- Tổng thống Indonesia quan ngại tình hình Biển Đông (RFA)
– Tổng thống Indonesia, ông Susilo Bambang Yudhoyono hôm nay lên
tiếng nói rằng sẽ không có một giải pháp chóng vánh nào có
thể giải quyết được những tranh chấp chủ quyền tại vùng Biển
Đông.
- Trung Quốc giúp Philippines hoàn thành dự án cấp nước (RFA)
– Tổng thống Benigno Aquino hôm nay lên tiếng cám ơn Trung Quốc
đã giúp đỡ Philippines hoàn thành một dự án cấp nước lớn ở nước
này, trong bối cảnh vẫn còn những tranh chấp lãnh hải giữa 2
quốc gia.
- Bằng Giả, Bằng Dỏm (VietBao) – Câu
chuyện bằng giả là bình thường, vì chỉ cần một máy in đặt bên cạnh máy
điện toán, nối dây xong, dùng Photoshop phù phép là xong.
- Ý kiến ngắn: Áp lực kinh tế từ Trung Quốc (Đoàn Hưng Quốc) – Nhật
báo New York Times số ngày 8 tháng 7 năm 2012 đăng tin Thủ tướng Ôn Gia
Bảo thúc giục các doanh nghiệp Trung Quốc tăng cường xuất khẩu sang
Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á để bù đắp các lổ trống do khủng hoảng kinh
tế tại Âu-Mỹ mang đến.
Việt Nam hạnh phúc?
Trần Quỳnh Hoa
-
DCVOnline – Ngay sau khi New
Economics Foundation (NEF) phát hành báo cáo Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc
(The Happy Planet Index – 2012 Report, nef) vào tháng Sáu 2012, xếp hạng
Việt Nam là nước “hạnh phúc” chỉ sau Costa Rica, báo chí Việt Nam trong
nước đồng loạt đưa tin Việt Nam hạnh phúc (1). Sau đây là bản lược dịch
bài viết của Trần Quỳnh Hoa, một nhà báo viết cho VNS (Vietnam News),
nhật báo tiếng Anh do TTXVN phát hành từ năm 1991. Tựa trang nhất của
DCVOnline.
Chúng ta bằng lòng hay chẳng để ý?
Nhiều người Việt Nam rất hài lòng nếu nói là rất
vui mừng khi biết rằng nước Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới theo báo
cáo Happy Planet Index (HPI) 2012 đã phát hành tuần trước.HPI do Quỹ
Kinh tế Mới (New Economic Foundation) một cơ sở độc lập tại Vương quốc
Anh biên soạn xếp Việt Nam chỉ sau Costa Rica, và vượt xa các nước phát
triển và thịnh vượng như Na Uy (29), Vương quốc Anh (41), Nhật Bản (45)
và Mỹ (105 ) về mặt hạnh phúc.
Đó là một ý nghĩ đẹp, nhưng có thực sự đúng là những người sống ở các quốc gia giàu mạnh ít hạnh phúc hơn chúng ta?
Là á quân trong bảng xếp hạng hạnh phúc có thể làm một số người thỏa
mãn, nhưng một số người khác vẫn còn hoài nghi, vì nạn ô nhiễm mãn tính,
giao thông hỗn loạn, bệnh viện quá đông và giá bất động sản đắt đỏ tại
Việt Nam.
 |
Cảnh sát đụng độ với nông dân trong cuộc chiếm ruộng xây khu kỹ nghệ Bảo Minh tại Nam Định (Hanoi May 9, 2012.)
Nguồn: REUTERS/Nguyen Lan Thang
|
Kết quả một cuộc thăm dò công bố tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại
Davos hồi đầu năm nay cho Việt Nam là một trong 10 nước hàng đầu tồi tệ
nhất về nạn ô nhiễm không khí.
Trên đường lộ, mỗi ngày có khoảng 30 người thiệt mạng vì tai nạn giao thông tại Việt Nam.
Khi nói đến dịch vụ y tế, sức khỏe, thường hơn là hiếm khi thấy hai
hoặc ba bệnh nhân nằm cùng một chiếc giường tại những bệnh viện lớn của
Việt Nam. Trong khi đó, một cuộc thăm dò của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
năm 2010 cho thấy rằng giá của bảy loại thuốc phổ biến ở Việt Nam cao
gấp 5 đến 40 lần so với mức trung bình của thế giới.
Theo ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,
giá nhà trung bình hiện tại ở Việt Nam nhiều gấp 25 lần so với thu nhập
hàng năm của công nhân, năm lần hơn giá nhà trong thế giới phát triển
và gấp 10 lần giá nhà tại các quốc gia đang phát triển khác.
Ngay cả trong Báo cáo Phát triển Con người năm 2011, mà một phần của
Happy Planet Index đã lấy làm căn cứ, không cho thấy hình ảnh tích cực
đến thế về tình hình của Việt Nam. Bản báo cáo, do Chương trình Phát
triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), phát hành cho thấy chỉ số của Việt Nam nằm
dưới các nước trong nhóm phát triển con người trung bình và ngay cả còn
thấp hơn mức trung bình ở các quốc gia ở Đông Á và Thái Bình Dương.
 |
Bệnh viện ung thư Hà Nội: 2 bệnh nhân trên 1 giường
Nguồn: http://www.lienaid.org/
|
“Tiến bộ về mặt phát triển xã hội, gồm cả y tế và giáo dục, đã ít
nhanh hơn,” Setsuko Yamazaki, Giám đốc của UNDP tại Việt Nam nói. “Cũng
như ở nhiều nước có thu nhập trung bình khác, bất bình đẳng đang bắt đầu
tăng ở Việt Nam.”
Bà Yamazaki cho biết sự bất bình đẳng trong giáo dục, y tế và thu
nhập, môi trường đang hư hại, điều kiện thời tiết khắc nghiệt và những
thách thức của sự thay đổi khí hậu, tất cả đều đe dọa các tiến bộ Việt
Nam đã có về mặt phát triển.
“Vì vậy, hạnh phúc ở chỗ nào khi chúng ta bị tước mất tất cả các nhu
cầu cơ bản trong cuộc sống?” Nguyễn Thanh Hiền, 31 tuổi, người đã đi du
lịch nhiều nơi đặt câu hỏi. Bà Hiền không ngừng lặp lại những người sống
đang ở châu Âu, Bắc Mỹ, Australia hay Nhật Bản may mắn dường nào.
Nhưng không phải là quá khó khăn để hiểu lý do tại sao Việt Nam đứng
thứ hai trong Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc khi người ta nhìn vào các thành
phần chính của nó. Chỉ số, HPI, xếp hạng hạnh phúc của dân các nước dựa
trên tuổi thọ, phúc lợi và sự bền vững của môi trường (Happy Planet
Index = [(Cảm thấy có phúc lợi) x (Tuổi thọ)] / (Dấu chân sinh thái).
