Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

Tin Chủ Nhật, 03-03-2013 - update

CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
- Cưỡng chế đất ở huyện Chương Mỹ – Hà Nội (RFA). “Bắt người mà lại không có lý do gì. 6 người này không đánh lại, không chửi bới, không gì cả. Họ cứ đứng trên ruộng nhà mình thì bị đánh”.
- Về một vài định kiến tai hại (Nguyễn Đắc Kiên). “Các bạn phải khẳng định rõ ràng, chúng tôi không phản động. Chúng tôi khác biệt, đối lập với ĐCS VN, nhưng không phản động. Khi điều này được xác quyết thì cách đặt vấn đề tự nhiên cũng sẽ khác đi. Khi đó tất cả sẽ đặt trong một trạng huống đối thoại sòng phẳng, không có chỗ cho sự phỉ báng, hằn học, quy chụp nặng nề của tất cả các bên”. – Xúc động sau khi đọc qua thư ngỏ của Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên (DĐCN).
- Lê Văn Phát – Vào Đảng để làm gì? (Dân Luận). “Không ít người đua nhau ‘tìm cách chui vào Đảng’ đã biến Đảng thành cái cầu thang để bước lên con đường danh vọng mưu vinh thân, phì gia. Khi người có động cơ vào Đảng chỉ vì lợi ích của mình, thì sẽ dẫn họ đến tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, không vì nhân dân, không vì lợi ích của đất nước, dân tộc mà hành động”.
- Thái Hiền – Hội chứng tâm thần và Hiệu ứng Domino (Dân Luận). “Không phải ngẫu nhiên hay vô cớ mà ông Trọng có biểu hiện tâm thần mất kiểm soát như thế đâu. Chẳng phải riêng ông. Điểm lại một loạt bài phát biểu, đăng Đàn gần đây của các phát ngôn viên thuộc bộ máy Tuyên truyền cộng sản đều có biểu hiện tương tự… Hết ông nọ bị ném đá, đến ông kia bị chửi rủa bị phỉ báng như nhưng quân bài Domino đổ hàng loạt chứ không phải riêng ông. Theo hiệu ứng Domino, sắp tới sẽ còn tiếp tục ngã nữa cho đến quân bài cuối cùng thì sụp đổ hoàn toàn”.
- NGU và THAM (“còm sĩ blog BS/ NLG).
- Giới thiệu sách: Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào? (BS).
- Đoàn tàu xã hội chủ nghĩa (BVN/ Nguyễn Tường Thụy).
- Thách thức mới cho lãnh đạo mới ở Trung Quốc (TT). – “Quái vật” tham nhũng và những nạn nhân – Kỳ 4: Những khoản “thuế” không tên (TT).
KINH TẾ
- Tản mạn đầu Xuân: Câu chuyện kinh tế Việt Nam – Phần I (Nguyễn Đại Hoàng) (Anh Vũ).
VĂN HÓA-THỂ THAO
- Truyện ngắn: ÔNG GIÁO LẬP DỊ (Thái Bá Tân).
- Kỳ Duyên: Tầm xuân ơi… (Hiệu Minh).
- ĐỜN DỪA (Bùi Văn Bồng).
- Không biết? (SGGP).
GIÁO DỤC-KHOA HỌC
XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG
QUỐC TẾ
- Tượng ‘Bà đầm thép’ : Người muốn, người không (TP).

Cưỡng chế đất ở huyện Chương Mỹ - Hà Nội

cuong-che-chuong-my-305.jpg
Lực lượng cưỡng chế đất huyện Chương Mỹ - Hà Nội vào lúc 8 giờ sáng ngày 21/2/2013.
Photo courtesy of Lê Hiền Đức's blog


Cho đến nay người thân trong gia đình vẫn không được gặp mặt kể từ sau ngày họ bị bắt giữ. Nguyên nhân nào họ bị tạm giam và số phận của họ sẽ ra sao?

Diễn biến

Vụ cưỡng chế ở xã Văn Võ diễn ra không bao lâu sau ngày Tết Nguyên Đán Quý Tỵ, vào lúc 8 giờ sáng ngày 21/2/2013.
Lực lượng cưỡng chế ngày hôm đó gồm có Chủ tịch và Phó Chủ tịch xã, lực lượng xã đội, dân quân và an ninh xã cùng với 4,5 công an huyện Chương Mỹ. Những nông dân trong số 31 hộ bị lấy đất có mặt để phản đối việc cưỡng chế của chính quyền địa phương. Trước sự có mặt của người dân, có thêm 10 công an huyện và xe thùng được điều động đến hiện trường.
Đến khoảng 11 giờ trưa cùng ngày, 6 người phụ nữ bị bắt tạm giam ở đồn công an huyện Chương Mỹ. Tên của 6 người phụ nữ này là Đỗ Thị Yên, Nguyễn Thị Lẫng, Nguyễn Thị Vân, Phan Thị Huấn và có 2 phụ nữ trùng tên là Nguyễn Thị Thanh. Cô Hoa, một người có mặt tại hiện trường cưỡng chế đất, kể lại với đài ACTD là thân phụ của cô bị trói 2 tay và ông vụt bỏ chạy được. Tuy nhiên, có 3 người phụ nữ trong gia đình cô bị bắt giam và cho đến nay gia đình vẫn không được gặp mặt. Cô Hoa nói:
Bắt người mà lại không có lý do gì. 6 người này không đánh lại, không chửi bới, không gì cả. Họ cứ đứng trên ruộng nhà mình thì bị đánh.
Cô Hoa
“Bắt người mà lại không có lý do gì. 6 người này không đánh lại, không chửi bới, không gì cả. Họ cứ đứng trên ruộng nhà mình thì bị đánh. Có người phải tụt quần ra để giữ ruộng của mình. Cuối cùng bị đánh chảy máu mồm và bị đưa lên xe chở đi. Cho đến nay là không cho gặp được lần nào. Chỉ có mỗi hôm đầu là cho gặp thôi”.
6 người phụ nữ bị bắt giữ vào hôm 21/ 2 nhưng đến ngày 27/2 gia đình mới nhận được giấy thông báo bắt người phạm tội “chống người thi hành công vụ” do Thiếu tá Trần Trí Dũng ký ngày 22/2. Cô Hoa chia sẻ rằng gia đình cô nhận được thông báo là người thân của mình có thể bị truy tố ngồi tù từ 1 đến 2 năm do vi phạm điều luật 257 của Bộ luật hình sự. Các gia đình có thân nhân đang bị tạm giam làm đơn xin thả người nhưng đại diện của cơ quan công quyền trả lời rằng họ không thể giải quyết vì cấp trên đi vắng.

Huyện xã thông đồng

cuong-che-chuong-my-200.jpg
Giấy thông báo bắt 6 người phụ nữ phạm tội “chống người thi hành công vụ”. Photo courtesy of Lê Hiền Đức's blog.
Trả lời câu hỏi của đài chúng tôi vào sáng ngày 1/3 rằng người dân phản ánh chính quyền địa phương bắt giữ người trái phép, Phó chủ tịch UBND huyện Chương Mỹ, ông Nguyễn Văn Doanh cho biết: “Ở đây chúng tôi đang thực hiện “Dồn điền đổi thửa” chuyển đổi cây trồng vật nuôi. Bây giờ dân đã bàn, đã họp, đã nhận đất phần trăm theo quy hoạch “Dồn điền đổi thửa”. Chỉ là dồn lại để mỗi người có 1,2 thửa. Diện tích đấy đưa vào các đối tượng chính sách để mỗi gia đình có 1 thửa. Tức là ruộng nhiều, đến 8,9, 10 mảnh bây giờ làm thành ra từ 1 đến 2 thửa thôi.
Hiện nay, các hộ này đã nhận ruộng rồi thế nhưng mà vẫn cố tình ra khi người ta giao ruộng cho các gia đình chính sách. Ra đấy rồi giật dây, rồi thì ngăn cản chống người thi hành công vụ, rồi còn cởi quần áo ra chửi bới. Lực lượng an ninh người ta tạm giữ đưa về công an huyện chứ có gì đâu”.
Trong khi Phó Chủ tịch huyện Chương Mỹ nói là người dân đã được mời họp, bàn thảo và đồng ý với đề án “Dồn điền đổi thửa” cũng như đã nhận đất phần trăm rồi, tuy nhiên các hộ nông dân trong xã Văn Võ cho biết vụ việc diễn ra hoàn toàn trái lại. Ông Nguyễn Văn Độ bị lấy 379 mét vuông trên phần đất của mình đồng thời cũng bị lấy luôn 292 mét vuông mà gia đình ông vừa mua được. Ông Độ trình bày sự việc diễn ra như sau:
“Từ trước đến nay, 7 lần xuống xã hỏi thì các ông hoàn toàn không nói gì đến đất phần trăm. Tầm độ khoảng đầu tháng 12, các ông chỉ thông báo về nhà văn hóa xóm là đất phần trăm lấy ra, không gửi văn bản gì hết, chỉ thông báo mồm trước cuộc họp.
Họ nhận đơn và viết giấy cho, nói rằng mang về xã xin ký vào nhưng xã không ký”.
Ô.Nguyễn Văn Độ
31 hộ này không đồng ý để lấy ra chia cho các người đấy và ruộng đất phần trăm của chúng tôi họ điều lung tung ghép vào các khẩu ngoài đồng sâu, toàn những ruộng nơi không ra gì. Chúng tôi ra Hà Nội ở đường Lý Thái Tổ, đưa đơn cầu cứu ra ngoài đó. Người ta viết cho giấy điều về văn phòng ở Hà Đông trên đường Hoàng Diệu. Ở đây người ta viết tiếp cho một giấy. Giấy ở thành phố và giấy ở đấy luôn. Họ nhận đơn và viết giấy cho, nói rằng mang về xã xin ký vào nhưng xã không ký”.
Các hộ dân ở xã Văn Võ bị cưỡng chế đất vào ngày 21/2 mà không nhận được bất kỳ một thông báo nào. Tương tự, tại thôn Trung Vực vào ngày 22 và 26/2, chính quyền địa phương cho máy bừa đến bừa ruộng của người dân. Hàng ngàn người có mặt để phản đối và có 4 nông dân bị bắt giữ.
Vụ việc tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn trong vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng vẫn chưa có hồi kết. Hình ảnh lỏa thể giữ đất của 2 mẹ con trong một vụ cưỡng chế đất ở Cần Thơ vẫn còn gây bàng hoàng, bức xúc cho nhiều người.
Trong các vụ cưỡng chế đất mới vừa xảy ra ở huyện Chương Mỹ, trước pháp luật lẽ phải có thể sẽ nghiêng về phía các cơ quan công quyền địa phương, nơi đại diện cho tiếng nói của người dân nhưng với công luận lời phân trần chân tình của những nông dân nơi đây “Huyện và xã thông đồng với nhau rồi, tham ô cố tình lấy đất. Bây giờ người ta đút lót hết rồi thế thì mình biết làm đơn ở đâu?” lại tạo nên niềm tin về một sự thật bất công đang diễn ra trên mảnh đất mà họ không có thực quyền.

Nguyễn Đắc Kiên - Về một vài định kiến tai hại

(TTHN bình luận) - Đọc bài này mới thấy ông Nguyễn Đắc Kiên cực kỳ ngây thơ trong chính trị, nếu như không phải ông ta cố tình, khi ông đặt câu hỏi "Nói xấu Đảng và Nhà nước là phản động à?" trong lúc ông đang sống trong XH cộng sản. Đấu tranh không có nghĩa là sẵn sàng hy sinh bằng mọi giá, mà phải là tồn tại bằng mọi giá để đấu tranh, mong ông Kiên nhớ lấy.
Mỗi người chúng ta sinh ra ở trên đời là một sinh thể tự do. Mẹ cha – quê hương cho ta lời ru – giọng nói, nuôi dạy chúng ta khôn lớn, trưởng thành. Chúng ta có đi gây thù chuốc oán với ai đâu, mà sao lúc nào cũng “phải hỏi bạn thù, phải lo diễn biến”?
Mấy ngày qua, tôi phải giải thích cho một số bạn về hai chữ “phản động”. Thế nào là phản động? Nói xấu “Đảng và Nhà nước” là phản động à? Vậy hàng trăm báo, đài trong nước, rồi cả một số vị lãnh đạo của ĐCS cũng luôn miệng gọi các đài, báo nước ngoài là “phản động” thì không phải là nói xấu, là miệt thị họ đó sao?
Vậy ai mới là phản động?
Không ai cả. Tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta cần suy nghĩ lại để thay đổi một vài nhận thức đã thành xưa cũ. “Phản động” là một trong số đó. Theo suy nghĩ của tôi, không có ai là phản động cả trong các trường hợp kể trên. Chỉ có những ý kiến khác biệt, thậm chí đối nghịch. Đó là lẽ thường. Chỉ có các nhóm, các đảng phái khác biệt, thậm chí đối lập. Đó cũng là lẽ thường.
Tôi coi ĐCS Việt Nam cũng như mọi đảng phái chính trị khác đã, đang và sẽ tồn tại trên đất nước Việt Nam. Tôi coi mọi đài, báo nước ngoài, như mọi đài, báo ở Việt Nam. Tôi nhìn nhận sự khác biệt về quan điểm nếu có của các đài, báo này như một lẽ thường tình. Không đài, báo nào là phản động cả.
Tôi cho rằng, muốn tất cả ngồi lại được với nhau, để cùng đối thoại thì đầu tiên phải xoá bỏ những rào cản nhận thức, như với hai chữ “phản động” bàn ở đây. Mọi người dân cần được giải thích rõ để hiểu rằng, không có ai là phản động cả. Nhưng trước tiên, tôi cho rằng, các nhà hoạt động dân chủ trong và ngoài nước phải đi đầu trong việc xoá bỏ nhận thức này. Các bạn phải khẳng định rõ ràng, chúng tôi không phản động. Chúng tôi khác biệt, đối lập với ĐCS VN, nhưng không phản động.
Khi điều này được xác quyết thì cách đặt vấn đề tự nhiên cũng sẽ khác đi. Khi đó tất cả sẽ đặt trong một trạng huống đối thoại sòng phẳng, không có chỗ cho sự phỉ báng, hằn học, quy chụp nặng nề của tất cả các bên.
Danh sách những người ký vào Bản Tuyên bố Công dân Tự do chẳng nhẽ không nói cho chúng ta điều gì sao?
Bản tuyên bố đâu có lời lẽ nào là tố cáo, là phỉ báng, là hằn học với ĐCS VN đâu? Ấy thế mà từ chị nội trợ, đến anh kỹ sư, từ bác giáo sư, đến cô bác sỹ… đều nhất loạt ký vào. Trong số 2.100 người ký tính đến tối 2/3, người Việt ở nước ngoài chiếm đa số tuyệt đối. Đấy chẳng phải là chỉ dấu cho mong muốn xoá bỏ hận thù, tức giận? Chẳng phải là chỉ dấu cho thấy người Việt ở khắp nơi đang mong mỏi cho một cuộc hoà hợp dân tộc nay mai hay sao?
Vì vậy, tôi kêu gọi tất cả mọi người Việt nam, ở trong hay ngoài nước, hãy xóa bỏ hết đi trong suy nghĩ của mình, nào là “phản động”, nào là “diễn biến hòa bình”, “thế lực thù địch”… Những thứ đó không đáng để tồn tại như một nỗi ám ảnh với một dân tộc yêu chuộng hòa bình và tự do như dân tộc Việt Nam.
Thân mến,
Nguyễn Đắc Kiên
(Blog Nguyễn Đắc Kiên)

TS Nguyễn Quang A - Vì sao Chính phủ có chính sách tồi?

TS Nguyễn Quang A
Chính sách tốt thúc đẩy sự phát triển, chính sách tồi gây tác hại lớn. Vì thế, nâng cao chất lượng chính sách là vấn đề hệ trọng.
Một công cụ để nâng cao chất lượng chính sách hay giảm bớt chính sách tồi là RIA (Regulatory Impact Analysis [Assessment] - Phân tích [Đánh giá] Tác động Điều tiết). Chính sách thường được thể hiện qua các quy chế điều tiết như luật, nghị định, thông tư vân vân.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định 24/2009/NĐ-CP dùng cụm từ "báo cáo đánh giá tác động" để chỉ RIA. Kết quả cuối cùng của mỗi giai đoạn hình thành chính sách cần có một báo cáo tác động và vào cuối giai đoạn RIA đúng là một bản báo cáo. Nhưng từ "báo cáo" không lột tả quá trình đánh giá mà chỉ mô tả văn bản thể hiện kết quả của giai đoạn đó, trong khi RIA là một quá trình đánh giá hay phân tích tác động.
Khoản 2 Điều 33 của Luật trên buộc cơ quan chủ trì soạn thảo phải "tổ chức đánh giá tác động và xây dựng báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản. Nội dung của báo cáo đánh giá tác động phải nêu rõ các vấn đề cần giải quyết và các giải pháp đối với từng vấn đề đó; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp". Luật nhắc 12 lần đến "báo cáo đánh giá tác động", còn Nghị định 24 nhắc đến 19 lần.
Nói cách khác, đã có quy định khá đầy đủ buộc những người soạn thảo phải tự mình tiến hành quá trình RIA và mỗi giai đoạn phải có báo cáo đánh giá. Vấn đề cốt lõi của quá trình này là phải xác định vấn đề là gì? Xác định đúng vấn đề cần giải quyết là một nửa của thành công. Xác định sai vấn đề thì không những tốn công vô ích mà chính sách đề ra có thể gây hậu quả khôn lường. Sau một giai đoạn kết quả có thể là: a) không cần phải làm gì cả và dừng lại; hoặc b) xác định có vấn đề cần giải quyết và tiếp tục sang khâu tiếp theo.
Giai đoạn soạn dự thảo là giai đoạn gần cuối trước khi công bố dự thảo và báo cáo đánh giá tác động để lấy ý kiến của nhân dân. Đáng tiếc nhiều dự thảo còn không có báo cáo đánh giá tác động hay có nhưng sơ sài hoặc chỉ mang tính hình thức. Nói cách khác cơ quan soạn thảo đã không tuân thủ nghiêm túc luật.
Tại sao? Vì Chính phủ không có 1 cơ quan chuyên theo dõi, đôn đốc và gác cổng để buộc các cơ quan chủ trì phải thực hiện RIA một cách nghiêm túc. Chính vì thế mới xảy ra những sơ sót nực cười như "người có sáu ngón tay không được cấp bằng lái xe" hoặc "quy định xóa hộ khẩu" mà Bộ Công an phải rút lại trong dự thảo sửa đổi Luật Cư trú...
Đấy chỉ là hai thí dụ nhỏ về sự kỳ quặc của dự thảo mà lẽ ra không có nếu cơ quan chủ trì thực hiện nghiêm túc luật. Có những dự thảo tinh vi hơn, có thể gây hậu quả khôn lường như quy định cho phép chính quyền thu hồi đất vì mục đích kinh tế nêu trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Hiến pháp hiện hành không có quy định như vậy (chỉ quy định nhà nước được thu hồi đất vì các mục đích an ninh quốc phòng và lợi ích công cộng). Hợp hiến hóa việc thu hồi đất cho các dự án kinh tế sẽ làm dễ công việc của chính quyền, nhưng lại mở ra khả năng lạm dụng quyền lực gây tổn hại cho người dân nhất là nông dân.
Chính phủ nên có 1 tổ chuyên gia giám sát buộc các cơ quan nhà nước chủ trì phải làm đúng luật. Báo giới cũng cần lên tiếng để Chính phủ thực hiện như vậy. Việc quá dễ để nâng cao chất lượng chính sách, để bớt các chính sách tồi.

Nguyễn Quang A

(Dân Việt)

CHÚNG TA LÀ NHỮNG CON... CỪU

Để phục vụ con người, chính xác hơn là một... nhóm người, bởi có ai cũng được hưởng lợi từ cừu đâu?

Để được... vặt lông nữa.


Là mình liên tưởng thế khi sáng nay nằm nướng trong màn nhưng lại trơ trơ ráo hoảnh chứ không lim dim như mọi khi vì thấy bác gì ấy, làm gì ấy, cũng to to ấy, bảo việc thu phí ATM là đương nhiên, cho nó tiến kịp... nước ngoài. Chuyện thu phí ATM mình cà khịa rồi, không nói lại nữa (Ở ĐÂY).

Nói cái... lớn hơn.

Là bây giờ ấy, dân ta dường như là đang bị tận thu. Đến mức bác gì đấy đề xuất đánh thuế tiếp ai có trên 500 triệu gửi tiết kiệm. Mình thì chả bao giờ có số tiền như thế để gửi, nhưng nghe xong mà cũng muốn nổi xung. Mua vàng thì độc quyền, mua đô thì phạm pháp, giờ gửi tiết kiệm bị thêm lần thuế nữa, trong khi dân Việt keo kiệt và kỹ tính thì chỉ biết khư khư giữ tiền, vàng cho chắc chứ tung vốn làm ăn thời này nó tan hoang như các loại Vina thì khốn. Thế mà năm bảy tầng thuế như thế, ai mà chịu nổi. Hôm rồi cuối năm em kế toán cơ quan mình đưa cho mình tờ giấy nộp thuế thu nhập, mình phải cam kết là không hưởng lộc ở đâu nữa. Lương mình 6 triệu 1 tháng mà loay hoay thế nào mình lại được đóng thuế cao nhất cơ quan (vì mình không được miễn trừ gia cảnh). Trong khi mình có mã số thuế nhưng nhiều báo, để cho yên tâm, cứ trừ ngoén 20% NB của mình trước khi gửi cho mình. Giờ bảo mình tập hợp để hoàn, thôi, em xin kiếu. Các ông bà thuế giống hệt các đồng chí... vợ. Nộp hoặc thu thì dễ và nhanh, chứ lấy lại được cắc bạc nào là trần ai tróc vẩy...

Mà đấy mới là thuế, còn phí các loại nữa. Đã đóng phí đường bộ rồi, giờ còn mấy trạm thu phí vẫn cương quyết bám trụ thu thêm lần nữa. Cãi nhau ư, cá nhân phải thua tập thể, gây lộn thì nhà chức trách phải bênh anh đi thu rồi. Mà nào có phải một loại phí. Hàng trăm loại phí như thế đè lên đầu chúng ta, biến chúng ta thành những... con cừu chỉ biết chìa thân ra cho thiên hạ vặt. Làm cái quái gì bây giờ cũng phải phong bì, không phong bì bất thành việc, huhu...

Rồi các loại dịch vụ tăng giá phi mã. Tết leo lên được rồi là cương quyết không xuống. Nghĩ bụng, đến chuyện đàn ông đàn bà kia xong rồi thì cũng phải xuống chứ, thế mà giá thì... cương quyết... ngóc lên, huhu phát nữa...

Là nghĩ đến hàng vạn công nhân và những người lao động thu nhập thấp. Nghĩ cho cùng, chúng ta bán sức lao động cho những người có nhu cầu, nhưng cũng chính phần lớn những người có nhu cầu ấy, lại ngồi nghĩ ra các loại dịch vụ, phí, thuế... để thu lại số tiền công đã trả cho chúng ta, tức là vặt chúng ta thêm lần nữa...

Thì, chúng ta là những con... cừu mà lại...

HIẾN PHÁP MỸ

2
Ghi chú: Để tiện cho độc giả theo dõi, chúng tôi sẽ đăng dần các phần chính của cuốn sách và sẽ đưa lên đầu trang này. Các lời giới thiệu và Mục lục được xếp ở bên dưới đây.

LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia, có hiệu lực pháp lý cao nhất so với các đạo luật khác. Bản hiến pháp thành văn đầu tiên trong lịch sử lập hiến thế giới được ra đời cách nay hơn 200 năm, đó là bản Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa kỳ (1787).
Bản hiến pháp này gồm bảy điều, tập trung vào qui định trình tự thành lập, thẩm quyền và mối quan hệ của các cơ quan Trung ương, Nghị viện, Tổng thống và Tòa án tối cao; mối quan hệ giữa Liên bang với các bang và trình tự thay đổi Hiến pháp. Cùng với sự phát triển của xã hội Mỹ, đã phát sinh nhiều quan hệ cần sự điều chỉnh của luật hiến pháp nên Hiến pháp Mỹ đã được bổ sung nhiều lần bằng những tu chính án. Đây là một bản hiến pháp cực kỳ ngắn gọn, súc tích và có tính khái quát cao. Một bản hiến pháp ra đời trong bối cảnh xã hội của hơn 200 năm trước đây nhưng các quan điểm và nội dung cơ bản của nó vẫn giữ nguyên giá trị, đồng thời nó còn được coi là mẫu mực kinh điển cho một bản hiến pháp trong một quốc gia pháp quyền.
Chính điều này đã đặc biệt hấp dẫn giới luật học và tất cả những ai quan tâm nghiên cứu đến lĩnh vực lập hiến muốn tìm hiểu xem bản Hiến pháp kinh điển này đã được làm ra như thế nào. Cuốn sách Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào? do tác giả Nguyên Cảnh Bình giới thiệu chính là lời giải đáp cho câu hỏi nêu trên.
Cuốn sách do Nhà xuất bản Thế giới ấn hành lần đầu năm 2003, đã được đông đảo độc giả đón nhận và hoan nghênh. Đến nay, do nhu cầu của bạn đọc, Nhà xuất bán Lý luận chính trị tiếp tục xuất bản cuốn sách này trên cơ sở có sự sửa chữa bổ sung của tác giả và Ban biên tập.
Đây là một tài liệu tham khảo bổ ích cho những cán bộ công tác trong các ngành lập pháp và tư pháp, đặc biệt là các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh khi nghiên cứu về các môn học liên quan đến hiến pháp và kinh nghiệm làm luật của thế giới.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách tới bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LỜI GIỚI THIỆU
Với tư cách là một người giảng dạy ngành luật Hiến pháp Việt Nam tại Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi rất phấn khởi viết lời giới thiệu cuốn sách này của tác giả Nguyễn Cảnh Bình.
Nguyễn Cảnh Bình là một người rất xa lạ với giới Luật học chúng tôi. Anh là một Thạc sĩ khoa học tự nhiên – chuyên ngành hóa học, nhưng rất lạ thay, anh có một sự say mê Hiến pháp – Chính quyền đến lạ lùng, một niềm say mê mà ngay cả những người chuyên ngành chúng tôi cũng không thể có được. Vì ở hai lĩnh vực rất khác nhau và có thể nói ở hai thế hệ khác nhau, nhưng chúng tôi đã cùng đến với nhau qua những trang viết về Hiến pháp và những nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực Hiến pháp – Chính quyền của mình. Nguyễn Cảnh Bình đã từng đọc những cuốn sách của tôi viết về Hiến pháp, tự viết thư cho tôi thông qua Nhà xuất bản. Và ngược lại, tôi cũng tự đọc bài báo về James Madison và những người từng soạn thảo bản Hiến pháp Mỹ, bản hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới dưới cái tên Nguyên Cảnh Bình rất xa lạ. Sau đấy Ít lau, chúng tôi đã gặp nhau. Thật là một sự tâm đầu ý hợp. Vượt qua mọi khác biệt chúng tôi đã có những cuộc trao đổi khoa học rất bổ ích.
1
Nội dung cuốn Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào? bao gồm những mẩu chuyện rất lý thú về quá trình soạn thảo Hiến pháp, về những cuộc tranh luận cực kỳ gay go và nan giải trong quá trình soạn thảo bản Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787, những bức thư đầy tính nhân bản và trách nhiệm của những người tham dự Hội nghị. Đặc điểm của cuốn sách này là không chỉ trình bày những luận điểm hậu thuẫn cho việc thành lập ra Nhà nước Liên bang với tên gọi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ như hiện nay mà cả những luận điểm chống lại sự hình thành này, đó là những điều chúng ta chưa hoặc là rất ít có điều kiện biết đến. Qua những tranh luận đó, dù tán thành hay phản đối, thì những lập luận đó cũng rất chân thành và đều chung một mong ước thiết lập một quốc gia thịnh vượng và bền vững. Có thể nói bản Hiến pháp được xây dụng như ngày nay cũng một phần nhờ những chống đối đó, điển hình là Tuyên ngôn nhân quyền. Do đó, cuốn Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào? có cách tiếp cận về lịch sử lập hiến khá toàn diện, không chỉ góp phần giái thích ý nghĩa của bản Hiến pháp Mỹ mà còn giúp người đọc hiểu được quá trình xây dựng một đạo luật. Với cách tiếp cận như thế, tác giả sẽ có những đóng góp nhất định cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về Hiến pháp Hoa Kỳ ở nước ta.
Đây là tác phẩm thứ hai của anh về Hiến pháp Hoa Kỳ, sau cuốn sách rất lý thú về Alexander Hamilton, một trong những tác giả rất xuất sắc của tác phẩm Những bài báo Người liên bang (Federalist Papers).
Mặc dù không phải là người được đào tạo cơ bản về kiến thức luật học ở nhà trường, nhưng niềm đam mê và sự ham hiểu biết đã giúp anh vượt qua tất cả. Các tác phẩm của anh về lĩnh vực này rất có giá trị cho việc nghiên cứu về hiến pháp của giới chuyên môn cũng như những người muốn tìm hiểu khác.
Tôi xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
PGS. TS Nguyễn Đăng Dung
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

