Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

Hiến pháp vi hiến

Hoàng Xuân Phú - Hiến pháp vi hiến

pháp vi hiến
quyền bất chính
Hoàng Xuân Phú
Một hành vi hay văn bản được coi là vi phạm hiến pháp, gọi tắt là vi hiến, nếu nó vi phạm một quy định nào đó trong hiến pháp.
Văn bản pháp luật vi hiến thì không hiếm. Nhưng hiến pháp mà cũng vi hiến thì hiếm hoi đến mức có thể coi là "đặc sản" của chế độ. Tiếc rằng, Hiến pháp 2013 – do Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 – lại thuộc loại ấy. Chúng ta hãy cùng nhau phân tích mấy điều khoản vi hiến để làm sáng tỏ nhận định này.
Vì mọi điều khoản trong một bản hiến pháp đều được xem là "chuẩn mực", nên khi hai nội dung mâu thuẫn với nhau thì có thể dùng điều này phủ định điều kia và ngược lại, để cuối cùng thì cả hai đều trở thành vi hiến. Tuy nhiên, ta sẽ không phủ định triệt để cả hai, mà "tha" cho điều khoản có vị thế ưu tiên hơn trong hiến pháp, và dùng nó để đánh giá những điều khoản khác. Vậy căn cứ vào đâu để xác định vị thế ưu tiên trong hiến pháp? Theo tư duy của các nhà lập hiến, chắc hẳn Chương I có vị thế ưu tiên nhất, và Chương II có vị thế ưu tiên hơn (tức là quan trọng hơn) so với các chương sau. Trong nội bộ một chương, điều được đặt lên trước có lẽ cũng được coi là quan trọng hơn điều bị đặt ở phía sau.
Để chứng minh một điều khoản nào đó của Hiến pháp 2013 là vi hiến, ngoài những quy tắc suy luận lô-gích tối thiểu, ta sẽ chỉ dựa vào bản thân Hiến pháp để lập luận. Kể cả khi trích dẫn Hiến chương Liên hợp quốc hay Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948, thì không có nghĩa là viện dẫn văn bản ngoại lai, mà chỉ nhằm khẳng định đối tượng đang được khảo sát vi phạm Điều 12 Hiến pháp 2013, cam kết rằng:
"Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam… tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên."
Bài này được chia thành 5 phần như sau:
Phần 1 (Bớt xén quyền con người) phân tích tính vi hiến của Điều 14 Hiến pháp 2013, quy định rằng "các quyền con người… được công nhận… theo Hiến pháp và pháp luật".
Phần 2 (Ép thầy tu cầm súng) bàn về tính vi hiến của Điều 45 Hiến pháp 2013, quy định rằng "công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự".
Phần 3 (Bắt người dưng thờ phụng) chỉ ra sự vi hiến của Điều 65 Hiến pháp 2013, đòi hỏi "Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành… với Đảng… bảo vệ… Đảng… và chế độ xã hội chủ nghĩa… thực hiện nghĩa vụ quốc tế".
Phần 4 (Tước đoạt quyền sở hữu) chứng minh sự vi hiến của Điều 53 Hiến pháp 2013, quy định rằng "Đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý".
Phần 5 (Chiếm quyền lực Nhân dân) vạch ra tính vi hiến của Điều 4 Hiến pháp 2013, mặc định rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội", và tính vi hiến của Điều 9 Hiến pháp 2013, ấn định rằng "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện… quyền… của Nhân dân".
Để tránh hiểu lầm là sự vi hiến của Hiến pháp 2013 chỉ dừng lại ở 6 điều khoản kể trên, đoạn kết của bài này đề cập thêm một ví dụ vi hiến, đó là Điều 10 Hiến pháp 2013, quy định rằng "Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động… đại diện cho người lao động… bảo vệ quyền, lợi ích… của người lao động".
Ba trong số bẩy nội dung vi hiến kể trên đã được góp ý và bị phê phán rất nhiều trong quá trình thảo luận Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Song nhà cầm quyền vẫn bất chấp, cố bám giữ bằng được. Khi tranh luận về bản Dự thảo, cả hai phía đều dựa chủ yếu vào quan điểm nhận thức để bảo vệ hay bác bỏ. Lập trường quá khác nhau, nên khó tránh khỏi quá đà, lắm lúc còn nặng lời thóa mạ. Và như một bản năng, mỗi lần đuối lý, thì bộ máy lý luận và tuyên truyền của nhà cầm quyền lại thường quy chụp những ý kiến trái chiều là thù địch hay phản động. Bây giờ, trong bài viết này, mọi lập luận chỉ đơn thuần dựa trên Hiến pháp 2013. Cho nên, nếu vẫn cố quy chụp các kết luận được rút ra ở đây là phản động, thì chẳng khác gì coi Hiến pháp của chế độ đương thời là phản động.
1.  Bớt xén quyền con người
Khoản 1 Điều 14 của Hiến pháp 2013 viết rằng:
"Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật."
Đây là một điều khoản vi hiến rất tinh vi, bởi vì chất vi hiến ẩn khuất trong một mệnh đề được viết gián đoạn: "Các quyền con người… được công nhận… theo Hiến pháp và pháp luật". Điều đó cũng có nghĩa là: Các quyền con người chỉ được công nhận theo Hiến pháp và pháp luật. Nếu quyền con người nào không hoặc chưa được Hiến pháp và pháp luật công nhận đích danh, thì không hoặc chưa được thừa nhận.
Để chứng minh nhận định trên, ta cần chỉ ra rằng cụm từ "theo Hiến pháp và pháp luật" được gắn với cả bốn động từ trong cái mớ lòng thòng "được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm". Thật vậy, giả sử cụm từ "theo Hiến pháp và pháp luật" chỉ gắn với động từ cuối cùng là "đảm bảo", thì phần còn lại (trước đó) sẽ chứa đựng nội dung (hoàn chỉnh) là:
"Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người được công nhận, tôn trọng, bảo vệ."
Câu này ở thể bị động, nhằm hiến định nghĩa vụ của Nhà nước. Khi chuyển sang thể chủ động, ta thu được mệnh đề:
"Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ các quyền con người."
Song nội dung này đã có trong Điều 3 Hiến pháp 2013, viết rằng:
"Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân."
Vậy thì việc gì phải nhắc lại nó một lần nữa ở Điều 14?
Lập luận vừa rồi có lẽ chưa đủ để chứng minh nhận định trên, bởi vì viết trùng lặp là một căn bệnh của Hiến pháp 2013. Cho nên, cần viện dẫn thêm cả Hiến pháp 1992, trong đó quy định rằng:
"Điều 50  Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật."
"Điều 51 … Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định."
Rõ ràng, Hiến pháp 1992 nhấn mạnh đến hai lần, rằng "các quyền con người… được… thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật" và "quyền… của công dân do Hiến pháp và luật quy định". Hệ quả pháp lý là: Những quyền nào không "được quy định trong Hiến pháp và luật" thì không được nhà cầm quyền thừa nhận. Hơn thế nữa, vì "các quyền con người" chỉ "được… thể hiện ở các quyền công dân", nên Hiến pháp 1992 không thừa nhận quyền con người của những người Việt bị mất quyền công dân (chẳng hạn trong thời gian chấp hành án tù giam) và của những người nước ngoài đang có mặt ở Việt Nam (do họ không phải là công dân Việt Nam).
Vì Hiến pháp 2013 "kế thừa" Hiến pháp 1992, như được khẳng định trong Lời nói đầu, nên ý "quyền con người được công nhận theo Hiến pháp và pháp luật" tại Điều 14 Hiến pháp 2013 là kế thừa của ý "quyền công dân được quy định trong Hiến pháp và luật" tại Điều 50 và Điều 51 của Hiến pháp 1992 mà thôi.
Suốt mấy chục năm qua, nhà cầm quyền luôn dị ứng với khái niệm "quyền con người", coi "nhân quyền" như một thứ xấu xa, cấm kỵ. Mặc dù đó là những quyền hiển nhiên được Tạo hóa ban cho mọi người sinh ra trên Trái đất, như đã được trích dẫn trong "Tuyên ngôn độc lập" khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Không thể phủ định được mãi, giờ đây họ buộc phải "chấp nhận khái niệm quyền con người" trong Hiến pháp 2013. Để tiệm cận được cái chân lý quá hiển nhiên ấy, giới cầm quyền phải vật lộn rất vất vả với chính bản thân mình, đến mức cho rằng cú nhích quá muộn màng đó là "một bước tiến rất lớn", như đã thể hiện trong lời phát biểu của ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa XIII và Trưởng Ban Biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992:
Cần phải lưu ý rằng: Đại từ nhân xưng "Chúng ta" chỉ đúng với ngữ cảnh tâm sự trong nội bộ giới cầm quyền. Còn khi họp báo, nghĩa là nói với "người ngoài", thì ông Lý nên xưng "Chúng tôi" cho chính xác. Bởi vì đối với quảng đại Nhân dân thì quyền con người là một khái niệm hiển nhiên, đến mức… phải ngạc nhiên: Tại sao họ lại "chậm hiểu" đến như vậy? "Chậm" thì sao không tránh sang một bên, để rộng đường cho Nhân dân đi tới tương lai?
Qua khẳng định của ông Trưởng Ban Biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, ta thấy rõ rằng nhà cầm quyền vẫn chưa chịu thừa nhận quyền con người một cách đầy đủ, mà mới chỉ dừng lại ở mức "thể hiện quyền con người trong hiến pháp bằng những quy định cụ thể". Sao lại ì ạch, khó nhọc đến như vậy? Làm hiến pháp, làm luật, thì phải hiểu được kiến thức sơ đẳng là: Dù muốn thì cũng không thể quy định hay liệt kê hết thảy mọi thứ trong hiến pháp, pháp luật, và nếu điều gì không được liệt kê thì không có nghĩa là nó bị phủ nhận. Để tránh hiểu lầm, 222 năm trước các nhà lập hiến Mỹ đã bổ sung thêm điều sau đây vào Hiến pháp Mỹ:
"Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân." (Tu chính IX)
Quyền công dân có thể mang tính đặc thù của từng quốc gia, nhưng quyền con người thì mang tính phổ quát trên toàn thế giới, chứ không phải là thứ do nhà cầm quyền của từng nước ban phát. Bình thường thì Nhà nước phải thừa nhận tất cả các quyền con người, cho dù các quyền đó có được đề cập cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật hay không. Quyền con người được đề cập trong Điều 3 Hiến pháp 2013 phải mang ý nghĩa như vậy. Do đó, việc Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 hạn chế quyền con người, chỉ "công nhận… theo Hiến pháp và pháp luật", là vi phạm Điều 3 Hiến pháp 2013.
"Tất cả thành viên cam kết bằng các hành động chung hoặc riêng trong sự nghiệp hợp tác với Liên hợp quốc để đạt được những mục đích ở Điều 55."
Trong số các mục đích được nêu ở Điều 55 có:
"Tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền con người và các quyền tự do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo."
"Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền."
Rõ ràng, việc Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 hạn chế quyền con người ở Việt Nam là vi phạm nguyên tắc "các quyền con người… không phân biệt chủng tộc" và "mọi người sinh ra đều… bình đẳng về… các quyền".
Trong số các quyền con người chưa được nhà cầm quyền Việt Nam "công nhận… theo Hiến pháp và pháp luật" có quyền "tự do tư tưởng". Vậy là vi phạm Điều 18 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền:
"Mọi người có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo."
Đó là một quyền rất cơ bản, là tiền đề của nhiều quyền tự do khác. Bởi lẽ, nếu không có quyền "tự do tư tưởng", tức là "tự do nghĩ khác", thì cái gọi là "tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình" cũng chỉ là một thứ "tự do nô lệ", "tự do phụ họa", dành riêng cho những ai chỉ biết ca ngợi nhà cầm quyền và "ngân nga" tư tưởng được coi là chính thống mà thôi. Đúng như Rosa Luxemburg (1871-1919) – nhà lý luận Mác-xít tiền bối bậc thầy của những người cộng sản Việt Nam – đã viết trong tác phẩm "Về cách mạng Nga" (Zur russischen Revolution – Xuất bản lần đầu vào năm 1922, bàn về cuộc cách mạng của những người cộng sản Nga, tạo dựng ra chế độ Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết):
"Tự do mà lại chỉ dành cho những người ủng hộ chính phủ, chỉ dành cho các đảng viên của một đảng – dù họ đông bao nhiêu đi nữa – thì đó không phải là tự do. Tự do luôn chỉ là tự do của những người nghĩ khác."
Đáng lưu ý là: Trong Hiến pháp 2013, một số quyền con người bị hạn chế bằng cách chỉ được thể hiện dưới dạng quyền công dân, ví dụ như:
"Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước." (Điều 23)
"Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình." (Điều 25)
Hệ quả pháp lý là: Theo Khoản 1 Điều 14 thì những quyền này chỉ còn là quyền công dân, không được công nhận là quyền con người, nên những người không mang quốc tịch Việt Nam không được hưởng trên đất Việt Nam. Chẳng hạn, người gốc Việt mang quốc tịch nước ngoài có thể không được về quê hương Việt Nam, hay khi đang ở trên đất Việt Nam thì người nước ngoài không có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Như vậy là vi phạm ba điều khoản sau đây của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền:
"Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở." (Điều 13)
"Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; quyền này bao gồm cả tự do quan điểm mà không bị can thiệp và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới." (Điều 19)
"Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách ôn hòa." (Điều 20)
Với các chứng cứ kể trên, ta có thể khẳng định rằng Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 vi phạm Điều 12 Hiến pháp 2013, trong đó cam kết "tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên".
Tóm lại, Điều 14 Hiến pháp 2013 là vi hiến, vì nó mẫu thuẫn với Điều 3 và Điều 12, tức là vi phạm hai điều có vị thế ưu tiên hơn nó trong cùng Hiến pháp.
Sự vi hiến này không phải là vô tình, mà là sản phẩm truyền thống của "hội chứng ban phép", tức là lối tư duy thống trị, cho rằng người dân chỉ được làm và chỉ được hưởng những thứ mà nhà cầm quyền cho phép. Nó xuất phát từ ngộ nhận, cho rằng thế lực cầm quyền "cao hơn hẳn" tất thảy Nhân dân và có "quyền sinh quyền sát" đối với cộng đồng Nhân dân. Đó là một căn bệnh trầm kha, đã trói buộc Nhân dân ta và cản trở sự phát triển của Dân tộc ta suốt mấy chục năm qua, biến Dân ta thành một thứ "nô lệ tư duy". Cái gọi là "đổi mới" (được tiến hành từ những năm 80 của thế kỷ 20) chẳng qua là nhà cầm quyền chịu "cởi trói", nói đúng hơn là "nới trói", trả lại cho Dân một phần quyền sinh sống và làm ăn tự do vốn có tự bao đời. Cho nên, nếu muốn thực sự giải phóng Nhân dân, giải phóng Dân tộc khỏi xiềng xích, thì phải cương quyết triệt xóa "hội chứng ban phép" này.
2.  Ép thầy tu cầm súng
"Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự..."
Nghĩa vụ này được cụ thể hóa trong Luật nghĩa vụ quân sự như sau:
"Điều 3  Công dân nam giới, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, nơi cư trú, có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt Nam."
Khi phục vụ tại ngũ trong quân đội thì phải luyện tập giết kẻ thù, và trong hoàn cảnh cần thiết thì cũng phải giết kẻ thù. Mà kẻ thù, dù xấu xa, phi nghĩa đến đâu, thì cũng là con người. Vì vậy, bắt cả những người có tín ngưỡng tương tự như "Ngũ giới" của Phật tử phải "thực hiện nghĩa vụ quân sự" tức là bắt họ phải tham gia "sát sinh", là vi phạm "quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo" của họ. Rõ ràng, Điều 45 vi phạm Điều 24 Hiến pháp 2013, hiến định rằng:
"1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật."
Lý lẽ trên đơn giản và hiển nhiên đến mức không thể né tránh câu hỏi: Chẳng nhẽ Quốc hội không có ai thực sự hiểu và bảo vệ tín ngưỡng, tôn giáo hay sao? Các đại biểu "vô thần" không hiểu tín ngưỡng đã đành, chẳng nhẽ các đại biểu mặc áo cà sa cũng không hiểu nốt?
Hay họ hiểu cả, nhưng chỉ định đưa "quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo" vào Hiến pháp để cùng với các quyền tự do báo chí, lập hội, biểu tình… hóa trang dân chủ cho chế độ, chứ chẳng hề có ý định tôn trọng các quyền đó? Nghi ngờ này đã được xác nhận quá nhiều lần trên thực tế, và nay lại được củng cố thêm bởi Khoản 3 của Điều 24 Hiến pháp 2013, quy định rằng "không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật". Xét về mặt pháp lý, khoản cấm này là hoàn toàn thừa, vì đã có quy định tổng quát tại Điều 46 Hiến pháp 2013 là "công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật", và hệ quả hiển nhiên là "không ai được vi phạm pháp luật", bất luận vì lý do gì, cho dù lợi dụng hay không lợi dụng một quyền nào đó. Cho nên, có lẽ vai trò của khoản cấm "lợi dụng" chỉ là tạo cớ để khước từ hay hạn chế "quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo", như đã trao đổi trong bài "Teo dần quyền con người trong Hiến pháp".
Nếu thực tâm tôn trọng "quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo", thì các nhà lập hiến CHXHCN Việt Nam nên thay Khoản 3 của Điều 24 Hiến pháp 2013 bằng Khoản 3 của điều sau đây trong Hiến pháp CHLB Đức (Grundgesetz für die Bundesrepublik Deutschland):
(1) Tự do tín ngưỡng, tự do lương tâm và tự do biểu lộ tôn giáo và thế giới quan là bất khả xâm phạm.
(2) Việc thực thi tôn giáo mà không bị quấy rối được bảo đảm.
(3) Không ai có thể bị ép buộc cầm súng phục vụ chiến tranh trái với lương tâm của bản thân. Chi tiết được quy định trong một luật của Liên bang."
Khoản 3 này đã được đưa vào Hiến pháp CHLB Đức từ năm 1949, cách nay đã hơn 60 năm. Qua đó có thể thấy tư duy pháp luật và ý thức coi trọng quyền con người của giới cầm quyền Việt Nam tụt hậu đến mức nào.
Trên phạm vi quốc tế, Nghị quyết 1995/83 (ban hành ngày 08/03/1995) của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc (The United Nations Commission on Human Rights, CHR) đã khẳng định:

