Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014

-ĐBQH Đỗ Văn Đương: Quyền im lặng không phải quyền con người!

-ĐBQH Đỗ Văn Đương: Quyền im lặng không phải quyền con người!

CTV Danlambao – Phát biểu trong chương trình Sự kiện & Bình luận của đài VTV hôm 27/9/2014, đại biểu quốc hội Đỗ Văn Đương – ủy viên thường trực ủy ban Tư pháp của quốc hội đã hùng hồn tuyên bố rằng: quyền được im lặng không phải là quyền con người!
“Quyền im lặng không phải quyền con người, mà quyền bào chữa mới là quyền cơ bản của người phạm tội trong tố tụng hình sự. Nó nhằm thực hiện chức năng gỡ tội cho họ”, ông Đương khẳng định.

Phát biểu trên được ông nghị thuộc đoàn đại biểu quốc hội TP.HCM đưa ra sau khi có ý kiến đưa quyền im lặng vào trong bộ luật tố tụng hình sự. Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng người bị giam giữ bị công an ép cung hay dùng nhục hình trong quá trình điều tra.
Quyền được im lặng đã được áp dụng tại nhiều nước văn minh trên thế giới, qua đó đã hạn chế tối đa việc kết án oan soan và bỏ tù người vô tội, quyền lợi người bị kết tội được đảm bảo trong thời gian giam giữ.
Dù vậy, đại biểu quốc hội Đỗ Văn Đương vẫn cho rằng, dứt khoát không thể luật hóa quyền được im lặng, bởi việc này sẽ gây khó khăn cho công an điều tra.
‘‘Ngay cả khi đối tượng sắp chết vẫn phải lấy sinh cung. Nếu nó chết là xong, nó đem xuống dưới đó thì làm sao mà bắt được nó’’
“Một số đồng chí vì đấu tranh chống tội phạm, nhưng lại trở thành tội phạm. Ví dụ mấy anh dùng nhục hình ấy, mà phải nuôi con cho tội phạm”, ông Đương dẫn chứng.
Trong lúc phát biểu, người dẫn chương trình phải thường xuyên chen vào giữa chừng mỗi khi vị ĐBQH này xuất ra những phát biểu tào lao.
Ông Đỗ Văn Đương sinh năm 1960, được giới thiệu có bằng tiến sỹ luật, là đại biểu quốc hội đang giữ vị trí uy viên thường trực ủy ban Tư pháp của Quốc hội cộng sản.
Ông này còn có một biệt danh là ‘ông nghị rau muống’. Hồi năm 2011, ĐBQH Đỗ Văn Đương đã biện minh cho tình trạng lạm phát tại Việt Nam khi đăng đàn giữ nghị trường so sánh: “Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn đồng, nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục nghìn”.
“Quyền im lặng không phải quyền con người” đã cho thấy rõ trình độ và khả năng nhận thức của vị ĐBQH có bằng tiến sỹ luật Đỗ Văn Đương.
Trước phát biểu trên, một trong những chuyên gia luật hàng đầu Việt Nam là LS Lê Công Định nêu nhận xét ngắn gọn: “Có lẽ việc đầu tiên phải làm để cải cách tư pháp là đuổi cổ những đầu óc này ra khỏi các vị trí như thế, thì may ra mới có thể bàn công việc tiếp theo!”

“Có một từ đang khiến các nhà đàm phán Việt Nam đau đầu”

 
Ông Trương Đình Tuyển nói: “Tôi cảm thấy hiện nay chúng ta sợ cái từ “xã hội dân sự” giống như sợ cái từ “kinh tế thị trường” thời trước đổi mới, đó là điều rất là vô lý”.

Cực kỳ nóng sốt, đó là cụm từ được Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu dành cho tái cơ cấu nền kinh tế, nội dung đã bắt đầu được thảo luận tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu ngay từ sáng 27/9.
Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, trong lời phát biểu khai mạc nhấn mạnh, tái cơ cấu nền kinh tế không chỉ là quan tâm của các vị đại biểu Quốc hội mà cử tri rất kỳ vọng vào sự chuyển biển mạnh mẽ và cơ bản của công việc này, để khắc phục những hạn chế, yếu kém mang tính cơ cấu, đưa nền kinh tế phát triển bền vững.
Vì vậy Phó chủ tịch kỳ vọng các ý kiến tại diễn đàn về những mặt làm được và chưa được cũng như chỉ ra những điểm nghẽn sẽ góp phần đánh giá khách quan, đầy đủ hơn về tái cơ cấu nền kinh tế.
Trình bày tổng quan về tái cơ cấu nền kinh tế là Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên.
Nhận định tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế diễn ra rất chậm, kết quả thực tiễn không nhiều và không cơ bản, ông Thiên cho rằng phải trả lời cho được, rằng chậm vì cách làm đúng mà chưa chịu làm hay sai nên làm mãi không được?
Đi sâu hơn vào tái cơ cấu ngân hàng, ông Thiên nêu rõ, tốc độ xử lý nợ xấu chậm hơn quá trình phát sinh nợ xấu là cực kỳ đáng báo động. Và gần quan điểm với một số chuyên gia khác, Viện trưởng Thiên nhấn mạnh dự báo cho năm tới phụ thuộc rất nhiều vào xử lý nợ xấu.
Vẫn theo phân tích của vị chuyên gia này thì ngành ngân hàng làm được nhiều việc nhưng phải vật lộn với quá nhiều thứ ngoài ngân hàng, quá sức của mình nên hai điểm mấu chốt nhất chưa động đến được là nợ xấu và ở hữu chéo.
Nợ xấu tăng còn sở hữu chéo, cho vay sân sau cực kỳ lớn mà không kiểm soát được, ông Thiên nói.
Tái cơ cấu vì sao chậm? Trả lời câu hỏi này, ông Thiên cho rằng có nguyên nhân khách quan đây là việc quá trọng đại, nhưng ý kiến trái nhau cũng nhiều, thậm chí có ý kiến “chọc ngoáy”.
Còn lý do chủ quan là do đánh giá thấp nguy cơ. Như nợ xấu, ta tưởng “ăn” ngay được, dăm ba năm là xong, như vậy là hơi coi thường nguy cơ, ông Thiên dẫn chứng. Bên cạnh đó còn có lý do không “đánh” đúng nguyên nhân, dẫn tới không có đề án khả thi, giải pháp hữu hiệu.
Truy tìm nguyên nhân chính, ông Thiên nêu ra ba nhóm. Thứ nhất là do duy trì mô hình tăng trưởng bị lệch, dựa vào vốn “dễ” đánh đổi lạm phát theo kiểu “điếc không sợ súng” nên đã trói doanh nghiệp trong nước, lúc nào cũng phải đương đầu với lãi suất cao, giúp cho doanh nghiệp nước ngoài chả cần nỗ lực cũng vượt xa doanh nghiệp nội.
Các quá trình tái cơ cấu chưa đụng chạm đến mô hình tăng trưởng, con bệnh sắp chết phải cho uống thuốc độc nhưng liều lượng phải đủ để khỏi bệnh, ông Thiên sốt ruột.
Nhóm nguyên nhân thứ hai là cơ chế cạnh tranh yếu, gây méo mó giả cả đưa ra tín hiệu sai, hay nói cách khác là chưa thay đổi cơ chế cạnh tranh, chưa xác lập giá thị trường cho các loại giá cơ bản.
Thứ ba là định hướng xã hội chủ nghĩa trong cơ chế thị trường chưa rõ, xin - cho vẫn được duy trì và can thiệp bằng hành chính vẫn được ưa thích.
Đặc biệt là bộ máy vẫn duy trì cơ chế trách nhiệm tập thể, mà kinh tế thị trường là cơ chế trách nhiệm cá nhân, ông Thiên phân tích.
Để xoay chuyển tình hình, ông Thiên đặc biệt nhấn mạnh đến giải pháp gắn trách nhiệm cá nhân với từng công việc cụ thể.
Đặt đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế lên đầu tiên trong các biện pháp trung dài hạn để thúc đẩy tăng trưởng, nguyên Bộ trưởng Trương Đình Tuyển thêm một lần bàn về xây dựng thể chế kinh tế thị trường hiện đại.
Nhấn mạnh vai trò của xã hội dân sự trong xây dựng kinh tế thị trường, ông Tuyển nói: “Tôi cảm thấy hiện nay chúng ta sợ cái từ “xã hội dân sự” giống như sợ cái từ “kinh tế thị trường” thời trước đổi mới, đó là điều rất là vô lý”.
Phải có xã hội dân sự, theo phân tích của vị chuyên gia này là vì: “Chính xã hội dân sự, thông qua va chạm thực tiễn, thông qua chịu tác động của chính sách, sẽ cung cấp cho chúng ta những kinh nghiệm thực chứng về chính sách, thế nào là xấu, thế nào là tốt. Thế giới ngày càng chuyển sang một mô hình xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng, và chúng ta không thể không thừa nhận nó”.
Chỉ có thể xây dựng thể chế kinh tế thị trường trên ba trụ cột thị trường, nhà nước và xã hội dân sự, thì mới buộc các ngành kinh tế và doanh nghiệp phải tái cấu trúc để có thể tồn tại được, “ông WTO” nhấn mạnh.
Cho biết hiện vẫn đang làm cố vấn cho hai đoàn đàm phán hai hiệp định rất lớn, ông Tuyển cũng chia sẻ là trong khi đàm phán gia nhập các hiệp định TPP và FTA, có một từ đang khiến các nhà đàm phán Việt Nam đau đầu tìm từ thay thế. Đó là sự tham gia của “xã hội dân sự” vào hoạch định chính sách cũng như vào quá trình xử lý tranh chấp.
Nhưng, “chúng ta lại không cho dùng từ “xã hội dân sự” trên các văn bản công khai, nên chúng tôi phải đau đầu”, ông Tuyển giải thích.
Nguyên Hà
(VnEconomy) 

-Biểu tình Hong Kong: Dân Việt quan tâm, Ba Đình rung chấn


Hoàng Trần (Danlambao) – Ngày 28/9/2014, cuộc biểu tình bất tuân dân sự mang tên ‘Chiếm Trung Tâm’ bùng nổ tại Hong Kong, theo sau là những diễn biến nóng hổi được cập nhật liên tục từng giây từng phút. Rung chấn từ Hong Kong đã lan sang Việt Nam và trở thành một chủ đề thu hút sự quan tâm chưa từng có về cuộc cách mạng đòi dân chủ tại vùng đất cựu thuộc địa Anh này.
Dù vậy, phong trào đấu tranh tại Hong Kong vẫn là một chủ đề ‘nhạy cảm’ đối với đảng CSVN. Chương trình truyền hình trực tiếp của CNN chiếu tại Việt Nam đã lập tức bị cắt đứt khi đang chiếu bản tin nói về Hong Kong.
Hồng Kông: Bất tuân dân sự
Cảnh sát Hong Kong đã phải sử dụng bình xịt và lựu đạn cay để đối đầu với hàng chục ngàn người biểu tình đòi dân chủ vào hôm chủ nhật, ngày 28/9/2014.
Các cuộc biểu tình bất tuân dân sự mang tên ‘Chiếm Trung Tâm’ được bắt đầu sớm hơn dự kiến 3 ngày. Khoảng 60 ngàn người, phần lớn là sinh viên đã vây hãm trụ sở chính phủ nhằm phản đối Bắc Kinh can dự vào việc bầu cử lãnh đạo của người dân Hong Kong.
Những người biểu tình yêu cầu trưởng đặc khu Hong Kong, ông Lương Chấn An từ chức để tái khởi động tiến trình cải cách chính trị, qua đó người dân có thể tự do lựa chọn người đứng đầu để lãnh đạo vùng đất cựu thuộc địa Anh này.
Ban đầu, phong trào ‘Chiếm trung tâm’ dự kiến sẽ diễn ra vào ngày 1/10, nhưng cuộc phản kháng bất tuân dân sự đã bùng nổ trước dự định sau khi cảnh sát Hong Kong bắt giam 70 người lãnh đạo biểu tình chủ chốt.
Dù bất ngờ, nhưng cuộc biểu tình đã cho thấy sự chuẩn bị và tính tổ chức vượt trội. Người biểu tình tự vệ bằng áo mưa, dù, khẩu trang, mắt kính… vẫn tiếp tục đứng vững trước các cuộc tấn công bằng bình xịt và lựu đạn cay của cảnh sát vào trưa và tối ngày 28/9/2014.
Toàn bộ những khu tài chính và tuyến đường sầm uất của Hong Kong bị tê liệt hoàn toàn ngay trong ngày đầu phát động phong trào ‘Chiếm Trung Tâm’.
Tối 28/9/2014, cảnh sát Hong Kong ném lựu đạn cay trong nỗ lực giải tán biểu tình nhưng bất thành.
Theo CNN, ít nhất 41 người biểu tình và 6 cảnh sát đã bị thương sau các vụ đụng độ. 78 người tuổi từ 16 đến 58 cũng đã bị bắt giam, trong đó có cả các lãnh đạo biểu tình.
Thông tin mới nhất cho biết, ngày 29/9/2014, cảnh sát Hong Kong đã rút ra khỏi một số khu vực có đông người biểu tình đang tiếp tục bám trụ từ đêm hôm trước.
Việt Nam: CNN bị cắt tín hiệu khi đưa tin về Hong Kong?
Cuộc phản kháng bất tuân dân sự tại Hong Kong cũng đã được truyền hình trực tiếp và liên tục cập nhật diễn biến trên nhiều mạng xã hội.
Rung chấn từ Hong Kong đã lan sang Việt Nam, trở thành một chủ đề nóng trên các mạng xã hội facebook, đặc biệt là đối với giới hoạt động tranh đấu cho dân chủ Việt Nam.
Video một cô gái Hong Kong kêu gọi quốc tế ủng hộ sau khi đưa lên youtube được vài tiếng đã lập tức được dịch phụ đề sang tiếng Việt.
Tinh thần chống lệ thuộc Tàu Cộng có lẽ là lý do chính khiến cuộc đấu tranh tại Hong Kong thu hút sự quan tâm của người dân Việt Nam.
Dù vậy, trái với không khí rạo rực trên các mạng xã hội, hệ thống truyền thông chính thức của đảng cộng sản Việt Nam chỉ đưa tin một cách rất hạn chế về tình hình Hong Kong.
Trưa ngày 29/9/2014, kênh truyền hình cáp CNN tại Việt Nam đã bất ngờ bị cắt khi đang chiếu trực tiếp bản tin về cuộc biểu tình Hong Kong.
Ảnh: Facebook Nguoi Ha Noi
Trên màn hình tivi, người xem chỉ nhận được thông báo “Chương trình tạm thời gián đoạn do tín hiệu vệ tinh không ổn định và trở lại sau ít phút. Mong quý vị và các bạn thông cảm”. Sau ít phút, kênh CNN đã được chiếu lại bình thường.
Trong khi đó, kênh truyền hình quốc gia VTV hiện vẫn chưa có bản tin nói về sự kiện đang được người dân Việt Nam quan tâm.
Dường như cuộc cách mạng bất tuân dân sự tại Hong Kong vẫn đang là chủ đề ‘nhạy cảm’ đối với đảng CSVN, chưa kể đến tâm lý thần phục và sợ làm mất lòng quan thầy Bắc Kinh luôn thường trực trong giới lãnh đạo bu CS.
Một lần nữa, internet tiếp tục là một vũ khí hữu hiệu giải tỏa cơn thèm khát thông tin cho người dân. Hiếm có một cuộc cách mạng nào trên thế giới thu hút được sự quan tâm chú ý của người dân Việt Nam như những gì đang diễn ra tại Hong Kong.
Rõ ràng, người dân Hong Kong không chỉ đang thách thức sự cai trị của Bắc Kinh mà thậm chí còn khiến cho CS Ba Đình phải rúng động.

