Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011

LỢI ÍCH CỦA ẤN ĐỘ Ở BIỂN ĐÔNG

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

LỢI ÍCH CỦA ẤN ĐỘ Ở BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba, chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực”, do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 4-5 tháng 11 năm 2011
Vijay Sakhuja
Giám đốc (Nghiên cứu) tại Hội đồng Các vấn đề Thế giới, New Delhi, Ấn Độ
Có một sự thật là cán cân quyền lực khu vực hiện nay nghiêng nhiều về phía Trung Quốc và sức mạnh kinh tế của nước này đã bao trùm lên nhiều quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương khác, bao gồm Nhật Bản, Ấn Độ và Hàn Quốc. Trung Quốc đang tận dụng tiềm lực sức mạnh của họ, và văn phong và ngôn từ trong những tuyên bố, diễn giải, cũng như các hành động liên quan đến tranh cãi chủ quyền và tranh chấp lãnh thổ, cùng thói quen đe doạ các nước láng giềng của Trung Quốc gần đây đã gửi đi những tín hiệu gây bất an trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trớ trêu là, sự ủng hộ tích cực của Trung Quốc trong việc thiết lập hoà bình và ổn định ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã chạm tới đáy, thay vào đó Trung Quốc làm tăng thêm những mập mờ có khả năng phá hoại ổn định của khu vực.
Trong thời gian gần đây, Biển Đông đã trở thành vũ đài trung tâm của những tranh cãi và diễn ngôn an ninh về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông. Nước này đã thể hiện sự quyết đoán trên biển, phản đối các hoạt động khai thác ngoài khơi nằm trong vùng EEZ của các quốc gia yêu sách khác, đã thách thức sự tự do đi lại trên vùng biển quốc tế mà đã được chấp nhận trên bình diện quốc tế, và thỉnh thoảng thể hiện xu hướng đe doạ. Đáng chú ý, Trung Quốc đã bác bỏ và cảnh báo các cường quốc bên ngoài như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ không can dự vào tranh chấp Biển Đông. Quan điểm phổ biến của các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương về Trung Quốc là nghi ngờ, không tin tưởng và lo ngại, bởi cách hành xử và mục đích trong việc xử lý các mối quan hệ quốc tế của nước này rõ ràng đang đẩy “mối đe doạ Trung Quốc” lên mức độ mới.
Ấn Độ cũng cảm nhận được âm hưởng của các diễn biến tại Biển Đông. Mặc dù không phải là bên yêu sách bất kỳ vùng nước nào ở Biển Đông, khu vực này đang trở nên quan trọng đối với Ấn Độ vì hoạt động thương mại hàng hải của Ấn Độ phải đi qua khu vực này. Những tuyến đường biển này có tính chất quyết định đối với sức mạnh kinh tế Ấn Độ. Ấn Độ cũng có lợi ích trong việc khai thác dầu và khí đốt trong khu vực và đã tiến hành kinh doanh năng lượng với Việt Nam kể từ cuối thập niên 80. New Delhi cũng có những lo ngại mới bắt nguồn từ việc Trung Quốc diễn giải về “lợi ích cốt lõi” của nước này, theo đó Bắc Kinh có thể mở rộng lợi ích gộp cả khu vực tranh chấp ở biên giới phía Bắc của Ấn Độ.
Bài viết này cố gắng nêu bật mạnh tầm quan trọng của Biển Đông trong những tính toán về chiến lược, kinh tế, chính trị của Ấn Độ. Bài viết mở đầu bằng việc chỉ ra rằng Biển Đông là một phần không thể thiếu trong các tương tác văn hoá xã hộ, kinh tế và chính trị của Ấn Độ với các vương quốc cổ đại xung quanh Biển Đông. Tiếp theo, bài viết đi vào phân tích lợi ích thực tế và lợi ích thương mại của Ấn Độ ở Biển Đông và lập luận rằng Ấn Độ là một bên quan trọng có chung lợi ích trong các tiến trình an ninh – chính trị và kinh tế ở Biển Đông từ nay về sau. Bài viết cũng trình bày các trao đổi của Ấn Độ với Trung Quốc liên quan đến tranh chấp biên giới ở Himalayas, đặc biệt trong bối cảnh các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng quân sự đang diễn ra gây ảnh hưởng đến an ninh của Ấn Độ và làm tăng thêm lo ngại của nước này.
Diễn biến chính trị – chiến lược ở Biển Đông
Giọng điệu và nội dung trong các tuyên bố cùng hành động của các bên yêu sách nhằm khẳng định chủ quyền của mình đối với Biển Đông đã đưa vấn đề trở thành hàng đầu trong diễn ngôn an ninh Châu Á – Thái Bình Dương. Thực tế phũ phàng là vùng biển yên bình ở Biển Đông dường như đang dậy sóng với những vấn đề an ninh. Một thoả thuận đa phương không mang tính ràng buộc là “Tuyên bố Ứng xử giữa các Bên ở Biển Đông năm 2002” (DOC), tập trung vào Quần Đảo Trường Sa, đã được ký từ năm 2002, theo đó Trung Quốc và các quốc gia ASEAN đã đồng ý cùng nhau xây dựng tin cậy và lòng tin, và kiềm chế nhằm tạo một môi trường tích cực để đi đến giải pháp cuối cùng đối với các tranh chấp, và để duy trì hoà bình và ổn định trong khu vực.
Mặc dù DOC là một bước đi cụ thể nhằm thể chế hoá cơ chế đối thoại khu vực giữa các bên yêu sách và đóng vai trò giảm bớt sự leo thang căng thẳng quân sự ở Biển Đông, nhưng dường như bước đi này không thể xua đi “Mối đe doạ Trung Quốc” trong các quốc gia yêu sách. Trung Quốc luôn muốn giải quyết trên cơ sở song phương với các bên yêu sách khác, không giống các quốc gia ASEAN muốn tìm kiếm “một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông chính thức và ràng buộc hơn về mặt pháp lý” nhằm đem lại ổn định cho khu vực. Bởi vậy, khu vực này vẫn là nơi dễ dàng bùng phát xung đột trong bối cảnh có các yêu sách lãnh thổ, tham vọng và điểm nóng.
Các bên yêu sách đã tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng trên một số đảo ở Biển Đông để tạo điều kiện cho các hoạt động quân sự. Đáng chú ý, việc xây dựng này dẫn đến kết quả là một số đường băng đang biến những hòn đảo này thành những sân bay không thể chìm. Có thể bố trí được máy bay  quân sự nhỏ hơn thuộc loại VSTOL (cất và hạ cánh đứng trên đường băng ngắn). Theo người đứng đầu Không lực Đài Loan, Liu Kui-li “Bởi có khả năng rất lớn rằng các đường băng ở những căn cứ không quân sẽ hứng chịu các cuộc tấn công dồn dập bằng tên lửa và sẽ bị phá huỷ trong cuộc chiến với Trung Quốc, không lực coi máy bay chiến đấu có khả năng VSTOL là phù hợp nhất cho phòng thủ của Đài Loan”.1
Hiện nay, được biết đã có bốn đường băng với quy mô khác nhau ở Quần đảo Trường Sa. Sân bay Rancudo (1300 mét) ở Pagasa, do Philippines kiểm soát, là dài nhất và máy bay vận tải C130 đã hạ cánh với mật độ thường xuyên. Các đảo nhỏ chiếm giữ bởi Malaixia (Swallow Reef, Bãi Hoa Lau hay Layang Layang), Việt Nam (Trường Sa lớn) và Đài Loan (đảo Thái Bình, V: đảo Ba Bình) có đường băng 600 mét trong khi Brunei chưa đầu tư vào bất kỳ công trình nào như vậy. Máy bay được triển khai sẵn trên những hòn đảo này có nhiệm vụ ngăn chặn, hoặc có thể được đưa vào tham chiến ngay cho tới khi có quân tiếp viện từ đất liền. Về Trung Quốc, đảo Phú Lâm dày đặc một loạt cơ sở hạ tầng liên quan đến quân sự, bao gồm một đường băng hiện đại cho quân sự, một đội tên lửa di động, các công trình hải quân cho tàu thuyền, và một mạng lưới cơ sở hạn tầng cho tình báo và thông tin liên lạc. Căn cứ Hải Quân Sanya (V: Tam Á – nd) có cơ sở hạ tầng hiện đại có thể chứa được cả tàu ngầm thông thường và tàu ngầm hạt nhân, và là một điểm xuất phát lý tưởng cho các tàu ngầm hạt nhân tiến vào Biển Đông.
Cho đến nay, các bên yêu sách cố gắng các hoạt động  quân sự của mình ở thế phòng vệ; tuy nhiên, khi các vấn đề chủ quyền được đẩy lên hàng đầu, các hoạt động khai thác năng lượng tăng mạnh trong khu vực tranh chấp, sẽ dẫn đến những căng thẳng trong khu vực.
Thống kê hải quân hiện nay và những kế hoạch mua sắm tiếp diễn của các bên yêu sách ở Biển Đông đang gây lo ngại. Các bên tiếp tục xây dựng năng lực quân sự/hải quân nhằm mục đích răn đe và trong một số trường hợp, tăng cường năng lực thông qua cam kết quân sự song phương với các cường quốc ngoài khu vực. Điểm tập trung của đầu tư hải quân là các tàu ngầm được trang bị tên lửa đối hạm và đối đất, ngư lôi hiện đại, thiết bị đo hỗ trợ điện tử và trên tất cả là công nghệ AIP, loại công nghệ biến những con tàu này thành một vệ tinh có sức mạnh đáng gờm. Các lực lượng hải quân khu vực nhìn thấy một số lợi ích từ việc sở hữu những vệ tinh này, như là những bộ nhân sức mạnh hay chống xâm nhập, tập trung ở sức mạnh răn đe thông thường đáng tin cậy. Giống như vậy, máy bay tiêm kích bố trí ở bờ biển để tấn công các mục tiêu trên biển đang nhanh chóng được ưu tiên. Trong tương lai, những máy bay này có thể được triển khai trên các đường băng kéo dài của tàu sân bay không đánh chìm.
Ấn Độ và Biển Đông: Bối cảnh Lịch sử