"Quyền từ chối phục vụ trong quân đội của mỗi người vì lý do lương tâm là thể hiện hợp pháp của quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo."

Và còn nhấn mạnh rằng quyền đó dựa trên Điều 18 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hợp Quốc (mà Việt Nam là thành viên từ 20/09/1977) và Điều 18 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights, mà Việt Nam gia nhập vào ngày 24/09/1982). Nội dung này cũng được tái khẳng định trong một số văn kiện khác của CHR, ví dụ như Nghị quyết 1998/77 (ban hành ngày 22/04/1998) và Nghị quyết 2004/35 (ban hành ngày 19/04/2004).
Mới trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (The United Nations Human Rights Council, HRC) nhiệm kỳ 2014-2016, nhà cầm quyền Việt Nam không thể phớt lờ các nghị quyết kể trên của CHR (nay được thay thế bởi HRC), và bỏ qua những cam kết khi ra ứng cử. Vậy mà 15 ngày sau khi trúng cử, Quốc hội lại thông qua một bản Hiến pháp với Điều 45 bất chấp "quyền từ chối phục vụ trong quân đội vì lý do lương tâm". Như thế là Điều 45 vi phạm cả Điều 12 Hiến pháp 2013, hiến định trách nhiệm "tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam là thành viên".
Sự vi hiến của Điều 45 Hiến pháp 2013 không chỉ dừng ở đó. Để nhận diện điều bị vi phạm tiếp theo, ta hãy ước lượng xem quy mô quân đội sẽ lớn thế nào, nếu điều hiến định này được thực hiện nghiêm túc.
Theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự số 43/2005/QH11, "độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình từ đủ mười tám tuổi đến hết hai mươi lăm tuổi" và "thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là mười tám tháng". Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2009 thì có 85,8 x 10,8% = 9,2664 triệu công dân nam ở độ tuổi 15-19 và 85,8 x 10,0% = 8,58 triệu công dân nam ở độ tuổi 20-24. Tức là có gần 17,85 triệu công dân nam trong độ tuổi 15-24, bình quân mỗi tuổi có gần 1,785 triệu người. Như vậy, nếu phân đều số công dân nam trong độ tuổi nhập ngũ (18-25), thì bình quân mỗi năm có gần 1,785  triệu công dân nam cần nhập ngũ để "thực hiện nghĩa vụ quân sự".
Trong khi đó, theo thông tin của Đại tá Nguyễn Ánh Dương tại buổi thông báo tình hình cho đoàn Tùy viên quân sự các nước tại Việt Nam, được tổ chức vào ngày 30/09/2013, thì tổng quân số hiện nay của Quân đội nhân dân Việt Nam là 450.000. Để duy trì quân số đó với thời gian phục vụ tại ngũ tối thiểu là 18 tháng = 1,5 năm, thì mỗi năm chỉ cần gọi nhập ngũ chưa đến 450.000/1,5 = 300.000 người. Như vậy là có khoảng (1.785.000 – 300.000)/ 1.785.000 = 83,19% công dân nam không bao giờ phải hay được phục vụ trong quân đội. Đó là tính toán được đơn giản hóa, dựa trên thời gian tại ngũ ở mức thấp nhất (18 tháng). Trên thực tế, bên cạnh lực lượng chuyên nghiệp đông đảo, rất nhiều quân nhân phải phục vụ tại ngũ 24 tháng, theo quy định của Điều 14 Luật nghĩa vụ quân sự hiện hành:
"Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là hai mươi bốn tháng."
Và trong số phục vụ tại ngũ còn có rất nhiều phụ nữ. Vì vậy tỷ lệ công dân nam không bao giờ phục vụ trong quân đội còn cao hơn hẳn. Thậm chí, Trung tướng Trần Văn Độ (Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương, Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao) nói rằng: "Hiện nay, trong những người đủ tiêu chuẩn, chỉ khoảng 5% thực hiện nghĩa vụ quân sự".
Sau khi trừ bớt số được miễn hoặc được hoãn (nhưng rồi trở nên quá tuổi nhập ngũ nên cũng thành được miễn) nghĩa vụ quân sự theo quy định của Điều 29 Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi năm 2005), và trừ cả những người được tuyển vào lực lượng Công an nhân dân, thì tỷ lệ "phi nghĩa vụ quân sự" vẫn còn rất cao. Như vậy, quy mô quân đội hiện tại tất yếu dẫn đến kết cục là có rất nhiều công dân nam không phải hoặc không được "thực hiện nghĩa vụ quân sự". Do đó, Điều 45 Hiến pháp 2013 gây ra sự bất bình đẳng trước pháp luật trên quy mô rất lớn, tức là vi phạm Điều 16 Hiến pháp 2013, hiến định rằng:
"Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật."
Tóm lại, trong Hiến pháp 2013, Điều 45 vi phạm ba điều ở vị thế ưu tiên hơn, đó là Điều 12, Điều 16 và Điều 24. Vì vậy, Điều 45 Hiến pháp 2013 là vi hiến!
Hệ quả không chỉ dừng ở đó. Trong chế độ mà tham nhũng ngự trị, hàng năm có hàng triệu công dân nam có thể phải nhập ngũ theo quy định của pháp luật, nhưng quân đội lại chỉ cần và chỉ có thể tiếp nhận một phần rất nhỏ trong số đó, thì dễ xảy ra tiêu cực trên diện rộng để tránh "thực hiện nghĩa vụ quân sự". Nghĩa là, với việc hiến định "công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự" tại Điều 45, Quốc hội khóa XIII đã hành động ngược lại với nghĩa vụ được quy định tại Điều 8 Hiến pháp 2013:
"Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải… kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng…"
Vậy thì phải khắc phục như thế nào? Chẳng cần phải sáng tạo ra điều gì mới mẻ, mà chỉ cần khiêm tốn học hỏi thiên hạ và vận dụng những kiến thức đã trở thành kinh điển trên thế giới.
Để không vi phạm Điều 24 Hiến pháp 2013 về "quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo" thì phải chấp nhận để những người khước từ cầm súng vì lý do tín ngưỡng được thực hiện "nghĩa vụ thay thế". Một ví dụ đáng để tham khảo là Điều 12a Hiến pháp CHLB Đức, với hai khoản đầu tiên được viết như sau:
"(1) Đàn ông đủ 18 tuổi có thể phải phục vụ trong lực lượng quân đội, lực lượng biên phòng, hoặc trong một tổ chức bảo vệ dân sự."
"(2) Người nào từ chối phục vụ chiến tranh bằng vũ khí vì lý do lương tâm thì có thể phải phục vụ thay thế. Thời gian phục vụ thay thế không được lâu hơn thời gian nghĩa vụ quân sự. Chi tiết được quy định bằng một luật, trong đó không được hạn chế quyền tự do xác định lương lâm và phải đưa ra một khả năng phục vụ thay thế không liên quan tới lực lượng quân đội và lực lượng biên phòng."
Cụ thể hóa điều hiến định trên, Luật từ chối phục vụ chiến tranh (Kriegsdienstverweigerungsgesetz) của CHLB Đức quy định rằng những người không muốn cầm súng phải trải qua thủ tục xem xét, và nếu được công nhận là "người  từ chối phục vụ chiến tranh" (Kriegsdienstverweigerer, conscientious objector), thì sẽ được thay thế nghĩa vụ quân sự bằng "phục vụ dân sự" (Zivildienst, civilian service). Theo Điều 1 của Luật phục vụ dân sự của những người từ chối phục vụ chiến tranh (Gesetz über den Zivildienst der Kriegsdienstverweigerer) thì nhiệm vụ của họ là "phục vụ phúc lợi chung, trước hết là trong lĩnh vực phúc lợi xã hội", ví dụ như chăm sóc người già, người tàn tật, hoạt động cứu hộ, chuyên chở bệnh nhân…
"Phục vụ dân sự" thay thế cho nghĩa vụ quân sự không phải là chuyện mới mẻ. Nước đầu tiên triển khai "phục vụ dân sự" là Đan Mạch (vào năm 1917), tiếp sau đó là Hà Lan (1920), Thụy Điển (1920), Na Uy (1921) và Phần Lan (1931). Ngược lại với CHLB Đức, một số nước quy định thời gian "phục vụ dân sự" dài hơn thời gian nghĩa vụ quân sự, ví dụ như Áo, Hy Lạp, Na Uy và Phần Lan. Có lẽ đó là một biện pháp để hạn chế tỷ lệ lựa chọn hình thức "phục vụ dân sự".
Nếu triển khai chế độ "phục vụ dân sự", Điều 45 về "nghĩa vụ quân sự" sẽ thoát khỏi tình trạng vi phạm Điều 24 Hiến pháp 2013 về "quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo". Nếu mở rộng diện "phục vụ dân sự" ra ngoài phạm vi của những người khước từ cầm súng vì lý do tín ngưỡng, thì có thể hạn chế phần nào mức độ vi phạm Điều 16 về "bình đẳng trước pháp luật". Tuy nhiên, không thể và không nên mở rộng phạm vi "phục vụ dân sự" đến mức huy động hết tất cả những người không thực thi "nghĩa vụ quân sự". Bởi vì cái giá phải trả cho sự "bình đẳng trước pháp luật" đối với "nghĩa vụ quân sự" là quá đắt. Thật vậy, việc tổ chức "phục vụ dân sự" trên quy mô cả triệu người không chỉ là rất phức tạp và quá tốn kém, mà đó cũng là nguồn khổng lồ đẻ ra tiêu cực. Hơn nữa, hiệu quả kinh tế xã hội và chất lượng của hình thức "phục vụ dân sự" kém xa so với việc để cho triệu người đó lao động bình thường, rồi nộp thuế, và dùng tiền thuế để thuê nhân công chuyên nghiệp làm phúc lợi xã hội.
Một sáng kiến mới mẻ, có lẽ chỉ có thể nẩy sinh ở nước CHXHCN Việt Nam, là "cho phép đóng một khoản tiền để không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự nhằm bảo đảm sự công bằng giữa những người đủ tiêu chuẩn". Nó giúp tăng ngân sách và hạn chế tiêu cực trong quá trình lập danh sách thực hiện nghĩa vụ quân sự. Chi phí tổ chức cho việc thu tiền này cũng thấp hơn nhiều so với triển khai "phục vụ dân sự". Tuy nhiên, giải pháp này không cải thiện triệt để tình trạng bất bình đẳng trước pháp luật, mà ngược lại còn hợp pháp hóa hố sâu ngăn cách giữa kẻ giàu và người nghèo.
Một biện pháp khả thi để giảm bớt sự bất bình đẳng là tăng "công suất dùng người" của quân đội bằng cách rút ngắn thời gian thực hiện "nghĩa vụ quân sự", giống như Áo (6 tháng), Đan Mạch (4 tháng), Estonia (8 tháng) và Hy Lạp (12 tháng)…  Hai câu hỏi nảy sinh là: Có thể rút thời gian tại ngũ xuống mức nào để vẫn còn đủ thời gian huấn luyện, nhằm đảm bảo chất lượng chiến đấu của quân đội? Với mức thời gian đó thì quân đội đã có đủ chỗ để thu nạp hết những người phải thực hiện nghĩa vụ quân sự hay chưa?
Giải pháp triệt để thường được áp dụng trong thời bình là xóa bỏ hoặc tạm dừng chế độ nghĩa vụ quân sự, và xây dựng quân đội tự nguyện thay cho quân đội nghĩa vụ. Một số nước tiêu biểu theo xu hướng này là Anh (từ 1963), Ba Lan (từ 9/2009), Bồ Đào Nha (từ 10/2004), Đức (từ 7/2011), Hà Lan (từ 9/1996), Hungary (từ 11/2004), Italia (từ 7/2005), Mỹ (từ 1973), Pháp (từ 7/2001), Rumani (từ 2007), Tây Ban Nha (từ 1/2002)… Trong số 28 nước tham gia liên minh quân sự NATO, chỉ còn 5 nước duy trì chế độ nghĩa vụ quân sự là Đan Mạch, Estonia, Hy Lạp, Na Uy và Thổ Nhĩ Kỳ. Trong số 28 nước tham gia Liên minh Châu Âu (European Union), ngoài Đan Mạch, Estonia và Hy Lạp, thì chỉ còn 3 nước nữa vẫn duy trì chế độ nghĩa vụ quân sự, đó là Áo, Phần Lan và Síp. Riêng Đan Mạch thì đã xây dựng quân đội tự nguyện từ năm 2005, và chỉ trong trường hợp thiếu người tự nguyện gia nhập quân đội mới "rút thăm" để chọn những người buộc phải nhập ngũ.