LỜI MỞ ĐẦU
Cuối năm 2000, tôi bắt đầu tập trung nghiên cứu Hiến pháp Mỹ. Lý do thứ nhất là vì bản hiến pháp của nước Mỹ là lâu đời nhất và nổi tiếng nhất với trên 200 năm lịch sử trong khi các bản hiến pháp hiện nay của Pháp, Đức, Nhật, Nga đều là những bản hiến pháp mới mẻ và có thời gian tồn tại chưa lâu. Tôi muốn hiểu tại sao và do đâu nước Mỹ lại có được sự ổn định đó?
Lý do thứ hai là ngay trong bản “Tuyên ngôn Độc lập” của nước ta ngày 2 tháng Chín năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những lời nói thật bất hủ của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ do Thomas Jefferson viết “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(1). Chính thế hệ những người đã làm nên cuộc Cách mạng Mỹ đó, như Thomas Jefferson và George Washington, đã đặt nền tảng cho nhà nước Cộng hòa Mỹ bằng bản hiến pháp này. Tôi muốn tìm hiểu kỹ xem họ đã làm ra bản hiến pháp đó như thế nào và cùng với việc học hỏi bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, chúng ta có thể học hỏi được gì từ quá trình soạn thảo Hiến pháp Mỹ trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền; xây dựng một chính quyền mạnh và hiệu quả.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi rất may mắn vì những tài liệu về quá trình soạn thảo và làm ra bản Hiến pháp Mỹ được công khai ở dạng on-line trong thư viện điện tử của Quốc hội Mỹ. Tôi hoàn toàn tin chắc rằng không một bản Hiến pháp nào, kể cả những bản Hiến pháp hiện đại được làm ra sau này, lại lưu giữ đầy đủ, chính xác và chi tiết mọi vấn đề liên quan đến việc soạn thảo và phê chuẩn như bản Hiến pháp Mỹ. Tất cả những văn bản viết tay, những cuộc thảo luận, những bức thư của những chính khách đương thời, những bài báo tán thành và phản đối bản Hiến pháp… đều được lưu giữ rất cẩn thận và đầy đủ. Đó là kho tư liệu vô cùng đồ sộ mà nếu in ra có thể lên tới hàng chục nghìn trang. Trong một lượng tài liệu khổng lổ như vậy, tôi chỉ chọn dịch những phần điển hình nhất trong vài tác phẩm cơ bản là cuốn Elliot’s Debate, cuốn Farrand’s Record, cuốn The Debates in the Federal Convention of 1787 của Madison và cuốn Federalist Papers. Chi tiết từng bài, hay từng phần, tôi đều ghi lại nguồn tư liệu và cố gắng giải thích trước khi vào bản chính để bạn đọc dễ hình dung. Ngoài ra, tôi cũng luợc dịch tiểu sử những chính khách Mỹ đã tham gia Hội nghị Lập hiến 1787 để bạn đọc nắm được bản chất quan điểm và những đóng góp của họ cho lịch sử nước Mỹ.
Nhưng bên cạnh sự may mắn, tôi cũng gặp phải khá nhiều khó khăn. Trước hết, những tài liệu này đều được viết bằng văn phong của thế kỷ XVIII nên khá khó đọc, rắc rối, nhiều chỗ viết tắt và có chỗ sử dụng những ngạn ngữ tiếng Latin. Một khó khăn khác là các tác giả tham gia soạn thảo Hiến pháp Mỹ đều có kiến thức rất uyên bác vì họ đọc rất nhiều các tác phẩm lịch sử và luật pháp của thế giới, nên thường viện dẫn những sự kiện và nhân vật lịch sử trong các thành bang Hy Lạp, nền Cộng hòa La Mã cổ đại, nhà nước quân chủ Anh, Pháp, liên bang Phổ, Thụy Sĩ và Hà Lan… Những kiến thức này khá xa lạ, ít được nhắc đến ở Việt Nam và các nguồn tra cứu cũng không phải dễ dàng tìm được. Nhưng bởi trước đây, tôi đã dịch tác phẩm Cương Danh nhân của Plutarch về lịch sử Hy Lạp cổ đại, nên những kinh nghiệm thu được cũng góp ích rất nhiều cho việc chú thích.
Về bản dịch, tôi cố gắng dịch sát nghĩa tối đa tới mức có thể, giữ lại một số nét văn phong lịch sự và kiểu cách của thế kỷ XVIII để không làm bản dịch quá hiện đại. Ngoài ra, tôi cũng cố gắng giải thích những sự kiện, những con người và các bối cảnh được đề cập trong các cuốn này. Các nguồn tư liệu sử dụng để tham khảo, chủ yếu, tôi lấy từ bộ từ điển Encarta 2002, cuốn “The Governments of Europe“ của Frederic Austin Ogg, cuốn “Europe: from the Renaisance to Waterloo” của Ergang và một số nguồn tra cứu khác, nhưng chắc rằng vẫn không tránh khỏi những sai sót. Ngoài ra, tên các bang của Mỹ được viết tắt như sau: MA: Massachusetts; CT: Connecticut; NY: New York; NJ: New Jersey; PA: Pennsylvania; DE: Delaware; MA: Maryland; VA: Virginia; NC: Bắc Caroline; SC: Nam Caroline; GA: Georgia. NH:New Hampshire.
Tuy nhiên, do đây là chủ đề khó và kinh nghiệm, trình độ kiến thức còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi sai sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến góp ý và bổ sung của bạn đọc. Thư xin gửi về địa chi binhnc@yahoo.com.
Cuối cùng, tôi xin cám ơn sự giúp đỡ và động viên của những người bạn tôi trong Nhóm Dịch Trẻ, cám ơn TS Ngô Đức Mạnh, Vụ Thông tin, VP Quốc hội và nhất là PGS, TS Nguyễn Đăng Dung đã có những góp ý quý báu về nội dung cuốn sách này. Tôi hy vọng cuốn sách sẽ góp phần mang đến cho bạn đọc những thông tin bổ ích và cần thiết ở một khía cạnh nào đó.
Tháng Mười hai, năm 2002.
Nguyễn Cảnh Bình 
MỤC LỤC
PHẦN I
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HIỂN PHÁP MỸ 19
Hội nghị Lập hiến 20
Các điều khoản Hợp bang 22
Các đại biểu tham dự 26
Ba mô hình chính quyền: Phương án Virginia, Phương án New Jersey và Phương án của Hamilton
Thỏa Hiệp Lớn 33
Bản phác thảo đầu tiên 36
Ký kết Hiến pháp 39
Tác phẩm Người Liên bang 43
Quá trình phê chuẩn Hiến pháp 50
Tuyên ngôn nhân quyền 52
Giá trị vĩnh hằng của bản Hiến pháp 54
PHẦN II
CÁC CUỘC TRANH LUẬN TẠI HỘI NGHỊ LẬP HIẾN 57
Phương án Virginia 60
Tranh luận về cách thức bầu chọn Hạ nghị sĩ. 66
Tranh luận về bộ máy hành pháp. 77
Tranh luận về cách bầu chọn Thượng nghị sĩ. 88
Phương án New Jersey. 97
Tranh luận về Phương án New Jersey. 101
Phương án chính quyền quốc gia của Hamilton. 112
Những lập luận của Madison phản đối Phương án New Jersey. 127
Tranh luận về chủ quyền liên bang và nhiệm kỳ của Hạ nghị sĩ. 137
Tranh luận về nhiệm kỳ của Thượng nghị sĩ. 146
Tranh luận về sự bình đẳng của các tiểu bang tại Quốc hội. 154
Đa số là nguyên tắc cơ bản của nền cộng hoà. 185
Bầu chọn và nhiệm kỳ của Tống thống 201
Tranh luận về quyền phủ quyết của tòa án và cách bầu chọn thẩm phán. 217
Bầu chọn, nhiệm kỳ và sự tái cử của Tổng thống. 229
Bản phác thảo Hiến pháp đầu tiên. 245
Ký kết bản Hiến pháp. 259
PHẦN III
MỘT SỐ BỨC THƯ VÀ TRANH LUẬN ĐIỂN HÌNH 269
Thư của James Madison gửi George Washington. 272
Thư của George Read gửi John Dickinson. 278
Thư của Wiliam Grayson gửi James Monroe. 280
Thư của GEO. MASON gửi con trai. 282
Thư của G. Washington gửi Hầu tước La Fayette. 284
Thư của Edward Carlington gửi Thomas Jefferson. 285
Thư của các đại biểu Bắc Caroline gửi Thống đốc tiểu bang 288
Thư của Hamilton gửi George Washington. 289
Ghi chép của Manasseh Cutler. 291
Thư của J. Madison gửi T. Jefferson. 293
Nhật ký Washington, ngày 17 tháng Chín năm 1787. 295
Thư của các đại biểu Bắc Caroline gửi Thống đốc Caswell. 296
Thư của Elbridge Gerry trình bày lý do không ký vào bản Hiến pháp. 299
Thư của Roger Sherman và Oliver Ellsworth gửi Thống đốc Tiểu bang Connecticut trình bày về Hội nghị Lập hiến. 303
Thư của Edmund Randolph gửi Chủ tịch Hạ viện tiểu bang Virginia. 305
Những phản đốỉ của George Mason, giải thích những lý do buộc ông không thể ký vào bản Hiến pháp. 320
Thư của James Madison giải thích Hiến pháp cho Thomas Jefferson. 324
Thư của Richard Henry Lee, đại biểu Quốc hội tiểu bang Virginia gửi Thống đốc Edmund Randolph. 338
Thư của Gouvemeur Morris gửi Washington. 344
Phát biểu của James Wilson tại Hội nghị phê chuẩn Hiến pháp của Pennsylvania. 347
Bài phát biểu của Oliver Ellsworth tại Hội nghị phê chuẩn tiểu bang Connecticut. 355
Bài phát biểu của C. C Pinckney tại Hạ viện Nam Caroline. 358
Các bài báo Người Liên bang 360
Người liên bang sổ 1 361
Người liên bang số 10 367
Người liên bang Số 51 378
Về việc thiếu vắng Tuyên ngôn nhân quyền (Bill of Rights) 386
Tranh luận tại Hội nghị phê chuẩn Hiến pháp của tiểu bang Virginia. 395
Bài phát biểu của Hamilton tại Hội nghị phê chuẩn của New York, ngày 20 tháng 6 năm 1788. 407
PHẦN IV
CHÂN DUNG NHỮNG ĐẠI BIẾU THAM DỰ HỘI NGHỊ LẬP HIẾN 415
55 đại biểu, xếp theo thứ tự ABC 420
PHỤ LỤC
HỆ THỐNG VĂN BẢN HIẾN PHÁP MỸ 545
Các điều khoản Hợp bang (The Articles of the Confederation) 546
Hiến pháp Hợp chúng quổc Hoa Kỳ. 559
Kiến nghị của Hội nghị Lập hiến gửi Quốc hội Hợp bang về bản Hiến pháp vừa được soạn thảo. 574
Thư của Chủ tịch Hội nghị Lập hiến gửi Chủ tịch Quốc hội Hợp bang, đệ trình bản Hiến pháp. 575
Tuyên ngôn nhân quyền (The Bill of Rights) 577
Tài liệu tham khảo 581
.

PHẦN I – TÓM TẮT QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HIẾN PHÁP MỸ (1)

“Liệu có phải cuộc sống quá đáng yêu và hòa bình quá ngọt ngào tới mức phải mua bằng xiềng xích và nô lệ không? Xin Chúa, hãy đừng bao giờ như vậy. Tôi không biết những người khác sẽ chọn con đường nào, nhưng với tôi, hãy cho tôi tự do hay cái chết”.
Bài phát biểu của Patrick Henry,
 tại Đại hội tiểu bang Virgina,
Ngày 23 tháng Ba năm 1775.
Hội nghị Lập hiến
Thứ sáu, ngày 25 tháng Năm năm 1787, một lớp đất mới đuợc trải lên con đường rải sỏi phía trước tòa nhà Hạ viện tiểu bang Pennsylvania, trên đường Chestnut(1), giúp những người đàn ông đang họp bên trong tránh khỏi những tiếng ồn ào của những chiếc xe ngựa chạy bên ngoài. Lính gác đứng ở cửa ngăn không cho những đám đông tò mò vào bên trong và giữ họ ở một khoảng cách xa.
Đây là những đại biểu tham dự Hội nghi Liên bang, được các tiểu bang cử đến với nhiệm vụ sửa đổi những thiếu sót của chính quyền đương thời. Hội nghị dự định khai mạc từ ngày 14 tháng Năm, nhưng lúc đó chỉ có mặt các đại biểu của tiểu bang Virginia và Pennsylvania, nên buộc phải hoãn lại.
Robert Morris, đại biểu tiểu bang Pennsylvania, nhà “tài chính của cuộc Cách mạng Mỹ, mở đầu Hội nghị bằng việc đề cử Tướng George Washington cho chức Chủ tịch Hội nghị Lập hiến. Phiếu bầu hoàn toàn nhất trí. Với sự nghiêm trang và khiêm tốn, vị Tổng tư lệnh đã thể hiện sự bối rối của rmình trong việc làm chủ tọa một Hội nghị trang trọng như vậy và xin lỗi nếu có bất kỳ sai sót nào mà ông có thể mắc phải trong quá trình thảo luận kỹ lưỡng này.
Nhiều tháng trước đó, đau ốm vì căn bệnh thấp khớp, chán nản vì cái chết của người anh trai, mải mê với cuộc sống yên bình ở khu trang trại Mount Vernon và nghi ngờ sự thành công của Hội nghị cũng như nghĩ rằng nhiều nhân vật nổi tiếng sẽ vắng mặt, nên Washington luôn trì hoãn việc nhận lời mời tham dự. Nhưng rồi bực bội với nguy cơ trong việc trao uy tín của ông cho một cuộc họp mà rồi có thể phải thất bại và khả năng công chúng sẽ đánh giá sự tham dự miễn cưỡng của ông với con mắt hoài nghi, viên tuớng cuối cùng đã chấp nhận công việc này. Nhiều đại biểu tham dự cuộc họp, đặc biệt là James Madison, đại biểu trẻ trung mới 36 tuổi của Virginia, cảm thấy rất hài lòng, vì chỉ riêng sự có mặt của viên tướng Tổng tư lệnh Washington, cùng với uy tín to lớn của ông cũng đủ để mang lại một không khí trang nghiêm và bảo đảm sự thành công cho Hội nghị.
Cùng ngày 25 tháng Năm, theo đề nghị của C. Pinckney, Hội nghị cũng bổ nhiệm Thiếu tá William Jackson của tiểu bang Nam Caroline, làm Thư ký, với nhiệm vụ ghi chép lại mọi ý kiến trong quá trình thảo luận, đồng thời cũng bổ nhiệm một ủy ban gồm Wythe, Hamilton và C. Pinckney có nhiệm vụ soạn thảo những qui tắc cho Hội nghị.
Những buổi họp của Hội nghị được tổ chức kín và không có phóng viên hay khách mời nào được phép tham dự. Mặc dù nhiều thành viên với bản chất ba hoa và lắm lời, thường bị kích động trong các quán rượu hay trên đường phố, thì hầu hết mọi đại biểu đều giữ được bí mật một cách ngạc nhiên. Đối với những người hoài nghi về Hội nghị, thì việc giữ bí mật đó càng làm tăng mối lo âu của họ. Từ Paris, Thomas Jefferson đã viết cho John Adams: “Tôi cảm thấy tiếc là họ đã bắt đầu các cuộc tranh luận bằng một quyết định thật tồi tệ là đóng chặt miệng lưỡi của tất cả mọi người”. Nhưng sau này, đại biểu Luther Martin của tiểu bang Maryland phán xét rằng sứ mạng ở Philadelphia cần một môi trường hoàn toàn yên tĩnh.
Mặc dù viên thư ký Hội nghị là Jackson đã ghi chép lại nội dung các cuộc họp, nhưng bản ghi chép đầy đủ nhất lại chính là nhờ công sức của James Madison. Hết ngày này sang ngày khác, người đàn ông từ Virginia này đã ngồi ngay hàng đầu tiên của phòng họp, ghi chép lại tất cả các cuộc tranh luận, không để lỡ bất cứ một ngày nào, hoặc một bài phát biểu quan trọng nào. Sau này, Madison kể lại rằng việc tự giam mình trong cái sảnh nóng bức và ngột ngạt đó suốt mùa hè ở Philadelphia suýt nữa đã giết chết ông.
Các điều khoản Hợp bang.
Hội nghị Lập hiến được triệu tập trong một bối cảnh được coi là giai đoạn sống còn trong lịch sử nước Mỹ. Những người dân Mỹ vừa trải qua một cuộc chiến tranh dài, cam go và tàn phá, chỉ vừa mới bắt đầu giai đoạn phục hồi kinh tế từ đống đổ nát. Nền kinh tế trong thời kỳ thương mại bình thường với nước Anh và vùng Tây Ấn (các hòn đảo vùng vịnh Caribê) giờ đây bị ảnh hưởng nghiêm trọng do việc tách khỏi Vương quốc Anh. Đó là một nền kinh tế “dị dạng”: tiền giấy có ở khắp mọi nơi gây ra sự lạm phát kinh khủng. Các bằng chứng khác cho thấy chủ nghĩa dân tuý đang hồi sinh mà ví dụ điển hình là cuộc nổi loạn của một nhóm nông dân trang bị vũ khí. Những kích động chính trị do những khẩu hiệu từ thời chiến như “bình đẳng và quyền của mọi người” đã trở nên không thể kiểm soát được. Tư tưởng phe cánh, bè phái và chủ nghĩa địa phương đang là lời cảnh báo đối với Madison và nhiều người khác. Thái độ thù địch đối với chính quyền mà biểu hiện là sự chống đối thuế khóa có ở tất cả mọi tầng lớp. Trong tâm trí nhiều người, cuộc sống, sự tự do và thịnh vượng không hề được đảm bảo.
Đối mặt với những khó khăn này, chính quyền Mỹ cố gắng vận hành theo Hiến pháp đương thời là Các điều khioản Hợp bang, được phê duyệt năm 1781. Thứ Hiến pháp mà Hamilton, chính trị gia xuất sắc thuộc thế hệ thứ hai của cuộc Cách mạng Mỹ, sau này trở thành một trong những kiến trúc sư cho hệ thống chính quyền và kinh tế Mỹ, gọi là “một sự khờ dại”. 13 tiểu bang thuộc địa tập hợp trong một thể chế hợp bang lỏng lẻo vì chỉ có một cơ quan chính quyền duy nhất là Quốc hội Hợp bang điều hành mọi vấn đề của đất nước. Chính phủ Hợp bang khi đó không điều hành trực tiếp với người dân mà thông qua trung gian là các chính quyền tiểu bang(2). Không có nhánh hành pháp, cũng không có tòa án tối cao, cơ quan này hầu như chẳng có chút quyền hành nào và cũng chẳng có ngân sách để hoạt động. Khắp nơi tràn ngập sự lộn xộn, không có một qui định chung về thương mại, thuế khóa và thậm chí, mỗi tiểu bang lại có một loại tiền riêng. Những món nợ chiến tranh lớn đến mức hầu như không thể trả nổi.
Tiền giấy tràn ngập khắp đất nước tạo ra sự lạm phát kinh khủng tới mức nửa cân chè ở một vài vùng có thể phải mua bằng số tiền lớn là 100 đô la. Tình trạng kinh doanh suy thoái đang lấy đi sinh mệnh của nhiều nông dân và chủ đất nhỏ. Một số buộc phải vào tù vì nợ nần, và rất nhiều ruộng đất bị tịch thu hay phải bán để trả thuế. Uy tín nền cộng hòa bị nghi ngờ và công chúng bắt đầu mất niềm tin vào chính quyền. Hiệp ước Hòa bình với Anh bị cả hai phía phớt lờ và hầu như không có hiệu lực. Chính quyền Hợp bang cũng chẳng có uy tín trong con mắt của các quốc gia châu Âu. Đó là một chính thể cộng hòa đang bị tê liệt và bất kỳ người dân nào cũng có thể suy đoán về một kết cục thảm hại sẽ xảy ra.
Năm 1786, một số nông dân đã nổi dậy chống lại chính quyền. Cầm đầu bởi Daniel Shays, một cựu đại úy của quân đội Lục địa, một nhóm người trang bị vũ khí, cắm những lông ngỗng màu xanh lên mũ, ngăn cản tòa án lưu động họp tại Northampton, MA. và đe dọa cướp vũ khí tại kho súng ở Springfield. Mặc dù quân đội tiểu bang nhanh chóng dập tắt cuộc nổi dậy này, nhưng cuộc bạo loạn đó đã buộc nhiều người giàu lo sợ về một tình trạng vô chính phủ đang lấp ló ở chân trời. Được thêm mắm thêm muối hết ngày này sang ngày khác trên các trang báo, cuộc khởi nghĩa đã làm cho tầng lớp trên ở Mỹ rùng mình run sợ khi họ hình dung cái đám người hung tợn, ngoài vòng luật pháp đó, sẽ xuất hiện ngay trong những nông dân vô tội.
