Sợ Trung Quốc, Hà Nội tìm điểm tựa ở Washington

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, Washington DC - REUTERS /L. Downing
"Tổng thống Obama và tôi sẽ thảo luận các phương án thắt chặt quan hệ
đối tác giữa hai nước trong tinh thần bảo vệ hòa bình, ổn định và an
ninh hàng hải tại Biển Đông , quyền lợi và quan tâm chung của nhiều nước
trong và ngoài khu vực". Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đã trả
lời như trên câu hỏi của hãng tin Bloomberg về mục tiêu chuyến công du
Mỹ với trọng điểm là cuộc hội kiến tại Nhà Trắng vào hôm nay 25/07/2013.
Không hẹn mà các bài nhận định của giới phân tích quốc tế cũng như thông
điệp của giới nhân sĩ trí thức, blogger tại Việt Nam nhân chuyến công
du Hoa Kỳ của chủ tịch Trương Tấn Sang có cùng một nhận định : phải bắt
tay với Mỹ để thoát gọng kềm Trung Quốc.
David Brown, nguyên là nhà ngoại giao từng phục vụ tại Việt Nam phân
tích rằng Hà Nội đang tìm cách thoát mối đe dọa từ Trung Quốc. Sự kiện
ông Trương Tấn Sang, sau từ Trung Quốc trở về, đã cấp tốc sang Mỹ là dấu
hiệu Hà Nội « đã bị chấn động vì những gì mà Tập Cận Bình đã nói riêng
với ông Sang » tại Bắc Kinh hồi tháng 6 vừa qua.
Chuyên gia Úc Carl Thayer nhận định lãnh đạo Việt Nam sang Mỹ để thực
hiện Nghị quyết của Bộ chính trị về Hội nhập Quốc tế chủ yếu là Quan hệ
đối tác xuyên Thái bình dương TPP, không có Trung Quốc.
Trong khi đó, giới nhân sĩ, chuyên gia, blogger Việt Nam kêu gọi giới
lãnh đạo Việt Nam, mà đặc biệt là ông Trương Tấn Sang hãy « nắm lấy thời
cơ chứng tỏ bản lãnh » đưa đất nước ra khỏi bàn tay của « chủ nghĩa Đại
Hán ».
Trong bức tâm thư công bố trên mạng Bauxitvn, các nhân sĩ nhấn mạnh hiệp
ước thương mại đối tác xuyên Thái Bình dương TPP do Hoa Kỳ đề xướng, là
giải pháp quan trọng giúp Việt Nam « tháo gỡ » gọng kềm Trung Quốc và
giải quyết những khó khăn kinh tế hiện nay song song với cởi mở chính
trị.
Liệu Hà Nội cần phải nắm bắt thời cơ như thế nào để bảo vệ quyền lợi của
dân và đất nước ? RFI đặt câu hỏi với nhà phân tích Lưu Tường Quang từ
Sydney.
« Hà Nội đang đi tìm điểm tựa ở Washington để may ra đối trọng lại
phần nào với Trung Quốc Nếu chính phía Việt Nam đề nghị gặp tổng thống
Obama thì đây là một bước tiến có thể gọi là tích cực của Hà Nội nhằm
tạo một môi trường mới trong việc bang giao với Bắc Kinh, tương tự như
Miến Điện đã đi tìm điểm tựa ở Washington để từ bỏ cái quá khứ lệ thuộc
».
Lưu Tường Quang / Tú Anh (
RFI)
Toàn văn bài phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trong buổi gặp mặt Chủ tịch Trương Tấn Sang.
 |
| Ngoại trưởng Mỹ John Kerry |
"Thật phấn khởi khi thấy những gì rất nhiều người trong chúng ta đã nỗ
lực để đạt được trong 20 năm qua giờ đây đang chuyển mình thành một mối
quan hệ hợp tác quan trọng và mang tính xây dựng. Lần đầu tiên quay lại
Việt Nam với tư cách là một thường dân năm 1991, tôi có thể cảm nhận
được sự năng động đáng ngạc nhiên của
người dân Việt Nam, cảm nhận một sự sẵn sàng để tái hội nhập với thế
giới và thế giới cũng đã rất sẵn sàng để ngoái lại với Việt Nam.
Tất nhiên, như chúng ta còn nhớ, việc bình thường hoá quan hệ với Việt
Nam mà ở nhiều khía cạnh là thiết lập hoà bình, không hề đến một cách dễ
dàng. Và thưa ngài Chủ tịch, tôi rất hài lòng được nói rằng ngay lúc
này đây, trong căn phòng này có rất nhiều người đã từng đóng góp rất lớn
trong nhiều năm qua nhằm xây dựng mối quan hệ này. Tôi có thể thấy
Thượng Nghị sỹ Bob Kerrey và Chuck Robb, cựu Thượng Nghị sỹ Tom
Valleyly, người đã có nhiều gắn kết với chương trình [giảng dạy kinh tế]
Fullbright; cựu Thượng Nghị sỹ Richard Lugar, và nhiều người khác nữa.
Thượng Nghĩ sỹ Ben Cardin cũng có mặt, Dân biểu Sandy Levin ... Tất cả
những người đã làm việc hết mình để xây dựng mối quan hệ này.
Sự thật là tất cả bọn họ đều nhớ rằng đó đã là một tiến trình khó khăn,
gian khổ, đòi hỏi nhiều nỗ lực, một sự can đảm nhất định, và thậm chí là
sự thoả hiệp. Tất cả chúng ta đều biết rằng vào lúc ấy, chúng ta đã
không thể tiếp tục tiến tới mà không giải quyết câu hỏi khổng lồ chưa
được giải đáp, đó là liệu có còn tù binh Mỹ sót lại Đông Nam Á hay
không. Chúng ta cũng biết rằng tất cả những người của hai nước muốn giải
quyết vấn đề đó đều phải đối mặt với sự phản đối của rất nhiều người ở
cả hai phía. Và đó là lý do tại sao tôi sẽ luôn biết ơn các lãnh đạo
Việt Nam mà tôi đã làm việc cùng trong suốt 10 năm đó để xây dựng một
mối quan hệ đặc biệt, giúp chúng ta có thể đứng đây ngày hôm nay.
Họ đã giúp chúng tôi tìm kiếm vài nghìn người con của mình, mặc dù một
số lớn khác vẫn mất tích. Họ đã tình nguyện cày bới những cánh đồng lúa
của mình để giúp chúng tôi trả lời cho những nghi vấn. Họ cho phép chúng
ta vào nhà, những ngôi nhà lịch sử, vào những nhà giam, đôi lúc không
cần báo trước, để phỏng vấn các tù nhân. Họ chịu để cho những chiếc trực
thăng [của chúng tôi] bay trên các làng xóm, như đã từng chịu đựng,
nhưng với một thái độ hoàn toàn khác, để chúng tôi có thể tham vấn người
dân và trả lời những câu hỏi không được giải đáp suốt nhiều năm. Và
nhiều hơn một lần, họ còn dẫn lối cho chúng tôi băng qua những cánh đồng
rải đầy mìn.
Cuối cùng, tình bạn mà chúng ta đã đúc kết và
những nỗ lực mà chúng ta cùng nhau có được đã giúp giải quyết những vấn
đề tồn đọng trong quá khứ để tiến tới việc bình thường hoá quan hệ giữa
hai nước vào ngày 11 tháng Bảy, 1995. Và chỉ vài tuần sau đó, Ngoại
trưởng thời bấy giờ, ông Warren Christopher, đã đáp xuống Hà Nội để thực
hiện sứ mệnh hoà bình. Ông đã nói chuyện với tuổi trẻ Việt Nam về tương
lai, dẫn một câu được khắc tại Văn Miếu, Hà Nội: “Thiên khởi Trung
hưng, Thế khai Văn vận”. (Nguyên văn của John Kerry: “Heaven has ushered
in an era of renewal”) Những từ này đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với
ông, và có lẽ cũng với chúng ta ngày hôm nay.
Chủ đề đổi mới
là tâm điểm của tình hữu nghị giữa chúng ta. Người Việt Nam đã học từ
chính lịch sử của họ rằng, không có kẻ thù nào là mãi mãi, chỉ có những
người mà họ chưa chịu kết bạn.
Ngày nay, khi người Mỹ nghe từ
‘Việt Nam’, họ đã có thể hình dung ra một đất nước chứ không phải một
cuộc chiến. Và đó là thành tựu mà cả hai bên đã cùng đạt được. Trong
suốt 18 năm qua, những ích lợi của việc bình thường hoá quan hệ đã được
chứng minh đầy đủ. Việt Nam đã nổi lên như một trong những tấm gương của
sự thành công ở Châu Á. Nhờ vào hiệp định thương mại song phương vào
năm 2001, tổng giá trị mậu dịch giữa hai bên đã tăng gấp 50 lần từ năm
1995 đến nay. GDP bình quân trên đầu người tại Việt Nam từ đó đã tăng
gần 500%. Cùng với Việt Nam và một số nước khác trong khu vực, chúng tôi
đang nỗ lực để đi đến thoả thuận lịch sử dưới tên Hiệp định Đối tác
Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP), một thoả thuận của thế
kỷ 21 quy định chuẩn mực trong trao đổi thương mại nhằm thúc đẩy sự hội
nhập kinh tế khu vực, thúc đẩy sự thịnh vượng và đem lại cơ hội cho
người dân của tất cả các nước thành viên.