Lê Mai - “Hai ông anh” và Việt Nam: Từ lịch sử đến hiện thực (Phần III)

Cuộc đại luận chiến giữa “hai ông anh” được đẩy tới cao trào khi Trung Quốc tung ra “Những kiến nghị về đường lối chung của phong trào Cộng sản quốc tế”, trình bày 25 ý kiến của ĐCS Trung Quốc, thường được gọi tắt là “25 điều”. Nó chính là bức thư của “ông anh Hai” trả lời bức thư ngày 30.3.1963 của “ông anh Cả”.

Nguyên đây là bài viết có tên “Kiểu Trương Nhiếp Lâm ” của Trần Bá Đạt – một trong những lý luận gia xuất sắc nhất của ĐCS Trung Quốc. Trương Nhiếp Lâm là danh thủ bóng bàn Trung Quốc rất giỏi trong việc phòng thủ, đỡ, gạt, có thể cứu được các kiểu bóng hiểm, bay lắt léo mà đối phương tung ra, khác Trang Tắc Đống – một danh thủ bóng bàn Trung Quốc khác, rất giỏi tấn công nhanh. Trần Bá Đạt đã đọc được ý tứ sâu xa của Mao khi ông ta chỉ thị khởi thảo bức thư trả lời: “Cái mà ta cần là kiểu Trương Nhiếp Lâm, không cần kiểu của Trang Tắc Đống”. Bài viết “Kiểu Trương Nhiếp Lâm ” của Trần Bá Đạt rất được Mao và BCT tán thưởng.

Mao yêu cầu gửi bài viết cho Hồ Chí Minh và Kim Nhật Thành để trưng cầu ý kiến.

“Ông anh Cả” lập tức phản ứng. Báo chí Liên Xô nhằm thẳng vào “25 điều” của Trung Quốc để phê phán. Đồng thời, liên tục phát đi các bài xã luận: “ĐCS Liên Xô giương cao ngọn cờ vĩ đại của chủ nghĩa Lênin”; “Sự nhất trí không gì phá vỡ nổi giữa Đảng và nhân dân”; “Chúng ta trung thành với chủ nghĩa Lênin”…”Ông anh Hai” đấu lại bằng cách tung ra liên tiếp 9 bài bình luận nổi tiếng – tức “cửu bình”.

Trong khi “hai ông anh” đang ra sức chửi nhau bằng đủ các loại các ngôn từ, cuộc chiến tranh ở Việt Nam xuất hiện bước ngoặt mới. Ngày 5.8.1964, xẩy ra “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, Quốc hội Hoa Kỳ, với số phiếu tuyệt đối, nhất trí thông qua Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, cho phép Tổng thống Johnson, với tư cách là Tổng Tư lệnh quân đội, “thực hiện mọi biện pháp cần thiết nhằm đánh lui mọi hành động tấn công vũ trang chống các lực lượng Hoa Kỳ và ngăn ngừa những hành động xâm lăng khác”.

Trung Quốc, với âm mưu “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” và tạo ra vùng đệm an toàn ở phía Nam, nhanh chóng ra tuyên bố: “Nước VNDCCH là một thành viên của phe XHCN, không một nước XHCN nào có thể ngồi nhìn Việt Nam bị xâm lược. Mỹ xâm phạm nước VNDCCH tức là xâm phạm Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc quyết không thể khoanh tay ngồi nhìn”.

Các cuộc mít tinh khổng lồ, có từ hàng vạn đến gần một triệu người liên tiếp được tổ chức tại Bắc Kinh, ủng hộ Việt Nam, lên án Mỹ. Mao, Lưu, Chu, Chu, Đặng đều lên thành lầu Thiên An Môn, cùng với quần chúng nhân dân “hét vang các khẩu hiệu chống Mỹ”.

Gặp gỡ Hồ Chí Minh, Mao nói:

- Hồ Chủ tịch, đồng chí đến từ Việt Nam, tôi ở Hồ Nam, chúng ta người một nhà cả ! Có khó khăn gì ? Cần người có người, cần vật có vật, đồng chí đừng khách sáo.

Một đoàn đại biểu cấp cao khác, do Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp dẫn đầu, đã đến Bắc Kinh, yêu cầu Trung Quốc gia tăng viện trợ, cử sang Việt Nam lính công binh, lính đường sắt, bộ đội pháo cao xạ. Võ Nguyên Giáp hai lần hội đàm với La Thụy Khanh, Tổng tham mưu trưởng và Dương Thành Vũ, Phó Tổng tham mưu trưởng, bàn việc giải quyết các vấn đề cụ thể.

Thi hành chính sách “đứng giữa” của mình, Việt Nam đã hết sức khôn khéo và linh hoạt để “hai ông anh” không phật ý và đều sẵn sàng viện trợ cho Việt Nam trong cuộc chiến với người Mỹ.

Về phía “ông anh Cả” Liên Xô, viện trợ kinh tế và quân sự cho Việt Nam được tăng đều đặn từ năm 1965 đến 1968. Liên Xô gửi tới Bắc Việt Nam các thiết bị công nghiệp, viễn thông, xe tải, trang thiết bị y tế, máy móc công cụ…Thời gian đầu, viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam ít hơn của Trung Quốc. Đến năm 1967, toàn bộ viện trợ các nước XHCN cho Việt Nam đạt khoảng 1,5 tỷ đô la.

Liên Xô cố gắng đáp ứng yêu của của Việt Nam bằng cách cung cấp nhiều loại vũ khí và đạn dược nhằm bảo vệ VNDCCH trước các đợt không kích của Mỹ và tăng cường khả năng phòng không của Bắc Việt Nam. Quan trọng nhất có thể kể tới là tên lửa “đất đối không”, máy bay phản lực chiến đấu, súng phòng không và các trang thiết bị phòng không khác. Tháng 7.1965, tên lửa “đất đối không” đã hạ một chiếc F4C trên bầu trời gần Hà Nội. Các vũ khí phòng không của Liên Xô đã trở thành những nỗi ám ảnh thường trực đối với chỉ huy và binh sỹ Hoa Kỳ trong các chiến dịch không kích trên bầu trời Bắc Việt Nam.

Liên Xô còn đào tạo cho Việt Nam hàng ngàn sỹ quan để phục vụ cho ngành không quân và phòng không. Con trai các ông Võ Nguyên Giáp và Lê Duẩn là Võ Điện Biên và Lê Kiên Thành đã từng học ngành kỹ thuật hàng không ở Liên Xô.

Giúp Việt Nam chống lại người Mỹ, các nhà lãnh đạo Liên Xô không chỉ nhìn ở các lợi ích chính trị, tư tưởng mà còn lưu tâm tới các cơ hội thử nghiệm vũ khí trên chiến trường, thu thập thông tin vũ khí mới nhất của Mỹ qua chiến lợi phẩm. Một hiệp định với Hà Nội đã được ký kết, Mátxcơva yêu cầu Hà Nội thu thập, đánh giá những mẫu vũ khí, trang bị quân sự Mỹ và một nhóm chuyên gia quân sự được gửi tới Việt Nam. Họ có nhiệm vụ thu thập các bộ phận máy bay Mỹ bị bắn rơi, các vũ khí khác thu được, kiểm tra những trường hợp vũ khí Liên Xô không hoạt động tốt và gửi những đánh giá, kết luận về Liên Xô. Từ tháng 5.1965 đến đầu năm 1967, các chuyên gia đặc biệt của Liên Xô đã chuyển về Mátxcơva hơn 700 mẫu các trang thiết bị quân sự Mỹ, gồm những bộ phận của máy bay phản lực, tên lửa, ra đa và trang thiết bị thám ảnh.

Hoạt động này tỏ ra rất có hiệu quả. Các chuyên gia Liên Xô tìm ra các phương pháp bảo vệ Bắc Việt Nam thoát khỏi không kích của Mỹ. Chẳng hạn, việc cải tiến hệ thống Dvina đã bắn rơi máy bay F111A của Mỹ mà tốc độ bay lên tới 3.700 km/giờ.

Bây giờ, ta lại đến với “ông anh Hai”. Hà Nội đã phản đối những đề nghị của Bắc Kinh đòi gửi thêm quân tới lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ lính công binh và đường sắt. Nếu chấp nhận điều đó, có nghĩa là Hà Nội phải phụ thuộc nhiều hơn vào Bắc Kinh – điều mà các nhà lãnh đạo VNDCCH không mong muốn. Song, các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam rất thận trọng để giữ quan hệ với người hàng xóm khổng lồ phương Bắc. Một khối lượng lớn hàng viện trợ từ các nước khác, kể cả Liên Xô phải đi qua lãnh thổ Trung Quốc, mỗi tháng từ 8 đến 9 ngàn tấn. Làm sao để không bị cắt đứt kênh phân phối này là vấn đề rất quan trọng, bởi khi cần, Trung Quốc sẽ dễ dàng giở trò. Hãy đọc một chuyện ông Trần Đĩnh kể lại trong Đèn cù: “Do tên lửa Liên Xô gửi cho Việt Nam qua đất Trung Quốc đã bị Trung Quốc giữ lại đòi khám và “áp tống” sang Việt Nam. Biết Trung Quốc muốn đánh cắp bí mật làm tên lửa, Liên Xô phản đối. Cuối cùng, 28 Tết âm lịch Đinh Mùi, Cụ Hồ đành cử Lê Thanh Nghị sang cầu khẩn Mao cho gặp. Nghị nói thưa Chủ tịch, lẽ ra Hồ Chủ tịch chúng tôi sang gặp Chủ tịch nhưng Hồ Chủ tịch chúng tôi sức yếu không thể đi. Mao bèn hỏi: “Sao mà yếu?” – “Dạ, Hồ Chủ tịch chúng tôi quá lo lắng vì máy bay Mỹ đánh phá ác liệt mà chúng tôi thì hết tên lửa do Trung Quốc và Liên Xô chưa thoả thuận được việc chuyển tên lửa.” Mao nói ngay: “Ồ, tưởng gì chứ thế thì dễ.” Quay sang Chu Ân Lai: “Tổng lý giải quyết việc này để cho Hồ Chủ tịch chóng khoẻ lại”.

Ảnh hưởng của “hai ông anh” vẫn tiếp tục diễn ra ở Việt Nam, có lúc nghiêng về Trung Quốc, tuy Hà Nội luôn cố gắng cân bằng hai mối quan hệ đó. Các nhà lãnh đạo VNDCCH đã bắt đầu nghi ngờ về mục tiêu của Bắc Kinh ở Đông Nam Á. Hợp tác với Mátxcơva sẽ tạo cho Hà Nội một cơ hội thoát khỏi sự bảo trợ quá đáng của Trung Quốc và có được một vị trí độc lập hơn trong quan hệ với Bắc Kinh.
(còn tiếp)
Lê Mai
 

Truyện ngắn Vũ Thư Hiên: Bức tranh thờ

Cuộc chuyển trại diễn ra đột ngột. Không một dấu hiệu báo trước. Tịnh không. Mà ai, chứ tù thì tinh lắm lắm. Một động thái bé nhỏ nhất, mơ hồ nhất của Ban Giám thị, chỉ cần khác thường một tí thôi, không cần nhiều, lập tức được các bình luận gia ghi nhận, phân tích, và cho ra ngay một kết luận, nói chung và về đại thể nếu không đúng hẳn thì cũng gần đúng.

Vậy mà không một ai biết trước cuộc chuyển trại ấy. Mọi sự đều diễn ra bình thường trong những ngày trước đó. Đùng một cái, tai hoạ ập đến. Mọi người tá hoả tam tinh, nhớn nhác, mặt xám ngoét, nhưng đến lúc ấy thì không còn gì để làm nữa rồi, không kịp nữa rồi.

Đối với người tù, chuyển trại là một tai hoạ, ôi thôi, to lớn vô cùng. Cuộc sống thường nhật, dù rằng trong trại tù, lâu ngày đã ổn định, đã thành nếp, cho dù tồi tệ đến mấy cũng vẫn cứ là đâu vào đó, đùng một cái bị lộn tùng phèo. Mất mát đủ thứ. Tan đàn xẻ nghé. Trước mặt là một sự tù mù trên hết mọi sự tù mù, tốt xấu không thể biết.

Trong khắp các nhà giam, được bố trí thành hàng lối đều đặn trong vòng vây hàng rào trại như những cục gạch xám nếu nhìn từ trên cao, tù nhân xôn xao. Đã tới giờ mở cửa cho tù ra làm vệ sinh cá nhân, ăn sáng, rồi đi lao động, mà cửa các nhà giam vẫn im ỉm.

Mãi hơn một giờ sau, mới thấy từ cổng tò vò trại một toán đông quan quân túa ra, bộ điệu hùng hổ, súng cầm ngang.

- “Loại”? – một người trong rất nhiều người chen chúc nhau bám vào song sắt cửa sổ để nhìn ra, quay đầu lại – Hầy, dám lắm.
Qua cổng trại, toán công an tản thành nhóm nhỏ đi về phía các phòng.
- Dễ không phải. – người khác, cũng trong những người xúm xít sau cửa, yếu ớt phản bác – Chắc chuyện gì khác. Để xem.
- Thôi chết tôi rồi, – người thứ ba giật thót – điệu này chuyển trại đây, trông kìa…
- Hừm, chưa chi đã rối tinh rối mù lên. – giọng thứ tư bình luận – Chuyển trại ắt cánh tự giác phải biết, có lần nào tự giác không biết?. Chuyển trại thì họ đã bị sai dọn tủ giả, khuân hồ sơ từ mấy hôm rồi. Các ông cán bộ chiều thân mình lắm, không đời nào chịu khuân lấy đâu…
- Hay là thanh tra? – ai đó xướng lên một câu hỏi bâng quơ, không chờ câu trả lời – Bộ về?