Mối liên kết văn hoá – xã hội và lợi ích thương mại của Ấn Độ với các quốc gia ven Biển Đông bắt nguồn từ thời cổ xưa. Ấn Độ có nối kết thương mại rộng khắp với các vương quốc Funan (V: Phù Nam – nd), quốc gia cổ ở Campuchia, Srivijaya ở Sumatra và một số vương quốc ở phía Đông và Nam Trung Quốc. Biển Đông đã tạo thuận lợi cho liên kết mậu dịch, giúp hình thành nên một hệ thống thương mại phức tạp và phát triển giữa Trung Quốc, Đông Nam Á và Ấn Độ. Bên cạnh đó, một vương quốc Hindu gọi là Chămpa (phía nam Việt Nam và Campuchia) đã tồn tại ở Đông Dương.
Biển Đông cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho nối kết giao thoa văn hoá, vì vậy các nhà sư Phật giáo có thể đi từ Trung Quốc qua Palembang ở Sumatra và tới Tamralipti ở Ấn Độ. Fa Hsien (V: Pháp Hiển – nd), một nhà sư Phật giáo trong hành trình trở lại Trung Quốc từ Ấn Độ năm 413-14 Sau Công nguyên đã đi qua Biển Đông2. Chuyến đi này đã khích lệ những người hành hương Trung Quốc khác thực hiện các hành trình tương tự tới Ấn Độ bằng đường biển thông qua Biển Đông. I’sing (V: Nghĩa Tịnh – nd), một nhà sư Trung Quốc khác đã thăm Palembang trên đường tới Ấn Độ vào năm 671 và 695 Sau Công nguyên, và đi bằng đường biển qua Biển Đông3.
Các vua Chola ở Ấn Độ đã phát triển mối liên kết chính trị và thương mại ở Trung Quốc và đã cử các sứ giả tới phía nam Trung Quốc. Chúng tôi được biết một sứ giả đại diện cho vương quốc Chola đã đến triều Tống năm 1077. Ngoài ra, tiền xu và đồ gốm Trung Quốc được tìm thấy dọc bờ biển Tamil Nadu là bằng chứng cho thấy những hoạt động thương mại nhộn nhịp giữa nam Ấn Độ và Trung Quốc. Thêm nữa, một bản khắc tìm thấy ở Quảng Châu đã ghi chép việc đóng góp cho một tu viện đạo Lão thay mặt cho quốc vương Chola Kulottunga I.
Thú vị là, trong thời kỳ đó, ‘việc xây dựng đền miếu chùa chiền’ nổi lên như một phần quan trọng của quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia. Ví dụ, một nguồn của Trung Quốc cho biết năm 720 vua của Pallava là Narasimhavarman II “đã xây dựng một ngôi chùa [ở Tamil Nadu] vì đế triều [tức là Trung Quốc]”, Chùa Kaiyuan, một ngôi chùa Phật giáo được xây dựng vào thời nhà Đường năm 686 có hình chạm nổi Hanuman, một vị thần Ấn Độ, trên một trong những tháp của Chùa, và cũng có một số lượng lớn các hình chạm khắc Ấn Độ. Ngoài ra, ba ngôi đền Hindu được xây ở phía nam Trung Quốc nơi các “Brahman” cư ngụ trong suốt thế kỷ thứ 8. Một ngôi đền Hindu cũng được phát hiện tại Quanzhou (Tuyền Châu) Trung Quốc.
Diễn biến Hiện tại: Khai thác Tài nguyên
Ấn Độ đã tiến hành các dự án chung khai thác năng lượng xa bờ ở Biển Đông với Việt Nam kể từ cuối thập niên 80. Tập đoàn ONGC Videsh Limited (OVL) thuộc sở hữu nhà nước đã hợp tác với Petro Vietnam và British Petroleum, bắt đầu khai thác ở Biển Đông vào năm 1992 và 1993, phát hiện được mỏ khí Lan Đỏ và Lan Tây, ước tính có trữ lượng khoảng 58 tỷ mét khối, và có thể khai thác khoảng 3 tỷ mét khối khí đốt một năm4. Tuy nhiên vào cuối thập niên 90, vì khủng hoảng tài chính, OVL đã phải bán cổ phần cho BP. Năm 2010, vì khoản nợ do vụ tràn dầu ở Vịnh Mêhicô, BP thông báo kế hoạch bán tài sản năng lượng của mình ở Việt Nam và điều này đã thúc đẩy OVL cùng với Petro Vietnam của Việt Nam chung tay đấu giá lại cổ phần của BP ở mỏ khí Nam Côn Sơn, trải dài hơn 955 km vuông, bao gồm hai mỏ khí ngoài khơi, một đường ống dẫn và dự án năng lượng5. Phần thăm dò và khai thác của dự án Nam Côn Sơn cũng được biết đến như Lô 06.1, nằm cách Vũng Tàu 370 km về phía Đông Nam ở bờ biển phía nam Việt Nam. Lô 06.1 gồm có Lan Tây (hiện nay khai thác được khoảng 14 triệu mét khối khí đốt tiêu chuẩn một ngày) và mỏ khí Lan To (Lan Đỏ – nd) hiện nay đang được khai thác. Các báo cáo cho biết OVL đã đầu tư 217 triệu đôla vào các mỏ khí và có thể tăng vốn đầu tư lên 377.46 triệu đôla. OVL cũng có cổ phần trong hai lô thăm dò khác là 127 và 128 ở Việt Nam.
Thương mại Hàng hải
Có một vài nguyên nhân địa chiến lược và địa kinh tế đã định hình lợi ích của Ấn Độ ở Biển Đông. Về không gian, Biển Đông là một không gian biển mở và là đường nối tới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương rộng lớn hơn. Gần 50% hoạt động thương mại của Ấn Độ đi qua Biển Đông đến  các địa điểm ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và qua Thái Bình Dương đến Bắc và Nam Mỹ.
Đối với Chính sách Hướng Đông của Ấn Độ, mối quan hệ giữa Ấn Độ và các quốc gia ASEAN đóng vai trò như chất xúc tác và là động lực quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Thương mại song phương đã tăng từ 2.4 tỷ đôla năm 1990 lên 44.66 tỷ đôla trong năm 2008-09.6 Các bên đối tác đã bày tỏ cam kết tăng cường hợp tác kinh tế để thúc đẩy thương mại song phương lên 70 tỷ đôla vào năm 20127. Năm 2009, Ấn Độ và ASEAN đã ký FTA, có hiệu lực vào tháng 7 năm 20108. FTA này được cho là sẽ bao trùm rộng khắp thị trường xấp xỉ 1.8 tỷ người và các kế hoạch dự tính cắt giảm dần thuế quan đối với 4,000 sản phẩm tới năm 2016.
Căn cứ vào những thực tế kinh tế trên, Ấn Độ là một bên quan trọng có chung lợi ích trong các tiến trình an ninh đang ở Biển Đông và bất kỳ mối nguy hại nào ở khu vực có thể ảnh hưởng bất lợi đến thương mại và nền kinh tế của Ấn Độ. Sức sống kinh tế của New Delhi phụ thuộc vào nguồn cung năng lượng đảm bảo và các tuyến đường thương mại an toàn và an ninh trong khu vực, gồm cả Eo biển Malacca. Ấn Độ có nhiều lợi ích trong việc giữ các tuyến đường biển mở trong khu vực.
Hải quân Ấn Độ quá cảnh qua Biển Đông và phản ứng của Trung Quốc
Có một số vụ va chạm hải quân giữa Ấn Độ và Trung Quốc ở Biển Đông. Vụ việc gần đây liên quan đến tàu đổ bộ INS Airavat của Ấn Độ vừa rời cảng Nha Trang và đang trên đường tới Hải Phòng của Việt Nam. Hình như, một tàu chiến Trung Quốc đã cố tra hỏi tàu Ấn Độ buộc ‘thông báo danh tính và giải thích lý do hiện diện’. Sau đó, tàu chiến Ấn Độ không gặp bất kỳ tàu hải quân hay máy bay Trung Quốc nào nữa, và đã tiếp tục hành trình tới thăm cảng kế tiếp. Thú vị là, vào thời điểm xảy ra vụ việc, tàu chiến Ấn Độ chỉ cách bờ biển của Việt Nam 45 hải lý trong vùng biển quốc tế. Cũng có một quan điểm cho rằng việc chất vấn của tàu chiến Trung Quốc có thể là do các điều kiện truyền sóng bất thường và tàu chiến Trung Quốc có thể đang tra xét một con tàu khác và tàu chiến Ấn Độ đã bắt được tín hiệu truyền thanh này. Hình như, cả hai bên đã cố gắng dìm thấp vụ việc trên.
Trong quá khứ, Trung Quốc cũng đã thể hiện sự quyết đoán ở Biển Đông và phản đối “quyền qua lại vô hại”, đã có hiệu lực trong lưu thông quốc tế trên vùng biển quốc tế theo Luật Biển 1958 và UNCLOS 1982. Ví dụ, năm 1958, nhà chức trách Trung Quốc đã phản đối một tàu Hải quân Ấn Độ khi tàu này đi qua vùng biển Trung Quốc khoảng 12 dặm nhưng vẫn ở xa bên ngoài so với giới hạn lãnh hải ba dặm được quốc tế chấp nhận khi đó. Sau khí khôi phục quan hệ ngoại giao, các tiếp xúc hải quân giữa hai nước được thiết lập năm 1994, đánh dấu bằng chuyến thăm của tàu huấn luyện Zhang He (V: Trịnh Hoà – nd) của Hải quân PLA tới Mumbai. Nối tiếp sự kiện này là chuyến thăm đáp lễ thiện chí đã được thực hiện thành công của một đội tàu gồm hai tàu nhỏ của hải quân Ấn Độ tới Thượng Hải vào năm 1995.
Năm 2000, Hải quân Ấn Độ đã đi qua Biển Đông và thông báo sẽ diễn tập trong khu vực này. Trung Quốc nhìn nhận kế hoạch này của Ấn Độ như một thách thức trực tiếp, bởi vì nước này coi toàn bộ Biển Đông như vùng biển của mình. Theo các nguồn Hải quân Ấn Độ, “Người Trung Quốc phản đối bất kỳ hải quân nước nào tiến hành diễn tập ở Biển Đông, dù đó là Hải quân Mỹ, Nhật Bản hay Singapore. Chúng tôi đã nói với họ rằng chúng tôi đang đi qua và thậm chí sẽ viếng thăm họ, tiến hành diễn tập hợp tác (PASSEX) và họ đã tiếp đón chúng tôi nồng nhiệt”10. Vụ việc khiến một quan chức Ấn Độ nghỉ hưu nhận xét rằng “Các chuyến thăm thiện chí như vậy đến Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc và Indonesia là để tăng cường mối quan hệ. Động thái của Ấn Độ không mang tính gây hấn hay được thúc đẩy bởi các mưu đồ về lãnh thổ”, và một vị nguyên đứng đầu hải quân Ấn Độ đã bình luận rằng “sự phản đối của Trung Quốc chung quy là “chiến thuật gây áp lực”. Giới quan sát cho rằng người Trung Quốc có thói quen “làm ầm lên đối với một vấn đề bởi vì họ không muốn những lập trường cơ bản của mình bị phớt lờ bởi cộng đồng quốc tế”.
Phản ứng của Trung Quốc đối với hoạt động thăm dò ngoài khơi của Ấn Độ ở Biển Đông

