi vò chè đường lại cần có loại trõ nấu đặc chủng, phải thật kín xung quanh thì khi chín xôi mới không bị nát. Xôi vò mà nát coi như hỏng.

Khi tôi tò mò hỏi: Nếu chẳng may hôm nào ế, không bán hết thì phải làm sao? Bà M. nói thẳng: Riêng hàng xôi của tôi chẳng có hôm nào ế, nhưng đã làm nghề này thì cũng phải am hiểu mọi cách xử lý.

“Xôi để nguội, gói từng loại vào túi rồi cất lên ngăn đá khoảng 10 tiếng, sau đó để ra ngoài, đến sáng hôm sau đồ lại, xôi vẫn ngon như bình thường, đảm bảo không làm sao cả”, bà M. tiết lộ.

Theo những thông tin mà bà M. chia sẻ, có thể nhẩm tính khoản lãi mỗi ngày bà thu về cũng khoảng 500.000 – 600.000 đồng, như vậy mỗi tháng lãi khoảng 15 - 17 triệu đồng.

Trong khi Trang cũng chia sẻ, với những nhân viên làm việc lâu năm hơn ở các vị trí khác trong ngân hàng thì thu nhập trung bình khoảng 7-8 triệu đồng/người. Cũng có thu nhập chưa nổi 10 triệu đồng/tháng, Khánh – nhân viên ngân hàng M. tại Hải Phòng tiết lộ, sau gần 5 năm làm việc và cống hiến giờ thu nhập mỗi tháng của Khánh khoảng 10 triệu đồng, nhưng nếu trừ tiền bảo hiểm, thuế… thì chỉ còn ngót nghét 8 triệu đồng/tháng.

Nếu so với thu nhập của các bà bán xôi thì lương nhân viên ngân hàng chỉ bằng một nửa, thậm chí bằng 1/3.
Minh Thư
(Infonet)

Trung Quốc cần Việt Nam hơn Việt Nam cần Trung Quốc

Trung Quốc cần Việt Nam hơn Việt Nam cần Trung Quốc

Boxitvn
Thiện Tùng
Xét về nhiều mặt, nhất là về mặt địa chính trị, hiện nay Trung Quốc (TQ) cần Việt Nam (VN) hơn VN cần TQ. Bởi vậy, TQ rất sợ VN vuột khỏi tầm tay mình.
Mộng bá đồ vương của TQ đã sớm lộ nguyên hình, khiến cho cả thế giới buộc phải theo dõi nhứt cử nhứt động của TQ, xem TQ như con ác quỷ.
Dầu đất rộng, người đông, kinh tế và quân sự có bước phát triển nhất định, nhưng TQ không thể muốn làm mưa làm gió gì cũng được. TQ đang cựa quậy trong cái rọ, lâm vào cảnh tứ bề thọ địch: phía Bắc có đại Nga; phía Tây có cường quốc Ấn Độ; phía đông có Nhựt, Nam Hàn và cả Đài Loan; phía Nam có khối ASEAN – VN đang đứng mũi chịu sào – cả phía Đông và phía Nam đều được Mỹ hậu thuẫn nhằm bảo vệ đồng minh và lợi ích của nước họ.

Vì phi nghĩa, luôn bị cô lập, TQ rất sợ (đố kỵ) ba thứ: kiện cáo, bàn luận đa phương, liên minh liên kết – nói đến ba thứ này họ như đĩa phải vôi.
Muốn bung ra bên ngoài, TQ chỉ còn dựa vào hai thằng em là Bắc Hàn và VN. Nhưng gần đây, Bắc Hàn tỏ ra “cứng đầu”, ngoài thẳng tay trị những phần tử thân TQ, còn định hiệp thương thống nhứt hai miền của bán đảo Triều Tiên. Hơn nữa, nếu TQ bung ra hướng Bắc Hàn cũng chỉ ló đầu ra mé biển để lấy dưỡng khí chớ chẳng có xơi múi được gì. Bung về hướng Nam béo bở hơn, nhưng ngặt nỗi, các đồng chí VN luôn tỏ ra bất lực, không trị nổi đám dân Giao Chỉ luôn cứng đầu, hở là kéo biểu tình bài Trung, đòi liên minh liên kết, đòi “thoát Hán”, v.v.
Việt Nam tuy còn nghèo, nhưng vị thế địa chính trị thoáng hơn TQ, ngoài dựa vào khối ASEAN, có bờ biển bao la tha hồ mà ngoại giao, ngoại thương với thế giới bên ngoài qua Thái Bình Dương trước mặt, Ấn Độ Dương sau lưng.
Nếu TQ không biết điều, ép quá, VN có thể nghỉ chơi với phương Bắc, cũng còn được phương Đông, phương Tây, phương Nam; chớ còn TQ nghỉ chơi với VN thì không có đường ra, phải cam phận sống trong cái rọ, tứ bề thọ địch như đã nói.
Nói về biển, nếu nước nào cũng giữ hải phận của mình theo tiêu chuẩn chung, ngoài ra là hành lang quốc tế, không nước nào được đặc quyền đặc lợi ở đó, thì biển Đông Bắc Á hay biển Đông Nam Á (biển Đông), TQ cũng chỉ còn lần theo hải phận quốc tế, cái lưỡi bò mà họ phịa ra ở biển Đông sẽ bị vô hiệu hóa.
Bí lối, TQ sẽ dùng sức mạnh đánh chiếm lãnh thổ VN rồi sao? – Muốn thì cứ làm nữa thử coi, trước tiên TQ phải xem nay là thời đại nào – không còn là thời Tống, Minh, Thanh; phải nhớ rõ dân tộc VN có truyền thống giữ nước; hơn nữa phải biết VN đang vừa là thành viên của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, vừa là thành viên Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, khi VN ngộ nạn do bị hiếp đáp, những tổ chức cộng đồng quốc tế này không thể/được làm ngơ. Nếu không can thiệp bằng quân sự, họ chỉ cần ra lịnh phong tỏa biển và cấm vận cũng làm cho cái công xưởng TQ sụp đổ – Hãy lấy Nga đối xử với Ukraina làm gương soi.
Nếu TQ dùng sức mạnh chiếm biển đảo của VN thì sao? – Có thể họ làm liều, nhưng rốt cuộc phần thắng chưa chắc thuộc về họ. Dễ thấy nhất, ho làm thế, khác nào chọc vào ổ ong vò vẽ: ngoài nội lực tự vệ của VN, các nước có quyền lợi sẽ tham gia bảo vệ đường hàng hải huyết mạch ở Biển Đông; khiến các nước ASEAN phải liên kết với nhau chặt chẽ hơn, và là cơ hội cho VN “thoát Trung”.
Thời đại xâm lược cứng đã qua rồi, chỉ có thể dùng mưu mẹo xâm lược mềm như mua chuộc lãnh đạo, cài cắm dân, đồng hóa dân tộc, biến những vùng không tranh chấp thành tranh chấp để vụ lợi… để rồi, từng bước chuyển từ phụ thuộc từng phần sang lệ thuộc toàn phần theo kiểu thực dân mới.
Hiện nay dân tộc VN còn ba cái khó cần được tháo gỡ. Một là, không biết việc “đi đêm” và ký kết với nhau những gì giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc – việc này tuy lớn nhưng không sao, bởi vì hai đảng ngầm ký với nhau, nhân dân VN không có trách nhiệm thực hiện?. Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam đang thủ vai lãnh đạo đất nước mà còn vương vấn ý thức hệ với cộng sản với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn tiếp tục đặt lợi ích Đảng trên lợi ích Dân tộc.
Ước gì Đảng Cộng sản Việt Nam mạnh dạn hơn, rộng lượng hơn, đặt lợi ích Tổ quốc và Dân tộc trên lợi ích của Đảng thì dễ biết mấy.
Phát huy truyền thống cha ông, khó mấy cũng phài bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc dầu phải sụp đổ bàn thờ Tổ. Chỉ còn ngại một điều là Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh phát biểu “hơi yếu” trước tình cảnh nước sôi lửa bỏng này.
30/07/2014
T. T.
Tác giả gửi BVN.

ĐẢNG HÃY MAU THOÁT KHỎI NGHỊCH CẢNH “HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT”

Tễu

ĐẢNG HÃY MAU THOÁT KHỎI NGHỊCH CẢNH
“HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT”!
Mạc Văn Trang
Câu chuyện dân gian “Hồn Trương Ba da Hàng thịt” chỉ dài hơn một trang sách in và có mấy nhân vật rất giản dị, nhưng với tính nhạy cảm thời đại và tài năng siêu việt, Lưu Quang Vũ đã biến thành vở kịch tầm cỡ nhân loại.
Tình cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời tới nay, giữa lý luận và hành động cũng chẳng khác nào tình cảnh “Hồn Trương Ba da Hàng thịt”, hay “Hồn Các Mác, xác Bần nông”! Có điều khác là “hồn” của Trương Ba hay của Các Mác (Karl Marx) vào cái xác Đảng CSVN thì nó bị cái thân xác Bần nông làm lộn tùng phèo, bát nháo, chỉ còn là những khẩu hiệu, những ước muốn viển vông, huyễn hoặc; mà “hồn” ông Trương Ba hay “hồn” Các Mác thật cũng chẳng hiểu nổi cái mớ bòng bong trong đầu đảng CSVN – thân xác Bần nông, nó là cái quỷ quái gì!