Gì thì gì, cái sự bất thường này chắc chắn là nguy hiểm, lành ít dữ nhiều. Mấy anh tự giác thuộc toán lâm sản hối hả chạy đi thủ tiêu những đồ vi phạm nội quy. Cẩn tắc vô áy náy. Chỗ thủ tiêu tốt nhất, ai cũng biết, là hố xí cuối phòng. Chỉ có chỗ ấy là chưa bao giờ bị lục đến. Những viên cai tù trẻ buồn đời vì cuộc sống rừng núi rất mẫn cán, rất hung hăng trong sự mò mẫm các xó xỉnh để tìm cớ trừng phạt lũ tù nhân khốn khổ cũng chừa chỗ ấy ra.

Đồ bị cấm thì nhiều lắm, kể không xiết. Nó có thể là những ống bương đựng dầu diesel ăn cắp ở tổ máy cày mang về dùng cho việc “sột sệt”, những bọc trà “tự biên tự diễn” to tú hụ do hái trộm mà có, là quần áo dân sự mới để cung cấp cho tù được tha, là bật lửa tàu bò, đá lửa Liên Xô, lưỡi dao cạo râu Tiệp Khắc, tất cả những thứ vật dụng đời thường nhờ mua bán đổi chác với dân quanh trại mà có. Có thể kể thêm những dụng cụ để chế tạo vật dụng hàng ngày như nõ điếu, thìa, hộp đựng thuốc lào bằng nhôm, do những tay tổ của nghề chạm trổ làm ra, đẹp không kém hàng thủ công mỹ nghệ. Những thứ này đến cán bộ cũng mê. Họ thường đặt tù làm với giá rẻ mạt, hoặc đổi thuốc lào, để mang về xuôi làm quà, hoặc bán lại. Cho nên được dịp để tịch thu vô tội vạ thì ai bỏ qua cho được. Người ta thu tất tật mọi vật nhọn hoặc sắc bằng kim khí, là thứ có thể suy diễn thành dụng cụ cưa cắt chấn song cho một cuộc trốn trại, hoặc hung khí cho một cuộc thanh toán lẫn nhau…

Trong căn phòng tối, mờ mịt khói thuốc lào, mấy cái bóng xám vọt vào vọt ra nơi cửa chuồng xí trong khi ở bên ngoài đã vang lên tiếng khoá mở lạch xạch, tiếng then rít ken két trong hõng.

- Ê, ra sân tập họp! Nhanh lên!
- Mang theo đồ đoàn. Mang tuốt.

Tiếng mấy “ông cán bộ” vang lên nơi cánh cửa vừa được mở rộng. Không khí trong lành của ban mai ùa vào.

Một tiếng ồ ngạc nhiên khe khẽ lan nhanh trong đám tù nhốn nháo. Người ta quýnh quáng:

- “Loại”[1] rồi!
- Chuyển trại đấy.
- Thường, đến trại mới người ta mới “loại” mình cơ mà.
- Chết cha, con dao mày để đâu?
- Nhét ở cái hốc mọi khi.
- Tao cầm bằng mất toi cái tàu bò[2].
- Suỵt! Giấu không kịp đâu. Vứt.
- Tao nhét bao “ken tẩy”[3] ở đây đấy nhá. Tao hô rồi đấy. Thằng nào “bẩm” tao xin tí tiết. Trong cái nhà này tao biết tỏng thằng nào là Gia Ve.

Nhưng cả tự giác, tù thường, lẫn Gia Ve, đều chưng hửng khi ở sân trại họ được lệnh rỡ hết đồ đoàn để ra trước mặt. Giờ thì tất cả đều như nhau trong cuộc tổng lục soát.

Hầu như người tù nào cũng có một cái gì đó vi phạm nội quy trại, hoặc nhẹ nhất thì cũng bị coi là trái với nó, nếu trong nội quy chưa ghi đủ. Một cái áo rách xé ra bện thành bùi nhùi giữ lửa có thể bị tình nghi là thừng dùng để vượt tường rào. Một tờ giấy viết dở cũng bị nghi là sự thông tin với bên ngoài chưa kịp chuyển đi.
Già Lương, ông hàng xóm của tôi, ngồi xếp bằng tròn trên giường, mặt lạnh tanh, bình chân như vại. Trong lúc thiên hạ bấn loạn, chỉ có mình già là tỉnh khô, nhìn đời bằng con mắt bàng quan. Thật vậy, già thì có quái gì mà phải lo. Người ta sợ mất thứ này thứ khác, cuống cuồng giấu giấu giếm giếm. Chứ già chỉ có một cái tay nải. Tôi biết tỏng trong đó có gì: một bộ quần áo tù còn lành không mấy khi mặc đến, một cái áo trấn thủ còn khá tươm để dành cho những ngày đại hàn, một sợi chỉ dài quấn quanh một cọng tre với một cái kim. Không kể mẩu khăn mặt rách, to hơn bàn tay, đã thâm xỉn vì mồ hôi nhiều năm. Cái đồ vật đáng giá hơn cả thì già đã khoác trên người, đông cũng như hè. Đó là cái áo bông vải kaki xanh Sĩ Lâm, loại bán cho cán bộ chứ không bán cho dân, nhưng cũng đã rách, với những mụn vá sặc sỡ,
Già Lương là tù “số lẻ”, tức tù chính trị. Tôi nằm cạnh ông hơn một năm trời nhưng tịnh không biết ông phạm vào tội gì trong cái sự chính trị rất chi là tù mù ở nước ta. Đáp lại câu hỏi của tôi: ông có phải Ku Dét[4] không? Ông lắc. Có phải ông là Đờ Vờ[5] không? Ông lắc. Hay ông bị quy địa chủ cường hào gian ác, có nợ máu với nhân dân? Ông cũng lắc. Lại hỏi: có phải ông lỡ lời nói xấu chế độ, hoặc lỡ tay chống người nhà nước để phạm tội chống chính quyền địa phương không? Ông cũng lắc nốt. Tóm lại, tại sao già Lương là tù “số lẻ” là câu hỏi không có lời giải đáp. Chỉ biết ông tội danh của ông là “phản động, chống chế độ”, tức là i xì cái tội danh rất chung chung của hơn hai trăm tù “số lẻ” trong trại. Ấy là thân rồi tôi mới dám hỏi già. Chứ trong tù mà hỏi tội danh của nhau là điều tối kỵ. Người ta chỉ tình cờ biết người nào tội gì vào dịp tổng điểm danh, mỗi năm một lần. Chỉ vào dịp ấy cán bộ trại mới gọi tên từng người, mới công khai xướng lên giữa bàn dân thiên hạ rằng ai phạm tội gì, án phạt bao nhiêu năm.

Cuộc lục soát bắt đầu.

Tù ngồi thành từng toán trên sân điểm danh. Mỗi quản giáo trông hai tự giác lục bới đồ đoàn của từng người. Giờ thì không ai dám thì thào với ai nữa. Sân trại im phăng phắc. Những người tù, mặt chảy dài, theo dõi đôi tay thoăn thoắt lục bới của kẻ khám đồ. Chẳng còn cách nào giấu kịp những thứ cầm bằng bị thu. Ở trong tù cái gì cũng là của quý cả. Từ mảnh ni-lông gói đồ. Từ mẩu đai thùng được mài sắc làm dao chẻ tăm, cắt móng chân móng tay.

Thường, trong cuộc tổng “loại” như thế này, cán bộ chỉ thu đồ vi phạm nội quy chứ không phạt kẻ sở hữu. Phạt không xuể. Số người vi phạm nội quy thường quá đông, mà trại chỉ có một khu kỷ luật với một tá xà lim. Trừ phi phát hiện ra vũ khí, hoặc có thể dùng làm vũ khí, đại loại như dao găm hoặc dùi, búa, cưa sắt, tức là tội nặng, nặng nhất tính từ trên xuống dưới, người ta mới tống kẻ vi phạm vào u tì quốc, cùm chặt.

Của thu được dần dần được chất thành đống.

Người trông cuộc tổng “loại” là trung uý Tằng, biệt hiệu “Tằng ác ôn”, phó giám thị. Lùn một mẩu, cằm bạnh, môi thâm, mắt trắng dã, Tằng có tính đặc biệt là rất thích ra oai với tù. Biết thế nên khi đứng trước mặt y, anh tù nào vô phúc có chiều cao nhỉnh hơn y một tí là phải lập tức khuỵu hai đầu gối xuống, cổ rụt lại, hai tay bỏ thõng tối đa. Thấp đi được chừng nào hay chừng ấy. Bản năng sinh tồn mách bảo họ làm thế.

Già Lương thản nhiên nhìn trời. Mọi sự diễn ra chung quanh chẳng làm già động tâm. Cái lối nhìn trời như thế đã nhiều lần bị các quản giáo bắt tội: này, cái anh già vênh vênh cái mặt kia, anh thách thức ai đấy? Anh láo hả? Cụp cái mặt xuống!

Khốn nạn thân già Lương. Nào già có định thách thức ai đâu, có định thách thức cái gì đâu. Tôi biết cái tật ấy của già lắm. Già mải suy cái nghĩ của già, vậy thôi. Có lần mải suy nghĩ và nhìn trời, già đã ăn mấy báng súng vì tội không thèm trả lời cán bộ. Rồi chứng nào tật nấy, già vẫn cứ thế, cứ vênh vênh, không chừa.

- Tránh voi chẳng xấu mặt nào, bác ơi! – trong những trường hợp như thế chính tôi cũng phải khuyên già – Mình là thằng tù. Một thằng oắt con đáng tuổi cháu gọi bằng ông cũng có quyền cầm roi vụt mình, bác chớ có dại…
- Khốn tính tôi cả nghĩ, ông ạ – già chép miệng – Mà đã nghĩ là cứ lan man, dứt không ra. Thí dụ tôi nghĩ tới các cụ tôi ngày xưa dạy tôi thế nào, các cụ dữ lắm, đòn luôn luôn, có lần tôi mải nhìn trời nhìn đất gặp cụ mõ không chào, thế là bị một trận vì tội khinh người… Ông biết đấy, mõ là thứ cùng đinh trong thiên hạ, bị thiên hạ coi rẻ, nhưng tôi oan, tôi nhãng đi không nhìn thấy cụ ấy, chứ không phải tôi dám khinh. Chao ôi là dữ, cái trận ấy…

Già bắt đầu kể, rồi chìm nghỉm trong những hồi tưởng, im bặt.

Lần này cũng vậy. Trung uý Tằng đến trước mặt già mà già vẫn không hay. Mà già cao hơn Tằng hẳn một cái đầu. Phải ngước lên mới nhìn được vào mắt già, Tằng đã khó chịu lắm.

- Anh kia, nhìn nhìn cái gì?

Tôi đứng bên già Lương. Tôi huých già một cái mạnh. Già choàng tỉnh. Cúi xuống nhìn Tằng, già chậm rãi hỏi ông cán bộ đáng tuổi con út của mình:

- Cán bộ hỏi nhà cháu ạ?
- Còn hỏi thằng chó nào nữa? Anh nhìn nhìn cái gì?

Cặp mắt kéo màng của già mở to hơn một chút, đôi lông mày rậm với những sợi lông dài bạc trắng của già hơi nhướng lên một chút.

- Dạ?

Tằng nạt nộ:

- Dạ cái con khỉ. Tôi hỏi anh phải đứng nghiêm trả lời: anh nhìn cái gì?
Già Lương đến lúc ấy mới vỡ câu hỏi. Theo thói quen, già vuốt râu một cái, rồi thủng thẳng đáp:
- À, thưa cán bộ, nhà cháu nhìn đám mây ạ.
- Đám mây thì có gì mà nhìn? Anh dở người hử?
- Dạ, không, nhà cháu tỉnh trí ạ…
- Thế sao nhìn mây?
- Dạ, nó giống cái kiệu bát cống ạ.
Tằng gườm gườm nhìn già Lương. Rồi hất hàm gọi tay trật tự trại và tay nhà bếp vừa khám xong một người tù ở gần đấy:
- Lại đây. “Loại” thằng này! Tao bảo đảm: nó có vấn đề.

Già Lương lúc ấy mới thật tỉnh hẳn khỏi những suy nghĩ. Già tự động ngồi xuống, chậm chạp mở nút buộc tay nải. Những ngón tay khô xác run run. Cái đó lại càng gây ra nghi ngờ. Không có gì vi phạm thì sao lại run? Có tật giật mình. Nhưng cả tay trật tự lẫn tay nhà bếp đều biết tỏng ông già là người thế nào. Như bất cứ ai trong trại. Ông già hiền lành chẳng có gì để vi phạm nội quy, có “loại” mấy cũng chẳng ra. Biết thế, cho nên họ chỉ thò tay vào bọc khua khoắng lấy lệ. Khi lôi từ trong tay nải ra bộ quần áo tù, cái áo trấn thủ, mẩu khăn mặt hôi rình và rất nhiều mụn vải, mũi họ chun lại.

- Báo cáo ông, không có gì ạ. – anh trật tự đứng lên, lễ phép bẩm.
- Chắc không? – Tằng trề môi – Còn cái áo bông kia?

Y hất hàm ra lệnh cho già Lương cởi áo bông ra.

Đúng vào lúc ấy già Lương phạm một sai lầm không tha thứ được – thay vì lễ phép đưa áo cho anh trật tự thì già lại quăng nó xuống đất. Thái độ ấy của già làm cho tay trật tự cáu. Y chẳng nói chẳng rằng, mặt hằm hằm nắn bóp cái áo bông. Rồi bỗng mắt y sáng lên. Y giật mạnh tay xé rách lớp mền cái roạt, rồi lôi từ trong đó ra một khúc nứa tép.

- Cái gì thế này? – bằng giọng trịch thượng y hỏi già.
- Thì anh cứ xem đi. – thay vì ăn nói lễ phép với y, ít nhất thì y cũng là bậc chức sắc trong xã hội tù, già lại khinh khỉnh đáp.

Tằng nheo mắt nhìn ống nứa tép. “Không biết thằng già giấu cái gì trong đó?” – cái nhìn của y nói.

Mở cái ống không được, nắp của nó gắn liền với thân bằng một thứ nhựa quỷ quái gì không biết, rất chặt, tay trật tự bèn đặt nó lên đầu gối, bẻ gãy đôi. Tiếng nứa vỡ kêu đánh toác. Bên trong là một tờ giấy cuộn tròn.

- Hừm, – Tằng nói – anh già này gớm nhỉ? “Yểm” cái gì đấy?

Sống với tù lâu, Tằng thuộc mọi tiếng lóng của lưu manh.

Già Lương biến sắc.

Tay trật tự mở tờ giấy, giơ ra trước mặt. Đó là một bức tranh vẽ bằng bút chì. Tranh chân dung. Trong tranh là hình một ông già quắc thước, chòm râu thưa phơ phất.

- Cái gì đây, hở? – Tằng hỏi già, giọng nghiêm khắc.

Già Lương lúng túng. Già lí nhí:

- Báo cáo cán bộ: cái này là…
- Cái gì?
- Dạ, báo cáo cán bộ, nó là cái tranh thờ của nhà cháu ạ….

