ASEAN VÀ TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
Hà Anh Tuấn
Nghiên cứu sinh Tiến sĩ, Đại học New South Wales, Sydney, Australia.
Tóm tắt
Căng thẳng đang leo thang xung quanh
những tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trong vài năm quan đã trở thành
mối quan ngại chính về an ninh ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trong
bối cảnh đó, ASEAN được cho là một trong những tổ chức khu vực thành
công nhất trên thế giới, chưa đóng vai trò đáng kể trong việc làm dịu
những tranh cãi nóng bỏng giữa các bên tranh chấp. Các nỗ lực của ASEAN
đã mang đến một hội nghị ARF sôi động ở Hà Nội tháng 7 năm 2010 và một
bộ Hướng dẫn Thực hiện Tuyên bố ứng xử ở Biển Đông với câu chữ còn chung
chung và mơ hồ ở Bali vào tháng 7 năm 2011. Vì ASEAN đang trên con
đường hiện thực hoá ước mơ xây dựng Cộng đồng, những kết quả đó thấp
hơn rất nhiều so với kỳ vọng của các nước thành viên khi đương đầu với
một mối lo ngại lớn về an ninh khu vực. Không kể tới sự khác biệt về lợi
ích của các thành viên ASEAN và những ràng buộc theo Phương pháp ASEAN,
vai trò hạn chế của ASEAN trong những tranh chấp này một phần do những
nỗ lực của Trung Quốc nhằm duy trì các đàm phán trong khuôn khổ song
phương. Nhiều năm qua, Bắc Kinh đã phản đối các hành động tập thể nhằm
quản lý tranh chấp này một cách đa phương, tuyên bố rằng Trung Quốc
không có tranh chấp lãnh thổ với ASEAN và rằng bất cứ ý định nào nhằm
“quốc tế hoá” vấn đề sẽ chỉ làm vấn đề phức tạp hơn. Bài viết này phân
tích rằng ASEAN có lợi ích, trách nhiệm, và khả năng để tham gia tích
cực hơn trong vấn đề này và đóng góp vào quá trình giải quyết tranh
chấp.
Lời mở đầu
Việc ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố
chung về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 đáng tiếc là
chỉ giữ cho các tranh chấp trong khu vực tương đối bình yên trong
khoảng 5 năm. Từ năm 2007, căng thẳng giữa các nước có yêu sách ở Biển
Đông bắt đầu nổi lên và ngày càng gay gắt trong mọi lĩnh vực, với Trung
Quốc là trung tâm của hầu hết các sự vụ. Kể từ năm 2007, yêu sách của
Trung Quốc đối với Biển Đông được thực thi một cách cứng rắn. Một số
lượng lớn và ngày càng tăng các tàu tuần tra hiện đại của Trung Quốc đã
được phái đến Biển Đông. Ngày càng nhiều ngư dân các nước Đông Nam Á bị
bắt trong khu vực đánh cá truyền thống của họ bởi các nhà chức trách
Trung Quốc. Năm 2009, lần đầu tiên, Bắc Kinh chính thức tuyên bố chủ
quyền đối với 80% Biển Đông bằng việc gửi một bức thư lên Tổng thư ký
Liên Hiệp Quốc, đính kèm một bản đồ đường đứt khúc chín đoạn. Một loạt
các hành động thậm chí còn gây căng thẳng hơn đã xảy ra sau động thái
này. Trong số đó đáng kể nhất là việc Trung Quốc gọi Biển Đông là “lợi
ích cốt lõi” của mình vào năm 2010 và quấy rối, phá hoại các tàu khảo
sát thăm dò dầu khí của các nước trong khu vực trong vùng đặc quyền kinh
tế của họ vào năm 2011. Các động thái cứng rắn mang tính hệ thống của
Trung Quốc ở Biển Đông đã bị các nước khác phản đối quyết liệt, đặc biệt
là Philippines và Việt Nam.
Trong khi căng thẳng và lo ngại ngày
càng gia tăng, ASEAN đã chủ động tích cực tham gia quản lý xung đột.
Trong khoảng 5 năm, từ Tuyên bố của Chủ tịch tại Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN lần thứ 12, tháng 1 năm 2007, cho đến Thông cáo chung giữa ASEAN
và Trung Quốc tháng 7 năm 2011, Hiệp hội đã cho ra hơn 20 văn kiện ở
nhiều cấp độ khác nhau biểu thị sự cần thiết phải quản lý các tranh chấp
ở Biển Đông1. Những văn kiện này bao gồm các Tuyên bố Chủ
tịch của hai Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN – Trung Quốc năm 2007 và của tất
cả các Hội nghị của Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) từ năm 2007 đến 2011.
Các nhà lãnh đạo ASEAN đang nỗ lực hết sức để có thể đưa ra một Bộ Quy
tắc ứng xử mang tính ràng buộc ở Biển Đông (COC).
Trong khi các quốc gia Đông Nam Á có yêu
sách ở Biển Đông muốn ASEAN và các bên khác có lợi ích ở Biển Đông
đóng vai trò tích cực trong việc đảm bảo an ninh trong khu vực thì Trung
Quốc lại luôn cố gắng hạn chế vai trò của các bên không có yêu sách và
theo đuổi lập trường đối thoại song phương với các nước yêu sách khác.
So với các nước đó, Trung Quốc mạnh hơn rất nhiều. Điều này được thể
hiện trong diễn văn của Đại sứ Trung Quốc tại ASEAN, Xue Hanqin, năm
2009 ở Singapore rằng “toàn bộ vấn đề Biển Đông không phải là vấn đề
giữa ASEAN, với vai trò một tổ chức, với Trung Quốc, mà là giữa các nước
liên quan”2. Lập trường của Bắc Kinh được Ngoại trưởng Trung
Quốc Dương Khiết Trì nhắc lại lần nữa tại ARF lần thứ 17 tại Hà Nội
tháng 7 năm 2010 khi ông khẳng định rằng tranh chấp ở Biển Đông không
phải giữa Trung Quốc và ASEAN, và bất cứ nỗ lực nào nhằm “quốc tế hoá”
vấn đề sẽ “chỉ làm vấn đề tồi tệ hơn và càng khó để đi đến giải pháp”3.
