Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC KHÔNG PHẢI ĐẶC QUYỀN CỦA RIÊNG AI & Nhân quyền…mồm

LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC KHÔNG PHẢI ĐẶC QUYỀN CỦA RIÊNG AI

Vương Trí Dũng
Quản lý đất nước – không phải đặc quyền riêng một nhóm người
Tổng thống Mỹ Ronald Reagan là một diễn viên. Tổng thống Nga Putin là một điệp viên KGB. Thủ tướng Đức Angela Merkel là nhà vật lý. Có biết bao nhiêu thí dụ chứng minh rằng quản lý nhà nước không phải là nghề riêng của một nhóm người nào đó. Không chỉ những người làm chính trị mới mới được đặc quyền quản lý nhà nước. Vậy mà ở Việt Nam chỉ có đảng cộng sản mới có quyền lãnh đạo đất nước. Quyền lãnh đạo được đảng cộng sản hiến định trong Hiến pháp. Tuy vậy chỉ một nhóm rất nhỏ trong số hơn ba triệu đảng viên cộng sản mới thực sự được tham gia bộ máy điều hành đất nước. Thật phi lý.
Lớp bồi bút
Điều phi lý đó đang bị xã hội lên án. Trong thời gian góp ý sửa đổi Hiến pháp vừa qua, hàng trăm ngàn nhân sỹ trí thức học sinh sinh viên đã cất tiếng nói mạnh mẽ đòi hủy bỏ điều 4 Hiến pháp ghi quyền lãnh đạo đất nước chỉ dành riêng cho đảng cộng sản. Nhà cầm quyền hiện thời đã gọi họ là “Thế lực thù địch”.
Nhiều người nghiên cứu trong các lĩnh vực văn học, toán học, vật lý, công nghệ và kỹ thuật đã tham gia góp ý sửa đổi Hiến pháp cũng như phản biện đối với các chính sách của chính quyền. Đó là quyền lợi và nghĩa vụ đương nhiên của một công dân. Việc tự do thể hiện chính kiến là một tiêu chuẩn dân chủ sơ đẳng. Thế nhưng một số người bảo vệ sự độc trị của đảng cộng sản đã phản ứng một cách rất hoang dã:
1. Một cách hàm hồ, họ gọi những người phản đối sự độc trị của đảng cộng sản là “Thế lực thù địch” và cố tình gán ghép đấy là “Thế lực thù địch” với Tổ quốc. Để từ đó áp dụng những biện pháp trấn áp bao gồm cả tù đày khủng bố. Ngang nhiên trắng trợn, họ tự đồng nhất đảng cộng sản với Tổ quốc.
2. Họ chê bai những trí thức tham gia phản biện là dốt kém chuyên môn mà lại đi phán chuyện chính trị. Họ cho rằng các chuyên gia trong lĩnh vực văn học, toán học và các khoa học khác không đủ trình độ để bàn luận chính sách lãnh đạo quản lý đất nước. Theo cách nhìn của họ thì chỉ những người đang nằm trong đội ngũ cầm quyền hiện nay mới xứng đáng để nói về chính sách quản lý nhà nước, bất chấp trước đó họ xuất thân từ nghề gì.
3. Đi xa hơn, một số còn bảo vệ mù quáng cho chính sách lệ thuộc vào người láng giềng phương Bắc. Họ chửi bới miệt thị tất cả những ai thể hiện chính kiến độc lập tự chủ với Trung Quốc. Vô tình hay cố ý họ đã trở thành lớp bồi bút bảo vệ sự “Bắc thuộc”.
4. Trong số đó, không loại trừ là có cả những người Tàu đang sống đầy rẫy trên khắp đất nước Việt Nam, đã lập ra các trang mạng để đả kích lăng nhục với tất cả những ai muốn có chính sách không phụ thuộc vàoTrung Quốc.
Lãnh đạo đất nước không thể là đặc quyền riêng của đảng cộng sản. Bảo vệ đảng cộng sản là tùy chính kiến từng người. Nhưng vì nó mà biến mình thành bồi bút phục vụ ngoại bang thì không chỉ nhục nhã mà còn có tội với Tổ quốc. Thật là nguy hiểm khi trong lòng đất nước chúng ta lại đang hình thành lớp bồi bút như vậy.
V.T.D.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

