Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

Nhà nước Việt Nam: Kẻ thù chính là ta!: Xuất hiện vũ khí mới đe dọa sự sống còn của nhiều quân đội

-Nguồn:-Nhà nước Việt Nam: Kẻ thù chính là ta! Đàn Chim Việt 
Lời người dịch: Tình cờ đọc bài tường trình tiếng Anh sau đây trên VietnamNetBridge (một cơ quan ngôn luận và cũng là một trang báo điện tử Anh văn đầu tiên của Việt Nam) người dịch xin làm một chuyện tức cười là chuyển ngữ ngược lại một bài có lẽ đã được soạn bằng tiếng Việt trước khi chuyển qua tiếng Anh, do vậy mà có lẽ phần Anh ngữ trên VietnamNetBridge của tác giả Bùi Diên viết không được chuẩn lắm.
Vì dịch từ Anh ngữ không dấu, tên tác giả cũng của các nhân vật Việt Nam trong bài cũng có thể không chính xác, xin quý vị đọc giả lượng thứ.

Sau khi quên được thân phận tha hương của mình, trớ trêu nhất có lẽ là nỗi đau ăm ắp của người Việt hải ngoại (như tôi) là vẫn dõi mắt nhìn về quê nhà để nhiều lúc phải cảm thấy nhục nhã và phẩn uất vì những chuyện khuất tất và nghịch lý vẫn tiếp tục xảy ra ở Việt-Nam, thí dụ như chuyện mã độc đang đe dọa các cơ quan nhà nước sau đây. Tuy bài viết không nói ra nhưng tôi đoan chắc các hệ thống tin học, vi tính và phần mềm đều đến từ Trung quốc (1), một người bạn và láng giềng 4 tốt và 16 chữ vàng được nhiều lãnh tụ đỉnh cao trí tuệ Việt Nam khắc ghi vào tâm não – nếu không – thì cũng khắc ghi trên hầu bao, nhắc họ đừng quên trọng lượng của đồng kim tiền đến từ đâu!
Trong khi hàng hóa Trung quốc tràn ngập thị trường Việt Nam, thì lãnh đạo — không khác gì dân đen không-được-họ-chăm-lo — vẫn đổ xô tìm mua hàng rẻ và kém phẩm lượng từ Trung quốc và bỏ túi riêng ngân khoản còn lại. Do đó Việt Nam mới bị gán cho các con vi-rút độc địa của Trung quốc, và các ông lớn bị tiêm nhiểm một loại vi khuẩn khó chữa hơn mà dân gian gọi là bị Tàu phù. Trong khi hệ thống vi tính và tin học nhà nước bị cấy bởi các con vi-rút Trung hoa ác hiểm thì các ông lớn và an ninh quốc phòng Việt Nam bị gài những phần tử thân Trung quốc mà người dân gọi nôm na là tay sai gián điệp, vốn dĩ độc hại không kém những con ngựa thành Troie/Troy (Trojan horse).
Dân làm báo cũng như những người có tiếng nói trung trực, yêu nước lâu nay cũng chẳng lạ gì các vụ tấn công của tin tặc có lẽ xuất xứ từ phía nhà nước Việt Nam (có thể thừa hành lệnh của Trung quốc) bằng virus và những cài đặt nhu liệu khác. Cho nên trong vụ thiệt hại và thất thoát tin học quốc phòng này mà thủ phạm có lẽ không ai khác hơn bác láng giềng khổng lồ Trung quốc thì những người mà trước giờ e-mail hay các trang điện tử và server của họ đã bị thiệt hại vì bị công an mạng tấn công cũng nên đặt câu hỏi với nhà nước:  so sánh số tiền và khoản thời gian khổng lồ mà Bộ Nội vụ đã bỏ ra cũng như chi trả cho các vụ đánh phá công dân mạng Việt Nam và hải ngoại xem có bằng số tiền mà họ dùng để phòng chống các thế lực thù địch không? (tôi cũng không hiểu ngoài Trung quốc ra, các thế lực thù địch khác là ai, có phải là Hoa Kỳ hay công dân nhập tịch Mỹ to mồm không?). Vì nếu thật sự CIA hay tình báo Mỹ có dự phần trong chuyện cài đặt vi-rút (một sắc xuất quá nhỏ!) thì thú thật cá nhân tôi cũng mừng, bởi vì tôi quan niệm rằng không có kẻ thù của Việt Nam nào thâm hiểm hơn kẻ thù truyền kiếp ngàn đời Trung quốc, lúc nào cũng âm mưu thôn tính hay đồng hóa dân Việt! Và nếu Hoa Kỳ có biết được những âm mưu lấn át của Bắc triều với Việt Nam thì âu đó là một điều đáng mừng giúp cho họ có cách đối phó với âm mưu bành trướng và mua chuộc này từ bên trong nội bộ Việt Nam.
(1) Công ty tin học Hua Wei của Trung Quốc – dưới quyền điều khiển của ông tổng giám đốc Nhậm Chính Phi (任正非 Ren Zhengfei), một cựu sĩ quan trong Quân đội Nhân dân Trung Quốc – trong vòng từ 2000 đến nay đã nhảy vọt lên đứng thứ nhì trên thế giới (chỉ sau công ty Eriscsson của Thụy Điển). Hua Wei có hơn 110.000 nhân viên, thu nhập năm 2010 của công ty Hua Wei lên đến 28 tỉ Mỹ kim. Thi trường của Hua Wei chiếm toàn quốc Trung Hoa kể cả Hồng Kông, Anh Quốc, Nhật và Liên hiệp Âu châu. Chính công ty này đã đưa nền tin học và hệ thống điện thoại viễn liên của Phi châu từ một kỹ nghệ phôi thai lên đẳng cấp quốc tế, và có thể sẽ qua mặt Ericsson để giữ vị trí thượng phong trong những năm tới, ngang hàng với những đại công ty vi tính và tin học truyền thông viễn liên thế giới như Cisco, IBM, và HP. Ở Việt Nam điện thoại di động của Hue Wei đang được giới tiêu thụ ưa chuộng, vì giá rẻ và nhiều công dụng. Nhiều chiếc điện thoại di động của Hua Wei có đến 3 sim và IP khác nhau (một số để liên lạc với công sở, một số với người nhà, một số cho người yêu hay vợ bé – một người bạn ở Việt Nam khoe với tôi như vậy). Cũng như các công ty công nghệ hay điện tử khác của Trung Quốc, lý do cho sự lớn mạnh của Hua Wei tùy thuộc vào sự điều khoản chuyển nhượng thông tin công nghệ trong cá hợp đồng của các công ty Tây phương và Hoa Kỳ khi họ đầu tư vào Trung Hoa, phần nữa do Trung Quốc không tôn trọng luật bản quyền trí tuệ và /tác quyền sáng chế (intellectual property) của các quốc gia khác.
Cũng vì lý do này và chủ trương cài đặt mã độc hoặc virus trong các bộ phận và linh kiện và phần mềm của Hua Wei mà hiện nay chính phủ Hoa Kỳ đã bác bỏ giao kèo hàng tỉ Mỹ kim của Hua Wei khi họ ký hợp đồng hợp tác với công ty SprintNextel của Mỹ vào tháng 11 vừa qua, cũng như khi Hua-Wei trả 2 triệu mua bản quyền của 3Leaf, một công ty trong vùng Silicon (thung lũng Hoa Vàng) thuộc San José, Santa Clara ở bang California.
Còn ở Việt Nam thì càng nguy hại hơn vì các router (dùng cho Internet) và switch (dùng cho các hãng điện thoại) thường mua của Huawei do giá rẻ và do tiền bôi trơn tay hấp dẫn hơn với các viên chức. Có nhiều nguồn tin cho thấy Huawei cài spyware vào router và switch của họ để nghe lén khách hàng … hai đường dẫn sau đây là một ví dụ:
http://nerdtwilight.wordpress.com/2011/12/05/u-s-national-security-concerns-cast-pall-over-huawei/

http://www.economist.com/node/18771640



Malware đang đe dọa các cơ quan nhà nước

Bùi Diên
VietNamNet Bridge
 – (Cập nhật lần chót 24/12/2011 11:47:00 (GMT +7)
Tin tặc điều khiển, tấn công và tán phát phần mềm độc hại đến hơn 1500 cổng thông tin điện tử tại Việt Nam. Trong khi đó, 1/3 máy tính nhập khẩu đã được phát hiện bị nhiễm mã độc. Tuy vậy
cơ quan nhà nước vẫn lơ là và cẩu thả trước nguy cơ bị phần mềm độc hại tấn công.*
Con số đáng lo ngại

Tại cuộc họp về cải thiện an toàn thông tin cho các cơ quan nhà nước do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức, người tham dự nghe nói đến những con số đáng ngại về các cuộc tấn công của tin tặc.
Cơ quan A68 thuộc Bộ Công an cho biết rằng các cán bộ của Bộ gần đây đã phát hiện ra rất nhiều hệ thống thông tin và cổng thông tin của các cơ quan nhà nước, kể cả những bộ phận và các cơ quan trọng yếu của Đảng Cộng sản và Nhà nước bị nhu liệu (malware) tàn độc lây nhiễm, thậm chí còn bị thâm nhập và tấn công.
Cơ quan A68 đã phát hiện ra rằng tin tặc đã đột nhập vào 1500 cổng thông tin, cài đặt malware với mục đích thu thập thông tin và chiếm quyền điều khiển hệ thống. Trong khi đó, Việt Nam đã được thêm vào danh sách 5 nước với khối lượng thư rác (spam) cao nhất thế giới. Như vậy 2011 rõ ràng là một năm “nóng” trong hệ thống an ninh mạng tại Việt Nam.
Một đại diện của Bộ Công An cũng đã cảnh báo rằng trong hai năm qua, khi kiểm tra các máy tính và các thiết bị nhập khẩu, Bộ đã phát hiện 1165 trong số 4892 bộ phận nhập khẩu, hoặc 1/3 hàng hoá nhập khẩu, đã bị nhiễm phần mềm độc hại. Cơ quan nhà nước đã được thông báo để kiểm tra nhập khẩu trang thiết bị kỹ lưỡng trước khi (đưa vào) sử dụng.
Quá bất cẩn

Các chuyên gia đã cho thấy lý do lớn nhất đằng sau vấn đề tin tặc hiện nay là sự bất cẩn quá mức của các cán bộ trong các cơ quan nhà nước.
“Rất nhiều cơ quan trọng yếu tại Việt Nam vẫn sử dụng địa chỉ email của nước ngoài để gửi tài liệu mật quan trọng cho các nhân viên của họ. Một số cơ quan và cá nhân đã phải chịu tổn thất nặng nề vì điều này”, Bộ An ninh đã cảnh báo.
Một viên chức của Bộ Quốc phòng nói rằng trong thực tế, các cơ quan chính quyền đều thiết lập các quy trình và điều lệ về bảo vệ thông tin, nhưng họ vẫn còn thiếu kỷ luật.
Nhiều sĩ quan biên soạn tài liệu bí mật hàng đầu trên máy tính của họ và sau đó gửi qua Internet để thu thập ý kiến của các quan chức khác . Một số các trường hợp khác, họ sao chép các tài liệu tối mật vào linh kiện USB và truyền tay những linh kiện USB này cho người khác.
“Đây thực sự là một mối đe dọa lớn đối với toàn bộ hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước”, ông nói.
Cơ quan nhà nước cũng đã được kêu gọi để tiếp tục kiểm soát chặt chẽ hơn trong việc thanh lý thiết bị. Trong một số trường hợp, khi máy tính đã được đưa đến các cửa hàng để sửa chữa, các thông tin bí mật được lưu giữ trong các máy tính đã bị đánh cắp tại cửa hàng.
Khó khăn đến từ mọi phía

Ông Nguyễn Hữu Chính, Trưởng Cơ quan Công nghệ Thông tin của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết rằng rất nhiều thông tin dự án công nghệ đã không được thực hiện như dự hoạch, bởi vì các dự án không nhận được ngân khoản trong bối cảnh khi nhà nước Việt Nam đã cắt giảm chi tiêu ngân sách công.
Ông nói rằng số tiền được phân bổ cho Bộ trong năm 2012 chỉ đủ lớn để đảm bảo một nửa các thủ tục để đảm bảo an toàn thông tin.
Đỗ Đức Cường, Giám đốc Trung tâm Thông tin của Bộ Nội Vụ, cũng cho biết, cơ quan nhà nước thiếu tiền để đảm bảo thông tin an toàn. Ông cho biết ngân sách nhà nước chỉ cung cấp một số hàng trăm hàng ngàn đồng để đào tạo một nhân viên, trong khi học phí thực sự cao hơn nhiều.
Trong khi đó, báo động về các cuộc tấn công đã không được cập nhật. Trong một số trường hợp, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đưa ra báo động về các cuộc tấn công của tin tặc hai tuần sau khi các cuộc tấn công đã được cảnh báo trên thông tin công nghệ diễn đàn.
—————————————–
BBT Đàn Chim Việt chú thích:

Bài viết kể trên, trước ấn bản Anh ngữ đã  có (các) ấn bản Việt ngữ như:
Mã độc đe dọa các cơ quan nhà nước
 (21/12/2011). Theo nguồn ghi trên bản gốc tiếng Việt thì tác giả là báo Bưu Điện chứ không phải Bùi Diên như Nguyễn Khoa Thái Anh “cảm” bằng tiếng Anh.
1a.jpg
Thái độ bất cẩn của CBCNV là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất an toàn, an ninh thông tin. ảnh: Thái Anh
Mã độc đe doạ các cơ quan Nhà nước
ICTnews - Hơn 1.500 cổng thông tin điện tử tại Việt Nam bị tin tặc kiểm soát, phát tán mã độc và chiếm quyền điều khiển. 1/3 thiết bị máy tính nhập khẩu về có phát hiện bị nhiễm mã độc. Có vẻ như các cơ quan Nhà nước (CQNN) vẫn quá lơ là trước nguy cơ tấn công của mã độc.
Những con số đáng giật mình
Tại cuộc họp về tăng cường đảm bảo an toàn thông tin trong hoạt động của các CQNN vừa diễn ra tại Bộ TT&TT dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng, đại diện các CQNN đã đưa ra những con số đáng lo ngại.
Đại diện Cục A68 Bộ Công an cho biết: Thời gian qua, lực lượng chức năng của Bộ này đã phát hiện rất nhiều hệ thống CNTT, cổng thông tin của các CQNN, đặc biệt là các Bộ, ngành, cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà nước bị mã độc xâm nhập, thậm chí chiếm quyền điều khiển.
Thống kê chưa đầy đủ năm 2011 cho thấy, đã có tới hơn 1.500 cổng thông tin điện tử bị tin tặc xâm nhập, cài mã độc có chủ đích thu thập thông tin và chiếm quyền điều khiển hệ thống CNTT. Cùng với đó, Việt Nam đã lọt vào TOP 5 quốc gia bị phát tán thư rác nhiều nhất thế giới. Có thể nói 2011 là năm nóng bỏng về an ninh mạng tại Việt Nam.
Đại diện Bộ Công an cũng lưu ý về hiện trạng 2 năm qua, khi kiểm tra các thiết bị, máy tính nhập khẩu, lực lượng chức năng đã phát hiện tới 1.165/4.892 máy tính nhập khẩu bị nhiễm mã độc (tương đương 1/3 tổng số thiết bị nhập khẩu). Để tránh những hệ luỵ nghiêm trọng, các CQNN khi nhập khẩu thiết bị về cần phải kiểm tra thật kỹ rồi mới đưa vào sử dụng.
Bất cẩn quá mức
Một trong những nguyên nhân dẫn tới hiện trạng đáng báo động nêu trên chính là thái độ bất cẩn, vô tư thái quá của các cán bộ, công chức, nhân viên trong các CQNN.
"Rất nhiều cơ quan trọng yếu của Việt Nam vẫn sử dụng địa chỉ mail của nước ngoài để gửi các tài liệu quan trọng trong nội bộ cơ quan, và đã có một số cá nhân, đơn vị chịu hậu quả khá nặng nề trong việc này", đại diện Bộ Công an dẫn chứng.
Chia sẻ quan điểm này, đại diện Bộ Quốc phòng dẫn chứng thêm: Các CQNN đều ra quy chế để bảo vệ thiết bị sao chép dữ liệu như USB, ổ cứng... nhưng quy định còn lỏng lẻo. Trên thực tế, không ít cán bộ vẫn mang cả thiết bị sao chép dữ liệu về nhà để làm. Không chỉ có vậy, vẫn còn cán bộ "hồn nhiên" soạn thảo cả văn bản tuyệt mật trên máy tính rồi truyền qua mạng Internet hoặc copy vào USB để chuyển cho những cán bộ khác để lấy ý kiến góp ý. Đây là một nguy cơ dẫn tới mất an toàn thông tin cho cả hệ thống CNTT của CQNN.
Một hành vi bất cẩn khác cũng vừa được "nêu tên" để các CQNN tránh "lặp lại vết xe đổ" chính là nguy cơ rò rỉ thông tin từ các thiết bị thanh lý. Trên thực tế, đã có trường hợp máy tính ngân hàng bị hỏng, mang ra ngoài sửa chữa thì đã bị lấy cắp mất dữ liệu mật có trong máy tính. Các CQNN cần siết chặt hơn nữa quy trình tiêu huỷ, thanh lý đĩa cứng, máy tính chứa nhiều dữ liệu mật.
Khó khăn tứ phía
Công tác tăng cường an toàn thông tin, an ninh mạng đã được đề xuất triển khai tại các CQNN từ rất lâu nay song từ lý thuyết đến thực tiễn triển khai còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc chưa thể giải quyết thấu đáo.
Ông Nguyễn Hữu Chính, Cục trưởng Cục CNTT Bộ Tài nguyên & Môi trường cho biết thời gian qua, rất nhiều đề án, dự án về CNTT không được triển khai như mong muốn vì không lo được kinh phí trong bối cảnh cả nước vẫn đang cắt giảm chi tiêu công. Đối với Bộ Tài nguyên & Môi trường, đề án An toàn thông tin dù đã được lãnh đạo Bộ đặt lên hàng đầu song kinh phí được cấp vẫn còn rất "khiêm tốn" so với nhu cầu. Theo thiết kế thì hệ thống cần phải được đầu tư 7 nút cấp 2 để tăng cường an toàn bảo mật song kinh phí lo được để triển khai trong năm 2012 chỉ đảm bảo được cho 3 nút (gồm cả khoản đầu tư bằng nguồn kinh phí khác của Bộ Tài nguyên & Môi trường). Những nút còn lại sẽ còn khó khăn trong việc đảm bảo an ninh thông tin trong thời gian tới.
Cùng chia sẻ nhận định về việc "cái khó" có thể "bó cái khôn", ông Đỗ Đức Cường, Giám đốc Trung tâm Thông tin, Bộ Nội vụ nhấn mạnh khó khăn trong khâu đào tạo. Theo quy định hiện nay, kinh phí đào tạo được duyệt chỉ mấy trăm nghìn đồng/suất/năm trong khi học phí thực tế cao hơn rất nhiều. Chưa kể trên mạng quảng cáo rất nhiều địa chỉ đào tạo nhưng không ai kiểm định xem nơi nào đào tạo với chất lượng cao, thực sự đảm bảo tính bảo mật. Ông Cường đề xuất Bộ TT&TT phối hợp với Bộ Kế hoạch Đầu tư và Bộ Tài chính để tăng chi phí đào tạo an toàn bảo mật cho các CQNN.
Một khó khăn khác cũng được ông Đỗ Đức Cường nêu ra đó là công tác cảnh báo thời gian qua vẫn chưa kịp thời, thường xuyên. Đã có trường hợp cộng đồng mạng phản ánh về vụ tấn công website CQNN nhưng sau đó 1 - 2 tuần mới có cảnh báo chính thức của Bộ TT&TT.          

Dự kiến từ quý 1/2012, bên cạnh những cảnh báo sự cố bất thường, VNCERT sẽ cung cấp thông tin hàng quý gửi cho lãnh đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ và lãnh đạo các cơ quan chuyên trách về CNTT để kịp thời cảnh báo nguy cơ cũng như thông báo về tình hình an toàn thông tin. Khoảng tháng 3/2012, bản tin đầu tiên sẽ được trình làng.
Cũng trong quý 1/2012, Bộ TT&TT sẽ mở lớp đào tạo về an toàn bảo mật thông tin cho cán bộ chuyên trách CNTT các Bộ, ngành. Sau đó sẽ dần hoàn thiện chương trình khung để đào tạo rộng rãi hơn.
Thế giới đang phải đối mặt với tội phạm mạng thế hệ 6, là những tổ chức kinh doanh, liên kết quốc tế, phân phối mã độc theo sơ đồ Pay-per-Install hay thuê dây chuyền mã độc hoàn toàn tự động (tội phạm “Point-and-click”). Tháng 11/2011, sau 2 năm điều tra, Chiến dịch Operation Ghost Click của FBI đã bắt băng nhóm tội phạm mạng có trụ sở tại Estonia, triệt phá mạng lưới botnet điều khiển 4 triệu chiếc máy tính tại hơn 100 quốc gia thu lời bất hợp pháp hơn 14 triệu USD.
Ngọc Mai


-Xuất hiện vũ khí mới đe dọa sự sống còn của nhiều quân đội-
-(GDVN) - Trong khi nguy cơ xảy ra chiến tranh Mỹ-Iran ngày càng cận kề, thì một cuộc chiến tranh kiểu mới – chiến tranh mạng đang bam trùm lên Đông Á.
Gần đây, tờ “Yomiuri Shimbun” Nhật Bản cho biết, Bộ Quốc phòng Nhật Bản đang nghiên cứu một loại virus, loại virus này, trong trường hợp hệ thống máy tính kiểm soát vũ khí bị tấn công mạng, có thể truy tìm con đường tấn công và tấn công trở lại nơi khởi nguồn.
Bài báo cho biết, từ năm 2008 đến nay, Nhật Bản luôn tập trung nghiên cứu phát triển loại virus này, ứng phó virus Stuxnet, làm một loại vũ khí mạng mạnh, để tiến hành chiến tranh mạng.

Ngoài ra, giáo sư Đại học Keio Nhật Bản Tsuchiya cũng cho biết, các nước khác đã bắt đầu những dự án tương tự. Điều này chỉ ra rằng chiến tranh mạng đang gia tăng. Trong tương lai có thể diễn ra một cuộc chạy đua về kho vũ khí mạng.
Chiến tranh mạng - chiến tranh thế hệ thứ sáu
Ngay từ tháng 7/2011, Mỹ đã công bố “Chiến lược hành động không gian mạng”, báo cáo này đặt không gian mạng lên thành “lĩnh vực hành động” ngang hàng với lục, hải, không quân, không gian vũ trụ, cho biết coi tấn công mạng tương tự một “hành vi chiến tranh”.

Ngoài ra, các nước như Anh, Pháp, Nga, Israel, Hàn Quốc cũng lần lượt cho biết lập trường tăng cường xây dựng lực lượng mạng.
Việc triển khai chiến lược không gian mạng của các nước cuối cùng có ý nghĩa gì? Giáo sư Lý Đại Quang, Đại học Quốc phòng Trung Quốc, tác giả cuốn sách “Tác chiến mạng dựa trên hệ thống thông tin” cho rằng, do có khả năng lan tỏa và thâm nhập tuyệt vời,

mạng chắc chắn sẽ trở thành một phương tiện quan trọng xây dựng quân đội của các nước, trở thành phương tiện chủ yếu xây dựng hình tượng quân đội và công cụ quan trọng xây dựng tăng cường sức mạnh mềm cho quân đội.
Kiểm soát thông tin tức là chiến tranh
Mỹ rất coi trọng an ninh mạng
Nhà dự đoán tương lai học Thor Larholm tiên đoán, ai đã nắm được thông tin, đã kiểm soát mạng, người đó sẽ có cả thế giới.
Lý Đại Quang cho biết, mục đích căn bản của tác chiến mạng là thông qua bảo vệ và phá hoại đối với lớp xử lý thông tin của máy tính, để làm giảm hiệu quả sử dụng hệ thống thông tin mạng của kẻ địch,

bảo vệ sự vận hành bình thường của hệ thống thông tin mạng của mình, tiến tới giành lấy và duy trì quyền kiểm soát không gian mạng.


Hệ thống mạng thông tin lấy máy tính làm trung tâm đã trở thành trung khu thần kinh của một quân đội hiện đại; các hệ thống mạng như mạng thiết bị cảm biến, mạng chỉ huy kiểm soát, mạng vũ khí sẽ trở thành trung tâm và sự hỗ trợ quan trọng cho chiến tranh thông tin.

Mỹ là nước đầu tiên thành lập lực lượng mạng, cựu Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, Thượng tướng Sullivan cho rằng, sự xuất hiện của thời đại thông tin, sẽ làm thay đổi phương thức tiến hành chiến tranh một cách căn bản.

Trong nhiều năm trước, sự thay đổi này đang diễn ra.
Trong chiến tranh Kosovo vào cuối những năm 1990, các chuyên gia máy tính Liên bang Nam Tư và Nga đã xâm nhập thành công trang mạng của Nhà Trắng, làm cho nó bị tê liệt.

Đồng thời, hệ thống thông tin của NATO đã bị virus tấn công; máy chủ thư mang theo thông tin tác chiến của lực lượng Lính thủy đánh bộ Mỹ hầu như bị tắc nghẽn toàn bộ,


thậm chí hệ thống chỉ huy kiểm soát của tàu sân bay động cơ hạt nhân Nimitz cũng bị hacker tấn công và gián đoạn hơn 3 tiếng đồng hồ.
Lý Đại Quang cho rằng: “Trong mấy cuộc chiến tranh cục bộ gần đây, quân đội các nước phát triển có ưu thế mạng thông tin, có thể dùng virus máy tính và hacker tiến hành tấn công đối với hệ thống mạng và thông tin của đối phương,

hoàn toàn chi phối không gian mạng, giành được ưu thế chiến trường thông tin, và trong thời gian rất ngắn đã làm tê liệt hệ thống chỉ huy phòng không của đối phương, hỗ trợ mạnh mẽ cho tác chiến trên các chiến trường khác”.
Trung tâm chỉ huy tác chiến mạng của Quân đội Mỹ
Trên thế giới, quân đội Mỹ có hơn 15.000 hệ thống mạng và 7 triệu thiết bị máy tính, sự phụ thuộc vào không gian mạng và thiếu hụt an ninh mạng đã tạo nên sự tương phản rõ rệt. Báo cáo của Bộ Quốc phòng cho biết, hệ thống mạng của Lầu Năm Góc hàng ngày bị hàng triệu cuộc dò tìm, mà những cuộc xâm nhập thành công đã làm cho hàng nghìn tài liệu (file) bị rò rỉ.
Trên thực tế, không chỉ có Mỹ phải hứng chịu các cuộc tấn công mạng. Ngày 23/8/2010, một hacker chưa rõ đã tấn công trang web của Cục Cảnh vệ Liên bang Nga, làm cho rất nhiều tài liệu nội bộ bộc lộ trực tuyến đến vài giờ.

Theo thống kê của Cục An ninh Liên bang Nga, từ năm 2005 đến nay, các trang web của các cơ quan nhà nước Nga mỗi năm đều bị hàng triệu cuộc tấn công mạng, trong đó các cuộc tấn công vào trang web của Thủ tướng Putin lên tới 120.000 vụ.
Lý Đại Quang cho rằng: “Một khi mạng máy tính bị tấn công và bị phá hủy, sức chiến đấu của toàn bộ quân đội sẽ giảm mạnh, thậm chí bị mất đi hoàn toàn, máy móc quân sự nhà nước sẽ ở vào trạng thái bị tê liệt, an ninh quốc gia sẽ bị đe dọa nghiêm trọng”.
Thế giới đều đang sẵn sàng cho chiến tranh mạng
Từ thập niên 90 của thế kỷ trước cho đến đầu thế kỷ này, Mỹ đã lần lượt công bố “Bảo vệ hạ tầng cơ sở then chốt của Mỹ”, “Khung kỹ thuật bảo đảm thông tin” (IATF), “Chiến lược an ninh quốc gia”.
Lý Đại Quang cho rằng: “Sự kiện 11/9 đã thúc đẩy chiến lược an ninh thông tin trở thành chiến lược cốt lõi của chiến lược quốc gia Mỹ”.
Lực lượng tác chiến mạng của quân đội Mỹ
Năm 2009, Mỹ đề xuất, nắm chắc quyền kiểm soát mạng trong thế kỷ 21 có ý nghĩa quyết định như nắm chắc quyền kiểm soát biển trong thế kỷ 19 và quyền kiểm soát trên không trong thế kỷ 20.

Sau đó, “Luật An ninh mạng 2009” đã được thông qua, luật này giành cho Tổng thống Mỹ quyền “tuyên bố tình trạng khẩn cấp của an ninh mạng”, cho phép “đóng hoặc hạn chế những hệ thống mạng thông tin quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia”. Tháng 10/2010, Bộ Tư lệnh mạng của quân Mỹ chính thức đi vào hoạt động.

Để nâng cao năng lực tác chiến mạng, quân đội Mỹ lần lượt tiến hành 3 cuộc tập trận “Cơn lốc mạng” (Cyber Storm) vào năm 2006, 2008 và 2010.

Đặc biệt cuộc tập trận “Cyber Storm III” là cuộc tập trận lớn liên ngành lần đầu tiên sau khi Bộ Tư lệnh mạng của quân đội Mỹ được thành lập, đã mô phỏng tình huống một số hạ tầng cơ sở then chốt bị tấn công mạng lớn, mô phỏng sự cố nhiều tới 1.500 vụ.
Với việc Mỹ tích cực triển khai “chiến tranh mạng”, các nước khác trên thế giới cũng đã tích cực hưởng ứng theo.

Đến cuối năm 2010, quân đội các nước như Nga, Nhật Bản, Israel, Pháp, Đức, Singapore, Ấn Độ và Hàn Quốc cũng đều đã lần lượt thành lập lực lượng tác chiến mạng của mình. Thậm chí có nghiên cứu cho biết, Iran cũng có vũ khí tác chiến mạng tương đối tiên tiến và kế hoạch tấn công mạng, bao gồm phát động cuộc tấn công mạng đối với trang web chính phủ và hạ tầng cơ sở cụ thể.
Chiến tranh tương lai
Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Mỹ - Viện Khoa học xã hội Trung Quốc Nghê Phong cho rằng: “Chủ thể hành vi chiến tranh mạng phần nhiều có thể là cá nhân và tổ chức, thường một hacker có thể phát động một cuộc tấn công mạng, kiểm soát được rất khó. Mỹ đưa nó lên cấp độ chiến lược quốc gia, chắc chắn sẽ làm cho các nước tham gia vào cuộc chạy đua”.
Thực ra, ngay từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Nga đã thiết lập Ủy ban an ninh thông tin chuyên phụ trách an ninh thông tin mạng; năm 1995,

Hiến pháp Nga đưa an ninh thông tin vào phạm trù quản lý an ninh quốc gia; năm 2002 “Học thuyết An ninh Thông tin Liên bang Nga” được thông qua, nâng chiến tranh mạng lên một cấp độ cao mới, coi đó là “chiến tranh thế hệ thứ 6” của tương lai.
Nghê Phong cho rằng: “Internet do Mỹ phát minh, các nhà cung cấp chính đều ở Mỹ và một số nước phương Tây. Mỹ ý thức được tầm quan trọng của an ninh mạng, đồng thời hy vọng thông qua tăng cường ưu thế riêng của họ, tiếp tục nắm chắc quyền chủ đạo trong không gian mạng”. Mỹ lấy hệ thống mạng làm điểm cao khống chế chiến lược mới, muốn tiếp tục tạo dựng quy tắc trò chơi.
Học thuyết chiến tranh thế hệ thứ 6
Lý luận về chiến tranh thế hệ thứ 6 được học giả quân sự Nga B.N. Silipuqinke (dịch âm) đưa ra sớm nhất.
Theo lý luận của Silipuqinke, chiến tranh thế hệ thứ nhất là chỉ chiến tranh được tiến hành bằng vũ khí lạnh, sau khi kết thúc xã hội nguyên thủy của loài người, nó được duy trì 3.500 năm, là hình thức chiến tranh có thời gian liên tục dài nhất.
"Người lính" trong chiến tranh mạng
Chiến tranh thế hệ thứ hai là chiến tranh sau khi phát minh ra thuốc nổ, dùng vũ khí không nòng xoắn làm tiêu chí. Nó đã kéo dài hơn 600 năm.
Chiến tranh thế hệ thứ ba bắt đầu từ cuối thế kỷ 18 dùng súng và pháo có rãnh nòng súng làm tiêu chí. Nó kéo dài khoảng 200 năm.
Chiến tranh thế hệ thứ tư từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, sử dụng nhiều các loại vũ khí tự động, xe bọc thép, máy bay tác chiến, tàu chiến, radar và các khí tài thông tin vô tuyến điện làm tiêu chí. Loại chiến tranh này kéo dài đến hiện nay.

Đặc điểm chung của 4 thế hệ chiến tranh đầu tiên chính là, chúng đều là chiến tranh kiểu tiếp xúc, giao chiến về thể lực hoặc sử dụng pháo súng và các loại vũ khí tác chiến tiến hành giao đấu quyết liệt trong cự ly gần (có thể nhìn thấy được).
Trong thời đại chiến tranh thế hệ thứ tư còn xuất hiện dùng năng lượng nguyên tử to lớn cho quân sự, tạo ra cuộc cách mạng quân sự lần thứ 5, cũng đánh dấu sự hình thành của chiến tranh thế hệ thứ 5, tức là chiến tranh thời đại hạt nhân.
Cuối thế kỷ 20, sự phát triển công nghệ cao của loài người, đặc biệt là sự ứng dụng rộng rãi của công nghệ vi điện tử, làm cho rất nhiều vũ khí chính xác cao trong lĩnh vực quân sự xuất hiện, đã tạo điều kiện cho sự ra đời của chiến tranh thế hệ thứ 6.
Chiến tranh mạng liên quan đến sự sống và cái chết
Sau khi tờ “Yomiuri Shimbun” đưa tin về tình hình nghiên cứu phát triển “vũ khí mạng” kiểu mới của Nhật Bản, đã gây ra sự chú ý của dư luận đối với cuộc chiến tranh kiểu mới – “chiến tranh mạng”.
Tấn công mạng
Về việc những năm gần đây Nhật Bản tập trung nghiên cứu chiến tranh mạng, giáo sư Phùng Vĩ, Khoa Lịch sử - Đại học Phúc Đán, Thường trực Hội học thuật Trung Hoa-Nhật Bản cho rằng, “chủ nghĩa hòa bình” của Hiến pháp hiện hành Nhật Bản thể hiện ở Điều 9 Chương 2.

Điều này có 2 nội dung, một là vĩnh viễn từ bỏ chiến tranh và đe dọa vũ lực; hai là không duy trì lục, hải, không quân và lực lượng chiến tranh khác. Những năm gần đây, các động thái sửa đổi điều này liên tục xuất hiện.

Ngoài ra, Nhất hiểu rất rõ, trong bối cảnh công nghệ cao, quân đội nếu không có trang bị hoàn hảo, chỉ có thể làm “mục tiêu sống”. Do đó, Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (SDF) tuy chỉ có 240.000 người, nhưng chi tiêu quân sự lại chỉ đứng sau Mỹ (thứ hai thế giới).
Điều đáng chú ý hơn là, những năm gần đây Nhật Bản không chỉ luôn nâng cao trình độ trang bị, mà còn ngày càng coi trọng thông tin tình báo.

Ngày 1/8/2009, Nhật Bản đã thành lập Bộ Giám sát thống nhất, phụ trách công tác thông tin tác chiến của Lực lượng Phòng vệ, đồng thời xóa bỏ ranh giới giữa các quân chủng, thực hiện tác chiến hiệp đồng “tam vị nhất thể” (hợp nhất) hải, lục, không quân.
Phùng Vĩ cho rằng, trong các vấn đề khu vực và quốc tế, Nhật có tư thế chủ động hơn về quân sự, chủ yếu có 2 nguyên nhân:
Một là, các nước láng giềng ngày càng tăng cường quân bị, tạo ra mối đe dọa cho Nhật Bản. Chẳng  hạn, gần đây Nhật Bản công bố “Môi trường bảo đảm an ninh xung quanh Nhật Bản”, đã tiến hành phân tích chi tiết đối với chính sách quốc phòng,

chi tiêu và độ minh bạch quốc phòng, khả năng tác chiến lục, hải, không quân, khả năng tấn công của tên lửa hạt nhân, khả năng tận dụng quân sự trong không gian vũ trụ và khả năng chiến tranh thông tin  của Trung Quốc, tiếp tục truyền đi thông điệp mạnh mẽ về “mối đe dọa từ Trung Quốc”.
Hai là, môi trường an ninh quốc tế không hề lạc quan. Sau khi liệt kê các nhân tố như tình hình bán đảo Triều Tiên, hoạt động quân sự ngày càng tích cực của Nga, tấn công mạng, sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và hoạt động khủng bố quốc tế, văn kiện này viết: “Môi trường bảo đảm an ninh quốc tế vẫn phức tạp và bất ổn”.
Lính Mỹ được trang bị thiết bị tiên tiến
Phũng Vĩ cho rằng, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng “Chiến lược Bảo vệ an ninh thông tin quốc gia” cần phải thực hiện trước năm 2013. Đồng thời, Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã quyết định, ngoài Lực lượng Phòng vệ Mặt đất/Biển/Trên không, thành lập mới “Lực lượng chuyên trách phòng thủ mạng”.

Nhật Bản không tính tới mở ra con đường riêng để phát triển sức mạnh quân sự, mà Nhật Bản cho rằng: “Ứng phó với các cuộc tấn công mạng và bảo đảm an toàn cho hoạt động không gian mạng là vấn đề sống còn đối với quân đội các nước”.
Tiến hành chiến tranh mạng như thế nào?
Lý Đại Quang cho rằng, tác chiến mạng giống các loại tác chiến khác, cũng bao gồm hai mặt tấn công và phòng ngự. Tấn công bao gồm 3 mô hình như phá hoại hệ thống, đánh lạc hướng thông tin (tung tin giả), tổng hợp.

Thông qua các phương pháp như tung ra virus máy tính để phá hoại hệ thống máy tính và hệ thống mạng, làm tê liệt hệ thống chỉ huy của đối phương; tung tin giả vào hệ thống mạng của đối phương,


làm cho đối phương ra quyết định, chỉ huy, kiểm soát bị sai lầm; phá hoại hệ thống tổng hợp và dẫn dắt thông tin sai, tạo ra “sát thương” lớn cho hệ thống chỉ huy, kiểm soát của đối phương.
Về mặt phòng ngự, chủ yếu bao gồm 3 mô hình ngụy trang điện từ, cách ly vật lý và phòng hộ tổng hợp. Thông qua các biện pháp công nghệ, giảm bớt cường độ phóng xạ (bức xạ) điện tử của mình,

thay đổi quy luật bức xạ, từ đó bảo vệ an ninh hệ thống thông tin của mình; thực hiện các biện pháp, ngăn chặn virus máy tính xâm nhập hệ thống mạng của mình; thực hiện các biện pháp tăng cường bảo vệ trước sự tấn công của hacker và vũ khí mới.
Rất nhiều nước đã thành lập lực lượng tác chiến mạng. Trong hình là hệ thống chỉ huy tác chiến mạng của Hải quân Trung Quốc
Lý Đại Quang cho rằng: “Vai trò liên kết của hệ thống mạng làm cho các yếu tố tác chiến như lực lượng tác chiến, hành động tác chiến, chỉ huy tác chiến và bảo đảm tổng hợp có sự thống nhất rất cao.

Hệ thống mạng máy tính liên kết chặt chẽ thiết bị cảm biết, hệ thống chỉ huy kiểm soát và hệ thống hỏa lực, làm cho mô hình tác chiến chủ yếu do thám bằng con người vũ khí là chính, chuyển sang mô hình tác chiến lấy hệ thống mạng làm trung tâm – dựa vào hệ thống mạng để thực hiện tác chiến liên hợp.
Đông Bình (Theo báo Phương Đông)

Tình trạng nguy cấp của nền kinh tế Việt Nam

-Nguồn:--Tình trạng nguy cấp của nền kinh tế Việt Nam  

“...Việc xác định tiêu chỉ về các dự án dàn trải, kém hiệu quả cũng không rõ ràng, cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá các dự án lỏng lẻo, đi kèm với lợi ích nhóm, tất cả khiến cho các chỉ thị ở trên tan biến theo mây khói...”
 Trong khi các nước Âu Mỹ đang phải đương đầu với cơn khủng hoảng nợ công và suy thoái kép có thể kéo dài 2 đến 3 năm(1), thì tình hình kinh tế Việt Nam cũng đang gặp khó khăn nghiêm trọng nhất kể từ 20 năm qua. Tình trạng nguy cấp ở đây chủ yếu do lạm phát phi mã kỷ lục châu Á và thế giới (khoảng 19% trong năm nay đúng như dự đoán của chúng tôi đưa ra vào tháng 4/2011) (2) đi đôi với tình trạng nổ bong bóng địa ốc như đã tiên đoán, với những hệ quả dây chuyền, từ thị trường chứng khoán đến lĩnh vực xây cất, nợ xấu ngân hàng…

Tình trạng khủng hoảng trầm trọng của kinh tế Việt Nam đã được nhiều cơ quan quốc tế đưa ra. Cơ quan đánh giá quốc tế hàng đầu Standard &Poor’s ngày 11/11/2011 điều chỉnh đánh giá BICRAM về Việt Nam từ nhóm 9 lên nhóm 10 (chót hạng) với nhận định tổng quát (3):

1. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam có nguy cơ sụp đổ cao nhất thế giới, 10/10. Hai quốc gia khác có cùng nguy cơ này là Hy lạp và Belarus;

2. Nền kinh tế Việt Nam đang gặp nguy hiểm nhất thế giới, 10/10, do ít nhất ba lý do:

2.1. Không thể chịu đựng, đối phó nổi một cơn sốc kinh tế, tài chánh.

2.2. Nền kinh tế bị mất cân đối nghiêm trọng vào bậc nhất (đặc biệt là tăng trưởng mạnh về tín dụng và giá nhà đất).

2.3. Tín dụng đang ở vào tình trạng tối nguy hiểm (thiếu tiêu chuẩn quốc tế về ngân hàng, can thiệp đối phó hơn là chủ động, điều hành yếu kém và sổ sách thiếu minh bạch, hệ thống méo mó vì mệnh lệnh hành chính, chính phủ hỗ trợ vốn quá nhiều).

Ngân hàng quốc tế HSBC tại Tân Gia Ba ngày 19/12/2011 đánh giá Việt Nam là nước dễ bị tác động của suy thoái nhất (điểm 5) trong năm nước châu Á (Nam Dương, Mã Lai, Phi Luật Tân, Thái Lan, Việt Nam) căn cứ trên ba yếu tố : Rủi ro bị ảnh hưởng dây chuyền về tài chính, thương mại và lòng tin của nhà đầu tư; khả năng kinh doanh và mức độ vay mượn của giới công ty và ngân hàng; và những biện pháp về tài chính mà chính phủ đưa ra.
Cũng cần nói thêm là ngày 8/12/2011, cơ quan đánh giá quốc tế S&P đã hạ điểm từ BB-  xuống B+ ba ngân hàng lớn hàng đầu của Việt Nam: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank).

Chúng ta hãy phân tích những dấu hiệu khủng hoảng lớn của nền kinh tế Việt Nam.

Thị trường chứng khoán có nguy cơ “chết lâm sàng”

Thị trường chứng khoán thế giới những tháng gần đây quả có xuống do ảnh hưởng của tình trạng nợ công châu Âu, nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam đã tuột dốc thê thảm.

Chỉ số chứng khoán chính VN-index (Sài-gòn) đã giảm liên tục 5 phiên xuống còn 374,52 (11/12/2011) và có thể giảm xuống dưới 300 vào Tết Nguyên đán Nhâm Thìn (theo cơ quan thông tin tài chính quốc tế Bloomberg). Đây là mức thấp nhất kể từ tháng 4/2009, giảm 25% so với đầu năm. HNX-index (Hà Nội) trong 6 tháng đã giảm 40% (4). Một giới chức chứng khoán Việt Nam nhận định : Nếu VN-Index còn 370 – 380 điểm và HNX-Index còn 60 điểm (tình trạng VN-index đầu năm 2012 xuống còn 340), nhà  đầu tư nên đứng ngoài cuộc để tránh rủi ro. Một số nhà phân tích nhận định rằng nếu chỉ số VN-index xuống dưới 300, có thể coi thị trường chứng khoán Việt Nam như ngừng hoạt động và khó thu hút nhà đầu tư nước ngoài (trừ trường hợp các công ty đầu tư nước ngoài như Trung Quốc tìm cách mua hoặc sáp nhập các công ty trong nước để hoàn toàn thao túng). Thực ra có thể coi thị trường chứng khoán Việt Nam khi VN-index xuống dưới 300 như « chết lâm sàng » với những hệ quả kinh tế trầm trọng. Trước mắt, tình trạng suy sụp chứng khoán ảnh hưởng đến nợ xấu ngân hàng sẽ được đề cập đến sau.

Biến động VN-Index (Sài-gòn) trong một năm
Hiện nay, 68% công ty chứng khoán thua lỗ trong năm 2011. Có quỹ đầu tư như Dragon Capital lỗ hơn 100 triệu USD trong 11 tháng đầu năm. Bảy mươi (70) công ty chứng khoán đóng cửa phòng giao dịch. Nhiều nhà đầu tư chứng khoán đã tự tử (theo Vietstock). Một thành phần không nhỏ trong dân chúng lao vào « chơi chứng khoán » để hy vọng làm giàu đã mất vốn trong năm nay và không mấy ai muốn lên sàn. Tâm lý hoảng loạn xảy ra khi toàn bộ danh mục của nhà đầu tư bị công ty chứng khoán giải chấp không nhân nhượng khiến toàn bộ vốn liếng của nhà đầu tư hoá thành tro bụi. Giá trị giao dịch trên hai sàn xuống kỷ lục hơn thời kỳ bi đát 2008. Đầu năm 2012, giá trị giao dịch hai sàn HNX-index và VN-index xuống mức chưa từng có 500 tỷ đồng. Không một mã nào trong nhóm 20 cổ phiếu vốn hóa lớn tăng điểm, kể cả VIC, MSN, VNM, PVD. Gần 90% cổ phiếu chuyển nhượng là do nhà đầu tư nước ngoài, chứng tỏ tình trạng lệ thuộc của thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhiều cổ phiếu như VKP xuống còn 600-700 đồng mà không có người mua. Quá nửa cổ phiếu trên hai sàn giao dịch có giá thấp hơn nhiều (2000-5000 đồng) so với mệnh giá (10.000 đồng). Có công ty với tài sản, doanh thu hàng 100 triệu USD mà giá thị trường chưa đến 20 triệu USD. Nhiều doanh nghiệp (CMX, SQC, SGT…) xin huỷ niêm yết khỏi hai sàn vì thấy cổ phiếu mình rớt giá từng ngày. Một số trường hợp như Vinacafe Biên Hoà đã được tập đoàn nước ngoài Masan Consumer mua 50% vốn điều lệ để thao túng thị trường. Nói chung, tình trạng công ty chứng khoán thiếu thanh khoản là phổ biến. 

Lý do suy sụp của thị trường chứng khoán Việt Nam do nhiều nguyên nhân như: thiếu thanh khoản, nợ xấu ngân hàng, thị trường bất động sản đóng băng, lãi suất liên ngân hàng tăng cao, triển vọng kinh tế đen tối với hơn 50.000 doanh nghiệp phá sản, nhiều tổng công ty đầu tư ngoài ngành bị buộc thoái vốn... Chẳng những thế, các công ty chứng khoán phát triển bừa bãi không tôn trọng chỉ tiêu an toàn tài chính do chính phủ quy định (thông tư 226 tháng 3/2011).

Thủ tướng Dũng đã chỉ thị phải tái cấu trúc thị trường chứng khoán nhưng những biện pháp đưa ra đã không thuyết phục được thị trường kể cả biện pháp nới lỏng tín dụng. Các đề nghị của Ủy ban chứng khoán Nhà nước trong đó có việc nâng cao tiêu chuẩn niêm yết, đa dạng hoá sản phẩm đầu tư…không có tác dụng gì để vực dậy đà tuột dốc của thị trường chứng khoán. Chúng ta cần biết rằng thị trường chứng khoán được coi là một thứ hàn thử biểu của nền kinh tế quốc gia. Nó còn cho biết « chỉ số niềm tin » vào các chính sách, biện pháp mà nhà cầm quyền đưa ra để đối phó với các khó khăn kinh tế.

Bong bóng bất động sản xì hơi chủ yếu vì đầu cơ – những hệ quả

Thời kỳ « ăn xổi » trong đầu cơ bất động sản đã chấm dứt từ giữa năm 2011. Giá cả bất động sản (BĐS) các chung cư trung cao cấp xuống giá liên tục nhưng hấu như không có người mua. Có ba lý do chính. Trước hết là chính sách thắt chặt tín dụng BĐS (16%) đã khiến những công ty kinh doanh lệ thuộc vào khoản vay ngân hàng để tiếp tục thực hiện dự án đã bị « đói vốn », không thể tiếp tục hoạt động và phải tìm cách bán hạ giá để thu hồi vốn và trả nợ. Không những thế,  lãi suất cho vay cực cao trên 20% trong thời gian dài đã gia tăng khả năng không trả được nợ khiến nhà kinh doanh phải tìm cách bán lỗ. Tình trạng cung cầu bất động sản (BĐS) với giá ngất trời cho những căn hộ cao cấp hay vừa mà người mua thực không thể với tới tất nhiên phải đi đến chỗ xì bong bóng. Cơn lốc đầu cơ BĐS kiếm lời khiến nhiều tiểu đại gia trong nhiều tháng trước đây thi nhau « mua đi bán lại » mà không quan tâm đến khả năng thực và nhu cầu người mua đã đẩy giá BĐS lên cao một cách hoàn toàn giả tạo. Giờ đây, tình trạng « hàng tồn kho » nhiều khi lên đến 50%.

Đi đầu trong việc bán tháo để trả nợ là dự án Petro Vietnam Landmark (Sài-gòn) của công ty PVL đã giảm giá 30% (từ 21 triệu xuống còn 15,5 triệu đồng/m2. Tại Hà Nội, chung cư giãn dân phố cổ Việt Hưng giảm hơn 10 triệu xuống còn 15 triệu đồng/m2. Phân khúc đất nền tại Kim Chung-Di Trạch còn giảm giá mạnh hơn. Hiện nay trên địa bàn Hà Nội có khoảng 35.000 căn hộ trung cao cấp còn tồn đọng.

Tình trạng lạm phát các sàn giao dịch BĐS (trên700 trong toàn quốc) để ăn hoa hồng đột nhiên không còn đất sống và thi nhau đóng cửa. Nhiều công ty kinh doanh BĐS thua lỗ nặng vì phải trả lãi cao mà không bán được « hàng ». Công ty CP Đầu tư và kinh doanh nhà (ITC) cho biết quý 3-2011 tiếp tục lỗ gần 38 tỉ đồng (tính từ đầu năm đến nay lỗ gần 81 tỉ đồng). Công ty phát triển BĐS Phát Đạt (PDR) lỗ 7,17 tỉ đồng… Một số đại gia BĐS bị vỡ nợ vì tín dụng « đen » ngoài luồng. Nhiều công ty BĐS không còn khả năng trả nợ và lãi đã bị ngân hàng « gán nợ » kể cả dự án đất nền. Chỉ riêng một quận ở trung tâm Sài-gòn trong vài tháng đã thực hiện chuyển đồi hàng loạt cao ốc cho ngân hàng. Nhiều ngân hàng đề nghị ưu tiên trả nợ không tính lãi hay đề nghị công ty bán hoà vốn. Một xu hướng đang hình thành là nhà đầu tư ngoại quốc tìm cách thế chân đại gia BĐS trong nước lỡ vận. Đơn cử như CapitaValue Homes mua vào 65% cổ phần của công ty Quốc Cường Sài Gòn với mức giá 121,2 tỷ đồng. Biện pháp nới lỏng tín dụng đối với bốn nhóm đối tượng trong lĩnh vực BĐS (công văn 8844/NHNN-CSTT) hiện chưa có tác dụng gì đáng kể để ngăn chặn tình trạng rao bán tháo nhà đất để trả nợ đáo hạn ngân hàng.

Tình trạng đóng băng thị trường BĐS hiện nay chắc sẽ kéo dài ít nhất từ 6 tháng đến 1 năm với những hệ quả nghiêm trọng.

Tất cả các ngành liên quan đến lĩnh vực xây dựng đều suy sụp khi bong bóng BĐS bắt đầu xì hơi: ngành thép, xi măng, gạch ngói, ngành vật liệu trang trí nội thất,... Trong ngành thép, nhiều xưởng ngừng sản xuất trong khi thép đầy kho, phải bán phá giá và thua lỗ lớn trong vài tháng tới. Trong ngành xi măng, giá cả sụt, lại phải trả nguồn vốn vay (có khi đến 80% so với tổng vốn đầu tư) với lãi suất 19-21,5% khiến cho hàng loạt xí nghiệp xi măng ở trong tình trạng phá sản gần kề. Tổng công ty công nghiệp xi măng (Vicem) lỗ đến 220 tỷ đồng cho đến tháng 10/2011. Tình trạng hiện nay sẽ khiến nhiều doanh nghiệp xi măng phải bỏ ngành.

Tình trạng đóng băng của thị trường BĐS còn đưa đến hệ quả nghiêm trọng là gia tăng nợ xấu ngân hàng (chủ yếu là nợ BĐS và chứng khoán). Theo ông thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình, nợ xấu ngân hàng năm 2011 tăng từ 2,14 lên 3,6-3,8%, còn kiểm soát được. Tuy nhiên, dựa theo các tiêu chuẩn quốc tế (khi phần nợ không trả được thì toàn bộ món nợ là nợ xấu), cơ quan đánh giá quốc tế Fich lượng định tỷ lệ nợ xấu này là 13% ! Cho dù có đưa ra một tỷ lệ trung dung 8,5% thì với quy mô tổng nợ tín dụng lên tới 2.850 nghìn tỷ đồng, 130% tổng sản lượng, con số nợ xấu chắc chắn là vô cùng lớn.

Vấn đề nợ xấu ngân hàng quá cao là lý do chính khiến hệ thống ngân hàng Việt Nam bị sụt nhiều hạng trong bảng đánh giá quốc tế và là lý do chính phải tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Trong phương thức xử lý, nhà cầm quyền đưa ra việc rút gọn (kể cả xáp nhập, nhưng không giải thể) thành ba nhóm ngân hàng (tùy tình hình tài chính sau khi kiểm toán). Trong lần tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đầu tiên (1999-2007), NHNN đã phải chi ra 1.500 tỷ đồng để hỗ trợ việc sáp nhập và giải thể 17 ngân hàng cổ phần. Lần tái cơ cấu này, số tiền cần huy động sẽ lớn hơn nhiều. Trong khi ngân sách thâm thủng thực khoảng 6%, chúng ta tự hỏi NHNN lấy tiền ở đâu để tái cơ cấu. Việc sáp nhập « tự nguyện » vào ngày 6/12/2011 của ba ngân hàng Đệ nhất, Tín Nghĩa, Sài Gòn với sự tham gia của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) khó có kết quả tốt khi chưa nắm rõ sổ sách và chính ngân hàng BIDV lại vừa bị xuống điểm! Dầu sao việc tái cơ cấu hệ thống Ngân Hàng sẽ rất khó thực hiện nếu NHNN không sẵn sàng cho giải thể những ngân hàng yếu kém theo nguyên tắc để thị trường quyết định như kinh nghiệm các nước trong khu vực. Việc tái cơ cấu cũng phải chấp nhận sự tham gia của giới tài chính quốc tế (như trường hợp ngân hàng Nhật Mizuho mua cổ phần của Vietcombank). Hiện nay, trong số lượng trên 100 ngân hàng và tổ chức tín dụng, tài chính (5), chúng ta thấy quy mô của chúng rất nhỏ so với quốc tế, quá tản mác, không phục vụ sản xuất kinh doanh và khu vực nông thôn mà chỉ phục vụ các tập đoàn, tổng công ty. Thực chất nhiều ngân hàng chỉ là chân rết của các tập đoàn kinh tế. Chẳng những thế, khả năng quản lý yếu kém, tính thiếu minh bạch (tình trạng hai sổ sách kế toán là phổ biến, đặc biệt là để lách trần lãi suất) đi đôi với « lợi ích nhóm » mà ông Nguyễn Phú Trọng đã thừa nhận, tất cả khiến chúng ta có quyền bi quan về tương lai tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.

Năm mươi ngàn (50.000) doanh nghiệp phá sản và những hệ lụy

Theo thống kê chính thức, có khoảng 50.000 doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động trong năm 2011. Đây là con số rất cao so với mọi năm và có liên quan tình trạng mất việc của 10 triệu công nhân. Một tình trạng bi đát như vậy mà ông bộ trưởng Xây dựng Trịnh Đình Dũng có thể mở miệng tuyên bố: « Doanh nghiệp phá sản là bình thường. Phá sản nhiều hay ít thì cần phải lưu ý ». Lưu ý thôi! Ông bộ trưởng cũng không đưa ra giải pháp nào tuy nói trách nhiệm là của bộ xây dựng!

Ở đây, khó khăn chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là khó khăn cả đầu vào (lãi suất cao trên 20%, khó vay) đi đôi với đầu ra không bán được, hàng tồn kho một số ngành tăng đến 100% so với cùng kỳ năm trước. Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đã gửi đơn kiến nghị chính quyền khoanh nợ cũ và tạo điều kiện vay vốn mới, nhưng chưa thấy có hồi âm. Giải pháp chính phải là hạ giảm lãi suất. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, dù lạm phát cuối năm có giảm nhưng vẫn ở mức trên 18% thì làm sao có lãi suất thực dương để NHNN hạ giảm lãi suất huy động 14% theo « yêu cầu » của chính phủ! Một viên chức cao cấp Quỹ tiền tệ quốc tế cho biết « Cắt lãi suất ở giai đoạn này sẽ là sai lầm » vì tạo thêm áp lực cho đồng nội tệ. Ngoài vấn đề lãi suất và hỗ trợ tín dụng, việc tái cấu trúc các doanh nghiệp cũng là một yêu cầu cấp thiết. Ở đây, ông Dũng có nói đến việc xem xét tái cấu trúc ngành sản xuất ô-tô (thực chất là lắp ráp) không hiệu quả mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi từ hàng chục năm, nhưng ông không cho biết sẽ tái cấu trúc ra sao! Vấn đề định hướng đầu tư cũng cần chú trong đến khu vực chế biến nông sản theo tiêu chuấn quốc tế mà Việt Nam có một vài lợi thế. Tuy nhiên cần đặt vấn đề đầu tư trong bối cảnh thực hiện tái cấu trúc đầu tư công không hiệu quả và tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước. Hiện nay, giới lãnh đạo vẫn chưa có đáp án cụ thể và thoả đáng cho các tái cơ cấu đã đề ra. Cụ thể là trong vấn đề đầu tư, ông Dũng vẫn bám víu vào định kiến phải ưu tiên cho đầu tư công mặc dù khuyến nghị của các chuyên gia đã kết luận trái ngược. Phải chăng ông Dũng sợ « động rừng » như trong phát biểu đầu năm 2012. Nói cách khác, « lợi ích nhóm » có một tầm hoạt động rộng rãi mà bản thân ông Dũng cũng chỉ thuộc một nhóm nhất định. Nhóm của ông Trương Tấn Sang được coi là có tay chân không thua gí nhóm ông Dũng. 

Trong năm 2012, tình trạng các doanh nghiệp phá sản sẽ còn tăng cao. Ngoài ra, vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giảm sút đáng kể 24% trong năm 2011 (14 tỷ USD) sẽ tiếp tục giảm, có thể chỉ còn 10 tỷ USD  (21% tổng đầu tư). Xuất cảng trong tình hình suy thoái toàn cầu chắc chắn sẽ không thể tăng 12-13% theo dự báo mà chỉ khoảng 5-6% so với năm 2011. Tất cả sẽ khiến cho dự đoán tăng trưởng khoảng 6% cho năm 2012 là xa thực tế. Chúng tôi dự kiến tăng trưởng khoảng 5-5,5% GDP.      

Nợ công ở mức báo động phải nhờ ngân hàng thế giới đánh giá

Lần đầu tiên, một quốc gia lớn như Việt Nam mà không đủ khả năng để đánh giá toàn bộ các món nợ, các hạn kỳ phải trả, báo cáo và ghi chép nợ phù hợp với thông lệ quốc tế, đánh giá và quản lý nợ theo tiêu chỉ DeMPA…Và phải nhờ Ngân hàng Thế giới (World Bank) thực hiện khảo sát trong 8 đến 10 tuần (đến hết 6/10/2011)! (6). Trong thực tế, việc đánh giá này chỉ xảy ra khi một quốc gia ở trong tình trạng khó khăn nghiêm trọng về tình hình nợ công như Hy Lạp hay những quốc gia kém phát triển như Phi châu…

Đây là chỉ dâu cho thấy tình trạng quản lý vô cùng yếu kém của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam và cho thấy tình trạng nghiêm trọng của nợ công. Chúng ta cần thận trọng với các con số không  giống nhau của các giới chức đưa ra. Ông thủ tướng đưa ra con số nợ công là 54,6% GDP cho năm 2011(mà ông cho là vẫn còn an toàn, dưới ngưỡng 60% của tiêu chuẩn Maastricht) và 60-65% GDP đến năm 2015. Thực ra con số 54,6% GDP (nếu chính xác!) đã là mức báo động nếu chúng ta biết hiện nay mức dự trữ ngoại hối năm 2011 của Việt Nam rất thấp, 12,5 tỷ USD (tương đương 1 tháng rưỡi nhập khẩu). Việc sử dụng vốn vay lại kém hiệu quả. Biện pháp phát hành trái phiếu và vay thêm nợ của Việt Nam đang gặp khó khăn lớn vì bị đánh giá là không đáng tin cậy qua cách hành xử của chính phủ trong vụ Vinashin, đi đến kiện tụng kéo dài. Ông Dũng không thể chối bỏ trách nhiệm khi ký văn kiện có ý nghĩa như bảo lĩnh của chính phủ.