Có nhiều lý lẽ biện minh cho việc xóa bỏ hoặc tạm dừng chế độ nghĩa vụ quân sự để xây dựng quân đội tự nguyện, chuyên nghiệp. Chẳng hạn, tinh thần chiến đấu của quân đội tự nguyện tốt hơn hẳn loại quân đội nghĩa vụ được phình to bởi những người bị buộc phải cầm súng một cách bất đắc dĩ. Khả năng chiến đấu của quân đội chuyên nghiệp cao hơn hẳn "quân đội nghiệp dư". Tất nhiên phải giả thiết rằng quân đội đó chuyên tâm làm nhiệm vụ quốc phòng, chứ không phải lợi dụng danh nghĩa "quốc phòng" để lao vào làm kinh tế, sa đà vào kinh doanh. Và ít nhất, cơ chế quân đội tự nguyện sẽ không vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và không gây ra tình trạng bất bình đẳng trước pháp luật trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Trên đây ta bàn nhiều về biện pháp khắc phục sự vi hiến của Điều 45 Hiến pháp 2013, không phải vì muốn "cầm đèn chạy trước ô tô", mà để chỉ ra rằng việc khắc phục vừa khả thi, vừa có lợi, và hoàn toàn không đáng để phải tiếp tục chấp nhận sự vi hiến đó. Đã đến lúc phải thay đổi tư duy quốc phòng cho phù hợp với tình hình thực tại. Một số ý kiến của nhà báo Huy Đức bàn về vấn đề này trong bài "Động binh, tịnh dân" rất đáng để các nhà hoạch định chính sách quốc phòng tham khảo.
3.  Bắt người dưng thờ phụng
"Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế."
Điều này là vi hiến, vì nó mâu thuẫn với Điều 45 Hiến pháp 2013.
Thật vậy, đa số hạ sĩ quan và binh sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam là những công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự. Nghĩa vụ này được hiến định tại Điều 45 Hiến pháp 2013 trong khuôn khổ "Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân". Hơn nữa, Hiến pháp 2013 chỉ quy định tại Điều 44 rằng "Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc", và đó là đối tượng hiến định duy nhất mà "công dân có nghĩa vụ trung thành". Vì vậy, với tư cách con em của Nhân dân, những công dân mặc áo lính để thực hiện nghĩa vụ quân sự chỉ có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc và Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân.
Bất cứ chế độ nào, bất cứ chính quyền hay tổ chức chính trị nào thực sự trung thành với Tổ quốc, thật lòng gắn bó với Nhân dân và phục vụ Nhân dân, thì cũng được chung hưởng sự bảo vệ mà những công dân làm nghĩa vụ quân sự dành cho Tổ quốc và Nhân dân. Ngoài khuôn khổ đó, những công dân làm nghĩa vụ quân sự không có nghĩa vụ phải trung thành thêm với bất kỳ tổ chức nào nữa, và cũng không phải bảo vệ riêng bất cứ thứ gì.
Không chỉ quá vô lý, mà còn hết sức hài hước, khi ép buộc cả những người không hề chịu ơn hay gắn bó với Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), thậm chí còn oán ghét đảng ấy, lại phải "trung thành… với Đảng" và "bảo vệ… Đảng, rồi đòi hỏi cả những người không hề yêu thích chế độ, thậm chí còn coi nó là sai lầm lịch sử, lại phải "bảo vệ… chế độ xã hội chủ nghĩa".
Tổ chức mang tên "Quân đội nhân dân Việt Nam" có thể nhận thêm trách nhiệm "trung thành… với Đảng" và "bảo vệ… Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa". Nhưng khi đó, nó không còn là quân đội của những công dân làm nghĩa vụ quân sự, với nhiệm vụ kinh điển là Quốc phòng, tức là bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân trước nguy cơ ngoại xâm. Vì vậy, không thể cưỡng bức những người không theo ĐCSVN phải gia nhập quân đội ấy. Ép buộc công dân phải tham gia một tổ chức mang mầu sắc chính trị trái với lương tâm của bản thân là vi phạm Điều 20 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, trong đó quy định rằng:
"Không ai có thể bị cưỡng bách gia nhập một liên kết."
Tức là vi phạm cả cam kết "tuân thủ… điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên" tại Điều 12 Hiến pháp 2013.
Điều 65 Hiến pháp 2013 còn quy định rằng "lực lượng vũ trang nhân dân" phải "thực hiện nghĩa vụ quốc tế". Nhưng "nghĩa vụ quốc tế" là gì? Nó được xác định theo tiêu chuẩn nào và bằng cơ chế nào? Ai có quyền ấn định cái gọi là "nghĩa vụ quốc tế"? Nếu ấn định sai thì phải chịu trách nhiệm thế nào trước Nhân dân về những mất mát và hy sinh vô nghĩa?
Cho đến nay, nhãn hiệu "nghĩa vụ quốc tế", hay tương tự, đã bị lạm dụng quá nhiều để ngụy trang cho tham vọng viễn chinh của các thế lực cầm quyền. Khi thì vì bảo vệ thế giới tự do, lúc lại nhằm xuất khẩu cách mạng ra toàn thế giới. Danh nghĩa luôn mĩ miều, mà kết cục chẳng mấy khi tốt đẹp. Ra quân luôn "trống dong cờ mở", mà thu quân chẳng mấy lúc vinh quang. Năm xưa Liên Xô đưa quân vào Afghanistan, thì bị Mỹ và đồng minh kịch liệt phản đối. Nay Mỹ và đồng minh lại lao vào Afghanistan để thế chỗ sa lầy. Gọi là giúp đỡ, mà thu được là sự oán ghét của người dân sở tại. Nhân danh cứu người, mà lại gây ra gấp bội lần chết chóc. Lấy cớ phá bỏ vũ khí hủy diệt, mà chỉ dựa vào bằng chứng ngụy tạo của thế lực thèm khát chiến tranh. Lúc triệt hạ bọn độc tài, hay lũ diệt chủng, thì nhân danh "nghĩa vụ quốc tế" đã đành, nhưng khi nâng đỡ chúng lên nắm chính quyền cũng nhân danh "nghĩa vụ quốc tế" nốt. "Nghĩa vụ" kiểu gì mà tráo trở như vậy?
Điều quan trọng là "nghĩa vụ quốc tế" của ai? Lý tưởng của ai thì người ấy cứ việc tự tay cầm súng mà triển khai. Tại sao lại bắt những người dân vô can phải bỏ nước ra đi, hy sinh xương máu ở xứ xa xăm, cho thứ "nghĩa vụ quốc tế" được ấn định bởi cảm tính của giới cầm quyền?
Tóm lại, việc quy định lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với ĐCSVN, có nhiệm vụ bảo vệ ĐCSVN, chế độ xã hội chủ nghĩa và thực hiện nghĩa vụ quốc tế (tại Điều 65 Hiến pháp 2013) là vi phạm quy định "công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự" để "bảo vệ Tổ quốc" (tại Điều 45 Hiến pháp 2013).
Phải khắc phục sự vi hiến của Điều 65 Hiến pháp 2013 như thế nào? Cách đơn giản nhất là xóa bỏ nội dung "kỳ dị" ấy ra khỏi Điều 65. Ngược lại, nếu vẫn muốn bám giữ nó, thì phải sửa lại Điều 45 theo hướng xóa bỏ chế độ nghĩa vụ quân sự và xây dựng một quân đội chỉ tuyển chọn những người tự nguyện. Khi đó, thế lực điều khiển quân đội có thể đề ra những yêu cầu và nhiệm vụ theo ý họ, còn công dân thì tự xác định xem bản thân có chấp nhận gia nhập quân đội ấy hay không. Tất nhiên, để có thể đòi hỏi quân đội phải trung thành với đảng và bảo vệ đảng, thì ĐCSVN còn phải chi tiền riêng để nuôi những người lính tự nguyện, không thể phó mặc trách nhiệm chu cấp quân đội cho người dân đóng thuế.
4.  Tước đoạt quyền sở hữu
"Đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý."
Điều này là vi hiến. Để chứng minh kết luận này, ta sẽ quay về cái thời mà sở hữu đất đai còn chưa rơi vào tình trạng "hỗn loạn pháp lý", rồi sử dụng phương pháp quy nạp để đến với thực tại.
Hiến pháp 1946 – tức là hiến pháp đầu tiên của chế độ này – chỉ có một điều duy nhất đề cập đến quyền sở hữu, đó là:
"Điều thứ 12  Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm."
Hiển nhiên, đất đai là một dạng tài sản, do đó quyền tư hữu đất đai của công dân cũng được Hiến pháp 1946 bảo đảm. Đó là điều đã trở thành hiển nhiên và cũng là lời cam kết long trọng của chế độ này khi mới ra đời.
Hiến pháp 1959 quy định:
"Điều 14  Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân…"
"Điều 18  Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác."
"Điều 19  Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân."
Như vậy, Hiến pháp 1959 tiếp tục thừa nhận "quyền sở hữu về ruộng đất… của nông dân", và "quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở". Rõ ràng, đất đai được người dân mua bằng thu nhập hợp pháp là "của cải thu nhập hợp pháp", vừa để sử dụng ngay, vừa là của cải để dành, và khái niệm "nhà ở" tất nhiên gắn liền với đất ở. Hơn thế nữa, Hiến pháp 1959 cũng thừa nhận cả "quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân". Do đó, đất đai mà người dân đã khai khẩn trước khi Hiến pháp 1959 (Điều 12) quy định "đất hoang… thuộc sở hữu toàn dân", hoặc đã mua hay thừa kế trước khi Hiến pháp 1959 hết hiệu lực vào ngày 19/12/1980, chắc chắn thuộc "quyền sở hữu của công dân" được "Nhà nước bảo hộ". Hiến pháp thời đó không cho bất cứ thế lực nào, kể cả ĐCSVN, được phép xâm phạm quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Không tổ chức và cá nhân nào, kể cả tập thể Quốc hội và cá nhân các đại biểu Quốc hội, được phép phủ nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai.
Khi Quốc hội khóa VI (1976-1981) thông qua Hiến pháp 1980 vào ngày 18/12/1980 thì Hiến pháp 1959 vẫn còn nguyên hiệu lực. Cho nên, việc Quốc hội khóa VI biểu quyết xóa bỏ quyền sở hữu hợp pháp của tư nhân về đất đai và ấn định rằng toàn bộ "đất đai… thuộc sở hữu toàn dân" (Điều 19 Hiến pháp 1980) là vi phạm thô bạo Hiến pháp đang có hiệu lực.
Trong một chế độ Cộng hòa, nơi mà "tất cả quyền lực… đều thuộc vào Nhân dân" (Điều 4 Hiến pháp 1959), thì việc xóa bỏ quyền sở hữu của người dân về đất đai là sự vi phạm Hiến pháp nghiêm trọng nhất. Hành động vi hiến đó mặc nhiên phủ định tư cách hợp hiến của Quốc hội khóa VI (đại diện cho quyền lợi, ý chí và nguyện vọng của Nhân dân), và vì vậy cũng phủ định luôn cả quyền "Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp" của tổ chức ấy, vốn được hiến định tại Điều 50 Hiến pháp 1959. Nếu chế độ này thực sự dân chủ, thì các đại biểu Quốc hội khóa VI đã "có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ" vì "tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân", như đã được hiến định tại Điều 5 Hiến pháp 1959.