Đã có trao đổi ngoại giao – chính trị giữa Ấn Độ và Trung Quốc trong một vài tuần qua. Bắc Kinh đã gửi một thông điệp ngoại giao đến New Delhi tuyên bố rằng các hoạt động của công ty dầu khí nhà nước OLV của Ấn Độ ở Biển Đông là bất hợp pháp “trừ khi có sự cho phép [của Trung Quốc] đối với việc thăm dò ở Lô 127 và 128”11. Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nhấn mạnh “lập trường nhất quán của chúng tôi là chúng tôi phản đối bất kỳ quốc gia nào tham gia các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở các vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc. Chúng tôi hy vọng ngoại quốc sẽ không tham gia vào tranh chấp này.. Đối với các quốc gia bên ngoài khu vực, chúng tôi hy vọng họ sẽ tôn trọng và ủng hộ các nước trong khu vực giải quyết tranh chấp này thông qua các kênh song phương”12.
Chính phủ Ấn Độ đáp lại bằng việc tuyên bố rằng “ONGC Videsh Ltd đã hoạt động ở Việt Nam khá lâu trong lĩnh vực thăm dò dầu và khí đốt xa bờ và họ (Việt Nam) đang trong quá trình mở rộng hợp tác hơn nữa, với Essar Oil Ltd cũng được trao thầu một lô khí đốt ở Việt Nam. Đây (năng lượng) là một lĩnh vực quan trọng trong quan hệ hợp tác của chúng tôi mong muốn lĩnh vực này phát triển hơn nữa. Hợp tác của chúng tôi với Việt nam hay với bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới luôn tuân thủ mọi luật pháp quốc té, chuẩn mực và quy ước”. Ngoài ra, người phát ngôn Ấn Độ nói rõ rằng Ấn Độ “ủng hộ tự do hàng hải ở Biển Đông và hy vọng các bên tranh chấp sẽ tuân thủ tuyên bố ứng xử ở Biển Đông năm 2002”13. Có vẻ như Trung Quốc đã tuyên bố rằng “Không có vấn đề gì đối với tự do hàng hải và an toàn hàng hải Biển Đông. Các quốc gia trong và ngoài khu vực đều được hưởng lợi”14.
Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã bác bỏ chủ quyền của Trung Quốc đối với Lô 127 và 128 và nhận xét rằng “không có cơ sở pháp lý và do vậy không có hiệu lực”; ngoài ra, “Việt Nam nhắc lại rằng các dự án hợp tác về dầu khí giữa Việt Nam và các đối tác nước ngoài, bao gồm cả dự án ở Lô 127 và 128, nằm bên trong vùng đặc quyền kinh tế [EEZs] và thềm lục địa của Việt Nam và hoàn toàn phụ thuộc chủ quyền của Việt Nam… phù hợp với Công ước Luật Biển của Liên Hiệp Quốc 1982 (UNCLOS) và các thông lệ quốc tế, cũng như các hiệp định đa phương và song phương mà Việt Nam tham gia”15. Tuy nhiên, sẽ có ích khi chỉ ra rằng Lô 127 và 128 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam nhưng cũng lấn vào không gian biển được đánh dấu bởi ‘đường chín đoạn’ hay ‘đường chữ U’ hay bản đồ chín khúc được yêu sách bởi Trung Quốc.
Đáng chú ý, ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch Việt Nam đã nhận xét rằng “Quan điểm của chúng tôi [Việt Nam] là đây chỉ là hoạt động thương mại thuần tuý được thực hiện bởi một công ty. Tranh chấp là việc để hai quốc gia dàn xếp, và sự tham gia của Ấn Độ vào khai thác dầu không mang ý nghĩa là lập trường chính trị ủng hộ một bên nào. Một khi hai quốc gia giải quyết ổn thoả vấn đề Ấn Độ sẽ nói chuyện với quốc gia liên  quan”16.
Cũng có nhiều phản ứng mạnh mẽ từ cộng đồng nghiên cứ chiến lược Trung Quốc. Wu Xinbo (V: Ngô Tâm Bá – nd), giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu Mỹ, đại học Phúc Đán nhấn mạnh rằng “Là một quốc gia Nam Á, Ấn Độ đang tích cực tham gia vào các vấn đề của Đông Á thông qua sự ủng hộ của Mỹ, qua đó đã khích lệ các nước châu Á chống lại Trung Quốc. Mỹ tận dụng mọi cơ hội để chống Trung Quốc và các cuộc diễn tập quân sự chung của Mỹ với Nhật Bản và các nước khác trong khu vực đang diễn ra thường xuyên hơn trong những năm gần đây”17.
Chính sách của Trung Quốc đối với Ấn Độ là dần loại trừ các khả năng hợp tác hải quân Mỹ-Ấn vì Trung Quốc coi hợp tác này có hại đến lợi ích của Trung Quốc. Trong bối  cảnh đó, Trung Quốc cũng phản ứng lại các cuộc diễn tập hải quân bốn bên ở Vịnh… (nguyên gốc – nd) năm 2007 và gửi một thông điệp ngoại giao yêu cầu giải thích của New Delhi, Washington, Tokyo và Canbera nhằm mục đích tổ chức một cuộc họp vào ngày 24-25 tháng 5 ở Manila, Philippine. Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Qin Gang (V: Tần Cương – nd) nhấn mạnh “Trung Quốc tin rằng để tăng cường niềm tin, mở rộng hợp tác vì lợi ích chung, và giữ cục diện cùng thắng-cùng có lợi, cởi mở, bao quát là xu thế toàn cầu”18, ám chỉ đến mối quan hệ liên minh đang phát triển giữa các đối tác dân chủ. Trong bối cảnh đó, Sun Shihai, Phó giám đốc viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương thuộc Viện Khoa học Xã Hội Trung Quốc lưu ý “Cái gọi là liên minh dân chủ không hề tốt cho châu Á… bất kỳ nỗ lực nào hướng đến Trung Quốc như thù địch hoặc kiềm chế Trung Quốc đều sẽ không thành công”.
Trong một bài xã luận của Thời báo Hoàn cầu (Global times), một nhà bình luận Trung Quốc lưu ý rằng “Xã hội Trung Quốc đã tức giận về việc can thiệp của Ấn Độ vào vấn đề Đạt Lai (Lạt Ma)… Ấn Độ nên nhớ rằng hành động của Ấn Độ ở Biển Đông sẽ đẩy Trung Quốc đến giới hạn”19.
Tranh chấp Biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ: Bài học cho Biển Đông
Trừ những năm gần đây giành độc lập từ các cường quốc thực dân phương Tây (Ấn Độ năm 1947 và Trung Quốc năm 1949), Ấn Độ và Trung Quốc đã có một mối quan hệ rất phức tạp. Năm 1951, Trung Quốc sát nhập Tây Tạng dấy lên mối lo ngại ở New Delhi về một cứ điểm quân sự vĩnh viễn của Trung Quốc ở biên giới phía Bắc Ấn Độ. Năm 1962 chiến tranh Trung – Ấn ở khu vực Himalayas và việc chiếm giữ khu vực Aksai Chin đã làm nóng thêm mối quan hệ của hai nước. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với gần 90,000 km2 ở Arunachal Pradesh và đang chiếm giữ gần 43,000 km2 lãnh thổ ở Jammu và Kashimir20. Năm 1963 Pakistan đã nhượng lại hơn 5000 km2 lãnh thổ mà Pakistan chiếm giữ ở Kashimir (POK) cho Trung Quốc, dẫn đến đỉnh điểm là việc xây dựng đường Quốc lộ Hữu nghị Karakoram (Karakoram Friendship Highway).
Cả hai bên đều nỗ lực giảm căng thẳng và đã ký Hiệp định Hoà bình Biên giới (BPTA) vào năm 1993 và Hiệp định về các Phương pháp Xây dựng Lòng tin (Agreement on Confidence Building Measures) trong lĩnh vực quân sự vào năm 1996. Mặc dù quân đội hai bên đã trở về vị trí hậu tuyến của mình, nhưng hiện vẫn có những xâm phạm biên giới gần như dai dẳng từ phía PLA, và cả việc xây dựng cơ sở hạ tâng quân sự, trong đó bao gồm cả triển khai tên lửa chiến lược nhằm hỗ trợ các hoạt động quân sự khi cần thiết. Giữa hai bên không có nhiều niềm tin, và Trung Quốc và Ấn Độ ngày càng lo ngại về mục đích chiến lược của nhau, đặc biệt là về các hoạt động quân sự của mỗi bên ở dãy Himalaya.
Có rất nhiều ví dụ về Trung Quốc công nhận xâm phạm lãnh thổ Ấn Độ. Theo lời Quốc hội đại diện cho Arunachal Pradesh (phía Tây), “Trung Quốc đang xâm lấn lãnh thổ theo cáhc từ từ, chậm rãi. Từng in-sơ một, người Trung Quốc đưa quân sang và mang theo vũ khí”. Ngoài xâm phạm biên giới, xâm phạm không phận và phục kích bất ngờ của binh lính PLA cũng là mối lo lắng của quân đội Ấn Độ. Năm 2008, theo tin đưa, có “270 vụ xâm phạm biên giới và gần 2300 vụ ‘tuần tra biên giới một cách hiếu chiến’ tiến hành bởi binh lính Trung Quốc. Bên cạnh đó, gần 4000 công nhân xây dựng, bao gồm cả kỹ sư chiến trận của PLA đã được triển khai ở khu vực Kashmir do Pakistaan chiếm giữ (POK)21. Mối lo ngại của Ấn Độ cũng gia tăng do “sự hiện diện của Trung Quốc ở Gilgit-Baltistan và các Khu vực phía Bắc tăng đều. Trung Quốc tham gia xây dựng và nâng cấp rất nhiều đường xá, cầu cống và các công trình thuỷ điện. Trung Quốc liên kết với Pakistan, qua POK, củng cố sức mạnh trục Trung Quốc – Pakistan, đối với chúng tôi đã trở thành mối lo ngại an ninh lớn”22.