Nghiên cứu này sẽ tập trung vào vai trò
của ASEAN như một bên có lợi ích chủ chốt trong hoà bình và an ninh ở
Biển Đông. Bài viết trước tiên sẽ nhìn lại lịch sử lập trường và những
tham gia trên thực tế của ASEAN trong tranh chấp Biển Đông, tiếp đó sẽ
xem xét lợi ích, trách nhiệm của ASEAN và các cơ chế mà hiệp hội có,
nhằm thúc đẩy ổn định và an ninh ở Biển Đông. Bài viết kết thúc bằng một
kiến nghị cho ASEAN để có thể đóng vai trò lớn hơn trong tranh chấp
Biển Đông.
Tham gia của ASEAN trong vấn đề Biển Đông
ASEAN không tham gia nhiều vào Biển Đông
trước khi kết thúc Chiến tranh lạnh, chủ yếu vì Biển Đông lúc đó không
phải là một mối lo ngại về an ninh trực tiếp của các thành viên tổ chức
này (vào thời điểm đó ASEAN có sáu thành viên, với Brunei là thành viên
thứ sáu, gia nhập năm 1984). Không có lợi ích trong việc làm Bắc Kinh
phật ý, ASEAN giữ im lặng trong hai sự kiện năm 1974 và 1988 khi Trung
Quốc sử dụng vũ lực để lần lượt chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa từ Việt Nam. Cho dù ASEAN không lên án Trung Quốc vì những sự
kiện này, việc Bắc Kinh sử dụng vũ lực để khẳng định sự có mặt lần đầu
tiên của mình ở quần đảo Trường Sa năm 1988 có thể đã gửi một thông điệp
đến các thành viên của tổ chức này về một mối đe doạ an ninh tiềm tàng ở
Biển Đông. Thêm vào đó, việc Mỹ rút khỏi các căn cứ hải quân ở Subic và
căn cứ không quân Clark ở Philippines đầu thế kỷ 1990 đã khiến cho nước
này dễ bị tổn thương nghiêm trọng. Do đó, Manila đã thúc đẩy Hiệp hội
phải có những bước cụ thể để tránh những sự kiện tương tự như những gì
Việt Nam đã phải chịu năm 1988.
Tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 25
tại Manila tháng 7 năm 1992, khi Philippines giữ chức chủ tịch, các Bộ
trưởng Ngoại giao ASEAN đã thông qua “Tuyên bố ASEAN về Biển Đông”. Văn
kiện đầu tiên của ASEAN về Biển Đông khẳng định rằng “mọi diễn biến bất
lợi ở Biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến hoà bình và ổn định khu vực” và
nhấn mạnh “sự cần thiết phải giải quyết tất cả các vấn đề tài phán và
chủ quyền gắn liền với Biển Đông bằng các biện pháp hoà bình, không sử
dụng vũ lực”4. Cả Tuyên bố năm 1992 và Thông cáo chung năm
1993 của Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 26 đều đề nghị “tất cả các bên
liên quan trực tiếp tuân theo các nguyên tắc” của Tuyên bố5.
Tuy nhiên, các nỗ lực phòng ngừa của
Philippines và của ASEAN, cùng với Loạt Hội thảo không chính thức ở
Indonesia về Quản lý các sung đột tiềm tàng ở Biển Đông đầu những năm
1990 không thể ngăn chặn chiễn thuật sự đã rồi của Trung Quốc
. Năm 1995 khi Manila phát hiện một công trình của Trung Quốc được xây
trên Đá Vành Khăn (MischiefReef). Trong rất nhiều hội nghị đa phương
sau đó, ASEAN đã phản ứng một cách quyết liệt. Tuyên bố ngày 16 tháng 3
của các bộ trưởng Ngoại giao ASEAN năm đó có đoạn:
Chúng tôi các bộ trưởng ngoại giao
ASEAN, bày tỏ sự quan ngại sâu sắc đối với những diễn biến gần đây ảnh
hưởng đến hòa bình và ổn định trên biển đông…Chúng tôi kêu gọi tất cả
các bên kiềm chế các hành động gây bất ổn ở khu vực và đe dọa đến hòa
bình và an ninh ở Biển Đông . chúng tôi đặc biệt kêu gội một giải pháp
sớm cho các vấn đề gây ra bởi những diễn biến gần đây ở Đá Vành Khăn.6
Tinh thần đó được lặp lại ba tháng sau
trong Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 28, tháng 7
tại Brunei. Cùng năm đó, vào tháng 12, Tuyên bố thượng đỉnh Băng Cốc đã
nói “ASEAN sẽ tìm kiếm một giải pháp sớm và hòa bình cho tranh chấp Biển
Đông và sẽ tiếp tục tìm các biện pháp và phương cách để ngăn ngừa xung đột và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông…’’.7
Sự kiện Vành Khăn cũng dẫn đến cuộc gặp
giữa các quan chức ngoại giao cao cấp lần đầu giữa ASEAN – Trung Quốc
vào tháng 4 năm đó. Dưới áp lực của ASEAN, Trung Quốc lần đầu tiên đưa
vấn đề Biển Đông vào một đối thoại đa phương ở Diễn Đàn khu vực ASEAN
(ARF) lần thứ hai tại Brunei năm 1995.
Sự đoàn kết của ASEAN và các nỗ lực
tập thể hướng tới vấn đề Biển Đông trong năm 1995 được tiếp tục trong
các năm tiếp theo. Tại hội nghị bộ trưởng ASEAN lần thứ 29 tại Jakarta
thang 7 năm 1996, các bộ trưởng ngoại giao ASEAN “tán thành ý tưởng về
việc ký kết một bộ quy tắc khu vực về Biển Đông, đặt nền móng cho sự ổn
định lâu giài ở khu vực và nông cao hiểu biết chung giữa các nước có yêu
sách’’.8 sáng kiến nay được nhắc lại trong kế hoạch hành
động Hà Nội năm 1998 và tiến trình thành lập một bộ quy tắc ứng sử khu
vực được bắt đầu từ năm 1999.
Sau ba năm đối thoại và tham vấn giứa
các thành viên ASEAN và giữa ASEAN với trung quốc, Tuyên bố chunng về
cách ứng sử của các bên ở Biển Đông đã được các ngoại trưởng ASEAN và
Trung Quốc thông qua vào tháng 11 năm 2002 ở Phnom penh. Mặc dù không
đạt được một COC về pháp lý, nhưng việc ký kết DOC mang tính chính trị
đã thể hiện rõ nỗ lực và cam kết của tích cực của ASEAN trong việc thúc
đẩy an ninh và ổn định ở Biển Đông và đã được các nhà lãnh đạo ASEAN
hoan nghênh, coi như là một “văn kiện quan trọng giữa ASEAN và Trung
Quốc, thể hiện cam kết tập thể của họ nhằm đảm bảo một giải pháp hòa
bình cho tranh chấp ở khu vực’’.9 Vào cuối năm 2004, một văn
bản về các điều khoản liên quan tới Nhóm làm việc chung ASEAN – Trung
Quốc về thực thi DOC đã được thông qua. Kể từ khi ký kết năm 2002, DOC
vẫn thường được coi là một bước quan trọng để hướng tới việc thông qua
bộ quy tắc ứng xử (COC).
