Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Ai kiềm hãm dân chủ? - Ðảng tan rã vì những thế lưỡng nan - Thái lan: Sai lầm và hậu quả của chính sách thu mua lúa gạo

Facebook và nỗi ám ảnh của nhà cầm quyền


Trong lúc ra sức dối trá, trơ trẽn lấp liếm, ngụy biện cho chính sách hạn chế tự do ngôn luận, kiểm duyệt thông tin trên Internet tại Hội nghị kiểm điểm phổ quát về nhân quyền (UPR) tại Genève, thì báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngày 6 tháng 2 năm 2014, đăng bài "Sự bùng nổ của Facebook và một số vấn đề đặt ra" của tác giả Nguyễn Hải Đăng.

Đây là bài nối tiếp một số các bài khác đã từng được đăng tải trên các tờ báo của hệ thống, như là một cách thăm dò phản ứng dư luận trước khi hành động: ngăn chặn hoàn toàn trang mạng xã hội này.

Sự phát triển của Facebook tại thị trường Việt Nam gia tăng với tốc độ mạnh mẽ. Mới đầu năm 2013, số lượng người sử dụng mới khoảng 5,43 triệu người. Đến hết năm 2013 đã nhảy lên mức 19,6 triệu, một con số mơ ước của tất cả các trang mạng dịch vụ internet.

Trước đó, bài "Cần phải chấm dứt ngay hoạt động của facebook tại Việt Nam" nhân danh một độc giả, tờ Giáo dục Việt Nam ngày 16 tháng 11, 2012, đã làm một cuộc thăm dò không chính thức. Cuộc thăm dò đã cho thấy kết quả, qua các ý kiến bình luận, môt sự cấm đoán, ngăn chặn không phải là đối sách.

Ngày 25 tháng 11, 2012 tờ Quân đội Nhân dân đăng bài "Làm chủ mạng xã hội để tập hợp và giáo dục thanh niên". Bài báo nhìn nhận tác dụng mạnh mẽ và ảnh hưởng sâu sắc của mặt trận thông tin mà Facebook là một "chiến trường" tập hợp được đa số giới trẻ, năng động và cập nhật các diễn biến thời sự nhanh chóng nhất.

Không đề cập đến việc ngăn chặn mà có ý định dùng phương pháp lấy gậy ông đập lưng ông, bài báo viết:

"Dùng mạng xã hội đã trở thành nhu cầu thực sự của giới trẻ nhưng mạng xã hội lại phát triển tự phát, thiếu định hướng và nguy cơ “Diễn biến hòa bình” tác động đối với giới trẻ từ đây cũng rất lớn. Các Mác từng nói: Vũ khí của sự phê phán không thể thay thế được sự phê phán bằng vũ khí. Đã đến lúc, cuộc đấu tranh phòng chống “Diễn biến hòa bình".

Ý định này đã được áp dụng bằng huy động hàng ngàn dư luận viên vào mục đích tuyên truyền, phản biện, khiêu khích, làm nhiễu loạn thông tin.

Nhưng chỉ sau một thời gian rất ngắn, các dư luận viên đa phần với những nickname giả đã chẳng phát huy được tác dụng. Họ hiện rõ chân tướng "ăn hại đái nát" của những tên "côn đồ" trên mặt trận văn hoá, lý luận cực kỳ yếu kém, trống vắng kiến thức cơ bản, thay cho việc đối thoại nghiêm túc thì sử dụng từ ngữ dung tục, hoặc lẩn rất nhanh khi bức bí. Đội ngũ 50 ngàn dư luận viên ăn lương, làm "chiến sĩ" bàn phím trở nên vô tích sự. Người sử dụng Internet vẫn muốn nghe những gì thích nghe và bày tỏ những gì suy nghĩ, thông qua thông tin ngoài hệ thống.

Không đạt kết quả trong việc sử dụng đội ngũ dư luận viên, ý tưởng bỏ ra 200 triệu USD xây dựng một mạng xã hội khác nhằm lôi kéo thanh niên cũng chẳng thành sự thật, trong khi số lượng người sử dụng Facebook tăng nhanh chóng mặt. Facebook trở thành nỗi ám ảnh của nhà cầm quyền.

Vòng vo tam quốc nêu lên những cái hại và hạn chế trong việc sử dụng Facebook vốn chẳng là điều gì đặc biệt, tờ báo Nhân Dân đặt dấu hỏi "với sự phát triển chưa có dấu hiệu dừng lại, Facebook có phải là mạng xã hội hữu ích thật sự hay chỉ là "mốt" mới của một số người Việt Nam, nhất là giới trẻ?". Nhưng cuối cùng bài báo cũng đã không giấu nổi điều chính yếu. Nhà cầm quyền lo sợ "các trang Facebook của các thế lực thù địch, các tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam lập ra để vu cáo, vu khống, bình luận xuyên tạc về Việt Nam".

Trong mùa xuân Ả Rập, Facebook đã góp mặt, kết nối quần chúng, tạo nên cuộc cách mạng lật đổ các chế độ độc tài, nhưng xây dựng một xã hội dân chủ lệ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Tình hình bất ổn ở các nước Bắc Phi không thể đổ vấy, cho rằng, "tuyên truyền về tự do, bình đẳng" của Facebook đã thất bại. Đây là lối lý luận cùn.

Nhà cầm quyền thực sự sẽ ngăn chặn Facebook? Trong thực tế, họ vẫn duy trì, nhưng tìm cách hạn chế truy cập. Bằng chứng là muốn truy cập Facebook người sử dụng vẫn phải dùng chương trình vượt tường lửa, tuy nhiên hiện tượng mạng chập chờn thường xuyên xảy ra. Họ có thể ngăn chặn hoàn toàn Facebook trên lãnh thổ Việt Nam? Về mặt kỹ thuật là hoàn toàn khả thi, giống như Trung Quốc. Nhưng họ sẽ ăn nói ra sao trước dư luận quốc tế trong khi vẫn huyênh hoang dối trá không kiểm duyệt mạng? Chặn Facebook là một hành động chẳng thế nào lấp liếm. Hơn nữa đóng cửa một sinh hoạt truyền thông với 19,6 triệu người sử dụng là xâm phạm thô bạo vào quyền được tiếp cận thông tin của đông đảo quần chúng.

Mặt khác, Trung Quốc, chặn Facebook hoàn toàn, nhưng vào đầu năm 2014 đã phải mở ở các khu kinh tế đặc biệt, chứng tỏ sự thất bại của họ trong chính sách bóp nghẹt thông tin. Bởi vì bóp nghẹt thông tin không phải chỉ hạn chế ảnh hưởng lên hệ thống chính trị độc tài, chuyên quyền, mà nó gây tác hại trực tiếp đến sự phát triển kinh tế.

Các nhà đầu tư nước ngoài, khi bỏ tiền ra, có quyền đòi hỏi những điều kiện hỗ trợ. Ngoài giảm thuế, ưu đãi về đất đai, không bị hạn chế thông tin là một trong những điều không thể thiếu vắng cho giao dịch ngoại thương. Kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, trong khi lượng đầu tư nước ngoài FDI tăng mạnh, vốn đăng ký cho năm 2014 lên tới 22 tỷ USD là cứu cánh cho xuất khẩu và thúc đẩy tăng trưởng.

Trong vòng 10 năm, Mark Zuckerberg, đã xây dựng và phát triển Facebook thành một trang mạng xã hội lớn nhất thế giới với hơn 1 tỷ người sử dụng, trở thành tỷ phú trẻ nhất dưới 30 tuổi với giá trị tài sản ước tính hơn 30 tỷ USD.

Facebook không chỉ là nơi quy tụ, kết nối con người với con người, trao đổi, chia sẻ thông tin chính trị, xã hội, hỗ trợ các cuộc tranh đấu dân chủ, mà quan trọng hơn - nó là trang quảng cáo thương mại toàn cầu.

Tính hơn thiệt, một bên là hạn chế thông tin, bảo vệ sự lừa mị dối trá của truyền thông nhà nước, một bên là đòi hỏi của lợi ích kinh tế trong tình hình hiện tại, tôi tin rằng, nhà cầm quyền cũng chỉ hạn chế truy cập bằng cách như hiện nay, chứ không thể đóng cửa hoàn toàn Facebook tại Việt Nam.
Lê Diễn Đức
Theo Diễn Đàn Thế Kỷ

Án sơ thẩm Huyền Như: Lộ nhiều sai phạm, Vietinbank vẫn vô can

Huyền Như bị kết án chung thân trong lần xử sơ thẩm
Trước các yêu cầu của hàng loạt khách hàng gửi tiền đòi Ngân hàng Công thương phải chịu trách nhiệm trả tiền, theo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân TP.HCM, Ngân hàng Công thương không chịu trách nhiệm gì, vô can.

Là Quyền trưởng Phòng giao dịch, có nhiệm vụ huy động vốn cho Ngân hàng Công thương, có nhiệm vụ quản lý, kiểm soát các giao dịch, chuyển tiền của khách hàng tại chính đơn vị mình, Huỳnh Thị Huyền Như đã lợi dụng hệ thống quản lý lỏng lẻo, sự bất chấp pháp luật, thiếu trách nhiệm của các cán bộ ở nhiều cấp, nhiều khâu, trong thời gian dài tại Ngân hàng Công thương để chiếm đoạt gần 5.000 tỷ đồng.

Trước các yêu cầu của hàng loạt khách hàng gửi tiền đòi Ngân hàng Công thương phải chịu trách nhiệm trả tiền, theo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân TP.HCM, Ngân hàng Công thương không chịu trách nhiệm gì, vô can. Quyết định này đã gặp nhiều phản ứng từ những người gửi tiền và công luận.