Trung Quốc đã tài tình đẩy các tranh chấp biên giới với Ấn Độ đến thời điểm tương lai và đã khéo léo khởi xướng hàng loạt các cuộc đối thoại biên giới, theo đó xung đột được giải quyết theo mong muốn của Trung Quốc vào thời gian sau này khi mà Trung Quốc đã xây dựng thành công sức mạnh quân sự, kinh tế, chính trị cần thiết. Cách tiếp cận hiện nay của Trung Quốc đối với Ấn Độ là lấy các mối quan hệ hữu nghị làm trọng tâm.  Quan hệ chính trị của hai nước đã và đang chứng kiến nhiều tiến triển với các cuộc viếng thăm thường xuyên cấp nhà nước và một “Tầm nhìn chung trong thế kỷ 21”, hy vọng sẽ đẩy quan hệ lên thành Đối tác Hợp tác Chiến lược23. Quan hệ kinh tế thương mại đã và đang được cải thiện đáng kể, thương mại song phương năm 2008 đạt được 51 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2007. Trong lĩnh vực quân sự cũng có nhiều bước tiến khả quan, có các diễn tập quân sự chung và Ấn Độ đã tham gia vào cuộc Thao diễn Hải Quân Quốc tế với Trung Quốc tháng 4 năm 2009. Những xu hướng này có khả năng tiếp diễn trong thời gian tới.
Ở cấp độ khác, New Delhi cũng lo ngại về việc Trung Quốc diễn giải về “lợi ích cốt lõi” bao gồm cả Tây Tạng và Đài Loan. Lo ngại rằng Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục tuyên bố “lợi ích cốt lõi” mới liên quan đến các vùng lãnh thổ ở Ấn Độ mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Theo quan sát có thể thấy “thông qua việc tuyên bố Biển Đông là ‘lợi ích dân tộc cốt lõi’ và đưa khu vực này lên ngang tầm với Tây Tạng và Đài Loan, Bắc Kinh đã đưa thêm một yêu sách lãnh thổ. Nếu yêu sách này không bị thách thức, Trung Quốc sẽ dần đạt được sự chấp thuận trên thực tế của quốc tế, giống như những tuyên bố chủ quyền đối với Tây Tạng và Đài Loan trong 6 thập kỷ qua.24 Thực sự cũng đã và đang có những diễn giải thường kỳ trên truyền thông Trung Quốc về Tawang. Ví dụ, năm 2009, trong chuyến thăm của thủ tướng Manmohan Singh đến Arunachal Pradesh, Thời báo Hoàn cầu lưu ý rằng “Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đã thực hiện một bước đi nguy hiểm và mang tính khiêu khíc. Ấn Độ sẽ mắc phải một sai lầm chí tử nếu nước này nhầm lẫn cách thức tiếp cận của Trung Quốc với sự yếu kém. Chính phủ và người dân Trung Quốc coi toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích dân tộc cốt lõi, thứ lợi ích cần phải được bảo vệ bằng mọi giá”25. Hơn nữa, một học giả Trung Quốc thậm chí còn gợi ý rằng ‘Ấn Độ sẽ chỉ cần từ bỏ cao nguyên Aksai Chin ở Ladakh và Tawang, khi đó vấn đề biên giới sẽ được giải quyết’26. Các quan điểm này chắc chắn là bị động chạm bởi một học giả Trung Quốc khác lập luận rằng Trung Quốc nên công bố một danh sách ‘các lợi ích cốt lõi’ theo lộ trình “Vì Trung Quốc đang trở nên mạnh hơn, chúng ta có thể công khai theo lộ trình những lợi ích cốt lõi mà đất nước chúng ta có thể bảo vệ một cách hiệu quả”27.
Báo cáo của Bộ Quốc Phòng Ấn Độ 2008-2009 đã bày tỏ lo ngại về khả năng quân sự của Trung Quốc và nêu quan sát rằng “minh bạch và cởi mở hơn” là điều tối quan trọng, nhưng trong một ghi chú có tính hoà giải cũng cho rằng Ấn Độ sẽ ‘ràng buộc với Trung Quốc, trong khi sử dụng mọi biện pháp cần thiết để  bảo vệ an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền’28. Có một số lo sợ ở Ấn Độ về việc hiện đại hoá quân sự và phát triển cơ sở hạ tầng quân sự của Trung Quốc dọc biên giới, và nếu Trung Quốc mở rộng ra cả vùng lãnh thổ đang bị tranh chấp, như Biển Đông, có thể trở thành mối lo ngại cho Ấn Độ. Trung Quốc coi Ấn Độ là đối thủ tiềm năng và đã vạch ra nhiều biện pháp áp lực nhằm kiềm chế Ấn Độ.
Dó đó, câu hỏi lớn đặt ra là ‘Sự quyết đoán của Trung Quốc ở biển đối lại Ấn Độ có là mối đe doạ không?’ Quan điểm chi phối là Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh của Ấn Độ, và sẽ trở thành mối hiểm hoạ đối với Ấn Độ trong tương lai khi Trung Quốc củng cố tiềm lực sức mạnh của nước này. Về bản chất, các hiểm hoạ an ninh có vẻ đang điều chỉnh mối quan hệ song phương và có khả năng huỷ hoại mối quan hệ phụ thuộc về kinh tế. Tuy nhiên, hai bên cũng vừa mới thiết lập một cuộc “Đối thoại Kinh tế Chiến lược” song phương và mối quan hệ kinh tế Trung – Ấn được cho là đã sẵn sàng để chứng kiến một sự thay đổi đáng kể trong thương mại hai chiều, có thể sẽ tăng gấp đôi lên tới 100 tỷ USD vào năm 2015.
Nhận xét tổng kết
Ấn Độ ủng hộ cục diện cân bằng sức mạnh thân thiện ở châu Á vì hoà bình, ổn định và phát triển kinh tế. Ấn Độ mong muốn hợp tác với các nước trong khu vực để giảm căng thẳng và góp phần vào sự ổn định khu vực, điều kiện rất quan trọng cho sự phát triển của châu Á. Tuy nhiên, cũng có lo sợ rằng trong tương lai Biển Đông có thể sẽ trở thành vũ đài của tranh chấp và điều này có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển kinh tế của Ấn Độ, điều mà gắn bó chặt chẽ với an ninh hàng hải.
Bản chất dân chủ của Ấn Độ, mục đích chiến lược ôn hoà và sự tập trung hiện nay vào việc phát triển kinh tế khiến New Delhi đóng một vai trò quan trọng phù hợp với sức mạnh quốc gia, sức mạnh kinh tế và khả năng chiến lược của nước này. Chính trong bối cảnh này, Ấn Độ có thể đóng vai trò mang tính xây dựng ở Biển Đông.
Chú thích:
1. Rich Chang, “Air Force Plans to Buy Jets That Need Shorter Runway”, Taipei Times, 23 tháng 1, 2006.
2. Thomas Suarez, Early Mapping of Southeast Asia, (Singapore: Periplus Editions (HK) Ltd, 1999), tr. 48.
3. K. Nilakanta Sastri, Cola (Madras: University of Madras, 2000), tr.604; George Coedes, The Indianized States of Southeast Asia, (Hawaii: East West Centre Press, 1968), tr.81.
4. T.S. Subramanian, “The Vietnam Connection”, Frontline, Volume 20 – Issue 01, 18 – 31, tháng 1 năm 2003/
5. “BP’s Vietnam project” Deora to support ONGC bid”, có tại
http://business.rediff.com/report/2010/oct/01/bps-vietnam-project-deora-to-support-ongc-bid.htm truy cập ngày 2 tháng 10, 2010.
6. Look East Policy”, Press Bureau of India, April 20 tháng 4, 2010 có tại
http://www.pib.nic.in/release/release.asp?relid=60558 truy cập 30 tháng 8, 2010
7. “India-ASEAN Summit Commits to Fight Terrorism, Other Crimes”, Net Indian News Network, New Delhi, 25 tháng 10, 2009.
8. “FTA with ASEAN to Eliminate Duties on 80% of  Traded Goods”, Times of India, 14 tháng 8, 2009.
9. “ASEAN-India Dialogue Relations”, có tại http://www.aseanec.org/5738.htm truy cập 12 tháng 5, 2010.
10. Gaurav C Sawant, “China Objects to Indian Presence in South China Sea”, Indian Express, 14 tháng 10, 2010.
11. Anupama Airy and Jayanth Jacob, “China objects to oil hunt, India says back off”, The Hindustan Times, 15 tháng 9,  2011.
12. Jaynth Jacob and Reshma Patil, “Beijing says keep off South China Sea, Delhi unmoved” The Hindustan Times, 16 tháng 9, 2011.
13. Liu Sheng, “India makes waves with South China Sea oil and gas exploration”, Global Times, 17 tháng 9, 2011.
14. “Japan muddies water in South China Sea”, Xinhua, 10 tháng 10, 2011.
15. “China pushes India east… toward Vietnam”, Thanhnien News, 23 tháng 9, 2011.
16. Sandeep Dikshit, “India, China to resume defence dialogue early next year”, The Hindu, 10 tháng 10, 2011.
17. Như trên
18. Sidtharth Srivastava, “India Expands her ‘hard power’ Capabilities as Emerging World Power. U.S. Remains a Key Strategic Partner”, có tại
http://www.worldsecuritynetwork.com/showArticle3.cfm?article_id=14599 truy cập ngày 12 tháng 5, 2010.
19. Jason Miks, “India’s South China Sea Warning”, The Diplomatist, ngày 18 tháng 9, 2011.
20. R.D. Pradhan, Dragon’s Shadow Over Aunachal: A Challenge to India’s Polity (New Delhi: Rupa, 2008), trang 160-161.
21. “4000 Chinese, including PLA men, in PoK: Army chief”, The Times of India, ngày 6 tháng 10 năm 2011.
22. Như trên
23. Zhang Yan, “India-China Relations in One of the Best Periods in History”, The Hindu, ngày 9 tháng 4 năm 2009.
24. Claude Arpi, “China’s Core Interests”, The New Indian Express, ngày 28 tháng 8 năm 2010.
25. Claude Apri, “Why the Chinese are so Upset about Tawang”, có tại http://news.rediff.com/slide-show/2009/oct/20/slide-show-1-why-chinese-are-so-upset-about-tawang.htm truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2010.
26. Như trên
27. Willy Lam, “Hawks vs. Doves: Beijing Debates “Core Interests” and Sino-U.S. Relations”, China Brief, Volume: 10 Issue: 17, ngày 19 tháng 8 năm 2010.
28. “India Wary of Sino-Pak Strategic Link-up in Occupied Kashmir”, Indian Express, ngày 12 tháng 7 năm 2009.