Ngay từ năm 1930 khi Đảng CSVN mới thành lập, chả biết cái “hồn” lý luận “Đấu tranh giai cấp” của ông Mác cao siêu thế nào mà vào cái “xác phàm” Đảng CSVN lại thành ra “Trí, Phú, Địa, Hào – đào tận gốc, trốc tận rễ”! Rồi đến cải cách ruộng đất “long trời lở đất” khiến hàng vạn người chết tức tưởi, vì cái mồm tố điêu, cái tay quen cướp của, giết người!
Khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, ước mơ ngàn đời của người bần, cố nông vừa có, chưa kịp sướng, thì Đảng thu gom luôn ruộng đất vào hợp tác xã… cho trắng tay! Kết thúc hơn 20 năm cao trào hợp tác hóa nông nghiệp, thắng lợi của “Đấu tranh giữa hai con đường” là “Cái đêm hôm ấy đêm gì?” khủng khiếp. Hợp tác xã tan vỡ, Đảng phải “Đổi mới”, “cởi trói”, chia ruộng cho nông dân để khuyến khích nông nghiệp phát triển. Nhờ đó Việt Nam không còn phải “vác rá đi xin bo bo và ngô cho súc vật” về ăn, mà còn xuất khẩu gạo nhất nhì châu Á… Thế rồi đùng cái, Đảng lại “thu hồi đất”, cưỡng chế khắp nơi, để trao đất cho các “tư bản mới nổi” và nông dân “thi đua” khiếu kiện thấu trời!?…
Cái lý luận “Làm chủ tập thể”, “Sản xuất lớn XHCN”, “Toàn dân bàn việc nước, sắp xếp lại giang sơn”… thành ra là nhập tỉnh, huyện, xã tùm lum, sau mươi năm tranh giành, đấu đá mệt nhoài, lại ăn mừng “tái lập” tỉnh, huyện, xã “vũ như cẫn”! Nhưng cơ mà… nhập cũng vớ bẫm, tách càng bẫm hơn, nên “cái thân xác” khỏe re, càng hăng hái tư duy “lý luận mới”… “Làm chủ thiên nhiên” thì “về cơ bản đã chặt phá xong rừng”, bô- xit, than, vàng, ti- tan đến cát, đá… cũng bị các loại “tặc” đào bới tung tóe, tan hoang; hầu hết các dòng sông bị chặt khúc ra làm thủy điện vô tội vạ; hầu hết ao hồ, sông suối bị ô nhiễm, bị “bức tử”! “Làm chủ xã hội” thì cả xã hội như chợ trời, đầy “con phe”, kẻ cắp, ma cô… “Làm chủ bản thân” thì càng “phê, tự phê” thì “bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên” thành “bầy sâu” lúc nhúc càng nhiều thêm! “Chủ nghĩa tập thể” lại biến thành những phe nhóm lợi ích phá nát đất nước và kỷ cương xã hội, tạo nên lối sống cá nhân tham lam vị kỷ trắng trợn chưa từng thấy trên đất nước này.
Cái lý luận về “Bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên xây dựng chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản – bằng tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng”… hóa ra lại là sau khi phá nát nền kinh tế – xã hội thì tái lập chế độ tư bản sơ khai ở Việt Nam; các quan chức cùng với những nhóm lợi ích của họ trở thành tầng lớp “tư bản đỏ”, còn nông dân, công nhân, ngư dân, diêm dân… là tầng lớp bị bóc lột tàn tệ. Nhóm người bị tha hóa, lưu manh hóa ngày càng gia tăng, hệt như F. Enghels mô tả trong “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh” (năm 1844).
Cái mồm thì leo lẻo “Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” thì kéo nhau đến Hội nghị Thành Đô (1990) xin làm đồ đệ cho đại ca Trung cộng; Mồm nói “Đạo đức là gốc”, nhưng quan chức suy thoái đạo đức tuột dốc không phanh! Mồm nói “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” nhưng quan chức đua nhau ăn cắp, ăn cướp, xây nhà lầu, sắm xe hơi, ăn chơi theo kiểu các ông hoàng, bà chúa… Của công bòn rút từ mồ hội, nước mắt của dân thì chi tiêu như phá, thất thoát hàng trăm tỉ, nghìn tỉ, chẳng coi ra gì! Ông Cụ nói: “Quân đội trung với nước…”  thì nó bẻ queo thành: “Quân đội trung với Đảng…” (?), “Công an nhân dân” thành “Công an chỉ biết còn Đảng còn mình”; Tòa án nhân dân thì xử dân như kẻ thù, xử quan chức phạm tội như người trong nhà đóng cửa bảo nhau; “Đảng ta là đạo đức là văn minh…” thì “bộ phận không nhỏ” ngày càng to, biến thành “bầy sâu” lúc nhúc mê tín, dị đoan, dắt nhau “dò đá qua sông”, đi vào ngõ cụt! Cụ bảo “Chính phủ không làm được việc thì dân đuổi đi”, nhưng nó cứ trơ ỳ ra bảo “Đảng phân công”, “Đảng quy hoạch” nên không thể từ chức! Cụ bảo: “Dân chủ là cho dân mở miệng ra” thì nó còng tay, bịt miệng ai dám “mở miệng” phê phán những sai lầm, tội lỗi của nó! Cụ bảo “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”, nó cứ làm ngược lại!… Thế mà quanh năm suốt tháng cứ phát động, chăng đầy pa nô, khẩu hiệu rồi sơ kết, tổng kết, nêu gương… học tập, làm theo Hồ Chí Minh!
Mồm xoen xoét: “Phải phát triển nhanh và bền vững” mà làm đường giao thông đắt gấp 3 – 4 lần của Mỹ, vừa khánh thành đã lún sụt; đường ống dẫn nước từ sông Đà về Hà Nội hơn một năm vỡ 9 lần, khiến bao người dân khốn đốn trong mùa hè; các công trình “Nghìn năm Thăng Long” thì mới mấy năm đã sập sệ. Biết bao nhiêu công trình ào ạt xây kém chất lượng, tranh thủ rút ruột ăn chia, nay mai hư hỏng hàng loạt, con cháu tha hồ “phá đi làm lại” và trả nợ còng lưng!… Tâm lý nhiệm kỳ chộp giựt, “bóc ngắn cắn dài”, “cái gì cũng ăn”, “Ăn không biết chán”, cốt “làm giàu cho con em nhóm ta, kệ cha con em chúng nó” phơi bày ra trên mọi lĩnh vực của đời sống, trước mắt bàn dân thiên hạ một cách trơ trẽn, sống sượng, lố bịch… Phát triển bền vững là những gì làm ngày hôm nay sẽ để lại cho muôn đời con cháu được hưởng phúc, hưởng lộc và không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các thế hệ mai sau. Thế mà môi trường bị hủy hoại, các công trình xuống cấp từng ngày, nợ chồng chất và “vấn đề chủ quyền đời ta không giải quyết được thì đời con, đời cháu, chắt ta tiếp tục giải quyết”!
Mồm lẻo lẻo ta khác tư bản ở chỗ “Nền kinh tế của ta là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước”, nhưng chẳng ai chỉ ra “cái định hướng XHCN” nó tròn méo ra sao! Lại láu cá ở chỗ, cứ cái gì “suy thoái”, “tệ nạn”, “thoái hóa, biến chất”, tóm lại là tất cả cái gì xấu xa của chế độ là đổ tại “mặt trái của cơ chế thị trường” (?). Nhưng lạ hơn nữa là, đã biết cái “mặt trái” của nó  đen đúa, bẩn thỉu như thế, mà các nhà lãnh đạo đến nước tư bản nào cũng khẩn khoản xin công nhận cho Việt Nam có cái “cơ chế thị trường đầy đủ”(?).
Lý luận “Ba dòng thác cách mạng của thời đại…” thì dòng thác chủ đạo “cách mạng xã hội chủ nghĩa” tan rã rồi. Mấy “nước anh em cùng ý thức hệ” thì Triều Tiên vừa cha truyền con nối kiểu vua chúa, vừa như Chí Phèo, thoát chết đói nhờ viện trợ lương thực, nhưng chỉ thích dọa đánh nhau; Cu Ba cũng đang “giành nhiều thắng lợi” bằng cách “cập nhật mô hình kinh tế” (rón rén theo kiểu tư bản) để xóa đói giảm nghèo; ông anh Trung cộng xây dựng CNXH theo màu sắc Đại Hán bá quyền, ban cho Việt Nam “4 tốt” + “16 chữ” để Đảng CSVN ngoan ngoãn thần phục, nhưng trước sự phẫn nộ của nhân dân, ông Thủ tướng phải nói “Quyết không đánh đổi chủ quyền thiêng liêng lấy cái thư hữu nghị viển vông”…Thì ra suốt bao nhiêu năm nay toàn ra sức bảo vệ, gìn giữ trân trọng, ôm hôn cái thứ hữu nghị viển vông với Trung cộng, còn thực tế lại là “sống trong vòng tay của bầy yêu quái”!
Cái nhãn “Đảng cộng sản”, “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là phấn đấu cho lý tưởng “Cộng sản chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới”, mà “mục tiêu của giai đoạn đầu là Chủ nghĩa xã hội” mới lãng mạn, mịt mùng làm sao! Còn trong thực tế thì dân bảo: “Chúng nó ăn như Rồng cuốn, nói như Rồng leo, làm như Mèo mửa!”. Trở lại với Đảng (của những người) lao động và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rồi theo con đường dân chủ để sống cho tử tế, chân thật với nhân dân…
Tóm lại, hồn vía Đảng ta toàn mung lung huyễn hoặc, trong khi hành động thì theo kiểu Hành vi chủ nghĩa: Thấy kích thích thì Phản ứng (S – R). Kích thích là “phong bì”, “chỉ thị” – phản ứng là ký đại, vơ đầy túi tham; là cưỡng chế, đàn áp không cần nghĩ đến hậu họa!
Chỉ có thoát ra khỏi nghịch cảnh “ Hồn Trương ba, da Hàng thịt”, “Hồn Các Mác, xác Bần nông” mới thoát được “ngôn – hành bất nhất”, mới trở thành người BÌNH THƯỜNG để có suy nghĩ đúng đắn và nhất quán với hành động. Không “phi thường, vĩ đại, vô địch, quang vinh, muôn năm nữa”! Chỉ mong nó BÌNH THƯỜNG thôi! BÌNH THƯỜNG mới hòa đồng được với nhân dân, mới không trở thành “đứa con hoang đàng”  giữa lòng dân tộc!
Hà Nội, 30/7/2014.
  1. V.T

TÔI ĐỒNG TÌNH VỚI LÃO TƯỚNG NGUYỄN TRỌNG VĨNH VÀ CÁC ĐẢNG VIÊN

Tễu

Tôi tên Cao Vi Hiển  vào Đảng CSVN năm 1979 nguyên là Phó Giám đốc sở Thương Mại DL tỉnh Kon Tum ký tên đồng tình với các đảng viên, đứng đầu là đảng viên tiền khởi nghĩa  Nguyễn Trọng Vĩnh gửi Thư ngỏ bày tỏ ý kiến với BCH TƯ, BCT Đảng cộng sản Việt Nam ngày 28/7/2014.

Tôi được biết rất nhiều cán bộ đảng viên, trong đó không ít đảng viên cao cấp đứng trên bục diễn đàn, chủ trì hội nghị, phát biểu thảo luận chính thống thì nói một đường, chuyện trò với nhau ở mọi nơi (ngoài chính thống) thì nói khác, mạnh miệng nhất là nói với người thân. Trong cuộc họp thì tỏ ra kiên định mục tiêu lý tưởng cộng sản, đề xuất giải pháp phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng tình chính sách ngoại giao với Trung Quốc … rồi phê phán chung chung có vẻ thẳng thắn để tỏ ra mình có tinh thần trách nhiệm đấu tranh xây dựng vân vân và vân vân. Thế nhưng ra ngoài (thậm chí ngay hành lang hội nghị lúc giải lao là đã tỉ tê phẫn nộ tham nhũng, làm gì có chủ nghĩa xã hội mà định hướng, làm gì có chuyện Trung quốc hữu nghị với ta… Hiện nay câu chuyện lo lắng bức xúc với lâm nguy của tổ quốc – Ngàn năm nộ lệ giặc tàu, đất nước ta tụt hậu ngày càng xa về kinh tế về giá trị văn minh…so với các nước trong khu vực và thế giới hoặc sụp đổ chế độ dẫn đến hậu quả khôn lường.
Vì sao trong nhiều năm qua đảng viên lại không dám có ý kiến chính thống những gì mình nhận thức lo lắng bức xúc như thế ? Trước hết nội bộ đảng không có dân chủ mà nội bộ đảng độc quyền không có dân chủ thì làm sao có dân chủ trong hệ thống hành chính Nhà Nước dẫn đến cán bộ công chức cũng cùng chung số phận thủ thân. Xin lỗi cho tôi nói thẳng là chính chúng ta cũng có lỗi ngại va chạm, lo bị thua thiệt… Vậy thì kì này hãy cùng nhau có ý kiến cùng với bác Vĩnh nhé !
Tôi nghĩ tổ quốc ta đang lâm nguy và cũng hé ra một vận hội mới, Đảng và Nhà nước sẽ lắng nghe mà nếu không lắng nghe thì cũng không xử lý gì được nếu có nữa triệu đảng viên ký tên. Hy vọng suy nghĩ và mong muốn của tôi đồng cảm với nhiều đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam.
Cao Vi Hiển

Đảng chai sạn khiến tôi nhiều hư hỏng

 Boxitvn

PV Quốc Doanh
Không ít người cho rằng, nhờ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có cuộc sống của họ (và dân tộc) hôm nay. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn trong bài “Đảng là lẽ sống của tôi” có câu “Đảng đã cho tôi lẽ sống niềm tin”; hoặc như ông Đại tá, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo ưu tú Trần Đăng Thanh ở Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng nói dịp thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam tháng 12-2012, Đảng đã cho ông (và nhiều người) cái sổ hưu.
PV Quốc Doanh tôi là đảng viên lâu năm của Đảng, có được hưởng lợi lộc từ Đảng, từ chế độ do Đảng tạo ra, nhưng không thể nói nhờ có Đảng mới có cuộc sống của tôi. Còn nói nhờ có Đảng, gia đình (cha mẹ) tôi mới có cuộc sống ấm no thì không đúng sự thật.
Dường như có bao nhiêu người nói “ơn Đảng” thì cũng có bấy nhiêu người nói ngược lại, có bao nhiêu lời “ngợi ca Đảng” thì cũng có bấy nhiêu phản bác. Song chẳng hề gì, có ai giúp nhau được mọi mặt đâu, huống chi xã hội. Hôm nay, tôi muốn trình bày vấn đề khác, vì đảng viên lâu năm, được Đảng giáo dục từ nhỏ, Đảng đã làm cho tôi nhiều chai sạn. Cuộc sống dưới bầu trời và giữa cây cỏ tươi xanh, chai sạn cũng có nghĩa hư hỏng.