Tằng ra lệnh:

- Đưa tôi!

Tay trật tự cung kính đưa bức tranh cho phó giám thị bằng hai tay.

- Hừm! – Tằng nghiêng ngó ngắm bức tranh, rồi sẵng giọng – Anh này láo. Láo quá!

Anh có biết anh phạm tội gì không?

Già Lương còn lúng túng hơn nữa.

- Dạ, nhà cháu không biết…
- Lại còn vờ vĩnh! – Tằng gắt – Không biết? Hay cố tình?

Đến lúc ấy thì già Lương hoàn toàn luống cuống:

- Dạ, thưa cán bộ, nhà cháu…
- Nói đi, cái gì?
- Nhà cháu…, thưa cán bộ, không có ý giấu giếm gì đâu ạ. Nhà cháu sợ cái tranh bị ướt, nhà cháu mới cất cẩn thận…
- Nhưng anh phải thấy rằng anh có tội.
- Dạ, xin ông cán bộ chỉ bảo…

Tằng cất giọng nghiêm nghị:

Bức ảnh thờ. Nguồn: OntheNet
Bức ảnh thờ. Nguồn: OntheNet


- Anh còn chưa biết tội anh đâu. Nghe cái giọng anh tôi biết. Để tôi giảng cho anh nghe. Tội của anh là thế này: nhân dân ta ai cũng có lòng thành kính đối với lãnh tụ. Thờ Bác không có tội. Nhưng chỗ thờ phụng Bác phải là nơi tôn nghiêm, tinh khiết, vậy mà anh dám cả gan để Bác ở trong tù! Lại còn bảo không biết! Anh phải nhớ anh là cái thằng nào chứ! Anh là thằng tù, hiểu chưa? Thằng tù không có phép được thờ Bác, nhất là lại thờ trong cái chốn nhơ nhuốc này, hiểu chửa?

Già Lương lắp bắp:

- Dạ, nhà cháu hiểu… Nhưng, thưa ông xét cho…

Tằng dằn từng tiếng:

- Tôi bảo anh: im ngay cái mồm. Xét xét cái gì? Đừng có mà nguỵ biện. Không có nhưng nhiếc gì hết. Tôi lại không đi guốc vào bụng các anh ấy à. Mười anh bị bắt vào đây, chín anh rưỡi kêu oan. Có mà oan Thị Mầu! Tội lỗi đầy mình còn ngoạc mồm ra kêu Đảng kêu Bác đèn trời soi xét…

Mặt già Lương thượt ra:

- Dạ, quả thật nhà cháu không dám thế, báo cáo ông …

Tằng quát:

- Có im không thì bảo? Anh hay đứa nào ở đây dám vẽ ảnh Bác?

Già Lương quýnh lên:

- Dạ, thưa ông… Đây không phải là ảnh Cụ Hồ đâu ạ…

Tằng còn quát to hơn nữa:

- Tôi đang hỏi anh: thằng nào vẽ? Khai ra.

Mấy cán bộ trông nom việc khám xét chạy lại.

Đôi mắt Tằng quắc lên. Tình hình coi mòi nghiêm trọng. Không phải chuyện chơi. Mặt già Lương rịn mồ hôi.

Anh trật tự nói khẽ với già, giọng thương hại:

- Khốn nạn, bố ngu như bò í. Có gì cứ khai thật, ông cán bộ thương, ông tha cho.
- Nhưng…
- Còn nhưng nhưng cái gì? – anh ta nhăn mặt – Ngu thế. Cứ thưa thật với ông cán bộ đi. Muốn chết hử?

Già Lương cuống lên:

- Thì tôi khai thực mà. Anh đừng lên mặt với tôi. Anh cũng là thằng tù như tôi thôi. Báo cáo ông cán bộ, nhà cháu xin khai thật với ông… Cái này không phải ảnh Cụ Hồ đâu ạ… Nó là… là bức tranh thờ của nhà cháu…

Tằng cắt ngang:

- Của anh thì rõ rồi, không phải của anh thì anh “yểm” kỹ thế làm gì. Bây giờ tôi hỏi anh: thằng nào báng bổ, dám vẽ Bác để cho anh thờ Bác trong tù? Anh thì không phải rồi, anh thì vẽ vời cái đếch gì. Sao? Anh không muốn nói hử? Còn định che giấu cho nó hử?

Già Lương cúi gằm mặt.

- Thằng nào? Nói mau!

Những người tù đứng gần quên cả mối lo lục soát, nhìn vào mặt già.

- Thưa ông, thật đấy ạ, không phải ảnh Cụ đâu ạ…
- Lại còn chối nữa?
- Thật ạ. – già Lương nói như khóc – Nói có trời đất, nhà cháu không dám dối ông.

Chả là nhà cháu năm nay gần tám mươi rồi. Cũng chẳng còn mấy nả nữa…

Già Lương cuối cùng đã lấy lại được giọng nói bình thường, già đằng hắng một cái, rồi tiếp tục phân trần:

- Tức là, thưa ông cán bộ, nhà cháu sắp xuống lỗ rồi, ở tuổi nhà cháu thì còn dối trá làm gì, ông xét cho…Lúc nhà cháu đi trại, mười lăm năm rồi chứ không phải ít, chỉ mỗn bộ quần áo trên người, không một hình tích để lại, con cái cháu chắt nhớ được cái tên chứ không biết mặt… Vậy nên nhà cháu mới cậy người ta hoạ cho một bức…

Tằng chưng hửng.

- Hừm.
- … để khi nào người nhà được phép lên thăm thì nhà cháu đưa chúng nó mang về…
- Hừm. – Tằng nheo mắt, chăm chú nhìn lại bức hình – Tức là, anh nói hình này là hình anh?
- … Dạ, đúng vậy. Nhà cháu nghĩ: nay mai nhà cháu có chết đi, thưa ông, thì cũng còn tấm hình để lại, cho con cháu nó nhớ mỗi khi giỗ tết…

Tôi ở với già Lương cả năm mà không biết già có bức hình ấy. Liếc mắt nhìn tờ giấy trong tay Tằng, tôi thấy Tằng không phải không có lý – người trong bức hình quả có giống lãnh tụ tối cao, cha già dân tộc. Cũng cặp mắt sâu, đôi lưỡng quyền cao, cũng chòm râu thưa “tu bất phủ hầu”, được thiên hạ coi là quý tướng. Không biết già có bức hình từ khi nào, mà sao già giữ kín thế?

Tằng gật gù:

- Khó tin. Chắc là hình anh không?
- Dạ, thưa ông cán bộ, có trời đất chứng giám…
- Không cần anh thề. Anh thề tôi cũng không tin. Bây giờ anh trả lời tôi: đứa nào vẽ?
- Thưa ông, anh Ca ạ. Anh ấy được tha năm ngoái. Không biết ông còn nhớ anh Ca không ạ? Cái anh xương xương người, Ban[6] vẫn thường gọi lên kẻ bảng với làm vườn hoa ấy ạ – như chết đuối vớ phải cọc, già Lương nói một thôi một hồi – Thưa ông, anh ấy có hoa tay lắm, nét vẽ rất có tinh thần…
- Chuyện này rồi phải cho điều tra đến nơi đến chốn. Cái thằng Ca xem chừng có vấn đề. Vẽ anh mà lại hao hao giống Bác. Có âm mưu gì đây? Các anh đừng có tưởng bở: khỏi vòng cong đuôi, cầm được tờ lệnh tha là xong mọi chuyện. Đừng hòng nhé! Ở đâu cũng là đất đai của Đảng, của Bác. Lưới Đảng lồng lộng, con ruồi chui không lọt.

Già Lương thấy phải bảo vệ tác giả bức hình:

- Thưa ông, anh Ca bị tội ăn cướp, có án đàng hoàng, không tập trung cải tạo như nhà cháu đâu ạ. Anh ấy không phải là phản động, kẻ thù của nhân dân ạ. Lại còn thuộc diện cải tạo tốt đấy ạ. Nhà cháu thấy anh ấy hoạ được, mới nhờ anh ấy hoạ cho một bức… Thưa ông, xin ông xét cho, kẻo tội anh ấy, người hiền lành tử tế. Anh ấy vẽ tinh thần lắm, giống nhà cháu lắm đấy ạ. Anh ấy không dám báng bổ Cụ Hồ đâu ạ…
- Hừm, anh dám bảo thằng Ca là hiền lành tử tế hử? Người hiền lành tử tế không ai ở đây. Lại còn bảo bức vẽ của nó giống nhà anh, là có tinh thần. – Tằng vẫn giữ giọng nghiêm khắc, nhưng không còn gay gắt – Vẽ anh mà lại hoá ra giống Bác, bậy. Phải có ẩn ý gì nó mới vẽ thế chứ?
- Thưa, ông xét cho, – già Lương nói – người già mà lại gày thời thường hao hao giống nhau. Ông chớ nghi anh Ca phải tội…
- Nghi đứa nào, nghi cái gì, là quyền của chúng tôi. Ngay cái chuyện nó vẽ hình cho anh để thờ cũng đáng phải trừng phạt rồi. Anh là thằng nào? Hử? Anh là thằng phản động. Có phải thằng phản động không?
- Dạ, báo cáo cán bộ, phải.
- Không ai thờ thằng phản động hết. Con cháu cũng vậy, không có con cháu nào muốn thờ ông cha phản động, anh rõ chưa? Đừng tưởng bở. Đứa nào thờ phản động thì đứa ấy cũng phản động. Anh muốn cả nhà anh kéo nhau vào đây hay sao?
- Dạ.

Giọng Tằng “ác ôn” bỗng dịu hẳn:

- Thôi được, nói thế thôi, chứ tôi tha cho anh lần này. Là tôi thương cái tuổi già của anh…
- Dạ, đội ơn ông cán bộ…
- Nhưng cái hình này thì tôi thu.

Già Lương nín lặng một giây. Rồi ngập ngừng:

- Thưa ông …
- Còn thưa bẩm cái gì nữa?
- Xin ông cho lại nhà cháu cái hình. – già Lương đánh bạo nói – Không phải dễ gì nhà cháu được gặp người như anh Ca. Thật tình trong cả gia tộc không còn cái hình nào của nhà cháu cả… Trâu chết để da, người chết cũng phải để lại cái hình cái bóng…
- Im ngay! Không lằng nhằng!

Tằng quát. Tôi dùng cùi chỏ thúc vào mạng sườn ông bạn già. Tôi thúc quá mạnh, làm ông nhăn mặt. Tằng nhìn tôi, lừ mắt.

- Dạ. – giọng già Lương run run – Xin ông…

Bỗng Tằng đăm đăm nhìn vào mặt già Lương. Tôi chăm chú theo dõi cái nhìn của y. Thằng khốn nạn, y còn định làm gì ông già khốn khổ nữa đây? Mọi người ở quanh chúng tôi cũng chú mục nhìn y.

- Hừm. – Tằng có vẻ suy nghĩ – Hừm.

Già Lương cúi mặt, lấm lét nhìn y. Già vẫn còn phấp phỏng chờ đợi, già vẫn còn hi vọng, có vẻ thế. Biết đâu đấy, dù sao Tằng cũng là người, y ác đấy, nhưng cũng phải có lúc y hiền chứ, y sẽ nghĩ lại cho già cũng nên. Ngay giờ đây rất có thể y sẽ trao lại cho già chân dung để thờ kia, với một câu quát lấy lệ, không quát không được, nhưng y sẽ trả lại nó cho già. Tôi đoán già Lương nghĩ thế. Trong phút đó tôi hình dung ra bức hình của già được đặt trang trọng trên ban thờ, trong khói hương lởn vởn.

Nhìn vào mặt già Lương, Tằng nói, giọng thương hại:

- Anh chậm trí khôn lắm. Là loại ngu lâu, khó đào tạo. Loại như anh biết bao giờ mới được đánh giá là cải tạo tốt để được hưởng lượng khoan hồng của Đảng…
- Dạ, thưa ông, nhà cháu biết thế ạ, nhà cháu không dám nghĩ tới ngày về đâu ạ… Vì thế nhà cháu mới muốn có bức hình, để đến nỗi vi phạm nội quy trại…
- Nghĩ thế cũng không đúng. Đã vào đây rồi, an tâm cải tạo là tốt, nhưng phải nghĩ tới ngày được Đảng thương đến, Đảng cho về với vợ con chứ…
- Dạ. Cảm ơn ông chỉ bảo.
- Hừm.

Đúng là Tằng suy nghĩ. Với loại người như Tằng, những phút suy nghĩ rất hiếm hoi.

Tôi cho rằng cơn nóng đã dịu, y sẽ cho ông già được phép giữ bức hình. Tại sao y không thể làm người, dù chỉ trong một phút?

Tôi đoán sai. Vẫn bằng giọng ôn tồn, y nói với già Lương:

- Nói cho anh biết: anh là thằng tù. Đừng lúc nào quên điều đó. Được tha rồi cũng chớ quên. Hồ sơ anh còn đấy, nó theo anh mãi mãi. Suốt đời. Phàm là thằng tù thì không được hỗn. Không được phép giống Bác. Hỗn đấy. Tù nào cũng thế, tuốt mo, tù hiếp dâm, tù ăn cướp, tù phản động chống chế độ. Không được là không được. Hiểu chửa?

Già Lương nuốt nước bọt đánh ực.

Tằng gập bức hình làm tư, đút vào túi quần.

Đoạn, y vẫy tay gọi anh văn hoá trại đang lui cui khám đồ của một người tù ở gần đấy:

- Ê, văn hoá!
- Dạ, thưa ông gọi!
- Phải. Bỏ đó đã. Mang tông đơ lại đây!

Thoắt cái, anh ta chạy lên phòng văn hoá, cách đấy khá xa, thoắt cái đã đứng nghiêm trước mặt Tằng “ác ôn”, tay phải lăm lăm cái tông đơ.

- Húi trụi cả râu lẫn ria anh này cho tôi!

Nhìn vào mặt già Lương, Tằng xin xít nói qua hai hàm răng nghiến:

- Vào đây rồi mà còn để râu. Lại còn dám nói: hao hao giống Bác. Láo! Láo đến thế là cùng! Húi!

Anh văn hoá trại kiêm phó cạo vội vã đưa tông đơ lên.

Tôi nhìn xuống. Tôi không muốn chứng kiến cảnh tượng ấy. Trong tầm mắt của tôi, tôi nhìn thấy những sợi râu bạc trắng rơi xuống. Tôi nhìn thấy đôi chân gày của già Lương kiễng lên, kiễng lên mãi. Ấy là khi cái tông đơ rúc lên hai lỗ mũi già.

Tằng “ác ôn” lững thững rời khỏi chỗ già Lương đứng, tiếp tục chỉ huy cuộc lục soát.