Tuyên bố chung của 7 tổ chức quốc tế gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam

Front Line Defenders

Tuyên bố chung của 7 tổ chức quốc tế

gửi Bộ Ngoại giao Việt Nam

09-11-2011
Gửi tới: Vụ trưởng Hoàng Chí Trung
Vụ các Tổ chức Quốc tế – Bộ Ngoại giao Việt Nam
Đồng kính gửi: Ông Michael Posner – Trợ lý ngoại trưởng Mỹ
Ông Bill Burns  – Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ
Kính thưa ngài Vụ trưởng,
Khi phái đoàn của ngài đến Washington để đối thoại về vấn đề nhân quyền với Mỹ, các tổ chức ký tên dưới đây bày tỏ mối quan ngại sâu sắc về việc thiếu tự do ngôn luận và thông tin ở Việt Nam. Đến nay đã có 20 phóng viên, blogger và những người bảo vệ nhân quyền ở đất nước ngài đã bị bắt giam vì họ dám viết về sự phủ nhận các quyền con người tại Việt Nam.
Trong các cuộc thảo luận với giới chức Mỹ vừa qua, ngài đã đồng ý và ghi nhận rằng, nếu truyền thông không có tự do, độc lập và một xã hội dân sự, sẽ rất khó cho Việt Nam để giải quyết nhiều vấn đề mà quốc gia của ngài đang phải đối mặt. Chúng tôi lấy làm tiếc về việc gia tăng hạn chế báo chí và người sử dụng Internet từ tháng 1 năm 2011 của chính phủ, có thể làm quý ngài thiếu thông tin về tình hình đất nước của mình, vì thế sẽ thiếu sự trang bị để điều hành [đất nước].
Việt Nam vẫn chưa có truyền thông độc lập, các blogger và phóng viên phải chấp nhận rủi ro khi họ đưa tin và viết về thực trạng xã hội dân sự ở Việt Nam. Trước khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2006, quý ngài đã thừa nhận rằng, hồ sơ nhân quyền của một quốc gia liên quan chặt chẽ tới sự phát triển kinh tế của đất nước đó. Chúng tôi đồng ý.
Tháng 8 vừa qua, bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, nói rằng các quyền con người ở Việt Nam được thừa nhận và tôn trọng như trong nội dung Hiến pháp. Chúng tôi đề nghị ngài thẩm tra ba trường hợp sau đây và giải thích lý do tại sao quyền chính trị và dân sự được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam, nhưng trên thực tế không được tôn trọng.
Điều 53 nêu: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”.
Tại sao ông Nguyễn Văn Hải vẫn ở trong tù vì các bài viết của ông ấy, bất chấp nội dung hiến pháp? Lẽ ra ông ấy phải được trả tự do cách đây hơn một năm, nhưng hiện vẫn bị giam giữ mà không có một lời giải thích.
Điều 69 cũng đã nêu: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin và có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.
Hãy giải thích cho chúng tôi biết lý do tại sao nhà báo độc lập Nguyễn Đan Quế, 69 tuổi, bị buộc tội tuyên truyền chống nhà nước và có thể phải ngồi tù do kêu gọi biểu tình, lấy cảm hứng từ phong trào ủng hộ dân chủ ở Trung Đông. Theo Hiến pháp của ngài, lời kêu gọi đó không trái luật.
Điều 71: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp anh ta hoặc cô ta phạm tội quả tang”.
Cuối cùng, hãy giải thích cho chúng tôi biết vì sao các tổ chức của chúng tôi có bằng chứng xác nhận việc tra tấn về thể xác lẫn tinh thần trong các trại giam trên cả nước Việt Nam, vi phạm trực tiếp điều 71.
Có quá nhiều bằng chứng như thế ở khắp nước Việt Nam. Những mâu thuẫn này sẽ hủy hoại các [dự án] đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian dài. Hãy nhìn các doanh nghiệp nước ngoài do dự trước những thủ đoạn trái đạo đức ở Trung Quốc và Iran, khiến họ cân nhắc lại sự hiện diện và chiến lược của mình tại các quốc gia này. Các doanh nghiệp ngày càng ý thức hơn rằng hoạt động ở các nước đàn áp dẫn đến việc bị báo chí chỉ trích và họ ngày càng bị áp lực ngăn cản đầu tư ở những quốc gia này.
Trong thời gian ở Mỹ, truyền thông tự do và đa chiều ở đây cho phép ngài đọc những tin tức và những thông tin phân biệt [đối xử] liên quan đến quyền con người, nhưng [tại Việt Nam] người dân không có lựa chọn nào khác ngoài truyền thông của nhà nước để biết chuyến thăm của ngài như thế nào. Công dân Mỹ có được những thông tin tốt hơn về nhân quyền ở Việt Nam so với người Việt trong nước. Không chú trọng tới tình hình đất nước chắc chắn là không thể bảo vệ tổ quốc, “là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân Việt Nam” (Điều 77, Hiến pháp).
Tóm lại, tự do thông tin có ý nghĩa quan trọng. Đầu tháng 9, không bao lâu sau khi Việt Nam kỷ niệm 66 năm độc lập, chúng tôi rất vui mừng khi biết được rằng, có 10.000 tù nhân được ân xá. Do đó, chúng tôi đề nghị ngài mở rộng lệnh ân xá cho tất cả các tù nhân chính trị, và đặc biệt là những người sau: Nguyễn Tiến Trung, Vũ Đức Trung, Lê Văn Thành, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Hải, tức Blogger “Điếu Cày”, Paulus Lê Sơn, Cù Huy Hà Vũ, Phạm Minh Hoàng, cũng như 13 nhà báo và bloggers đã tham gia xây dựng xã hội dân sự mà ngài đã nhắc đến hồi năm 2008, trong lần viếng thăm Washington vừa qua.
Trân trọng,

Người dịch: Minh Khôi

Lượm tin

- Quốc hội thảo luận về Bộ luật Lao động (sửa đổi): Tăng giờ làm thêm là đi ngược xu hướng thế giới (TT). “Ông Tùng đề nghị nếu muốn tăng thời gian làm thêm lên 360 giờ/năm thì phải quy định thời gian làm việc chính thức là 44 giờ/tuần thay vì 48 giờ/tuần như hiện tại“. BTV: Ở Mỹ có Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công bằng (Fair Labor Standards Act: FLSA), ban hành năm 1937, quy định thời gian làm việc bình thường là 40 tiếng/ tuần (8 tiếng/ ngày, 5 ngày/ tuần). Sau 40 tiếng/ tuần, chủ lao động phải trả thêm tiền lương ngoài giờ (overtime), thường gấp 1,5 lần hoặc gấp đôi mức lương bình thường nếu làm thêm giờ vào ngày lễ. Người VN làm việc 48 giờ/ tuần là đã nhiều hơn 20% thời gian làm việc của tụi Mỹ rồi, trong khi thể trạng dân mình nhỏ hơn tụi Mỹ, chưa kể ăn uống thiếu thốn, môi trường ô nhiễm, nên chắc chắn không khỏe bằng dân Mỹ, mà lại làm việc nhiều giờ hơn. – Tranh luận chuyện nâng tuổi hưu, kéo dài nghỉ thai sản (VNN).
- Ai dám phạt sếp “tội” hút thuốc? (TN). Trình độ lập pháp của ĐBQH ta quá yếu, chưa “sạch nước cản”, phát biểu như dân thường. Quy định 18 tuổi là quy định “khung”, dùng cho rất nhiều luật, nếu muốn sửa thì phải sửa “khung” chứ, sao lại phát biểu linh tinh theo kiểu “thấy đâu nói đó” vậy.

- Tranh luận gay gắt dự án Luật Biểu tình (VnEconomy). BS đã đăng lại bài tương tự của VNN. Nhưng chuyện nóng nghị trường vậy mà VTV1-Thời sự tối nay không thấy đưa.  – Luật biểu tình là không cần thiết? (Bee).  – Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc: Quyền biểu tình: tránh để luật “treo”, sao để Hiến pháp “treo”? (SGTT).  – ‘Luật biểu tình sẽ có tác dụng tích cực cho xã hội’ (VNE).



- Cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ: ‘Tôi thấy ghen tị với VN’ (VNN). GS Trần Hữu Dũng bình luận: “Không ghen tị sao đuợc? Ở Mỹ, bất tài (như ông cựu bộ trưởng này) thì mất chức. Ở Việt Nam, bất tài thì lên chức, có khi lên đến Phó Thủ tướng!“

- Phỏng vấn ông Phạm Huy Sơn, Phó viện trưởng phụ trách Viện Nghiên cứu Hải sản: Chi 180 tỷ để ra khơi là trúng mùa (TP).



- Đường bê tông xuyên vùng lõi di sản Đường Lâm: Chủ đầu tư vi phạm Luật di sản (TT).








- Tướng Thước:“Bộ Y tế hãy lấy T.S Ozon làm bài học đắt giá” (GDVN). “Tướng Thước nói rằng, tôi rất buồn khi biết người ta gọi TS. Khải là lang băm. Vì như vậy là quá nặng nề và thiếu tôn trọng...’Thôi được, cứ cho ông Khải là lang băm đi, nhưng lang băm mà gần dân, cứu được nhiều cháu nhỏ thì còn hơn một vạn ông giáo sư, tiến sĩ ngành y tế chưa biết làm gì để cứu 143 cháu đã chết vì dịch bệnh. Ông lang băm ấy xứng đáng làm thầy, đứng trên một hệ thống y tế bất lực. Ông này hãy về làm Bộ trưởng Bộ Y tế‘.”
- Cánh cò: Vô cảm bắt đầu từ đâu? (RFA’s blog).
- Phỏng vấn ông Nguyễn Tăng Trung, hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai): Vụ voọc tang vật biến thành khỉ: “Anh em kiểm lâm còn lơ tơ mơ”! (TT).  – Tài nguyên mất mà người quản lý cứ… êm ru (Bee).

- Tôi đi chữa bệnh… “thánh nhân” – Kỳ 3: Bùa phép ồn ào, chính quyền không biết (TP).