Lúc còn nhỏ, ông bí thư chi bộ cạnh nhà tôi phản bác việc thờ cúng, cho rằng mê tín dị đoan thì tôi bớt linh thiêng cả việc thờ cúng ông bà, tổ tiên. Năm 1975, tôi ở trong đoàn quân giải phóng, “tiếp quản” một đô thị, được Đảng dạy rất kỹ về địch-ta, vùng tạm chiếm và vùng giải phóng, cách mạng và phản cách mạng, đấu tranh giai cấp, hai phe, ba dòng thác cách mạng, v.v. Một lần, tôi ngồi quán uống trái dừa rồi nạo cùi ăn, cùi mỏng nên lòng thòng như bún, mấy thanh niên nam nữ ngồi gần lén nhìn bấm nhau cười. Tôi ngoảnh sang thấy vậy thì mắc cỡ nhưng cũng trợn mắt để đe doạ, họ vội vàng đứng dậy bỏ đi. Tôi thuộc lực lượng cách mạng, lực lượng giải phóng luôn nghĩ ở vị trí cao hơn những người ở “vùng tạm chiếm”. Vào vườn mận chín đỏ đẹp mắt, rất thèm, bà chủ vườn xởi lởi mời ăn trái mận thì tôi thẳng thừng từ chối, lại mời tôi lúc rảnh rỗi quay trở lại thì tôi ừ hự mà trong bụng nhủ thầm: không được để không bị “mua chuộc”.
Thực tâm tôi không muốn vậy nhưng Đảng đã dạy tôi nghĩ vậy. Hồi đó, chẳng phải những người thuộc “hàng ngũ nguỵ quân, nguỵ quyền” phải đi học tập cải tạo? Những người ở đô thị phải đi vùng kinh tế mới để tự cải tạo? Các vị chính uỷ, chính trị viên trong quân đội luôn răn dạy (và đe doạ) chúng tôi, chiến sĩ cách mạng phải luôn cảnh giác với “viên đạn bọc đường”! Cứ chủ nhật hay lễ tết, tôi rất muốn vào nhà dân chơi mà không dám, thi thoảng vào nhà dân là phải tìm hiểu “địch-ta”, “nguỵ quân nguỵ quyền hay cách mạng” rồi nghe đủ thứ giải thích để chứng minh đó là phe ta (từng giúp cách mạng, có người theo cách mạng hoặc người tập kết, v.v) thì rất mệt mỏi.
Sau này, hễ nhớ lại là tôi mắc cỡ với chính mình: kệch cỡm, lố lăng. Trong lúc, vẫn tự nhận là “quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” và thực sự trở thành quân đội anh hùng là nhờ vậy nhưng khi có được chính quyền, thì chia nhân dân ra nhiều loại và quân đội (cả công an) chỉ coi trọng nhân dân loại một và lo bảo vệ Đảng, thực chất là bảo vệ những người đang ngồi ở ghế lãnh đạo Đảng.
Tôi đã được khuyến khích phát triển cái tâm lý thấp hèn, bội bạc, chia rẽ dân tộc, đặc quyền đặc lợi. Lúc đó, tôi chưa nhận ra đấy là xấu, chưa nhận ra sự bất bình thường mà tưởng là bình thường, như lẽ hiển nhiên, còn lấy làm hãnh diện, vênh vang. Mỗi lần đi đây đó, ra bến xe bến tàu với giấy công lệnh của quân đội, được đứng vào hàng ưu tiên để mua vé, tự hào lắm. Cho đến khi, một vị chính trị viên tiểu đoàn độc lập, trên đường về phép, bị phát hiện bán giấy công lệnh khống (ông có quyền ký và đóng dấu; giấy công lệnh của quân đội được ưu tiên đi lại trên cả nước) thì tôi bắt đầu suy nghĩ khác.
Trước đó, tôi rất tin lời các vị chính uỷ, chính trị viên, những đại diện trực tiếp của Đảng trong đơn vị quân đội. Nghị quyết Đại hội 4 của Đảng cho rằng, kinh tế nước ta phải xây dựng công nghiệp nặng làm nền tảng để phát triển công nghiệp nhẹ và nông nghiệp. Tôi có đọc một số tài liệu về phe xã hội chủ nghĩa đang tiến tới “phân công quốc tế” để phát huy thế mạnh từng nước, liền phát biểu, nếu xây dựng một nền kinh tế quốc gia “khép kín từ A đến Z” sẽ không đủ khả năng và cũng không phù hợp xu thế thời đại. Một cán bộ chính trị cắt ngang ý kiến của tôi, bảo rằng Nghị quyết Đảng đã chỉ ra thì không được suy nghĩ khác. Tôi im ngay, không dám cãi. Khi nghe câu chuyện truyền miệng về một vị chính uỷ, trong chiến tranh mỗi lần hành quân được lính cáng võng và ông bảo là “cáng chủ nghĩa Mác-Lênin”, tôi nhận xét, nếu vậy xếp ba lô những cuốn sách về chủ nghĩa Mác-Lênin mà đeo sẽ khoẻ hơn, liền bị kiểm điểm và tôi không dám nghĩ tiếp nữa.
Tư tưởng cho rằng Đảng được độc quyền tư duy, Đảng là cách mạng, công cụ của Đảng cũng ở trên nhân dân hình thành trong tôi gần như không cần bàn cãi. Một lần, có vị sĩ quan khoe đã mua được mấy công đất vùng ven đô để làm nhà, chuẩn bị đưa vợ con ở quê lên, tôi băn khoăn: Tại sao phải mua đất? Vì tôi nghĩ, sĩ quan nhiều năm trong quân đội, đánh nhiều trận, chịu đựng hy sinh gian khổ để “giải phóng miền Nam” thì phải được cấp đất. Suy nghĩ của tôi còn có cơ sở thực tế, rất nhiều “cán bộ cách mạng” đã được chia biệt thự, nhà cửa, đất đai ở miền Nam; nhất là sau khi công hữu hoá đất đai, một trưởng ấp cũng có quyền cấp đất; rồi làn sóng vượt biên để lại nhà cửa, đất đai khắp nơi cho “cán bộ cách mạng” kiểm kê chia nhau. Chiếm đoạt (cướp đoạt) của người khác nhưng có tổ chức, do Đảng cầm đầu, tôi thấy là lẽ hiển nhiên của cách mạng.
Cho mình là công dân hạng nhất, ở trên nhiều “loại công dân khác”, theo tôi là loại tư duy quái gở nhất, làm hư hỏng con người nặng nề nhất. Gần đây, tôi đã bất ngờ khi đọc tài liệu về nước mắm Phú Quốc, biết hồi xưa thực dân Pháp đưa người An Nam vào lính viễn dương, biết lính An Nam thèm nước mắm, một vị tướng Pháp đã yêu cầu chuyển nước mắm Phú Quốc cho lính An Nam. Trong quân đội Việt Nam, hầu như chưa bao giờ được quan tâm tìm hiểu và đáp ứng những nhu của người lính tương tự như thế; đừng nói với nhân dân, nhất là “nhân dân hạng dưới”.
Chuyển sang viết báo quốc doanh, chai sạn do Đảng rèn luyện trong tôi càng nghiêm trọng. Một thời kỳ dài, mọi việc Đảng làm được ca ngợi tuyệt đối đúng, những cơ quan của Đảng như Tổ chức, Kiểm tra, Nội chính, Tuyên huấn và cả công cụ của Đảng như Công an, Quân đội, Thanh tra được coi không bao giờ sai, nếu có sai chỉ là “hiện tượng cá biệt không phải bản chất” hoặc “trong khâu thực hiện” và ở “địa phương”. Lúc đó, lấy được kết luận thanh tra, điều tra hay cáo trạng của viện kiểm sát, bản án của toà án là thả sức phóng bút viết theo, thêm mắm muối a dua hết mức, lên án nặng nề những người là đối tượng của các cơ quan ấy, đòi “trừng trị”, “xử lý nghiêm”. Sau này, liên hệ đến oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn và nhiều vụ oan sai khác nữa, thấy báo chí đã tiếp tay oan sai ghê gớm như thế nào. Tình trạng báo chí chai sạn, vô cảm đến hôm nay chưa phải đã hết, cứ đọc những tờ báo của công an, viện kiểm sát, toà án và cả tờ Quân Đội Nhân Dân hay Nhân Dân sẽ thấy, nhà báo cũng tự cho mình cái quyền suy luận quy chụp, kết tội con người (hoặc trào lưu, xu hướng) rất tuỳ tiện, ngạo mạn. Lắm lúc, tôi không khỏi rùng mình: Báo chí quốc doanh đã tiếp tay gây oan sai cho bao nhiêu người? Luật nhân quả nếu có, tội lỗi gây ra mấy đời trả được?
Nghĩ đến luật nhân quả, tôi lại càng rùng mình về những chai sạn Đảng đang gieo cho người khác. Cái ông sĩ quan an ninh của công an đạp vào mặt người biểu tình chống Trung Quốc xâm lược ở Hà Nội hôm 17-7-2011, ảnh vẫn lưu giữ rõ ràng trên mạng. Rồi mấy ông mấy bà trong buổi sáng đầu năm nay, cũng ở Hà Nội, ôm nhau nhảy “xòn xòn đô xòn” trước Tượng đài Lý Thái Tổ, để ngăn cản những người muốn làm lễ tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới chống Trung Quốc xâm lược năm 1979. Sự chai sạn đã nghiêm trọng tới mức, chai sạn trước sự tồn vong đất nước. Trời ơi, những hình ảnh ấy lưu giữ gần như vĩnh viễn trên mạng, giữa thế giới, ngàn đời bền hơn tượng đồng bia đá, làm sao gột rửa trong lòng con cháu?
clip_image002
Sĩ quan an ninh của công an đạp vào mặt người biểu tình chống Trung Quốc ngày 17-7-2011 ở Hà Nội.
clip_image004
Vị sĩ quan an ninh của công an đạp vào mặt người biểu tình chống Trung Quốc là người mặc áo sọc ngang.
clip_image006
clip_image008
Ôm nhau nhảy múa trước Tượng đài Lý Thái Tổ ở Hà Nội, đầu năm nay, để ngăn lễ tưởng niệm liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới chống Trung Quốc xâm lược năm 1979.
Sự chai sạn trong tình cảm, tư tưởng không dễ nhìn thấy, mà nhìn thấy cũng không dễ sửa được. Xem phim nước ngoài, thấy chàng trai trẻ không dám làm thịt con cá vì sợ thấy máu cá, tôi cũng buồn cho mình vì không bao giờ còn có được tình cảm với muôn loài một cách hồn nhiên như thế. Tôi được Đảng giáo dục từ tuổi thơ tư tưởng đấu tranh giai cấp, bạo lực cách mạng nên nhìn thế giới quen con mắt tìm kiếm kẻ thù, tìm để tiêu diệt hoặc lên án, hết kẻ thù giai cấp đến kẻ thù phá hoại nhiều mặt, khi không còn kẻ thù của phe xã hội chủ nghĩa (vì phe xã hội chủ nghĩa không còn) thì tìm kiếm kẻ thù diễn biến hoà bình, hết diễn biến từ bên ngoài đến tự diễn biến bên trong, v.v. Một cuộc sống luôn tìm kiếm kẻ thù là con người và gồng mình lên để tiêu diệt kẻ thù là con người, chai sạn có khi còn hơn loài thú vật.
Hồi nào, các báo cáo của công an và một số ngành thường khoe phá được bao nhiêu vụ “tư thương lũng đoạn thị trường thương nghiệp xã hội chủ nghĩa”, nay có vị tướng công an khoe đã đánh sập được mấy trăm trang mạng lớn nhỏ. Tự do làm ăn, tự do suy nghĩ của con người cũng trở thành kẻ thù của Đảng, đây là sự chai sạn gây hậu quả nặng nề, có hại dai dẳng cho sự phát triển. “Không có gì quý hơn độc lập và tự do”, câu nói của Hồ Chí Minh, người mà Đảng hô hào học tập mấy năm nay nhưng chỉ hô hào học tập đạo đức, còn tư tưởng Hồ Chí Minh thì Đảng không chịu học.
Không được tự do suy nghĩ và làm ăn, nhiều doanh nhân nói với tôi, không muốn phát triển sản xuất kinh doanh, chỉ làm vừa đủ giàu là nghỉ. Nhiều nhà báo, nhà văn, nhà lý luận trở thành bồi bút, viết nịnh hót cho êm tai lãnh đạo Đảng, chứ không vì cuộc sống, vì chân lý. Bản thân tôi, không muốn làm bồi bút thì cũng phải ở trong vòng bồi bút, nhiễm tư tưởng bồi bút và biết đâu, có những bài bây giờ tưởng không là bồi bút nhưng sau này sẽ rõ ra bồi bút? Đảng viên thường không có khả năng nhìn xa trông rộng, nhờ cậy vào lãnh đạo thì lại bị Đảng chai sạn làm cho hư hỏng thêm.
Ai đọc lịch sử nước Mỹ đều biết, sau cuộc nội chiến Nam – Bắc, phía Bắc thắng trận, đã cho xây dựng nghĩa địa chôn cất tất cả những người thiệt mạng trong trận đánh cuối cùng, bất kể họ ở phía nào, Nam hay Bắc, tức là không phân biệt “địch hay ta”. Cái câu “chính quyền của dân, do dân, và vì dân” được Tổng thống Mỹ Lincoln đọc lên trong bài diễn văn chỉ có 272 từ, ở buổi khánh thành nghĩa trang này. Còn lịch sử nước ta, đời Trần đánh quân Nguyên, triều đình phải rời Thăng Long lúc ban đầu thế yếu, sau thắng trận trở về, có vị quan dâng lên một cái tráp đựng bản danh sách những kẻ theo địch mà ông thống kê được. Vua khen thưởng cho người biết đề cao lợi ích dân tộc lúc nước mất nhà tan nhưng liền đó, sai người đốt cái tráp với bản danh sách ấy trước mặt bá quan văn võ. Ý nhà vua rất rõ, đất nước hoà bình rồi, bỏ hết mọi lỗi lầm lúc loạn lạc, muôn dân quên hận thù để đoàn kết xây dựng đất nước. Lãnh đạo có tầm cao nhìn xa hơn quan lại thấp bé, để đất nước yên lành cường thịnh, chứ không khuyến khích sự hẹp hòi, ngu muội thú tính trong mỗi con người nhỏ bé.