Trong cuộc chuyển trại diễn ra sau đó, khi cuộc tổng “loại” kết thúc, mọi người trên xe chở tù đều im lặng, lắc lư, không ai nói với ai một câu.

Tôi không nghe già Lương ngồi bên tôi than thở. Ngay cả một tiếng thở dài cũng không.

Vũ Thư Hiên

Nguồn: . Vũ Thư Hiên. Blog Them một niềm vui. 21/09/2014.

-------------------------
[1] Tiếng lóng: khám xét, kiểm tra đồ tuỳ thân của tù.
[2] Bật lửa có khắc hình xe tăng.
[3] Thuốc lá.
[4] Tức QZ, gọi tắt Quốc Dân Đảng.
[5] Đờ Vờ, gọi tắt Đại Việt.
[6] Ban Giám thị.

(DCVO)

Tại sao Việt Nam “phải” có thật nhiều… thứ trưởng?!

Phan Châu Thành - Tại sao Việt Nam “phải” có thật nhiều… thứ trưởng?!

Một đặc điểm rất “thú” và nhiều “vị” chát của Việt Nam
Gần 40 năm sau chiến tranh Nam-Bắc, Việt Nam đang bị lạm phát tướng quân đội, có đến mấy trăm vị tướng trong thời bình! Rồi Việt Nam cũng đang ngày càng lún sâu vào… lạm phát tướng công an - có hơn trăm “ông” tướng công an chỉ huy hơn trăm lực lượng an ninh chìm nổi, chủ yếu chĩa súng vào dân (ví dụ như tướng Đỗ hữu Ca chỉ huy tấn công đầm Cống Rộc của nông dân-kỹ sư nông nghiệp-cựu chiến binh Đoàn Văn Vươn…) trong thời XHCH “vạn lần dân chủ hơn tư bản”!
Các cuộc lạm phát “tướng lĩnh cao cấp” các loại đó làm dân ta phát hoảng vì không biết lực lượng quân đội và an ninh thời “định hướng” này - mà dân phải nuôi bằng sức dân sức nước đó - đã phình to đến thế nào (vì không có báo cáo nào trên cổng thông tin chính phủ hay website của các bộ ngành hay ở bất kỳ đâu), tại sao nó lại phình to thế, mà dân còn vì lo hơn vì không biết họ - những kẻ mình phải nuôi mập mạp đó - đang làm những gì cho ai mà… đông hơn quân Nguyên thế?!

Chưa hết, lạm phát “nhân sự cấp cao” như thế cũng đã tràn lan nhiều năm nay trong tổ chức bộ máy nhà nước, chính phủ ở cả cấp trung ương và địa phương, mà điển hình là vụ “lạm phát thứ trưởng” hiện nay, với quán quân là Bộ Ngoại giao đang hiện có sơ sơ… 09 thứ trưởng (theo Cổng thông tin Điện tử CP và Bộ NG, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn mới nhận chức Đại sứ tại Nga vẫn là thứ trưởng).
Cũng theo Cổng Thông tin Điện tử của Chính phủ Việt Nam (xem: www.chinhphu.vn, thongtinchinhphu@chinhphu.vn ), hiện nay Chính phủ VN có 18 bộ và 04 cơ quan ngang bộ, với nhân sự cao cấp nhất gồm: 01 thủ tướng, 05 phó thủ tướng, 22 bộ trưởng và… 130 thứ trưởng, trong đó chỉ có một phó thủ thướng kiêm nhiệm chức bộ trưởng (ông Phạm Bình Minh), vi chi là 130+22+5+1-1=157 vị quan cấp cao nhất trong chính phủ...
Con số 130 vị thứ trưởng của 22 bộ ngành (18+4), trung bình gần 6 thứ trưởng trong mỗi bộ (trung bình là 5,9…), vì thế lại nổi lên là đặc trưng XHCN của hiện tượng… “lạm phát thứ trưởng” của VN “ta”, đang được dư luận rất quan tâm và lo lắng, và lo lắm… Ôi, thứ thưởng là cái cấp lãnh đạo gì trong chính phủ, nó quan trọng ra sao mà sao nay “tự nhiên’ nó lại phình to ra như bi bệnh phù thũng thế?
Thứ trưởng… ông là ai, và ông… «theo ai»?
Thứ trưởng là… phó bộ trưởng, là người giúp việc cho bộ trưởng, và đôi khi, là người thay thế tạm cho bộ trưởng trong trường hợp cần cấp (bộ trưởng đí công tác vắng hay ốm đau). Thứ trưởng có chức năng phụ/thứ cho bộ trưởng hàng ngày và thay thế khi cần kíp.
Vì bản chất chức năng nhiệm vụ như thế, ở đa số các nước dân chủ trên thế giới, thứ trưởng (vice-minister) thường do chính bộ trưởng chọn cho mình để giúp mình và thay thế mình (người tin cậy và giỏi giang nhất), và thường mỗi bộ chỉ có một thứ trưởng thôi. Khi cần kíp phải thay thế cả thứ trưởng để lãnh đạo bộ thì người thứ ba chính là chánh văn phòng bộ (hay chánh văn phòng nội các – nếu là cấp chính phủ…).
Riêng ở Việt Nam, có ba khác biệt lớn: 1) Thứ trưởng còn là người phụ trách “lãnh đạo trực tiếp” thay cho bộ trưởng một mảng/lĩnh vực chuyên môn nào đó mà bộ trưởng phụ trách – chịu trách nhiệm trước chính phủ…; 2)Thứ trưởng lại do thủ tướng bổ nhiệm để giúp việc cho những người giúp việc của thủ tướng (là các bộ trưởng), mà các bộ trưởng không có quyền đó; và 3) Luôn có rất nhiều Thứ trưởng...
Thứ trưỏng khác bộ trưởng (đối với thủ tướng) là do chính thủ tưởng được toàn quyền bổ nhiệm, và số lượng thứ trưởng trong mỗi bộ cũng do thủ tướng quyết định (theo “đề xuất” và “nhu cầu” của các bộ…), chứ không phải như chức danh bộ trưởng (chỉ có 1) và số bộ ngành đều do Quốc hội quyết định (đảng “lãnh đạo”, tất nhiên).
Mặt khác, vì thứ trưởng được phân công lãnh đạo trực tiếp một mảng công việc (mà bộ trưởng không nắm) nên thứ trưởng nghiễm nhiên được tham gia họp nội các (họp chính phủ, với thủ tướng và các phó thủ tướng) về các công việc đó của bộ mình, khi đó hoàn toàn như một bộ trưởng, như một thành viên nội các/thành viên chính phủ… Như vậy, Chính phủ VN có đến 157 vị trí quan chức cao cấp nhất, và sẽ còn tăng nữa…
Từ thực tế, Thủ tướng không được bổ nhiệm (chọn) bộ trưởng là những người giúp việc cho mình - thành viên nội các của mình (như đại đa số các nước dân chủ “tư bản thối tha” khác…), nhưng được bổ nhiệm những kẻ giúp việc cho những kẻ giúp việc của mình, dẫn đến một “thực tế” khác…
Đó là: Thứ trưởng mới thường là người “của” (phe) Thủ tướng, còn Bộ trưởng có thể là người “của” phe khác phe Thủ tướng trong chính phủ “đa nguyên” của Việt Nam hiện nay… Đó có lẽ là bản chất quan trọng và cơ bản nhất của thứ trưởng trong CPVN.
Những lý do để Việt Nam “phải” có thật nhiều thứ trưởng…
Có rất nhiều lý do để VN phải có thật nhiều thứ trưởng, tất cả các lý do đó đều liên quan đến hai điều cơ bản sau: Cung cách bổ nhiệm cán bộ cấp cao: Thủ tướng, các bộ trưởng và thứ trưởng của đảng CSVN (chồng chéo và không tin tưởng nhau, luôn trong thế cài răng lược nhau ở mọi cấp…), và bản chất luôn luôn chia rẽ nội bộ sâu sắc của nó (đảng CSVN) từ xưa (1945) đến nay (vì tranh chấp quyền lực và lợi ích cá nhân từ đó)…
Chúng ta tạm liệt kê ra 04 (bốn) nguyên nhân chính và nổi bật để Việt Nam “phải” có nhiều và thật nhiều thứ trưởng: từ góc độ của thủ tướng, từ góc độ của bộ trưởng, từ góc độ tổ chức các bộ và chính phủ, và từ góc độ (lợi ích) của các phe nhóm ngoài tổ chức (ngoài bộ hay ngoài Chính phủ). Còn từ góc độ hiệu quả làm việc và độ cần thiết thì các nước tiên tiến đã chỉ ra: chỉ cần một thứ trưởng trong mỗi bộ.
Thứ nhất, từ góc độ của Bộ trưởng. Vì thứ trưởng là người giúp việc thân cận nhất của mình mà mình không được chọn – tức không phải người phe mình mà là phe khác, bộ trưởng sẽ “đì” các thứ trưởng bằng cách giao nhiều nhiệm vụ và buộc phải chịu trách nhiệm về chúng thay mình (vừa khỏe, vừa bõ ghét). Nhưng đó là một mũi tên trúng ba-bốn-năm đích. Đích thứ ba là… bộ trưởng của CSVN thường “đa năng cái gì cũng biết nhưng không biết làm cái gì cả” ngoài tấm bằng đỏ trường đảng nên được đảng tin cậy phân công làm bộ trưởng, thì phải có ai làm thay họ chứ - đó là các thứ trưởng. Làm thay nhưng không thể nắm hết mọi việc và thay thế được bộ trưởng hoàn toàn – nên cần nhiều thứ trưởng, mỗi thứ trưởng chỉ thay một phần thôi! Đích thứ tư, bộ trưởng cần có một số thứ trưởng “của mình” đủ mạnh để kiểm soát nội bộ Bộ, chống lại các thứ trưởng “của địch”, nên thường phải đề xuất (vẽ ra nhu cầu) thêm các vị trí thứ trưởng mới cho người “của mình” đông hơn, mạnh hơn. Và đích thứ năm, quan trọng nhất, bộ trưởng cần hoàn toàn tập trung vào việc “chiến lược” (đấu đá) và “phát triển” (nịnh sếp) nên về chuyên môn phải có các thứ trưởng thực của mình làm thay, còn bộ trưởng chỉ lo thu tiền, kiếm tiền, thăm các sếp trên, nói chúng là “ngoại giao đường lối” đi đêm về tắt để xây dựng vị thế và phe nhóm… Còn đích thứ sáu, đôi khi là phải tự vẽ ra những cái ghế thứ trưởng để bán cho những kẻ háo danh-tham quyền-mê lợi trong bộ vốn nhan nhản và đã rất sẵn tiền mua rồi. Bán một ghế thứ trưởng ít nhất bộ trưởng cũng kiếm được vài trăm ngàn đến hàng triệu đô (nếu vị trí béo bở). Điều này rất quan trọng với các bộ trưởng sắp phải về hưu sau những năm giả vờ hơi liêm khiết, gọi là các bộ trưởng “cà cuống”…
Thứ nhì, từ góc độ Thủ tướng. Vì các bộ trưởng không phải do thủ tướng chỉ định nên thường không “cùng phe”, thủ tướng luôn cần bổ nhiệm thêm các thứ trưởng “của mình” để cài cắm người kiểm soát các bộ trưởng từ trong bếp. Ngoài việc kiểm soát bộ trưởng cho thủ tướng thì thứ trưởng cũng làm nhiệm vụ khuynh đảo công việc của bộ và bộ trưởng theo hướng thủ tướng chỉ đạo. Và “mũi tên thứ trưởng” mà thủ tướng bắn ra còn nhằm đích thứ ba là xây dựng đội ngũ của phe “Thủ” cho các đấu đá phe phái cấp cao hơn của thủ tướng với phe chủ tịch nước hay phe tổng bí thư, sẵn sàng giành lại vị trí bộ trưởng cho phe mình khi có cơ hội. Đích thứ tư của thủ tướng vẫn là … kiếm ăn. Các thứ trưởng mà thủ tướng bổ nhiệm thêm đều phải trả công hay nuôi thủ tướng đều đặn…
Thứ ba, từ góc độ tổ chức: áp lực từ bộ máy tổ chức cấp dưới của các bộ. Chúng ta đều thấy, khi bổ nhiệm một thứ trưởng mới cả thủ tướng và bộ trưởng đều không quan tâm vị trí thứ trưởng đó sẽ làm gì, có thực cần hay không, hiệu quả ra sao… – vì trước đó công việc đó đã vẫn phải do một hai vài vụ, cục, viện… làm chút chút rồi. Mỗi bộ vốn đều có khoảng hơn chục vụ và khoảng gần hai chục cục, tổng cục hay viện hay cơ quan tương đương trực thuôc bộ trưởng làm mọi việc nghiệp vụ và chuyên môn rồi. Theo cổng Thông tin CPVN: 22 bộ ngành hiện nay của Việt Nam – tháng 9 năm 2014- có tổng cộng 250 vụ và 330 cục, tổng cục, viện… tương đương vụ, tức tổng cộng VN đang có chính xác 580 Vụ trưởng/Cục trưởng. Đây là con số to khủng khiếp, vì như vậy 22 vị bộ trưởng phải quản trực tiếp 130 thứ trưởng và 580 vụ trưởng, cục trưởng, viện trưởng thuộc bộ… Vị chi là trung bình có (130+580):22 =32,27 thứ vụ trưởng dưới quyền trực tiếp mỗi một bộ trưởng! Con số này gấp trên ba lần số người mà một người có thể lãnh đạo hiệu quả là 09 người (từ 6 đến 12), chứng tỏ 22 bộ trưởng VN rất “thiên tài” “khua tay giữa đồng xanh”…
Điều nguy hiểm ở đây là, cả 580 vị vụ trưởng, cục trưởng, viện trưởng đó đều quá thiếu việc (số lớn không cần thiết và không hiệu quả) lại quá thừa tham vọng nên họ đều muốn ngấp nghé và dòm ngó, “chiến đấu” lên các vị trí thứ trưởng… Nhiều khi, họ tự cố vấn và vẽ ra các vị trí thứ trưởng mới cho bộ trưởng và thủ tướng để đề xuất rồi thông qua, để họ “xin được ngồi vào” sau khi lót tay hai vị kia đậm đà chu đáo… Đó chính là cái tôi gọi là áp lực tổ chức: Khi một tổ chức giảm hiệu suất làm việc và phình ra thì nó có xu hướng phình to ra mãi vì nó coi đó là thước đo phát triển. Ở Việt Nam, hiện tượng “áp lực tổ chức đang phình to” lại “kết hợp hài hòa” với tham nhũng và tham vọng, với suy thoái đạo đức và bùng phát thói háo danh tràn lan toàn xã hội và nhất là trong giới quan CS hiện nay, thì 580 cục trưởng vụ trưởng luôn “ép trên” (bằng đôla) sau khi đã “đè dưới” (bằng quyền lực), để “trên” phải đẻ ra đến 130 ghế thứ trưởng là hậu quả logic (tức là tất yếu)…
Và thứ tư, từ góc độ của các phe nhóm ngoài tổ chức (ngoài bộ hay ngoài Chính phủ). Chúng ta biết, trong chính quyền CSVN, các phe nhóm luôn tranh giành khốc liệt các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong đảng, nhà nước, chính phủ cũng như quân đội, an ninh ở mọi cấp, tàn khốc nhất là ở cấp nhân sự trung ương, tức vào Trung ương đảng CSVN, khoảng 250 vị. Hiện nay đảng CSVN lại đang chuẩn bị cho Đại hội XII vào đầu năm 2016 nên việc chuẩn bị để tranh chấp nhân sự chắc chắn đang diễn ra gay gắt.
Tương tự như các cấp tướng lĩnh quân đội và công an là điều kiện để tham gia nhân sự trung ương của quân đội, công an nên mới có sự “lạm phát tướng” như thế, trong chính phủ đó là cấp thứ trưởng. Bộ trưởng bắt buộc phải là UV TƯ rồi hay nếu là bộ trưởng thì sẽ được là UV TƯ, nhưng là thứ trưởng không nhất thiết phải là UV TƯ và nếu là thứ trưởng thì sẽ có điều kiện thành UV TƯ cao hơn, đó là mấu chốt. Vì thế, các phe nhóm đều tìm mọi cách đưa người của phe mình vào “vị trí xuất phát” đó: thứ trưởng.
Vì không có luật nào giới hạn số lượng thứ trưởng các bộ, và vì việc bổ nhiệm thứ trưởng lại hoàn toàn do thủ tướng đảm nhiệm, và vì tất cả các bên liên quan đều có lợi ích lớn trong việc bổ nhiệm nhiều thứ trưởng như trên, nên có thể khẳng định chắc chắn qua vụ “lạm phát thứ trưởng” rằng, phe thủ tướng đang cố gắng mọi cách đưa thêm người của mình vào vị trí tranh chấp các vị trí UV TƯ sắp tới, và sẽ còn bổ nhiệm thêm thứ trưởng nữa. Bộ NG có 9 thứ trưởng thì các bộ khác há lại chịu thua số 9 đó?... Đó cũng là lý do “hợp lý” chăng?
Bốn mặt trận tranh chấp nhân sự chính trước ĐH XII
Tương tự trong cuộc “lạm phát tướng lĩnh” thực chất là tranh chấp tướng lĩnh giữa các phe trên mặt trận thứ nhất – quân đội và công an, sau khi thủ tướng phong tướng ba đợt liền cho hàng trăm thiếu tướng và trung tướng, vừa rồi phe chủ tịch nước đã phong hàm thượng tướng cho một số trung tướng “của mình” để giành lại thế cân bằng mong manh với số đông các thiếu tướng của thủ tướng…, cuộc “tranh chấp thứ trưởng” trong các bộ mới chỉ là bước đi đầu của phe thủ tướng, trên sân nhà của thủ tướng là “mặt trận tranh chấp” thứ hai.
Bước thứ hai hay đợt phản công trên “mặt trận thứ hai” này là, hàm bộ trưởng và phó thủ tướng chắc sẽ còn được thay đổi và bổ sung nữa, mặc dù Nhà nước mới bổ nhiệm hai phó thủ tướng (là Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam). Có lẽ chính vì việc bổ nhiệm bộ trưởng Phạm Bình Minh làm phó thủ tướng nên thủ tướng mới phải bổ nhiệm đến 9 thứ trưởng trong Bộ Ngoại giao này sau khi đẩy ông thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn “đi đầy ở Sibiri”?... Nói tóm lại, “cuộc chiến thứ trưởng” trên sân Chính phủ (Chúa phủ, hay Phủ chúa) vẫn chưa ngã ngũ, mới chỉ bắt đầu mà thôi.
Mặt trận tranh chấp nhân sự thứ ba và thứ tư giữa các bên (sau quân đội và chính phủ) trước Đại hội đảng XII là bổ nhiệm cán bộ cao cấp trong Cung Vua (bộ máy trung ương của đảng: các chức vụ phó ban, vụ trưởng trong VP TƯ đảng…) và trong 64 tỉnh thành (các chức phó chủ tịch tỉnh và phó bí thư tỉnh ủy…) cũng đang sôi động và sẽ bùng nổ trong thời gian tới, như là chức vụ thứ trưởng vậy... Lại sẽ có những đợt “lạm phát các phó chủ tịch” và “lạm phát phó bí thư tỉnh”- mỗi tỉnh đột nhiên thêm vài “phó” nữa chả để làm gì ngoài củng cố đội hình bên nào đó, nhưng nhân với 64 tỉnh thành thì VN lại có thêm hàng trăm “quan lớn đầu tỉnh” nữa…!
Chúng ta đã thấy độ tàn khốc mới hé lộ của cuộc tranh chấp nhân sự trước ĐH XII qua ví dụ nhiễm bệnh phóng xạ đột xuất của Trưởng ban Nội chính TƯ Nguyễn Bá Thanh…
Lạm phát thứ trưởng và bức tranh Chính phủ VN hôm nay
Trở lại vấn đề “lạm phát thứ trưởng” trên “mặt trận thứ hai”, chúng ta thấy trung bình đang có 5,9 thứ trưởng mỗi bộ làm nên lạm phát chung (130 thứ trưởng của 22 bộ), thì có 6 bộ vượt “trần lạm phát” chung đó là: Bộ Ngoại giao (9 thứ trưởng), VPCP (8 phó chủ nhiệm VP), Bộ Quốc Phòng (7), Bộ Công An (7), Bộ Tài Chính (7) và Bộ GTVT (7)… Thống kê đó nói lên điều gì? Đó là những bộ quyền lực hay mầu mỡ nhất, thì tranh chấp “ghế” thứ trưởng xảy ra ác liệt nhất.
Chỉ có hai bộ “chỉ có” 4 thứ trưởng là Bộ Tư pháp và Bộ Khoa học Công nghệ, thì lý do “tranh chấp thứ trưởng” khá “nguội lạnh” ở đó cũng khá rõ: Bộ Tư pháp vốn chỉ là trò hề của chính phủ và nhà nước CS không có tam quyền phân lập nên không có thực quyền, phải làm “tư pháp” hoàn toàn theo “đảng pháp” – theo chỉ đạo của đảng nên… không phe nhóm nào dám tranh chấp với đảng ở đây – lĩnh vực bất khả chấp này cả; Còn bộ KH-CN thì có lẽ vì lý do khoa học công nghệ là những “cục phân” luôn “vuốt đuôi định hướng” nên nó không có tiếng nói gì trong chính phủ, nhà nước và xã hội này cả, nên các bên đều không muốn vào “tranh chấp phân” làm chi…
Tóm lại, chúng ta đang và sẽ phải chứng kiến cuộc chiến nhân sự gay gắt và tàn khốc của CSVN, mà người trả giá cuối cùng bao giờ cũng là… dân đen vốn “tự nguyện” hay bị bắt buộc phải làm “dân đỏ - theo đảng”…
Đó cũng chính là lý do duy nhất mà Việt Nam đang phải có, và sẽ có nhiều hơn 130 thứ trưởng hay thứ… tưởng vậy mà không phải vậy, trong chính phủ.
---
P.C.T.
Tác giả gửi BVN 
(Bauxitevn) 