Thứ Tư, 16 tháng 11, 2011

ĐÀI LOAN DŨNG MÃNH QUAY LẠI NAM HẢI GIÀNH MỘT TUYẾN “CHỦ QUYỀN” CẢNH BÁO MỸ CHIA RẼ QUAN HỆ HAI BỜ

BTV: Bài báo này được dịch từ mạng Sina, Trung Quốc, cho nên những cụm từ như Nam Hải, Nam Sa…chúng tôi xin được giữ nguyên văn, để đúng với “khẩu khí” của người viết.
Mạng Sina

ĐÀI LOAN DŨNG MÃNH QUAY LẠI NAM HẢI GIÀNH MỘT TUYẾN “CHỦ QUYỀN” CẢNH BÁO MỸ CHIA RẼ QUAN HỆ HAI BỜ

Mộc Dương
24-10-2011
Đài Loan dũng mãnh quay lại Nam Hải giành một tuyến “chủ quyền”
Trước cục diện căng thẳng ngày càng nóng lên ở Nam Hải (tức Biển Đông – ND), giới quân sự Đài Loan cho biết sẽ bố trí tên lửa đạn đạo phòng không ở đảo Thái Bình (tức đảo Ba Bình – ND), đảo lớn nhất Nam Sa (tức Trường Sa – ND), đây là lần thứ ba kể từ đầu năm đến nay, giới quân sự Đài Loan nhấn mạnh đến việc trang bị vũ khí quân sự ở quần đảo Nam Sa, ý vị tuyên bố “chủ quyền” trong đó rất sâu đậm, đây cũng là tiếng nói mạnh mẽ nhất của chính quyền Đài Loan được phát ra về “chủ quyền” Nam Hải trải qua các thời kỳ đương chức của thế lực “Phong trào độc lập cho Đài Loan” như Lý Đăng Huy, Trần Thủy Biển… luôn làm yếu đi vấn đề “chủ quyền” của các hải đảo.
Diễn biến ở đảo Thái Bình đi đôi với sự tăng giảm quan hệ hai bờ
Đảo Thái Bình là đảo ngoài khơi lớn nhất của quần đảo Nam Sa, nằm ở giữa phía bắc quần đảo Nam Sa, nằm ở phía đông đường hàng hải tây Nam Hải, có vị trí địa lý hết sức quan trọng, cách đảo Đài Loan khoảng 860 hải lý. Toàn bộ đảo Thái Bình được tạo thành bởi các rạn san hô, nhìn vẻ ngoài, chiều đông tây dài hẹp, địa thế thấp, chiều đông tây dài khoảng 1.360 m, chiều nam bắc rộng khoảng 350m, diện tích khoảng 0,443 km2, gần bằng quy mô hai sân tổ hợp thể thao cỡ lớn.
Điều quan trọng hơn là, đảo Thái Bình là hòn đảo có nguồn nước ngọt duy nhất trong số các đảo ở Nam Sa, sẽ giúp ích cho việc đóng quân lâu dài. Hiện nay, phe quân sự Đài Loan đã cho xây dựng các công sự phòng ngự cầu cảng, bùng binh  và sân bay ở đảo Thái Bình, do “Sở cảnh sát biển” Đài Loan điều binh ra đóng quân.
Trong lịch sử, đảo Thái Bình luôn là trung tâm trong chính sách Nam Hải của chính quyền Đài Loan, về đại thể, lịch trình thăng trầm của nó có thể chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1, Quốc Dân đảng rút về Đài Loan cho đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Ở giai đoạn này, tuyên bố có chủ quyền đối với khu vực Nam Hải là lập trường thống nhất của hai bờ. Vì thế, với tư cách là sự tượng trưng “chủ quyền” ở khu vực Nam Hải, kể từ năm 1956, quân đội Đài Loan đã cho lính hải quân lục chiến hiện diện lâu dài trên đảo Thái Bình.
Giai đoạn 2, giai đoạn chấp chính của “Phong trào độc lập cho Đài Loan”. Ở giai đoạn này, Lý Đăng Huy trước tiên bắt đầu trắng trợn đẩy mạnh lộ trình “Phong trào độc lập cho Đài Loan”, với ý đồ lấy danh nghĩa “Đài Loan Cộng hòa Dân quốc” để thay thế “Trung Hoa Dân quốc”, đồng thời ra sức cổ súy “Đài Bành Kim Mã” (tức Đài Loan, Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ – ND) là toàn bộ “lãnh thổ”, cố làm mờ nhạt đi “chủ quyền” đối với Nam Hải của khu vực Đài Loan. Dưới áp lực của ông ta, quân đội Đài Loan từng đóng quân hàng chục năm trên đảo Thái Bình đã phải rời khỏi, rồi giao cho “Sở cảnh sát biển” đóng quân ở đó.
Khi Trần Thủy Biển lên cầm quyền, lúc đầu có cách ứng xử tiêu cực về vấn đề Nam Hải, vào thời kỳ cuối lại có ý đồ mượn vấn đề Nam Hải để mưu cầu “độc lập” về chính trị cho Đài Loan. Năm 2006, chính quyền Đài Loan đã cho xây dựng một con đường dài khoảng 1.200 m trên đảo Thái Bình, để máy bay chiến đấu có thể cất hạ cánh. Về mặt này là để phối hợp với Trần Thủy Biển đối kháng lại ý tưởng “quyết chiến với bên ngoài” của đại lục, các đảo vốn bị “vứt bỏ chiến lược” nhờ đó mà nhảy một phát lên thành bàn đạp thực thi tác chiến “tiên chế, phản chế” (tiếng Hán gọi tắt là tác chiến “lưỡng chế”, hành động tấn công chủ yếu trong tác chiến phòng ngự của quân đội Đài Loan, là lối “hù dọa hữu hiệu”; tác chiến “tiên chế” là tấn công áp chế trước; tác chiến “phản chế” là phản kích lại đối phương – ND); mặt khác là để vươn rộng cục diện căng thẳng hai bờ tới tận vùng biển Nam Hải, mưu đồ làm tăng thêm sự chú ý của quốc tế. Tháng 2 năm 2008, Trần Thủy Biển tới đảo Thái Bình, công bố “Sáng kiến Nam Hải”, mưu đồ thúc đẩy Đài Loan tham gia vào khuôn khổ hợp tác đa phương về vấn đề Nam Hải với tư cách một “quốc gia có chủ quyền”.
Giai đoạn 3, từ ngày Mã Anh Cửu cầm quyền đến nay. Sau khi Mã Anh Cửu nhậm chức, lập trường của chính quyền Đài Loan về vấn đề Nam Hải cũng có phần điều chỉnh đôi chút, liên tục nhắc đi nhắc lại lập trường của “Trung Hoa Dân quốc” về “chủ quyền” cùng việc đồng khai thác ở Nam Hải. Từ đầu năm ngoái đến nay, Philippin ngang nhiên xếp một phần các đảo ở Nam Sa cùng đảo Hoàng Nham (tiếng Anh: Scarborough Shoal – ND) vào các đảo thuộc chủ quyền của mình, khi Thủ tướng Malaysia Abdullah Ahmad Badawi lúc đương nhiệm đã đặt chân lên Projectile Reef thuộc quần đảo Nam Sa tuyên bố “chủ quyền”, chính quyền Mã Anh Cửu đã nhiều lần tỏ ý phản đối. Chính quyền Mã Anh Cửu có ý định xây dựng đảo Thái Bình thành “Công viên hòa bình quốc tế” mang màu sắc du lịch sinh thái. Tháng 3 năm nay, Khâu Văn Ngạn, Phó giám đốc “Sở bảo vệ môi trường” Đài Loan cho biết, “Công viên hòa bình quốc tế” có thể do cả hai bờ hợp tác khai thác. Điều này cũng sẽ khiến cho đảo Thái Bình mang một ý nghĩa đặc biệt mới mẻ về quan hệ hai bờ.
Cùng với sự can thiệp ngày càng sâu của khu vực Đài Loan vào vấn đề Nam Hải, các quốc gia Nam Hải luôn mang lòng cảnh giác cao độ với Đài Loan, cùng văn hóa cùng giống nòi với đại lục, cuối cùng đã không thể ngồi yên. Cách đây không lâu, giới truyền thông Hồng Kông cho biết, chuyên gia Mỹ tiết lộ, Việt Nam đang sửa soạn binh đao chuẩn bị chiếm đoạt đảo Thái Bình. Nguồn tin này cho biết, quân đội Đài Loan đã bỏ mặc hòn đảo này, thực lực quân sự Đài Loan ở đảo Thái Bình hiện thời về cơ bản sẽ không có cách gì để thực thi phòng ngự hữu hiệu, Việt Nam có đủ khả năng chiếm gọn hòn đảo mang ý nghĩa chiến lược quan trọng này. Về chuyện này, một bản báo cáo đánh giá do “Bộ quốc phòng” Đài Loan đưa ra vào tháng 7 năm nay cũng đã cảnh cáo, trong trò chơi Nam Hải ngày càng đầy kịch tính này, lính cảnh sát biển Đài Loan được bố trí trên đảo Thái Bình đã ở vào thế bất lợi.
Nói cho khách quan thì thời gian gần đây, xác suất động binh đối với đảo Thái Bình của Việt Nam là hết sức nhỏ. Bởi vì điều này có nghĩa là Việt Nam đã ngang nhiên hủy bỏ bản Hiệp định về các vấn đề trên biển vừa đạt được với Trung Quốc đại lục, ngoài ra, đối với Mỹ, cái lối tự tàn hại lẫn nhau này giữa các đồng minh là điều cấm kỵ tuyệt đối.
Không cho phép đánh giá thấp thực lực đóng quân trên đảo của quân đội Đài Loan
