Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Luật đất đai rắc rối của Việt Nam

Asia Sentinel

Luật đất đai rắc rối của Việt Nam – Phần 1

Tác giả: David Brown
Người dịch: Thủy Trúc
Editor: David Brown
Ngày 1-2-2012
Đây là bài đầu trong loạt ba bài về tham nhũng trong hoạt động thu hồi đất đai ở Việt Nam, mà xét về nhiều mặt là ngang ngửa với Trung Quốc. Loạt bài của David Brown, một nhà ngoại giao hưu trí, từng làm việc ở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ với nhiều cương vị ở các nước Đông Á.
Khi Việt Nam bẻ bánh lái sang con đường tư bản chủ nghĩa cách đây một phần tư thế kỷ, hầu như không có dấu hiệu lùi bước nào từ phía các quan chức và thành viên của ban lãnh đạo cộng sản – những người mà, cho đến thời điểm đó, vốn vẫn giữ một nhiệm vụ lớn lao và phù phiếm là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, nhiều quan chức hăm hở lạm dụng các cơ hội của chương trình đổi mới, hay là cải cách, mang đến tay họ.
Hóa ra một trong những con đường chắc chắn nhất để đi tới sự giàu có ở Việt Nam ngày nay nằm ở việc tước đoạt ruộng đất của nông dân và chuyển hóa đất nông nghiệp vào mục đích kiếm lời mau chóng hơn.
Tháng 1 năm nay, cả nước dồn sự chú ý vào hai câu chuyện có chung chủ đề đó. Vụ việc đầu tiên, bắt đầu từ ngày 5 tháng 1, liên quan đến một vụ nổ súng gây nhiều náo động ở ngoại ô thành phố Hải Phòng.  Câu chuyện xảy ra sau khi chính quyền địa phương yêu cầu một ngư dân giao nộp lại mảnh đất mà ông cùng gia đình đã khai hoang làm lợi qua 14 năm lao động cực nhọc. Một số bài báo viết rằng, khu đất đang được cân nhắc làm nơi mở một sân bay mới.  (Vụ việc này sẽ được thảo luận ở phần 2 của loạt bài) .
Câu chuyện thứ hai, đưa tin vào ngày 20 tháng 1, liên quan tới việc chấm dứt một nỗ lực kéo dài suốt ba năm nhằm tống bà Trần Ngọc Sương vào tù với tội danh tham ô, nhưng dường như ai cũng biết sự thật là do bà đã chống lại việc chiếm đoạt công ty nông nghiệp đang thịnh vượng của bà – Nông trường Sông Hậu.
Chuyển hóa đất đai (chuyển đổi mục đích sử dụng đất – ND) là cái mà đảng ủy ở thành phố Cần Thơ và huyện Cờ Đỏ đã nghĩ trong đầu từ năm 2005 khi họ đề nghị lấy lại Nông trường Sông Hậu. Với sự hợp tác của các nhà đầu tư Hàn Quốc và Mỹ, họ có kế hoạch xây dựng một “khu đô thị mới” bao lấy sân bay hiện đại theo quy hoạch của thành phố, ngay trên diện tích 4.000 hecta của nông trang tập thể cũ này.
Tuy nhiên, trước tiên họ phải xử lý bà Trần Ngọc Sương. Bà Sương năm đó 56 tuổi, làm giám đốc nông trường được 7 năm. Trước đó, bà là trợ lý chính của cha mình – một sĩ quan Mặt trận Giải phóng Miền Nam giải ngũ, năm 1978 được giao nhiệm vụ xây dựng một nông trang tập thể tại khu đầm lầy khổng lồ nọ ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Thành công của hai cha con đã trở thành một huyền thoại ở Việt Nam, một trong những thành tựu chói sáng trong những năm tháng khốc liệt sau khi “cuộc chiến tranh chống Mỹ” kết thúc và đất nước thống nhất.
Cho tới năm 2005, Nông trường Sông Hậu vẫn bán gạo và cá cho các thị trường trong và ngoài nước, làm ăn có lãi. Mặc dù bị tái cơ cấu để trở thành công ty cổ phần vào năm 1991 nhưng nông trường vẫn tiếp tục trung thành với một số điểm quan trọng trong các sứ mệnh của nó khi thành lập, đó là mang lại thu nhập ổn định và phúc lợi xã hội cho khoảng 3.000 hộ nông dân trong nông trường. Bà Sương sẽ không để họ bị thất vọng.
“[Sông Hậu] là ví dụ có thật cuối cùng về việc sản xuất nông nghiệp dựa theo các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa” – Bà Sương kể, bà đã nói với các lãnh đạo đảng ủy địa phương như vậy tại một cuộc họp vào tháng 10 năm 2007. “Cá nhân tôi không lấy một xu tiền không chính đáng nào cả. Các đồng chí bảo tôi ‘không theo kịp thời đại’, quá lạc hậu để có thể lãnh đạo một doanh nghiệp như thế. Vâng, tôi sẵn sàng trao trả quyền lãnh đạo cho những người tôi đã đào tạo qua nhiều năm”.
Các đồng chí muốn giao Sông Hậu cho ai đó – liệu họ có coi nông trường như máu thịt của mình không? Sông Hậu là một cộng đồng làm nông có năng suất cao. Nếu họ biến Nông trường Sông Hậu thành khu công nghiệp thì điều gì sẽ xảy ra với nhân dân ở đây”?
Tầng lớp lãnh đạo Cần Thơ chưa hình dung lo ngại về cái giá phải trả về mặt xã hội mà bà Sương đã thấy trước. Hình như họ lập luận rằng những nông dân bị mất quyền sở hữu sẽ có thể tìm việc trong các nhà máy mới mở hoặc tại các sân gôn mà họ dự định xây nên trên những đồng lúa và ao cá kia. Và họ có ngay Phương án B.
Nếu cần phải trừng trị ai đó, luật pháp Việt Nam sẽ mang lại những cơ hội không giới hạn về số lượng. Có một số đáng ngạc nhiên những hành động mà về nguyên tắc là sai luật pháp, nhưng lại thường xuyên được dung thứ, bởi vì nếu luật pháp mà được thực thi thì cả hệ thống sẽ bị tê liệt. Tuy nhiên, những hành động ấy lại có thể được tận dụng để đẩy một kẻ chống đối vào đúng đường lối theo “luật pháp.”
Tháng 9 năm 2008, bà Sương bị Tòa án huyện Cờ Đỏ buộc tội biển thủ 9 tỷ đồng (428.857 USD theo tỷ giá hiện tại) của Nông trường Sông Hậu. Khi vụ việc bị đưa ra xét xử vào tháng 8 năm 2009, bà bị buộc tội lập quỹ trái phép, kết án 8 năm tù. Bốn người cấp dưới chịu án nhẹ hơn.
Bà Sương kháng cáo. Tòa phúc thẩm thành phố Cần Thơ giữ nguyên bản án của tòa cấp dưới.
Khi tình hình diễn biến có vẻ như bà Sương thật sự sẽ phải ngồi tù, vụ án trở thành câu chuyện [đăng tải] trên trang nhất của các báo lớn ở Việt Nam. Một loạt nhà cách mạng lão thành, nổi bật có bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam, đã vận động bảo vệ bà Sương. Những người ủng hộ bà Sương lập luận rằng xây dựng một quỹ vì mục đích phúc lợi xã hội, tuy không báo cáo, là một cách hoàn toàn đạo đức để tránh nạn quan liêu và trong trường hợp này không phải là phi pháp, vì quỹ ấy đã được lập từ nhiều năm trước đó.
Cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, một vị anh hùng trong mắt giới cải cách ở Việt Nam, đã nhận ra mối liên hệ giữa các vấn đề khi ông viết một lá thư gửi đảng ủy Cần Thơ, tháng 5 năm 2008. “Tôi biết đây là ý của các đồng chí chứ không phải của công tố viên khi khởi tố vụ án [bà Sương]” – ông Kiệt viết. “Bà đã có những đóng góp không nhỏ cho nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Cần Thơ, Hậu Giang và các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, những sai phạm nếu có thì cũng nên giải quyết có tình có lý”. Hơn nữa, ông còn viết: “Tôi hoàn toàn không tán thành chủ trương thu hồi đất của nông trường để xây khu công nghiệp”.
Xúc động trước những tấm ảnh bà Ba Sương gầy guộc mỏng manh nhưng không cúi đầu trước vành móng ngựa, công luận hoàn toàn ủng hộ bà. Tại Hà Nội, tâm lý tức giận với chính quyền Cần Thơ bao trùm – đó là phản ứng điển hình của trung ương khi các quan chức địa phương kém tài có những hành động làm dấy lên cơn phẫn nộ của dư luận.
Tháng 5 năm 2010, sau khi công tố viên của trung ương tìm ra những vi phạm về thủ tục tố tụng, Tòa Tối cao Việt Nam bác bỏ bản án.
Chừng như không nao núng, tháng 2 năm 2011, Công an Cần Thơ báo cáo rằng kết quả điều tra sâu hơn đã cho thấy các bằng chứng mới về tội trạng của bà Sương. Tháng 8, công tố viên tiếp tục bổ sung tội tham ô cho bà Sương và các nhân viên cấp dưới.
Bạn bè bà Sương không chịu thua. Vũ khí mà họ chọn là “Mặt trận Tổ Quốc”, một tập hợp các nhóm, hội dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản, có mục đích “đại diện cho toàn thể nhân dân”. Không bao lâu sau khi có phán quyết mới của tòa, Mặt trận đã đề nghị phải sử dụng các biện pháp hành chính để xử lý sai phạm của bà Sương, nếu thật sự có sai phạm.
Mặt trận cũng tổ chức điều tra riêng và khuyên Chánh án Tòa Tối cao trong một công văn nói rằng bà Sương vô tội. Họ lập luận rằng quỹ phúc lợi được lập năm 1994, rất lâu trước khi bà Sương trở thành giám đốc nông trường, và vào thời điểm ấy, quỹ không hề phi pháp. Hơn thế nữa, Mặt trận tỏ ý không tán thành: “Việc điều tra đã làm hoen ố tên tuổi của một nông trường từng rất có uy tín với các lãnh đạo cấp cao và từng thu được nhiều thành tựu nổi bật”.
Và cuối cùng, có vẻ như chính quyền Cần Thơ đã chấp nhận hủy bản án. Không phải vì họ đồng ý rằng bà Sương vô tội, mà như họ nói vào ngày 19 năm 1, đó là “do những đóng góp của bà Sương và gia đình cho Nhà nước”.
Kỳ sau: Tiếng súng ở Tiên Lãng
Nguồn: Asia Sentinel

Asia Sentinel

Luật đất đai rắc rối của Việt Nam – Phần 2

Tác giả: David Brown
Người dịch: Đan Thanh
Hiệu đính: David Brown
Ngày 2-2-2012
Tiếng súng ở Tiên Lãng