Khẩu chiến Việt-Trung tại Liên Hiệp Quốc về Biển Đông

clip_image002

 Tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc, ngày 27/09/2014, Ngoại trưởng Trung Quốc Trung Quốc đã cho rằng cần phải áp dụng luật lệ quốc tế để giải quyết các tranh chấp, nhưng không hề nhắc tới Biển Đông, nơi Bắc Kinh bị tố cáo là coi thường luật lệ quốc tế. Trong phát biểu sau đó, Ngoại trưởng Việt Nam đã nêu bật tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc để xác định rằng mọi nước lớn nhỏ đều phải từ bỏ việc dùng võ lực trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ.
Do một sự trùng hợp ngẫu nhiên của chương trình nghị sự, đại diện Trung Quốc và Việt Nam đã cùng phát biểu trong một phiên thảo luận cấp cao trong khuôn khổ Khóa họp thứ 69 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại New York.
Được lên tiếng trước, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã lập lại quan điểm cố hữu của Bắc Kinh theo đó các nguyên tắc về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ phải được tôn trọng, do đó cần phải áp dụng luật lệ quốc tế một cách «công minh và đúng đắn» trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu.
Ngoại trưởng Trung Quốc đã nêu lên trường hợp Gaza, Irak, Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan, nhưng lại không nói gì về các tranh chấp chủ quyền trên biển giữa Trung Quốc với các láng giềng, đặc biệt là với Việt Nam hay Philippines tại Biển Đông, nơi Bắc Kinh bị tố cáo là không ngần ngại ỷ thế nước lớn dùng sức mạnh để áp đặt các đòi hỏi chủ quyền rộng khắp, mặc nhiên coi thường luật pháp quốc tế.
Nếu Trung Quốc cố tình không nói đến Biển Đông, thì ngược lại Việt Nam, qua phát biểu của Ngoại trưởng Phạm Bình Minh ít phút sau đó, đã công khai nêu vấn đề Biển Đông thành ví dụ về việc không được dùng võ lực để giải quyết tranh chấp chủ quyền.
Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã dành riêng một đoạn trong bài phát biểu để nêu lên tranh chấp Biển Đông và lập trường tôn trọng luật lệ quốc tế của Việt Nam: «Chúng tôi kiên trì lập trường nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, giải quyết bất đồng, tranh chấp trong quan hệ quốc tế, trong đó có vấn đề Biển Đông, bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển 1982, nghiêm túc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và phấn đấu sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC)».
Các nước không phân biệt lớn nhỏ đều phải tôn trọng luật pháp quốc tế
Phần đề cập đến Biển Đông được ông Phạm Bình Minh đưa ra sau khi ông bày tỏ quan ngại về các «nguy cơ tiềm ẩn về tranh chấp chủ quyền lãnh thổ», đe dọa hòa bình và ổn định.
Theo Ngoại trưởng Việt Nam: «Những con đường dẫn đến chiến tranh và xung đột đều xuất phát từ học thuyết đã lỗi thời về chính trị cường quyền, từ tham vọng thống trị và áp đặt, và từ việc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế, bao gồm các tranh chấp liên quan đến chủ quyền lãnh thổ».
Do đó, đối với ông Phạm Bình Minh, tất cả các nước «không phân biệt lớn - nhỏ, giàu - nghèo đều phải tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc, chuẩn mực, quy định của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Tất cả các quốc gia cần từ bỏ việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế và thúc đẩy giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình».
Trong bài tường trình về cuộc khẩu chiến gián tiếp giữa Việt Nam và Trung Quốc tại nghị trường Liên Hiệp Quốc vào hôm qua, Thông tín viên báo Philippines Rappler tại New York đã mỉa mai tuyên bố của Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị khi nhận định như sau:
«Sau khi cho tàu tiến vào vùng biển đang tranh chấp ở Biển Đông, và cho xây dựng cơ sở tại đấy, Trung Quốc lại nói là cần phải có luật lệ «công bằng và đúng đắn» để giải quyết các tranh chấp toàn cầu… Quốc gia bị cáo buộc không chấp hành luật pháp quốc tế khi đòi hỏi chủ quyền quá đáng trên Biển Đông lại kêu gọi cộng đồng quốc tế sử dụng luật lệ ‘công bằng và đúng đắn’ trong việc giải quyết tranh chấp».
Trọng Nghĩa
(RFI)

-Phát ngôn Phạm Bình Minh ở New York: Phúc và Họa

VNTB


Liên Sơn
* Tác giả gửi bài trực tiếp cho VNTB
Để biết mà tìm cách vươn lên thay vì dựa dẫm, quan niệm “anh em”. Khi đó, sơn thủy sẽ luôn tương liên, văn hóa có thể tương đồng nhưng lý tưởng không thể tương thông, và vận mệnh cũng vì thế mà không tương quan. Trong họa có phúc là vậy.

Nhân bài phát biểu của ông PPT Phạm Bình Minh cũng như cuộc đối đáp giữa ông với giới học giả Hoa Kỳ tại Hội châu Á (Asia Sociaty) ở New York (24/09). Lại nghĩ ngay đến hai chữ: Phúc và Họa.