“Tuổi thọ”, trong Chỉ số Happy Planet dùng dữ liệu năm 2011 từ Báo
cáo Phát triển Con người của UNDP, có lẽ là dữ liệu duy nhất không bị dị
nghị và tranh cãi. Tuổi thọ của Việt Nam là 75,2.
Trong khi đó, về “dấu chân sinh thái”, mẫu số của phân số – dùng dữ
liệu của Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới (World Wildlife Fund) để tính
mức tiêu thụ tài nguyên. Điều này, theo Quỹ Kinh tế Mới, giải thích lý
do tại sao nhiều nước có thu nhập cao lại có điểm thấp về chỉ số hạnh
phúc – vì quần chúng dùng rất nhiều các nguồn tài nguyên thiên nhiên
[cho tiện ích đời sống hàng ngày].
“Cảm thấy có phúc lợi” là thành phần được đánh giá bằng cách dùng một
câu hỏi gọi là “bậc thang của cuộc sống” của Cuộc thăm dò Toàn cầu cua
hãng Gallup. Để có dữ kiện về “Cảm thấy có phúc lợi” Quỹ Kinh tế Mới đã
hỏi 1.000 người ở mỗi nước tưởng tượng ra một cái thang trong đó “0” là
bậc đánh giá cuộc sống tồi tệ nhất và “10” là bậc đánh giá có cuộc sống
tốt nhất, và cho biết họ cảm thấy đang đứng ở bậc thang thứ mấy. Việt
Nam đứng ở bậc 5,8 (trong số 10) về mặt này.
Đối với Hiền, người đã đi du lịch nhiều nơi, số điểm “Cảm thấy có
phúc lợi” của Việt Nam là quá cao nhưng có lẽ là phản chiếu sự ngây thơ
của người trả lời thăm dò; nhiều người [trả lời thăm dò] có thể không
bao giờ biết đến cuộc sống trong thế giới phát triển, và chỉ đơn giản là
cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống hiện có.
Bà Nguyễn Thị Vinh, 80 tuổi, người Hà Nội đã sống qua cả hai cuộc
chiến tranh Pháp và Mỹ và không bao giờ đi du lịch ở nước ngoài, tin
rằng bà đang sống như mơ.
“Ông bà không thể tưởng tượng cuộc sống mấy mươi năm trước nó khổ đến
thế nào. Tôi không thể có một đêm ngủ yên hay ngay cả có một bữa ăn mà
không phải chạy vào hầm tránh bom,” bà nói. “Bây giờ chúng tôi có thức
ăn ngon để ăn, quần áo tốt để mặc và không phải thấy con cháu trong gia
đình của chúng tôi hoặc bạn bè bị giết. Chúng tôi còn muốn gì hơn thế
này nữa?”
 |
Dân chúng biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Viêt Nam (Hà Nội, on June 26, 2011)
Nguồn: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images
|
Những vấn đề về đo lường hạnh phúc được nhà kinh tế Ấn Độ và cũng là
người đoạt giải Nobel, Amartya Sen, đưa ra trong cuốn sách của ông, “The
Idea of Justice”.
“Ngay cả với cùng một người, việc dùng bậc thang hạnh phúc có thể gây
khá nhiều hiểu lầm nếu bỏ qua tầm quan trọng của những thiếu thốn khác
mà có thể không được đánh giá đúng mức trong các bậc thang hạnh phúc,”
ông viết. “Mối quan hệ giữa hoàn cảnh xã hội và nhận thức [cá nhân] cũng
đưa đến các vấn đề khác trong sự cảm nhận về tiện ích vì nhận thức con
người có thể có khuynh hướng che mắt chúng ta không cho thấy những thiếu
thốn thực sự chúng ta đang có, mà chỉ với một sự hiểu biết rõ ràng hơn
và nhiều thông tin hơn có thể mang lại cho chúng ta.
Để giải thích ý tưởng này, giáo sư Amartya Sen đưa vấn đề sức khỏe
làm ví dụ. “Một trong những phức tạp trong việc đánh giá tình trạng sức
khỏe bất nguồn từ sự hiểu biết thực tế của mỗi người về sức khỏe của họ
có thể bị giới hạn vì thiếu kiến thức y tế và không quen thuộc đủ với
những thông tin khác để so sánh.”
Vì vậy, người Việt Nam có thực sự hạnh phúc không – và chúng ta thực sự có cần phải đặt câu hỏi?
© DCVOnline
Nguồn: –
Are we content or oblivious? VNS, June 20, 2012.
–
The Happy Planet Index – 2012 Report. (2.7 MB)
(1) –
‘Việt Nam là nước hạnh phúc thứ hai trên thế giới’. TTXVN, 16/6/2012
–
Việt Nam “hạnh phúc” như thế nào? Cảnh Toàn, sgtt.vn, 16.07.2012.
–
Người Việt Nam có hạnh phúc thứ 2 thế giới? Đào Văn Khanh, Tuần Việt Nam.
–
Người Việt Nam hạnh phúc thứ 2 trên thế giới. Linh San (Theo Ticotimes). NLĐO 16/06/2012.
Trong lịch sử, người Pháp đã đánh giá người Trung Hoa như thế nào?
Nông dân ra phố
-
Lời giới thiệu: Đây là một tư liệu được trích từ cuốn “Phan Châu Trinh
qua những tài liệu mới”. Quyển 1 tập 1. NXB Đà Nẵng – 2001. Cuốn sách
này, như tên gọi của nó mục đích không phải giới thiệu những tư liệu của
người Pháp nói về người Trung Hoa, mà nói về cụ Phan Châu Trinh.
Tuy nhiên, lí do mà chúng tôi (tức Nông
dân ra phố) giới thiệu là trong một tư liệu cụ thể này, đã thể hiện rất
rõ cách nhìn nhận và đánh giá của một Viện sĩ người Pháp đối với người
Trung Hoa trong mối quan hệ với người An Nam cũng như Đông Dương. Hơn
nữa, cũng phần nào hiểu thêm về con người Hoàng Cao Khải trong những
nội dung trình bày của nhân vật còn nhiều ý kiến đánh giá này.
Trong tình hình ở Biển Đông, nước Trung
Quốc hiện tại đang có những hành động gây hấn, âm mưu xâm lược biển đảo,
xâm phạm vùng biển tài nguyên của Việt Nam; ở trong đất liền thì những
công dân Trung Quốc liên tiếp có những hoạt động và hành động có tính
gian dối, thủ đoạn, lũng đoạn thị trường như buôn bán nông sản với bà
con nông dân với các chiêu ghìm giá, đẩy giá rồi chạy làng; rồi tại các
phòng khám đa khoa Trung Quốc tại VN cũng có liên tiếp các vụ chết
người, bác sĩ người Trung Quốc bỏ chạy,… khiến chúng ta không thể không
nghĩ kĩ hơn về người Trung Hoa hiện tại cũng như trong lịch sử trong mối
quan hệ với Việt Nam ta.
Từ thực tế đó, đọc lại những gì mà viện
sĩ De Brieux viết trong cuốn Thăm Ấn Độ và Đông Dương mà chúng tôi giới
thiệu dưới đây thì thấy cái BẢN CHẤT CỐ HỮU của người Trung Quốc từ 1909
đến nay vẫn có những nét không thay đổi. Hành động, động cơ, âm mưu của
họ trong một số lĩnh vực dù trong 1909 hay trong 2012 vẫn có nét tương
đồng về bản chất, chỉ có khác về hiện tượng.
Điều đó cho thấy, cảnh giác với người Trung Hoa trong bảo vệ tài nguyên,
lãnh thổ,(cả về văn hóa nữa) là không thừa và cần kíp khẩn trương hơn
bao giờ hết.
Tôn trọng các tư liệu lịch sử và không
quên những khó khăn của đất nước trong hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi xin
được trích lại nguyên văn đoạn trích Thăm Ấn Độ và Đông Dương của Viện
sĩ De Brieux in trong cuốn sách trên.
Nông dân ra phố xin trân trọng giới thiệu:
Tài liệu 26
Lưu CAOM –A947
VIỆN SĨ DE BRIEUX VIẾT VỀ CUỘC GẶP HOÀNG CAO KHẢI
(Trích “ Thăm Ấn Độ và Đông Dương”)
…”Ông Jules Roux quan ba bộ binh đã dịch
và tôi đã có được một văn kiện của ông phó vương. Ông là thành viên của
Hội đồng cao cấp Đông Dương có Huy chương Bắc đẩu Bội tinh.
Ông Phó vương trước tiên đặt nguyên tắc là hiện nay các dân tộc ở vào
địa vị thấp kém hơn bắt buộc phải dựa vào những nước thuân lợi hơn. Ví
dụ như nước Pháp ngày xưa đã bị La Mã đô hộ 400 năm nhờ đó mà văn minh
lên… Và ông nói tiếp:
“Nước chúng tôi có sai lầm là không sớm
mở cửa buôn bán với các vị ngay từ thời của Louis XIV có yêu cầu. Và năm
1858 đã chống nhưng không chống nổi để mất Nam Kỳ, năm 1884 đã chống đi
đến phải chịu bảo hộ.
Đất nước đã sai lầm để cho cả dân tộc phải gánh chịu. Nhưng Pháp khong đến chiếm thì chắc chắn sẽ có cường quốc khác chiếm thôi”
Sau khi kể qua quá trình thiết lập chế độ cai trị, ông kể qua những ơn nghĩa của nước Pháp:
“Nhìn chung có nhiều việc lớn và có ích: như xây dựng các thành phố
Saigon, Tourance, Hải Phòng… ngày xưa chỉ là những vũng lầy và cát
trắng, bây giờ thành những thành phố lớn có tàu thuyền các nước đến buôn
bán. Đó là những công trình vĩ đại.
Đường sá ngày xưa rất kém, đi chủ yếu là
đi bộ và chir có đường quốc lộ. Đường thủy thì trước chỉ có thuyền bè,
bây giờ có đủ tàu xuồng máy đi trên sông và biển, cả tàu vượt đại dương.
Lại có đường sắt, có tàu điện. Ở trên bộ, dưới nước đều có phương tiện
đi lại.
Ngày xưa con cái chúng tôi khi có dịch
đậu mùa thì chết hàng loạt, dân ốm đau không có nhà thương chữa trị, bây
giờ có chủng đậu thường kỳ. Các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Hải
Phòng v.v… đều có nhà thương, người bệnh không có tiền cũng được đến
chữa trị không mất tiền.
Chính phủ Bảo hộ đã lập ra một trường Y
cho người An nam. Trong tương lai sẽ có nhiều người An nam làm nghề chữa
trị cho người An nam, sẽ giảm bớt ốm đau, tăng thêm dân số.
Ngày sưa sản vật làm ra khó tiêu thụ và phải bán rẻ.
Bây giờ đường sá thông thương, có thể bán
ra cả nước ngoài như lúa gạo, Nam Kỳ xuất 732.000 tấn/năm; Bắc Kỳ xuất
114.000 tấn/năm. Và còn nhiều nông sản, sản phẩm công nghiệp khác. Ngày
càng tăng tiến trong sản xuất và buôn bán.
Không cần nói, ai cũng thấy nhờ Chính phủ Bảo hộ dân được một số lợi ích…”.
“Nhưng tuy vậy, do cách cai trị chưa tốt mà cho đến nay, Chính phủ Bảo hộ không chiếm được trái tim của mọi người.
Chúng tôi thấy có 3 nguyên nhân:
Thuế má quá nặng
Chọn lựa quan lại Nam không đủ tiêu chuẩn bảo đảm, nhiều người không xứng đáng với chức vụ của họ.
Cố gắng của chính phủ trong mở mang trường học cho dân còn kém.
Tôi thấy dân Nam cần nhìn và dựa vào nước Pháp vì:
Trong 5 năm qua, sau khi thấy Nhật thắng Nga, người ta có tư tưởng một
dân tộc nhỏ có thể thắng một cường quốc to. Từ đó mà có những hội, những
đảng hoạt động trong nước, đồng thời có những hội, những đảng hoạt động
ngoài nước…
Nhưng có thể khẳng định là nếu dùng bạo loạn, nước Pháp sẽ thắng, kết quả sẽ không đến đâu cả.
Vấn đề cuối cùng nóng bỏng nhất là: Chúng tôi tự hỏi, một ngày kia có thể độc lập được không?
Đã có 2 cơ hội mà đã bị bỏ qua đi rồi…
Bây giờ có cơ hội thứ 3 không biết có hi
vọng được không? Đó là vấn đề dựa hẳn vào nước Pháp để cải tạo nền giáo
dục của mình và tiến bộ lên.
Nếu làm được như vậy, thì nhờ sự tiến bộ
của mình, chúng tôi nghĩ là nước Pháp trước tiên sẽ cho chúng tôi quyền
tự trị, chỉ giữ lại quyền đại diện chúng tôi ở bên ngoài với các nước mà
thôi…
Chúng tôi sẽ được như Canada và Úc vậy…”
Ông De Brieux bình luận và kết luận:
“Tôi cho là tham vọng đó hoàn toàn chính
đáng, đáng khen và cao thượng. Chúng ta phải yên trí là từ nay chính phủ
Pháp sẽ trả lại quyền tự trị cho họ. Để họ tự cai quản một cách hoàn
toàn độc lập.
Chúng ta không thể thờ ơ trước một sự biểu thị đẹp đẽ như vậy về lòng tin cậy. Chúng ta không thể đánh lừa hi vọng đó…
Vai trò mà vị Phó vương yêu cầu ta làm là
hoàn toàn hợp với truyền thống, với tinh thần đại lượng và nghĩa vụ
chúng ta trước nhân loại.
Hiểu như vậy thì công cuộc chiếm thuộc địa không còn mang tính chất hành động kẻ cướp nữa.
Nếu sức mạnh và sự cao đẳng cho phép một
nước có quyền can thiệp bằng vũ lực vào số mệnh của một dân tộc khác thì
quyền đó sẽ đưa lại những nghĩa vụ không thể trốn tránh được để đáp
lại. Nghĩa vụ đó là làm cho dân tộc bị trị những điều kiện sớm nhất để
xứng đáng được độc lập.
Một hành động chính trị cao đẹp nhất là nói với người An nam”
“Chúng ta không phải là chủ mà là kẻ đỡ
đầu của các người. Khi các người đủ mạnh về tinh thần để khỏi cần sự đỡ
đầu đó, đủ mạnh để không trở thành miếng mồi, đủ giàu để không thể mất
mặt với thiên hạ, thì chúng ta trả lại quyền cho các người, chúng ta
không cầm tay dắt đi nữa mà, như người cha thấy con đủ sức đương đầu với
cuộc sống, sẽ để cho con tự mình cai quản lấy mình, để cho con mình tự
đi trên con đường mà chúng ta đã chỉ lối cho. Và chúng ta sẽ nhìn theo
như cha nhìn con, anh nhìn em, tự hào về các người…
Chính do các người ự quyết định lấy ngày
giải thoát. Nền tự do đã ở đó, các người phải giành lấy. Đây là trường
học. Đó là những vũ khí cần thiết hiện nay. Hãy cầm lấy. Chúng ta mang
đến cho các người và bày cho cách sử dụng. Đừng ham độc lập quá sớm. Nếu
hôm nay thoát ngay khỏi sự giúp đỡ của chúng ta, các người sẽ rơi vào
tay những tên chủ không đại lượng bằng. Hãy tin chúng ta và làm việc đi.
Sẽ là một ngày vinh quang cho các người mà chúng ta có thể thôi không
coi các người là con trẻ mà là những người em…”
…Phải nghĩ và làm quen với ý nghĩ là dù chúng ta có làm gì đi nữa cũng không thể mãi mãi giữ Đông Dương được.
Nếu chúng ta không trả cho người An nam thì có kẻ sẽ giành lấy.
Và kẻ đó chính là nước Trung Hoa.
Và ngày mà ở châu Âu chúng ta phải đương
đầu với một cường quốc thì ngày đó người Trung Hoa sẽ nhẹ nhàng chiếm
Đông Dương như người Ý năm 1870 đã chiếm lấy đất đai của Gíao hoàng. Nếu
người Sài Gòn muốn chống lại thì với 100 nghìn người Trung Hoa ở chợ
Lớn họ không cần súng ống cũng trị được. Ở đâu trên đất Đông Dương cũng
vậy, cứ 1 người Pháp thì đã có 20 người Trung Hoa.
Và ngay người An nam, nếu ta không cảm
hóa họ, cũng sẽ đưa tay ra đón những người Tàu mà họ gọi là “các
chú”chưa quên những người đó đã là chủ cũ của nước này.
Nhưng Trung Quốc có cần xâm chiếm không?
Đông Dương đã là của họ rồi. Chúng ta là chủ danh nghĩa, họ là chủ thật
sự. Chúng ta đưa lính đến, họ đưa con buôn đến. Chúng ta mơ có thuộc địa
để đến làm giàu, nhưng chính họ thực hiện giấc mơ đó. Chúng ta cai trị
thuộc địa, họ khai thác nó.
Ta coi người nông dân An nam là xa lạ, họ
quen biết, họ nói cùng tiếng nói, họ dùng tiền mua thốc lúa non, lúa
già, mua trả sòng phẳng. Họ biết tính để cho người nông dân đủ sống để
cày cuốc làm ra thóc gạo.
Thương nghiệp nằm trong tay họ. Họ tuồn
thóc gạo cả xứ theo các kênh rạch về các hãng xay xát ở chợ Lớn và, bán
gạo xong họ nhét tiền đầy túi, trở về xứ sở nằm nghỉ.
Sức mua bán của dân tộc này thật kỳ quặc.
Trong một làng nghèo đói không mua bán gì, có một người Tàu đến, nhân
làm thuê vất vả… Chỉ 2 năm sau, y có một cửa hàng nhỏ, cả làng đều vay
mượn y. Và những người Tàu khác sẽ đến theo.
Sự đoàn kết của họ ngoài sức tưởng tượng:
trong cửa hàng, đến giờ ăn họ xúm lại quanh bàn, ở trần như nhau, không
phân biệt chủ và người làm. Ăn xong là làm việc, kỷ luật ra trò. Họ
biết chia nhau quyền lợi, không tranh chấp, đoàn kết chặt chẽ. Ví dụ ở
Rangoom họ quyết định không để cho ngời Tàu kéo xe, thế là không có
người Tàu kéo xe. Thợ Tàu đến được dùng vào làm việc khác.
Họ không sợ khổ, không sợ chết. Họ chèo thuyền ra đánh cá trong lúc sóng to gió lớn…
Họ bất chấp toán học và vẫn tính toán đâu vào đấy. Họ thông minh và rất
nhạy cảm với cái mới. Cái gì họ không mời nước ngoài đến làm là họ tính
để tự làm. Quân lính họ sử dụng vũ khí thành thạo, hành quân cả sư đoàn…
Làm sao ta có thể bảo vệ Bắc Kì khi họ
cảm thấy bị chật chội hay buôn bán khó khăn và đưa một quân đoàn vượt
qua Lạng Sơn? Suốt dọc biên giới chúng ta không có hành lũy pháo đài nào
để chống trả cả.
Với biển người của họ, ta làm sao chống
được bằng máy tiểu đoàn? Nếu có thủy quân họ sẽ vào thẳng Nam kỳ, qua
Cap Saint Jacques có khó hơn chút ít thôi. Chúng ta không có phòng thủ
gì hết trên sông Sài Gòn…
Trong khi tính toán tất cả các vấn đề đó,
chúng ta phải cố gắng đặt dấu ấn trên người An nam, càng sâu càng tốt
để sẽ còn một cái gì đó của trí tuệ chúng ta tiếp tục được duy trì…”
(Theo: Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Kim):
Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới. Quyển 1 tập 1. NXB Đà Nẵng –
2001. Từ trang 139 đến 145.)
Sự kiện ‘Ô Khảm’ ở Trung Quốc nói lên điều gì?

Ông Lâm Tổ Loan (Lin Zuluan), một trong những người lãnh đạo cuộc phản
kháng ở Ô Khảm, được bầu làm Chủ tịch xã Ô Khảm ở tỉnh Quảng Đông thuộc
miền nam Trung Quốc
Bùi Tín
17.07.2012
Ô Khảm là tên một ngôi làng ven biển phía
Nam của Trung Quốc. Từ cuối năm 2011 Ô Khảm nổi lên trên các phương
tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc và toàn thế giới. Sang năm 2012,
tên làng Ô Khảm – Wu Kan càng nổi bật trong các bài bình luận quốc tế
về Trung Quốc trên các tờ báo lớn của Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Đức, Ý, Nhật,
Úc…Các nhà chính trị nói đến sự kiện Ô Khảm, mô hình Ô Khảm, giải pháp Ô
Khảm, tư duy Ô Khảm và cả con đường Ô Khảm cho Trung Quốc khi Đại Hội
đảng CS Trung Quốc lần thứ 18 sắp đến gần.
Sự kiện Ô Khảm nổ ra ngày 21 tháng 9/2011 khi hàng trăm nông dân mất đất
của làng này kéo đến trước trụ sở chính quyền và đảng ủy đòi lại ruộng
đất đã bị thu hồi nhằm xây dựng một khu công nghiệp, với số tiền đền bù
rẻ mạt. Họ bị lực lượng công an xã ngăn chặn, giải tán. Hôm sau nông dân
lại xuống đường đông hơn, gần một ngàn nông dân kéo đến đấu tranh quyết
liệt hơn. Lực lượng công an cũng được tăng cường. Đã xảy ra xô xát,
phía nông dân và phía công an đều có người bị thương. Một số nông dân bị
nghi là cầm đầu cuộc đấu tranh bị bắt, bị đánh đập, tra tấn có thương
tích. Ngày 23/9, ngày thứ 3 của cuộc đấu tranh, số nông dân xuống đường
đông đảo hơn, hầu như toàn dân làng Ô Khảm, cùng với nông dân làng bên
cạnh. Huyện Lục Phong phải cử cán bộ và lực lượng an ninh xuống dàn xếp
và tạm ổn định tình hình.
Đến ngày 14/12/2011, tình hình căng thẳng
gay gắt khi có tin một đại diện thôn của Ô Khảm là ông Tiết Cẩm Ba đang
bị giam trên huyện về tội cầm đầu cuộc nổi dậy tháng 9, chờ ngày ra tòa
về tội sách động nông dân chống đảng và nhà nước, đã chết trong tù.
Nhân dân cả làng đổ xô ra đường, với khí thế uất hận căm thù, một số
mang khăn tang, có người mang cả gậy gộc, làm cho cán bộ và công an bỏ
trốn hết. Nông dân đập phá một số phòng làm việc của đảng ủy và trụ sở
công an thôn. Tình hình vang động toàn quốc và ra thế giới.
Nếu cứ giải quyết ở Ô Khảm như ở những
nơi khác trên toàn lãnh thổ Trung Quốc thì một số người cầm đầu cuộc nổi
dậy đã bị tù giam từ 2 đến 5 năm, tiền đền bù cho nông dân có thể được
nâng lên đôi chút và nông dân vẫn mất đất và khu công nghiệp vẫn hình
thành. Nhưng không, sự việc sau đó đã diễn ra khác hẳn, trái ngược hẳn,
vì lẽ…
Vì lẽ có sự can thiệp của ông Wang Yang –
Uông Dương, năm nay 55 tuổi, quê ở Tô Châu tỉnh An Huy, hiện là bí thư
tỉnh ủy đảng CS Trung Quốc tỉnh Quảng Đông, tỉnh có 100 triệu dân, là
tỉnh đông dân nhất, cũng là tỉnh giàu có nhất của Trung Quốc, PNB – giá
trị sản lượng hàng năm luôn đứng đầu các tỉnh thành. Ông Uông Dương là
ủy viên bộ chính trị gồm 25 người từ Đại hội đảng CS thứ 17 (năm 2007),
có nhiều triển vọng vào ban thường vụ bộ chính trị gồm 9 người trong Đại
hội thứ 18 cuối năm nay.
Cuối năm 2011 ông cử ngay một đoàn điều
tra xuống Ô Khảm rồi sau đó ông đích thân xuống tận nơi đối thoại trực
tiếp với người dân bình thường thôn Ô Khảm. Do có tư duy độc lập, có
công tâm và tinh thần tôn trọng nhân dân, ông đã giải quyết sự kiện Ô
Khảm một cách phân minh, công bằng, theo luật pháp. Dưới sự lãnh đạo
trực tiếp của ông và tỉnh ủy, tòa án trả lại tự do cho các nông dân bị
giam trong vụ Ô Khảm, việc xây dựng khu công nghiệp bị đình hẳn lại,
những nhân viên công an dùng bạo lực với dân và nhất là làm chết dân bị
kỷ luật và có người bị truy tố.
Ông chỉ đạo trực tiếp cuộc chấn chỉnh
đảng bộ thôn Ô Khảm, làm thí nghiệm và làm gương mẫu cho toàn tỉnh. Tiếp
theo là một cuộc bàu cử thật sự dân chủ trong đảng bộ và ngoài nhân dân
của thôn Ô Khảm có hơn 1300 dân; trúng cử vào đảng ủy và hội đồng nhân
dân là những đảng viên và công dân có hiểu biết, công tâm và tinh thần
phục vụ nhân dân, do chính các công dân bàn bạc lựa chọn kỹ và bỏ phiếu
trực tiếp.
Một điều làm nhân dân nức lòng là bí thư
đảng ủy thôn Ô Khảm mới được bầu là ông Lâm Tổ Loan, từng bị giam và bị
đe dọa đưa ra tòa về tội kích động nhân dân phá rối trật tự trị an xã
hội. Ông Lâm được số phiếu cao nhất. Thay vì nằm trong tù, ông và một số
bạn ông trở thành người lãnh đạo.
Sự kiện Ô Khảm và sự kết thúc rất có hậu
có thể có tác dụng sâu đậm, vượt rất xa tầm vóc của một thôn ven biển và
có thể tác động đến tình hình toàn Trung Quốc rộng lớn.
Bởi vì gần đây có 2 mô hình sẽ đưa ra
trình Đại Hội 18. Một là mô hình của Bạc Hy Lai, bí thư thành ủy Trùng
Khánh, được coi là mang tính chất cực tả, với nội dung là duy trì sự
sùng bái Mao, khôi phục những bài hát, y phục thời Mao, phát huy tinh
thần và lối sống đầy khí thế “cách mạng văn hóa vô sản trong sáng” đã bị
bỏ quên. Thật ra đây chỉ là phản ứng không tưởng viển vông trước sự suy
đồi đạo đức xã hội, khi tiền bạc làm chúa tể và nạn nhũng, thói hưởng
lạc vật chất đang ăn sâu lan rộng.
Bạc Hy Lai là ngôi sao đang lên, cũng như
Uông Dương, được dự kiến vào ban thường vụ bộ chính trị 9 người. Nhưng
ngôi sao này đã đột ngột tắt ngấm giữa tháng 3 vừa qua khi bị mất hết
chức, bị điều tra cùng bà vợ Cốc Khai Lai trong vụ giết một tỷ phú người
Anh và trong nhiều vụ án kinh tế, 2 vợ chồng có thể bị kết án rất nặng,
từ tù chung thân đến tử hình. Rồi sẽ như nguyên bí thư thành ủy Thượng
Hải Trần Hy Đồng cũng từng là ủy viên bộ chính trị, bị tuyên án tử hình.
Nay mô hình Trùng Khánh của ông Bạc Hy Lai coi như chết yểu từ trong
trứng.
Mô hình thứ hai chính là mô hình Quảng
Đông là vùng đất đang phồn thịnh, do Uông Dương đề xuất. Lập luận của
Uông là thành tích đổi mới rất lớn, quý giá nhưng chưa vững chắc, luôn
có nguy cơ phá sản vì có nhiều nhược điểm nguy hiểm. Cái gốc của vấn đề
là trên thực tế đã đặt đảng cao hơn dân, đảng bao biện, quan liêu, xa
rời dân. Ông căn dặn cán bộ đảng viên không được quan niệm rằng đảng đem
lại hạnh phúc ấm no cho dân. Tất cả sức mạnh, thành tích đều do dân.
Dân chủ trực tiếp là con đường thắng lợi.
Ông đã xắn tay áo giải quyết cuộc khủng
hoảng gay gắt ở Ô Khảm và tạo nên một mô hình sống động có sức thuyết
phục. Vấn đề quan hệ giữa nông dân với đảng cộng sản và vấn đề sở hữu
ruộng đất của nông dân đang được đặt ra cấp bách. Đã có 180.000 cuộc đấu
tranh tập thể của nông dân trong cả nước một năm qua.
Ông Uông Dương cũng quan tâm xây dựng xã
hội dân sự, quan tâm đến sự hình thành của những tổ chức phi chính quyền
trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, từ thiện, làm cho xã hội
năng động, có sức sống. Một hạn chế nổi bật của mô hình Quảng Đông là
chưa vượt qua được quan điểm chuyên chính vô sản của một đảng duy nhất,
chưa bước hẳn vào quan điểm dân chủ đa nguyên, đa đảng, nghĩa là dân chủ
thứ thật, dân chủ tiên tiến, hiện đại.
Các học giả tiến bộ Trung Quốc nhận định
dầu sao mô hình Quảng Đông của Uông Dương cũng là một tiến bộ khá lớn so
với mô hình hiện tại trong cả nước. Đây có thể coi như mô hình cấp tiến
quá độ tách ra khỏi khuôn mẫu giáo điều bảo thủ hiện nay.
Hiện còn có mô hình dân chủ đa nguyên đa
đảng ngày càng có tiếng vang trong giới học giả Trung Quốc do trung
tướng Lưu Á Châu, hiện là chính ủy Học viện quân sự cấp cao ở Bắc Kinh
đề xướng. Lập luận của tướng Lưu là vì yêu nước, yêu đảng CS mà ông chủ
trương cần học hỏi áp dụng cái tốt, cái hay ở mọi nơi. Theo ông, mô hình
đa đảng, các quyền phân lập, có kiểm soát, ganh đua, thay thế nhau, cân
bằng quyền lực, được thực hiện ở Hoa Kỳ và nhiều nước phương Tây, vẫn
đang hoàn thiện thêm, là mô hình tối ưu, cần nghiên cứu vận dụng sáng
tạo cho mỗi nước, trước hết là Trung Quốc.
Theo phân tích của các giáo sư chính trị ở
Đại học Thanh Hoa – Bắc Kinh, trong thường vụ bộ chính trị (9 người)
cũng như trong bô chính trị ( 25 người ), có thể chia làm 3 phái, 1 phái
trung gian, 1 phái thiên tả và 1 phái thiên hữu. Phái trung gian thường
chiếm ưu thế.
Hiện nay trong khi ông Hồ Cẩm Đào thuộc
phái trung gian thì Thủ tướng Ôn Gia Bảo lại thuộc cánh tả. Ông Ôn luôn
chủ trương đi sát dân, lắng nghe công luận, thực hiện dân chủ từ cơ sở.
Ông công khai thừa nhận là môn đệ của Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương,
đòi khôi phục danh dự cho các nạn nhân vụ Thiên An Môn năm 1989, đòi
chấm dứt trừng phạt tổ chức Pháp Luân Công, ông luôn tỏ thái độ mặn mà
với mô hình Quảng Đông của Uông Dương.
Lãnh đạo của Trung Quốc sẽ đi theo hướng
nào, là vấn đề lớn sẽ sáng tỏ dần qua Đại hội đảng CS lần thứ 18 dự kiến
sẽ họp vào đầu tháng 10/2012 này, với 2.270 đại biểu. Có điều gần như
chắc chắn là ông Tập Cận Bình thay ông Hồ Cẩm Đào trên cương vị tổng bí
thư kiêm chủ tịch nước, Lý Khắc Cường thay ông Ôn Gia Bảo trên cương vị
thủ tướng. Chưa biết Uông Dương sẽ ở vào cương vị nào và mô hình Quảng
Đông – Ô Khảm của ông sẽ được Đại hội 18 đánh giá ra sao.
Nhân dịp này một việc làm bổ ích là so
sánh tình hình sinh hoạt học thuật giữa Trung Quốc và Việt Nam. Dù sao ở
Trung Quốc sinh hoạt học thuật cũng cởi mở, thoáng đãng hơn rõ rệt. Các
mạng tự do và quốc doanh đều đưa công khai những quan điểm hung hăng
hiếu chiến nhất, như dọa diệt dân Việt vô ân bạc nghĩa, làm lễ vật tế
thần cho trận chiến Tam Sa. Quan điểm hiếu chiến cực đoan đòi tiêu diệt
Hoa Kỳ bằng vũ khí hóa học để chinh phục thế giới không bị kiểm duyệt.
Ngược lại, quan niệm học và vận dụng theo mô hình Hoa Kỳ của một chính
ủy đầy quyền uy đang tại chức, cầm đầu một học viện quốc phòng đào tạo
tướng lĩnh cho quân đội, vẫn được tự do truyền bá.
Có điều gì như tự do thái quá, phóng
khoáng quá mức, thả lỏng việc truyền bá chiến tranh và đối lập chủng tộc
vốn bị coi là vi phạm luật quốc tế. Nhưng điều có lợi và bổ ích là các
quan điểm tiến bộ cũng được phơi bày và còn được thực thi như mô hình Ô
Khảm ở Quảng Đông, một làng ven biển sát khu kinh tế Thẩm Quyến sôi
động, không xa Hồng Kông, nhìn thẳng sang Đài Loan – một địa bàn dân chủ
đa đảng tiền phong của Trung Quốc.
Sau khi mô hình Trùng Khánh bị thui chột
do số phận hẩm hiu của cặp vợ chồng Bạc Hy Lai, mô hình Quảng Đông của
Uông Dương tăng thêm giá trị. Tuy nhiên số phận của mô hình này ra sao
còn tùy thuộc ở tác động của nó vào đông đảo nhân dân, vào trí thức, các
nhà báo, các nhà nghiên cứu, học giả, từ đó tác động vào trong đảng,
vào các đại biểu Đại hội 18 sắp đến.
Đảng CS Trung Quốc từng có những nhà cải
cách cấp tiến như Hồ Diệu Bang, như Triệu Tử Dương, gần đây có ông Ôn
Gia Bảo, nay lại có Uông Dương, Lưu Á Châu…với nhiều mô hình mới mẻ để
cân nhắc, so sánh, lựa chọn.
Ở Việt Nam tuy ngày càng có nhiều trí
thức dấn thân trong nghiên cứu chính trị cũng như trong hành động chính
trị cho dân chủ và tiến bộ xã hội, nhưng việc nghiên cứu chính trị còn
giản đơn, thô sơ, không khí học thuật bị xu thế giáo điều kiềm chế
nghiệt ngã, các viện nghiên cứu bị đóng khung trong một khuôn tư duy
khép kín, mà tiêu biểu nhất là Học viện chính trị – hành chánh quốc gia,
lại là nơi trì trệ, nhạt nhẽo nhất. Kết quả đáng kinh sợ là lại xưng
tụng các khẩu hiệu: kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, kiên định chế độ
độc đảng, kiên định chủ nghĩa xã hội, kiên định lấy quốc doanh làm chủ
đạo cho nền kinh tế, thế là chấm hết.
Cả 14 ủy viên bộ chính trị, chưa ai đưa
ra nổi một mô hình, một phương châm, một chủ kiến do tư duy độc lập của
chính mình. Chỉ duy nhất Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng được coi là nhà lý
luận “lớn” lại sang tận Cuba để trổ tài hùng biện rao bán một một học
thuyết đã lỗi thời, quan điểm đảng duy nhất có nền dân chủ cao đã thành
trò hề cho toàn thế giới.
Bao giờ cho đến tháng 10? Bao giờ sẽ có
một mô hình đại thể như Ô Khảm trên đất Việt Nam ta? Hay vẫn chỉ là
những sự kiện đau buồn Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản, Con Cuông…đầy uất
hận, nhuốm máu và đầy nước mắt của bà con nông dân ta, mà đảng luôn coi
là đồng minh chiến lược của giai cấp công nhân do đảng CS là đại diện.
Liên minh công nông thủy chung mặn mà là như thế đó.
* Blog của Nhà báo
Bùi Tín là blog
cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA
nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Phiên tòa phúc thẩm y án Trung tá công an đánh chết người
Cô Trịnh Kim Tiến, con gái ông Trịnh Xuân Tùng trả lời phỏng vấn sau phiên toà ngày 13/01/2012)
Thanh Trúc - RFA
2012-07-17
Tòa phúc thẩm thành phố Hà Nội hôm nay
giữ nguyên phán quyết của Tòa sơ thẩm đối với Trung tá công an Nguyễn
Văn Ninh, đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng.
Tòa án nhân dân Hà Nội, Quận Ba Đình,
hôm nay mở phiên phúc thẩm xét xử kháng cáo của gia đình ông Trịnh Xuân
Tùng, bị trung tá công an Nguyễn Văn Ninh ở phường Thịnh Liệt đánh chết
hồi tháng Hai năm 2011 vì chạy xe không đội mũ bảo hiểm.
Một bản ản án chưa thuyết phục
Ngay khi phiên tòa hôm nay kết thúc, cô Trịnh Kim Tiến, con gái ông Trịnh Xuân Tùng, báo cho biết:
Phiên tòa kết thúc vào lúc 12 giờ
trưa và kết quả là y án như bản án của phiên sơ thẩm ngày 13-01-2012 là
ông Ninh chịu tội đánh chết người trong khi thi hành công vụ với bản án
bốn năm tù giam, còn tất cả những người liên quan, những đồng phạm tiếp
tay gây ra cái chết của bố em thì không phải chịu bất cứ sự truy tố nào
trước pháp luật.
Ông Ninh chịu tội đánh chết người trong khi thi hành công
vụ, còn tất cả những người liên quan, những đồng phạm tiếp tay gây ra
cái chết của bố em thì không phải chịu bất cứ sự truy tố nào trước pháp
luật.
Cô Trịnh Kim Tiến
Về diển tiến phiên tòa phúc thẩm hôm nay, có gì khác hơn so với phiên sơ thẩm hồi đầu năm, cô Trịnh Kim Tiến mô tả:
Theo như giấy triệu tập gởi đến gia
đình em thì phiên tòa diễn ra vào lúc 8 giờ ngày hôm nay. Vào buổi sáng 7
giờ rưỡi gia đình em và những người thân quen đến trước tòa, công an ở
đó nói phải có giấy mời mới vào được. Em có nói với họ đây là phiên tòa
công khai, đề nghị cho những người thân của bố em cũng như bạn em có
quyền tham dự nhưng mà họ không cho vào.
Trịnh Kim Tiến cho hay khi phiên xử bắt đầu, cô lại xin tòa cho người thân và bạn cô được vào dự nhưng tòa không chấp thuận:
Ngày hôm nay là em tự tham gia tố
tụng, em tự tham gia tranh luận trong phiên tòa và không có luật sư. Sau
khi tòa án đọc xong phần thủ tục thì những người nhân chứng khách quan,
là những người dân ở nơi xảy ra vụ việc, vẫn tiếp tục vắng mặt trong
phiên tòa hôm nay. Em đã đề nghị tòa án triệu tập và áp tải những nhân
chứng đó đến để em được đối chất tại tòa . Đây là lần thứ hai gia đình
em yêu cầu, nhưng mà hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử bình thường,
không cho áp tải những người đó đến tòa.
Đến phần hỏi ông Ninh về sự việc xảy
ra thì ông Ninh nói rằng ông làm đúng chức trách và nhiệm vụ , ông không
hề làm sai qui trình, trong khi xảy ra sự việc đánh bố em thì ông ta
trả lời là ông rất bình tĩnh để xử lý.
Sau đó tòa hỏi thì gia đình em trình
bày rất rõ ràng lý do kháng cáo là vì gia đình em phản đối toàn bộ bản
án sơ thẩm ngày 13 tháng Một 2012, yêu cầu hủy bản án để điều tra lại vì
tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã có những vi phạm nghiêm trọng về
thủ tục tố tụng, cụ thể là không triệu tập những người làm chứng khách
quan là người dân ở quanh nơi xảy ra sự việc. Bản án còn cho rằng bố em,
là người bị hại, ông Trịnh Xuân Tùng có hành vi chống người thi hành
công vụ, là không có cơ sở. Và ngày hôm nay một lần nữa những sai trái
về thủ tục tố tụng vẫn tiếp tục diễn ra tại phiên tòa phúc thẩm.
Theo lời cô Trịnh Kim Tiến thì hiện gia
đình đang xem xét để chuẩn bị kháng án tiếp, lần này không chỉ riêng
nỗi oan và cái chết của cha cô mà còn nhắm vào việc đòi lại công lý cho
những người dân bị công an đánh chết.
(Thanh Trúc tường trình từ Thái Lan)
Bên trong tàu cá Trung Quốc xâm phạm Trường Sa có gì?
17/07/2012 10:10 –
(VTC News) – Hành
động ngang ngược lần này của 30 tàu cá Trung Quốc với sự tham gia của
cả Ngư chính 310 được Trương Khiết – chuyên gia biển Trung Quốc coi là
“sự mở đầu, sự tượng trưng” cho việc kết hợp giữa chính phủ và ngư dân.
Hôm
17/7, tờ Kinh Hoa thời báo dẫn lời bà Trương Khiết, Trưởng phòng Ngoại
giao, Viện nghiên cứu Châu Á Thái Bình Dương (Trung Quốc) nói, việc đưa tàu cá đánh bắt trái phép ở Trường Sa
(thuộc chủ quyền Việt Nam) mang ý nghĩa “chính trị, kinh tế to lớn” và
là “hành động thể hiện chủ quyền có hiệu quả hơn đưa tàu hải quân ra
tuần tiễu”.
 |
| Tàu cá Trung Quốc. Ảnh: Tân Hoa Xã |
Cũng theo lời Trương, số liệu thống kê của Trung Quốc cho thấy, lượng tàu đánh cá ở nơi mà Trung Quốc gọi là Nam Hải (tức Biển Đông) đang ngày càng ít đi.
Nguyên nhân được cho
là thời tiết xấu, lượng cá không nhiều do ngư dân không nắm được luồng
cá, và gặp phải “sự tuần tra, bảo vệ chủ quyền ráo riết của lực lượng
chức năng một số nước khác”.
Một vài tờ báo ở Trung Quốc
dẫn lại bài phỏng vấn bà Trương, rêu rao luận điệu “hành động bảo vệ
chủ quyền một cách thiết thực, kết hợp giữa chính phủ và nhân dân”.
Trong đó, bà Trương
cho rằng, lâu nay Trung Quốc chỉ biết phản ứng bằng phát ngôn ngoại
giao, gần như không có hành động cụ thể nào thể hiện chủ quyền như việc
đưa ngư dân đánh cá, tổ chức đội tàu đánh bắt cá v.v.
“Chính phủ phải hỗ
trợ để giảm thiệt hại kinh tế, chi phí trả cho khâu đảm bảo an toàn. Rõ
ràng đây là hành động mang lại hiệu ứng chính trị hơn là đánh bắt cá đơn
thuần”, Trương nói.
Hành động ngang ngược lần này của 30 tàu cá Trung Quốc
với sự tham gia của cả Ngư chính 310 được Trương Khiết coi là “sự mở
đầu, sự tượng trưng” cho việc kết hợp giữa chính phủ và ngư dân.
Tàu cá Trung Quốc có gì bên trong?
Dẫn đầu đoàn thuyền
đánh bắt trái phép ở Trường Sa lần này là thuyền trưởng Lâm Mưu Anh với
chiếc Quỳnh Tam Á F8168, theo tin từ Tân Hoa Xã.
Lâm được báo chí Trung Quốc cho là ‘
sói biển’ trong khi chiếc F8168 xuất xưởng tháng 2 năm nay lần đầu tiên đi đánh bắt xa bờ.
 |
| Một chiếc tàu cá Trung Quốc đi kèm tàu Ngư chính 310. Ảnh: sina.com.cn |
Trang mạng Sina cho
biết, Quỳnh Tam Á F8168 là thuyền đánh cá hiện đại bậc nhất Trung Quốc
với chiều dài 83m, rộng 13,8m, lượng giãn nước 3.000 tấn, tải trọng
2.000 tấn.
Trong thuyền có 60 giường cho thuyền viên, bố trí khắp 4 tầng thuyền, tầng thứ 5 là phòng điều khiển.
F8168 còn được trang
bị hệ thống tự động nhận dạng tàu AIS, hệ thống định vị vệ tinh để xác
định vị trí tàu trên biển và hệ thống đo độ sâu để tránh trường hợp mắc
cạn.
Theo thuyền trưởng
Lâm Mưu Anh, F8168 còn có 4 hệ thống liên lạc: Bộ đàm, điện đàm vô
tuyến, điện đàm Bắc đẩu (một dạng nhắn tin vệ tinh do Trung Quốc phát
triển), và điện thoại vệ tinh.
 |
| Đội tàu đánh bắt trái phép của Trung Quốc |
Trong đó, bộ đàm chỉ
liên lạc được trong phạm vi 100 hải lý, còn đắt giá nhất là điện thoại
vệ tinh, có thể liên lạc toàn cầu với giá 2 NDT/ phút. Hệ thống điện đàm
Bắc đẩu, chỉ để dùng nhắn tin với tối đa 32 ký tự.
Điểm đặc biệt nhất của F8168, theo trang mạng Sina, đó là nó có 6 phòng làm lạnh cấp tốc, chứa được 30 tấn cá.
Tuy nhiên, các trang
mạng Trung Quốc không nhắc gì tới những chiếc tàu còn lại. Trong khi
đó, những bức ảnh cho thấy ngoài Quỳnh Tam Á F8168 được tung hô là hiện
đại, các tàu khác có vẻ ngoài đơn sơ và nhỏ bé.
Trong diễn biến liên
quan, Bộ Ngoại giao Philippines cảnh báo: “Tàu cá Trung Quốc tuyệt đối
không được xâm phạm chủ quyền lãnh hải Philippines”.
Báo Philippines Star
dẫn lời quan chức Bộ Ngoại giao nước này nói, Philippines sẽ triệu tập
đại sứ Trung Quốc để phản đối nếu chủ quyền lãnh hải bị tàu cá Trung
Quốc xâm phạm.
Trước đó, khoảng 17
giờ chiều 15/7, một đội gồm 30 tàu cá xuất phát từ tỉnh đảo Hải Nam của
Trung Quốc đã tới một địa điểm đánh bắt cá thuộc quần đảo Trường Sa của
Việt Nam.
Ngày 13/7, đại diện Ủy ban Biên giới Quốc gia
– Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh rằng hoạt động khai thác của ngư dân
Trung Quốc ở khu vực quần đảo Trường Sa là phi pháp, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này.
“Lập trường của Việt
Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định nhiều
lần. Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc có trách nhiệm giáo dục, hướng dẫn
ngư dân tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam, tuân thủ luật pháp
quốc tế,” vị đại diện này nói.
Văn Việt