Giai đoạn đầu saukhi thông qua DOC, tình
hình ở Biển Đông đã tương đối dịu lại. Tuy nhiên tác động tiêu cực của
tình hình đáng khích lệ này là ASEAN và Trung Quốc, ở một mức độ nhất
định, đã mất động lực để tiến tới một Bộ quy tắc ứng sử. Tuy nhiên kể từ
năm 2007, khi căng thẳng ở Biển Đông lại nóng lên, các ngà lãnh đạo
ASEAN đã nhận ra sự cần thiết phải tiếp tục tiến về phía trước. Thông
cáo chung năm 2008 của hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 41 ở Singapore
vào tháng Sáu “nhẫn mạnh sự cần thiết phải tăng cường các nỗ lực thúc
đẩy việc thực thi Tuyên bố, bao gồm sớm hoàn thiện các các Hưỡng dẫn
thực thi DOC’’.10 Khi căng thẳng tiếp tục leo thang, khó
khăn của việc không có bộ hướng dẫn đã được các ngoại trưởng ASEAN tai
khẳng định mạnh mẽ vào tháng 1năm 2011. Các ngoại trưởng khẳng định rằng
“[sau] 9 năm đàm phán ở cấp độ nhóm chuyên gia… các tiến bộ quan trọng
của Bộ Hưỡng dẫn vẫn chưa đạt được .’’11
Làn sóng “quả quyết hung hăng”12
mới của Trung Quốc vào đầu năm 2011, đặc biệt là quấy nhiếu các tàu
khảo sát dầu khí của Việt Nam và Philippin trong vùng đặc quyền kinh tế
của hai nước này, dấn đến thông cáo chung của các Ngoại trưởng ASEAN
tháng 7 năm 2011 với lời văn mạnh mẽ và quyết đoán hơn:
Chúng tôi đã thảo luận kỹ về những
diễn biến gần đây ở Biển Đông và bày tỏ mối lo ngại sâu sắc với những vụ
việc gần đây… Chúng tôi mong đợi một cuộc thảo luận kỹ càng trong ASEAN
về một Bộ Quy tắc ứng sử khu vực Biển Đông (COC).Về vấn đề này, chúng
tôi đã giao cho ASEAN SOM làm việc về sự phát triển của COC và đệ trình
một báo cáo tiến độ cho Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 19.13
Cũng trong hội nghị này tại Bali, ASEAN
và Trung Quốc cũng đã thống nhất Bộ Hướng dẫn thực thi DOC. Bộ hướng dẫn
tám điểm, một trang này được một số nhà ngoại giao và ngiên cứu cho là
một văn kiện ngắn với nội dung mơ hồ, không hàm chứa bất cứ sự tiến bộ
nào trong việc giàn xếp ở Biển Đông.14 Tuy nhiên, văn kiện này cũng thể một nỗ lực ngoại giao không ngừng nghỉ, được ASEAN đề sướng để giảm thiểu căng thẳng khu vực.
Lợi ích và trách nhiệm của ASEAN ở Biển Đông
ASEAN có những lý do chiến lược để tham
gia lâu dài ở cấp độ cao trong việc quản lý căng thẳng ở Biển Đông.
Trước hết, Biển Đông nằm trong phạm vi địa chính trị của ASEAN và ảnh
hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia của các thành viên của hiệp hội.
Biển Đông, một trong những tuyến hàng hải thương mại đông đúc nhất thế
giới, được bao quanh phần lớn là bởi các nước Đông Nam Á. Thêm vào đó,
nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có tiềm tàng ở Biển Đông khiến cho
vùng biển này càng quan trọng hơn, cả về kinh tế và chiến lược. Do đó
duy trì an ninh và ổn định trong khu vực này không chỉ quan trọng đối
với các nước ASEAN, mà cả toàn khu vực.
Trong văn kiện đầu tiên của ASEAN, Tuyên
bố Băng Cốc vào 8 tháng 8 năm 1967, ước muốn “thiết lập một nền tảng
vững chắc cho các hoạt động chung nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực ở Đông
Nam Á” đã được tuyên bố rõ ràng.15 Tham vọng này vẫn luôn là
trung tâm trên con đường phát triển của ASEAN. Hiến chương ASEAN, văn
bản quan trọng bậc nhất cho tương lai phát triển của ASEAN trong những
năm tới, đã khẳng định một trong những mục tiêu của hiệp hội là nhằm
“đảm bảo rằng người dân và các quốc gia thành viên của ASEAN được sống
trong hoà bình”.16 Để làm được điều đó, ASEAN đã cam kết “duy
trì vai trò trung tâm và chủ động… là một động lực cơ bản trong quan hệ
và hợp tác của mình với các đối tác bên ngoài”17 Tinh thần
này, khi triển khai trên thực tế, rõ ràng đòi hỏi Hiệp hội phải tích cực
trong vấn đề Biển Đông, chủ động tham gia vào việc thúc đẩy một giải
pháp hoà bình và hợp tác cho tranh chấp ở đây. Một lần nữa, đây là một
phép thử trên thực tế cho vai trò trung tâm và là trụ cột của ASEAN
trong các cơ chế khu vực đa phương đang tồn tại ở Châu Á-Thái Bình
Dương, bao gồm cả ARF và Cấp cao Đông Á (EAS).