Phúc – biết rõ về Trung Quốc
Theo như ông Bộ trưởng ngoại giao thì Việt Nam biết rõ về Trung Quốc.
Chắc hẳn, không phải đến thời điểm này Việt Nam mới biết rõ về Trung Quốc, mà hơn hai ngàn năm sống cạnh một nước Hoa Hạ, với những cuộc đấu tranh tự vệ đã khiến Việt Nam nằm lòng Trung Quốc. Từ thế kỷ XIII, vua Trần Nhân Tông cũng đã di huấn: Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa.
Hiểu về vị trí địa lý không thể thay đổi, hiểu được tính chất bá quyền, dã tâm thôn tính, bản chất đàn anh của Trung Quốc.
Không ai hiểu rõ người Trung Quốc bằng người Việt Nam. Những người Cộng sản lại càng hiểu hơn về điều này.
Nhưng hiểu rõ là một chuyện. Làm cách nào để khiến “lợi thế” thành sự chủ động cho chính quốc gia lại là một chuyện khác.
Một ngàn năm Bắc thuộc giúp Khúc Thừa Dụ hiểu rõ về Trung Quốc, và ông đã đặt cơ sở cho nền độc lập, tự chủ của Việt Nam, một nền “độc lập thực sự, và thần thuộc về danh nghĩa”.
Cơ sở mà dòng họ Khúc đặt ra được kế thừa qua các triều đại. Từ thời Ngô, vào năm 954 bắt đầu sai sứ sang vua Nam Hán để cầu vương, đến thời Đinh, dù xưng đế nhưng vẫn xúc tiến triều cống, cầu phong từ các hoàng đế Trung Hoa. Lệ này kéo dài mãi cho đến thời kỳ vua Tự Đức – Triều Nguyễn (cuối thế kỷ 19) mới chấm dứt.
Cách làm đó được xem là sự hiểu rõ Trung Quốc và ứng xử lại một cách khôn ngoan của tổ tiên trong thời kỳ quân chủ, là nghệ thuật lấy nhu thắng cương trong vấn đề hòa hiếu với nước láng giềng. Giữ được nước lại vừa đảm bảo lợi ích của một dòng họ khi lên cầm quyền với sự hậu thuẫn của chính quyền phong kiến Trung Quốc.
Họa – lệ thuộc bản chất
Cái thời “thần phục” trên danh nghĩa đó đáng lẽ đã kết thúc khi vua Bảo Đại dâng ấn kiếm cho chính quyền Việt Nam, kết thúc một thời kỳ mà quan hệ và sự ràng buộc luật pháp quốc tế còn chưa định hình (quân chủ), nước lớn nhỏ về mặt lãnh thổ vẫn mang tính quyết định lớn nhỏ trong quan hệ giữa các quốc gia. Một thời kỳ man sơ với sự tiến đánh chiếm bằng vũ lực ở các nước mà ít bị lên án. Và cũng là thời kỳ mà tư tưởng Nho giáo áp đặt tính “thiên triều” Trung Hoa ra các nước xung quanh.
Thế nhưng, sự xuất hiện của CNXH lại khiến Việt Nam một lần nữa bị ràng buộc về hệ tư tưởng đối với “thiên triều” thời kỳ hiện đại.
Dẫu rằng, hoàn cảnh lịch sử có đưa đẩy đến sự lựa chọn này, nhưng đến khi Liên Xô bị sụp đổ, Đông Âu bị tan rã, chế độ XHCN thì việc vẫn bám víu sự tồn vong chế độ bởi “anh hai” (là Trung Quốc) vẫn còn trụ được là điều không thể hiểu nổi. Nhất là khi mà chế độ đã không mang lại cơm ngon – áo ấm trong một thời gian dài và hạn chế những quyền tự do cơ bản nhất của một con người.
Nhưng số phận dân tộc bi thương không nằm ở đó, mà nằm ở việc, vì thần thuộc quá lâu nên phần lớn người Việt (trong đó có tầng lớp lãnh đạo) đã hiểu sai hoặc cố tình hiểu sai tính hòa hiếu của tổ tiên, hoàn cảnh mà tổ tiên buộc phải thần thuộc về danh nghĩa. Không hiểu chế độ quân chủ đã kết thúc từ lâu, luật pháp quốc tế hiện đại đã hiện diện.
Vì thế, Việt Nam lại một lần nữa lại nằm trong đường hướng (quỹ đạo) của Trung Quốc. Việc xin sắc phong, triều cống, nay được nhắc lại qua 16 chữ vàng, dẫn đường cho việc gửi đặc phái viên “trao đổi ý kiến”, cử cán bộ qua đào tạo… Mọi sự thay đổi, đường đi nước bước của Trung Quốc đều được hấp thụ, sao chép không thương tiếc, từ cách mạng văn hóa, cải cách ruộng đất, đổi mới kinh tế, thiết lập đặc khu kinh tế, con bài chống tham nhũng… Tư tưởng Nho giáo nay đã đổi thành tư tưởng về CNXH. Từ thiên triều, Trung Quốc trở thành anh hai của Việt Nam.
Vì thế, dù hiểu rõ về Trung Quốc, nhưng tầng lớp lãnh đạo lại không muốn hiểu giá trị của các bài học mà Trung Quốc đã dạy từ thời xa xưa cho đến bài học năm 1979, bài học về lệ thuộc kinh tế – chính trị ngày nay.
Thế nên, sau sự kiện HD-981, Trung Quốc tiếp tục mở rộng đảo Gạc Ma lên 100.000 m2; cục hải sự Trung Quốc thông báo quân đội nước này sẽ diễn tập bắn đạn thật quy mô lớn tại phía nam đảo Hải Nam, phạm vi kéo dài đến quần đảo Hoàng Sa; chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình kêu gọi Quân đội giải phóng nhân dân nước này (PLA) sẵn sàng cho một cuộc chiến khu vực. Thì ông Phạm Bình Minh lại nhấn mạnh mối quan hệ “Cả hai đều là nước XHCN, có quan hệ trên mọi kênh, giữa hai đảng, hai nhà nước, và nhân dân hai nước” và ngỏ ý mong muốn học tập “CNXH đặc sắc Trung Hoa”.
Một khi còn muốn dựa vào yếu tố XHCN và quan hệ hai đảng để hòa hiếu, giữ đất, lấy đảo theo kiểu “Lý tưởng tương thông/ Vận mệnh tương quan” thì chẳng bao giờ mong muốn của ông Phạm Bình Minh về “cơ hội bình đẳng cho tất cả các nước không phân biệt lớn nhỏ có tiếng nói và bảo vệ lợi ích của mình” thành sự thật cả.
Bởi sự yếu kém về mặt tư tưởng, chỉ cố lo thương thuyết, cầu xin ngoại giao với Trung Quốc, không dựa vào dân, không lo canh tân quốc gia mà chỉ mong muốn học tập Trung Quốc dưới nhiều hình thức chính là căn bệnh lệ thuộc/ thần thuộc thực sự. Hiện tượng “cá lớn nuốt cá bé”vì thế vẫn diễn ra đối với quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Việt Nam trở thành một nước nhỏ, cơ yếu, luôn trong trạng thái trông chờ “nước lớn” Trung Quốc.
Do vậy, lúc này nói hiểu rõ Trung Quốc như ông Bộ trưởng ngoại giao là quá thừa. Cái cần là làm gì cho khôn ngoan trước sự hiểu rõ đó như tổ tiên cần làm trong thời thế này.
Thế đứng Việt Nam? Trời giúp?
Những hành động của Trung Quốc đã nâng cao ý thức của Việt Nam về sự đa dạng hóa các đối tác an ninh (nhất là đối với Hoa Kì). Nhưng liệu nó thay đổi ý thức về sự lệ thuộc Trung Quốc? Chắc chắn không, khi mà vẫn còn cái mong muốn việc học tập CNXH đặc sắc Trung Hoa hay sự tương quan tư tưởng.
Tương quan (lệ thuộc) tư tưởng đó đã tạo ra những con người như ông Đại tá, phó Giáo sư – Tiến sĩ Trần Đăng Thanh: “Trước đây Trung quốc giúp mình súng đạn, xe cộ, áo quần, lương khô, tiền bạc nhiều lắm. Họ có lấy của mình hòn đảo bằng cái đồng xu thì cũng coi như mình trả ơn, giữ hòn đảo đá ấy có làm lợi gì đâu. Cái tình cảm láng giềng nó quý hơn nhiều chứ”.
Sự chi phối và ảnh hưởng quá lớn của Trung Quốc trong thời kỳ chiến tranh khiến hình thành hoặc không thoát khỏi não trạng lệ thuộc trong phần lớn lớp người cầm quyền. Sự lệ thuộc đó cũng khiến cho cả đất nước rơi vào thế bị động qua cách nói hoa mĩ “vừa đấu tranh, vừa hòa đàm”, cho nên việc ông Phạm Bình Minh thừa nhận bên cạnh 40 cuộc đối thoại thì “do bão đến, nghĩa là chúng tôi được ông Trời giúp” ít nhiều có hàm ý tương tự.
Vị trí địa lý có thể không thay đổi được, nhưng số phận dân tộc chắc chắn sẽ đổi thay bằng cách thay đổi thế đứng về mặt đường hướng phát triển.
Muốn vậy, thì chỉ có con đường duy nhất là phải tách khỏi Trung Quốc về tư tưởng chính trị và thể chế chính trị, phát triển độc lập mô hình thể chế so với Trung Quốc thay vì giống Trung Quốc. Xây dựng lực nước để tạo ra tính bình đẳng chứ không phải trông chờ vào một tổ chức ASEAN thích hội họp hay sự thay đổi và tính cầu thị nước lớn (Trung Quốc).
Để làm được điều đó, trong tầng lớp lãnh đạo cần có những người như ông Trần Xuân Bách hay Hunsen. Những cái đầu dũng khí nhận ra cái nhục về tính lệ thuộc, mà tỉnh táo nhìn về thế nước nhỏ, nghĩ đúng về sự tồn vong, tiền đồ dân tộc. Để biết mà tìm cách vươn lên thay vì dựa dẫm, quan niệm “anh em”. Khi đó, sơn thủy sẽ luôn tương liên, văn hóa có thể tương đồng nhưng lý tưởng không thể tương thông, và vận mệnh cũng vì thế mà không tương quan. Trong họa có phúc là vậy.
Tiếc là, Việt Nam về mặt lãnh thổ, dân số không phải là nước nhỏ, nhưng giờ đây, không ai khỏi băn khoăn trước câu hỏi về sự yếu hèn. Nhất là mãi đến giờ này, vẫn chưa thấy cái đầu dũng khí vẫn chưa xuất hiện trong giới lãnh đạo cấp cao còn tại vị, những phát ngôn vì nước – vì dân (định hình thế đứng của quốc gia) chỉ xuất hiện khi các lãnh đạo ở vị trí nguyên, còn những câu nói cầu vịn như ông Tổng bí thư đảng Cộng sản – Nguyễn Phú Trọng thì lại nhiều vô kể. Qua đó mới biết, các vấn đề mà Việt Nam đang gặp phải hiện nay không nằm ở Trung Quốc, mà vấn đề nằm ở sự lệ thuộc để giữ quyền lợi thống trị của tập đoàn người ở Ba Đình còn quá chặt chẽ dẫn đến sự từ chối một thế nước mới.
Cái nhục của sự lệ thuộc và nước nhỏ chưa bao giờ là sự trăn trở của tầng lớp lãnh đạo, trong khi đó người dân thì thờ ơ chính trị.
Vậy nên, đường hướng đi, cách giao thiệp, ứng xử với Trung Quốc từ sau cuộc chiến tranh Biên giới đến nay của chính quyền ngày một lúng túng, không khác gì một “quái kịch Phan Xích Long ở Nam Kỳ” năm xưa.
Vận mệnh đất Việt trước họa Trung Quốc, hay là giao phó cho… trời giúp!?

-Vũ khí sát thương và bản lĩnh chính thể

Phạm chí Dũng -Nguoiviet

Hà Nội hoang mang…
Ðất Việt vẫn là một trong số hiếm hoi tờ báo nhà nước cố thủ được bản sắc riêng trong tiếng nói truyền thông. Vào cuối Tháng Chín, tờ báo này cũng thêm một lần nữa biến thành dị bản so với hệ thống báo đảng khi “dám” gắn chủ đề dỡ bỏ cấm vận vũ khí với yêu cầu nhân quyền mà Hoa Kỳ không hề bỏ qua đối với Việt Nam.

Nhiều tờ báo khác, và sau cùng là báo đảng, cũng lục tục được “cởi trói” khi bắt đầu đưa bài về tin tức sốt dẻo “cuối năm Mỹ bỏ cấm vận vũ khí.” Ðiều đó cũng đồng nghĩa với hình ảnh tái lập bang giao Việt-Mỹ được “nâng lên một tầm cao mới,” nói theo cụm từ mà Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và giới chức ngoại giao rất ưa dùng.