Trung Quốc đặt giàn khoan HD 981 vào vùng biển nước ta, tôi hỏi một vị cán bộ cao cấp của Đảng, tại sao không liên minh với Mỹ để chống sự xâm lược của Trung Quốc? Vị này đáp, muốn lắm nhưng đối xử làm sao với hệ thống tượng đài, bia chiến thắng và cả bia căm thù Pháp, Mỹ đã dựng lên khặp nước? Tôi đảng viên thường thêm buồn vô cùng sau câu trả lời, chính chủ trương của Đảng suốt mấy chục năm qua dựng lên vô vàn tượng đài và bia mộ để khoét sâu hận thù Việt-Pháp và Việt-Mỹ để dẫn tới bế tắc chiến lược hôm nay. Cần khẳng định, một số tượng đài và bia mộ là cần thiết nhưng không phải tất cả. Xin hãy tưởng tượng, trong lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc, nếu thời nào sau chiến thắng ngoại xâm cũng dựng nhiều tượng đài và bia mộ như mấy chục năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thì liệu đất nước này có còn đất mà sản xuất, sinh sống hay không? Nếu tiền của để dựng đa số tượng đài và bia mộ ấy, được dành phát triển kinh tế, văn hoá, lo cuộc sống cho các gia đình chính sách thì kết quả tốt đẹp hơn nhiều lần. Gia đình chính sách no ấm, lòng cũng khuây khoả nỗi đau quá khứ, sống ân tình hơn với xung quanh.
Không tạo ra được thắng lợi trong xây dựng đất nước, Đảng cứ “ăn mày dĩ vãng” mà đưa dân tộc đi luẩn quẩn. Từ ngày hoà bình, chưa thấy Đảng có quyết sách gì thể hiện tầm nhìn xa của người lãnh đạo, chỉ thấy thỉnh thoảng Đảng đưa đất nước đến tình thế không thể không thay đổi, không thể không thoát ra và thoát ra được là kể lể “thắng lợi lớn”, “bước ngoặt quan trọng”. Giải quyết tình thế cũng chủ yếu bằng kích thích tinh thần tự ái hẹp hòi của một bộ phận dân tộc chứ không phải bằng sự đoàn kết toàn dân tộc, bằng dân chủ và hoà hợp dân tộc, bây giờ “hết bài” là bế tắc. Bây giờ, cái bộ phận được kích thích tinh thần tự ái ấy đã mệt mỏi, chán nản, như bản thân tôi cảm thấy ngột ngạt, không thể kéo dài tình trạng chai sạn hư hỏng thêm nữa. Chai sạn để “đấu tranh giai cấp”, “tiêu diệt kẻ thù” dù phải “hy sinh bản thân mình” chỉ có thể tồn tại trong những trường hợp đặc biệt của cuộc sống, không thể tồn tại lâu dài trong cuộc sống bình thường. Cuộc sống bình thường là phải hồn nhiên và lương thiện từ học hành, làm ăn đến vui chơi, từ trong nhà ra ngoài ngõ, sang hàng xóm và với cả làng nước, thế giới để “tất cả cùng thắng lợi”. Cuộc sống bình thường không chấp nhận vẻ mặt sắt máu, du côn nhìn thiện hạ là muốn “đấu tranh giành thắng lợi tuyệt đối” cho bản thân mình.
Lại cần phải nói rõ điều này, hồi nào hấp dẫn tôi cái chủ nghĩa xã hội để tôi tự nguyện vào Đảng không phải vì Chủ nghĩa Mác-Lênin với “đấu tranh giai cấp” mà chính xác là với “bốn phương vô sản đều là anh em”. Cả thế giới là anh em, hỗ trợ nhau đi lên no ấm, hạnh phúc thì còn gì bằng, phấn đấu cho điều đó là sẵn sàng. Bây giờ thấy rõ đó là mong ước quá xa vời, đã sụp đổ khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, đi tới mục tiêu lý tưởng ấy bằng “đấu tranh giai cấp” và “bạo lực cách mạng” là cực kỳ sai lầm.
Có thể nào đi tới nhân loại đại đồng ấm no hạnh phúc khi giai cấp vô sản toàn thế giới cố kết nhau lại trừ khử hết các giai cấp khác, tiêu diệt sạch những người không cùng phương pháp sắt máu? Chao ôi, đã có nhiều “phong trào cách mạng” chỉ đưa đến kết quả tang thương. Ở nước ta, đó là cải cách ruộng đất, hợp tác hoá, tập đoàn hoá, công hữu hoá, các đợt bài phong, các đợt đánh tư sản và cả đánh văn nghệ sĩ trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, v.v. Xã hội náo loạn, bất ổn vì những “phong trào cách mạng” như thế, khiến con người ngày càng bị nhào nặn chai sạn, vô cảm, thậm chí mất lý trí đến mức cha con đấu tố nhau, vợ chồng ruồng rẫy nhau, anh em từ mặt nhau.
Đến hôm nay, cái lý tưởng “thế giới đại đồng” vô cùng tốt đẹp ấy vẫn tồn tại, nó là lý tưởng của loài người nhưng không còn là đặc trưng hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội nữa mà dường như đã thuộc về chủ nghĩa tư bản với Liên minh Châu Âu và nhiều liên minh khác, điển hình như liên minh Nhật-Mỹ vượt lên hận thù ghê gớm gây ra bởi hai quả bom nguyên tử. Thế giới chuyển biến theo lẽ tự nhiên đi tới tốt đẹp nhanh chóng đến không ngờ như cây xanh tươi ra hoa kết trái, còn Đảng loay hoay với “đấu tranh giai cấp”, với “ba dòng thác cách mạng” đã để vuột mất ngọn cờ “bốn phương vô sản đều là anh em” cũng không ngờ. Không còn lý tưởng hấp dẫn, Đảng tỏ ra hậm hực như có báu vật bị cướp mất, lại loay hoay đi tìm kẻ thù để xả nỗi bực tức, hết kẻ thù rõ mặt đến kẻ thù giấu mặt. Loanh quanh tìm kẻ thù để tiêu diệt trên đất nước, trong nhân dân và trong cả nội bộ, Đảng ngày càng mất phương hướng, làm cho những người kiên trì theo Đảng trở thành ngớ ngẩn, hồ đồ và thêm chai sạn.
Nên giờ này, giữa Trung Quốc và Mỹ (cùng những nước dân chủ văn minh), giữa “đấu tranh giai cấp” với “hợp tác toàn cầu”, Đảng lúng túng không biết đâu là bạn đâu là thù, phải đem hệ thống tượng đài và bia mộ xây dựng mấy chục năm qua ra làm công sự ẩn nấp. Một cuộc ẩn nấp để trốn tránh trách nhiệm, như mọi cuộc ẩn nấp khác lại ra sức lo củng cố hầm hào, thành luỹ, Đảng không ngừng xây dựng thêm nhiều tượng đài, bia mộ, nghĩa trang mà những dịp như ngày 27/7 này, khắp nơi đang chứng kiến. Cái hố chia rẽ dân tộc lẽ ra phải khoả lấp hằng ngày, hằng năm thì Đảng khoét sâu thêm, rộng ra, muốn thoát khỏi cái vòng tròn do mình vạch ra mấy chục năm qua nhưng lại không thoát ra được quán tính hành động mất phương hướng và chai sạn cả tình cảm lẫn lý trí. Không còn tư chất lãnh đạo, một chút cũng không còn, chỉ còn tư chất bám víu, tầm gửi. Vì thế mà giả dối đã trở thành đặc trưng của lãnh đạo thời nay. Giả dối khủng khiếp. Có vị long trọng hô hào chống “ngoại lai” không biết ngượng mồm khi vẫn hô hào “kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin”. Cái chủ nghĩa ấy không phải ngoại lai chắc? Giả dối trong lời nói, hành vi và nghị quyết, giả dối tệ hại nhơn nhơn, tỉnh bơ làm chai sạn, vô cảm, u lì cả cả xã hội. Nhiều đảng viên băn khoăn, hình như lãnh đạo Đảng không được lãnh đạo nước khác tin cậy? Tôi hỏi lại, đảng viên và người dân nước ta có tin cậy không? Bật ti vi lên, thấy mặt đa số lãnh đạo Đảng là tôi chuyển kênh.
Khi tình cảm và tư tưởng con người chai sạn thì xã hội bị chai sạn trên mọi lĩnh vực, mọi ngóc ngách. Kinh khủng nhất là tình trạng dân oan kéo từng đoàn dài từ Bắc đến Nam, lê la ở thủ đô Hà Nội quanh năm, đã trở thành bình thường như một phần không thể thiếu của “xã hội xã hội chủ nghĩa”. Đủ mọi tầng lớp đã có mặt trong đoàn dân oan đi khiếu kiện ấy, đa số do bị cướp đoạt đất đai, cướp đoạt mất cái tư liệu sản xuất chủ yếu để sinh sống của người nông dân. Nhưng bao phận người đau khổ tột cùng ấy lại rất ít còn được truyền thông phản ánh. Vì quá nhiều, vì phản ánh dường như không có kết quả, thậm chí không có người đọc (trừ những người liên quan). Cả xã hội chai sạn ghê gớm như thế! Nguyên nhân gốc rễ ở đâu? Ai cũng có thể chỉ tận mặt: Cái quan điểm “đất đai sở hữu toàn dân” quái gở. Có bà mẹ liệt sĩ gào lên: Đất đai của tổ tiên tôi để lại, tôi không nợ nần gì nhà nước này cả (nếu có nợ nần là nhà nước nợ bà), tại sao ra quyết định thu hồi đất của tôi? Mọi người có thể trả lời bà, trừ Đảng. Chai sạn mất rồi vì thứ lý thuyết học mót không đến nơi đến chốn, Đảng không còn nghe được tiếng nói của đảng viên, nguyện vọng của nhân dân, đã ù lì như vô tri vô giác. Đã không biết lắng nghe tiếng nói của cuộc sống, Đảng lại theo thói quen “tìm kẻ thù”, chăm chăm tính tỷ lệ bao nhiêu phần trăm khiếu kiện đúng và bao nhiêu (cho là) sai hoặc có đúng có sai, và dẫu tỷ lệ đúng luôn áp đảo thì Đảng vẫn không chịu sửa mình mà tiếp tục hô hào “tuyên truyền giáo dục nhân dân”.
Chai sạn nguy hiểm khi không còn nghe được ý kiến của người khác, không còn nghe được tiếng kêu than của dân chúng. Biết lắng nghe thì mới phân biệt được phải trái và muốn lắng nghe thì trước hết phải biết tôn trọng con người, đây lại đụng đến điểm yếu chí mạng của Đảng. Lâu rồi, Đảng không biết tôn trọng con người, không biết tôn trọng nguyện vọng, tình cảm, tôn giáo, tín ngưỡng của con người. Đảng tự cho mình đã nắm được học thuyết tiến bộ của nhân loại, có tư tưởng tuyệt đối đúng đắn, có quyền đứng trên nhân dân để “tuyên truyền giáo dục nhân dân”. Mỗi lúc, nhân dân làm được việc gì đó thành công, Đảng cho rằng do Đảng lãnh đạo tài tình sáng suốt, các cơ quan của Đảng giỏi “tuyên truyền giáo dục nhân dân”. Những khi xã hội nảy sinh vấn đề do quá trình phát triển hay do Đảng gây ra, các cơ quan của Đảng đã thành thói quen, nêu giải pháp hàng đầu là “đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nhân dân”.
Bản thân tôi phải rèn luyện nhiều mà vẫn không gột bỏ được hoàn toàn vết chai sạn do Đảng gây nên trong người, mỗi khi nghe ý kiến trái với mình, dẫu đã thấy đúng thì vẫn lợn gợn khó chịu, có chấp nhận cũng gượng gạo, không tự nhiên. Sao mà tôi thèm muốn đến thế cái tâm thế cởi mở, sẵn sàng lắng nghe, vui vẻ chấp nhận những ý kiến khác với suy nghĩ của mình. Sao tôi a dua với Đảng cả những điều sai lại dễ dàng, mà lắng nghe tiếng nói đúng lại khó khăn đến thế! Vì chai sạn, hư hỏng mất rồi. Bao nhiêu năm vênh vang ngỡ mình trong đoàn người tiên phong đưa dân tộc đi đến hạnh phúc, biết đâu đó là quá trình hư hỏng bản thân, đến lúc nhận ra thì mục nát không còn sửa được.
Bây giờ tôi vẫn chưa bỏ được Đảng. Bao nhiêu năm “dưới sự lãnh đạo của Đảng”, tôi đã đánh mất tinh thần độc lập tự do, không quen chịu trách nhiệm, sợ thay đổi. Tôi tâm sự điều này với một ông ngoài 70 tuổi, có năm chục tuổi đảng, thì ông bảo “em chưa nghỉ hưu không bỏ Đảng được”. Tôi hỏi, vậy anh nghỉ hưu đã lâu sao còn sinh hoạt Đảng? Ông lo lắng, sợ ảnh hưởng đến con cháu. Tôi đề nghị, anh hỏi con cháu xem chúng có muốn anh tiếp tục sinh hoạt Đảng hay không? Ông thẫn thờ một lúc, hạ giọng, chắc con cháu không muốn ông tiếp tục sinh hoạt Đảng bởi chẳng được lợi lộc gì, còn thiệt hại nhiều thứ. Nhưng ông vẫn không bỏ được sinh hoạt Đảng, cũng như tôi đã chai sạn vô tích sự mất rồi, phải đợi người lãnh đạo mới, chẳng biết dân tộc đã sinh ra hay chưa?
Tháng 7/2014
PV Q. D.
Tác giả gửi BVN.