Nhiều sai phạm

Hơn 3.400 tỷ trong số 5.000 tỷ chiếm đoạt là tiền của khách hàng đã chuyển vào tài khoản của mình tại Ngân hàng Công thương. Huyền Như đã cùng các cán bộ khác của Ngân hàng Công thương rút tiền bằng các thủ đoạn hủy bộ hồ sơ mở tài khoản thật của khách hàng, thay bằng hồ sơ giả, giả chữ ký chủ tài khoản để rút tiền; giả chữ ký của khách hàng để chuyển tiền, rút tiền trực tiếp trên tài khoản của khách hàng; lập hồ sơ vay giả, giả chữ ký của khách để cầm cố tiền gửi vay vốn của Ngân hàng Công thương, sau đó Ngân hàng Công thương trích tiền của khách hàng để thu nợ, dù hợp đồng cầm cố là giả, dù khách hàng không ký hợp đồng cầm cố.
Nhiều cán bộ của Ngân hàng Công Thương đã bị kết tội đồng phạm trong hành vi lừa đảo với Huyền Như, thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Bản án sơ thẩm cũng đề nghị xử lý với Nguyễn Thị Minh Hương, Trương Minh Hoàng (cùng là Phó Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Công thương HCM), đề nghị Cơ quan điều tra làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm kéo dài gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do các cá nhân, tập thể tại Ngân hàng Công Thương gây ra để xử lý thỏa đáng.

Tại sao Ngân hàng Công thương lại vô can?

Qua ý kiến của Ngân hàng Công thương, ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa, nội dung bản án sơ thẩm, căn cứ để Tòa quyết định Ngân hàng Công thương không có trách nhiệm trả tiền cho người gửi tiền là: Huyền Như nhân danh Ngân hàng Công thương để huy động vốn; Huyền Như có ý định chiếm đoạt tiền từ trước; Khách hàng khi gửi tiền đã không làm việc trực tiếp với lãnh đạo Ngân hàng Công thương mà làm việc thông qua Huyền Như; Khách hàng thỏa thuận với Huyền Như hưởng lãi suất cao, vi phạm quy định về trần lãi suất; Khách hàng không nhận thẻ tiết kiệm, để Huyền Như cầm thẻ tiết kiệm thực hiện hành vi chiếm đoạt; Khách hàng không tự quản lý tài khoản của mình; Khách hàng phó thác cho Huyền Như muốn làm gì thì làm; Ngân hàng Công thương không có trách nhiệm quản lý tiền gửi của khách hàng; Các hợp đồng tiền gửi đã được ký ngoài trụ sở Ngân hàng Công thương; Nguồn gốc của số tiền gửi xuất phát từ hợp đồng ủy thác hoặc cho vay trái pháp luật; Hợp đồng ủy thác gửi tiền đã bị hủy ngay trong ngày gửi tiền để che dấu hành vi ủy thác trái pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát khẳng định hành vi chiếm đoạt của Huyền Như hoàn thành khi tiền chuyển vào tài khoản của khách hàng tại Ngân hàng Công thương, vẫn mang tên khách hàng (?). Việc Huyền Như dùng chứng từ giả để rút tiền, ký chữ ký giả để vay tiền Ngân hàng Công thương là hành vi thực hiện sau khi chiếm đoạt.

Gửi tiền cho Huyền Như hay cho Ngân hàng Công thương

Theo Kết luận điều tra, Cáo trạng và xét hỏi tại tòa, nhiều khoản tiền của khách hàng trong vụ án đã được chuyển vào tài khoản hợp pháp của khách hàng tại Ngân hàng Công thương, qua hệ thống thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Các trường hợp như Ngân hàng Nam Việt (200 tỷ), Ngân hàng Á Châu (718,9 tỷ), Công ty chứng khoán Phương Đông (380 tỷ) …

Khách hàng có ký hợp đồng thật, hợp pháp với Ngân hàng Công thương, do bà Nguyễn Thị Minh Hương và ông Trương Minh Hoàng (Phó giám đốc CN HCM) đại diện, đóng dấu thật của Ngân hàng Công thương. Ngân hàng Công thương bắt buộc phải hạch toán và trên thực tế đã hạch toán tiền gửi này là tiền huy động của ngân hàng.

Các khoản tiền gửi đã tất toán cũng do chính Ngân hàng Công thương chi trả. Có nhiều khoản tiền cho đến ngày xét xử sơ thẩm Ngân hàng Công thương vẫn còn đang quản lý. Nhiều trường hợp Ngân hàng Công thương còn cấp sao kê tài khoản cho khách hàng. Do đó, đây là quan hệ tiền gửi của khách hàng với Ngân hàng Công thương, không thể nêu đây là Huyền Như nhân danh Ngân hàng Công thương đi huy động. Do đó, Ngân hàng Công thương phải trực tiếp có trách nhiệm với khách hàng.

Viện kiểm sát, Tòa sơ thẩm đã nhầm lẫn giữa việc giao dịch, trao đổi, thương lượng với cá nhân nào đó trước khi ký hợp đồng và quan hệ, giao dịch với pháp nhân, chủ thể sau khi giao kết hợp đồng. Đã là pháp nhân thì khi giao dịch, làm việc đều phải thông qua một cá nhân nào đó, nhưng sau khi ký kết hợp đồng hợp pháp với pháp nhân thì hình thành mối quan hệ với pháp nhân.

Cho dù trước khi ký hợp đồng, khách hàng làm việc với ai đi chăng nữa, thì sau khi ký hợp đồng với Ngân hàng Công thương, đó cũng là mối quan hệ với Ngân hàng Công thương.

Huyền Như là Quyền Giám đốc phòng giao dịch của Ngân hàng Công thương, việc khách hàng gửi tiền giao dịch với Huyền Như hay với bất cứ nhân viên nào của Ngân hàng Công thương cũng là chuyện bình thường, khách hàng có gặp hay không gặp lãnh đạo Ngân hàng Công thương cũng không làm thay đổi bản chất quan hệ pháp lý giữa khách hàng và Ngân hàng Công thương.

Trước đây, cũng như cho đến nay, Ngân hàng Công thương không hề thông báo cho khách hàng biết khi gửi tiền vào Vietinbank thì phải làm việc với ai. Liệu những khách đã gửi, đang gửi, sắp gửi tiền vào Vietinbank có làm việc đúng người, có gặp phải “Huyền Như” khác?

Liệu các khách hàng gửi tiền hiện nay tại Ngân hàng Công thương có gặp lãnh đạo ngân hàng hay không, gặp ai, chức danh nào, ngân hàng có thông báo không, nếu không làm việc thông qua nhân viên thì làm sao quan hệ với Ngân hàng Công thương. Ngoài những khoản tiền trong vụ án, các khoản khác Huyền Như mời khách gửi tiền về Ngân hàng Công thương có phải cá nhân Huyền Như huy động không?

Tiền đã vào Ngân hàng Công thương chưa?

Nhiều kênh thông tin, thậm chí ngay khi phiên tòa diễn ra, Chủ tịch Ngân hàng Công thương nêu tiền của khách hàng trong vụ án chưa vào hệ thống Ngân hàng Công thương, nên Ngân hàng Công thương không chịu trách nhiệm.

Các khoản tiền của khách hàng chuyển vào tài khoản tại Ngân hàng Công thương đều chuyển qua hệ thống thanh toán của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Công thương đã hạch toán tiền huy động của mình. Việc Huyền Như giả chứng từ để rút tiền ra, để cầm cố vay vốn chính Ngân hàng Công thương là minh chứng rõ ràng nhất về việc tiền đã vào Ngân hàng Công thương. Thuộc trách nhiệm quản lý của Ngân hàng Công thương.

Trách nhiệm của Ngân hàng Công thương với tiền huy động của khách

Ngân hàng huy động vốn để cho vay, làm dịch vụ thanh toán. Để có tiền cho vay, Ngân hàng đương nhiên phải quản lý tiền huy động từ người gửi tiền; khi thực hiện dịch vụ thanh toán, ngân hàng phải đảm bảo các lệnh thanh toán được lập và thực hiện chính xác, hợp pháp. Sau khi tiền của dân chuyển vào ngân hàng, trở thành tiền của ngân hàng, ngân hàng nợ dân và có trách nhiệm hoàn trả gốc, lãi vô điều kiện.

Theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 20/9/2001 của Chính Phủ về hoạt động thanh toán và cung ứng hoạt động thanh toán, quyết định 1284/QĐ-NHNN ngày 21/11/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về mở và sử dụng tài khoản thanh toán, ngân hàng phải chịu trách nhiệm kiểm tra, đảm bảo các chứng từ giao dịch tài khoản của khách hàng phải khớp đúng, hợp pháp, hợp lệ; đồng thời chịu trách nhiệm về về những thiệt hại do lỗi của mình.

Theo Quyết định 1092/QĐ-NHNN ngày 8/10/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định thủ tục thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tại điều 4, khoản 2 quy định thủ tục thanh toán lệnh chi: Ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tính hợp pháp của nghiệp vụ và hợp pháp, hợp lệ của chứng từ; đồng thời với chứng từ giấy, phải có 1 bản làm giấy báo nợ gửi người trả tiền … Ngân hàng Công thương đã không hề làm chuyện này.

Khách hàng có trách nhiệm tự hạch toán các chi tiêu của mình trên tài khoản, tự quản lý số dư của mình để chi tiêu, sử dụng các phương tiện thanh toán cho phù hợp (thẻ, séc…), điều này không thể nhầm lẫn với trách nhiệm quản lý các giao dịch rút tiền, chuyển tiền trên tài khoản của ngân hàng. Khách hàng không thể can thiệp vào việc rút tiền, chuyển tiền, nếu ngân hàng không thực hiện. Ngay kể cả khi khách hàng liên tục xem số dư tài khoản, giao dịch của mình qua các phương tiện như Intenet banking, thì cũng không ngăn được việc Huyền Như dùng chứng từ giả để rút tiền.

Do đó, khi Huyền Như dùng chứng từ giả chuyển tiền, rút tiền trên tài khoản của khách hàng, Ngân hàng Công thương phải chịu trách nhiệm trả tiền cho khách, không thể khác.

Với trường hợp Huyền Như giả chữ ký khách hàng, ký hợp đồng thế chấp giả, lập hồ sơ vay giả để vay tiền Ngân hàng Công thương, sau đó, Ngân hàng Công thương căn cứ hợp đồng thế chấp giả thu nợ cho vay trái pháp luật thì thực chất là Huyền Như chiếm đoạt tiền của Ngân hàng Công thương. Tiền của khách hàng chỉ bị mất khi Ngân hàng Công thương thu nợ. Ngân hàng Công thương phải trả lại tiền cho khách.