Thứ hai, tất cả các nước có yêu sách ở
Đông Nam Á muốn ASEAN đóng vai trò lớn hơn trong việc giải quyết tranh
chấp ở Biển Đông. Kể từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh, Philippin luôn
coi đàm phán ngoại giao là biện pháp tốt nhất để bảo vệ chủ quyền của
mình, và ASEAN là một trung tâm của ngoại giao nước này. Điều đó được
thể hiện qua các nỗ lực của nước này để đạt được Tuyên bố ASEAN về Biển
Đông năm 1992 và DOC năm 2002. Tương tự, Việt Nam đã chọn gắn kết chủ
động hơn với ASEAN trong việc quản lý xung đột. Các thành viên của ASEAN
không ở vị thế đủ mạnh để cạnh tranh với Trung Quốc ở Biển Đông, vì
thế, một cách tự nhiên, họ tìm kiếm sự ủng hộ từ ASEAN với tư cách là
một nhóm. Rõ ràng là, khi một nước tham gia vào một hiệp ước quốc tế
hoặc gia nhập một tổ chức, nước này đã tự nguyện từ bỏ một mức độ chủ
quyền nhất định để thực hiện các cam kết chung. Đổi lại, họ mong đợi thu
được một lợi ích nhất định, trong đó có sự bảo vệ an ninh. Các nước
Đông Nam Á, bao gồm cả những nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông, đã
cùng với nhau thành lập ASEAN và cam kết làm vững mạnh hiệp hội bằng
cách thông qua Hiến Chương ASEAN năm 2008, từ đó trao cho hiệp hội một
địa vị pháp lý độc lập. Không ngạc nhiên khi các nước thành viên kỳ vọng
vào vai trò tích cực của ASEAN trong vấn đề Biển Đông.
Thứ ba, tình hình ở Biển Đông có ảnh
hưởng quan trọng đến sự đoàn kết của ASEAN. Như Ernest Bower khẳng định,
“Biển Đông kết nối đa số các quốc gia ở Đông Á về mặt địa lý và đồng
thời lại cũng chia cắt các nước này”.18 Điều này xuất phát từ
những khác biệt trong ưu tiên và lựa chọn chính sách giữa các nước Đông
Nam Á, vì các nước có lợi ích quốc gia khác nhau trong vấn đề này. Các
lĩnh vực khác biệt bao gồm mong muốn về mức độ tham gia và vai trò của
Trung Quốc và Mỹ, phạm vi hợp tác trong vấn đề Biển Đông, và vai trò của
Trung Quốc và Mỹ, phạm vi hợp tác trong vấn đề Biển Đông, và vai trò
của chính ASEAN trong tranh chấp này.19 Một mặt, các nước
ASEAN không có yêu sách thường không có lợi ích trực tiếp trong tranh
chấp lãnh thổ ở Biển Đông và rõ ràng không muốn làm xấu quan hệ với
Trung Quốc, một đối tác kinh tế và chiến lược quan trọng. Trong thập kỷ
vừa qua, ảnh hưởng của Bắc Kinh ở Đông Nam Á ngày càng tăng và nhiều
nước được hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Michael
Mazza và Gary Schmitt lập luận rằng “nhiều quốc gia Đông Nam Á lục địa…
tin rằng tư cách thành viên ASEAN của họ giờ đây ít được ưu tiên hơn so
với việc giữ quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc”.20 Những nước
này, do đó, không có lập trường mạnh mẽ trong việc phản đối các hành
động cứng rắn ở Biển Đông hay trong quyết tâm thúc đẩy vai trò ASEAN.
Mặt khác, Việt Nam và Philippin là những nước có lợi ích sống còn trong
việc duy trì hoà bình và chủ quyền ở Biển Đông. Cả Hà Nội và Manila đều
xem ASEAN như một cơ chế đa phương hữu hiệu để giảm căng thẳng ở Biển
Đông và cho họ vị thế cao hơn khi giải quyết tranh chấp.
Các nguyên tắc về việc quản lý xung đột ở Biển Đông của ASEAN
Sự tham gia của ASEAN trong việc quản lý
tranh chấp ở Biển Đông dựa vào các nguyên tác và cơ chế quản lý xung
đột được xác định trong các văn kiện chủ chốt của ASEAN. Những văn bản
này bao gồm Tuyên bố thành lập ASEAN năm 1967, Hiệp ước Thân thiện và
Hợp tác (TAC) năm 1976, Tuyên bố Hoà hợp ASEAN II (Bali Concord II) năm
2003, Đề cương xây dựng Cộng đồng Chính trị – An ninh ASEAN, và Hiến
chương ASEAN. Liên quan cụ thể đến Biển Đông, hai văn kiện quan trọng là
Tuyên bố về Biển Đông năm 1992 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên
về Biển Đông năm 2002.
Xem xét các văn kiện này và thực tiễn
ASEAN cho thấy một số nguyên tắc then chốt định hướng quan hệ nội khối
và với bên ngoài của ASEAN và các biện pháp quản lý xung đột. Trước hết,
mục tiêu mang tính nguyên tắc của ASEAN là thúc đẩy hợp tác khu vực vì
hoà bình và ổn định. Nguyên tắc này đã được nhắc lại trong mọi văn kiện
quan trọng của ASEAN, trái ngược với tổ chức tiền thân ở khu vực, như Tổ
chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO), thành lập năm 1954 với tư cách một
liên minh phòng thủ. Điều 1 của Hiến chương ASEAN chỉ rõ một trong những
mục tiêu cơ bản của ASEAN là duy trì và thúc đẩy hoà bình và tăng cường
hợp tác chính trị, an ninh, kinh tế và văn hoá – xã hội rộng rãi hơn.
Để đạt được kết quả này, giải quyết mọi vấn đề tranh chấp một cách hoà
bình, không sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực là nguyên tắc cơ
bản của ASEAN.
Hơn nữa, bảo đảm quyền tự quyết, chủ
quyền, bình đẳng, và không can thiệp của các quốc gia luôn được hiệp hội
theo đuổi. ASEAN bao gồm các thành viên có sự khác biệt lớn về trình độ
phát triển kinh tế xã hội, văn hoá và tín ngưỡng, thể chế luật pháp và
thể chế chính trị, và quy mô địa lý. Các nước này trong lịch sử đã phải
đấu tranh chống lại các cường quốc bên ngoài khu vực để giành được độc
lập. Do đó, những nguyên tắc trên được thông qua không chỉ để đảm bảo
một môi trường an ninh tốt hơn cho tất cả các quốc gia mà còn thực sự
thể hiện ước muốn chính trị của khu vực. Chủ quyền, bình đẳng, không tự
vỗ ngực nhận mình là nước lớn còn nước khác là nước nhỏ mới là phù hợp
với chuẩn mực quan hệ quốc tế nói chung và ASEAN nói riêng.
Trong quan hệ nội khối ASEAN, cách tiếp
cận phi chính thức, tham vấn và đồng thuận được coi là trụ cột của
“Phương cách ASEAN”. Điều này được nhấn mạnh trong TAC năm 1976, khẳng
định rằng các thành viên “duy trì liên lạc và tham vấn thường xuyên với
các nước khác về các vấn đề khu vực và quốc tế nhằm phối hợp quan điểm,
hành động và chính sách với nhau”.21 Hiệp ước Bali II “tái
khẳng định tầm quan trọng cơ bản của việc tôn trọng các nguyên tắc của…
sự đồng thuận trong hợp tác ASEAN”.22
Phương cách ASEAN cũng ảnh hưởng đến
cách tiếp cận của các nhà lãnh đạo ASEAN trong quan hệ của khu vực với
các đối tác ngoài khu vực. ASEAN áp dụng chiến lược mở nhưng không liên
minh an ninh với các nước bên ngoài. Kể từ khi tổ chức được thành lập
năm 1967, khi căng thẳng ở Đông Nam Á lên cao, các nước sáng lập ASEAN
đã có tầm nhìn về một hiệp hội có tất cả 10 nước Đông Nam Á. Các nước
bên ngoài Đông Nam Á cũng được hoan nghênh hợp tác với ASEAN để thúc đẩy
hoà bình và ổn định của khu vực. TAC được để ngỏ cho tất cả các quốc
gia tham gia và đến nay đã có nhiều cường quốc bên ngoài ký kết, trong
đó có Trung Quốc (năm 2003), Nhật Bản (năm 2004), EU (năm 2009) và Mỹ
(năm 2010).
Về thực tiễn, việc ARF ra đời năm 1994
và chiến lược của diễn đàn này có thể là một kiểu mẫu cho ASEAN trong
việc thực hiện vai trò trung tâm của mình là động lực chính và tích cực
trong các vấn đề khu vực. Tài liệu Khái niệm (Concept Paper) của ARF
nhấn mạnh vai trò chủ chốt của ASEAN trong ba giai đoạn của ARF trong
việc quản lý xung đột để thúc đẩy hoà bình và an ninh trong khu vực.
Hiện nay, các biện pháp xây dựng lòng tin và xây dựng các cơ chế ngoại
giao phòng ngừa là những cách thực tế để thúc đẩy hiểu biết chung trong
khu vực và giảm thiểu căng thẳng trong các tranh chấp.
Liên quan đến sự tham gia của ASEAN
trong việc quản lý tranh chấp Biển Đông, cho đến gần đây, vai trò của
ASEAN trong các tranh chấp chủ yếu giới hạn ở những nỗ lực chính trị và
ngoại giao, phù hợp với Phương cách ASEAN. Mặc dù những nỗ lực này đã
được duy trì liên tục qua nhiều năm, thể hiện trong thực tế là vấn đề
Biển Đông được nhắc đến trong tất cả các văn kiện quan trọng của ASEAN,
không có động thái quan trọng nào giải quyết tận gốc nguyên nhân của
tranh chấp. Mặc dù ASEAN không can thiệp vào tranh chấp lãnh thổ giữa
các nước có yêu sách trong tranh chấp Biển Đông, ASEAN thường đóng vai
trò là một kênh hiệu quả để có các bên có liên quan giảm căng thẳng một
khi tranh chấp leo thang đến một điểm nguy hiểm nhất định.
Trung Quốc và vai trò của ASEAN trong quản lý tranh chấp Biển Đông
Trong tất cả các bên có liên quan ở Biển
Đông, Trung Quốc là nước duy nhất hạ thấp vai trò của ASEAN và các cơ
chế đa phương nói chung trong việc quản lý tranh chấp. Lập trường của
Trung Quốc rõ ràng xuất phát từ quan điểm cho rằng giải quyết vấn đề
bằng cách dựa vào cơ chế đa phương khó hơn rất nhiều so với thông qua
đàm phán song phương. Lập trường này luôn luôn được quan chức Trung Quốc
khẳng định khi nói về vấn đề Biển Đông. Hơn nữa, trong mấy ngàn năm
lịch sử, quan hệ đối ngoại của Trung Quốc vẫn chủ yếu là quan hệ song
phương và Trung Quốc chưa bao giờ nổi tiếng về ngoại giao đa phương.
Sự miễn cưỡng chấp nhận vai trò của
ASEAN trong việc quản lý tranh chấp ở Biển Đông của Trung Quốc nên được
thay đổi, vì việc tích cực cùng với ASEAN để thúc đẩy hợp tác khu vực
sâu sắc hơn sẽ mang lại lợi ích chiến lược cho Trung Quốc. Trước hết, sự
ủng hộ của Trung Quốc đối với vai trò của ASEAN sẽ đóng góp vào hoà
bình và an ninh khu vực, điều tối quan trọng cho sự phát triển của Trung
Quốc. Đó là vì ASEAN luôn tích cực thúc đẩy hợp tác khu vực, bao gồm cả
việc giải quyết vấn đề Biển Đông. Trung Quốc đã luôn ủng hộ vai trò của
ASEAN và hợp tác với ASEAN thông qua nhiều cơ chế khác nhau như
ASEAN+1, ASEAN+3, ARF và EAS. Trên thực tế, nước này là một trong những
nước bên ngoài đầu tiên ký kết TAC vào năm 2003, thừa nhận vai trò trung
tâm của ASEAN trong hợp tác an ninh khu vực. Trong vấn đề Biển Đông,
việc ký DOC giữa Trung Quốc và ASEAN năm 2002 luôn được các chính phủ
coi như là một thành tựu lớn trong hợp tác Trung Quốc-ASEAN về Biển Đông
cho thấy rằng sự tham gia tích cực hơn của ASEAN trong việc quản lý ở
Biển Đông sẽ không làm phức tạp tình hình như những nhà lãnh đạo Trung
Quốc lo lắng.
Hơn nữa, quan hệ hợp tác Trung
Quốc-ASEAN ở Biển Đông sẽ đóng góp vào việc xây dựng lòng tin ở khu vực
và các chuẩn mực chung. ASEAN và Trung Quốc đang tích cực làm việc với
nhau trong khuôn khổ ARF để nâng cao lòng tin và hiểu biết lẫn nhau.
Thảo luận đa phương về vấn đề Biển Đông trong các khuôn khổ do ASEAN
khởi xướng sẽ mở ra một kênh hiệu quả khác để Trung Quốc có thể giải
thích về lập trường của mình về hướng giải quyết vấn đề Biển Đông. Về
vấn đề này, thế giới đến nay thường chứng kiến những gì Trung Quốc làm
nhiều hơn là nghe những gì nước này nói. Cách tiếp cận của Bắc Kinh về
vấn đề Biển Đông có thể được gọi là “hành động chủ động, tuyên bố ứng
phó”. Câu thành ngữ Trung Quốc jin yĩ yè xíng (áo gấm đi đêm)
miêu tả những người có tài sản giá trị nhưng không dám thể hiện trước
công chúng bởi vì tài sản đó là không hợp pháp. Vì Trung Quốc tin rằng
nước này có quyền hợp pháp ở Biển Đông, Bắc Kinh nên tận dụng mọi cơ
hội, bao gồm cả những cơ hội do ASEAN tạo ra, để chỉ cho thế giới thấy
quyền của họ. Bằng cách này, mong muốn nâng cao hình ảnh như một cường
quốc đang lên có trách nhiệm của Trung Quốc sẽ cũng được hưởng lợi.
Theo một cách tiếp cận hiện thực hơn, sự
ủng hộ của Trung Quốc đối với vai trò của ASEAN ở Biển Đông sẽ ngăn
chặn được một liên minh ngầm có thể có ở Đông Nam Á để chống lại Trung
Quốc và gạt bỏ được quan niệm cho rằng Bắc Kinh đang áp dụng chiến lược
“chia để trị” hay “chia để chiếm” ở Biển Đông. Các học giả Trung Quốc
đôi khi cũng thể hiện mối lo về một liên minh ở châu Á để chống lại
Trung Quốc.23 Để đối phó với mối đe doạ này, họ đã đề xuất
một chính sách để chia rẽ và cô lập các nước có yêu sách nhỏ hơn với
ASEAN, với tư cách là một khối, bằng cách hỗ trợ cho một số nước trong
khi lại trừng phạt các nước cương quyết hơn.24 Điều này
thường xuyên đựơc các nhà quan sát quốc tế nhắc đến như là chiến lược
“chia để trị” hay “chia để chiếm” khi họi nói về chính sách của Trung
Quốc với các nước có yêu sách khác.25 Đáng chú ý là quan điểm
này có ý nghĩa rất tiêu cực ở Đông Nam Á vì nó nhắc lại thời kỳ thuộc
địa, khi hầu hết các quốc gia ở khu vực đều bị xâm chiếm, chia cắt và
cai trị bởi một cường quốc bên ngoài. Nếu ý tưởng này không bị xoá đi
thì Bắc Kinh sẽ thấy khó mà có thể lấy lòng được người dân Đông Nam Á.
Và cách tốt nhất để Trung Quốc tránh được nước nhỏ hơn trong tranh chấp
trở thành đồng minh đó là hợp tác gần gũi hơn với tất cả họ, cả ở cấp độ
song phương lẫn đa phương.
Thúc đẩy vai trò lớn hơn của ASEAN trong việc quản lý tranh chấp ở Biển Đông
Một câu hỏi dai dẳng là: ASEAN nên và có
thể đóng vai trò gì trong tranh chấp ở Biển Đông. Đại sứ Trung Quốc ở
ASEAN, Xue Hanqin, cho rằng “ASEAN có thể đóng vai trò như một phương
tiện đáng giá để thúc đẩy lòng tin giữa các bên, nhưng không thể biến nó
thành một bên của tranh chấp”.26 Cựu Tổng thư ký ASEAN,
Rodolfo Severino, trả lời rất chính xác rằng “ASEAN không mong muốn biến
mình thành một bên của tranh chấp”.27 Nhưng đặt ASEAN bên
ngoài tình hình ở Biển Đông là phi logic. Như phần đầu của nghiên cứu
này đã cho thấy, sự tham gia của ASEAN trong tranh chấp Biển Đông đã có
một lịch sử lâu dài và đáp ứng lợi ích của tất cả các bên, bao gồm cả
Trung Quốc. Mục tiêu cơ bản của hiệp hội là tránh làm xấu tình hình, từ
đó duy trì và thúc đẩy an ninh và hoà bình ở khu vực. Kinh nghiệm hai
mươi năm tham gia trên thực tế của ASEAN đã chứng minh cho điều này.
Tăng cường sự tham gia của ASEAN vào việc quản lý tranh chấp ở Biển Đông
không làm suy yếu lợi ích hợp pháp của bất cứ bên nào, bao gồm cả những
nước có yêu sách. Thay vào đó, những gì ASEAN đang cố gắng thực hiện sẽ
“đem giá trị đến với tất cả, thậm chí bao gồm cả những nước không có
yêu sách đối với các địa hình đất hay quyền tài phán trên biển ở Biển
Đông, mà có một lợi ích trong hoà bình và ổn định ở khu vực và tự do
hàng hải ở đây”.28
Tuy nhiên bất cứ nỗ lực nào nhằm thúc
đẩy một vai trò lớn hơn của ASEAN trong tranh chấp Biển Đông trước hết
phải được đặt trong bối cảnh lớn hơn là tính trung tâm của ASEAN trong
hợp tác đa phương khu vực. Ngay sau Chiến tranh lạnh, ASEAN đã được coi
là thành công trong việc mở rộng, bao gồm tất cả mười nước Đông Nam Á và
trong việc duy trì vị thế của mình là động lực chính cho hợp tác khu
vực ở Châu Á-Thái Bình Dương. Bước vào thế kỷ 21, tình hình khu vực và
thế giới đã có chuyển biến sâu sắc. Khoảng trống quyền lực ở Đông Nam Á
không còn tồn tại. Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế và quân sự đã
cho phép Bắc Kinh mở rộng ảnh hưởng của mình đến tất cả các nước Đông
Nam Á. Thêm vào đó, quyết tâm quay trở lại của Washington khiến cho môi
trường khu vực Đông Nam Á trở nên quá chật chội để thích ứng được vai
trò của cả hai cường quốc. Điều đó đòi hỏi những nỗ lực tập thể rất lớn
của tất cả các thành viên ASEAN nhằm duy trì vị thế của Hiệp hội là động
lực và trung tâm của hợp tác khu vực.
Hơn nữa, thực tế ở Biển Đông cũng phải
được tính đến. Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông là rất phức tạp, bao gồm
sáu nước có yêu sách và nhiều nước có liên quan khác và liên quan đến
các vấn đề pháp lý, kinh tế, chính trị, lịch sử khác nhau. Do đó, có rất
ít hy vọng về một bước đột phá trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông
trong tương lai gần. Các bước nhỏ, tiệm tiến hướng tới một giải pháp lâu
dài sẽ là thực tế hơn. Tuy nhiên, lập luận này không có nghĩa là các
thảo luận có tính đột phá là không có giá trị.