Các nhà hoạt động xã hội bị cấm tham dự hội thảo "Truyền thông Phi Nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay” tại Hà Nội

1451487_691460944236587_1469714452518320332_n.jpg

Theo kế hoạch thì cuộc hội thảo "Truyền Thông Phi Nhà Nước ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay" sẽ diễn ra vào ngày 30/7/2014 tại Đại sứ quán Úc ngoài Hà Nội, với sự kết hợp của Cộng đồng Âu châu (EU), Canada, New Zealand, Na Uy, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ. Khách mời của cuộc hội thảo, ngoài các đoàn ngoại giao các nước nói trên, đại diện chính phủ và bên Đảng CSVN, còn có các nhà hoạt động xã hội và blogger có tên tuổi ở trong nước.

Theo nguồn tin từ Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm, ông Phạm Bá Hải - một cựu tù nhân lương tâm và là điều phối viên của Hội - đã vinh dự nhận được giấy mời tham dự hội thảo lần này. Tuy nhiên, ông đã bị lực lượng an ninh và công an ngăn chặn trái phép trên đường ra sân bay Tân Sơn Nhất để đi Hà Nội ngày 29/7. Lực lượng này cho biết Bộ Công An đã quyết định ông Phạm Bá Hải không được tham gia hội thảo lần này, nếu ông phản đối sẽ bị cưỡng chế vào đồn công an theo giấy mời mà họ tống đạt vào lúc sáng cùng ngày.

Việc ngăn cản ông Phạm Bá Hải đi lại trong nước mà không hề có giấy tờ gì ngoài một giấy mời lên đồn công an là xâm phạm nghiêm trọng quyền tự do đi lại hợp pháp của công dân Phạm Bá Hải. Đây không phải là lần đầu tiên quyền này của ông Phạm Bá Hải bị tước đoạt. Cách đây vài ngày, ông đã bị cấm ra khỏi nhà khi ông Heiner Beiderfedt, Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về tự do tôn giáo đến Sài Gòn để gặp gỡ và tìm hiểu về thực tế thi hành quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam. Cùng với ông Hải có bác sĩ Nguyễn Đan Quế (đồng Chủ tịch hội Cựu tù nhân lương tâm), ông Phạm Chí Dũng và bà Dương Thị Tân cũng bị ngăn cản không được ra khỏi nhà.

Chiều ngày 29/7/2014, blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (aka Mẹ Nấm) cũng bị công an tỉnh Khánh Hòa chặn khi trên đường từ nhà ra sân bay để đi Hà Nội dự hội thảo. Chứng minh thư nhân dân và điện thoại của chị đã bị an ninh tịch thu. Chị bị giữ 8 tiếng tại đồn Công An tỉnh Khánh Hòa, 80 Trần Phú.

Khi chị yêu cầu cho biết lý do bị tạm giữ, một an ninh ở đây cho biết chị "bị mời về làm việc vì có giấy mời tham dự hội thảo tại đại sứ quán Úc". Khi tước đoạt điện thoại trên tay blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một nữ an ninh đã nói: "Chị biết rồi đó, Facebook là vũ khí của chị nên tạm thời không thể để chị xài điện thoại được".

10489711_690001027756424_6708764189782212537_n.jpg
10505024_690001117756415_1835277156477194125_o.jpg
10527318_690001157756411_5293915647296507751_n.jpg

Blogger Như Quỳnh cho biết thêm trên Facebook: "Giấy triệu tập làm việc đúng 8h00 sáng ngày 30/07/2014 để bàn về việc điện thoại, CMND và vé máy bay của mình bị tịch thu trái phép hôm nay mình đã nói một lần ở đồn công an rồi là mình không đi.

Mình vốn nhẹ nhàng sau rất nhiều lần làm việc với an ninh, nhưng chiều nay mình đã phản ứng với thái độ của em Đỗ Bảo Liêm (398-371), em này sinh năm 1985, bằng cách bất phục tùng.

Em phối hợp với CSGT chặn xe mình ngay trước Ana Mandara, mở cửa xe yêu cầu mình xuống để làm việc.

Ok. Mình xuống.

Nhưng cái kiểu em nói:

- Chúng tôi là cơ quan công an yêu cầu chị làm việc, chị có nghĩa vụ phải phối hợp và không có chuyện gì là tự nhiên khi chị bị chặn như vậy cả.

Với mình, nó sai be bét.

Việc mình nhận thư mời của đại sứ quán Úc và đi tham dự hội thảo là chuyện bình thường.

Việc ngăn chặn và tịch thu CMND, điện thoại của mình cho thấy nhiều người sợ mình nói thật đúng nơi, đúng chỗ.

Chiều nay, mình đã để 4 em an ninh nữ khiêng mình như khiêng heo từ xe vào phòng họp của PA92. Mình đã bật ghi âm và giật lại hành lý với các em.

Một mình mình, có 4 em phụ trách.

Chưa bao giờ mình làm như vậy.

Nhưng mình nghĩ mình cần phải phản ứng để các em biết có những lúc phải có thái độ rõ ràng để phân biệt đúng sai.

Đặc biệt mình rất ghét cái trò chặn xe vô lối xong cử người đứng xa dùng iPhone quay lại.

Mình đã nói chiều nay: - Sẽ không có bất cứ câu trả lời nào, không có biên bản làm việc nào được ký với cung cách làm việc vô lối, mất dạy như vậy.

Xin lỗi vì nếu có nặng lời với bạn nào chiều nay nhé.

Nhưng mình vẫn không rút lại ý kiến rằng với những gì đã diễn ra chiều nay, đó là cách hành xử mất dạy.

Giờ mình mỏi tay vì giành giật ba lô quá, mình đi ngủ.

Chúc mọi người ngủ ngon.

P/S: Ơ mà chiều nay mình mặc áo đầm xinh lắm. ANTV để máy quay mình cả buổi nhớ dựng hình, cắt ghép cho bảnh nha :D"
(Dân luận)

Dân Chủ không thể xin, cho

Giáo dục phương Tây có phải lựa chọn hoàn hảo?

Tôi không nghĩ rằng: hệ thống giáo dục của phương Tây là hoàn hảo, và hệ thống giáo dục của VN cần phải áp dụng hệ thống giáo dục của phương Tây mới có thể đóng góp cho quá trình phát triển của đất nước.

Bài 3: Giáo dục phương Tây có phải lựa chọn hoàn hảo?

Sau khi về nước, chị làm Trưởng đại diện của Quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam. Năm 2011, Thảo là người Việt đầu tiên tham gia chương trinh đào tạo toàn cầu của Tổ chức Rotary về Hòa giải và Gìn giữ Hòa bình, tại Đại học Chulalongkorn, Thái Lan, kéo dài bốn tháng.

Năm 2013, Thảo là người Việt trẻ nhất trong số năm người Việt đầu tiên được mời tham gia Chương trình Lãnh đạo mang tên Tổng thống Eisenhower, kéo dài bảy tuần tại Hoa Kỳ.

Thảo hiện sinh sống tại Úc cùng chồng Tiến sỹ Patrick Griffiths và hai con. Ngoài nghiên cứu chuyên môn  về tác động của bom mìn vật nổ về đói nghèo ở Việt Nam, Thảo tiếp tục làm cố vấn cho Quỹ Cựu chiến binh Hoa Kỳ tại Việt Nam, tích cực đóng góp vào chương trình Fulbright và chương trình Lãnh đạo Eisenhower tại Việt Nam.


Thảo chia sẻ những trải nghiệm và quan điểm về phát triển giáo dục tại Việt Nam.

Không thay đổi, VN sẽ tiếp tục 'tị nạn giáo dục'
du học, học bổng, nghiên cứu, chính sách, đóng góp, đất nước
Nguyễn Thu Thảo (giữa) và Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam ông David Shear (phải) trong lễ kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Ảnh nhân vật cung cấp
Cụm từ "tị nạn giáo dục"  đã được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây, cùng với làn sóng du học ở các nước tiên tiến.  Là người may mắn được trải nghiệm học và làm việc ở nhiều môi trường khác nhau, chị  nhìn nhận thế nào về xu hướng này?

Tôi không phải là nhà giáo dục, nên sự chia sẻ quan điểm chỉ dựa trên kinh nghiệm cá nhân. Trong 15 năm làm việc cho các tổ chức của Hoa Kỳ, tôi cũng có dịp tham gia vào quá trình phỏng vấn chọn sinh viên đầu vào của một trong những trường tư thục cấp III nội trú hàng đầu của Hoa Kỳ và là thành viên của Hội đồng tuyển sinh cho học bổng thạc sỹ của Chương trình Fulbright năm 2013 và Hội đồng tuyển sinh của Chương trình Lãnh đạo Eisenhower năm 2014.

Tôi có hai con nhỏ hiện đang học cấp I và cấp II, đã từng học ở trường công Việt Nam và trường tư Singapore, và hai năm nay chuyển sang học ở trường công ở Úc.

Nhờ đó, tôi có cơ hội quan sát các hệ thống giáo dục khác nhau.

Hệ thống giáo dục phương Tây phát triển trên cơ sở gọi là "Đối thoại So-crat" bắt nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại, cách đây hơn 2000 năm, bởi nhà triết học So-crat. Vào năm 399 trước công nguyên (cách đây 2,515 năm), sau khi bị phán xử bởi hội đồng thẩm phán gồm 500 người, So-crat bị nhận án tử hình bởi 280 phiếu ủng hộ và 220 phiếu chống, vì tội tổ chức dạy học cho người dân rằng hãy tin vào lý trí của mỗi cá nhân, thay vì tin vào chính quyền hay những lời Chúa dạy. So-crat bị hành xử bằng cách uống một ly nước độc trước mặt những học sinh và bạn bè của mình.

Nhưng những gì So-crat đạt được là khởi đầu phương pháp dạy học mà tất cả các trường đại học tốt nhất trên thế giới đều áp dụng từ đó đến nay. Đó là dạy học sinh, sinh viên cách suy nghĩ độc lập, lập luận logic, trao đổi cởi mở, và tự tin với những nhận định của cá nhân trong quá trình suy nghĩ, lập luận để bảo vệ ý kiến cá nhân của mình. Các phương pháp luận khoa học phát triển ở thế kỷ 16, 17 cũng bắt nguồn từ truyền thống giàu tính lịch sử này, tập trung vào quá trình lập luận, trao đổi cởi mở để tìm ra câu trả lời.

Hệ thống giáo dục của VN cần phát triển cùng xu hướng của thời đại, của thế giới, nếu chúng ta muốn cạnh tranh với những nền giáo dục tinh túy nhất.

Quá trình học và dạy học tốt không nên đánh giá bằng khả năng nhắc lại những gì thầy cô giảng tại lớp. Thay vào đó, điều cốt lõi là học sinh, SV cần phải phát triển khả năng đặt câu hỏi với giảng viên.