Khách hàng gửi tiền có phó thác cho Huyền Như?

Trong hợp đồng gửi tiền giữa một số khách hàng như nhân viên ACB, Ngân hàng Nam Việt … có điều khoản cho phép Ngân hàng Công thương tự động trích tiền từ tài khoản thanh toán để chuyển vào tài khoản tiền gửi có kỳ hạn. Ngân hàng Công thương, Viện kiểm sát, Tòa án cho rằng quy định này có nghĩa là khách hàng đã phó thác toàn bộ cho Huyền Như muốn làm gì thì làm.

Quan điểm này không đúng pháp luật và thực tế vì các khách hàng đều ký hợp đồng với Ngân hàng Công thương, điều khoản này quy định về Ngân hàng Công thương Chi nhánh HCM chứ không phải Huỳnh Thị Huyền Như, không phải Phòng Giao dịch Điện Biên Phủ. Khách hàng đã thỏa thuận cho phép Ngân hàng Công Thương được chuyển sang tài khoản tiền gửi có kỳ hạn để tính lãi theo lãi suất có kỳ hạn mà các bên đã thỏa thuận. Hợp đồng hoàn toàn không có một chữ nào giao quyền này cho Huỳnh Thị Huyền Như.

Đây là thỏa thuận hoàn toàn hợp pháp để Ngân hàng Công thương trích tiền sang tài khoản tiền gửi có kỳ hạn. Sau khi tiền chuyển sang tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, trách nhiệm của Ngân hàng Công thương không thay đổi. Các khoản khác đã tất toán cũng thực hiện tương tự.

Việc Huyền Như trích tiền gửi của khách hàng nếu có khác với hợp đồng cũng là do lỗi của Ngân hàng Công thương.

Hợp đồng tiền gửi ký ngoài trụ sở của Ngân hàng Công thương

Theo quy định pháp luật, địa điểm giao dịch, ký hợp đồng trong hay ngoài trụ sở của pháp nhân không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của giao dịch,hợp đồng. Nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng tại địađiểm của đối tác, tại khách sạn, tại nhà của khách hàng, thông qua Intenet, Nhà nước ký các hiệp định, thỏa thuận với nước ngoài ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, ngoài trụ sở, không lẽ các giao dịch này cũng không có giá trị pháp lý?

Hợp đồng sau khi được lãnh đạo Ngân hàng Công thương  ký, đóng dấu là hợp pháp. Ký trong hay ngoài trụ sở cũng không làm thay đổi trách nhiệm của Ngân hàng Công thương với khoản tiền gửi của khách hàng đã chuyển vào tài khoản của mình.

Về việc Huyền Như đã có ý đồ chiếm đoạt tài sản từ trước
Khách hàng gửi tiền không thể biết nhân viên Ngân hàng Công thương có ý đồ chiếm đoạt tiền của khách hàng từ trước hay không. Chính Ngân hàng Công thương phải có trách nhiệmvề nhân viên của mình, quản lý tiền do mình huy động của khách hàng, để bất cứ nhân viên nào dù có ý đồ chiếm đoạt cũng không thực hiện được. 
Hàng chục nghìn nhân viên của Ngân hàng Công thương hàng ngày đang giao dịch với khách, làm sao khách hàng có thể biết được họ có ý đồ chiếm đoạt hay không khi giao dịch. Tại sao lại bắt khách phải chịu hậu quả từ việc nhân viên của Ngân hàng Công thương có ý đồ chiếm đoạt.
Khách hàng hưởng lãi suất vượt trần

Không người gửi tiền nào từ chối lãi suất cao do ngân hàng chi trả. Trách nhiệm chấp hành quy định về trần lãi suất huy động là của Ngân hàng Công Thương, không phải của người gửi tiền.

Giả sử khách hàng gửi tiền nhận lãi suất vượt trần là sai thì cũng không thể dẫn đến hậu quả là phủ nhận trách nhiệm hoàn trả số tiền gốc, lãi cho người gửi tiền của Ngân hàng Công Thương, không làm thay đổi trách nhiệm của Ngân hàng Công thương với khách hàng trong việc quản lý tiền gửi. Việc vượt trần lãi suất không phải là nguyên nhân dẫn đến việc Huyền Như có thể chiếm đoạt được tiền gửi tại Ngân hàng Công thương.

Khách hàng gửi tiền không nhận thẻ tiết kiệm

Tòa sơ thẩm đã nhầm lẫn giữa hình thức tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán trong nghiệp vụ ngân hàng.
Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các ngân hàng có thể huy động tiền gửi dưới hình thức tiền gửi thanh toán (có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn), tiền gửi tiết kiệm (có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn). Tương ứng với từng loại hình này là các tài khoản khác nhau để hạch toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Với hình thức tiền gửi thanh toán thì ngân hàng không phát hành chứng chỉ, thẻ tiết kiệm cho khách hàng.
Các khoản tiền gửi của Ngân hàng Nam Việt, Ngân hàng Á Châu, Công ty chứng khoán Phương Đông … nêu trên đều là loại hình tiền gửi thanh toán có kỳ hạn. Do đó, việc khách hàng không nhận thẻ tiết kiệm là đúng.

Ngay cả trong trường hợp khách hàng gửi tiền không lấy thẻ tiết kiệm thì Ngân hàng Công thương cũng phải chịu trách nhiệm trả tiền vì đây là trường hợp Ngân hàng Công thương không giao thẻ tiết kiệm cho khách, chứ không phải khách đánh mất thẻ hoặc giao thẻ cho Huyền Như, chính Ngân hàng Công thương căn cứ hợp đồng thế chấp giả tự ý trích tiền gửi của khách để thu nợ mà mình cho vay trái pháp luật, Ngân hàng Công thương có lỗi trong việc quản lý tài khoản, để Huyền Như giả chứng từ.

Về nguồn gốc của số tiền gửi xuất phát từ giao dịch trái pháp luật

Theo quy định pháp luật, nguồn gốc tiền gửi hợp pháp hay không không làm thay đổi trách nhiệm của Ngân hàng Công thương. Cho dù tiền gửi là do phạm tội mà có, chiếm đoạt bất hợp pháp gửi vào thì Ngân hàng Công thương vẫn phải quản lý đúng quy định, không thể vì thế Ngân hàng Công thương không quản lý, để cho nhân viên giả chứng từ rút ra. Không thể vì nguồn gốc tiền gửi bất hợp pháp mà Ngân hàng Công thương được quyền nhận cầm cố bằng chữ ký giả, để rồi trích thu nợ.

Từ trước đến nay, Ngân hàng Công thương không có bất kỳ thông báo nào về việc sẽ không chịu trách nhiệm quản lý tiền nếu nguồn gốc tiền là bất hợp pháp. Và nếu khẳng định như vậy thì Ngân hàng Công thương phải xác minh nguồn gốc tiền gửi của tất cả các khách hàng  hiện nay để thông báo Ngân hàng Công thương không có trách nhiệm với những khoản bất hợp pháp.

Việc ủy thác của Ngân hàng Á Châu cho nhân viên, việc cho vay của Ngân hàng Nam Việt cho nhân viên … cho dù đúng hay sai cũng không phải là nguyên nhân dẫn đến việc Huyền Như chiếm đoạt được tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng Công Thương.

Việc Ngân hàng Á Châu hủy hợp đồng ủy thác với nhân viên

Sau khi luật sư của Ngân hàng Công thương nêu thông tin này tại Tòa, Viện kiểm sát, Tòa án không thẩm tra tại phiên tòa mà sử dụng ngay thông tin này để kết luận ACB và các cá nhân đã hủy hợp đồng ủy thác trong ngày, từ đó kết luận cả hợp đồng ủy thác và hợp đồng gửi tiền của nhân viên ACB với Ngân hàng Công Thương là sai.

Việc Tòa sử dụng các tình tiết không được thẩm tra công khai tại phiên tòa để kết luận là không phù hợp với quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện ACB và các nhân viên đều khẳng định đến nay, các hợp đồng ủy thác của ACB với nhân viên vẫn còn hiệu lực, không có việc hủy Hợp đồng và cũng chưa có cơ quan có thẩm quyền nào tuyên bố hủy Hợp đồng này.

Bên cạnh đó, hợp đồng ủy thác giữa ACB với nhân viên và Hợp đồng gửi tiền của nhân viên ACB với Ngân hàng Công Thương là hai quan hệ độc lập. Ngay cả khi, các bên hủy Hợp đồng ủy thác thì cũng không ảnh hưởng đến trách nhiệm quản lý tiền của Ngân hàng Công Thương đối với tiền gửi của nhân viên ACB. Tất cả các nhân viên ACB đều yêu cầu Tòa buộc Ngân hàng Công thương trả tiền cho ACB.

Hành vi chiếm đoạt hoàn thành khi nào

Chính từ quan điểm tội phạm hoàn thành ngay khi tiền của khách hàng, chuyển hợp pháp vào tài khoản vẫn mang tên khách hàng, nên cơ quan pháp luật cho rằng sự quản lý lỏng lẻo của Ngân hàng Công thương không phải là nguyên nhân dẫn đến việc Huyền Như chiếm đoạt được tiền.

Quan điểm này trái pháp luật, vì tội phạm chiếm đoạt chỉ được coi là hoàn thành khi tài sản đã dịch chuyển sang người chiếm đoạt, còn khi tiền vẫn đang ở trong tài khoản của khách hàng, thuộc sở hữu hợp pháp của khách, khách có đủ quyền với tài sản này. Ngân hàng Công thương đang hạch toán là tiền huy động của mình. Thì làm sao có thể coi là đã hoàn thành.

Cách hiểu này thể hiện Ngân hàng Công thương không chịu trách nhiệm gì với tiền gửi của khách, tiền gửi của khách có thể mất, bị chiếm đoạt khi vẫn mang tên mình. Như vậy, việc Ngân hàng Công thương, Viện Kiểm sát, Tòa án cho rằng “khách tự quản lý số dư, tài khoản của mình” cũng không có ý nghĩa.
Lập luận này tạo ra tiền lệ rất nguy hiểm: hàng chục triệu khách hàng đang gửi tiền tại hệ thống ngân hàng hiện nay có thể đã bị chiếm đoạt tiền khi tiền vẫn đang ở trong tài khoản của mình?