Cần nhấn mạnh thêm rằng, việc Quốc hội khóa VI quyết định quốc hữu hóa toàn bộ đất đai bằng mĩ từ "sở hữu toàn dân" cũng vi phạm cả Điều 20 Hiến pháp 1959, quy định rằng:
"Chỉ khi nào cần thiết vì lợi ích chung, Nhà nước mới trưng mua, hoặc trưng dụng, trưng thu có bồi thường thích đáng các tư liệu sản xuất ở thành thị và nông thôn, trong phạm vi và điều kiện do pháp luật quy định."
Bởi vì Quốc hội khóa VI chỉ hiến định việc tước bỏ quyền sở hữu tư nhân về đất đai, bao gồm cả nơi sản xuất và kinh doanh – là "tư liệu sản xuất ở thành thị và nông thôn" – mà không kèm theo một giải pháp bồi thường nào cả. Trên thực tế, kể từ đó đến nay, Nhà nước không hề tiến hành bồi thường và cũng chẳng có ý định bồi thường cho những người bị mất quyền sở hữu đất đai.
Quy định sai trái rằng "đất đai… thuộc sở hữu toàn dân" không chỉ vi hiến theo Hiến pháp 1959, mà còn vi hiến đối với cả Hiến pháp 1980. Bởi vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân nằm trong diện được đề cập tại Điều 27 Hiến pháp 1980:
"Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ."
"Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân."
Chính điều hiến định này tiếp tục bảo vệ quyền sở hữu tư nhân về đất đai kể cả khi Hiến pháp 1980 có hiệu lực.
Không chỉ dừng lại ở giai đoạn đó. Chừng nào Hiến pháp kế tiếp còn thừa nhận "quyền sở hữu của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, công cụ sản xuất…" và thừa nhận "quyền thừa kế tài sản của công dân", thì chừng ấy Hiến pháp vẫn thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai, và quy định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân" vẫn là vi hiến. Trên thực tế, hai nội dung vừa kể đã được duy trì tại Điều 58 Hiến pháp 1992:
"Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác…"
"Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân."
Và chúng cũng được tiếp tục duy trì tại Điều 32 Hiến pháp 2013:
"1. Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác."
"2. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ."
Hơn thế nữa, việc "quốc hữu hóa" đất đai vốn thuộc sở hữu tư nhân thành "sở hữu toàn dân" bị ngăn cấm bởi Điều 23 Hiến pháp 1992:
"Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá."
Và điều đó cũng tiếp tục bị ngăn cấm bởi Điều 51 Hiến pháp 2013:
"Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa."
Tóm lại, trong suốt năm đời Hiến pháp của chế độ này, nếu không phải có được do tham nhũng hay cướp bóc, thì đất đai của tư nhân luôn thuộc phạm trù "thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất" hoặc là tài sản "thừa kế", phải "được pháp luật bảo hộ". Ít nhất thì đất đai mà người dân đã từng sở hữu hợp pháp trước khi Hiến pháp 1980 có hiệu lực luôn là "tài sản hợp pháp của cá nhân". Do đó, Hiến pháp luôn thừa nhận quyền sở hữu tư nhân đối với dạng đất đai ấy. Và đương nhiên, quy định "đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân", như tại Điều 53 Hiến pháp 2013, luôn là vi hiến. Nó vi hiến ngay từ lúc "thoát thai", khi Hiến pháp 1959 còn có hiệu lực, vì vi phạm Điều 14, Điều 18, Điều 19 và Điều 20. Nó vi hiến cả trong cái "nôi chào đời" là Hiến pháp 1980, vì vi phạm Điều 27. Nó tiếp tục vi hiến trong khuôn khổ Hiến pháp 1992, vì vi phạm Điều 23 và Điều 58. Giờ đây, nó vẫn vi hiến, vì vi phạm Điều 32 và Điều 51 của Hiến pháp 2013.
Hơn thế nữa, Điều 53 Hiến pháp 2013 còn vi phạm cả Điều 17 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, quy định rằng:
"1. Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tài sản tập thể.
2. Không được tước đoạt tài sản của bất kỳ ai một cách tùy tiện."
Tức là vi phạm cam kết "tuân thủ… điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên" tại Điều 12 của Hiến pháp 2013.
Không còn nghi ngờ gì nữa, xét về mọi phương diện, Điều 53 Hiến pháp 2013 là vi hiến! Khắc phục thế nào đây? "Cái gì của Xê-da hãy trả lại cho Xê-da", đừng tham lam, tiếc nuối… tài sản của người khác. Hãy xóa bỏ điều khoản áp đặt mang tính chiếm đoạt, ngụy danh "đất đai… là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân". "Nhất cử lưỡng tiện", vừa khắc phục một điều khoản vi hiến, vừa giúp chế độ thoát khỏi một sa lầy, như đã trao đổi trong bài "Hai tử huyệt của chế độ".
5.  Chiếm quyền lực Nhân dân
Điều 2 Hiến pháp 2013 long trọng cam kết:
"1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân."
"2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…"
5.1.
Nếu "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân" thì tối thiểu quyền lựa chọn và xác định "lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội" cũng phải "thuộc về Nhân dân". Đây là quyền cơ bản nhất, cốt lõi nhất trong số các "quyền lực nhà nước". Chỉ khi Nhân dân thực thi quyền cơ bản ấy thì Nhà nước mới có thể coi là "của Nhân dân, do Nhân dân", mới thể hiện được rằng Nước này "do Nhân dân làm chủ". Song trên thực tế, chưa bao giờ Nhân dân bầu ĐCSVN làm "lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội". Vậy thì tại sao các nhà lập hiến lại ghi vào Điều 4 Hiến pháp 2013 rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội"?
Không thể ngụy biện rằng Nhân dân đã ủy nhiệm cho Quốc hội thực hiện cái quyền xác định "lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội". Vì sao?
Thứ nhất, các đại biểu Quốc hội chỉ được bầu ra từ danh sách do bộ máy cầm quyền lựa chọn, dù cử tri bỏ phiếu cho ai thì trúng cử cũng là người của nhà cầm quyền, nên Quốc hội chỉ đại diện cho thế lực cầm quyền, không thể đại diện cho ý chí, nguyện vọng và trí tuệ của toàn thể Nhân dân.
Thứ hai, trong số các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được hiến định tại Điều 84 Hiến pháp 1992 (tức là Hiến pháp có hiệu lực tại thời điểm mà Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013) và tại Điều 70 Hiến pháp 2013, không có bất cứ điều khoản nào cho phép Quốc hội bầu ra một thế lực chung chung đóng vai trò "lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội". Cụ thể, theo Điều 70 Hiến pháp 2013 thì Quốc hội chỉ có quyền hạn bầu ra mấy chức danh như sau:
"Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập."
Và nhiệm kỳ của các chức danh đó đều được hiến định là "theo nhiệm kỳ của Quốc hội". Quốc hội chỉ được trao quyền hạn trong một nhiệm kỳ năm năm thì không thể được phép bầu ra những chức danh hay quyền lực vô thời hạn như tại Điều 4 Hiến pháp 2013!
Thứ ba, Quốc hội được trao quyền "Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp", song đó là Hiến pháp được hiểu theo nghĩa lành mạnh thông thường. Không thể lạm dụng quyền lập hiến để tùy tiện ghi vào Hiến pháp những điều "không giống ai". Trong các hiến pháp thông thường trên thế giới, không thể có chuyện hiến định quyền lãnh đạo vĩnh viễn của một chính đảng duy nhất đối với nhà nước và xã hội. Nhân danh "hoàn cảnh đặc thù", Quốc hội có thể đưa vào Hiến pháp một số nội dung "khác thường", nhưng điều đó chỉ được coi là "hợp với lòng Dân" nếu được đa số Nhân dân chấp thuận, thông qua phúc quyết toàn dân, trong đó phải biểu quyết riêng rẽ cho từng nội dung cụ thể, không thể "xập xí xập ngầu biểu quyết cả gói".
Các đại biểu Quốc hội và cả giới cầm quyền đều biết rõ, rằng họ không thể áp đặt những đứa con do chính họ đẻ ra sẽ phải làm gì trong 10 năm, 20 năm hay 50 năm tới. Vậy mà họ lại ngộ nhận quyền lực, ngang nhiên áp đặt vĩnh viễn muôn dân, những người ít nhất là bình đẳng và hoàn toàn không vướng víu gì với họ.
Giả sử Nhân dân trực tiếp bầu "lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội", thì họ cũng thừa thông minh để hiểu rằng: Chỉ có thể bầu cho từng nhiệm kỳ. Hiển nhiên là phải dựa vào thể hiện của từng cá nhân và từng tổ chức trong nhiệm kỳ trước để quyết định xem có nên tín nhiệm bầu thêm một nhiệm kỳ nữa hay không. Cũng phải xét xem đương sự có còn đủ điều kiện về sức khỏe và trí tuệ để tái cử hay không. Chẳng ai muốn bầu một vị công thần đã chớm bị bệnh Alzheimer tiếp tục tham gia "lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội".
Hơn nữa, Nhân dân của thế hệ hôm nay không có quyền quyết định thay cho cả Nhân dân của các thế hệ mai sau. Nếu quan niệm rằng cứ sinh ra trước là có quyền áp đặt hậu thế, thì thế hệ cầm quyền cách nay nửa thế kỷ phải tiếp tục duy trì chế độ quân chủ, và thế hệ cầm quyền hôm nay phải tiếp tục theo đuổi "kinh tế có kế hoạch", chứ không thể triển khai cái gọi là "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Thế hệ này đã ăn sang cả phần tài nguyên của các thế hệ mai sau, để lại cho họ một môi trường bị phá hủy nặng nề cùng với những món nợ khổng lồ. Như vậy đã là quá tệ. Không thể ép các thế hệ mai sau phải chịu đựng thêm những sai lầm hay tệ nạn mà thế hệ mình đang cam chịu.
Trong mọi trường hợp, Nhân dân của thế hệ hôm nay và Quốc hội đương nhiệm đều không được phép hiến định quyền VĨNH VIỄN "lãnh đạo Nhà nước và xã hội" của bất cứ "lực lượng" nào.
Tóm lại, Điều 4 Hiến pháp 2013 là vi hiến, vì nó vi phạm Điều 2 Hiến pháp 2013. Khắc phục thế nào đây?
Nếu vẫn muốn bám giữ Điều 4 thì phải sửa lại Điều 2, xóa các nội dung "Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân", "do Nhân dân làm chủ" và "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân" ra khỏi Hiến pháp. Vì các nội dung bị xóa là những nét đặc trưng của chế độ "Cộng hòa", nên cũng phải đổi cả tên nước, chẳng hạn thay từ "Cộng hòa" bằng "Đảng quốc", tương tự như mẫu từ "Vương quốc".
Ngược lại, nếu vẫn giữ nguyên Điều 2 cùng với thể chế "Cộng hòa", thì chỉ còn cách xóa bỏ nội dung Điều 4. Làm như vậy sẽ không chỉ khắc phục được một điều vi hiến, mà còn giải thoát cả Hiến pháp Việt Nam và ĐCSVN ra khỏi trạng thái tệ hại, như đã trao đổi trong bài "Hai tử huyệt của chế độ" và bài "Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp".
5.2.
Khoản 1 Điều 9 Hiến pháp 2013 viết:
"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. 
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân…"
Nhiều thông tin quan trọng được cô đọng trong đoạn trích này.
Trước hết, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được xác định là "tổ chức liên minh chính trị". Thành phần của nó là
-       "tổ chức chính trị",
-       "các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội" và
-       "các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài." 
Như vậy, các tổ chức thành viên được phân thành 3 tầng. Tầng cao nhất là "tổ chức chính trị". Tầng giữa là "các tổ chức chính trị - xã hội". Và tầng thấp nhất là "các tổ chức xã hội" (thấp vì không được gán cho chức năng "chính trị"). Nhìn vào 3 chữ "các", có thể nhận ra rằng các tác giả rất chú trọng việc nhấn mạnh trạng thái số ít, số nhiều. Cho nên, khi không viết chữ "các" trước "tổ chức chính trị", thì có nghĩa là chỉ thừa nhận duy nhất một "tổ chức chính trị". Có thể đoán rằng "tổ chức chính trị" duy nhất ấy chính là ĐCSVN. Tiếc rằng, các tác giả của Hiến pháp 2013 đã phạm phải sai lầm, quên hiến định "ĐCSVN là tổ chức chính trị", trong khi hiến định cụ thể 5 tổ chức được coi là "tổ chức chính trị - xã hội".
Nội dung kể trên đã xuất hiện trong Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam số 14/1999/QH10 (do Quốc hội khóa X thông qua năm 1999), nay được Quốc hội khóa XIII hiến định hóa.
Thành phần của tầng "các tổ chức chính trị - xã hội" được hiến định tại Khoản 2 Điều 9 Hiến pháp 2013:
"Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội…"
"… là các tổ chức chính trị - xã hội" có nghĩa đó là tất cả, ngoài ra không còn "tổ chức chính trị - xã hội" nào nữa. Công nhân, "nông dân", "thanh niên", "phụ nữ" và "cựu chiến binh" đều được coi là đủ năng lực và đủ tin cậy để tham gia "chính trị". Vậy mà, giữa thời giới cầm quyền tung hô cái gọi là "kinh tế tri thức" hay "kinh tế trí thức", họ vẫn không chịu hay không dám gán cho Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cái nhãn "tổ chức chính trị - xã hội". Bản thân các vị cầm quyền bây giờ mang đầy học vị và học hàm, sao họ lại e ngại và nghi kị trí thức đến như vậy?
Vì "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân", nên các tổ chức không thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không có quyền tham gia vào những việc quan trọng thuộc đời sống chính trị của chính quyền này. Điều đó không có nghĩa là mọi thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều được tham gia… (Nếu không phải như vậy thì phân biệt giữa "tổ chức chính trị - xã hội" và "tổ chức xã hội" để làm gì?)
Trong Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Đại hội II thông qua vào năm 1983, Điều 1 được viết như sau:
"Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội và những công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thiết tha với sự nghiệp đoàn kết đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa."
Vậy là ban đầu mọi tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều được thừa nhận là "tổ chức chính trị - xã hội". Điều đó cũng phù hợp với Điều 9 Hiến pháp 1992, quy định rằng:
"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân…"
Nghĩa là mọi thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều là "cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân". Song Hiến pháp 2013 đã rút lại sự "hào phóng" ấy, chỉ trao quyền làm "cơ sở chính trị…" cho "tổ chức mẹ" (tức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), và "quyền của mẹ" không có nghĩa là "quyền của các con" (tức các tổ chức thành viên).
Việc phân chia các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành 3 đẳng cấp, với ĐCSVN là tổ chức duy nhất thuộc đẳng cấp "tổ chức chính trị" và 5 tổ chức được xác định là "các tổ chức chính trị - xã hội", là bước đi có tính toán trên con đường… ngược chiều dân chủ.
Điều 1 Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1983 (được trích dẫn ở trên) cho thấy: Chỉ những ai tán thành "xây dựng chủ nghĩa xã hội" và chịu thừa nhận Tổ quốc Việt Nam là "Tổ quốc xã hội chủ nghĩa" mới có thể là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ đó đến nay, mặc dù Điều lệ đã được chỉnh sửa ít nhiều để thích ứng với tình hình, nhưng bản chất chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vẫn không thay đổi, trong khi lực lượng tán thành "xây dựng chủ nghĩa xã hội" ở Việt Nam ngày càng ít đi và chỉ là thiểu số trong Nhân dân Việt Nam. Do đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không đại diện cho toàn thể Nhân dân Việt Nam. Vậy mà Khoản 1 Điều 9 Hiến pháp 2013 lại hiến định rằng "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… đại diện… quyền… của Nhân dân".
Không hề được toàn thể Nhân dân bầu ra, thông qua bầu cử phổ thông, mà lại đứng ra "đại diện quyền của Nhân dân" và "là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân", thì đó là bằng chứng cho việc coi thường Nhân dân, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc "tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân". Nghĩa là Điều 9 Hiến pháp 2013 vi phạm Điều 2 Hiến pháp 2013.
"Đảng cộng sản Việt Nam… là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội."
Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 bỏ chữ "duy nhất", chỉ còn giữ lại quy định
"Đảng cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội."
Tuy nhiên, thay đổi đó không có nghĩa là Điều 4 Hiến pháp 2013 tiến bộ hơn Điều 4 Hiến pháp 1980. Vì Điều 9 Hiến pháp 2013 chỉ công nhận duy nhất một "tổ chức chính trị" trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, "là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân", nên dù bỏ đi hai chữ "duy nhất" thì cũng chỉ còn đúng một "lực lượng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội" mà thôi. Hơn nữa, hiến định duy nhất một "tổ chức chính trị" có nghĩa là chỉ chấp nhận sự tồn tại của một đảng chính trị duy nhất, đó chính là ĐCSVN. Nghĩa là Điều 9 Hiến pháp 2013 vi phạm cả quyền tự do lập hội, được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp 2013. (Xem bài "Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?" để thấy rằng Hiến pháp 2013 không cho phép hạn chế quyền tự do lập hội.)
Tóm lại, Điều 9 Hiến pháp 2013 là vi hiến, vì nó vi phạm Điều 2 và cả Điều 25 của Hiến pháp 2013.
*
*      *
Trên đây chỉ là mấy ví dụ, chứ không phải là tất cả các điều khoản mâu thuẫn trong Hiến pháp 2013. Vẫn còn những hạt sạn khác, chẳng hạn Điều 10 Hiến pháp 2013, viết rằng:
"Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động…"
Đằng sau điều hiến định này ẩn chứa một nội dung sâu xa: Vì được hiến định là "tổ chức chính trị - xã hội…", chứ không phải là "một tổ chức chính trị - xã hội…" hay "một trong các tổ chức chính trị - xã hội…", nên "Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội" duy nhất "của giai cấp công nhân và của người lao động… đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động…". Tức là người lao động (trong đó có công nhân) không được phép thành lập thêm những tổ chức công đoàn khác để đại diện cho mình và bảo vệ mình, mặc dù trên thực tế Công đoàn Việt Nam không làm nổi nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi người lao động. Như vậy, Điều 10 Hiến pháp 2013 vi phạm quyền tự do lập hội, được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp 2013.
Một số điều khoản vi hiến của Hiến pháp 2013 được truyền nhiễm từ mấy Hiến pháp trước. Lẽ ra, thời gian trôi qua thì nhận thức cũng phải khá hơn, đủ để nhận ra và khắc phục phần nào những sai lầm ấu trĩ đã phạm phải trong quá khứ. Nhưng tiếc thay, bên cạnh những di sản vi hiến vẫn được "bảo toàn", lại xuất hiện thêm những sáng tạo vi hiến mới…
Điều 74 Hiến pháp 2013 quy định Uỷ ban thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ "giải thích Hiến pháp…". Bao giờ thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải thích, và sẽ giải thích thế nào về những mâu thuẫn mang tính vi hiến trong Hiến pháp 2013?
Điều 119 Hiến pháp 2013 quy định: "Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp." Làm sao có thể đòi hỏi "Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp", khi chính bản thân Hiến pháp cũng không "phù hợp với Hiến pháp"? Biết tuân theo điều nào của Hiến pháp khi chúng mâu thuẫn với nhau?
Đối với Hiến pháp 2013, khi thông qua nó thì Quốc hội đã tiên phong thực hiện "hành vi vi phạm Hiến pháp" đầu tiên. Trong các "hành vi vi phạm Hiến pháp", thì ban hành Hiến pháp vi hiến là "hành vi vi phạm Hiến pháp" nghiêm trọng và đáng chê trách nhất. Nghiêm trọng bởi nó gây tác hại cho cuộc sống của hơn 90 triệu người dân và cả tương lai Dân tộc. Nghiêm trọng bởi nó đẩy các nhà lập pháp và hành pháp rơi vào hoàn cảnh buộc phải vi hiến, vì nếu tuân theo điều này thì lại vi phạm điều kia. Nghiêm trọng bởi "hành vi vi phạm Hiến pháp" này mang tính "đầu têu", vì Quốc hội nêu gương xấu cho bộ máy chính quyền ở tất cả các cấp trong việc vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Đáng chê trách bởi lỗi này dễ tránh nhất, vì lập hiến ở vị thế chủ động, không bị lệ thuộc vào các văn bản pháp quy khác.
Điều 119 Hiến pháp 2013 cũng quy định: "Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý." Vậy Quốc hội sẽ "xử lý" cái "hành vi vi phạm Hiến pháp" ấy của chính mình như thế nào?
Bất luận Quốc hội sẽ giải thích và tự xử lý thế nào, thì chúng ta cũng phải băn khoăn với câu hỏi: Một văn bản chứa đựng nhiều điều khoản mâu thuẫn với nhau như thế, thì có xứng đáng là Hiến pháp hay không?
Ngày 4 tháng 9 năm 2014
Cùng tác giả:
©2010 by Hoang Xuan Phu
(Blog Hoàng Xuân Phú)