Lạm phát và bội chi ngân sách cao nhất châu Á

Một vài so sánh với các nước châu Á theo số liệu của Ngân hàng thế giới (có hiệu chỉnh) để thấy tình trạng lạm phát và bội chi ngân sách ở Việt Nam trầm trọng như thế nào:

Về chỉ số lam phát năm 2011: Việt Nam khoảng 19% (con số 17% của Ngân hàng thế giới không đúng). Trung Quốc :3,3%. Mã Lai :2,4%. Thái Lan: 3,2%. Phi Luật Tân : 4,8%. Nam Dương : 6,5%.

Về bội chi ngân sách 2007- 2010: Việt Nam 4,8% ( 2011 : thực tế khoảng 6%). Trung Quốc: 1,2%. Nam Dương: 0,9%, Mã Lai: 2,7%, Phi Luật Tân: 2,8%, Thái Lan: 2%. Nếu theo tiêu chuẩn của Maastricht (Liên hiệp châu Âu) thì quá 3% là vượt mức an toàn, có ảnh hưởng đến nợ công và lạm phát.

Những con số trên đây cho thấy nguyên nhân chính lạm phát và bội chi của Việt Nam có tính cách nội tại. Trưởng đại diện Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Tomoyuki Kimura nhận định : « Những nguyên nhân gốc rễ của lạm phát cao ở Việt Nam là do đầu tư công, đặc biệt là ở khu vực doanh nghiệp nhà nước thiếu hiệu quả, và sự phụ thuộc quá mức vào tín dụng từ hệ thống tài chính yếu kém bị chi phối bởi vài ngân hàng thương mại nhà nước ». Những biện pháp điều chỉnh tỷ giá 9,3%, tăng giá mạnh mẽ xăng dầu (20%) và điện (18%) qua tác động của chi phí đẩy cũng góp phần vào gia tăng lạm phát (khoảng 1,7%).

Việc để cho lạm phát năm 2011 vượt lên trên 19% trong khi chính phủ và quốc hội đặt chỉ tiêu 7% cho thấy sự thất bại nặng nề của ông Dũng và nhà cầm quyền cộng sản trong việc điều hành nền kinh tế vĩ mô. Ông Dũng đưa ra Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2/11 với sáu nhóm biện pháp để thực hiện tiêu chỉ lạm phát 7%, đặc biệt là chính sách thắt chặt tiền tệ (giảm mức tăng tín dụng xuống dưới 20%) và cắt giảm 10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (gần 97.000 tỷ đồng).

Thực tế, việc thắt chặt tiền tệ với lãi suất cao đã làm giảm khả năng tiếp vốn cho các doanh nghiệp sản xuất và ảnh hưởng đến xáo trộn thị trường bất động sản và chứng khoán như đã trình bày. Trong khi đó, nguồn gốc chính của lạm phát cao đã được các nhà kinh tế thừa nhận: không thực hiện việc cắt giảm chi tiêu công, dàn trải, kém hiệu quả như đã đề ra và mặt khác lại mở rộng tín dụng ưu đãi cho khu vực kinh tế Nhà nước kém hiệu quả khiến cho tổng tín dụng toàn xã hội lên tới 130% GDP với cái giá phải trả là lạm phát cao. Đây là thực tế vẫn xảy ra từ nhiều năm mà chúng tôi đã phân tích. Một số bộ, ngành, tỉnh, thành phố chần chừ không thực hiện cắt giảm. Theo báo cáo của bộ Kế hoạch đầu tư, các tỉnh thành cũng không « chịu » cắt giảm 2.000 dự án khác sử dụng vốn của ngân sách địa phương, nhưng không thuộc đối tượng khởi công mới trong năm 2011. Ngoài ra, gần 700 dự án không thuộc đối tượng khởi công mới trong năm 2011, nhưng các địa phương vẫn bố trí 1.763,6 tỉ đồng vốn để thực hiện. Ai chịu trách nhiệm ở đây? Việc xác định tiêu chỉ về các dự án dàn trải, kém hiệu quả cũng không rõ ràng, cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá các dự án lỏng lẻo, đi kèm với lợi ích nhóm, tất cả khiến cho các chỉ thị ở trên tan biến theo mây khói.

Thực tế  trình bày trên sẽ không thay đổi bao nhiêu dù thủ tướng Dũng có đưa ra Chỉ thị 1792 ngày 15/10/2011 để tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước và trái phiếu chính phủ.

Đến đây, chúng ta tự hỏi: Lạm phát năm 2012 có thể giảm xuống từ 19% năm 2011 còn khoảng 9% trong năm 2012 như ông Dũng mong muốn không?

Nếu quá khứ có thể phần nào soi sáng cho tương lai, nếu giới lãnh đạo cộng sản không khắc phục được các khó khăn nội tại như đã nêu trên - điều này đòi hỏi một sự thay đổi toàn diện giới lãnh đạo hiện nay - lạm phát năm 2012 sẽ từ 12% lên đến 15%. Trong con số đưa ra, « chỉ số mất niềm tin » vào giới lãnh đạo cộng sản là nhân tố không nhỏ.
Rennes 10/01/2012
Tiến Hồng

 
(1)    Khủng hoảng nợ công và suy thoái kép đi về đâu? 28/10/2011. Tiến Hồng. Thông Luận.
(2)    Bão giá sóng thần và nguy cơ phá sản sẽ đưa đến đâu?15/4/2011.Tiến Hồng. Thông Luận.
(3)    Bản tin Thông cáo báo chí S&P 11/11/2011. Reuters. Bản địch Blog Dự đoán kinh tế Việt Nam.
(4)    Thị trường chứng khoán của Pháp (CAC 40) bị sụt giảm 17% tính từ đầu năm 2011 được coi là nghiêm trọng. Sự sụt giảm này chủ yếu do phản ứng của thị trường đối với khả năng giải quyết tình trạng nơ công của một số nước châu Âu, đặc biệt là của Hy Lạp.
(5)    Tính đến cuối tháng 10/2011, hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại Nhà nước (đã cổ phần hóa Vietcombank và VietinBank); 37 ngân hàng thương mại cổ phần, trong đó có 13 ngân hàng thương mại chuyển đổi từ mô hình nông thôn lên thành thị; 40 chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh; 18 công ty tài chính; 12 công ty cho thuê tài chính; 1 quỹ tín dụng nhân dân Trung ương. Tổng mức vốn điều lệ của các ngân hàng khoảng 16,5 tỷ USD, rất thấp so với với các ngân hàng trong khu vực, chưa nói đến quốc tế. Chỉ riêng vốn tự hữu của BNP Paribas đã lên tới 70 tỷ euros.
(6)    « Bộ Tài chính mời WB đánh giá nợ công của Việt Nam ». VnExpress. 01/10/2011.


 - Vụ Vinashin, thất bại trong quản lý doanh nghiệp nhà nước (TP).- Ga hàng không nghìn tỷ dột: Chỉ là khiếm khuyết nhỏ (Bee).

-  Vietnam Signals Rate Cuts as Asia’s Fastest Inflation Eases (Bloomberg). - NHNN bơm ròng gần 27.000 tỷ đồng trên OMO trong 3 ngày (Gafin.vn).-Thủ tướng: 'Khoa học cần xác định trọng điểm' (VNN 11-1-12) -- Thomas Kuhn, Paul Feyeraband... đang nghiến răng nơi chín suối! Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Hỗ trợ nghiên cứu đổi mới công nghệ (SGGP 11-1-12) -- Ông ta có hiều là ông đang nói gì không?
Cú "PR" có giá triệu đô (TVN 11-1-12) -- Một nữ đại gia VN giải thích lý do bỏ ra hơn triệu USD để mời John Snow sang Việt Nam.  Theo tôi, John Snow không đáng 1 triệu USD! Một ngàn USD, maybe, but not 1 triệu!

Nông dân ở phố (TT 11-1-12)
Muốn phát triển thì cần giảm chênh lệch thu nhập! Narrowing inequality for growth in S-E Asia (Business Times 11-1-12) 
Khủng hoảng kinh tế Hi Lạp: In Greece, fears that austerity is killing the economy (WP 111-1-12) -- Bài có ích không ngờ!
Ít người biết: Why is cheese the most shoplifted food item in the world? (Guardian 10-1-11) -- I didn't know that!----