Việc đi học của trẻ, và sau này là của SV,  là một cả quá trình phát triển trí tuệ và trưởng thành kéo dài. Nếu hệ thống giáo dục trong nước không đáp ứng nhu cầu này của các bậc phụ huynh, thì tình trạng 'tị nạn giáo dục' sẽ còn kéo dài trong nhiều năm tới.
du học, học bổng, nghiên cứu, chính sách, đóng góp, đất nước
Nguyễn Thu Thảo tham gia Hội đồng Phỏng vấn của Việt Nam cho Chương trinh Lãnh đạo Eisenhower, tháng 6 năm 2014. Ảnh nhân vật cung cấp
Phương Tây có hoàn hảo?

Từng được học cả ở Úc, Mỹ, Thái Lan và Việt Nam, chị có thể đưa ra vài so sánh về những hệ thống giáo dục này: quan điểm, phương pháp, cách tiếp cận và mục tiêu giáo dục? Có những vấn đề nào khiến chị chú ý, và những thay đổi nào, hoặc lối mòn nào tồn tại trong suốt mấy chục năm qua?

Chúng ta có thể đơn giản hóa vấn đề phức tạp này thành hay hệ thống giáo dục: Việt Nam >< phương Tây. Thời gian học một kỳ ở Thái Lan cho thấy, hệ thống giáo dục của Thái Lan đã học hỏi rất nhiều điều tốt đẹp của hệ thống giáo dục phương Tây để nâng cao chất lượng giáo dục của Thái Lan.

Sự khác nhau giữa hệ thống giáo dục của Úc (thuộc khối Thịnh vượng chung) và hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ không đáng kể so với sự khác nhau rất lớn giữa giáo dục phương Tây (gồm cả Úc và Mỹ, cùng bị ảnh hưởng nhiều từ hệ thống giáo dục của Anh vì lý do lịch sử và văn hóa) và giáo dục của Việt Nam.

Tôi không nghĩ rằng: hệ thống giáo dục của phương Tây là hoàn hảo, và hệ thống giáo dục của VN cần phải áp dụng hệ thống giáo dục của phương Tây thì mới có thể giảm thiểu nạn 'tị nạn giáo dục' và đóng góp cho quá trình phát triển của đất nước, cho theo kịp các nước phương Tây.

Cả hai hệ thống đều có những điểm mạnh và điểm yếu. VD: hệ thống giáo dục ở những trường hàng đầu của Mỹ càng làm cho tình trạng phân hóa giàu nghèo nghiêm trọng hơn. Chỉ có 15% sinh viên của những trường hàng đầu của Mỹ là xuất thân từ các gia đình thuộc nửa thu nhập thấp... Còn ở Việt Nam, tính độc lập nghiên cứu khoa học của sinh viên vô cùng yếu.

Nếu học hỏi nhau thì cả hai hệ thống giáo dục đều trở nên tốt hơn hiện tại.

Những điểm chính cần điều chỉnh

Những người làm giáo dục Việt Nam có thể học hỏi được gì từ các nền giáo dục tiên tiến?

Trong khuôn khổ bài phỏng vấn này, tôi xin tập trung vào việc làm thế nào để giáo dục của VN được tốt hơn bằng cách tiếp thu kinh nghiệm giáo dục của phương Tây.

Thứ nhất, Giáo dục của phương Tây lấy học sinh làm trọng tâm. Giáo dục của Việt Nam lấy giáo viên làm trọng tâm. Điểm này, Việt Nam cần thay đổi và không nên đi ngược lại với xu thế của thế giới.

Vì lấy giáo viên làm trọng tâm, học sinh/sinh viên tiếp thu kiến thức chủ yếu từ giáo viên, và tập trung vào việc học vẹt, hoặc nhắc lại những gì thầy cô dạy trong bài kiểm tra giữa/cuối kỳ. Đáng ra, học sinh cần phải học kỹ năng suy nghĩ phê phán (critical thinking), đọc sách, tham khảo các bài báo khoa học mới xuất bản, và kỹ năng tổng hợp thông tin để giải quyết vấn đề.

Khi học ở Úc hay ở Mỹ, thời gian học trên lớp giữa thầy và trò chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với thời gian học tổng thể của học sinh. VD: một môn học có ba tiếng/một tuần học trên lớp với thầy thì sinh viên phải đọc khoảng 200 trang tài liệu ở thư viện hoặc ở nhà để chuẩn bị cho ba tiếng đó trên lớp với thầy, và tham gia tranh luận với các bạn cùng lớp.

Vì giáo viên là nguồn cung cấp thông tin chính cho học sinh/sinh viên, thay vì tập trung vào phương pháp luận, câu trả lời cho một vấn đề đưa ra được phân định rạch ròi: đúng  và sai, và sinh viên được khuyến khích học thuộc lòng câu trả lời đúng.

Khi lấy học sinh, sinh viên làm trọng tâm trong giảng dạy thì điểm của sinh viên được đánh giá theo khả năng lập luận và giải quyết vấn đề, chứ không theo khả năng nhắc lại câu trả lời đúng mà giáo viên đã dạy. Còn nhớ, khi tôi học phổ thông, một lần tôi làm toán đúng, cô giáo làm sai, nhưng tôi bị điểm kém vì đáp án của tôi khác với đáp án của cô giáo. Bố tôi là giáo viên toán dạy giỏi, nên bố tôi biết và khẳng định là tôi làm đúng. Nhưng vì cô giáo là bạn bố, nên bố không muốn tôi thắc mắc về việc này, và chấp nhận bị điểm kém cho lần đó.

Điều này cần thay đổi trước tiên.

Thứ hai ,khuyến khích sự độc lập và chịu trách nhiệm của trẻ. Nền giáo dục của VN chịu ảnh hưởng nhiều của Đạo Khổng, đem lại cho các thế hệ trẻ của chúng ta nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp, như: kính trên nhường dưới, tôn trọng thầy cô giáo, tinh thần ham học cao ngay cả khi điều kiện trường lớp còn rất hạn chế như ở các tỉnh miền núi Hà Giang, và vùng Tây Nguyên. Các bạn trẻ được bố mẹ dành cho những điều kiện học hành tốt nhất có thể, ngay cả khi gia đình còn nhiều ưu tiên khác.

VD: Khi con tôi học ở VN, năm năm liền (2007-2012), tôi đã bỏ ½ thu nhập hàng tháng của mình chỉ để lo các chi phí về học hành cho hai con.

Ưu tiên về việc học của hai con được đặt cao hơn những ưu tiên khác của gia đình, như làm nhà, hay tích lũy lâu dài. Và đó không phải là một ngoại lệ đối với nhiều gia đình Việt Nam.

Ở Úc, giống nhiều gia đình người Úc khác, chồng tôi xác định khi hai con vào đại học thì các cháu sẽ phải tự vay tiền của nhà nước để đi học, chứ bố mẹ không còn sẵn sàng bỏ ra ½ thu nhập hàng tháng để chi trả việc học cho các con.

Thứ ba, tôn trọng tính chất cá nhân của học sinh. Cho dù có những phẩm chất như nói trên, nhưng một số quy tắc, thói quen bắt nguồn từ Đạo Khổng lại là cản trở lớn cho nền giáo dục hiện đại của Việt Nam. Học sinh, sinh viên không được dạy và khuyến khích tranh luận với thầy cô giáo, không được dạy cách suy nghĩ lập luận độc lập, ít tính đến các khả năng khác, ít đưa ra cách giải quyết vấn đề khác.

Nói một cách hình ảnh là học sinh được dạy rằng: chỉ có một con đường để đi từ A đến B và đó chính là đường thẳng. Học sinh ít được khuyến khích tìm hiểu liệu còn có cách nào khác để đi từ A đến B.

VD: con trai tôi là người thuận tay trái. Tại sao ở Việt Nam, cháu bị ép viết tay phải, với lý do rằng viết tay trái chữ xấu? Nếu điều quan trọng là cháu viết gì, và chữ cháu có đọc được hay không, thì việc cháu viết bằng tay phải hay tay trái có quan trọng gì? Chỉ vì chữ đẹp hay xấu, hệ thống giáo dục Việt Nam sẵn sàng ép những trẻ thuận tay trái chuyển sang viết tay phải, mà không quan tâm đến việc tay phải - tay trái có liên quan trực tiếp đến bán cầu não phải - trái của trẻ.

Do phát triển tính cá nhân của học sinh, sinh viên không phải là một ưu tiên, học sinh được dạy tuân theo khuôn mẫu của xã hội, của lề thói đã có từ nhiều đời nay, dù có những điểm không còn phù hợp với xã hội mới.

Khi trách nhiệm cá nhân không có điều kiện phát triển, vì tính cá nhân bị coi là ích kỷ, thì làm sao chúng ta có thể có được một xã hội vận hành hiệu quả nhất có thể trong điều kiện hạn chế hiện có?

(Còn nữa)
Hoàng Hường
(Tuần Việt Nam)

Dấu hiệu về cuộc khủng hoảng ngân hàng ở Việt Nam?

Phạm chí Dũng -Nguoiviet
Ngay sau khi nửa đầu năm 2014 vừa trôi qua, thị trường tín dụng Việt Nam đã lộ diện một ứng cử viên rất dồi dào cho triển vọng phá sản: Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn (Agribank).
Tất cả đều “quán quân”
Tỷ lệ nợ xấu “siêu khủng” vượt cả vốn điều lệ, nợ xấu có khả năng mất vốn chiếm đến 89% vốn điều lệ, quá nhiều lỗ hổng trong quản trị ngân hàng mà đã dẫn đến hàng loạt sai phạm lớn tại một số chi nhánh,… là những huyệt đạo ung thư còn trên cả ác tính ở Agribank.
Nhưng phải mất đến 7 tháng tính từ cuối kỳ năm 2013, những số liệu về bản chất của Agrinbank mới được cơ quan kiểm toán nhà nước công bố.



Khách hàng nhận tiền từ một ngân hàng ở Việt Nam. Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng tại Việt Nam đang ở mức 13%. (Hình: Getty Images)

Chỉ tính đến thời điểm cuối năm 2013, nợ có khả năng mất vốn tại Agribank lên tới 23,652 tỷ đồng, chiếm đến 59.23% tổng dư nợ xấu và bằng đến 89% vốn điều lệ. So với vốn điều lệ là 29,605 tỷ đồng, tổng nợ xấu của Agribank lên tới xấp xỉ 40,000 tỷ đồng, tức cao hơn vốn điều lệ của ngân hàng này đến hơn 10,000 tỷ đồng.
Kết quả của cơ quan kiểm toán nhà nước cũng lần đầu tiên “tiết lộ” tỷ lệ nợ xấu của Agribank vào cuối năm 2013 là 8.16%, tăng đến 34.43% so với cùng kỳ năm 2011. Có thể xem đây là tỷ lệ quán quân nếu so với tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng là 7.8%.
Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng được cơ quan kiểm toán công bố mới chỉ dựa chủ yếu vào số liệu báo cáo của các ngân hàng thương mại cổ phần. Trong khi đó và với tất cả những gì mà giới ngân hàng đã mặc nhiên thao túng dữ dội từ nhiều năm qua, ngay cả một số chuyên gia nhà nước cũng phải thốt lên “Không thể tin được!” khi chứng kiến số liệu báo cáo của các ngân hàng thương mại.
Không thể tin được!

Khác biệt rất nhiều báo cáo của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, một con số của tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s vào tháng 2, 2014 đã cho biết tỷ lệ nợ xấu trong các ngân hàng Việt Nam lên tới 13%.

Ngay từ giữa năm 2001, một tổ chức xếp hạng tín nhiệm có uy tín khác trên thế giới là Fitch Ratings cũng đã công bố tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng Việt Nam là 13%.

Trong khi đó, số liệu công bố về tỷ lệ nợ xấu của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam luôn thấp hơn rất nhiều – dao động trung bình chỉ khoảng 5-6%. Cũng từ năm 2011 đến nay, Ngân Hàng Nhà Nước đã ít nhất 8 lần thông tin về tỷ lệ nợ xấu với vũ điệu nhảy múa của các số liệu là hết sức bất nhất, hoàn toàn thiếu căn cứ thuyết minh và quá kém độ tin cậy.

Gần đây nhất, Thống Ðốc Nguyễn Văn Bình – người mà vào năm 2011 bị Global Finance, một tạp chí tài chính quốc tế có uy tín, xếp hạng là một trong 20 thống đốc có thành tích điều hành kém nhất thế giới – vừa công bố tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng Việt Nam “đã bất ngờ vượt hơn 4%.”

Nhưng với rất nhiều chuyên gia tài chính, hiện tượng tỷ lệ nợ xấu tăng đột biến lại hầu như không bất ngờ. Thực trạng không thể phủ nhận là cho đến nay, đã gần như chưa có bất kỳ khoản nợ xấu nào được xử lý trọn vẹn. Trong khi công ty quản lý tài sản quốc gia (VAMC) chỉ mới mua được khoảng 10% số nợ xấu của cá ngân hàng thương mại nhưng lại chưa biết bán lại cho ai, nợ xấu cộng lãi vẫn đều đặn tăng tiến.