VÌ SAO LŨ KÉP THIÊN TAI VÀ NHÂN TAI Ở MIỀN TRUNG

Tô Văn Trường
(Bài viết cho Hội thảo của Chương trình nghiên cứu khoa học KC08/11-15 của Bộ Khoa học và Công nghệ )
Chưa bao giờ dân ta lại thấy thấm thía như bây giờ câu nói đúc kết kinh nghiệm ngàn đời của ông cha ta khi xếp thứ tự bốn loại tai họa: thủy, hỏa, đạo, tặc. Năm nay, đang nổi lên vấn đề thời sự là miền Trung dù đã được chuẩn bị ứng phó vẫn bị thiệt hại về người và của do ảnh hưởng của bão lũ và việc xả lũ của các nhà máy thủy điện. Lũ chồng lên lũ, người dân phải gồng mình chống lũ kép thiên tài và nhân tai.
Theo báo Tuổi Trẻ sáng 22 tháng 11, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã nói: “Theo thống kê của các địa phương, thiệt hại rất đau xót khi có tới 43 người chết, 4 người mất tích, 70 người bị thương, trên 400 căn nhà bị sập, hàng trăm nghìn căn nhà bị ngập, 400.000 gia cầm chết, 30.000 gia súc chết… Diện tích lúa và hoa màu bị ngập rất lớn”.
Chia sẻ với đau thương mất mát của đồng bào miền Trung, nhưng trên mạng xã hội, nhiều ý kiến không đồng tình với phát biểu của Phó Thủ tướng cho rằng: “Đến nay, chưa có báo cáo nào nói có hồ nào đó xả lũ sai quy trình và các địa phương có hồ chứa đều khẳng định như vậy"!
Nhà thơ Thái Bá Tân viết:
“Phó thủ tướng cho biết
Việc xã lũ vừa rồi
Đúng qui trình, chỉ tại
Nước lớn quá mà thôi.
Thế thì chỉ biết nói
Thủy điện luôn thông minh,
Chỉ dân ta ngu dốt,
Chết không đúng qui trình”.
Khách quan nhận xét, nếu chỉ căn cứ vào các báo cáo thì phát biểu của Phó thủ tướng không sai, nhưng thực tế có đúng như vậy không, cần được giải đáp. Trong chương trình nghiên cứu khoa học KC08/11-15 của Bộ Khoa học & Công nghệ có một số đề tài nghiên cứu về thiên tai bão lũ ở miền Trung, tiếc rằng đang trong quá trình thực hiện nên chưa có đủ cơ sở dữ liệu và kết quả tính toán để “mổ xẻ” cho thấu đáo vấn đề nói trên. Trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi cố gắng lý giải dưới góc nhìn khách quan và khoa học trên nguyên tắc là dù quy trình vận hành xả lũ đã được phê duyệt nhưng thực tế gây thảm họa cho người dân ở hạ du thì vẫn cần phải xem xét, đánh giá lại quy trình.
Bài toán an ninh năng lượng quốc gia và thủy điện
Để phát triển kinh tế xã hội bền vững, ngành điện cần đi trước một bước. Nguồn năng lượng điện ở Việt Nam từ trước đến bây giờ vẫn chủ yếu dựa vào các nguồn nhiên liệu chính là than đá, khí (nhiệt điện) và nước mặt ở các dòng sông (thủy điện), trong đó nguồn thủy điện luôn duy trì tỉ trọng lớn khoảng gần 40% trong cơ cấu nguồn điện ở Việt Nam từ trước đến nay.
Trong bài toán năng lượng của nước ta, thủy điện luôn được đánh giá cao vì giá thành tương đối rẻ, năng lượng sạch có khả năng tái tạo, dễ điều chỉnh nên thường được sử dụng để phủ đỉnh trong sơ đồ phát điện. Bởi thế, hầu hết các công trình thủy điện lớn và vừa đã và đang được khai thác triệt để ở nước ta là điều dễ hiểu.
Trong lưới điện của bất cứ quốc gia nào, người ta đều phải tính toán để có nhiều chủng loại các nhà máy điện khác nhau để đề phòng sự cố và quá lệ thuộc vào một loại nguyên nhiên liệu đầu vào nào đó. Cụ thể là phải có thủy điện để phòng khi giá dầu biến động, có nhiệt điện phòng khi khô hạn. Ở Việt Nam, trước đây chỉ phổ biến nhiệt điện chạy than, nhiệt điện chạy dầu, sau đó, có thêm các nhà máy turbine khí hỗn hợp, đặc biệt là thủy điện chiếm khoảng gần 40%. Nguyên tắc khi thiết kế các nhà máy thủy điện lớn nằm trong hệ thống điện quốc gia thường chọn tần suất thiết kế đảm bảo 95% có nghĩa là 20 năm bình quân mới có 1 lần thiếu nước so với công suất được đưa vào cân bằng hệ thống điện. Bởi vậy, không thể đổ thừa mỗi khi không đủ nguồn nước là do ông Trời. Do khâu tổ chức thiếu nhất quán, chưa định lượng hóa lợi ích mang lại cho các ngành theo phương án vận hành điều tiết cho cấp điện, cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp, và duy trì dòng chảy tối thiểu, cho đến nay mới phê duyệt được quy trình vận hành liên hồ chứa về xả lũ của một số lưu vực quan trọng. Ngay liên hồ chứa Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang (chưa kể thêm hồ chứa Sơn La) đến nay, vẫn chưa phê duyệt quy trình vận hành cho bài toán mùa cạn.
Hiện nay công suất đỉnh khoảng hơn 18000 MW, tức là chưa tới 20000 MW. Mỗi năm nếu EVN chỉ đưa vào được khoảng 2000 MW, tức 10%, thì chắc chắn thiếu điện, do tốc độ tăng trưởng thương phẩm khoảng 15%/năm. Muốn có an ninh năng lượng, hay nói cách cụ thể hơn là an ninh điện năng, cần phải đẩy mạnh tiến độ xây dựng và chất lượng của các nhà máy điện. Thời gian vừa qua, công luận bức xúc về thiếu điện còn do nguyên nhân nhiều dự án dàn trải, tốc độ xây dựng chậm trễ, một số chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính, sự yếu kém và thiếu kinh nghiệm trong các khâu thủ tục đấu thầu, v.v. Nhiều dự án kinh tế trọng điểm liên quan đến tài nguyên quốc gia hoặc an ninh năng lượng phần lớn do Trung Quốc thắng thầu thực hiện theo EPC bao gồm toàn bộ từ thiết kế, cung cấp thiết bị, vật tư xây lắp. Các nhà máy nhiệt điện ở Cẩm Phả, Hải Phòng do Trung Quốc thi công chậm trễ so với kế hoạch đến hơn 20 tháng lại thường xuyên gặp sự cố kỹ thuật! Chi phí khâu phát điện thường chiếm đến 72% lại chưa có khung giá phát điện chuẩn nhiều nhà máy nhiệt điện xây xong chưa ký được hợp đồng mua bán với EVN.
Quy hoạch phát triển thủy điện trong khi tiềm năng sắp cạn
Nhìn chung cả nước, quy hoạch ngành năng lượng rất nhiều nhưng lại rất thiếu: ngành điện, than và dầu khí đều có quy hoạch riêng nhưng thiếu một quy hoạch tổng thể cho toàn ngành năng lượng. Ở cấp độ địa phương, quy hoạch lại bị chồng chéo, đặc biệt ở quy hoạch thủy điện nhỏ, các địa phương cấp phép xây dựng thủy điện nhỏ vô tội vạ nhằm thu hút vốn đầu tư và thu thuế cho địa phương. Sự chậm chễ trong tiến độ đưa vào vận hành các công trình điện (nhà máy, đường dây, trạm...): theo các thống kê trong những năm gần đây gần như 100% các nhà máy điện đưa vào hệ thống chậm hơn một vài năm so với kế hoạch.
Chúng ta đều biết điện sử dụng bằng điện sản xuất cộng điện nhập khẩu trừ đi điện tiết kiệm. Phương trình này đơn giản nhưng không phải là bài toán dễ giải. Thủy điện là nguồn điện rẻ, sạch, có khả năng tái tạo nên các quốc gia có tiềm năng về thủy thế, nguồn nước đều ưu tiên coi trọng thủy điện. Tuy nhiên, nhìn tổng thể bài toán cơ cấu nguồn điện năng của nước ta thì thủy điện chiếm tỉ lệ quá cao trong tổng sơ đồ điện. Thủy điện đòi hỏi đầu tư rất lớn nhưng tác động đến môi trường cũng không nhỏ, phải di dân tái định cư, thay đổi dòng chảy tự nhiên, môi trường sinh thái động thực vật, đa dạng sinh học, đặc biệt tàn phá rừng.
Tiềm năng lý thuyết thủy điện Việt Nam khoảng 75.000 MW, tiềm năng kỹ thuật khoảng 31.000 MW và tiềm năng kinh tế - kỹ thuật khoảng 20.000 MW. Năm 2001, công suất max hệ thống khoảng 6.000 MW nhưng đến năm 2009 con số này đã là khoảng 14.000 MW (trung bình tăng 1.000 MW/năm với tỉ lệ tăng khoảng 12%/năm), trong đó thủy điện chiếm 6.500 MW. Hiện tại, công suất thủy điện trong hệ thống khoảng 11.000 MW. Dự báo đến các năm 2020 và 2030, tổng công suất hệ thống là khoảng 75.000 MW và 150.000 MW, trong đó thủy điện tương ứng là 17.000 MW (23%) và 18.000 MW (12%).
Như vậy, rõ ràng là trong giai đoạn 2001-2010, một thập niên bùng nổ thủy điện, gần như tiềm năng kinh tế - kỹ thuật nguồn thủy điện đã được khai thác rất lớn. Trong những năm tiếp sau 2010, chỉ còn một vài dự án lớn như Sơn La 2.400 MW, Lai Châu 1.200 MW cùng một số thủy điện vừa và nhỏ khoảng 2.100 MW sẽ được khai thác đến năm 2015 là gần như hết tiềm năng thủy điện Việt Nam. Chỉ còn lại một ít dự án thủy điện tích năng sẽ được tiếp tục khai thác sau năm 2020.
Mặc dù vai trò nguồn thủy điện trong cơ cấu nguồn điện chiếm tỉ trọng lớn nhưng việc đầu tư cho công tác quy hoạch chưa tương xứng với tiềm năng. Đối với quy hoạch tổng sơ đồ điện, từ trước đến nay đã qua 7 kỳ quy hoạch và nhiều lần hiệu chỉnh quy hoạch, việc quy hoạch chủ yếu dựa trên tiêu chí tối ưu chi phí đầu tư và vận hành hệ thống điện, theo nhu cầu năng lượng của quốc gia song lại không chú trọng tiêu chí ảnh hưởng đến môi trường. Chi phí cho một kỳ quy hoạch tổng sơ đồ phát triển điện quốc gia (5 năm/lần) rất hạn chế nên khó đáp ứng cho việc đánh giá tác động môi trường từ các dự án nguồn, trong đó có thủy điện. Việc đánh giá tác động môi trường lại được “lồng ghép” cho quy hoạch từng dự án cụ thể hoặc đánh giá chung chung khi lập quy hoạch lưu vực sông và quy hoạch cấp tỉnh nên chất lượng rất hạn chế.
Đối với quy hoạch thủy điện theo lưu vực sông, chỉ một số ít có quy hoạch cụ thể và cũng chỉ có các dự án trên 30 MW mới được xem xét. Một số lưu vực trước đây khi lập quy hoạch, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có thuê tư vấn nước ngoài lập với chi phí đáng kể thì vấn đề môi trường được đánh giá khá chi tiết và có khuyến cáo cụ thể khi xếp hạng ưu tiên khai thác, hay nói cách khác là các dự án được xếp hạng theo tiêu chí kinh tế, kỹ thuật, môi trường. Đối với quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ thì được cấp tỉnh phê duyệt, nội dung nghiên cứu quy hoạch cũng chưa chú trọng nhiều đến vấn đề môi trường.
Con người gánh trọn hậu quả
Các tác động của thủy điện thì ai cũng nhìn thấy, cả mặt lợi và hại. Xét trên tổng thể nền kinh tế quốc gia, nhu cầu năng lượng quốc gia, việc khai thác thủy điện để cung cấp năng lượng là tốt vì đây là nguồn năng lượng tái sinh. Vấn đề của Việt Nam là con người, kể cả người thực hiện, chủ đầu tư và người quản lý. Có một lỗ hổng trong quy trình quản lý nên việc quản lý, cấp phép và giám sát môi trường chưa chặt chẽ dẫn đến các tác động ngoài mong muốn mà một bên không thể dễ dàng nhận trách nhiệm. Một số tác động gần đây như lũ tăng bất thường, động đất kích thích, vỡ đập, phá rừng, biến đổi sinh thái và hình thái hạ lưu sông… là kết cục tất yếu của một quá trình lâu dài hơn 10 năm khai thác thủy điện nhưng các chế tài chưa phù hợp với phong trào “nhà nhà làm thủy điện, người người làm thủy điện”.
Nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại môi trường quá mức từ các dự án thủy điện là do chúng ta chưa có tiêu chí đánh giá lựa chọn dự án khai thác tổng thể theo sự tiến bộ về nhận thức của xã hội, nghĩa là chỉ có tiêu chí kinh tế - kỹ thuật mà chưa có tiêu chí kinh tế - môi trường - kỹ thuật. Dự án để được triển khai phải có tên trong quy hoạch (tổng sơ đồ điện quốc gia và quy hoạch thủy điện tỉnh). Trong thực tế, báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) có chất lượng chưa tốt do hạn chế ở khâu kinh phí, nguồn nhân lực (kể cả những người lập báo cáo lẫn hội đồng xét duyệt). Chính sự dễ dãi, thậm chí lơi lỏng trong giám sát, đã bắt môi trường tự nhiên và người dân phải hứng chịu mọi hậu quả.
Lời nguyền tài nguyên có câu “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, ngẫm suy thật chuẩn xác vì đó là cái giá phải trả do đối xử tệ hại với môi trường sinh thái tự nhiên. Ngoài nguyên nhân do lâm tặc hoành hành, sự tiếp tay của những phần tử thoái hóa trong chính quyền thì việc phát triển thủy điện tràn lan, tàn phá rừng đầu nguồn, kể cả vườn quốc gia, chính là tác nhân gây nên các hiện tượng lũ quét, lũ ống, sạt lở núi đồi…, phá hủy các cơ sở hạ tầng, làm nhiều người bị rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, đặc biệt là cướp đi biết bao sinh mạng của người dân vô tội.
Rừng là bộ phận kết cấu hạ tầng sinh thái của đất nước. Không phải ngẫu nhiên mà người ta nhận xét, không có thủy điện vẫn có giải pháp khác thay thế, còn khi mất rừng là mất tất cả! Ước tính mỗi MW thủy điện , ngốn hết hơn 10 ha rừng.
clip_image001
Nhiều khu vực ở TP. Huế bị lũ nhấn chìm. Ảnh: Dân Việt
Đặc điểm của miền Trung
Miền Trung với đặc điểm các con sông đều ngắn, dốc, lưu vực nhỏ nên đỉnh lũ nhọn, hễ mưa lớn hầu như sẽ có lũ. Địa hình miền Trung hẹp ngang, có nơi chỉ 40 km, dãy Trường sơn kéo dài từ Bắc vào Nam, có nơi núi đâm ra tới biển (Đèo Cả, đèo Hải Vân); địa hình không có vùng trung du nên lũ tập trung rất nhanh. Các cửa sông luôn bị đưa lên phía Bắc do tác động của dòng hải lưu gần bờ và bị bồi lấp bởi gió mùa Đông Bắc. Hàng năm, chịu ảnh hưởng trung bình 6-7 cơn bão, có năm lên tới 10 cơn bão với lượng mưa kéo dài từ tháng 6- tháng 12 .
Các trung tâm kinh tế-xã hội ở miền Trung đều tập trung ở các vùng ven biển thường xuyên bị ngập lụt khi có lũ lớn, đặc biệt khi có lũ kết hợp triều cường; đường quốc lộ 1 và đường sắt chạy dài từ Bắc vào Nam như một tuyến đê ngăn lũ, chênh lệch mực nước giữa thượng và hạ lưu khi có lũ lên tới 2,3 m.
Mỗi khi lũ lụt xảy ra, gây thiệt hại lớn, người ta thường đổ cho nguyên nhân chính là do mưa lớn/thiên tai xảy ra trong năm nay quá đặc biệt so với nhiều năm. Rồi sẽ hứa là rà lại qui trình một cách nghiêm khắc, nâng cao công tác dự báo, v.v.
Chỉ tính riêng số công trình thuỷ lợi các tỉnh miền Trung từ Thanh Hoá tới Khánh Hoà có 2.855 hồ chứa, 2.524 đập dâng và đê các loại 3.535 km. Các công trình này được xây dựng qua nhiều thời kỳ, đã xuống cấp, phần lớn không có dung tích phòng lũ. Riêng các công trình được đầu tư sửa chữa bằng nguồn vốn vay  của ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Á Châu (ADB) hoặc trái phiếu Chính phủ thì còn đảm bảo chống lũ theo tần xuất thiết kế.
Vì sao năm nay Miền Trung bị thiệt hại do lũ?
Nhìn lại năm 1999, miền Trung thực sự bị lũ lịch sử gây ra thảm họa thiên tai cả về người và của. Năm nay (2013) lũ nhỏ hơn năm 1999, ngoại trừ một vài nơi có lũ lớn như Quảng Bình, Quảng Ngãi, v.v. Năm 1999 thời gian mưa 5 ngày với lượng mưa đến 1700 mm. Năm nay, lượng mưa chủ yếu từ 24-48 giờ với lượng mưa 800 mm. Các trạm đo An Chí, Ba Thê, Minh Long cho thấy cường độ mưa rất lớn hơn 100 mm/giờ. Sông Trà Khúc vượt lũ lịch sử do cường độ mưa quá cấp tập.
Nguyên nhân gây ra lũ là các trận bão liên tiếp từ cơn bão số 10 đến 15 và áp thấp nhiệt đới gây ra cường độ mưa lớn và liên tục. Lư ợng mưa gây ra bởi ảnh hưởng của các cơn bão này cũng rất lớn, trong đó có những vùng như Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Phú Yên, Bình Định có những trận mưa lên tới 500-600 mm tập trung trong vòng có 1-2 ngày. Có thể thấy đây là nguyên nhân chính gây lên tình hình ngập úng nặng tại miền Trung vừa qua. Cũng do mưa lớn kéo dài liên tục, vừa dứt đợt trước lại tiếp tục có đợt mưa mới nên lượng nước sẵn có trên bề mặt, trong các sông suối, kênh mương chưa kịp tiêu thoát hết. Chịu tác động tương tự là các hồ chứa, lượng nước về hồ chưa kịp xả hết lại đón nhận đợt lũ tiếp theo.
Do nguyên nhân mưa lớn kéo dài, chính quyền và nhân dân phải liên tục đối phó trong tình trạng khó khăn về mọi mặt, giao thông, liên lạc bị chia cắt, năng lượng không đảm bảo, nhu yếu phẩm khó khăn, khiến cho công tác ứng phó gặp nhiều khó khăn và thiệt hại tăng lên rất nhiều.
Mặt khác, rừng đầu nguồn bị khai thác nhiều, không còn là vùng đệm và khả năng điều hòa dòng chảy. Cơ sở hạ tầng phát triển không theo quy hoạch, nhiều vật cản kể cả đường giao thông làm cho khả năng thoát lũ chậm. Một số cửa sông bị bồi lấp như cửa Đại (Vu Gia - Thu Bồn), cửa Lở (Trà Khúc), cửa Đà Rằng (sông Ba) làm ảnh hưởng đến khả năng thoát lũ làm thời gian lũ ngập lâu hơn và mực nước lũ cao hơn.
Các hồ chứa thủy điện, thủy lợi ở miền Trung không có khả năng chống lũ chính vụ mà chỉ tham gia chống lũ sớm và lũ muộn. Khác hẳn với lưu vực sông Hồng là các hồ chứa như Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu, Thác Bà đều tham gia chống lũ chính vụ.
Hệ thống công trình hồ chứa ở miền Trung khi thiết kế và thi công, hầu hết chỉ coi trọng nhu cầu phát điện, không có dung tích phòng lũ hữu hiệu. Chất lượng công tác dự báo kém cho nên quy trình vận hành xả lũ lúng túng không phù hợp với thực tế. Lũ rất nhanh mà trong quy trình chỉ thông báo trước 2 giờ, lại không kịp đến tất cả người dân, cho nên nếu gặp thời điểm xả lũ vào ban đêm hay đồng loạt xả lũ thì nguy cơ đến tính mạng người dân là điều dễ hiểu.
clip_image003
Thủy điện sông Ba Hạ (tỉnh Phú Yên) bất ngờ xả lũ gây khốn đốn cho người dân ở hạ du
Ảnh: HỒNG ÁNH
Năm nay lũ về nhanh và tàn phá nhiều vùng do mưa lớn kết hợp với việc thủy điện lo sợ vỡ đập đã cùng nhau xả lũ khiến tình hình càng tồi tệ hơn. Các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Gia Lai là những nơi chịu lũ vì thủy điện. Riêng Quảng Nam lũ xảy ra do tác động của lượng mưa quá lớn. Những nơi bị lũ tràn về thật khó mà tả cho hết nỗi đau do mất mát của người dân.
Các bất cập khi lập quy trình vận hành hồ chứa
Lập quy trình vận hành liên hồ chứa rất phức tạp và còn khá mới mẻ đối với nước ta, cho đến nay chưa có quy trình vận hành mùa kiệt nào được phê duyệt. Lợi ích về năng lượng của thủy điện đã rõ, nhưng bầm dập do phá rừng, xả lũ chưa hợp lý, thay đổi dòng chảy tác động xấu đến môi trường của nhiều đập thủy điện như vết sẹo để lại thì vẫn còn mãi mãi.
Mặc dù thủy điện chiếm tỷ trọng đáng kể nhưng toàn bộ hệ thống không có dự phòng cho nên bất cứ biến động nhỏ nào như bất lợi về thủy văn, ngưng bảo trì, sửa chữa do sự cố, biến động giá xăng dầu, khan hiếm than, khí thì hệ thống rơi ngay vào tình trạng thiếu điện. Nếu hệ thống có độ dự phòng, thì thủy điện có thể tích nước phòng khi khô hạn. Trong khi đó, cả hệ thống phải ăn đong từng ngày, thì thủy điện, cũng ăn đong từng mét nước. Đấy là chưa kể còn phải đi mua điện tận Trung Quốc, dễ gặp nhiều rủi ro không lường trước.
Hầu hết các hồ chứa thủy điện vừa và nhỏ do chủ đầu tư đứng ra thuê tư vấn lập quy trình vận hành hồ chứa phục vụ cho mục đích riêng của mình nên có nhiều bất cập. Quy trình vận hành hồ chứa, được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhiều khi các hồ chứa chỉ làm cho có, báo cáo kỹ thuật để thuyết minh quy trình không đủ để chứng minh các số liệu thể hiện trong quy trình. Các công trình thuỷ lợi chỉ có quy trình vận hành bảo đảm an toàn cho công trình và theo biểu đồ cấp nước. Quy trình vận hành liên hồ mùa lũ mới chỉ có lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn, Sông Ba do Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt nhưng còn nhiều vấn đề cần xem xét lại.
Nguyên tắc lập quy trình vận hành là dựa trên các tài liệu địa hình, khí tượng thủy văn xác định lưu lượng đến hồ đươc tính toán bằng mô hình thủy văn mưa dòng chảy (mô hình NAM). Tính toán mô hình thủy lực hệ thống sông bằng mô hình thủy lực hệ thống sông (mô hình MIKE 11) . Biên trên của mô hình thủy lực là quá trình lưu lượng theo thời gian Q = f(t). Biên dưới của mô hình thủy lưc là quá trình mực nước theo thời gian Z = f(t) tại các cửa sông đổ ra biển.
Các vết lũ lịch sử 10/1999 được sử dụng trong quá trình mô phỏng để chọn bộ thông số cho mô hình thủy lực. Tính toán mô phỏng và kiểm định mô hình xem xét giữa sai số thực đo và tính toán với bộ thông số của mô hình.
Trong bài toán vận hành hồ chứa, có 2 khối rất quan trọng đó là khối quy trình vận hành bao gồm xả nước, đón lũ, điều tiết cắt giảm lũ và diễn toán lũ sau khi điều tiết qua các hồ chứa và mạng sông về dưới hạ lưu.