Trong bản báo cáo nội bộ nói trên của “Bộ quốc phòng” Đài Loan có nêu rõ, hiện nay Việt Nam đã bố trí 2,7 vạn  lính thủy quân lục chiến ở khu vực quần đảo Nam Sa, Philippines có 8.000 quân, Trong vòng vài ba năm tới, số máy bay chiến đấu Su-27K và Su-30MK2 của không quân Việt Nam sẽ được bổ sung lên tới 24 chiếc, thậm chí tới 36 chiếc. Hai loại máy bay chiến đấu này có bán kính tác chiến lần lượt là 1.500 km và 3.000 km, đảo Đông Sa và đảo Thái Bình hoàn toàn nằm trong tầm công kích, hơn nữa nếu đảo Thái Bình có xảy ra chuyện gì, thì hạm đội chi viện của hải quân Đài Loan sẽ phải đối mặt với sự uy hiếp nặng nề của không quân Việt Nam.
Trong khi đó, sự bố trí binh lực trên hai hòn đảo trên của  chính quyền Đài Loan lại cực kì thảm hại. Hiện thời đã bố trí ở đó loại pháo 20mm với tầm bắn hữu hiệu chỉ là 1,5km, ngay cả khi đang có kế hoạch thay thế bằng pháo 40mm, thì tầm bắn hữu hiệu đối không cũng chỉ là 2,5km, lại chỉ có thể dùng để “nhắm để mà ngắm”, chứ không thể có cách gì tạo nên sự uy hiếp đối với máy bay chiến đấu của Việt Nam.
Khi xem xét vấn đề này, “Bộ quốc phòng” Đài Loan đã ký một kế hoạch về việc bố trí hệ thống tên lửa đạn đạo tiên tiến ở khu vực Nam Hải. Kế hoạch này đòi hỏi phải trang bị cho lính cảnh sát biển ở đảo Thái Bình và đảo Đông Sa loại tên lửa “Cây sồi nhỏ” (tiếng Anh: “Small oak tree” missile – ND) hoặc tên lửa đất đối không “Thiên kiếm-1” (tiếng Anh: “Sky Sword 1″ missile – ND), “Bộ trưởng Bộ quốc phòng” Đài Loan Cao Hoa Trụ cho biết thêm, loại tên lửa sau có khả năng phù hợp hơn.
Trước đây, loại tên lửa “Cây sồi nhỏ” do Mỹ chế tạo đã được bố trí tới tận đảo Đông Sa và đảo Thái Bình ngay từ thời Tưởng Kinh Quốc, song đã được thu về từ sau năm 2001. Theo nguồn tin này, lúc đầu động tác thu tên lửa về, ngoài việc cân nhắc khía cạnh chính trị ra, chủ yếu là do loại tên lửa này là loại vũ khí tinh xảo cần nhiều người thao tác, nếu bố trí ngoài hải đảo xa xôi sẽ bị sóng biển ăn mòn, bị phơi cháy giữa nắng, việc bảo dưỡng sửa chữa và huấn luyện nhân viên thao tác đều tương đối khó khăn, với quy mô chỉ có 105 lính đóng quân trên đảo, không những không thể phát huy hữu hiệu sức chiến đấu bảo vệ bầu trời, trái lại lại còn trở thành gánh nặng.
“Thiên kiếm-1” là loại tên lửa đất đối không tầm trung và tầm ngắn do khu vực Đài Loan tự nghiên cứu chế tạo, cùng với các trang thiết bị mặt đất có liên quan khác như giàn bệ phóng… cấu thành hệ thống tên lửa phòng không dã chiến “Tiệp linh” của Đài Loan. Mỗi giàn bệ phóng có thể tải được 4 tên lửa, máy phóng tên lửa có thể xoay được 360º, tầm tiếp chiến rộng, hơn nữa lại có thể phóng được cả ngay trong khi lái. Nó được dẫn hướng bằng nguồn nhiệt hồng ngoại, là loại vũ khí thích hợp để đối phó với các loại máy bay tầm thấp. Do máy bay công kích Su-22 của Việt Nam, máy bay chống bạo động OV-10 của Philippines là những loại máy bay chủ yếu thường xuyên áp sát Đài Loan để chiếm các đảo san hô, nên cử chỉ này của giới quân sự Đài Loan có thể gọi là phóng tên có đích.
Trên thực tế, đây đã là lần thứ ba kể từ đầu năm nay, giới quân sự Đài Loan nhấn mạnh đến việc làm mạnh thêm sức chiến đấu đóng quân. Ngay từ tháng 6, “Sở cảnh sát biển” Đài Loan đã bắt đầu điều những đội viên cảnh sát biển đã được huấn luyện trong đội ngũ thủy quân lục chiến thuần thục ra đảo. Sau đó, các lãnh đạo cấp cao của quân đội Đài Loan còn cho biết, “Bộ quốc phòng” Đài Loan quyết định cung cấp các tàu tên lửa đẳng cấp “Hải âu”, xe tăng M41A3… để trang bị cho lính đóng quân ở đảo Thái Bình thuộc “Sở cảnh sát biển” sử dụng. Tàu tên lửa đẳng cấp “Hải âu” có gắn tên lửa bắn tàu chiến “Hùng Phong thế hệ 1”, với tầm bắn tới 40 km, có khả năng uy hiếp tương đối lớn đối với quy mô hải quân chiến hạm mặt nước cỡ lớn nhất nhưng lại chỉ có tàu khu trục hiện có ở các nước xung quanh Nam Hải. Ngoài ra, Cao Hoa Trụ còn cam đoan, “Sở cảnh sát biển” có thể yêu cầu “Bộ quốc phòng” trang bị bất cứ loại vũ khí nghĩa vụ nào. Mức độ ủng hộ này là chưa từng có.
Cảnh giác Mỹ chia rẽ thêm quan hệ hai bờ
Những động thái tích cực được thể hiện trong vấn đề Nam Hải của khu vực Đài Loan được cho là đã nhận được sự chấp thuận từ phía đại lục. Cuối tháng 6 năm nay, Dương Nghị, phát ngôn viên Văn phòng Nội vụ Đài Loan, khi đáp lại những chuyển động từ phía Đài Loan đã từng nhấn mạnh: “Bảo vệ chủ quyền các đảo ở Nam Hải cùng các vùng biển phụ cận là trách nhiệm chung của đồng bào hai bờ”.
Song cho đến nay, đối với vấn đề Nam Hải, những đòi hỏi về lợi ích chung của hai bờ là rất hạn chế. Mặc dù lập trường và thái độ mà hai bờ vẫn giữ đối với vấn đề Nam Hải về đại thể là giống nhau, song lại cách nhau rất xa trên thực chất. Tuyên bố của Đài Loan về “chủ quyền” đối với các khu vực liên quan ở Nam Hải, ngoài chuyện bảo vệ lợi ích đã có của Đài Loan ở Nam Hải ra, còn có cả ý đồ nhấn mạnh trước cộng đồng quốc tế là mình cũng là “thực thể chủ quyền”.
Vì thế, cộng đồng thế giới thiên về phán đoán rằng khả năng phòng thủ liên hợp công khai giữa hai bờ là rất ít, song lại tồn tại khả năng phối hợp theo thỏa thuận ngầm, bằng việc áp dụng các phương thức bí mật mà tạo dựng nên một biểu tượng liên hợp ngẫu nhiên. Chẳng hạn, cả hai bên đều điều tàu quân sự đến để tăng cường phòng thủ trên các đảo, đều có các động thái tương tự trong cùng một thời điểm hoặc áp dụng một hành động nào đó với cùng một đối thủ. Điều này đã có tiền lệ trong lịch sử. Tờ “Đại công báo” của Hồng Kông cho biết, tháng 3 năm 1988, tàu hải quân của đại lục đã tiến hành phản kích hải quân Việt Nam xâm chiếm bãi đá Gạc Ma ở vùng biển bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Nam Sa, giải phóng quân từng dừng chân trên đảo Thái Bình một tuần để bổ sung lương thực và nước uống.
Kể từ khi Mỹ đưa ra Chiến lược trở lại Châu Á, tiêu điểm của Chiến lược trở lại Châu Á chính là Trung Quốc, mà cục diện Nam Hải là tên sát thủ ngăn chặn Trung Quốc giành được sự phát triển tài nguyên từ bên ngoài của Mỹ. Vì thế, điều e ngại lớn nhất trước viễn cảnh liên hợp của “Đại Trung Hoa” là chắc chắn đã có sự liên minh về vấn đề Nam Hải do Mỹ đứng đầu. Như mọi người đã biết, sang năm Đài Loan sẽ bước vào vòng tổng tuyển cử mới, bắt đầu từ năm nay, Đảng Dân chủ và Đảng Dân tiến sẽ liên tục triển khai các trò chơi xoay quanh chính sách hai bờ. Mà cương lĩnh tranh cử của Thái Anh Văn, ứng cử viên Đảng Dân tiến đã nêu rõ, kiên quyết không thừa nhận Đồng thuận 1992 (1992 Consensus), mà xúc tiến “Đồng thuận Đài Hải”.
Đây hiển nhiên là sự đón ý đồ của Mỹ, lợi dụng vấn đề Đài Loan để gây trở ngại cho sự phát triển của Trung Quốc. Cho nên, trong thời gian Thái Anh Văn thăm Mỹ, tình hình bán vũ khí cho Đài Loan của Mỹ sau một thời gian trầm lắng bỗng xuất hiện sự đột phá quan trọng, kim ngạch giao dịch với gần 60 tỉ đôla Mỹ đã vượt xa so với các mức bán vũ khí trong những năm gần đây. Đằng sau sự việc không bình thường này, người ta dễ dàng nhận ra ý đồ sâu xa của Mỹ: Dùng việc bán vũ khí cho Đài Loan đề kích động “Phong trào độc lập cho Đài Loan”, chia rẽ lòng tin chính trị giữa hai bờ. Vậy thì, một khi Nam Hải xuất hiện cục diện căng thẳng, chính quyền Đài Loan rất có thể sẽ chỉ đóng vai người xem, thậm chí còn “tăng cường phòng thủ” với đại lục theo sự xúi giục của Mỹ, và chi phí chính trị, quân sự mà Trung Quốc phải dùng cho việc xử lý vấn đề Nam Hải sẽ bị đội lên rất cao.
Quốc Trung dịch từ Mạng Sina