Đây là phần hai trong loạt ba bài về tham nhũng trong hoạt động thu hồi đất đai ở Việt Nam, mà xét về nhiều mặt là ngang ngửa với Trung Quốc. Loạt bài của David Brown, một nhà ngoại giao hưu trí, từng làm việc ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ với nhiều cương vị ở các nước Đông Á.
Đầu tháng qua, dân chúng Việt Nam mệt nhoài sau một năm lạm phát cao vọt và tăng trưởng kinh tế thấp, đã dồn cả sự chú ý vào Tết (âm lịch) với vài tuần được nghỉ ngơi. Ở nơi xa, miền Nam, cuộc thử thách kéo dài với nữ anh hùng lao động Trần Ngọc Sương cũng đã sắp kết thúc – chính quyền địa phương quyết định hủy bỏ bản án buộc tội bà biển thủ công quỹ từ cái nông trường thịnh vượng cuối cùng của đất nước.
Sau đó một bản tin bất thường từ huyện Tiên Lãng, ngoại thành Hải Phòng – thành phố cảng phía đông Hà Nội – đã gây chấn động cho toàn thể dư luận. Một ngư dân cùng gia đình ông ta đã chống lại cả một lực lượng lớn thực thi lệnh cưỡng chế. Sử dụng mìn tự chế và súng hỏa mai mua ở chợ đen, họ đã làm bị thương hai bộ đội và bốn công an, trong đó có cả chỉ huy công an địa phương.
Giống như trong vụ Nông trường Sông Hậu, ở đây, quyết tâm của chính quyền trong việc giành quyền kiểm soát đất nông nghiệp màu mỡ cũng lại là nguyên nhân kích động vụ việc xảy ra.
Năm 1997, Đoàn Văn Vươn chuyển đến sinh sống ở làng Vinh Quang và thuê 9 hecta đất ngập mặn ven biển từ Ủy ban Nhân dân xã. Vốn là kỹ sư có qua đào tạo, Vươn bắt đầu xây các con đập, cống thoát nước và ao chuôm cần thiết để nuôi cá nuôi tôm. Không ai nghĩ Vươn cùng gia đình sẽ thành công, nhưng sau nhiều năm phấn đấu và thử nghiệm, trại cá đã thu được nguồn lợi nho nhỏ. Những người đi tiên phong khác cũng đã theo gương Vươn. Cho đến năm 2004, khoảng 20 hộ gia đình ở huyện Tiên Lãng đã có trại cá, bao phủ một diện tích xấp xỉ 250 hecta đất mà trước đó được coi như là vô giá trị. Bản thân Vươn đã khai hoang thêm 11 hecta lấn biển, đưa doanh nghiệp gia đình của mình tới chỗ khai thác 20 hecta ao cá.
Tuy nhiên, vào năm 2005, các ngư dân ở Tiên Lãng đã nhận được một thông báo kinh hoàng từ chính quyền huyện. Thông báo nói rằng vùng đầm lầy mà họ thuê sẽ bị chính quyền thu hồi lại khi hết hạn cho thuê. Sẽ không có đền bù nào cho những gì họ đã cải thiện được.
Tất cả đất đai của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc sở hữu nhà nước. Tuy nhiên kể từ năm 1993, cá nhân và doanh nghiệp đã được trao “quyền sử dụng đất”. Đối với phần lớn nông dân thì điều đó có nghĩa là họ được phân phối một mảnh đất từ hợp tác xã trước kia, để sử dụng trong thời hạn 20 năm.
Vì lý do nào đó không rõ, ông Vươn chỉ được thuê đất có 14 năm kể từ năm 1993. Ông nhận lệnh phải rời đi vào thời hạn cuối cùng là năm 2007.
Vươn và những người nông dân nuôi cá khác cho biết, họ tin rằng – theo truyền thống ở nông thôn – thời hạn thuê mảnh đất mà họ đã khai hoang, phát triển sẽ thường xuyên được gia hạn. Hơn thế nữa, cũng như tất cả những nông dân khác, họ tưởng là nếu chính quyền lấy lại một mảnh đất nào đó, vì mục đích công nào đó, thì họ sẽ được đền bù cho những nỗ lực phát triển đất đai của họ.
Các ngư dân nuôi thủy sản phản đối. Chính quyền huyện không động lòng. Tòa án huyện giữ nguyên lệnh của chính quyền, yêu cầu nông dân trả lại đất. Nông dân kháng án lên tòa cấp thành phố.
Như đã thành thông lệ ở Việt Nam, tòa Hải Phòng đưa đơn kháng án ra trọng tài – một thẩm phán tòa địa phương – với hy vọng là vụ tranh chấp sẽ được giải quyết ngoài hệ thống tòa án. Thủ tục ấy đưa đến một bản ghi nhớ vào tháng 4/2010, “tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận tìm phương án giải quyết”.
Theo tin tức từ báo chí, huyện Tiên Lãng đồng ý gia hạn cho thuê đất sau khi hết hạn, còn các nông dân nhất trí rút lại khiếu nại. Văn bản do Vươn và đại diện của các gia đình nông dân nuôi cá khác ký, cùng với đại diện chính quyền huyện là Giám đốc Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Tiên Lãng. Trọng tài sau đó cộp con dấu đỏ vào phán quyết của tòa phúc thẩm.
Không chần chừ, chính quyền huyện chơi bài nuốt lời hứa. Các nông dân chỉ vừa rút lại đơn khiếu nại thì chính quyền huyện tuyên bố rằng phán quyết của tòa địa phương vẫn có hiệu lực. Một lần nữa họ buộc Vươn phải giao nộp trại cá. Tuyệt vọng, Vươn quyết tâm chống lại. Khi công an, có thêm viện binh là bộ đội – tổng cộng 80 người có vũ trang – tiến vào nông trại của ông vào buổi sáng mồng 5 tháng 1, Vươn cùng gia đình đã bắn những phát đạn làm cả nước bừng tỉnh.
Không rõ điều gì sẽ xảy ra tiếp theo đây. Trại cá của Vươn bị tàn phá, ba ngôi nhà bị san phẳng và số cá trị giá khoảng 250.000 đôla bị những kẻ lạ khoắng sạch. Vươn cùng em trai bị tống giam với tội danh cố ý giết người thi hành công vụ.
Tuy nhiên, đối với công luận Việt Nam, anh em Vươn là anh hùng.
T.S. Đặng Hùng Võ, cựu thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, bình luận rằng “Có thể coi sự việc vừa qua ở Tiên Lãng là đỉnh điểm của những bất cập về cả luật đất đai và việc thực thi pháp luật ở các cấp địa phương. Một người nông dân tốt, thuần chất, ham lao động mà phải bảo vệ quyền lợi đất đai của mình bằng vũ khí tự tạo thì quả là cùng cực. Con người ai cũng tin vào công lý và tin vào công lý đó được pháp luật bảo vệ. Những người nông dân khai phá đất nuôi thủy sản ở Tiên Lãng chắc chắn cũng tin như vậy. Rồi tới tòa án, nơi rất công bằng, mà những chân lý giản dị như họ tự hiểu cũng vẫn không nhìn thấy. Họ phải tự quyết liệt một mình trong vô vọng”.
Ông Võ và các chuyên gia về chính sách đất đai khác phê phán giới chức Tiên Lãng, và Phó Chủ tịch TP Hải Phòng biện hộ cho các sai lầm căn bản trong việc giải thích và thực thi pháp luật, nhưng đó không phải vấn đề thực sự ở đây. Vấn đề thực sự là lương tri và sự đúng đắn, tôn trọng mối quan hệ gắn kết giữa người nông dân với mảnh đất mà họ lao động trên đó – như nhiều người đã bình luận.
Thủ tướng Dũng ra lệnh cho chính quyền TP Hải Phòng tìm hiểu về nguyên nhân xảy ra vụ nổ súng ở Tiên Lãng, và cách xử lý tình hình ở nơi này. Có lẽ vài cái đầu sẽ rơi; công luận Việt Nam rõ ràng rất hy vọng là anh nông dân Vươn sẽ không ở trong số đó.
Tuy nhiên, chính ông Nguyễn Tấn Dũng và các đồng sự của ông ta trong chính phủ và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản là những người phải xử lý một vấn đề còn rộng lớn hơn thế. Luật đất đai hiện thời của Việt Nam đang là một quả bom nổ chậm, sẽ nổ vào năm 2013 – nếu không có những cải cách căn bản thì những bi kịch kiểu như vụ Đoàn Văn Vươn sẽ là mối đe dọa đối với một nửa dân số trong nước.
Kỳ sau: Sự khôn ngoan của người nông dân
Nguồn: Asia Sentinel


RFI – Việt ngữ

Vụ Tiên Lãng, Hải Phòng: Chính quyền địa phương đã phá hoại chính sách Nhà nước

Thụy My
02-02-2012
Audio phỏng vấn ông Lê Hiếu Đằng:

Đã gần một tháng qua, dư luận vẫn còn xôn xao về vụ gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng bị cưỡng chế giao lại khu vực đầm mà ông đã được giao trong lúc chưa hết thời hạn, nhà cửa và hoa lợi của trên khu đất này cũng bị phá hủy và cướp bóc. Hiện sáu người trong gia đình ông đang bị truy tố, riêng ông và người em đang bị tạm giam với tội danh rất nặng là « giết người », vì đã chống lại đoàn cưỡng chế.
Nhưng vụ Đoàn Văn Vươn cũng đã cho thấy những vấn đề sâu xa, gai góc hơn, như quyền sở hữu đất đai, tình trạng thiếu dân chủ ở một số địa phương… và là dấu hiệu báo động sẽ có nhiều vụ Đoàn Văn Vươn nữa nếu chính quyền không giải quyết đến nơi đến chốn. Đây cũng là ý kiến của luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong vụ ông Đoàn Văn Vươn, việc làm của chính quyền địa phương huyện Tiên Lãng, Hải Phòng là phi pháp, bất nhân. Ông cho rằng Hiến pháp cần công nhận quyền sở hữu đất đai của người dân, để bọn cường hào mới không thể lạm quyền, gây bất công xã hội, tạo ra những bất ổn định tiềm ẩn về chính trị.
RFI : Kính chào ông Lê Hiếu Đằng. Thưa ông về vụ ông Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng Hải Phòng, có lẽ thời gian của một cuộc phỏng vấn ngắn như thế này là quá ít, nhưng ông có thể cho một vài nhận định được không ?
Lê Hiếu Đằng : Gần một tháng nay có thể nói là công luận rất phẫn nộ, bất bình về những việc làm của chính quyền Tiên Lãng, Hải Phòng. Bởi vì ông Vươn là bộ đội xuất ngũ, có học hành đàng hoàng, là kỹ sư nông nghiệp đi khai hoang phục hóa, đáp ứng được một chủ trương của nhà nước là làm giàu một cách chính đáng và phát triển sản xuất.
Thế thì cái việc làm phi pháp, trái luật của Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng Hải Phòng, là một việc làm có thể nói là phá hoại chính sách của nhà nước về vấn đề khuyến khích sản xuất. Đây là một chính sách lớn của nhà nước.Có thể nói đây là những phần tử phá hoại.
Bởi vì nếu ông Vươn làm ăn có hiệu quả, thì dù thời gian cho mượn đất có đến đi chăng nữa – mà các chuyên gia đã chứng minh rằng chưa đến – thì vẫn phải tiếp tục cho ông ta khai thác mảnh đất mà ông đã tự đầu tư biết bao nhiêu công sức và tiền bạc vào đấy. Chính cái việc làm bất nhân của chính quyền Tiên Lãng đã đẩy ông Vươn vào con đường uất ức không thể nào chịu đựng được, vì vậy mới có hành động như chúng ta đã biết.
Chúng ta rất thông cảm, rất hiểu những việc làm đó là vi phạm pháp luật, nhưng những nguyên nhân nào đẩy ông Vươn đến hành động đó ? Chính là những kẻ nằm trong chính quyền huyện Tiên Lãng. Do đó có thể nói đang có làn sóng bất bình, phẫn nộ trong giới trí thức, trong các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi có những vụ việc giải tỏa rồi chiếm đất, cũng cái kiểu như chỗ ông Đoàn Văn Vươn, nhưng người ta kềm chế, không có phản ứng như vậy.
Điều đó nói lên cái gì ? Đó là vụ ông Đoàn Văn Vươn chỉ là một trong những vụ việc hiện nay đang xảy ra trên khắp đất nước Việt Nam.
Nhà nước hay nói là kẻ xấu hay âm mưu diễn biến hòa bình. Nhưng mà riêng bản thân tôi không thấy đâu hết. Chính những kẻ xấu, kẻ phá hoại chính sách là nằm trong Đảng và chính quyền, như ông chủ tịch huyện Tiên Lãng và kể cả chính quyền thành phố Hải Phòng, sau khi vụ việc xảy ra rồi lẽ ra phải điều tra kỹ cái này, lại đứng hùa về phía huyện Tiên Lãng và có những ý kiến bất nhất. Cả một cái hệ thống chính trị, cả một cái tập thể ở Hải Phòng lại chủ trương việc này.
Cái nguy hiểm, cái tính chất nghiêm trọng là ở chỗ đó. Không phải chỉ ở huyện Tiên Lãng mà rõ ràng Hải Phòng từ Ủy ban Nhân dân thành phố đển Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng, và kể cả Mặt trận, các đoàn thể đều đứng về phía chủ trương đàn áp, ức hiếp ông Vươn. Cái cảnh gia đình ông Vươn trong những ngày Tết sống trong một căn lều như vậy, thì ông Lê Đức Tiết là Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn dân chủ pháp luật, thuộc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc đã khuyến cáo rằng nên đi thăm hỏi. Nhưng kể cả Mặt trận và các đoàn thể của Hải Phòng cũng không làm cái động tác đó.
RFI : Theo ông như vậy là chính quyền địa phương đã không làm theo chủ trương của nhà nước ?
Lê Hiếu Đằng : Điều đó nói lên rằng, sau phát biểu của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, và bài viết của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào đầu năm 2012 nói rằng sẽ nghiêm trị tham nhũng, tiêu cực ; thì rõ ràng vụ Tiên Lãng Hải Phòng nó bộc lộ cái mức độ thối nát, mức độ ức hiếp quần chúng rất là nghiêm trọng.
Vì vậy chúng tôi ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng như nhân dân cả nước đang trông chờ sự xử lý nghiêm minh của Đàng và Nhà nước. Và nếu xử lý không nghiêm minh, không đúng mực trước những vi phạm nghiêm trọng của chính quyền huyện Tiên Lãng và Hải Phòng, thì chứng tỏ giữa lời nói với việc làm của các vị lãnh đạo là không đi đôi với nhau. Người dân không còn tin cái lời nói đó nữa, và nghị quyết xây dựng Đảng vừa rồi được Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tư họp đưa ra, là không có tác dụng gì nữa, nó vô nghĩa !
Nếu mà xử lý không đúng mực thì chúng tôi sẽ có tiếng nói, sẽ có hành động để phản ứng lại. Và công luận trong nước cũng như ở nước ngoài sẽ lên án những việc này. Để trấn an lòng dân, và để tạo được niềm tin trong dân thì chính quyền phải xử lý triệt để đối với những kẻ đã gây ra vụ việc ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, đã bức hiếp ông Vươn và gia đình đi đến cái cảnh phải chống trả lại như vậy, và bây giờ đang ở trong vòng tù tội.
RFI : Phải chăng cái gốc của vấn đề là Luật đất đai chưa dứt khoát, và chính quyền địa phương huyện xã có quyền hành quá lớn, nên có thể tùy tiện lấy đất lại để giao cho những người ăn cánh với mình, và không chỉ ở Tiên Lãng mà thôi ?
Lê Hiếu Đằng : Đúng, vụ này nói lên cái gì ? Đó là vấn đề sở hữu đất đai của người dân mà chúng ta chưa công nhận, là một việc hết sức bất hợp lý, không phù hợp với đạo lý. Bởi vì đất đai là tư liệu sản xuất, tại sao công nhận đối với các nhà công thương ở đô thị, mà đối với nông dân thì lại không công nhận quyền sở hữu ruộng đất ?
Tôi cho đây là một trong những nguyên nhân gây nên những việc lạm quyền của chính quyền các cấp. Và hiện nay có thể nói là nó hình thành một loại cường hào mới ở nông thôn cũng như ở một số vùng, bức hiếp người dân.
Tôi nói ví dụ, ngay ở Thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn, cũng có những vùng trước đây đã nuôi chúng tôi trong thời kỳ kháng chiến. Nhưng mà chính quyền cách mạng về, rồi giải tỏa đền bù với giá rẻ mạt. Người dân phải đi nơi khác ở, đi khỏi cái vùng mà cha ông người ta đã đổ mồ hôi để mà xây dựng nên. Thì chính cái đó đã gây nên bất bình lớn trong dân chúng, mà chúng tôi trước đây ở Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh đã xử lý nhiều vụ việc như vậy.
Ví dụ như Phú Mỹ Hưng chẳng hạn, là một vùng mà bây giờ trở thành một đô thị mà ai cũng khen. Nhưng mà người dân Phú Mỹ Hưng bị giải tỏa sau đó đi đâu, và bây giờ sống như thế nào, chúng ta có biết không ?
Vì vậy mà lần này sửa đổi Hiến pháp, chúng tôi kiên quyết đề nghị là Hiến pháp phải công nhận quyền sở hữu về ruộng đất của người dân. Không nên để cho những tập đoàn lợi ích dựa vào sơ hở của luật pháp, để mua bán rồi đền bù một cách vô tội vạ, móc ngoặc với chính quyền để hưởng lợi ích riêng cho tập đoàn của họ, cho những cá nhân. Điều đó gây nên một sự bất công xã hội hết sức lớn hiện nay, và đã đẩy một số người dân bị mất đất trở thành bần cùng hóa.
Chính những điều đó đã gây bất ổn định về mặt chính trị tiềm ẩn, chứ không phải là kẻ xấu hay là mưu toan diễn biến hòa bình nào cả. Mà chính bản thân bộ máy chính quyền, vì cái lợi ích cá nhân, lợi ích của nhóm nên đã có những việc làm như vậy, đẩy người dân đến chỗ phải chống đối lại. Đó chính là sự bất ổn định về mặt chính trị.
RFI : Thưa ông, dư luận cũng đang rất trông chờ sau khi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cử một đoàn đại biểu đến tận nơi để tìm hiểu hồi trước Tết. Nhưng thực chất Mặt trận Tổ quốc có tác động được gì không ?
Lê Hiếu Đằng : Lần này tôi rất mừng là Mặt trận Tổ quốc Trung ương, thông qua Hội đồng tư vấn pháp luật đã đi khảo sát, và đã có những ý kiến ban đầu, trong đó lên án việc vi phạm pháp luật của chính quyền Tiên Lãng. Và gần đây có đoàn khảo sát của trung ương đã về Tiên Lãng, tuy chưa có kết luận nhưng cũng cho rằng việc làm của huyện Tiên Lãng là vi phạm pháp luật.
Tôi nghĩ là nếu Mặt trận quyết tâm làm – và để xứng đáng là một tổ chức chính trị đại diện cho các tầng lớp nhân dân, trong đó có các nhân sĩ trí thức, thì Mặt trận phải quyết liệt làm cho ra lẽ vụ này. Phải đứng về phía lợi ích của người dân để bảo vệ cho họ. Như vậy Mặt trận mới có lý do tồn tại.
Chứ còn vụ việc này mà Mặt trận Trung ương không làm, thì người dân sẽ mất lòng tin, xem như Mặt trận chỉ tồn tại một cách hình thức, bởi vì đã không bảo vệ được những quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là một tổ chức liên minh chính trị, hoàn toàn có quyền đề nghị chính quyền cho gặp ông Vươn. Nhất là phải giám sát điều kiện của ông Vươn ở trong tù như thế nào, có bị nhục hình, bị uy hiếp tinh thần hay không. Một người tuy có những hành động phạm pháp, nhưng trong lúc tòa chưa xử, thì phải được bảo vệ.
Bởi vì chúng ta đã thấy qua thông tin là hàng loạt những vụ công an đánh chết người. Như vậy chúng ta phải ngăn chận tình huống xấu nhất xảy ra cho ông Vươn, bằng cách tiếp cận ông.
RFI : Theo ông nghĩ có nên huy động một lực lượng lớn kể cả quân đội vào vụ này như Tiên Lãng đã làm không ?
Lê Hiếu Đằng : Đây là tranh chấp dân sự, và việc này thật không đáng để huy động một lực lượng hùng hậu như vậy. Mà thiên hạ buồn cười nhất là cái ý kiến của ông Ca, giám đốc công an Hải Phòng, nói đây là một chiến dịch phối hợp đẹp, có thể viết thành chuyện phim.
Để giải tỏa một gia đình người dân như ông Vươn mà chính quyền Hải Phòng lại huy động cả một lực lượng hùng hậu như vậy, làm cho dân người ta thấy rằng có cái gì bất bình thường. Người ta hoàn toàn có thể hoài nghi là có những động lực bên trong, khiến chính quyền Hải Phòng cũng như Tiên Lãng đã xua quân đi giải tỏa, trấn áp một gia đình như vậy.
Đây là một việc làm hết sức – tôi xin nói thẳng – là ngu xuẩn, của một cái chính quyền không kể đến lợi ích của người dân, không kể đến uy tín, thanh danh của chính quyền. Người dân sẽ đánh giá chính quyền đó là như thế nào ? Đó là biện pháp mà gần như trước đây chính quyền thực dân phong kiến dùng để đàn áp nhân dân. Do đó có thể nói hiện nay nhân dân cả nước rất phẫn uất về việc này. Tôi tin rằng sẽ còn nhiều vụ việc như ông Vươn nữa sẽ xảy ra nếu chúng ta không giải quyết êm đẹp.
RFI : Nhưng thời gian cũng đã lâu rồi, cho đến giờ chưa thấy chính quyền trung ương có ý kiến gì cả, liệu đây có là một dấu hiệu xấu không thưa ông ?
Lê Hiếu Đằng : Riêng về chính phủ thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã có ý kiến chỉ đạo là đề nghị chính quyền Hải Phòng phải làm rõ vấn đề này. Người dân đang chờ xem Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, với tư cách là người đứng đầu chính phủ, và đồng thời là đại biểu thuộc đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng, sẽ xử lý vấn đề này như thế nào.
Nhưng rõ ràng là, tuy là đại biểu của dân, nhưng đoàn đại biểu Hải Phòng cho đến nay chưa có ai lên tiếng gì cả. Gần một tháng trời rồi mà sự im lặng đó –như trước đây ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh có nói –là một « sự im lặng đáng sợ », và người ta cũng rất ngạc nhiên vì sự im lặng này.
Tôi nghĩ là chính quyền trung ương sẽ có thái độ rõ ràng hơn trong thời gian tới, chứ không thể nào như thế này được, làm cho người dân mất lòng tin.
RFI : RFI Việt ngữ xin chân thành cảm ơn ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh đã vui lòng nhận trả lời phỏng vấn của chúng tôi.
Ảnh: Ngôi nhà của gia đình ông Đoàn Văn Vươn tại xã Quang Vinh, huyện Tiên Lãng, tỉnh Hải Phòng, nay đã bị san bằng. Ảnh chụp ngày 10/01/2012. REUTERS/Stringer.
Nguồn: RFI