Trong quá trình
chuyển mình của mình, Việt Nam đang ngày càng đóng vai trò quan trọng
hơn trước các vấn đề trong khu vực và toàn cầu. Chúng tôi hoan nghênh
tuyên bố của Việt Nam trong đó bày tỏ nguyện vọng muốn tham gia các
chiến dịch gìn giữ hoà bình vào năm 2014 và hiện nay chúng tôi đang
trung giúp đỡ họ để chuẩn bị cho những đợt triển khai đầu tiên.
Chúng ta cũng đang cộng tác để thúc đẩy an ninh trên biển và tăng cường
khả năng cứu trợ nhân đạo cũng như ứng phó trước thiên tai. Chúng tôi
đang tập trung các chương trình hỗ trợ của mình vào công tác tăng cường
khả năng thích nghi, vào năng lượng sạch và sự phát triển bền vững để
giúp Việt Nam khắc phục các vấn đề về thay đổi khí hậu. Chỉ mới gần đây
tôi đã có cuộc gặp ở Brunei tại hội nghị APEC và chúng ta đã nói đến
Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong cũng như một số vấn đề khác.
Chúng ta
hiện đang hợp tác về giáo dục, và đó là một cầu nối rất quan trọng khác
trong mối quan hệ giữa hai nước. Việt Nam là một xã hội với dân số trẻ,
với 21 triệu người dưới độ tuổi 15. Quan trọng hơn hết, thế hệ tiếp theo
của Việt Nam cần có trường học ở gần nhà, đủ khả năng chuẩn bị đầy đủ
giúp học sinh Việt Nam đối mặt với sự cạnh tranh trong kỷ nguyên hội
nhập toàn cầu. Tôi đã luôn là người hết mực ủng hộ chương trình mà tôi
vừa nhắc đến, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright ở thành phố Hồ
Chí Minh. Sự thành công của chương trình này là một minh chứng cho thấy
các khoá dạy đại học độc lập của Hoa Kỳ hoàn toàn có khả năng phát triển
tại Việt Nam.
Giờ đây, khi chúng ta nhìn về tương lai của mối
quan hệ Việt - Mỹ, chúng ta cũng cần nhớ rằng sự bình thường hoá quan hệ
đã không thể xảy ra nếu không có những cuộc đối thoại chân thành, ngay
thẳng giữa Washington và Hà Nội, thậm chí trước cả những vấn đề nhạy cảm
như nhân quyền, và tôi quyết tâm xây dựng mối quan hệ hợp tác, chân
thành này, vốn là điều rất cần thiết cho cả hai nước chúng ta.
45 năm trước, hàng trăm nghìn người Mỹ đã chiến đấu trên những cánh
đồng, con sông của Việt Nam. Ngày nay, hàng trăm nghìn người chúng tôi
lại đến thăm những phiên chợ, những di tích lịch sử. Chúng ta đã cùng
nhau đi một chặn đường dài, và tôi xin khẳng định với ngài, thưa ngài
Chủ tịch, chúng ta sẽ tiếp tục xây dựng quan hệ giữa hai bên trong những
năm tới.
Cho phép tôi nói thêm. Khi đọc về lý lịch của ngài
Chủ tịch trước khi chào đón ngài đến với nước Mỹ và sau đó là đến trụ sở
Bộ Ngoại giao, tôi để ý thấy vào năm 1966, ngài đã gia nhập vào hàng
ngủ Đảng Cộng sản Việt Nam; cùng năm 1966, tôi gia nhập Hải quân Hoa Kỳ.
Năm 1969, ngài tham gia vào quân du kích ở một quận phía Nam Sài Gòn;
năm 1969, tôi đang tham chiến tại Đồng bằng Sông Cửu Long. Sau đó, vào
năm 1984, ông đã đảm nhận nhiều trọng trách ở Việt Nam, cuối cùng trở
thành chủ tịch thành phố Hồ Chí Minh, trong khi đó, tôi được bầu vào
Thượng Nghị viện Hoa Kỳ, đảm nhận những trọng trách không quan trọng mấy
(cả căn phòng bật cười).
Tuy nhiên, rõ ràng là có một sự tương
đương, một điều diễn ra song song một cách thú vị. Giờ đây, ngài là Chủ
tịch của nước mình, và tôi được vinh dự phục vụ cho Tổng thống Obama
với vị trí hiện tại. Vì thế chúng ta có cơ hội để xây dựng trên quá khứ
của mình qua chuyến đi này, và với tinh thần đó, xin cho phép tôi nâng
ly để chúc mừng sức khoẻ của Chủ tịch Sang, chúc mừng cho mối quan hệ
ngày càng khăng khít giữa người dân hai nước, cho lời hứa đổi mới, vốn
là tâm điểm của mối quan hệ giữa chúng ta, và cho Việt Nam, từ sự đối
đầu đến tình hữu nghị. (Vỗ tay)
Chưa có một quốc khách nào của Mỹ bị bạc đãi như ông Trương Tấn Sang
Nói một cách trung thực chứ không hề thiên vị chi cả về chuyến đi Mỹ của
Trương Tấn Sang hôm nay thật là ô nhục. Không phải ô nhục vì cộng đồng
người Việt Quốc Gia biểu tình phản đối mà ô nhục vì cách đón tiếp của
Mỹ.
Từ đầu chuyến đi khi đặt chân xuống phi trường Andrews C.T CS Sang được
trưởng ban lể tân của Bộ ngoại giao và đại sứ Mỹ tại VN ra đón. Tại sân
bay không trải thảm đỏ, không hoa, không kèn và nhục hơn nửa là không có
chổ để nhà báo đứng chụp hình đưa tin. Bửa ăn duy nhất mà Sang được đến
dự là buổi ăn trưa hôm 24/7 do Bộ ngoại giao thiết đãi.
Hôm nay bầu trời Thủ đô DC với thời tiết đẹp và đẹp hơn nửa là có cả
rừng Cờ Vàng, biểu ngữ và đoàn người biểu tình rầm rộ để phản đối một
trong những kẻ đứng đầu nhà nước độc tài CSVN đến White House. Tiếng hô
to đả đảo của người biểu tình chưa đủ mạnh để làm chủ tịch CSVN phải
chới với và thất vọng bằng cách tiếp đãi của T.T. Obama. Lại cái mặt củ
rích của viên đại sứ Mỹ tại VN David Shear làm đại diện T.T ra đón và
dẩn Sang vào Oval Office để diện kiến T.T Mỹ Obama.
Chưa có một quốc khách nào của Mỹ phải bị bạc đãi như Sang hôm nay. Phải
chăng Mỹ muốn nói rỏ với nhà cầm quyền CSVN rằng VN chưa phải là một
đối tác quan trọng của Mỹ ở Châu Á. Đài CNN của Mỹ không hề có đưa tin
gì về vị nguyên thủ VC đến Mỹ và diện kiến T.T Obama trong hôm nay. CNN
không đưa tin vì Nhà Trắng không tiếp đón Sang bằng nghi lễ cấp nhà
nước. Không yến tiệc linh đình như đón tiếp lãnh tụ TC, không bắn đại
bác chào mừng như đón Thủ Tướng Ấn Độ và không có duyệt đội quân danh dự
như đã dành cho lãnh tụ Nam Phi mà Mỹ đã từng đón tiếp.
Qua chuyến đi hôm nay của Trương Tấn Sang và cách tiếp đón của chính phủ
Mỹ có thể không những làm Ba Đình thất vọng mà cả trí thức, dân chủ và
nhân dân trong nước cũng thất vọng. Một tín hiệu rỏ rệt từ Mỹ để nhắn
nhủ với đồng bào trong nước rằng đừng trông chờ vào họ khi VN đã hoàn
toàn thuộc về Trung Cộng như hôm nay. Nhân dânVN có còn đủ can đảm để tự
mình giải thoát kiếp nô lệ phương Bắc đang dần dần được lập lại trong
những ngày tháng sắp đến?
John Sifton - Tại sao Obama lại đi gặp chủ tịch Việt Nam?
Hôm nay, Tổng thống Barack Obama đang tiếp đón một vị khách khác thường
tại Nhà Trắng: chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang. Nhà Trắng cho biết
rằng những đề tài thảo luận bao gồm thương mại và việc gắn chặt hơn nữa
các mối quan hệ an ninh và quốc phòng. Nhân quyền cũng nằm trong lịch
trình, nhưng với việc chính quyền Mỹ đang theo đuổi các mục tiêu "chuyển
hướng" và "tái cân bằng" ở châu Á, câu hỏi là Obama sẽ cứng rắn đến đâu
trong việc thúc đẩy vị lãnh đạo nhà nước độc đảng cố hữu này.