Quanh việc chia lại cấu trúc địa chính trị Thái Bình Dương


-Tác giả: C. RAJA MOHAN
Khi Đông Á đang nỗ lực đối phó những thách thức an ninh biển đang gia tăng ở khu vực Tây Thái Bình Dương – bao gồm thay đổi cán cân quyền lực, căng thẳng tranh chấp trên biển và bất đồng cơ bản về cách giải thích Luật Biển – có ba câu chuyện mới sẽ góp phần xác định lại cấu trúc địa chính trị khu vực.
Câu chuyện thứ nhất là sự công nhận ngày càng rộng rãi về việc các vấn đề an ninh biển ở Đông Á phải được giải quyết trong khuôn khổ rộng hơn của khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Thứ hai là sự suy yếu của Mỹ, nước bảo đảm an ninh chính ở Ấn Độ Dương và Thái Bình dương trong suốt nhiều thập niên qua. Thứ ba là sự thay đổi trong định hướng biển của Ấn Độ, từ một tác nhân đơn lẻ sang một đối tác sẵn sàng xây dựng liên minh trên biển.

Kết hợp ba luồng xu hướng này mở ra không gian cho Delhi và Canberra tích cực tham vấn nhau hơn về các vấn đề trên biển và xác lập khuôn khổ hợp tác an ninh trong các vùng biển đang biến động không ngừng ở châu Á.
Theo truyền thống, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương luôn được coi là hai thế giới khác nhau và độc lập với nhau. Những diễn biến gần đây bắt đầu củng cố quan điểm thống nhất hơn về Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Tăng trưởng cao của Đông Á đã tạo ra những mối liên kết kinh tế vững chắc hơn với khu vực Tây Á và với châu Phi giàu tài nguyên.
Không giống như nhiều nước Đông Á phải phụ thuộc vào Mỹ để duy trì trật tự tại vùng biển sâu của châu Á, Trung Quốc đang xây dựng một lực lượng hải quân có tiềm lực và độc lập để đảm bảo các lợi ích mới của mình ở Ấn Độ Dương.
Bắc Kinh cũng đang phát triển các hành lang vận tải biển và đường ống dẫn dầu từ Ấn Độ Dương qua Tây và Tây Nam Trung Quốc. Nước này cũng tích cực xây dựng các cơ sở hạ tầng hàng hải chiến lược ở Ấn Độ Dương.
Mặt khác, khi quan hệ thương mại và kinh tế của Ấn Độ với Đông Á có trọng lượng lớn hơn, chính sách "Hướng Đông" của New Delhi cũng đã bao gồm một quy mô hải quân lớn hơn.
Những khác biệt rõ rệt trước đây giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương sau đó cũng đang bắt đầu mờ dần. Trong khi Ấn Độ - Thái Bình Dương luôn có những tiểu vùng nhỏ, mỗi vùng lại có những vấn đề an ninh đặc trưng, thì sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ đã mang đến một đặc điểm địa chính trị rõ ràng.
Nếu như sự trỗi dậy của các cường quốc mới ở Đông Á là một phần trong quá trình chuyển dịch cơ cấu đang diễn ra trong hệ thống quốc tế, thì sự suy giảm tương đối nhanh của Mỹ trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và tài chính đã lan rộng ra cả thế giới từ năm 2007 cũng vậy.
Những nghi ngờ về tính bền vững và độ tin cậy của các liên minh với Mỹ ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương vì thế cũng không tránh khỏi nảy sinh. Giờ đây Washington đang phải đối mặt với những thách thức thực sự trong việc đảm bảo hài hòa các nguồn lực tài chính và quân sự đang dần eo hẹp với các cam kết ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Chắc chắn, Mỹ sẽ vẫn là một thế lực quân sự hùng mạnh nhất ở châu Á trong thời gian dài tới. Tuy nhiên, sự hiện diện từ sớm của Mỹ ở Ấn Độ - Thái Bình Dương sẽ gặp khó khăn do hoạt động chạy đua tăng cường tiềm lực quân sự hiện đại trong khu vực và việc theo đuổi chiến lược hai mặt của các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là Trung Quốc và Iran.
Washington vẫn liên tục khẳng định sẽ vẫn duy trì vai trò "cường quốc khu vực" ở Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, và chính quyền Obama đã hiện thực hóa các tuyên bố đó bằng việc ra sức tập trung các hoạt động ngoại giao với châu Á trong hai năm qua.
Mỹ đang tái bố trí lại lực lượng quân đội ở Ấn Độ - Thái Bình Dương để nâng cao tính hiệu quả, điều chỉnh lại học thuyết quân sự nhằm đối phó với các thách thức mới xuất phát từ thực tế như việc từ chối tiếp nhận các căn cứ quân sự Mỹ của một số nước hay sắp xếp lại các quan hệ đối tác an ninh.
Củng cố các liên minh truyền thống với Nhật bản và Australia và xây dựng quan hệ đối tác an ninh mới với các nước như Ấn Độ cũng trở thành trọng tâm trong chiến lược mới của Mỹ, như một biện pháp để chia sẻ gánh nặng. Chuyển hướng chiến lược biển của Delhi một mở ra một nền tảng hoàn hảo cho cách tiếp cận mới này của Mỹ với Ấn Độ - Thái Bình Dương.
Ấn Độ nằm ở vị trí trung tâm trong chiến lược an ninh của Anh ở Ấn Độ Dương từ cuối thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 20. Ấn Độ cung cấp các nguồn lực vô cùng cần thiết để duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương trong thời cai trị của Anh.
Sau khi giành độc lập và phân chia lãnh thổ năm 1947 (thành Liên bang Ấn Độ và Lãnh thổ tự trị Pakistan), Ấn Độ phải tập trung bảo vệ biên giới đất liền mới với Pakistan và Trung Quốc. Chính sách kinh tế hướng nội và chính sách đối ngoại không liên kết các khiến cho vấn đề biển không được coi trọng tại Ấn Độ.
Trong chiến tranh lạnh, Ấn Độ theo chủ trương không can thiệp quân sự và yêu cầu các cường quốc rời khỏi Ấn Độ Dương và để cho các quốc gia ven biển đang phát triển của khu vực tự quyết định hệ thống an ninh cho mình.
Cách tiếp cận thiếu thực tế của Delhi ở Ấn Độ Dương bắt đầu thay đổi từ những năm 1990 khi Ấn Độ mở cửa nền kinh tế và nối lại liên lạc với các nước láng giềng Ấn Độ Dương và các cường quốc hải quân lớn trên thế giới.
Khi Ấn Độ đã trở thành một quốc gia thương mại, như Trung Quốc trước đó, chính sách an ninh quốc gia của Ấn Độ hiển nhiên cũng sẽ đặt trọng tâm vào an ninh biển. Nhập khẩu năng lượng và tài nguyên khoáng sản, cũng như xuất khẩu hàng hóa ra các thị trường rải rác trên thế giới của Ấn Độ giờ đây phụ thuộc rất lớn vào vận tại biển, nghĩa là Ấn Độ chắc chắn cũng sẽ phải tính đến việc phát triển lực lượng hải quân.
Quan trọng không kém là sự thay đổi thái độ của Ấn Độ đối với vấn đề hợp tác quốc tế về biển. Kết thúc chiến tranh lạnh, Delhi sử từ bỏ chính sách không can thiệp quân sự và chấp nhận sự hiện diện của quân đội nước ngoài ở Ấn Độ Dương. Ấn Độ bắt đầu nhấn mạnh vấn đề can dự hải quân và hợp tác trên biển với tất cả các cường quốc, nhất là Mỹ. Ấn Độ cũng chủ trương mở rộng các liên kết hàng hải đã có từ với các quốc đảo nhỏ ở Ấn Độ Dương và hợp tác với các tác nhân lớn trong khu vực dựa trên khuôn khổ song phương và đa phương.
Từ bỏ quan điểm truyền thống phản đối hành động quân sự bên ngoài khuôn khổ Liên hợp quốc, Ấn Độ đã bắt đầu tham gia vào các chiến dịch chung, đáng kể nhất là chiến dịch cứu trợ sau trận sóng thần ở Ấn Độ Dương cuối năm 2004.
Ấn Độ còn từng bước tăng cường các cuộc tập trận hải quân đa bên, với sự tham gia của Mỹ và các đồng minh châu Á. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa Ấn Độ đã chấm dứt mục tiêu tự chủ chiến lược hay từ bỏ nguyên tắc chính sách đối ngoại độc lập.
Delhi đã đưa vào những lý thuyết cũ ấy một cách nhìn thực tế hơn, tập trung phát triển cách tiếp cận mang tính hợp tác về vấn đề an ninh trên biển tại Ấn Độ - Thái Bình Dương. Với tiềm lực kinh tế và hải quân ngày một vững chắc, Ấn Độ đã tự tin hơn trong tư duy về không gian đại dương xung quanh mình.
Không gian an ninh của Ấn Độ trước đây được xác định trong phạm vi từ vịnh Eden đến Malacca. Hiện tại, khu vực nằm trong an ninh quốc gia của Ấn Độ không còn gói gọn từ eo biển Malacca trở lại nữa mà đã mở rộng sang cả Biển Đông.
Quyết tâm làm sâu sắc quan hệ hợp tác hải quân với Việt Nam của Delhi, cam kết tiến hành thăm dò dầu khí ở vùng biển của Việt Nam bất chấp sự phản đối của Trung Quốc, ủng hộ mạnh mẽ giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông, và nhấn mạnh tự do đi lại trên Tây Thái Bình Dương đã thu hút nhiều sự quan tâm ở Đông Á. Lợi ích mới của Ấn Độ ở Thái Bình Dương cũng giống như lợi ích của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương. Ấn Độ không muốn đối đầu với Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương hay cản trở nước này hiện diện trên Ấn Độ Dương. Ấn Độ tìm kiếm một trật tự trên Ấn Độ - Thái Bình Dương để làm sao các không gian chung trên biển ở châu Á luôn mở cửa và có thể tiếp cận cho tất cả các bên và không bên nào được lấy làm lãnh thổ dù dưới danh nghĩa chủ nghĩa dân tộc hay yêu sách lịch sử.
Ấn Độ và Australia đều là hai quốc gia thương mại, kế thừa truyền thống Anglo-Saxon về hệ thống Thông luật và định hướng biển. Hai nước cũng chia sẻ nhiều giá trị chung của chủ nghĩa tư bản doanh nghiệp và đa nguyên chính trị.
Không giống như trong Chiến tranh Lạnh, khi Delhi và Canberra còn bất đồng, thường rất gay gắt, về Ấn Độ Dương, giờ đây họ có chung lợi ích trong việc củng cố ổn định và an ninh trên Ấn Độ - Thái Bình Dương, hài hòa với các nước khác.
Ấn Độ và Australia đã tuyên bố mong muốn triển hợp tác an ninh trên biển. Tuy nhiên, sự biến đổi mau lẹ trong thực tiễn địa chính trị ở Ấn Độ  - Thái Bình Dương đòi hỏi Delhi và Canberra phải nhanh chóng biến tư duy ấy thành những hành động chính sách quyết định.
Ấn Độ và Australia phải thiết lập cơ chế tham vấn và phối hợp chung trong các diễn đàn hiện nay như Tổ chức Hợp tác khu vực vành đai Ấn Độ Dương (IOR-ARC) và Hội nghị Chuyên đề Hải quân ở Ấn Độ Dương (IONS).
Tổ chức IOR-ARC, với sự tham gia của 18 quốc gia ven biển, có mục tiêu củng cố sâu sắc quan hệ hợp tác kinh tế trong khu vực Ấn Độ Dương, nhưng còn rất yếu ớt. Delhi, hiện đang giữ chức chủ tịch, và Canberra, chủ tịch luân phiên tiếp theo, sẽ có cơ hội đưa thêm sức sống và quyết tâm vào IOR-ARC trong những năm tới đây.
IONS là sáng kiến gần đây của Ấn Độ, tập hợp các Tham mưu trưởng Hải quân các quốc gia ven biển để trao đổi và hợp tác chuyên môn về các vấn đề liên quan tới an ninh trên biển.
Cuối cùng, khu vực Ấn Độ Dương quá rộng lớn và đa dạng nên không thể tự đặt mình vào một khuôn khổ thể chế bao quát toàn bộ duy nhất nhất trong tương lai gần. Thay vì cố gắng thiết kế cấu trúc cho Ấn Độ Dương, khu vực có thể xây dựng dựa trên ý tưởng của Bộ trưởng Ngoại giao Australia Kevin Rudd về "tiến bộ từng bước" thông qua "hợp tác chức năng".
Đóng vai trò trung tâm trong việc tạo dựng một bản sắc toàn khu vực ở Ấn Độ Dương là sự hợp tác tích cực và lâu dài giữa Ấn Độ, Australia và các quốc gia ven biển cùng chung lý tưởng khác.

Đình  Ngân dịch từ The Asialink Essays 2011