Tình trạng tồi tệ của liên minh 13 tiểu bang đã thách thức nhiều người Mỹ có tư tưởng cộng hòa về sự cần thiết và cấp bách phải có những cải cách triệt để. Từ trang trại đồng quê Mount Vernon, Washington đã viết cho Madison: “Tại thời điểm hiện nay, sự khôn ngoan, sự hiểu biết và các tấm gương tốt là cần thiết để cứu hệ thống chính trị này khỏi cơn bão đang treo lơ lừng… Tại mỗi tiểu bang đều có những mầm cháy mà chỉ cần một tia lửa cũng có thể làm bùng lên ngọn lửa”.
Còn đối với Hamilton, một trong những người vận động mạnh mẽ nhất cho Hội nghị này thì coi Quốc hội Hợp bang chỉ là một nhóm chính trị gia có tầm nhìn hạn hẹp, những nguời dễ dàng hy sinh mạng sống của binh lính và tương lai của toàn bộ dân tộc khi lãng phí thời gian trong những cuộc tranh cãi vụn vặt, chứ không phải những nghiên cứu, tranh luận thấu đáo hay suy xét kỹ càng, có tầm- nhìn xa, trông rộng, trong quá trình hình thành chính sách. Chính quyền tổ chức theo bộ luật này đã từng thể hiện sự yếu kém và thiếu hiệu quả trong thời chiến. Đến thời hòa bình, khi những tiểu bang ngày càng ít phụ thuộc vào nhau, thì liên minh lỏng lẻo của 13 tiểu bang Bắc Mỹ thật sự gặp nguy hiểm. George Washington từng nhận xét rằng: các bang chỉ được liên kết với nhau “bằng một sợi dây bằng cát”. Điều cực kỳ quan trọng trong tư duy của Hamilton là chính phủ liên bang phải có quyền điều hành vấn đề thương mại, lĩnh vực mà cho đến lúc đó, vẫn nằm trong tay các chính quyền tiểu bang và nhất thiết phải có quyền thu thuế lợi tức để tạo dựng nguồn ngân sách cho sự vận hành của một nhà nước Cộng hoà. Ông khẳng định: “… không thể trì hoãn được nữa, chúng ta phải trao thêm quyền lực cho Quốc hội… Chỉ có việc sử dụng một cách hợp lý những nguồn tài nguyên của toàn thể liên minh, dưới sự lãnh đạo của một Hội đồng Tối cao, với những quyền lực và sức mạnh cần thiết mới có thể giải thoát chúng ta khỏi cảnh áp bức và khốn khó như hiện nay, và đưa chúng ta trở thành những người hạnh phúc sau này”.
Để giải quyết những trục trặc đó, vào tháng Chín năm 1786, Quốc hội Hợp bang đã tổ chức một cuộc họp các bang tại Annapolis, tiểu bang Maryland, nhằm thảo luận các bất đồng thương mại, nhưng hầu như chẳng mang lại kết quả cụ thể nào. Chỉ có 5 tiểu bang tham dự và các đại biểu cũng chẳng có quyền gì, ngoài việc thảo luận và kiến nghị lên Quốc hội Hợp bang. Tuy nhiên, Hamilton, Madison và một vài đồng nghiệp đồng ý phải làm được một điều gì đó có ý nghĩa. Họ đề nghị Quốc hội triệu tập một Hội nghị mới, nhằm xem xét lại Các điều khoản Hợp bang với sự tham gia của tất cả các tiểu bang. Đối với Madison, đây là một cơ hội tuyệt vời để lật nguợc được xu hướng hiện tại của đất nước. Còn với nhiều người, điều quan trọng khi họ tập trung ở Philadenphia là không được thất bại. George Mason, viên điền chủ của trang trại Gunston Hall, tác giả của Tuyên ngôn nhân quyền của tiểu bang Virginia, đã viết cho con trai: “Mọi con mắt của nước Mỹ đang hướng về Hội nghị này và niềm trông đợi của họ đã tăng lên rất cao. Ơn Chúa Tối cao, cha và những người bạn có thể làm họ hài lòng bằng việc thiết lập một Chính quyền Khôn ngoan và Công bằng”.
Cũng thời gian đó, nhiều tờ báo ở Philadenphia đã đăng tải bức thư của một người giấu tên đòi bỏ ý định thành lập một chính quyền chung cho tất cả các tiểu bang. Người này đề nghị chia Hợp
chủng quốc thành ba nước cộng hòa riêng biệt: Bắc, Trung và Nam, vĩnh viễn liên minh với nhau vì mục đích phòng thủ chung.
Một khó khăn rất lớn khác của Hội nghị Philadenphia là mục tiêu đề ra chỉ là nhằm sửa đổi và bổ sung những điều cần thiết cho Các điều khoản Hợp bang, chứ không phải xây dựng một bản Hiến pháp hoàn toàn mới. Tuy nhiên, hầu hết các đại biểu đều cho rằng nếu cứ bám vào cái sườn cũ thì sẽ chẳng dẫn đến điều gì cả. Một chính quyền mới và vững chắc chính là điều mà Hội nghị mong muốn và quyết tâm đạt được. Như sau này, Hamilton nhận xét: “những thất bại và trục trặc mà chúng ta trải nghiệm không phải bắt nguồn từ một vài lỗi nhỏ lẻ nào mà do những sai lầm căn bản, có tính nguyên tắc trong việc hình thành chính quyền, và không thể sửa đổi nếu không có những thay đổi cơ bản nhất về mô hình chính quyền”.
Các đại biểu tham dự Hội nghị.
74 đại biểu được các tiểu bang bầu chọn để tham dự Hội nghị, nhưng chỉ có 55 đại biểu thật sự có mặt tại các cuộc họp. Đó là những nhà lãnh đạo hàng đầu của đất nước, những con người thông minh, kiệt xuất và có uy tín lớn lao. Đa số các đại biểu ủng hộ chế độ tiền giấy, hệ thống thuế thấp và mong muốn thiết lập một chính quyền mạnh. Một số đại biểu chỉ tin tưởng vào giai cấp quí tộc, nhưng hầu hết đều tán thành những nguyên tắc dân chủ, dù rất e ngại tính thất thường của dân chúng và sự thái quá của nền dân chủ.
Rhode Island là tiểu bang duy nhất từ chối cử đại biểu tham dự cuộc họp vì cho đó là âm mưu nhằm phá bỏ chính quyền đã đuợc thiết lập. Ngoài ra, Hội nghị cũng gặp phải sự nghi ngờ và chống đối của không ít chính khách hàng đầu. Patrick Henry(3), một lãnh tụ cuộc Cách mạng Mỹ, đã từ chối tham dự với tuyên bố: “Tôi cảm thấy đây là một sự phản bội”. Điều này là do xu hướng
của Hội nghị muốn hình thành một chính quyền tập trung mạnh, nhằm giám sát thẩm quyền của các cơ quan lập pháp tiểu bang, trong khi Henry và nhiều chính trị gia tên tuổi khác lại tin rằng những chính quyền tiểu bang sẽ bảo đảm tốt nhất những quyền tự do cá nhân. Vì vậy, ông quyết tâm không góp một chút công sức nào cho Hội nghị.
Một vài nhân vật kiệt xuất khác cũng vắng mặt như Thomas Jefferson(4), John Adams(5), John Jay(6), Thomas Paine(7). Ngoài Patrick Henry, một số lãnh tụ hàng đầu khác của cuộc Cách mạng Mỹ là Samual Adams(8) và Richard Henry Lee(9) cũng từ chối tham dự.
Nhưng về tổng thể, đây là cuộc nhóm họp thật sự gây ấn tượng với những con người xuất chúng, những người đã làm nên cuộc Cách mạng Mỹ, và sứ mạng của họ bây giờ là xây dựng một đất nước mới, tốt đẹp hơn. Từ Paris, khi đang là Công sứ Mỹ tại Pháp, Thomas Jefferson đã viết thư cho John Adams, khi đó đang là Công sứ Mỹ tại Anh: “Đó thực sự là cuộc quần tụ những người con của thánh thần”.
Nổi bật hơn cả là một cá nhân mà các đức tính và lòng quả cảm của ông tượng trưng cho nền Độc lập Mỹ và cho cả dân tộc Mỹ. Đó là George Washington, Tổng tư lệnh các quân đội thuộc địa trong cuộc chiến tranh với người Anh.
Ngoài Washington, ở đây còn có Benjamin Franklin, Chủ tịch Ủy ban hành pháp tiểu bang Pennsylvania, (chức vụ tương đương với Thống đốc ngày nay), và là chủ nhà của Hội nghị. Ông là người nổi tiếng khắp châu Âu và nước Mỹ hơn bất kỳ một cá nhân nào khác cùng thời đại. Đi khập khiễng do căn bệnh gút, ông già Franklin, khi đó đã 81 tuổi, là người đã làm nhiều nghề như thợ in, bảo vệ cửa hàng, nhà khoa học, viên chức hành chính, nhà triết học, nhà ngoại giao và rất được phụ nữ hâm mộ. Có James Wilson của tiểu bang Pennsylvania, một luật sư tài năng và đam mê đầu cơ đất đai một cách khờ dại, để cuối đời buộc phải trốn chạy từ tiểu bang này sang tiểu bang khác, để tránh truy tố vì nợ nần. Người đàn ông Xcốtlen này đã mang đến một trí tuệ phi thường, một thiên hướng về những lý thuyết hiến pháp và luật pháp. Có George Mason của tiểu bang Virgirda, người sau này được Jefferson gọi là “viên Cato(10) của nước Mỹ mà không có lòng tham lam của người La Mã”. Chính George Mason, vào tháng Năm năm 1776, là người soạn thảo Tuyên ngôn nhân quyền cho tiểu bang Virginia là nền tảng cho Thomas Jefferson soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập Mỹ sau đó hai tháng. Có John Dickinson của tiểu bang Delaware, tác giả Những bức thư của người nông dân, và là tác giả chính của Các điều khoản Hợp bang. Có Gouverneur Morris, tiểu bang Pennsylvania, rất thông thạo văn học và ngôn ngữ Pháp, với sự tinh thông và can đảm hợp với trí tuệ kiệt xuất đã góp phần soạn thảo Hiến pháp tiểu bang New York. Ngoài ra, nhiều người khác cũng đóng vai trò quan trọng như Oliver Ellsworth, Edmund Randolph, William Paterson, John Rutledge, Elbridge Gerry, Roger Sherman, Luther Martin, Charles và Charles Cotesworth Pinckneys.
Mặc dù nhiều đại biểu còn rất trẻ, như Hamilton chỉ mới 32 tuổi và Madison – 36 tuổi, Edmund Randolph – 34 tuổi, nhưng hầu hết đều đã học luật và là những chính trị gia xuất sắc. Những kiến thức lý thuyết triết học tuyệt vời về chính quyền của họ được mở rộng bởi các nhà triết gia về chính trị như James Harrington(11), John Locke(12), Montesquieu(13) và được tích luỹ từ những kinh nghiệm thực tế thu được trong quá trình hoạt động chính trị ở liên bang hay tiểu bang.
Ba mô hình chính quyền: các Phương án Vứginia, New Jersey và Hamilton.
Sáng thứ ba, ngày 29 tháng Năm, Edmund Randolph, Thống đốc bang Virginia, mở đầu cuộc tranh luận với bài phát biểu dài, phê phán những điều tồi tệ xảy ra đối với nước Mỹ do những yếu kém của Các điểu khoản Hợp bang. Ông nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải tạo dựng một chính quyền quốc gia mạnh. Sau đó, Randolph đề xuất những nét chính về phương án cải tổ bao gồm 15 điểm, thường được biết dưới cái tên Những giải pháp Randolph, nhưng tên chính thức là Phương án Virginia do ông và những đồng nghiệp cùng tiểu bang, sau những kỳ họp dài tại quán rượu Indian Queen, thống nhất quan điểm trước ngày diễn ra Hội nghị. Nền tảng của mô hình chính quyền này, chủ yếu do James Madison thiết kế gồm ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi nhánh đuợc cấu trúc để kiểm soát quyền lực của các nhánh kia. Với quyền lực được tập trung cao độ, chính quyền theo mô hình này có thể phủ quyết mọi bộ luật do cơ quan lập pháp tiểu bang ban hành, về phương án này, Randolph đã thú nhận “[đó] là một liên minh thống nhất, trong đó ý kiến [riêng] của các tiểu bang gần như không được đếm xỉa đến”.
Việc đề xuất Phương án Virginia tại thời điểm mở đầu Hội nghị là hành động táo bạo nhưng cực kỳ khôn ngoan và làm nhiều người sửng sốt. Những đại biểu của Virginia hiểu rằng bản kế hoạch đệ trình lên đầu tiên sẽ giành được lợi thế hơn bất kỳ kế hoạch nào sau đó. Những người Virginia đã buộc các cuộc tranh luận phải tiến hành theo các điểm trong mô hình do họ đề ra và theo các khái niệm của họ.
Trong hai tuần tiếp theo, Hội nghị tiến hành thảo luận và sửa chữa các điểm đề xuất trong Phương án Virginia. Ngày 13 tháng Sáu, văn bản sửa đổi được đệ trình lên Hội nghị để tất cả các đại biểu thảo luận. 15 đề xuất ban đầu trong Phương án Virginia đã trở thành nền tảng cho bản báo cáo 19 điểm về mô hình chính quyền quốc gia, bao gồm ba nhánh. Nhánh lập pháp, tức Quốc hội Liên bang, sẽ bao gồm hai viện được chọn theo qui mô dân số. Việc thiết lập hai viện là nhằm đại diện cho những lợi ích khác nhau và để quá trình làm luật tỉ mỉ và kỹ lưỡng hơn. Hạ nghị viện do người dân trực tiếp bầu, còn các thành viên của Thượng nghị viện lại được chính Hạ nghị viện lựa chọn. Nhánh hành pháp, tức là Tổng thống, sẽ được cả hai viện bầu chọn. Mô hình bộ máy tư pháp quốc gia cũng được phác thảo, bao gồm Tòa án Tối cao và tòa án các cấp sẽ do hai cơ quan lập pháp bầu chọn.
Có một giai thoại rất thú vị kể rằng sau khi Hội nghị Lập hiến kết thúc, khi Thomas Jefferson từ Pháp trở về, trong một bữa ăn tối đã hỏi Washington là tại sao ông bằng lòng có một viện thứ hai trong Quốc hội, tức là Thượng viện. Khi đó, thấy Thomas Jefferson đang rót café từ chiếc tách vào đĩa, Washington liền hỏi: “Thế tại sao Ngài lại đổ café vào đĩa như vậy?”; Jefferson trả lời: “Để làm cho café nguội đi”.Washington mim cười “Điều đó cũng giống như việc chúng ta đổ cơ quan lập phápáy vào chiếc đĩa Thượng viện để nó nguội bớt đi!”.
Vấn đề mấu chốt nhất được Gouverneur Morris trình bày rất súc tích ngày 30 tháng Năm là sự khác biệt giữa mô hình chính quyền của một liên bang và chính quyền của một quốc gia mà “chính quyền liên bang chỉ thuần tuý như một hiệp ước được thiết lập dựa trên sự cam kết tốt đẹp của các bên. Còn chính quyền quốc gia điều hành một cách toàn diện và mang tính cưỡng ép”. Morris ủng hộ mô hình chính quyền quốc gia với một quyền lực tuyệt đối, có khả năng thực thi mọi thẩm quyền cần thiết chứ không chỉ cái thứ chính quyền mờ nhạt, phân rã và thiếu hiệu quả như chính quyền Hợp bang đương thời.
Quan điểm quốc gia chủ nghĩa này đã làm điên đầu nhiều đại biểu khác. Họ e sợ về khả năng một chính quyền trung ương mạnh sẽ nuốt chửng chủ quyền của các tiểu bang, đặc biệt là các bang nhỏ. Ngày 14 tháng Sáu, đại biểu tiểu bang New Jersey là William Paterson đã yêu cầu Hội nghị dừng họp một ngày vì ông và các đại biểu từ những bang nhỏ muốn có thêm thời gian để hoàn thành kế hoạch của họ về một mô hình chính quyền khác với Phương án Virginia. Ngày hôm sau, Các giải pháp của Paterson, hay còn được gọi là Phương án New Jersey, được đặt lên bàn Hội nghị.
Lo sợ về một chính quyền quốc gia mạnh, Paterson đề xuất giải pháp bao gồm 9 điểm, kêu gọi tổ chức một cơ quan lập pháp duy nhất. Trong đó, tất cả các bang đều có phiếu bầu bình đẳng. Thay cho việc đề xuất một mô hình chính quyền quốc gia mới, phương án của Paterson thực chất chỉ là một loạt những sửa đổi đối với Các điều khoản Hợp bang.
Các đại biểu từ các bang nhỏ đều tập hợp quanh phương án này. Đồng lòng chống lại các mưu đồ nhằm ném các bang nhỏ vào “mớ hổ lốn”, Paterson đã đề nghị một mô hình nhà nước mà “sự liên kết của các tiểu bang chúng ta chỉ thuần tuý là một Liên minh của các quốc gia “. Phương án New Jersey kêu gọi chỉ thông qua các điều khoản cho phép Quốc hội có thêm quyền hạn trong việc tăng nguồn thu và điều hành vấn đề thương mại. Giải pháp này cũng đảm bảo các đạo luật của Quốc hội và các hiệp ước được thông qua sẽ là luật tối cao của các tiểu bang.
Trong suốt ba ngày, Hội nghị tranh luận về những đề xuất của Paterson và cuối cùng đã bỏ phiếu bác bỏ. Với sự thất bại của Phương án New Jersey, Hội nghị nghiêng về hướng xây dựng một chính quyền trung ương mạnh, làm nhiều đại biểu của các bang nhỏ rất bất bình. Nhưng việc bác bỏ Phương án New Jersey không dập tắt được nỗ lực của các bang nhỏ. Trong quá trình thảo luận một tháng sau đó, 15 đề xuất của Phương án Virginia đã được xem xét từng điểm một và với sự chấp thuận Thỏa hiệp lớn vào ngày 16 tháng Bảy sau đó, các bang nhỏ cũng đạt được sự cân bằng lá phiếu tại một viện của cơ quan lập pháp: Thượng viện.
Ngày 18 tháng Sáu, Alexander Hamilton đệ trình mô hình chính quyền lý tưởng của riêng ông. Tuy uyên bác và lịch lãm, nhưng bài phát biểu dài tới 5 giờ đồng hồ của ông sau đó lại thất bại. Cho rằng chính quyền Anh là “tốt nhất trên thế giới”, Hamilton đề xuất một mô hình chính quyền tương tự một Tổng thống phục vụ suốt đời nếu có tư cách đạo đức tốt, có quyền phủ quyết tất cả các đạo luật; một Thượng viện với các thành viên phục vụ suốt đời và cơ quan lập pháp có quyền thông qua “bất kỳ đạo luật nào”. Nhiều đại biểu rất bất bình với kế hoạch này vì coi đó sẽ dẫn tới một chính thể quân chủ lập hiến, một thứ Vua do dân bầu ra. Tuy không thành công với phương án của mình, nhưng khi Hội nghị kết thúc, người New York uyên thâm này đã trở thành người bảo vệ hăng hái nhất cho bản Hiến pháp mới theo mô hình Virginia. Những người dân Mỹ vừa từ bỏ chế độ quân chủ Anh, nên chẳng thích thú gì một mô hình tương tự, nhưng một số thành viên của Hội nghị thật sự trông đợi đất nước đi theo hướng này. Đại biểu Hugh Williamson của tiểu bang Bắc Carolina, một bác sĩ phẫu thuật giàu có đã tuyên bố “khá chắc chắn rằng lúc này hay lúc khác chúng ta đều cần phải có Vua”. Các tờ báo xuất hiện vào mùa hè năm 1787 cũng đồn đại về một phương án đang được xây dựng nhằm mời con trai thứ hai của Vua George III là Frederick, Công tước xứ York, một giáo sĩ thế tục ở Osnaburgh, Phổ, về làm “Vua của Hợp chúng quốc”.