Việt Nam có một hồ sơ nhân quyền ngày càng tồi tệ, nổi bật là việc đàn
áp có hệ thống các quyền tự do ngôn luận, lập hội và biểu tình ôn hoà,
việc kiểm duyệt báo chí và đàn áp quyền của người lao động. Ngày càng lo
lắng về việc nắm giữ quyền lực, Đảng Cộng sản cầm quyền đã tăng cường
việc ức hiếp những công dân nào đặt vấn đề với những hoạt động của chính
quyền hoặc kêu gọi việc bầu cử dân chủ.
Kể từ khi Nhà Trắng tiếp đón một vị lãnh đạo Việt Nam lần cuối vào năm
2008, chính quyền Việt Nam đã bỏ tù ngày càng nhiều những nhà chống đối,
các bloggers và những nhà lãnh đạo tôn giáo, những người này đã bị toà
án do đảng chỉ đạo tuyên phạt những bản án tù ngày càng dài thêm. Những
bản án chính trị trong nửa năm đầu 2013 đã vượt qua tổng số án trong năm
2012, vốn cũng đã vượt quả con số của những năm 2011 và 2010.
Tồi tệ hơn, việc đàn áp giới đối lập chỉ là một mặt trong những vi phạm
nhân quyền của Việt Nam. Những vi phạm khác còn bao gồm việc công an tra
tấn và giết chết người, tịch thu đất đai không qua quá trình thương
lượng và bồi thường, và đàn áp những tổ chức tôn giáo không được phép
hoạt động công khai cũng như những nhóm dân tộc ít người. Những người
chạy xe gắn máy đã bị đánh đập khi dám tranh cãi với công an. Đất đai
của nông dân bị cướp đoạt. Những tín đồ bị ép buộc từ bỏ đạo. Những
người dân thiểu số bị đàn áp khi tập hợp chống lại nạn kỳ thị. Nhiều
người dân Việt phải vất vả trước nạn đàn áp dã man vô kiểm soát, hoặc là
phải đổ máu khi dám chống lại hoặc bắt buộc phải im lặng.
Chính quyền Obama thừa biết những tiêu cực trên, và nhấn mạnh rằng họ
đang đưa vấn đề nhân quyền vào các trao đổi với chính phủ Việt Nam. Và
đúng như thế. Đại Sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội thường xuyên can thiệp và thúc
đẩy Việt Nam về các trường hợp vi phạm quyền con người, và Bộ Ngoại
giao cũng tham gia vào cuộc thảo luận thường niên với Việt Nam về vấn đề
nhân quyền. Nhà Trắng đã cam kết với các dân biểu Quốc hội cũng như các
tổ chức nhân quyền rằng các vấn đề nhân quyền sẽ được "đưa ra" trong
chuyến viếng thăm này.
 |
| Nói chuyện kín về nhân quyền của Việt Nam vẫn chưa đủ |
Nhưng không rõ là liệu những trường hợp cụ thể sẽ được đưa ra hay không,
và liệu chúng có được đưa ra một cách công khai hay không. Trong bài
phát biểu công khai của mình, liệu Obama sẽ nhắc đến các trường hợp cụ
thể như nhà đối lập Cù Huy Hà Vũ, blogger thẳng thắn Nguyễn Văn Hải
(Điếu Cày), và luật sư Lê Quốc Quân, một người liên tục chỉ trích chính
quyền hiện đang đợi ra toà với tội danh đầy giả tạo là "trốn thuế"?
Những phát biểu mạnh mẽ của tổng thống thì rất quan trọng. Vào tháng Năm
2012, Obama từng nhắc đến Nguyễn Văn Hải trong một phát biểu nhân Ngày
Tự do Báo chí Quốc tế, ca ngợi tinh thần dũng cảm của anh ta trong hoàn
cảnh "chính quyền Việt Nam đàn áp rộng khắp giới nhà báo công dân." Đại
Sứ quán Hoa Kỳ cũng đã vài lần lên tiếng quan tâm đến trường hợp Lê Quốc
Quân - những can thiệp này có thể đã góp phần vào việc trao trả tự do
cho ông trong những lần trước. Những tuyên bố công khai này giúp gửi một
thông điệp đến những nhà hoạt động dũng cảm ở Việt Nam rằng thế giới
đang đứng về phía họ, và đặt áp lực đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải
thay đổi đường lối.
Tuy nhiên, nói cho cùng, việc nhấn mạnh các vấn đề nhân quyền vẫn chưa
đủ. Câu hỏi thực sự là liệu chính quyền Hoa Kỳ có sẵn sàng đưa ra những
áp lực thực sự và có những biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng
vi phạm nhân quyền rộng rãi của Việt Nam hay không. Thất bại trong việc
giải quyết vấn đề rộng lớn hơn - và vượt trên cả việc can thiệp vào các
trường hợp cụ thể - có thể khiến cho Hà Nội càng lấn lướt hơn: làm giới
lãnh đạo Việt Nam nghĩ rằng họ có thể đạt bất cứ điều gì mình muốn từ
Hoa Kỳ trong khi chỉ hứa hẹn nhân quyền bằng đầu môi chót lưỡi.
Vào ngày 24 tháng Bảy, một ngày trước chuyến thăm, một số các tổ chức
công đoàn Hoa Kỳ đã kêu gọi chính phủ đình chỉ việc thương lượng về Hiệp
ước Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TTP) với Việt Nam cho đến khi các
vấn đề nhân quyền then chốt được giải quyết. Một số các nghị sĩ Quốc
hội cũng đã yêu cầu Nhà Trắng cân nhắc phương hướng này.
Cách đây vài năm, chính phủ Hoa Kỳ hy vọng rằng việc cởi mở thương lượng
mậu dịch và một đối thoại chiến lược quân sự với Việt Nam sẽ được xem
là một động cơ khiến chính quyền Việt Nam thay đổi, và có lẽ nhẹ tay hơn
trong chính sách độc tài của mình. Giờ đây dường như hy vọng ấy đã bị
đặt nhầm chỗ.
Rõ ràng là chính sách của Hoa Kỳ cần phải thay đổi - câu hỏi là bằng
cách nào. Hoa Kỳ cần bắt đầu liên kết quan hệ kinh tế và những quan hệ
khác với Việt Nam với những cải cách nhân quyền cụ thể. Và thông điệp về
vấn đề này phải được đưa ra công khai và rõ ràng. Bước đầu, Obama nên
ra lệnh cho Phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ công khai những đòi hỏi cơ
bản của mình trong quá trình thương lượng về TTP, để cho người lao động
và người dân Việt Nam cũng như Hoa Kỳ có thể xem xét các quyền lao động
căn bản thực sự được cải thiện.
Chính quyền Obama cũng nên đưa ra một câu hỏi cơ bản cho chính mình:
Liệu Hoa Kỳ có nên tiếp tục việc đối tác bình thường với một nhà nước
chuyên hình sự hoá hành động kêu gọi dân chủ và chẳng có dấu hiệu nào
hướng đến cải cách?
Diên Vỹ chuyển ngữ
25.07.2013
* John Sifton là giám đốc hỗ trợ khu vực châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền
(Dân luận)
Obama lạc quan về quan hệ Việt - Mỹ
Tổng thống Mỹ Barack Obama hôm 25/7 thúc giục Chủ tịch Trương Tấn Sang
tăng cường tự do ngôn luận và tôn giáo ở Việt Nam, nhưng lạc quan về
triển vọng quan hệ.
Hai nhà lãnh đạo tỏ ra vui vẻ trong cuộc gặp ở Phòng Bầu dục.
Ông Obama tiết lộ ông Sang đã tặng bản sao lá thư lãnh tụ cộng sản Hồ
Chí Minh gửi Tổng thống Harry Truman năm 1946, đề nghị Mỹ giúp đỡ.
"Tất cả chúng ta đều nhận ra lịch sử vô cùng phức tạp giữa Mỹ và Việt
Nam, nhưng từng bước một, chúng ta đã có thể thiết lập một mức độ tôn
trọng và tin tưởng nhau," ông Obama nói.
 |
| Tổng thống Obama nói sẽ 'cố gắng' thăm Việt Nam trước khi kết thúc nhiệm kỳ |
'Thẳng thắn'
Nhà lãnh đạo Mỹ phát biểu sau điều mà ông mô tả là cuộc đối thoại "rất thẳng thắn" tại Nhà Trắng
"Hoa Kỳ tiếp tục tin rằng tất cả chúng ta phải tôn trọng các vấn đề như
tự do bày tỏ, tự do tôn giáo, tự do hội họp," ông Obama nói với các
phóng viên ở Phòng Bầu dục, trong khi ông Sang ở cạnh.
"Chúng tôi đã có đối thoại rất thẳng thắn về cả tiến bộ mà Việt Nam đạt được và những thách thức còn tồn tại," ông nói.
Hàng trăm người biểu tình, đa số là người Mỹ gốc Việt, vẫy cờ Việt Nam
Cộng Hòa và hô khẩu hiệu từ Công viên Lafayette, thỉnh thoảng vang tới
cả bên trong Nhà Trắng.