Hợp đồng cầm cố giả vẫn có giá trị pháp lý

Chính từ nhận định tội phạm hoàn thành khi tiền chuyển vào tài khoản mang tên khách hàng nên khi Huyền Như giả chữ ký cầm cố tiền gửi của khách cho Ngân hàng Công thương thì Tòa xác định Huyền Như chiếm đoạt tiền gửi cầm cố, việc Ngân hàng Công thương căn cứ hợp đồng giả để thu nợ được thừa nhận. Đồng nghĩa với việc thừa nhận hợp đồng cầm cố giả có giá trị pháp lý.

Trong khi đó, các cán bộ của Ngân hàng Công thương bị kết tội vi phạm các quy định về cho vay với lý do không có tài sản đảm bảo.

Như vậy, khi kết tội cán bộ Ngân hàng Công thương, thì Tòa án không thừa nhận hợp đồng cầm cố giả. Khi Ngân hàng Công thương thu nợ vay trái pháp luật, thì Tòa án lại thừa nhận hợp đồng giả này.

Nguyên nhân dẫn đến việc Huyền Như chiếm đoạt được tiền

Qua các phân tích trên, có thể thấy: Việc hưởng lãi suất cao, việc nguồn gốc tiền gửi không hợp pháp, việc ký hợp đồng ngoài trụ sở, việc khách hàng không quản lý tài khoản, không nhận sổ tiết kiệm … không phải là nguyên nhân để Huyền Như chiếm đoạt được tiền. Tất cả các sai phạm nếu có trước khi tiền chuyển vào tài khoản hợp pháp của khách tại Ngân hàng Công thương không thể là nguyên nhân để tiền được rút ra trái phép.
Bản chất vụ việc là tiền của khách hàng đã chuyển vào Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Công thương quản lý quá sơ hở, các cán bộ của Ngân hàng Công thương thiếu trách nhiệm, bất chấp pháp luật để Huyền Như dùng chứng từ giả rút tiền của Ngân hàng Công thương.
Nguyên nhân để Huyền Như chiếm đoạt được tiền là lỗi của Ngân hàng Công thương trong việc quản lý tiền của chính mình, huy động từ khách hàng. Với thủ đoạn như của Huyền Như, với cách thức quản lý như của Ngân hàng Công thương, khi cần tiền, Huyền Như chỉ cần làm chứng từ giả để chuyển tiền, rút tiền, vay tiền thì Huyền Như có thể chiếm đoạt tiền của bất cứ ai gửi tiền tại Ngân hàng Công thương, dù cho lãi suất thế nào, ký hợp đồng ở đâu, nguồn gốc ra sao…
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Ngân hàng Công thương cũng khẳng định trong vụ án này, Ngân hàng Công thương sẽ chịu trách nhiệm với các khoản tiền gửi theo hợp đồng thật do Ngân hàng Công thương xác lập. Ý kiến này đã không được Tòa ghi nhận để làm căn cứ quyết định.
Trách nhiệm của Ngân hàng Công thương trong vụ án này không chỉ liên quan đến các tổ chức, cá nhân trong vụ án, nó sẽ là vụ việc điển hình đi vào lịch sử ngành tư pháp, để đánh giá hệ thống pháp luật, đánh giá môi trường kinh doanh, nó sẽ khôi phục hoặc đánh mất niềm tin của người gửi tiền, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
 Như vậy, khi kết tội cán bộ Ngân hàng Công thương, Tòa án không thừa nhận hợp đồng cầm cố giả. Khi Ngân hàng Công thương thu nợ vay trái pháp luật, thì Tòa án lại thừa nhận hợp đồng giả này.
Bản chất vụ việc là tiền của khách hàng đã chuyển vào Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Công thương quản lý quá sơ hở, các cán bộ của Ngân hàng Công thương thiếu trách nhiệm, bất chấp pháp luật để Huyền Như dùng chứng từ giả rút tiền của Ngân hàng Công thương. 
Anh Minh
(VTC News )

Đừng bắt nghệ thuật phải ‘tiến sĩ hóa’!

2 nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Quốc Khánh (trái) và Vũ Huyến đều cho rằng quyết định của Bộ GD&ĐT chưa phù hợp với thực tế. Chỉ có bằng cử nhân tại Đức, nhưng họ đều là giảng viên lâu năm trong ngành nhiếp ảnh
2 nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Quốc Khánh (trái) và Vũ Huyến đều cho rằng quyết định của Bộ GD&ĐT chưa phù hợp với thực tế. Chỉ có bằng cử nhân tại Đức, nhưng họ đều là giảng viên lâu năm trong ngành nhiếp ảnh
“Việc dừng đào tạo hàng chục ngành nghệ thuật với lý do thiếu các thạc sĩ, tiến sĩ khi giảng dạy là hết sức máy móc và không hiểu gì về đặc thù của nó” – nghệ sĩ Vũ Huyến, nguyên Phó chủ tịch Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam khẳng định.

Trước đó, ngày 25/1, Bộ GD& ĐT đã có công văn số 454 gửi tới hàng loạt trường ĐH trên toàn quốc. Theo công văn  này, gần  200 ngành học thuộc các trường ĐH trên cả nước được thông báo dừng tuyển sinh trong năm 2014, với lý do không đáp ứng được Thông tư số 08 (năm 2011) của Bộ về việc cần có “ít nhất 1 giảng viên có trình độ tiến sĩ và 3 giảng viên có trình độ thạc sĩ đúng ngành đăng ký” khi giảng dạy.

“Cấm”  đào tạo diễn viên, đạo diễn, quay phim?

Chiều 10/2, khá đông đạo diễn và nghệ sĩ đang giảng dạy tại Trường ĐH Sân khấu & Điện ảnh Hà Nội đã có cuộc trao đổi với báo giới về quyết định này. Lý do khá đơn giản: Trong danh sách được ghi tại Công văn 454 có tới 15 chuyên ngành của trường.

“Như thế, từ 18 chuyên ngành hiện có, chúng tôi chỉ còn được đào tạo đúng… 3 ngành liên quan tới máy móc, kĩ thuật”- PGS Trần Thanh Hiệp, Hiệu trưởng trường nói. Đáng nói, trong “danh sách đen” được Bộ GD&ĐT đưa ra có gần như tất cả các chuyên ngành đặc thù nhất của đơn vị đào tạo này, bao gồm biên kịch sân khấu, đạo diễn điện ảnh – truyền hình, biên kịch điện ảnh – truyền hình, nhiếp ảnh, thiết kế mỹ thuật sân khấu – điện ảnh, quay phim, biên đạo múa.

Cơ sở đào tạo còn lại của Việt Nam về sân khấu – điện ảnh là Trường ĐH SK& ĐA TP.HCM cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Do mới được nâng cấp từ trường cao đẳng lên ĐH được vài năm nay, các bộ môn cơ bản của trường như diễn viên kịch hát truyền thống, diễn viên sân khấu điện ảnh, đạo diễn sân khấu, mỹ thuật sân khấu, quay phim… của trường vẫn còn dừng ở cấp đào tạo cao đẳng. Tuy nhiên, các chuyên ngành này cũng bị ngưng đào tạo vì lý do không đáp ứng được yêu cầu “4 thạc sĩ” (thay vì 3 thạc sĩ, 1 tiến sĩ như đào tạo ĐH). Thậm chí, chuyên ngành đạo diễn điện ảnh – truyền hình của đơn vị này vừa được nâng cấp lên đào tạo đại học được vài năm cũng bị… cấm nốt.

“Nghĩa là chúng ta xóa luôn việc đào tạo diễn viên, đạo diễn, quay phim, nhiếp ảnh trên toàn quốc” – ông Vũ Huyến cho biết. Là một trong những tay máy đầu tiên của VN được đưa sang Đức đào tạo về nhiếp ảnh, ông Huyến cũng chính là người ra sức vận động để thành lập khoa Nhiếp ảnh tại ĐH SKĐA từ cách đây hơn chục năm. Hiện tại, nếu không kể tới những nghệ sĩ nhiếp ảnh “chỉ” có trình độ cử nhân như ông Huyến thì khoa Nhiếp ảnh còn đúng 1 giảng viên mang trình độ thạc sĩ.

“Tôi cũng chỉ có bằng cử nhân, nhưng từng dạy các khóa đào tạo tại khoa nhiếp ảnh. Trong đó, khoảng hai chục em sau khi tốt nghiệp đang là những tay máy của Thông tấn xã Việt Nam, nơi tôi công tác” – ông Vũ Quốc Khánh, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh VN, cho biết. “Khi tôi kể với các em tin về việc khoa Nhiếp ảnh của trường mình bị coi là không đủ điều kiện đào tạo, tất cả đều ngỡ ngàng”.
Cố NSND Trọng Khôi và NSƯT Mỹ Dung - những diễn viên gạo cội của sân khấu VN- đều đến với kịch nói bằng cách học truyền nghề từ các nghệ nhân
Cố NSND Trọng Khôi và NSƯT Mỹ Dung – những diễn viên gạo cội của sân khấu VN- đều đến với kịch nói bằng cách học truyền nghề từ các nghệ nhân

Tìm đâu cho đủ… tiến sĩ?

Sự thật, kể từ khi biết về quyết định này, khá nhiều nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn…trong giới nghệ thuật đã liên tục lên tiếng để bày tỏ sự không đồng tình. Theo đó, đặc thù chung của đào tạo nghệ thuật tại VN – cũng như của đại đa số các nước – từ trước đến nay nằm ở việc ưu tiên tính thực tiễn. Do đó, giảng viên đào tạo đa phần đều là những nghệ sĩ giỏi, có kinh nghiệm lâu năm và có thành tựu trong sáng tạo. Và, khi tham gia hoạt động nghệ thuật thực tế, hầu hết các đạo diễn, diễn viên, hoạ sĩ… này đều không theo đuổi việc… đi học tiếp để chuẩn bị học hàm, học vị cho mình.

“Nói thành thật với nhau, chúng ta đều hiểu rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp không xin được việc nên lựa chọn con đường… học cao học. Có bằng thạc sĩ, không xin được việc thì lại học lên tiến sĩ” – ông Hiệp nói. “Trong khi đó, nghệ thuật luôn cần tới sự sáng tạo, tới việc truyền thụ những kinh nghiệm biểu diễn, dàn dựng trên thực tế chứ không thể chỉ truyền dạy bằng lý thuyết và nghiên cứu”.