Phạm Thị Hoài - Của ta, của Tàu (1)

http://nld.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/04/26/8-9-Son.jpg

Trong phóng sự Vẽ nhọ bôi hề [1], điều tra về các rạp hát và đời đào kép, Vũ Trọng Phụng kể chuyện một nhà hát ở ta đã „ném sang Tàu“ hàng bạc vạn để mua trang phục, khí giới biểu diễn.
Nhà hát giải thích: „Làm thế nào được! Chúng tôi vẫn muốn thửa tại các cửa hiệu của người mình lắm chứ… Nhưng đồ đã đắt mà lại chóng hỏng, chúng tôi cứ nghĩ mãi đến đồng bào thì để rạp hát đóng cửa ư? Một đôi hia của Tàu, giá hai chục bạc, không kể thêu đẹp, dùng được đến hai năm. Một đôi hia thửa của ta, cũng ngần ấy tiền, đã không được đẹp thì thôi, lại dùng chưa quá một năm đã hỏng! Hai nữa, thợ ta không biết pha màu. Người Tàu không bao giờ họ lại dùng những chỉ: đen, đỏ thẫm, vàng ệch với xanh lơ để thêu một cái áo. Cái áo lụa xanh da giời thì phải những hoa xanh thẫm với những ngân tuyến điểm tô cho. Họ không chịu để cho đồ thêu những màu gay gắt. Còn người mình… thì thôi!“ Ông này, sau khi thử thách tác giả, cho đoán thử hai cái mũ, cái nào của ta cái nào của Tàu, kết luận: „Nếu ông chỉ trông thấy xấu cũng đủ nhận được người thợ làm đồ thì đừng vội vàng trách chúng tôi. Mĩ thuật của người Việt Nam dễ nhận ra vì… vì trông nó xấu!“
Đó là 1934, tròn 80 năm trước, Pháp thuộc chứ không phải Bắc thuộc, “Pháp-Việt đề huề” chứ không phải mười sáu chữ vàng Việt-Trung, song ngôi trên của văn hóa Trung Hoa vẫn thấm vào tận đường kim mũi chỉ trên xống áo đào kép. Ghét lắm nhưng không bỏ được. Ngày nay người Việt chê Tàu kém chất lượng. Bõ ghét được vài phút, song ở Việt Nam mĩ thuật Trung Hoa vẫn thống trị từ trong nhà ra ngoài đường.
*
Vẫn theo Vũ Trọng Phụng trong phóng sự nói trên, bản thân cái nghệ thuật sâu khấu ấy là „một sự sáng kiến của Trung Quốc, làm quen với dân mình vào hồi Đức Trần Hưng Đạo đánh đuổi quân Nguyên. Trong đám tù binh Tàu có tên lính Lý Nguyên Cát trong ngục cũng vẫn hát hỏng cho tù binh khác khuây khỏa nỗi lo buồn – việc làm tiêu thời giờ trong lúc ưu nhàn bất đắc dĩ. Thấy sự lạ, lính canh tù bẩm lên quan trên. Người ta hỏi Lý Nguyên Cát, y cắt nghĩa hết. Theo lệnh của Đức Trần Hưng Đạo, Lý Nguyên Cát bèn diễn một tấn tuồng do y soạn ra. ‚ Vương Mẫu hiến đào‘ là tấn tuồng trước tiên diễn trên mặt đất của Đức Đại Việt Hoàng đế, kép hát gồm 12 người, nam ban đóng giả nữ ban. Họ mặc áo gấm vóc, múa hát theo điệu đàn sáo, kèn, trống thành hẳn một khúc âm nhạc có tiết tấu và theo tích hát có thể khiến người „Ố Nàm“ mình phải vui mừng giận ghét hẳn hoi. Sau buổi diễn, Lý Nguyên Cát với 12 tù binh kia nghiễm nhiên trở nên những ông giáo sư dạy tuồng! Đến đời Trần Dụ Tông, các khanh tướng vương hầu nhận thấy chiếu của Vua truyền soạn tích hát. Rồi từ đó trở đi, những buổi dạ yến đều có tiếng trống kèn vang lừng hoàng cung.“
Thuở ấy mà Đức Thánh Trần quyết liệt tảy chay sản phẩm Trung Quốc hay chống xâm lăng văn hóa thì ngày nay người Việt đã không có những dòng âm nhạc và sân khấu âm nhạc được coi là văn hóa truyền thống của mình, từ hát bội đến nhã nhạc cung đình, từ nhạc tài tử đến cải lương và vọng cổ. Song Ngài có tư thế để cởi mở, để liberal như vậy, Ngài ba lần đánh tan quân Nguyên Mông, đứng trên mọi nghi ngờ quỳ gối trước phương Bắc.
Phạm Thị Hoài
© 2014 pro&contra
[1] Vũ Trọng Phụng. Vẽ nhọ bôi hề – Những tác phẩm mới tìm thấy năm 2000. Peter Zinoman sưu tầm. Lại Nguyên Ân giới thiệu và chú thích. Nxb Hội Nhà văn và Công ty Văn hóa Phương Nam. 2004.

Trò chơi cấm vận Nga – EU: Ăn táo, nuốt tầu và uống dầu

Tranh cổ động của Ba Lan. Ảnh: Internet
Thời sinh viên ở Ba Lan, giống như Steve Jobs, mình từng đi hái táo kiếm tiền nên hiểu thế nào là nỗi thống khổ cái nghề bắc thang lên hỏi ông trời này. Với cái thang di chuyển, khóac túi, bứt từng quả một, đầy túi, xuống thang và cho vào sọt có lót rạ. Cả ngày làm chục luống táo có thể kiếm được vài đô la (hồi đó 1976 là to lắm).

Được cái sướng là ăn táo cả ngày không mất tiền. Chỉ có điều, sau mỗi vụ hè, nếu giỏi có thể kiếm đủ tiền mua cái xe con muỗi (xe máy Komar của Ba Lan), cánh sinh viên cứ nhìn thấy táo là …nôn.

Cuộc xung đột Ukraine – Nga đang đi đến hồi gay cấn. Ukraine đang muốn gia nhập NATO vì quân Nga đã vào trong biên giới. Đòn trừng phạt kinh tế, dọa dẫm về quân sự…tiếp tục đưa ra.

Chưa biết kết cục ra sao, nhưng dân thường phải chịu khổ đau nơi chiến trận, nơi ở xa phải nuốt hận chén những thứ không thể xuất khẩu vì cấm vận

Ba Lan – Ăn táo gấp đôi để chọc giận Putin.

Nếu du khách tới Warsaw (Ba Lan) những ngày này và thấy giá táo Ba Lan bỗng hạ một cách thảm hại, thì gọi điện hỏi Putin sẽ rõ. Để trả đũa đòn trừng phạt kinh tế của EU, mà Ba Lan là  một thành viên, nhắm vào nước Nga, Putin ra lệnh cấm nhập táo từ Ba Lan.

Năm ngoái khi chưa bị cấm, có 677 ngàn tấn táo của Ba Lan được đóng kiện gửi đi Nga, chiếm tới 56% số táo xuất khẩu của quốc gia này. Số 677000 tấn táo này tương đương với 659 triệu đô la (500 triệu ER).

Chia bình quân cho 38 triệu người Ba Lan từ trẻ sơ sinh đến cụ 100 tuổi, mỗi quí tộc phải ăn hết khoảng 18kg táo, tương đương 17$ tiền táo.

Nay nghe tin táo bị cấm nhập sang Nga thấy thương quí tộc Ba Lan. Tình hình bi đát tới nỗi, dân mạng xã hội lên Facebook kêu gọi “Eat apples to annoy Putin – Ăn táo để trêu ngươi Putin”. Bộ trưởng Tài chính Ba Lan đi họp EU cũng mang theo sọt táo kêu gọi các chính khách EU ăn hộ.

Hệ thống cửa hàng phân phối thực phẩm Intermarché định gửi 40 tấn táo đến Kaliningrad, thành phố “đảo” nằm cách xa Nga tới cả 1000km nhưng lại thuộc Nga, chung biên giới với Ba Lan, cốt để chọc tức người Nga chơi và chế giễu Nga đã gửi hàng trăm xe tải đi Ukraine với mục đích viện trợ nhân đạo và do thám quân sự.

Nga cấm nhập hàng từ EU cũng ảnh hưởng tới các nước Baltic. Luthuania, Latvia là những quốc gia xuất khẩu sữa, bơ vào Nga cũng mất khoảng 0.2% GDP nhưng chỉ là tượng trưng. Nông dân các quốc gia này tha hồ mà uống sữa.

Người Ba Lan đang thuyết phục Mỹ nhập táo của Ba Lan để thay thế thị trường Nga. Tuy nhiên, Mỹ khó tính hơn Nga nhiều, nông dân Mỹ sợ mất thị trường cũng sẽ phản đối táo Ba Lan.