Hơn 70% nợ xấu thuộc về thị trường bất động sản. Thị trường này lại không chỉ thuộc về con nợ doanh nghiệp nhà đất mà còn đang ngày đêm siết bóp buồng tim các ngân hàng ôm nợ. Hàng trăm ngàn căn hộ cao cấp và một tỷ lệ lớn phân khúc căn hộ trung cấp đang tồn đọng chưa có lối thoát ở Hà Nội, Sài Gòn và Ðà Nẵng vẫn là cơn ác mộng “một buổi sáng thức giấc không nợ nần” của nhiều đại gia.

Mới đây, một đại gia bất động sản có tiếng ở Ðà Nẵng đã phải tự bắn vào đầu mình để chấm dứt kiếp nạn nợ nần và phá sản.
“Rất rủi ro”

Agribank lại là cái tên không thể thiếu trong danh sách những ngân hàng ôm nợ xấu bất động sản. Từ giữa năm 2011, ngân hàng này đã lộ dần dấu hiệu nợ xấu bất động sản dâng cao vời vợi. Cũng từ đó và khó có thể xem là mối trùng hợp ngẫu nhiên, hàng loạt vụ bê bối tài chính đã xảy ra ở Agribank. Cho đến nay, ngân hàng này đã đương nhiên chiếm giải quán quân trong hệ thống ngân hàng về số quan chức bị bắt và bị truy tố.

Vào tháng 1 năm 2013, ông Phạm Thanh Tân, nguyên tổng giám đốc Agribank, đã bị bắt với tội danh thiếu trách nhiệm trong quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và thiệt hại 3,900 tỷ đồng tại Agribank chi nhánh Nam Hà Nội. Ðúng một năm sau, cơ quan công an lại bắt giam Kiều Trọng Tuyến, nguyên phó tổng giám đốc Agribank, với tội danh thiếu trách nhiệm trong quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng với số tiền lên tới 3,900 tỷ đồng.

Cũng còn những vụ đại án liên quan đến Agribank đưa ra xét xử là sai phạm tại công ty cho thuê tài chính II, khi có đến 11 bị cáo trong vụ án này bị truy tố. Hoặc vụ án với 11 bị can bị đề nghị truy tố liên quan đến vụ thất thoát hơn 1,000 tỷ đồng tại Agribank chi nhánh 6 TP. HCM…

Với mọi “giải quán quân” mà Agribank cầm chắc trong tay, bài toán tài chính quốc gia đang lộ diện: vấn đề và hậu quả của Agribank sẽ ra sao, ứng với quy mô tài sản trên 600,000 tỷ đồng và quy mô tín dụng trên 500,000 tỷ đồng – đứng đầu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam?

Cho đến lúc này, giới chuyên gia ngân hàng đã hầu như đoan chắc: nếu Agribank có “mệnh hệ” gì, số phận của nó sẽ tác động lớn, thậm chí là ghê gớm đến thị trường tín dụng.

“Riêng Agribank nếu không rốt ráo cơ cấu lại thì rất rủi ro” – Kiểm toán trưởng của cơ quan kiểm toán nhà nước Phạm Thanh Sơn thừa nhận.

Ðã đến lúc giới điều hành tín dụng của chính phủ không thể ém nhẹm được vụ việc và có thể sẽ là “vụ án” Agribank. Vượt hơn nhiều so với nhiều ngân hàng “bạn,” ngân hàng này sở hữu mối quan hệ sở hữu chéo được coi là chồng lấn và khủng khiếp. Sẽ không ngạc nhiên nếu Agribank sụp đổ, hiệu ứng domino của nó sẽ lan rộng ra rất nhiều ngân hàng và tổ chức tín dụng.
Ai sẽ mất ngủ?

Còn điều được coi là “trách nhiệm điều hành tín dụng” của Ngân Hàng Nhà Nước và cá nhân Thống Ðốc Nguyễn Văn Bình?

Nếu vào năm 2012 ông Bình rất tự tin “sẽ không để ngân hàng nào đổ vỡ”, còn báo chí gần như bị cấm không được đề cập đến những dấu hiệu đổ vỡ của ngân hàng, thì từ đầu năm 2014, hiện tượng có vẻ khá lạ lùng là từ “đổ vỡ” còn được chính Ngân Hàng Nhà Nước nhắc đến. Và cũng không phải vô cớ mà Quốc Hội Việt Nam đã mau chóng thông qua Luật Phá Sản sửa đổi, trong đó dành hẳn một chương cho việc tiễn biệt các tổ chức tín dụng ngắc ngoải.

Nếu vào năm 2012, tất cả những gì mà Ngân Hàng Nhà Nước muốn làm chỉ là “tái cấu trúc hệ thống ngân hàng,” thì dường như cơ quan này đã “buông” vào năm 2014 với “quyết tâm”: chỉ cần duy trì 15-17 ngân hàng trong tổng số hơn 30 ngân hàng hoạt động hiện thời.

Thế nhưng, vẫn chưa có bất kỳ đường hướng hay kể cả chiến thuật xử lý nào cho cơn băng hoại đang lan ra với gia tốc ngày càng mạnh mẽ. Không một ngân hàng lớn nào muốn “ôm” nợ xấu của các ngân hàng nhỏ, trong khi nếu không ghép được ngân hàng “yếu kém” vào ngân hàng “lành mạnh” thì sẽ chẳng còn gì là biện pháp hữu hiệu nữa.

Tình hình sẽ còn tồi tệ hơn nhiều nếu chính Agribank – nằm trong nhóm ngân hàng lớn nhất và được coi là nhóm lợi ích có mối liên can sâu đậm nhất với một số chính khách nào đó – trở nên vô phương cứu chữa. Khi đó, không chỉ các ngân hàng lớn buộc phải “cứu” Agribank, mà chắc chắn Ngân Hàng Nhà Nước và có thể cả Bộ Chính Trị sẽ phải mất ngủ với ca bệnh quá nan giải này. Không phải ngẫu nhiên mà vào tháng 6, 2014, Ngân Hàng Nhà Nước đã có một cuộc “thay máu” gần như toàn diện dàn lãnh đạo cấp cao của Agribank.
Cuối năm khủng hoảng ngân hàng?

Vào nửa đầu năm 2007, Nouriel Roubini – người được biệt danh là “tiến sĩ tận thế” – bắt đầu nói thẳng thừng về mối nguy lớn đối với ngân hàng khổng lồ Lehman Brothers của nước Mỹ. Tuy nhiên chẳng mấy người tin vào dự báo của ông. Nhưng đến tháng 10, 2007, Lehman Brothes bất chợt sụp đổ ngay trước mũi chính phủ Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng tài chính nước Mỹ lập tức khởi sự và lan ra một phần lớn các quốc gia phát triển.

Không thể coi Việt Nam là trường hợp ngoại lệ, đặc biệt vào thời gian này và trong bối cảnh được xem là hết sức “nhạy cảm” hiện nay. Người ta đang chờ đợi những dấu hiệu tan vỡ đầu tiên của một ngân hàng đầu tiên, để từ đó dự đoán hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ phải đối mặt với kịch bản khủng hoảng như thế nào, có thể xảy ra vào ngay cuối năm nay và cho cả những năm tới.

Agribank là cái tên ưu tiên hàng đầu cho những dấu hiệu đầu tiên đó. Nhưng có vẻ không chỉ là dấu hiệu, mọi sự đã trở nên nguy hiểm và cấp tính. Kịch bản cần nêu ra lúc này là nếu không chỉ Agribank mà còn vài ba cái tên khác bị trôi vào danh sách “tử thần,” ngay cả Ngân Hàng Nhà Nước cũng phải bó tay, còn nền kinh tế Việt Nam, vốn đã tuột chân xuống hố suy thoái, sẽ điêu đứng đến mức nào.

Một lí giải trần trụi và cay đắng về chuyến đi Mỹ của ông Phạm Quang Nghị

 Boxitvn

Phạm Đình Trọng
Đọc những điều lí giải khá rộng dài cao xa việc ông Phạm Quang Nghị, một trong mười sáu ông Vua tập thể đương trên ngai vàng trong triều đình cộng sản Việt Nam, đi Mỹ thay ông Ngoại trưởng Phạm Bình Minh, tôi thấy những lí giải đó đều chưa thỏa đáng, chưa tới. Theo tôi, sự việc đơn giản, trần trụi và cay đắng hơn rất nhiều những lời lí giải trời biển.
China ngạo ngược đưa núi sắt thép nghễu nghện được gọi là giàn khoan cùng cả một thê đội đông đúc tàu quân sự và tàu dân sự vào vùng biển Việt Nam không phải chỉ thách thức Việt Nam mà thách thức luật pháp, thách thức công lí cả thế giới, thách thức lương tri cả loài người. Trước hành xử lục lâm thảo khấu giữa trời xanh biển rộng đó, những nước có trách nhiệm với trật tự an ninh thế giới không thể làm ngơ. Nước Mỹ liền cho Ngoại trưởng John Kerry đánh tiếng mời người đồng cấp Việt Nam sang Mỹ. Lời mời của Ngoại trưởng Mỹ đối với Ngoại trưởng Việt Nam là chiếc phao cứu sinh nước Mỹ ném ra cho lãnh đạo nhà nước Việt Nam khi lãnh đạo nhà nước Việt Nam đang sặc sụa, chới với trước những con sóng vùi dập do cái giàn khoan và đoàn tàu cướp biển tạo ra.