clip_image004


clip_image005
Một số tồn tại chủ yếu: Quy trình vận hành hồ chứa xả lũ xây dựng trên nền tảng của công tác dự báo, trong khi chất lượng dự báo dòng chảy trên sông chỉ đạt 50-65% do nhiều nguyên nhân kể cả do mật độ phân bố trạm mưa không đều, địa hình bị chia cắt, phân hóa mạnh cho nên quy trình vận hành hồ chứa mùa lũ của lưu vực Vu Gia – Thu Bồn và sông Ba mặc dù mới được Thủ tướng phê duyệt đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết.
Tiêu chí xây dựng hồ chứa thủy điện ở miền Trung ưu tiên theo thứ tự : An toàn công trình; Phát điện; Cấp nước cho hạ du; Chống lũ. Thực tế quy trình việc cấp nước cho hạ du không rõ ràng. Với nhận thức tầm nhìn mới, phải đảo lại thứ tự ưu tiên: An toàn công trình; Cắt giảm hoặc chống lũ cho hạ du; Đảm bảo nhu cầu dùng nước tối thiểu cho hạ du; Phát điện. Nếu đổi lại thứ tự ưu tiên , phải hy sinh phần phát điện cho mục tiêu chống lũ ở những vùng cần thiết thì phải điều chỉnh lại bài toán quy trình vận hành hồ chứa thủy điện.
Kiến nghị
Cần rà soát, bổ sung lại quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch của các ngành, và địa phương trong điều kiện biến đổi khí hậu. Tính toán lại một cách hệ thống lũ khả năng lớn nhất ở những công trình trọng điểm ảnh hưởng trực tiếp đô thị và dân cư sống ở vùng hạ lưu đập. Tùy điều kiện có thể ứng dụng các phương pháp đơn giản như tính mưa khả năng theo phương pháp thống kê, nếu đủ tài liệu tính theo phương pháp cực đại hóa trận mưa hoặc chuyển vị bão. Kiểm tra lại toàn bộ cơ sở hạ tầng, các tuyến đường giao thông phải có đủ khẩu độ tràn. Các hồ chứa sau khi kiểm tra thấy cần thiết phải mở rộng tràn hoặc xây thêm tràn sự cố hay còn gọi là tràn dự phòng để đảm bảo thoát lũ khi cần thiết. Cần đẩy mạnh việc nghiên cứu cơ sở khoa học để sớm ban hành quy trình vận hành cho tất cả liên hồ chứa còn lại kể cả mùa lũ và mùa cạn. Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi cho các công trình thủy điện nên xem xét quy định "dòng chảy tối thiểu " cho hợp lý.
Cần nâng cấp các cống tiêu, nạo vét các trục để tăng cường khả năng tiêu thoát. Nâng cấp hệ thống đê biển và đê vùng cửa sông, xây dựng các tuyến đê mới để chống được mức nước triều với tần suất P=5% có gió bão cấp 9, 10 cộng thêm mức tăng do nước biển dâng.
Đẩy mạnh công nghệ khoa học, nâng cao chất lượng công tác dự báo, để tăng hiệu ích của hồ chứa. Duy trì dung tích phòng lũ theo thời đoạn. Thay đổi quy trình thông báo xả lũ trước 2 giờ thành 6 giờ để người dân kịp thời ứng phó. Khi có thông tin về bão, áp thấp nhiệt đới có khả năng gây mưa thì các hồ phải điều tiết trước để có khả năng đón lũ.
Ban hành quy định quy trách nhiệm, chế tài xử lý cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư công trình khi công trình gây sự cố. Ban hành quy định quy trách nhiệm, chế tài xử lý tổ chức, cá nhân trình phê duyệt, và phê duyệt quy trình không đảm bảo chất lượng, để xảy ra thiệt hại, sự cố.
Ban hành quy định phối hợp quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch phòng chống thiên tai. Điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ các hồ thủy điện hiện có trên các lưu vực sông để hài hòa lợi ích, ưu tiên bảo đảm nhiệm vụ cho an toàn công trình, an toàn vùng hạ du và vùng lân cận.
Coi trọng các biện pháp phi công trình như tăng cường độ chính xác cho công tác dự báo mưa lũ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất thích hợp với biến đổi thời tiết, bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng ven biển. Để chủ động ứng cứu tại chỗ cần xây dựng các khu nhà phòng tránh kiên cố, nơi cư trú an toàn, dự trữ lương thực, thuốc men, ghe thuyền, phao cứu hộ. Việc đầu tư cho các khu nhà ở kiên cố, đường cứu hộ là biện pháp hữu hiệu, an toàn, rẻ rất nhiều so với sự mất mát, tàn phá của lũ lụt như hàng chục năm qua.
Kết luận
Đối với nước nghèo như Việt Nam lại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, bão lũ xảy ra thường xuyên, vấn đề này càng trở nên đặt biệt nghiêm trọng. Nhà nước đã có nhiều giải pháp và bài học kinh nghiệm phòng tránh thiên tai nhưng xem ra đây vẫn là một thách đố lớn!
Biến đổi khí hậu là vấn đề hệ trọng của sự phát triển, là thách thức lớn nhất đối với mục tiêu phát triển bền vững, hiểm họa tiềm tàng đối với nhân loại. Thích ứng một cách chủ động, có các biện pháp công trình kết hợp với phi công trình là yêu cầu tất yếu đối với các nước, đặc biệt là nước còn nghèo như Việt Nam. Để phòng tránh thiên tai và “nhân tai” một cách hữu hiệu, cần phải quyết liệt thực hiện các biện pháp có tính hệ thống và đồng bộ.
Từ mảnh sắt con người làm ra cây dao, nhưng tên con dao có khác nhau theo mục đích sử dụng : công cụ lao động với bà nội trợ, vũ khí tự vệ để giết thú dữ và hung khí gây án của kẻ côn đồ. Nếu quy hoạch, tính toán thiết kế, thi công và quản lý vận hành các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi sai thì những công trình này sẽ là những thuỷ tai, “thuỷ hại”. Với tầm nhìn, mục tiêu phát triển bền vũng và yêu cầu của cuộc sống, thiết nghĩ đã đến lúc phải có tổ chức mới đủ mạnh cho ngành tài nguyên nước, đảm bảo nguyên lý quản lý tổng hợp theo lưu vực sông để khai thác tiềm năng có ích mà vẫn phòng tránh thiên tai một cách hiệu quả.
Tài liệu tham khảo
1. Hunter regulated river NSW Australia, Mark Hamstead.
2. Flood control and planning, To Van Truong.
3. Water management strategy for sustainable development, To Van Truong.
4. Thiên tai phòng chống thế nào, Tô Văn Trường.
5. Thủy điện xả lũ lương tâm trách nhiệm và bổn phận, Tô Văn Trường.
6. Thủy điện sau bùng nổ là trả giá, Tô Văn Trường.
7. Lỗi đâu chỉ tại ông trời, Tô Văn Trường.
8. Loạn thủy điện nhỏ, Tô Văn Trường.
9. Ăn của rừng rưng rưng nước mắt, Tô Văn Trường.
10. Lỗ hổng về quản lý an toàn hồ chứa, Tô Văn Trường.
11. Chống lụt ở miền Trung – tầm nhìn và giải pháp, Tô Văn Trường.
12. Báo cáo tóm tắt quy trình vận hành hồ chứa lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn, Bộ Tài nguyên & Môi trường.
13. Báo cáo tóm tắt quy trình vận hành hồ chứa A Vương, Dak Mi 4, Sông Tranh trong mùa lũ hàng năm, Bộ Tài nguyên & Môi trường.
T.V.T.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

CSVN và những âm mưu Hán hóa Việt Nam

Nguyễn Chính Nghĩa (Danlambao) - Ngày 23/11/2013 Báo điện tử QĐND đăng bài: 3000 Thanh Niên Việt Nam (TNVN) tập trung ở các cửa khẩu: Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh và lên đường sang Trung Quốc dự liên hoan giao lưu Thanh Niên Việt Nam và Thanh niên Trung Quốc, tổ chức lần 2 bắt đầu từ ngày 24 đến 27 tháng 11 tại các thành phố: Liễu Châu, Bắc Hải, Khâm Châu, Quý Cảng, Ngọc Lâm, Phòng Thành, Sùng Tả và Nam Kinh.
Đoàn TNVN được chia làm 7 nhóm đi 7 thành phố, tham gia các hoạt động như: Lễ khởi công xây dựng của khẩu Đông Hưng. Thăm một số di tích gắn liền với cách mạng VN và chủ tịch Hồ Chí Minh. Tọa đàm phát triển công nghiệp, giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao với thanh niên địa phương Trung Quốc. Sau cùng là trồng cây hữu nghị "Thanh niên Việt Trung".
Chúng ta thấy gì qua sự kiện này? 
Tôi thiết nghĩ đây là một âm mưu xâm lược thâm hiểm của đảng Tàu cộng cùng cấu kết với đảng cộng sản VN để âm thầm chuẩn bị biến VN thành một tỉnh của Tàu cộng - Một nước chư hầu không hơn không kém.
Tôi xin được đưa ra một vài nhận định, để cùng quý vị tham khảo về những ý đồ và mục đích mà đảng CSVN lồng ghép trong sự kiện giao lưu nêu trên như sau:
1- CSVN đào tạo đội ngũ kế thừa bán nước
Chắc chắn những thanh niên được đi giao lưu này phải là những thành phần cốt cán được tuyển chọn từ trong hàng ngũ đảng, đoàn CS. Họ sẽ là những nhân tố kế thừa trong thời gian sắp tới. Khi mà quy luật thời gian sẽ đào thải lớp lãnh đạo thần phục Trung cộng này ra khỏi quyền lực, thì đội ngũ thanh niên này sẽ tiếp tục con đường bán nước, duy trì sự tồn tại của đảng và bảo vệ các lợi ích của nó. Đây rõ ràng là một kế sách chính trị của CSVN và CSTQ liên kết với nhau tạo ra một đội ngũ kế thừa trung thành với đường lối chủ trương sát nhập của hai đảng cộng sản này trong tương lai.
2- Tạo ra một thế hệ thanh niên thân Tàu cộng
Với một nền giáo dục không cần đến lịch sử dân tộc như hiện nay, đa số thanh niên mới lớn họ không biết, hoặc biết rất lờ mờ về 1000 năm Bắc thuộc, và kẻ thù truyền kiếp của dân tộc VN là bá quyền TQ, vì họ đã được nhồi nhét dạy dỗ bằng lịch sử dối trá từ trong nhà trường, trong các tổ chức đoàn thể của CS. Đó chính là điều mà đảng CSVN mong muốn, để tạo ra một thế hệ tương lai coi Tàu cộng là bạn quý như 16 vàng 4 tốt, xem đảng cộng sản TQ là ân nhân của dân tộc VN như lời ông đại tá PGS-TS Học Viện Chính Trị Trần Đăng Thanh tuyên bố trước các nhà giáo trong một buổi thuyết giảng về Biển Đông.
Để thực hiện những chủ trương đó, đảng CSVN đang gấp rút tổ chức những cuộc giao lưu giữa thanh niên VN và thanh niên TQ một cách hoành tráng to lớn như vậy, lên đến cả mấy nghìn người. Và rồi đây, chắc chắn sẽ có thật nhiều những lần giao lưu như thế, và số lượng thanh niên sẽ đông hơn rất nhiều, để tạo cho họ quen dần với thanh niên và người dân TQ. Nói tóm lại đảng CSVN đang muốn tạo ra một thế hệ thanh niên mới, thân Tàu cộng, chỉ biết vâng dạ và hỗ trợ họ trong mưu đồ sát nhập bán nước.
CSVN rất mưu mô xảo quyệt, tính toán rất quy trình bài bản, và rất ư nham hiểm. Với mục đích hèn hạ bỉ ổi là duy trì được quyền thống trị đất nước của đảng và những tài sản cướp được của dân của nước một cách lâu dài. CSVN sẵn sàng cam tâm đào tạo một thế hệ TN thân Tàu để nay mai tiếp tay cho đảng tiếp tục bán nước để duy trì quyền lợi của đảng. Việc đảng CSVN làm đã hủy hoại và giết chết bao mầm mống tinh hoa của dân tộc Việt, một thế hệ thanh niên bị chúng nhồi sọ, bịp bợm và dối trá.
3- Âm mưu Hán hóa
Chúng ta đã nghe và đã thấy CSVN và CSTQ đang âm mưu Hán Hóa người Việt chúng ta qua các việc họ làm:
a- Về văn hóa: Ngành giáo dục VN có chủ trương dạy tiếng Tàu trong chương trình cấp một. Sách giáo khoa in hình trường lớp và cờ Tàu cộng bay cao phất phới, nhà nước CSVN vừa đồng ý cho Tàu cộng lập viện Khổng Tử ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội, cờ đỏ 6 sao được các em thiếu nhi VN vẩy chào đón tiếp Tập Cận Bình và các khu phố Tàu như trăm hoa đua nở trên mọi miền đất nước, ở đâu cũng thấy người Tàu, nhà hàng Tàu, tiệm ăn Tàu, biển hiệu đầy dẫy chữ nghĩa Tàu, tất cả đều là Tàu, Tàu, Tàu không sao kể xiết.
b- Về kinh tế: Hiện nay kim ngạch buôn bán của nhà nước CSVN, Tàu cộng nắm giữ hơn 70%. Các hợp đồng quan trọng tầm cỡ quốc gia thì 90% là Tàu cộng trúng thầu. Các công ty cơ sở làm ăn của người tàu trên đất Việt thì hằng hà sa số, đủ mọi ngành nghề. Hàng hóa thực phẩm mang nhãn mác Tàu thì trùng trùng điệp điệp, tràn ngập thị trường, nơi đâu cũng có. Một nền kinh tế do người Tàu làm chủ, quyết định.
c- Về chính trị: Đảng CSVN lệ thuộc Hán Triều. Các sự kiên quan trọng đều phải xin chỉ thị của đảng Tàu cộng, nhất là về vấn đề nhân sự. Thay đổi hoặc bầu mới vào các chức vụ quan trọng trong "Tứ Trụ" thì không thể thiếu bàn tay lông lá Tàu cộng xen vào, buộc phải theo ý chúng. Đảng CSVN luôn cúi đầu tuân thủ, và sẵn sàng để trở thành những tên thái thú nô dịch cho Thiên Triều Tàu cộng, miễn sao đảng tồn tại, dù phải bán đi giang sơn gấm vóc nghìn đời cha ông gầy dựng bằng xương bằng máu. Lãnh đạo đảng CSVN không phải con người, và chắc chắn không phải là người VN, nên sẵn sàng tiếp tay cho âm mưu Hán hóa của bọn bá quyền phương bắc. Và hôm nay đảng CSVN vẫn đang tiếp tục con đường Hán hóa cả một thế hệ thanh niên qua những chương trình giao lưu qua lại như trên. Đảng CSVN rất thâm độc nham hiểm, biết lợi dụng bản tính "Ngựa non háu đá" khờ khạo của một số những người trẻ tuổi. Những thanh niên này sẽ được hứa hẹn về lợi ích, quyền lực và bổng lộc, nên họ sẵn sàng biến mình thành những tên nô lệ, nửa Việt nửa Hán, là những tuyên truyền viên, dư luận viên. Đảng dùng họ làm lực lượng đối trọng với lực lượng Thanh Niên Yêu Nước của dân tộc, đang ngày một phát triển mà đảng CSVN rất là lo sợ. Đảng biến những thanh niên này thành những công cụ, tay sai đắc lực để đảng sai khiến lợi dụng. Tiếp tay cho đảng chống lại nhân dân, phản bội lại quê hương tổ quốc, phục vụ cho chương trình Hán hóa của cả 2 đảng Việt cộng và Tàu cộng đang tiến hành từng ngày từng giờ trên đất nước VN thân yêu.
Kính thưa tất cả quý vị. Đứng trong một góc độ hạn hẹp, người viết tôi chỉ thấy được một vài âm mưu thủ đoạn của đảng CSVN. Chắc chắn sẽ còn rất nhiều những ý đồ nham hiểm của họ tiềm ẩn trong cái gọi là "Giao Lưu TNVN & TNTQ". Rất mong quý thôn dân và quý còm sỹ cùng nhau vạch trần những "Âm Mưu Nham Hiểm" của đảng CSVN như hồi chuông gióng lên cảnh tỉnh Thanh niên Việt Nam và nhân dân ta trước thảm họa vong quốc Hán hóa do đảng CSVN gây ra. Xin chân thành cảm ơn và chúc tất cả quý vị luôn dồi dào sức khỏe.

CÙNG NHAU MÚA CHUNG QUANH VÒNG...

...VUI CÙNG VUI MÚA VUI. He he, vui thật, đàn anh Trung cộng, hằng năm mời hàng ngàn thanh niên ưu tú nhất trong lực lượng ưu tú của VN sang ăn chơi, hát hò, nhảy múa, giao lưu với thanh niên cũng rất ưu tú của nước họ.