Vì thế chiến dịch #jedzjabłka (chén táo) của Ba Lan sẽ còn dài dài. Thay vì ăn 15 kg táo/người/năm, nay tăng lên khoảng 30kg/người. Quí tộc phải nhai táo rau ráu để chống lại lệnh cấm nhập của Putin và sợ rằng chuyện này kéo dài, dân Ba Lan sẽ bị bệnh sợ táo như lão Tổng Cua 40 năm trước từng hái táo kiếm tiền nhưng không thành Steve Jobs.
Dân Pháp nuốt chiến hạm lớp Mistral
Pháp bị EU chửi không tiếc lời vì không tham gia cấm vận Nga, vẫn tham vụ bán chiến hạm cho Nga. Tuy nhiên, thấy Putin ăn hiếp Ukraine, Pháp đã đổi ý và tuyên bố, hiện nay ‘không phù hợp’ để bàn giao chiếc thứ nhất trong hợp đồng bán hai chiến hạm đổ bộ tấn công lớp Mistral cho Nga.
Chiến hạm loại Mistral. Ảnh: Internet
Chiến hạm loại Mistral. Ảnh: Internet
Theo BBC VN, chiếc Vladivostok là một trong hai chiếc tàu mẹ chở trực thăng, theo dự kiến sẽ được bàn giao cho Nga vào cuối tháng 10 năm nay. Chiếc thứ hai có tên là Sevastopol sẽ được chuyển giao cho Nga vào năm tới.

Tàu đổ bộ tấn công lớp Mistral có thể chở được tối đa 16 chiếc trực thăng hạng nặng cùng với bộ binh và xe thiết giáp. Nếu được bàn giao đúng như kế hoạch thì chúng sẽ giúp cải thiện đáng kể năng lực tác chiến cả thủy lẫn bộ của quân đội Nga.

Hai chiếc tầu này giá khoảng 1,6 tỷ đô la Mỹ. Nếu chia đều cho 68 triệu dân Pháp, mỗi người bị mất khoảng 23,5$. So với quí tộc Ba Lan, quí tộc Pháp bị thiệt hơn.

Nghe tin này, Nga còn nói cứng, sẽ chẳng ảnh hưởng đến khả năng quân sự của Nga. Và phía Pháp sẽ bị thiệt hại nặng hơn.

Không bán được hai chiến hạm, giống như Ba Lan, Pháp sẽ kêu gọi công dân của mình hãy “nuốt chiến hạm lớp Mistral” để trêu Putin.

Tuy nhiên, ăn táo sẽ tốt cho sức khỏe, mỗi ngày ăn 3 quả táo sẽ giúp tăng tuổi thọ lên tới 5 năm. Nhưng ăn tầu chiến hạm thì quả là hại cho sức khỏe. Sau vụ này, quí tộc Pháp sẽ bị tổn thọ so với đồng nhiệm Ba Lan.
Nga uống dầu hỏa thay cho vodka
Tin cho hay, nhiều đòn trừng phạt do EU đang tiếp tục gửi cho Putin vì ông này dám coi thường phương Tây, tiếp tục cho quân quấy nhiễu Ukraine.

Ngày hội bóng đá thế giới vào năm 2018 (kỷ niệm 100 năm cách mạng tháng 10) rất có thể bị tẩy chay, giống như Sochi 2014 và Olympic 1980. Nếu không có các đội bóng thế giới tham dự, người Nga sẽ đá một mình một sân như họ uống vodka nhắm với cá sống.
Drunken Russian. Ảnh: internet
Drunken Russian. Ảnh: internet
Mới đây nhất, EU đang chuẩn bị phán quyết về cấm các công ty dầu hỏa và khí đốt của nhà nước Nga vay vốn của thị trường EU. Đây mới là đòn nặng đánh vào kinh tế Nga, vì các công ty này có tài sản tới 27 tỷ đô la do bán dầu và khí đốt. Rosneft và Gazprom sẽ bị nặng nhất.

Nga cũng chẳng thiếu đòn chơi lại. Khóa khí đốt và dầu hỏa vào mùa Đông giá lạnh ở châu Âu sắp đến sẽ đe dọa tới 1/3 EU trong khi nền kinh tế thế giới đang chao đảo.

Xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt cung cấp tới 52% chi tiêu quốc gia, năm 2012 chiếm tới 72% hàng hóa xuất khẩu. Với 10,5 triệu thùng dầu mỗi ngày, Nga là nước đứng thứ 3 trên thế giới sau Arab Saudi và Hoa Kỳ. Lượng sản xuất khí đốt chỉ đứng hàng thứ 2 sau Mỹ.

Năm 2013, xuất khẩu dầu khí của Nga chiếm tới 178 tỷ đô la. Nếu 1/3 số đó không xuất sang EU, tính ra 144 triệu người Nga sẽ bị thiệt 60 tỷ đô la, chia bình quân khoảng 400$/người bị mất khoản thu nhập từ dầu khí này.

Nếu không bán được dầu và khí đốt ra nước ngoài, nước Nga là con số không vì 70% GDP phụ thuộc và xuất khẩu tài nguyên. Có lẽ người Nga sẽ học dân Ba Lan ăn táo, dùng đèn dầu để thắp sáng, dùng xăng nhiều mới là yêu nước.
Vĩ thanh

Hậu quả của cấm vận. Ảnh: internet
Hậu quả của cấm vận. Ảnh: internet
Không biết vụ ăn miếng trả miếng sẽ đi tới đâu, nhưng thường dân bị ảnh hưởng bởi xung đột Nga-Ukraine. Ba Lan ăn táo gấp đôi, chỉ mất 17$/người, quí tộc Pháp ăn tầu chiến hạm và mất 23$, trong khi người Nga mất khoảng 20 lần như thế.

Các quốc gia quay lại thời kỳ đồ đá, tự cung tự cấp, ăn táo, nuốt tầu và uống dầu…để cứu nước cứu nhà. Kết cục thật đơn giản, EU thì no jobs (thất nghiệp), Putin không có táo mà ăn.

Nếu Trung Quốc cấm vận kinh tế Việt Nam, chúng ta sẽ phải ăn gì, uống gì để …yêu nước, câu trả lời còn bỏ ngỏ. Ăn nhãn, rồi dưa hấu, kể cả đỉa do phương Bắc đặt hàng, bỗng nhiên cánh cửa xuất khẩu đóng sập, là chuyện thường ngày ở huyện.

Tuy nhiên, trong cuộc chơi với láng giềng phương Bắc, xứ Nam luôn phải nuốt hận, đó là điều khỏi phải bàn cãi.

HM. 9-4-2014
Xem hình ảnh quí tộc Ba Lan nhai táo để yêu nước :)
(Blog Hiệu Minh)

Thông báo số 5 của Hội NBĐL - Việc làm cần thiết và bình thường

1. Trước hết, như nội dung thông báo đã nêu rõ "Ban lãnh đạo Hội đã họp bất thường và đưa ra quyết định với đa số thống nhất:"

Như vậy, thông báo này là thông báo của Ban lãnh đạo Hội chứ không phải của cá nhân Chủ tịch Phạm Chí Dũng, đúng sai thế nào là do Ban LĐ Hội (những người bỏ phiếu thông qua) chịu trách nhiệm chứ không phải là cá nhân ông Phạm Chí Dũng.
Ông Nguyễn Tường Thụy. Ảnh : RFA
2. "Vận hành một trang báo mạng dành cho các nhà báo và cộng tác viên độc lập" là một nội dung hoạt động đã ghi trong Điều lệ Hội. Vì vậy, BLĐ Hội không đồng ý với ý kiến cho rằng, tờ báo chỉ nên để một nhóm hội viên điều hành.

Trong 2 cuộc họp BLĐ ngay sau khi thành lập Hội vào đầu tháng 7/2014 đều xác định, website Việt Nam Thời Báo là tờ báo chính của Hội, còn Facebook VNTB là phụ trang.

Nhưng trên thực tế, BLĐ Hội không thể kiểm soát được nội dung của trang Facebook. Ông Phạm Chí Dũng cho biết, "mọi cố gắng thuyết phục nhưng không thành công, cũng không còn hy vọng thu hồi Facebook VNTB từ ông Ngô Nhật Đăng". Tất cả những chuyện đó đều âm thầm diễn ra trong nội bộ BLĐ.

Dẫu vậy, sẽ không có hoặc chưa có thông báo số 5 nếu trang FacebookVNTB không đột ngột công khai ra thông báo cho rằng: "Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam có 2 trang báo mạng song hành tồn tại, không có cái nào là chính, cái nào là phụ và càng không có đâu là cơ quan ngôn luận, đâu không phải là cơ quan ngôn luận của Hội". Điều này trái với điều lệ Hội và trái với những gì BLĐ đã thống nhất. Đây là một sự thách thức đối với BLĐ Hội nên BLĐ phải cải chính.

Vì vậy, BLĐ buộc phải ra thông báo số 5 để giải thích, tránh sự hiểu sai từ các hội viên và bạn đọc. Có thể nói thông báo số 5 là hệ quả từ thông báo của BBT trang Facebook VNTB.

3. Khi đã tham gia vào một tổ chức nào, hội viên phải tôn trọng tổ chức đó. Và tổ chức nào cũng lấy nguyên tắc thông qua mọi quyết định theo đa số. Nếu một cá nhân muốn thì có thể xin vào, nếu thấy không phù hợp thì có thể xin ra. Khi đã là hội viên, dù muốn hay không, cũng phải tuân theo quyết định của tập thể. Như thế mới tránh được tình trạng quân hồi vô phèng. Không ai, kể cả cá nhân chủ tịch Hội có thể áp đặt ý chí của mình lên tập thể Hội.

Trường hợp linh mục Lê Ngọc Thanh xin rút lui vì quan điểm làm báo của ông không được các thành viên trong ban LĐ chấp nhận đương nhiên là quyền của ông. Chỉ tiếc rằng, ông cũng đã tán thành điều lệ Hội và đã nhất trí trong việc xác định vai trò của hai tờ VNTB.

4. Thông báo số 5 nhằm đảm bảo sự thống nhất trong Hội. Đó là một việc làm bình thường. Thế nhưng, nhiều người đã coi đây như là một sự kiện động trời, cho đó là cuộc đấu đá nội bộ để giành ghế, trong đó, không hiếm kẻ vốn không thích sự tồn tại của Hội NBĐL nhân cơ hội xuyên tạc, bôi nhọ hòng làm cho Hội NBĐL lâm vào thế không đánh mà tan. Cũng không loại trừ do hiềm khích cá nhân mà công kích ông Phạm Chí Dũng.

Thay bằng việc chỉ cần yêu cầu BLĐ làm rõ hơn những nội dung đã nêu trong thông báo thì nhiều người đã đi quá xa, bới móc, suy diễn, chụp mũ với những nhận định hồ đồ không có căn cứ. Những việc làm đó chỉ có lợi cho kẻ muốn đánh phá Hội NBĐL. Tuy nhiên, những điều đó không liên quan gì đến thông báo số 5 nên tôi xin bàn vào dịp khác.
4/9/2014
Nguyễn Tường Thụy 
Phó chủ tịch Hội NBĐLVN
(Việt Nam Thời Báo)

Ai còn có niềm tin đối với Đảng?

Ai còn có niềm tin đối với Đảng?