PHẦN I – TÓM TẮT QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HIẾN PHÁP MỸ (2)

Thỏa Hiệp Lớn
Đến cuối tháng Sáu, cuộc tranh luận giữa các bang lớn và các bang nhỏ về vấn đề đại diện tại cơ quan lập pháp thứ nhất ngày càng gay gắt. Các đại biểu của Virginia và các bang lớn khác khăng khăng yêu cầu số lượng đại biểu trong Quốc hội phải được chọn căn cứ theo số dân, còn những đại biểu của các bang nhỏ nhất định đòi quyền đại diện bình đẳng mà họ đã có như qui định của Các điều khoản Hợp bang.
Ngày 29 tháng Sáu, đại biểu của các tiểu bang nhỏ đã thua trong cuộc bỏ phiếu về quyền đại diện tại Hạ viện. Hội nghị chấp thuận một giải pháp xác nhận số dân là điều kiện cơ bản để xác định quyền đại diện tại viện này, như vậy là ưu tiên các bang lớn. Đối với đề nghị của các bang nhỏ rằng các tiểu bang phải có quyền đại diện ngang nhau ở Thượng viện, việc bỏ phiếu đã dẫn đến một kết quả hòa mà không bên nào giành được đa số phiếu. Khi đại biểu của các bang lớn không sẵn lòng thỏa hiệp về vấn đề này, Hội nghị trở nên cực kỳ căng thẳng tới mức một số đại biểu cho rằng Hội nghị “đang ở bên bờ miệng vực của sự giải tán và sự đồng lòng của Hội nghị này chỉ như ngàn cân treo sợi tóc”. Thậm chí Franklin còn đề nghị Hội nghị nên mời các mục sư tới làm lễ mỗi sáng để cầu nguyện Thượng đế ban ơn và soi sáng cho cuộc thảo luận, nhưng có đại biểu lại cho rằng Hội nghị cũng chẳng có tiền để trả cho việc này.
Ngày 10 tháng Bảy, quá tức giận vì Hội nghị hoàn toàn ở thế bế tắc, George Washington đã phải thốt lên “cần phải làm một điều gì đó” và gọi những người chống đối một chính quyền trung ương mạnh là “những chính trị gia thiển cận, hẹp hòi, chịu ảnh hưởng của quan điểm địa phương chủ nghĩa”. Luther Martin, đại biểu bang Maryland, một người mà có lẽ Washington cho là có đầu óc “thiển cận”, lại nghĩ khác. Dù bản tính nóng nảy, nhưng Martin là nhà hùng biện có hiệu quả nhất của các bang nhỏ. Người đàn ông Maryland này nhẩy ngay vào cuộc tranh cãi về vấn đề đại diện và tuyên bố: “Các tiểu bang phải có quyền bình đẳng về đại diện. Đối với chúng ta, điều này được đảm bảo bởi Các điều khoản Hợp bang; và ngay lúc này đây, chúng ta đáng được hưởng đặc ân đó”. Đúng thế, Hội nghị Lập hiến được tổ chức hoàn toàn phù hợp với qui định bình đẳng giữa các bang theo Các điều khoản Hợp bang(14).
Cuộc tranh cãi phức tạp trong Hội nghị càng căng thẳng thêm vì mẫu thuẫn giữa các bang miền Bắc với các bang miền Nam về phương pháp tính nô lệ để xác định thuế và quyền đại diện. Vào thời gian đó, chế độ sở hữu nô lệ đã được xóa bỏ ở các bang miền Bắc nhưng vẫn còn tồn tại ở hầu hết các bang miền Nam. Ngày 12 tháng Bảy, Oliver Ellsworth đề xuất quyền đại diện tại Hạ viện sẽ dựa trên cơ sở số người da trắng tự do cộng với ba phần năm “những người còn lại”, một uyển ngữ chỉ nô lệ. Trong tuần tiếp theo, cuối cùng các thành viên dự Hội nghị cũng đạt được thỏa hiệp. Họ đổng ý rằng thuế thu trực tiếp sẽ được xác định theo quyền đại diện, còn quyền đại diện tại Hạ viện sẽ dựa trên tổng số người da trắng và ba phần năm “những người khác”. Nhờ thỏa hiệp này và với nhận thức rằng những thỏa hiệp như vậy là cần thiết để tránh một sự tan vỡ hoàn toàn của Hội nghị, các thành viên sau đó chấp thuận việc các tiểu bang có quyền đại diện bình đẳng tại Thượng viện. Như Roger Sherman đã nói, mong ước của mọi đại biểu là “một mô hình chung nào đó của chính quyền cần phải được thiết lập”. Với việc thu xếp ổn thỏa cuộc khủng hoảng về quyền đại diện, Hội nghị đã hài lòng như thể những vấn đề phức tạp khác cũng đã được giải quyết.
Trong những ngày tiếp theo, không khí ở “Thành phố của tình bằng hữu” (Brotherly Love), tên gọi bóng bẩy của Philadenphia, dù vẫn ngột ngạt và oi bức, nhưng đã có hương vị trong trẻo của sự hòa giải. Bây giờ, Hội nghị mong muốn ít ra thì cũng phải có một cái gì đó trên giấy. Những đề xuất trong Phương án Virginia được Hội nghị xem xét và thảo luận từng điểm một cho tới khi hoàn tất vào ngày 26 tháng Bảy. Cùng ngày, các đại biểu quyết định cử ra Ủy ban chi tiết có nhiệm vụ xây dựng một bản dự thảo Hiến pháp, bao gồm 5 nguời: Nathaniel Gorham (Massachusetts), Edmund Randolph (Virginia), James Wilson (Pensylvarda), Oliver Ellsworth (Connecticut) và John Rutledge (Nam Caroline) là Chủ tịch Ủy ban. Họ có nhiệm vụ lập báo cáo về 15 điểm của Phương án Virginia, có sửa đổi, kết hợp những điểm của Phương án New Jersey và những đề xuất của Pinckney. Trong số họ, Edmund Randolph, tác giả của Phương án Virginia, được chọn để phác thảo những nét chính yếu cho bản Hiến pháp. Lúc này các đại biểu khác bỏ phiếu tự cho phép mình có một kỳ nghỉ 10 ngày.
Trong những ngày nghỉ này, Gouverneur Morris và George Washington cùng cưỡi ngựa chạy qua vùng đất ở Thung lũng Forge, tiểu bang Penssylvania, nơi 10 năm trước đó từng là Tổng hành dinh của quân đội các thuộc địa. Trong khi Morris mải mê tìm những chú cá hồi, thì Washington lại trầm ngâm nhìn những bụi cây, nơi trước đây đội quân của ông phải chịu đựng mùa đông buốt giá năm 1777-1778. Những ngày tháng ở thung lũng Forge đó là thời kỳ suy sụp tệ hại nhất đối với quân đội thuộc địa của Washington, nhưng đó là thời điểm mang tính bước ngoặt của cuộc chiến. Kể từ ngày đó, nước Mỹ đã đi được một chặng đường dài.
Bản phác thảo đầu tiên.
Thứ Hai ngày 6 tháng Tám năm 1787, Hội nghị nhóm họp lại sau kỳ nghỉ và nhận được bản dự thảo Hiến pháp đầu tiên do Ủy ban chi tiết đệ trình. Đây là một bản trình bày rất sáng sủa và hơn nữa, còn bổ sung thêm một số điều như: “Quốc hội không được ban hành bất cứ loại thuế hay phí nào đối với bất kỳ loại hàng hóa nào từ bất kỳ tiểu bang nào và tất cả các tiểu bang đều phải chấp thuận sự di cư và định cư của bất kỳ người dân nào từ tiểu bang này sang tiểu bang khác”. Bản dự thảo với 23 điểm đánh theo số thứ tự La Mã được John Rutledge, Chủ tịch Ủy ban, trao cho từng đại biểu, bao gồm 7 trang chữ to dễ đọc, có lề rộng để các đại biểu có những ghi chú cần thiết. Từ bản thảo này sẽ hình thành bản Hiến pháp chính thức sau đó 5 tuần.
Hội nghị dự định hoãn lại hai ngày để các đại biểu có thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng nhưng bị bác bỏ. Các đại biểu chỉ nghỉ ngày hôm đó và hôm sau lại tiếp tục họp. Khi các thành viên bắt đầu xem xét từng điều khoản, thì sự sẵn lòng thỏa hiệp trước đó lập tức biến mất. Vân đề gây tranh cãi mạnh mẽ nhất là các qui định về thương mại. Các tiểu bang miền Nam, nơi xuất khẩu các sản phẩm thô, gạo, thuốc nhuộm và thuốc lá, lo sợ Quốc hội do các tiểu bang vùng New England (các bang miền Bắc) chiếm đa số có thể thông qua thuế xuất khẩu và sẽ phá hỏng nền kinh tế của họ. Đại biểu C.C.Pinckney tuyên bố rằng nếu Quốc hội có quyền lực áp đặt các qui định này, thì các tiểu bang miền Nam sẽ chẳng làm được gì, ngoài việc đứng nhìn các bang miền Bắc.
Ngày 21 tháng Tám, cuộc tranh cãi về thương mại đã dẫn đến một vấn đề nóng bỏng khác: nô lệ. Khi đại biểu Luther Martin của tiểu bang Maryland đề xuất một biểu thuế đối với việc nhập khẩu nô lệ, thì ngay lập tức, Hội nghị rơi vào một cuộc tranh cãi rất căng thẳng về thể chế nô lệ, về tính đạo đức của vấn đề này và về mối quan hệ kinh tế đối với chính phủ mới. Đại biểu John Rutledge của tiểu bang Nam Carolina cho rằng tình trạng nô lệ chẳng liên quan gì đến đạo đức, và tuyên bố “Chỉ riêng lợi ích mới là nguyên tắc điều hành các tiểu bang”. Đại biểu Sherman của tiểu bang Connecticut ủng hộ việc từ bỏ vấn đề nhạy cảm này truớc khi nó gây nguy hiểm cho Hội nghị. Đại biểu George Mason của tiểu bang Virginia thể hiện mối lo ngại đối với việc nhập khẩu không hạn chế nô lệ, nhưng sau đó đã nói rằng ông cũng ủng hộ việc liên bang bảo vệ quyền sở hữu đối với các nô lệ đã có hiện nay.
Cái vấn đề lằng nhằng về khả năng can thiệp của liên bang trong việc buôn bán nô lệ mà Sherman và các đại biểu khác lo sợ sẽ gây chia rẽ mãi mãi giữa các đại biểu của các bang miền Nam với các bang miền Bắc đã được thu xếp ổn thỏa trong “một sự mặc cả”, như câu ví von của Mason. Để đổi lấy sự ủng hộ của các bang vùng New England cho việc tiếp tục nhập khẩu nô lệ trong vòng 20 năm, các bang miền Nam đã chấp nhận một điều khoản qui định rằng để phê chuẩn các dự luật về thương mại và hàng hải chi cần sự chấp thuận của đa số quá bán các phiếu tại Nghị viện. Đó là thuận lợi lớn đối với các bang miền Bắc bởi các đạo luật liên quan đến hàng hải và thương mại, những thế mạnh của miền Bắc, sẽ khó lòng được phê chuẩn nếu Hiến pháp đòi hỏi phải đủ đa số phiếu tuyệt đối, tức là đòi trên 2/3 các phiếu bầu.
Sự thỏa hiệp này là một đòn chí mạng cho những người ủng hộ việc bãi bỏ chế độ nô lệ. Sau này, khi kết quả của Hội nghị được công bố, những ngưởi đã đấu tranh không mệt mỏi đòi bãi bỏ chế độ nô lệ trên toàn quốc cảm thấy cực kỳ thất vọng. Họ coi Hội nghị đã phản bội lại những nguyên tắc tự do cơ bản nhất của con người từng được hết thảy dân chúng hân hoan với Tuyên ngôn Độc lập 11 năm trước đó. Nhiều người coi bản Hiến pháp này như một thứ văn bản đáng đem đốt đi.
Vấn đề Tuyên ngôn nhân quyền có nên đưa vào Hiến pháp không cũng gây tranh cãi kịch liệt. Ngày 31 tháng Tám, George Mason, người trước đó ba tháng đã viết cho con trai đầy hy vọng về “một công việc kỳ vĩ và lớn lao đang ở ngay trước mắt cha”, giờ đây, trong một tâm trạng cực kỳ mỏi mệt và thất vọng, đã buộc phải kêu lên đầy cay đắng rằng: “cha thà chặt cánh tay phải của cha còn hơn là ký vào bản Hỉẽn pháp này”. Mason cảm thấy cực kỳ thất vọng, khi Hội nghị đang đổ hết trách nhiệm gánh vác đất nước cho một chính quyền trung ương khờ khạo, rất dễ dẫn cả đất nước đến sự sụp đổ.
Lo ngại Tuyên ngôn nhân quyền đảm bảo tự do cá nhân không thể trở thành một phần của bản Hiến pháp, Mason kêu gọi tổ chức một Hội nghị khác xem xét lại toàn bộ việc hình thành một chính quyền mới. Mặc dù sự vận động của Mason đã bị Hội nghị bỏ phiếu hoàn toàn bác bỏ, nhưng những người chống đối Hiến pháp vẫn không từ bỏ ý tưởng về một Hội nghị mới. Trong suốt hai năm sau đó, đề nghị này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhưng không đi đến kết quả nào.
Tới những ngày họp cuối cùng, một trong những vấn đề vướng mắc còn lại vẫn chưa được giải quyết là phương pháp lựa chọn người đứng đầu cơ quan hành pháp, tức là Tổng thống. Một loạt các đề nghị được đưa ra xem xét như việc bầu cử trực tiếp bởi những người dân, bởi cơ quan lập pháp của tiểu bang, bởi thống đốc các tiểu bang và bởi cơ quan lập pháp liên bang. Giải pháp cuối cùng được chấp nhận là một cử tri đoàn, một sự thỏa hiệp có vẻ kỳ quặc và lạ lùng, nhưng lại là một thủ đoạn chính trị tuyệt vời khôn ngoan. Các bang lớn đông dân có sức mạnh nhờ số lượng các đại biểu đông đảo; cơ quan lập pháp tiểu bang có quyền chọn lựa các đại cử tri; còn Hạ viện có quyền quyết định Tổng thống trong trường hợp không có ứng cử viên nào chiếm đa số phiếu. Sau cuộc bỏ phiếu đó, Mason đã dự đoán là cứ 20 lần bầu chọn Tổng thổng thì có lẽ tới 19 lần Hạ viện sẽ phải bỏ phiếu quyết định cuối cùng.
Ký kết bản Hiến pháp.
Trong những ngày đầu tháng Chín, khi các đại biểu đã kiệt sức, chỉ muốn trở về nhà, thỏa hiệp trở nên dễ dàng hơn. Ngày 8 tháng Chín, Hội nghị bổ nhiệm ủy ban Văn phòng và Bố cục, gổm 5 người với nhiệm vụ “chỉnh sửa lại văn phòng và sắp xêp lại các điều khoản đã được chấp thuận sau các cuộc tranh luận căng thẳng tại Hội nghị”. Các thành viên của ủy ban này là: Alexander Hamilton, tiểu bang New York; William Samuel Johnson, tiểu bang Connecticut; Rufus King, tiểu bang Massachusetts; James Madison, tiểu bang Virginia và Gouverneur Morris, tiểu bang Pennsylvania.
Gouverneur Morris là kiến trúc sư trưởng của công trình này. Là nhà hùng biện xuất sắc nhất Hội nghị, với giọng văn hùng hồn, mạch lạc, ông được các thành viên khác hoàn toàn nhất trí chọn làm người chắp bút cho văn bản quan trọng này. Một năm sau, ông viết cho Timothy Pickering: “[Bản Hiến pháp đó] được viết bằng chính những ngón tay đang viết bức thư này”. Ngày 12 tháng Chín, bản Hiến pháp được trình lên Hội nghị và các đại biểu lần lượt xem xét từng điểm. Mặc dù các phiếu sít sao nhau trên nhiều điều khoản, thì dù sao công trình nhọc nhằn trong mùa hè lịch sử năm 1787, cuối cùng đã đạt đến mục tiêu.
Ngày 15 tháng Chín, trước lần bỏ phiếu cuối cùng, dù là người đưa ra đề xuất đầu tiên về mô hình chính quyền, nhưng Edmund Randolph lại từ chối ký. Ông tuyên bố không thể ký vào văn bản này nếu Hội nghị phê chuẩn của các tiểu bang không có quyền đề xuất các điều sửa đổi bổ sung. Nhưng Madison và những người ủng hộ quyết định rằng các hội nghị phê chuẩn của tiểu bang hoặc là thông qua, hoặc là bác bỏ toàn bộ chứ không được quyền sửa chữa hay thêm bớt bất cứ điều gì. Họ cho rằng nếu các tiểu bang có quyền đề xuất những sửa đổi bổ sung sẽ rất lộn xộn, có thể sẽ phá hỏng những ý đồ thiết kế hoàn hảo của Hội nghị. Ngoài ra, cách thức phê chuẩn những kiến nghị đó cũng gây ra nhiều rắc rối, thậm chí có thể phải triệu tập một Hội nghị nữa mà có thể sẽ chẳng đi tới đâu vì cũng như tại Hội nghị này, các ý kiến sẽ rất đa dạng và trái ngược.
George Mason cũng rất bất bình khi Hội nghị bỏ phiếu cho phép Quốc hội có quyền ban hành những đạo luật về giao thương đường thuỷ bởi điều đó chỉ làm giàu cho các thương gia miền Bắc của New York, Philadenphia và Boston. Hơn nữa, bản Hiến pháp vừa hoàn thành có một thiếu sót rất lớn, đó là không có Tuyên ngôn nhân quyền để đảm bảo các quyền tự do cho dân chúng. Các đại biểu khác lấy lý do rằng không thể liệt kê đầy đủ các quyền này. Đại biểu Gerry của tiểu bang Massachusetts cũng tuyên bố không ký bởi các lý do: Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ quá dài và lại có quyền được tái cử; Hạ nghị viện có quyền không công bố một phần các hoạt động của mình nếu coi đó là bí mật; Quốc hội có quyền tự do định đoạt tiền lương của chính mình. Những đề xuất này cũng được George Mason ủng hộ, nhưng bị Hội nghị bác bỏ. Vì thế, ba quí ngài cô lập này dứt khoát từ chối ký vào văn bản này.
Đến 6 giờ chiều, sau bẩy tiếng đồng hồ thảo luận không nghỉ, cuối cùng cuộc biểu quyết đã trở nên nhanh gọn và đơn giản. Khi các tiểu bang được yêu cầu biểu quyết đối với bản Hiến pháp, từ mọi đoàn đại biểu đều vang lên “Aye” (Chấp thuận).
Ngày 17 tháng Chín, các đại biểu gặp nhau lần cuối cùng, Charles Pinckney nói: “những lời tuyên bố’của các vị đại biểu đáng kính vào thời điểm sắp kết thúc một cuộc họp quan trọng như thế này đã khiến những giờ phút này có ý nghĩa đặc biệt trang nghiêm”. Ông già Franklin đáng kính đã viết sẵn một bài phát biểu dài và nhờ người đồng nghiệp James Wilson đọc giùm. Với những lời lẽ đuợc coi là chân thành và xúc động nhất trong tất cả các bài phát biểu tại Hội nghị, Franklin cầu xin sự thống nhất đối với bản Hiến pháp. Ông viết:
“Tôi thừa nhận rằng lúc này có nhiều điểm trong bản Hiến pháp tôi không thể chấp nhận, nhưng tôi không chắc rằng tôi sẽ không bao giờ châp nhận nó. Tôi đã sống đủ lâu để hiểu rằng chúng ta không nên dựa quá nhiều vào sự phán xét của chính bản thân mình. Tôi thường thấy mình sai lầm ngay tại những điều ưng ý nhất. Khi tôi càng nhiều tuổi, tôi càng nghi ngờ sự phán xét của chính mình và quan tâm chú ý hơn đến những nhận xét của người khác.
…Với những suy nghĩ đó, thưa Ngài Chủ tịch, tôi đồng ý với bản Hiến pháp này với mọi lỗi lẫm của nó, nếu có, bởi tôi nghĩ rằng chúng ta cần một chính quyền chung… Tôi cũng nghi ngờ rằng không một Hội nghị nào có thể làm ra được một bản Hiến pháp tốt đẹp hơn. Thưa Ngài, tôi nghĩ bản Hiến pháp này cũng làm những kẻ thù của chúng ta ngạc nhiên, những kẻ đang tin tưởng trông chờ rằng chúng ta cũng giống như những người xây dựng Tháp Babel; rằng các tiểu bang của chúng ta đang ở bên bờ miệng vực của sự tan rã, gặp nhau tại đây chỉ để cắt cổ họng của người khác”.
Cuối bài phát biểu, ông mong ước “mọi Quí Ngài tham dự Hội nghị này, những người vẫn còn những bất đồng về bản Hiến pháp, theo gương tôi, nhân lúc này, hãy nghi ngờ một chút về tính không thể nhầm lẫn của chính mình, và thể hiện sự đồng lòng chân thành nhất bằng cách đặt chữ ký của mình vào văn kiện này”.
Govemeur Morris cũng đứng dậy tuyên bố mình cũng có nhiều điều không hài lòng với bản Hiến pháp. Nhưng vì cho rằng bản Hiến pháp này là hoàn hảo nhất có thể đạt được, nên ông chấp thuận văn bản này dù nó còn một số lỗi lầm. Ông cũng giải thích thêm rằng việc các đại diện ký tên vào bản Hiến pháp chỉ có nghĩa là tất cả các tiểu bang đều đồng lòng, chứ không phải là tất cả các đại biểu đều đồng lòng.
Dù rất ít nói trong suốt thời gian hội họp và vắng mặt trong hơn nửa thời gian Hội nghị, thậm chí bản thân những đề xuất của ông bị bác bỏ, nhưng trong bài phát biểu cuối cùng, Hamilton cũng kêu gọi các đại biểu ký vào bản Hiến pháp. Ông nói “bản Hiến pháp này có thể mang lại sự hỗn loạn vô chính phủ. Nhưng mặt khác, nếu xem xét một cách tỉ mỉ, nó cũng có thể đem lại nhiều điều tốt đẹp. Đây là lúc dân chúng đang sốt sắng ủng hộ Hội nghị, nhưng sự sốt sắng đó có thể giảm bớt, nếu một vài đại biểu quan trọng từ chối ký vào văn bản này.”
Đại biểu Williamson của Bắc Caroline đưa ra đề nghị là các đại biểu chỉ ký vào bức thư gửi Quốc hội Hợp bang mà thôi, nhưng C. C. Pinckney tuyên bố là ông không muốn có một thái độ mập mờ. Ông nghĩ tốt hơn hết là tất cả các đại biểu nên ký vào văn bản này để chứng tỏ sự ủng hộ của mình và ông nguyện sẽ hành động đúng như ông nói. Như vậy, trừ Mason, Gerry và Randolph từ chối ký tên và nhiều người khác đã bỏ ra về, 39 đại biểu còn lại trong sảnh họp lần lượt đặt chữ ký chính thức vào bản Hiến pháp và Hội nghị kết thúc vào 4 giờ chiều ngày 17 tháng Chín.
Kiệt sức vì nhiều tuần lễ làm việc với áp lực căng thẳng nhưng hài lòng với công trình của mình, các đại biểu đã chung nhau một bữa tiệc chia tay tại “Quán rượu Thành phố” (City Tavern). Cách đó hai dãy nhà, trên đường Market, hai thợ in John Dunlap và David Claypoole làm việc suốt đêm để in văn bản Hiến pháp dài 6 trang. Những bản in này sẽ xuất hiện trên mọi tờ báo ở Philadelphia vào buổi sáng hôm sau và rồi sau đó được in lại trên mọi tờ báo của 13 tiểu bang. Giờ đây, cuộc tranh luận về mô hình chính quyền mới đã được đưa lên một diễn đàn rộng hơn nhiều.
Ngày 20 tháng Chín năm 1787, bản Hiến pháp cùng bức thư do Chủ tịch Hội nghị George Washington viết đã được gửi lên Quốc hội Hợp bang. Sau một vài ngày tranh luận, Quốc hội liền gửi bản Hiến pháp này cho các tiểu bang để họ tự quyết định việc phê chuẩn theo như những gì mà các đại biểu đề nghị và tuyên bố ngay khi có đủ 9 trong tổng số 13 tiểu bang thông qua, thì một chính quyền mới như bản Hiến pháp qui định sẽ được thành lập.
Tác phẩm Người Liên bang
Ký tên vào bản Hiến pháp, các đại biểu cũng không tin tưởng chắc chắn rằng bản Hiến pháp do họ soạn thảo sẽ được các tiểu bang thông qua. Ngay bản thân Washington cũng từng viết trong nhật ký rằng ông không tin bản Hiến pháp này có thể tồn tại được quá 20 năm. Nhưng Hamilton, sau này trở thành Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của chính quyền Liên bang, lại có những đánh giá khác về khả năng thông qua Hiến pháp. Ông rất lạc quan tin tưởng bản Hiến pháp sẽ được thông qua nhờ uy tín lớn lao của Washington, nhờ sự ủng hộ của tầng lớp giàu có và niềm tin của nhiều người dân Mỹ rằng “Các điều khoản Hợp bang” là không đáp ứng đầy đủ với yêu cầu cấp thiết của đất nước. Hamilton dự đoán nếu Hiến pháp không được chấp nhận thì một cuộc nội chiến sẽ xảy ra, nhưng nếu nó được phê chuẩn thì Washington sẽ trở thành Tổng thống.
Cũng giống như tại Hội nghị, các chính trị gia và dân chúng trên khắp cả nước cũng chia thành hai phe: phe chống bản Hiến pháp, chống chế độ Liên bang và phe ủng hộ bản Hiến pháp, ủng hộ chế độ Liên bang. Quan điểm của những những người ủng hộ cũng như chống đối Hiến pháp được in đi in lại trên tất cả các tờ báo trong cả nước.
Với diện tích lớn, sự giàu có, nhiều ảnh hưởng và là tiểu bang đầu tiên triệu tập Hội nghị thông qua Hiến pháp, nên Pennsylvania nhận được sự quan tâm đặc biệt của cả nước. Tâm trạng những người tán thành và chống đối tại đây cũng rất căng thẳng. Ngày 29 tháng Chín, khi Quốc hội Pennsylvania, nơi phe Liên bang chiếm đa số nhóm họp để quyết định triệu tập một Hội nghị phê chuẩn, nhưng vẫn chưa hội đủ số lượng đại biểu cần thiết, thì một đám đông dân chúng Philadelphia, những người ủng hộ bản Hiến pháp, đã lôi hai người thuộc phe chống Liên bang từ nhà của họ đến trụ sở Hạ viện tiểu bang và buộc họ phải ngồi lại trong khi Quốc hội tiểu bang bỏ phiếu. Đó là một ví dụ kỳ lạ về nền dân chủ đại diện!
Ngày 5 tháng Mười, một người chống liên bang tên là Samuel Bryari đã công bố bài viết đầu tiên của mình trong loạt bài với tiêu đề “Centinel” trong tờ báo Independent Gazetteer ở Philadelphia. Được in lại trong những tờ báo khác, những bài viết này công kích mạnh mẽ quyền lực tối cao của chính quyền trung ương, sự chiếm đoạt chủ quyền của tiểu bang và sự thiếu vắng một Tuyên ngôn nhân quyền để đảm bảo các quyền tự do cá nhân, tự do ngôn luận và tự do tôn giáo. Bryan tuyên bố: “Nước Mỹ đang tan chảy” thành một đế chế chuyên quyền và độc đoán của những quí tộc dòng dõi. Bryan thể hiện nỗi sợ hãi của những người chống chủ nghĩa liên bang rằng chính quyền mới sẽ bị
những gia đình danh giá và giàu có lũng đoạn. Bryan tin là những người dân thường đang gặp nguy hiểm vì phải khuất phục ý muốn của một chính quyền có rất nhiều quyền hành, nhưng quá xa xôi và không thể tiếp cận. Ông tin rằng người dân Mỹ phải tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại chính quyền này như cuộc chiến tranh chống lại nền quân chủ Anh một vài năm trước đó.
Ngày hôm sau, James Wilson, một luật gia xuất chúng, từng tham gia soạn thảo Hiến pháp, hùng hồn đọc một bài phát biểu bảo vệ Hiến pháp trước một đám đông lớn tập trung ở trước cổng Hạ viện tiểu bang. James Wilson ca ngợi chính quyền mới như là “một chính quyền tốt nhất từng xuất hiện trên thế giới”. Quan điểm của người Xcốtlen này đã thắng thế. Dẫn đầu bởi Wilson, Hội nghị của Pennsylvania, nơi phe Liên bang chiếm đa số, đã tiến hành bỏ phiếu ngày 12 tháng Mười hai với tỷ lệ thắng khá cao là 46 phiếu thuận so với 23 phiếu chống.
Việc bỏ phiếu thông qua Hiến pháp mới ở Pennsylvania đã không chấm dứt sự thù hận và cay đắng. Franklin tuyên bố rằng những bài báo thô bỉ đăng trên báo chí đã đưa ra cảm tưởng cả Pennsylvania“đầy rẫy những kẻ xấu xa nhất,, đểu giả nhất và là những kẻ vô lại suốt ngày cãi cọ”. Ngày 26 tháng Mười hai, tại Carlisle, một thị trấn nhỏ gần thủ phủ Harrisburg của Pennsilvania, những nguời bạo động chống liên bang đã phá hoại lễ kỷ niệm của những người phe Liên bang, rồi treo cổ hình nộm của Wilson và Thomas McKean, Chánh án tòa án Pennsylvania, những lãnh tụ phe Liên bang tại đây. Họ cũng vứt vào lửa một bản dự thảo Hiến pháp chép tay và ném bị thương một vài người phe Liên bang.
Cuộc luận chiến lan tràn khắp lãnh thổ 13 tiểu bang, từ mùa thu qua mùa đông, từ mùa xuân sang mùa hạ. Phe chống đối bao gồm một vài nhân vật có ảnh hưởng trong Hội nghị và một số chính trị gia ở các tiểu bang, e sợ việc thiết lập chính quyền trung ương sẽ cướp mất quyền lực của họ. Ngoài ra, nhiều người dân cũng có ác cảm với chính sách thuế khoá. Họ nghi ngờ một chính quyền được tập trung hóa sẽ phá hỏng những lợi ích địa phương. Những người vay nợ cũng sợ hãi chính quyền mới sẽ nuôi dưỡng và làm giàu các chủ nợ.
Tại New York, bản Hiến pháp bị công kích trên báo bởi một loạt nhũng bài luận được ký tên “Cato”. Nguy cơ một liên minh bao gồm tất cả các tiểu bang không được thiết lập làm nhiều lãnh tụ phe Liên bang lo lắng, trong số đó có Hamilton. Ông hoàn toàn hiểu rằng để một nhà nước liên bang vững mạnh được thành lập, thì điều cực kỳ quan trọng là tiểu bang New York phải chấp nhận bản Hiến pháp và tham gia liên bang. Thậm chí ông tin rằng dù cho tất cả các tiểu bang khác phê chuẩn, thì với qui mô dân số, vị trí địa lý và ảnh hưởng lớn lao của mình, sự từ chối của New York cũng sẽ phá hỏng quá trình hình thành Liên bang. Nếu Hợp chủng quốc được thành lập mà không có New York tham gia, thì Liên bang khó có thể vững mạnh, thậm chí khó lòng tồn tại. Nguy cơ trên mảnh đất bên bờ Đại Tây Dương tồn tại nhiều nhà nước riêng biệt có thể dẫn tới cuộc nội chiến nếu mỗi quốc gia đi theo một hướng phát triển riêng.
Chính vì thế, ngay sau khi từ Philadenphia trở về, Hamilton đã lập kế hoạch hành động để đảm bảo bản Hiến pháp được thông qua. Nhằm mục đích này, ông đã bắt đầu viết những bài luận đầu tiên phân tích một cách có hệ thống những ưu điểm của bản Hiến pháp mới, đồng thời đưa ra những mối hiểm họa nếu bản Hiến pháp này không được chấp nhận. Hamilton đề nghị Madison và John Jay cùng tham gia dự án này. James Madison, “kiên trúc sư trưởng” của bản Hiến pháp, cũng nhận thức được vai trò quan trọng của New York trong việc thiết lập chính quyền liên bang. Để lại tiểu bang quê nhà Virginia lúc này đã an toàn trong tầm kiểm soát của Washington, ông sang New York theo lời mời của Hamilton.
Với sự hợp tác của hai bộ óc thông minh và xuất chúng nhất của thế hệ đó, Hamilton và Madison đã hoàn thành tác phẩm chính trị đầu tiên và có giá trị vĩnh hằng đối với nước Mỹ(15). Tổng cộng có 85 bài luận văn Nguời Liên bang (Federalist Papers) được xuất bản trong khoảng thời gian từ ngày 27 tháng Mười năm 1787 đến ngày 28 tháng Năm năm 1788. Những bài luận văn này xuất hiện trên những tờ báo lớn nhất của New York và rồi được in lại trong nhiều tờ báo khác trong cả nước Mỹ. Sau này, tên của những bài luận văn này cũng trở thành tên gọi phong trào ủng hộ Hiến pháp và là tên của chính đảng do Hamilton lập ra, Đảng Liên bang(16).
Những bài luận văn Người Liên bang đã giải thích Hiến pháp một cách chi tiết và biện minh cho những ưu việt của một thể chế sẽ được xây dựng. Sau này, Thomas Jefferson ca ngợi cuốn Người Liên bang là “lời bình luận hay nhất về những nguyên tắc của chính quyền từng được viết ra”. Washington khen Hamilton và Madison rằng họ đã “đem nguồn ánh sáng mới vào khoa học chính quyền. Đã có sự bàn luận đầy đủ, công bằng về nhân quyền và những lời giải thích rõ ràng, mạnh mẽ đó nhất định sẽ để lại ấn tượng lâu dài”. Triết gia Anh John Stuart Mill của thế kỷ XIX cũng cho rằng tác phẩm Người Liên bang là “luận thuyết bổ ích nhất mà chúng ta hiểu về chính quyền liên bang”. Chính trị gia người Pháp, nhà bình luận sắc sảo, Alexis de Tocqueville, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Bàn về nền Dân chủ Mỹ” (1860) viết: “Đó là cuốn sách tuyệt vời và có lẽ gần gũi và cần thiết nhất đối với các chính khách của tất cả các nước”. Trong thế kỷ XX, những sử gia, những nhà luật học và các nhà khoa học chính trị đều đồng ý rằng cuốn Người Liên bang là tác phẩm khoa học chính trị quan trọng nhất bàn về chính quyền từng được viết ra tại Mỹ. Tầm vóc lớn lao của tác phẩm này được so sánh với cuốn Nền Cộng hòa (Republic) của Plato(17), Khoa học chính trị (Politics) của Aristotle(18) và Uy quyền tối cao (Leviathan) của Hobbes(19).
Trái ngược với lòng quyết tâm và khả năng lãnh đạo của những người ủng hộ Liên bang, phe đối lập hầu như không đoàn kết được. Madison đã viết về những người chống Liên bang ở Massachusetts: “Tại đây không có một cá nhân riêng biệt nào có khả năng thống nhất ý muốn của họ hoặc chỉ đạo các biện pháp của họ… mà họ cũng chẳng có kế hoạch nào cả”. Phe chống liên bang tấn công lung tung ở khắp các lĩnh vực: thiếu một Tuyên ngôn nhân quyền; phân biệt đối xử đối với các tiểu bang miền Nam trong các đạo luật về hàng hải; chính sách thuế trực tiếp; sự mất mát chủ quyền của tiểu bang… và coi bản Hiến pháp này là công trình của những chính trị gia quí tộc nhằm bảo vệ lợi ích của tầng lớp này. Tại Massachusetts, một người tuyên bố: “Những luật sư đó, và những người có học thức, có tiền bạc làm cho những người nghèo, mù chữ phải ngậm đắng nuốt cay… Họ sẽ nuốt chửng tất cả chúng ta như con thuỷ quái nuốt chửng dân thường nhỏ bé. Đúng thế, như cá mập ăn thịt người”. Một số bài báo, do những người chống liên bang viết, đưa ra những dự đoán kỳ khôi về những điều rùng rợn có thể xảy ra dưới Hiến pháp mới, như việc những kẻ ngoại giáo và những kẻ thần luận sẽ kiểm soát chính quyền hay để điều tra các tội ác liên bang, người ta sẽ sử dụng cực hình, hoặc thậm chí cả việc Đức Giáo hoàng sẽ được bầu chọn làm Tổng thống.
Tuy nhiên, một vài lý lẽ chống liên bang là có cơ sở xác thực, như tuyên bố rằng lãnh thổ của 13 tiểu bang là quá rộng lớn đối với một chính quyền cộng hòa đại diện. Phe chống liên bang cho rằng không thể thiết lập chế độ cộng hòa trong một lãnh thổ quá mênh mông như thế. Khi đó, chính quyền không thể là những người đại diện cho dân chúng mà sẽ bị những kẻ giàu có thao túng, sẽ chèn ép người nghèo và giai cấp lao động. James Madison lật ngược quan điểm này và nhân mạnh rằng bản thân sự bao la của quốc gia sẽ là một lý do mạnh mẽ để ủng hộ một nền cộng hoà. Tuyên bố rằng một nước cộng hòa rộng lớn sẽ làm đối trọng những nhóm người có quan điểm chính trị khác nhau tranh giành quyền lực, Madison viết “Xã hội càng nhỏ, thì sự khác biệt của các đảng phái và những lợi ích câu thành lại càng ít. Các khác biệt đảng phái và lợi ích càng ít, thì một đa số trong cùng đảng càng dễ hình thành và họ càng dễ dàng xây dựng và thực thi âm mưu và sự đàn áp của họ”. Madison tranh luận rằng việc mở rộng phạm vi của nền cộng hòa sẽ làm giảm nguy cơ bị các bè phái hay các phe cánh riêng rẽ gây ảnh hưởng.
Như tuyên bố nổi tiếng nhất của James Madison trong bài luận văn Người Liên bang số 10: “Nhưng chính phủ là gì nếu không phải là sự thể hiện lớn lao nhất về bản chất của loài người?”. Đó chính là nguyên lý căn bản nhất mà họ sử dụng để bảo vệ thể chế chính quyền Liên bang.

PHẦN I – TÓM TẮT QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HIẾN PHÁP MỸ (3)

Quá trình phê chuẩn Hiến pháp.
Đến ngày 9 tháng Giêng năm 1788, 5 trong số 9 tiểu bang cần thiết theo qui định đã chấp thuận Hiến pháp là Delaware (phê chuẩn ngày 7 tháng Mười hai), Pennsylvania (ngày 12 tháng Mười hai), New Jersey (ngày 18 tháng Mười hai), Georgia (ngày 2 tháng Giêng năm 1788) và Connecticut (ngày 9 tháng Giêng). Nhưng các tiểu bang chủ chốt như Massachusetts, New York và Virginia vẫn không chắc chắn về quyết định cuối cùng.
Trong suốt tháng Giêng năm 1788, phong trào chống chủ nghĩa Liên bang ở Massachusetts do Samuel Adams lãnh đạo khăng khăng đòi chỉ thông qua bản Hiến pháp mới nếu các quyền tự do cá nhân được đảm bảo. Ngày 6 tháng Hai năm 1788, với việc những người liên bang đồng ý đưa ra một danh mục các tu chính án vào Tuyên ngôn nhân quyền để bổ sung vào Hiến pháp, tiểu bang Massachusetts mới đồng ý thông qua với 187 phiếu thuận và 168 phiếu chống. Nhà lãnh đạo cách mạng lão thành John Hancock(20), Chủ tịch Hội nghị phê chuẩn Hiến pháp ở Massachusetts do không thể quyết định chính kiến của mình đối với bản Hiến pháp đã giả vờ vắng mặt với lý do bị ốm. Nhưng sau đó, bị những người Liên bang dụ dỗ về triển vọng trở thành phó tổng thống và thậm chí là Tổng thống nên Hancock, người bị Madison nhận xét là “một kẻ háo danh”, đột nhiên thay đổi quan điểm vào phút chót. Mặc dù bây giờ Massachusetts đã an toàn cho phe Liên bang, thì việc đề xuất Tuyên ngôn nhân quyền cũng là một chiến thắng lớn lao của phe chống Liên bang. Sau đó, những bang còn lại cũng đòi hỏi các điều kiện tương tự.
Khi Hội nghị phê chuẩn của New Hampshire đang diễn ra nhưng bị sức ép của phe chống Liên bang buộc phải dừng lại, thì phe Liên bang cảm thấy một thất bại sắp đến gần. Đến ngày 24 tháng Ba, khi tiểu bang Rhode Island bác bỏ bản Hiến pháp trong một cuộc trưng cầu dân ý với số phiếu quá áp đảo là 10 trên 1, thì những lãnh tụ phe Liên bang bắt đầu lo sợ thực sự. Trong khi mong đợi kết quả từ Hội nghị phê chuẩn của tiêu bang Maryland, Madison đã viết cho Washington: “Sự khác biệt thậm chí chỉ giữa sự trì hoãn và sự phê chuẩn ở Maryland cũng có thể mang lại lợi thế sống còn đối với những người chống đối bản Hiến pháp”.Madison có một vài lý do để lo lắng. Nhưng cuộc bỏ phiếu cuối cùng ngày 28 tháng Tư của tiểu bang Maryland cho kết quả tốt như ông mong đợi với 63 phiếu thuận và 11 phiếu chống. Tại Baltimore, một cuộc diễu hành khổng lồ được tổ chức để mừng chiến thắng của phe Liên bang. Một con tàu dài được đặt tên là “Con tàu Liên bang” được hạ thuỷ tại cảng Baltimore, rồi chạy dọc con sông Potomac về vùng đất Mount Vemon, quê hương Washington.
Ngày 21 tháng Sáu, Hội nghị phê chuẩn của New Hampshire nhóm họp lại đã chấp thuận bản Hiến pháp với một đa số nhỏ nhoi, 57 phiếu thuận và 46 phiếu chống, kèm theo những tu chính án. Với việc tiểu bang Nam Carolina đã chấp thuận Hiến pháp ngày 23 tháng Năm, New Hampshire đã trở thành tiểu bang thứ 9 thông qua bản Hiến pháp, đúng như yêu cầu đề ra. Ngày 2 tháng Bảy năm 1788, sau khi nhận được thông báo về việc phê chuẩn Hiến pháp của New Hampshire, Quốc hội Lục địa, khi đó đang nhóm họp ở New York, đã quyết định bổ nhiệm một ủy ban “để đưa tất cả những gì Hiến pháp tuyên bố vào hành động thực tiễn”.
Ngày 2 tháng Sáu năm 1788, Hội nghị phê chuẩn của Virginia được tổ chức với sự có mặt của nhiều chính khách hàng đầu của đất nước. Sau nhiều ngày họp căng thẳng, tới ngày 25 tháng Sáu, phe Liên bang do Madison lãnh đạo đã vượt qua sự chống đối của Patrick Henry, George Mason và Henry Lee. Virginia chính thức phê chuẩn bản Hiến pháp mới với 89 phiếu thuận và 75 phiếu chống, nhưng cũng đòi hỏi hàng loạt những tu chính án. Điều đó khiến phe chống Liên bang tại New York bắt đầu dao động.
Ngày 26 tháng Bảy năm 1788, sau rất nhiều tranh cãi, nhưng được sự phê chuẩn của Virginia cổ vũ và những nỗ lực không mệt mỏi của Hamilton, Hội nghị tiểu bang New York đã phê chuẩn Hiến pháp mới với số phiếu rất sít sao là 30 phiếu thuận và 27 phiếu chống, nhưng kèm theo điều kiện phải bao gồm Tuyên ngôn nhân quyền. Tuy nhiên, sự vượt trội của phe Liên bang ở cả hai bang chủ chốt này là rất sít sao. Hamilton phỏng đoán đa số dân chúng ở New York thực sự chống lại Hiến pháp và có thể đa số dân chúng trong toàn quốc cũng chống lại văn kiện này. Chỉ những lời cam kết và các tu chính án mới đảm bảo chiến thắng cho phe Liên bang.
Ngày 31 tháng Bảy năm 1788, Bắc Caroline là tiểu bang cuối cùng, trừ Rhode Island, phê chuẩn Hiến pháp với 183 phiếu thuận và 84 phiếu chống. Ngày 4 tháng Ba năm 1789, Quốc hội Liên bang họp phiên đầu tiên tại thành phố New York bỏ phiếu hoàn toàn nhất trí bầu George Washington làm Tổng thống đầu tiên của nước Mỹ. Ngày 30 tháng Tư năm 1789, Washington chính thức tuyên thệ nhậm chức. Sau đó, Quốc hội lần lượt thông qua các đạo luật thiết lập Bộ Ngoại giao, Bộ Chiến tranh và Bộ Tài chính.
Tới năm 1790, nhận thấy không thể có một chỗ đứng cho một bang nhỏ và quá yếu, bị một thể chế cộng hòa vững mạnh bao bọc, tiểu bang Rhode Island cũng chính thức phê chuẩn bản Hiến pháp và gia nhập Hợp chủng quốc. Thế là ước mong về một chính quyền vững mạnh của rất nhiều người Mỹ cuối cùng đã trở thành hiện thực.
Tuyên ngôn nhân quyền (The Bill of Rights)
Việc đòi hỏi phải có một Tuyên ngôn nhân quyền là vũ khí mạnh mẽ nhất của những người chống chế độ Liên bang. Patrick Henry là một trong những người chỉ trích bản Hiến pháp kịch liệt nhất khi liệt kê những điểm không rõ ràng và việc thiếu vắng những công cụ bảo vệ cần thiết chống lại sự chuyên chế của chính quyền. Trong Hội nghị phê chuẩn của Virginia, ông nhạo báng chủ trương cân bằng và đối trọng của phe Liên bang rằng “Những trò cân bằng và đối trọng giả tạo và hào nhoáng kia, cái trò bước đi trên dây đầy mạo hiểm, những vụ huyên náo ầm ĩ, những toan tính kỳ quặc về kiểm soát và đối trọng đó để làm gì?”. Phe chống liên bang đòi hỏi một bản Hiến pháp cô đọng hơn, chắc chắn hơn, nêu bật được quyền của dân chúng và những giới hạn quyền lực của chính quyền. Richard Henry Lee cũng thất vọng về sự thiếu vắng những điều khoản bảo vệ “những quyền thiết yếu của con người mà không có tự do, thì không thể tồn tại”. Lee tranh cãi rằng việc chuyển một chính quyền cũ thành chính quyền mới mà thiếu một Tuyên ngôn nhân quyền như vậy thì chỉ là việc “tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa”.
Dù rất nhiều chính khách đương thời cũng cho rằng những quyền cơ bản của con người cần phải đuợc bảo đảm trong Hiến pháp, thì ngược lại, Wilson và Madison, những lãnh tụ phe Liên bang lại khăng khăng giữ quan điểm rằng một Tuyên ngôn nhân quyền là không cần thiết, vì mọi quyền lực không được trao cho chính quyền đều thuộc về dân chúng. Sau này, ngay cả Thomas Jefferson cũng viết cho Madison rằng: “Tuyên ngôn nhân quyền là điều mà dân chúng thường dùng để chống lại tất cả các chính quyền trên trái đất”.
Mùa thu năm 1788, Madison bắt đầu tin rằng Tuyên ngôn nhân quyền không chỉ cần thiết để có Hiến pháp được thông qua mà sẽ có nhiều tác dụng tốt khác. Ngày 17 tháng Mười, ông cho rằng “những châm ngôn cơ bản về chính quyền tự do là một nền tảng tốt để khơi dậy ý thức của cộng đồng” chống lại sự đàn áp tiềm tàng và sẽ “cân bằng được những nhu cầu lợi ích và tình cảm của dân chúng”.
Sự ủng hộ của Madison đối với Tuyên ngôn nhân quyền chính là điều cực kỳ quan trọng. Với tư cách là Hạ nghị sĩ của Virginia tại Quốc hội liên bang khóa đầu tiên, tổ chức theo Hiến pháp mới, ông làm việc không mệt mỏi để thuyết phục Hạ viện tiến hành những bổ sung cần thiết cho bản Hiến pháp. Trong những tháng đầu tiên ở Quốc hội, Madison đã vận động và xây dựng 17 tu chính án. Danh sách sau đó được thu gọn lại thành 12 điều để trình lên Thượng viện. Ngày 2 tháng Mười năm 1789, sau khi đã được Quốc hội Mỹ thông qua trong tháng Chín, Tổng thống Washington gửi cho các tiểu bang các bản sao của 12 tu chính án này. Ngày 15 tháng Mười hai năm 1791, ba phần tư các bang đã thông qua 10 trong số 12 tu chính án đó mà sau này rất quen thuộc với người dân Mỹ như là Tuyên ngôn nhân quyền (Bills of Rights)(21).
Giá trị vĩnh hằng của bản Hiến pháp.
Bản Hiến pháp Mỹ năm 1787 đã mang đến cho thế giới một ví dụ đầu tiên về một thể chế cộng hòa liên bang rộng lớn được thành lập trên nguyên tắc đại diện. Mặc dù đây không phải là mô hình đầu tiên được thành lập trên nguyên tắc dân chủ, nhưng bản Hiến pháp này đã xây dựng nền tảng cho một chính quyền dân chủ cộng hòa lớn nhất trên thế giới. Bất chấp cuộc nội chiến vĩ đại, bất chấp hai cuộc chiến tranh thế giới, bản Hiến pháp này vẫn đứng vững qua thử thách của thời gian và các biến động. Như Tổng thống Lincoln, người giải phóng chế độ nô lệ ở Mỹ, đã nói: “Những nguời cha của chúng ta đã mang đến ỉục địa này một quốc gia mới, công nhận sự tự do và công hiến cho một mục tiêu cao cả rằng tất cả mọi người được sinh ra đều bình đẳng. Sự thành công của Hội nghị ở Philadenphia chính là việc thiết lập một bản Hiến pháp để “hình thành một liên minh hoàn hảo hơn, thiết lập sự công bằng, đảm bảo một sự an toàn chung, thúc đẩy sự thịnh vượng chung và bảo đảm tự do cho chính chúng ta và cho sự thịnh vượng của chúng ta”.
Năm 1788, Benjamin Franklin nói với một phóng viên Pháp rằng mô hình chính quyền mới cũng giống như trò chơi súc sắc, quá nhiều người tham dự với các ý kiến, sở thích và lợi ích rất đa dạng sẽ không thể mang lại kết quả mà không gây tranh cãi. Sau đó, Franklin đã viết: thư cho những người bạn ở châu Âu: “Tôi gửi tới các bạn bản dự thảo Hiến pháp liên bang mới cho các vùng đất của nước Mỹ… Nếu chúng tôi thành công, tôi không hiểu tại sao ở châu Âu, các bạn không thành lập một liên minh bao gồm tất cả các quốc gia và các vương quốc khác nhau… 200 năm sau, một Liên bang châu Âu đang được hình thành với 15 quốc gia và rồi đây sẽ là một liên bang của 25 quốc gia như ý tưởng của Benjamin Franklin và cũng là mơ ước của rất nhiều người dân châu Âu đang trở thành hiện thực, không phải bởi máu và bạo lực, mà bằng niềm tin, trí tuệ và sự đồng lòng của hết thảy mọi người.
Madison từng viết cho Jefferson rằng sự gắn kết những mối quan tâm trái ngược nhau này thật sự là “một nhiệm vụ khó khăn hơn cả việc thuyết phục những người không hề liên quan gì để họ thực hiện nó”. Khi các đại biểu rời Philadelphia lúc kết thúc Hội nghị, nếu có, thì cũng chỉ rất ít người tin tưởng vào sự tốt đẹp và sự tồn tại vĩnh hằng của bản Hiến pháp mà họ vừa soạn thảo. Họ cũng không biết rằng rồi đây, họ sẽ là những nhân vật chính tham gia tích cực vào việc xây dựng một chính quyền mới.
Vào cuối đời, James Madison, người cuối cùng trong số 55 người tham gia Hội nghị này còn sống, đã viết nguệch ngoạc trong một bức thư mà chưa bao giờ được gửi đi. Trong đó, ông tuyên bố không có chính quyền nào là hoàn hảo và “đây chính là mô hình ít khiếm khuyết nhất và do vậy sẽ là chính quyền tốt nhất”.
Nhiều sử gia Mỹ gọi thành công mà Hội nghị Lập hiến đã làm là “Điều kỳ diệu ở Philadenphia” và ngày nay, bản Hiến pháp Mỹ cùng với Tuyên ngôn Độc lập được lưu giữ trang nghiêm và cẩn thận tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Mỹ như những tài sản quí báu nhất của nhân dân Mỹ.
(*)Nguồn: Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?, Nhà Xuất bản Lý luận chính trị, 2005. Dịch và giới thiệu: Nguyễn Cảnh Bình.
(1) Bây giờ tòa nhà này được gọi là Dinh Độc lập (Independence Hall). Chính tại tòa nhà này, vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, Quốc hội Lục địa đã thông qua bản Tuyên ngôn Độc lập cho 13 tiểu bang của nước Mỹ. Tòa nhà này có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng, nơi hình thành hai văn kiện quan trọng nhất cùa nước Mỹ: Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Liên bang.
(2) Vai trò của Quốc hội Hợp bang Mỹ khi đó cũng tương tự như Liên Hiệp quốc ngày nay. Các tiểu bang có đại diện tham gia, nhưng Quốc hội không có quân đội và không có sức mạnh cần thiết đế ép buộc các tiêu bang phải tuân thủ mọi qui định của liên minh.
(3) Patrick Henry (1736-1799): nhà ái quốc nổi tiếng của Mỹ với câu nói “Tự do hay
là chết”.
(4) Thomas Jefferson (1743-1826): là một học giả, kiến trúc sư, nhà khoa học lớn. Chính ông là tác giả Tuyên ngôn Độc lập Mỹ năm 1776. Thomas Jefferson làm Ngoại trường đầu tiên của Mỹ, Phó Tổng thống (1797-1801), rồi là Tổng thống thứ ba trong 2 nhiệm kỳ (1801-1809). Ông là người sáng lập Trường Đại học Virginia.
(5) John Adams (1735-1826): một lãnh tụ của cuộc Cách mạng Mỹ, từng tham gia Uỷ ban soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập. Khi Washington nhậm chức Tổng thống, Adams là Phó Tổng thổng (1789-1796), rồi kế nhiệm Washington làm Tổng thống thứ hai (1796-1801).
(6) John Jay (1745-1829): một lãnh tụ của tiểu bang New York, làm Ngoại trưởng Mỹ dưới thời Các điều khoản Hợp bang. Ông ủng hộ một chính quyền mạnh, cùng Hamilton và Madison viết tác phẩm “Người liên bang”, sau đó làm Chánh án đầu tiên của Tòa án Tối cao Liên bang (1789-1795), Thống đốc New York (1795).
(7) Thomas Paine (1737-1809): một triết gia lớn về chính trị trong giai đoạn đầu của nước Mỹ. Những bài viết của ông có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc Cách mạng Mỹ và Pháp. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, được coi làm nguồn gốc cho cuộc Cách mạng Mỹ là Lương tri (Common Sense), xuất bản tháng Giêng năm 1976.
(8) Samuel Adams (1722-1803): lãnh tụ chủ chốt của cuộc Cách mạng Mỹ. Ông là người vận động cho phong trào chống Đạo luật thuế Tem (1765), và là người sáng lập Hội Những người con Tự do (Sons of Liberty). Sau năm 1770, ông là lãnh tụ chính trong việc thành lập các Ủy ban Liên lạc liên Thuộc địa, chỉ huy vụ Lô chè Boston (1773). Sau này, ông giữ chức Thống đốc tiểu bang Massachusetts (1794-97).
(9) Richard Henry Lee: (1732-1794): một lãnh tụ của cuộc Cách mạng Mỹ, người khởi xướng nền độc lập cho các thuộc địa với lời tuyên bố nổi tiếng năm 1776: “…rằng những thuộc địa thống nhất này là và phải có quyền là các quóc gia tự do và độc lập”.
(10) Cato Già: tên thật là Marcus Porcius Cato (234-149 TCN), một chính khách và nhà hùng biện nổi tiếng của Đế chế La Mã.
(11) James Harrington: lý thuyết chính trị người Anh, nổi tiếng với tác phẩm The Commonwealth of Oceana (1656). Ông cho rằng chính quyền phải là công việc của dân chúng.
(12) John Locke (1632-1704): Triết gia nổi tiếng người Anh với các tác phẩm “Bàn về lòng khoan dung” (1689), “Bàn về trí tuệ con người” (1690), “Luận văn về nguồn gốc, sự phát triển và chấm dứt của chính quyền”. Ông chủ trương xã hội phải có pháp luật mà vua chúa cũng phải tuân theo, nếu không người dân có quyển nổi dậy.
(13) Montesquieu (1689-1755): Triết gia xuất sắc người Pháp của Thế kỷ ánh sáng, tác giả các cuốn “Những bức thư của người Ba Tư” (1721), “Bàn về chính trị” (1723), “Suy nghĩ về chính thể quân chủ phổ thông” (1724), ‘Tinh thần pháp luật” (1748). Ông là người đề xướng học thuyết Tam quyền phân lập.
(14) Bất kể bang lớn hay nhỏ và có bao nhiêu đại biểu, thì trong mọi cuộc bỏ phiếu tại Hội nghị, mỗi bang chỉ có 1 phiếu bầu duy nhất. Tất cả các đại biểu của một bang sẽ bỏ phiếu về vấn đề đó. Nếu có nhiều phiếu thuận hơn, thì lá phiếu của tiểu bang này được coi là thuận và ngược lại. Hội nghị sẽ chấp thuận điều được đa số các bang tán thành chứ không tính theo đa số phiếu bầu của cá nhân các đại biểu.
(15) John Jay cũng tham gia viết tác phẩm này, nhưng mới viết được 5 bài thì ông bị ốm. Trong số 85 bài luận, Hamilton viết khoảng 51 bài và Madison viết 29 bài còn lại.
(16) Đảng Liên bang được thành lập khoảng những năm 1794-1795 để đối chọi với Đảng Cộng hòa – Dân chủ của Jefferson và Madison. Lãnh tụ Đảng Liên bang là John Adams, Alexander Hamilton, John Marshall. Đảng Liên bang cầm quyền trong các nhiệm kỳ tổng thống của Washington và John Adams. Kể từ khi Jefferson lên nắm quyền Tổng thống năm 1801, Đảng Liên bang bị suy yếu và nhất là sau cái chết của Hamilton thì Đảng Liên bang cũng tan rã. Tuy nhiên, các tư tưởng chính của Đảng Liên bang lại được kế tục bởi Đảng Cộng hoà, được thành lập vào những năm 1860.
(17) Plato (khoảng 428 – 347 TCN): triết gia Hy Lạp, một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất trong nền triết học phương Tây.
(18) Aristotle (384-322 TGN): triết gia và là nhà khoa học Hy Lạp cổ đại, học trò của Plato, được coi là “tập đại thành” của văn minh Hy Lạp cổ đại.
(19) Thomas Hobbes (1588-1679): triết gia và lý thuyết gia chính trị người Anh, một trong những nhà tư tuởng hiện đại đầu tiên của phương Tây bàn về nhà nước.
(20) John Hancock (1737-1793): một trong những lãnh tụ của cuộc Cách mạng Mỹ. Ông là Chủ tịch Đại hội các Thuộc địa khóa I, người đầu tiên ký vào bản Tuyện ngôn Độc lập năm 1776. Thống đốc Massachusetts trong những năm 1780-1793; Chủ tịch Đại hội các Thuộc địa khóa II.
(21) Xem chi tiết Tuyên ngôn nhân quyền tại Phụ lục 2 trong cuốn sách này.

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

Tài liệu tham khảo đặc biệt

1657. IXRAEN-IRAN: CUỘC CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ tư, ngày 27/2/2013

IXRAEN-IRAN: CUỘC CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC

TTXVN (Cairô 26/2)
Trong bài viết có tiêu đề nói trên đăng trên mạng tin “Toàn cầu hóa”, tác giả René Naba cho rằng Mỹ đã “quan tâm” trở lại Vấn đề hạt nhân Iran sau chiến dịch vận động tranh cử tổng thống ở nước này. Thông điệp liên bang ngày 12/2/2013 của Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ mở đường cho một cuộc đọ sức có thể xảy ra giữa một bên là Mỹ-Ixraen với bên kia Cộng hòa Hồi giáo Iran.

Cuộc đối đầu đầu tiên giữa nhà nước Do Thái và một nhà nước Hồi giáo không phải Arập
Cuộc chiến tranh giữa Ixraen và Iran, nếu xảy ra, có thể lan rộng sang các nước quân chủ vùng Vịnh, vượt ra ngoài khu vực truyền thống của chiến trường được hình thành bởi các nước có chung biên giới lịch sử với Palextin dưới thời cai trị của Anh (Ai Cập, Gioócđani, Libăng, Xyri và Palextin). Nó sẽ phản ánh một sự đảo ngược về xu hướng chiến lược, hai đồng minh trước đây của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Iran và Ixraen trở thành đối thủ, đặt các chế độ Hồi giáo mới của “Mùa Xuân Arập” vào vị trí tế nhị: Ai Cập, Tuynidi và Libi, cũng như Thổ Nhĩ Kỳ và các nước quân chủ đồng minh thân Mỹ như đã thấy trong chiến dịch quân sự gần đây của Ixraen tại Gada vào tháng 11/2012.
Trong thời kỳ hậu độc lập của các quốc gia Arập và sự trỗi dậy của đế quốc Iran sau khi Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc (1939-1945), một liên minh đã hình thành giữa Iran và Ixraen cùng với Thổ Nhĩ Kỳ, nước Hồi giáo thứ hai không phải Arập của Trung Đông để ép các dân tộc Arập và kiềm chế các xung đột của chủ nghĩa dân tộc, đặc biệt là về Vấn đề Palextin. Liên minh chiến lược Ixraen – Iran bị phá vỡ với sự sụp đổ của triều đại Pahlavi vào tháng 2/1979, và một tháng sau đó Hiệp ước Trại David giữa Ixraen và Ai Cập, được ký kết ngày 25/3/1979, dẫn đến việc trung lập hóa Ai Cập song song với việc thúc đẩy Iran dưới chế độ Khomeini đúng về phía người Palextin.
Một sự thay đổi thứ hai về cuộc xung đột Arập-Ixraen diễn ra trong Chiến tranh vùng Vịnh lần đầu tiên (1990-1991) là việc hình thành liên minh quân sự giữa Ixraen, Ai Cập và các chế độ quân chủ Arập, thêm vào đó là cuộc chiến tranh Bắc-Nam do Liên quân của các nước tiêu thụ dầu lửa tiến hành chống lại Irắc của Tổng thống Saddam Hussein. Việc Iran gia nhập hàng ngũ các “cường quốc ở ngưỡng hạt nhân” bất chấp một lệnh cấm vận ba mươi năm tạo ra sự ngưỡng mộ trong dư luận ở Nam bán cầu về thành tựu công nghệ không thể chổi cãi này. Điều này minh chứng một chính sách độc lập hoàn toàn đã dẫn đến khả năng Iran có thể phát triển vũ khí răn đe quân sự cùng lúc với duy trì vai trò xung kích của cuộc cách mạng Hồi giáo. Tại một khu vực chịu sự áp đặt của Ixraen và Mỹ, trường hợp Iran đã thực sự trở thành sách giáo khoa, tài liệu tham khảo trong lĩnh vực này và kể từ đó Iran nằm trong tầm ngắm của Ixraen.
Sự vượt trội của Ixraen
Sự vượt trội của Ixraen về mặt thông tin được hỗ trợ bởi các phương tiện truyền thông phương Tây, cản trở việc tiếp cận sự thật do sự bóp méo cách ứng xử của các nước phương Tây đối với các cường quốc hạt nhân. Mỹ và Liên minh châu Âu kiểm soát 90% thông tin của hành tinh và trong số 300 cơ quan báo chí lớn, 144 cơ quan có trụ sở chính tại Mỹ, 80 cơ quan ở châu Âu và 49 cơ quan tại Nhật Bản. Các nước nghèo chiếm tới 75% dân số của nhân loại, chỉ nắm giữ 30% phương tiện truyền thông của thế giới.
Ixraen, cường quốc hạt nhân duy nhất ở Trung Đông, đã liên tục nhận được sự hợp tác tích cực của các nước phương Tây, các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an (Mỹ, Pháp, Anh) để phát triển vũ khí hạt nhân, mặc dù không tôn trọng Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân. Ấn Độ và Pakixtan, hai cường quốc hạt nhân châu Á đối địch cũng vậy. Cả hai nước này nhận được sự hợp tác hạt nhân mạnh mẽ từ phía Mỹ và Pháp mặc dù không phê chuẩn Hiệp ước về không phổ biến vũ khí hạt nhân.
Lập luận phương Tây sẽ được tín nhiệm nếu sự chặt chẽ về mặt pháp lý trong vấn đề hạt nhân được áp dụng ngang nhau đối với tất cả các nước khác. Chính vì thế, Trung Quốc và Nga, đồng minh chính của Iran, đã thành lập một diễn đàn phản đối lãnh đạo phương Tây thông qua tổ chức hợp tác được gọi là “nhóm Thượng Hải” để thực hiện một OPEC hạt nhân thống nhất các cựu lãnh đạo của phe chủ nghĩa Mác (Trung Quốc và Nga) và các nước cộng hòa Hồi giáo Trung Á, với Iran, là quan, sát viên.
Iran xuất hiện như là kết quả của áp lực của Ixraen, được hỗ trợ bởi các đồng minh châu Âu, nhất là Pháp, giống như một thử nghiệm quan trọng về quân sự và ngoại giao. Tuy nhiên, việc tập trung thảo luận vấn đề hạt nhân của Iran có thể cản trở cách tiếp cận hai cực của ngoại giao Mỹ nhằm thúc đẩy đàm phán về cuộc xung đột Ixraen-Palextin, đồng thời nhằm vô hiệu hóa Iran.
Cuộc thập tự chinh của Ixraen chống Iran nhằm hai mục đích: loại bỏ bất kỳ mối đe dọa nào của Iran và né tránh cam kết quốc tế của Ixraen liên quan đến việc giải quyết các vấn đề của người Palextin. Cuộc tấn công của phương tiện truyền thông quân đội Ixraen, trong khi đẩy xuống hàng thứ yếu việc giải quyết cuộc xung đột Ixraen – Palextin, nhằm mục đích về cơ bản làm cho dư luận quốc tế chấp nhận việc đã rồi của sự sáp nhập lãnh thổ của Palextin, và khôi phục lại uy tín mờ nhạt của Ixraen bởi những thất bại liên tiếp trong cuộc chiến chống Libăng vào năm 2006, cũng như với Palextin ở những vùng đất chiếm đóng tại Gada trong các năm 2008-2009 và 2012.
Được hưởng lợi, Iran đã đạt được tầm cỡ như một cường quốc khu vực vì những chính sách sai lầm của Mỹ tại Ápganixtan cũng như ở Irắc. Tại những nước này, các đối thủ của Iran về ý thức hệ như người Sunni Taliban cực đoan và Saddam Hussein, người theo chủ nghĩa thế tục bauxite của Irắc đã bị Mỹ, người bảo hộ trước đây của họ, loại bỏ. Iran muốn được công nhận địa vị của mình trong khu vực, như đã được công nhận trong những năm 1970, khi người Mỹ giao phó cho vua Iran vai trò “siêu cảnh sát” ở vùng Vịnh, vào thời gian đó có nguy cơ rơi vào tay những người cộng sản trong cuộc nổi dậy của họ tại Dhofar (Vương quốc Hôi giáo Oman) cũng như sự phản kháng dân tộc chủ nghĩa của “Mặt trận dân tộc giải phóng bán đảo Arập” tại Arập Xêút, Yêmen cũng như tại Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất.
Trên tinh thần này, Iran tái khẳng định quyền chính đáng của mình về hạt nhân và đề xuất một cuộc đàm phán toàn diện với nhóm tiếp xúc trên tất cả các khía cạnh tranh chấp với phương Tây trong vòng 35 năm qua, cũng như lệnh cấm vận đối với nước này và các tài sản nhiều tỷ đô la của Iran bị đóng băng tại Mỹ, vai trò khu Vực của Iran, hợp tác an ninh ở Irắc và Ápganixtan.
Chiến tranh điện tử bằng cách phá hoại máy tính
Cách đây 5 năm, phe cực hữu của Thủ tướng Ixraen Benjamin Netanyahu đã tung ra ba loại vi rút tấn công máy tính để vô hiệu hóa Iran nếu nước này không trì hoãn chương trình hạt nhân của mình. Cùng với một chiến dịch ám sát các nhà khoa học Iran, chiến dịch ba virus Stuxnet, Duqu và Flame nhằm vào nhiều mục tiêu như hệ thống hạt nhân của Iran, hệ thống ngân hàng Libăng, bị tình nghi phục vụ cho việc rửa tiền chiến tranh của chế độ Xyri và Hezbolla Khi cuộc chiến tại Xyri đang tiếp diễn trong tháng 9/2012, ba tháng trước các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, Ixraen thậm chí đã lên kế hoạch chống Iran bằng xung điện từ (IEM) để làm tê liệt toàn bộ mạng lưới giao thông vận tải và thông tin liên lạc, ngăn chặn việc phát triển chương trình hạt nhân của nước này. Xung điện từ được tiến hành dưới hình thức của một vụ nổ hạt nhân trên cao nhằm làm gián đoạn hệ thống máy tính của đất nước. Vụ nổ không tạo ra gió thối cũng như bức xạ trên mặt đất, nhưng làm tê liệt thông tin và cạn kiệt nguồn cung cấp lương thực, theo hướng dẫn của Bill Gertz ngày 29/8/2012 trong chuyên mục video của mình trên trang web “The Washington Beacon” theo quan điểm chính trị bảo thủ của Mỹ. Sóng xung kích mạnh mẽ được tạo ra bởi sự tương tác giữa các vụ nổ và từ trường của trái đất, tiềm năng phá hoại của IEM rất ghê gớm. Nó cũng có thể được tạo ra từ một máy phát vi sóng.
Trước đây, năm 2009 Ixraen đã phát động một cuộc tấn công điện tử nhằm vào hệ thổng máy tính điện tử của Iran thông qua virus Stuxnet, cùng với một chiến dịch ám sát nhá khoa học Iran. Gần 30.000 máy tính bị nhiễm virus độc hại này, nó tìm kiếm trong máy tính hệ thống, giám sát của công ty Đức Siemens Win cc, phụ trách việc kiểm soát các đường ống dẫn, các giàn khoan dầu khí và nhà máy điện.
Ngược lại, năm 2011 Iran đã thành công trong việc bắn hạ một máy bay không người lái cực kỳ hiện đại của Mỹ giám sát các địa điểm hạt nhân của Iran khi bay qua Balochistan. Và máy bay tàng hình và bí mật RQ-170 được xem như một chiến lợi phẩm vô giá, chứng minh khả năng của Iran kiểm soát được máy bay quan sát không người lái tiên tiến nhất của Mỹ, trình diễn khả năng của các thiết bị điện tử cực kỳ hiện đại của các nhà bác học nước này. Từ nay trở đi, với một nguyên mẫu RQ-170 phục vụ cho việc chế tạo các phiên bản của nó, Iran dường như đã thành công trong việc phòng ngừa các cuộc tấn công của loại vũ khí này, tự nâng mình lên hàng thứ 2 thế giới trong lĩnh vực vũ khí.
Ixraen có một kho vũ khí hạt nhân, được cho là một trong những kho lớn nhất ngoài thế giới phương Tây, khoảng từ 150 đến 200 đầu đạn hạt nhân và một đội máy bay chiến đấu mạnh mẽ: 710 máy bay, nhất là các máy bay tiêm kích F-15 và F-16, 181 máy bay trực thăng chiến đấu, cũng như nhiều máy bay không người lái để tấn công và trinh sát. Dưới chính quyền của Tổng thống Barack Obama, Mỹ có thể đã cung cấp cho Ixraen hàng chục máy bay tiếp nhiên liệu phục vụ cho các cuộc tấn công tầm xa. Ngoài lực lượng tấn công hạt nhân, vũ khí dựa trên hệ thống tên lửa đạn đạo, Ixraen còn có bom GBU, được chế tạo theo mẫu GBU của Mỹ, thường được gọi là “bom phá boongke”, nghĩa là “xuyên thủng công sự”. GBU 27, với chiều dài 4,2 mét và nặng 900 kg, có thể xuyên thủng 2,4 m bêtông. GBU28 có chiều dài 5,5 mét, trọng lượng 2,268 kg, có thể xuyên thủng 6 mét bê tông. Sóng xung kích tạo ra phá hủy bất kỳ công trình xây dựng nào ở độ sâu trăm mét dưới lòng đất.
Theo kiểu tên lửa đạn đạo của Mỹ, Ixraen đã chế tạo Popeye-3, tên lửa không đối đất với tầm bắn 350 km, các tên lửa cùng họ: Jericho 1, Jericho 2 và có thể là Jericho 3, về mặt lý thuyết có thể bắn tới Téhéran. Hải quân Ixraen đã thử nghiệm thành công hệ thống tên lửa đánh chặn “Barak” vào ngày 26/7/2009. Được bắn từ tàu Saar-5, việc cải tiến tên lửa mới “Barak” có sự phối hợp giữa các chuyên gia quân đội và hải quân Ixraen với Viện nghiên cứu phát triển vũ khí Rafael và Trung tâm nghiên cứu không gian Ixraen. Hệ thống phòng thủ này được phát triển thành “Vòm Sắt”, chuyên đánh chặn các loại rốc két trong một phạm vi từ 4km đến 70 km.
Công nghệ sản xuất tiên tiến của ngành công nghiệp quân sự Ixraen đảm bảo cho quân đội nước này có khả năng tác chiến ở mọi địa hình, nhất là với người lính rôbốt đầu tiên do công ty “Elbit Systems” chế tạo. Mang theo trong ba lô quân trang của một người lính, người lính robot “VIPer” này có thể hoạt động ở mọi địa hình. Được trang bị súng tiểu liên Uzi điều khiển từ xa, lính rôbốt có thể ném lựu đạn và bắn liên thanh. Ixraen giữ kỷ lục thế giới về chi tiêu quân sự tính theo đầu người, khoảng 1.429 USD mỗi người/ năm (số liệu năm 2006). Ixraen là một trong những nước trên thế giới qui định thời gian nghĩa vụ quân sự dài nhất: ba năm đối với nam giới và hai năm đối với phụ nữ, thời gian đi dự bị cho mỗi năm là một tháng.
Nhằm chuẩn bị cho một cuộc đọ sức, ngoài những hệ thống đã được thiết lập tại Ixraen và Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ đã hoàn thành một hệ thống rađa mới tại Cata để tạo thành một vòng cung phòng thủ tên lửa rộng khắp trong khu Vực.
Phòng thủ tên lửa đạn đạo của Iran
Bộ chỉ huy độc lập của không quân Iran dựa trên một hệ thống kép của tên lửa: Một hệ thống phòng thủ và đánh chặn và một hệ thống phản công bằng các tên lửa đạn đạo Scud. Hệ thống phòng thủ và đánh chặn chủ yếu gồm bảy khẩu đội tên lửa chống máy bay ở tầm thấp và độ cao trung bình, với bốn bệ phóng Tor-M1/SA-15 Gumblet được các tập đoàn Koupol và Almaz Anteny của Nga cung cấp. Ngoài ra, còn có một trận địa được xây dựng với các tên lửa S-300 của Nga, tương đương với PAC-3 Patriot, tên lửa Mỹ triển khai trong sa mạc Negev để bảo vệ các cơ sở của Ixraen. S-300 là loại tên lửa tầm xa, dài 7 mét, với tầm bắn 150 km, mang theo một tải trọng 143 kg, có thể theo dõi 24 mục tiêu và bắn bốn tên lửa cùng một lúc. Iran có hai khẩu đội tên lửa này có thể được bắn từ một bệ di động (xe tải).
Một hệ thống phản công gồm một loạt các tên lửa đạn đạo Scud, các tên lửa cùng họ Shahab, được phát triển với sự giúp đỡ của Bắc Triều Tiên, bao phủ một khoảng cách 300 km-1.500 km. Shahabl có tầm bắn 300 km, Shahab 2: 500 km. Sahab 3, tên lửa thế hệ thứ ba là một phiên bản của tên lửa của Bắc Triều Tiên Nodong 1. Với chiều dài 16 mét, nặng 16.000 kg, được đẩy bàng nhiên liệu lỏng, Shahab 3 có tầm bắn 1.500 km, có thể bắn đến Ten Avíp (Ixraen), Karachi (Pakixtan), Riát (Arập Xêút) và Ancara (Thổ Nhĩ kỳ). Iran còn thừa nhận đấ sở hữu một loại “bom thông minh” được gọi là “Ghassed” nặng 900 kg. Phiên bản cải tiến của KAB-500 kg, Ghassed là một loại bom bay có xuất xứ từ Nga được điều khiển bằng TV, được trang bị đầu đạn xuyên giáp hoặc boongke. Quả bom này có thể được phóng ra từ một máy bay ném bom Iran “Saegheh” (Thần sét), được sản xuất từ việc tổng hợp công nghệ của Nga, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Vũ khí này được bổ sung bằng một đội máy bay quân sự với gần 50 máy bay tiêm kích tuy kém hiện đại hơn so với đội máy bay mới của phương Tây, nhưng Iran tiếp tục sử dụng và đầu tư khoảng 800 triệu USD để hiện đại hóa theo công nghệ của Nga, nhất là hai loại máy bay chiến đấu Sukhoi và Mig.
về hải quân, Iran có thể dựa vào một hạm đội tàu ngầm do Iran hoặc Nga sản xuất, một hạm đội thủy phi cơ ROV (điều khiển từ xa), một trong những hạm đội lớn nhất trên thế giới, các tàu chiến với kích thước khác nhau, một số đơn vị không vận bao gồm một số phi đội máy bay trực thăng, tàu quét mìn và kho vũ khí lớn các tên lửa chống tàu chiến. Hạm đội tàu  ngầm của Iran còn bao gồm tàu ngầm mini do Iran sản xuất.
Các phương tiện truyền thông đã tốn nhiều giấy mực về việc Iran sở hữu tên lửa tầm xa S-300 của Nga. Báo chí Ixraen đã hai lần tiết lộ về chuyến thăm bí mật Mátxcơva của các nhà lãnh đạo Ixraen, Tổng thống Shimon Peres và Thủ tướng Benjamin Netanyahu, để vận động các nhà lãnh đạo Nga từ bỏ việc tăng cường cho hệ thống phòng thủ tên lửa của Iran.
Thông tin từ báo chí phương Tây cho biết Nga đã bàn giao tên lửa tầm xa cho Iran. Tuy nhiên, thông tin này đã không được xác nhận hoặc phủ nhận từ phía Nga lẫn phía Iran. Những tên lửa giống hệt như vậy cũng đã được chuyển giao cho Xyri để ngăn chặn bất kỳ cuộc tấn công nào của phương Tây chống lại quốc gia đồng minh này của Iran.
Nói về máy bay không người lái “Ayoub” do Iran chế tạo. Nước này và đồng minh Hezbollah (Libăng) đã chứng minh khả năng xâm nhập hệ thống phòng không Ixraen của loại máy bay này. Ngày 2/10/2012 máy bay không người lái của Hezbollah đã vào không phận Ixraen, cuộc đột kích thành công đầu tiên của máy bay của một nước Arập kể từ cuộc chiến tranh tháng 10/1973, cách đây 40 năm. Chiếc không người lái này đã bay qua cơ sở hạt nhân Dimona của Ixraen ở Negev, chọc thủng “Vòm sắt” Ixraen, được xây dựng bàng các phương tiện đắt tiền với viện trợ của Mỹ để bảo vệ bầu trời Ixraen trước bất kỳ cuộc tấn công thù địch nào.
Chiến công này của nhóm Hezbollah và Iran, giống như một cuộc trình diễn ngoạn mục về khả năng công nghệ của họ có ý nghĩa to lớn về tâm lý đối với Ixraen và Mỹ, cũng như đối với nhóm nước Sunni bị lôi kéo vào quỹ đạo phương Tây. Máy bay không người lái do Iran chế tạo, có thể là một bản sao của RQ-170 đã được Hezbollah lắp đặt trên đất Libăng.
Những mục tiêu tấn công của Ixraen
Mười cơ sở hạt nhân của Iran được xem là những mục tiêu tấn công tiềm năng của Ixraen. Năm cơ sở lớn, chủ yếu nằm ở phía Nam: Arak, phía Nam Têhêran, chịu trách nhiệm cho việc sản xuất nước nặng, Natanz, phía Nam Têhêran, chịu trách nhiệm cho việc làm giàu urani; Isfahan, phía Nam . Iran, một trung tâm nghiên cứu; Gachine, gần Banda Abbas, cảng Iran trông ra Vịnh Pécxích, trong đó có một mỏ urani và cuối cùng Bushehr, trung tâm quan trọng của sản xuất điện. Và năm cơ sở nhỏ khác: ba địa điểm ở phía Bac Têhêran (Karaj, Lavizan Shiam và Parchin), địa điểm thứ 9 Sakhand nằm ở độ cao của Isfahan, cuối cùng là Fordo trong khu vực của thành phố thiêng Qom.
Căn cứ vào vũ khí và ưu thế hiển nhiên của Ixraen, dường như Iran không muốn thực hiện các chiến dịch phá hoại, nhưng có thể ưu tiên “bắn không tiếc đạn trong mọi hướng” để vô hiệu hóa hệ thống lá chắn tên lửa cài đặt ở Ixraen và các nước chế độ quân chủ Vùng Vịnh. Sau đó, Iran điều chỉnh phản ứng của mình tùy thuộc vào sự tấn công của đối thủ, dựa vào chính chiến lược hậu phương với mật độ dân số đông chưa từng thấy của nước mình để các hoạt động được thực hiện “đằng sau các phòng tuyến của kẻ thù”.
Với sự giúp đỡ của các đồng minh trong khu Vực, nhất là Hezbollah (Libăng), lực lượng bán quân sự lớn nhất trong thế giới thứ ba, cũng như cộng đồng quan trọng người Shiite tại Baranh, Arập Xêút, Côoét, Irắc và Libăng trong khu Vực biên giới giáp với Ixraen. Rút-kinh nghiệm từ ba cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (1979-1989), 1990-1991 và 2003), Iran đã tăng cường đáng kể đội tàu chiến của mình trong thập kỷ qua với những thành tựu mới trong quá trình tập trận hải quân: Tại các, cuộc diễn tập này, trong tháng 4 và tháng 8/2006, Iran đã giới thiệu thành tựu mới nhất của hạm đội, nhất là tàu tuần tra phóng ngư lôi, tàu chiến loại nhỏ nhưng rất hiệu quả khi tấn công các tàu chiến lớn. Có mọi lý do để tin rằng Iran sẽ tiến hành chiến tranh du kích hải quân bằng các hoạt động tập kích có xu hướng giống như mùa Xuân năm 2007 khi Têhêran đã bắt giữ thành công 15 thủy thủ Anh. Iran có thể là một trong những nước có công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực thiết bị điện tử. Với tốc độ tối đa 45 hải lý, Joshan và Peykan là hai tàu chiến phóng tên lửa có một hỏa lực ghê gớm. Trong khi tàu tuần tiễu phóng tên lửa có tên gọi Fajr, trang bị thêm loại đại bác 76 mm, được sử dụng linh hoạt, có thể nhắm trúng các mục tiêu dưới nước và trên không ở tầm xa 19 km. Iran cũng đã phát triển hợp tác với Êritơria kể từ tháng 12/2008 và có thể có căn cứ hải quân tại cảng Assab, ở bờ biển phía Đông của châu Phi. Iran có thể đã triển khai tại đây các tàu chiến của mình, trong đó có các tàu ngầm. Căn cứ hải quân này được thiết lập nhằm khống chế đường hàng hải trong Vùng Vịnh và eo biển Hormuz trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công của Ixraen.
Không giống như Bắc Triều Tiên, một quốc gia hạt nhân nổi loạn, dựa vào Trung Quốc với 1.416 km dường biên giới chung, Iran được vây quanh bởi 5 cường quốc hạt nhân (Nga, Ucraina, Ấn Độ, Pakixtan và Ixraen). Việc gia nhập các quốc gia ở ngưỡng hạt nhân của Iran là đáp ứng những đòi hỏi hợp pháp, theo đó cho phép nước này phòng ngừa một môi trường hạt nhân thù địch cũng như tránh rơi vào tình trạng tương tự như nước láng giềng Irắc.
Tuy nhiên, qua việc thiết lập thế “cân bằng khủng bố” tại Trung Đông, Libăng và Gada, bom hạt nhân Iran có thể làm thay đổi căn bản tương quan lực lượng ở cấp khu Vực và gây ra sự đảo lộn lớn về chiến lược trong khu vực. Trong triển vọng này, việc vô hiệu hóa Iran hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu tôn trọng các thủ tục pháp lý và luật pháp quốc tế, từng bị các quốc gia phương Tây chà đạp, thậm chí không cho phép giải quyết mối lo ngại về việc không phổ biến vũ khí hạt nhân. Động thái này còn khơi dậy các vấn đề quân sự nổi cộm: đó là việc duy trì ưu thế chiến lược của Ixraen đối với toàn bộ các nước nước Trung Đông, sự áp đặt của phương Tây đối với các nguồn dự trữ năng lượng của các nước Tây Á cũng như việc kiểm soát tuyến đường ống dẫn khí đốt có tầm chiến lược đang được xây dựng từ Trung Á, một động cơ tiềm ẩn cho sự can thiệp của Mỹ tại Ápganixtan, Irắc và Xyri.
Quốc gia láng giềng với Irắc và Ápganixtan, cũng như tiếp giáp với Vịnh Pécxích và Ấn Độ Dương, Iran được xem như là nước có nền công nghiệp lớn nhất trong khu vực trung gian trải từ miền Nam châu Âu đến biên giới của Ấn Độ. Sự thành công chiến lược của Iran có thể phát huy chính sách tự cung tự cấp về công nghệ và quân sự, cùng một cách với thành công chính trị hoặc quân sự của Hezbollah Shiite của Libăng hoặc Hamas Sunni của Palextin khôi phục tinh thần kháng chiến của người Palextin trước sự chia rẽ đang diễn ra trong thế giới Arập. Ngoài ra, thành công của Iran sẽ làm Ixraen mất đi sự hỗ trợ chiến lược to lớn của phương Tây trong khu vực và nhấn chìm chủ trương Arập chịu lệ thuộc vào Ixraen- Mỹ, để cùng nhau xác định hệ thống phân cấp quyền lực mới trong trật tự khu vực. Đó là cuộc chơi thực sự, có lẽ điều quan trọng nhất là sức mạnh được phô trương của Iran thu hút cuộc đối đầu giữa Iran với Ixraen./.

1658. CUBA: NHỮNG PHÉP MÀU CỦA RAUL CASTRO

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ năm, ngày 28/2/2013

CUBA: NHỮNG PHÉP MÀU CỦA RAUL CASTRO

(Tạp chí Politique internationale - Số 136)
“Và sau Fidel, điều gì sẽ xảy ra?” vấn đề tương lai của cuộc cách mạng Cuba từ lâu chỉ là câu hỏi này. Fidel Castro, sau khi lên nắm quyền ngày 1/1/1959, đã độc quyền giữ nó đến mức khiến tất cả mọi người, những người ở Cuba cũng như ở nước ngoài đều nghĩ rằng chế độ mà ông đã lãnh đạo trong suốt gần một nửa thế kỷ sẽ không thể tồn tại khi không có ông. Thế rồi, ngày 31/7/2006, Líder máximo (lãnh tụ tối cao) ốm nặng. Ông đã rút lui khỏi sân khấu, bàn giao lại chính quyền cho người em trai út trong một sự kế tiếp hoàn hảo. Kể từ đó, câu hỏi trên đã thay đổi một chút: và sau Raul điều gì sẽ xảy ra? Bởi lẽ ông này năm nay đã 81 tuổi và người ta không thấy bóng dáng một vị thế tử nào xuất hiện trong hàng ngũ cầm quyền.