Khi đề nghị được tham chiếu với những cơ sở đào tạo nghệ thuật trên thế giới, cả PGS Hiệp và ông Vũ Huyến đều khẳng định: Các trường đại học này đều tận dụng khả năng sáng tạo và kinh nghiệm của các diễn viên, đạo diễn, nhà quay phim… có tiếng để mời về giảng dạy trực tiếp, chứ không hề đòi hỏi phải có một số lượng nhất định các học vị thạc sĩ hay tiến sĩ. Song song với các môn học thực tế này, sinh viên sẽ được bồi dưỡng thêm về lý thuyết và lịch sử nghệ thuật học, do một số ít những chuyên gia có học hàm giảng dạy.

“Ở VN chúng ta, ai cũng biết đạo diễn Trần Văn Thủy là học trò của đạo diễn – nhà quay phim Karmen. Tất nhiên, tay máy lừng danh này không có học hàm tiến sĩ nào cả. Các NSƯT Lê Đức Tiến, Vương Đức, Xuân Sơn khi học trường điện ảnh Moskva cũng đều học từ những nghệ sĩ chỉ có bằng cử nhân.” – ông Hiệp nói. “Còn bây giờ, nếu ta cần một TS về quay phim thì ba đến bốn năm nữa chưa chắc đã có và thực tế tấm bằng TS với chuyên ngành sáng tác nghệ thuật không thể thay thế được thành tựu và kinh nghiệm sáng tác của bản thân người thầy”.
Trao đổi với báo giới ngày 10/2, thứ trưởng Bộ GD&ĐT Bùi Văn Ga cho biết: “Thực tế, khi xử lý những ngành học này Bộ đã rất linh động. Ví dụ, không có tiến sĩ đúng với chuyên ngành như piano, sân khấu… thì phải có tiến sĩ gần với chuyên ngành này với như có công trình nghiên cứu liên quan. Nếu trong trường hợp, bất đắc dĩ không tìm được tiến sĩ như yêu cầu thì phải có 5 thạc sĩ thay vì 3 thạc sĩ”.
Ông Bùi Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học – Bộ GD&ĐT cho hay: “Về mặt nguyên tắc chúng ta phải thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật, Thông tư 08 và Thông tư 38 về tiêu chuẩn điều kiện cho phép mở ngành đào tạo và thu hồi giấy phép đào tạo. Với những ngành đào tạo đặc thù có thể xem xét khía cạnh các thầy giáo có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ có chuyên ngành gần với ngành đào tạo đó, khi xem xét thu hồi giấy phép mở ngành. Còn các trường hiện nay, thiếu hoàn toàn như yêu cầu thì không thể duy trì mở ngành đào tạo để đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, trong thời gian tới, nếu các trường bổ sung được chúng tôi sẽ xem xét và báo cáo lại với lãnh đạo bộ cho tiếp tục đào tạo”.
Hồng Hạnh (ghi)
Thể thao & Văn hóa

Nguyễn Hưng Quốc - Ai kiềm hãm dân chủ?




Không thể phủ nhận được giá trị, sự cần thiết và xu hướng phát triển tất yếu của dân chủ, giới cầm quyền Việt Nam, và cùng với họ, các cán bộ tuyên huấn cũng như gần đây, các “dư luận viên” được trả lương để nói quấy nói quá trên các diễn đàn mạng, thường tìm mọi cách để trì hoãn tiến trình dân chủ hóa. Hai lý do thường được đưa ra: Một, mỗi quốc gia và mỗi nền văn hóa có một mô thức dân chủ riêng; nước này không có quyền áp đặt mô thức dân chủ của mình lên các nước khác; và hai, Việt Nam chưa sẵn sàng cho một nền dân chủ đa đảng kiểu Tây phương.

Lý do thứ nhất, thật ra, là bắt chước từ luận điểm về các giá trị đặc thù của châu Á (Asia values) của Lý Quang Diệu, nguyên Thủ tướng Singapore, và Mahathir Mohamad, nguyên Thủ tướng của Malaysia, trong thập niên 1990. Nội dung của quan điểm này là: văn hóa Á châu khác hẳn văn hóa Âu châu và Bắc Mỹ, hoặc, nói cho gọn, Tây phương. Trong khi văn hóa Tây phương dựa trên Thiên Chúa giáo và tinh thần duy lý của triết học cổ đại Hy Lạp, văn hóa Á châu dựa trên Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo và Hồi giáo; trong khi nền văn hóa trên được xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa cá nhân, nền văn hóa dưới được xây dựng trên nền tảng của tinh thần tập thể và cộng đồng; trong khi nền văn hóa trên đề cao tinh thần cạnh tranh, thích đối đầu và nhắm đến tham vọng chinh phục và khống chế, nền văn hóa dưới đề cao tinh thần hài hòa và đồng thuận, sẵn sàng hy sinh lợi ích của mình cho cộng đồng. Hệ quả, về phương diện chính trị, người Á châu dễ dàng cảm thấy hài lòng dưới những chế độ dễ bị Tây phương xem là độc tài: Với họ, đó là điều hợp lý và cần thiết vì nhờ vậy, họ đạt được nhiều mục tiêu chung, trong đó, quan trọng nhất là sự ổn định và phát triển.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á vào năm 1997 dẫn đến sự suy thoái của nhiều nước, đặc biệt tại Indonesia, Thái Lan, Hàn Quốc, Hong Kong, Malaysia, Lào và Philippines… khiến người ta đặt lại vấn đề: Những cái gọi là tinh thần cộng đồng hay tập thể không bảo đảm được sự phát triển và ổn định. Sự suy thoái của Nhật Bản trước đó cũng đã chứng tỏ điều đó. Từ những cuộc khủng hoảng ấy, người ta nhận thấy: kinh tế và chính trị có những quy luật riêng, có tính phổ quát, bất kể các dị biệt về văn hóa; thậm chí, một số giá trị văn hóa mâu thuẫn với những quy luật ấy có thể bị xem là có hại và không có lý do gì phải cố duy trì.

Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và các quốc gia Tây phương mười năm sau đó (từ 2007) làm cho những sự phê phán vừa kể dịu lại. Tuy nhiên, nó cũng làm cho các chính khách châu Á thấy hoang mang và mất tự tin, từ đó, người ta ít nhấn mạnh một cách quá đáng vào những cái gọi là giá trị đặc thù của văn hóa Á châu. Ở Việt Nam, giới lãnh đạo và giới tuyên huấn cũng bớt mạnh miệng.

Thế vào đó, họ nêu lên lý do thứ hai: người Việt chưa đủ điều kiện để xây dựng một nền dân chủ thực sự và lành mạnh. Đó là những điều kiện gì? Không ai nói ra một cách cụ thể, nhưng hầu như ai cũng hàm ý này: Một, trình độ dân trí còn thấp; và hai, sự chia rẽ, thậm chí, thù hận, còn quá nặng nề.

Về lý do thứ nhất, trình độ dân trí (có người diễn tả một cách văn hoa hơn: tinh thần dân chủ), có nhiều vấn đề:

Một, về phương diện lý thuyết, cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này: giữa cơ chế dân chủ và tinh thần dân chủ, yếu tố nào xuất hiện trước và là tiền đề cho yếu tố kia? Một số người đáp: thể chế cần có trước để làm cơ sở, từ đó, làm nảy nở tinh thần dân chủ. Một số người khác lại đáp: cần có tinh thần dân chủ trước, nếu không, mọi thể chế, dù dân chủ đến mấy, cũng sẽ dẫn đến khủng hoảng mà hậu quả cuối cùng là làm sụp đổ cái cơ chế dân chủ vừa mới manh nha. Vấn đề này khá phức tạp, cần nghiên cứu riêng, do đó, tôi xin tạm gác lại cho một bài khác.

Hai, về phương diện thực tế, có thực trình độ dân trí Việt Nam còn thấp quá hay không? Ở đây, lại có nhiều vấn đề: Một, ngay cả khi dân trí Việt Nam còn thấp thì, như nhiều người đã chỉ, dân trí Việt Nam hiện nay dù sao cũng cao hơn “quan trí”, tức trình độ trí thức của giới lãnh đạo. Trong trường hợp này, không thể lấy trình độ của giới lãnh đạo để đo lường trình độ của dân chúng được. Làm vậy không những sai lầm mà còn là một sai lầm có tính lừa bịp. Hai, không thể chối cãi là dân trí Việt Nam chưa cao, nhưng chắc chắn là, nói chung, nó không thể thấp hơn trình độ dân trí của Mỹ và Pháp trong thế kỷ 19, thời khai sinh của dân chủ hay trình độ dân trí của nhiều quốc gia Âu châu trong nửa đầu thế kỷ 20 (ở đây, tôi chỉ nói đến trình độ dân trí nói chung chứ không so sánh các đỉnh cao, trình độ của giới ưu tú – elite – trong xã hội giữa các nước, điều, thành thực mà nói, về nhiều phương diện, chúng ta vẫn còn thua khá xa!)

Ba, nếu trình độ dân trí Việt Nam thấp thật thì đâu là nguyên nhân của sự thấp kém ấy? Không nên quên, ở Việt Nam, đảng Cộng sản đã bắt đầu cầm quyền từ năm 1945: đến nay, đã gần 70 năm. Nếu tính, chỉ ở miền Bắc: đã 60 năm. Muộn hơn, trong cả nước: gần 40 năm. Một chế độ lúc nào cũng tự nhận là đỉnh cao của trí tuệ và lúc nào cũng huênh hoang về các cuộc cách mạng do họ tiến hành, từ cách mạng quan hệ sản xuất đến cách mạng văn hóa tư tưởng và cách mạng khoa học kỹ thuật, tại sao lại có thể để cho dân trí cứ thấp lè tè và lẹt đẹt mãi như vậy? Đổ lỗi cho chiến tranh ư? Nhưng chiến tranh cũng đã kết thúc gần 40 năm rồi. Vậy, tại sao? Chỉ có một trong hai lý do: hoặc họ bất lực trong việc nâng cao dân trí hoặc họ cố tình kiềm hãm sự phát triển của dân trí bằng các chính sách ngu dân thâm độc?