Vì những lý do này, bài viết đề xuất ba hướng chính để nâng cao vai trò của ASEAN ở Biển Đông.
Trước hết, cần phải tăng cường hội nhập
ASEAN thông qua thúc đẩy các thể chế ASEAN và kết nối kinh tế như một
cách thể nâng cao tính trung tâm của ASEAN trong các vấn đề khu vực.
Phương cách ASEAN về tham vấn và đồng thuận một mặt kết nối các nước
Đông Nam Á với nhau. Mặt khác nó lại làm suy yếu khả năng hợp tác an
ninh, chính trị sâu rộng hơn của khu vực, đặc biệt trong những vấn đề
khó. Trong lĩnh vực kinh tế, hội nhập ASEAN cũng ở mức độ thấp với
thương mại nội khối ASEAN, năm 2008 chỉ bằng 26,8% tổng thương mại của
khu vực. Đầu tư nội khối ASEAN năm 2008 là 18,3%.29 Ý tưởng
về sự hội nhập ASEAN có thể được các nhà ngoại giao và lãnh đạo cao cấp
ASEAN hiểu rõ ràng, nhưng lại rất xa lạ với người dân thường. Hội nhập
ASEAN thấp khiến cho tổ chức này ít quan trọng về kinh tế và chiến lược
đối với các nước thành viên so với các cường quốc bên ngoài. Các nước
Đông Nam Á do đó có thể sẵn sàng bán rẻ trách nhiệm và lợi ích của thành
viên ASEAN để đổi lấy một quan hệ tốt đẹp hơn hoặc viện trợ từ bên
ngoài.
Để giữ cho hiệp hội là động lực chính
trong các vấn đề khu vực, hội nhập ASEAN phải được tăng tốc và sâu sắc
hơn nữa. Về mặt này, các quốc gia thành viên có thể cần phải mở rộng
biên giới cho hội nhập ASEAN liên quan đến chủ quyền. Về mặt kinh tế,
các chính phủ có thể tăng cường kết nối khu vực thông qua quy chuẩn hoá
và hài hoà các công cụ kinh tế vĩ mô, bao gồm quy định, luật pháp, thủ
tục hành chính. Việc kéo cờ ASEAN tại Đại sứ quán các nước thành viên
trên khắp thế giới nhân ngày ASEAN năm nay rất đáng được khuyến khích và
thực tiễn này có thể được áp dụng mở một cấp độ ngoại giao nào đó. Tất
cả những nỗ lực này sẽ tăng cường và duy trì vai trò trung tâm của ASEAN
trong các vấn đề khu vực, không chỉ là tranh chấp ở Biển Đông.
Thứ hai, cần có một tiến bộ mang tính
cách mạng ở thảo luận kênh II về vấn đề Biển Đông. Tổ chức nhiều hơn nữa
các hội thảo quốc tế về vấn đề Biển Đông không có nghĩa là cố gắng
“quốc tế hoá” vấn đề (mà trong đó tính quốc tế đã rất rõ ràng rồi) để
tấn công một quốc gia đơn lẻ nào đó. Thực sự là một cách hay để nâng cao
hiểu biết chung về vấn đề, tạo ra sự kết nối về thể chế giữa các nước,
trao đổi kinh nghiệm và hiểu biết, và làm cho các lựa chọn chính sách
của các quốc gia minh bạch hơn và có thể dự đoán được. Indonesia đã tổ
chức một loạt các hội thảo không chính thức về vấn đề Biển Đông trong
những năm 1990 và những hội thảo này được rất nhiều văn kiện chính thức
khác nhau của ASEAN hoan nghênh. Gần đây, nhiều hội thảo và hội nghị đã
được tổ chức ở Đông Nam Á, Mỹ và Châu Âu, đánh dấu một làn sóng mới
trong việc nghiên cứu về vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên tác động của những
hội thảo này đối với các chính sách của chính phủ vẫn rất chậm và gián
tiếp.
Mô hình hội nghị của Hội đồng Hợp tác An
ninh Châu Á – Thái Bình Dương (CSCAP) có thể đưa ra một gợi ý về việc
vấn đề Biển Đông nên được thảo luận ở Kênh II (hoặc Kênh 1,5) như thế
nào. Các học giả, với tư cách cá nhân, có thể cùng với nhau để thảo luận
vấn đề Biển Đông, bao gồm cả vấn đề nhạy cảm nhất, tranh chấp lãnh thổ.
Các kiến nghị chính sách có thể được đệ trình lên các hội nghị chính
thức khác nhau như AMM, Thượng đỉnh ASEAN và Cấp cao Đông Á để thảo
luận. Một Nhóm các nhân vật nổi tiếng của ASEAN cho vấn đề Biển Đông
cũng có thể được thành lập và có nhiệm vụ viết các tư vấn chính sách cho
các chính phủ.
Thứ ba, tiếp theo ý trước, để các đối
thoại Kênh II về Biển Đông được tổ chức và các kiến nghị được lắng nghe,
ASEAN phải chủ động trong việc tham gia vào vấn đề Biển Đông, một trong
những vấn đề khó khăn nhất đối với ASEAN. Lập trường của ASEAN về vấn
đề Biển Đông đến nay vẫn còn khá mơ hồ, thụ động, và mang tính phản ứng.
Trong khi an ninh và ổn định ở Biển Đông là tối quan trọng đối với Đông
Nam Á và với ASEAN, với tư cách là một thực thể, tổ chức đã không dẫn
đầu như một thể thống nhất độc lập để đối phó với căng thẳng. Các hoạt
động quyết đoán hơn chỉ được thực hiện dưới áp lực của hai thành viên có
nhiều ảnh hưởng nhất, là Việt Nam và Philippin khi tình hình đạt đến
cấp độ sống còn. ASEAN phải đặt ra một chương trình nghị sự đầy đủ cho
các thảo luận của khu vực về vấn đề bao gồm cả các đối thoại với các
nước bên ngoài trong các cơ chế đa phương như Hội nghị Bộ trưởng Quốc
phòng Mở rộng (ADMM+) và ARF. Như James Cordova đã nói, ASEAN “có một cơ
hội để chứng minh khí phách của mình, nếu không thì cũng là giá trị của
mình”30
CHÚ THÍCH:
1 Các văn kiện được đề cập đến bao gồm Thông cáo chung,
Tuyên bố của chủ tịch, Thông cáo báo chí, và các loại văn kiện chính
thức khác của ASEAN.