Nhưng, những tháng gần đây, có một ẩn số khác nổi lên trên chính trường Cuba: “Và sau Chávez, điều gì sẽ xảy ra?”. Câu hỏi này thoạt đầu bất ngờ, thực tế nhấn mạnh kết quả của một thập kỷ xích lại gần về kinh tế và hệ tư tưởng giữa Cuba và Vênêxuêla – gần gũi đến mức mà có một thời, thậm chí một liên minh giữa hai nước đã được gợi ra vào năm 2007.
Kể từ tháng 6/2011 và từ khi ông nhận được thông báo về căn bệnh ung thư của mình, Tổng thống Vênêxuêla Hugo Chávez, 57 tuổi, đã phải 3 lần phẫu thuật liên tiếp ở Cuba. Tại đó, ông cũng trải qua một loạt những lần điều trị bằng hóa chất và tia phóng xạ, rời khỏi Caracát cả hàng tuần lễ nhưng không vì thế mà giao quyền lãnh đạo cho người khác. Thực chất bệnh ung thư của ông vẫn còn là một điều bí ẩn: tình trạng sức khỏe của ông là một bí mật quốc gia. Nhưng những triển vọng về sự hồi phục của ông là không chắc chắn sau lần thứ ba bị đột quỵ và phẫu thuật lại hồi tháng 3/2012.
Sự nghi ngại về tương lai của đồng minh Vênêxuêla còn khiến các nhà cầm quyền ở La Habana lo lắng hơn điều mà người ta giả định trong khi các phương tiện thông tin đại chúng Cuba im lặng gần như tuyệt đối về chủ đề này. Vả lại, không phải ngẫu nhiên mà Hugo Chávez lại được chạy chữa tại chính Cuba: dù Cuba hoàn toàn không nói ra, người ta vẫn biết rằng việc ông này tiếp tục nắm quyền ở Caracát, đối với nhà cầm quyền theo tư tưởng Castro là một thách thức mang tính sống còn của chính họ. Vì một lý do đơn giản: từ năm 1998, nền kinh tế Cuba phần lớn dựa vào sự giúp đỡ của Vênêxuêla và vào chức tổng thống của Hugo Chávez. Mối quan hệ gần như cha, con giữa ông và Fidel Castro không phải là điều xa lạ.
Chưong trình đổi dầu hỏa lấy các bác sĩ
Trong một vài năm, Vênêxuêla đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Cuba và bỏ xa các đối tác đứng sau: năm 2010, lượng hàng hóa và dịch vụ trao đối giữa hai nước về của cải và dịch vụ, chiếm gần 40% toàn bộ khối lượng trao đổi của Cuba, với những điều kiện đặc biệt thuận lợi dành cho La Habana. Theo những điều khoản của hiệp định song phương
được ký năm 2000, Caracát giao hơn 100 000 thùng dầu/ngày (đáp ứng hơn hai phần ba nhu cầu của Cuba) với giá ưu đãi, và được thanh toán một phần thông qua hình thức vay tín dụng với thời hạn 15 năm – một ân huệ đối với nền kinh tế Cuba, đang thiếu tiền mặt và chỉ có khả năng vay ở mức tối thiểu.
Đổi lại, Cuba giúp đỡ các chương trình-xã hội của Vênêxuêla bằng việc đưa tới nước này 40 000 chuyên gia (y tế, giáo dục, thể thao, kỹ thuật) trong thời hạn 2 năm. Chính họ là những người thực thi một phần các chính sách xã hội của Caracát, – chẳng hạn như Barrio Adentro (phụ trách chương trình bảo hiểm y tế phòng ngừa và toàn diện ở những khu Vực khó khăn), Robinson (xóa nạn mù chữ), hoặc như chương trình Phẫu thuật kỳ diệu (phẫu thuật mắt miễn phí cho những người nghèo nhất).
Những năm gần đây, việc xuất khẩu các hoạt động dịch vụ theo một dạng mới đã trở thành nguồn thu nhập lớn nhất của Cuba: được Caracát trả 6 tỷ USD mỗi năm, kể từ giờ, nó kiếm tiền cho hòn đảo này hơn rất nhiều so với ngành du lịch (2,4 tỷ USD năm 2010), xuất khẩu niken (800 triệu USD năm 2011) hay còn nữa là kiều hối, của những người sống lưu vong (ước chừng 1 tỷ USD, chủ yếu là từ Mỹ). Dù sao hoạt động này, với giá trị gia tăng lớn nhưng tác động còn yếu đối với phần còn lại của nền kinh tế quốc gia, vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường Vênêxuêla.
Ngoài ra, hai nước đã hợp tác cùng đầu tư trong nhiều dự án chiến lược đối với sự phát triển của Cuba như: xây dựng hoặc mở rộng 3 nhà máy lọc dâu (ở Cienfuegos, Santiago và Matanzas); xây dựng các nhà máy (sản xuất amôniac và PVC); cũng như cải tạo nhũng mỏ khai thác niken ở phía Đông hòn đảo này. Đó là những dự án có qui mô lớn và sẽ được triển khai từ nay cho đến tận cuối thập kỷ.
Mối đe dọa về một “thời kỳ đặc biệt” mới
Pavel Vidai, nhà kinh tế thuộc Trung tâm nghiên cứu kinh tế Cuba, cho rằng trong trường hợp Vênêxuêla ngừng trợ cấp thì hòn đảo này có thể sẽ phải chịu tác động của một sự suy thoái kéo dài “trong một, hai hoặc thậm chí là 3 năm”, cùng với việc GDP giảm 9%. Nhà nghiên cứu này cho rằng: “Cuba không có nhiều phạm vi hoạt động, cho nên điều quan trọng là phải đẩy nhanh quá trình mở rộng tự do hóa kinh tế và những chính sách cải cách”. Đó là những cải cách đã được Raul Castro cam kết từ khi ông làm chủ tịch (tạm quyền vào mùa Hè năm 2006, sau đó được bầu chính thức từ tháng 2/2008). Với một giọng điệu mới, trái với thói quen dương dương tự đắc, ông đã đưa ra nhiều nhận xét đôi khi tàn nhẫn về sự tàn tạ của nền kinh tế quốc gia, và như vậy có lúc xé toạc bức màn che đậy của cơ quan tuyên truyền.
Bởi vì bất chấp những tỷ lệ tăng trưởng được công bố ở mức hai con số (mà các cơ quan quốc tế nghi ngờ cách tính toán), mô hình Cuba vẫn thể hiện những sự trục trặc về cơ cấu, đã dẫn tới một sự thâm hụt rất lớn trong cán cân thương mại năm 2008. Đến mức để đối phó với sự khủng hoảng trong thanh toán ngoại tệ, các nhà cầm quyền đã quyết định đóng băng, mà không báo trước, những tài khoản ngân hàng của các doanh nghiệp nước ngoài ở Cuba, vào khoảng một tỷ USD, khiến cho những hoạt động của họ trở nên đặc biệt bấp bênh trong vòng hơn một năm – và do đó việc họ tiếp tục những đầu tư ở hòn đảo này trở thành mạo hểm.
Lĩnh vực nông nghiệp phải chịu một sự quản lý tập trung quá mức (80% ruộng đất bị quốc hữu hóa và cơ quan duy nhất đứng ra thu mua và phân phối, Acopio, đặc biệt không hiệu quả) đã khiến các vùng nông thôn kiệt quệ. Kết quả: đất nước trở lại với tình trạng hơn một nửa diện tích đất trồng trọt bị bỏ hoang. Một thất bại phải trả giá đắt và đặt ra vấn đề về an ninh lương thực – Cuba phải nhập khẩu 80% lượng lương thực mà họ tiêu thụ. Thêm vào đó, họ đang trong quá trình phi công nghiệp hóa: phần của khu vực hai (khu vực kinh tế kém phát triển hơn) rõ ràng đã thụt lùi kể từ khoảng 25 năm, chuyển từ 28% năm 1989 xuống 13,4% năm 2009. Còn về các dịch vụ, đã phát triển quá mức (năm 2009, chiếm“77% GDP), những dịch vụ này không dựa vào bất kỳ việc sản xuất của cải nào.
Đặc biệt là phần ít ỏi của các khoản đầu tư (dưới 10% GDP) và sự hư hỏng nói chung của các cơ sở hạ tầng bảo đảm cho sự tăng trưởng. Người ta cho rằng 40% bất động sản đang trong tình trạng tồi tệ cùng với việc thiếu gần nửa triệu nhà ở. Mạng lưới đường sắt và đường bộ ở trong một tình trạng thảm hại, không đủ các phương tiện vận tải để chuyên chở hàng hóa và hành khách: ở các tỉnh lẻ, việc vận chuyển phần lớn được đảm bảo bằng những phương tiện được gọi là “thay thế” – những chiếc xe thô sơ do ngựa kéo với một chiếc đèn dầu thay cho đèn pha. Sự tương phản có thể thấy rõ giữa các dịch vụ xã hội đặc biệt phát triển (nhất là giáo dục và y tế) và các dịch vụ cơ bản bị bỏ mặc.
Người ta tính rằng cứ 10 người dân mới có gần một người có điện thoại cố định và phải đến 2008, dân chúng mới được phép sử dụng điện thoại di động cũng như máy tính. 60% lượng nước sạch đã bị thất thoát trước khi tới được các vòi nước do các hệ thống đường ống dẫn nước của mạng lưới phân phối hư hỏng. Việc cắt điện, tạm chấm dứt trong cố gắng “cách mạng năng lượng” hồi năm 2005 (hỗ trợ các nhà máy nhiệt điện bằng một mạng lưới máy phát điện dùng diesel), đã quay trở lại mạnh mẽ, làm tê liệt cả lĩnh vực nhà ở cũng như công nghiệp.
Trong hoàn cảnh nguy kịch này, lệnh cấm vận do Oasinhtơn áp đặt lên Cuba, có hiệu lực từ năm 1962, và được tăng cường . vào năm 1992 và 1996, đang đè nặng lên nền kinh tế của hòn đảo này và đặc biệt tới sự hội nhập quốc tế của họ: giá các giao dịch cao hơn từ 5 đến 10% so với giá mà những trao đổi trực tiếp với nước láng giềng liền kề này cho phép, những sức ép đối với các ngân hàng quốc tế và nhất là sự vắng mặt của các hãng du lịch Mỹ, cơ hội để kiếm được hàng tỷ USD mỗi năm. Nhưng lệnh cấm vận của Mỹ – được gọi là sự phong tỏa chống Cuba – không ngăn cản hòn đảo này buôn bán hoàn toàn hợp pháp với 176 nước…cũng như với chính Mỹ: tiếp theo một văn bản pháp lý sửa đổi bổ sung được Oasinhtơn bỏ phiếu thông qua năm 2000 cho phép bán (nhưng không mua) thực phẩm và thuốc men, chính Mỹ đã trở thành nước cung cấp lớn nhất các thực phẩm nông nghiệp cho Cuba! Nhất là, lệnh cấm vận này không phải là nguyên nhân gây ra những trục trặc mang tính cơ cấu gắn với mô hình kinh tế tập trung và nhà nước hóa mà Raúl Castro hiện đang tìm cách hợp lý hóa.
Những cải cách chăng? Không phải, đó chỉ là “cập nhật mô hình”
Năm 2011, Đảng Cộng sản Cuba (đảng duy nhất được phép hoạt động) đã triệu tập Đại hội Sáu, vốn được chờ đợi từ 10 năm nay. Đây là dịp để các nhà cầm quyền chấp nhận một danh sách gồm 300 biện pháp- nhằm hiện đại hóa nền kinh tế Cuba, về mặt chính thức, đây không phải là Vấn đề quá độ: từ này cũng giống như từ cải cách đã bị loại bỏ ở Cuba; người ta nói đến việc “cập nhật mô hình”, để phù hợp với những “đường hướng lớn”.
Các biện pháp mở rộng tự do từng bước đã được tiến hành: bỏ các mức lương trần để trả lương theo sản phẩm, giao quyền sử dụng khu đất của nhà nước bị bỏ hoang cho nhũng người sản xuất nhỏ (1,5 triệu hécta đất canh tác đã được giao trong thời hạn 10 năm cho gần 160 000 người để phục hồi sản xuất nông nghiệp).
Nhưng trọng tâm của dự án còn đi xa hơn nữa: phát huy tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước (hai phần ba trong số này hiện làm ăn không có lãi) và xây dựng lại lĩnh vực tư nhân. Những biện pháp được dự kiến mang tính cấp tiến đối với một xã hội đã quen với sự bao cấp của nhà nước. Cho đến lúc đó, Cuba vẫn khoe khoang việc mọi người đều có công ăn việc làm như là một dẫn chứng chính đáng cho sự thành công của họ. Từ nay, Vấn đề là phải sa thải hàng loạt: 500 000 nhân viên nhà nước sẽ bị thất nghiệp từ nay đến năm 2015. Những điều kiện, được nghiệp đoàn duy nhất đưa ra: một tháng lương đền bù cho 10 năm thâm niên, và buộc phải tự xoay xở để ống. Một thông báo tàn nhẫn sau 50 năm chế độ kinh tế tập thể với một lĩnh vực tư nhân thực sự không tồn tại.
Để sử dụng hết số lượng lớn người lao động này trong “lĩnh Vực ngoài nhà nước”, hai phương thức được vạch ra: làm việc đơn lẻ hay trong các doanh nghiệp nhỏ, đơn giản và mở rộng dần; và các hợp tác xã, một hệ thống cho đến khi đó mới chỉ được thực hiện trong lĩnh Vực nông nghiệp. Hoạt động và thu nhập sẽ được thả nổi, miễn là đóng các khoản lệ phí và thuế, ý tưởng này đồng thời nhằm hợp thức hóa các hoạt động không chính thức hiện phát triển rất nhanh để thu thuế.
Nhưng thay vì chỉ rõ những lĩnh vực hoạt động bị loại trừ khỏi những cải cách này, các nhà cầm quyền lại lập một danh sách chỉ quy định những việc làm được cho phép: một bản kê khai chi tiết 178 ngành nghề, tất cả đều là hoạt động dịch vụ, và phần lớn không cần có tay nghề (từ bán đồ ăn nhẹ cho đến bán đĩa CD lậu, sửa chữa lặt vặt hay chọc cười trẻ em). Như vậy, không có các hoạt động sản xuất và những người có bằng cấp không thể hành nghề mà họ đã được đào tạo (kiến trúc sư, kế toán, bác sĩ, V.V…).
Những hạn chế này thể hiện sự nghi ngại của các nhà cầm quyền theo tư tưởng Castro trước những mầm mống của sự độc lập về kinh tế. Năm 1994, Cuba từng phải cho phép doanh nghiệp nhỏ ra đời để ngăn chặn sự khủng hoảng của “thời kỳ đặc biệt”. Nhưng ngay từ khi có những dấu hiệu phục hồi đầu tiên, năm 1996, họ đã dần dần thu lại các giấy phép và đánh thuế nặng hơn. Kết quả là: năm 2009, chỉ còn có 141 000 doanh nghiệp nhỏ trong tổng số 4,9 triệu người trong tuổi lao động.
Lần này, từ khi có đạo luật mới của Raúl, người ta thống kê được 371000 doanh nghiệp nhỏ (hai phần ba trong số những người mới Vốn là những người không công khai việc làm, như vậy chứng tỏ đa số những hoạt động không chính thức trước đây nay được hợp pháp hóa), và các nhà cầm quyền cho rằng đến cuối năm 2012, con số này sẽ là 600 000. Những hoạt động phổ biển nhất ư? Cửa hàng bán thức ăn nhanh mang đi, vận chuyển tư nhân (taxi tập thể) và đối với những ai may mắn có được một ngôi nhà còn trong tình trạng tốt thì cho các khách du lịch nước ngoài thuê phòng trọ.
Nhờ một chính sách cải cách về quyền sở hữu, cuối năm 2011, dân chúng có thể mua bán nhà ở, xe cộ, trước đó vẫn bị cấm đoán. Và từ nay, đối với những chủ doanh nghiệp nhỏ, việc tuyển lựa nhân viên là hợp pháp, điều trước đây chỉ được cho phép trong khuôn khổ gia đình. Nhưng liệu điều đó có đủ để sử dụng hết hàng trăm nghìn người bị sa thải theo dự kiến và phục hồi nền kinh tế?
Về ngắn hạn, những biện pháp manh mún này bắt đầu đem lại một vài kết quả: sản xuất nông nghiệp được thúc đẩy đôi chút, những thay đổi đáng kể trong lĩnh vực bất động sản, xuất hiện một cơ cấu kinh tế vi mô. Đối với Nhà nước, đó là một biện pháp giảm chi tiêu nhưng lại tăng thu nhập – kèm theo nguy cơ một bộ phận dân chúng không có nguồn sống vì cùng với việc cho phép của lĩnh vực tư nhân hoạt động là việc từ bỏ Nhà nước phúc lợi (mất dần vai trò cung cấp, cải cách các hệ thống y tế và giáo dục…). Vượt quá những kết quả kinh tế, những hậu quả xã hội của bước ngoặt này đã nhấn mạnh hơn những bất bình đẳng trong nước.
Quả thực, trong một đất nước mà tiết kiệm và vay tín dụng gần như là không tồn tại, thì những sự đầu tư vi mô phần lớn được thực hiện nhờ vào tiền do các gia đình từ Miami và những nơi khác gửi về, điều này vạch rã trong xã hội một đường phân chia tương thích với một đường khác, ít được tranh luận công khai: đa số người Cuba lưu vong từ lâu là người “da trắng”, nên các gia đình người “da trắng” đã nhận được nhiều nhất các kiều hối. Trên thực tế, người “da đen” và người lai bị gạt ra ngoài lề trong ván bài kinh tế mới này.
Trong giai đoạn quyết định đối với tương lai kinh tế và xã hội của hòn đảo này, một số nhà trí thức cách mạng theo phái chỉ trích tìm cách thúc đẩy sự phát triển của một lĩnh vực hợp tác, tự quản lý, có thể sẽ làm bớt đi tình trạng bất bình đẳng và tăng cường sự đoàn kết – một hình thức tham gia chưa bao giờ được các nhà cầm quyền Cuba từ Che Guevara cho tới Fidel Castro ưa thích.
Nhất là, giới lãnh đạo chính trị không coi tiến trình cải cách này là một bước quá độ khả dĩ. Tháng 7/2009, Raúl Castro đã tuyên bố trước Quốc hội rằng: “Tôi không được bầu làm chủ tịch để thiết lập chủ nghĩa Tư bản ở Cuba mà là để bảo vệ, xây dựng và hoàn thiện chủ nghĩa Xã hội chứ không phải là hủy diệt nó”.
Câu nói có thể được coi là hoa mỹ nhưng, 3 năm sau đó, quan điểm của chính quyền về vấn đề này vần không thay đổi. Phó chủ tịch Marino Murillo, ngôi sao đang lên, giám sát những cải cách, đã nhấn mạnh trước báo chí nước ngoài vào cuối tháng 3/2012 rằng: “Chúng tôi đang cập nhật hóa mô hình kinh tế nhưng chúng tôi không nói đến cải cách chính trị: Sẽ không có cải cách chính trị ở Cuba”.
Người ta biết rằng Raúl Castro bị ảnh hưởng bởi những mô hình của Trung Quốc hay Việt Nam, những nước mà ông đã tới thăm nhiều lần, nơi mà sự mở cửa kinh tế đã không làm tổn hại đến sự độc quyền chính trị của đảng duy nhất. Không hề thiết lập một giai đoạn quá độ “ngược lại, vấn đề là củng cố hệ thống hiện nay bằng cách cố gắng làm cho nó có thể đứng vững được – đồng thời vẫn giữ được sự độc quyền về quyền lực.
Từ màu đỏ sang màu xanh ôilu: giới quân sự nắm quyền chỉ huy
Trên bàn cờ nói đúng ra là mập mờ của việc kế tục Castro, một thể chế đã giữ một vị trí ngày càng lớn trong những năm gần đây: Lực lượng vũ trang cách mạng Cuba (FAR). Kể từ khi được bổ nhiệm vào mùa Hè năm 2006, Raúl Castro đã thay thế gần như toàn bộ êkíp lãnh đạo đương chức dưới thời anh trai ông. Thế hệ những người trẻ đầy tham vọng chính trị được đặt biệt danh là những “Taliban” vì sự cuồng tín của họ đối với Fidel Castro (Felipe Pérez Roque, Hassan Pérez, Otto Rivero) đă biến mat khỏi chính trường, cũng như êkíp những nhà quản lý thực dụng đã chỉ đạo quá trình mở cửa trong những năm 1990 (Carlos Lage, José Luis Rodriguez, Francisco Soberón). Thay vào vị trí của họ, là các quân nhân, những chiến hữu lâu năm của Raúl Castro (ông là Tổng tư lệnh tối cao các Lực lượng vũ trang cách mạng trong suốt 50 năm, từ 1959 đến 2008), từ nay chiếm phần lớn nhất của chiếc bánh không chỉ trong lĩnh vực chính trị mà cả trong lĩnh vực kinh tế. Điều là điều mới mẻ.
Vai trò chính trị của giới quân sự Sierra Maestra từ năm 1956 đến năm 1959) đã có trước Đảng Cộng sản (được thành lập vào năm 1965) và hội tụ tính hợp pháp về phương diện lịch sử để cầm quyền. Vai trò kinh tế của họ thì mới có gần đây.
Trong vòng 20 năm trở lại đây, FAR đã bắt đầu cơ cấu lại một cách triệt để: được Liên bang Xôviết trợ cấp cho đến năm 1989, quân đội đã phải giảm mạnh quân số của họ (từ 235 000 người trong những năm 1980 xuống còn khoảng 55 000 trong những năm 2000). Ngay từ năm 1986, FAR đã triên khai một chương trình tự chủ về tài chính, thông qua việc chấp nhận các phương pháp tư bản chủ nghĩa (phân cấp quản lý, thống kê kế toán); hệ thống được gọi là “cải tiến doanh nghiệp” này dựa vào quyền tự trị của mỗi xã hội, mang tính tự túc (nếu không muốn nói là phải sinh lời).
Trước tiên chỉ giới hạn ở lĩnh Vực quân sự, những phương pháp này sau đó đã được mở rộng ra nhiều lĩnh vực chủ chốt khác dưới sự chỉ đạo của quân đội. Một tầng lớp quân nhân-nhà quản lý hùng mạnh đã phát triển mà người ta thường gặp trong những khu dân cư Kohly, Siboney và Jaimanitas ở La Habana. Từ nay, họ kiểm soát phần lớn nền kinh tế quốc gia: theo một nghiên cứu được thực hiện vào đầu những năm 2000, những doanh nghiệp chịu sự quản lý của quân đội đã tạo ra “89% giá trị xuất khẩu, 59% thu nhập về du lịch, 24% thu nhập từ các dịch vụ, 60% từ các giao dịch bằng ngoại tệ, 66% từ việc bán lẻ bằng ngoại tệ”, và sử dụng “20% lực lượng lao động thuộc lĩnh Vực công”… Những người mặc đồng phục có mặt trong những lĩnh vực năng động nhất, những người mà người ta gọi là “đang nổi lên”, và hoạt động trong những lĩnh vực có lợi nhuận cao như du lịch, viễn thông, thuốc lá, thương mại cũng như trong những lĩnh vực chiến lược như vận tải và phân phối.
Giới quân nhân doanh nghiệp này, thường là các tướng lĩnh, các đảng viên nhưng chỉ phụ thuộc vào anh em Castro, tập trung quyền lực kinh tế và chính trị mà không cần phải bận tâm đến một chút đối lực nào – một sự tù mù có lợi cho tệ tham nhũng ở qui mô lớn, theo những lời đồn đại dai dẳng (thí dụ mới đây nhất là trường hợp tướng Rogelio Acevedo, giám đốc hãng hàng không dân dụng trong suốt 2 thập kỷ, bị sa thải vào đầu năm 2010). Nói rộng hơn, những thành viên của các lực lượng vũ trang và an ninh được hưởng những đặc quyền có tính quyết định trong một xã hội lâu nay vẫn tự nhận là công bằng (họ được hưởng những đãi ngộ về nhà ở, xe ô tô, thực phẩm, nghỉ phép cũng như về y tế và chế độ hưu trí tốt hơn rất nhiều so với chế độ chung).
Bất chấp quyền lực ngày càng tăng của họ, giới tinh hoa này vẫn ít được dân chúng biết đến và không xuất hiện trên báo chí Cuba. Họ được liên kết bằng sự trung thành, thậm chí bằng những mối quan hệ gia đình không lộ ra ngoài: chẳng hạn Luis Alberto Rodriguez, giám đốc của GaeSA nắm toàn bộ các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực quân sự, không phải ai khác mà chính là con rể của Raúl Castro. Không có bất cứ một bức ảnh nào về ông này và các mối quan hệ gia đình của ông với người bố vợ đầy thế lực không bao giờ được nói tới. Trong khi thiếu một êkíp chuyển tiếp chính trị nên giờ đây, giới quân sự dường như đứng ở vị trí tốt nhất cho sự kế tục sau Castro: ở Cuba, người ta nói đến quyền lực màu xanh ôliu. Màu quân phục của họ.
Đảng duy nhất và độc quyền về thông tin
Chỉ trong vài năm, Raúl Castro đã áp đặt một quan điểm quản lý về chính trị, khẳng định mình như là một nhà quản lý quan tâm đến tính hiệu quả – chứ không phải đến tính đa nguyên: ở Cuba, mọi ý kiến bất đồng đều bị trừng phạt. Tuy nhiên, số tù nhân chính trị đã giảm: cái chết trong tù của Orlando Zapata Tamayo (một phần tử chống đối đã chết hồi tháng 2/2010 sau nhiều ngày tuyệt thực) và việc huy động các gia đình tù chính trị (Phong trào Những Phụ nữ trang-phục trắng), năm 2011, đã khiến nhà cầm quyền bối rối và buộc họ phải trả tự do cho hơn một trăm tù chính trị. Phần lớn số tù nhân này đã bị trục xuất đến Tây Ban Nha, là nước khi đó đứng làm trung gian hòa giải bên cạnh Giáo hội Công giáo Cuba. Tuy nhiên, những quyết định trả tự do này, được hoan nghênh ở nước ngoài, không làm thay đổi khuôn khổ pháp lý hình sự hóa những sự bất đồng chính kiến ở Cuba.
Và nếu như hiện nay có tương đối ít tù chính trị ở Cuba (theo Ủy ban Nhân quyền Cuba, năm 2012, số tù chính trị được ước tính vào khoảng 50 so với hơn 300 năm 2004) thì ngược lại nhỮng hành động trấn áp và hăm dọa ở mức độ thấp lại tăng mạnh. Chỉ trong tháng 3/2012, chính Ủy ban này đã thống kê được 1.158 vụ thẩm vấn tùy tiện và giam giữ người, từ vài giờ cho đến vài ngày, một nửa trong số đó xảy ra vào dịp Giáo hoàng Benedict 16 đến Cuba từ ngày 26 đến ngày 28/3, nhằm ngăn chặn cuộc biểu tình trong các buổi lễ misa công khai được tố chức tại Santiago và La Habana.
Quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do báo chí được Hiến pháp đảm bảo chỉ khi nào “phù hợp với những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”… Sự kiểm soát thông tin đặc biệt có hiệu quả: chỉ tồn tại hai tờ nhật báo quốc gia, mỗi tờ khoảng một chục trang, mà thực ra là các cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cuba (Granma) và của Đoàn Thanh niên Cộng sản (Juventud rebelde). Vô tuyến truyền hình (gồm 4 kênh quốc gia và một tờ báo hình) do một quân nhân chỉ đạo; còn các ăng ten chảo bắt được các kênh nước ngoài chỉ được phép sử dụng ở những khách sạn dành cho khách du lịch. Người dân Cuba nào dám lắp đặt lậu loại ăng ten này sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.
Trong bối cảnh những phát biểu công khai trước đám đông cũng bị các nhà cầm quyền kiểm soát hoàn toàn thì lĩnh vực tin học và nhất là Internet đã đem lại những cơ hội bày tỏ các ý kiến riêng tư (tuy nhiên ngoài La habana, phần còn lại của Cuba, được trang bị rất ít). -Từ giữa những năm 2000, không gian đầy tiềm năng này đã thách thức sự độc quyền về thông tin của Nhà nước Cuba và bị nhà cầm quyền xác định rõ là mối đe dọa.
Internet và “cuộc cải tổ của các cư dân mạng”
Sự giám sát Internet ở Cuba đặc biệt có hiệu quả: ngược lại với Trung Quốc hoặc thậm chí với Tuynidi của Tổng thống Ben Ali trước khi nước này sụp đố, việc giám sát này được thực hiện không phải qua sàng lọc hay phong tỏa các trang web mà trực tiếp từ đầu nguồn, thậm chí bằng cách hạn chế truy cập mạng. Hòn đảo này chỉ có một nhà cung cấp mạng, thuộc Nhà nước, và các dịch vụ chỉ dành cho các khách sạn, các cơ quan hành chính nhà nước. Năm 2009, doanh nghiệp này chỉ công bố 27 000 hợp đồng Internet, tức là khoảng 0,25 % số dân Cuba, tỷ lệ thấp nhất ở châu Mỹ (có một chợ đen cho những kêt nối bất hợp pháp, chủ yếu ở La Habana, nhưng đã bị trấn áp mạnh mẽ).
Với điều kiện tiên quyết là có giấy phép, một số nhà chuyên môn (bác sĩ, giáo sư đại học, viên chức cao cấp) có thể từ nhà riêng của họ, sử dụng một mạng nội bộ “Intranet” của chính phủ không kết nối Internet để trao đổi các thư điện tử trong nước và với nước ngoài. Khoảng 16% số dân được cung cấp dịch vụ Intranet hạn chế này, với tốc độ thông tin hết sức chậm.
Để vào mạng Internet thực sự, cần phải đến các quán cà phê Internet trong các khách sạn. Ngoài việc có thể bị kiểm tra giấy chứng minh, trên thực tế mức giá quá cao của những nơi này khiến cho những dịch vụ như vậy không thể tới được người dân (chỉ một giờ truy cập ở lưu lượng thấp đã ngốn mất một nửa tháng lương – khoảng 6 euro).
Cho đến gần đây, các nhà cầm quyền vẫn đổ lỗi cho lệnh cấm vận của Mỹ khiến cho khả năng kết nối yếu kém, buộc họ phải chuyển sang liên lạc qua vệ tinh quá tốn kém. Một đường cáp quang nối Cuba với Vênêxuêla đã được lắp đặt, nhằm tăng gấp 3000 lần dung lượng của đường truyền ở hòn đảo này. Nhưng kể từ ngày khai trương vào đầu năm 2011, và lúc đó được chào đón bằng một bài xã luận của Fidel Castro, không có bất cứ một tin tức nào lọt tới các phương tiện thông tin đại chúng Cuba, và những lời đồn đại dai dẳng về một công trình làm ẩu cùng với những vụ bắt giữ vì tham nhũng. Dù thế nào đi nữa, khả năng truy cập Internet cũng không tăng lên đối với dân chúng.
Bất chấp những giới hạn rõ ràng hẳn là không thể vượt qua được này, người dân Cuba vẫn hoàn toàn nắm bắt được những cơ hội để phát biểu và trao đổi thông qua các blog. Gần như không tồn tại vào năm 2007, số lượng những blog này đã tăng lên theo cấp số nhân: tháng 6/2009, một nghiên cứu đã thống kê được 1. 000 blog Cuba, (một phần tư được viết từ hòn đảo này, còn lại từ nước ngoài).
Mọi đề tài đều được đề cập đến trong đó, nghiêm trọng hoặc nhẹ nhàng và đôi khi có những blog được viết rất chuyên sâu: những bí mật quân sự, nỗi nhớ quê hương của những người sống lưu vong, những chứng cứ về cuộc chiến tranh ở Ănggôla hoặc những tranh luận về tình trạng vô chính phủ của Cuba đầu thế kỷ này… Tất cả tạo nên một diễn đàn trao đổi và tranh luận chưa từng có, tuy nhiên bị hạn chế do những khó khăn về truy cập Internet ở hòn đảo này (người ta không thể theo dõi trực tiếp mà các đĩa CD-Rom tập họp lại do đó: sự tương tác bị giảm chậm), nhưng một số người đã gọi bước tiến triển mới mẻ này là “cuộc cải tổ của các cư dân mạng”.
Biểu tượng của hiện tượng này, Yoani Sanchez, một nhà ngôn ngữ học khoảng ba mươi tuổi, là một trong số những người đầu tiên viết blog từ Cuba năm 2007 mà không cần dùng tên giả. Blog của anh, “Thế hệ Y”, bày to sự thất vọng về hiện thực của Cuba, được lưu hành ở Cuba trên đĩa CD- Rom hay thiết bị USB. Ở nước ngoài, sự thành công của nó càng tăng: với hàng triệu lượt truy cập mỗi tháng và được nhiều giải thưởng về báo mạng trên toàn thế giới. Còn bà Yoani, một người làm việc không mệt mỏi bất chấp những sự hăm dọa (bà và chồng bà bị theo dõi và đe dọa, riêng bà bị cấm ra khỏi lãnh thổ), đã thoát khỏi sự giám sát để truy cập Internet ở những quán cà phê Internet trong các khách sạn và, với tính sáng tạo, bà đã tìm cách phát triến việc sử dụng các công nghệ mới ở Cuba đế tạo ra bấy nhiêu khả năng mới cho các công dân bày tỏ ý kiến.
Có lúc bị lấn át, các nhà cầm quyền cố gắng giành lại quyền kiểm soát lãnh địa mới này. Họ không ngần ngại nói đến “cuộc chiến tranh mạng” và các chiến dịch vu khống trên các phương tiện thông tin đại chúng Cuba thường xuyên công kích những hình thức ngôn luận độc lập mới, bị tố cáo là con bài của Mỹ. Năm 2002, một trường đại học Khoa học thông tin (UCI) đã được mở ngay tại nơi trước đây là trung tâm nghe trộm của Liên Xô ở Lourdes, phía Nam của La Habana. Các sinh viên của trường có trách nhiệm giám sát Internet và đối phó với các website quốc tế liên quan đến tình hình Cuba. Sau hết, nhiều blog và tài khoản Twitter đã được tạo ra, đặc biệt là bởi các nhà báo chính thức (họ được phép truy cập Internet
để làm việc): thường ít mang tính cá nhân, nhiệm vụ của họ là chuyển tiếp một cách có hệ thống những thông tin của báo chí quốc gia tới nước ngoài, hay phục vụ như là những người phát ngôn được sử dụng làm công cụ phát ngôn không chính thức cho một chính phủ đôi khi trở thành tù nhân của chính sở thích giữ bí mật của mình.
Sự bắt đầu giống như một triển vọng
Không được tiếp cận với Internet hay với các kênh truyền hình vệ tinh (và như vậy là với một sự thông tin đa chiều), không có những khả năng thông tin “vô hạn” mà các mạng xã hội cho phép, bức tranh toàn cảnh xã hội Cuba rất khác với các nirớc đã trải qua “Mùa Xuân Arập”: dân chúng vẫn bị tách rời manh mún, không có khả năng chia sẻ kinh nghiệm hay tập hợp nhau.
Các đảng đối lập, xuất hiện trong những năm 1980 xung quanh các phong trào bảo vệ nhân quyền, đã bị thâm nhập và bị cô lập một cách triệt để. Đã có những sáng kiến hay của một xã hội dân sự còn rụt rè (tổ chức các cuộc tranh luận được quay phim để phố biến rộng rãi, những trung tâm đào tạo công dân chủ yếu đặt ở các nhà thờ), nhưng chúng diễn ra đơn điệu và do đó ít thu hút được sự quan tâm của dân chúng: sự kiểm soát xã hội, thông qua những tổ chức quần chúng, vẫn rất mạnh và khiến người ta e dè. Trong hoàn cảnh này, cách ứng xử hai mặt (không nói điêu người ta nghĩ, không làm điều người ta nói) vẫn là chiến lược phản kháng phổ biến nhất, cho dù đó không phải là điều thấy được rõ nhất.
Những người “không thích hợp” chọn cách ra đi hơn là phải chịu một sự cô lập khó khăn trong xã hội. Cuộc di dân vẫn tiếp tục, một cách lặng lẽ nhưng ngày càng tăng thêm: mỗi năm, Cuba mất đi 35 000 người. Từ năm 1994, nửa triệu người đã lựa chọn sự ra đi! Di cư trở thành lựa chọn tương lai của phần lớn thanh niên Cuba. Điều này không liên quan trực tiếp tới vấn đề chính trị – nói đúng ra phần lớn những người ra đi là những người vô chính trị – cũng không chỉ vì lý do kinh tế. Điều thúc đẩy các thế hệ trẻ ra đi chủ yếu là do những mâu thuẫn của một chế độ coi các công dân suốt đời như những đứa trẻ: những người được đào tạo trình độ cao không tìm được việc làm; tình trạng kinh tế bấp bênh; những mức lương nhà nước quá thấp, không cho phép họ sống một cách lương thiện; tính thụ động và thái độ nghi ngờ đối với sáng kiến tư nhân; tóm lại, một quyền lực chính trị không rõ ràng đã không dành bất kỳ khả năng nào cho sự tham gia cũng như cho sự đổi mới thế hệ.
Kêt quả: những thống kê gần đây đã cho thấy một sự thiếu hụt dân số trong độ tuổi từ 25 đến 35, do sự ra đi ngày càng nhiều của lớp thanh niên. Một tổn thất thực sự đối với một đất nước đã biết đào tạo nguồn nhân lực đặc biệt (6,5 triệu người Cuba tốt nghiệp trung học hoặc đại học) nhưng không thể giữ được họ.
Trước tình hình này, nhà cầm quyền Cuba dường như không định tìm ra giải pháp nào khác ngoài cách “thay đổi tất cả để không thay đổi gì”, ít ra trong một thời gian nữa. Trong khi chờ thắng ván bài dựa vào sự thay đổi từ từ nền kinh tế để phát triển (thay vì đa nguyên) thì sự giúp đỡ của Vênêxuêla là một phao cứu sinh cần thiết dành cho họ. cần thiết, nhưng đặc biệt mong manh trong hoàn cảnh hiện nay./.