Về lý do thứ hai, sự thù hận, ai cũng đồng ý: đó là một sự thật. Một trong những di sản lớn nhất của chiến tranh là thù hận. Chiến tranh càng kéo dài, thù hận càng sâu sắc. Ở đâu cũng vậy. Nhưng lại cũng không nên quên: chiến tranh Việt Nam đã kết thúc gần 40 năm rồi. Cho đến bây giờ, thành thực mà nói, rất hiếm người thù hận vì chiến tranh. Người ta thù hận vì những gì xảy ra sau chiến tranh: các chính sách cướp bóc cũng như trả thù của chính quyền đối với những người thua trận. Phong trào vượt biên dấy lên ào ạt là vì những chính sách ấy chứ không phải vì chiến tranh. Nếu không có các vụ tịch thu tài sản, đuổi đi kinh tế mới cũng như các vụ học tập cải tạo kéo dài đằng đẵng và sự kỳ thị đối với con cái những người bị bắt đi cải tạo, có lẽ không mấy người cảm thấy thù hận.

Sự thù hận trong chiến tranh là điều có tính chất gần như số phận: đã có chiến tranh thì có thù hận, không thể khác được. Nhưng những sự thù hận sau chiến tranh thì lại là một lựa chọn của chính quyền. Có thể nói, trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, đảng Cộng sản Việt Nam có hai sai lầm lớn: Một, phát động chiến tranh một cách không cần thiết sau Hiệp định Geneva; và hai, kết thúc cuộc chiến tranh một cách hẹp hòi và thiển cận. Sự thù hận mà người ta hay nói hiện nay chính là hệ quả của cả hai sai lầm ấy.

Hơn nữa, cho dù vấp phải hai sai lầm dẫn đến thù hận vừa kể, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Việt Nam cũng có thừa thời gian và thừa cơ hội để xóa bỏ sự thù hận ấy, nếu họ muốn. Gần 40 năm: gần hai thế hệ. Ở Nam Phi, khi Nelson Mandela lên cầm quyền vào năm 1994, chỉ một thời gian ngắn sau, mọi thù hận giữa người da đen và da trắng chấm dứt. Ở Việt Nam, nếu chỉ tính từ năm 1986, lúc phong trào đổi mới được phát động, nếu chính quyền có thực tâm hòa hợp và hòa giải, trong vòng 30 năm, họ có thể xóa bỏ hoặc ít nhất, làm nguôi ngoai sự thù hận ấy rất nhiều.

Trên nguyên tắc, sự thù hận bao giờ cũng là cảm giác của các nạn nhân, nghĩa là, của những người thua cuộc. Bị đè nặng bởi cảm giác thù hận, các nạn nhân làm nạn nhân đến hai lần: nạn nhân của bạo lực và, cùng lúc cũng như sau đó, nạn nhân của sự thù hận. Tính-nạn-nhân chỉ có thể được chấm dứt từ một trong hai, hoặc từ cả hai nguồn: sự bao dung của chính họ hoặc thiện chí của những người gây ra khổ nạn cho họ. Bao dung không, thật ra, không đủ. Sự bao dung có thể kéo dài tính-nạn-nhân thay vì chấm dứt nó. Sự bao dung chỉ có ý nghĩa khi nó đi kèm với thiện chí của tội phạm đồng thời là những kẻ đang nắm giữ quyền lực. Nelson Mandela chỉ chấp nhận hòa hợp hòa giải với chính quyền do người da trắng cầm đầu chỉ với điều kiện: chính quyền phải chấp nhận người da đen và sẵn sàng chia sẻ quyền lực với những người da đen.

Bởi vậy, sự thù hận của những người Việt Nam ở hải ngoại hay ở miền Nam, nếu có, không phải tự họ, xuất phát từ họ. Mà là từ phía chính quyền: chính quyền hoàn toàn không có bất cứ một chính sách hòa giải thực sự nào cả trừ những câu nói đãi bôi và giả dối. Khi chính quyền vẫn tiếp tục kỳ thị, tiếp tục trấn áp những người bất đồng chính kiến thì chính quyền đang nuôi dưỡng sự thù hận. Khi cho sự thù hận là nguyên nhân làm trì hoãn tiến trình dân chủ, nhà cầm quyền cũng thừa nhận: chính mình là nguyên nhân gây ra tình trạng trì trệ của dân chủ.

Có thể nói, khi cho trình độ dấn trí thấp và sự thù hận giữa người Việt Nam là những lý do chính để trì hoãn dân chủ, nhà cầm quyền Việt Nam đang tự buộc tội chính mình.
Nguyễn Hưng Quốc
  (VOA)

Ngô Nhân Dụng - Ðảng tan rã vì những thế lưỡng nan


Trong cuốn hồi ký Một Cơn Gió Bụi (Chương 12), Trần Trọng Kim nhận xét về đảng Cộng sản Việt Nam: “Cái chủ nghĩa cộng sản về đường luận thuyết cũng có điều bảo thủ như là muốn chữa những điều bất công trong xã hội, nhưng về đường kinh tế, thì lại áp chế quá, làm lắm điều hà khốc và dùng những thủ đoạn quỷ quyệt giả dối, khiến người ta mất lòng tin cậy. Ðem cái bất công bình nọ mà phá cái bất công bình kia thì dù có thắng lợi đi nữa, cũng không chắc đã vững bền.” (Xin chú thích: Bảo thủ ở đây nghĩa là đáng giữ)

Trần Trọng Kim viết cuốn hồi ký này trước khi qua đời năm 1953 ở Ðà Lạt, vào tuổi 70, nhà xuất bản Vĩnh Sơn, Sài Gòn, in di cảo vào năm 1969. Trước đây hơn 60 năm, tác giả đã tiên đoán rằng dù có thắng lợi đi nữa, đảng Cộng sản cũng không vững bền. “Cũng không chắc đã vững bền” là lối diễn tả nhẹ nhàng theo ngôn ngữ của một nhà giáo, một người thấm nhuần phong cách Nho gia. Theo lối bây giờ sẽ nói thẳng rằng vì “người ta mất lòng tin cậy” đảng Cộng sản chắc chắn sẽ tan rã.

Vào lúc Trần Trọng Kim tiên đoán chế độ Cộng sản sẽ tan rã, cụ hoàn toàn dự đoán theo lương tri, chưa có kinh nghiệm như chúng ta bây giờ đã chứng kiến cảnh sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Nga và Ðông Âu từ năm 1989. Ngày nay lớp hậu sinh học hỏi được nhiều hơn, với nhiều bằng cụ thể chứng hơn, chúng ta thấy rõ hiện tượng Ðảng Tan Rã đang xẩy ra, đúng như lời tiền nhân tiên đoán.

Trước hết vì các chế độ độc tài sụp đổ là một trào lưu đã diễn ra khắp thế giới liên tục trong 40 năm qua. Từ thập niên 1970 đến nay, gần 100 quốc gia đã chuyển từ độc tài sang các thể chế dân chủ dưới nhiều hình thức, và với mức độ tự do nhiều hay ít khác nhau. Các nước đổi sang thể chế dân chủ ngày càng nhiều, tại những nước đã dân chủ hóa thì dân vẫn đòi hỏi được tự do thêm. Người dân cũng như giới quyền quý ở Việt Nam, cũng như bên Trung Quốc đều biết điều đó.

Có một kinh nghiệm lịch sử, là các chế độ độc tài thường chấm dứt sau khoảng thời gian khoảng 70 năm cầm quyền, dù không bị sụp đổ do một biến cố bên ngoài, như Ðức Quốc Xã, Phát Xít Ý, hay Quân Phiệt Nhật thua trận. Cộng sản Liên Xô nắm quyền lâu nhất, được 74 năm. Quốc Dân Ðảng Trung Hoa được 73 năm, bắt đầu ở lục địa, chấm dứt ở Ðài Loan. Ðảng Dân chủ Ðịnh chế (Partido Revolucionario Institucional, PRI) ở Mexico cai trị 71 năm. Cả hai đảng ở Ðài Loan và Mexico sau còn được dân bầu trở lại cầm quyền vì họ chấp nhận, khởi xướng quá trình dân chủ hóa. Ðảng Cộng sản Nga thì không. So với thời hạn 70 năm thì hiện nay chế độ Cộng sản Trung Quốc đã thọ được 65 tuổi tính từ năm 1949, Cộng sản Việt Nam đã cầm quyền 69 năm kể từ năm 1945. Không biết hai đảng này sẽ phá được kỷ lục của Liên Xô hay không, nhưng chắc chắn họ sẽ theo chung một số phận. Cảnh tan rã thường được báo hiệu từ hàng chục năm trước, cường độ tăng lên dần dần.

Có hai lý do khiến cho các chế độ độc tài phải tan rã, dù ở Liên Xô, Mexico, Việt Nam hay ở Trung Quốc. Thứ nhất là hiện tượng suy đồi từ bên trong guồng máy thống trị. Thứ hai là loài người tiến bộ, với những thay đổi trong đời sống kinh tế, xã hội, nhất là trong kỹ thuật thông tin. Hai hiện tượng đó diễn ra song hành, thúc đẩy lẫn nhau, đưa tới tình trạng “Ðảng Tan Rã” không thể tránh được.

Về hiện tượng tự suy đồi, các chế độ độc tài nuôi sẵn những mầm mống tự diệt, ngôn ngữ Mác xít gọi là những mâu thuẫn nội tại. Mâu thuẫn là điều Karl Marx coi là không thể tránh được, dù ông chỉ lo phân tích những mâu thuẫn nội tại của kinh tế tư bản. Sau khi phân tích, ông Marx tiên đoán các mâu thuẫn từ bên trong sẽ khiến hệ thống kinh tế tư bản giẫy chết. Kết luận này sai lầm, không phải vì kinh tế tư bản không có những mâu thuẫn nội tại. Nhưng nhờ được bổ túc bằng thể chế dân chủ nên các mâu thuẫn được biểu hiện tự do, nhờ thế tự thay đổi. Một “hệ thống mở” có khả năng tự chuyển hóa để thoát chết. Một hệ thống khép kín như các chế độ độc tài cũng cần đáp ứng các mâu thuẫn nội tại. Nếu nó cứ tiếp tục khép kín thì sẽ đi tới sụp đổ. Ngược lại, nếu nó bắt đầu cởi mở thì xã hội sẽ tự đổi, dần dần tới lúc không còn độc tài nữa. Ðây là một thế lưỡng nan khó thoát ra được. Ðảng có thể tan rã qua hai con đường, hoặc sụp đổ nhanh chóng hoặc qua những “diễn biến hòa bình.”