Hai nhà lãnh đạo tỏ ra vui vẻ trong cuộc gặp
Tổng thống Mỹ cho hay hai người quyết tâm hoàn tất Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương trước cuối năm.
Ông nói nó sẽ tạo thêm việc làm và tăng đầu tư ở châu Á và hai quốc gia.
Chủ tịch Việt Nam, thừa nhận hai bên còn những "khác biệt", nói ông
Obama sẽ "cố gắng" để thăm Việt Nam trước khi nhiệm kỳ kết thúc.
Phát biểu qua phiên dịch, ông Sang nói: "Chúng tôi sẽ tăng cường các trao đổi cấp cao giữa hai nước."
Ông Obama nói ông muốn một quan hệ đối tác với Việt Nam bao gồm gia tăng
thương mại, hợp tác quân sự, trao đổi giáo dục và khoa học.
Ông Obama cho biết hai nước vẫn đang làm việc về "những vấn đề di sản
chiến tranh", như người Mỹ mất tích và sức khỏe của người Việt từ việc
Mỹ dùng chất diệt cỏ trong chiến tranh.
Một yếu tố làm Mỹ xích lại Việt Nam là lo ngại về Trung Quốc.
Ông Obama nhắc lại kêu gọi có tiến bộ trong việc xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên biển giữa Asean và Trung Quốc.
Ông nói ông hy vọng sẽ có bộ quy tắc "giúp giải quyết những vấn đề này trong hòa bình và công bằng".
Theo lịch trình, ông Obama sẽ rời Nhà Trắng ra phi trường Andrews để bay tới Florida lúc 11:30.
Tổng thống sẽ trở lại Nhà Trắng vào lúc 17:35 để tiếp tục một số hoạt động ở Washington DC.
Các hình ảnh cho thấy đông đảo người Việt ở Hoa Kỳ đã có mặt ở trước cửa Nhà Trắng để phản đối tình trạng nhân quyền ở Việt Nam.
Trong số người biểu tình có ông Joseph Cao, người Mỹ gốc Việt đầu tiên được bầu vào Hạ viện Hoa Kỳ.
Các biểu ngữ mà người biểu tình mang theo có 'Trương Tấn Sang go home',
tức 'Trương Tấn Sang hãy về nhà' và 'Free Điếu Cày', tức 'Trả tự do cho
Điếu Cày', người mà ông Obama từng nhắc tới trong một diễn văn về tự do
ngôn luận trên thế giới.
Hiện có tin blogger Điếu Cày đã tuyệt thực trong nhiều ngày qua.
Không rõ ông Obama có nhắc lại tên của blogger này trong cuộc gặp với ông Sang hay không.
Nhân quyền và khí hậu
Nhà Trắng nói hai vị nguyên thủ quốc gia có kế hoạch thảo luận về tình trạng nhân quyền Việt Nam và biến đổi khí hậu.
Luật sư Vũ Đức Khanh từ Canada nói nhìn toàn cảnh của chuyến công du ba
ngày của Chủ tịch Sang và cách tiếp đón ông tại Hoa Kỳ, "người ta không
khỏi có cảm tưởng rằng Việt Nam cộng sản chưa thể gọi là "đối tác chiến
lược quan trọng" của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á như những gì mà truyền thông
cũng như lãnh đạo Hà Nội đã đặt kỳ vọng trước chuyến đi này."
Luật sư Khanh nói thêm: "Buổi tiệc duy nhất mà chính phủ Hoa Kỳ chiêu
đãi ngài Chủ tịch Trương Tấn Sang là buổi "ăn trưa làm việc với Ngoại
trưởng John Kerry tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm qua 24/7.
"Chủ tịch Sang không được nghi lễ đón tiếp cấp nhà nước, thậm chí người
đón ông Chủ tịch vào Tòa Bạch Ốc để giới thiệu với Tổng thống Obama chỉ ở
cấp Đại sứ đó là Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam David Shear và Đại sứ
Marshall người chịu trách Lễ tân của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
"Khác hẳn với chuyến đi hồi tháng 6 vừa qua của Chủ tịch Sang đến Trung
Quốc khi ông được long trọng đón tiếp và cùng với Chủ tịch Tập duyệt dàn
chào danh dự.
"Liệu Chủ tịch Sang và các đồng chí của ông trong Bộ Chính Trị sẽ nghĩ gì khi phải lựa chọn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc?"
(BBC)
Xác lập quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là đối tác toàn diện
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ chính thức được xác lập thành đối tác toàn
diện. Tuyên bố đó đã được đưa ra sau cuộc hội đàm tại Nhà Trắng giữa chủ
tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tối 25-7
(giờ Việt Nam) theo tường thuật của PV Tuổi Trẻ từ Washington.
Tại buổi hội đàm, Tổng thống Obama hoan nghênh Chủ tịch nước Trương Tấn
Sang tới thăm chính thức Hoa Kỳ, khẳng định coi trọng quan hệ Việt Nam -
Hoa Kỳ và vai trò của Việt Nam tại khu vực, mong muốn quan hệ giữa hai
nước trong thời gian tới sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ.
Tổng thống Obama khẳng định Hoa Kỳ tiếp tục coi trọng khu vực châu
Á-Thái Bình Dương trong tổng thể chiến lược chung của Hoa Kỳ, trong đó
có vai trò trung tâm của ASEAN.
 |
| Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang (trái) và Tổng thống Hoa Kỳ
Barack Obama tại phòng Bầu Dục của Nhà Trắng tại thủ đô Washington, Mỹ
ngày 25-7 - Ảnh: Reuters |
Xác lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định Việt Nam hoan nghênh Hoa Kỳ
tăng cường hợp tác với Châu Á-Thái Bình Dương vì hòa bình, ổn định và
thịnh vượng của khu vực, nhấn mạnh Việt Nam coi trọng và mong muốn tiếp
tục thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ. Hai bên nhất trí đánh giá quan hệ hai
nước thời gian qua đã phát triển sâu rộng trên nhiều lĩnh vực. Trên cơ
sở đó, hai nhà lãnh đạo đã quyết định xác lập quan hệ Đối tác toàn diện
Việt Nam - Hoa Kỳ dựa trên các nguyên tắc tôn trọng Hiến chương Liên
Hiệp Quốc, luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
Quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ tạo ra khuôn khổ mới cho
quan hệ hợp tác giữa hai nước trong nhiều lĩnh vực như chính trị-ngoại
giao, kinh tế-thương mại, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, quốc
phòng-an ninh, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người... Hai nhà lãnh đạo
tin tưởng Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ không chỉ phục vụ tốt
hơn lợi ích hai nước mà còn đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và
phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Hai nhà lãnh đạo cũng thống nhất tiếp tục định kỳ trao đổi đoàn, tiếp
xúc gặp gỡ cấp cao; thiết lập cơ chế hợp tác mới, nâng cấp thiết chế
hiện có làm sâu sắc thêm quan hệ hai nước. Hai bên nhấn mạnh hợp tác
kinh tế, thương mại, đầu tư là nền tảng và động lực của Đối tác toàn
diện Việt Nam - Hoa Kỳ, khẳng định cam kết hoàn tất đàm phán Hiệp định
đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào thời điểm sớm nhất có thể trong
năm nay.
Tổng thống Obama hoan nghênh những thành tựu đổi mới kinh tế của Việt
Nam, nhất trí tăng cường hợp tác kinh tế-thương mại-đầu tư thông qua
khuôn khổ Hội đồng TIFA, cũng như Sáng kiến Tăng cường liên kết kinh tế
ASEAN (E3) và APEC; ghi nhận quan tâm của Việt Nam về việc Hoa Kỳ công
nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.
Hai nhà lãnh đạo nhất trí thúc đẩy hợp tác khoa học - công nghệ, nhất là
trong các lĩnh vực năng lượng hạt nhân, công nghệ không gian và nghiên
cứu biển. Hai bên cũng nhất trí đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực song
phương khác như giáo dục, quốc phòng-an ninh, hợp tác nhân đạo khắc
phục hậu quả chiến tranh… cũng như tăng cường phối hợp trên các diễn đàn
quốc tế và khu vực như APEC, ARF, EAS, ADMM+...
Giảm thiểu khác biệt về nhân quyền
Về biển Đông, hai nhà lãnh đạo tái khẳng định ủng hộ giải quyết tranh
chấp ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc
tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Hai nhà Lãnh đạo cũng tái khẳng định ủng hộ nguyên tắc không sử dụng vũ
lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp trên biển và
lãnh thổ. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh giá trị của việc tuân thủ đầy đủ
Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung
Quốc, và tầm quan trọng của việc khởi động đàm phán để đạt đư
ĐÀ TRANG (từ Washington DC, Hoa Kỳ)
* Mời bạn đọc xem thông tin đầy đủ trên Tuổi Trẻ ngày 26-7-2013
(Tuổi Trẻ)
Obama nói gì sau khi gặp Chủ tịch Sang?
 |
| Tổng thống Obama nói sẽ 'cố gắng' thăm Việt Nam trước khi kết thúc nhiệm kỳ |
Sau cuộc gặp giữa Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang,
Hoa Kỳ và Việt Nam ra tuyên bố chung về quan hệ "đối tác toàn diện"
(comprehensive partnership).