Đàn anh rất tốt bụng vì mọi kinh phí, anh lo hết, các em cứ vô tư sang ăn chơi, yến tiệc.
Các em là ai? Đó là những đoàn viên thanh niên ưu tú trong hệ thống cánh tay mặt của đảng. Đoàn TNCSHCM được khẳng định là lực lượng hậu bị ưu tú của đảng, mà những thanh niên được chọn đưa đi giao lưu hằng năm đương nhiên là những người con ưu tú nhất trong lực lượng ưu tú, là những người chắc chắn được xây dựng để chuẩn bị kế thừa các vị trí lãnh đạo đất nước. Ông  Nguyễn Thiện Nhân, một trong 16 ông lãnh đạo cao nhất nước, đang cầm tay nhảy múa "chung quanh vòng" kia không đi lên từ cán bộ đoàn là gì. Chưa nói đến những ông lãnh đạo khác như Nguyễn Minh Triết, Lê Thanh Hải...cũng xuất thân từ cán bộ đoàn, là những hạt giống ưu tú nhất trong bao giống đỏ ưu tú đấy thôi.
Những người ưu tú được chọn
Như vậy là đang có 3000 thanh niên ưu tú nhất đang được đưa qua nước đàn anh để vui chơi nhảy múa, để tay nắm tay với lực lượng cũng ưu tú nhất của đàn anh, để nối vòng tay lớn, để thắt chặt tình đoàn kết, để dang rộng vòng tròn, dang rộng ra Hoàng Sa-Trường Sa, dang rộng hết cái biển Đông và xuống tận mũi Cà Mau rồi vòng lên Tân Cương, Tây Tạng...Đúng là một vòng tay lớn.
Thật ra 3000 bạn trẻ là lực lượng kế thừa ấy không phải chỉ qua ăn chơi nhảy múa mà còn đi thăm quan để thấy sự giàu có, hùng mạnh của đàn anh nhất là sự hùng mạnh về quân sự. Ngay khi các bạn đang có mặt, để phục vụ, đàn anh đã sẵn sàng chịu tốn kém đưa ngay tàu sân bay Liêu Ninh cùng đoàn tàu chiến hùng hậu đi vào biển Đông tập trận biểu diễn cho các bạn thưởng ngoạn. Khi những thanh niên ưu tú của nước anh đang hiền hòa, thân ái nắm tay 3000 bạn trẻ nước em và cả tay của ông Nguyễn Thiện Nhân nhảy múa thì những thanh niên cũng rất ưu tú khác trên những con tàu chiến ấy tay ôm chặt súng, mặt đằng đằng sát khí, cũng sẵn sàng nhảy múa, nhưng mà nhảy múa với những ngư dân khốn khổ của ta trên biển Đông.
Tàu sân bay Liêu Đông được đưa vào biển Đông tập trận biểu diễn để mua vui cho 3000 thanh niên ưu tú VN đang có mặt ăn chơi nhảy múa tại Trung cộng
Rồi chắc chắn 3000 bạn trẻ đó, ngoài việc được bồi dưỡng vật chất hậu hỉ, còn được bồi dưỡng tinh thần trên cả mức hậu hỉ. Bởi lẽ hệ thống chính trị của hai anh em giống nhau nên nhận thức chính trị của các em sẽ được nâng cao lên một nấc khi được các anh tích cực bồi dưỡng và rèn luyện.
3000 bạn trẻ đó vốn là hạt giống đỏ nên đã được đảng đưa vào danh sách đỏ để quản lý, để bồi dưỡng và dẫn dắt để dần dần trở thành những nhà lãnh đạo trong tương lai. Con đường hoạn lộ của các bạn vốn đang rạng rỡ phía trước nay lại tiếp tục rạng rỡ và vững chắc thêm muôn phần khi các bạn cũng được đưa vào danh sách đỏ của đảng anh. Tên tuổi, lý lịch, hồ sơ của các bạn sẽ được đảng anh ghi lại đầy đủ. Từ nay từng bước đi của các bạn sẽ được ban nhân sự của đảng anh dõi theo, chiếu cố và giúp đỡ khi cần thiết. Rồi các bạn sẽ còn được tiếp tục mời qua nước anh trong vô số những dịp khác để đảng anh tiếp túc bồi dưỡng vật chất và tinh thần để tiếp tục được rèn luyện nâng cao tài đức.
3000 bạn trẻ ưu tú nhất thân mến! Được sự chăm sóc bồi dưỡng và nâng đỡ của cả hai đảng, thì chuyện lên nắm các cương vị lãnh đạo cao nhất của các bạn  trong tương lai là điều chắc chắn. Chúc mừng các bạn và cũng không quên nhắc các bạn một điều, khi đã đạt được ước nguyện rồi thì các bạn hãy nhớ rằng người VN chúng ta có truyền thống "ăn quả nhớ kẻ trồng cây", "uống nước nhớ nguồn" do vậy các bạn đừng quên công ơn như trời biển của đảng Trung cộng đàn anh nhé.
Thôi, bây giờ các bạn hãy tiếp tục vui chơi nhảy múa, học hành và dang rộng vòng tay đi!
Chào đoàn kết hữu nghị và quyết thắng!
Tinh thần quốc tế vô sản muôn năm!

Nhân quyền…mồm

Gà tây và hươu cùng chung sống.
Gà tây và hươu cùng chung sống.
Trong tháng 11-2013, Việt Nam đã làm được hai việc quan trọng:  Ký Công ước UN về chống tra tấn và Tham gia vào HĐ Nhân quyền UN. Nhưng cuối tháng 11 lại ra một Nghị định mới về xử phạt hành chính nếu có hành vi tuyên truyền chống phá Nhà nước.

Đây là kiểu trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Tham gia quốc tế thì cứ tham gia cho oai, trong nước cấm vẫn cứ cấm.
Ngày 7/11, tại UN New York (Mỹ), Đại sứ Lê Hoài Trung, đã thay mặt Chính phủ VN ký Công ước UN về chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc làm mất phẩm giá khác (gọi tắt là Công ước chống tra tấn).
Gần một tuần sau, 12/11, cùng với 14 nước bao gồm Nga, Trung Quốc, và một số nước khác, Việt Nam cũng được bầu vào Hội đồng Nhân quyền của UN.
Sau hai tuần, ngày 27-11-2013, Nghị định 174/2013/NĐ-CP mới được ban hành thông báo rằng, các hành vi vi phạm đưa tin sai sự thật trên mạng xã hội sẽ bị xử phạt nặng. Theo đó, hành vi tuyên truyền chống phá nhà nước Việt Nam và truyền bá tư tưởng phản động bị phạt nặng nhất, mức phạt từ 70 đến 100 triệu đồng.
Nghị định cho biết những hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng có nội dung “tuyên truyền chống phá nhà nước” hoặc truyền bá “tư tưởng phản động, xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận thành tựu của cách mạng, v.v” sẽ bị phạt hành chính từ 70 triệu đến 100 triệu đồng.
Nghị định 174, có hiệu lực vào ngày 15-4-2013, cũng không nói rõ những bình luận như thế nào thì được xem là hành vi phạm tội hình sự có thể bị phạt tù, hay chỉ là “vi phạm hành chính” phải nộp tiền phạt.
Hình như ở nước ta, Bộ Ngoại giao và các Bộ khác không có tiếng nói chung. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao kiêm PTT Phạm Bình Minh và các đại sứ đi công du nước ngoài chắc cũng buồn vì cảnh nhân quyền…mồm.
HM. 27-11-2013

Hiểu và áp dụng NGHỊ ĐỊNH 174/2013/NĐ-CP như thế nào đây, thưa các bác??

TƯỜNG THỤY
Thấy cư dân mạng bàn tán xôn xao về nghị định 174 phạt tới 100 triệu đồng về tội chống phá gì đấy, nhà cháu cũng thử đi tìm xem nó ra răng.
Chưa kịp bàn về nội dung thì nhà cháu giật mình khi thấy cùng một hành vi nhưng mức xử phạt lại rất khác nhau:
Trước hết mời các bác xem 2 ảnh nhà cháu chụp lại từ bản của Thư viện pháp luật hẳn hoi
147.2147.1
 Cùng những hành vi giống hệt nhau:
a) Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Tuyên truyền kích động chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; kích động bạo lực; truyền bá tư tưởng phản động mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
c) Xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, danh nhân, anh hùng dân tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
thì ở Điều 64 Vi phạm quy định về trang thông tin điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp, tại khoản 4 các bác qui định phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Thế nhưng cũng với những hành vi giống hệt như thế, thì Điều 65 Vi phạm các quy định về trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội, tại khoản 5 các bác qui định phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Như vậy, nhóm hành vi:
a) Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Tuyên truyền kích động chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; kích động bạo lực; truyền bá tư tưởng phản động mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
c) Xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, danh nhân, anh hùng dân tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đều được đưa vào 2 điều khoản khác nhau với mức xử phạt khác nhau.
Hẳn đây lại là lỗi của “cậu đánh máy”. Với 1 bài báo, việc cải chính có thể đơn giản nhưng với một văn bản pháp qui cấp chính phủ thì lại không thế. Chắc chắn, Chính phủ lại phải ra một nghị định khác để sửa đổi.
Điều cần nói thêm là, văn bản này ra ngày 13/11/2013, đã được gửi đi:
 Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
– HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;
– Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
– Văn phòng Tổng Bí thư;
– Văn phòng Chủ tịch nước;
– Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
– Văn phòng Quốc hội;
– Tòa án nhân dân tối cao;
– Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
– Kiểm toán Nhà nước;
– UB Giám sát tài chính QG;
– Ngân hàng Chính sách xã hội;
– Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
– UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
– VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP, TGĐ Cổng TTĐT,
các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
– Lưu: Văn thư, KGVX (3b).
và tiếp tục sao gửi đến các cơ quan có trách nhiệm thực hiện nhưng đã nửa tháng rồi mà chẳng bác nào phát hiện ra. Lười đọc văn bản quy phạm thế thảo nào các các cứ áp dụng tùy hứng để xử phạt, xử tội dân.
Các bác tiêu tốn bao nhiêu tiền thuế của dân để làm ra một cái nghị định như thế này?
28/11/2013

Bộ trưởng Thăng càng “trảm tướng” càng giàu, càng nhiều đệ tử cung phụng, lại càng nổi danh

Phan Châu Thành (Danlambao) - Mấy năm nay trò hề “trảm tướng” của bộ trưởng Thăng thỉnh thoảng lại rộ lên trên các báo lá cải - à quên: lá đảng, liên tục không ngừng từ khi Thăng lên bộ trưởng GTVT. Thăng “nổ” mà không lên bộ GTVT thì chắc PetroVietnam hôm nay đã đi theo Vinashin, Vinalines luôn rồi, chẳng cần phải đợi dăm ba năm nữa. Nhưng đó là chuyện khác.
Bài này tôi chỉ muốn nói về, muốn vạch trần trò hề “trảm tướng” của Thăng vốn đã trở thành trò cười và “thương hiệu đặc sản” của Thăng từ thời anh cán bộ đoàn “năng” ít “nổ” nhiều của Sông Đà này được “trên” thăng lên làm Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí PV.
Ở PV thời Thăng “nổ”, ai cũng biết “trảm tướng” là vở kịch hài, để Thăng giương oai và củng cố vị thế CT của mình trong Tập đoàn PV, vì ngoài khả năng “nổ” và khả năng “định hướng XHCN”- tức là lưu manh chính trị ra, không có nhiều lĩnh vực để Thăng có thể xây dựng uy tín lãnh đạo của mình đối với thuộc cấp và ban lãnh đạo Tập đoàn, nhất là với lĩnh vực khai thác dầu khí thì có thể hình dung Thăng ở PV như một chuyên gia hoạn lợn đột nhiên được lên làm tư lệnh hải quân.
“Trảm tướng” chỉ là vở tuồng Thăng diễn cho thiên hạ xem và dùng “mạng” của cán bộ cấp thấp (ngoài công trường) để trảm - trảm thế nào chúng ta sẽ nói rõ sau.
Còn ở tổng hành dinh Thăng mới dùng võ bẩn thật - võ chính, để xây dựng vương quyền. Đó là tác phong làm việc lạnh lùng, coi người như rác, luôn “xử lý công việc nhanh gọn” bằng “Một tờ A4” của Thăng. Có nghĩa là, Thăng luôn biết và chỉ biết bài lạm dụng quyền của mình để dọa hoặc bất ngờ chuyển công tác các cán bộ dưới quyền bằng một quyết định ngắn gọn trong “Một tờ A4”. Đó luôn là những quyết định “phân công công tác theo nhu cầu công việc của Tập đoàn” do Chủ tịch Thăng ký mà đối với người nhận “tờ A4” đó không khác gì một quyết định kỷ luật, khi đương sự bị Thăng bứng ra một vị trí lạ hoắc thường là “ngồi chơi xơi nước”, mà không ai dám công khai chống lệnh, và chỉ có một con đường duy nhất: vác “gạch” hay “đạn” đến nhà Thăng “tâm sự”... (“gạnh” là vàng và “đạn” là tiền đô, đơn vị tính là “tấn” hay “tạ”, “tấn” là 100 nghìn đô, “tạ” là 10 nghìn đô...)
Sau vài lần “tâm sự” đương sự mới có thể yên tâm ở vị trí cũ nhưng “tinh thần thái độ” thì đã và phải thần phục Thăng hoàn toàn, nếu được Thăng “chấm” thì sẽ có cơ may được Thăng cho thăng tiến tiếp. Nếu Thăng không tiếp tại nhà mà chỉ cho người nhà nhận “đạn”, thì coi như đương sự mất cả chì lẫn chài, mà cái ghế thì vẫn phải “nhường trong đau đớn” cho đệ tử của Thăng. Tất cả chỉ vì Thăng luôn có “định hướng XHCN” như trên...
Với “tác phong một tờ A4” Thăng đã làm lộn tùng phèo cả một Tập đoàn lớn hàng đầu quốc gia là PV chỉ trong vài tháng đầu nhiệm kỳ. May mà ở cấp tập đoàn “tác phong A4” của Thăng không ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động khai thác, chế biến và kinh doanh dầu khí của PV, chứ nếu Thăng làm thế ở cấp công ty, tổng công ty thì PV... chỉ có sập tiệm ngay lập tức, chìm nhanh hơn cả Vinashink.
Đó là cách Thăng “xây dựng đội ngũ”, củng cố vị thế, xây dựng uy quyền (Thăng từng tuyên bố uy quyền đẻ ra uy tín!) cho mình, trong nội bộ, đúng như một nhà độc tài dần dần nắm hết toàn quyền. Những kẻ Thăng ở PV (và chắc nay là ở bộ GTVT) đưa lên thường giống Thăng y chang: coi thường (vì kém) chuyên môn nhưng thích nổ, nặng về xảo trá dựa trên uy quyền của Thăng, và tất nhiên: cung phụng Thăng như thờ Thánh...
Còn với bên ngoài Thăng PR, đánh bóng tên tuổi của mình rất tích cực, bằng tiền và rất nhiều thủ thuật. Một trong những trò Thăng thích thú và hay diễn là màn “trảm tướng”. Tôi đã chứng kiến tại trận vài vụ “trảm tướng” của Thăng và để ý theo dõi một thời gian dài nên có thể tạm đúc kết thành kịch bản “trảm tướng” của Thăng như sau:
Đầu tiên, Thăng chọn rất kỹ hiện trường để trảm tướng, là những công trình, dự án lớn, trọng điểm và “hot” - tức là được cấp trên, người dân và báo chí quan tâm. Nếu không “hot” thì Thăng không quan tâm, dù nó thiết thực quan trọng với ngành đến thế nào.
Tiếp theo là Thăng giao đám chân tay chuẩn bị “đội ngũ” đi ra trận. Đội ngũ của Thăng ở đây là dàn phóng viên các báo, đài, TV lớn trong nước – “cái bọn đói tin và đói tiền”, theo cách nói của Thăng - phải được lính của Thăng “nhân danh anh Chủ tịch TĐ” thân mến mời đi cùng, Thăng bao hết, và đưa thêm phong bì “tiêu vặt” từ trước. Mỗi chuyến đi như thế riêng tiền phong bì cho phóng viên là hàng trăm triệu, không kể chi phí ăn ở, xe cộ Thăng lo hết. Không hiểu sao, bao giờ các báo, đài, tv cũng đều cử phóng viên chân dài đi theo Thăng, không biết viết lách phỏng vấn có giỏi không nhưng ngoại hình thì toàn dự thi hoa hậu được.
“Ra trận”, đoàn của Thăng luôn rất đông đảo và có trật tự được dàn xếp kỹ càng hoành tráng như đoàn đóng phim sử liệu. Sau khi tác nghiệp tại hiện trường cùng với Thăng và cán bộ công trường xong, các phóng viên được quân của Thăng mời đi chiêu đãi bí tỉ, chỉ một số ít được tham dự cuộc họp chuyên môn của Thăng tại công trường, và họ được phép ghi âm, quay hình.
Chính trong những “cuộc họp chuyên môn” đó Thăng thường biểu diễn động tác mà các phóng viên thường bù lu bù loa lên là “trảm tướng”. Đó là, sau khi nghe sơ hai bên A và B báo cáo - thường là kể công của mình và đổ tội cho bên kia, bất luận tình thế thế nào Thăng cũng thường đứng hẳn về phía bên B (vì bên A thường là quân của Thăng, chủ đầu tư), và Thăng dùng lý luận của bên B để đập lại tơi bời chính quân của mình, với lời lẽ thường vô cùng gay gắt, “cả vú lấp miệng” và nhiều khi lập luận sai vì Thăng thường không hiểu chuyên môn của bên B - nhà thầu, trước sự ngỡ ngàng của cả hai bên. Rồi Thăng luôn kết luận với yêu cầu kỷ luật quân của mình, bắt “kiểm điểm sâu sắc” với lời dọa kiên quyết: tôi sẽ cho thay anh, sẽ kỷ luật anh... Kết quả vở diễn, qua tường thuật của phóng viên, luôn là “vỡ òa”, “bừng tỉnh”... Hình ảnh “một vị tư lệnh chiến trường Thăng sâu sát, mạnh mẽ, công bằng, vô tư, nghiêm khắc v.v...” sẽ đến với hàng triệu người sau đó.
Sau màn diễn thuần thục của Thăng, băng âm và hình được cung cấp đầy đủ cho các phóng viên với lới tri ân là các phong bì dầy cộp “thù lao trước” cho các bài phóng sự “sẽ có ngay”.
Còn các vị tướng “bị trảm tại trận” thì sao? Không ai bị mất chức hay mất việc. Tôi biết khá rõ, một số họ còn được thăng chức sau đó, vì ngay sau khi “bị trảm” họ sợ quá tưởng mất việc thật nên ôm ngay “đạn tấn”, “đạn tạ” đến nhà Thăng xin chịu tội. Có “vị tướng cụt đầu” Thăng không nhận “đạn” mà bắt họ đưa cho đàn em Thăng. Những tay đàn em này cầm “đạn” còn chê: “Chỉ đủ chi cho một chuyến đi hiện trường của Chủ tịch...” Thế là đám “bị trảm” hay “bị cụt đầu” đó trở thành đàn em tin cậy của Thăng. Có kẻ “bị trảm” nay đã lên đến phó chủ tịch Tập đoàn PV…
Thế cho nên, càng “trảm tướng” Thăng càng giàu và càng nhiều kẻ cung phụng, mà danh tiếng Thăng càng nổi như cồn, qua dàn đồng ca lá đảng. Dân ta thích những vở tuồng như thế, vì thời đại đói anh hùng, tưởng Thăng là anh hùng là thật.
Vẫn biết tất cả quan lại cộng sản hiện nay, tất tật lũ bộ trưởng hay tỉnh trưởng, hay các chánh phó thủ tướng... đều đểu, đều bẩn và đều giả như Thăng, đều không sửa được, nhưng cái cách Thăng cứ diễn mãi vở tuồng “trảm tướng” và cách dân ta vẫn cứ tin và hy vọng, thấy tội dân mình quá, cứ bị một thằng đểu xỏ mũi hoài, tôi đành viết mấy dòng trên.
Mong sao mọi người đừng quá ngây thơ tin hoài vào những vở ca hí kịch của cộng sản nữa! Nói chung, đừng tin vào những con người cộng sản.