Ngoài ảnh hưởng các mâu thuẫn trong xã hội, một hệ thống khép kín tự nó đã chứa những mâu thuẫn, giữa thực tế và lý tưởng. Ðầu thế kỷ 20, nhà phân tích xã hội Robert Michels người Ðức đã phân tích mối mâu thuẫn nội tại trong các đảng xã hội, một bên là lý tưởng tự do và bình đẳng, một bên là thực tế quyền hành được tập trung vào trong tay một nhóm nhỏ các lãnh tụ. Tập trung quyền kiểm soát các đảng viên, quyền sử dụng các tài nguyên của đảng, sẽ đưa tới chế độ quả đầu (oligarchy). Hiện tượng này thấy rõ trong các chế độ độc đảng, đưa tới cảnh suy đồi ngay từ bên trong.

Không thể nào có dân chủ ở bên trong một đảng nếu đảng này chủ trương cai trị cả xã hội bằng phương pháp chuyên chế. Khi một đảng chiếm độc quyền lãnh đạo, qua một, hai thế hệ, các lãnh tụ sẽ thấy cơ hội “thu lợi nhuận,” vì họ đã “đầu tư” cả cuộc đời vào đảng. Với độc quyền lãnh đạo, xã hội không có cơ chế nào để kiềm chế họ. Giữa đám lãnh tụ, các mâu thuẫn sẽ nảy sinh, họ tranh giành nhau, khi cần thì thay đổi “luật chơi” trong nội bộ để chiếm thêm nhiều quyền và nhiều lợi lộc hơn. Bên ngoài, những người lanh lẹ, khôn ngoan nhìn thấy việc vào đảng như một cơ hội đầu tư. Những đảng viên bên dưới có thể “phấn đấu” leo dần lên các nấc thang, chờ tới ngày sẽ trở thành lãnh tụ và bắt đầu thu lợi nhuận. Nhưng tất nhiên họ cũng thấy có thể thu lợi nhuận sớm hơn, vì ở mỗi cấp quyền hành đều tập trung và không cơ chế bên ngoài nào để kiểm soát và kiềm chế. Ðộc quyền lãnh đạo thi hành từ trên xuống dưới tạo ra môi trường thuận lợi cho họ. Ðó là nguyên nhân gây nên cảnh lạm quyền, tham nhũng, các đảng cộng sản ở Trung Quốc cũng như Việt Nam đều đã thú nhận. Họ không thể giảm bớt được tệ nạn này nếu vẫn tiếp tục giữ độc quyền lãnh đạo. Nhưng mối mâu thuẫn nội tại này không đủ làm cho đảng tan rã nhanh nếu không có những mâu thuẫn lớn trong sự vận hành của toàn thể hệ thống.

Trong một xã hội sống dưới chế độ độc tài, mối mâu thuẫn thứ nhất phát khởi vì nhu cầu của đảng phải kiểm soát đám dân bị trị. Càng kiểm soát chặt chẽ thì càng làm cho xã hội chậm tiến, từ kinh tế đến văn hóa. Người dân so sánh chế độ mình đang sống với các nước chung quanh, thấy họ đang thua kém về mọi mặt, thấy cần thay đổi chế độ. Muốn xoa dịu lòng dân thì phải nới lỏng guồng máy kiểm soát, phải “đổi mới” để đáp ứng nhu cầu, từng bước một. Ðài Loan, Ba Lan, Hungary đã đi từng bước như vậy trong hàng chục năm, trước khi thay đổi hẳn. Ði trên con đường này chính quyền độc tài có dịp lâu lâu lại kể công mình đã “đổi mới” cứu dân thoát tai họa của những người cầm quyền trước, độc tài hơn mình. Những khẩu hiệu “tiến lên chủ nghĩa xã hội” được thay thế bằng khẩu hiệu “tiếp tục đổi mới để tiến lên.” Con đường này trước sau cũng trở thành “diễn biến hòa bình” đòi thay đổi toàn diện. Nếu cố cưỡng lại khát vọng của người dân thì mâu thuẫn ngày càng nặng hơn, diễn biến sẽ không còn hòa bình nữa, như đã xảy ra ở Phi Luật Tân thời Marcos, ở Nga, và đặc biệt ở Rumania. Ðây là một thế lưỡng nan (dilemma), chọn đi theo con đường nào cũng dẫn tới tình trạng chế độ tan rã.

Mâu thuẫn thứ hai nằm ngay trên con đường đổi mới chậm từng bước. Nới rộng guồng máy kiểm soát thì người dân sẽ được no ấm hơn. Nhưng sau khi đủ ăn, đủ mặc rồi, kỳ vọng của dân chúng sẽ lên mức cao hơn. Uy tín của chính quyền được đo lường bằng những bước tiến trên đường phát triển kinh tế nó cho biết nền cai trị bền vững hay không. Nhưng các nhu cầu kinh tế sẽ gia tăng, người dân vẫn tự so sánh đời sống của họ với các nước chung quanh mà họ nhìn thấy trên ti vi, hay qua đám du khách. Chính quyền độc tài bị đặt vào một thế lưỡng nan mới. Nếu kinh tế phát triển chậm, dân bất mãn, có thể đưa tới diễn biến không hòa bình. Nếu kinh tế tiến bộ, xã hội thay đổi, tâm lý và thái độ của người dân sẽ thay đổi, người ta không thể chấp nhận sống dưới ách độc tài mãi được. Vì kinh tế phát triển tạo ra một tầng lớp trung lưu, lợi tức và học vấn cao hơn. Họ sẽ nuôi những khát vọng bình thường của giới trung lưu khắp nơi. Họ ý thức về quyền công dân của mình, họ biết tập họp thành tổ chức, một xã hội công dân ra đời là mầm mống tạo thêm nhu cầu sống tự do dân chủ. Ðảng PRI đã thành công phần nào trong việc nâng cao đời sống của dân Mexico trong hơn nửa thế kỷ; nhưng chính vì thế mà dân gặp họ muốn thay đổi.

Các chế độ độc tài thường ra đời sau các cuộc chiến tranh hay cách mạng, với những lãnh tụ đầu tiên được tô điểm bằng hình ảnh hấp dẫn quần chúng, Max Weber gọi là “charisma.” Sau đó, phải đi qua một quá trình mà Max Weber gọi là “bình thường hóa” (routinization). Mâu thuẫn nằm trong quá trình này, vì không đáp ứng được những thay đổi trong xã hội. Các chế độ độc tài thất bại vì không thể bình thường hóa một nền nếp xã hội mà giới trung lưu nhìn thấy là không bình thường. Giới trung lưu thành hình khi kinh tế phát triển. Lợi tức lên cao khiến người ta muốn tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ mà người nước khác được hưởng. Sau khi thỏa mãn những nhu cầu sơ đẳng (cơm ăn, áo mặc, nhà ở) sẽ nẩy sinh những nhu cầu ở cấp cao hơn, như con cái được hưởng một nền giáo dục tử tế, mình được an toàn nhờ pháp luật bảo vệ, được thỏa mãn các nhu cầu tinh thần, như quyền được đóng góp ý kiến về những quyết định chung liên can đến mình. Nhu cầu cao nhất là quyền được lựa chọn, được quyết định, do đó cần được cởi trói khỏi chế độ độc tài. Người ta tin vào một số giá trị giống giới trung lưu ở các nước tiến bộ, vì trình độ học vấn tương tự. Với hiểu biết rộng hơn, họ cũng bớt bảo thủ, sẵn sàng chấp nhận những bất đồng về tư tưởng, ý kiến. Họ tự ý thức các quyền lợi của mình và quyền lợi chung của xã hội mình đang sống; và họ sẵn sàng lên tiếng đòi hỏi, nếu cần thì hành động để phản kháng.

Một xã hội không thể tạo ra một tầng lớp trung lưu trong khi vẫn duy trì một guồng máy kiểm soát đè nén không cho những khát vọng của giới trung lưu được thể hiện, qua xã hội công dân với những tổ chức mà giới trung lưu tự lập để thể hiện những giá trị bình thường của giới trung lưu khắp mọi nơi. Diễn biến tất sẽ xảy ra, hòa bình hay không hòa bình. Chế độ độc tài phải tan rã.
  Ngô Nhân Dụng
  (Người Việt)
 

Kami - Thái lan: Sai lầm và hậu quả của chính sách thu mua lúa gạo

Chưa yên với các cuộc biểu tình của phe đối lập, Chính phủ Thái Lan hiện nay còn phải đối mặt với các cuộc biểu tình đòi thanh toán tiền mua lúa gạo của nông dân.
Vấn đề khủng hoảng chính trị triền miên của Thái lan đã khiến cho báo chí tốn không ít giấy mực. Điều đã khiến nhiều nhà phân tích chính trị có uy tín đã tỏ ra mất kiên nhẫn và tỏ vẻ hoài nghi về cái gọi là dân chủ ở Thái lan, một xứ sở dân chủ có nền tự do hiếm hoi ở Đông Nam Á. Nơi mà quyền chính trị của người dân được khuyến khích và luật pháp bảo hộ, cho dù những quyền ấy bị lợi dụng trong việc tranh giành quyền lực giữa các phe phái.