Tuyên bố chung, được đăng trên trang web Nhà Trắng, nói ông Obama và
Trương Tấn Sang "quyết định xác lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam -
Hoa Kỳ để đem lại khuôn khổ tổng thể cho việc thúc đẩy quan hệ".
Quan hệ này dựa trên các nguyên tắc "tôn trọng Hiến chương Liên Hiệp
Quốc, luật pháp quốc tế, hệ thống chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ của nhau".
Quan hệ mới sẽ tạo ra "cơ chế hợp tác trong các lĩnh vực gồm quan hệ
ngoại giao và chính trị, kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ, giáo
dục và đào tạo, môi trường và sức khỏe, các vấn đề di sản chiến tranh,
quốc phòng và an ninh, bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, văn hóa, thể thao
và du lịch," theo tuyên bố chung.
Sau cuộc gặp, Tổng thống Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang có phát biểu trước giới phóng viên.
Xin giới thiệu với quý vị nội dung phát biểu của Tổng thống Obama:
"Tôi hân hạnh được chào đón Chủ tịch Trương Tấn Sang đến Nhà Trắng và
Phòng Bầu dục cho cuộc gặp song phương đầu tiên với tôi. Sự kiện này thể
hiện tiến bộ vững chắc và củng cố quan hệ giữa hai nước chúng ta.
Rõ ràng tất cả chúng ta đều nhận ra lịch sử vô cùng phức tạp giữa Mỹ và
Việt Nam. Từng bước một, chúng ta đã có thể thiết lập một mức độ tôn
trọng và tin tưởng nhau, cho phép chúng ta giờ đây loan báo quan hệ đối
tác toàn diện giữa hai nước. Điều này sẽ cho phép có hợp tác lớn hơn nữa
về một loạt vấn đề từ thương mại đến hợp tác quân sự, công tác đa
phương về các vấn đề như trợ giúp thiên tai, trao đổi khoa học và giáo
dục.
Chúng tôi cũng thảo luận về các cách thức mà Mỹ và Việt Nam đang tham
gia thông qua Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đó sẽ là nỗ
lực vô cùng tham vọng để gia tăng thương mại, buôn bán và minh bạch
trong quan hệ thương mại ở vùng châu Á Thái Bình Dương. Chúng tôi quyết
tâm với mục tiêu tham vọng là hoàn tất thỏa thuận này trước cuối năm vì
chúng tôi biết rằng điều này có thể tạo thêm việc làm và tăng đầu tư
khắp khu vực và ở hai nước chúng ta.
Chúng tôi đã thảo luận nhu cầu tiếp tục các nỗ lực giải quyết trong hòa
bình những vấn đề trên biển đã xảy ra ở Biển Nam Trung Hoa và các nơi
khác ở châu Á - Thái Bình Dương. Và chúng tôi đánh giá rất cao quyết tâm
của Việt Nam làm việc với ASEAN và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á để chúng
ta đạt được các Quy tắc Ứng xử mà sẽ giúp giải quyết các vấn đề này
trong hòa bình và công bằng.
Ông Obama nói cuộc gặp thể hiện tiến bộ vững chắc và củng cố quan hệ giữa hai nước
Chúng tôi đã thảo luận những thách thức mà tất cả chúng ta đối mặt trong
các vấn đề nhân quyền. Chúng tôi nhấn mạnh Hoa Kỳ tiếp tục tin rằng tất
cả chúng ta phải tôn trọng các vấn đề như tự do bày tỏ, tự do tôn giáo,
tự do hội họp. Và chúng tôi đã có đối thoại rất thẳng thắn cả về tiến
bộ mà Việt Nam đang đạt được và những thách thức còn tồn tại.
Cả hai chúng tôi tái khẳng định những nỗ lực đã có để giải quyết các vấn
đề di sản chiến tranh. Chúng tôi đánh giá rất cao sự hợp tác tiếp tục
của Việt Nam trong cố gắng tìm lại những người mất tích và những người
đã chết trong chiến tranh. Và tôi tái khẳng định quyết tâm của Hoa Kỳ
làm việc với Việt Nam quanh một số vấn đề môi trường và sức khỏe đã tiếp
tục nhiều thập niên sau đó, vì chiến tranh.
Cuối cùng, chúng tôi đồng ý rằng một trong những nguồn sức mạnh giữa hai
nước chúng ta là dân số Mỹ gốc Việt ở đây nhưng rõ ràng vẫn duy trì
quan hệ mạnh mẽ với Việt Nam. Và trên hết, những quan hệ người với người
đó là chất keo có thể tăng cường quan hệ giữa bất kỳ hai quốc gia nào.
Vì thế tôi chỉ muốn nói với Chủ tịch Sang tôi vô cùng trân trọng chuyến
thăm của ngài. Nó là dấu hiệu cho sự trưởng thành và bước phát triển kế
tiếp giữa Mỹ và Việt Nam. Khi chúng ta gia tăng tham vấn, tăng cường hợp
tác, thương mại, trao đổi khoa học và giáo dục, nó sẽ tốt cho sự thịnh
vượng và cơ hội của nhân dân tại Mỹ, cũng như tốt cho cơ hội và thịnh
vượng của nhân dân Việt Nam.
Vào cuối cuộc gặp, Chủ tịch Sang chia sẻ với tôi bản sao lá thư của Hồ
Chí Minh gửi Harry Truman. Và chúng tôi đã bàn về việc Hồ Chí Minh thực
sự có cảm hứng nhờ Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ, và những lời
nói của Thomas Jefferson. Hồ Chí Minh đã nói ông muốn hợp tác với Hoa
Kỳ. Và Chủ tịch Sang bày tỏ rằng ngay cả nếu 67 năm đã trôi qua, thì
cũng là điều tốt khi chúng ta còn đang có tiến bộ.
Cảm ơn ngài rất nhiều vì chuyến thăm. Và tôi trông đợi chúng ta tiếp tục hợp tác với nhau."
(BBC)
Hận cá, chém thớt
(về luận văn của Nhã Thuyên – Đỗ Thị Thoan)
Có lẽ nhiều người biết đến Hầu tước de Sade, một nhà văn Pháp sống ở thế
kỷ 18, viết toàn tiểu thuyết dâm dục, miêu tả cặn kẽ chuyện làm tình,
cảnh bạo dâm, khổ dâm còn ghê hơn nhiều truyện khiêu dâm chính cống.
Nhưng dù muốn dù không người ta vẫn xem ông là nhà văn, thậm chí có
người còn cho ông là tiên phong của chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa siêu
thực…
Giả thử có một sinh viên cao học làm luận văn thạc sĩ về ông này, với
luận đề “tình dục trong văn de Sade là biểu hiện nổi loạn của một người
theo chủ nghĩa cá nhân cực đoan”. Có thể nào chê trách luận văn này tràn
đầy những câu trích “trắng trợn” về tình dục? Có thể nào lên án người
sinh viên cổ xúy cho lối sống phóng túng, bạo dâm?
Những người phê phán luận văn “Vị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của
nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” của Đỗ Thị Thoan cũng rơi vào chỗ
tương tự: thay vì ném sự phẫn nộ của họ vào nhóm Mở Miệng họ lại chĩa
mũi dùi vào người nghiên cứu nó, tạo ra một tiền lệ chưa từng thấy: báo
chí phổ thông, nhà phê bình văn học lại đi phê bình một luận văn thạc sĩ
của một trường đại học. Bởi vậy họ không nói gì đến phương pháp luận,
tính khoa học, cách thể hiện của luận văn, họ chỉ tìm những câu trích
phục vụ cho việc phê phán nói trên.
Đáng sợ là những trường hợp, dù thú nhận chưa đọc luận văn nhưng cũng
“hai lần lên diễn đàn đề nghị các cơ quan chức năng phải làm việc nghiêm
khắc và xử lý thích đáng đối với tác giả bản luận văn cũng như hội đồng
chấm luận văn”.
 |
| Nhóm Mở Miệng |
Có thể nói ngay luận văn của Đỗ Thị Thoan là một công trình nghiêm túc,
công phu, được viết một cách cẩn trọng, với những quan sát sâu sắc, cách
diễn đạt lôi cuốn, tính thuyết phục khá cao. Lớp già như tôi có thể tự
hào về một lớp trẻ như Đỗ Thị Thoan, hoàn toàn không như định kiến
thường có về một lớp trẻ hời hợt, chỉ biết sao chép. Toát lên từ luận
văn này là nền học vấn rất tốt, sự làm việc tới nơi tới chốn, sự độc lập
trong suy nghĩ, và sự thành thực trong nhiều nhận định.
Một số điểm làm tôi khâm phục cô giáo trẻ này:
- Không dùng lý thuyết phương Tây để lòe người đọc vì hiểu rõ hạn chế
của cách tiếp cận này. (Cho nên đừng nghĩ luận văn nói về chuyện hậu
hiện đại, nó thấm đằng sau những câu chuyện thực tế của văn học Việt
Nam).
- Hiểu rõ tính nhạy cảm của đề tài khi phải gắn với chính trị, kể cả sự
xứng đáng hay chưa của đối tượng nghiên cứu nhưng biết dùng nó làm đòn
bẩy cho lập luận của mình.
- Hiểu rõ những sự lợi dụng hiện tượng Mở Miệng ở một số người bên ngoài, dùng nó như một cách thúc đẩy ý đồ riêng của họ.
Để đánh giá một luận văn, cần xem thử luận đề nó là gì, sau đó cách tác
giả triển khai chứng minh, biện giải, thuyết phục người đọc tin vào luận
đề đó như thế nào, có thành công không.
Luận văn xác định, “vấn đề then chốt là tra vấn về vị thế bên lề như một
điểm tham chiếu để bình luận về những cách tân và tính cách mạng trong
tư tưởng và nghệ thuật [thực hành thơ của Mở Miệng]”.
Mặc dù chương về vị thế bên lề khá dài, phần bối cảnh “hậu đổi mới” dễ
gây phản ứng ở những người đọc thuộc “dòng chính” (đây là đoạn được
trích dẫn nhiều nhất để gán nhãn “phản động” cho luận văn, có thể tóm
tắt lập luận của người viết ở phần này như thế này: Nhóm Mở Miệng chọn
vị thế bên lề như là điều kiện để có thể cách tân một cách trọn vẹn bởi
“cách tân như một lẽ sống còn của nghệ thuật mới là lý do tồn tại thực
sự” của họ. Như vậy mọi sự phản kháng chỉ là biểu hiện của chọn lựa vị
thế bên lề, còn cách tân mới là mục đích.
Cách tân trước hết thể hiện ở hình thức tự xuất bản với những phá cách,
tạo ra một không gian hoạt động riêng, là nội dung chương hai. Phần còn
lại của luận văn miêu tả, bình giải những nỗ lực mà khi miêu tả chi tiết
sẽ làm hoảng sợ những người bình thường vì sự vô nghĩa của ngôn từ, sự
tục tĩu, bế tắc, giễu nhại, giải thiêng… khi Mở Miệng thực hành thơ.
Nếu xét về góc độ học thuật, hoàn toàn không có gì ngạc nhiên khi thấy Hội đồng chấm luận văn cho điểm 10 tuyệt đối.
Tuy nhiên, sự phẫn nộ của một số nhà phê bình, nhà văn, nhà báo là điều
cũng dễ hiểu. Bởi Đỗ Thị Thoan đã chọn sai thời điểm để công bố luận
văn. Như cô tự nhận xét cô không giữ được sự khách quan khi viết luận
văn vì phải can dự, vì phải chọn làm kẻ ngoài lề, vì thế luận văn chọn
vị trí của người nhìn vào bối cảnh đời sống chính trị hiện đại như một
người bên ngoài dòng chính thống. Chỉ cần một sự phân tích khách quan,
tỉnh táo, hơi lạnh lùng như thế cũng đủ làm luận văn là cái gai trong
cách nhìn chính thống.
Khách quan mà nói, thời nào, nơi nào cũng sẽ có những nhóm như Mở Miệng.
Lúc nào cũng có sự phản kháng, sự tác động của kẻ ngoài lề dội vào dòng
chính. Để phá vỡ cái trì trệ của dòng chính, kẻ ngoài lề phải phá
phách, quậy nát, phải ồn ào, tức phải đẩy tới chỗ cực đoan, quá khích.
Và như một quy luật, dòng chính nhờ vậy tiến lên một mức độ mới, rồi lại
rơi vào trì trệ, cần sự thúc đẩy của kẻ ngoài lề phá phách mới. Đó có
thể là sự trói buộc của thần quyền thời Sade, của chủ nghĩa tư bản, của
tư duy toàn cầu hóa, của các thiết chế xã hội; chứ đâu nhất thiết là thể
chế hiện nay. Kẻ ngoài lề vì vậy luôn luôn là kẻ ngoài lề, khó được
chấp nhận rộng rãi, chưa kể là sẽ gây dị ứng cho nhiều người (tôi đoán
10 người bạn của tôi sẽ có 9 người trong đó có tôi, dị ứng với Mở Miệng)
nhưng nó phải đóng trọn vai trò của nó, rồi thôi. Dù gì đi nữa nó cũng
cần được nghiên cứu và Đỗ Thị Thoan đã làm được điều đó, không khích lệ
thì thôi sao lại vùi dập.
Nguyễn Vạn Phú
(Blog Nguyễn Vạn Phú)
Chạy án: căn bệnh trầm kha ở Việt nam
Chạy án một chuyện rất phổ biến ở Việt nam mà hầu như ai cũng biết, nó
được coi là một lỗ hổng trong ngành tư pháp ở Việt nam. Từ đó công lý
luôn sẵn sang bị những cán bộ trong ngành bảo vệ pháp luật nhận tiền để
bẻ cong. Sự thật của vấn nạn này đang diễn ra ở Việt nam thế nào?
Thiếu một nhà nước pháp quyền
Tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 22.3.2013, đã có nhiều Đại
biểu Quốc hội đặt câu hỏi về tình trạng tiêu cực của cán bộ ngành tòa
án. Và Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Trương Hòa Bình cũng đã thừa
nhận “thực tế có một số không ít cán bộ công chức tòa án bị truy cứu
trách nhiệm hình sự vì tiêu cực, nhận tiền của đương sự.”
Việc nay hoàn toàn phù hợp với ý kiến của Đại biểu Quốc hội Đỗ Văn
Đương, nguyên Phó viện trưởng Viện Khoa học kiểm sát hỏi Chánh án Trương
Hòa Bình: “Có hay không tiêu cực trong chạy án tham nhũng khi số vụ án
đưa ra xét xử thì ít nhưng số bị cáo được hưởng án treo, phạt tù nhẹ
chiếm rất cao, có nơi đến 45%?".
Ở Việt nam việc dùng tiền để hối lộ cho các cán bộ trong ngành tư pháp
và bảo vệ pháp luật, hay còn gọi là chạy án là một hiện tượng rất phổ
biến mà ai cũng biết. Nói về chạy án và nguyên nhân vì sao việc chạy án
đang ngày một gia tăng, LS. Hà Huy Sơn cho chúng tôi biết:
“Vấn đề chạy án là người có quyền lợi liên quan (đến vụ án) nguyên đơn
hay bị đơn, bỏ tiền ra chạy cán bộ thẩm phán để lấy lợi về phần mình,
trái với quy định của pháp luật. Có hai nguyên nhân, là cái khung hình
phạt quy định khoảng cách quá lớn là một phần; cái thứ hai là cái quy
định nội dung của tội danh không rõ ràng. Cho nên thẩm phán hay các cơ
quan tiến hành tố tụng người ta có thể suy đoán, suy diễn theo cái hướng
của người ta. Và nguyên nhân chính theo quan điểm của tôi là do Việt
Nam đang thiếu một nhà nước pháp quyền, nên hiện tượng này đang ngày
càng gia tăng.”
 |
| Ảnh minh họa về nạn hối lộ |
Chạy án ở Việt nam hiện nay không còn giống như chạy án mấy chục năm về
trước, khi đó chỉ là hiện tượng cá biệt và thuộc về một số người lợi
dụng quen biết để nhờ vả rồi trục lợi. Hiện nay việc chạy án trở thành
hệ thống có tổ chức với những thủ đoạn hết sức tinh vi và phức tạp. Đó
chính là nguyên nhân vì sao ở Việt nam bây giờ bất cứ án gì, ở mức độ
nào nếu có tiền là lo được hết, kể cả án tử hình cũng có thể có người
chết thay cho.
Nhà báo chống tham nhũng Trần Quang Thành, người từng bị tạt át xít vì
chống tham nhũng nói với chúng tôi rằng: “Chạy án thì có hai loại, chạy
án hình sự và án dân sự. Vụ án dân sự không giốn như vụ án hình sự, vì
vụ án hình sự nó có thời hạn nhất định còn có các vụ án dân sự kéo dài
mấy năm không xong. Càng kéo dài bảo nhiêu thì luật sư càng bở bấy nhiêu
mà thẩm phán càng ăn thua vì họ mặc cả với nhau. Nói thật, cả án chính
trị cũng chạy được, án nào cũng chạy được. Tử hình xuống chung thân có
khó gì đâu, chưa kể đến nó mua người để thay người (bị tử hình), chuyện
này nó dích dắc lắm. Trong tù có những chuyện mà ta không thể hiểu nổi.”
Toàn bộ quá trình chạy án đã có sự thống nhất chung giữa các cơ quan tố
tụng Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án và Bộ Tư pháp (trong trường hợp giảm
án hoặc đặc xá )... Ở tùy các mức độ nguy hiểm và tính chất của vụ án
mà mức độ tham gia của các đối tượng thuộc các cơ quan trên sẽ được huy
động ở các cấp khác nhau. Và báo chí sẽ được huy động tham gia nếu cần
thiết phải tạo áp lực của dư luận xã hội theo chiều hướng có lợi hoặc có
hại cho một bên. Khi đó các nhà báo là phóng viên Nội chính sẽ vào cuộc
để viết bài nhằm gây áp lực.
