Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Ngày 14/6/2014 - Thoát Trung, nhưng coi chừng một sai lầm bi đát! - Nực cười, phẫn nộ, nhưng hãy coi chừng Trung Quốc

TIN LÃNH THỔ

TIN XÃ HỘI

TIN KINH TẾ

TIN GIÁO DỤC

TIN ĐỜI SỐNG

TIN CÔNG NGHỆ

TIN VĂN HÓA GIẢI TRÍ

TIN THẾ GIỚI

Phản bác lý sự ngụy biện về "chủ quyền" của Trung Quốc

 
Chiến sỹ Trường Sa chắc tay súng gìn giữ biển đảo Tổ quốc. (Ảnh: Việt Đức/Vietnam+)

Gần đây, trong một số hội nghị, hội thảo quốc tế (Hội nghị quốc tế lần thứ 2 về “An ninh và Hợp tác ở châu Á-Thái Bình Dương” tổ chức tại Bắc Kinh (từ ngày 27 đến 28/5/2014); Đối thoại Shangri-La (Singapore, từ ngày 30/5-1/6/2014), một số quan chức cao cấp, tướng lĩnh, nhà ngoại giao, học giả Trung Quốc lên tiếng cho rằng Trung Quốc có chủ quyền ở quần đảo Nam Sa (Trường Sa); giàn khoan Hải Dương-981 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Hoàng Sa thuộc Trung Quốc; Việt Nam cản trở hoạt động thăm dò dầu khí của giàn khoan Hải Dương-981 tại vùng biển mà Việt Nam không có chủ quyền…
Tất cả những cái gọi là “lý lẽ” ấy đều nhằm biện minh quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm trong lãnh thổ của Trung Quốc.
Trong bài viết: ''Phản bác lý sự "chủ quyền" của Trung Quốc,'' phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Hồng Quân đã góp thêm tiếng nói vạch trần những “lý lẽ” ngụy biện trên của một số quan chức, tướng lĩnh, nhà ngoại giao, học giả Trung Quốc.
Nguyên tắc xác định “quyền thụ đắc lãnh thổ” trong pháp luật quốc tế
Trung Quốc đã dựa vào nguyên tắc “chủ quyền lịch sử,” “danh nghĩa lịch sử” để khẳng định chủ quyền các đảo mà họ gọi là Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa), Đông Sa, Trung Sa. Họ khai thác tất cả các yếu tố được ghi nhận trong các tài liệu lịch sử của Trung Quốc để nói rằng, người Trung Quốc đã xuống Biển Đông và khu vực các đảo này, chính họ là người phát hiện, khai phá, đã làm ăn và sau đó là quản lý, đồng thời rêu rao cái gọi là thực hiện chủ quyền của Trung Quốc với các đảo này.
Trong lịch sử phát triển lâu dài của pháp luật quốc tế, những nguyên tắc và quy phạm pháp luật xác lập chủ quyền lãnh thổ đã được hình thành trên cơ sở thực tiễn quốc tế (như “chiếm hữu thật sự,” “chủ quyền lịch sử,” “khoảng cách địa lý”…), nhưng nguyên tắc “thụ đắc lãnh thổ quốc gia” mới là phương thức đánh giá một cách khách quan, khoa học đối với các quan điểm pháp lý do các bên tranh chấp chủ quyền nêu ra và trở thành nguyên tắc được thế giới thừa nhận sử dụng rộng rãi, gọi là nguyên tắc “quyền thụ đắc lãnh thổ quốc gia.”
Từ thế kỷ XVI, sự phát triển và lớn mạnh khiến các nước như Hà Lan, Anh, Pháp... trở thành những cường quốc cạnh tranh với Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha (Sắc lệnh của Giáo hoàng Alexandre VI ký ngày 4/5/1493 đã phân chia khu vực ảnh hưởng cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở các lãnh thổ mới phát hiện ngoài châu Âu) tại các lãnh thổ mới phát hiện ngoài châu Âu.

 
Một bức bản đồ Trung Quốc cố không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (Nguồn: TTXVN)

Trước thực trạng đó, các cường quốc hàng hải đã tìm ra nguyên tắc pháp lý áp dụng cho việc thụ đắc lãnh thổ đối với những vùng lãnh thổ mà họ mới phát hiện, bao gồm nguyên tắc “quyền ưu tiên chiếm hữu” (hay còn được gọi là nguyên tắc “quyền phát hiện”) và cùng với đó là nguyên tắc “chiếm hữu thật sự.”
Theo nguyên tắc “quyền ưu tiên chiếm hữu,” luật pháp quốc tế dành quyền ưu tiên chiếm hữu cho quốc gia đã phát hiện vùng lãnh thổ đó đầu tiên. Tuy nhiên, trên thực tế, nguyên tắc quyền phát hiện chưa bao giờ tự nó đem lại chủ quyền quốc gia cho quốc gia đã phát hiện ra vùng lãnh thổ mới đó, bởi người ta không thể xác định được khái niệm, giá trị pháp lý của việc phát hiện, ai là người phát hiện trước, dấu ấn hành vi phát hiện đó…
Vì thế, việc “phát hiện” được bổ sung bằng việc “chiếm hữu danh nghĩa,” nghĩa là quốc gia phát hiện ra một vùng lãnh thổ phải để lại dấu tích trên vùng lãnh thổ mới phát hiện đó. Tuy vậy, nguyên tắc “chiếm hữu danh nghĩa” không những không giải quyết được một cách cơ bản những tranh chấp phức tạp giữa các cường quốc đối với các vùng “đất hứa,” đặc biệt là những vùng lãnh thổ thuộc châu Phi và các hải đảo nằm cách xa đất liền hàng ngàn hải lý, thậm chí xa hơn…, trái lại còn dẫn đến không ít cuộc đối đầu quyết liệt giữa các cường quốc, bởi không thể lý giải được cụ thể “chiếm hữu danh nghĩa” được lập ra bao giờ và tồn tại như thế nào…
Vì vậy, sau Hội nghị về châu Phi năm 1885 của 13 nước châu Âu và Hoa Kỳ, đặc biệt sau khóa họp của Viện Pháp luật quốc tế ở Lausanne (Thụy Sĩ) năm 1888, người ta đã thống nhất áp dụng một nguyên tắc thụ đắc mới, đó là nguyên tắc “chiếm hữu thật sự.”
Điều 3, Điều 34 và Điều 35 của Định ước Berlin ký ngày 26/6/1885 đã xác định nội dung của nguyên tắc “chiếm hữu thật sự” và các điều kiện chủ yếu để “chiếm hữu thật sự” là: Phải có thông báo về việc chiếm hữu cho các quốc gia ký Định ước nói trên; và phải duy trì trên vùng lãnh thổ mà nước đã thực hiện hành vi chiếm hữu trên vùng lãnh thổ ấy một quyền lực đủ để khiến cho các quyền của nước chiếm hữu được tôn trọng.
Tuyên bố của Viện Pháp luật quốc tế Lausanne năm 1888 đã nhấn mạnh: “… mọi sự chiếm hữu muốn tạo nên danh nghĩa chủ quyền… thì phải là thật sự, tức là thực tế, không phải là danh nghĩa”. Tuyên bố này đã khiến cho nguyên tắc “chiếm hữu thực sự” của Định ước Berlin 1885 có giá trị phổ biến trong luật pháp quốc tế để xem xét, giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia trên thế giới.
Nội dung chủ yếu của nguyên tắc “chiếm hữu thật sự” trong luật pháp quốc tế gồm các yếu tố sau:
i) Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do nhà nước tiến hành.
ii) Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hòa bình, trên một vùng lãnh thổ vô chủ (Res Nullius) hoặc là trên một vùng lãnh thổ đã bị từ bỏ bởi một quốc gia đã làm chủ nó trước đó (derelicto).
iii) Việc sử dụng vũ lực để xâm chiếm là hành động phi pháp. Quốc gia chiếm hữu phải thực thi chủ quyền của mình ở những mức độ cần thiết, tối thiểu thích hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó.
iv)Việc thực thi chủ quyền phải liên tục, hòa bình.
Do tính hợp lý và chặt chẽ của nguyên tắc này, nên mặc dù Công ước Saint Germain ngày 10/9/1919 tuyên bố hủy bỏ Định ước Berlin 1885 vì thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa, các luật gia và các cơ quan tài phán quốc tế vẫn vận dụng nguyên tắc này để giải quyết các tranh chấp chủ quyền trên các hải đảo (Tháng 4/1928, Tòa án trọng tài thường trực quốc tế La Haye đã vận dụng nguyên tắc này để xử vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Mỹ và Hà Lan, Phán quyết của Tòa án quốc tế của Liên hợp quốc tháng 11/1953 đối với vụ tranh chấp chủ quyền giữa Anh và Pháp về các đảo Minquiers và Ecrehous…).
"Lý lẽ" mà Trung Quốc sử dụng để biện minh cho quan điểm của họ sau khi dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam dựa vào cái gọi là thuyết “chủ quyền lịch sử.” Đây là một luận thuyết vô cùng lạc hậu, trái với công pháp quốc tế, không được luật pháp quốc tế dùng để xử lý các tranh chấp về thụ đắc lãnh thổ đối với các quần đảo.
Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi ở Hoàng Sa và Trường Sa
Việt Nam có đầy đủ các bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Việt Nam đã sớm xác lập chủ quyền ở Trường Sa trong lịch sử. (Ảnh: Việt Đức/Vietnam+)

Các ghi chép lịch sử chính thức cho thấy, ít nhất từ thế kỷ XVII các hoàng đế Việt Nam đã xác lập chủ quyền và có các hoạt động khẳng định chủ quyền, thực thi chủ quyền nhà nước một cách hòa bình và liên tục đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khi các vùng lãnh thổ này được xem là vô chủ.
Cụ thể, nhà Nguyễn đã thành lập Hải đội Hoàng Sa để khai thác kinh tế và thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước khác đối với hai quần đảo này. Năm 1835, Vua Minh Mạng cho xây dựng ngôi chùa “Hoàng Sa tự” và đặt một tượng đá trên quần đảo Hoàng Sa... Như vậy, công việc thực thi chủ quyền của các hoàng đế Việt Nam liên tục trong suốt mấy thế kỷ mà không bị một nước nào, kể cả Trung Quốc, phản đối.
Với một thời gian dài như vậy, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở pháp lý để khẳng định rằng chủ quyền của Việt Nam đã được xác lập từ thời phong kiến đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong khi đó, Trung Quốc không hề có tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa. Nhiều bản đồ, gần nhất là bản đồ của Trung Quốc xuất bản đầu những năm 30 của thế kỷ trước, mô tả đảo Hải Nam là tận cùng phía nam của Trung Quốc, không hề có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhiều người hẳn chưa quên sự kiện tháng 3/2014, nhân chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Cộng hòa Liên bang Đức, Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức bà Angela Merkel đã tặng Chủ tịch Tập Cận Bình món quà là một trong số các bản đồ nói trên.
Bản đồ "Đại Nam nhất thống toàn đồ”, vẽ năm 1834 (dưới triều vua Minh Mạng) thể hiện địa danh Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa bằng chữ Hán, (Nguồn: TTXVN)
Sau thời kỳ nhà Nguyễn, chính quyền bảo hộ Pháp và Việt Nam đều tiếp tục duy trì chủ quyền và quản lý trên thực tế đối với hai quần đảo này. Khi thiết lập nền bảo hộ tại Việt Nam vào năm 1884, Pháp đã tiếp quản các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhân danh Việt Nam, xây dựng Trạm khí tượng trên quần đảo Hoàng Sa. Thậm chí cuối năm 1973, các binh sỹ Việt Nam Cộng hòa đóng trên quần đảo còn cứu một gia đình ngư dân (5 người) Trung Quốc chẳng may gặp sóng to, gió lớn dạt vào đảo, chia sẻ khẩu phần ăn ít ỏi của mình để cưu mang gia đình ngư dân này.
Tháng 9/1951, Hội nghị hòa bình San Francisco với sự tham dự của lãnh đạo 51 quốc gia, nhằm giải quyết các tranh chấp lãnh thổ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đã công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tại hội nghị này, trưởng phái đoàn Việt Nam, ông Trần Văn Hữu, khi đó là Thủ tướng dưới thời Vua Bảo Đại, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước sự hiện diện của đại diện 50 nước khác, trong đó có Trung Quốc, mà không gặp phải sự phản đối nào. Trong khi đó, có tới 48/51 quốc gia tham dự Hội nghị đã bác bỏ đề nghị công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tháng 7/1954, các bên trong đó có Trung Quốc, tham gia Hội nghị Geneva 1954 về lập lại hòa bình ở Đông Dương, đã ký kết Hiệp nghị Geneva công nhận và tôn trọng nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Sau khi Pháp rút các lực lượng khỏi Việt Nam, Việt Nam Cộng hòa đã phục hồi việc thực thi chủ quyền, quản lý đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có nhiều hành động và đưa ra một số tuyên bố để khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo này.
Ấy vậy, năm 1956, Trung Quốc đưa quân đánh chiếm khu vực phía Đông và tháng 1/1974, chiếm nốt khu vực phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tiếp đó, tháng 3/1988, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma do Việt Nam quản lý.
Theo luật pháp quốc tế, việc sử dụng vũ lực để chiếm hữu lãnh thổ là không được thừa nhận. Hành động nói trên của Trung Quốc đã vi phạm một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, được ghi trong Điều 2 khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc. Do đó, việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, một số đảo ở Trường Sa hiện nay là không có giá trị, dù Trung Quốc đã ở đó bao lâu và thực hiện những biện pháp gì nhằm thực thi sự quản lý. Cho nên, tuyên bố Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với “Tây Sa” (Hoàng Sa), “Nam Sa” (Trường Sa) là phi pháp.
Trong khi đó, từ sau năm 1974, Việt Nam tiếp tục khẳng định và chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam phản đối các hoạt động phi pháp cũng như yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa, Trường Sa.
Về Công thư ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng
Một số học giả Trung Quốc cố tình trích dẫn sai Công thư ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, như là một sự thừa nhận công khai chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong Công thư, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không đề cập một từ nào về các lãnh thổ của Trung Quốc, lại càng không đề cập đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ ủng hộ tuyên bố của Trung Quốc về vùng lãnh hải 12 hải lý.
Hơn nữa, việc Thủ tướng Phạm Văn Đồng không đề cập tới các quần đảo trên là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, bởi các quần đảo này đang nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa kể từ sau Hiệp nghị Geneva năm 1954 như đã nói ở trên.
Với tư cách là một nước tham gia và “giúp” Việt Nam đàm phán Hiệp nghị Geneva năm 1954, Trung Quốc biết rõ hơn ai hết phạm vi địa lý hành chính của Việt Nam được chia tại vĩ tuyến 17. Hơn nữa, các tuyên bố của Trung Quốc rằng không có tranh chấp đối với quần đảo Hoàng Sa là hoàn toàn trái ngược với những gì các lãnh đạo Trung Quốc đã thừa nhận.
Tháng 9/1975, Phó Thủ tướng Trung Quốc khi đó là ông Đặng Tiểu Bình đã nói với Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn rằng hai bên (Trung Quốc và Việt Nam) có các quan điểm khác nhau về Hoàng Sa và Trường Sa và vấn đề này có thể được giải quyết thông qua các cuộc đàm phán(!).
Trung Quốc hành xử trái luật pháp quốc tế
Từ tháng 5/2014, khi đặt giàn khoan Hải Dương-981, Trung Quốc luôn biện minh cho hành động ngang ngược của mình là giàn khoan nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của cái gọi là “Tây Sa” (Hoàng Sa) của Trung Quốc. Điều này hoàn toàn phi pháp, sai trái về mặt luật pháp quốc tế, trên các mặt sau:

Nhiều tàu Trung Quốc vây quanh, bảo vệ giàn khoan Hải Dương-981 hạ đặt trái phép trên vùng biển Việt Nam. (Nguồn: TTXVN)

i) Các đảo đá tại Hoàng Sa có diện tích nhỏ (lớn nhất là đảo Phú Lâm có diện tích khoảng 2km vuông), không thỏa mãn điều kiện pháp lý áp dụng cho quy chế đảo là phải có đời sống kinh tế riêng và có thể tự duy trì cuộc sống.
Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982), các đảo đá này không được hưởng 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có vùng lãnh hải 12 hải lý. Điều đó khẳng định vị trí Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 (cách đảo Tri Tôn 17 hải lý và sau đó là 25 hải lý) hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và hoàn toàn không có tranh chấp, lại càng không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Hoàng Sa theo quy định của UNCLOS 1982.
ii) Trung Quốc sử dụng số lượng lớn tàu hải cảnh, hải giám, ngư chính, quân sự cùng máy bay chiến đấu để hộ tống trái phép giàn khoan Hải Dương-981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Đặc biệt, Trung Quốc cho mở bạt che nòng súng trên các tàu quân sự, chĩa vào tàu dân sự của Việt Nam.
Các hành động nói trên cho thấy rõ ràng Trung Quốc đã có hành động đe dọa sử dụng vũ lực. Nghiêm trọng hơn, các tàu của Trung Quốc chủ động, cố tình đâm va, làm hư hại nhiều tàu thuyền của lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam, thậm chí đâm chìm tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam, đâm hỏng tàu kiểm ngư, tàu cảnh sát biển Việt Nam, làm bị thương nhiều cán bộ các cơ quan thực thi pháp luật của Việt Nam và nhiều ngư dân đang hoạt động tại ngư trường truyền thống trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đây là các hành động sử dụng vũ lực hết sức nguy hiểm, đe dọa trực tiếp hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông.
Hiến chương Liên hợp quốc đã cấm tất cả các hành động sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực nói chung và liên quan đến các vấn đề lãnh thổ nói riêng. Các hoạt động tranh chấp phải được giải quyết thông qua thương lượng hòa bình. Hoạt động sử dụng vũ lực chỉ được thực hiện trong các hoàn cảnh đặc biệt như là tự vệ và (hoặc) được Hội đồng Bảo an cho phép.
iii) Trung Quốc tuyên bố thiết lập vùng an toàn 3 hải lý xung quanh giàn khoan Hải Dương-981 cũng là hành vi hoàn toàn trái với luật pháp quốc tế. Theo UNCLOS 1982, một quốc gia chỉ được phép thiết lập vùng an toàn 500 mét cho các công trình và thiết bị lắp đặt trên biển.
Trên thực tế, phạm vi các tàu hải cảnh, hải giám, ngư chính và tàu quân sự của Trung Quốc ngăn cản tàu thực thi pháp luật của Việt Nam bảo vệ chủ quyền vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam nhiều khi lên tới 30-40 hải lý. Hành động này đã đe dọa tự do, an ninh và an toàn hàng hải trong khu vực.
Không những thế, việc các máy bay trinh sát và tiêm kích của Trung Quốc thường xuyên bay thấp, uy hiếp các tàu công vụ, tàu cá của Việt Nam đã trở thành mối đe dọa đối với an toàn và tự do hàng không trên Biển Đông.
Thay lời kết
Cách đây một thập kỷ, Trung Quốc đưa ra khái niệm ''trỗi dậy hòa bình,'' rồi ''phát triển hòa bình,'' cam kết không bá quyền, trấn an thế giới về sự phát triển của mình.
Năm 2013, Trung Quốc đề xuất sáng kiến “con đường tơ lụa trên biển” và đề nghị ký hiệp định láng giềng hữu nghị với ASEAN. Tuy nhiên, với những hành động gây hấn và khiêu khích từ năm 2009 trở lại đây trên biển Đông và biển Hoa Đông, thế giới đã thấy khoảng cách ngày càng lớn giữa lời nói và hành động của Trung Quốc.
Thế giới đang nhìn Trung Quốc như là một cường quốc ngày càng ưa sử dụng sức mạnh để thay đổi hiện trạng trong khu vực, khẳng định chủ quyền bằng cách tạo ra những “thực tế mới” trên Biển Đông, ngày càng hung hăng, vi phạm luật pháp quốc tế, đe dọa an ninh, hòa bình và ổn định khu vực.
Chính vì vậy, lòng tin của các quốc gia trong khu vực đối với Trung Quốc suy giảm, Trung Quốc càng bị cô lập trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Tai hại hơn, khi niềm tin về sự “phát triển hòa bình” của Trung Quốc thiếu cơ sở, các nước trong khu vực sẽ tìm kiếm các biện pháp tài phán, xây dựng các mối quan hệ hợp tác quốc tế mới, thậm chí tăng cường khả năng tự vệ. Điều này không có lợi đối với Trung Quốc, bởi cường quốc nào cũng phải tạo dựng môi trường hòa bình và hợp tác xung quanh mình. Một môi trường hòa bình, hợp tác vì phồn vinh chung liệu có thể được tạo dựng bằng chính sách cường quyền?/.
(TTXVN)

Thoát Trung, nhưng coi chừng một sai lầm bi đát!

“…Nguyễn Tấn Dũng có thể không phải là người nhiệt tình nhất với chính sách phục tùng Trung Quốc nhưng cũng không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông. Muốn "thoát Trung" mà lại "phò Dũng" là rất sai, sai một cách bi đát…”
 nguyentandung16
...những lời tuyên bố mơ hồ, chung chung, vớ vẩn của ông Dũng
"thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta"...

Một tháng rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Bắc Kinh đưa giàn khoan vào vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Giàn khoan vẫn còn đó những dư luận thế giới đã ngoảnh sang những vấn đề khác. Bắc Kinh đã thành công một bước trong tiến trình bình thường hóa sự chiếm đoạt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Bước tiến này mở đường cho những hành động lấn chiếm khác.

Hành động của Bắc Kinh đáng lẽ là một sự dại dột và đã phải thất bại bẽ bàng; không những thế còn tạo cho Việt Nam một cơ hội để tái khẳng định chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa và các quyền lợi chính đáng trên Biển Đông theo qui định của luật pháp quốc tế. Trong những ngày đầu khi Trung Quốc vừa đưa giàn khoan HD-981 vào hải phận Việt Nam lập trường của các chính phủ -Hoa Kỳ, Châu Âu cũng như các nước trong khu vực Thái Bình Dương- đã đồng thanh lên án hành động của Trung Quốc như là một sự khiêu khích. Ngược lại không một quốc gia nào bênh vực Trung Quốc cả. Một cách mặc nhiên thế giới đã nhìn nhận Hoàng Sa và vùng biển chung quanh không phải là của Trung Quốc, nghĩa là của Việt Nam hay ít nhất có thể được coi là của Việt Nam.

Điều gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam phản ứng một cách mạnh mẽ, dù ôn hòa, đối với Trung Quốc và đưa vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc? Chắc chắn Trung Quốc sẽ xấc xược phủ nhận thẩm quyền của Tòa Án Công Pháp Quốc Tế (International Court of Justice) và cũng sẽ sử dụng quyền phủ quyết nếu Việt Nam đưa vấn đề ra Hội Đồng Bảo An. Nhưng đó là tất cả những gì mà chúng ta chờ đợi. Trung Quốc sẽ bị cô lập và lên án, chủ quyền của Việt Nam sẽ được thừa về mặt tình cảm, Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt hơn nhiều nếu tái diễn sự khiêu khích. Có mọi triển vọng là họ không dám tái diễn vì Trung Quốc vừa rất lệ thuộc vào thế giới vừa không đủ mạnh để thách thức thế giới, hơn nữa lại đang sắp đi vào một cuộc khủng hoảng lớn. Tóm lại giàn khoan của Trung Quốc sẽ rút đi sau một vài tháng chi phí tốn kém, sau khi bị lên án và khiến Việt Nam được bênh vực.

Nhưng thực tế đã không như vậy bởi vì chính quyền cộng sản Việt Nam đã không có phản ứng. Hành động xâm lược của Trung Quốc vẫn tiếp tục và không còn lôi kéo sự chú ý của thế giới nữa. Lần sau nếu tình trạng này lặp lại sự chú ý của thế giới sẽ còn ít hơn. Lẽ phải lúc đó sẽ chỉ là lý của kẻ mạnh.

Những gì chính quyền CSVN đã làm, như phổ biến một thư luân lưu tới các thành viên LHQ một tháng sau khi sư kiện khởi đầu, một vài tuyên bố nguyên tắc và một số tàu cá và cảnh sát biển tới gần hiện trường, không đáng được coi là một phản ứng. Ngay cả nếu chính quyền CSVN muốn dâng biển và đảo cho Trung Quốc trong một thỏa hiệp ngầm họ cũng khó có thể phản ứng yếu hơn.

Hành động của Trung Quốc vừa là một hành động lấn chiếm vừa là một hành động chiến tranh bởi vì họ đem theo cả hàng trăm tàu chiến và đánh phá các tàu của Việt Nam, kể cả tàu của cảnh sát biển Việt Nam. Trước một biến cố nghiêm trọng như vậy bất cứ một chính quyền nào trên thế giới cũng đã phải thông tin và giải thích đầy đủ cho nhân dân biết những gì xảy ra qua thông điệp long trọng của quốc trưởng và thủ tướng cùng với những phát biểu của các bộ trưởng và các cấp lãnh đạo chính trị để động viên toàn dân đoàn kết trong cố gắng giữ nước, đồng thời lập tức đưa vấn đề ra công pháp quốc tế.

Nhưng chúng ta đã thấy gì?

Ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn không nói gì trước hội nghị trung ương của đảng cộng sản diễn ra đúng lúc Trung Quốc đang trắng trợn xâm phạm vùng biển Việt Nam và cũng không thấy có ủy viên trung ương đảng nào tỏ ra bức xúc. Hình như đối với ông Trọng và đảng cộng sản không có vấn đề gì cả.

Về phía nhà nước cả chủ tích nước lẫn thủ tướng đều không tuyên bố gì với quốc dân. Quốc hội cũng không có phản ứng. Ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang kêu ca trong một buổi tiếp xúc với cử tri một quận rằng "anh phải rút đi chứ, nhà tôi chứ đâu phải nhà anh!". Không khác gì một người dân oan trong số hàng triệu dân oan của chế độ. Ông chủ tịch thừa biết những tiếng kêu than này có tác dụng gì. Ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ nói trước hội nghị ASEAN một phần rất nhỏ những điều mà mọi người đều đã biết và cũng không dám kêu gọi hậu thuẫn của thế giới, sau đó cũng chỉ trả lời với ký giả nước ngoài, tại nước ngoài, rằng "không chấp nhận đánh đổi chủ quyền để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc".Không một cấp lãnh đạo quốc gia nào trong trường hợp Việt Nam khi ra nước ngoài và bị các ký giả chất vấn có thể nói yếu hơn.

Ông đại tướng bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh được một cơ hội bằng vàng để bảo vệ lập trường của Việt Nam khi tham dự Đối Thoại Shangri-La 13. Trước đó cả thủ tướng Nhật Shinzo Abe lẫn bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đều đã mạnh mẽ tố giác hành động của Trung Quốc và tuyên bố sẽ không để Trung Quốc lộng hành trên Biển Đông, sẽ sẵn sàng giúp các nước trong vùng, kể cả Việt Nam, phương tiện tự vệ. Một chính quyền Việt Nam quan tâm bảo vệ chủ quyền không thể mong đợi nhiều hơn. Tuy vậy ông Thanh đã tuyên bố rằng "quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp"và vụ giàn khoan HD-981 chẳng có gì nghiêm trọng vì "mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng". Chẳng khác gì bảo Mỹ, Nhật và thế giới đừng xía vào, hãy để mặc Việt Nam giải quyết với Trung Quốc. Nhưng giải quyết như thế nào? Ông Thanh chỉ dám "đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam". Thật khó có thể có một bộ trưởng quốc phòng bất xứng hơn.

Bộ ngoại giao cũng không dám triệu tập đại sứ Trung Quốc để phản đối dù đây phản ứng nhẹ nhất trong trường hợp này. Các chính phủ triệu tập đại sứ trong những trường hợp không quan trọng hơn nhiều; thí dụ như Bắc Kinh đã triệu tập đại sứ Mỹ tại Trung Quốc để phản đối việc năm sĩ quan Trung Quốc bị tố giác là có hoạt động gián điệp. Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam là một đại sứ hay một thái thú? Tệ hơn nữa, bộ ngoại giao còn làm một việc rất vô ý thức là triệu tập đại điện sứ quán Trung Quốc (nhấn mạnh: đaị diện sứ quán chứ không phải đại sứ) sau khi một tàu cá Việt Nam bị đụng chìm ngày 26-5. Như vậy là việc Trung Quốc tìm dầu trong hải phận Việt Nam không nghiêm trọng bằng một chiếc tàu cá bị đụng chìm? Chỉ một tháng sau khi hành động xâm lược của Trung Quốc diễn ra phái bộ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc mới cho phổ biến một thư luân lưu đến đại diện các nước, nhưng đây cũng chỉ là một thông báo mà thôi chứ không kêu gọi một hành động quốc tế nào cả.

(Đến đây xin mở một ngoặc đơn. Sự nhu nhược này không phải do lỗi của bộ ngoại giao, mà là vì bộ ngoại giao không có quyền quyết định. Chính sách cũng như hành động đối ngoại hoàn toàn ở trong tay một một vài người trong bộ chính trị; những người này khống chế được bộ máy đảng và nhà nước và quyết định chính sách đối ngoại một cách hoàn toàn bí mật. Ngay cả những cấp lãnh đạo, kể cả đa số ủy viên trung ương đảng, cũng chỉ biết đến những thay đổi định hướng đối ngoại rất lâu sau khi chúng đã thành một thực tế. Cuối thập niên 1950 Lê Duẩn và Lê Đức Thọ quyết định theo Trung Quốc (để có thể phát động nội chiến) và thanh trừng những phần tử bị cáo buộc là "xét lại chống đảng" vì thân Liên Xô. Không ai biết. Gần mười năm sau họ đổi hướng 180 độ và theo Liên Xô chống Trung Quốc. Cũng không ai biết. Năm 1984 sau khi Liên Xô bối rối không bảo vệ được chế độ CSVN nữa, Nguyễn Văn Linh được đưa trở lại bộ chính trị rồi trở thành tổng bí thư để thực hiện chính sách đầu hàng và thần phục Trung Quốc cùng với Lê Đức Anh và Đỗ Mười. Vẫn không ai biết. Trí thức Việt Nam còn tung hô Nguyễn Văn Linh như một người của đổi mới mà không biết rằng ông ta chỉ là người của Trung Quốc).

Chính quyền CSVN đã không nói gì với nhân dân. Họ không cần giải thích gì cả bởi vì họ không thấy có một bổn phận nào đối với nhân dân Việt Nam cả; họ là một lực lượng chiếm đóng và thống trị chứ không phải là một chính quyền Việt Nam. Họ còn dùng bọn côn đồ - mà họ vẫn thường dùng để hành hung những người dân chủ - để gây bạo động và lấy đó làm cớ để cấm đoán những cuộc biểu tình của những người yêu nước phản đối hành động xâm lược của Bắc Kinh. Nếu họ thực sự là dụng cụ của Trung Quốc để bán đứng đất nước họ cũng không thể làm khác.

Chúng ta có thể tự hỏi tại sao Trung Quốc lại làm như vậy? Hành động của họ đáng lẽ phải là một hành động ngu xuẩn rất có hại cho họ, nhưng họ đã thành công bởi vì họ biết trước phản ứng của Hà Nội. Tất cả diễn ra như một kịch bản đã được chuẩn bị trước.

Không thể loại trừ khả năng là giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã có những thỏa ước không được công bố và Bắc Kinh đã dựa vào đó để hành động. Nếu không thì không ai có thể giải thích tại sao chính quyền Hà Nội không đưa vấn đề ra công pháp quốc tế dù sau hơn 20 lần tiếp xúc vẫn chỉ nhận được một câu trả lời trịch thượng của Bắc Kinh là không có gì để thảo luận cả vì họ hoàn toàn đúng. Người ta có thể nghĩ như vậy khi đọc lại bản tuyên bố chung Việt – Trung ngày 21/06/2013 sau chuyến thăm viếng Bắc Kinh của ông Trương Tấn Sang:

"Hai bên hoan nghênh Thỏa thuận sửa đổi liên quan tới Thỏa thuận thăm dò chung trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa doanh nghiệp hữu quan hai nước, nhất trí mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận, kéo dài thời hạn thỏa thuận, cùng nhau thúc đẩy hoạt động thăm dò chung đối với cấu tạo dầu khí vắt ngang đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ sớm đạt được tiến triển tích cực". (Tác giả tô đậm những cụm từ đáng chú ý).

Thỏa thuận sửa đổi nào? Thoả thuận thăm dò chung nào? Khu vực thỏa thuận nào? Mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận tới đâu? Nhân dân Việt Nam không được biết, tất cả đều chỉ là những cam kết dấm dúi giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và quan thày Trung Quốc của họ. Cũng không nên quên câu nói của thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh - một người rất thận cận với ông Dũng đồng thời cũng là một trong những người nhiều quyền lực nhất hiện nay - đại diện Việt Nam trong cuộc đàm phán Việt – Trung năm 2012: "Việt Nam không còn bất cứ băn khoăn gì khi hợp tác với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực ".Không còn bất cứ băn khoăn nào, vậy việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và Trường Sa coi như đã xong? Nếu quả thực như thế thì Trung Quốc có quyền làm những gì họ đang làm. Có những lúc mà ngôn ngữ không đủ để nói lên sự ngạc nhiên và phẫn nộ.

Cũng đáng ngạc nhiên và thất vọng không kém là thái độ của nhiều trí thức Việt Nam. Họ chống ách lệ thuộc Bắc Kinh và muốn "thoát Trung" nhưng lại ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng. Đối với họ Nguyễn Tấn Dũng là người tiến bộ, thân phương Tây và dám đối đầu với Bắc Kinh. Lý do là vì ông đã gửi con đi du học Mỹ, đã gửi thông điệp đầu năm nói tới "đổi mới thể chế" và "xây dựng dân chủ" và mới đây đã công khai phản đối việc Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sau đó lại tuyên bố không chấp nhận quan hệ lệ thuộc.

Tại sao lại có thể nông cạn và dễ tính đến thế được? Việc ông Dũng gửi con sang du học tại Mỹ không chứng minh gì cả; phần lớn các lãnh tụ chóp bu Nga và Trung Quốc cũng làm như thế, chính bản thân Tập Cận Bình cũng đã thực tập tại Mỹ. Chính quyền Trung Quốc cũng vừa tiết lộ là có hơn một nghìn quan chức tỉnh Quảng Đông gửi con du học các nước phương Tây. Gửi con đi học tại Mỹ không có nghĩa là thân Mỹ. Mà dù có được đào tạo tại phương Tây cũng không có nghĩa là đã trở thành người dân chủ. Cho tới thập niên 1980 hầu như tất cả các chế độ Châu Mỹ La Tinh đều là những chế độ độc tài mafia do những kẻ tốt nghiệp tại các trường đại học Mỹ cầm đầu. Bachar al Assad, tên độc tài khát máu tại Syria, tốt nghiệp tại Anh. Giáo dục quả nhiên thay đổi cách suy nghĩ nhưng thường phải một hai thế hệ. Người ta cố tình gán cho Nguyễn Tấn Dũng những chủ trương mà ông không bao giờ có, hơn nữa còn chống lại một cách hung bạo. Có những vị hân hoan vì ông Dũng nói tới "phát huy dân chủ" trong bài thông điệp đầu năm, nhưng đó hoàn toàn chỉ là thứ dân chủ mà ĐCSVN đã nói tới từ thời Việt Nam Dân Chủ Công Hòa, nghĩa là dân chủ kiểu xã hội chủ nghĩa, cái dân chủ mà bà Nguyễn Thị Doan đánh giá là ưu việt gấp triệu lần dân chủ đa nguyên đa đảng. Hoàn toàn không có gì mới. Điều chắc chắn là ông Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố "nhất định không để nhen nhúm những tổ chức đối lập". Đó là xây dựng dân chủ? Cũng đừng quên rằng chính ông Dũng đã ký quyết định 97/2009/QĐ-TTg cấm phản biện và khai tử nhóm IDS.

Ca tụng ông Dũng là dám chống Trung Quốc cũng chỉ là lấy mơ ước làm sự thực, hay tệ hơn nữa là tán tụng kẻ có quyền, một thái độ chẳng có gì đáng tự hào. Về vụ HD-981 ông Dũng đã chỉ nói một phần nhỏ những điều mà mọi người đã biết. Còn câu "không chấp nhận đánh đổi chủ quyền để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc"thì quả là vớ vẩn. Có gì là khảng khái? Ai có thể nói ngược lại? Ông Dũng còn phải cố gắng nhiều, rất nhiều, nếu muốn chứng tỏ thực tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc.

Điều chắc chắn là ông Dũng đã góp phần quyết định đưa Việt Nam đi sâu vào thế lệ thuộc Trung Quốc. Lệ thuộc Trung Quốc là chọn lựa chiến lược của ĐCSVN từ giữa năm 1984 và là trách nhiệm chung của các bộ chính trị từ đó. Nhưng cũng có những điều chủ yếu thuộc trách nhiệm của hành pháp, nghĩa là thủ tướng. Như cho Trung Quốc thuê dài hạn rừng đầu nguồn; cho Trung Quốc thuê những vùng biển rộng lớn để khai thác hải sản; cho các doanh nghiệp Trung Quốc đưa công nhân ồ ạt sang Việt Nam và tổ chức như những khu riêng của người Hoa; cho người và hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam không kiểm soát; xuất khẩu hàng hóa Trung Quốc mang nhãn made in Vietnam sang Hoa Kỳ và Châu Âu đưa thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc lên 24 tỷ USD; cho Trung Quốc trúng thầu gần hết các dự án và sau đó thi công một cách bê bối v.v. Cũng đừng quên Nguyễn Tấn Dũng là người bảo vệ dự án Bô-xit Tây Nguyên một cách quả quyết nhất, tuyên bố "dự án này phải tiếp tục vì là một chủ trương lớn của Đảng". Đinh Đăng Định chỉ có tội phản đối dự án này mà bị cầm tù tới chết. Riêng về điểm này phải nhìn nhận là ông Trương Tấn Sang đã tỏ ra có trách nhiệm hơn và phần nào đã bênh vực những người phản đối. Điếu Cày có tội gì mà bị xử tới 12 năm tù sau khi đã ở tù 3 năm? Anh chẳng viết hay tuyên bố gì đáng nói. Tội duy nhất của Điếu Cày là đã tổ chức những cuộc biểu tình chống ngọn đuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008. Nguyễn Xuân Nghĩa bị xử 6 năm tù -và còn bị công an cho thường phạm đánh trong tù- chỉ vì căng những biểu ngữ "Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam". Không thể nói rằng đây là chính sách của Đảng; chính sách phục tùng Trung Quốc là của Đảng nhưng sự hung bạo là của Nguyễn Tấn Dũng. Cũng không nên quan trọng hóa quá đáng vai trò của bộ chính trị. Ông Dũng chẳng coi bộ chính trị ra gì, bộ chính trị muốn kỷ luật ông mà không được, muốn đưa hai ông Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào bộ chính trị cũng không được. Nguyễn Tấn Dũng mạnh hơn bộ chính trị vì kiểm soát được đa số trong ban chấp hành trung ương. Ai thắc mắc điều này có thể nhìn vào những bản án dành cho Trần Huỳnh Duy Thức và Cù Huy Hà Vũ. Duy Thức sử dụng tài liệu do văn phòng Trương Tấn Sang cung cấp để tố cáo Nguyễn Tấn Dũng tham nhũng và lãnh 16 năm tù trước sự bất lực của phe Trương Tấn Sang, Hà Vũ đòi kiện Nguyễn Tấn Dũng về vụ Bô-xit và lãnh 7 năm dù thuộc diện con cháu công thần và được nhiều che chở ngay trong đảng. Bản hiến pháp mới vừa có hiệu lực từ đầu năm nay trong đó nét đậm nhất là rập khuôn theo chế độ Trung Quốc cũng là do ông Dũng đưa ra trước đại hội Đảng thứ 11; chỉ có điều là sau đó có quá nhiều vụ bê bối bị phát giác khiến ông không giành được chức tổng bí thư đảng như dự tính.

Cũng Nguyễn Tấn Dũng vừa ra chỉ thị cấm biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm hải phận Việt Nam. Tại sao cấm những cuộc biểu tình chính đáng này? Và tại sao không thấy trí thức trong nước nào lên tiếng mạnh mẽ phản đối quyết định này? Ông Dũng viện cớ ngăn ngừa những bạo loạn như dã xảy ra tại Bình Dương, nhưng ai điều động bọn côn đồ đập phá? Bọn này rõ ràng là được công an bảo kê. Chúng chỉ có vài chục đứa mà dám đến các doanh nghiệp đòi phải để công nhân ngừng làm việc để đi biểu tình và khi được trả lời là công nhân đã đi biểu tình rồi thì đòi vào khám nhà máy xem còn công nhân không. Nhà máy cầu cứu thì được công an lời là "không thể làm gì cả". Tại sao công an lại không thể làm gì cả, trừ khi được lệnh cấm can thiệp? Rồi sau những thiệt hai to lớn đã có sĩ quan công an nào bị khiển trách không? Bình thường trước một sư kiện nghiêm trọng như vậy chính bộ trưởng công an phải tự kiểm điểm, thậm chí phải từ chức hoặc bị cách chức. Nên nhớ rằng công an hoàn toàn ở trong tay ông Dũng. Giải thích hợp lý nhất là chính ông Dũng đã tạo ra những cuộc bạo loạn này để có cớ cấm những cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Nhưng giải thích này có thể chưa đủ. Có thể còn có cả sự phối hợp với Trung Quốc - cả trong vụ giàn khoan HD-981 lẫn những diễn tiến sau đó - để tạo ra một tình trạng căng thẳng vừa biện minh cho sự suy sụp kinh tế không thể che giấu được nữa vừa giúp Nguyễn Tấn Dũng lấy cớ vãn hồi an ninh trật tự làm một cuộc đảo chính – công khai hoặc ngầm - thu tóm mọi quyền lực trong tay và vô hiệu hóa các đối thủ. Rất có thể. Bởi vì Trung Quốc không thể tìm được một đồng minh lý tưởng hơn ông Dũng, ông vừa hợp tác tận tình với Trung Quốc vừa thẳng tay đàn áp những người chống Trung Quốc. Ai cũng phải thấy là vụ giàn khoan HD-981 đã chỉ có lợi cho Nguyễn Tấn Dũng.

Nguyễn Tấn Dũng có thể không phải là người nhiệt tình nhất với chính sách phục tùng Trung Quốc nhưng cũng không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông. Muốn "thoát Trung" mà lại "phò Dũng" là rất sai, sai một cách bi đát.

Có thể nói gì thêm về Nguyễn Tấn Dũng?

Khi lên làm thủ tướng ông tuyên bố nếu không dẹp được tham nhũng ông sẽ từ chức. Thực tế là tham nhũng không giảm đi, cũng không thể nói là tăng lên, mà phải nói là đã bùng nổ dưới chính phủ của ông Dũng. Hối lộ, vơ vét, móc ngoặc, mua quan bán chức đã trở thành qui luật dưới chính quyền Nguyễn Tấn Dũng. Phải nói một cách thật rõ rệt: nếu không dẹp được tham nhũng thì đất nước không có tương lai. Nguyễn Tấn Dũng không dẹp mà còn giúp tham nhũng bành trướng. Như vậy không thể viện dẫn bất cứ lý do nào để ủng hộ ông.

Ông Dũng đã khởi xướng ra "sáng kiến" dùng bọn côn đồ làm cánh tay nối dài của công an để hành hung dân oan và những người dân chủ. Tôi được nghe hai tiếng "đầu gấu" lần đầu tiên từ ông Hoàng Minh Chính qua điện thoại năm 2002. Ông Chính cùng các thân hữu tới tòa án ủng hộ Lê Chí Quang đang bị xét xử. Ông la lên: "Chúng nó dùng bọn đầu gấu đánh anh em dân chủ!". Lúc đó ông Dũng vừa lên làm phó thủ tướng nhưng quyền lực át hẳn ông thủ tướng rất lu mờ Phan Văn Khải. Vài năm sau chính ông Hoàng Minh Chính cũng bị bọn đầu gấu xô đẩy và bị ném đồ dơ bẩn khi đi chữa bệnh ở Mỹ về, người nhà bị hành hung. Hiện tượng đầu gấu liên tục phát triển cùng với quyền lực của ông Dũng, đến mức giờ đây khó phân biệt công an và côn đồ. Hầu như không có người dân chủ trẻ nào không bị đánh, kể cả các phụ nữ như Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Hoàng Vi.

Dưới chính quyền của ông Dũng công an trở thành hung bạo. Hiện tượng tra tấn nghi can, dùng thường phạm đánh chính trị phạm trong nhà tù, đánh người, thậm chí đánh chết người, trong đồn công an ngày càng trở thành bình thường. Đó chủ yếu là thành quả của ông Dũng. Không thể nói rằng trách nhiệm của ông Dũng chỉ là đã không kiểm soát được công an. Ông nắm rất vững lực lượng công an, ông xuất thân là một công an và từng là thứ trưởng trực bộ công an. Công an không thể làm những gì mà ông cấm.

Nhiều người nói hãy cứ tập trung phát triển kinh tế rồi sẽ có dân chủ. Những người này không hiểu kinh tế và nói bậy. Nhưng ngay cả như thế thì Nguyễn Tấn Dũng cũng không phải là người lãnh đạo quốc gia chấp nhận được. Ông tỏ ra rất thiếu bài bản về kinh tế.

Một vài thí dụ:

-Ít lâu sau khi chính thức lên làm thủ tướng ông sang thăm Mỹ và tìm gặp Alan Greenspan, vừa mãn nhiệm kỳ chủ tịch ngân hàng trung ương Mỹ, để chiêm ngưỡng một thiên tài kinh tế. Chỉ một thời gian ngắn sau thế giới nhận ra Alan Greenspan là thống đốc tồi nhất từ một thế kỷ và đã gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu chưa từng có.

- Cuối năm 2007 ông Dũng tung ra 150 nghìn tỷ đồng để mua 9 tỷ USD làm cả nước điêu đứng vì vật giá tăng vọt, lý do là để "hỗ trợ đồng đô la" vì sợ hối suất đồng đô la Mỹ sẽ giảm sút nghiêm trọng so với đồng tiền Việt Nam; dự đoán này sai một cách lố bịch vì điều ngược lại đã xảy ra.  Đồng đô la lúc đó bằng 15.000 đồng Việt Nam, ngay sau đó nó đổi lấy 18.500 đồng.

- Cuối năm 2008 chính phủ của ông Dũng trổ tài một lần nữa. Thấy thực phẩm lên giá đột ngột họ ra lệnh cấm xuất cảng gạo vì nghĩ rằng giá gạo sẽ còn tăng thêm và sợ bán hố. Sau đó thì giá gạo xuống nhanh và nông dân khốn khổ. Thực ra giá thực phẩm chỉ biến động trong một thởi gian ngắn, ngay lúc ông Dũng lấy quyết định ngớ ngẩn đó thị trường gạo đã trở lại bình thường rồi.

- Năm 2009 ông Dũng tung ra "gói kích cầu" 8 tỷ USD để kích thích tăng trưởng kinh tế. Theo lời bộ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư Bùi Quang Vinh thì số tiền 8 tỷ USD này đã mất toi và "doanh nghiệp bây giờ chết hết rồi".

Sai lầm tai hại nhất của ông Dũng là lập ra những tập đoàn lớn, bắt chước các chaebol của Hàn Quốc dù không có những cấp lãnh đạo tương xứng và cũng không có cả những công ty đúng nghĩa. Kết quả là tất cả 127 tập đoàn đều lỗ nặng vì chỉ là những ổ lãng phí và tham nhũng. Chúng đang gánh một tổng số nợ gần 100 tỷ USD. Ai sẽ trả cái giá kinh khủng của sự ngu dốt này nếu không phải là thế hệ đang lớn lên? Trung bình mỗi người Việt Nam sẽ phải trả 1000 USD (22 triệu đồng) vì sự bất tài, tham nhũng và tính vĩ cuồng của chính quyền Nguyễn Tấn Dũng. Trong kỷ nguyên tri thức này không một quốc gia nào có thể chấp nhận một người lãnh đạo thiếu hiểu biết như ông Dũng mà không tàn lụi. Ngày nay người ta không còn có thể nói là đã có các cố vấn vì các vấn đề đã trở thành quá phức tạp và các dữ kiện thay đổi quá nhanh chóng. Muốn tuyển chọn các cố vấn có thực tài và sau đó trọng tài giữa các đề nghị phức tạp thì bắt buộc phải có một trình độ nào đó mà ông Dũng hoàn toàn không có.

Điều quan trọng cần được đặc biệt lưu ý là Việt Nam vừa để mất một cơ hội bằng vàng để vươn lên. Năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới vốn và kỹ thuật nước ngoài đã ồ ạt đổ vào nước ta. Khối lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lớn hơn tổng số đầu tư vào tất cả các nước trong vùng. Khối lượng đầu tư nước ngoài to lớn này có lúc đã tạo ra ảo tưởng, nhưng sau đó sự bất tài, tham nhũng và những vụ án chính trị thô bạo đã khiến các nhà đầu tư chán ngán bỏ đi. Họ sẽ chỉ trở lại nếu Việt Nam thay đổi chế độ chính trị.

Đặc tính nổi bật và phải lên án nhất của ông Dũng là sự hung bạo đối với những người dân chủ. Những vụ trước đây bị xử 2 hoặc 3 năm – như thế đã là rất thô bạo vì các nạn nhân hoàn toàn vô tội - có thể bị xử trên 10 năm trong mấy năm gần đây sau khi ông Dũng đã thu tóm được phần lớn quyền lực trong tay. Vào năm 2007 Lê Thị Công Nhân bị xử 3 năm tù, Nguyễn Văn Đài 4 năm, nhưng từ năm 2010 trở đi Trần Huỳnh Duy Thức bị xử 16 năm, Điếu Cày 15 năm, Tạ Phong Tần 10 năm, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm, Đỗ Thị Minh Hạnh 7 năm. Sự hung bạo đã tăng gấp ba.

Tóm lại Nguyễn Tấn Dũng là một người rất thiếu kiến thức và khả năng, rất tham nhũng, rất tận tình với Trung Quốc và rất hung bạo đối với những người dân chủ và những người chống chính sách lệ thuộc vào Bắc Kinh. Hơn nữa còn là người đã gây thiệt hại lớn nhất - về mọi mặt kinh tế, xã hội, đạo đức và môi trường - cho đất nước từ hơn mười năm nay. Người ta có thể không dám đả kích ông Dũng vì ông là người đầy quyền lực và rất hung bạo, nhưng ủng hộ và ca tụng ông là chuyện khác.

Làm sao không khỏi phiền lòng khi đọc thư ngỏ của nhiều trí thức có uy tín đánh giá những lời tuyên bố mơ hồ, chung chung, vớ vẩn của ông Dũng "thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta". Ý chí của nhân dân ta đâu phải chỉ có thế. Hay khi đọc lời thuật rằng "cuộc hội thảo về "thoát Trung" là do cảm hứng vì những lời tuyên bố của thủ tướng". Cảm hứng quá hời hợt. Và làm sao có thể thảo luận về "thoát Trung" nếu, như ban tổ chức yêu cầu, không được phép phê phán một chính quyền coi phụ thuộc Trung Quốc là điều kiện để tồn tại? Cần nhấn mạnh lệ thuộc Trung Quốc không phải là yêu cầu của nhân dân Việt Nam mà chỉ là nhu cầu sống còn của chế độ cộng sản.

Các trí thức đang ủng hộ ông Dũng và muốn ông Dũng có thế mạnh hơn nữa phải rất cảnh giác. Họ có thể sắp được mãn nguyện đấy, nhưng đó sẽ chỉ là một thảm kịch cho đất nước.

Để kết luận, xin có một lời cải chính nếu những gì vừa viết ở trên có thể khiến độc giả nghĩ rằng tôi bi quan. Không, tôi không hề bi quan. Trái lại tôi tin rẳng chúng ta có thể lạc quan. Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh lịch sử quan trọng, hạn kỳ dân chủ có thể rất gần.

Dù muốn hay không Trung Quốc cũng sẽ không thể là một chỗ dựa cho chế độ cộng sản Việt Nam nữa. Trung Quốc đã tích lũy quá đủ mâu thuẫn và khó khăn và đang sắp đi vào một cuộc khủng hoảng rất lớn. Khủng hoảng kinh tế, tài chính và môi trường. Khủng hoảng mô hình, chính trị, đồng thuận và căn cước. Chính sự thống nhất của Trung Quốc cũng sẽ không được bảo đảm. Trung Quốc sẽ phải dồn mọi cố gắng để lo cho chính mình và sẽ không còn sức lực và ý chí để tiếp tục chính sách bành trướng bá quyền. Dù muốn hay không quan hệ lệ thuộc Việt Trung cũng sẽ phải chấm dứt. Vấn đề lớn của chúng ta không phải là "thoát Trung" mà là "giải Cộng" nghĩa là chấm dứt chế độ độc tài đảng trị trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Ngay cả nếu kịch bản Nguyễn Tấn Dũng thâu tóm mọi quyền lực xảy ra thì nó cùng lắm cũng chỉ có thể làm chậm lại đôi chút chứ không thể ngăn chặn tiến trình dân chủ hóa. Nó sẽ chỉ là một sự chuyển hóa từ độc tài đảng trị sang độc tài cá nhân, và sự chuyển hóa này cũng chỉ là một chặng đường quen thuộc trong tiến trình đào thải của các chế độ độc tài.

Chúng ta còn một lý do quan trọng khác để tin tưởng: một tầng lớp trí thức chính trị, tầng lớp mà chúng ta chưa bao giờ có trong suốt dòng lịch sử, đang hình thành. Đó là những trí thức trẻ. Họ hiểu biết về chính trị và tình hình thế giới hơn hẳn thế hệ cha anh, không ràng buộc với chế độ, không khiếp sợ cũng không trông đợi gì ở bạo quyền và thẳng thắn chọn lựa dân chủ. Họ đã nắm được chìa khoá của tương lai, kể cả tương lai rất gần. Sự chuyển giao thế hệ sắp hoàn tất. Đất nước phải thay đổi vì đã thay da đổi thịt.

Kỷ nguyên tự do dân chủ sắp mở ra và các thế hệ mai sau sẽ nhận diện những con người của đất nước hôm nay. Ở thời điểm này quỵ lụy, luồn cúi không chỉ là bệ rạc mà còn là dại dột.

Nguyễn Gia Kiểng
(06/2014)
(Thông luận)

Vì sao Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết Đinh Đức Lập chưa bị cách chức?

Không đủ các điều kiện về nghề nghiệp theo quy định 75 của Ban Bí thư, nhưng ông Đinh Đức Lập vẫn được Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy Ban TWMTTQVN Vũ Trọng Kim vẫn kí quyết định sai trái bổ nhiệm làm Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết. Cũng không đủ điều kiện theo quy định của Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Thông tin – Truyền thông), nhưng ông Đinh Đức Lập vẫn được cấp thẻ nhà báo. Sự phớt lờ các quy định của Đảng, quy định của pháp luật, trong việc bổ nhiệm và cấp thẻ hành nghề cũng như yếu kém về nhân cách đã dẫn đến hàng loạt sai phạm nghiêm trọng mà ông Đinh Đức Lập gây ra trong suốt nhiệm kì từ năm 2009 đến nay.
http://cdn.truongtansang.net/files/2012/11/tbt-dinh-duc-lap-011112.jpg

Tại hội nghị lấy phiếu tín nhiệm Ban Biên tập báo Đại Đoàn Kết (gồm Tổng biên tập Đinh Đức Lập, Phó Tổng biên tập Nguyễn Quốc Khánh) ngày 9/6/2014, ông Lê Bá Trình, Phó Chủ tịch phụ trách khối báo và tạp chí Ủy Ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã hệ thống lại hàng loạt sai phạm nghiêm trọng của Tổng biên tập Đinh Đức Lập và Phó Tổng biên tập Nguyễn Quốc Khánh diễn ra từ năm 2008 đến nay. Điển hình là những sai phạm về công tác Tổ chức cán bộ; Quản lí kinh tế; Nghiệp vụ báo chí và đạo đức nghề nghiệp…
Về công tác tổ chức cán bộ, ông Đinh Đức Lập đã tuyển dụng và bổ nhiệm hàng loạt cán bộ mà nhiều người không đủ năng lực, phẩm chất. Hậu quả là trong thời gian ngắn, những cán bộ này đã có nhiều hành vi vi phạm pháp luật, bị kỉ luật nặng cả về Đảng và chính quyền như Trưởng Ban Tuyên truyền quảng cáo phát hành Nguyễn Xuân Huy bị Cảnh cáo Đảng, Cách chức, Buộc thôi việc vì cùng ông Lập giả mạo hồ sơ và chức danh công tác để vụ lợi cá nhân. Trường hợp cháu ruột ông Lập là ông Đinh Quang Sơn được ông Lập cố tình bổ nhiệm vào chức danh Kế toán trưởng, Phó trưởng ban phụ trách Ban Kế hoạch tài chính của báo. Ông Sơn ngay lập tức đã nhanh chóng thụt két chiếm dụng hàng tỉ đồng và bỏ trốn khỏi cơ quan trước khi bị chú ruột Đinh Đức Lập ra Quyết định kỉ luật trước sức ép của cấp trên và tập thể báo.
Ông Lập còn nhận về nhiều cán bộ, phóng viên bị kỉ luật buộc thôi việc vì dính dáng tiêu cực ở những tờ báo khác. Trong khi đó lại cố tình gây khó khăn để buộc nhiều cán bộ, phóng viên có nhiều cống hiến, nhiều thành tích của báo Đại Đoàn Kết phải dời khỏi cơ quan. Trong đó có cả Phó Tổng biên tập và nhiều Trưởng, Phó ban.
Về các sai phạm trong quản lí kinh tế, ông Đinh Đức Lập đã vi phạm hàng loạt quy định của Chính phủ. Như việc khai khống hồ sơ, thu tiền của doanh nghiệp để trao cúp “Tự hào thương hiệu Việt” cho nhiều doanh nghiệp (vi phạm Quy chế quản lí tổ chức xét tôn vinh danh hiệu và trao giải thưởng cho doanh nhân và doanh nghiệp kèm theo Quyết định số 51/2010/QĐ-TTg ngày 28/7/2010). Trong đó có không ít doanh nghiệp vừa nhận cúp xong đã phá sản hoặc bị cơ quan điều tra khởi tố vì vi phạm pháp luật. Chương trình “Vang mãi bài ca” mạo danh Ban Thường trực MTTQ Việt Nam, phối hợp cùng một công ty tư nhân để làm tiền doanh nghiệp, bị phản ứng dữ dội. Trường hợp liên doanh với Công ty CP Đầu tư địa ốc Đông Dương xây dựng tòa nhà 66 Bà Triệu, (Hà Nội) đã được cơ quan kiểm tra có thẩm quyền kết luận vi phạm Nghị định 52/2009/NĐ-CP ngày 3/6/2009 của Chính phủ về quản lí tài sản nhà nước. Hoặc như việc tự ý nhận 1 tỉ đồng của công ty tư nhân bán đứt quyền sử dụng nhà đất văn phòng báo tại 82 Trần Quốc Toản, TP Đà Nẵng là tài sản công mà không báo cáo Đảng đoàn và Ban Thường trực MTTQVN.
Cơ quan CSĐT Công an quận Hoàng Mai, Hà Nội đã có kết luận và đề nghị kỉ luật Ban Biên tập báo về việc buông lỏng quản lí, dẫn tới hậu quả bị thụt két chiếm dụng vốn xây dựng nhà ở cho cán bộ, công nhân viên của báo hàng tỉ đồng, từ tháng 5/2013 đến nay vẫn chưa bị xử lí…
Về mặt nghiệp vụ báo chí, kết luận của Đảng đoàn MTTQ VN nêu rõ, ông Lập có hành vi lạm dụng tờ báo để đánh bóng hình ảnh cá nhân một cách có hệ thống; Làm tổn hại đến uy tín danh dự của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch MTTQVN trong bài viết “Trách nhiệm”.
Mới đây trong phát biểu của Phó Chủ tịch Lê Bá Trình tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm cán bộ chủ chốt báo Đại Đoàn Kết, cũng đã hệ thống hàng loạt sai phạm về mặt nghiệp vụ của ông Lập, ông Khánh từ năm 2008 đến nay. Nghiêm trọng là phớt lờ ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch MTTQVN Nguyễn Thiện Nhân, đăng tin thất thiệt về việc lấy ý kiến cử tri của MTTQVN; Vụ việc vu khống Ban Thường trực MTTQVN kiến nghị xây dựng nhà tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp… Ngoài ra còn vô số bài viết sai về công tác mặt trận bị cơ sở phản ứng, bị cấp trên yêu cầu viết kiểm điểm, yêu cầu cải chính nhưng ông Lập, ông Khánh vẫn chống đối, không thực hiện.
Về nhân cách, ông Lập, ông Khánh thể hiện rõ tính bè phái, lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm trong điều hành công việc. Chẳng hạn như đưa cháu ruột, cháu dâu, cháu của sếp cấp trên về báo và chiếm giữ những vị trí quan trọng. Không hiểu thế nào mà ông Lập, ông Khánh thường xuyên bị người nhà đến tận cơ quan báo để mắng chửi ầm ĩ…
Ông Lập còn thể hiện là một đảng viên, một cán bộ bảo thủ, không biết tiếp thu và sửa chữa sai phạm. Trong bản báo cáo nhiệm kì tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm, ông Lập không hề thừa nhận những sai phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận. Ông Lập, ông Khánh vẫn cho rằng mình và gia đình chấp hành tốt các quy định của Đảng, nhà nước. Trong khi đó, hai năm liền 2012 và 2013, ông Lập bị kỉ luật cả về Đảng và chính quyền (khiển trách), không tuân thủ tinh thần phê và tự phê của Đảng. Ông Lập, ông Khánh vẫn cố tình nhận mình hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đã không rút kinh nghiệm từ những sai phạm, ông Lập, ông Khánh còn cấu kết trả thù thô bạo, buộc thôi việc những người tố cáo, một cách trái pháp luật.
Trước nhiều sai phạm nghiêm trọng của ông Lập, ông Khánh đã gây ra hậu quả xấu cho uy tín, danh dự của hệ thống MTTQVN các cấp và báo Đại Đoàn kết. Nhiều cán bộ MTTQVN và cán bộ báo Đại Đoàn Kết đã nghỉ hưu (nguyên Phó Chủ tịch MTTQVN Trần Hoàng Thám, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Đoàn kết công giáo Lâm Văn Cách, nguyên TBT Lê Quang Cảnh, nguyên TBT Lí Tiến Dũng, nguyên Phó TBT Trần Thanh Phương, nguyên Ủy viên Ban Biên tập Lê Văn Ba, nguyên Trưởng ban Văn hóa xã hội Trần Bảo Hưng…) đã tỏ ra rất bức xúc, mong muốn lãnh đạo MTTQVN nhanh chóng có biện pháp giải quyết dứt điểm, mang lại môi trường làm việc trong lành cho tờ báo Đại Đoàn Kết.
Chưa từng thấy trong lịch sử báo chí Việt Nam nói chung, báo Đại Đoàn Kết nói riêng, có một Tổng biên tập, một Phó Tổng biên tập nào lại bị nhiều cán bộ, phóng viên của chính báo mình làm đơn tố cáo chỉ ra hàng loạt sai phạm nghiêm trọng và đã được kết luận. Ngoài ra, lãnh đạo báo Đại Đoàn Kết còn đang phải đối diện với ba vụ án đã được Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lí mà các nguyên đơn khởi kiện lại chính là những cán bộ lãnh đạo Ban của báo Đại Đoàn Kết.
Với hàng loạt sai phạm nghiêm trọng kể trên, không hiểu sao đến nay lãnh đạo MTTQVN vẫn tiếp tục để mặc cho ông Lập, ông Khánh mặc sức hoành hành, tiếp tục gây ra sai phạm mới chồng lên sai phạm cũ, tiếp tục gây tai tiếng cho MTTQVN và báo Đại Đoàn Kết.
Có hay không sự bao che quyết liệt, bất chấp các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước của ai đó tại MTTQVN cho ông Lập, ông Khánh?.
Văn Trọng Nhân
(Người Cao tuổi)

Bom nổ chậm Trung Quốc gài tại dự án gần tỉ đô ở Hà Nội

3_nghi_huan_luc
Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị động viên các đ/c chuyên gia Trung Quốc trên công trường xã hội chủ nghĩa: trước mặt đ/c Nghị là Trương Kiến Huân, bên phải là thứ trưởng GTVT Lê Mạnh Hùng (vừa hưu, đang phải viết giải trình vụ ăn tiền Nhật Bản), đeo kính đằng sau là Trần Văn Lục (mới bị Bộ Công an bắt)

Công trình hữu nghị đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông nhưng lại phải vay vốn lãi suất thương mại của chính phủ Trung Quốc có dự toán ban đầu là 552 triệu USD, vừa kiến nghị “điều chỉnh” lần 1 lên 891 triệu USD (tăng 339 triệu USD), để tiếp tục xin vay Trung Quốc. Bị buộc cái ách hữu nghị vào cổ (nhưng vẫn phải trả lãi theo giá thị trường), công trình này đạt mấy kỷ lục: điều chỉnh vốn kỷ lục; kỷ lục về suất đầu tư cao, kỷ lục về tỉ lệ hoàn vốn thấp, kỷ lục về sự liều lĩnh: chủ đầu tư, tư vấn Việt Nam, tổng thầu thi công Trung Quốc đều chưa từng có kinh nghiệm làm đường sắt đô thị. Hiện, nửa tỉ USD coi như đã bị vứt xuống sông mà dự án còn chưa xong phần móng cọc. Tệ hơn, Việt Nam vẫn phải nai lưng ra trả lãi gần 50 triệu USD/năm cho đống bê tông vô tích sự. Chưa ai dám khẳng định dự án này có tiếp tục xin điều chỉnh lần 2, lần 3 nữa hay không.
Tại lễ khởi công dự án hôm 10/10/2011, đồng chí Đinh La Thăng chúm chím khoe: số vốn 420 triệu USD trên tổng vốn cho dự án là hơn 551 triệu USD được nước bạn Trung Quốc tạo điều kiện cho vay “hữu nghị”, phía Việt Nam góp phần nhỏ chỉ nằm ở một số hạng mục như nhân công, hạ tầng, ít bê tông… Nghe đồng chí Thăng nói vậy, người ta không khỏi hoài nghi nghĩ đến sự giúp đỡ “vô tư, chí tình” của các đồng chí Trung Quốc dành cho Việt Nam tại công trình gọi là hữu nghị xã hội chủ nghĩa cầu Thăng Long năm xưa. Thực tế, đây là khoản vay thương mại với lãi suất cắt cổ. Sau 5 năm không trả hết gốc, lãi suất này sẽ tăng lũy tiến cao hơn nhiều.
Đơn vị được Bộ GTVT phân công làm đại diện chủ đầu tư là Ban quản lý dự án đường sắt mà đồng chí Trưởng ban Trần Văn Lục bị Bộ Công an bắt chiều hôm 8/5/2014. Tổng thầu là Công ty hữu hạn tập đoàn Cục 6 Đường sắt Trung Quốc, Nhà thầu tư vấn giám sát thi công lắp đặt thiết bị là công ty TNHH giám sát xây dựng Viện nghiên cứu thiết kế công trình đường sắt Bắc Kinh. Lưu ý là các đơn vị của Trung Quốc đều chưa có chút kinh nghiệm nào về đường sắt đô thị. Nhà thầu tư vấn thẩm tra thiết kế kỹ thuật và dự toán công trình là Tổng công ty Tư vấn thiết kế GTVT (TEDI của VN), cũng chưa từng có kinh nghiệm về đường sắt đô thị. Đơn vị này chỉ có duy nhất một kỹ sư học vận tải đường sắt tại Liên Xô trước đây nên việc giám sát, thẩm tra chỉ đơn giản là “4 tốt” trước mọi tính toán của các đồng chí Trung Quốc. Được một số đồng chí cán bộ cấp cao Việt Nam “động viên, khích lệ”, dù chưa có 1 chút kinh nghiệm nào về đường sắt đô thị nhưng Giám đốc đại diện Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc (Tổng thầu EPC), đồng chí Trương Kiến Huân (người Tàu) rêu rao: tổng thầu Trung Quốc sẽ hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ cho các đồng chí Việt Nam.
Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch thành phố … liên tục tới thăm công trường xã hội chủ nghĩa, kịp thời động viên, cảm ơn các cán bộ, chuyên gia nước bạn về sự giúp đỡ quý báu, vô tư, thắm đượm tình đồng chí anh em. Theo tiến độ, dự án này sẽ hoàn thành đưa vào chạy tháng 1/2015. Chẳng biết các vị “16 vàng, 4 tốt” với nhau thế nào, qua 3 năm thi công, tiêu hàng vài trăm triệu đô mà công trình vẫn chưa xong phần móng cọc nhưng lại kiến nghị Thủ tướng phê duyệt điều chỉnh mức đầu tư lần 1 từ 552 triệu USD lên tới 891 triệu USD, tăng 339 triệu USD để Chính phủ vay tiếp của Trung Quốc.
Không biết rồi đây Thủ tướng có phê duyệt cho cái sự hữu nghị viển vông này không. Hiện có tin Trung Quốc đang chơi khó Việt Nam trong vụ này. Với khoản vay bổ sung, Trung Quốc dự tính áp lãi suất cao ngất ngưởng khiến Việt Nam không dám vay. Nếu không vay, Việt Nam không thể cơ cấu nguồn tài chính khác vào dự án này do vướng công nghệ, quy định pháp luật, chính trị v.v. Trong khi công trình đắp chiếu không sử dụng được vì chưa xong phần móng cọc, Việt Nam vẫn phải nai lưng ra trả lãi khoản tín dụng đã vay mỗi năm gần 50 triệu USD và sau 5 năm mà chưa trả được gốc, lãi suất sẽ tăng lũy tiến rất cao.
Dân Hà Nội còn nhớ năm 1978, Trung Quốc chơi bài tương tự khi bỏ dở công trình cầu Thăng Long. May mà sau đó ông anh Liên Xô nhiệt tình nhảy vào hót cho đống chất thải đó. Nay, công trình đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông thực sự là quả bom xú uế nổ chậm Trung Quốc gài một cách rất tinh vi giữa lòng Hà Nội. Việt Nam chỉ có thể chọn một trong hai cách: hoặc đắp chiếu công trình với chi phí hơn nửa tỉ đô hoặc chấp nhận mọi điều kiện của Trung Quốc để có tiền thi công tiếp và hoàn thiện công trình. Dù thế nào, Việt Nam sẽ lập thêm kỷ lục mới: suất đầu tư/km đường sắt đô thị đắt nhất hành tinh với tỉ lệ hoàn vốn mà các nhà kinh tế thoáng thấy đã hãi đến già và một bài học nữa rất đắt giá về 16 vàng 4 tốt.
13/06/2014
Cầu Nhật Tân
(Blog Cầu Nhật Tân)

Quốc doanh gạo Việt Nam 'lại quả' cho bộ trưởng Philippines $24 triệu

Báo Phi Luật Tân nói rằng bộ trưởng Canh Nông của nước này đã “đi đêm” với công ty xuất khẩu gạo quốc doanh của Việt Nam để hưởng “lại quả” 24 triệu đô.
Báo điện tử Oryza hôm Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014 nói bộ trưởng Canh Nông Phi Luật Tân, Proceso J. Alcala, 59 tuổi, bị cáo buộc đã “đi đêm” với Công Ty Vinafood 2 (tức tổng công ty lương thực miền Nam) hồi tháng 4 vừa qua. Có bàn tay của ông bộ trưởng trong vấn đề mua 800,000 tấn gạo tỉ lệ 15% tấm được thỏa thuận giao hàng từ tháng 5 đến tháng 8 năm nay.



Gạo đóng bao xuống tàu xuất cảng. (Hình: BizLive)


Nguồn tin dựa vào lời tố cáo của Hiệp Hội Bán Hàng Nội Thị của thành phố Manila (MMVA), cơ quan bảo vệ giới tiêu thụ đã thẩm vấn ông bộ trưởng Alcala về sự tố cáo ông dính vào vụ thương thuyết mua gạo của Việt Nam. MMVA cáo buộc bộ trưởng Alcala và cựu cục trưởng Cục Lương Thực Quốc Gia (NFA) của Phi đã đàm phán để có “một hợp đồng mà họ được trả số tiền lại quả rất lớn.”
Bản tố cáo nói giá cước vận chuyển mỗi tấn gạo mua của Việt Nam lên tới 54 đô la một tấn trong khi thông thường chỉ có 24 đô la, tức quá giá tới 30 đô la. Như vậy, cả hai ông quan nói trên đã ẵm của nhà nước khoảng 24 triệu đô la. Cuộc đàm phán diễn ra hồi tháng 4 tức là lúc Việt Nam đang thu hoạch đại trà vụ mùa đông xuân với giá gạo và giá biểu cước vận chuyển cao hơn bình thường là “vô lý.”
Không những bị tố cáo vụ mua gạo năm nay, ông bộ trưởng Canh Nông của Phi Luật Tân còn bị tố cáo liên quan đến nhập cảng 205,700 tấn gạo hồi tháng 5 năm 2013 từ Việt Nam mà theo đó, giá gạo cao hơn bình thường đã giúp ông tham nhũng lối 10.4 triệu đô la.
Trước khi có tin nói trên xì ra, đầu tháng này, báo Ðất Việt nói rằng đại diện của tổng công ty lương thực miền Bắc (Vinafood 1) và tổng công ty lương thực miền Nam (Vinafood 2) cử người sang Manila điều đình lại hợp đồng cung cấp 800,000 tấn gạo nói trên, với lý do vừa bán gạo quá rẻ lại còn bị ràng buộc nhiều điều kiện phạt “không có tiền lệ” từ thời hạn giao hàng chặt chẽ đến phẩm chất gạo nếu không đúng tiêu chuẩn từ tấm đến cám.
Theo ràng buộc của hợp đồng, khi giao hàng cho NFA, nếu tỷ lệ tấm nhiều hơn 1% (mức quy định trong hợp đồng) Vinafood 1 và 2 sẽ bị phạt 3 đô la Mỹ/tấn, lố 2% sẽ bị phạt 6 đô la Mỹ/tấn và nhiều hơn 10% thì sẽ bị phạt 30 đô la Mỹ/tấn. Ðã vậy “bán 800,000 tấn gạo với giá quá bèo, làm mất đi khoản tiền khổng lồ, ước lên tới 23.2 triệu USD,” báo Ðất Việt tường thuật.
Một trong những khó khăn hai đại gia xuất khẩu gạo quốc doanh gặp phải là ký hợp đồng bán gạo rẻ rồi cho giá thu mua rẻ, ép thương lái. Theo dây chuyền, các công ty thu mua gạo nội địa ép lại giá nông dân. Kịch bản “trúng mùa rớt giá” diễn đi diễn lại hàng năm làm giới nông dân “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nghèo đói và ngập đầu trong nợ nần. Theo báo Ðất Việt, một số công ty trung gian thu mua gạo đã đòi hủy “hợp đồng ủy thác” đã ký với Vinafood 2 vì bị đẩy vào thế chết kẹt ở giữa.
Khi NFA của Phi ký hợp đồng mua 800,000 tấn gạo của Việt Nam, tin của TTXVN lúc đó nói rằng giá bán gạo cho Phi thời gian đó là giá bỏ thầu thấp nhất trong số những nước muốn bán gạo cho Manila. Tính đến đầu tháng 5 năm nay, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn nói Việt Nam đã xuất cảng được 2.04 triệu tấn gạo, thu hồi 931 triệu USD. Ước lượng Việt Nam sẽ xuất cảng lối 7.3 triệu tấn gạo năm nay, nhiều hơn năm ngoái khoảng 9%.
(Người Việt)

Nực cười, phẫn nộ, nhưng hãy coi chừng Trung Quốc

Bản đồ của Cục bản đồ thuộc phủ Thủ tướng Việt Nam ghi Hoàng Sa và Trường Sa là Tây sa và Nam sa

Nghe bài này
Nực cười- phẫn nộ- ngạc nhiên!

Trước hết là nực cười, rồi phẫn nộ. Đó là cảm tưởng của hầu hết, nếu không nói là toàn thể 100% người Việt trong nước và khắp thế giới, khi nghe tin Trung Quốc tố cáo Việt Nam đâm va vào các tàu của họ 1416 lần!

Nực cười là vì cung cách hành xử của một nước lớn, giàu mạnh trong thế kỷ 21 mà không khác nào một nước Cộng Sản lạc hậu trong thời chiến tranh lạnh, thản nhiên đổi trắng thay đen, trắng trợn nói không làm có. Và phẫn nộ vì Trung Quốc trước sau vẫn trơ trẽn không khác nào một quốc gia lạc hậu về văn minh, chẳng khác gì Bắc Hàn ngày nay. Việc này có thể còn gây chút ngạc nhiên cho những ai từng ngưỡng mộ sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc trong mấy thập niên qua.

Nhưng đó là cảm tưởng chủ quan của một người Việt Nam, trong khi hầu hết các nước khác lại không bày tỏ chút gì gọi là nực cười hay phẫn nộ trước cung cách hành xử kiểu "Chí Phèo Bắc Hàn" của Trung Quốc. Phải chăng một cái nhìn khách quan sẽ đưa đến kết luận khác?

Câu trả lời là hầu hết các chính phủ nước ngoài không thể phán xét như người Việt Nam trong cuộc, dù họ biết rõ hành động của Trung Quốc là thô bạo, áp bức nước nhỏ hơn, chỉ vì ảnh hưởng về mọi mặt của Trung Quốc trên trường quốc tế, nhất là đối với khối ASEAN.

Tàu Trung Quốc đâm tàu Việt Nam, bị nói ngược lại - Courtesy of thanhnien.com
Người Việt Nam dù khách quan tới đâu cũng thấy rõ và biết rất chính xác rằng Trung Quốc đã cướp đoạt quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, bây giờ khư khư giành chiếm chủ quyền, thi hành chiến thuật tằm ăn dâu và thay đổi hiện trạng, lại dùng những thủ đoạn thấp kém đổi trắng thay đen, trong khi ai ai cũng phải thấy thực tế không thể chối cãi là phía Việt Nam là phía bị ức hiếp, bị đàn áp trên mặt biển với những chứng cứ rõ ràng, dưới sự chứng kiến của các phóng viên quốc tế.

Điềm gở?

Một nước lớn đang tranh đua làm cường quốc hàng đầu thế giới mà hành xử như vậy thì chỉ chứng tỏ trình độ trí não vẫn còn ở dưới mức kém cỏi, chưa thể gọi là văn minh ngang hàng những cường quốc cùng ngồi trong Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc với họ.

Điều này càng chứng tỏ Trung Quốc khó lòng vươn lên tới hàng cường quốc văn minh. Từ thời Đặng Tiểu Bình là lúc Trung Quốc đã thức tỉnh và nay đang hiện đại hóa với một tốc độ ít ngờ, thì cung cách đó quả là đã kéo lùi Bắc Kinh về với tinh thần thời chiến tranh lạnh, chẳng khác nào Bắc Hàn ngày nay vẫn còn là một xã hội cô lập, ngủ quên trên thời gian, hệt như đang dừng lại bên một cái đồng hồ chết, và cứ thế mà vùi đầu mãi trong các thập niên 1950-1970

Tuy nhiên, không phải tất cả các nước đều có thái độ e dè thụ động như vậy. Người ta không quên là Nhật và Mỹ đều mạnh mẽ đả kích Trung Quốc và bênh vực Việt Nam. Riêng Châu Âu thì đang chết dở với đống đổ nát của nền tài chính, lại căng thằng thần kinh vì vấn đề Ukraine với Nga, nên không bụng dạ nào nói đến chuyện biển Đông.

Những dữ kiện khó giải thích

Thế nhưng trong khi công luận có thể coi thường Bắc Kinh ở sự tố giác Việt Nam một cách thô thiển như vậy, thì điều đáng suy nghĩ cho Việt Nam là việc Trung Quốc đã cùng lúc trưng dẫn và phổ biến tại Liên Hiệp Quốc những tài liệu về hành động của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước đây trong các lãnh vực ngoại giao cũng như giáo dục, mà được Bắc Kinh coi là đã chính thức và toàn tâm toàn ý nhìn nhận chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

Bài địa lý lớp 9, 1974, do Việt Nam biên soạn - Annex 5/4 of Chinese document to the UN
Cho đến nay, ngày thứ sáu 13 tháng 6, 2014, báo chí và truyền hình truyền thanh ở Việt Nam không có tin tức hay nhận định nào nói một tí gì cụ thể đến những tài liệu giáo dục nói trên, đi kèm với bản tuyên bố về lãnh thổ của Trung Quốc năm 1958 và văn thư liên quan của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, thì người ta hiểu rằng đó là điểm yếu của Việt Nam trong cuộc tranh biện quốc tế về chủ quyền và hành vi xâm lấn.

Biện trạng của Trung Quốc về chủ quyền đối với Hoàng Sa bằng những chứng cứ lịch sử thì có thể không mang giá trị pháp lý khi ra trước công luận quốc tế hay tòa án quốc tế, nhưng những văn thư liên quan đến hành động công nhận của Việt Nam đối với chủ quyền đó của Trung Quốc là điều rất khó xử cho Việt Nam.

Trung Quốc đã nhiều lần nói đến bản tuyên bố 1958 của Bắc Kinh và văn thư tán thành của Hà Nội đối với bản tuyên bố ấy, nhưng đến nay mới trưng dẫn trước Liên Hiệp Quốc những tài liệu chứng minh Hà Nội thực sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa ngay trong hành động của bộ ngoại giao Việt Nam và các tài liệu giáo dục của Việt Nam, không phải chỉ ở văn thư ngoại giao chính thức.

Bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Quốc ghi rằng chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố bề rộng của hải phận Trung Quốc là 12 hải lý; nhưng quan trọng hơn thế, văn thư viết: "Điều khoản này được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của CHNDTH, bao gồm... quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và tất cả các quần đảo khác thuộc về Trung Quốc."
Văn thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ghi ngày 14 tháng 9 năm 1958 viết rằng: "Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Công hòa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc." Đoạn sau viết rằng VNDCCH tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. 
Thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai, 14 tháng 9, 1958
Nhìn qua ngôn từ của Việt Nam, người ta cho rằng Hà Nội có thể cũng còn chỗ xoay sở trước một tòa án quốc tế, tuy rằng chỗ khá chật hẹp. Nên Bắc Kinh cẩn thận kèm thêm những tài liệu kia làm phụ lục của bản tuyên bố trước Liên Hiệp Quốc mới đây.

Bản tuyên bố ngày 8 tháng 6, 2014 tại Liên Hiệp Quốc của Trung Quốc, dịch sang Anh ngữ, viện dẫn hai văn thư nói trên của CHNDTH và VNDCCH, viết rằng "Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc".

Kèm theo đó, Trung Quốc còn trưng dẫn bài học địa lý lớp 9 niên khóa 1974 của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và tập bản đồ thế giới do Cục đo đạc và bản đồ thuộc phủ Thủ tướng xuất bản, ghi là tại Hà Nội 1972.

Bài học địa lý lớp 9 tựa đề "Nước CHNDTH" có đoạn viết về biên giới Trung Quốc :"Phía đông mở rộng ra Thái Bình Dương, giáp các biển Bột Hải, Hoàng hải, Hoa đông và Hoa nam .... Vòng cung dẫn từ các đảo Nam sa, Tây sa đến các đảo Hải nam, Đài Loan, quần đảo Hoành bồ, Châu sơn... làm thành một bức "trường thành" bảo vệ lục địa Trung Quốc..."

Tập bản đồ 1974 thì có bản đồ "Phi Líp Pin, Ma Lai Xi a, In đô Nê Xi a, Xin Ga Po" có chú giải quần đảo Hoàng Sa là "Q.đ. Tây Sa", và quần đảo Trường Sa là "Q.đ. Nam Sa".

Vẫn còn cơ hội

Có lẽ chính những yếu tố này đã khiến Việt Nam phải thận trọng và chậm bước để tham khảo giới chuyên môn cùng những thành phần ủng hộ Việt Nam trước khi muốn đưa Trung Quốc ra đối diện với pháp lý quốc tế.

Ý kiến của các chuyên gia về pháp lý quốc tế, cả người Việt Nam lẫn ngoại quốc, có nhiều khác biệt, có khi mâu thuẫn, về luận cứ mà Việt Nam có thể đưa ra trước tòa cũng như về cơ hội thắng kiện của Việt Nam.

Trong khi đó Bắc Kinh từng tỏ ra rất e ngại về chuyện bị đưa ra trước một tòa án quốc tế. Bắc Kinh từng nhắc Việt Nam đừng làm theo Philippines mà kiện họ ra tòa trọng tài quốc tế.

Trước thái độ đó của Trung Quốc, và cân nhắc, so sánh nhiều ý kiến của giới chuyên gia, có thể nói Việt Nam vẫn có cơ hội thắng kiện.

Vì thế dù Bắc Kinh có phủ nhận mọi phán quyết, hay không hầu tòa khiến phiên tòa không diễn ra được, Việt Nam vẫn phải tiến hành hành động pháp lý đối với Bắc Kinh.

Dường như Việt Nam trì hoãn và chờ đến thời hạn tháng 8 để xem động tĩnh của Trung Quốc ra sao với cái giàn khoan HD-981.

Giả sử Hà Nội tin rằng Bắc Kinh không rút, thì có thể họ vẫn muốn chờ qua thời điểm đó để hành động pháp lý được mạnh hơn về chính nghĩa và về mặt tinh thần tôn trọng hoà bình và hữu nghị, khi Trung Quốc đã chứng tỏ họ hết mực ngoan cố.
Việt-Long
Theo RFA

Ngày 14/6/2014 - Tập Cận Bình: Chủ động uy hiếp, chủ động tấn công trên Biển Đông

  • VN - Đài Loan đàm phán bồi thường (BBC) - Đài Loan và VN sẽ gặp thường xuyên để giải quyết việc bồi thường thiệt hại cho các doanh nghiệp Đài Loan bị thiệt hại sau vụ bạo động tháng trước.
  • Theo “đảng quang vinh”, lâm nguy vận nước (RFA) - Theo dõi các sự kiện hơn một tháng qua, kể từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, người ta thấy ở đó có đủ sắc thái bi hùng, kiêu hãnh, bạc nhược, hèn hạ và hài hước...
  • Bên lề sân cỏ - 2 (RFI) - Từ Chủ nhật vừa qua (08/06), hải quân Brazil đã cho đặt tên lửa phòng không trên tầng 15 của một toà nhà nằm cách sân vận động nổi tiếng Maracana của Rio de Janeiro 600 mét. Hệ thống vũ khí hạng nặng này được triển khai trong kế hoạch kiểm soát bầu trời trong thời gian diễn ra Cúp thế giới đã gây những tranh cãi sôi nổi trên các mạng xã hội ở Brazil. Cũng trong kế hoạch này, không quân Brazil đã cho mở rộng thêm vùng cấm bay từ 13 km lên 18,5 km xung quanh các sân vận động của 12 thành phố đón tiếp các trận đấu của Cúp thế giới.
  • Brazil nhập cuộc bằng chiến thắng Croatia không thuyết phục (RFI) - Đội tuyển Brazil đã mở màn Cúp thế giới bằng một chiến thắng 3-1 trước Croatia trên sân Arena Corinthians tại Sao Paulo. Cả bốn bàn thắng đều của các cầu thủ Brazil : Một bàn phản lưới nhà của hậu vệ Marcelo, cú đúp của ngôi sao Neymar và bàn ấn định tỷ số của Oscar.
  • World Cup Brazil 2014: Sau trận mở màn (RFA) - Hôm qua trên sân nhà, đội tuyển Brazil đã thắng đội tuyển Croatia với tỷ số 3-1 trong trận mở màn World Cup 2014. Chiến thắng này khiến người dân xứ sở của điều Samba vui mừng, vì ít nhất, đội tuyển quốc gia của họ đã đạt được 1 chân vào vòng 16, trong khi đội Croatia sẽ còn vất vả ở 2 trận còn lại của vòng bảng.
  • Gia đình tù nhân lương tâm Đặng Xuân Diệu kêu cứu (RFI) - Gia đình của thanh niên Công giáo Đặng Xuân Diệu kêu cứu về tình trạng của tù nhân lương tâm này, hiện đã tuyệt thực, nhịn đói 50 ngày. Đặng Xuân Diệu là một trong số 14 thanh niên Công giáo và Tin lành bị đưa ra xét xử trong phiên tòa sơ thẩm ngày 08 và 09/01/2013.
  • Phạm Chí Dũng : Việt - Mỹ lộ dần những tín hiệu mới (RFI) - Thời gian gần đây, đã có những chuyển động mới trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, trong các lãnh vực từ giáo dục, quân sự đến ngoại giao. Trong hoàn cảnh bị Bắc Kinh ức hiếp mọi bề, đặc biệt là tình hình Biển Đông luôn căng thẳng, phải chăng khuynh hướng ngả dần về phương Tây đang trở thành một xu thế không cưỡng lại được để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay ? Dư luận đang sốt ruột chờ đợi, vì có lẽ không còn nhiều thời gian cho các nhà lãnh đạo Việt Nam.
  • Chuyện trái bóng và giàn khoan (RFA) - Cách đây 26 năm, tức năm 1988, trong lúc người dân mãi mê theo dõi giải bóng đá Châu Âu và xuýt xoa với giải vô địch bị vuột mất của Liên Xô trong trận chung kết Liên Xô gặp Hà Lan thì ngoài khơi Việt Nam, có 64 người con Việt Nam vĩnh viễn nằm xuống bởi họng súng của Trung Quốc, hầu như mọi thông tin bị bưng bít.
  • Hỗ trợ ngư dân bằng tàu cá bọc sắt (RFA) - Tàu vỏ sắt cho ngư dân ra Hoàng Sa và Trường Sa, thay vì những chiếc tàu gỗ mà cứ bị rượt đuổi và húc cho vỡ ra cả hơn tháng qua, đang là vấn đề được chính quyền địa phương tỉnh Quảng Ngãi gấp rút thực hiện.
  • Ukraine phản đối 'xe tăng Nga xâm nhập' (BBC) - Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko nói với người đồng cấp Nga Vladimir Putin việc xe tăng Nga tiến vào lãnh thổ Ukraine là "không thể chấp nhận được".
  • Tổng thống Ukraina trình bày kế hoạch hòa bình với Putin (RFI) - Tổng thống Ukraina,ông Petro Porochenko hôm qua 12/06/2014 trong cuộc đối thoại thực thụ đầu tiên đã giới thiệu với Vladimir Putin kế hoạch hòa bình cho miền đông thân Nga, nhưng phàn nàn về việc các xe tăng Nga xâm nhập Ukraina.
  • Báo chí Cuba lên tiếng về vụ các diễn viên ba-lê đào thoát (RFI) - Việc tám nghệ sĩ múa của Nhà hát ba-lê Cuba bỏ trốn khi đi trình diễn ở Puerto Rico là« rất đáng tiếc, nhưng có thể thông cảm được». Một trang mạng tin tức Cuba hôm 12/06/2014 nhận xét như trên, chấm dứt sự im lặng thường thấy nơi báo chí nước này về các vụ đào thoát ra nước ngoài của các nghệ sĩ hay vận động viên.
  • Thái Lan có chính phủ lâm thời trước cuối tháng 9 (RFI) - Tướng Prayut Chan-O-Cha hôm nay 13/06/2014 thông báo, tập đoàn quân sự Thái Lan từ nay cho đến tháng 9 sẽ thành lập một chính phủ lâm thời để giám sát các cải cách, tiến đến việc tổ chức bầu cử trong vòng một năm tới. Vị tướng lên nắm quyền sau vụ đảo chính hôm 22/5, không nói rõ là chính phủ này sẽ gồm các thành viên dân sự hay là các quân nhân.
  • Phản bác lý sự “chủ quyền” của Trung Quốc ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (BaoMoi) - QĐND - Gần đây, trong một số hội nghị, hội thảo quốc tế, một số quan chức cao cấp, tướng lĩnh, nhà ngoại giao, học giả Trung Quốc lên tiếng khẳng định, ngay từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên, tức thời nhà Hán, người Trung Quốc đã tiến hành hoạt động hàng hải ở Biển Đông và phát hiện ra quần đảo "Tây Sa" (Hoàng Sa) và Trung Quốc có chủ quyền ở quần đảo "Nam Sa" (Trường Sa)… Tất cả những “lý lẽ” ấy đều nhằm biện minh quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm trong lãnh thổ của Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào phân tích, ta sẽ thấy chúng chỉ là những lập luận vô căn cứ từ phía Trung Quốc.
  • Cộng đồng quốc tế tiếp tục ủng hộ Việt Nam (BaoMoi) - Cuộc đấu tranh ngoại giao của Việt Nam trước việc Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tiếp tục nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Nhiều nước tiếp tục bày tỏ quan ngại với hành động ngang ngược của Trung Quốc gây căng thẳng trên biển Đông.
  • Hội nghị quốc tế bác danh nghĩa chủ quyền của TQ (BaoMoi) - Cái gọi là danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ Hội nghị San Francisco (năm 1951) gồm 51 quốc gia tham dự.
  • Bắc Kinh ra Sách Trắng đe dọa dân chủ, Hồng Kông sôi sục (RFI) - Le Monde và Le Figaro, hai tờ báo lớn của nước Pháp số ra hôm nay, 13/06/2014, đặc biệt quan tâm đến các phản ứng giận dữ tại Hồng Kông, sau khi chính quyền Bắc Kinh công bố Sách Trắng, tái khẳng định chính quyền trung ương có toàn quyền quyết định số phận của khu vực, nguyên là thuộc địa của Anh Quốc, vốn được thừa hưởng các quyền tự do rộng rãi, từ hơn một thế kỷ nay. Lo sợ không thể kiểm soát nổi một xã hội Hồng Kông tự do, chính quyền Bắc Kinh muốn phá bỏ các cam kết trước đây.
  • Tokyo bác bỏ tin chiến đấu cơ Nhật bay sát máy bay Trung Quốc (RFI) - Hôm qua, 12/06/2014, Trung Quốc khẳng định rằng hôm thứ Tư, 11/06  vừa qua, hai chiếc F-15 của Nhật Bản đã bay sát một chiếc TU-154 gần đến 30 mét,“ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn của chuyến bay”. Trang web của Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã chiếu một đoạn video cho thấy vụ việc xảy ra tại nơi mà vùng nhận dạng phòng không của hai nước chồng lấn lên nhau.
  • Irak : Bagdad trong gọng kìm của Thánh chiến Hồi giáo (RFI) - Phần lớn lãnh thổ miền bắc Irak rơi vào tay Nhà nước Hồi giáo Irak và Trung Đông, một tổ chức cực đoan muốn thành lập quốc gia Hồi giáo bao gồm Irak và Syria. Sau khi chiếm một loạt các thành phố lớn, các chiến binh theo hệ phái Suni tiến về thủ đô Bagdad. Các công ty Mỹ bắt đầu di tản nhân viên.
  • CÔTE D (RFI) - Sau một năm xem xét hồ sơ, hôm qua, 12/06/2014, Tòaán hình sự quốc tế - CPI - có trụ sở tại La Haye Hà Lan, đã quyết định đưaông Laurent Gbagbo, cựu Tổng thống Côte d’Ivoire ra xét xử với tội danh phạm tộiác chống nhân loại.
  • Mỹ 'xem xét mọi biện pháp' để giúp Iraq (BBC) - Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama nói chính phủ của ông đang xem xét "mọi biện pháp", trong đó có hành động quân sự, để giúp Iraq chống lại phiến quân Hồi giáo.
  • Hoa Kỳ buộc phải nhúng tay trở lại Irak (RFI) - Trước thế tấn công như gió lốc của lực lượng« thánh chiến hồi giáo» tại Irak đe dọa chiếm lấy thủ đô Bagdad, Tổng thống Mỹ Barack Obama cho biết« không loại trừ» một giải pháp nào. Washington bị chỉ trích là« không có chiến lược» ở Syria láng giềng của Irak, mảnh đất mầu mỡ cho phe Hồi giáo cực đoan, cuồng tín, xây dựng lực lượng.
  • Đài Loan, Việt Nam bàn về đền bù cho các công ty thiệt hại vì bạo động (RFI) - Đài Loan và Việt Nam dự kiến họp mỗi tháng hai lần để bàn về vấn đề bồi thường thiệt hại cho những doanh nghiệp Đài Loan bị đốt phá trong đợt bạo loạn chống Trung Quốc vào giữa tháng trước. Trưởng phái đoàn của Đài Loan sẽ là Thứ trưởng Kinh tế Thẩm Vĩnh Tân, còn đứng đầu phái đoàn Việt Nam là Thứ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông.
  • Hàn Quốc cải tổ nội các sau vụ đắm tàu Sewol (RFI) - Hôm nay, 13/06/2014, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye đã cải tổ nội các, thay thế 7 Bộ trưởng, trướcáp lực và chỉ trích của công luận sau vụ đắm tàu Sewol làm hơn 300 người thiệt mạng, đa số là học sinh trung học, vào tháng Tư vừa qua.
  • Trao đổi thư tín với thính giả (13.06.2014) (RFA) - “Đại tướng Bộ trưởng Phùng nói quan hệ Việt-Trung vẫn tốt đẹp mà sao bà con ngư dân nói vậy? Xịt vòi rồng, đâm vỡ tàu Việt mà là tốt đẹp à? Tin bộ trưởng hay ngư dân đây?"
  • Nực cười, phẫn nộ, nhưng hãy coi chừng Trung Quốc (RFA) - ... cung cách đó quả là đã kéo lùi Bắc Kinh về với tinh thần thời chiến tranh lạnh, chẳng khác nào Bắc Hàn ngày nay vẫn còn là một xã hội cô lập, ngủ quên trên thời gian, hệt như đang dừng lại bên một cái đồng hồ chết và cứ thế mà vùi đầu mãi trong các thập niên 1950-1970...
  • Tòa án Tân Cương xét xử vụ nổ Thiên An Môn (RFA) - Tòa án Trung Quốc ở Urumqi Tân Cương hôm nay xét xử vụ tấn công bằng xe chở nhiên liệu gây nổ xảy ra hồi năm ngoái ở Quảng trường Thiên An Môn-Bắc Kinh. Vụ xử án diễn ra trong bối cảnh Chính phủ Trung Quốc thực hiện chiến dịch càn quét các thành phần chống đối ở vùng Tân Cương.
  • Nữ tài tử Mỹ Ruby Dee qua đời (VOA) - Nữ diễn viên Mỹ Ruby Dee từng đoạt giải Oscar, nổi tiếng về các hoạt động bênh vực dân quyền không kém gì tài diễn xuất, qua đời tại New York thọ 91 tuổi
  • Hoa Kỳ cứu xét các giải pháp trợ giúp Iraq (VOA) - Hoa Kỳ đang cứu xét một loạt các giải pháp để đáp lại việc các phần tử Hồi Giáo cực đoan đang tiến công trên toàn lãnh thổ Iraq và kiểm soát được nhiều phần đất ở miền bắc
  • Tổng Thống Nam Triều Tiên cải tổ Nội các (VOA) - Tổng Thống Park Geun-hye thay thế 7 thành viên nội các. Cuộc cải tổ nội các sâu rộng này là cuộc cải tổ đầu tiên của bà Park từ khi lên nắm quyền hồi tháng 2 năm ngoái
  • Thiếu hiểu biết làm phương hại quan hệ Việt - Nga (BaoMoi) - Báo Nước Nga Xô Viết hôm 7-6 đã cho đăng bài viết có tựa đề “Việt Nam - không phải Ukraine” của tác giả VM Mazyrin nhằm phản bác những luận điệu sai trái trong bài “Hợp tác Nga - Trung cao hơn mọi tuyên bố” của tác giả Dmitry Kosyrev đăng trên trang của hãng tin Ria-Novosti (đã bị gỡ bỏ) trước đó. Tác giả VM Mazyrin là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ASEAN và Việt Nam, Viện Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga. Xin được lược dịch bài viết trên.
  • Mỹ kêu gọi kiềm chế các hoạt động gây căng thẳng của Trung Quốc (BaoMoi) - Trong bài phát biểu về chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia, Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Susan Rice ngày 11-6 đã kêu gọi xây dựng một bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC) để kiềm chế có hiệu quả các hoạt động gây căng thẳng của Trung Quốc tại khu vực này.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trở thành thái hậu Dương Vân Nga, tại sao không?

 

Hạ Đình Nguyên


Đây không phải là cách nói đùa về chuyển hóa giới tính, mà là chuyện nghiêm túc về một hành vi cao cả có thật, lưu truyền muôn đời trong lịch sử dân tộc Việt của Thái hậu Dương Vân Nga, rất đáng cho hậu thế noi gương.

Thái hậu Dương Vân Nga
Khi vua Đinh Tiên Hoàng cùng người con trưởng là Đinh Liễn đột ngột băng hà vì bị Đỗ Thích ám sát sau một cuộc rượu, thì triều đình rơi vào rối loạn, quần thần ngơ ngác, chia rẽ, chỉ còn Thái hậu Dương Vân Nga là đại biểu quyền lực cao nhất.

Xưa cũng giống nay, khi nước Việt suy yếu, hay có vấn đề nội bộ bất ổn, thì giặc nhà Tống phương Bắc đem quân sang xâm chiếm nước ta. Chúng hùng hổ tiến quân tràn qua biên giới. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cấp báo tình hình về kinh thành. Thái hậu Dương Vân Nga triệu tập các quan Đại thần, thuyết phục và tuyên bố giao quyền lãnh đạo tối cao Quốc gia cho tướng quân Lê Hoàn, trao áo bào – tượng trưng uy quyền và pháp lý của vương triều – cho Lê Hoàn. Lê Hoàn lên ngôi vua, ổn định triều đình, làm yên lòng dân, thống lãnh toàn quân đối đầu với giặc. Ông đã đập tan cuộc xâm lăng của giặc Tống, giữ được nền độc lập quốc gia, lập nên nhà Tiền Lê. Công của Lê Hoàn là sáng chói trong lịch sử giữ nước, nhưng trong đó lấp lánh một hạt kim cương hiếm có của lịch sử là hình ảnh của Thái hậu Dương Vân Nga, là động lực khơi dậy lòng yêu nước của quan, quân và dân của nước Đại Cồ Việt, là thái độ khẳng khái dứt khoát trước kẻ xâm lược, không tham quyền cố vị, thông minh và thực tiễn. Bà lại trở thành Hoàng hậu, vợ của vua mới, đã đem tình riêng ra mà hộ trì việc nước. Hậu thế không ai chê trách, chỉ trừ một đám hủ nho u mê.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Ngày nay, thế nước trong cơn khó khăn tương tự.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tuy không phải là Thái hậu của thời phong kiến, nhưng ông là tượng trưng cho vương quyền do Đảng Cộng sản Việt Nam trao cho. Tuy là vai trò tối cao của một đảng thôi, nhưng vì đảng ấy là duy nhất, lại là đảng nắm quyền cai trị toàn diện đất nước, thì gọi vai trò của ông theo từ ngữ xưa, là “Hoàng Đế’ cũng chênh lệch không nhiều.

Sau mấy năm tại vị, ông chưa làm được điều gì có thể gọi là thành công, nếu không nói là từ thất bại này đến thất bại khác (kết sổ thì cũng rõ ràng), chứng tỏ cái tài thì không có, nhưng vớt vát cũng có cái đức, vì chưa tai tiếng gì mấy. Phong cách ông hiền lành, nho nhã, lại ham sách vở, và đặc biệt mê giáo điều xã hội chủ nghĩa. Vì là con người của giáo điều nên ông có đức tính trung thành và có lập trường kiên định: Đã định cái gì rồi thì kiên quyết không chịu thay đổi, mặc cho thời thế có xoay vần! Kế tục đời Tổng Bí thư trước là Nông Đức Mạnh, ông Trọng trung thành với tình hữu nghị gói trong 16 chữ bằng giấy do Trung Quốc tặng cho, xem như bảo vật, ông đem dạy cho dân chúng từ trẻ nít đến người già học thuộc. Ông trân trọng đem tấm thân “tứ đại giả hợp” của mình sang tận Đại quốc anh em, để ký cái văn kiện xác định họ là “Đối tác chiến lược và toàn diện”, là cụm ngôn từ thời thượng nhất, biểu trưng giá trị cao nhất thế giới hiện nay về sự gắn kết giữa hai quốc gia, rồi lập thêm đường dây nóng cho hai nguyên thủ Quốc gia, để có chuyện gì rắc rối giữa hai nước thì gọi nhau…Để chứng tỏ sự trung thành với tình hữu nghị thiêng liêng, ông không tiếc lời chửi mắng con dân trong nước dám biểu tình chống lại mối quan hệ khắn khít đó, ông cho đánh đập, nhục mạ, đứa thì bị bỏ tù, đứa thì bị hăm he “xử lý”. Tuy nhiên, bọn “đối tác chiến lược toàn diện” ấy có mưu mô thâm hiểm, từng bước trở quẻ, láo toét! Văn kiện chúng xé toẹt, đường dây nóng chúng đem ướp đá lạnh, khi gọi chúng không thưa. Chúng ào ạt đem tàu chiến, máy bay đến bao vây lãnh hải, truyền thông của chúng chửi ta ra rả ngày đêm, bằng những từ ngữ thậm tệ, nói ngược, nói dối, phao vu…, xin lỗi, như bọn côn đồ, dao búa.

Từ ngày chúng đem tàu giàn khoan vào lãnh hải nước ta, cả tháng trời ông nín lặng, nghẹn ngào không nói được lời nào, nhất là vụ ướp đá lạnh đường dây nóng làm ông bị quê. Ông im lặng vì sợ hãi? Vì nhục? Vì không biết ứng phó ra sao? Vì tổn thương tình cảm kiên định hun đúc lâu nay? Hay vì nó làm đảo lộn nếp tư duy giáo điều trong ông, về tính “biện chứng” của tình “hữu nghị”? Những người cấp dưới cùng tâm trạng và quan điểm với ông cũng im re, hoặc cố vớt vát biện hộ cho thái độ tránh né cầu an của mình, bằng cụm từ “ổn định để phát triển”, lại bị Thủ tướng Dũng mắng cho, là cái “ổn định viển vông”, vốn là một dạng lệ thuộc. Giặc đến mà không chống, vì lý do“ổn định”, là ổn định cái nỗi gì! Lòng dân hết sức phẫn nộ. Phẫn nộ kẻ cướp đã đành, lại phẫn nộ kẻ hèn nhát tạo thuận lợi cho giặc.

Theo Hiến pháp Việt Nam 2013, do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lèo lái và chủ trì, thì Hiến pháp là văn kiện cao nhất “sau cương lĩnh của Đảng”, thì ông Tổng Bí thư lại là người có vai trò tối cao với sự hưng vong của quốc gia. Ông mặc nhiên được phép đóng vai là người có “bàn tay sạch”, và thường là không chịu trách nhiệm về những thất bại cụ thể. Nhưng nếu cái cương lĩnh mơ hồ của Đảng mà sai, thì có lẽ đó là do “Chúa” chăng, và không ai được quyền nhắc tới? Ví dụ Hội nghị Thành Đô là cái gì, mà trở thành “Kinh Thánh” với 16 chữ được ví như vàng? Hay gần đây, cái “Tuyên bố chung” do chính ông Tổng Bí thư Trọng ký với Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào, đã đem an ninh của quốc gia giao cho đối phương, chẳng khác chuyện Mỵ Châu vì yêu đương quá mùi mà đem “nỏ Thần” giao cho Trọng Thủy?

Tuyên bố chung tám điểm ký ngày 15. 10. 2011 tại Bắc Kinh có các dòng sau đây:“Đi sâu hơn nữa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực thi hành pháp luật và an ninh; Tăng cường giao lưu và hợp tác giữa các cơ quan như tòa án, viện kiểm sát, công an, hành chính, tư pháp; . . .tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong việc giữ gìn ổn định trong nước của mình.”. Vậy là không sót thứ gì trong lục phủ ngũ tạng được thực hiện hơn 3 năm qua, tính từ ngày ký, chứ đâu chỉ có mỗi cái nỏ Thần như chuyện Mỵ Châu?Trong khi Bắc Kinh đang tiến hành đủ trò khả ố, bất lương với nước ta, thì thử hỏi, đó là văn kiện gì? Là văn kiện hợp thức hóa cho kế hoạch thâm nhập toàn diện của Bắc Kinh vào an ninh nội địa Việt Nam? Thực chất là “ủng hộ” họ xâm nhập vào nước ta, chứ ta thì không thể bước qua biên giới họ. Chữ “lẫn nhau” sao đầy mờ ám và mê muội! Các cuộc biểu tình của nhân dân ở Vũng Áng, Đồng Nai… do đâu mà trở thành bạo động, manh động mà nhân dân, kể cả cái trời ơi “Việt Tân”, đều ngơ ngác khi bị lên án là thủ phạm? Không phải là kết quả của sự “ủng hộ lẫn nhau” đó sao? Cái “Thông cáo chung” ấy đã đến lúc cần phải đem ra “xử lý” được chưa? Khi lên chức Tổng Bí thư, ông tưởng đã đem về cho đất nước một văn kiện thành tích trang trọng, bỗng hóa thành nghiêm trọng! Nghiêm trọng hơn rất nhiều cái “thành tích ảo” mà ông nói là cần chấm dứt ngay, với Bộ trưởng Luận vừa rồi về nền giáo dục be bét.

Trong lúc tình hình dầu sôi lửa bỏng của cả nước, của khu vực và thế giới, ông im hơi đi vào cái “tổ thảo luận” của Quốc hội, luận thuyết với bậc đàn em về cái công thức rất rẻ tiền: “tín nhiệm cao-tín nhiệm-tín nhiệm thấp”, “không được tín nhiệm thì nghỉ”, rồi chừng như thỏa mãn – cái thỏa mãn của anh tiểu nông có lòng dạ nhỏ nhen của thời chưa có internet: “có khối anh sợ!”, tưởng tượng là ông đang mỉm cười hài lòng. Vui thật! Ngày xưa có những ông vua chỉ thích chơi gà chọi. Nhưng còn chính ông thì sao nhỉ? Nếu hỏi nhân dân thì biết ngay. Nếu hỏi Đảng trung ương, thì chịu thua, vì đó là chuyện riêng về ghế bàn của họ, không dính tới nhân dân, nhưng chuyện bàn về cái ghế lại cực kỳ quan trọng, vì nó liên quan đến vận mệnh Quốc gia, như cái ghế mà ông Tổng đang ngồi.

Hai trụ triều đình

Cũng cần nói qua về hai trụ triều đình kia cho có chút công bằng. Chủ tịch Quốc hội, ông Nguyễn Sinh Hùng, theo ông nhà báo Kami nhận xét, là người không có lập trường. Hình tượng về ông là ngọn cỏ thơ mộng, gió chiều nào ta nghiêng theo chiều ấy, gió chưa mạnh ta lao xao ẻo lả đợi thời. Về ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, tuy chức cao nhưng thích làm chuyện thâm thấp, ông muốn nép mình trong bụi mận gai. Là Chủ tịch nước, nhưng ông chỉ thích nói chuyện với một số cử tri quen quen của mấy phường ở Quận 1, nơi mà ông có tư cách là dân biểu. Nói ở chỗ không xứng tầm xem như không nói. Ông giấu mất cái chức Chủ tịch nước của mình. Nhớ ngày nào ông rất hăng hái, tích cực đăng đàn, hô hào nhân dân bắt sâu với tất cả quyết tâm hằn học. Nhưng nếu có dịp êm ả, ông cũng thỏ thẻ như kiểu thân tình, như mới đây, trong dịp tiếp Tân Đại sứ Trung quốc Hồng Tiểu Dũng, 19. 5.2014, ông nói với họ:“phát huy tốt vai trò cầu nối quan trọng, đóng góp thiết thực cho quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước”. Họ đã “đóng góp” hết sức thiết thực đấy thôi, ở giàn khoan, trong đất liền như vụ Vũng Áng, Đồng Nai, và các thứ công trình kéo dài nham nhở. Cầu nối to không tới đâu, bây giờ mong cái cầu nối nhỏ, lại tiếp tục bài ca “hữu nghị, hợp tác toàn diện”! Nhẫn nại lặp lại dòng chữ rất ê chề này, đã tỏ rõ là ông có đức kiên trì chịu đựng trước họa xâm lăng. Kẻ lớn không mắng xéo được thằng nhỏ Tiểu Dũng ấy lấy một lời, nói xuôi xị như nước đổ lá môn, nhược bằng chẳng nói câu nào còn hơn!

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Trong tình thế nội bộ bất nhất và bạc nhược như thế, chỉ riêng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dũng cảm bức phá và bước lên phía trước, với những tuyên bố chống xâm lược, đưa ra nhiều phát biểu phù hợp với yêu cầu củng cố sức mạnh dân chủ của nhân dân, tạo khí thế cho toàn dân chống xâm lược. Lời tuyên bố của ông có tính thống nhất, và duy nhất (trong nội bộ), xuyên suốt từ mấy năm nay,với lập trường kiên quyết bảo vệ lãnh thổ, chống bành trướng xâm lược, chủ trương dân chủ hóa thể chế, và có đường lối đối ngoại phù hợp xu hướng thời đại, đã được sự đồng tình ngày càng rộng lớn của nhân dân. Ông là người đầu tiên lên tiếng tại Quốc hội, khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, là người đầu tiên đề xuất Quốc hội làm luật biểu tình, là người đưa ra thông điệp tại Hội nghị Shangri-La làm rõ lập trường đối ngoại của Việt Nam trong tình hình mới, là thông điệp đầu năm bộc lộ tư tưởng dân chủ hóa việc nội trị, là tuyên bố tại Philippines về lập trường chống bành trướng, cùng thế giới bảo vệ Biển Đông, là những phát biểu minh bạch khẳng khái trước những quan điểm lưng chừng trong nội bộ lãnh đạo mang màu sắc ôn hòa giả hiệu đầy nguy hiểm trước các sách lược tấn công của Bắc Kinh. Ông đang trở thành chỗ dựa của nhân dân, và là một điểm tin cậy trong liên minh các nước bảo vệ Biển Đông.

Nhưng bản thân ông còn mang một vệt mờ, và dường như đã phai, trong nhân dân về những sai lầm kinh tế của những năm qua, dù còn để lại nhiều hậu quả nặng nề. Tất nhiên nó sẽ ám ảnh ông cho đến ngày mai, nhưng ai cũng biết, ông phải điều hành một chính phủ dưới sự chi phối tòan diện của bộ máy Đảng, từ trung ương đến địa phương.

Và cũng dường như có một số người rất quan tâm đến khuyết điểm này để khoét sâu và đả kích, tất nhiên là có nhiều lý do, vì lý do cái ghế ngồi chẳng hạng, song lý do lớn nhất là nương theo chiều tác động của Bắc Kinh muốn triệt hạ ông Dũng – vì ông ấy chống đại cục của họ rõ ràng nhất. Giờ đây, từ “hữu nghị” bộc lộ chiều sâu xấu xa nhuộm đầy máu của nó. “Hữu nghị” của Bắc Kinh là vì mục tiêu Việt Nam. “Hữu nghị” của Việt Nam (một số ai đó) là vì mục tiêu “cái ghế”, tức là muốn kiếm cái ghế dưới bóng râm “hữu nghị”. Nhưng cần cái ghế để mà chống Bắc Kinh, thì cái ghế đó không thể đến từ “hữu nghị viển vông”, mà phải đến từ nhân dân với tinh thần quyết chống trả đối phương. Với ý nghĩa này, toàn dân sẽ thành một sức mạnh ủng hộ người dám bước lên phía trước theo hướng này. Nhiều người cho rằng nên cảm ơn cái giàn khoan Hải Dương 891. Nhờ nó mà soi rõ mặt nhau. Nhờ nó mà từ đây – không phải thêm một lần nào nữa, cho dù với người mê man nhất – cũng không còn ảo tưởng về cái “hữu nghị” khốn cùng của hơn nửa thế kỷ qua, dưới các cụm từ “Xã hội chủ nghĩa anh em”, “cùng là Đảng Cộng sản”, “môi hở răng lạnh” của một tình trạng hàm ếch nặng nề.

Ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nên theo gương Thái hậu Dương Vân Nga: Trao ghế Tổng Bí Thư cho người khác.

Với bản chất hiền lành và ưa mơ mộng xa vời về chủ nghĩa xã hội, có lẽ ông là người ít tham vọng, lại trong sáng và giản dị, như ông từng “cưỡi xe đạp” đi thăm bạn, như ông đã từng tin theo một cách hoang tưởng, vào tình hữu nghị tốt đẹp chân phương Việt – Trung, Nay bầu trời đã hoàn toàn khác. Chúng ranh mãnh một cách phũ phàng với tấm lòng chân thực của ông. Đại-cục-xã-hội-chủ-nghĩa-anh-em đã tan tành, vỡ vụn thành những đống ba dớ không còn dùng mót được việc gì. Phải chủ động xé bỏ cái văn kiện “Hội nghị Thành Đô” thôi. Còn cái “Thông cáo chung” mà ông ký kết thì chúng đã giày nát dưới chân rồi. Thế thì ông làm Tổng Bí thư với cái nghĩa gì đây? Với ai đây? Xin nói rõ: không có nhân dân! Vì không một ai muốn đi theo ông trên con đường viễn mơ sự hoàn thiện ở cuối thế kỷ. Không đa đoan nên không ứng phó nổi với tình thế, từ nay đến hết nhiệm kỳ Tổng Bí thư của ông, là thời gian chết của dân tộc. Cả đất nước căng thẳng hằng ngày hằng giờ, và toàn diện. Bắc Kinh đang tiến công ta trên mọi mặt trận: quân sự, kinh tế, ngoại giao, tình báo, tư tưởng, văn hóa, thực phẩm, từ trong đất liền, tới ngoài biển đảo, với quy mô khu vực và thế giới…
Với vai trò cao nhất đang giữ, ông tỏ rõ là kẻ vô tích sự!

Còn hơn thế nữa, ông là đại biểu của một thế lực đang bế tắc về mọi phương diện, từ lý thuyết đến hành động, từ động tác đến lời nói, có tác dụng là vật cản của dân tộc đang quyết sống chết, thoát vòng vây của Bắc Kinh.

Điều dũng cảm nhất và cao cả nhất ông có thể làm, là trao quyền Tổng Bí thư cho người khác. Trước mắt, không ai khác hơn là ông Nguyễn Tấn Dũng, làm Tổng chỉ huy lâm thời cho giai đoạn chuyển mình của đất nước để thoát khỏi quỹ đạo của Đại Hán Bắc Kinh.

Lời tuyên bố của ông công khai trên truyền thông với ý nghĩa là, vì cuộc chiến đấu giành độc lập cho đất nước và bảo vệ hòa bình cho Biển Đông, ông sẵn sàng hy sinh vai trò và chức vụ đang nắm giữ, để cho cuộc đấu tranh được mạnh mẽ và hiệu quả hơn, và lá phiếu của ông sẽ tạo được đa số trong Bộ Chính trị. Cuộc chuyển giao quyền lực được thực hiện êm ả là phù hợp tình hình hiện nay.

Làm được điều này có ba điều lợi lớn sau đây:

1) Về bản thân. Toàn dân sẽ hoan nghênh ông, vì đất nước chấm dứt được tình trạng trì trệ, trì kéo, lếtbết của cỗ xe tứ mã không biết chạy về đâu. Ông tự thắng mình bằng cái tâm cao cả (Thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường). Hành độngnày của ông là lời hiệu triệu vô cùng giá trị với toàn dân. Ông ngang bậc thánh nhân là có thể.

2) Về Đảng. Do ông mở đầu cho một quyết tâm chống giặc cướp, cũng là mở đầu cho cuộc chấn hưng đạo đức bằng chính sự làm gương của bản thân mình, nó sẽ đem lại tác động rộng lớn trong bộ máy cầm quyền của Đảng ông. Từ đó, văn hóa từ chức sẽ phát triển. Sự tự trọng và tôn trọng nhân cách sẽ từng bước hình thành một thứ văn hóa đích thực. Nhân dân Nhật, Hàn làm được, nhân dân Việt Nam dần dần cũng làm được. Bộ máy Đảng các ông sẽ từ từ đẩy lùi cái văn hóa thô lậu của mua bán chức quyền trong Đảng đang phát triển hà rầm bấy lâu nay, nó vượt xa cái hệ giá trị của sáng kiến kỳ bí màu mè, là “lấy phiếu tín nhiệm” theo cách may rủi có vẻ cờ bạc. Nói thật về một thực tế, hiện nay nhân dân không hề “kính trọng” các quan chức chút nào, mà chỉ có sợ về bạo lực và các thủ đoạn khác của kẻ cầm quyền. Nhưng hà tất phải đòi hỏi kính trọng? Bình đẳng và tôn trọng nhân cách, tôn trọng luật pháp là đủ. Đảng từng bước chuyển hóa theo nền văn hóa nhân bản, từ bỏ con đường nguy hiểm do Đảng Cộng sản Trung Quốc cài đặt và tẩm hóa chất, để hướng về một xã hội bình đẳng, dân chủ và một nhà nước pháp quyền – nó vốn là những thành tựu trên con đường trải nghiệm của nhân loại.

3)Về Tổ quốc. Nếu trước đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người có khuôn mặt mà Bắc Kinh “yên tâm”, thì nay đương nhiên là họ sẽ vô cùng thất vọng. Không nhắc đến lịch sử xa xưa, chỉ nói đến những thế hệ Cộng sản. Đã có một Tổng Bí thư Lê Duẩn từng đốp chát thẳng với Mao Trạch Đông, hay vỗ mặt Đặng Tiểu Bình qua trận chiến 1979, thì cũng có một Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tính sai nước cờ mà thảm bại ở Thành Đô (thua về trí), một Tổng Bí thư Nông Đức Manh lỡ cúi gập người gần 90 độ trước cái uy phong của Hồ Cẩm Đào (thua về khí), mà thực hành chăm chỉ 16 chữ vàng cho đến lúc hưu, làm cho nhân dân vừa xấu hổ vừa tức giận, thì tới Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bị Hồ Cẩm Ðào gài bằng cái bẫy “thông cáo chung” quá tử tế, để sau đó cho đàn em Tập ra đòn. Đau là cái đau chung của non nước, nhục là nỗi nhục chung của dân tộc, chẳng phải của riêng ai. Cái hưng vong của tổ quốc thì lịch sử phải ghi thẳng thắn. Chúng ta trả đòn thù bằng cách sửa mình để vươn lên chân chính. Lịch sử Việt Nam không hẹp hòi với tấm tình của Mỵ Châu, nhưng ghi lại một điển hình nông nổi như một bài học. Lại có một tấm gương Dương Vân Nga lộng lẫy ít nơi nào có. Ta cũng có một Tổng Bí thư Trường Chinh biết sửa sai cuối đời, đặt nền tảng cho một sự chuyển hướng căn cơ.

Thế giới sẽ đón nhận tin vui khi nghe ông Tổng Bí thư trao Vương miện. Tập Cận Bình thì rất lo âu vì thế cờ đã xoay hướng. Giá trị hành vi này của ông như sự “bấm nút” của thời đại vũ khí nguyên tử.
Gỡ nhục cho mình, tháo ách cho nước, làm đối phương kinh ngạc, giá như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng nhân dân xoay trục, mà khẳng khái đứng dậy trao ghế cho người khác, như Thái hậu Dương Vân Nga đã làm! Đất nước sẽ phát triển, Biển Đông sẽ bình yên, thế đứng của Việt Nam sẽ bền vững. Và ông sẽ được toàn dân xem xét, có thể được tôn vinh về nhân cách.
Bám ghế thêm hai năm, rồi thui thủi ra về với một linh hồn rách nát, phỏng thân thế sự nghiệp có ra gì! Cái vinh quang chân chính sao không nắm lấy?

“Ông đứng làm chi đấy, hỡi ông?
Trơ trơ như đá, “lẳng” như đồng.
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?
Non nước đầy vơi có biết không?”
(Nguyễn Khuyến)
Đây chỉ là bài thơ vịnh một ông “phỗng” bằng đá./.
12-6-2014
H. Đ.N.
Tác giả gửi BVN

Thoát Trung” và “Thoát Cộng” – Nhu cầu cấp bách của Việt Nam ngày nay

Nhà báo Trần Quang Thành phỏng vấn nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai
Thoát Trung” và “Thoát Cộng” hiện nay được coi là con đường duy nhất để Việt Nam tránh khỏi thời kỳ bắc thuộc mới. Đây là hai vấn đề cấp bách đang được nhiều  nhà trí thức và các đoàn thể thảo luận trong những ngày vừa qua. Như vậy diễn trình “thoát” ra khỏi cả hai đối tượng Trung Hoa và Cộng sản mang ý nghĩa ra sao? Tại sao phải thoát? Phải bắt đầu từ đâu và trong những lãnh vực nào? Trở ngại lớn nhất cần phải khắc phục trong diễn trình này là gì?

Trong cuộc phỏng vấn sau đây của nhà báo Trần Quang Thành, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai sẽ đưa ra những nhận định về vấn đề này và trả lời những khúc mắc vừa kể. Mời quý vị cùng nghe.

(Audio PV nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai)

************

- Trần Quang Thành: Thưa nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, vấn đề thoát Trung hiện nay đang được rất nhiều sự quan tâm của dư luận trong nước, ông có bình luận gì về vấn đề này?

- Nguyễn Khắc Mai: Đây là vấn đề lớn mà cũng cấp thiết lại có ý nghĩa chiến lược đối với dân, với nước cho nên mọi người nên quan tâm và tìm mọi cách thực hiện.

Tôi cũng đánh giá rất cao cuộc trao đổi vừa rồi của một số nhà nghiên cứu Chu Hảo, Trần Ngọc Vương, Giáp Văn Dương, Đinh Hoàng Thắng, Vy Khải, v.v.Có nhiều ý kiến khác nhau không phải chống nhau nhưng nhiều ý kiến phong phú về vấn đề này, anh thì nghĩ như thế nào?

- TQT: Tôi rất hoan nghênh những nhà nghiên cứu đã quan tâm đến vận mệnh của đất nước và có ý kiến về vấn đề thoát Trung.Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai muốn thoát Trung chúng ta phải làm những việc gì?

- NKM: Có mấy ý kiến đặc biệt là về sự cần thiết phải thoát Trung. Mình xác định là thoát Trung thì không phải là bài Hoa cũng không phải là bài văn hóa Trung Hoa, điều đó là vô nghĩa. Hai nữa thoát Trung là dứt bỏ hẳn không có quan hệ gì nữa thì cũng không phải là vậy.

Chúng ta quan hệ với Trung Hoa trên một tư cách hết sức bình đẳng, đàng hoàng và cái chính là thoát khỏi cái sự ràng buộc của một cái vòng kim cô mà họ đến áp đặt cho mình. Trước hết là về chính trị không thể trở thành một nhà nước đánh đu theo họ, phụ họa theo họ, làm theo lợi ích của họ. Bởi họ luôn muốn giữ mình, giữ cái đảng cộng sản Việt Nam, giữ cái nhà nước Việt Nam này trong cái vòng kiềm tỏa của họ. Chẳng qua là họ lợi dụng thôi và họ đã lợi dụng được do sự yếu kém của mình về sự hiểu biết, về tinh thần về khí phách mình yếu nên họ lợi dụng được. Hai nữa là người ta đã đặt vấn đề sự tồn vong của một chính đảng với cái tồn vong của dân tộc nó khinh trọng khác nhau nên nó quá đề cao cái việc nếu không bám vào Trung Hoa thì vị thế của cái đảng cộng sản nó hỏng, nó mất đi, điều đó không đúng. Vị thế của chính đảng nó nằm trong việc anh phục vụ dân tộc anh nhân dân anh như thế nào, họ nghĩ quẩn nghĩ nhầm, nghĩ rất thấp.

Bấy giờ tại hội nghị Thành Đô ngay những người tử tế đàng hoàng như Nguyễn Cơ Thạch và những anh em mà tôi biết. Tôi cũng có những bạn bè ở trong ngành ngoại giao lúc bấy giờ, về sau họ có nói với tôi đấy là sự mở đầu cho một thời kỳ Bắc thuộc mới và họ cay đắng lắm. Thế nghĩa là trong cái đất nước này không phải ai cũng đồng tình với những luận điểm như vậy, bám lấy Trung Hoa để giữ gìn một cái chế độ là không đúng. Quan trọng nhất là có cái chế độ cho nó tử tế, nó đàng hoàng để phục hưng dân tộc để phát triển đất nước. Kể từ khi bám lấy Trung Quốc thì rõ ràng là mình thua thiệt nhiều, cái gì cũng thua thiệt cả. Từ nhiều năm nay tôi đã suy nghĩ về cái mà tôi gọi là “hiệu ứng bóng đè”. Tôi lấy tên của tác phẩm văn học “Bóng đè” để nói về cái hiệu ứng này. Hiệu ứng này nó lớn lắm, nguy hiểm lắm như một cái bóng lớn nó đè lên thân phận của dân tộc mình trên mọi phương diện: chính trị, văn hóa, ngoại giao… Nguy cơ rất lớn.

Điều tôi rất suy nghĩ là cái mộc mạc mà cha ông mình trao gửi từ hồi vua Hùng đã có câu chuyện là muốn thoát khỏi cái bóng đè này tức thoát khỏi cái xâm lăng đô hộ của họ thì mình phải lớn, lớn nhanh, lớn như thổi thì mình mới thoát được. Hiện nay bài học lớn từ thời vua Hùng đặt ra là mình phải lớn nhanh về thể chế, về chính trị để tạo nên một sức mạnh mới của dân tộc, tự chủ, tự cường, độc lập để giúp cho mình có cơ hội hợp tác liên kết với tất cả các dân tộc tiến bộ văn minh trên thế giới, để giúp cho nội lực Việt Nam phát triển. Cái bóng đè này nó không bao giờ muốn cho Việt Nam lớn lên, mạnh lên.Nó kìm hãm lại và những chính sách như vậy thật là ngu ngốc và nó chả có ích lợi gì cho dân tộc. Lớn nhanh lên về chính trị tức là sự đổi mới thể chế phải mạnh hơn nữa.Không phải là để giữ quyền lực cho nhóm này hay nhóm kia mà vấn đề là để cho dân tộc này nó trưởng thành nhanh có sức mạnh mới để đối phó với mối nguy hiểm từ bên ngoài và có nội lực để phát triển. Phải lớn nhanh về kinh tế, một chu kỳ 30 năm thì một dân tộc từ lạc hậu, nhờ công nghệ tin học, nhờ những phát triển mới của khoa học của kinh tế của công nghiệp mà một dân tộc từ chỗ kém cỏi và lạc hậu trong vòng 30 năm có thể xây dựng xong hạ tầng cơ sở về kinh tế.Họ xây dựng xong hạ tầng giao thông, họ xây dựng xong hạ tầng của giáo dục.Tạo ra một nền giáo dục, một nền khoa học  tiên tiến mạnh mẽ. Họ tạo ra một cơ sở hạ tầng cái mà người ta gọi là vốn xã hội.Chất lượng của con người, chất lượng của xã hội đổi mới trong đó có nhân cách của con người và nhân cách của dân tộc ấy nó cao thượng hẳn lên, nó tốt đẹp hẳn lên. Người ta chỉ cần trong vòng 30 năm thì họ phát triển được, nhưng chúng ta cũng có 30 năm, từ 1986 đến nay là 28 năm thì chúng ta chưa tạo dựng được ra những hạ tầng như vậy, giờ cũng vẫn còn tiếp tục loay hoay… Hạ tầng cơ sở vật chất, đường xá giao thông liên lạc cũng chưa được, đường sắt vẫn sử dụng của thời Pháp thuộc, còn hạ tầng đặc biệt về giáo dục về khoa học thì ta không làm tốt được. Trong khi đó Hàn quốc họ cho ta cái số liệu chi tiêu về đầu tư thấp hơn chúng ta.Ta chi tiêu 2 mà không xong, họ chi tiêu 1 mà họ đã hoàn thành, hoàn chỉnh được mọi chuyện. Bây giờ họ trở nên một dân tộc tiến bộ, một nền văn hóa, kinh tế tầm cỡ trên thế giới. Chúng ta chậm trễ như thế nên chúng ta tiếp tục phải  đánh đu và ngày càng lộ rõ. Điều này rất nguy hiểm nên phải thoát ra để tiếp nhận năng lực của nhân loại tiến bộ và làm cho nhanh chóng sự trưởng thành phát triển của xã hội Việt Nam. Từ đó nỗ lực của Việt Nam tăng trưởng để có thể đối phó với những âm mưu ví dụ như chúng ta đang đứng trước một thách thức nghiêm trọng từ chủ nghĩa bá quyền đại Hán của Trung Hoa. Hiện nay, họ đang hưng phát, họ không tuân theo cái phát triển hòa bình đâu. Phát triển hòa bình là cái trò lừa đảo.Người Trung hoa có mặt tốt là họ để lại một nền văn minh rất lớn nhưng họ cũng có mặt xấu là tráo trở, xỏ lá gian xảo  rất lớn. Mình đang đứng trước một tình hình là một Trung Hoa khi phát triển thì rất nhiều biểu hiện của lối hành xử như chủ nghĩa đế quốc. Tức là cũng muốn vẽ lại bản đồ địa chính trị. Ngay cả như Nga cũng đang đặt ra cho chúng ta một suy nghĩ… tưởng là nó tử tế nhưng không phải. Nó vẫn tiếp tục cái con đường kiểu chủ nghĩa đế quốc, cũng đòi vẽ lại bản đồ địa chính trị.  Ucraine là rõ ràng nhất để mà thấy nước Nga vẫn còn trong một tâm thức Đại Nga lạc hậu, mà phía bên này là tâm thức Đại Hán lạc hậu và đấy là rất nguy hiểm cho dân tộc Việt Nam và cho khu vực cho nên là phải thoát thôi chả có cách nào khác.Nhưng mà muốn thoát thì không phải một sớm, một hôm. Phải nhận thức tại sao ta bị kìm hãm trong một thế yếu kém kéo dài, phải nhìn ra. Giới tinh hoa tức giới trí thức phải tỉnh, phải biết, phải phân tích. Việt Nam có một cái kỳ lạ 50 năm nay có việc gì thì người ta nghĩ phải có một cái nghị quyết của Đảng thì mới làm được. Các nước văn minh tiên tiến thì họ không làm như vậy. Bất cứ việc gì của dân tộc họ, của xã hội họ thì việc đầu tiên là của giới trí thức phải phân tích, phải nghiền ngẫm, phải đối chiếu hai ba phương diện, hai ba phương án và cuối cùng mới đem lại kiến thức cho đám chính trị họ lựa chọn. Nhưng mình lại làm ngược lại, đem cái tư tưởng hẹp hòi thiển cận, thậm chí rất xấu của cái nhóm chính trị để áp đặt vào trong xã hội. Như thế xã hội mình không phát triển được. Nên giới trí thức phải hành động, phải nghiên cứu vì đây là vấn đề cấp bách, vấn đề lớn của đất nước. Kinh tế phải quan hệ với họ như thế nào để không bị lệ thuộc. Chính trị quan hệ với họ nhưthế nào để không bị lệ thuộc. Văn hóa quan hệ với họ như thế nào để không bị lệ thuộc và đặc biệt là chính sách đối ngoại của mình như thế nào để không bị cầm tù, không bị lệ thuộc. Nó ép mình, bắt mình là phải chơi với anh này, chơi với anh kia, không được chơi với người nọ không được chơi với người kia hết sức vô lý.Đấy là vấn đề mà giới trí thức phải hành động và vừa rồi cái hội thảo thoát Trung là một việc làm đầu tiên thôi chứ còn phải tiếp tục phân tích, suy nghĩ, tạo ra một nhận thức xã hội, một dư luận xã hội mới thì mới mong là chúng ta sẽ thoát khỏi cái vòng kim cô bá quyền Đại Hán. Cho nên cái ông Nguyễn Tấn Dũng nói gì thì nói ông đặt ra những cái vấn đề rất hay “đừng đánh đổi chủ quyền lấy một cái hữu nghị viển vông lệ thuộc” thế thì tội gì mà mình không làm. Thế nhưng tôi biết là trong cái lãnh đạo họ không đồng tình với nhau đâu. Nó có nhiều phe phái lắm cho nên thoát cái lệ thuộc này không phải là đơn giản cho nên là nhân dân phải hành động vượt qua tất cả cái lạc hậu trì trệ, thậm chí cả những cái phản động đang còn tồn tại trong nội tại xã hội của Việt Nam hiện nay. Nhân dân phải vượt lên vượt qua những vấn đề này để khẳng định mình.

- TQT:Theo ông thì có những trở lực nào cản trở việc thoát Trung?

- NKM: Cái lớn nhất hiện nay là đường lối chính trị của cái Đảng cộng sản Việt Nam. Là cái cản trở trước.Kể cả những người, người ta yêu nước, người ta nhìn thấy những mối nguy hiểm của Trung Hoa rất sớm, cả giới trẻ thì cũng bắt bớ họ, lên án họ, thậm chí định đưa ra xử cái việc là tại sao lại phê phán Trung Hoa, ví dụ như vụ xử cô Phương Uyên. Đấy là giới trẻ nó nhìn rất là sáng tỏ, nó rất là nhạy cảm nó nêu lên. Thế mà anh không thấy được vấn đề anh lạc hậu hơn nó anh bị những cái chi phối mà do tâm thức lạc hậu của anh, do có thể có sự ràng buộc về tiền tài, về gái gú nên anh không nhìn thấy, anh bị những lợi ích vật chất đê hèn như thế mà anh không trở thành một cái nhân cách cao thượng để nhìn thấy sáng tỏ vấn đề. Thế thì đáng lẽ những trường hợp ấy thì anh phải phát triển lên anh phải nuôi dưỡng nó, nuôi dưỡng những ý nghĩ tiên tiến tiến bộ, anh để cho nhân dân trao đổi trò chuyện với nhau nhiều ý kiến khác nhau làm sáng tỏ vấn đề. Mãi đến khi nó dồn anh vào chân tường tức là nó đem đặt dàn khoan vào ngay trước lỗ mũi của anh, nhân dân quyết định thì anh mới đi theo. Đấy là cái lạc hậu của anh, lạc hậu của kẻ cầm quyền. Cho nên vấn đề lớn nhất là những người cầm quyền phải thức tỉnh nếu họ muốn xứng đáng là bộ phận điều khiển chỉ huy quản lý đất nước, xa hội.Dứt khoát họ phải nghe theo dân để có đời sống tử tế và có sự phục vụ… có giá trị, còn nếu không thì gương của Lê Chiêu Thống đấy, gương của Trần Ích Tắc đấy. Rất là nhiều tấm gương trong lịch sử để lại là trước sự nguy khốn, uy hiếp của Trung Hoa thì trong nội bộ luôn luôn nảy sinh những kẻ Việt gian phản động, bây giờ phải khắc phục cái này.

- TQT:Dư luận xã hội nói rằng “muốn thoát Trung trước hết chúng ta phải “thoát Cộng”, ông nghĩ thế nào về vấn đề này?

- NKM: Thực ra là cái chủ nghĩa cộng sản nó tỏ ra là một cái sự hổ lốn, hồ đồ. Cho nên thoát Cộng có nghĩa là thoát khỏi một cái tư tưởng hổ lốn, hồ đồ và lạc hậu chả có gì khác. Anh bám víu vào một số cái ý tưởng mơ hồ, không tưởng không ra không tưởng, ảo tưởng không ra ảo tưởng và anh đã nhận thức được là trăm năm nữa không có nó đâu nhưng mà anh vẫn bám theo. Thế thì vấn đề là phải từ bỏ ngay cái mà tôi gọi là mô hình Xô viết, mô hình chính trị toàn trị sao chép của Liên xô cũ. Mình bị Nga rồi Tàu nó lôi sang, Mạc Tư Khoa nó lôi sang Bắc kinh mà hiện nay thì nó vẫn lôi sang để nó đào tạo đấy. Đào tạo từ anh lính cho đến những anh cán bộ chính trị tuyên huấn tuyên hiếc. Nó lôi sang nó đào tạo. Mình phải thấy rõ cái điều này là mình đang có nhận thức hồ đồ về một cái thứ chủ nghĩa mà không đâu vào đâu cả và đang thấy đấy ông Trọng nói trăm nữa không có chủ nghĩa xã hội đâu! Nhưng mà ta vẫn đánh đu theo như thế để làm gì? Mà rõ ràng cái đường lối này nó không phát triển đối với dân tộc. Cho nên là phải đổi mới, tôi nghĩ là phải đổi mới một cách quyết liệt. Ngay trong lãnh đạo hiện nay cũng có người đã nhận thức ra vấn đề này đấy. Nhưng mà họ đặt ra một cách đang còn dè dặt chưa dám phát động nhân dân suy nghĩ, nghiền ngẫm theo cách ấy, chẳng hạn như ông Dũng ông nêu là phải đổi mới, phải cải cách thể chế. Cải cách thể chế nghĩa là gì, thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế văn hóa… và phải để cho giới trí thức bàn luận rõ cái này. Cho nên là nói là muốn thoát Trung nhưng thực chất vấn đề là thoát cái việc hồ đồ hủ lậu hiện nay… Cách đây mấy năm thì tôi đang biểu hiện về chữ Việt có nghĩa như là sự thăng hoa siêu việt lên, vượt khỏi cái hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm, vượt khỏi cái đối thủ gây cho mình cái cản trở cái khó khăn, gây cho mình cái lạc hậu, đặc biệt là phải thoát để vươn lên siêu việt, vượt lên chính mình để có nhân cách mới. Nhân cách của từng người và nhân cách của cái dân tộc này, trí tuệ sáng suốt, đàng hoàng làm chủ để phát triển…

Mà cái ông Hồ không biết vì thế nào mà ông cũng có một cái cảm nhận cũng là nhạy cảm, trong di chúc ông nói rằng phải có một cuộc chiến tranh để chống lại những hư hỏng cũ kỹ.Càng ngày càng thấy hư hỏng, càng ngày càng thấy cũ kỹ. Thế thì phải hiểu sao về những cái này? Cho nên tôi nghĩ là chưa bao giờ mà ý nghĩa của cái chữ Việt cần phải nghiền ngẫm suy nghĩ để mình có thể chọn lựa thái độ, cách ứng xử, đặc biệt là tìm những con đường mới, tìm những giá trị mới tìm những năng lực mới cho từng người cũng như cho từng cộng đồng dân tộc cho từng cái chính đảng cũng như là cho cái bộ máy nhà nước. Tôi có viết một bài gọi là Việt Nam hậu HD981. Trong đó tôi nói rõ là sau cái giàn khoan, sau cái ngày 02/05/2014 dân tộc này đã phải sống khác trước.Không đổi mới nhanh, không vượt lên nhanh thì chúng ta sẽ càng ngày càng thua thiệt cho nên thoát Trung chính là vấn đề làm sao cho Việt Nam thăng hoa, Việt Nam siêu việt lên một giai đoạn mới, một sự phát triển mới, tôi cũng xin mạo muội đưa ý kiến như thế.
-        TQT: Xin cảm ơn nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai.

T.Q.T. – N.K.M.
Các tác giả gửi cho BVN

Ông Phạm Văn Đồng và nỗi đau nước Việt

Nếu như có một cõi tâm linh, nơi mà con người sau khi chết vẫn nhận biết, thì ông Phạm Văn Đồng chắc hẳn là người đang đau khổ. Vì vấn đề liên quan đến cá nhân ông đang mang lại một nỗi đau quá lớn cho dân tộc.

Không có lẽ người Việt mất Hoàng Sa, sau hơn 3 thế kỷ chiếm hữu, với những công trình mà người Việt và người Pháp xây dựng trên quần đảo Hoàng Sa, lại chỉ bằng một văn bản, mà rất có thể chỉ có Hồ Chí Minh và ông Phạm Văn Đồng tự quyết định với nhau? Hay ông Phạm Văn Đồng chỉ là người thừa hành trước một Hồ Chí Minh bao trùm uy tín, quyết định mọi vấn đề ngày đó?!

Sản phẩm của cơ chế độc đảng, độc quyền

Việc kiện China lên các tòa án liên quan để đòi lại Hoàng Sa (cũng như một phần Trường Sa) còn “thiên nan, vạn nan”. Dẫu sao, vẫn còn một phần may mắn cho con dân nước Việt, đó là, Hoàng Sa khi đó thuộc Việt Nam cộng hòa (VNCH) quản lý.

Nếu như miền Bắc với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH) ngày đó, thực sự có cơ chế “Tam quyền phân lập”, thực hiện theo Hiến pháp 1946, thì cụ Phạm Văn Đồng có làm được điều “bút sa gà chết” như vậy không? Rõ ràng là không!

Đưa Việt Nam đi theo con đường độc đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo, là thắng lợi lớn nhất mà Mao và các học trò của ông ta đã làm được cho đất nước China trong gần 85 năm qua. Phải chăng, vì vậy mà, mặc dù là một tên đồ tể, gây nên cái chết của 77 triệu người (chủ yếu là người Tàu), nhưng Đảng cộng sản China hôm nay vẫn bắt Nhân Dân China tôn thờ Mao?

Bài học không chỉ riêng đối với ông Phạm Văn Đồng

Hôm nay, khi mà mâu thuẫn giữa “hai đảng anh em”, đã không còn có thể che dấu với việc China chủ động lấy mặt nạ ra khỏi khuôn mặt thật của họ thông qua sự kiện giàn khoan Haiyang Shiyou 981 (HY981), thì rất có thể còn nhiều điều bất ngờ sẽ được phía China công bố về sau.

Được biết, hôm 09.06.2014, China đã gửi công hàm lên Liên Hiệp quốc, theo đó, ngoài “công thư Phạm Văn Đồng” như dư luận đã biết; thì China còn gửi thêm 02 tài liệu, đó là: (1) Sách lớp 9 phổ thông toàn tập, NXB Giáo dục Hà Nội – 1974; và (2) Tập bản đồ thế giới, do Cục đo đạc và bản đồ Phủ Thủ tướng, xuất bản tại Hà Nội năm 1972; trong đó Việt Nam gián tiếp công nhận chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà China gọi là Tây Sa và Nam Sa; đó chính là những bất ngờ mới, rồi đây liệu rằng Bắc Kinh sẽ còn có tung ra thêm tài liệu hay thỏa thuận gì nữa?

Với lịch sử quan hệ bí mật giữa “hai đảng anh em” Việt Nam – China trong gần 85 năm qua, những người Việt quan tâm đến vận mệnh Đất Nước, chắc chắn tin rằng, không chỉ riêng ông Phạm Văn Đồng đang phải buồn lòng nơi chín suối, mà sẽ còn có nhiều vị nữa. Ngay cả là đối với các vị làm Tổng Bí thư từ sau “Hội nghị Thành Đô” (9/1990) về sau, như các ông (đang còn sống): Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh… rất có thể, tội lỗi của các ông này còn nặng hơn ông Phạm Văn Đồng ngày trước.

Tạm kết

Xung quanh việc tranh chấp chủ quyền của Quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và China mà hai bên đã lên án, phản bác lẫn nhau trên các phương tiện truyền thông vừa rồi; dù muốn hay không nghĩ đến, nhưng người Việt hôm nay, phần nào phải công nhận rằng: Chính nghĩa đang dần thuộc về VNCH. Nếu như cho rằng, với mọi người trên Đất Nước Việt Nam thì “Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng, tối thượng”, thì chính nghĩa lại đang thuộc về VNCH.

Sắc lệnh (năm 1961 – sau 3 năm so với “công thư Phạm Văn Đồng”) của Tổng thống VNCH, đặt quần đảo  Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập xã Định Hải gồm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trực thuộc quận Hòa Vang, Quảng Nam. Nguồn ảnh: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=300199313473807&set=a.105781389582268.13743.100004512214081&type=1

Sau đây là một đoạn thể hiện điều nhận định trên, khi trong bài viết “Có sẽ bị “ngửi phân Trung Quốc ngàn năm” ở Biển Đông?”, của tác giả Dương Danh Huy, đăng trên trang Bauxite Việt Nam, ngày 11.6.2014, có đoạn:

“Một trong những điều mà Đảng Cộng sản Việt Nam cho là hào quang của mình là vai trò của họ trong phong trào Việt Minh giành độc lập cho Việt Nam. Họ cũng cho rằng vai trò của họ trong cuộc chiến 1954-1975 là một hào quang. Nhưng giả sử điều thứ nhì có đúng đi nữa thì hào quang đó cũng có một bóng tối, đó là khi đối diện với câu hỏi “Có nói Hoàng Sa, Trường Sa là của dân tộc Việt hay không?” họ đã chọn trả lời sai. Dù trả lời sai đó có không làm cho Việt Nam mất chủ quyền pháp lý đi nữa, thì đó cũng là một bóng tối về luân lý. Nhưng, quan trọng hơn, nếu dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mà Việt Nam lâm vào tình huống phải “ngửi phân Trung Quốc ngàn năm” ở Biển Đông thì vị trí của Đảng Cộng sản trong lịch sử Việt Nam sẽ cực kỳ đen tối, không hào quang nào có thể soi sáng nổi. Tất nhiên, điều quan trọng hơn tất cả là nếu điều đó xảy ra thì tương lai của Việt Nam sẽ cực kỳ đen tối”.

Nếu như Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam hôm nay, không có những thay đổi táo bạo, mang tính quyết định, nhưng hợp với lòng Nhân Dân và xu thế lịch sử, tranh thủ thời cơ được sự ủng hộ của Nhật Bản, Hoa Kỳ… thì chính họ, chứ không phải ai khác, sẽ đóng đinh lên tấm ván thiên cho Đảng cộng sản Việt Nam.

Sự vớt vát cuối cùng đối với danh dự những cá nhân phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đang nằm trong tay các vị thuộc Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam hôm nay.
13.6.2014
Hoàng Mai.
Tác giả gửi BVN

Tập Cận Bình: Chủ động uy hiếp, chủ động tấn công trên Biển Đông

(GDVN) - Kết hợp uy hiếp quân sự với gây sức ép ngoại giao, tranh thủ chính trị để phối hợp giải quyết, đây chính là mô hình Trung Quốc đang, sẽ áp dụng trên Biển Đông.

Đa Chiều, tờ báo của người Hoa hải ngoại ngày 13/6 bình luận, Tập Cận Bình đang điều chỉnh chiến lược quân sự quy mô lớn trên Biển Đông nên việc thị uy sức mạnh cơ bắp với máy bay, tàu chiến ở gần vị trí giàn khoan 981 (hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam - PV) không có gì là lạ.

Trên thực tế, ngay từ tháng 12/2012 Tập Cận Bình lần đầu tiên đề ra phương châm phát triển quân đội "gọi là đến, đến là đánh, đánh là thắng" ngay trong chuyến tuần du phương Nam, thị sát đại quân khu Quảng Châu và hạm đội Nam Hải. Tập Cận Bình nói câu này khi đang đứng trên chiến hạm của hạm đội Nam Hải. Đó chính là biểu hiện của của chủ động phòng ngự, chủ động uy hiếp và chủ động tấn công, Đa Chiều bình luận.

Việc Bắc Kinh điều ít nhất 6 chiến hạm hiện đại bậc nhất và ít nhất 4 máy bay quân sự ra gần giàn khoan 981 theo Đa Chiều là biểu hiện của sự chuyển ngoặt trong chủ trương của Bắc Kinh, từ chỗ chỉ "nói mồm" tới chỗ "động tay chân", kết hợp uy hiếp quân sự với gây sức ép ngoại giao, tranh thủ chính trị để phối hợp giải quyết, đây chính là mô hình Trung Quốc đang, sẽ áp dụng trên Biển Đông.

Theo Đa Chiều, giữa lúc Biển Đông đang leo thang căng thẳng (vì những hành vi gây hấn của Bắc Kinh - PV) quân đội Trung Quốc không hề do dự phô diễn sức mạnh cơ bắp ngoài dàn khoan 981 rõ ràng là đã có tính toán rất kỹ, điều đó cho thấy sự thay đổi trong mô hình xử lý vấn đề Biển Đông của Tập Cận Bình. Điều này càng nổi bật khi so sánh vụ giàn khoan 981 với những vụ căng thẳng trên Biển Đông (do Trung Quốc gây hấn) trước đó.

Tháng 5 vừa qua, Trung Quốc đã điều 5 tàu gồm 1 tàu khảo sát, 1 tàu hộ vệ, 1 tàu hậu cần và 2 tàu "chấp pháp" ra (xâm nhập trái phép) bãi Cỏ Mây để phản ứng với Philippines trong vụ kiện đường lưỡi bò và tòa án ra thời hạn để Bắc Kinh nộp bản thuyết trình quan điểm. Tháng 8 năm ngoái khi đối đầu với Philippines ở bãi Cỏ Mây, Trung Quốc cũng điều động 1 tàu hộ vệ và 1 tàu hậu cần quân sự tham gia.

Trong khi tháng 4/2012 xảy ra khủng hoảng Scarborough Bắc Kinh không sử dụng lực lượng quân sự mà chỉ dùng tàu Hải giám, Ngư chính và các thủ đoạn trừng phạt kinh tế (cấm nhập khẩu chuối, hạn chế du lịch đến Philippines). Suốt 3 tháng căng thẳng liên tục, tàu chiến Trung Quốc không hề xuất hiện ở khu vực này mà tập trận ở vùng biển phía Bắc Philippines. Nó còn được gọi là "mô hình Scarbrough", "chiến thuật cải bắp", "chiến lược cờ vây" dùng "tàu cá", tàu "chấp pháp" ở vòng trong, tàu quân sự đứng xa vòng ngoài.

Tập Cận Bình đã sẵn sàng cho 1 đến 2 cuộc chiến tranh, Đa Chiều bình luận.

Thời kỳ trước 2013, Mã Hiểu Thiên khi đó là Phó Tổng tham mưu trưởng Trung Quốc có lần đã nói với Trung tướng Võ Tiến Trung, Giám đốc Học viện Quốc phòng Việt Nam rằng Trung Quốc hy vọng Việt Nam không "làm phức tạp, lớn chuyện, đa phương hóa và quốc tế hóa vấn đề Biển Đông", "lấy đại cục duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và giữ gìn quan hệ 2 nước làm trọng".

Nhưng lần này thì khác, sau vụ giàn khoan 981 và Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam, Phòng Phong Huy - Tổng Tham mưu trưởng Trung Quốc thăm Mỹ lớn tiếng tuyên bố cái gọi là sẽ không chấp nhận bất kỳ sự "can thiệp và phá hoại" nào từ bên ngoài với "chủ quyền" của họ trên Biển Đông, kiên quyết không rút giàn khoan. Thường Vạn Toàn, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc khi tiếp xúc với Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam cũng cao giọng cảnh báo Việt Nam "chớ phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác, thành đại sai lầm"?!

Trong 2 năm 2011-2012, mỗi khi xảy ra căng thẳng trên Biển Đông (do những hành động gây hấn của Bắc Kinh), Trung Quốc thường công khai đề xuất đàm phán và không hề có biểu hiện dùng sức mạnh quân sự uy hiếp. Nhưng sang 2 năm 2013, 2014 thì quân đội Trung Quốc đã chủ động lên gân cùng với Bộ Ngoại giao nước này gây sức ép lên đối phương. Không những điều tàu chiến máy bay ra khu vực giàn khoan, chiến đấu cơ của Trung Quốc còn liều lĩnh áp sát máy bay quân sự Nhật Bản ở Hoa Đông 2 lần liên tục cách nhau chưa đầy 1 tháng.

Thủ đoạn Trung Quốc uy hiếp quân sự trên Biển Đông rõ ràng là một sự thay đổi căn bản trong chiến lược của Tập Cận Bình, đây là điểm khác biệt rõ nét so với người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào.

Ấy vậy mà ngày 13/6, Dịch Tiên Lương, Vụ phó Vụ Biên giới và sự vụ biển đảo thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc tổ chức họp báo nói rằng Trung Quốc không điều chiến hạm bảo vệ giàn khoan, mà tàu chiến máy bay Trung Quốc chỉ "đi ngang qua" giàn khoan, và "đứng xa chỗ tàu Việt Nam quấy rối giàn khoan"?1 Thật nực cười, trẻ con cũng không tin được.

Sự hiếu chiến, hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông ngày một gia tăng kể từ khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền. Cũng chính Đa Chiều đã bình luận, Tập Cận Bình đã sẵn sàng cho 1 đến 2 cuộc chiến tranh, hy vọng ông đừng đẩy những người dân Trung Quốc lương thiện vào nơi lửa đạn, mất xương máu vô ích chỉ để thực hiện giấc mộng bá quyền, bành trướng lãnh thổ, xưng hùng xưng bá trong một thế giới văn minh, bởi chiến tranh không phải trò đùa.
Hồng Thủy