1659. VỊNH CAM RANH VÀ SUBIC – TẤM LÁ CHẮN CHO AN NINH BIỂN ĐÔNG

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Sáu, ngày 1/3/2013

VỊNH CAM RANH VÀ SUBIC – TẤM LÁ CHẮN CHO AN NINH BIỂN ĐÔNG

TTXVN (Tôkyô 26/2)
Nhật báo “Sankei Express ” số ra mới đây đã đăng bài phân tích của Chuyên gia bình luận chính trị Hiroyuki Noguchi đánh giá về vai trò chiến lược và vị thế địa-chính trị quan trọng của hai quân cảng Cam Ranh của Việt Nam và Subie của Philippin đối với an ninh trên Biển Đông. Nội dung bài bình luận như sau:

Bản đồ in trên tấm hộ chiếu mới của Trung Quốc đã trở thành một vấn đề gây tranh cãi thời gian qua. Tấm bản đồ này vẽ đường chín đoạn hình chữ u “gói gọn” một khu vực rộng lớn từ phía Đông Đài Loan tới sát bờ biển của các nước Philippin, Brunây, Malaixia và Việt Nam. Vùng biển nằm trong đường chín đoạn đó chiếm tới 80% Biển Đông gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà nhiều nước cùng tuyên bố chủ quyền. Với cách in ấn bản đồ như vậy, Bắc Kinh dường như muốn sử dụng hộ chiếu để tuyên bố rằng đường chín đoạn này “tương ứng với lãnh hải của Trung Quốc”.
Các nét đứtt này được dư luận đặt cho nhiều cái tên như “đường chín đoạn” dựa vào số nét đứt trên bản đồ, “đường chữ U” và “đường lưỡi bò” căn cứ vào hình thù uốn lượn của nó. Cái “lưỡi bò” tham lam ấy muốn liếm sạch tài nguyên biển đi kèm với những tuyên bố chủ quyền đối với nhiều quần đảo trên Biển Đông. Đây rõ ràng là hiện tượng bất bình thường và là hành động trái với lẽ thường bởi không có bất kỳ nước nào chấp nhận hành động này của Bắc Kinh. Thoạt nghe cụm từ “lưỡi bò” có vẻ hài hước nhưng bản chất của nó phản ánh tham vọng mở rộng địa giới của Trung Quốc. Điều đáng chú ý là trên cái lưỡi bò vốn “không thể ăn được” ấy, người ta vẫn có thể nhận ra “phương pháp chế biến” của Bắc Kinh. Nếu dùng một cái que nướng xiên lưỡi bò này từ Đông sang Tây, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra Trung Quốc đang có ý đồ nhòm ngó hai quân cảng quan trọng là Cam Ranh của Việt Nam và Subie của Philippin.
Lịch sử đầy biến động của Vịnh Cam Ranh
Bất cứ một hải cảng tốt nào với địa thế của một vịnh nước sâu đều phải mang một dấu ấn lịch sử đầy biến động và Vịnh Cam Ranh cũng không phải là một ngoại lệ. Vào thời kỳ thực dân Pháp thống trị, Cam Ranh được Pari sử dụng làm cứ điểm trọng yếu của quân đội Pháp. Thậm chí, trong Chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905), hải cảng này cũng trở thành địa điểm neo đậu và tiếp vận của hạm đội Hải quân Nga. Tuy nhiên, do sức ép của đế quốc Nhật Bản và Anh, một đồng minh của Nhật thời kỳ đó, hạm đội của Nga gặp phải trở ngại khi tiếp vận nên hạm đội bị mất sĩ khí chiến đấu. Sau đó, Cam Ranh rơi vào tay Nhật Bản trong Chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945). Cuộc chiến Thái Bình Dương kết thúc, hải cảng này lại về tay người Pháp. Trong Chiến tranh Việt Nam (1960-1975), cảng Cam Ranh là một cứ điểm của quân đội Mỹ. Từ năm 1979 đến năm 2002, Liên Xô và tiếp đó là Nga, thuê lại Cam
Ranh từ Chính phủ Việt Nam. Qua chặng đường lịch sử dài, cảng Cam Ranh đã liên tục chứng kiến sự thay đổi chủ sở hữu đến chóng mặt.
Thực tế là từ giữa những năm 1980 đến nửa đầu những năm 1990, Trung Quốc cũng nhiều lần ngỏ ý muốn thuê Vịnh Cam Ranh, thậm chí còn hăm dọa Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam từ chối đề nghị này và tiếp tục cho Liên Xô và sau đó là hạm đội Thái Bình Dương của Nga thuê quân cảng này. Bởi lẽ nếu để Trung Quốc thuê Cam Ranh, Việt Nam có thể vô tình cung cấp một căn cứ địa để Trung Quốc phô trương mối đe dọa quân sự ngay trước mắt các quốc gia Đông Nam Á. Hơn nữa, từ những năm 1970, hai nước Việt- Trung xuất hiện những cuộc giao tranh trên biển và trên bộ. Đặc biệt, nguồn tài nguyên phong phú dưới đáy Biển Đông nhiều khả năng sẽ là mồi lửa cháy âm ỉ trong tương lai.
Việt Nam, vốn luôn có thái độ cảnh giác trước Trung Quốc, không đời nào có thể chấp nhận cho Trung Quốc thuê Vịnh Cam Ranh trong khi Trung Quốc đang ngày càng nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của quân cảng này.
Lẽ dĩ nhiên là Mỹ sẽ không đứng ngoài cuộc. Năm 1995, Việt Nam và Mỹ bình thường hoá quan hệ. Năm 2000, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Tổng thống Mỹ thăm Việt Nam. Năm 2003, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam thăm Mỹ và tàu Hải quân Mỹ ghé hải cảng Việt Nam. Năm 2005, Thủ tướng Việt Nam thăm Mỹ. Năm 2006, tại cuộc Hội đàm cấp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ- Việt, hai nước quyết định cử sĩ quan Việt Nam sang học tập tại Mỹ. Năm 2007, Mỹ sửa đổi quy chế buôn bán vũ khí quốc tế (ITAR) cho phép bán vũ khí không gây sát thương cho Việt Nam như rađa tuần duyên và máy bay tuần tra trên không, Năm 2009, hai bên đạt thoả thuận sửa chữa tàu chiến của Hải quân Mỹ. Năm 2010, tàu sân bay của Mỹ ghé thăm một hải cảng của Việt Nam và sĩ quan quân đội Việt Nam lên thăm tàu. Trong khi tâm lý e dè do từng là cựu thù trong Chiến tranh Việt Nam vẫn còn hiện hữu, Mỹ và Việt Nam đã nhanh chóng cải thiện quan hệ một cách đáng kinh ngạc.
Việt Nam với đường lối ngoại giao đa phương
Năm 2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã nhấn mạnh đến mối quan hệ tốt đẹp Việt-Mỹ trước các tướng lĩnh trên tàu hậu cần của Hải quân Mỹ khi đó đang neo đậu tại Vịnh Cam Ranh. Tuyên bố trên của ông Panetta là nhằm kiềm chế Trung Quốc.
Trong bối cảnh đó, năm 2010, Việt Nam tuyên bố chính thức mở cửa cảng Cam Ranh cho các tàu quân sự như tàu sân bay và tàu ngầm nước ngoài neo đậu. Năm 2012, Việt Nam cũng cho biết sẽ chấp nhận để tàu chiến Nga neo đậu ở Cam Ranh. Một khi cả Nga và Mỹ đều sửa chữa và tiếp vận ở Vịnh Cam Ranh thì hiệu quả kiềm chế Trung Quốc là rất lớn.
Trong khi Ấn Độ đang cảnh giác trước sự hiện diện của Hải quân Trung Quốc trên Ấn Độ Dương, Inđônêxia và Malaixia thì tuần tra ở vùng biển xa nhằm đối phó với Trung Quốc, còn Ôxtrâylia thì chuẩn bị nguy cơ Hải quân Trung Quốc tiến vào Nam Thái Bình Dương, hải quân các nước trong khu vực cũng đã bắt đầu để mắt đến Cam Ranh.
Rõ ràng, Vịnh Cam Ranh sẽ trở thành “giao lộ” quan trọng của hải quân các nước vốn đang lo ngại sự gia tăng sức mạnh của Hải quân Trung Quốc. Trung Quốc – hiện đang có một căn cứ quân sự ở đảo Hải Nam nằm rất gần với Vịnh Cam Ranh – không có lý do gì phải cần đến hải cảng này. Về điểm này có thể thấy rõ kế sách quyết đoán của Việt Nam là muốn tăng cường “phòng tuyến chung chống Trung Quốc” ở khu vực Bắc Biển Đông.
Mặc dù vậy, tại cuộc hội đàm cấp cao với Trung Quốc, Việt Nam cố gắng tránh xảy ra xung đột Việt-Trung như ký thoả thuận nguyên tắc về vấn đề trên biển hồi năm 2011. Thay vào đó, cả Mỹ và Trung Quốc bất kể thế nào cũng không muốn ở thế đối đầu hoặc đẩy tình hình căng thẳng lên quá cao. Chính “mối quan hệ có mức độ” với Mỹ và Trung Quốc như vậy đã đưa việt Nam vào thế phải thực hiện đường lối ngoại giao đa phương.
Hai quân cảng là chìa khoá cho thế trận “Việt Nam-Philíppin chung chiến hào”
Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, Vịnh Cam Ranh – chủ thể chính trong chiến lược ngoại giao đa phương của Việt Nam – từng mất đi tầm quan trọng về mặt chiến lược. Nằm ở phía bên kia Biển Đông là Vịnh Subie, một cứ điểm xuất kích của Hải quân Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam và cũng là căn cứ lớn nhất của Hải quân Mỹ ở châu Á. Năm 1991, Vịnh Subie đã đóng cửa theo yêu cầu của Philippin. Nhân cơ hội này, năm 1995, Trung Quốc bắt đầu tăng cường chiến lược bành trướng hải dương với việc cho xây dựng cơ sở quân sự trên đảo Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa. Giật mình trước động thái này của Bắc Kinh, Philippin nối lại các cuộc tập trận chung quy mô lớn Mỹ- Philíppin và Manila ngả theo quân đội Mỹ. Trong cuộc hội đàm cấp ngoại trưởng Mỹ-Philíppin năm 2011, phía Mỹ đã đồng ý viện trợ tăng cường trang bị cho quân đội Philippin. Manila có kế hoạch phát triển Căn cứ quân sự Subie trước đây thành một đặc khu kinh tế và xây dựng các khu nghỉ dưỡng phục vụ cho mục đích du lịch. Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng Philippin lại tỏ ý “chờ đợi” nối lại hoạt động của Subie với tư cách một căn cứ quân sự. Manila cũng đang nhất trí với phương án sử dụng Vịnh Subie làm nơi neo đậu, tiếp nhiên liệu và sửa chữa tàu của Hải quân Mỹ.
Hai nước Việt Nam và Philippin đã ký bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng năm 2010. Tại Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 2012, Philippin bất ngờ phê phán sự bành trướng trên biển của Trung Quốc khi yêu cầu “giải quyết một cách hoà bình” tranh chấp chủ quyền và khu vực.
Tổng tải trọng của các tàu chiến Trung Quốc gộp lại là trên 1,34 triệu tấn, vượt gấp đôi toàn bộ đội tàu hải quân của các nước Đông Nam Á cộng lại. Một vấn đề nữa là có nhiều nước thấy lo ngại trước sự bành trướng của Trung Quốc nhưng mỗi nước lại có một thế đứng và cách xử trí khác nhau đối với Bắc Kinh.
Dầu sao, một khi cả Hà Nội và Manila cùng tăng cường thế trận “Việt Nam-Philíppin chung chiến hào” đối phó với Trung Quốc, các cường quốc ở Thái Bình Dương như Mỹ, Nhật Bản và Ôxtrâylia sẽ phải tính chuyện sử dụng sao cho hiệu quả nhất cả hai quân cảng Cam Ranh và Subie trong thế trận này./.

1660. BIỂN HOA ĐÔNG VÀ BIỂN ĐÔNG: CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC CẦN LÀM GÌ ĐỂ HẠ NHIỆT?

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Sáu, ngày 1/3/2013

BIỂN HOA ĐÔNG VÀ BIỂN ĐÔNG: CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC CẦN LÀM GÌ ĐỂ HẠ NHIỆT?

TTXVN (Angiê 28/2)
Theo ông Kevin Rudd, cựu Thủ tướng và cựu Ngoại trưởng Ôxtrâylia, tình hình ở Đông Á lúc này là không bình thường. Trong khi xung đột lãnh thổ làm gia tăng căng thẳng ở các biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Biển Đông), vùng này ngày càng khiến người ta nghĩ đến khu vực Bancăng cách đây 100 năm, nhưng là phiên bản biển.

Lý giải điều này trên tạp chí “Statafrik“, ông Kevin Rudd gọi đó là “thùng thuốc súng trên mặt nước”. Tâm lý dân tộc chủ nghĩa đang thiêu đốt các vùng lãnh thổ ở đây, đồng thời khiến không gian chính trị nội tại thu hẹp lại. Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản đang ở mức thấp nhất kể từ khi hai nước bình thường hóa vào năm 1972. Đầu tư và thương mại song phương giảm đáng kể và chính quyền các nước trong vùng đang mong mỏi bất kỳ một sự phát triển nào, dù là nhỏ. Mối quan hệ giữa một bên là Trung Quốc và bên kia là Việt Nam và Philippin cũng xấu đi đáng kể và tình hình này làm nảy sinh căng thẳng trong các tổ chức khu vực như Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN). Về an ninh, khu vực này chưa bao giờ lâm vào tình trạng mong manh kể từ khi Sài Gòn thất thủ năm 1975.
Tại Bắc Kinh, các vấn đề hiện nay với Tôkyô, Hà Nội và Manilla cũng rất được quan tâm, đồng thời là chủ đề chính trên các phương tiện truyền thông chính thức và các mạng xã hội, với lời lẽ thực sự hiếu chiến. Các vấn đề đó cũng bao trùm các cuộc tranh luận giữa lãnh đạo Trung Quốc và các vị khách đến từ nước ngoài. Mối quan hệ với Nhật Bản đặc biệt trở thành trọng tâm của gần như tất cả các cuộc thảo luận chính thức vì giới chức Trung Quốc tìm cách kiểm nghiệm sự thay đổi sâu sắc mà họ nghĩ là đã xác định được trong chính sách đối nội của Nhật Bản và về vị trí của Trung Quốc trong cuộc tranh luận tại Nhật Bản. Bắc Kinh không muốn các cuộc tranh cãi lãnh thô dẫn đến xung đột vũ trang, nhưng thể hiện rõ ràng rằng có một ranh giới đỏ không được vượt qua vì những lý do nội tại, và Trung Quốc sẵn sàng đề phòng mọi bất trắc xảy ra.
Giống như vùng Bancăng cách đây một thế kỷ, môi trường chiến lược ở Đông Á là phức tạp do vùng này bị chia rẽ bởi các liên minh, các mối quan hệ lâu đời và những thù hận chồng chất. Ít nhất có sáu nước hay thực thể chính trị có tranh cãi về lãnh thổ với Bắc Kinh. Ba trong số các nước đó là các đối tác chiến lược quan trọng của Mỹ. Đây là chưa nói đến nhiều tổ chức có chân rết ở mỗi nước trong số đó. Liên quan đến Trung Quốc chẳng hạn, Nhóm khủng hoảng quốc tế xác định chỉ riêng ở biển Nam Trung Hoa có tới 8 tổ chức như vậy.
Yêu sách lãnh thổ lại rất nhiều, giống như cái được mất về tài nguyên khoáng sản, biển và năng lượng. Mỹ nhìn chung vẫn tỏ thái độ trung lập, nhưng có nhiều đan xen giữa lợi ích cục bộ của các nước có liên quan và sự cạnh tranh chiến lược tổng thể giữa Mỹ và Trung Quốc và những đan xen đó là hoàn toàn không dễ kiểm soát. Như để làm cho sự việc phức tạp thêm, vùng Đông Á bị giằng xé mãnh liệt giữa hai trào lưu đối lập nhau. Một bên là các lực lượng toàn cầu hóa đang xích lại gần dân chúng, các nền kinh tế và các Nhà nước ở các nước này, còn gần hơn cả trong lịch sử. Bằng chứng là sự phát triển thương mại trong vùng hiện chiếm tới gần 60% lượng trao đổi hàng hóa trong các vùng lãnh thổ này. Bên kia là các lực lượng dân tộc chủ nghĩa nguyên thủy, thậm chí mang tính di truyền, vẫn luôn đe dọa làm tan nát vùng này.
Kêt quả là ở vùng này, ý nghĩ về một cuộc xung đột vũ trang – cho dù dường như trái ngược với lợi ích dân tộc hợp lý của các nước này vốn đang hưởng sự năng động kinh tế chưa từng thấy – trở thành chủ đề tranh luận gây lo ngại nhưng thông thường, do các cuộc xung đột lãnh thổ mới đây cũng như tâm lý thù hận văn hóa và lịch sử ăn sâu bén rễ trong tiềm thức con người. Hai thế giới hoàn toàn khác biệt cùng tồn tại ở vùng Đông Á đương đại này.
Rạn nứt đáng lo ngại nhất nảy sinh giữa Trung Quốc và Nhật Bản cũng như giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tháng 9/2012, Chính phủ Nhật Bản mua lại của một chủ sở hữu tư nhân ba hòn đảo thuộc Senkaku, một quần đảo nhỏ mà cả hai nước đòi chủ quyền (người Trung Quốc gọi là Điếu Ngư), về vấn đề này, Trung Quốc kết luận rằng Nhật Bản, nước trên thực tế kiểm soát các hòn đảo này về phương diện hành chính trong quãng thời gian dài nhất trong thế kỷ qua, dự tính tăng cường chủ quyền của mình ở đây.
Đáp lại, Bắc Kinh tung ra cái mà họ gọi là “kết hợp các cú đánh”: trả đũa về kinh tế, đưa tàu tuần tra biển vào các vùng tranh chấp, tập trận chung giữa các binh chủng quân đội và biểu tình rầm rộ, đôi khi đi liền với bạo lực, trước các tòa nhà ngoại giao hạy thương mại của Nhật Bản ở trong nước. Xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc đột ngột giảm mạnh trong quý IV/2012. Bỏi lẽ Trung Quốc trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Nhật Bản, nên xuất khẩu suy sụp có thể sẽ tác động mạnh vào việc giảm tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản trong cùng thời kỳ đó.
Vào trung tuần tháng 12/2012, Nhật Bản khẳng định lần đầu tiên kể từ năm 1958 đến nay, máy bay Trung Quốc xâm phạm không phận Nhật Bản trên các hòn đảo tranh chấp. Sau một sự cố khác, Tôkyô đưa 8 máy bay chiến đấu F-15 đến các hòn đảo này. Hai bên chắc chắn đều không triển khai tàu chiến, nhưng mối lo ngại trước việc quân sự hóa gia tăng do khả năng quân sự được chuyển sang tàu kiểu hải giám.
Trong khi giới quân sự Nhật Bản ngày càng chủ trương không nhân nhượng, Thủ tướng Shinzo Abe, người lên nắm quyền từ trung tuần tháng 12/2012, tìm cách làm dịu những tuyên bố của mình trước công luận về Trung Quốc, có thể để cho nước này thấy ông muốn tìm kiếm một mối quan hệ ổn định. Ngoài ra còn có lá thư hòa giải của Nhật Bản được ông chuyển tới Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tập Cận Bình, ngày 25/1 trong chuyến thăm Trung Quốc của lãnh đạo Công Minh Mới, đảng thành viên liên minh cầm quyền cùng với Đảng dân chủ tự do.
Đây là một bước đi được Bắc Kinh hoan nghênh, về công khai cũng như trong các cuộc tiếp xúc cá nhân, như tuyên bố của Tập Cận Bình ngay ngày hôm sau, đã cho thấy rõ. Trung Quốc đề nghị Nhật Bản chính thức thừa nhận có xung đột lãnh thổ để tăng cường vị thế chính trị và tư pháp của mình đối với tương lai của các hòn đảo này. Nhưng Trung Quốc cũng muốn bất đồng hiện nay không đe dọa an ninh trong vùng, để giữ gìn sự ổn định cần thiết cho mục tiêu hàng đầu của mình là cải cách kinh tế và tăng trưởng.
Như vậy, bầu không khí có thể dịu đi giữa Trung Quốc và Nhật Bản về ngắn hạn, nhưng thực tế ngoại giao và chiến lược về cơ bản vẫn không thay đổi. Cuộc tiến công ngoại giao chưa từng thấy của cả Thủ tướng Shinzo Abe lẫn Ngoại trưởng Nhật Bản, Fumio Kishida – cả hai đi thăm 7 nước Đông Á – cho thấy căng thẳng vẫn còn cao giữa hai nước. Thông báo hồi cuối tháng 1/2013 về việc thành lập lực lượng bảo vệ bờ biển đặc hiệt của Nhật Bản, bao gồm 12 tàu mới và 600 lính có nhiệm vụ chuyên trách bảo vệ quần đảo Senkaku, cho thấy vụ việc này con lâu mới được giải quyết.
Mối lo ngại hiện nay là không một nước nào có thể tự cho phép mình lùi bước trước dư luận ở trong nước. Trung Quốc cho rằng Nhật Bản đã xóa bỏ nguyên trạng, còn Nhật Bản nghĩ không liên quan đến phải nhân nhượng vì mình không có vấn đề gì liên quan đến chủ quyền. Như vậy, cả hai nước tiếp tục rình rập mọi hoạt động trên không và ngoài khơi và chỉ cần một sự cố nhỏ cũng có thể nhanh chóng làm cho tình hình xấu đi.
Để tránh xảy ra điều đó, cả hai nước có thể sẽ phải kiên trì lập trường của mình trước công luận vì lý do đối nội, đồng thời lùi từng bước và cùng một lúc trong việc triển khai lực lượng trên biển và trên không. Mọi thứ sẽ phải tuân theo một kế hoạch được thương lượng thông qua một bên thứ ba hay mạng lưới ngoại giao của chính hai nước, trong hậu trường. Nếu thương lượng bí mật như vậy vẫn chưa diễn ra (và dường như đúng là như vậy), cần phát động tiến trình đó vì lợi ích của cả hai nước.
Nhật Bản không nên lắp đặt bất kỳ một trang thiết bị nào, thiết lập bất kỳ một căn cứ nào cũng như không đưa bất kỳ người lính nào đến các hòn đảo này – vốn là những kế hoạch có lúc được Tôkyô dự tính – vì điều đó có thể sẽ khiến Bắc Kinh áp dụng biện pháp trả đũa, từ đó làm cho cuộc khủng hoảng trầm trọng thêm. Nếu các bước đi này có thể được thực hiện và tình hình ổn định trở lại, lúc đó cần tính đến việc về lâu dài, mỗi một thể chế môi trường quốc tế chuyên nghiệp quản lý các hòn đảo này và các vùng phụ cận, đồng thời thống nhất để tàu của hai nước không vào gần quần đảo này nữa.
Yêu sách lãnh thổ ở biển Nam Trung Hoa còn phức tạp hơn. Theo một số cơ quan của Mỹ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc khẳng định vùng biển này có trữ lượng tới 213 tỷ thùng dầu mỏ (gấp 10 lần trữ lượng của Mỹ, nhưng các nhà khoa học Mỹ không tin điều này) và 25.000 tỷ mét khối khí đốt (nhìn chung bằng trữ lượng đã được khẳng định của Cata). Biển Nam Trung Hoa cũng chiếm tới 10% lượng cá đánh bắt được hàng năm trên thế giới. Vùng này hiện là nơi diễn ra các cuộc thăm dò gây tranh cãi về nguồn tài nguyên năng lượng ở vùng biển sâu. Hoạt động đánh bắt cá cũng gây ra nhiều vụ đối đầu giữa các tàu. Hơn nữa, không giống như ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, nhiều hòn đảo ở biển Nam Trung Hoa đã có lính đóng doanh trại và căn cứ hải quân. Sáu bên, trong đó có Đài Loan, có yêu sách lãnh thổ đối với vùng này. Trung Quốc và Việt Nam là hai nước xung đột nghiêm trọng nhất. Hai nước đã đụng độ nhau về vấn đề này vào các năm 1974 và 1988 và đã tiến hành chiến tranh ở biên giới. Tháng 5/2011 một quan chức cấp cao của Hà Nội tóm lược rất rõ ràng mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc rằng: “Hai nước là bạn cũ và kẻ thù cũ của nhau”.
Hiện nay, Trung Quốc rõ ràng có lợi thế hơn Việt Nam về phương diện kinh tế, đến mức một quan chức Việt Nam mới đây nhấn mạnh không úp mở rằng Trung Quốc có thể đơn giản đánh sập nền kinh tế Việt Nam nếu họ muốn. Nhưng không nên từ đó suy ra rằng, xét về tâm lý thù hận lịch sử, sự phụ thuộc về kinh tế đó có thể có khả năng ngăn chặn mọi hành động ngoại giao hay quân sự của Việt Nam trong vấn đề biển Nam Trung Hoa.
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc xấu đi kể từ khi tàu đánh cá Trung Quốc cắt cáp thăm dò địa chấn của tàu Việt Nam vào tháng 5/2011, rồi tháng 12 cùng năm đó. Theo hãng Reuters, Việt Nam sau đó tuyên bố bắt đầu từ tháng 1/2013 sẽ triển khai tàu dân sự được cảnh sát biển hộ tống để ngăn chặn tàu nước ngoài thâm nhập vùng lãnh hải của mình. Ấn Độ, đối tác của Việt Nam trong một số dự án thăm dò, cũng nói sẽ tính đến việc đưa tàu đến biển Nam Trung Hoa để bảo vệ lợi ích của mình.
Cùng lúc đó, tỉnh Hải Nam của Trung Quốc cảnh báo từ năm 2013, tàu bảo vệ bờ biển của địa phương này bắt đầu chặn, khám xét và xua đuổi tàu nước ngoài xâm phạm vùng lãnh hải của Trung Quốc, kể cả trong các vùng biển tranh chấp. Những thông báo không giống nhau này về phương thức khám xét tàu thuyền nước ngoài, vốn mâu thuẫn nhau, cho thấy năm 2013 sẽ còn xảy ra xung đột lớn. Việt Nam và Trung Quốc đang rình rập nhau và những người theo dõi chặt chẽ tiến triển mối quan hệ này lo ngại sẽ lại xảy ra xung đột vũ trang.
Để tránh leo thang, đã đến lúc Bắc Kinh và Hà Nội phải nhượng bộ nhau. Hai nước trước hết cần thống nhất với nhau để xác định vấn đề cần ưu tiên là soạn thảo bộ quy tắc ứng xử rất được mong đợi giữa ASEAN và Trung Quôc ở biến Nam Trung Hoa, một văn bản phải bao gồm cả các dự án khai thác nguồn năng lượng chung trên một vùng lãnh thổ mà hai nước tranh chấp, Chính phủ hai nước cần xác định một dự án chung duy nhất và bắt đầu thương
lượng cụ thể phương thức thực hiện. Nếu điều đó là quá khó, hai nước cần tham khảo nhau để hoạch định một dự án đánh bắt cá chung trong một vùng duy nhất được xác định rõ ràng. Điều sẽ cho phép quên đi những vấn đề chủ quyền nhạy cảm hơn là vấn đề khai thác tài nguyên.
Nói cách khác, bắt đầu xây dựng lòng tin bằng cách hợp tác trong một dự án thực sự hay hơn là chờ đợi cuộc thương lượng qua con đường ngoại giao vốn phức tạp của bộ quy tắc ứng xử kết thúc. Nếu cách tiếp cận này mang lại kểt quả, một số dự án phát triển chung giữa hai nước có thể được thực hiện với một số nước khác nếu họ muốn.
Nhưng tất cả điều đó cũng có thể không thực hiện được. Chủ nghĩa dân tộc có thể sẽ thắng thế. Các nhà hoạch định chính sách có thể bằng lòng để cho sự việc tự diễn biến như họ đã làm cách đây một thế kỷ. Trong cuốn sách mới nhất của mình có tựa đề “The Sleepwalkers: How Europe Went to War in 1914″, nhà sử học Christopher Clark thuật lại chủ nghĩa dân tộc nhỏ nhen ở khu vực Bancăng kết hợp với trò chơi chính trị của các cường quốc và sự thiếu khéo léo ngoại giao của các nhà lãnh đạo lúc đó, đã dẫn đến vụ thảm sát trên quy mô lớn trong Chiến tranh thế giới thứ Nhất.
Vào thời kỳ đó, toàn cầu hóa kinh tế còn sâu rộng hơn hiện nay và chính phủ các nước châu Âu, cho đến năm 1914, cho rằng một cuộc chiến tranh trên toàn châu Âu là không thích hợp và như vậy là không thể nổ ra. Theo cựu Thủ tướng Kevin Rudd, có lẽ chiến tranh sẽ không nổ ra trên toàn châu Á. Nhưng đối với người dân trong vùng đang phải đối mặt với căng thăng leo thang ở các biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa, lịch sử châu Âu là một lời cảnh báo đáng được suy ngẫm./.