Asia Sentinel

Luật đất đai rắc rối ở Việt Nam – Phần 3: Sự khôn ngoan của những người nông dân

Tác giả:  David Brown
Người dịch: Đỗ Quyên
Hiệu đính: David Brown
Ngày 3-2-2012
Đây là phần cuối trong loạt ba bài về tham nhũng trong hoạt động thu hồi đất đai ở Việt Nam, mà xét về nhiều mặt là ngang ngửa với Trung Quốc. Loạt bài của David Brown, một nhà ngoại giao hưu trí, từng làm việc ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ với nhiều cương vị ở các nước Đông Á.
Đối với gần như tất cả nông dân trên toàn quốc, đổi mới ở Việt Nam – cuộc cải cách kinh tế đã chấm dứt nỗ lực thảm hại của Việt Nam nhằm xây dựng một nền kinh tế kiểu Xô Viết trong những năm sau “cuộc kháng chiến chống Mỹ” – có ý nghĩa như một sự chấm dứt chế độ nông trang tập thể. Các hợp tác xã với quy mô tương đương một làng đều bị giải tán – trừ một số rất ít ngoại lệ – và mỗi gia đình làm nông đều được thuê đất với thời hạn 20 năm. Được tự do lao động trên những mảnh đất của cá nhân và hưởng lợi từ chính lao động của mình, họ đã tạo ra một mức tăng trưởng kỳ lạ trong năng suất nông nghiệp.
Trong 15 năm kể từ 1993, sản lượng nông nghiệp tăng hơn 100% (hơn gấp đôi – ND). Cho đến năm 2008, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu hàng đầu về gạo, cà phê, hạt điều, tiêu, cá và tôm nuôi, thậm chí ngay cả khi nhân lực dư thừa dịch chuyển từ làng xã ra làm việc ở các khu công nghiệp mới nở rộ.
Tuy nhiên, năm tới (2013), đợt thuê đất thời hạn 20 năm đầu tiên sẽ hết hạn. Tại Việt Nam, dường như có một quan điểm đồng thuận rằng cần phải xem lại luật đất đai. Vấn đề là xem lại thế nào. Diễn giải theo nghĩa đen thì các điều khoản có hiệu lực từ năm 1993 cho phép nhà nước lấy lại nông trang khi hết hạn cho thuê đất, mà không buộc phải đền bù. Theo các chuyên gia, dường như niềm tin của nông dân – rằng họ có thể giữ quyền tiếp tục lao động trên đất đai của mình – đúng là chỉ là niềm tin. Nó không có cơ sở pháp lý trong luật Việt Nam.
Những phát biểu học thuật gần đây khẳng định một quan điểm chung, cho rằng sự mơ hồ của luật đất đai hiện hành, sự thiếu minh bạch trong thủ tục hành chính, cùng nguồn lợi nhuận mà những kẻ trong cuộc mau chóng có được khi cướp đất nông nghiệp của dân và chuyển hóa đất ấy sang các mục đích sử dụng khác, là nguyên nhân chính thúc đẩy tham nhũng trong chính quyền. Nhiều năm nỗ lực và ban hành thủ tục dường như chỉ làm tăng thêm nhiều cơ hội kiếm chác phi pháp. 90% khiếu nại dân sự gửi tới tòa án là có liên quan đến tranh chấp đất đai.
Thậm chí ngay cả khi quá trình không bị tham nhũng thẩm thấu vào, thì việc chuyển đổi đất đai từ mục đích chính là làm nông sang làm khu công nghiệp, bất động sản, đường xá và sân gôn, cũng là vấn đề ngày càng gây lo ngại. Bộ Nông nghiệp Việt Nam tính toán rằng trong giai đoạn 2001-2006, 376.000 hecta đất trồng lúa đã bị thu hồi, làm hơn 1 triệu nông dân bơ vơ. Luật sửa đổi luật đất đai năm 2003 – nhằm kích thích “phát triển” bằng cách đơn giản hóa các hợp đồng lớn – có vẻ như lại làm tăng tốc độ nông dân mất đất. Trong số 31.000 đơn khiếu nại liên quan đến đất đai trong năm 2007, khoảng 70% phản ánh việc được đền bù không thỏa đáng cho số đất bị thu hồi.
Chưa có bằng chứng vững chắc nào cho thấy bộ chính trị đã quyết định sửa đổi hiến pháp Việt Nam, bản hiến pháp với nội dung nêu rõ rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện quản lý.” Tuy nhiên, vụ nổ súng hồi đầu tháng 1 của một gia đình nông dân nhằm vào lực lượng cảnh sát được điều tới để cưỡng chế thu hồi 20 hecta đất nuôi cá của họ đã thể hiện vấn đề theo cách trần trụi nhất.
Phân tích vụ Tiên Lãng, tờ báo Sài Gòn Tiếp Thị bình luận: “Gần 20 năm qua, kể từ luật Đất đai 1993, người nông dân tin tưởng vào công cuộc đổi mới bởi họ nhất quyết rằng, sau khi hết thời hạn giao đất, họ sẽ tiếp tục được quyền sử dụng đất đó làm tư liệu sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu, tài sản trên đất là tài sản thuộc quyền sở hữu của riêng họ được pháp luật bảo vệ. Đó là cơ sở chính trị để người dân tiếp tục tin Đảng, theo Đảng.
Giờ đây, dường như chỉ có một hành động quyết liệt của Đảng và chính phủ – nhằm bảo vệ quyền sở hữu của nông dân đối với mảnh đất mà họ đã lao động trên đó – mới có thể thỏa mãn dư luận Việt Nam. Chỉ có một thứ quyền không thể mơ hồ – là quyền sở hữu, chuyển nhượng, mở rộng hoặc cải thiện chất lượng đất đai tùy theo ý muốn của người nông dân – mới có thể xoa dịu nỗi lo sợ của họ. Nói tóm lại, Đảng và chính phủ chịu sức ép phải luật hóa truyền thống làng xã.
John Gillespie – một giáo sư Úc gần đây có nghiên cứu về cách thức các tòa án địa phương ở Việt Nam xử lý tranh chấp về quyền sở hữu – cho rằng còn nhiều ưu điểm khi đi theo hướng trên. Các thẩm phán, theo thông lệ, thường đẩy những người dân kiện tụng đến gặp trọng tài hòa giải, còn trọng tài thì có xu hướng rất mạnh là đề xuất phương án giải quyết dựa trên “lương tri và tình cảm của dư luận” hơn là căn cứ vào văn bản pháp luật. Gillespie phát hiện ra rằng họ làm thế bởi vì hòa giải chắc chắn là có khả năng cao hơn nhiều so với đương đầu cãi vã, trong việc đem lại một kết quả lâu bền cho tranh chấp đất đai.
Đó là giải pháp được hướng đến khi Đoàn Văn Vươn và các nông dân Tiên Lãng khác kháng cáo đối với lệnh của tòa án địa phương buộc họ phải rời khỏi trại cá mà họ đã lao động từ rất lâu và rất vất vả khó khăn để xây dựng nên. Các nông dân cùng với đại diện huyện Tiên Lãng đã nhất trí với cái giải pháp giữ thể diện mà trọng tài đưa ra. Tuy nhiên, chủ tịch huyện và chủ tịch xã của ông Vươn – hai anh em – nuốt lời.
Giấy trắng mực đen, hàng nghìn bài báo về vụ nổ súng ở Tiên Lãng đã xuất hiện trên báo chí Việt Nam, và còn hàng nghìn bài viết nữa được đăng tải trên không gian blog rất sinh động ở Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa rõ động cơ của quan chức địa phương – những người đòi Đoàn Văn Vươn phải trả lại khu đất đầm lầy cho thuê và cuối cùng đã quyết định thu hồi trại cá của ông Vươn bằng vũ lực.
Quan chức địa phương nói với một cán bộ điều tra thuộc Mặt trận Tổ Quốc rằng họ muốn giúp chính phủ tránh phải trả một khoản tiền đền bù lớn, nếu thực sự một sân bay mới sẽ được xây dựng dọc bờ biển, như đã có tin đồn. Dân làng thì nói, cũng với nhân viên điều tra đó, rằng họ tin là các quan chức muốn kiếm chác bằng việc bán lại trại cá, và quả thật là đã có nhiều người mua xếp hàng sẵn sàng rồi.
Đây là một phép đo xem công chúng nghi ngờ tới mức nào những nguyên nhân bí mật đằng sau việc nhà nước thu hồi tài sản ở Việt Nam, mà chưa một nhà phân tích nào nói ra rằng: các quan chức chỉ đang cố làm điều mà họ cho là luật đất đai khiến họ phải làm.

Nguồn: Asia Sentinel

VỀ TRIỂN VỌNG KINH TẾ TOÀN CẦU 2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

V TRIN VỌNG KINH T TOÀN CẦU 2012

Tài  liệu tham khảo đặc biệt
Thứ tư, ngày 1/2/2012
TTXVN (Luân Đôn 19/1)
Trong báo cáo “Triển vọng Toàn cầu” vừa công bố ngày 18/1, Bộ phận thông tin EIU thuộc Tạp chí Nhà Kinh tế (Anh), một trong những cơ quan nghiên cứu, tư vấn và dự báo được đánh giá uy tín hàng đầu tại Anh, đã đưa ra những nhận định mới nhất của mình về triển vọng kinh tế toàn cầu 2012. Mặc dù nâng mức dự báo tăng trưởng cho nền kinh tế đầu tàu thế giới là Mỹ nhưng EIU cho rằng cuộc khủng hoảng tại khu vực đồng euro (Eurozone) vẫn là mối đe dọa lớn nhất đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu và cuộc khủng hoảng này chưa có dấu hiệu khả quan, do đó năm 2012 sẽ là một năm đầy thất vọng đối với tăng trưởng của phần lớn các nước trên thế giới, đồng thời giảm mức dự báo tăng trưởng của các nền kinh tế đang nổi.
Khủng hoảng Eurozone
Cuộc khủng hoảng khu vực đồng tiền chung châu Âu vẫn là tâm điểm trong báo cáo đầu năm 2012 của EIU. EIU cho rằng, cuộc khủng hoảng tài chính tại châu Âu, bước vào năm thứ 3, sẽ tiếp tục đặt nền kinh tế toàn cầu bên bờ vực đổ vỡ trong suốt năm 2012. Sau khi tâm lý đầu tư có những cải thiện đáng hoan nghênh cuối năm 2011 và những ngày đầu tiên của năm 2012 thì Eurozone lại đối mặt với một loạt các cú sốc giữa tháng 1/2012, trong đó có việc hạ mức xếp hạng tín dụng của Pháp. Một loạt hành động hiện đang được các quan chức Eurozone thực hiện đã giúp củng cố quan điểm của EIU rằng rốt cuộc sẽ có một giải pháp cho cuộc khủng hoảng này. Mặc dù vậy, EIU nhận định hiện chưa có đủ cơ sở để tin rằng sẽ nhanh chóng có một giải pháp như vậy, do đó nguy cơ sụp đổ của Eurozone vẫn là một khả năng có thực và là mối đe dọa lớn nhất đối với kinh tế toàn cầu. EIU cho rằng tổ chức này vẫn hết sức quan ngại về các biện pháp nửa vời, thiếu ý chí chính trị trong năm qua. Để kiềm chế sự lan rộng của cuộc khủng hoảng này, EIU đã từng đưa ra các bước đi cần thiết, trong đó có việc các quốc gia nợ nhiều nhất phải cam kết tăng tài khóa, cần phải có một quỹ cứu trợ lớn để giúp các quốc gia bị tác động mạnh nhất, tái cơ cấu vốn cho hệ thống ngân hàng yếu và xây đựng một bức tường lửa bao quanh các quốc gia có đủ khả năng trả nợ như Italia và Pháp. Bức tường lửa này đòi hỏi phải có sự tăng cường thanh khoản lớn từ Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB), thể chế duy nhất có thể phản ứng đủ nhanh và có đủ các công cụ tài chính.
Tuy nhiên, trước những hệ quả nghiêm trọng mà sự sụp đổ của Eurozone mang lại, cả về kinh tế và chính trị, EIU cho rằng dự báo trọng tâm của tổ chức này vẫn là Eurozone tồn tại. Tuy nhiên, sức ép đối với Eurozone – thông qua các thị trường tài chính, hệ thống ngân hàng, niềm tin người tiêu dùng và chính sách thắt lưng buộc bụng của các chính phủ khiến EIU đã giảm dự báo tăng trưởng của khu vực này. EIU cho rằng tăng trưởng của Eurozone trong năm 2012 sẽ ở mức -1,2%, giảm mạnh so với mức dự báo là -0,3% trước đó. Năm 2012 sẽ là năm thất vọng với hầu hết các nước trong khối, và có thể ỉà một năm thảm họa nếu như Eurozone sụp đổ. EIU dự báo các nước đầu tàu của Eurozone như Đức, Pháp và Italia sẽ có mức tăng trưởng trong năm 2012 lần lượt là -0,6%, -1% và -2,5%. Thắt chặt tài khóa sẽ là một nguyên nhân làm sụt giảm mức tăng trưởng và điều này sẽ được thấy ở các nước thuộc khu vực ngoại biên như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ailen, Tây Ban Nha, Italia – các nước này đang chịu áp lực phải nhanh chóng giảm thâm hụt ngân sách. EIU dự bao rằng tới năm 2013 khu vực này sẽ trở lại mức tăng trưởng 0,7% nhưng sự hồi phục sẽ hết sức “xanh xao”. Tới năm 2014, tăng trưởng của Eurozone sẽ phục hồi trở lại với mức dự báo bình quân 1,4% trong giai đoạn 2014-2016.
Dự báo tăng trưỏng toàn cầu
EIU cho rằng giả sử dự báo trọng tâm của tổ chức này là đúng, tức Eurozone tồn tại, thì kinh tế toàn cầu trong năm 2012 sẽ có mức tăng trưởng 2% tính theo tỷ giá hối đoái thị trường, giảm so với mức tăng trưởng 2,6% trong năm 2011. Tính theo sức mua tương đương (PPP), EIU dự báo tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm xuống còn 3,1% so với 3,8% của năm 2011. Điều nghịch lý là, một sự suy thoái toàn cầu – điều có thể xảy ra trong năm 2012 hoặc 2013, đặc biệt nếu Eurozone sụp đổ, không nhất thiết được thể hiện bằng mức tăng trưởng âm. Các tổ chức tài chính quốc tế như IMF từng cho rằng mức tăng trưởng toàn cầu dưới 3% tính theo ppp sẽ cho thấy một lỗ hổng tăng trưởng đủ lớn để được xác định là suy thoái. Với tiêu chí đó, dự báo của EIU ở mức 3,1% tính theo ppp là khá cận với mức suy thoái. Tuy nhiên, EIU cho rằng tổ chức này không nhất trí với quan điểm rằng mức 3% là mức chuẩn đúng đắn nhất, thay vào đó EIU cho rằng một con số nào đó gần với 2% sẽ là mức chuẩn hơn. Nếu tính theo cách này thì nền kinh tế toàn cầu vẫn còn xa mới tới suy thoái, Và cũng chưa gần với biến cố năm 2009, thời điểm mà kinh tế toàn cầu tăng trưởng âm 0,8% tính theo ppp.
Dự báo tăng trưởng khu vực Tây Âu
Sự hồi phục của các nền kinh tế Tây Âu đang bị mất động lực. Tăng trưởng tại nhiều quốc gia trong khu vực đã chậm lại kể từ quý 1/2011. Xuất khẩu và sản lượng công nghiệp vẫn có mức tăng trưởng nhưng ở tốc độ chậm hơn. Tác động của một sự xáo động toàn cầu mới sẽ ít có mức tác động khắc nghiệt hơn so với giai đoạn 2009 bởi phần lớn các nước đã giảm đáng kể tình trạng bất cân bằng thương mại. Tuy nhiên, những khó khăn tại Eurozone, thị trường xuất khẩu chính của các nền kinh tế Tây Âu, đối mặt với triển vọng u ám trong năm 2012, do đó sẽ hãm mạnh các hoạt động kinh tế tại Tây Âu. EIU dự báo tăng trưởng của khu vực Tây Ầu sẽ giảm từ 3,5% của năm 2011 xuống còn 2,3% trong năm 2012, hồi phục trở lại mức 3,4% trong năm 2013. Đối với một số quốc gia cụ thể trong khu vực, EIU dự báo Ba Lan sẽ có mức tăng trưởng 3,8% trong năm 2011 nhưng sẽ giảm xuống còn 1,5% trong năm 2012; tăng trưởng của Xlôvakia sẽ giảm từ 3% của 2011 xuống còn 0,8% trong năm 2012; Cộng hòa Séc dự báo sẽ tăng trưởng 0,5%, giảm mạnh so với mửc 1,8% của năm 2011; Hunggari có mức tăng trưởng 1,5% trong năm 2011 nhưng nhiều khả năng sẽ tăng trưởng âm trong năm 2012; các nước Bantích nói chung (Extônia, Lítva, Latvia…) sẽ có mức tăng trưởng 2,2% trong năm 2012; các nước Bancăng về tổng thể sẽ có mức tăng trưởng 2% trong năm nhưng sẽ giảm xuống còn 0,5% trong năm 2012.
Dự báo tăng trưng khu vực châu Á và Ôxtrâylia
EIU cho rằng châu Á sẽ vẫn tiếp tục là khu vực có mức tăng trưởng cao nhất thế giới. Tuy nhiên, các nền kinh tế tại châu Á và Ôxtrâylia (không tính Nhật Bản) cũng đã tăng trưởng chậm lại do các khó khăn kinh tế toàn cầu và các nỗ lực nội địa nhằm kiểm soát lạm phát. Tác động của cuộc khủng hoảng tại Eurozone cũng đã bắt đầu được cảm nhận tại một số nước xuất khẩu ở châu Á. Dù có nhiều nhân tố tiêu cực tác dộng tới các nền kinh tế châu Á nhưng EIU cho rằng sẽ không có sự lặp lại của năm 2009, khi sụp đổ thương mại toàn cầu đẩy các nền kinh tế châu Á vào suy thoái. Các nhà hoạch định chính sách châu Á đã từ bỏ các bước đi hạ nhiệt nhu cầu nội địa bởi phát triên quá nóng không còn là mối đe dọa lớn nhất. Thực tế, sự suy yếu tại các thị trường nhập khẩu đã khiến các nước châu Á chuyển hướng sang kích thích nền kinh tế trong nước. Hiện hầu hết các nước khu vực đều còn đủ không gian để thực hiện các chính sách kích cầu, dù có hạn chế hơn trước đây. EIU cho rằng khu vực châu Á sẽ đạt mức tăng trưởng 6,1% trong năm 2012. Kinh tế Ôxtrâylia nhiều khả năng sẽ đạt mức tăng trưởng 3% trong năm 2012.
Dự báo tăng trưởng khu vực ASEAN
Cho tới gần đây, các nền kinh tế chính của ASEAN như Inđônêxia, Malaixia, Philíppin, Xinhgapo, Thái Lan và Việt Nam đều đã hưởng lợi từ sự hồi phục thương mại toàn cầu mạnh và nhu cầu tăng từ Trung Quốc. Nền kinh tế các nước này cũng được thúc đẩy bằng dòng vốn đầu tư vốn đã tạo ra một số quan ngại về phát triển quá nóng và lạm phát tăng cao. Năm 2011, các nền kinh tế ASEAN đã tập trung vào việc rút bớt các biện pháp kính thích tài khóa và thắt chặt chính sách tiền tệ Tuy nhiên, phần lớn các nền kinh tế ASEAN, ngoại trừ Inđônêxia, đều phụ thuộc vào xuất khẩu, do đó rất dễ bị tổn thương trước sự ì ạch của các thị trường phương Tây. Các nước này cũng đang phải đối mặt với tình hình dòng vốn đầu tư chảy ra, một phần là do một số thị trường được coi là nhiều rủi ro và một phần là các thể chế tài chính tại phương Tây buộc phải rút vốn do gặp các khó khăn về thanh khoản. EIU dự báo tăng trưởng thực khu vực ASEAN sẽ đạt mức 5,2% trong năm 2012, không giảm so với 2011.
Dự báo tăng trưởng của khu vực Mỹ Latinh
EIU cho rằng sau sự hồi phục mạnh mẽ năm 2010, khu vực Mỹ Latinh sẽ có thể đạt mức tăng trưởng 4,2% trong năm 2011. Tuy nhiên, năm 2012, EIU dự báo tăng trưởng khu vực này sẽ giảm xuống còn 3,5% trong bối cảnh tăng trưởng khu vực Eurozone tụt giảm mạnh mẽ và tăng trưởng ì ạch tại Mỹ. Giai đoạn 2013-2016, tăng trưởng của khu vực sẽ được duy trì ở mức bình quân 4,2% nhờ các chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý và nhu cầu nội địa ổn định cũng như sự hồi phục của các hoạt động kinh tế tại khu vực Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Đối với một số quốc gia cụ thể, EIU dự báo tăng trưởng của Braxin năm 2011 sẽ chỉ đạt 2,9%, giảm mạnh so với mức 7% của 2010, và sẽ tăng trong năm 2012 lên 3,5% nhờ việc nới lỏng chính sách tiền tệ; tăng trưởng của Mêhicô dự kiến sẽ đạt 3,9% trong năm 2011, tăng so với mức dự báo 3,4% trước đó, tuy nhiên tăng trưởng trong năm 2012 – năm bầu cử tổng thống – sẽ không chắc chắn và EIU dự báo sẽ giảm xuống còn 1,3%.
Dự báo tăng trưởng của khu vực Trung Đông và Bắc Phi (MENA)
EIU cho rằng triển vọng kinh tế MENA 2012 phản ánh những tác động phân kỳ của các cuộc cách mạng tại các nước Arập. Các quốc gia trực tiếp bị tác động bởi bất ổn đã có mức tăng trưởng giảm đáng kể. Các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia sản xuất dầu mỏ, đã và đang có khả năng tăng cường chi tiêu công. Trong năm tới, bất ổn chính trị và một môi trường bên ngoài thù địch hơn sẽ tác động tới tăng trưởng trong toàn khu vực nhưng các nhân tố tiêu cực này sẽ được cân bằng bởi đầu tự cơ sở hạ tầng ồ ạt tại Arập Xêút, tăng trưởng mạnh tại Irắc và sự hồi phục tại Libi. về tổng thể, EIU dự báo tăng trưởng GDP của khu vực sẽ tăng lên 4% trong năm 2012, tất nhiên triển vọng này sẽ thay đổi mạnh nếu như các nguy cơ địa chính trị bắt nguồn từ Iran dẫn tới một cuộc xung % đột.
Dự báo tăng trưởng của một số nền kinh tế lớn                  
Kinh tế Mỹ: EIU cho rằng kinh tế Mỹ đã thể hiện khá kiên cường trước cuộc khủng hoảng đang tiếp diễn tại Eurozone và có nhiều tín hiệu khả quan trong quý 4/2011 trên nhiều lĩnh vực. Dù động lực này khó có thể được duy trì một cách toàn diện song EIU đã nâng mức dự báo tăng trưởng của Mỹ trong năm 2012 lên 1,8% so với mức dự báo 1,3% trước đó. Trong giai đoạn 2013-2016, EIU dự báo kinh tế Mỹ sẽ đạt mức tăng trưởng bình quân 2,2%.
Kinh tế Nhật Bản: Dù gặp nhiều khó khăn trong năm 2011, như thảm họa động đất, sóng thần và xuất khẩu giảm, nhưng việc tái thiết quy mô lớn sau thảm họa động đất sẽ giúp thúc đẩy kinh tế Nhật Bản trong những năm tới. Chi tiêu của chính phủ cũng sẽ giúp bù đắp cho sự thiếu hụt nhu cầu xuất khẩu và chi tiêu cá nhân trong thời gian tới. Tháng 11/2011, Chính phủ Nhật Bản đã thông qua gói ngân sách bổ sung 156 tỷ USD và nguồn tiền này dự kiến sẽ được đầu tư vào các dự án tái thiết, bắt đầu từ năm 2012. Trên cơ sở đó, EIU dự báo kinh tế Nhật Bản sẽ đạt mức tăng trưởng 2% trong năm 2012.
Kinh tế Trung Quốc: EIU cho rằng kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng chậm lại nhưng không đáng báo động trong những tháng tới khi mà gói chi tiêu kích cầu kết thúc và việc thắt chặt chính sách góp phần làm giảm đầu tư bất động sản. Sự sụt giảm thêm trong tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc là rất có thể với thực tế các khó khăn của các nền kinh tế phương Tây hiện nay. EIU cho rằng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ đạt mức 8,1% trong năm 2012, với mức tăng trưởng quý 2/2012 tính theo năm sẽ giảm xuống mức thấp, chỉ 7,4%. Chính phủ Trung Quốc có đủ công cụ chính sách để ngăn ngừa tăng trưởng sụt giảm nhanh và mạnh, và cũng đã bắt đầu chuyển sang quan điểm ủng hộ tăng trưởng hơn. EIU nhận định lạm phát sẽ tiếp tục là mối quan ngại của Trung Quốc với dự báo lạm phát sẽ ở mức 3,5% trong năm 2012. Thách thức dài hạn của Trung Quốc là vấn đề nền kinh tế phụ thuộc vào đầu tư, chiếm mức cao chưa từng có, 45% trong GDP. Đối với các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc, mức đầu tư lớn như vậy có thể tạo ra những tài sản không sinh lợi và lãng phí nếu tiếp tục duy trì. Tuy nhiên, nếu đầu tư sụt giảm trước khi tiêu dùng tư nhân trở thành động lực tăng trưởng thì nền kinh tế Trung Quốc sẽ chậm lại đột ngột.
Kinh tế Nga: EIU cho rằng triển vọng tăng trưởng của Nga sẽ tiếp tục phụ thuộc vào giá cả hàng hóa thế giới, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt. Mặc dù giá dầu mỏ quốc tế đạng ở mức cao mang lại thuận lợi cho Nga nhưng đầu tư thì lại khá chậm chạp, do đó EIU dự báo tăng trưởng của Nga năm 2011 sẽ dừng ở mức 4,3%. Tăng trưởng của Nga trong năm 2012 sẽ giảm xuống còn 3% do giá dầu mỏ giảm, dù việc chi tiêu cho năm bầu cử cũng mang lại một số động lực cho tăng trưởng. Với các thách thức về cấu trúc, tăng trưởng của Nga sẽ tiếp tục ở mức thấp hơn so với trước khi suy thoái toàn cầu trong trung hạn.
Kinh tế Ấn Độ: EIU khá lạc quan về nền kinh tế Ấn Độ và cho rằng Ấn Độ sẽ có mức tăng trưởng nhanh hơn Trung Quốc trong vài năm tới. EIU dự báo rằng Ấn Độ sẽ đạt mức tăng trưởng bình quân 7,9% trong giai đoạn năm tài khóa 2011/2012 tới 2015/2016; và từ năm tài khóa 2014/2015 Ấn Độ sẽ có mức tăng trưởng vượt Trung Quốc. Trong ngắn hạn, khi nền kinh tế toàn cầu ì ạch, Ấn Độ sẽ không bị tác động nhiều do mức bộc lộ đối với xuất khẩu thấp. Trong trung hạn, điều kiện về nhân khẩu học thuận lợi sẽ hỗ trợ tăng trưởng. Thông thường, các nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn khi tỷ lệ người phụ thuộc trên người lao động giảm, và điều này sẽ xảy ra ở Ấn Độ trong những năm tới. Trung Quốc đã được hưởng giai đoạn này và lực lượng lao động nước này sẽ giảm trong thời gian tới. Ngoài ra, nền tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ cũng sẽ được hỗ trợ bằng tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao, cũng như sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu. Tuy nhiên, thách thức lớn của Ấn Độ là vấn đề lạm phát, và trận chiến với lạm phát sẽ đặc biệt khó khăn đối với nền kinh tế nước này trong năm 2012/2013, và EIU dự báo tăng trưởng của Ấn Độ sẽ chỉ đạt 6,3%.
(Đài Ôxtrâylia 19/1)
Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới đều cho rằng năm 2012 có thể là một năm rất tồi tệ với các nền kinh tế thế giới.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết sẽ cần thêm nhiều tiền để trợ giúp các nước, đặc biệt là châu Âu vốn đang oằn lưng với gánh nặng nợ nần.
Theo phóng viên kinh tế Michael Janda của Cơ quan Truyền thông Quốc gia Ôxtrâylia (ABC), IMF cần huy động thêm 500 tỉ USD để có thể đạt được mục tiêu 1.000 tỉ USD nhằm trợ giúp tài chính cho các quốc gia đang ngập trong nợ nần.
Ông Michael cho biết châu Âu đã cam kết chi ra 200 tỉ USD, nhưng trong bối cảnh hiện nay, kế hoạch này dường như khó khả thi. Phần lớn số tiền đó sẽ được bơm ngược trở lại châu Âu cũng như rót vốn cho một số nước như Hy Lạp vốn đang phụ thuộc vào sự tài trợ của IMF và khu vực đồng euro. Mặc dù là thành viên lớn nhất của IMF nhưng Mỹ tuyên bố sẽ không cho tố chức này vay thêm tiền và cho rằng châu Âu phải tự giải quyết các vấn đề của mình. Như vậy, IMF phải trông đợi vào 186 thành viên còn lại.
Khó khăn chung
Trong khi đó, với tư cách là định chế tài chính chuyên hỗ trợ các nước đang phát triển, Ngân hàng Thế giới (WB) đã hạ mức dự đoán tăng trưởng toàn cầu năm 2012 từ 3,6% xuống còn 2,5%. WB cũng cho biết châu Á sẽ không còn ‘miễn dịch’ trước suy thoái nữa.
Theo WB, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại, từ mức 9,2% năm 2011 xuống còn 8,4% năm 2012, chủ yếu do xuất khẩu của nước này sang châu Ầu bị giảm sút.
Ông Mick Riordan, đồng tác giả báo cáo của WB, cảnh báo rằng sự sụt giảm của thương mại thế giới sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế Trung Quốc.
Ông Riordan cho biết kim ngạch xuất-nhập khẩu của Trung Quốc đều đang tuột dốc nhanh và đây là một tín hiệu tiêu cực. Bên cạnh đó, Trung Quốc đang phải nỗ lực kiểm soát bong bóng bất động sản bằng việc gia tăng lãi suất và áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ.
Tình hình ở Nam Á, nhất là Ấn Độ, cũng tương tự, với tốc độ tăng trưởng giảm từ 9,1% cách đây một năm rưỡi xuống còn khoảng 6,5% vào năm ngoái và dự báo chưa đầy 6% trong năm nay.
Ông Riordan nhận định: “Bất kỳ suy giảm nào về thương mại đều tác động đến cả khu vực, nhất là các quốc gia đang phát triển”.
Do tình trạng suy giảm này mà giá kim loại đã giảm khoảng 25%, nông sản giảm 20% còn năng lượng giảm 10%.
Ảnh hưởng đến Ôxtrâylia
Ông Michael phân tích trong bối cảnh suy thoái hiện nay, Ôxtrâvlia cũng bị tác động vì kinh tế nước này chủ yếu dựa vào xuất khẩu hàng hóa. Bên cạnh đó, do thiên tai ở Nhật Bản và Thái Lan nên các mạng lưới thương mại và sản xuất vốn gắn kết các nước trong khu vực sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Tuy nhiên, WB cho biết cũng như Trung Quốc và Ấn Độ, Ôxtrâylia đã chi rất nhiều trong năm 2011 để kiểm soát lạm phát nên quốc gia này có tỉ lệ lãi suất cao hơn so với hầu hết các nước khác. Vì vậy, Ôxtrâylia vẫn có thể cắt giảm lãi suất và thực hiện các biện pháp nhằm đạt được thặng dư ngân sách do tình hình ngân sách của nước này sáng sủa hơn các nước khác.
Quyền Bộ trưởng Tài chính Bill Shorten cũng nói rằng Ôxtrâylia đủ kha năng chống chọi với suy thoái, ông nói: “Sự tăng trưởng của Ôxtrâylia rất vững chắc. Chúng ta kiểm soát được lạm phát với tỉ lệ thất nghiệp tương đối thấp so với châu Âu và Bắc Mỹ cũng như có nợ quốc gia rất thấp”.
***
Theo đài RFI, Trong bối cảnh kinh tế nhiều nước Liên minh châu Âu hết sức ảm đạm, thì nền kinh tế Đức là một điểm sáng đặc biệt. Nghiên cứu hàng năm do Viện Allensbach (Đức) công bố cho thấy, 49% người Đức lạc quan về viễn cảnh đất nước trong năm 2012. Tuy nhiên, 2012 cũng là năm có nhiều thách thức kinh tế và chính trị lớn.
Để tìm hiểu về triển vọng của nền kinh tế Đức năm 2012, Đài RFI đã phỏng vấn Tiến sĩ Âu Dương Thệ (Dortmund – Đức).
1. Ngưi Đức có thái độ thế nào đối với nền kinh tế Đức trong năm qua và trin vọng trong năm 2012
Người Đức vừa chấm dứt năm 2011 với nhiều thành quả tốt trong kinh tế: Mức tăng trưởng kinh tế trong năm qua của Đức lên tới 3%, đây là một mức khá cao so với nhiều nước trong Liên minh châu Âu. Trong khi ấy mức thất nshiệp đã giảm xuống chỉ còn dưới 2,8 triệu người (6,6%). Cục Lao động Đức cho biết, đây là mức thất nghiệp thấp nhất từ khi nước Đức thống nhất cách đây hơn 20 năm. Mức tăng lương rất thấp so với nhiều nước châu Âu, khiến cho hàng hóa Đức với chất lượng tốt lại càng có khả năng cạnh tranh cao. Mức lạm phát tuy có gia tăng nhưng vẫn ở mức thấp. Vì thế đa số người Đức lạc quan, khiến mức tiêu thụ nội địa gia tăng cũng đóng góp phần quan trọng trong sự hưng thịnh của Đức.
Tuy nhiên trong năm 2012 mức tăng trưởng kinh tế của Đức sẽ giảm di rất nhiều. Các con số dự đoán từ phía chính phủ cũng như của nhiều viện nghiên cứu kinh tế độc lập ở Đức đã cho biết chỉ còn từ 0,5% tới 1%.
Các thách thức mà nước Đức sẽ phải đương đầu
Nền kinh tế Đức đặt trọng tâm vào xuất khẩu, trong đó các thị trường chính là EU (60%), Mỹ (10%) và Trung Quốc (6%). Trong bối cảnh kinh tế thế giới năm 2012 đang có nhiều rủi ro về tài chính, phần lớn các dự đoán đều tỏ ra bi quan, kể cả ước đoán của bà Giám đốc Quĩ tiền tệ quốc tế Christina Lagarde là kinh tế thế giới có thể rơi vào tái khủng hoảng nghiêm trọng như cuối thập kỉ 20 của thế kỉ trước. Trong bối cảnh như vậy thì nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu như Đức sẽ chịu nhiều áp lực lớn. Đặc biệt là hai khách hàng lớn nhất của Đức là EU lại đang có nhiều nguy cơ, hoặc Mỹ chưa có khả năng phục hồi.
Thách thức lớn nhất mà Đức phải đối phó trong năm nay là tương lai của đồng euro sẽ ra sao. Thủ tướng Đức Angela Merkel đã không ngại ngùng nêu rõ vấn đề này trong Thông điệp đầu năm Tuy tin rằng rồi cuối cùng đồng euro sẽ thoát khỏi khủng hoảng, nhưng Thủ tướng Merkel cũng cảnh báo trong năm 2012 còn có những khó khăn rất lớn, thậm chí có thể có những lúc còn diễn ra nguy ngập mới, trong đó cả Đức lẫn EU cần phải tỉnh táo để cùng nhau giải quyết.
Những cải cách kinh tế quốc gia mà Béclin dự định tiến hành và các biến động chính trị lớn
Như chúng ta biết, sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới vài năm trước, chính phủ liên minh lớn ở Đức đã có những chương trình đầu tư lớn để tìm cách giải quyết khủng hoảng và phục hồi nhanh chóng kinh tế. Nhưng sau đó từ cuối năm 2009 chính phủ liên minh hiện nay đã quay trở lại chính sách thắt lưng buộc bụng, bằng cách giảm chi tiêu công để tiến tới cân bằng ngân sách quốc gia về chi-thu. Mặt khác Chính phủ liên bang Đức còn có những chính sách tài chính bắt các ngân hàng Đức phải tăng vốn dự trữ an toàn. Việc này cũng giúp cho mức lạm phát ở Đức nằm trong vòng kiểm soát.
Tuy nhiên, chính phủ liên minh hiện nay gồm ba chính đảng là Đảng Dân chủ Cơ đốc giáo (CDU), Đảng liên minh Xã hội Cơ đốc giáo (CSU) và Đảng Dân chủ Tự do (FDP) đang gặp rất nhiều khó khăn lớn. Sau thất bại trong nhiều cuộc bầu cử Quốc hội ở nhiều tiểu bang trong năm qua, các đảng cầm quyền đã không còn chiếm được đa số trong Thượng viện nữa. Do đó có nhiều dự luật quan trọng, nhất là về kinh tế và tài chính, có thể không được thông qua. Đảng Dân chủ Tự do đang rơi vào khủng hoảng lớn nhất từ trước tới nay. Trong các cuộc thăm dò cử tri mới nhất, đảng này chỉ còn 3-4% và có nguy cơ mất cả ghế trong cuộc bầu cử Quốc hội liên bang (Hạ viện) vào mùa Thu 2013.
Một khó khăn chính trị lớn khác cho chính phủ liên minh hiện nay là cuộc khủng hoảng chính trị liên quan tới Tổng thống Đức C. Wulff xảy ra từ trước Giáng sinh 2011. Ông đã dính líu vào việc vay tiền ngân hàng 500.000 euro với lãi suất rất thấp để mua nhà khi còn làm Thủ hiến tiểu bang Niedersachen và nhất là ông đã gọi điện thoại đe dọa một số Tống biên tập báo chí và nhà xuất bản lớn ở Đức không được điều tra và viết bài về việc vay tiền mua nhà của ông. Nếu chuyện này có bằng chứng rõ ràng thì sẽ vi phạm Điều 5 của Hiến pháp liên bang Đức về quyền tự do báo chí có thể dẫn đến việc ông phải từ chức. Đây sẽ là một tổn thất lớn đối với uy tín cúa Thủ tướng Merkel vì chính bà đã đề cử ông Wulff vào chức vụ này hơn một năm trước. Các khó khăn chính trị lớn này chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới các dự tính và chương trình hành động của Thủ tướng Merkel trong năm 2012.
4- Vai trò của Đức vi khu vực đồng euro và Liên minh châu Âu
Năm 2012 là năm sẽ quyết định số phận của đồng euro và tương lai của EU. Hội nghị thượng đỉnh của EU vào đầu tháng 12/2011 đã thành công bước đầu thông qua việc các nước thành viên trong khu vực đồng euro cần phải tiến tới liên kết chặt chẽ về kinh tế, tài chính và ngân sách thì mới có thể đưa đồng euro thoát khỏi khủng hoảng. Vì thế các thành viên đồng ý cần phải có một hiệp ước mới qui định việc này.
Hiện hai đầu tàu chính cả về kinh tế lẫn chính trị là Pháp và Đức đang chuẩn bị đưa ra một dự thảo Hiệp ước mới này cho khu vực đồng euro gồm 17 nước và với khả năng tham gia của 9 nước khác còn lại trong EU, ngoại trừ Anh. Đây là một vấn đề hóc búa nhất cho gần nửa tỉ người ở châu Âu trong năm nay. Tới nay, người ta vẫn chưa biết nội dung cụ thể của dự thảo hiệp định mới này, nhưng tiến trình thông qua tại các hội nghị cấp cao của EU trong các tháng tới sẽ rất khó khăn. Không những thế, tiến trình thông qua Hiệp ước mới tại từng quốc gia hội viên trong thời gian tới lại càng phức tạp, lâu dài và chứa đựng nhiều rủi ro. Đây là những kinh nghiệm còn rất sống động sau các cuộc trưng cầu dân ý ở Pháp và Hà Lan vài năm trước với đa số không đồng Ý với bản “Hiến pháp EU 2004”, khiến sau đó EU lại mất nhiều năm mới cho ra đời được “Hiệp định Lixbon 2007”.
Riêng tại Đức, trong thời gian tới Quốc hội Đức sẽ thảo luận các quyết định của Hội nghị cấp cao của EU vào đầu tháng 12. Chắc chắn Quốc hội Đức sẽ thông qua các quyết định này, vì không chỉ các chính đảng cầm quyền mà cả hai chính đảng đối lập lớn là Đảng Dân chủ Xã hội và Đảng Xanh đều chủ trương duy trì đồng euro và đẩy mạnh tiến trình hợp tác toàn diện của EU.
Chưa ai có thể tiên đoán kết quả cuộc bầu cử Tổng thống Pháp vào cuối tháng 4 tới sẽ ra sao và chỉnh phủ của bà Merkel còn tồn tại hay không vào mùa Thu 2013. Nhưng có điều chắc chắn Pháp và Đức vẫn sẽ là hai nước chủ động trong tiến trình giải quyết khủng hoảng của đồng euro và .đẩy mạnh hợp tác trong EU.
Nếu theo dõi tiến trình hình thành và phát triển của EU gần sáu thập niên vừa qua từ 6 nước lên tới 27 quốc gia hiện nay thì sẽ thấy sự tin tưởng của đại đa số người dân châu Âu, cũng như ý thức trách nhiệm cao của nhiều chính khách châu Âu. Trong bối cảnh thế giới của Thế kỷ 21 với tiến trình toàn cầu hoá trong nhiều lĩnh vực và sự xuất hiện của một số cường quốc kinh tế mới thì vai trò của EU lại càng cần thiết và quan trọng hơn. Trong nhiều thập kỉ qua, EU đang là biểu tượng của cuộc hoà giải rất thành công giữa những nước từng là tử thù của nhau, hay từng có những quá khứ chính trị đổi nghịch nhau. Không những thế, EU còn chứng minh rất hùng hồn rằng nếu muốn phát triển bền vững và công bằng trong xã hội thì kinh tế thị trường phải gắn liền với một thể chế chính trị dân chủ đa nguyên. Chỉ như vậy mới đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc và nhân phẩm thực sự cho các công dân!

Nghĩa hiện nay của từ ‘trí thức’

VietnamNet

Nghĩa hiện nay của từ ‘trí thức’

Cập nhật 02/02/2012 10:59:55 AM (GMT+7)
GS Nguyễn Ngọc Lanh
Từ “trí thức” xuất hiện năm 1906 với nội hàm mới, đủ phân biệt với những từ ngữ vẫn quen dùng trước đó. “Trí thức” xâm nhập Việt Nam từ ngót trăm năm, đến nay nghĩa gốc có nhiều thay đổi. Đại thể, có hai hướng lớn.
Nghĩa ban đầuIntellectuel (tiếng Pháp) hay intellectual (tiếng Anh) trong từ điển vốn là một tính từ, còn danh từ gốc của nó là intellect (trí  tuệ, trí thông minh). Nhưng một văn bản kháng nghị công bố năm 1906 – do nhà văn Zola ký tên đầu – lại được thủ tướng Pháp Clemenceau (tiến sĩ, nhà báo) gọi là Tuyên ngôn của Trí thức (Manifeste Des Intellectuels). Thế là một tính từ trở thành danh từ mới, chưa hề có trong các từ điển lớn trước đó như Larousse 1866-1878 hay Đại từ điển Bách khoa 1885-1902. Ngay sau đó, thế giới đã chấp nhận một từ ngữ mới.  
Đó là bản kháng nghị nổi tiếng, của các nhà văn, nhà khoa học nổi tiếng, chống lại một bản án oan cũng nổi tiếng là xấu xa trong lịch sử tư pháp (xử đại úy Dreyfuss, sau gọi là “Sự kiện Dreyfuss”).
Trên thực tế, các tác giả của bản kháng nghị đã bị chính quyền chỉ trích, phân biệt đối xử, hăm dọa, kể cả tù đầy, nhưng không nao núng, mà vẫn theo đuổi sự việc tới cùng. Nay gọi là dấn thân.
Như vậy, danh từ “trí  thức” ra đời nhân một sự kiện chống bất công nói riêng và chống mọi bất cập của xã hội nói chung.
Từ đó, một người có học vấn cao sẽ được mang danh “trí thức” nếu ông ta sẵn sàng tạm bước ra khỏi lĩnh vực chuyên sâu của mình để lên tiếng – với lập luận vững chắc – về những bất cập xã hội, với động cơ không vụ lợi. Nay gọi là phản biện.
Sau 100 năm, nghĩa gốc bị thay đổi
Từ rất lâu trước khi có từ “trí thức”, xã hội đã sử dụng nhiều từ tôn vinh dành cho những người có học vấn uyên thâm, làm nghề sáng tạo: nào là học giả, nhà văn, nào là nghệ sĩ, bác học…
Đó là bước tiến lớn khi xã hội nhận ra các sản phẩm tinh thần ngày càng đặc trưng cho văn minh nhân loại.
Từ “trí thức” xuất hiện năm 1906 với nội hàm mới, đủ phân biệt với những từ ngữ vẫn quen dùng trước đó… Để được gọi là trí thức, điều kiện “cần” là làm nghề sáng tạo các giá trị tinh thần; còn điều kiện “đủ” là phản biện xã hội – để xã hội tốt đẹp thêm.
“Trí thức” xâm nhập Việt Nam từ ngót trăm năm, đến nay nghĩa gốc có nhiều thay đổi. Đại thể, có hai hướng lớn:
 - Một hướng cố giữ nguyên nghĩa: tuy chỉ thoi thóp, bị chìm lấp, nhưng khi cần thiết và gặp hoàn cảnh thuận lợi vẫn cứ bùng lên – chứng tỏ nó chưa chết hẳn. Bằng chứng là cách đây 5 năm – khi mọi người thảo luận sôi nổi về vai trò trí thức – đã có những “suy nghĩ về khái niệm trí thức”. Sau đó, thêm một ý kiến khác tỏ vẻ không đồng tình (với hướng thứ hai) về sự tầm thường hóa trí thức, với nhận định “trí thức ngày càng đông, nhưng càng… không đúng nghĩa”…
– Một hướng khác, áp đảo, đã rất thành công biến “trí thức” thành một từ bao quát và gói ghém trong nó tất cả các từ cụ thể quen dùng trước đó (như: học giả, soạn giả, tác gia, bác học, văn gia…). Ở mức độ cụ thể hơn nữa, ta có các từ chỉ rõ bằng cấp và nghề nghiệp của họ (ví dụ): tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc, giáo sư, nhà văn, nhà khoa học, nhà toán học… Tất cả, đều được quan điểm này coi là trí thức.
Theo hướng thứ hai, công lao của người sáng tạo từ “trí thức” rốt cuộc chỉ là đưa ra một từ chung, để gộp vào nó các từ sẵn có về giới “có học” trong xã hội.  
Hướng thứ hai mạnh tới mức khuất phục được cả nhiều người soạn từ điển và soạn Nghị Quyết ở nước ta. Và do vậy, cũng là ý kiến của đông đảo bạn đọc trong cuộc thảo luận đầu năm 2012. Cụ thể, số người nói giống như GS Ngô Bảo Châu (và như Nghị Quyết) vẫn đông gấp bội số người đồng ý với GS Chu Hảo.
GS Ngô Bảo Châu:“Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã  hội như chỉ tiêu  để được phong hàm “trí thức”… giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội”.
Nghị quyết số 27-NQ/TW (6-8-2008) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đã đưa quan điểm:
Trí  thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất  định, có năng lực tư  duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội.
GS Chu Hảo:
Không có  tư duy phản biện, không phải là trí thức.
Sự  thuận tiện và đắc dụng Hướng thứ hai chiếm thế  áp đảo, được xem là chính thống, vì nó đem lại nhiều cái lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Thí dụ, sự thuận tiện khi cần nói gộp. Nó giúp chúng ta gộp vào khái niệm trí thức, từ Hoàng Tụy, Ngô Bảo Châu cho tới một người thầy tốt nghiệp trường cao đẳng nay dạy Toán ở bậc trung học ( cũng như trước đây rất thuận tiện khi gộp một văn hào với viên thư ký của ông ta vào giai cấp tiểu tư sản vậy). Nó càng thuận tiện khi cần tổng kết thành tích đào tạo. Nếu – như hiện nay – coi tốt nghiệp cao đẳng cũng là trí thức, thì số lượng giới này của chúng ta đào tạo ra đã tới vài triệu – là đông đảo, hết sức phong phú.
Đương nhiên, để phát huy sức mạnh xây dựng CNXH của đông đảo trí thức, cần phải xếp họ vào đội ngũ – đúng như nghị quyết đã chỉ rõ. Nó cũng giúp chúng ta hiểu thêm một đặc trưng lớn của trí thức XHCN.
  • N.N.L.
TRÍ THỨC LÀ GÌ?
Lời chủ nhân blog: Gần đây, có nhiều bàn tán về trí thức là gì, vai trò của trí thức, v.v. Tôi nghĩ tôi cần học thêm về vấn đề này. Có mấy bài đáng suy ngẫm nên tôi lưu lại để học hỏi. “Kẻ nào không tham gia vào việc công thì phải là súc vật hay thần thánh!”  – Triết gia Aristotle. “Trí thức là những người có sự hiểu biết và biết thức tỉnh xã hội” – Giản Tư Trung. “Người trí thức là người không để cho xã hội ngủ” – GS. Cao Huy Thuần “Có 4 hạng trí thức trong xã hội Việt Nam ngày nay. Hạng 1 là những người “trí thức thứ thiệt”, đau đáu với vận mệnh đất nước quê hương và sẵn sàng dấn thân, cho dù họ không được lòng của giới cầm quyền. Hạng 2 là những người cũng quan tâm đến đất nước và dân tộc, cũng bức xúc trước những bất cập của xã hội, nhưng họ không dám dấn thân; Thay vì dấn thân, họ co rút trong cái không gian và môi trường nhỏ bé là gia đình. Hạng 3 là những người không màn đến các vấn đề xã hội dù cũng có chút hiểu biết về chính trị, nhưng họ không lên tiếng, không có hành động, mà thay vào đó là thái độ xu nịnh và lo làm ăn vì quyền lợi kinh tế cá nhân; Họ là những người thiếu lập trường, không có niềm tin, nhưng lại rất hãnh diện về những học vị và học hàm (có thể là dỏm hay mua bán) của họ. Hạng 4 là những người cũng thông minh, nhạy cảm với thời cuộc, và sử dụng thông minh của mình để dèm pha người khác; họ là những con buôn chính trị” – Đào Tiến Thi “Nhưng theo cách hiểu của tôi thì chỉ có hạng 1 là những người trí thức thật sự, còn hạng 2, 3 và 4 thì ngụy trí thức là đúng hơn” – GS. Nguyễn Văn Tuấn “Trí thức là người có tầm nhìn đứng cao hơn tầm nhìn chuyên môn của một chuyên viên” – Nguyễn Quang Minh “Xuất phát từ thái độ trân trọng những lo âu dằn vặt của người khác, đặc biệt của những tấm gương khả kính, tôi xin bầy tỏ thái độ trân trọng đối với những vị đã gợi ý câu hỏi “trí thức là gì?” – Phạm Việt Hưng “Nhưng gạt bỏ (việc bàn về khái niệm trí thức – NV) để khuyên người khác là nên chuyên tâm vào những việc khác (như những việc đại sự của các nhà có tầm vóc đã làm) và cho là các người (bàn về khái niệm trí thức – NV) là làm chuyện “bánh vẽ” thì tôi cho là trẻ con (nhẹ) hay khinh người, fascist học thuật (nặng)” – Nguyễn Đức Hiệp “Đã là trí thức thì phải là người có tầm, có trách nhiệm và nghĩa vụ xã hội” – GS. Nguyễn Huệ Chi “Biết bao giờ người Việt (ít ra là người Việt có học thức) mới biết tranh luận cho ra hồn” – GS. Phạm Quang Tuấn “Rõ ràng bạn không thể vừa được người ta cấp xe sang (hay tặng nhà to) lại vừa có Tự Do (hay Công Lý). Bạn chỉ có thể chọn một trong hai thứ đó. Lập luận rằng cưỡi xe BMW mới tiến được hoặc tiến nhanh hơn tới Công Lý (hay Tự Do) là ngụy biện, tự dối mình và lừa dối người khác. Đặc biệt, nếu bạn là một người lao động trí óc theo một chuyên môn nào đó, việc bạn chọn cái gì sẽ tự động xếp bạn vào hàng ngũ những ‘trí thức dự khuyết’, hay vào đám học giả xu thời đang ngày càng lạm phát trên đất nước này“ - TS. Nguyễn Đình Đăng “Tôi luôn luôn tâm niệm lời dạy của Francois Rabelais: “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme” (Khoa học vô lương chỉ là sự hư nát của linh hồn). Nói một cách dân dã thì khoa học chẳng là cái đinh gì cả nếu nó không luôn luôn tỉnh thức để đề cao lương tri. Kỳ vọng về phản biện của trí thức chẳng qua là kỳ vọng vào lương tri của trí thức, đơn giản có thế thôi. Chẳng lẽ điều đó sai ư?” – Phạm Việt Hưng “Đóng góp theo kiểu người trí thức có nghĩa là dùng những khả năng mà người ta đặc biệt associate với trí thức: khả năng suy nghĩ độc lập, không để mình bị nhồi sọ hay bịt mắt, biết tự mình suy xét, khả năng tự học, tự tìm information, đánh giá và kết hợp information để có một cái nhìn đứng đắn về xã hội, tự tìm hiểu về những vấn đề của xã hội, và từ đó tự suy ra con đường phải làm gì do sự thúc đẩy của lương tâm. … Nhưng đánh đồng “trí thức” với “từ thiện” với “lao động trí óc” v.v. theo tôi, là muddled thinking” – GS. Phạm Quang Tuấn (Trích từ blog của TS Toán học Lê Văn Út, ĐH Oulu, Phần Lan)
Nguồn: VietnamNet

lượm tin

http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=HRRwNvLfPbs



Chính trị – Xã hội

Nạn nhân thứ 2 chết vì cúm gia cầm (RFA)  —Tại Việt Nam, có thêm ca tử vong thứ hai vì cúm gia cầm kể từ đầu năm nay (RFI)   —Thêm người chết vì cúm gà tại Sóc Trăng (NV)  —Hà Nội bối rối ngày đầu đổi giờ (RFA)  —Hà nội kẹt xe hơn trước khi đổi giờ làm giờ học (RFA)  —Nên hay không nên xây dựng nhà máy điện hạt nhân (RFA)  –Việt Nam được kêu gọi cải thiện nhân quyền (RFA)  —Chỉ số niềm tin kinh doanh sụt giảm mạnh (RFA)
Vụ Tiên Lãng: sẽ xử lý nghiêm bất kể ai vi phạm pháp luật (RFA)  –Giới chức Tiên Lãng phản hồi vụ ông Vươn (BBC) -Đại diện chính quyền huyện Tiên Lãng khẳng định việc thu hồi đất nhà ông Đoàn Văn Vươn là đúng luật và đòi ‘xử lý nghiêm côn đồ’ chống lại công an.  —Vụ Tiên Lãng, Hải Phòng: Chính quyền địa phương đã phá hoại chính sách Nhà nước  (RFI) -Theo luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong vụ ông Đoàn Văn Vươn, việc làm của chính quyền địa phương huyện Tiên Lãng, Hải Phòng là phi pháp, bất nhân.  –’Ðại biểu Quốc Hội’ Nguyễn Tấn Dũng đang ở đâu? (NV)  —Tại sao Bộ Công an chưa khởi tố vụ án hình sự tại Tiên Lãng, Hải Phòng? (Boxitvn)  —TIN NÓNG TỪ HẢI PHÒNG (Nguyenxuandien)  —HOÀNG XUÂN PHÚ: NHÂN VỤ TIÊN LÃNG, BÀN VỀ CÔNG VỤ (NXD)   —-Vụ Tiên Lãng: Không thể là “đáng tiếc” mà phải khấu đầu xin lỗi dân (Culangcat)  —Tiên Lãng sẽ đi vào quên lãng (Nguoibuongio)  —Vì sao chính quyền Việt Nam vẫn im lặng trước ‘Biến cố Đoàn Văn Vươn’? (Việt Hoàng/Thongluan)  –Lương Kháu Lão – Vụ Tiên Lãng, mỗi ngày lại lộ diện một nhân vật phản diện mới (Danluan) —Trần Duy Huỳnh (danlambao) – Vụ Tiên Lãng, đảng thử Dân hay Dân thử đảng?
Nguy cơ chính trị  (BBC) -Phóng viên Reuters tại Việt Nam điểm qua các nguy cơ chính trong nnền chính trị ở Việt Nam.  —Việt Nam ‘không tham gia tập trận’ (BBC) -Bộ Quốc phòng Việt Nam nói hải quân Việt Nam không tham gia cuộc tập trận Milan ở Ấn Độ như báo nước này đưa tin.  —Việt Nam đối đầu sức mạnh mềm Trung Quốc (BBC)  —Để người Đảng dạy thành trí thức (BBC)  —Lời khai của một người Việt chuyên đưa người nhập cư lậu sang Anh (RFI)  —UNPO báo cáo vi phạm nhân quyền đối với dân thiểu số ở Việt Nam (VOA)
Sửa sai lầm hệ thống gốc: đặt đảng trên dân (Bùi Tín -VOA)  –Sự thật về cái chết của Nhất Linh (Kỳ 1) (NV)
Kinh tế
Các khu du lịch Mũi Né ôm nợ nửa triệu đô la (NV)
Thế giới
Triển Vọng Hoa Kỳ (RFA)  —Hoa Kỳ tăng cường vị thế quân sự (RFA)  –Nữ đánh bom tự sát (RFA)  –Bộ trưởng Tư pháp Mỹ lại đối mặt với những chỉ trích về súng  (VOA)  —-NATO họp trong lúc Mỹ, Pháp hối thúc ngưng vai trò chiến đấu ở Afghanistan (VOA)  –Bà Clinton: LHQ cần đứng về ‘lề phải của lịch sử’ trong vấn đề Syria (VOA)
Học gì từ Sự biến đổi của Miến Điện (RFA)
  Lên tiếng với nhật báo Straits Times ở Singapore vào khi đang thăm viếng quốc gia này, tổng thống Thein Sein tuyên bố Miến Điện đã lựa chọn dân chủ và tiếp tục nuôi dưỡng tinh thần đó để có được một nền dân chủ toàn diện cho đất nước.  —Miến Điện đạt ngưng bắn với người sắc tộc Mơn (RFA)  –Miến Điện: Bà Suu Kyi hoãn ngày tập họp chính trị  (VOA)
Báo Times bị điều tra (RFA) —Phẩm chất không khí ở Ấn Độ kém nhất (RFA)  —Ấn Độ phải tăng cường võ trang vì thiết bị cũ và hiểm họa mới (RFI)  —Tối cao Pháp viện Ấn Ðộ giáng đòn nặng vào chính phủ trong vụ án viễn thông (VOA)  –Toà quốc tế chuẩn bị tuyên án Kang Gạc Yêu (RFA)   —Bắc Hàn nói sẵn sàng đàm phán với xứ miền Nam (RFA)
Hai người Châu Âu bị bắt cóc ở Philippines (RFA)  —Philippines triệt hạ ba thủ lĩnh Hồi giáo cực đoan (RFI)  —Nga muốn ngăn cản cuộc biểu tình chống ông Putin  (RFA)  –Biểu tình ủng hộ Putin (BBC)  —Putin yêu cầu giải quyết vụ Lanta-Tur (BBC)  —Nga: Phong trào công dân hình thành trong tranh đấu (RFI) —Nga chỉ trích ủy viên đối ngoại EU can thiệp vào nội bộ Nga (VOA)

Ai Cập: Ẩu đả sau trận bóng đá làm gần 80 người chết (RFI)  —Ai Cập để tang các cổ động viên bóng đá (BBC)   —Dân Ai Cập đổ lỗi cho quân đội về vụ đổ máu trong trận bóng đá (VOA)

Thủ tướng Đức trấn an Trung Quốc về khủng hoảng nợ công châu Âu (RFI)    —Thủ tướng Đức mưu tìm sự hỗ trợ của Trung Quốc về vấn đề Iran (VOA)  —Người giàu Trung Quốc chi tiêu ở nước ngoài 7,2 tỉ đôla vào dịp Tết  (VOA)  –Hoa Kỳ muốn cải thiện quan hệ quân sự với Trung Quốc (VOA)—Bungari cho thay một loạt đại sứ bị tố là cựu nhân viên mật vụ (RFI)   –Facebook nộp đơn xin lên sàn chứng khoán (RFI)

Liên Hiệp Quốc thảo luận nghị quyết về Syria, Hama kỷ niệm cuộc tàn sát 1982 (VOA)  –Hội đồng Bảo an LHQ tiếp tục điều đình về nghị quyết Syria  (VOA)  –Thủ Tướng Pakistan sẽ bị truy tố về tội khinh thường tòa án  (VOA)  –Hơn 110 người thiệt mạng trong đợt rét ở châu Âu  (VOA)  —Nam Hàn, Nhật yêu cầu Mỹ giải thích việc trừng phạt Iran (NV)   —Bốn người Anh thú nhận đặt bom thị trường chứng khoán London (NV)

GS Nguyễn Minh Thuyết: Vụ Tiên Lãng và bài học lòng dân

“Trước một việc nghiêm trọng như vậy, vì sao không thấy nói Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng đã cử người về giám sát? Riêng các đại biểu được người dân Tiên Lãng bầu ra, chẳng lẽ họ phải đợi chính quyền phân công thì mới về gặp dân sao?”
TuanVietnam.Net

GS Nguyễn Minh Thuyết: Vụ Tiên Lãng và bài học lòng dân

Tác giả: Hoàng Hường (Thực hiện)
Bài đã được xuất bản.: 02/02/2012 13:37 GMT+7
.
“Chúng ta đã có bài học về lòng dân từ Thái Bình năm 1997 rồi, nhưng lâu nay có lẽ đã quên, mà quên lần này là hỏng hẳn” – nguyên Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết nhận định.
Những ngày trước và sau Tết Nguyên đán, dư luận xôn xao, bất bình về vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng. Ông có suy nghĩ gì về sự việc này?
Gần một tháng qua, đã có nhiều ý kiến của rất nhiều nhà báo, nhân sĩ, chuyên gia, cựu lãnh đạo, trong đó có ý kiến của Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước; Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên ĐBQH; GS Đặng Hùng Võ,  nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường… phân tích rất đầy đủ, sâu sắc và toàn diện về vụ việc.

Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh cho rằng trong vụ việc này, chính quyền từ huyện đến xã đều sai, khiến cho người dân bị đẩy đến đường cùng phải chống người thi hành công vụ. Trong bài trả lời phỏng vấn đăng tải sáng nay,  nguyên Chủ tịch Lê Đức Anh còn nhấn mạnh: “Đây là việc mà chính quyền Hải Phòng cần phải xử lý thẳng thắn, phải xử lý một cách cụ thể, làm rõ những sai phạm của từng cán bộ địa phương. Muốn được lòng dân thì phải xử lý nghiêm những cán bộ làm sai, không xử lý nghiêm sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân.”
Chuyên gia về đất đai, nguyên Thứ trưởng Đặng Hùng Võ, và nhiều luật sư đã phân tích rất rõ những sai phạm của chính quyền trong việc diễn giải và áp dụng Luật Đất đai, cũng như trong công tác tổ chức cưỡng chế.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước đưa ra những lời nhận định đáng suy ngẫm về tác động xấu của vụ việc tới tình hình an ninh chính trị xã hội của đất nước, coi đây là bài học đắt giá về công tác lãnh đạo.
Gần đây nhất có một bài viết hết sức công phu và thuyết phục của GS Hoàng Xuân Phú, công tác ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Ông phân tích hành vi của cơ quan công quyền trong vụ việc này là hoàn toàn sai trái, không thể gọi là thi hành công vụ một cách chính danh.
Tất cả các ý kiến phát biểu và bài viết nói trên đều đã nói rất đầy đủ những điều cần nói.
Tôi chỉ muốn nói thêm rằng bên cạnh hành vi thu hồi đất trái pháp luật, chính quyền huyện Tiên Lãng còn bội tín với dân, thể hiện qua việc lập biên bản hoà giải tại toà án đồng ý cho dân tiếp tục thuê đất để dân rút đơn kiện, rồi bất ngờ đem lực lượng đến cưỡng chế. Đây có thể coi là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, không thể chấp nhận được, làm mất đi tính chính danh của chính quyền.
Hơn nữa, việc tổ chức lực lượng cưỡng chế hàng trăm người, dồn ép dân, hủy hoại tài sản của dân ngay trước Tết Nguyên đán là hành động trái đạo lý, vô nhân đạo và vi phạm trắng trợn pháp luật của những người có chức vụ ở Tiên Lãng cũng như TP Hải Phòng.
Nguyên Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết. Ảnh: Lê Anh Dũng
Qua toàn bộ sự vụ, những phát ngôn mập mờ, bất nhất và vô trách nhiệm của những người có trách nhiệm, có thể thấy đằng sau vụ việc này có dấu hiệu tư lợi.
Điều tôi băn khoăn hơn cả là các ban ngành, từ Trung ương đến địa phương vào cuộc quá chậm. Vụ việc đã xảy ra cả tháng, ngoài Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cử đoàn giám sát về trước Tết, đến nay mới thấy Bộ Tài nguyên Môi trường, Thanh tra Chính phủ bắt đầu vào cuộc.
Các ĐBQH ở đâu trong vụ Tiên Lãng?
LS Lê Đức Tiết, thành viên đoàn giám sát của UB Mặt trận tổ quốc về Tiên Lãng có bày tỏ trăn trở vì sao một sự việc mà có hai cách nhìn nhận sự việc hoàn toàn đối lập nhau gay gắt giữa cán bộ Đảng, chính quyền, cán bộ Mặt trận xã, huyện, của cán bộ chính quyền tỉnh với nhân dân dịa phương. Theo ông, vì sao lại có hiện tượng như vậy?
Cũng phải hỏi thêm rằng tại sao không chỉ có nhân dân Tiên Lãng mà báo chí và các chuyên gia, các cựu lãnh đạo cũng đứng về một phía khi nhận định về vấn đề Tiên Lãng. Vì sao lại thế?
Và tại sao trong toàn bộ sự việc không hề thấy bóng dáng các đại diện của nhân dân ở đâu. Ngoài đại diện của Hội nghề cá, thì các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân TP Hải Phòng và huyện Tiên Lãng đang ở đâu?
Trước một việc nghiêm trọng như vậy, vì sao không thấy nói Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng đã cử người về giám sát? Riêng các đại biểu được người dân Tiên Lãng bầu ra, chẳng lẽ họ phải đợi chính quyền phân công thì mới về gặp dân sao?
Thông thường mỗi người dân nước ta đều có đến 7 – 8 đại diện từ các hội đoàn, tổ chức… thế mà suốt tháng nay không thấy một đại diện nào của người dân huyện Tiên Lãng và TP Hải Phòng lên tiếng, ngoài các vị đóng cả vai hành pháp, lên tiếng đòi xử lý dân về hành động chống người thi hành công vụ hoặc đổ lỗi cho dân. Vậy trách nhiệm của người đại diện nhân dân ở đâu?
Không chỉ LS Lê Đức Tiết băn khoăn về ‘hố ngăn cách’ giữa dân và chính quyền, mà từ lâu cơ chế làm việc của ta đã thể hiện nhiều bất cập.
Báo chí cũng chỉ ra những mối quan hệ mật thiết có dấu hiệu cấu kết phe cánh, tư lợi như anh em ruột chủ tịch huyện Tiên Lãng, chủ tịch xã Vinh Quang; tên tuổi của những người sẽ được giao đầm tôm sau khi thu hồi và quan hệ của họ với những người trong chính quyền.
Tệ hơn, đã có những thông tin về các tay anh chị giang hồ xuất hiện trong vụ cưỡng chế. Tại sao chính quyền lại có thể sử dụng hoặc “phối hợp” với giang hồ trong vụ cưỡng chế.
Chẳng lẽ đã đến mức chính quyền “đi đêm” với những lực lượng như thế trong việc trấn áp dân?
Dân không phải là địch
Theo ông, nên nhìn sự kiện Tiên Lãng như một hiện tượng cá biệt hay là một dấu hiệu cảnh báo những nguy cơ bất ổn như nhận định của LS Lê Đức Tiết rằng, Tiên Lãng là lời cảnh báo cho những “cơn sóng ngầm trong lòng dân“?
Thật ra những mâu thuẫn giữa chính quyền địa phương với nhân dân xung quanh chuyện thu hồi đất đai, giải phóng mặt bằng không phải xảy ra lần đầu. Nếu chỉ có một vài vụ thì có thể nói đó là sai sót của một vài địa phương. Nhưng khi một hiện tượng xảy ra phổ biến, chiếm tới 80% các vụ khiếu kiện thì có thể nói là cái sai của chính sách.
Không được giải quyết hợp lý hợp tình, đất đai sẽ là ngòi nổ của những vụ gây mất ổn định xã hội.
Vụ cưỡng chế đầm nuôi tôm ở Tiên Lãng là một vụ đỉnh điểm để chúng ta nhìn lại nhiều vấn đề: 1, lòng dân; 2, chính sách đất đai; 3, việc thực hiện quyền dân chủ; 4, trách nhiệm “công bộc” của Nhà nước trước dân.
Để giải quyết tận gốc vấn đề, theo tôi, việc đầu tiên phải quán triệt một vấn đề tưởng hiển nhiên, nhưng đang bị nhiều lãnh đạo nhầm lẫn: DÂN KHÔNG PHẢI LÀ ĐỊCH.
Đối xử với dân, tức là những người chủ của đất nước, phải thực sự “kính trọng và lễ phép”, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”  như lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chúng ta đã có bài học về lòng dân từ Thái Bình năm 1997 rồi, nhưng lâu nay có lẽ đã quên, mà quên lần này là hỏng hẳn.
GĐ Công an Hải Phòng, Đỗ Hữu Ca cho rằng việc huy động hàng trăm chiến sĩ lực lượng vũ trang xuống cưỡng chế đầm là một việc làm bình thường, nhưng ngay cả những nhà lãnh đạo, cựu tướng lĩnh quân đội lại cho rằng đó là việc làm tùy tiện. Ý kiến của ông?
Tôi không biết TP Hải Phòng đã chỉ đạo như thế nào. Nhưng từ ý kiến của ông GĐ Công an Hải Phòng đến các ý kiến khác của lãnh đạo của Hải Phòng và Tiên Lãng, tôi thấy nổi lên một điều: nhiều lãnh đạo ở Hải Phòng không phân biệt nổi mâu thuẫn ta – địch với mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
Công dân Đoàn Văn Vươn là người lao động chân chính và có công. Nếu Hải Phòng muốn thu hồi đất, nếu đúng pháp luật, thì có nhiều cách làm một cách đàng hoàng chính danh.
Nhưng nhà chức trách ở Hải Phòng lại tổ chức tấn công ông Đoàn Văn Vươn không khác gì một kẻ địch thì sai quá, sai hoàn toàn về nguyên tắc.
Khi thấy ông Đỗ Hữu Ca nói rằng “vụ cưỡng chế là một chiến tích lớn của công an Hải Phòng”, tôi vô cùng sửng sốt, không thể tin nổi đây là ý kiến của một giám đốc công an TP.
Ông Ca dùng các cụm từ “rất là hay”, “rất là đẹp” nói về sự phối hợp tác chiến trong vụ cưỡng chế. Thú thật là tôi không biết bình luận thế nào.
Tôi chỉ nhớ nhà thơ Việt Phương từng kể một mẩu chuyện về Bác Hồ mà ông đề cập đến trong bài Muôn vàn tình thương yêu trùm lên khắp quê hương. Có lần Bác Hồ đã gạch bỏ cụm từ “trận đánh đẹp” trong một văn bản trình lên Bác. Bác nói một trận chiến làm chết nhiều người, dù người ở phía nào chăng nữa, đều không thể gọi là một trận đánh đẹp.
Đấy là đánh nhau với địch, còn đây là quan hệ với dân. Ông Ca còn bảo định viết thành giáo trình nghiệp vụ, thì tôi không hiểu giáo trình ấy viết ra để dạy ai?
Ảnh: Lê Anh Dũng
Phải thừa nhận quyền sở hữu đất đai của dân
Nhiều ý kiến cho rằng, vụ việc Tiên Lãng một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo cấp thiết về hiện trạng bất cập của Luật Đất đai hiện hành, tạo ra những kẽ hở để chính quyền địa phương tùy tiện diễn dịch luật theo ý muốn chủ quan của mình, gây nên mâu thuẫn tích tụ với người dân, có nguy cơ bùng nổ bất kỳ lúc nào. Từng là Đại biểu Quốc hội nhiều khóa, ông thấy Quốc hội đã nhìn nhận vấn đề này ra sao?
Tôi tham gia 2 khóa Quốc hội. Khóa 11 chính là nhiệm kỳ thông qua Luật Đất đai. Đã có nhiều đại biểu đưa ra những ý kiến rất thẳng thắn về vấn đề sở hữu đất đai. Bản thân tôi từng phát biểu, đề nghị Quốc hội thừa nhận quyền sở hữu đất đai của người dân, ít nhất là theo hạn điền, nhưng đã không được chấp nhận.
Nhìn lại quá khứ, có lúc chúng ta đã xếp những người giàu có, sở hữu nhiều đất đai, nhà xưởng, thuê công nhân làm việc vào loại thành phần “bóc lột” và ép họ đưa tài sản vào công tư hợp doanh.
Đến thời kỳ Đổi Mới, ta thấy đó là sai lầm. Chính những người chủ tư sản ấy đã tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần quan trọng làm ra của cải xã hội, tạo nên sự phồn vinh của xã hội. Bây giờ ta lại phải khuyến khích những thành phần ấy phát triển. Tốt nhất là không đề ra chính sách sai. Nhưng sai thì phải sửa.
Chính những bất cập về chính sách đất đai trong Hiến pháp và Luật Đất đai đang tạo khe hở cho một bộ phận cán bộ có chức có quyền làm dụng chức vụ kiếm lợi, đẩy người dân vào cảnh khốn khó. Nhưng ta lại chưa kịp thời trừng trị những cán bộ như thế để bảo vệ dân. Đừng để đến một lúc nào đó bức xúc vỡ tung ra, giống như vụ Tiên Lãng thì trở tay không kịp.
Có đồng chí lãnh đạo từng nói nếu cứ kỷ luật hết thì lấy ai làm việc, nhưng hiện giờ rất nhiều người có tâm có tài còn đang chưa được sử dụng đúng vị trí, thậm chí nhiều người còn đang chưa có việc làm. Phải sàng lọc liên tục thì mới chọn ra được người tốt, người giỏi. Còn cứ chạy vào được vị trí nào rồi bám chặt vị trí ấy cho đến lúc … già thì đất nước làm sao chọn được nhân tài mà tiến lên?
Theo dự kiến, Quốc hội sẽ xem xét thông qua Luật Đất đai mới trước năm 2013. Căn nguyên của bất cập luật đất đai, theo nhiều nhà làm luật là quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Chính quy định mập mờ này đã tạo ra những khe hở pháp lý, dẫn đến tình trạng “đất dân, quyền quan”, chính quyền địa phương muốn thu hồi đất của dân lúc nào cũng được. Nhưng liệu chúng ta đã có đủ ý chí chính trị, và thời điểm đã chín muồi để luật công nhận một cách chính thức quyền sở hữu đất đai của người dân?
Luật pháp quy định đất đai là sở hữu toàn dân, nhưng ‘toàn dân’ là ai, rất chung chung. Cuối cùng từ toàn dân lại thành của riêng một vài người.
Khi thu hồi đất, nhất là đất nông nghiệp, giá đền bù gần như lấy không, chỉ mấy hôm sau giá đất ấy đã lên hàng trăm lần. Mọi thiệt thòi đều do dân gánh chịu.
Chuyện này đã kéo dài quá lâu rồi, nhưng đến nay chúng ta vẫn chưa đưa ra được những giải pháp thực sự hợp lý cho chính sách đất đai. Nếu bây giờ không có sự đổi mới tư duy, ta sẽ mãi không giải quyết được vấn đề.
Ta nên đặt câu hỏi, tại sao nhiều nước khác thừa nhận quyền sở hữu đất đai nhưng họ không lo mất đất, mất quyền làm chủ hay mất nhân dân. Họ thừa nhận được, tại sao mình lại không?
Tôi nghĩ đây chính là lúc chúng ta nên bàn thảo nghiêm túc, nghiên cứu những giải pháp đền bù hợp lý cho đất đai, và thừa nhận quyền sở hữu đất đai của dân.
Xin cảm ơn ông!
Nguồn: VietnamNet