2 Xue Hanqin, ‘China-ASEAN Cooperation: A model of Goò
Neighbourliness an Friendly Cooperation’, Singaporean, 19//11/2009.
Phiên bản điện tử có tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore
(Singapore Institute for Southeast Asian Studies):
http://www.iseas.edu.sg/aseanstudiescentre/Speech-Xue-Hanqin-19-9-09.pdf (truy cập 10/8/2011)
3 Chinese Ministry of Foreign Affairs: ‘Foreign Minister
Yang Jiechi Refutes Fallacies On the South China Sea Issue’. Phiên bản
điện tử có tại:
http://www.mfa.gov.cn/eng/zxxx/t719460.htm (truy cập ngày 16/8/2011)
4 1992 ASEAN Declaration on the South China Sea [ Tuyên bố ASEAN về Biển Đông năm 1992]
5 1993 Joint Comnuniqué of 26
th ASEAN Ministerial Meeting [Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 26, năm 1993]
6 1995 Joint Communiqué of ASEAN Foreign Ministers Meeting [Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN năm 1995]
7 1995 Bangkok Summit Declaration [Tuyên bố Thượng đỉnh
Băng Cốc năm 1995], phiên bản điện tử có tại trang web Ban Thư ký ASEAN.
Đoạn in nghiêng do tác giả nhấn mạnh.
8 http://www.asean.org/184.htm
9 Tuyên bố của Chủ tịch tại Diễn đàn Khu vực ASEAN lần thứ 15, năm 2008
10 Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 41 năm 2008
11 Thông cáo báo chí của Phiên họp hẹp Các Ngoại trưởng ASEAN, Lombok, 16-17/01/2011
12 Thuật ngữ “sự cứng rắn hung hăng” (aggressive
assertiveness) được Carlyle Thayer sử dụng trong bài phân tích của mình
vào tháng 6 năm 2011. Xem: Carlyle Thayer, China’s New Wave of
Aggressive Assertiveness in the South China Sea’. Tham luận tại Hội thảo
về An ninh biển ở Biển Đông, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc
tế, Washington, 20-21/6/2011. Phiên bản điện tử có tại:
http://csis.org/files/publication/110629_Thayer_South_China_Sea.pdf
13 Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN
lần thứ 44, Bali, Indonesia, 19/7/2011. Có tại trang web chính thức của
ASEAN:
http://www.asean.org/documents/JC44thAMM19JUL2001.pdf
14 Chi tiết nội dung Bộ hướng dẫn có trên website Biên giới Lãnh thổ:
http://biengioilanhtho.gov.vn/vie/noiđungquytachuongan-nd-03ab844.aspx (truy cập 20/10/2011)
15 Tuyên bố ASEAN (Tuyên bố Băng Cốc), 8/8/1967. Phiên bản điện tử có trên trang web của Ban thư ký ASEAN:
http://www.asean.org/1212.htm (truy cập 18/8/2011).
16 Hiến chương ASEAN, Điều 1 (4). Phiên bản điện tử có trên trang web của Ban thư ký ASEAN:
http://www.asean.org/publications/ASEAN-Charter.pdf (truy cập 18/8/2011).
17 Hiến chương ASEAN. Điều 1 (15). Vai trò trung tâm và
chủ động của ASEAN còn được tái khẳng định trong Kế hoạch Xây dựng Cộng
đồng Chính trị và An ninh ASEAN (tr.2). Phiên bản điện tử có tại:
http://www.asean.org/5187-18.pdf (truy cập 18/8/2011)
18 Ernest Ebower. ‘The Quintissential Test of ASEAN Centrality: Changing the Paradigm in the South China Sea’.
Southeast Asia from the Corner of 18th&K Streets.vol.II(10).22/6/2010.
19 Liselotte Odgaard. ‘The South China Sea: ASEAN’s Security Concerns About China. Security Dialogue.vol.34(1).2003.tr.14.
20 Michael Mazza and Gary Schmitt. ‘Weakness of the ASEAN Way’.
The Diplomat. June 21, 2011. (phiên bản điện tử có tại:
http://the-diplomat.com/flashpoints-blog/2011/06/21/weakness-of-the-asean-way/ truy cập 19/8/2011 )
21 Hiệp ước Bali II
22 Ví dụ, xem: Greg Torode,’Closing Ranks’.
South China Morning Post.7/6/2011
23 Ví dụ, xem: Greg Torode. ’Closing Ranks’.
South China Morning Post.7/6/2011
24 Liu Rui. ‘Time to teach those around South China Sea a lesson’. Global Times. 29/9/2011. Phiên bản điện tử có tại:
http://www.globaltimes.cn/NEWS/tabid/99/ID/677717/Time-to-teach-those-around-South-China-Sea-a-lesson.aspx (truy cập ngày 25/10/2011).
25 Ví dụ, xem: Frank Ching. ‘Divide-and-conquer tactics’.
The Korea Times. 11/8/2010; David Brown. ‘ASEAN adrift in South Sea’.
Asia Time Online. 2/7/2011 (có tại:
http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/MG02Ae02.html truy cập 5/10/2011)
26 Xue Hanqin. ‘China-ASEAN Cooperation: A model of Good
Neighbourliness and Friendly Cooperation’, Singapore, 19/11/2009. Phiên
bản điện tử có tại Singapore Institute for Southeast Asian Studies:
http://www.iseas.edu.sg/aseanstudiescentre/Speech-Xue-Hanqin-19-9-09.pdf (truy cập 10/8/2011),tr.25.
27 Rodolfo C. Severino. ‘ASEAN and the South China Sea’. Security Challenges. Vol.6(2). Winter 2010.tr.46.
28 Tlđd
29 ASEAN.
ASEAN Community in Figure 2009. ASEAN Secretariat. Jakarta. Tháng 1/2010.tr.9; 35. Phiên bản điện tử có tại:
http://www.asean.org/publications/ACIF2009.pdf (
truy cập ngày 24/8/2011).
(số liệu chính thức mới nhất của ASEAN là cho năm 2008) Để có thể so
sánh, trong cùng năm đó, thương mại nội khối EU là 67,5%. Số liệu lấy
từ: European Union. External and intra-EU trade: Statistical yearbôk
data 1958 – 2009 (phiên bản năm 2010).
30 James Cordova, South China Sea crisis a chance for
ASEAN to prove its worth. 22/6/2011. Có trên Asia Correspondent:
http://asiancorrespondent.com/57957/south-china-sea-crisis-a-chance-for-asean-to-prove-its-worth/