Tuy vậy, còn chậm lụt hơn cả báo chí, Bộ Ngoại Giao của ông Phạm Bình Minh lại có vẻ khá lắng chìm trước tín hiệu bán lại vũ khí được phát ra từ Washington. Cả Ban Tuyên Giáo Trung Ương cũng vậy. Rõ ràng là giữa năm nay, hàng loạt cú chao người trong thế đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ đã khiến nhiều quan chức chính trị Hà Nội không còn đủ tự tin để biết họ cần phải làm gì, thậm chí muốn gì.
Ðặc biệt, hình ảnh hoặc bị thất sủng, bị truy xét hoặc phải lui vào tình thế “hoạt động bí mật” của lớp quan chức thân Bắc Kinh sau vụ việc giàn khoan HD981 ở Biển Ðông có thể đã khiến đảo lộn kế hoạch thâu tóm quyền lực chóng vánh của những kẻ này.
Ngược lại, sự xuất hiện ngay tại thủ đô cựu thù của những người Mỹ như John McCain và Martin Dempsey lại mang đến niềm hy vọng sống sót cho chủ nghĩa lợi ích không còn đường chạy theo Trung Quốc.
Thậm chí, khi ngay cả người đại diện ưu tú của giới chính trị bị xem là bảo thủ – ông Phạm Quang Nghị – bất thần hiện ra ở xứ Cờ Hoa trước sự sửng sốt của không ít nhà quan sát, có thể rất nhiều quan chức Việt Nam đã cảm nhận về một không khí giao thời để chuẩn bị cho một biến động đủ lớn về quan điểm đối ngoại và kể cả đối nội trong tương lai gần.
Cảm nhận trên có thể là không sai. Sau chuyến thăm Việt Nam của Chủ Tịch Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ Martin Dempsey, mới đây chỉ huy trưởng Hải Quân Nhân Dân Việt Nam, Ðô Ðốc Nguyễn Văn Hiến, đã lẳng lặng đến Mỹ tham gia tập trận hải quân với Bộ Trưởng Hải Quân Ray Mabus.
Vớt vát cuối cùng
Tuy nhiên, điều có vẻ đáng ngạc nhiên là những cú đưa đẩy con thoi về quân sự trên diễn ra trong bối cảnh Hiệp Ðịnh Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn hầu như chưa có gì được coi là thỏa thuận giữa Việt Nam và những nước chủ chốt trong TPP như Hoa Kỳ và Nhật. Toàn bộ những gì được coi là kết quả của vòng đàm phán cấp cao ở Hà Nội trong 10 ngày đầu Tháng Chín chỉ là “đã đạt được những tiến bộ quan trọng,” theo báo chí nhà nước, hay “còn nhiều việc phải làm,” theo trưởng đoàn đàm phán Mỹ.
Thế nhưng sau đó, ngay cả Thông Tấn Xã Việt Nam cũng phải “cải chính” khi dẫn lời Giáo Sư Jeffrey Schott, thành viên cao cấp của Viện Kinh Tế Quốc Tế Peterson có trụ sở tại thủ đô Washington, DC (Mỹ) và cũng là chuyên gia hàng đầu về TPP, dự báo hiệp định này có thể kết thúc đàm phán và ký kết vào nửa đầu năm 2015.
Tin này thật sự là một cú sốc đối với các nhà “hoạch định chiến lược” của Việt Nam. Theo hoạch định vào giữa năm 2013, tiến độ TPP “phải” được kết thúc vào cuối năm đó. Mong ước có phần viển vông này có lẽ được dựa vào một cơ sở sáng láng nhất là cam kết “cố gắng hoàn tất TPP vào cuối năm 2013” của Tổng Thống Mỹ Barak Obama.
Thế cục đã biến chuyển khác hẳn giai đoạn năm 2007-2008. Giờ đây, với quá nhiều khó khăn về kinh tế và nội trị, giới lãnh đạo Việt Nam luôn đứng trước ngã ba đường. Chính sách đu dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ trong thực tế đã không mang lại kết quả như mong đợi, nếu không muốn nói là người đi dây còn có thể té lộn nhào vào bất kỳ lúc nào.
Thái độ hơi quá khoan hòa của tổng thống và giới ngoại giao Mỹ đối với nhà cầm quyền Việt Nam cũng đã không còn đạt hiệu ứng thuyết phục như trước đây đối với lưỡng đảng Hoa Kỳ. Thực tế là “quyền đàm phán nhanh” về TPP đã không còn phụ thuộc vào chính phủ Mỹ, mà do Hạ Viện Hoa Kỳ quyết định. Giáo Sư Jeffrey Schott cũng vừa hé lộ thông tin vừa đáng thất vọng nhưng cũng tôn tạo đôi chút hy vọng là đến đầu năm sau, Quốc Hội Hoa Kỳ có thể thông qua loại quyền dù mang tính kỹ thuật nhưng lại quyết định phần lớn này cho chính quyền Mỹ, từ đó mới có thể kết thúc nhanh tiến trình đàm phán TPP cho Việt Nam.
Tuy nhiên, các nhà đàm phán đang tìm cách đạt tới một “sự cân bằng chuẩn xác” giữa độ sâu của tự do hóa mà Việt Nam cam kết thực hiện với tốc độ thực hiện các cam kết tự do hóa này, Giáo Sư Jeffrey Schott nhấn mạnh.
Khó có thể hiểu khác hơn, “sự cân bằng chuẩn xác” nêu trên không chỉ nhắm tới những điều kiện về sở hữu trí tuệ, xuất xứ hàng hóa, nhãn mác… mà Việt Nam phải thỏa mãn, mà cả về những hình thể tự do nhạy cảm hơn nhiều như tự do lập hội, công đoàn độc lập và trả tự do cho tù nhân lương tâm. Nếu không đáp ứng được những “tiểu tiết” này, có thể còn rất lâu nữa, hoặc chẳng bao giờ, Việt Nam mới là “quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ TPP” như Bộ Chính Trị quốc gia này tuyên truyền.
Hy vọng gần như duy nhất của phía Việt Nam chỉ còn là những cuộc đàm phán đơn phương với đại diện thương mại Hoa Kỳ. Sự hiện diện của phái đoàn Phó Thủ Tướng Vũ Văn Ninh ở Washington, DC, ngay sau vòng đàm phán TPP tại Hà Nội là một trong những vớt vát cuối cùng cho năm nay.
“Vậy thì sao Trung Quốc phải phiền lòng?”
Rõ ràng là Hà Nội chỉ thay đổi khi ở vào thế chân tường. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà chính vào khoảng thời gian được coi là khá “nhạy cảm” này, một số tin tức vốn được liệt vào độ “tuyệt mật” của Hà Nội lại bất ngờ lộ ra.
Ðầu tiên là sự kiện gây sốt trong cộng đồng người Việt hải ngoại quan tâm đến chính trị: một kế hoạch hợp tác thông tin của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) với đài Tiếng Nói Việt Nam (VOV). Kế hoạch này đã không được biết đến cho tới khi có một bản tin tiết lộ trên báo mạng điện tử WND (World Net Daily) ngày 31 Tháng Tám về sự thương lượng của Hội Ðồng Quản Trị Truyền Thanh Hoa Kỳ (US Broadcasting Board of Governors-BBG) với phía nhà cầm quyền Việt Nam.
Sau đó, vào ngày 16 Tháng Chín, lại xuất hiện thông tin nhà nước Việt Nam đã trao giấy phép cho đại diện của hai tổ chức con nuôi của Hoa Kỳ, chính thức nối lại hoạt động cho nhận con nuôi giữa hai nước sau sáu năm đình trệ.
Ðiểm trùng lắp đáng lưu ý là cũng như tin tức về mối quan hệ khiên cưỡng VOA-VOV, những tiết lộ mới mẻ và bất ngờ về chương trình “tái thiết con nuôi” lại xuất phát từ Mỹ chứ không phải từ giới lãnh đạo Hà Nội.
Còn ngay trước mắt là chuyến đi Hoa Kỳ vào đầu Tháng Mười của Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh để “tham khảo ý kiến với Bộ Trưởng Ngoại Giao John Kerry,” như lời dẫn của VOA.
Nhưng thêm một lần, điều trớ trêu là tin tức trên được tiết lộ từ một hãng truyền thông bị ghép tội “vu khống và xuyên tạc” như VOA Việt ngữ, chứ không phải là Thông Tấn Xã Việt Nam hay báo Nhân Dân.
Chỉ mới đây, chính phủ Việt Nam mới thông tin quá trễ về chuyến công du nêu trên, sau khi báo chí nước ngoài “ấn định” thời điểm xuất hiện của ông Phạm Bình Minh ở Hoa Kỳ là hai ngày đầu Tháng Mười.
Cũng có thể, chuyến “thị sát” của ông Dempsey đến Việt Nam vừa qua và cuộc “tham khảo” của ông Phạm Bình Minh ở Hoa Kỳ sắp đến sẽ mở đường cho một chuyến công du khác, đó là Bộ Trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel sẽ tới Việt Nam trước cuối năm nay, từ đó dẫn đến cơ chế dỡ bỏ cấm vận vũ khí.
Không có được quyền “đàm phán nhanh” đối với TPP, hẳn chính phủ Mỹ có phần bức bối, trong khi họ cần phải tự thân quyết định một số vấn đề ngay trước mắt và có lợi cho họ. Việc buôn bán vũ khí sát thương là một trong những mối lợi cấp tốc như thế.
Còn Hà Nội, tất nhiên trong mọi tất nhiên, họ vẫn tiếp diễn trạng thái đu dây và chỉ mong muốn mọi chuyện đừng đảo ngược theo hướng gây bất lợi cho mình.
“Vậy thì sao Trung Quốc phải phiền lòng?” Khẩu khí và vẻ mặt ngạc nhiên hệt kịch sĩ của ông Phạm Bình Minh hôm 24 Tháng Chín tại Asia Society (Hội Á Châu) ở New York, khi đề cập đến việc Việt Nam mua vũ khí sát thương từ Mỹ, chắc hẳn toát lên tư thế rất đặc trưng cho “bản lĩnh” của chính thể Hà Nội.

-Trường Sa! Trường Sa! Ðảo chếnh choáng!

Ngô nhân Dụng – Nguoiviet

Tháng Ba năm 1974, hai tháng sau khi Trung Cộng tấn công chiếm quần đảo Hoàng Sa, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đưa một phái đoàn đi thăm một đảo trong quần đảo Trường Sa; chắc để ủy lạo tinh thần các quân nhân đồn trú. Trong số người tham dự chuyến đi có Ðại Úy Ðinh Thành Tiên, lúc đó 36 tuổi.
Ông cũng là thi sĩ nổi danh Tô Thùy Yên từ 20 năm trước, xuất thân từ tạp chí Sáng Tạo.

Khi trở về Tô Thùy Yên viết bài thơ Trường Sa Hành, đăng trên tạp chí Văn, ở Sài Gòn. Trong lúc đó Việt Cộng đang tấn công tỉnh Phước Long, dọn đường cho cuộc tổng tấn công vào năm sau, mặc dù đã ký hiệp định đình chiến ở Paris. Trong không khí chiến tranh bùng trở lại, viện trợ của đồng minh bị cắt đứt, người dân miền Nam ngơ ngác, không ai có thời giờ nghĩ tới Trường Sa, những hòn đảo lẻ loi giữa trùng dương xa tắp. Bài Trường Sa Hành chìm vào đáy sâu kho trí nhớ của những người yêu thơ, yêu tiếng Việt.
Năm 1975, Thiếu Tá Ðinh Thành Tiên bị đưa vào tù sống 13 năm, cho đến khi được tự do ông viết bài Ta Về, một áng văn chương rực rỡ trong ngôn ngữ Việt.
Cho đến mấy năm gần đây, người Việt tìm lục trong ký vãng thấy lại bài thơ Trường Sa Hành, và chuyền tay nhau đọc, tới tấp gửi cho nhau trên các mạng lưới. Vì Trường Sa đã là một đề tài thời sự. Nhiều nhà văn sống ở miền Bắc trước đây không biết đến Tô Thùy Yên, giờ cũng đọc và nhắc tới bài thơ khi nói về nỗi uất hận của dân tộc trước cảnh Trung Cộng đánh chiếm nhiều đảo ở Trường Sa năm 1988, và đang tính nuốt hết cả quần đảo. Trong một bài thơ viết thời còn trẻ đăng trên Sáng Tạo, Tô Thùy Yên tự giới thiệu, “… là thi sĩ, là người viết sử tương lai.” Câu thơ nay đã nghiệm. Trường Sa Hành viết năm 1974, sau 30 năm bài thơ đang xuất hiện trở lại trong lịch sử dân tộc để chúng ta đọc và hướng đến tương lai.
Trường Sa Hành mở đầu bằng câu dẫn làm tựa đề trên đây. Thi sĩ viết:
Trường Sa! Trường Sa! Ðảo chếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Ðêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Ðọc một câu “Trường Sa! Trường Sa! Ðảo chếnh choáng!” chúng ta đã thấy, Trường Sa Hành không phải là một tiếng trống thúc quân, không viết để tuyên truyền cho bất cứ một chính quyền một chủ nghĩa hay một cuộc chiến đấu nào. Tất cả chỉ là những xúc động của người thi sĩ khi đặt chân lên một hòn đảo rất xa nhưng vẫn thuộc về đất nước mình, chia sẻ nỗi lòng những người “lính thú” đóng trên đảo. Tô Thùy Yên là một con người tự do sáng tác theo cảm xúc cá nhân dù ông là một sĩ quan trong quân đội. Các thi sĩ trong Quân đội Cộng Hòa không viết theo kế hoạch, theo chính sách hay chỉ thị của cấp trên, không ai chấp nhận thân phận “bồi bút.” Phan Nhật Nam viết “Dấu Binh Lửa,” hay Tô Thùy Yên viết “Chiều trên Phá Tam Giang” đều do những xúc động tự trong lòng thúc đẩy. Trong vùng đất coi tự do là một lý tưởng xứng đáng cho cuộc sống, không có thi sĩ nào viết như câu vè cổ động giết đồng bào, như:
“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin…bất diệt.”

Trái lại, người cựu thiếu tá Việt Nam Cộng Hòa, sau 13 năm tù đầy biệt xứ, vẫn còn đủ tấm lòng thương cảm với những người lính bên kia đã chết trong cuộc chiến:
“Ta địch bạn thù chung bia mộ,
Chung lời thương tiếc tiễn đưa nhau…”

Chỉ có những con người tự do mới có cơ hội cho lòng từ bi được nảy nở và sẵn sàng bày tỏ. Nhà giáo Nguyễn Anh Khiêm có dịp kể rằng: Một lần tôi hỏi Tô Thùy Yên vì sao “Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề,” ông giải thích rằng đứng trên đài chỉ huy chiến hạm thấy sóng vây quanh đảo như vành khăn tang. Một người đi du lịch có khi thích thú thấy cảnh đó vô cùng ngoạn mục nhưng ở đây, thi sĩ nhìn theo tâm cảnh u sầu, chưa nguôi ngoai về cái chết oanh liệt nhưng không thể nói không bi thảm của bao thanh niên ưu tú con yêu dân tộc bỏ mình khi bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng,” trong trận hải chiến Hoàng Sa trước đó.
Ở thời điểm đó, Trung Cộng có thể tiến chiếm Trường Sa bất cứ lúc nào. Có thể những người “lính thú này sẽ nối gót Ngụy Văn Thà mới vừa tử thủ ở Hoàng Sa, hay theo chân những người lính vô danh trong lịch sử dân tộc.
Nhưng khi đã lênh đênh lần đầu trên mặt biển suốt mấy ngày đêm, khi bước chân lên mặt đất, cũng giống các thuyền nhân vượt biển tìm tự do sau này, những ngày sau mỗi lần nằm xuống ngủ còn mang theo cảm giác “Ðêm nằm còn tưởng đảo trôi đi”; thì một thi sĩ đã vượt lên trên thân phận nhỏ nhoi của kiếp người, để tiếp xúc với cả vũ trụ. Trước vũ trụ không cùng, xúc động đầu tiên là một nỗi Hiu Quạnh Lớn.
Mùa Ðông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Nỗi Hiu Quạnh Lớn trùm lên cả 16 đoạn thơ, được diễn tả dưới nhiều hình ảnh gió miên man, gió ngất trời, xa đến nhớ không tới, gió xoay chiều, gió khốc liệt, gió ngất trùng điệp, cây bật gốc chờ tan xác, chim đen thảng thốt quần, đất trời kinh động, khỏng cách đặc. Tô Thùy Yên luôn xao xuyến trước vũ trụ bao la im lặng, vô biên, vượt trên khả năng hiểu biết của loài người “Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi.” Trong bài “Hề, Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ” ông lại viết:
Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn,
Mà trí ta không đủ lực đo lường.

Tô Thùy Yên có thể, thay hai câu của thi sĩ người Pháp Saint John Perse ở đầu bài thơ mà ghi hai câu thơ Cao Bá Quát: “Lôi oanh điện bác thảm nhân diện – Duy hữu điểm điểm phù khinh âu.” Cao Chu Thần đứng trước biển cả mênh mông cũng cảm thấy một nỗi Hiu Quạnh Lớn như các thi sĩ khac, trong hai câu thơ chỉ thấy sấm, chớp chiếu lên mặt người thê thảm, và trên không mấy con chim hải âu vỗ cánh. Tâm trạng Tô Thùy Yên cũng như vậy.
Trước đất trời bao la, hung hãn, “coi vạn vật như chó rơm,” thi sĩ nhìn lại “dưới hồn ta tịch mịch” thì phải thấy không thể nào diễn tả bằng lời nói những xúc động của mình. Ông có thể nghĩ về cái tang những chiến sĩ đồng đội đã hy sinh ở Hoàng Sa trước đó, hay cảnh sống heo hút của những “Lính thú mươi người lạ sóng nước” cô lập trên một hòn đảo ở Trường Sa. Vì trời mây, biển cả đã nói hết cả nỗi niềm tang chế rồi:
Sóng thiên cổ khóc biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.

Tô Thùy Yên chia sẻ với những đồng ngũ ở Trường Sa bằng những bài hát, những chén rượu mang từ đất liền tới:
Chú em hãy hát, hát thật lớn,
Những điệu vui, bất kể điệu nào,
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ,
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.

Tâm sự những người lính tiền đồn này được thi sĩ diễn tả với khoảng cách giữa quần đảo Trường Sa và đất liền, liên lạc với nhau bằng làn sóng điện không đáng tin cậy:
Ðất liền, ta gọi, nghe ta không?
Ðập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, không biết số phận những người lính giữ đảo đó ra sao. Họ có được coi là những chiến sĩ đang bảo vệ tổ quốc hay không? Khi quân Trung Cộng đánh chiếm mấy đảo Trường Sa năm 1988, bao nhiêu thanh niên Việt Nam khác bị hy sinh mà không được ai nhắc tới, cho đến năm nay mới có người Việt Nam làm lễ tưởng niệm “chui.” Nhưng đối với thi sĩ, những chiến sĩ Việt Nam, dù thuộc chế độ chính trị nào, cũng đã được tưởng niệm:
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người.

Ðài tưởng niệm bất diệt nằm trong lòng dân Việt mãi mãi: Bài thơ Trường Sa Hành.