Đọ sức trên Biển Hoa Đông (Nguyễn Văn Huy tổng hợp)

"...khi quyết định cử hai chiếc B-52 thâm nhập vào vùng phòng không mà Trung Quốc đơn phương quy định trên Biển Hoa Đông, Mỹ đã muốn truyền đạt thông điệp ngầm rằng Washington hoàn toàn không có ý định để cho Bắc Kinh tiếp tục lấn lướt tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nơi Hoa Kỳ đang muốn tăng cường ảnh hưởng..."
 
Trung Quốc bất lực trước đòn thị uy của Mỹ
B52bomber01
Máy bay B-52 của Mỹ bay qua vùng "phòng không " của Trung Quốc
"Quân đội Trung Quốc đã theo dõi toàn bộ quá trình bay (của hai chiếc B-52), đã thực hiện trong một thời hạn hợp lý việc nhận dạng và xác định rõ đó là loại máy bay Mỹ nào". Trên đây là nội dung thông cáo vào hôm nay, 27/11/2013, của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, liên quan đến sự kiện hai pháo đài bay B-52 của Mỹ đã đột nhập mà không hề báo trước vào vùng phòng không mà Bắc Kinh vừa thành lập bao trùm không phận quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên Biển Hoa Đông.
Phản ứng này được coi là một lời thừa nhận sự bất lực của Bắc Kinh trong việc buộc nước khác công nhận hành vi đơn phương mở rộng khu vực vùng gọi là "nhận dạng và phòng không" của Trung Quốc nhằm áp đặt chủ quyền của họ trên một vùng cho đến nay vẫn được coi là không phận quốc tế.
Các nhà phân tích ghi nhận hai yếu tố trong phản ứng ngắn gọn ban đầu của Bắc Kinh trước hành động rõ ràng là thách thức Washington : Thông cáo của Bộ Quốc phòng Trung Quốc rất thận trọng, tránh đổ lỗi cho Mỹ, đồng thời tìm cách vớt vát thể diện cho Bắc Kinh khi khẳng định rằng : "Trung Quốc có khả năng thực hiện việc kiểm soát hiệu quả không phận của mình".
Theo giới quan sát, dù không nói ra, nhưng khi quyết định cử hai chiếc B-52 thâm nhập vào vùng phòng không mà Trung Quốc đơn phương quy định trên Biển Hoa Đông, Mỹ đã muốn truyền đạt thông điệp ngầm rằng Washington hoàn toàn không có ý định để cho Bắc Kinh tiếp tục lấn lướt tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nơi Hoa Kỳ đang muốn tăng cường ảnh hưởng.
Quyết định của Mỹ, theo hãng tin Pháp AFP, đã gửi một đến Bắc Kinh một lời cảnh cáo rõ ràng rằng Washington sẵn sàng đẩy lùi mọi hành vi bị cho là hung hăng, hiếu chiến của Trung Quốc trong khu vực. Động thái của Mỹ cũng là tín hiệu cho thấy hậu thẫn mạnh mẽ của Mỹ đối với Nhật Bản, hiện đang bị Trung Quốc tranh giành vùng quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
Phi vụ không báo trước của hai chiếc B-52 vào hôm qua đã công khai đi ngược lại các đòi hỏi quan trọng nhất của Trung Quốc khi thiết lập vùng phòng không mở rộng trên Biển Hoa Đông. Đó là mọi phi cơ bay qua khu vực này phải nộp trước kế hoạch bay, tự động báo cáo danh tính, duy trì liên lạc vô tuyến và làm theo hướng dẫn của chính quyền Trung Quốc. Nếu không tuân thủ, quân đội Trung Quốc có quyền can thiệp.
Vấn đề đặt ra là quy định vùng phòng không mở rộng là một chuyện, nhưng có phương tiện để buộc nước khác tôn trọng vùng đó lại là một chuyện hoàn toàn khác. Cần phải có đến nào là phi cơ radar, nào là máy bay chiến đấu có khả năng phản ứng nhanh chóng và bay trên một hành trình dài để ngăn chặn bất kỳ kẻ xâm nhập nào, hay để buộc đối tượng thay đổi đường bay và áp tải phi cơ lạ ra khỏi vùng phòng không. Thông thường, các biện pháp cưỡng chế như trên - mà tột cùng là việc bắn hạ phi cơ lạ - chỉ áp dụng trên không phận của nước có liên quan.
Sự kiện hai chiếc B-52 của Mỹ thâm nhập vùng phòng không do Trung Quốc áp đặt trên Biển Hoa Đông mà không hề gặp phản ứng có thể được hiểu là vì Bắc Kinh tránh gây sự cố, hoặc là vì quân đội Trung Quốc chưa có khả năng để buộc các nước tôn trọng vùng phòng không của mình.
Trong cả hai trường hợp, câu hỏi đặt ra là phải chăng Bắc Kinh đã xem thường phản ứng của Mỹ, và của cộng đồng quốc tế khi tự động mở rộng vùng phòng không ra ngoài Biển Hoa Đông. Dẫu sao thì trong vụ này, Trung Quốc tự nhiên biến thành kẻ sinh sự, bị Hoa Kỳ tố cáo là đã mưu toan "đơn phương thay đổi nguyên trạng tại vùng Biển Hoa Đông".
Trọng Nghĩa (RFI)
Vùng phòng không của Trung Quốc, bài trắc nghiệm cho chính sách của Mỹ ở Châu Á
Việc Trung Quốc đơn phương đưa ra quyết định lập vùng phòng không trên biển Hoa Đông, chồng lấn lên vùng phòng không của Nhật Bản đã đẩy căng thẳng tranh chấp biển đảo giữa Tokyo và Bắc Kinh lên một nấc. Quyết định này đã gây bất ngờ cho nhiều nước đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc cũng như với cả Washington, vốn gần đây muốn khẳng định sự có mặt ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
Vùng phòng không của Bắc Kinh đưa ra bao gồm một không phận trải rộng phần lớn vùng biển Hoa Đông, phủ trên nhiều khu vực đang tranh chấp với các nước láng giềng, trong đó đặc biệt là quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư, hiện do Tokyo quản lý, nhưng Bắc Kinh đòi chủ quyền. Từ cuối tuần qua, Trung Quốc yêu cầu tất cả các máy bay muốn đi qua không phận trên phải thông báo trước hành trình bay và phải duy trì liên lạc với bộ phận kiểm sóat của Trung Quốc, nếu không Bắc Kinh sẽ có quyền « dùng các biện pháp khẩn cấp ».
Là đồng minh thân cận của Tokyo, đồng thời có nhiều căn cứ quân sự trong quần đảo Nhật Bản, Hoa Kỳ không thể làm ngơ trước đòi hỏi mới của Trung Quốc mà chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của quân Mỹ trong khu vực.
Ngay sau khi Bắc Kinh tuyên bố hôm 23/11 thiết lập vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông, Washington bày tỏ quan ngại sâu sắc đồng thời cam kết sẽ bảo vệ Tokyo.
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry yêu cầu Trung Quốc "thận trọng và kiềm chế", đồng thời cảnh báo nước này về việc áp dụng vùng phòng không đơn phương. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel nhấn mạnh, quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, mà Nhật Bản và Trung Quốc đang tranh chấp, nằm trong sự điều chỉnh của hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật. Điều này đồng nghĩa với việc Washington sẽ bảo vệ đồng minh của mình nếu khu vực này bị tấn công.
Ông Hagel nói rõ rằng Mỹ, hiện có hơn 70.000 binh sĩ đồn trú tại Nhật và Hàn Quốc, sẽ không công nhận tuyên bố chủ quyền vùng phòng không của Trung Quốc. Bộ trưởng Quốc phògn Mỹ khẳng định : “Tuyên bố của Trung Quốc (về việc thiết lập vùng nhận dạng phòng không) sẽ làm thay đổi cách Mỹ triển khai các chiến dịch quân sự tại khu vực này”.
Bên cạnh những tuyên bố chính thức như vậy, chính quyền Mỹ cũng đánh tiếng một cách không chính thức rằng sắp tới họ sẽ có những quyết định mạnh mẽ đáp lại đòi hỏi của Trung Quốc. Tuy nhiên theo lời một quan chức chính quyền Mỹ, hành động của Washington sẽ còn phụ thuộc vào việc sau khi phân tích « động cơ của Bắc Kinh » trong vụ việc này.
Theo giới quan sát, ứng xử với « vụ vùng phòng không » của Bắc Kinh sẽ là một trắc nghiệm quan trọng cho Washington, đặc biệt trong lúc này, khi Hoa Kỳ không ít lần khẳng định chiến lược xoay trục về Châu Á. Chiến lược này đến nay vẫn chỉ được nghe nói đến nhiều trong ngôn từ của các nhà ngoại giao Mỹ, mà chưa có dịp kiểm nghiệm bằng thực tế.
Hoa Kỳ đã thông báo ý định tập trung khoảng 60% lực lượng tấn công trên toàn thế giới về khu vực Châu Á Thái Bình Dương, từ nay đến cuối thập kỷ này. Nhiều cường quốc châu Á vẫn tự hỏi, liệu Hoa Kỳ có thể thực hiện được sự cân đối lại lực lượng như vậy và liệu quyết tâm đó có thể làm yên tâm các đồng minh Châu Á của Mỹ hay không, nhất là mỗi khi nảy sinh những đòi hỏi về chủ quyền của Trung Quốc như kiểu thiết lập vùng phòng không lần này.
Việc Tổng thống Mỹ Obama vắng mặt tại hai cuộc Thượng đỉnh Châu Á hồi tháng 10 vừa qua vì khủng hoảng ngân sách ở trong nước, hay việc Ngoại trưởng John Kerry vẫn mải miết tập trung vào các hồ sơ hạt nhân Iran hay cuộc chiến ở Syria đã để lại một khoảng trống trong niềm tin của các đồng minh Châu Á của Mỹ.
Anh Vũ(RFI)
Mỹ "gấp rút" củng cố căn cứ Thái Bình Dương phòng Trung Quốc
Lầu Năm Góc đang khẩn trương củng cố các căn cứ quân sự tại Thái Bình Dương và sửa chữa những căn cứ không quân từng sử dụng trong Thế chiến thứ hai nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công từ lực lượng tên lửa của Trung Quốc nhằm vào những trụ sở quan trọng trên đảo Okinawa và nhiều khu vực khác.
Hành động củng cố các căn cứ quân sự tại khu vực Thái Bình Dương là một phần trong chính sách trục châu Á của chính quyền Tổng thống Barack Obama, bao gồm việc xây dựng một căn cứ phía bắc Australia.
Lâu nay, hệ thống tên lửa của Trung Quốc trở thành mối lo ngại với các chiến lược gia Mỹ bởi Bắc Kinh có thể sử dụng tên lửa để ngăn chặn hoạt động tiếp cận khu vực châu Á - Thái Bình Dương bằng hệ thống tàu thuyền, máy bay và điều binh sĩ của Mỹ.
Theo giám đốc Trung tâm Nghiên cứu châu Á - Thái Bình Dương RAnhân dân - Michael Lostumbo, hiện nay, các tên lửa đạn đạo của Trung Quốc được đánh giá là một trong những mối "đe dọa nguy hiểm nhất" với mọi căn cứ quân sự của Mỹ tại Thái Bình Dương.
Một bản báo cáo của RAnhân dân cho thấy 90% căn cứ quân sự của Mỹ nằm trong phạm vi 1.080 hải lý của Trung Quốc - khoảng cách được liệt vào mối đe dọa nghiêm trọng.
"Chúng tôi so sánh mức độ đe dọa tại Thái Bình Dương với các khu vực khác. Toàn bộ các căn cứ quân sự tại Thái Bình Dương hiện đang nằm trong phạm vi tấn công của hệ thống tên lửa đạn đạo Trung Quốc", ông Lostumbo nói.
Theo RAND, Mỹ có 3 lựa chọn để loại trừ các mối đe dọa từ lực lượng tên lửa Trung Quốc bao gồm : di chuyển các căn cứ khỏi phạm vi tấn công của tên lửa, tăng cường sức bền của các kho chứa máy bay và di tản máy bay nhằm giới hạn tối đa mức độ thiệt hại nếu bị tấn công.
Một quan chức cấp cao Mỹ giấu tên cho hay các chiến lược gia Lầu Năm Góc hiện đang tái thiết nhiều căn cứ như Kadena trên đảo Okinawa bởi căn cứ này được đánh giá là dễ bị Trung Quốc tấn công nhất.
Một số căn cứ hiện đang được quân đội Mỹ đầu tư phát triển tại châu Á :
Darwin, Australia
Lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ đang được tăng cường tới căn cứ Darwin. Hồi năm ngoái, Mỹ đã lần đầu tiên điều 200 lính thủy đánh bộ tới căn cứ này. Theo phát ngôn viên lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ - Đại úy Eric Flanagan, 2.500 binh lính Mỹ đang được luân chuyển tới căn cứ Darwin tham gia lực lượng không quân.
Đảo Guam
Theo Cơ quan Nghiên cứu quốc hội, kể từ năm 2000, Lầu Năm Góc đã liên tục tăng cường lực lượng tới vùng cực tây lãnh thỗ Mỹ. Trong đó, khoảng 8.000 binh sĩ thuộc lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ đang được điều động tới căn cứ đảo Guam.
Trong bản báo cáo ngày 15/11, Cơ quan Nghiên cứu quốc hội Mỹ nói rõ việc củng cố căn cứ đảo Guam và tổ chức các cuộc tập trận quân sự thường xuyên nhằm ngăn chặn mối đe dọa từ phía Trung Quốc.
Hiện nay, đảo Guam là nơi cư trú của hai căn cứ quan trọng của Mỹ bao gồm : căn cứ Apra phục vụ Hải quân và căn cứ Anderson cho Không quân.
Trong đó, Lầu Năm Góc lo ngại đảo Guam sẽ bị các tên lửa của Trung Quốc và Triều Tiên tấn công. Ngoài ra, Mỹ còn đầu tư hàng trăm triệu USD để tăng độ bền cho các bể chứa nhiên liệu và nhà chứa máy bay.
Lực lượng Không quân Mỹ hiện đang nghiên cứu một "cơ sở vững chãi" chứa các máy bay ném bom, máy bay vận tải và máy bay tiếp dầu. Nhà chứa này được thiết kế với phần mái bê tông dày hơn 1 m.
Phát biểu trước Quốc hội, trong tháng 11, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ - Tướng Mark Welsh cho biết chỉ huy lực lượng binh sĩ Mỹ tại Thái Bình Dương đã yêu cầu tăng cường khả năng phòng thủ trước các cuộc tấn công bằng tên lửa của đối phương. Theo ông Welsh, chi phí củng cố hạ tầng phòng thủ tiêu tốn khoảng 256 triệu USD.
"Việc củng cố các căn cứ trên đảo Guam nhằm tăng khả năng chống chọi của đảo Guam trước những mối đe dọa ngày càng gia tăng từ hệ thống tên lửa đất đối đất", ông Welsh nói.
Đảo Tinian và Saipan
Lầu Năm Góc cho biết hai hòn đảo Tinian và Saipan nằm trên khu vực Bắc Thái Bình Dương thuộc lãnh thổ Mỹ và gần đảo Guam là một trong những khu vực được lựa chọn làm nơi chứa máy bay được di tản khỏi các căn cứ quân sự khác.
Không quân Mỹ đã chi 115 triệu USD để xây dựng cơ sở hạ tầng trên đảo Saipan phục vụ cho hoạt động tập trận và hạ cánh khẩn cấp cho máy bay Mỹ khi gặp thời tiết xấu.
Lâu nay, hai hòn đảo Tinian và Saipan giữ vị trí quan trọng chiến lược đối với quân đội Mỹ. Trong Thế chiến thứ hai, quân đội Mỹ đã chiếm hai hòn đảo này từ tay quân đội Nhật Bản vào năm 1944 và thành lập căn cứ chứa máy bay ném bom B-29 trên đảo Tinian, chuyên tổ chức các cuộc tấn công nhằm vào Nhật Bản.
Vào tháng 8/1945, từ đảo Tinian, 2 máy bay mang tên Enola Gay và Bock’s Car đã mang theo bom nguyên tử và ném xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki.
Minh Thu (Infonet)

Bất ổn Thái Lan : Vì sao và như thế nào ? (Jonathan Head)

"...Trong khi đó ông Thaksin, hiện đang sống lưu vong, đã trả lời phỏng vấn và cả quyết rằng việc ân xá diện rộng như vậy là cách tốt nhất để tiến bước vì đạo luật sẽ cho đất nước cơ hội bắt đầu lại từ đầu và xóa mọi xung đột xảy ra từ khi ông còn tại nhiệm..."
 


batonthailan01
Cảnh sát đã gia tăng sự hiện diện trước làn sóng biểu tình mới
Trong vài tuần qua, một giai đoạn tương đối bình lặng trong chính trường Thái Lan đã tan vỡ. Hàng chục ngàn người biểu tình đã xuống đường ở Bangkok giống như những phong trào phản kháng trước đây vốn đã dẫn tới một cuộc đảo chính của phe quân đội, chiếm giữ sân bay quốc tế của phe áo đỏ, hai thủ tướng phải từ chức theo lệnh của tòa án cũng như chiến dịch của quân đội ở Bangkok khiến hơn 90 người chết hồi năm 2010.
Những năm bất ổn xoay quanh vị cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra làm cho Thái Lan sốc và kiệt sức vào năm 2010. Trong ba năm qua không ai muốn có thêm đối đầu.
Những cố gắng của phe hoàng gia cứng rắn nhằm khơi dậy biểu tình chống chính quyền của em gái ông Thaksin, Thủ tướng Yingluck Shinawatra, đã không mang lại kết quả.
Tất cả đã thay đổi trong tháng trước khi đảng Pheu Thai của ông Thaksin bỗng nhiên mở rộng một đề nghị ân xá, vốn ban đầu chỉ ảnh hưởng tới những thường dân tham gia biểu tình trong quá khứ, thành việc xóa bỏ tất cả những vụ kết tội liên quan tới những xung đột chính trị kể từ năm 2004 tới nay.
Dự luật có vẻ xóa bỏ không chỉ bản án lạm quyền đối với ông Thaksin hồi năm 2008 mà còn gỡ trách nhiệm cho những người ra lệnh xả súng vào những người ủng hộ ông vào năm 2010.
Ủy ban chống tham nhũng của Thái Lan cũng ước tính khoảng hơn 25.000 vụ tham nhũng có thể bị ảnh hưởng bởi đề nghị ân xá.
Chỉ có vài trăm vụ bị xử theo luật khi quân hà khắc là không thuộc diện được ân xá.
Điều quan trọng là dự luật có vẻ mở đường cho ông Thaksin trở về sau hơn năm năm sống lưu vong.
Khí thế
Những cuộc biểu tình lần này rất rộng khắp và đầy khí thế. Tham gia xuống đường có các học giả, thẩm phán, bác sỹ, y tá, sinh viên, nhân viên văn phòng cũng như các đối thủ truyền thống của ông Thaksin từ Đảng Dân chủ đối lập và từ các nhóm áo vàng đã khiến ông và các đồng minh mất quyền trong giai đoạn 2006-2008.
Ngay cả một số người trong phong trào áo đỏ từng xuống đường ủng hộ ông Thaksin nay cũng biểu tình phản đối đạo luật.
"Đây không chỉ là chính trị đảng phái mà là sự chống lại đạo luật đã khiến cả nước cùng phản đối" - đó là nhận định của cựu bộ trưởng tài chính Korn Chatikavaij, người từ chức phó chủ tịch Đảng Dân chủ để có thể tổ chức biểu tình.
Bỗng dưng những người của Đảng Dân chủ, vốn đã không thể đánh bại đảng Pheu Thai trong bầu cử hay ở quốc hội, thấy mình ở tuyến đầu của một phong trào phản kháng đang lan rộng nhằm hạ gục chính quyền.
Làm sao một đảng chiếm đa số trong quốc hội và đã rất tự tin đi theo nghị trình mị dân của họ từ khi lên cầm quyền lại có thể mắc sai lầm đến thế.
Điều rõ ràng là ông Thaksin đã can thiệp vào dự luật.
Trong suốt nhiệm kỳ thủ tướng, bà Yingluck luôn bị cáo buộc rằng bà chỉ là con rối và rằng tất cả các quyết định quan trọng đều do ông anh đưa ra.
Những cáo buộc đó không phải khi nào cũng đúng và cách cầm quyền mang tính hòa giải của bà khiến ngay cả các đối thủ cũng khen ngợi.
Nhưng về dự luật ân xá, vấn đề cá nhân và hóc búa nhất mà bà từng phải giải quyết, bà thủ tướng thậm chí cũng không giả vờ ra quyết định.
Bà đã không có mặt tại hạ viện khi dự luật được thông qua và nói rằng đảng của bà chứ không phải bà muốn có dự luật này.
Trong khi đó ông Thaksin, hiện đang sống lưu vong, đã trả lời phỏng vấn và cả quyết rằng việc ân xá diện rộng như vậy là cách tốt nhất để tiến bước vì đạo luật sẽ cho đất nước cơ hội bắt đầu lại từ đầu và xóa mọi xung đột xảy ra từ khi ông còn tại nhiệm.
Vấn đề cũ
Trên thực tế nó đã có hiệu quả ngược lại. Sự phân cực rõ rệt trong xã hội Thái lại một lần nữa được phơi bày.
Và thành phần rộng khắp của đợt chống đối dự luật ân xá, cho dù chủ yếu chỉ ở Bangkok, có nhiều điểm giống như các cuộc biểu tình hồi đầu năm 2006, vốn đã khiến Thủ tướng Thaksin lúc bấy giờ phải kêu gọi bầu cử sớm và cuối cùng bị đảo chính hồi tháng Chín.
Khi đó ông đã tính toán sai lầm phản ứng của công chúng đối với vụ bán tập đoàn Shin Corp mà gia đình ông được lợi lớn. Dường như lại một lần nữa ông đi quá đà. Nhưng lần này tình hình cũng có những khác biệt quan trọng.
Đảng Pheu Thai đang cố gắng xây dựng quan hệ tốt với giới lãnh đạo cao cấp thân hoàng gia trong quân đội.
Ngay cả vị tư lệnh quân đội đôi khi bạo miệng, Tướng Prayuth Chan-ocha, đã khá yên lặng về vụ ân xá và các cuộc biểu tình. Một cuộc đảo chính khác có vẻ khó xảy ra.
Và cả phong trào áo vàng cứng rắn, thành tố quan trọng của bất kỳ phong trào xuống đường nào nhằm gây sức ép lên chính phủ, cũng không còn mạnh như xưa.
Như thế Đảng Dân chủ, vốn đang tăng thanh thế trong mấy tuần qua, lại phải vật lộn với vấn đề cũ : làm sao đánh bại ông Thaksin, cho dù ông ở trong hay ở ngoài Thái Lan, trong bầu cử.
Đây là vấn đề mà đảng lâu đời nhất ở Thái Lan vẫn chưa có giải pháp.
Jonathan Head
BBC News, Bangkok
Đây là bản trích dịch bài báo của tác giả Jonathan Head, đăng lần đầu trên BBC News Online hôm 7/11. Dự luật ân xá sau đó bị Thượng viện Thái Lan bác bỏ, nhưng vẫn châm ngòi cho các cuộc biểu tình đang diễn ra.

Bị bức cung, "bịt miệng", cảnh sát cũng phải "xin chết"

Trung Phạm - theo Trí Thức Trẻ 

(Soha.vn) - Một sỹ quan cảnh sát bị buộc tội giết vợ vì ghen. Bị đồng nghiệp cũ bức cung bằng nhục hình, bị quan tòa hủy chứng cứ, anh đành “xin tội chết”.