Đối với các vụ án lớn, nghiêm trọng, nếu có một thế lực lớn đứng đằng
sau, thì là khi sức mạnh tổng hợp sẽ bị lạm dụng và huy động hết công
suất. Có lẽ đó là lý do mà Năm Cam, trùm xã hội đen ở Sài gòn đã để lại
một câu nói bất tử: “Cái gì không mua được bằng tiền thì có thể mua bằng
rất nhiều tiền.”
Tham nhũng tập thể
Nói về thủ đoạn chạy án, nhà báo chống tham nhũng Trần Quang Thành cho biết: “Có
nhiều cách chạy, nhưng không bao giờ thẩm phán trực tiếp đứng ra để làm
việc này. Không bao giờ Viện Kiểm sát đứng ra làm việc này hay không
bao giờ công an làm việc này, nó phải nhờ đến vai trò của Luật sư và nhà
báo. Các bạn cần nhớ, trong các vụ án không bao giờ có chuyện ông đến
nhà thẩm phán để chạy trực tiếp mà ông ấy ăn (tiền) đâu. Không thể một
thằng ăn được. Nên có câu rằng “Tao ăn, mày ăn, chúng nó ăn, chúng ta
cùng ăn”. Tức là không có vụ chạy án nào mà có thằng ăn một mình. ”
Ngay khi vụ án bị khởi tố, trong trường hợp thân nhân người phạm tội có
nhu cầu chạy án, với vai trò của Luật sư bào chữa cho thân chủ. Lúc này
luật sư đóng kiêm vai trò tổng đạo diễn chạy án. Trình tự chạy án sẽ
được các luật sư hoạch định cụ thể. Và trong quá trình tiếp xúc với bị
can, nguyên đơn, bị đơn hay các cơ quan Công an, Tòa án và Viện Kiểm
sát… luật sư sẽ là người chủ động điều chỉnh để các cá nhân cũng như các
cơ quan liên quan có sự thống nhất chung với quan điểm của luật sư. Cụ
thể thông qua việc sửa bút lục lời khai, thay đổi tang vật, vật chứng
của vụ án v.v… hoặc thay đổi nội dung cáo trạng theo hướng có lợi cho
thân chủ. Để thẩm phán có điều kiện phán xét theo mong muốn của gia đình
người phạm tội.
Điều này hoàn toàn phù hợp với ý kiến của LS. Hà Huy Sơn cho chúng tôi biết: “Tôi
thì tôi cũng đồng ý với ý kiến đó, tại vì luật sư và những nhà báo là
những người có điều kiện tiếp xúc với các bên. Tức là tiếp xúc với người
bị bắt giữ và tiếp xúc với các cơ quan tiến hành tố tụng, đó là Công
an, Viện Kiểm sát và Tòa án. Họ là người có điều kiện môi giới để chạy
án. Và theo cá nhân tôi được biết thì cái việc này không phải là ít, mà
có thể nói là việc phổ biến là đằng khác.”
Cuối cùng của việc chạy án sẽ chạm đích, khi các cơ quan tham gia tố
tụng sẽ cùng có ý kiến “đồng thuận cao” với ý kiến của luật sư tại phiên
tòa. Thì cũng là lúc cán cân công lý đã bị đồng tiền bẻ cong.
Ở Việt Nam hiện nay, không chỉ có tình trạng “cứ bắt là có tội,
cứ ra Tòa là có án", mà còn “có tiền để chạy án là sẽ thoát tội”.
Khi ấy, tội nặng sẽ thành tội nhẹ, tội nhẹ trở thành vô tội là chuyện ai
ai cũng biết. Bây giờ chuyện chạy án đã là chuyện phổ biến, người ta
nói với nhau công khai.
Một khi người dân đã không còn tin vào pháp luật thì việc bỏ tiền chạy
án chính là cứu cánh cho họ. Cũng bởi vì ở đó không có công lý,
không có một nền tư pháp độc lập, thì chạy án vẫn còn tồn tại và
phát triển.
Anh Vũ, thông tín viên RFA
2013-07-25
Đừng chặc lưỡi rằng chỉ là tiểu ngạch
Chẳng nơi đâu như ở Việt Nam. Thương lái nước ngoài có thể thao túng giá
cả, thị trường, xu hướng các loại hàng hóa nông sản, không cần phải nói
với ai, dễ dàng như trong một cái chợ làng
Hơn 100 tấm biển quảng cáo bằng tiếng Trung “lấn át” tiếng Việt đã được
Bắc Ninh dỡ bỏ. Trong khi đó, ở Thủ đô, một vị Phó ban Tuyên giáo khẳng
định dứt khoát sẽ xử lý nghiêm khắc “Nếu biển hiệu chữ Trung Quốc sử
dụng phổ biến ở nơi nào đó của Hà Nội, để trở thành hiện tượng”.
Chuyện dẹp bỏ những tấm biển chữ nước ngoài “lấn át” tiếng Việt cho thấy
một sự thật khôi hài: Cơ quan quản lý không thấy, trước khi được báo
chí “nhìn thấy” hộ. Bằng chứng là ngoài Bắc Ninh, có hẳn những “Phố
Trung Quốc giữa lòng Hạ Long. Còn ngay chính tại Bắc Ninh, làng nghề
Việt từ rất lâu đã trở thành “Phố Tàu”.
Cái biển quảng cáo, hình thức bên ngoài của giao dịch thương mại, to đến
như vậy, còn nhìn mãi không thấy, huống hồ những câu chuyện bên trong.
Hôm đầu tuần, Quản lý thị trường phát hiện ra một vụ buôn bán lạ khi 5
tấn khoai tây Trung Quốc được vận chuyển từ TP HCM lên Đà Lạt. Có quá
nhiều điều “to như con voi” có thể thấy trong bản tin nhỏ này. Thứ nhất,
khoai tây Trung Quốc vượt hàng ngàn km để vào Nam rồi lên Tây Nguyên.
Thứ hai, thị trường của khoai tây Trung Quốc giờ đã lên đến Đà Lạt, một
vựa khoai tây của cả nước. Gọi là một cuộc xâm lăng cũng đúng. Và chuyện
các thương lái người Việt, giữa vựa khoai tây, nhập khoai tàu về “bôi
đất đỏ” cho giống khoai tây ta để lừa đồng bào dường như hàm chứa trong
đó điều mà chúng ta gọi là nồi da xáo thịt.
Củ khoai tây tàu giữa vựa khoai tây ta, dẫu sao cũng là điều dễ thấy, dễ
xử lý dù về bản chất, nó không thuần túy chỉ là câu chuyện gian lận
thương mại. Có nhiều thứ khác, chúng ta, một cách thụ động, hoàn toàn
không hiểu.
Trong vài ngày qua, khi giá thịt heo mỡ tăng các tỉnh Nam bộ đang tăng
chóng mặt. Nguyên do, thương lái Trung Quốc mở chiến dịch thu gom loại
thịt heo (mỡ) mà thị trường trong nước trước nay chỉ lắc đầu chê ỏng chê
eo.
Đừng trách bà con nông dân nếu như ngày mai, tuần tới, tháng sau, họ đổ
xô vào nuôi heo mỡ, và sau đó, ế chỏng ế chơ khi thương lái Trung Quốc
ngừng mua- như bao nhiêu ví dụ tày liếp. Nông dân đã sống triền miên với
chữ lỗ. Và được giá là họ cứ hẵng mừng cái đã. Cũng còn bởi, ngay tại
Thủ đô, dân Cổ Nhuế đang bỏ hết cả việc để đi săn đỉa để “bán cho Trung
Quốc với giá 800 ngàn đồng/kg”.
Và cũng còn bởi đã có ai, đã có cơ quan chức năng nào trả lời cho họ câu
hỏi tưởng đơn giản: Thương lái Trung Quốc mua heo mỡ, mua đỉa, mua rễ
hồ tiêu, mua…tòan những thứ kỳ quái đó để làm gì?
Chẳng nơi đâu như ở Việt Nam. Thương lái nước ngoài có thể thao túng giá
cả, thị trường, xu hướng các loại hàng hóa nông sản, không cần phải nói
với ai, dễ dàng như trong một cái chợ làng. Việc dẹp bỏ những tấm biển
chữ Trung, vì thế, đâu có phải là cách để hai chữ thương mại, dù sẽ có
những cái chặc lưỡi rằng chỉ là tiểu ngạch, là thương lái, có thể tồn
tại một cách trong sạch!
Đào Tuấn
(Blog Đào Tuấn)
Đẩy lùi ảnh hưởng của Bắc Kinh : Thủ tướng Nhật lại thăm Đông Nam Á
 |
| Malaysia : Chặng đầu vòng công du Đông Nam Á của ông Shinzo Abe - REUTERS /B. Muhammad |
Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã rời Tokyo vào hôm nay 25/07/2013, để
đến Malaysia trong vòng công du Đông Nam Á lần thứ ba từ ngày ông nhậm
chức cách nay 7 tháng. Sau Malaysia, ông sẽ ghé Singapore và
Philippines. Mục tiêu của ông Abe rất rõ : Tăng cường uy thế của Tokyo
tại Đông Nam Á để hạn chế ảnh hưởng ngày càng nặng của Bắc Kinh, không
chỉ về kinh tế, mà cả về quân sự, ngoại giao.
Đặt chân xuống Kuala Lumpur, Thủ tướng Nhật Bản đã hội đàm ngay với đồng
nhiệm Malaysia Najib Razak. Phát biểu trong một cuộc họp báo chung, ông
Abe xác nhận là Tokyo đã đồng ý cung cấp cho đối tác công nghệ cần
thiết để xây dựng một tuyến đường sắt cao tốc trị giá nhiều triệu đô la
và một số cơ sở hạ tầng khác.
Tháng Hai vừa qua, Singapore và Malaysia đã loan báo kế hoạch xây dựng
tuyến đường sắt nối liền Singapore với thủ đô Malaysia, cho phép giảm
một nửa thời gian đi lại xuống còn vỏn vẹn 90 phút, trên một đoạn đường
dài khoảng 350 km.
Ngoài vấn đề kinh tế, hai ông Abe và Najib cũng cam kết sẽ hợp tác trong
các lĩnh vực khác như tài chính và an ninh ở eo biển Malacca, tuyến
đường thủy đi ngang qua Malaysia, Indonesia và Singapore từng là nơi
cướp biển hoành hành.
Hơn 85% dầu thô của Nhật Bản nhập từ Trung Đông đi qua eo biển này. Các
vụ cướp biển đã giảm đáng kể trong những năm gần đây kể từ khi các nước
dọc theo tuyến hàng hải này tăng cường tuần tra.
Thủ tướng Nhật cũng xác định trở lại ý muốn phấn đấu cho « hòa bình và
ổn định chung » và thúc đẩy quan hệ chặt chẽ hơn với vùng Đông Nam Á,
một trọng tâm mới của Tokyo.
Tuyên bố với phóng viên báo chí trước lúc lên máy bay, Thủ tướng Shinzo
Abe cho biết : « Chúng tôi hy vọng tranh thủ được sự năng động của Đông
Nam Á để khôi phục nền kinh tế Nhật Bản ». Người đứng đầu chính phủ Nhật
Bản mong muốn chiêu dụ tầng lớp trung lưu của một khu vực đang trỗi
dậy, có tầm quan trọng chiến lược đối với các công ty Nhật Bản.
Trả lời hãng tin Pháp AFP, ông Toru Nishihama, một nhà kinh tế tại Viện
nghiên cứu Dai-Ichi Life ghi nhận là « chính phủ Nhật Bản đang rất tích
cực » trong việc khuyến khích các doanh nghiệp Nhật Bản chuyển hướng đầu
tư vào Đông Nam Á.
Một ví dụ điển hình là chuyến công du Miến Điện của ông Abe vào tháng
Năm vừa qua, cùng với 40 người đứng đầu doanh nghiệp Nhật Bản. Tại đấy,
Thủ tướng Nhật đã công bố một kế hoạch viện trợ phát triển, bao gồm hàng
trăm triệu đô la tài trợ không hoàn lại hay tín dụng ưu đãi để tăng
cường sự hiện diện của Nhật Bản. Ông Abe cũng hủy bỏ một khoản nợ 1,8 tỷ
đô la.
Theo chuyên gia Nishihama : « Đầu tư vào Đông Nam Á đã trở nên hấp dẫn
đối với các công ty Nhật Bản, nhờ vào các khoản hỗ trợ tài chính của
chính phủ Nhật ». Trong thực tế, các doanh nghiệp Nhật Bản đang có xu
hướng đầu tư ồ ạt vào khu vực Đông Nam Á, dần dần rời bỏ Trung Quốc bị
họ coi là kém an toàn.
Theo hãng thống kê Dealogic, các công ty Nhật Bản đã bỏ ra ít nhất 8,2
tỷ đô la cho các thương vụ sáp nhập và mua lại trong năm 2013, một kỷ
lục mới tính trong một năm, cho dù hiện nay mới là tháng Bảy.
Ngân hàng Mitsubishi UFJ chẳng hạn, đã loan báo việc mua lại 75% phần
hùn của Ngân hàng đối tác Thái Lan Ayudhya với $ 5,6 tỷ đô la, trong khi
Ngân hàng Sumitomo Mitsui cũng công bố ý định mua 40 % của Ngân hàng
Indonesia PT Tabungan Pensiunan Nasional với giá 1,5 tỷ đô la.
Việt Nam dĩ nhiên cũng được quan tâm với việc Ngân hàng Mitsubishi UFJ
gần đây đã đồng ý khoảng 743 triệu đô la để mua lại 20% phần hùn của
Ngân hàng Việt Tín (VietinBank). Đây là khoản đầu tư nước ngoài lớn nhất
từ trước đến nay vào lãnh vực ngân hàng tại Việt Nam.
Ngoài việc sáp nhập hay mua lại, các công ty Nhật Bản cũng đang đầu tư
sản xuất. Chỉ mới đây thôi, vào hôm qua, Toyota, tập đoàn chế tạo ô tô
lớn nhất thế giới, đã loan báo việc dành khoảng 230 triệu đô la để xây
dựng một nhà máy động cơ thứ hai ở Indonesia. Trong tháng ba, tập đoàn
này cũng đã khánh thành một nhà máy lắp ráp xe hơi thứ hai tại quốc gia
này, nơi mà ngưỡng một triệu xe bán ra (tất cả các thương hiệu) đã bị
vượt qua vào năm ngoái.
Giải thích về làn sóng đầu tư kể trên, ông Nishihama cho biết : « Các
công ty Nhật Bản đang tìm kiếm các điểm đến khác hơn là Trung Quốc để
đầu tư. Xu hướng này sẽ tiếp tục trong năm hay mười năm tới đây ».
Quan hệ Trung-Nhật trở nên căng thẳng kể từ tháng 9 năm 2012, do tranh
chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ngoài biển Hoa Đông. Các công
ty Nhật Bản hiện diện rất đông đảo ở Trung Quốc, nhưng hiện đang lo ngại
trước các rủi ro tiềm tàng, và không muốn tái đầu tư vào nước này, nhất
là khi chi phí sản xuất không còn hấp dẫn so với trước đây.
Mai Vân
(RFI)
Miến Điện xét lại hợp đồng khai thác mỏ đồng với Trung Quốc

Khu vực khai thác mỏ đồng Monywa (@Mizzima)
Chính quyền Miến Điện, hôm nay, 25/07/2013, cho biết sẽ xem xét lại tỷ
lệ phân chia lợi nhuận trong hợp đồng khai thác mỏ đồng được ký với một
doanh nghiệp Trung Quốc. Quyết định này được đưa ra sau một loạt các vụ
biểu tình phản đối của người dân, dẫn đến việc cảnh sát trấn áp một cách
thô bạo.
Mỏ đồng Letpadaung nằm ở Monywa, miền trung Miến Điện. Tuyên bố trước
Quốc hội, tại Naypyidaw, Bộ trưởng Mỏ Miến Điện Myint Aung tuyên bố hợp
đồng khai thác mỏ đồng được sửa đổi theo hướng chính phủ Miến Điện được
hưởng 51% lợi nhuận.
Theo AFP, việc thay đổi tỷ lệ phân chia này dường như để làm dịu sự phẫn
nộ của những người chống đối dự án. Theo hợp đồng được sửa đổi, thì tập
đoàn Trung Quốc Wanbao sẽ được hưởng 30% lợi nhuận, doanh nghiệp MEH
của quân đội Miến Điện được 19%. Cho đến nay, một công ty liên doanh
giữa Wanbao và MEH, khai thác khu mỏ này.
Bộ trưởng Mỏ Miến Điện cho biết thêm là công ty Trung Quốc sẽ phải chi
ra hàng triệu đô la mỗi năm trong khuôn khổ các hoạt động mang tính
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cũng như để đền bù kiện tụng liên
quan đến hoạt động khai thác mỏ.
Tháng 11 năm ngoái, cảnh sát Miến Điện đã trấn áp thô bạo những người
biểu tình phản đối dự án này. Khoảng một trăm người đã bị thương, trong
đó đa số là các nhà sư. Sự vụ gây chấn động công luận Miến Điện.
Ủy ban điều tra chính thức do bà Aung San Suu Kyi làm Chủ tịch đã đưa ra
kết luận hồi tháng Ba vừa qua là cảnh sát đã dùng lựu đạn phosphore
chống lại những người biểu tình, nhưng đồng thời vẫn chủ trương duy trì
dự án, trong lúc nhiều người dân trong khu vực đòi xóa bỏ dự án để có
thể lấy lại đất đai của mình.
Đức Tâm (
RFI)