Nhà chức trách Việt Nam sang Mỹ để cùng nhà chức trách Mỹ nhìn nhận hành vi cướp biển của China là điều China tối kị, sợ như đỉa sợ vôi. Đường dây nóng giữa lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam – China được thiết lập từ thời ông thợ rừng họ Nông ở Na Rì, Bắc Cạn làm thủ lĩnh Đảng Cộng sản Việt Nam liền được sử dụng để chặn đứng chuyến đi Mỹ của Ngoại trưởng Phạm Bình Minh, chặn đứng cuộc gặp John Kerry – Phạm Bình Minh rất nguy hại cho China.
Chỉ là hãng thông tấn của nhà nước China còn dám hỗn xược lên giọng bề trên đe nẹt lãnh đạo nhà nước cộng sản Việt Nam: Không được đánh giá thấp sự liều lĩnh của China trong việc quyết giữ bằng được hai quần đảo ăn cướp Hoàng Sa và Trường Sa. Không được mang chứng cứ lịch sử về chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ra tố cáo sự ăn cướp của China, tức là không được kiện sự ăn cướp của China ra tòa án quốc tế. Không được liên minh với các nước chống lại sự ăn cướp của China. Không được đánh tháo khỏi sự ràng buộc của China từ khi được China cho bình thường hóa quan hệ hai nước. Một hãng thông tấn China còn lên giọng cha chú với lãnh đạo nhà nước Việt Nam được thì kẻ đầy quyền uy như Tổng Bí thư Tập Cận Bình khinh khỉnh chỉ thị cho Bí thư đảng bộ An Nam Nguyễn Phú Trọng không được để Phạm Bình Minh đi Mỹ cũng là điều quá bình thường và đương nhiên.
Những cam kết của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh kí với Đảng Cộng sản China ở Thành Đô và những cam kết của những đầu đảng kế tiếp đã kí với China là những bản hợp đồng bán Độc lập của đất nước Việt Nam, bán Tự do của nhân dân Việt Nam, bán xương máu cha ông, xương máu anh hùng liệt sĩ của lịch sử Việt Nam cho China. Từ đó đất nước Việt Nam đã thành thuộc địa của China, nhà nước Việt Nam đã thành chư hầu của China thì China bảo gì cũng phải nghe. Thực tế cay đắng diễn ra hàng ngày trên đất nước Việt Nam từ khi có cái hội nghị dấm dúi, nhục nhã ở Thành Đô đã xác minh điều đó, khỏi nhắc lại ở đây.
Lệnh cho công an, tòa án Việt Nam bắt bớ, đánh đập, tù đày người dân Việt Nam khi người dân biểu tình chống China xâm lược biển đảo Việt Nam, bắn giết dân chài Việt Nam. Lệnh đó từ đâu ra nếu không phải từ đường dây nóng Bắc Kinh – Hà Nội do ông đầu đảng cộng sản Việt Nam họ Nông miệt Na Rì, Bắc Cạn thiết lập. Lệnh đó từ đâu ra nếu không phải từ những bản cam kết của những người đầu đảng cộng sản Việt Nam kí với China. Lệnh không cho Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đi Mỹ tháng năm, 2014 cũng từ đó mà ra.
Chiếc phao cứu sinh đã nắm trong tay đành phải buông ra mặc cho những con sóng dữ từ giàn khoan ăn cướp xô đến vùi dập, xô đẩy. Nhưng Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã rục rịch chuẩn bị đi Mỹ, bàn dân thiên hạ đang lao xao bình luận, đang âm thầm ngóng trông, hi vọng chuyến đi vô cùng quan trọng, cần thiết cho Việt Nam thì chuyến đi mới bị stop lại. Chuyến đi đã có trong chương trình hoạt động đối ngoại của nhà nước Việt Nam tức là chính quyền Việt Nam đã chính thức nhận lời mời của chính quyền Mỹ, nay bỏ ngang xương, đâu có đưọc. Quan hệ với một nước lớn như Mỹ không thể luộm thuộm, tùy tiện được. Ông Ngoại trưởng Phạm Bình Minh không thể đi thì phải có người khác đi, sang gặp trực tiếp, có lời nói lại với người ta chứ. Ông quan chức chay của Đảng cộng sản Việt Nam Phạm Quang Nghị đi Mỹ trong tình huống đó. Và cũng chỉ trong tình huống trớ trêu đó Bộ Ngoại giao Mỹ mới chịu mời ông quan chức chay cộng sản Việt Nam.
Tại sao lại là ông quan chức cộng sản chay Phạm Quang Nghị mà không phải người khác? Sang Mỹ để cáo lỗi vì sự lỗi hẹn của ông Ngoại trưởng thì phải là người có vị trí cao hơn ông Ngoại trưởng. Vị trí cao hơn đó là thành viên Vua tập thể. Nếu có ẩn ý gì thêm trong chuyến đi Tây của ông thành viên Vua tập thể thì lúc này mới đặt ra. Chuyến đi cũng là dịp PR hình ảnh, PR tên tuổi cho một quan chức cộng sản chay có tiềm năng, một ngôi sao sắp tới của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đi sứ với danh nghĩa quốc gia thì chức Bí thư thành ủy Hà Nội, trưởng đoàn Quốc hội Hà Nội không còn giá trị nữa, không thể xài đến. Vì thế những điều ông Nghị nói ở Mỹ với những người đối thoại đều phải với tư cách quốc gia: Quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước. Khuyến khích các cuộc đối thoại và trao đổi giữa các cơ quan đảng của hai nước. Mở rộng thị trường cho hàng hóa do Việt Nam sản xuất. Hạ rào cản thương mại. Khuyến khích đầu tư vào Việt Nam. Đề nghị Mỹ công nhận kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường… Nhưng nói chỉ để có chuyện mà nói thôi.
Chỉ có một chuyện mới: Khuyến khích các cuộc đối thoại và trao đổi giữa các cơ quan đảng hai nước. Mới nhưng chỉ nói thoáng qua, nói cho có chuyện, không phải là mục đích của chuyến đi. Còn các chuyện khác đều là chuyện cũ, quá cũ, nhiều người đã nói mãi rồi. Không thể vì những chuyện thường ngày quá cũ đó mà ông thành viên Vua tập thể Phạm Quang Nghị phải có chuyến đi sứ sang Mỹ bất thường, đột ngột, khá âm thầm vì thiếu chính danh. Tóm lại, thành viên Vua tập thể Phạm Quang Nghị đi Mỹ chỉ để nói Mỹ cảm phiền cho Ngoại trưởng Phạm Bình Minh không thể đến Mỹ được theo lời mời của Mỹ mà thôi.
P. Đ. T.
Tác giả gửi BVN.

Dân Chủ không thể xin, cho

Ngô nhân Dụng -Nguoiviet

Một bức thư ngỏ mới công bố của 61 đảng viên Cộng Sản Việt Nam kêu gọi đảng thay đổi, phải “đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ;” và phải tách khỏi đường lối lệ thuộc Trung Cộng. Lá thư này rất đáng hoan nghênh, mặc dù rất nhiều đảng viên cộng sản cất lên lời kêu gọi như vậy từ mấy năm nay rồi; nhiều người còn công khai tuyên bố từ bỏ đảng Cộng Sản.
Lá thư ngỏ này đáng chú ý vì trong 61 người ký tên có nhiều vị lần đầu bày tỏ ý kiến về hai vấn đề chính trị quan trọng nhất: nội trị và ngoại giao. Ðối với thể chế chính trị trong nước, những người ký tên yêu câu xóa bỏ chế độ cộng sản; mặc dù trong thư không nói thẳng ra những chữ đó. Họ công nhận đảng Cộng Sản Việt Nam đã phạm tội “dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm… theo mô hình xô-viết.” Sau đó, dù thay đổi kinh tế nhưng “vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc.” Do đó, họ yêu cầu giới lãnh đạo đảng phải “thay đổi cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội,… chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ… xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ.”

Ðối với việc ngoại giao, họ yêu cầu giới lãnh đạo đảng phải ý thức “mưu đồ biến Việt Nam thành chư hầu kiểu mới” của Cộng Sản Trung Quốc. Họ yêu cầu cấp lãnh đạo đảng “từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng;… bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ,… thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc.” Cụ thể hơn, ban lãnh đạo đảng “phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.” Hơn nữa, đảng Cộng Sản “phải cho nhân dân được biết những sự thật” về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Ðô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế, v.v…”

Ngoài ra 61 vị ký tên còn yêu cầu “Ðại hội toàn quốc lần thứ XII” sắp tới được chuẩn bị “với các đại biểu được bầu chọn thật sự dân chủ.” Nói cách khác, quý vị yêu cầu nội bộ đảng Cộng Sản cũng phải dân chủ hóa.

Nói tóm lại, những lời “yêu cầu” trong bức thư cũng là những điều mà rất nhiều người Việt Nam đang đòi hỏi đảng Cộng Sản phải làm. Vì vậy, bức thư ngỏ này đáng hoan nghênh.

Trong bức thư ngỏ này thấy ba điều đáng chú ý. Thứ nhất, danh sách các chữ ký không xếp theo thứ tự ABC, hay già trẻ, chức vụ cao thấp, mà xếp theo tuổi đảng, từ người đã vào đảng năm 1939 xuống tới người vào đảng năm 1996. Thứ hai, bức thư này chỉ nhắm gửi cho các người đồng đảng, từ ban chấp hành trung ương xuống các đảng viên. Thứ ba, quan trọng nhất, là quý vị đứng tên chỉ thỉnh cầu mà không đòi hỏi, không tranh đấu. Họ không cho biết nếu cấp trên vẫn lờ đi, không nghe, không biết, không thấy lá thư này (như vẫn phản ứng trước các kiến nghị tương tự trước đây), thì quý vị sẽ có hành động gì chăng. Những lời yêu cầu “dân chủ” trong bức thư không kèm theo hai chữ “tự do,” cũng là một điều đáng chú ý. Vì các ông Stalin, Mao Trạch Ðông cũng đều tự nhận là dân chủ, họ còn nói chế độ của họ dân chủ gấp vạn lần nền dân chủ ở các nước tư bản. Nhưng họ chỉ nói dân chủ mà không đả động gì đến những quyền tự do cơ bản giúp con người sống có phẩm giá, gọi là “nhân quyền.”

Vì vậy, những người ngoài đảng Cộng Sản Việt Nam có thể thất vọng. Thái độ tôn kính người nhiều tuổi đảng cho thấy các người ký tên vẫn giữ một thứ tôn ti trật tự hoàn toàn nội bộ. Chỉ nêu lên các thỉnh cầu mà không đòi hỏi, không tranh đấu, chứng tỏ 61 người vẫn tuân thủ một tôn ti trật tự nội bộ. Dân chủ hóa đất nước và chống Trung Cộng bành trướng là những mối quan tâm của 90 triệu người Việt Nam. Không phải chuyện riêng của các đảng viên cộng sản. Nhưng 61 vị đảng viên trên chỉ thỉnh cầu cấp trên trong đảng thay đổi, chứ không nói gì với người chung quanh. Ðây là thói quen do suốt nửa thế kỷ sống trong một chế độ “xin, cho” tạo ra. Ðọc xong bức thư chúng ta có cảm tưởng mình đang “đọc trộm” thư riêng của người khác; họ không có ý gửi cho mình đọc những chuyện nội bộ của họ. Vì vậy, rất nhiều người thất vọng; mặc dù vẫn kính trọng thiện chí của quý vị đã ký tên.

Một người Việt Nam có suy nghĩ, trước cảnh đảng Cộng Sản “đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh” chắc phải kêu gọi tất cả đồng bào cùng lo xây dựng lại. Phải phát triển kinh tế; muốn thế phải xây dựng dân chủ; và phải phục hưng văn hóa. Ðây là chuyện chung của cả nước, không thể giao cho mấy chục người trong một đảng cầm quyền định đoạt hết được.

Từ 100 năm trước đây Phan Châu Trinh đã đặt một thứ tự ưu tiên cho ba việc kể: Phục hưng văn hóa là điều quan trọng nhất (dân khí, dân trí), kinh tế hưng thịnh (dân sinh) là hậu quả tự nhiên. Khi Phan Tây Hồ đặt các ưu tiên như vậy, cụ không nói đến thứ tự thời gian mà nhấn mạnh đến tầm quan trọng. Trong ba lãnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế, thì dân khí, dân trí có vai trò quyết định. Một nước làm ăn giầu có hơn mà dân trí, dân khí vẫn thấp kém thì sẽ không thể tiến xa được, nhất là trong thời đại “kinh tế tri thức” hiện nay. Một nước mở cửa thị trường mà không có luật pháp minh bạch, thì riêng nạn tham nhũng không thôi cũng khiến cho kinh tế chậm lụt mãi mãi. Cho nên nếu không dân chủ hóa thì kinh tế khó phát triển. Nhưng một nước thiết lập thể chế dân chủ rồi mà dân khí, dân trí chưa phấn khởi, thì nền dân chủ sẽ chỉ có trên giấy tờ. Dân khí phấn khởi khi nào mọi công dân coi “việc nước” cũng là phận sự của chính mình. Do đó, chính mình phải quan sát, theo dõi, kiểm tra những người đang nắm quyền hành trong nước. Việc xây dựng chế độ tự do dân chủ là việc của toàn dân, chứ không thể giao khoán cho một nhóm người nào cả. Ðó không phải là “công tác mới” của hàng chục triệu đảng viên cộng sản Việt Nam! Họ không thể quyết định thay cho 90 triệu con người.

Muốn phục hưng dân khí của người Việt Nam thì những nhà trí thức phải có thái độ và hành động mới. Cứ tiếp tục thái độ “xin cho” thì không bao giờ “phấn dân khí” được. Dân khí sẽ bùng lên khi thấy những hành động quyết liệt, cam đảm. Không thể rụt rè, xin xỏ. Bức thư yêu cầu đảng Cộng Sản “chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ” nhưng lại nói thêm, “một cách kiên quyết nhưng ôn hòa.” Có người Việt Nam nào bây giờ đang đòi thay đổi chế độ bằng bạo lực đâu, mà phải lo lắng như vậy? Một bức thư “yêu cầu” thay đổi với lời lẽ lễ phép từ đầu đến cuối, như vậy không đủ chứng tỏ các người soạn thư rất ôn hòa hay sao? Có lời lẽ nào trong thư tỏ ra muốn bạo động, quá khích đâu? Văn tức là người. Ðọc cái đuôi “kiên quyết nhưng ôn hòa” người ta cảm thấy một tình trạng tâm thần không yên ổn, vừa nói vừa lo ngại sẽ bị chụp mũ, bị đàn áp, tù tội, lo bị gán cho cái tội “xét lại, chống đảng” như kinh nghiệm đã dậy. Thái độ này khó mà giúp cho công việc “phấn dân khí.”

Cho nên, chúng tôi ước mong các đảng viên Cộng Sản Việt Nam sẽ đồng ý và phổ biến bức thư của 61 đảng viên mới công bố, nhưng yêu cầu quý vị hãy bầy tỏ thái độ một cách kiên quyết hơn nữa. Phải nói thẳng rằng đây là những đòi hỏi tối thiểu của chúng tôi. Phải xác định rằng nếu lá thư này không được trả lời, nếu các yêu cầu này không được thỏa mãn trong vòng ba tháng, sáu tháng, chúng tôi sẽ từ bỏ đảng, sẽ kêu gọi đồng bào tập họp trong một (hay nhiều) đảng mới, tranh đấu buộc đảng Cộng sản phải thay đổi: Thực hiện tự do dân chủ và hành động cương quyết với Trung Quốc. Ông Nguyễn Hữu Thọ từng nói, đại ý: Muốn tự do thì phải tranh đấu chứ không thể xin người ta ban cho được. Gần 40 năm rồi, nhiều người không còn nhớ câu đó nữa.