Mời độc giả đọc loạt bài BỨC CUNG, NHỤC HÌNH VÀ NHỮNG VỤ ÁN OAN CHẤN ĐỘNG THẾ GIỚI:
"Ông Nguyễn Thanh Chấn" ở Trung Quốc và vụ án "người chết" trở về
Người 9 lần nhận tội "giết người" được chánh án cúi đầu tạ lỗi
Cảnh sát cũng bị oan
Vụ án “Du Peiwu giết vợ” cho thấy khía cạnh “công bằng” trong các án oan ở Trung Quốc: ai cũng có thể bị dùng nhục hình, bức cung, cho dù đó từng là một cảnh sát.
Tháng 4/1998, nữ cảnh sát Wang Xiaoxiang, vợ của Du Peiwu và một đồng nghiệp nam bị bắn chết trong một chiếc xe hơi. Du Peiwu, khi đó là sỹ quan tại một trung tâm cai nghiện ma túy ở thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam đã bị bắt giữ vì bị coi là nghi phạm chính, giết vợ vì ghen tuông.
Ngày 5/2/1999, Tòa án trung cấp thành phố Côn Minh xử Du Peiwu tội giết người với mức án tử hình được hoãn thi hành 2 năm.
Hơn 1 năm sau đó, tháng 6/2000, cảnh sát Vân Nam phá được một băng nhóm tội phạm chuyên ăn cắp xe hơi. Trong quá trình xét hỏi, một tên trong nhóm thú nhận y mới là thủ phạm giết hại vợ Du Peiwu và đồng nghiệp.
Khám nhà tên này, cảnh sát đã tìm thấy khẩu súng lục của nạn nhân, cũng chính là hung khí giết người chưa được tìm thấy trong vụ án năm 1998. Với chứng cứ mới này, Ủy ban nhân dân thành phố Côn Minh đã yêu cầu cảnh sát, Viện kiểm soát và Toà án cùng phối hợp điều tra lại vụ án. Ngày 11/7/2000, Tòa án nhân dân tỉnh Vân Nam tuyên bố Du Peiwu vô tội.
Bị chính đồng nghiệp tra tấn
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao Du Peiwu lại nhận tội, dù rằng là người trong ngành, anh chắc chắn hiểu rõ sau việc nhận tội giết người là án tử? Vả lại, khi mới bị bắt, Du đã cương quyết phủ nhận mọi cáo buộc, thì sao sau đó lại “sốt sắng” nhận tội?
Vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang đã gây chấn động dư luận Việt Nam những ngày qua. Trên thế giới, cũng từng có những án oan tày đình như vậy. Dù địa điểm, tính chất có thể khác nhau, nhưng sự khổ đau, mất mát không gì bù đắp nổi mà nó gây ra cho những người chịu oan ức thì lại rất giống nhau.
Đó cũng là nội dung chính mà chúng tôi muốn gửi tới bạn đọc qua loạt bài BỨC CUNG, NHỤC HÌNH VÀ NHỮNG VỤ ÁN OAN CHẤN ĐỘNG THẾ GIỚI.
Sau này, khi kể lại với công ty luật bảo vệ cho anh, Du Peiwu nói: “Từ 30/6 đến 19/7, liên tục 21 ngày đêm tôi bị tra tấn cho tới khi thể chất và tinh thần không thể chịu đựng được nữa. Rất nhiều chi tiết mà tôi không muốn nói ra ở đây. Chỉ biết khi ấy tôi không muốn sống thêm chút nào nữa và quyết định sẽ chết đi càng sớm càng tốt. Để làm điều đó, tôi đã nhận tội với điều tra viên và bịa ra câu chuyện tôi đã thực hiện hành vi giết người như thế nào”.
Hồ sơ điều tra lại cho thấy, hai điều tra viên chính được giao thẩm vấn Du Peiwu đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn bức cung tàn bạo với chính đồng nghiệp cũ của mình. Ngoài việc không cho ngủ (một kiểu tra tấn được áp dụng với hầu hết các phạm nhân “cứng đầu” không chịu nhận tội), hai người này còn trực tiếp đấm đá Du trong tất cả các buổi lấy cung. Thậm chí khi đã mệt, họ còn sai các cảnh sát khác đấm đá giúp.
Một “kỹ thuật” lấy lời khai khác là cho Du Peiwu đứng trên ghế đẩu và trói hai tay anh lên song cửa rồi liên tục đá chiếc ghế để cơ thể anh treo lơ lửng. Đến khi Du Peiwu không thể chịu được nữa, phải thốt lên những tiếng kêu đau đớn thì các điều tra viên này lấy giẻ bịt miệng lại rồi bắt anh quỳ xuống sàn nhà và đánh anh bằng dùi cui điện.
"Kiềng 3 chân" siết cổ người oan ức
Khi ra tòa lần thứ nhất, Du Peiwu đã cởi bỏ áo ngoài để cho mọi người thấy rõ các vết thương, dấu tích của những vụ tra tấn đau đớn trong trại tạm giam. Nhưng thẩm phán đã phớt lờ lời cầu cứu của anh.
Sang phiên xét xử thứ hai, Du Peiwu bí mật giấu được một chiếc áo sơ mi đẫm máu mang tới tòa bằng cách quấn nó quanh hông. Anh đưa nó cho thẩm phán, nhưng vị này buộc anh phải cởi ra và đề nghị chấp hành viên mang đi mà không thèm kiểm tra bất cứ dấu vết nào. Sau phiên toà, Du Peiwu liên tục đòi trả lại chiếc áo sơ mi làm vật chứng nhưng lời cuối cùng của tòa án dành cho anh là “nó đã bị đốt”. Tuyệt vọng, Du Peiwu đã nhận tội trước tòa và xin được chết.
Du Peiwu trên giường bệnh, sau một thời gian dài điều trị các thương tích, di chứng của các trận bức cung bằng nhục hình
Du Peiwu trên giường bệnh, sau một thời gian dài điều trị các thương tích, di chứng của các trận bức cung bằng nhục hình
Điều gì đã khiến những vụ án như của Du Peiwu thường xuyên xảy ra tại Trung Quốc? Và điều gì đã khiến cả một hệ thống, từ cảnh sát tới tòa án đồng lòng với nhau để buộc vào cổ một con người vốn không có tư thù cá nhân gì với họ, tội giết người?
Theo Phó giáo sư Huang Shiyuan, Đại học Sơn Đông thì “Tại Trung Quốc, sau mỗi vụ án lớn được giải quyết, những người tham gia thường sẽ được tặng thưởng và thăng chức. Chính vì động cơ cũng như áp lực này, các điều tra viên thường dùng hình thức tra tấn để buộc nghi phạm phải thú tội”.
Trong khi đó, tiến sỹ luật Jiang Na, Đại học sư phạm Bắc Kinh cho rằng: “Các vụ án oan xét cho cùng là kết quả của việc cảnh sát, viện kiểm soát, tòa án mong muốn đặt được tỷ lệ xét xử cao. Ba cơ quan được ví như “kiềng 3 chân” này thường thà “kết án oan người vô tội còn hơn bỏ sót”.
Trở lại vụ án của Du Peiwu, tháng 8/2001, hai điều tra viên trực tiếp tham gia tra tấn Du Peiwu đã bị ra tòa và nhận mức án từ 12-18 tháng tù treo.
Sau 26 tháng ngồi tù với biết bao cay đắng, Du Peiwu đã được trả tự do và được chính quyền địa phương bồi thường bằng tiền mặt. Nhưng cũng kể từ ngày được hưởng tự do trở lại, Du Peiwu liên tục phải chịu đựng những cơn đau đầu khủng khiếp. Bác sỹ cho biết não anh đã bị tổn thương nghiêm trọng.

BỐN KỶ LỤC VỀ HIẾN PHÁP VIỆT NAM



Hiến pháp mới chỉ kéo Việt Nam xuống hố



VRNs (27.11.2013) – Washington DC – Việt Nam  chưa biết đi về đâu sau khi Hiến pháp 2013 được Quốc hội Khóa 13 chấp thuận ngày 28/11/2013 mà không có trưng cầu ý dân là hình ảnh tồi tệ lịch sử mà  500 Đại biểu của “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” phải mang theo suốt đời.
Đó  là hậu qủa của  hai năm nhà nước tiêu phí tiền bạc của dân từ 2011 để “bầy” ra các cuộc thảo luận “bánh vẽ dân chủ” giữa các tổ chức và cơ quan của đảng với vài cuộc họp của Quốc hội chưa bao giờ làm tròn nghĩa vụ  là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân”.
Được tiếp sức bằng lời  tự khoe của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã có 26 triệu lượt người dân góp ý với Hiến pháp mới, nhưng không đồng ý là chuyện người dân phải tuyệt đối tránh để an thân, Hiến pháp có chủ tâm  “diệt dân chủ để duy trì  độc tài”  đã đạt mục đích bảo đảm cho đảng Cộng sản Việt Nam được tiếp tục  “lãnh đạo nhà nước và xã hội”  bằng mọi gía mà không cần biết có thuận lòng dân hay không.
Ông  Nguyễn Sinh Hùng đã tự an ủi cho hành động “một chiều” của Quốc hội rằng: “Chúng ta đã làm việc với một tinh thần trách nhiệm rất cao…Chúng tôi làm việc với tinh thần rất cần mẫn, rất khiêm tốn và rất cầu thị để tiếp thu cho được tinh hoa trí tuệ của nhân dân.”
Nhưng thế nào là “tinh hoa trí tuệ của nhân dân”  khi  những ý kiến không hợp lòng đảng, khuyên đảng từ bỏ độc quyền lãnh đạo, bỏ lấy Chủ nghĩa phá sản Cộng sản làm nền tảng xây dựng đất nước để xây dựng một nhà nước thật sự của dân qua lá phiếu bầu cự tự do đã bị lên án là hành động chống đảng, chống nhà nước của các “thế lực thù địch” ?
Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã tự dối lòng mình khi tự đề cao những việc làm “dân chủ gỉa hiệu”  tại  Hội nghị Trung ương 8 từ ngày 30/9 đến ngày 9/10/2013: “Trong thời gian qua, chúng ta đã phát huy cao độ tinh thần dân chủ và ý thức trách nhiệm, động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia ý kiến xây dựng Hiến pháp; việc đóng góp ý kiến xây dựng Hiến pháp thực sự là đợt sinh hoạt chính trị-pháp lý dân chủ sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân và cả hệ thống chính trị…”.
Điều đáng bị lên án nhất đối với Quốc hội là trong suốt Kỷ họp 6, từ 21/10 đến 29/11/2013, họ đã không dám tổ chức các cuộc thảo luận dân chủ với nhân dân về bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, mặc dù đã nhận được Kiến nghị của nhóm 72 Trí thức và hàng ngàn người khác; của các Tổ chức Tôn giáo lớn gồm Công giáo, Giáo hội Phật Giáo Việt Nanm Thống Nhất, Phật giáo Hòa Hảo Thuần Túy, Tin Lành và hàng ngàn Công dân tự do.
Ngược lại Quốc hội đã đóng cửa bảo nhau làm theo chỉ thị của Bộ Chính trị bác bỏ tất cả mọi ý kiến  xây dựng một Hiến pháp dân chủ thật sự để mở ra một kỷ nguyên mới đòan kết tòan dân,  hòa hợp hòa giải dân tộc, đổi mới tư duy, chôn vùi qúa khứ chính trị độc quyền tù túng và  lỗi thời để đưa đất nước tiến lên hạnh phúc, phú cường cho tòan dân.
Nổi bật  của sự lệ thuộc vào đảng của Quốc hội  là không ai trong số 500 Đại biểu dám chống lại Điều 4 dành độc quyền lãnh đạo tòan diện cho đảng mà không do dân bầu, dù ai cũng biết như thế là trái với Khỏan 1, Điều 2 viết rằng: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.”
NHỮNG HẠN CHẾ VÀ VI PHẠM
Thứ hai, dù biết có nhiều điều viết mới đã cố tình hạn chế “Quyền con người, Quyền và Nghĩa vụ cơ bản của Công dân” , cho phép nhà nước “tự ý suy diễn” để cưỡng chế và “giải thích tùy tiện” để đàn áp nhưng Quốc hội vẫn đồng ý mà không hề  tham khảo với các chuyên viên về Nhân quyền, Pháp luật và Hiến pháp.
Tỷ dụ như  điểm 2 của Điều 14 viết rằng : “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”
Đến quyền của dân muốn thực thi những “quyền tự do căn bản” của mình thì lại bị hạn chế trong điểm 4 của Điều 15 : “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.”
Những ràng buộc mơ hồ này đã cho phép nhà nước được tự do hạn chế  các quyền của công dân để chà đạp nhân quyền theo cách biện giải vô trách nhiệm của mình mà vẫn không bị lên án vi phạm Hiến pháp.
Trong lĩnh vực Tôn giáo, Điều 24 viết :
1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.  
3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Nhưng trong thực tế các quyền này đã bị “hạn chế” và “kiểm soát tối đa” đến gần như “vô hiệu hóa”  Hiến pháp bởi Nghị đinh 92/2012/NĐ-CP về “Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 08/11/2012.
Nội dung Nghị định 92 quy định nhiều điều kiện nghiêm ngặt  nhằm kiểm soát các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng từ nhân sự đến quyền hành đạo, tu hành và truyền đạo.
Các mánh lới phá đạo được thi hành dưới nhiều hình thức bằng biện pháp hành chính và gây khó khăn cho tín đồ theo đạo qua việc ngăn cấm tổ chức các buổi lễ cầu nguyện bên ngoài những địa điểm cố định đã được cho phép.
Việc bổ nhiệm, thăng chức trong nội bộ Tôn giáo phải có phép, nhất là các bổ nhiệm, thăng chức có “yếu tố nước ngòai” như trường hợp quan hệ giữa Giáo hội Công giáo với Tòa thánh Vatican.
Đến các quyền tự do khác ghi trong Điều 25 (sửa đổi, bổ sung Điều 69 của Hiến pháp 1992) cũng chỉ ghi ra cho có lệ để đánh lừa Quốc tế. Điều này viết : “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”
Nhưng nhà nước lại cấm tư nhân ra báo và bắt buộc 800 tờ báo, 67 đài phát thanh-truyền hình của đảng và của các tổ chức đảng và 17,000 phóng viên phải phục vụ đảng và tuyên truyền cho chủ trương, chình sách của đảng.
Các cơ quan báo đài này từng được sử dụng để chống các quan điểm không phù hợp với lập trường của đảng như đã diễn ra trong thời gian tranh luận về Hiến pháp mới.
Như vậy thì Hiến pháp viết ra để phục vụ ai, ngòai đảng cầm quyền thì Bộ Luật cao nhất cùa quốc gia chỉ có lợi cho 3 triệu rưỡi đảng viên và các nhóm lợi ích ầm quyền. Nó không có bất cứ giá trị nào đối với số dân khổng lồ 87 triệu người còn lại.
Nhưng khi nhóm người thiểu số dùng quyền lực và võ lực để áp đặt và cưỡng chế  khối đa số phải thi hành Hiến pháp của họ thì hậu qủa tai hại đến với đất nước và người dân sẽ là điều tất yếu.
Hiến pháp mới đã tước bỏ quyền tư hữu đất đai của dân  để cho Nhà nước độc quyền “đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”  dù không có ủy thác của dân qua bất cừ hình thức nào.
Nền kinh tế quốc gia tuy mang danh nghĩa “nhiều hình thức sở hữu “ nhưng không  thuộc về tòan dân mà lại do do nhà nước “chủ đạo” để nắm dạ dầy của dân.
Nhưng không phải chỉ một mình  Quốc hội Khoá 13 mà cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Ban Chấp hành Trung ương đảng khoá XI cũng phải gánh chịu trách nhiệm lịch sử  về Hiến pháp không do dân quyết định.
Vì vậy nếu ngày 28/11/2013 được Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng coi là một “ngày đẹp” để thông qua Hiến pháp mới thì đằng sau vẻ đẹp ấy là những con mắt tuyệt vọng của hàng triệu người dân Việt Nam đang sống trong lo âu cho tiền đổ Tổ quốc. -/-

Phạm Trần
(11/013)

Toàn văn Hiến pháp (sửa đổi)


http://vov.vn/Chinh-tri/Toan-van-Hien-phap-sua-doi/294331.vov
VOV.VN -Hiến pháp được Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6, thông qua ngày 28/11/2013
HIẾN PHÁP
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  (SỬA ĐỔI)
LỜI NÓI ĐẦU
Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, Nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, đấu tranh anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam.

Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, Nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân. Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bằng ý chí và sức mạnh của toàn dân tộc, được sự giúp đỡ của bạn bè trên thế giới, Nhân dân ta đã giành chiến thắng vĩ đại trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội.  
Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
CHƯƠNG I
CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ
Điều 1
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.
Điều 2  
1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Điều 3  
Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Điều 4  
1. Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.
3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Điều 5  
1. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.
4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.
Điều 6  
Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.
Điều 7  
1. Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
2. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. 
Điều 8  
1. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.
2. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.
Điều 9  
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị – xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động.
Điều 10  
Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điều 11  
1. Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.
2. Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị.
Điều 12  
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Điều 13  
1. Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.
2. Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
3. Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài “Tiến quân ca”.
4. Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945.  
5. Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội.
CHƯƠNG II
QUYỀN CON NGƯỜI,
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

Điều 14  
1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Điều 15  
1. Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.
2. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác.
3. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.
4. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Điều 16  
1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Điều 17  
1. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.
2. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.
3. Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ.
Điều 18  
1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
2. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.
Điều 19  
Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.
Điều 20  
1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định.
3. Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm.
Điều 21  
1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.
Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.  
2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.
Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.
Điều 22  
1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.
2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.
3. Việc khám xét chỗ ở do luật định.
Điều 23  
Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.
Điều 24
1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.  
3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Điều 25  
Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.
Điều 26  
1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.
2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.
3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.
Điều 27  
Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.
Điều 28  
1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.
2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.
Điều 29   
Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.
Điều 30  
1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.
3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.
Điều 31  
1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.
3. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.
4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
5. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.
Điều 32  
1. Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác.  
2. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ.
3. Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường.
Điều 33  
Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Điều 34  
Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội.
Điều 35  
1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc.
2. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi.
3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.
Điều 36  
1. Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Điều 37  
1. Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.
2. Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.
3. Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Điều 38  
1. Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh.
2. Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng.
Điều 39  
Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập.
Điều 40  
Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó.
Điều 41  
Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa.  
Điều 42  
Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp.
Điều 43   
Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường. 
Điều 44  
Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc.
Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.
Điều 45  
1. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.
2. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân.  
Điều 46  
Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng.
Điều 47  
Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định.
Điều 48  
Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật Việt Nam.
Điều 49  
Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét cho cư trú.
CHƯƠNG III
KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA, GIÁO DỤC,                                                      KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG
Điều 50
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Điều 51  
1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.
3. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.
Điều 52  
Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường; thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước; thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân.
Điều 53  
Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.  
Điều 54  
1. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.  
2. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ.
3. Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật.
4. Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.  
Điều 55  
1. Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật.
2. Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trong đó ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm nhiệm vụ chi của quốc gia. Các khoản thu, chi ngân sách nhà nước phải được dự toán và do luật định.
3. Đơn vị tiền tệ quốc gia là Đồng Việt Nam. Nhà nước bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền quốc gia.
Điều 56  
Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế – xã hội và quản lý nhà nước.
Điều 57
1. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động.
2. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Điều 58  
1. Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
2. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
Điều 59  
1. Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước.
2. Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác.
3. Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở.
Điều 60  
1. Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
2. Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của Nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của Nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3. Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân.

Điều 61  
1. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý.
3. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề.
Điều 62  
1. Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
3. Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ.
Điều 63  
1. Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.
2. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo.  
3. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại.
CHƯƠNG IV
BẢO VỆ TỔ QUỐC
Điều 64  
Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân.
Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.
Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh.
Điều 65
Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.
Điều 66  
Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.  
Điều 67  
Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Điều 68   
Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách hậu phương quân đội; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sỹ, công nhân, viên chức phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc.
CHƯƠNG V
QUỐC HỘI
Điều 69  
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Điều 70  
Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;
2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
3. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;
4. Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;
5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia.
Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp;
8. Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
9. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật;
10. Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
11. Quyết định đại xá;
12. Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
13. Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;  
14. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và các điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội;
15. Quyết định trưng cầu ý dân.
Điều 71  
1. Nhiệm kỳ của mỗi khoá Quốc hội là năm năm.
2. Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong.
3. Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc kéo dài nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không được quá mười hai tháng, trừ trường hợp có chiến tranh.
Điều 72  
Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thực Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo công tác của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; tổ chức thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội.
Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch Quốc hội làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch.
Điều 73  
1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội.
2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên.
3. Số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định. Thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ.
4. Uỷ ban thường vụ Quốc hội của mỗi khoá Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu ra Uỷ ban thường vụ Quốc hội mới.
Điều 74  
Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì kỳ họp Quốc hội;
2. Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;
3. Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
4. Đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
5. Chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội;
6. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước;
7. Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhân dân;
8. Quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
9. Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong trường hợp Quốc hội không thể họp được và báo cáo Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;
10. Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
11. Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;
12. Phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
13. Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.
Điều 75  
1. Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Chủ tịch Hội đồng dân tộc do Quốc hội bầu; các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng dân tộc do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
2. Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
3. Chủ tịch Hội đồng dân tộc được mời tham dự phiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc. Khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hội đồng dân tộc.
4. Hội đồng dân tộc có những nhiệm vụ, quyền hạn khác như Uỷ ban của Quốc hội quy định tại khoản 2 Điều 76.
Điều 76  
1. Ủy ban của Quốc hội gồm Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên. Chủ nhiệm Ủy ban do Quốc hội bầu; các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
2. Ủy ban của Quốc hội thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án khác và báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủy ban.
3. Việc thành lập, giải thể Ủy ban do Quốc hội quyết định.
Điều 77  
1. Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội có quyền yêu cầu thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước và cá nhân hữu quan báo cáo, giải trình hoặc cung cấp tài liệu về những vấn đề cần thiết. Người được yêu cầu có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đó.
2. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời những kiến nghị của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội. 
Điều 78  
Khi cần thiết, Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định.
Điều 79  
1. Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước.
2. Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của Quốc hội; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.
3. Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật. 
Điều 80  
1. Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước.
2. Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường hợp cần thiết, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho trả lời bằng văn bản.
3. Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định.
Điều 81  
Không được bắt, giam giữ, khởi tố đại biểu Quốc hội nếu không có sự đồng ý của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; trong trường hợp đại biểu Quốc hội phạm tội quả tang mà bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Điều 82  
1. Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đại biểu; có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội.
2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu.
3. Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội.
Điều 83  
1. Quốc hội họp công khai. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội quyết định họp kín.
2. Quốc hội họp mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp bất thường. Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu tập kỳ họp Quốc hội.
3. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch Quốc hội.
Điều 84  
1. Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2. Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật, pháp lệnh và dự án luật, dự án pháp lệnh trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Điều 85  
1. Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; trường hợp làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, quyết định rút ngắn hay kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội, bãi nhiệm đại biểu Quốc hội phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.
 Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành.
2. Luật, pháp lệnh phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày được thông qua, trừ trường hợp Chủ tịch nước đề nghị xem xét lại pháp lệnh.
CHƯƠNG VI
CHỦ TỊCH NƯỚC
Điều 86  
Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.
Điều 87  
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội.
Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu ra Chủ tịch nước.
Điều 88  
Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;
2. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;
3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội công bố quyết định đại xá;
4. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam;
5. Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;  
6. Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước. 
Điều 89  
1. Hội đồng quốc phòng và an ninh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn.
Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.
2. Hội đồng quốc phòng và an ninh trình Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh, trường hợp Quốc hội không thể họp được thì trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định; động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao trong trường hợp có chiến tranh; quyết định việc lực lượng vũ trang tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.
Điều 90  
Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, phiên họp của Chính phủ.
Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước.
Điều 91  
Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 92  
Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.
Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch nước uỷ nhiệm thay Chủ tịch nước thực hiện một số nhiệm vụ.

Điều 93  
Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong thời gian dài thì Phó Chủ tịch nước giữ quyền Chủ tịch nước.
Trong trường hợp khuyết Chủ tịch nước thì Phó Chủ tịch nước giữ quyền Chủ tịch nước cho đến khi Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước mới.
CHƯƠNG VII
CHÍNH PHỦ
Điều 94  
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Điều 95  
1. Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quy định.
Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.
2. Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
3. Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về nhiệm vụ được phân công. Khi Thủ tướng Chính phủ vắng mặt, một Phó Thủ tướng Chính phủ được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt Thủ tướng lãnh đạo công tác của Chính phủ.
4. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ.
Điều 96  
Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
2. Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện  nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này; trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội;  
3. Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân;
4. Trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
5. Thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; thực hiện quản lý về cán bộ, công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật định;
6. Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;
7. Tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
8. Phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị – xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 97
Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới thành lập Chính phủ mới.
Điều 98  
Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội.
Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Lãnh đạo công tác của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật;
2. Lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia;
3. Trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng, chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
4. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ;
5. Quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
6. Thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
Điều 99  
1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, lãnh đạo công tác của bộ, cơ quan ngang bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc.
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ báo cáo công tác trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý.
Điều 100  
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật.
Điều 101
Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội được mời tham dự phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan.
CHƯƠNG VIII
TÒA ÁN NHÂN DÂN, VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Điều 102  
1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
2.  Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.
3. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Điều 103  
1. Việc xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
2. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.
3. Toà án nhân dân xét xử công khai. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín.
4. Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
5. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.
6. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.
7. Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm.  
Điều 104   
1. Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác, trừ trường hợp do luật định.
3. Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.
Điều 105
1. Nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án khác do luật định.
2. Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Chế độ báo cáo công tác của Chánh án các Tòa án khác do luật định.
3. Việc bổ nhiệm, phê chuẩn, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Thẩm phán và việc bầu, nhiệm kỳ của Hội thẩm do luật định.
Điều 106  
Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Điều 107  
1. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
2. Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định.
3. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Điều 108  
1. Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác và của Kiểm sát viên do luật định.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Chế độ báo cáo công tác của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác do luật định.

Điều 109  
1. Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.
CHƯƠNG IX
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Điều 110  
1. Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương;
Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường.
Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.
2. Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục do luật định.
Điều 111  
1. Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định.
Điều 112  
1. Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương.
3. Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó.
Điều 113  
1. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
2. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Điều 114  
1. Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
2. Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.
Điều 115  
1. Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở địa phương; phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước.
2. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân. Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị ở địa phương. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu.
Điều 116  
1. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.
2. Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan.
CHƯƠNG X
HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA,                                                                     KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
Điều 117  
1. Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
2. Hội đồng bầu cử quốc gia gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên.
3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng bầu cử quốc gia và số lượng thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia do luật định.
Điều 118  
1. Kiểm toán Nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.
2. Tổng Kiểm toán Nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán Nhà nước, do Quốc hội bầu. Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán Nhà nước do luật định.
Tổng Kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.
3. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Kiểm toán Nhà nước do luật định.
CHƯƠNG XI
HIỆU LỰC CỦA HIẾN PHÁP VÀ VIỆC SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
Điều 119  
1. Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất.
Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.
Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý.
2. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định.
Điều 120  
1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.
2. Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp. Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
3. Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp.
4. Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định.
5. Thời hạn công bố, thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp do Quốc hội quyết định.
 Hiến pháp này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6, thông qua ngày 28 tháng 11  năm 2013. 
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
 Nguyễn Sinh Hùng

Chúng ta chọn tương lai

Trần Quốc Việt (Danlambao) - Hôm nay một con dấu mới đóng xuống số phận của hàng triệu người Việt Nam. Một chương nô lệ mới trong sách lịch sử Việt Nam bắt đầu. Đối với nhiều người còn ấp ủ chút ảo tưởng trong lòng ánh sáng hy vọng cuối cùng đã tắt cuối đường hầm ảo vọng. Hiến pháp được thông qua hôm nay là dải khăn tang mới thay thế cho dải khăn tang cũ đã hoen ố và nặng mùi quấn quanh những mái đầu xanh vô tội của thế hệ trẻ hôm nay và ngày mai. 
Thử hình dung tương lai bắt đầu từ ngày mai. Điều tốt nhất là thực trạng ngày càng tệ hơn. Điều xấu nhất là Việt Nam bị Hán hóa nhanh hơn và toàn diện hơn để cuối cùng cả nước là hồn Trung Quốc da Việt Nam. Hay nói một cách hình ảnh, "nếu ta muốn hình dung tương lai, hãy tưởng tượng chiếc giày ống đạp vào mặt người - mãi mãi." (1) Cách đây không lâu cảnh đạp mặt như thế đã xảy ra đối với một người yêu nước. Vì vậy tương lai là điều ta có thể hình dung được.
Họ bám vào quyền lực bằng mọi giá dưới lớp son phấn nhòe nhoẹt của một hiến pháp viết bằng nước, dưới mùi mốc meo của một ý thức hệ xa xưa như những mẩu xương còn sót lại của loài khủng long, và dưới bóng lăng của một tử thi nằm ngay giữa thủ đô-phòng khách của quốc gia. 
Nhà văn Anh George Orwell cho rằng quyền lực của người này được khẳng định qua sự đau khổ của người khác. Nỗi đau khổ của nhiều tầng lớp dân chúng tăng lên theo tỷ lệ thuận với quyền lực của đảng. Và quyền lực ấy hôm nay được họ tự ý gia hạn lần nữa trên lưng của người Việt Nam. 
Lời đáp để thoát ra cái bẩy của tương lai luôn luôn xuất phát từ chúng ta - những người run rẩy không có quyền lực ở dưới đáy. Chúng ta còn tệ hơn những kẻ hèn nhát vì hèn nhát hôm nay có thể thăng hoa thành can đảm ngày mai. Nhưng thái độ và tâm hồn nô lệ trong nhiều người chúng ta là những xiềng xích vô hình nặng nề nhất ghìm chặc ta trong cảnh nô lệ tinh thần qua nhiều thế hệ. 
Chúng ta phải nối kết với nhau để giúp nhau chặt đứt những mắt xích ấy trong lòng những cá nhân chúng ta. Được như thế, từ đấy hy vọng hồi sinh, tuyệt vọng biến mất, can đảm tăng lên trong lòng mỗi người còn tha thiết với tương lai của quê hương. 
Chỉ có chúng ta mới chọn lựa được tương lai cho mình. Tương lai của những chiếc giày thi nhau đạp vào mặt người hay tương lai của những nụ cười tươi trên môi, trên mắt, và trong lòng của những người con nước Việt? 
____________________________________
(1) Trích từ tác phẩm "1984" của nhà văn Anh George Orwell.

BỐN KỶ LỤC VỀ HIẾN PHÁP VIỆT NAM


Bài đọc liên quan:
+ Nhân trị hay vi hiến pháp trị?
+ Hiến pháp và thực tế Việt Nam
+ Hiến pháp, tên nước và chiếc mặt nạ của thể chế chính trị

Biểu quyết hiến pháp sửa đổi 1992 diễn ra sáng hôm nay có 4 kỷ lục thế giới đáng để quan tâm, và sẽ đi vào lịch sử dân tộc, dù tương lai đất nước này có như thế nào. Nên phải ghi ra đây để cho hậu thế.

Kỷ lục thứ nhất là, đúng 9h53' hôm nay có 488 đại biếu quốc hội, chiếm 97,99% tham gia bấm nút biểu quyết hiến pháp 1992 sửa đổi chỉ trong 9". Một kỷ lục biểu quyết có thể ghi vào Guinness toàn cầu.

Kết thúc biểu quyết chỉ có 2 người không biểu quyết. Với tỷ lệ 97.59% tán thành hiến pháp sửa đổi, không có ai không tán thành, chỉ có 2 người không biểu quyết. Một kết quả đồng thuận cao mà không có bất kỳ một tổ chức của chính quyền lập pháp nào trên thế giới có thể đồng thuận cao như thế. Một kỷ lục Guinness thứ hai.

Ngay cả Hoa Kỳ, hay bất cứ quốc gia văn minh trên thế giới nào cũng không thể có con số trong mơ như thế này. Nó nói lên nhiều điều đáng phải suy nghĩ. Nhưng có một điều đáng để lo ngại là, sao lúc nào sự đồng thuận của các chính khách đều rất cao, mà tình hình xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa lại không được như biểu quyết?
Đây là thời khắc lịch sử của dân tộc. Hiến pháp Việt Nam thời đại mới thay đổi như thay áo. Vì sau chỉ 68 năm mà nước Việt có đến 5 hiến pháp khác nhau: 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Kỷ lục Guinness thứ 3 của một quốc gia non trẻ chỉ mới 68 năm thành lập mà thay đổi hiến pháp đến 5 lần. Trung bình 13 năm 7 tháng 06 ngày thì hiến pháp nước Việt thời đại mới thay đổi một lần.

Kỷ lục thứ tư và quan trọng nhất là, chưa bao giờ hiến pháp được tôn trọng bằng nghị quyết của đảng cầm quyền như ông tổng bí thư đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam đã tuyên bố. Thế thì, mất 40 ngày và trung bình mỗi ngày tiêu tốn 1 tỷ đồng để bàn định thay đổi hiến pháp để làm gì?
Khó cho nhà cầm quyền, đất nước và dân tộc Việt thật. (BS HH)