Cũng cần phải nói, các cuộc biểu tình của các tổ chức Áo Vàng, Áo Đỏ...ủng hộ cho các xu hướng hay các đảng chính trị diễn ra hầu như triền miên trong nhiều năm qua có chung một mục đích như nhau là gây sức ép, nhằm buộc người đứng đầu chính phủ phải giải tán Quốc hội để tổ chức tổng tuyển cử hoặc cải cách chính trị. Tới mức có ý kiến thấy rằng cần sửa đổi Hiến pháp Thái lan, để rút thời gian giữa hai kỳ bầu cử xuống còn lại 2 hoặc 3 năm, thay vì là 4 năm một lần như hiện nay, nhằm tránh xung đột chính trị. Tuy nhiên một điều cũng cần phải nhắc lại, khủng hoảng chính trị ở Thái lan đến thời điểm này hoàn toàn không tạo ra bất ổn như truyền thông của nhà nước Việt nam từ xưa vẫn thường phê phán mặt trái của dân chủ. Nghĩa là mọi sinh hoạt thường ngày vẫn diễn ra bình thường, ngay cả ở những khu vực trung tâm của các cuộc biểu tình. Hình như người dân Thái lan đã có thói quen việc ai người ấy làm. Họ không bực tức và tỏ ra khó chịu khi những người đồng bào của họ sử dụng quyền của mình đã được luật pháp bảo hộ.

Những ngày này, khi cuộc khủng hoảng chính trị ở Thái lan lần này đã bước sang tháng thứ 4 và các hoạt động của lực lượng biểu tình chống chính phủ cũng chìm xuống. Từ 6 địa điểm biểu tình lớn án ngữ ở các vị trí giao thông huyết mạch trong thủ đô Bangkok, rút xuống còn 4 địa điểm và hoạt động của các địa điểm biểu tinh còn lại cũng dần tẻ nhạt. Trừ địa điểm trung tâm ở khu vực Maboonkrong và Suon Lumpini vẫn được duy trì một cách ổn định. Nhưng thay vào đó là một cuộc biểu tình mới của những người nông dân ở tất cả các tỉnh miền Trung Thái lan về Bangkok biểu tình phản đối chính phủ mua lúa của nông dân trên toàn quốc, vì đã 4-5 tháng sau khi mua lúa của nông dân nhưng chính phủ không chịu trả tiền cho họ. Ước chừng với số nợ của chính phủ đổi với nông dân lên đến khoảng hơn 4 tỷ USD và lãnh đạo nông dân biểu tình khẳng định họ không liên quan đến cuộc biểu tình chống chính phủ của ông Suthep Thuogsuban. Nhưng đáng ngạc nhiên là trong những ngày này, các hoạt động của cuộc biểu tình chống chính phủ của ông Suthep Thuogsuban chủ yếu là tổ chức tuần hành trên đường phố trung tâm Bangkok để hô hào người dân ủng hộ tiền bạc để cho nông dân duy trì biểu tình. Với mục tiêu số tiền ủng hộ cho nông dân sẽ vào khoảng 14 triệu baht (450.000 USD), và trong 2 ngày gần đây họ đã thu nhận được gần 10 triệu baht tiền ủng hộ của người dân Bangkok để chuyển cho nông dân.

Điều này hình như cũng đã bắt đầu hé lộ kịch bản cho hồi kết của chính phủ của bà Yingluck Shinnawatra, khi có liên quan đến cáo buộc tham nhũng một cách có tổ chức của chính phủ liên quan đến chính sách thu mua lúa gạo của nông dân. Điều này đã được Ủy ban bài trừ Tham nhũng Nhà nước - một cơ quan điều tra độc lập của nhà nước đã khẳng định là có cơ sở và Ủy ban này cũng đang ráo riết hoàn chỉnh hồ sơ để đề nghị truy tố. Nên nhớ, chỉ cần khi  Ủy ban bài trừ Tham nhũng Nhà nước có quyết định điều tra chính thức thì lập tức bà Thủ tướng cùng toàn thể nội các phải ngừng hoạt động.

Được biết, trong chiến dịch vận động tranh cử năm 2011 vừa qua, đảng Phue Thai (Vì nước Thái) của bà Yingluck Shinnawatra, em gái của cựu Thủ tướng Shinnawatra đang sống lưu vong ở nước ngoài vì bị cáo buộc tham nhũng, đã thắng lợi áp đảo nhờ chính sách nhà nước thu mua lúa của nông dân. Nhờ chính sách nhà nước thu mua lúa của nông dân, không quan tâm đến chất lượng với hai loại giá 15.000 baht/tấn đối với gạo thường và 20.000 baht/tấn đối với gạo thơm. Gía này cao hơn nhiều so với giá thị trường và cũng là nguyên nhân khiến xuất khẩu gạo của Thái lan sút giảm nghiêm trọng do giá bán ra cao hơn các quốc gia khác như Việt nam, Ấn độ... Phải nói với chính sách mang tính dân túy này đã nâng cao thu nhập của người nông dân, từ chỗ làm ruộng luôn lỗ đến chỗ làm ruộng có lãi nên chính sách này được đa số người dân ủng hộ. Mà ít ai biết rằng đây là một hành động biến tướng, dùng tiền của ngân sách để trục lợi, nhằm lôi kéo một bộ phận cử tri để giành quyền lực nhà nước thông qua bầu cử. Việc đó dẫn tới hậu quả lượng lúa tồn kho hiện tại của Thái lan còn lại khoảng 18 triệu tấn, trong lúc giá lúa ở Thái lan tại thời điểm này chỉ còn khoảng 5.800 -5.900 baht/tấn đối với gạo thường. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, nếu bán lúa vào thời điểm này thì toàn bộ giá trị tiền thu nợ không đủ trả nợ nông dân. Nhưng quan trọng hơn nó sẽ mang lại một con số sự thật chính sách thu mua lúa gạo đã làm thất thoát của ngân sách bao nhiêu tiền. Đó là lý do chính vì sao chính phủ Thái lan không bán lúa trong kho để lấy tiền trả nợ cho nông dân.

Cũng do trước đây chính sách của đảng cầm quyền là cấp thẻ tín dụng cho nông dân để mua các loại vật tư cho sản xuất nông nghiệp và khoản tiền này sẽ được nông dân hoàn trả sau khi thu hoạch. Bây giờ do nhà nước không trả tiền thu mua lúa dẫn tới nông dân cũng không thanh toán được các khoản nợ cho các tổ chức tín dụng. Nguy hiểm hơn là người nông dân không có vốn để tái sản xuất cho vụ mùa kế tiếp, nhiều khu vực phải bỏ hoang ruộng đất. Ngoài ra do không có tiền để duy trì cuộc sống bình thường, đa số các hộ nông dân phải đi vay nặng lãi hoặc bán các máy móc nông cụ để trả nợ. Tình trạng nông dân tự tử vì thiếu nợ xảy ra liên tiếp trong những ngày gần đây.

Khỏan nợ nông dân khoảng 130.000 triệu baht của chính phủ Thái lan hiện nay xảy ra vào đúng thời điểm chính phủ của bà Yingluck Shinnawatra chỉ giữ vai trò tạm nắm quyền, vì Thái lan lúc này đang ở giữa giai đoạn đang tiến hành bầu cử Quốc hội mới. Mà theo quy định thì, trong thời gian tạm quyền cấm chính phủ có các quyết định vay mượn các khoản tiền để thực hiện các công việc mang tính chất mua chuộc cử tri. Hơn nữa cuộc bầu cử quốc hội Thái lan đã diễn ra trong hoàn cảnh chưa từng có vì gặp phải sự ngăn cản của lực lượng chống chính phủ, đã khiến cho nhiều tỉnh ở khu vực miền Nam Thái lan không tổ chức dược bầu cử. Và cuộc bầu cử này có đánh giá cho rằng sẽ là vô hiệu, nghĩa là sẽ chưa có một chính phủ mới trong vòng ít nhất nhiều tháng tới. Đồng nghĩa với việc nhà nước nợ nông dân sẽ còn kéo dài nếu chính phủ tạm quyền của bà Yingluck Shinnawatra không tự ra đi hoặc bị buộc phải ra đi

Điều đó đã khiến chính phủ Thái lan đã tính đến phải bán một số công sản để lấy tiền trả nợ cho nông dân, vì các tổ chức tài chính tín dụng đều quay lưng lại với các đề nghị vay tiền của chính phủ Thái lan. Với lý do họ không muốn chuốc nợ vì đề nghị này pháp luật không cho phép. Hơn nữa nông dân các tỉnh miền Bắc và miền Đông Bắc Thái lan, vốn là địa bàn của đảng Phue Thai (Vì nước Thái) đến hôm nay vẫn án binh bất động không tham gia biểu tình để ủng hộ chính phủ. Song họ cũng cảnh báo nếu chính phủ không khẩn trương trả hết nợ cho nông dân thì họ cũng sẽ ra tay trong một ngày gần đây.

Tình hình không ủng hộ chính phủ cầm quyền ở Thái lan về mọi mặt, trong lúc quyền lực của chỉnh phủ bị bó hẹp, các áp lực chính trị ngày một lớn. Cho dù bà Thủ tướng Yingluck Shinnawatra nói rằng bà không thể ra đi vì luật pháp không cho phép Thủ tướng tạm quyền từ chức. Song lời giải của mọi vấn đề của chính trị Thái lan sẽ phụ thuộc vào quyết định Ủy ban bài trừ Tham nhũng Nhà nước, vấn đề chỉ là sớm hay muộn và cái thòng lọng đang từ từ siết chặt với chính phủ tạm quyền của Thái lan. Đó sẽ là một hồi kết âm thầm, một cuộc lật đổ không có sự can thiệp của quân đội. Điều mà bất kể ai ai, từ chính trị gia hay các tướng lĩnh đều không mong muốn, vì họ hiểu cái giá phải trả của một chính quyền độc tài, không được sinh ra từ lá phiếu của người dân đối với cộng đồng thế giới.

Việt nam có nhiều đỉểm tương đồng với Thái lan, không chỉ là cả hai cùng là nước nông nghiệp xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới. Mà văn hóa, con người, lịch sử cũng có sự gần gũi và chính trị cũng sẽ như vậy. Trong tương lai, một khi Việt nam thay đổi về thể chế chính trị đi chăng nữa, thì một số bài học kinh nghiệm của Thái lan cũng nên được lưu tâm. Nên biết gạn đục, khơi trong để tránh các nhược điểm mà họ mắc phải là một điều nên làm.

Đó là việc sử dụng cách thủ đoạn chính trị thì cần phải tính toán và cân nhắc một cách kỹ lưỡng.
Ngày 12 tháng 02 năm 2014
© Kami

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét