Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

Tin khó tin: Cá sấu Thủ Lệ kêu meo meo và vẫy đuôi như chó


(LĐO) Đào Tuấn (tổng hợp) 

Anh Chủ tịch nói lời cay đắng rồi phóng biển xanh qua sở thú ngắm cá sấu massage. Trong khi đó vua Đinh mặt rồng phừng phừng lửa giận, tuốt gươm thét lớn: Tình yêu non sông gấm vóc cái kim tiêm à!

Chào mừng bạn trở lại với Tin khó tin
Bà con phấn khởi bấm nhiều nút lai...
Hôm qua, dân gian có thơ thế này:
An Giang, trong một buổi chiều
Bà con phấn khởi bấm nhiều nút lai...

Chả là hôm qua, Thứ trưởng Bộ TTTT Trương Minh Tuấn đã làm bà con, không chỉ ở An Giang “bấm like kịch liệt” khi trong một bài phỏng vấn, ông đã khẳng định quá xác đáng. Rằng nói gương mặt “Chủ tịch kênh kiệu” hay “ông Chủ tịch không gần dân”, đó là một nhận xét đầy cảm tính. Với nhận xét đó, chúng tôi chưa thấy đủ yếu tố và đến mức độ để cơ quan chức năng xử lý người ta vi phạm hành chính.
Chủ tịch An Giang: Cái gì mình tha thứ được thì tha thứ (ảnh Tuyên giáo An Giang)
Và việc nhiều cơ quan (16 cơ quan thưa các bạn!) cùng vào cuộc xác minh, họp hành, ra quyết định xử phạt hành chính và kỷ luật Đảng là việc làm tùy tiện và có dấu hiệu lạm quyền. Xem thêm tại đây 
Trong khi đó, Vương chủ tịch mặc dù nói lời cay đắng là “khổ sở”, nhưng vẫn kiên định quan điểm: Cái gì mình tha thứ được thì tha thứ, quan trọng là người làm sai biết sửa. Xem thêm tại đây 
Giá như ông Chủ tịch nghĩ xa hơn cái sống mũi thì hiểu ngay rằng người làm sai phải biết sửa chính là cái bộ máy 16 cơ quan nhà ông đang ăn hiếp những người dân lành chỉ vì 2 chữ kênh kiệu và một cái bấm like. Giá như ông thật sự cầu thị thì đã hiểu được rằng người có quyền tha thứ phải là người dân An Giang chứ không phải cái mặt 5 triệu.
Dê nhầm nhà, danh sách nghèo lỗi đánh máy, nhà tình nghĩa… xây nhầm địa chỉ
Tôi nói thật là đã suy nghĩ về hoàn cảnh của người bí thư chi bộ trong bàn tin này. Xem thêm tại đây 
Ngôi nhà 3 tầng của đồng chí “bí thư hộ nghèo” (Ảnh Doisongphapluat)
Ông có vợ mắc bệnh nan y - một thứ bệnh mà có thể, tài sản sẽ lần lượt đội nón ra đi - không ngoại trừ cả việc rơi xuống hộ nghèo. Nhưng hoàn cảnh không phải là lý do để một người có chức có quyền có thể lợi dụng chính sách.
Bởi nếu một người có nhà 3 tầng, có tiền mua ô tô mà lại hưởng chính sách hộ nghèo, có nghĩa là có một người nghèo và đói mất đi một bát cơm trong mỗi bữa ăn. Có nghĩa là lẽ công bằng đang què thêm một chân.
Ông bí thư có thể nói ông nghèo - nhưng cái nghèo, nếu có, là nghèo lòng tự trọng. Chỉ an ủi là nghèo tự trọng là căn bệnh không ít phổ biến.
Đấy, vừa hôm qua, huyện Phước Long tỉnh Bạc Liêu vừa lá lành đùm lá rách cho một người dân ở huyện Hồng Dân. Chỉ có điều, đó là đùm nhầm, chỉ có điều cái lá đó không rách, có điều, cái lá đó mọc trên cây gia tộc của đồng chí Bí thư huyện ủy Phước Long. Xem thêm tại đây 
Những “người hùng đóng thuế” xây trụ sở 100 tỉ ở Quảng Nam (Ảnh Thanh Niên)
Con dê đi nhầm nhà, bản danh sách lỗi đánh máy và nhà tình nghĩa… xây nhầm địa chỉ. Chao ôi, những người làm chính sách mà quay sang viết văn thì với trí tưởng tượng phong phú thế này chẳng mấy đất Việt sẽ có tên trên bản đồ Nobel thế giới.
Lò đào tạo đâm kim chuyên nghiệp thì có
Hôm qua, đi qua siêu xa lộ 10 làn đường đang dùng để “phơi tép” ở Hà Tĩnh, PV báo Giao thông đã đến với những vùng mà người dân đang hàng ngày “đánh đu với tử thần” khi qua lại trên những chiếc cầu phao tạm bợ đã lên lão, những con đò bám dây hay những cây cầu siêu vẹo sập lúc nào không biết.
Nơi đó, có những đứa trẻ đã chết. Nơi đó, 240 tỉ của cái siêu xa lộ có thể xây được cả chục cây cầu. Xem thêm tại đây 
Tượng đài kim tiêm (Ảnh Dân trí)
Hôm qua, PV Thanh Niên đã đến với những khổ sở, lạc hậu, nghèo đói, phía sau của những trụ sở hành chính trăm tỉ ở Nam Giang, Quảng Nam để thấy rằng chính những người dân đang phải trèo lội suối bòn ruộng mót nương từng xu các để đóng thuế lấy tiền ngân sách xây trụ sở. Xem thêm tại đây 
Những con người cả đời bán mặt cho đất, bán lưng cho giời ấy, nhìn trụ sở nguy nga hoành tráng mà không tưởng lâu đài cung điện thì mới là lạ chứ.
Ấy thế mà, Thưa các bạn, cơn sốt lâu đài, bảo tàng, tượng đài hóa ra bịt được chỗ này lại lòi ra chỗ khác. Sơn La chưa qua Đắc Nông đã tới. Xem thêm tại đây 
Tôi gạch đầu dòng giúp bạn 2 chi tiết không thể bỏ qua này. Đắc Nông từng định “huy động từ doanh nghiệp, công nhân viên chức, học sinh trong toàn tỉnh”. Và thứ 2: Cái tượng đài 146 tỉ đấy, tương đương với 1/10 ngân sách toàn tỉnh thu trong một năm.
Bạn hỏi tượng đài xây xong rồi để làm gì?
Chẳng may hết vốn giữa chừng thì nó có thể bị bỏ hoang như bảo tàng Vịnh Mốc (Quảng Trị). Nơi mà 5,5 tỉ bạc đang thử thách dưới nắng mưa. Xem thêm tại đây 
Còn nếu có cách để “huy động sức dân” và tiền ngân sách thì nó có thể trở thành bãi đáp cho các anh “họ nghiên” như tượng đài vua Đinh Tiên Hoàng trong quảng trường ngàn tỉ ở Ninh Bình. Xem thêm tại đây 
Tôi nói thật, sau khi Dân trí đưa mấy cái ống tiêm dưới chân nhà vua đứng cắp kiếm lên báo, tôi chỉ mong ngài còn sống, thế nào mặt rồng cũng phừng phừng lửa giận, tuốt gươm “cẩu đầu trảm” cho phát - cái lũ phạm thượng.
Xe biển xanh ngành thuế đi “uống nước” ở tiệm massage (Ảnh Doanhnghiep)
Giáo dục tình yêu non sông gấm vóc cái gì. Có mà thành lò đào tạo đâm ven xỏ kim chuyên nghiệp thì có.
Xe biển xanh đi “uống nước” trong tiệm massage
Nhân câu chuyện sẽ có hơn 4.000 biên chế nhà nước phải giảm trong năm 2016 - một chỉ tiêu cụ thể thật sự thể hiện quyết tâm của Chính phủ, báo điện tử VNN hôm qua đã đặt ra một câu hỏi khó: sao nghề công chức lúc nào cũng hot? Xem thêm tại đây 
Cũng lạ, lương thì 3 cọc 3 đồng mà sao có đến 2,8 triệu công chức, mà sao ai cũng muốn lao vào con đường công chức, thậm chí phải “nã đạn” cả trăm triệu chỉ để vào được bộ máy nhà nước.
Tờ báo trả lời, rằng đó là cái tâm lý “một người làm quan cả họ được nhờ”, rằng mục tiêu là để “làm quan và đổi đời”. Chưa kể thực tế từng được công khai tại nghị trường: Hậu duệ rồi mới đến quan hệ và tiền tệ.
Và hôm qua, các công chức ngành thuế Hải Dương đã trả lời giúp câu hỏi này. Đây, ngay trong giờ hành chính, bằng xe biển xanh, họ đi “uống nước” trong tiệm massage tên gọi “Nhật Nguyệt Lầu” suốt 2 tiếng rưỡi đồng hồ. Xem thêm tại đây 
Bài báo dài ơi là dài, đáng chú ý có lời giải thích của một quan chức ngành thuế: “Ngày hôm ấy ở cơ quan có một số đồng chí đi làm việc trên Hà Nội, chắc là trên Hà Nội “khó” có chỗ để xe nên các đồng chí vào… “chỗ đó”.
Còn “Massage cũng là bình thường mà, đến chị còn đi nữa là” và “việc sử dụng xe công vụ đi “giải trí” trong giờ hành chính là hoàn toàn “bình thường”.
Tôi nghĩ mai tờ Doanh nghiệp sẽ phải tung ra cái clip thôi, chứ từ năm ngoái, ngành thuế đã quyết tâm xử lý nghiêm công chức thuế bỏ vị trí công việc, hoặc làm việc riêng trong giờ rồi. Xem thêm tại đây 
Biết đâu họ vào đó để kiểm tra… môn bài lầu xanh.
Đẩy “bộ phận không nhỏ” sang láng giềng
Tờ Tuổi trẻ, trong một sự liên tưởng thi vị nói đến chuyện “con cá sấu lim dim sưởi nắng trong một ngày đúng ra phải là đông giá". Bạn sẽ ngạc nhiên. Chẳng có gì lạ cả. Vì Hà Nội thì làm gì có tham nhũng.Xem thêm tại đây 
Tướng Trần Văn Độ: Chưa có một cơ quan, địa phương nào tự mình phát hiện ra ở trong cơ quan, địa phương có tham nhũng (Ảnh Quochoi)
Bài báo, theo tôi có một câu cực đắt: “Ai cũng bức xúc, ai cũng than phiền về tham nhũng. Song ít ai dám công khai vạch mặt nguyên nhân và dũng cảm chống tham nhũng. Rất đơn giản: hóa ra chúng ta rất sợ hãi tham nhũng, tựa như sợ hãi con cá sấu ngủ trưa kia”.
Nhưng tôi nghĩ còn có một câu trả lời nữa, cho con cá sấu bình thản sưởi nắng- điều mà ĐBQH Trương Trọng Nghĩa đã nhắc tới trước nghị trường: Người tham nhũng đang xử lý người chống tham nhũng.
Hôm qua, trong khi tướng Độ, một thẩm phán đeo cành tùng lấy thực tiễn ra nói chuyện “Chưa có một cơ quan, địa phương nào tự mình phát hiện ra ở trong cơ quan, địa phương có tham nhũng” nhất là trong thời điểm "hoàng hôn nhiệm kỳ" sắp hết nên thôi khỏi làm gì nữa, nhường lại cho nhiệm kỳ sau. Xem thêm tại đây 
Thì Hà Nội cũng nhân đà “Sông Tô trắng trẻo mịn màng” tiếp tục cho nhân dân thư giãn với khẳng định: Không có cán bộ nào nhận quà sai quy định. Xem thêm tại đây 
Tôi chỉ ước ngay ngày mai các địa phương sẽ nô nức nhập Tràng (an) để học hỏi kinh nghiệm đặng cuối năm sẽ đẩy “bộ phận không nhỏ” sang láng giềng. Khi ấy, cả nước sẽ: "Không có cán bộ nào mua dâm". Không cán bộ nào không hoàn thành nhiệm vụ. Không cán bộ nào cắp ô. Không cán bộ nào kê khai không trung thực. Không cán bộ nào giàu bất thường.
Tôi muốn hỏi các bạn một điều rằng phải chăng khi ấy ngay cả cá sấu trong vườn thú Thủ lệ cũng sẽ biết kêu meo meo và vẫy đuôi như chó nữa?

Cực đoan và hận thù là nguyên nhân của mọi tai họa

"...Có thể nói cực đoan, cuồng tín, và hận thù là nguyên nhân của mọi tai họa. Nó vừa là hệ quả vừa là nguyên nhân dẫn đến bạo lực và khủng bố, xung đột và chiến tranh. Khi cực đoan và hận thù đã trở thành tâm thức (state of mind) thì càng nan giải..."


Muốn chống khủng bố và chấm dứt bạo lực, không chỉ dùng bạo lực, mà phải vận dụng cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm để hóa giải. Bạo lực sẽ tiếp nối bạo lưc, hận thủ sẽ đẻ ra hận thù, như một cái vòng luẩn quẩn nguy hiểm (vicious circle).

Người ta có thể tiêu diệt hay bắt sống những tên khủng bố tại Paris, có thể ném bom tiêu diệt các căn cứ IS ở Syria, nhưng khó lòng chấm dứt được khủng bố. Chừng nào cực đoan và hận thù còn tồn tại, nó sẽ sản sinh ra tiếp các nhóm khủng bố mới.

Như bệnh ung thư đã di căn, người ta không thể dùng dao kéo cắt bỏ hết được, mà phải kết hợp hóa xạ trị và thay đổi cách sống, may ra mới cứu vãn được tính mạng. Khi cực đoan và hận thù đã trở thành tâm thức, bạo lực và khủng bố có thể xảy ra mọi lúc mọi nơi, trong quan hệ quốc gia quan hệ xã hội, cũng như trong gia đình (domestic violence).

Vì vậy, muốn xóa bỏ tân gốc khủng bố và bạo lực, phải đánh thức lòng nhân ái và sự tử tế của con người, để thay thế cho cực đoan và thù hận. Phải vận dụng năng lượng tích cực thay thế cho năng lượng tiêu cực đang xói mòn các giá trị cốt lõi của con người.

Cực đoan và cuồng tín thường có nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng điển hình nhất là mấy dấu hiệu phổ biến sau đây (common indicators):

1- Không chịu lắng nghe, mà chỉ muốn người khác nghe theo mình (chủ quan, võ đoán). Khi phải nghe ý kiến người khác thì chỉ thích nghe những gì giống mình, còn bác bỏ những gì khác mình, không cần biết đúng sai, hay dở.

2- Bảo thủ, cứng nhắc, không chịu thay đổi, dị ứng với cái mới và sự khác biệt. Hay định kiến và cố chấp, không thích tranh luận và phản biện. Luôn khẳng định và phủ định, luôn cho mình là đúng, ai không giống mình là sai…

3- Độc quyền, độc đoán và độc ác, không có lòng nhân ái vị tha, không chịu hợp tác và thỏa thuận. Tham lam vô độ, không muốn chia sẻ quyền lợi. Tính cá nhân cao, tính cộng thấp, chỉ quan tâm đến lợi ích riêng hay lợi ích nhóm...

“Terror in Little Saigon”: Sống trong sợ hãi?

Gần đây, khi PBS chiếu bộ phim tài liệu “Terror in Little Saigon” (3/11/2015) dư luận trong nước và ngoài nước (đặc biệt là cộng đồng người Việt hải ngoại) lại ồn ào, lật lại một trang sử đau buồn đã diễn ra cách đây 2-3 thập kỷ, như một vết thương cũ chưa lành.

Đằng sau những tranh cãi ồn ào (ai là thủ phạm) có một sự thật đáng buồn: Sau chiến tranh, người Việt (trong nước và hải ngoại) vẫn tiếp tục “sống trong sợ hãi”, vẫn chưa thoát khỏi bóng ma chiến tranh như “tù binh của quá khứ”. Vì vậy, họ không thể hòa giải, không phải chỉ giữa hai phía, mà còn ngay trong lòng cùng một cộng đồng.

Những người Việt cực đoan và thù hận, dù đứng về phía nào trong sân khấu chính trị (cộng sản hay chống cộng), họ đều giống nhau. Cực đoan thường dẫn đến độc tài và chuyên quyền; Cuồng tín dẫn đến bảo thủ và lú lẫn; Thù hận dẫn đến bạo lực và xung đột; Tham lam dẫn đến tham nhũng và chiếm đọat. Đó mới là những thứ cần phải chống.

Người ta nói không thể thay đổi được quá khứ, nhưng có thể tạo dựng lại tương lai. Nhưng phải minh bạch về quá khứ, mới tha thứ được cho nhau và hòa giải dân tộc, để cùng đối phó với nguy cơ mới đang đe dọa lợi ích chung của dân tộc. Tại sao người Đức có thể hòa giải được (sau chiến tranh và sau thống nhất) mà người Việt lại không làm được?

Phải chăng tư tưởng cực đoan và lòng hận thù, là di chứng của một cuộc chiến đẫm máu và tàn khốc (cả chiến tranh cục bộ lẫn nội chiến) vẫn còn đeo đẳng cả hai phía, làm vô hiệu hóa những nỗ lực và cơ hội hòa giải. Nhiều năm sau chiến tranh, người Việt trong nước và hải ngoại vẫn là nạn nhân của cực đoan và hận thù, của bạo lực và khủng bố.

Điều cần nói là có một số người trong chính quyền Mỹ lúc đó đã bảo vệ và dung túng cho những người Việt chống cộng cực đoan, dùng bạo lực để đe dọa và giết hại các nhà báo gốc Việt không cùng quan điểm, bất chấp luật pháp. Cộng đồng người Việt phải liều mạng vươt biên để định cư tại Mỹ một đất nước có tự do dân chủ, nhưng họ vẫn “sống trong sợ hãi” vì bị chính đồng bào của họ khủng bố. Đó là một sự thật trớ trêu khó phủ nhận.

Đã 4 thập kỷ sau chiến tranh, và 2-3 thập niên sau những vụ giết hại 5 nhà báo gốc Việt tại Mỹ. Những tư liệu mới thu thập mà Frontline và ProPublica đã sử dụng trong phim “Terror in Little Saigon”, dù chưa đầy đủ, nhưng đã bạch hóa được một phần trang sử đau buồn mà nhiều người vẫn chưa quên. Họ không dám nói ra vì “sống trong sợ hãi”.

Không phải chỉ có những vụ khủng bố và giết hại 5 nhà báo gốc Việt ở Mỹ đã bị bưng bít (bởi những động cơ bất lương), mà còn 73 nhà báo gồm nhiều quốc tịch khác nhau đã bị “mất tích” (tức bị giết kín) trong chiến tranh Việt Nam, vẫn bị bưng bít và trôi vào quên lãng, không được các chính phủ (Mỹ và Việt Nam) hợp tác tìm kiếm (như MIA).

Khi vụ khủng bố tòa báo Charlie Hebdo (tại Paris) xảy ra, Tổng Thống Obama đã hứa giúp nước Pháp “đưa bọn khủng bố ra trước công lý”. Nhưng đối với bọn khủng bố giết hại 5 nhà báo gốc Việt trên đất Mỹ, ông đã làm gì? Đối với 73 nhà báo quốc tế (trong đó có cả nhà báo Mỹ) bị mất tích trong Chiến tranh Việt Nam, ông và chính quyền đã làm gì?

Những ý kiến phản đối bộ phim “Terror in Little Saigon” có nhiều động cơ, trong đó có tâm trạng hoảng sợ vì những gì được bưng bít lâu nay có thể bị tiết lộ. Ví dụ, ông Nguyễn Xuân Nghĩa, một cựu lãnh đạo của Mặt Trận cho biết “K-9” là có thật, do ông Phạm Văn Liễu điều phối, mục tiêu ám sát đầu tiên là chính ông (Nguyễn Xuân Nghĩa), mục tiêu thứ hai là Đỗ Ngọc Yến (chủ báo Người Việt), nhưng ông Trần Khánh Vân đã lãnh đạn thay.

Khi có người bị giết hại chỉ vì bất đồng chính kiến (hay để bịt miệng), thì người ta im lặng một cách khó hiểu. Khi có những nhà báo có uy tín điều tra quá khứ, đánh động lương tâm để giúp nhau tìm ra thủ phạm, thì người ta hoảng sợ. Tâm trạng này giống một dạng tâm thần hoang tưởng, không dám đối diện với sự thật (dù đã 2-3 thập niên trôi qua).

Tuy không thể thay đổi được quá khứ, nhưng cố tình bưng bít sự thật lịch sử, dù núp dưới bất kỳ chiêu bài nào, đều là bất lương và tội lỗi. Với tinh thần đó, những người tử tế và khách quan cần ủng hộ ProPublica và Frontline (và những người khác) tiếp tục điều tra để làm rõ sự thật, không phải chỉ để an ủi thân nhân những người bị giết hại (hay mất tích), mà còn để khép lại quá khứ, như một vết thương chiến tranh vẫn chưa thành sẹo.

“Terror in Paris”: Một bước ngoặt mới?

Sau vụ khủng bố kinh hoàng tại New York (11/9/2001), mở màn cuộc chiến chống khủng bố, có người ví vụ khủng bố tại Paris (13/11/2015) là một bước ngoăt tương tự, làm thay đổi cuộc chơi (game changer). Khác với vụ tấn công tòa báo Charlie Hebdo (14/1/2015), đây là một cuộc tàn sát đẫm máu, làm 129 người chết và hơn 350 người khác bị thương.

Đối với Paris, đây không phải lần đầu, cũng không phải lần cuối. Chưa biết tiếp theo sẽ là nơi nào, Brussels hay Berlin hay London? Các nước Phương Tây tấn công IS chỉ là duyên cớ trực tiếp để IS trả thù, và làn sóng di cư vào châu Âu chỉ là cơ hội tốt để IS lợi dụng. Ai cũng biết IS không đẻ ra từ chân không và không hề đơn độc.

Theo Tổng thống Nga Putin (tại hội nghị G20) có hơn 40 quốc gia tài trợ cho IS, trong đó có một số quốc gia trong nhóm G-20. Một số quốc gia “chơi con bài IS” nhằm thực hiện mưu đồ chính trị của mình. Lẽ ra phải tiêu diệt IS ngay từ đầu khi mới hình thành thì người ta lại lợi dụng nó, nuôi dưỡng nó, cung cấp vũ khí cho nó để dùng nó chống lại một số quốc gia khác. Không biết lời cáo buộc này chính xác tới đâu, đó là một phần sự thật.

Có thể hệ thống tổ chức của IS nay hiệu quả hơn. Có thể hệ thống an ninh của Pháp và Châu Âu lơ là cảnh giác và chủ quan trước những thách thức mới. Nhưng dù các chính phủ có thắt chặt an ninh và phối hợp tình báo hiệu quả hơn, hay phối hợp hành động mạnh tay hơn, thì cuôc chiến chống khủng bố vẫn đầy phức tạp và chưa nhìn thấy lối thoát.

Chừng nào các quốc gia còn theo đuổi chủ nghĩa dân tộc cực đoan và tranh chấp nhau. Chừng nào các cộng đồng sắc tộc và tôn giáo còn chia rẽ và hận thù, không muốn hòa giải, từ chối dân chủ hóa, thì còn miếng đất màu mỡ cho cực đoan và bạo lực. Muốn ngăn chặn khủng bố diễn ra tại New York hay Paris, phải ngăn chặn từ gốc, và từ trước.

Điều đáng lo ngại là nhiều thanh thiếu niên từ các nước khác nhau, gồm nhiều thành phần (kể cả sinh viên và trí thức) vẫn tiếp tục nghe theo tiếng gọi “thánh chiến” của thế lực Hồi giáo cực đoan, đầu quân làm những kẻ đánh bom cảm tử. Vậy cái gì thúc đẩy họ từ bỏ cuộc sống bình thường để trở thành cực đoan (radicalized) và liều chết?

Cuộc chiến chống khủng bố phải là cuốc chiến toàn diện, trên phạm vi toàn cầu, chống lại tư tưởng cực đoan và hận thù, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bạo lực và khủng bố, xung đột và chiến tranh. Vì vậy, các quốc gia phải đồng lòng phối hợp, vận dụng cả sức mạnh cứng lẫn sức mạnh mềm, mới có thể hóa giải được nó tận gốc. Cuôc chiến chống khủng bố rất tốn kém và còn khó khăn hơn cả chống du kích trong rừng rậm nhiệt đới.

Để đối phó với mấy tên khủng bố tại Boston hay Paris, nước Mỹ hay nước Pháp phải huy động mấy ngàn quân và chi phí nhiều triệu đô la. Đây là một sự bất cập về tương quan lực lượng và là một điểm yếu mà bọn khủng bố sẽ khai thác như một thế mạnh. Để đối phó với một tiểu đoàn khủng bố tại Đông Nam Á (như thủ tướng Singapore nói) thì các nước ASEAN cần bao nhiêu quân và bao nhiêu tiền (trong khi Biển Đông như thùng thuốc súng).

Xã hội đầy bạo lực và rủi ro: Thập diện mai phục?

Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên (Việt Nam) có làm môt bộ phim với cái tên hay “Sống trong sợ hãi” (Living in Fear). Đao diễn Trương Nghệ Mưu (Trung Quốc) cũng làm một bộ phim với cái tên hay “Thập diện mai phục” (Flying Daggers). Tên của hai bộ phim này có thể được dùng để mô tả tâm trạng bất an hiện nay của người Việt (và người Trung Quốc).

Không phải ngẫu nhiên mà 64% người giàu Trung Quốc (có tài sản trên 1,6 triệu USD) đã hoặc định di cư khỏi Trung Quốc (theo Elizabeth Economy at Council on Foreign Relations). Không phải ngẫu nhiên mà tỷ phú Lý Gia Thành “bỏ chạy” khỏi Trung Quốc. Tâm Trạng bất an của người Trung Quốc (và người Viêt) là do bạo lực và rủi ro trong xã hội.

Tại sao sau chiến tranh, được giải phóng rồi, hoặc vượt biên rồi, mà người Viêt vẫn “sống trong sơ hãi”? Có lẽ vì cực đoan và bạo lực, là di họa của chiến tranh, vẫn chưa thực sự chấm dứt, như bóng ma của quá khứ tiếp tục ám ảnh họ. Trong khi ở hải ngoại có “Terror in Little Sài Gòn”, thì ở trong nước còn nhiều loại terror khủng khiếp hơn.

Đó là tai họa do bom mìn chưa nổ và chất độc da cam (do chiến tranh để lại). Đó là nạn trộm cướp, giêt người, hiếp dâm ngày nào báo chí cũng đưa tin (“cướp, giết, hiếp”). Đó là tai nạn giao thông, chết nhiều như sóng thần (theo bộ trưởng Giao thông). Đó là ngộ độc thưc phẩm do sử dụng vô tội vạ các chất độc hại (từ Trung Quốc). Chưa bao giờ có nhiều người mắc bệnh ung thư như hiện nay (theo Bộ Y Tế). Nhưng chính phủ và quốc hội vẫn bất lực, vì ngộ độc thực phẩm “phải lăn ra chết thì mới xử lý được!” (theo bộ trưởng Nông nghiệp).

Đối tượng dễ tổn thương nhất là phụ nữ và trẻ em, có thể bị dụ dỗ hoặc bắt cóc để bán sang Trung Quốc. Trẻ em đến trường có thể gặp nguy hiểm vì bạo lực học đường. Tội phạm “vị thành niên” ngày càng gia tăng. Khi giáo dục và văn hóa xuống cấp, trẻ em dễ trở thành nạn nhân của cực đoan và vô cảm, dễ bị cám dỗ bởi ma túy và bạo lực.

Đối tượng dễ bị bắt nạt nhất (và cũng dễ phản kháng bằng bạo lực) là nông dân. Trường hợp Đoàn Văn Vươn là một ví dụ điển hình. Để chống lại nhóm lợi ích địa phương cướp đoạt ruộng vườn và thành quả lao động của mình, anh đã bị đẩy vào “bước đường cùng”, buộc phải dùng bạo lực để tự vệ, vì mất hết lòng tin vào chính quyền. Những kẻ bắt trộm chó bị những người nông dân đánh chết vô tội vạ cũng là môt ví dụ (chỉ có tại Việt Nam).

Một đặc điểm khác của các quốc gia độc tài (cộng sản hay không cộng sản cũng vậy) là sử dụng bạo lực để trấn áp những người bất đồng chính kiến, bằng cách bỏ tù hoặc dùng côn đồ để đánh đập họ. Mục tiêu chính là khủng bố tinh thần, làm cho mọi người sợ hãi. Stalin, Hitler, Mao, hay Polpot là những nhà lãnh đạo kiệt xuất trong việc tẩy não khiến hàng triệu trí thức sẵn sàng giết chóc và hy sinh cho những lý tưởng cực đoan và đầy thù hận.

Khủng hoảng Biển Đông: Một thùng thuốc súng?

Khủng hoảng Biển Đông đã xảy ra sau khi Trung Quốc đem dàn khoan HD 981 vào hải phận Việt Nam tại Biển Đông, bồi đắp các đảo nhân tạo và xây dựng hạ tầng quân sự trên các đảo đó, tạo ra một bước ngoặt mới. Hành động bành trướng bằng bạo lực này là hệ quả tất yếu của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, con đẻ của chủ nghĩa bá quyền Đại Hán.

Cực đoan và bạo lực vốn là thương hiệu của đảng CS Trung Quốc. Mao chủ tịch đã từng nói, “quyền lực đẻ ra trên nòng súng”. Trong mấy thập kỷ sau khi giành đươc chính quyền, đảng CS Trung Quốc đã gây ra những thảm họa như “Đại Nhảy vọt” (Great Leap forward) và Cách mạng Văn hóa” (Cultural Revolution) làm mấy chục triệu người chết.

Chắc mọi người vẫn chưa quên thảm họa diệt chủng tại Campuchia do Khmer Đỏ gây ra, có bàn tay của đảng CS Trung Quốc. Người Việt Nam (và Triều Tiên) cũng phải gánh chịu những hậu quả tệ hại do chịu ảnh hưởng nặng nề bởi chủ nghĩa Mao đầy cực đoan và bạo lực, cho đến tận ngày nay. Chỉ có người Miến Điện là may mắn “Thoát Trung”.

Những gì đang diến ra tại Biển Đông chỉ là sự tiếp nối của lịch sử. Hay nói khác đi là lịch sử đang lặp lại. Chỉ có “Thoát Trung” mới thoát khỏi định mệnh (karma) và cái vòng kim cô về ý thức hệ đã kìm kẹp và kéo lùi lịch sử Viet Nam nhiều thập kỷ. Biển Đông vừa là nguy cơ vừa là cơ hội để “Thoát Trung”. Bỏ qua cơ hội này chắc không còn cơ hội nào khác.

Hành đông của Trung Quốc tại Biển Đông có thể tóm tắt: Trong khi đe dọa (intimidate), cưỡng đoạt (coerce) và bắt nạt (bully) các nước nhỏ yếu (Việt Nam, Philippines), Trung Quốc thách thức Mỹ, nhưng tránh đối đầu, vì muốn chia quyền với Mỹ (major power diplomacy). Họ bất chấp luật pháp, vì muốn thay đổi luật chơi và thay đổi nguyên trạng.

Sách lược hai mặt này Trung Quốc có hiệu quả, chừng nào họ phân hóa được ASEAN bằng “cái gậy và củ cà rôt”, bằng đàm phán song phương để vô hiệu hóa ASEAN. Họ đã vận dụng tối đa “vùng xám” (gray area) để thao túng bằng cách khoanh vấn đề (localized) để vô hiệu hóa Mỹ và cắt lát nhỏ vấn đề (salami slice), để biến thành việc đã rồi (fait’accompli).

Trong khi Obama hoãn chuyến thăm Việt Nam thì Tập Cận Bình đã đến Hà Nội và đọc diễn văn tại Quốc Hội VN (6/11/2015). Tuy Obama đã bật đèn xanh cho hải quân Mỹ cho tàu USS Lassen vào vùng biển 12 hải lý quanh đảo Subi reef tại Biển Đông, nhưng lại trương biển “đi lại vô hại” (innocent passage). Đây này là một tín hiệu yếu của Mỹ (vẫn là “tiếng kèn ngập ngừng”), làm bạn bè đồng minh thất vọng, trong khi Trung Quốc mừng thầm.

Có thể nói Trung Quốc dùng thủ đoạn và sức mạnh nước lớn để uy hiếp và bắt nạt các nước nhỏ (như Việt Nam và Philippines) cũng là môt loại khủng bố. Ngư dân Việt Nam đang “sống trong sợ hãi”, vì hàng ngày bị tàu thuyền Trung Quốc khủng bố trên Biển Đông. Họ đang bị tước đoạt quyền đánh cá ngay trên vùng biển vốn là của mình. Nếu bị dồn đến bước đường cùng, ngư dân Việt có thể liều mạng lao thuyền chứa chất nổ vào tàu Trung Quốc.

Việt Nam đã thành lập lữ đoàn tàu ngầm 189 có căn cứ tại Cam Ranh, với 6 tàu ngầm “Kilo class 636.3-MV” trong đó 4 chiếc đã được chuyển giao và đang hoạt động, còn 2 chiếc nữa sẽ được chuyển giao trong năm 2016. Đây là các tàu ngầm tấn công được trang bị tên lửa Klub diệt hạm “3M-54E1” và đối đất “3M-14E” (có tầm bắn 300 km).

Hạm đội tàu ngầm non trẻ gồm 6 chiếc tàu “Kilo 636”, cùng với 32 máy bay chiến đấu đa năng thế hệ 4 “Su-30MK2” là lực lượng răn đe hiện đại có khả năng gây tổn thất lớn cho đối phường (anti-access/area denial capabilities). Nếu xảy ra xung đột tại Biển Đông, Viêt Nam có thể buộc phải tự vệ bằng chiến lược “cùng hủy diệt” (mutually assured destruction).

Nếu bị dồn đến bước đường cùng, các tàu ngầm Kilo có thể hoạt động như “U-Boat” của Đức trong Đai Chiến II, tấn công các tàu chở dầu và chở hàng của Trung Quốc trên Biển Đông, gây tổn thất lớn cho đối phương và khủng hoảng thị trường quốc tế, làm các hãng bảo hiểm hàng hải (như Lloyd’s insurance) và các nhà đầu tư nước ngoài hoảng loạn, buộc đối phương phải nghĩ lại và cộng đồng quốc tế phải can thiệp để tìm giải pháp qua đàm phán.

Nhưng vấn đề không phải là tiềm lực quốc phòng, mà là ý chí chính trị của lãnh đạo và sự đồng lòng của toàn dân. Nếu đồng lòng, Việt Nam đã từng thắng Pháp và Mỹ. Nếu chia rẽ, Viêt Nam đã từng mất Hoàng Sa (1974), mất Gac-Ma và một phần Trường Sa (1988), và nay có thể mất nốt Trường Sa và toàn bộ Biển Đông vào tay Trung Quốc.

NLD thắng cử tại Myanmar: Những bài học nào?

Ngày 8/11/2015 sẽ đi vào lich sử Myanmar khi tổng tuyển cử tự do đầu tiên (sau 25 năm) đã được tổ chức thành công. Đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi đã giành được hơn 2/3 số ghế (348 ghế) tại quốc hội, nhiều hơn 19 ghế so với 329 ghế cần thiết để giành chiến thắng tuyệt đối. Kết quả này đồng nghĩa với việc đảng NLD sẽ kiểm soát cả thượng viện và hạ viện, và có quyền chọn Tổng thống, chấm dứt nhiều thập niên cầm quyền của quân đội (mặc dù quân đội vẫn còn nắm giữ 25% số ghế và mấy bộ chủ chốt).

Kết quả to lớn này đã làm nhiều người ngạc nhiên (kể cả bà Aung San Suu Kyi). Nhưng ngạc nhiên hơn cả là thái độ của quân đội: chấp nhận thất bại và sẵn sàng hợp tác. Đây là điều hiếm có. Tướng Min Aung Hlaing nói quân đội sẽ “làm điều gì tốt nhất để hợp tác với chính phủ mới trong giai đoạn hậu bầu cử”. Tổng thống Thein Sein cũng cam kết “sẽ tôn trọng quyết định và lựa chọn của nhân dân và sẽ chuyển giao quyền lực như thời gian đã định”.

Ngày 12/11/2015, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã gọi điện trưc tiếp cho bà Aung San Suu Kyi để chúc mừng và ca ngợi “nỗ lực không mệt mỏi và sự hi sinh sau rất nhiều năm để thúc đẩy một Myanmar hòa nhập, hòa bình và dân chủ”. Ông cũng bày tỏ hi vọng kết quả bầu cử sẽ dẫn đến một “tương lai hòa bình và thịnh vượng hơn” cho Myanmar.

Bắc Kinh cũng không thể không “bắt tay” với chính quyền mới do đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo, mặc dù bà Aung San Suu Kyi là một trong những chính khách Myanmar đã công khai phản đối Trung Quốc xây thủy điện Myitsone tại Myanmar, khiến công trình có kinh phí 3,6 tỷ USD này vừa khởi công đã bị đình chỉ. Tháng 6/2015, lãnh đạo Trung Quốc (Tập Cận Binh) đã đón tiếp trọng thị bà Aung San Suu Kyi trong chuyến thăm TQ, với tư cách là thủ lĩnh đảng đối lập NLD. Đó là một nước cờ khôn ngoan.

Trung Quốc buộc phải hợp tác với chính quyền tương lai của Naypyidaw, vì họ có những lợi ích sống còn tại đây. Myanmar là điểm mấu chốt trong chiến lược “một vành đai, một con đường” của Trung Quốc, là cửa ngõ tốt nhất để Trung Quốc tiếp cận Ấn Độ Dương, kết nối Đông Nam A với Nam Á. Myanmar còn là điểm cuối của Hành lang Kinh tế kết nối Trung Quốc với Ấn Độ, Bangladesh và Myanmar, và là một mắt xích quan trọng của tuyến đường bộ cao tốc Ấn Độ - Myanmar - Thái Lan. Dự án đường ống dẫn dầu Trung Quốc-Myanmar trị giá hàng tỷ nhân dân tệ, sẽ nối Vân Nam với Ấn Độ Dương qua Myanmar.

Có 3 bài học chính về Myanmar:

Một là, Myanmar đã thoát Trung thành công. Thoát Trung không có nghĩa là chống Trung Quốc hay quay lưng lại, mà là điều chỉnh lại mối quan hệ với Trung Quốc để bình đẳng hơn, độc lập hơn, không bị lệ thuộc, dựa trên lợi ích quốc gia (chứ không phải trên ý thức hệ “viển vông”). Thực tế là Trung Quốc cần Myanmar cũng như Myanmar cần Trung Quốc. Tại sao người Myanmar làm được, mà người Việt lại không?

Hai là, hòa giải thành công giữa chính quyền độc tài quân sự (đảng USDP) và phe đối lập đấu tranh cho dân chủ (đảng NLD) là cơ sở để đoàn kết dân tôc. Sau hơn 2 thập niên bị đàn áp và giam lỏng, Aung San Suu Kyi và đảng NLD không bị khuất phục, mà còn trưởng thành như một đối trọng chính trị được dân chúng ủng hộ và quốc tế hậu thuẫn. Điều đáng nói là cả hai phía đã bỏ qua thù hận và thành kiến, để hòa giải và hợp tác với nhau vì lợi ích chung của dân tộc. Tại sao người Myanmar làm được, mà người Việt lại không?

Ba là, quá trình dân chủ hóa đã thành công tại Myanmar, thông qua con đường đấu tranh bất bạo động, dùng sức mạnh mềm chống lại sức mạnh cứng, để đảo ngược cấu trúc quyền lực cứng đã lỗi thời tại Myanmar. Tư tưởng cách mạng của Aung San Suu Kyi là phải “thoát khỏi nỗi sợ hãi” (freedom from fear”) để thay đổi thể chế chính trị, và thay đổi chính mình. Bà đã thành công. Tại sao người Myanmar làm được, mà người Việt lại không?

Tuyên bố của Aung San Suu Kyi, “Tôi sẽ ở trên Tổng thống” (hiến pháp của chính quyền quân sự không cho phép bà làm tổng thống vì có chồng con là người nước ngoài) đã làm một số người lo ngại như một dấu hiệu độc đoán và kiêu ngạo. Với 25 năm trải nghiệm cuộc đấu tranh chính trị trường kỳ và phức tạp vì dân chủ, chắc bà đủ khôn ngoan và bản lĩnh để không mắc sai lầm. Tuyên bố đó chỉ nên hiểu theo nghĩa hẹp vì thực dụng (realism).

Nguyễn Quang Dy
22/11/2015
Viet-studies

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Tại sao pha một gói G7 thì thơm lừng cả nhà thơm hơn rất nhiều một phin cafe sạch hay một ấm Espresso

Tại sao cứ ra hàng làm một hớp cafe thì lại say say đơ đơ mà ở nhà làm cả một phin hay làm một ấm espresso suất cho 3 người chỉ thấy khỏe khoắn hơn? Say cafe hay say hóa chất. Bạn sẽ hiểu sau khi đọc bài này.
Mình thì cứ hạt rang tự xay rồi tự pha thoai.

CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN : Một Ngõ Cụt Dối Trá.
Cách đây ít lâu, tôi tình cờ đọc được một nghiên cứu thị trường, trong đó thể hiện rằng người Việt Nam rất tự hào là có một ly cà phê “đậm, đắng, đặc quẹo mà người nước ngoài không uống được”.
2011-06-03.10.39.20-trung-nguyen
Thế nhưng, họ không biết rằng niềm tự hào của họ được xây từ những điều dối trá.
Để mở đầu, tôi có thể nói sơ lược như sau: về nguyên thuỷ thì ly cà phê thường được uống nóng. Rồi dân ta, đặc biệt dân Nam, với thói quen thưởng thức dễ dãi của mình, chuyển qua uống đá . Từ đây, loại cà phê nguyên chất không còn được ưa chuộng nữa: trong nước đá, nó loãng ra và không đủ đắng, còn mùi hương thì bị ức chế bởi nhiệt độ thấp.
Và thế là các nhà sản xuất tìm đủ mọi cách để tăng đắng và tăng mùi hương.
Nhưng cuối cùng, Trung Nguyên đã trở thành nhà phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử chế biến cà phê Việt Nam, với việc cho thuốc ký ninh vào cà phê với liều lượng cao. Một biện pháp hết sức rẻ tiền và hiệu quả.
Song song đó, TN đã tiên phong trên con đường trộn hương nhân tạo nồng độ cao vào cà phê để tăng hương. Xét về mặt sức khoẻ, điều này cũng không hại lắm, nếu như không có mặt của một chất cầm hương, đó là gelatin. Vốn dĩ gelatin được sản xuất từ da và xương trâu – bò, và đủ tiêu chuẩn làm thực phẩm thì rất đắt, nên TN đã sử dụng gelatin Trung Quốc làm nền cầm hương.
Và thứ này thì hiển nhiên là không dùng được cho thực phẩm, vì nó chứa rất nhiều preservatives.
Thế nhưng, những điều đó của riêng Trung Nguyên thì không có gì đáng nói. Điều đáng nói là khi ly cà phê TN được coi là tiêu chuẩn, thì tất cả các cơ sở sản xuất cà phê khác đều noi theo tấm gương sáng này, nếu không thì không bán được.
Và như thế, không ngoa khi nói rằng, TN đã đẩy ly cà phê Việt vào một ngõ cụt dối trá.
P/S: Nếu bạn không tin, cứ dùng phin pha một ly cà phê TN bằng nước lạnh, rồi nếm thử cà phê nước ấy xem có vị gì.
Ký ninh từ lâu đã được sử dụng làm tác nhân gây đắng trong thực phẩm, và với hàm lượng nhỏ thì nói chung là an toàn. Tuy nhiên, lượng ký ninh được sử dụng trong cà phê TN nói riêng và TẤT CẢ CƠ SỞ cà phê ở Việt Nam nói chung là ở mức khoảng 0,06~0,08 g/kg thành phẩm, tức khoảng 0,0015g~ 0,002g cho mỗi phin.
Ở mức này, thì việc uống cà phê lâu dài sẽ dẫn tới triệu chứng cinchonism, tức ngộ độ ký ninh, bao gồm dị ứng trên da, ù tai, chóng mặt, giảm chức năng nghe và nhiều triệu chứng mang tính cơ hội khác.
Còn chuyện bạn hỏi về “tại sao không có ai lên tiếng” – well, Chi cục Y tế dự phòng Đaklak biết rõ mọi chuyện n ày – nhưng ở Việt Nam nói chung trong mọi vấn đề đều rất khó lên tiếng, và luôn luôn có một kênh nào đó để “bịt”. Cho nên, điều nhỏ nhất mà tôi nghĩ có thể làm được là tự mình không uống cà phê, và khuyến khích những người mình biết không uống cà phê.
Tôi chỉ nói những gì tôi chắc chắn hiểu rõ. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm. Và cũng hy vọng các bạn không nghĩ thế .
Nhưng về sự giả dối trong ly cà phê Việt Nam, có lẽ các bạn cần hiểu rõ hơn một chút.
So với cách uống cà phê ở phương Tây, thì ly cà phê Việt được uống theo kiểu dễ dãi: cứ mỗi phin cà phê pha ra khoảng 40 ml, được đổ vào một ly nước đá khoảng 180 ml.
img-compare3
Và chính nước đá mới là nguồn gốc của mọi tai hoạ.
Một ly cà phê nguyên chất không đủ đắng để có thể cảm nhận được vị đắng trong chừng ấy nước đá. Nhiệt độ thấp sẽ ức chế sự bay hơi của hương cà phê tự nhiên. Và cảm quan nó không đủ độ sánh để không bị tan loãng ra trong chừng ấy nước đá.
Cho nên, trước Trung Nguyên từ lâu, thì cách hoàn thiện một ly cà phê đá đã bao gồm 3 việc: tăng đắng cho cà phê, tăng mùi hương cho cà phê, và tăng độ sánh cho cà phê.
Cách chế biến truyền thống như sau:Để tăng đắng, người ta thường dùng hạt cau rang.
Để tăng mùi, người ta thường dùng nước mắm nhĩ.
Còn để tăng độ sánh, người ta dùng đường nấu thành caramel.
Trung Nguyên chỉ là nhà sản xuất đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất, và biến nó thành chuẩn mực “cà phê ngon” mà thôi.
Điều đáng nói nhất là khi nó đã thành chuẩn mực, thì sự giả dối nghiễm nhiên lộng giả thành chân.
Về phía các cơ sở sản xuất, thì họ nghĩ – khi những chỉ tiêu chất lượng quan trọng bậc nhất của cà phê – độ đắng, mùi hương, độ sánh – đều là hàng giả, thì việc gì họ phải dùng cà phê thật làm gì?
Về phía người uống, khi đã quen với thuốc ký ninh và đường caramel, họ mất khả năng thưởng thức cà phê ngon thực sự. Và tôi tin chắc rằng, nếu được uống một ly cà phê Blue Mountains hay Hawaii Kona, họ sẽ chửi thề.
Và thế là người Việt, đa phần, đều gật gù trước một ly nước màu đen, pha từ đậu nành hay bắp rang, trộn với caramel, hương liệu, thuốc ký ninh và nghĩ rằng họ đang uống thứ ca` phê ” có văn hoá đặc biệt nhất “.
Đến đây chính là một ngõ cụt – Ngõ cụt dối trá.
Câu hỏi cuối cùng – chính xác ai phải chịu trách nhiệm cho tình trạng đó? Sự dễ dãi của người uống? Sự xu thời của Trung Nguyên? Hay là trình độ quản lý chất lượng thực phẩm của Nhà nước ?
P/S: Một điểm cuối cùng, bạn uống ly cà phê Việt, cảm thấy nôn nao, tim đập mạnh, thì đấy có khả năng là ngộ độc ký ninh chứ không phải là do tác dụng kích thích trí não của cà phê như bạn vẫn nghĩ.
Nguồn: Facebook Miên Du Ðàlạt Nguyen

“Tín giả, giao hữu chi bản” và công thức 4 + 6 = 209

Xuân Dương
 
(GDVN) - Người Việt đã dùng “lễ” đón ông Tập Cận Bình, thế nhưng hành động của ông ở Singapore đã khiến người Việt mất đi “Tín giả, giao hữu chi bản” với ông rồi. 


Trước và sau chuyến thăm Việt Nam của ông Tập Cận Bình, Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc luôn có một giọng điệu quen thuộc, tuyên bố tại Mỹ: “Quần đảo Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc từ thời cổ đại đến nay, chúng tôi có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý để chứng minh điều đó”.

Tại Anh Quốc trong bài trả lời phỏng vấn viết sẵn gửi cho hãng tin Reuters trước chuyến thăm, ông Tập nói: "Chủ quyền các đảo ở Biển Đông có từ cổ đại, do tổ tông để lại". Còn tại Singapore ông Tập nói “các đảo ở Biển Đông là lãnh thổ Trung Quốc từ thời cổ đại”. [1]
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (Ảnh: TTXVN)
Báo News Week dẫn lời một quan chức Trung Quốc giấu tên nói "còn 209 thực thể đất đai ở Biển Đông vẫn "còn trống" và chúng tôi có thể chiếm tất cả chúng. Chúng tôi có thể chiếm lấy chúng trong vòng 18 tháng?".[2]

Phát biểu tại Quốc hội Việt Nam, ông Tập nói đến “Lễ chi dụng, hòa vi quý” (trong phép đối xử thì lấy lễ nghĩa, hòa thuận, qúy trọng  nhau làm đầu); “Tín giả, giao hữu chi bản” (lòng tin là cái gốc để xây dựng tình bạn).

Nhận xét phát biểu của ông Tập, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cho rằng: “Có một câu mà ông ấy nhắc đến là chúng ta có vận mệnh chung. Tôi không nghĩ vậy. Tôi nghĩ nhân loại có vận mệnh chung chứ quốc gia thì không. Mỗi quốc gia có vận mệnh của mình và làm chủ điều đó”. [3]

Đọc kỹ toàn văn bài phát biểu của ông Tập mà truyền thông quốc tế đăng tải còn thấy rất nhiều cái “chung” mà ông Tập lồng ghép vào như “một khối chung, chung sinh mạng, chung mục tiêu,…”.

Mong muốn cuối cùng của ông Tập là Việt Nam và Trung Quốc “tránh việc quan hệ song phương giữa hai nước đi lệch khỏi quỹ đạo”.

Phải chăng cái “quỹ đạo” mà ông Tập muốn là Việt Nam cần đi theo Trung Quốc, đồng thời công nhận “chủ quyền lịch sử của Trung Quốc với toàn bộ vùng nước nằm trong đường “lưỡi bò” mà họ vẽ bừa ra năm 1949?”

Đến thăm Việt Nam, ông Tập không dùng giọng điệu như đã nói tại Mỹ và Anh.
Ông đã khôn khéo lờ đi những gì mà người dân Việt muốn biết về “tình huynh đệ” mà ông đề cập.
Rõ ràng là ông Tập không vì “4 tốt” hay “16 chữ” mà bỏ qua cái gọi là “lợi ích cốt lõi” mà ông nhận là do “tổ tông” ông để lại.

Với người Việt, lãnh đạo Trung Quốc nói gì không quan trọng, quan trọng là họ làm gì. Nói họ “làm gì” là nói giới lãnh đạo sẽ chỉ thị cho máy bay, tàu chiến, tàu ngầm và các loại tàu binh trá hình tàu cá ngày đêm trên Biển Đông thực sự vì mục đích gì? Nên hiểu như thế nào?

Đó có phải là để tiếp tục cướp tài sản và đâm chìm tàu ngư dân Việt Nam trên ngư trường truyền thống Hoàng Sa hay tiếp tục hút cát phá hoại môi sinh ở Trường Sa để làm cho “tổ tông” rạng rỡ vì đã có công “mở mang bờ cõi” đến gần sát bờ biển Việt Nam, Mã Lai và mấy nước Đông Nam Á khác?

Với cách nói của vị quan chức giấu tên người Trung Quốc, có thể các quân sư đã chuẩn bị sẵn cho ông Tập cái công thức toán học 4 + 6 = 209.
Nghĩa là vì đại cục, vì tình hảo hảo giữa hai bên, để chống sự “bành trướng, can thiệp” của Mỹ, Nhật, Ấn, Úc… Việt Nam và các nước ven Biển Đông nên để cho Trung Quốc chiếm nốt 209 thực thể còn lại.
Nếu được như thế thì “con đường tơ lụa” sẽ thông thương, hàng hóa dùng vài ngày là hỏng, hoa quả, thực phẩm nhiễm độc sẽ được cung cấp thường xuyên, liên tục đến tận các hang cùng ngõ hẻm mỗi quốc gia!

Con cháu Tôn Tử vốn là bậc thầy về binh pháp, trong đó hai chiêu “Tiên lễ hậu binh” và “Bất chiến tự nhiên thành” luôn được vận dụng triệt để.

Truyền thông quốc tế không thể không đặt câu hỏi, vì sao ngay khi rời khỏi Việt Nam, ông Tập Cận Bình chọn Singapore để lặp lại câu nói về chủ quyền các đảo, đá trên Biển Đông? Có nhiều đáp án cho câu hỏi này.

Tình hình nội bộ Trung Quốc

Chiến dịch mà ông Tập Cận Bình phát động “đả hổ, đập ruồi, săn cáo” với mục đích công khai là làm trong sạch Đảng Cộng Sản Trung Quốc nhưng không khó để nhận thấy mục đích thật sự tiềm ẩn bên trong.

Sau khi thành công trong việc xử lý 2 cựu Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương là Từ Tài Hậu và Quách Bá Hùng, ông Tập Cận Bình đã thông qua Nhân dân Nhật báo đã "cảnh cáo" các vị tiền bối "không can thiệp vào chính trị khi đã về hưu".

Dư luận quốc tế còn đồn đại về âm mưu đảo chính đối với ông Tập Cận Bình, tuy chỉ là lời đồn thổi song chính bản thân việc đồn thổi đó cho thấy ông còn quá nhiều việc phải bận tâm ngay trên chính đất nước ông và việc sử dụng chiêu bài “Biển Đông” chính là cách hướng dư luận trong nước ra bên ngoài.

Trung Quốc tiếp tục kiên trì yêu sách bành trướng “có từ thời cổ đại”

(GDVN) - Không thể nghi ngờ về yêu sách bành trướng "đường lưỡi bò", vấn đề còn lại là tìm mọi cách chặn đứng tham vọng và các hành động, thủ đoạn áp đặt yêu sách đó.

Việc giới nhà giàu Trung Quốc tìm cách kéo nhau ra nước ngoài sinh sống hoặc chuyển tiền ra nước ngoài cho thấy tâm trạng bất an của tầng lớp giàu có tại quốc gia này.

JPMorgan ước tính trong khoảng thời gian từ quý 3/2014 tới quý 2/2015, khoảng 235 tỷ USD “tiền nóng” của Trung Quốc đã “chảy” ra nước ngoài.
Sự bất an không phải chỉ xuất phát từ tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút và thị trường chứng khoán lao dốc mà còn là sự lo ngại những bất ổn chính trị có thể xuất hiện bất cứ lúc nào.

Nhiều thế hệ lãnh đạo Trung Quốc đã thành công trong việc nhồi nhét tư tưởng đại Hán, bành trướng cho người dân nước này.

Liệu nó có khiến cho người Trung Quốc quên đi những thảm họa đang hàng ngày đe dọa cuộc sống của họ như nạn tham nhũng, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tấn công khủng bố xảy ra ở nhiều nơi (Tân Cương, Quảng Châu… )?

Tạo dựng hình ảnh một nhà lãnh đạo đầy quyền lực không chỉ của Trung Quốc mà còn của  thế giới thông qua các hành động và tuyên bố bất chấp luật pháp quốc tế về chủ quyền trên Biển Đông có thể đáp ứng tư tưởng dân tộc cực đoan của không ít người Trung Quốc nhưng nó là con dao hai lưỡi vì nhân loại ngày nay luôn cảnh giác, chơi dao sẽ có lúc bị đứt tay.

Dư luận quốc tế

Tòa Trọng tài Quốc tế (PCA) vừa ra phán quyết rằng, PCA có quyền xét xử vụ Philippines kiện Trung Quốc về chính sách bành trướng ở Biển Đông.

Đây là một thất bại ngoại giao đáng kể của Trung Quốc kể từ khi ông Tập Cận Bình nắm quyền lãnh đạo quốc gia đông dân nhất thế giới này.

Dù Trung Quốc và Đài Loan tuyên bố không công nhận kết quả phiên xử thì tính pháp lý các kết luận mà PCA đưa ra vẫn được quốc tế công nhận.

Đó là một khích lệ cho Việt Nam trong trường hợp cần vận dụng công cụ luật pháp quốc tế để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đang bị Trung Quốc xâm chiếm và đe dọa xâm chiếm tiếp trên Biển Đông.

Bài phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Quốc hội Việt Nam

(GDVN) - Sáng 6/11, Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XIII.
Nhiều nước trước đây im lặng để giữ quan hệ kinh tế với Trung Quốc như Malaysia nay đã lên tiếng phản đối Trung Quốc.
Tư lệnh Lực lượng vũ trang Malaysia, Zulkefli Mohd Zin bất ngờ lên án hoạt động xây dựng phi pháp của Trung Quốc trên các bãi đá ở Biển Đông là “sự khiêu khích phi pháp không thể chấp nhận”.

Mỹ đã phản đối đòi hỏi chủ quyền vô lý, phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông bằng cách cho tàu chiến tuần tra trong phạm vi 12 hải lý các đảo nhân tạo Trung Quốc xây dựng bất hợp pháp tại Biển Đông ngày 27/10/2015…

Dù vẫn ngang ngạnh bất chấp công luận song những người lãnh đạo Bắc Kinh không thể không nhận thấy sự cô lập của mình.
Củ cà rốt mà Bắc Kinh đưa ra qua các hợp đồng kinh tế không làm cho các nước bớt nghi ngại về sự bành trướng và tham vọng thống trị thế giới của giới cầm quyền Trung Nam Hải.

Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng cùng 8 đối tác khu vực (AMD+) không ra được tuyên bố chung cho thấy không phải là Trung Quốc thành công trong việc chia rẽ ASEAN mà là sự bất đồng quan điểm đã trở nên trầm trọng.

Nhiều nước tuy nhận rõ bản chất cố hữu của giới cầm quyền Trung Quốc nhưng vì lợi ích kinh tế buộc họ phải nhắm mắt làm ngơ nhưng nhân loại không thể không cảnh giác.

Chủ nghĩa bành trướng và tư tưởng dân tộc cực đoan chính là mầm họa mà nhân loại đang phải đối mặt khi bước sang thiên niên kỷ mới.

Quan hệ Việt - Trung

Trước khi ông Tập Cận Bình sang thăm Việt Nam, quân đội Trung Quốc liên tục diễn tập thực binh trên Biển Đông.
Người ta còn úp mở chuyện các máy bay tham gia diễn tập mang tên lửa cất cánh từ đường băng sân bay quân sự ở Hoàng Sa
Đây là gì nếu không phải là một cách diễu võ giương oai trợ lực cho chuyến thăm của nhà lãnh đạo Trung Quốc, một cách gây sức ép với các đối tác mà họ luôn muốn nắm trong vòng tay của mình?

Việt Nam đã đáp lễ Trung Quốc, chúng ta đã dành cho ông Tập Cận Bình nghi lễ dành cho nguyên thủ quốc gia, có thiếu nhi mang cờ hoa và hai mươi mốt loạt đại bác, có chiêu đãi và đội quân danh dự…

Vấn đề là trong trái tim, mỗi người Việt luôn trân trọng câu nói của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời phóng viên quốc tế khi thăm làm việc tại Philippines từ 21-22/5/2014:
“Việt Nam sẽ không sử dụng biện pháp quân sự để giải quyết căng thẳng trên biển Đông hiện nay; song, Việt Nam cũng không chấp nhận đánh đổi chủ quyền lãnh thổ, biển đảo thiêng liêng để  nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”. [3]

Muốn bạn bè quý mến thì đừng tham lam, muốn người khác tin tưởng mình thì đừng dối trá, muốn kết bạn thì đừng ăn cướp của bạn, muốn làm người vĩ đại thì đừng nhỏ nhen, muốn nâng tầm dân tộc mình thì đừng giẫm lên vai dân tộc khác.

Đến Việt Nam đừng nói dối hay đánh trống lảng. Đến Việt Nam đừng hứa hẹn bằng những lời hoa mỹ. Đến Việt Nam đừng nghĩ rằng đó là quốc gia nhược tiểu. Đến Việt Nam đừng cho rằng thời thế ngày nay vẫn như những năm 70 của thế kỷ trước.

Điều quan trọng cần phải hiểu là niềm tin phải mất nhiều năm tháng, phải qua nhiều thế hệ mới tạo dựng được nhưng chỉ cần một hành động xâm phạm thì điều đó sẽ biến mất, cho dù nó không mất hoàn toàn thì cũng không còn như trước.

Sử dụng chiêu cũ “tiên lễ hậu binh”, ở Việt Nam, ông Tập nói về đại cục và hữu nghị, ông còn đọc thơ Hồ Chủ Tịch, ký kết các hiệp định về đào tạo cán bộ, ngay sau đó ông tái khẳng định các đảo, đá trên Biển Đông là của Trung Quốc, phải chăng sau “lễ” sẽ là “binh”?  

Với lời tuyên bố của ông Tập tại Singapore chỉ một ngày sau khi rời Việt Nam, chúng ta không thể không chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống xấu nhất khi mà Trung Quốc đang lăm le xâm chiếm 209 thực thể còn lại trên Biển Đông.

Một văn bản khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế cần phải được chuẩn bị thật hoàn chỉnh, một chiến dịch tuyên truyền về chủ quyền biển đảo của Việt Nam với bạn bè quốc tế cần phải tiến hành ngay thay vì dành tiền xây trụ sở cơ quan hay tượng đài hoành tráng.

Người viết rất mong muốn Nhà nước có quyết định xây dựng lực lượng tự vệ biển, hỗ trợ ngư dân đóng tàu vỏ sắt để có thể chống lại những tàu cá trá hình Trung Quốc mà tạp chí DefenseNew gọi là China’s "Little Blue Men" (dân quân áo xanh).

Như lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói, người Việt không ai tin vào “một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó” mà lơ là cảnh giác, càng không thể tin rằng những lời hữu nghị của ông Tập sẽ mang lại hòa bình cho ASEAN nói riêng và thế giới nói chung.

Người Việt đã dùng “lễ” đón ông Tập Cận Bình, thế nhưng hành động của ông ở Singapore đã khiến người Việt mất đi “Tín giả, giao hữu chi bản” với ông rồi.
Tài liệu tham khảo:
 [1] http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Thien-chi-chot-luoi-dau-moi-post163188.gd
[2] http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Trung-Quoc-se-danh-chiem-not-209-thuc-the-chua-nuoc-nao-chot-giu-o-Bien-Dong-post162428.gd
[3] http://vneconomy.vn/thoi-su/dai-bieu-quoc-hoi-nhan-xet-phat-bieu-cua-ong-tap-can-binh-20151106062232843.htm
[4] http://laodong.com.vn/chinh-tri/thu-tuong-nguyen-tan-dung-khong-danh-doi-chu-quyen-lay-thu-huu-nghi-vien-vong-202740.bld
Xuân Dương

“Bệnh đồng phục” đang tàn phá xã hội Việt Nam

Ngọc Quang
 
(GDVN) - GS.Nguyễn Minh Thuyết: “Chúng ta không thể nào bắt ép Trần Đăng Khoa phải giỏi Toán như Ngô Bảo Châu, không thể bắt Ngô Bảo Châu giỏi thơ như Trần Đăng Khoa".

Nhiều người chỉ nói lấy được
“Bệnh đồng phục” không có trong thuật ngữ y học, nó không giống với bệnh ung thư, HIV… nhưng mức độ nguy hiểm lại đứng đầu trong tất cả các “bệnh”. Vì nó ẩn sâu trong mỗi con người, nhưng có phát tác hay không còn phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh, phụ thuộc nhiều vào việc con người đó được dạy dỗ thế nào, tính cách ra sao.
Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết – nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, căn bệnh này có lẽ bắt nguồn từ nếp sống nhất nhất tuân phục lệnh trên, nhất nhất tung hô “những lời vàng ngọc” của người trên trong thời phong kiến.
“Rồi khi làm cách mạng dân tộc dân chủ, nước ta phải đối diện với các cuộc chiến tranh kéo dài quá nhiều năm. Ở nước ta hình thành hai chế độ; thế giới cũng hai phe. Và để đảm bảo cho chiến thắng của cách mạng thì việc thống nhất ý chí, hành động của mọi người là hết sức quan trọng. Xã hội thời đó không chấp nhận những ý kiến ngược lại, thậm chí không chấp nhận thái độ lừng khừng.
Điều đó có thể thông cảm được trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, nhưng kéo dài sang tận thời bình thì không ổn. Nó khiến chúng ta liên tưởng tới một “xã hội đồng phục”, tức là mặc chỉ một kiểu, một màu.
Chúng ta không thể nào bắt ép Trần Đăng Khoa phải giỏi Toán như Ngô Bảo Châu và cũng không thể có chuyện Ngô Bảo Châu lại giỏi thơ như Trần Đăng Khoa. Và, cả nước không thể chỉ có những người giỏi toán, giỏi thơ. Cùng với họ, phải có những người giỏi trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ, thương mại, quản trị”, GS Thuyết chia sẻ.
GS.TS Nguyễn Minh Thuyết bình luận: "Bệnh đồng phục" ngày càng hủy hoại xã hội Việt Nam. ảnh: Ngọc Quang.
Xã hội muốn phát triển thì tự do cá nhân của mỗi con người phải được tôn trọng. Nhưng trên thực tế có khi đưa ra một quan điểm trái chiều, không cẩn thận còn bị quy chụp là “suy thoái tư tưởng”. Có lần Đại biểu Quốc hội Đồng Hữu Mạo (đoàn Thừa Thiên Huế) cũng đã đặt ra vấn đề khi thảo luận về dự án Luật trưng cầu ý dân rằng: Nếu người dân không đồng tình và đưa ra ý kiến khác thì có bị cho là xuyên tạc không?
Theo GS. Nguyễn Minh Thuyết, muốn mọi người suy nghĩ giống nhau, nói giống nhau đã và sẽ càng tạo nên một xã hội giả dối. Trong cuộc sống, chúng ta gặp nhan nhản những chuyện như vậy. Khi lãnh đạo đã nói là A thì cấp dưới ít khi dám nói đó là B. Chuyện này xảy ra ở thời bao cấp rất nhiều, và ngay cả ở thời bây giờ cũng vậy. Nhất là trong cuộc họp, nếu lãnh đạo nói trước thì cấp dưới không dám nói khác nữa, mặc dù trong bụng biết thừa là lãnh đạo sai.
GS Thuyết chia sẻ: “Bệnh đồng phục bây giờ nặng đến mức lan ra cả những người cổ vũ cho xã hội dân sự. Trên mạng và trong các cuộc trao đổi, họ sẵn sàng ném đá vào những người nói khác với mình. Tôi cũng đã từng trải qua cảm giác ấy. Dạo trước có sự kiện ông bố sống trong ống cống nuôi các con đỗ vào đại học điểm rất cao. Rồi có phóng viên hỏi tôi: “Nếu thí sinh đó được gọi đi nghĩa vụ quân sự thì sao?” Tôi trả lời: Đã là luật thì ai cũng phải chấp hành. Vậy mà có người ném đá tôi luôn.
Trong thâm tâm, tôi chỉ nghĩ là chúng ta đang đứng trước yêu cầu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tình cảm yêu nước đã lôi cuốn rất nhiều người, nhiều giới xuống đường, vậy thì sẵn sàng nhập ngũ là điều thể hiện rõ nhất lòng yêu nước của mỗi thanh niên. Và là một người từng làm việc trong cơ quan lập pháp, tôi hiểu pháp luật là tối thượng, mọi người đều phải bình đẳng trước yêu cầu thực thi pháp luật.
Hay như chuyện tinh giản biên chế, ai cũng nghĩ đó là chủ trương đúng, nhưng nếu động đến người thân của mình là nhảy dựng lên ngay”.
 “Bệnh đồng phục” tàn phá thế hệ trẻ
Điều nguy hiểm là “bệnh đồng phục” dường như ngày càng nặng lên trong xã hội Việt Nam. Với kinh nghiệm nhiều năm công tác trong ngành giáo dục, GS. Nguyễn Minh Thuyết đặt ra vấn đề rất đáng suy ngẫm, đó là “căn bệnh” này nhiều khi làm lẫn lộn hết các giá trị thật, ảnh hưởng xấu tới con trẻ.
“Trẻ con rất thông minh, chúng sẽ phát hiện ra ngay rằng, người lớn dạy chúng phải trung thực, nhưng chúng lại thấy thực tế cuộc sống khác xa với những gì được dạy.

Bộ trưởng Thăng, bằng chứng đâu?

Tôi chỉ lấy một ví dụ nhỏ là khi hướng dẫn giáo viên dạy tập làm văn, chúng tôi luôn nhắc nhở giáo viên tuyệt đối không được yêu cầu trẻ làm theo văn mẫu, mà phải khuyến khích các em tự do sáng tạo.
Sợ “lời nói gió bay”, lời nhắc này còn được in vào sách hướng dẫn. Nhưng trong thực tế, hiện tượng dạy văn mẫu vẫn rất phổ biến, nhất là trước mỗi kỳ thi.
Điều đó có thể giúp “giảm tải” công việc cho giáo viên hoặc giữ cho kết quả thi đua được “an toàn”, nhưng sẽ làm cho trẻ em bị nhiễm bệnh “đồng phục” ngay từ trên ghế nhà trường – một nơi đáng lẽ phải rất tôn trọng sự sáng tạo”, GS Thuyết bày tỏ.
"Bệnh đồng phục" giờ đã phổ biến trong ngành giáo dục.
Nhìn ở một góc độ khác, các nhà quản lý của đất nước hẳn sẽ rất lo lắng khi mà kết quả khảo sát năm nay của Tổ chức hướng tới sự minh bạch cho biết, rất nhiều thanh niên sẵn sàng thỏa hiệp với những điều sai trái, mặc dù họ biết rõ làm như vậy không đúng. Vậy phải chăng chúng ta chỉ có các bài phát biểu đầy tính giáo điều, nhưng không giải quyết được bản chất của vấn đề?
Cụ thể, kết quả khảo sát năm nay của Tổ chức hướng tới sự minh bạch tại Việt Nam đã chỉ ra rằng có hơn 90% thanh niên được hỏi đánh giá cao về giá trị liêm chính, nhưng cũng có tới 35% thanh niên sẵn sàng thỏa hiệp với tham nhũng (năm 2011 là 29%). Đấy mới là hỏi thôi, còn tôi tin là trong thực tế phải lên tới gần 100%.
GS. Thuyết phân tích: “Có rất nhiều lý do khiến cho người ta không thể giữ được liêm chính, ví dụ như đưa người nhà vào bệnh viện cấp cứu, trong lúc lo lắng như vậy mà lại có sự vòi vĩnh thì chắc là người nhà bệnh nhân phải thỏa mãn thôi, vì tính mạng của người thân họ quan trọng hơn cả tinh thần liêm chính lúc ấy.
Nhưng đó là chuyện có thể xảy ra ở xã hội ta mà thôi, còn ở những nước văn minh mà giúi phong bì thì là hành động xúc phạm người thầy thuốc”.
Dưới góc nhìn của GS. Nguyễn Minh Thuyết, trước khi chúng ta đặt vấn đề đưa giáo dục liêm chính vào trường học, đã có rất nhiều nội dung giáo dục liêm chính trong chương trình từ tiểu học trở lên rồi. Không phải chỉ môn Đạo đức hay Giáo dục công dân, mà ngay môn Tiếng Việt cũng có những nội dung ấy.
Ví dụ, sách Tiếng Việt lớp 4 có kể hai mẩu chuyện về ông Tô Hiến Thành: Chuyện thứ nhất là trước khi mất, Vua Lý Anh Tông di chiếu cho ông phò Thái tử Long Cán làm Vua. Khi Vua mất rồi, Chiêu Linh Thái hậu cho mang vàng bạc đến đút lót để ông chấp thuận đưa con đẻ mình là Hoàng tử Long Xưởng lên làm Vua. Nhưng Tô Hiến Thành kiên quyết từ chối, cứ theo di chiếu lập Thái tử Long Cán.
Chuyện thứ hai là khi Tô Hiến Thành ốm nặng, Thái hậu và Vua vào thăm, hỏi ông tiến cử ai thay vị trí của mình. Tô Hiến Thành tiến cử Gián nghị đại phu Trần Trung Tá. Thái hậu hỏi, vì sao không tiến cử Tham tri chính sự Vũ Tán Đường là người ngày đêm thăm nom ông bên giường bệnh. Tô Hiến Thành trả lời: “Nếu Thái hậu hỏi người hầu hạ giỏi thì thần xin cử Vũ Tán Đường, còn hỏi người tài ba giúp nước, thần xin cử Trần Trung Tá.”
Những câu chuyện như vậy trong chương trình giáo dục phổ thông nhiều lắm. Nhưng vì sao thanh niên vẫn không thấm nhuần được tinh thần liêm chính ấy? GS. Thuyết đánh giá, đó là vì kết quả nghèo nàn của đấu tranh phòng chống tham nhũng đã hạn chế kết quả giáo dục của nhà trường. Khi đi học, trẻ con được dạy nhiều thứ tốt đẹp, nhưng rồi khi ra cuộc sống thì đâu có phải như vậy. Chúng sẽ thấy xung quanh mình có rất nhiều người chỉ hô khẩu hiệu và thế là chẳng ai bảo ai, cứ hành xử giống nhau, nói giống nhau cho an toàn, còn làm thì mỗi người một kiểu.
Trước một loạt những tồn tại ấy, câu hỏi được đặt ra là phải làm làm gì để giải quyết được căn “bệnh đồng phục” trong xã hội?
GS.Thuyết nhận định: “Trị bệnh này rất khó, vì nó ăn sâu vào xã hội ta quá nhiều năm rồi. Hơn nữa, khi mà xã hội vẫn chưa trở lại trạng thái bình thường, tức là vẫn còn “các thế lực thù địch” hoặc ta nghĩ rằng “các thế lực thù địch” ấy vẫn đang rình rập thì rất có thể chính lãnh đạo cũng chưa sẵn sàng lắng nghe nhiều thông tin trái chiều. Mà như vậy thì “bệnh đồng phục” vẫn còn có đất tồn tại.
Nhưng đất nước giành được độc lập đã 70 năm và thống nhất đã 40 năm rồi, chẳng lẽ chúng ta cứ kiễng chân mãi? Đại hội XI của Đảng đã đặt một mốc son trong lịch sử khi đưa hai chữ “dân chủ” lên hàng đầu. Bác Hồ cũng từng nói: “Dân chủ là để cho dân được mở miệng ra”.
Còn người sáng lập chủ nghĩa cộng sản là ông K. Marx thì nói: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Nếu hiểu tự do, dân chủ có ý nghĩa quyết định như thế nào đối với sự phát triển của mỗi người và đất nước thì chắc chắn chúng ta phải khắc phục nhanh chóng và triệt để căn bệnh đồng phục đáng buồn”.
Ngọc Quang

Thói hư tật xấu của người Việt: Mê muội hưởng lạc, Lười nhác, ốm yếu, Tệ nạn

Vương Trí NhànThể thao & Văn hóa (2006)

Mê muội hưởng lạc
(Nguyễn Trường Tộ, tám việc cần làm gấp, 1867)
Có những người nộp một quan tiền thuế mà tựa hồ bị cắt mất một miếng thịt, rên siết than vãn, thế mà đến sòng bạc thì cầm nhà bán cửa không tiếc. Có những hạng giàu có phong lưu, ăn mày chầu chực trước nhà không xin nổi một đồng điếu, người làng thiếu thuế không vay lợi được một quan, thế mà đến chỗ ăn chơi thì ngàn vàng mua một trận cười, trong cơn sát phạt, trăm vạn chỉ đặt một tiếng. Hạng người này nhiều lắm, không xe nào chở hết...
Cũng có nhiều người mới học kha khá đã truy hoan, ngày nào cũng mài miệt trong cuộc đỏ đen, thường lui tới các chủ nợ hứa với người ta rằng "Đợi tôi dạ một tiếng trước cổng trường(1) thì mọi việc sẽ đâu vào đấy". Rắp tâm hành động như thế, rõ ràng là quan trộm cướp của công chứ còn gì?
(1) tức là thi đỗ, rồi ra làm quan tha hồ kiếm chác.

Lười nhác, ốm yếu
(Phan Bội Châu, Bàí diễn thuyết tại trường Quốc học Huế, 1926)
Người nước ta quý trọng các ông thầy đồ lưng dài tốn áo ăn no lại nằm đã thành ra một cái bệnh gần chết không có thuốc chữa. Đến lúc sóng Âu Châu ập vào, người ta coi chừng đã tỉnh dậy, nhưng mà công phu về đường thể dục còn chưa nghiên cứu đến nơi. Cái căn tính lười nhác đã quen nết lâu ngày, lại nhiều điều thói đãng tính dâm dê(1) cho hại đến sinh mệnh, người ta lấy thế làm sự thường, không lo đường cải cách nào là công khóa2) về đường thể thao, nào là lợi ích về cách vận động. Trong một ngày có 12 giờ nửa ngồi chết trước cuộc tài bàn(3), nửa nằm chết bên đèn thuốc phiện. Vận động đã không có công phu thì huyết mạch lấy gì làm lưu thông, huyết mạch đình trệ thì thân thể phải hèn ốm cho rồi, dân mới hóa ra dân nô lệ, nước mới hóa ra nước bạc nhược.
(1) thói đãng là cách sống buông thả, riêng dàm dê là gì, chúng tôi chưa tra cứu được, không rõ có phải là dàm dê hay không?
(2) những công việc khi vào học phải làm là công, những học trò phải học là khóa, gọi chung là công khóa (Theo Đào Duy Anh , Hán Việt từ điển).
(3) một loại tổ tôm, nhưng chỉ có ba người, và đánh không có chừng mực nào cả (theo cách giải thích của Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục).

Đầy rẫy tệ nạn
(Đỗ Đức Dục, vấn đề tổ chức những thì giờ nhàn rỗi của người bình dân ở xứ ta, Thanh Nghị, 1945)
Thử nhìn vào đám dân quê dư dật xem họ có việc gì, ta thấy ngoài công cuộc làm ăn, họ chỉ còn quân bài lá bạc thuốc phiện hay cô đầu. Đám dân nghèo cũng vậy, không phải là họ không biết cờ bạc, ngược lại càng nghèo họ càng lăn vào cuộc đỏ đen, hòng kiếm thêm ít tiền mà mồ hôi nước mắt không đủ mang lại cho họ. Thành ra, từ trên xuống dưới, giàu cũng như nghèo, không to thì nhỏ, cờ bạc đã trở nên một tập quán ăn sâu vào đầu óc dân chúng, đó thực là một mối tai ương cho dân tộc ta vậy.
Ngoài ra nếu không cờ bạc thì người ta lại đua nhau đồng bóng, lễ bái nhảm nhí, từ đó sinh ra biết bao nhiêu mối tệ đoan khác.
Thể thao & Văn hóa (2006)

Sáu hành động giải thoát theo quan điểm Phật giáo

Saigon Gompa

Nếu một người kết hợp cả sáu hoạt động này, từng bước từng bước đưa nó trở thành một thói quen trong đời sống hàng ngày của một người, thì sau đó đời sống bắt đầu, bằng chính nó, và sẽ ngày càng trở nên có định hướng hướng về lợi lạc của tất cả chúng sinh...
Người theo Phật giáo là một người không chỉ muốn sống tốt, mà còn muốn đạt tới giác ngộ và giải thoát. Con đường ngắn nhất để đạt tới đích này là xem tất cả mọi người cũng là những vị Phật và hành động giống như là một vị Phật cho tới khi bản thân thật sự trở thành một vị Phật. Sống trong một xã hội luôn luôn mang tới cho chúng ta những thử thách và yêu cầu mới, những gì xung quanh chúng ta chuyển biến rất nhanh. Những chuyển biến này giúp thiết lập một định hướng cho đời sống hàng ngày của chúng ta.
Sáu hành động giải thoát (Stk. Paramitas – Ba la mật đa) được Đức Phật dạy, chỉ ra bằng cách nào mà một người với động lực chính đáng có thể hành động một cách khéo léo vì lợi ích của tất cả chúng sinh và biến cuộc sống đời thường thành có ý nghĩa, hướng tới giác ngộ và giải thoát. Một mặt, các Paramitas là một chỉ dẫn cho chúng ta cách chuyển biến những hoàn cảnh đời thường thành có ý nghĩa. Mặt khác, chúng phản chiếu lên chúng ta bằng cách triệt tiêu những khuôn mẫu thói quen và tự coi mình là trung tâm, bởi vì điều cuối cùng đánh bẫy hoặc giải thoát chúng ta là con đường mà chúng ta giải quyết những suy nghĩ và cảm xúc của mình. Nếu mội người cố gắng để duy trì thái độ tò mò và nhớ tự cười bản thân trong khi điều phục tâm mình, người đó sẽ tạo nên những khám phá đầy kinh ngạc: Một người không chỉ càng lúc càng thường nghỉ ngơi một cách hạnh phúc trong cuộc đời mà còn thật sự tận hưởng đời sống đầy ý nghĩa vượt lên trên cả vùng thoải mái của bản thân.
1. LÒNG TỐT
Nói chung, bố thí là nền tảng căn bản cho tất cả mọi sự phát triển. Nó là sự thừa nhận cao nhất của mối tương quan của chúng ta và là một biểu hiện cho Phật tính của chúng ta. Nó bắt đầu với một nụ cười và một cái ôm mà chúng ta dành cho bạn đời của mình và cũng là rất thật cho sự phát triển của chính chúng ta, khi chúng ta từ bỏ những góc nhìn cũ kỹ. Chúng ta có thói quen nắm chặt lấy tất cả mọi thứ, bao gồm: vật chất, cảm xúc và trải nghiệm của chúng ta hoặc ý tưởng của chúng ta về bản thân, về người khác, và về thế giới. Thật ra, thay vì làm cho chúng ta hoặc người khác trở nên nhỏ bé, chúng ta có thể chỉ cần từ bỏ những khái niệm về chúng ta, về người khác. Chừng nào chúng ta còn đấu tranh chống lại cuộc đời, thay vì khám phá nó theo một cách tò mò và không sợ hãi, thì chúng ta còn không nhận ra rằng tất cả chúng sinh là giống nhau trên con đường tìm kiếm hạnh phúc và rằng mọi thứ, bản thân nó đã rất phong phú và đầy tiềm năng.
Ngay khi chúng ta nhận ra bản chất căn bản của chúng sinh là tâm từ bi thay vì gây gổ, mối quan hệ của chúng ta với thế giới thay đổi hoàn toàn. Chúng ta nhận nhiều và nhiều hơn nữa niềm tin vào những giá trị tốt bẩm sinh của mỗi người và chúng ta phát triển nhiều và nhiều hơn nữa tâm từ bi thực tế. Từ đó, lòng tốt trở nên tự biểu lộ. Một người sẵn sàng cho đi, chia sẻ và từ bỏ là những người đã bắt đầu trở nên hạnh phúc hơn. Một người cho đi một cách tự tin những vật phẩm, cảm xúc tốt – ví dụ như là: sự thân thiết, bảo vệ và thời gian cho mọi người, hoặc những kiến thức giải thoát. Ở đây, điều quan trọng là không phá hỏng sự cởi mở được tạo lên từ lòng tốt và những mối liên hệ tốt bằng việc thực hiện những hành động xấu và gặt hái những hậu quả khó chịu.
2. THÁI ĐỘ CƯ XỬ VỚI MỌI NGƯỜI
Để thực hành chống lại những thói quen xấu, một người cần cải thiện thái độ cư xử với mọi người. Không có hy vọng có hạnh phúc và mãn nguyện nếu không từ bỏ những thái độ tiêu cực. Trách nhiệm của chính chúng ta là phải tạo ra nguồn gốc của hạnh phúc. Nếu chúng ta hiểu rằng thái độ chánh niệm, dựa trên tình thương và lòng từ bi là nền tảng cho những ấn tượng và kinh nghiệm tốt đẹp trong tâm chúng ta thì chúng ta bắt đầu hành xử, nói năng và suy nghĩ một cách có ý thức.
Khi cân nhắc 10 điều răn của Phật về thân – khẩu – ý, chúng ta thích nghĩ tới những giây phút phi thường nhưng chúng ta hoàn toàn bỏ lỡ mất những khả năng nhỏ trong đời sống hàng ngày để thực hành và phát triển. Nếu cần phải
  • (1) bảo vệ người khác, chúng ta thích tưởng tượng ra những hình ảnh anh hùng và quên mất rằng cần phải đảm bảo rằng mọi người đều khỏe mạnh và đã đội nón bảo hiểm khi đi xe máy. Trong thế giới dư thừa vật chất, cần phải có một sự am hiểu sáng suốt về người khác để có thể
  • (2) cho họ cái mà họ thật sự cần. Đồng thời, nếu một người tôn trọng không gian và đồ đạc cá nhân của người khác, người đó đã tiến bộ được rất nhiều. Hành động có ý nghĩa thứ ba là
  • (3) trao tặng yêu thương tại nơi cần điều đó mà không làm hỏng mối quan hệ đối tác. Bốn mặt tích cực của lời nói là:
  • (4) nói sự thật hoặc giữ im lặng;
  • (5) đưa mọi người xích lại gần nhau hoặc hỗ trợ mọi người bên nhau;
  • (6) nói năng một cách có suy nghĩ và có sự tôn trọng dành cho mọi người; và cuối cùng là
  • (7) nói chuyện một cách có ý nghĩa để hỗ trợ người khác khám phá thế giới để từ đó, họ đạt tới những hạnh phúc và ý nghĩa lớn lao hơn. Khi chuyển hóa tâm mình, một người
  • (8) phát triển lòng tự tin và ước mong điều tốt cho tất cả mọi người, hoặc
  • (9) hạnh phúc về những gì mà người khác đã đạt được và bất kỳ điều gì có ý nghĩa mà họ đang làm và một người
  • (10) cố gắng hơn nữa để suy nghĩ một cách lô-gíc, để hiểu nguyên lý của luật nhân quả và để nhận thấy sự phong phú không giới hạn trong vạn vật.
Một cách căn bản, mười hành động tích cực là những hành động nhìn xa trông rộng và là phổ biến. Chúng thể hiện lòng can đảm, tính linh động, và không cứng nhắc hoặc không sự tự xem mình là đúng. Ở đây, điều quan trọng là thái độ hoặc mục đích xác định phẩm chất của hành động.
3. KIÊN NHẪN
Để không đánh bạc một cách thiếu suy nghĩ những vật chất và các điều kiện tốt cần thiết cho sự phát triển mà, thay vào đó, có thể nắm chắc chúng trong dài hạn, cần phải có kiên nhẫn. Sự giận dữ và ghen ghét là những cản trở lớn nhất. Một người tràn đầy hận thù và giận dữ sẽ không thể gieo trồng hạnh phúc trong dài hạn vì nếu chúng ta nhân nhượng thì chỉ trong ít phút, nó sẽ phá hỏng những ấn tượng tốt đẹp đã được nỗ lực xây dựng trong một thời gian dài. Chỉ những ai xóa bỏ được giận hờn và đam mê mới có thể luôn luôn hạnh phúc tại giờ phút này và sau này.
Kiên nhẫn không phải là kéo dài một điều gì đó hoặc chịu đựng một cách lặng lẽ ở góc nhà mà là ngồi một cách can đảm giữa ngọn lửa, hoặc duy trì được sự an lạc trong nội tâm và tạo cho mọi thứ và chúng ta một khoảng không gian và thời gian. Cuối cùng, tùy thuộc vào cách nhìn của chúng ta mà những điều chúng ta trải nghiệm là thiên đường hay địa ngục. Bằng cách không xem hận thù là nghiêm trọng, một người để cho cảm xúc này hòa vào không gian rộng mở và nhận thức rằng mọi thứ mang tới đau khổ ít có ý nghĩa hơn. Khi phải đối mặt với một hoàn cảnh khó khăn và mâu thuẫn, một người nên đợi cho tới khi gặp điều kiện thuận lợi và ngăn chặn một cách tuyệt đối những giận hờn, phẫn nộ, buồn chán trước khi hành động. Để có thể hành động một cách kiên định trong hoàn cảnh khó khăn, và chấp nhận một cách công bằng vô tư các hoàn cảnh không thể thay đổi được là một bằng chứng cụ thể của sức mạnh và sự trưởng thành. Điều này đặc biệt đúng khi chúng ta điều phục tâm mình. Thay đổi thói quen và thái độ ít khi nào có thể xảy ra chỉ sau một đêm và để thói quen hoặc thái độ mới trở thành không thay đổi cần sự bền bỉ và kiên trì. Bởi vì, với tất cả sự tự giác, ở đây, sự thân thiện và hài hước dành cho một người là phần thưởng lớn lao.

4. NHỮNG NỖ LỰC MANG LẠI NIỀM VUI
Hành động thứ tư mô tả cách mà một người có thể xóa bỏ sự lười nhác, tính tự mãn và cách nhìn sai lầm bằng những phương pháp của “nỗ lực mang lại niềm vui”. Tuy nhiên, trong thời đại của chúng ta, lười biếng đồng nghĩa với việc chúng ta làm hàng ngàn những việc không quan trọng. Thế giới của chúng ta tràn ngập những hoạt động sôi nổi tới mức chúng ta còn quá ít thời gian cho những việc quan trọng. Năng lực và sự kiên định nội tâm không phải là chìa khóa duy nhất dẫn đến thành công do sự phát triển chỉ được nhận thấy thông qua việc vượt lên sức ì của chính chúng ta, sự tự thán và những thói quen xấu. Sự phát triển này xuất hiện tại thời điểm chúng ta ở ngoài vùng thoải mái của mình. Nếu một người không trông đợi sự ngợi ca cho những nỗ lực của mình và nếu một người tự do, không vướng vào những cảm xúc của sự quan trọng hoặc chủ nghĩa hoàn hảo, niềm hạnh phúc sâu sắc và đầy đủ sẽ hiện lên. Con đường có ý nghĩa duy nhất để tận dụng những điều kiện tốt của một người chính là thực hiện những khả năng tốt nhất của người đó một cách hạnh phúc và một cách vững vàng, với tất cả trách nhiệm mà không có hy vọng hoặc mong đợi nào.
5. THIỀN ĐỊNH
Bất cứ ai muốn phát triển những khả năng của mình một cách lâu bền và không muốn là một quả bóng cho cảm xúc và ý nghĩ đá lăn lóc cần giữ khoảng cách trong tâm. Thiền định tạo nên khoảng không gian và tự do cho ý thức của chúng ta và bắt đầu với việc làm dịu tâm thức và sự phát triển của nhận thức. Thông qua quá trình này, một người sẽ học cách để trở về với thời điểm hiện tại và quan sát cách mà cảm xúc và ý nghĩ tự trỗi dậy, thay đổi, và biết mất đi. Nếu một người đã hiểu rằng nguyên nhân chính để có hạnh phúc nằm trong tâm của chính mình và các điều kiện ngoại cảnh chỉ là biểu hiện của những điều kiện có hại hay có lợi thì từ đó, người đó sẽ không thấy những những biểu hiện bên ngoài là khổ đau và thay đổi. Tâm trở nên cân bằng, khó bị xáo trộn và sự sáng suốt nội tâm khởi sinh.
Chúng ta càng thực hành thiền định, chúng ta càng dễ duy trì góc nhìn tối cao và dựa vào đó mà cư xử trong các tình huống hàng ngày. Những điều dễ thương được xem như là niềm hạnh phúc và những điều khó khăn được xem như là một quá trình học tập và thanh lọc các tội lỗi. Nếu một người trải nghiệm điều gì đó tốt, người đó mong rằng tất cả mọi người đều trải nghiệm điều này hoặc điều gì đó tốt hơn và một người truyền đạt kinh nghiệm của những tình huống khó khăn cho người khác. Khi một người càng bỏ qua những vấn đề nhỏ và không lấy bản thân làm trung tâm và làm bạn với bất kỳ điều gì theo một cách cởi mở, không sợ hãi; người đó càng hiểu rằng làm điều tốt là một chuyện rất tự nhiên. Thêm vào đó, thiền định tạo nên những ấn tượng tốt sâu xa hơn trong tâm và do đó, là một điều kiện đặc biệt cho sự phát triển của tuệ giác.
6. TUỆ GIÁC
Sự phát triển tâm trí được đánh dấu bằng hai bước, đôi khi được mô tả như là sự tạo thành của hai sự tích tụ: sự phát triển của những ấn tượng tốt trong tâm (1 tới 5) và sự phát triển sâu sắc của tuệ giác (6). Những ấn tượng tốt đẹp không giới hạn được lưu chứa trong tâm thông qua những ý nghĩ, lời nói và hành động có ý nghĩa, và tại điểm này, tâm đạt tới một mức độ của bình an. Tại đây, những tư tưởng và cảm xúc bất an có thể được giải tỏa bằng cách ít chú tâm tới chúng ngay khi chúng trở nên rõ rệt, và đồng thời, duy trì một thái độ tốt. Chất lượng của những ấn tượng tốt cho phép một bước nhảy vọt về chất lượng. Khi những khả năng bị kìm hạm bởi những trạng thái nội tại cứng nhắc được giải phóng, một người hiểu được bản chất của sự vật một cách trực giác và rõ ràng. Người đó nhận ra rằng thực tế là chủ thể, vật thể và hành động là những phần của cùng một tổng thể. Từ đó, tuệ giác là sự thể hiện tự phát của tâm. Nếu vượt thoát ra khỏi tất cả mọi giới hạn, thuộc tính không có điều kiện của sự không sợ hãi, an lạc và lòng từ bi sẽ được biểu lộ. Sự hiểu biết này giải thoát tất cả mọi hoạt động từ bất kỳ sự hẹp hòi nào và biến nó thành không thể sử dụng cho sự khuếch đại của các nguyên mẫu lấy bản thân làm trung tâm.
Nếu một người kết hợp cả sáu hoạt động này, từng bước từng bước đưa nó trở thành một thói quen trong đời sống hàng ngày của một người, thì sau đó đời sống bắt đầu, bằng chính nó, và sẽ ngày càng trở nên có định hướng hướng về lợi lạc của tất cả chúng sinh. Đời sống của một người bắt đầu có nhiều ý nghĩa hơn và người đó càng mang lại nhiều lợi ích cho thế giới. Do đó, câu hỏi không phải là liệu một người có liên quan vào sự hối hả của đời sống hàng ngày hay không mà là liên quan như thế nào.
Saigon Gompa