000_Hkg4466727-305.jpg
Hình minh họa chụp năm 2011 tại Hà Nội.
Trong những ngày kỷ niệm mùa thu năm 1945 và 69 năm ngày Quốc khánh, mùng 2/9, một lần nữa, vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN được truyền thông tập trung ca ngợi. Thế nhưng niềm tin của dân chúng cũng như của chính các đảng viên có thay đổi hay không sau gần 7 thập niên?
“Lỗi là ở gốc rễ”
Truyền thông trong nước những ngày qua đồng loạt đăng tải thông tin nhắc nhớ về cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng CSVN lãnh đạo đã làm nên một trang sử vẻ vang, giải phóng nhân dân VN khỏi chế độ thực dân, phong kiến. Nước VNDCCH được ông Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập vào ngày 2/9/1945 với một Nhà nước của dân và vì dân. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh trong một bài viết nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc Khánh sau 69 năm rằng chỉ sợ nhân dân mất niềm tin vào Đảng chứ không sợ bất cứ một thế lực nào, dù là hung bạo nhất. Ông Trương Tấn Sang còn nhắc lại câu nói của Nguyễn Trãi “làm lật thuyền mới biết sức dân mạnh như nước” cũng như ông Hồ Chí Minh từng nói “dân là gốc” cho nên mối quan hệ máu thịt, sinh tử giữa Đảng với nhân dân phải được chăm lo ở tầm cao mới, chất lượng mới để đất nước phồn vinh và trường tồn.
Một đảng viên Đảng CSVN không muốn nêu tên chia sẻ suy nghĩ của mình sau khi đọc bài viết tâm huyết của vị Chủ tịch nước đương quyền trên Tạp chí Cộng Sản:
    Nói chung niềm tin cũng không còn nhiều vào Đảng nữa nhưng mà bắt buộc người ta vẫn phải ở trong Đảng. Còn nhân dân thì mất niềm tin nhiều hơn đảng viên.  - Một đảng viên
“Có đến 80% không tin rằng Đảng còn vững mạnh nữa. Nói chung đã trải qua nhiều thứ rồi. Bây giờ bọn mình cứ đọc báo, kệ các ông nói gì nói. Ví dụ đơn giản cái nghị quyết Trung ương 4 mà vẫn cứ phải học nhưng bây giờ một đảng bộ chỉ đi học một nửa, còn lại một nửa chỉ đọc báo. Nói chung niềm tin cũng không còn nhiều vào Đảng nữa nhưng mà bắt buộc người ta vẫn phải ở trong Đảng. Còn nhân dân thì mất niềm tin nhiều hơn đảng viên.”
Nghị quyết Trung ương 4 có tiêu đề “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay” đang được triển khai với kỳ vọng Đảng sẽ có sức mạnh mới xứng đáng với niềm tin của nhân dân.
Trong khi các bộ ngành, địa phương được cho là đang thực hiện nghiêm túc nghị quyết Trung ương 4 thì dân chúng ngày càng đón nhận tin tức có nhiều đảng viên lần lượt tuyên bố ra khỏi Đảng CSVN. Những người tuyên bố ra khỏi Đảng đều giống nhau ở điểm họ không còn lòng tin vì Đảng CSVN mà họ từng thề tuyệt đối trung thành đã không đi theo đúng tôn chỉ, mục đích như lúc ban đầu là đem lại độc lập, tự chủ, hạnh phúc, dân chủ khi Đảng CSVN hình thành cách nay xấp xỉ một thế kỷ. Tiến sĩ - Bác sĩ trung tá quân đội Đinh Đức Long là người vừa công khai ra khỏi Đảng hồi cuối tháng 8 nói với đài RFA “lỗi là ở gốc rễ”.
Nhồi nhét không thực tế

024_138495-250.jpg
Một bức tranh cổ động trên đường phố Sài Gòn, ảnh minh họa chụp trước đây. AFP PHOTO.
Một thầy giáo ở Hà Nội, yêu cầu đài RFA không tiết lộ danh tánh, vừa được trường học nơi mình giảng dạy đề cử đi học lớp “đối tượng Đảng” cho đài ACTD biết trong suốt 1 tuần tham gia, Ban Tuyên giáo và giảng viên trường Đảng nhồi nhét những điều không thực tế. Trong khi công nghệ thông tin phát triển một cách mạnh mẽ mà những “cảm tình viên” phải bị nhồi sọ rằng “yêu Đảng mới đồng nghĩa với yêu Tổ quốc” và “vào Đảng vì mục đích xây dựng tổ chức Đảng, xây dựng đất nước chứ không phải vì mục đích tư lợi cá nhân, vì thăng quan tiến chức” càng khiến cho bản thân mất “cảm tình” với Đảng. Thầy giáo này lên tiếng:
“Thật ra, trước khi đi học, Hiệu trưởng đã dặn 1 câu là ‘người ta có dạy như thế nào cũng cấm cháu không được giơ tay phát biểu. Để cho người ta dạy’. Bởi vì người ta rất hiểu bây giờ thông tin đa chiều nên có nhiều điều người ta nói sai lệch. Có thể cán bộ xã ở vùng sâu vùng xa người ta thích nghe nhưng đối với mình việc nhồi nhét những điều không thực tế, không chính xác vào đầu thì cảm thấy rất là lố bịch. Vào lớp học người ta dạy đúng như một con vẹt. Mình cũng là một giáo viên, dạy thế nào thì phải rất khéo léo. Thời buổi này đâu có thể thích nói hưu nói vượn là được. Mình đi học thì mới biết được trong lớp học là như thế. Chắc chắn là học để biết thôi. Không vào Đảng.”
    Có thể cán bộ xã ở vùng sâu vùng xa người ta thích nghe nhưng đối với mình việc nhồi nhét những điều không thực tế, không chính xác vào đầu thì cảm thấy rất là lố bịch.
    -Một thầy giáo
Khi đề cập đến Đảng CSVN, hơn bao giờ hết, đại đa số người dân trong nước đều cho rằng đó là tập hợp của một nhóm người “ăn trên ngồi trước”. Những người tham gia vào Đảng ngày nay thường vì mục tiêu tư lợi cho bản thân, dễ dàng trong con đường quan lộ hơn là thực tâm cống hiến và phục vụ cho xã hội, cho nhân dân như lý thuyết vốn dĩ ban đầu được đề ra của Đảng CSVN. Trong thời gian gần đây, Đảng CSVN được dư luận đánh đồng với “lợi ích nhóm”.
Câu hỏi đặt ra có phải nhiều đảng viên của Đảng CSVN vào Đảng đúng theo như nhận xét của công luận? Người đảng viên không muốn nêu tên cho đài RFA biết thêm:
“Cái này nói chung không phải mình mà rất nhiều. Người ta tham gia thì có rất nhiều yếu tố, như cho tương lai. Như bọn mình có thẻ Đảng thì nhiều cái có lợi hơn trong công việc hay có một lý lịch sạch, chẳng hạn. Đơn giản vậy thôi.”
Lời bộc bạch này không đại diện cho tất cả đảng viên Đảng CSVN. Tuy nhiên, nỗi lo sợ niềm tin của người dân đối với Đảng bị đánh mất mà Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đề cập đến không phải là không có cơ sở. Trong bài viết “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch” của ông Trương Tấn Sang nhấn mạnh Nhà nước của dân, do dân và vì dân được toàn dân ủng hộ nhưng Chủ tịch nước đã không bàn đến phương hướng chuyển đổi mà lòng dân đang trông đợi thì con thuyền chở 90 triệu dân VN do Đảng CSVN lèo lái chắc chắn sẽ chìm vì thời đại nào sức dân cũng mạnh như nước.
Hòa Ái
(RFA)

Người Buôn Gió - Đôi lời về bài viết của tác giả Liên Sơn

Tác giả Liên Sơn mới đây có ra mắt dư luận một bài viết có nhan đề - Nói đôi chút về mộng mị dân chủ- được nhiều trang website tự do đăng tải. Bài viết đã dấy lên dư luận nhiều , thậm chí có những phê phán gay gắt hoặc những nhận định về động cơ của người viết.
Tuần nay đọc đi đọc lại bài của Liên Sơn, định không muốn viết gì về những vấn đề nội bộ đấu tranh dân chủ. Đây là những vấn đề rất dễ gây đụng chạm, có lẽ chính vì thế tác giả bài viết - Nói đôi chút về mộng mị dân chủ - phải dùng bút danh. Thực ra tôi không ngại gì chuyện va chạm. Chỉ nghĩ mình mổ xẻ vấn đề nội bộ đấu tranh, bọn dư luận viên nhảy vào xâu xé, nên vì thế cố gắng né tránh đến mức tối đa.
Bài viết của Liên Sơn chia làm 3 phần, tác giả tô đậm từng mục.
Phần 1 sùng bái cá nhân.
Mục đầu  tác giả nói về sự tôn sùng cá nhân và đưa ra ví dụ về các nhân vật như Bùi Hằng, Minh Hạnh, Phương Uyên, Cù Huy Hà ...trước tiên phải khẳng định có sự tôn sùng những nhân vật này như tác giả đã đặt ra. Nhưng có một điều quan trọng là sự tôn sùng đó có ở thời điểm nào.? Đây là mấu chốt cần chính xác.
 Ví dụ những người này đang hoạt động, và dư luận thấy những hoạt động của họ, tất cả tôn sùng họ như Liên Sơn nói thì chẳng nói làm gì. Vì lúc đó có thể phải bàn đến chuyện sự tôn sùng thái quá  những người ấy đi quá xa so với vị trí họ đang đứng hay không.
Trích đoạn bài viết - Nói đôi chút về mộng mị dân chủ.
'' Cố nhiên, các danh xưng đẹp đẽ/ kiêu hãnh này thể hiện lòng yêu mến hay thậm chí là sự kỳ vọng lớn lao. Nhưng liệu nó có cần thiết trong giai đoạn này? Khi mà chúng ta chưa cần lắm một trò chơi mang tên phân cấp bằng danh xưng..
Chính “danh xưng sùng bái” thái quá đó dẫn tới hiện tượng, đưa vị trí của một số người bất đồng chính kiến đi quá xa, và lên quá cao so với vị trí mà những người ấy đang đứng. ''

Nhưng Liên Sơn đã bỏ qua một điều, sự tôn sùng này chỉ rộ lên khi những con người trên đã phải trả giá đắt trong chốn lao tù. Mà khi họ trong đó mới được tôn sùng,  thì họ chả có cơ hội nào để dùng '' bằng cấp danh xưng '' gây ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh. Cả Bùi Hằng lẫn Cù Huy Hà Vũ khi bên ngoài hoạt động, những điều tiếng dèm pha về họ không hiếm trong dư luận. Chỉ khi họ bị vào tù rồi, thiên hạ mới đánh giá sự mất mát của họ, vì tình thương yêu với người bị gông cùm, xiềng xích mà thiên hạ nhắc nhở đến nhiều. Tạo thành cái lý do mà Liên Sơn nói là tôn sùng.
Đến cả Phương Uyên, Đỗ Thị Minh Hạnh cũng vậy. Trước khi họ bị bắt, chả ai nhắc nhở gì đến họ, mọi việc họ làm trong âm thầm. Đến khi họ ngồi trong tù rồi, thiên hạ lúc đó mới biết đến và ca tụng họ.
 Đến khi Cù Huy Hà Vũ, Phương Uyên, Minh Hạnh và cả nhiều người trước kia đã được tôn sùng khi ở tù như Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung khi ra tù, đều trở thành những người bình thường, khiêm tốn. Chả ai trong số họ đi quá những gì ở vị trí của họ. Thậm chí họ hoà mình vào cuộc đấu tranh như bao nhiêu người khác. Không nề hà như Trương Minh Đức, Nguyễn Bắc  Truyển, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Đỗ Thị Minh Hạnh...
Như Bùi Hằng ở lần bắt thứ nhất tại Thanh Hà, đông đảo mọi người đều hướng về chị. Tôn vinh chị, nhưng khi chị ra thì những lời đó thưa dần. Không phải thiên hạ bạc bẽo, mà sự tôn sùng đã chuyển hướng cho những người khác đang trong chốn lao tù như Minh Hạnh, Phương Uyên....
 Chúng ta thấy  việc phân cấp danh xưng hay tôn sùng trước kia của dư luận ảnh hưởng đến họ không.Và họ có dùng sự tôn sùng ấy để làm gì ảnh hưởng đến phong trào không.  Câu trả lời là không.
Vì sự tôn sùng ấy chỉ dành cho người ngã ngựa, như người sa cơ. Nó là lời tri ân, chia sẻ với hoàn cảnh của họ lúc đó. Cũng như việc thăm hỏi, chia sẻ với những người bạn bất ngờ bị bệnh phải nằm viện.
Tôi nghĩ sự ca tụng hay tôn sùng mà Liên Sơn nói về họ là sai lầm về thời điểm. Mà thời điểm tôn sùng như đã nói, chỉ có khi họ đã ở trong tù, họ không thể nào biết đến sự tôn sùng ấy mà làm gì đi quá vị trí của mình gây ảnh hưởng đến phong trào. Và dù họ có biết thì họ cũng chả có cách gì để gây ảnh hưởng đến phong trào.
Còn khi họ ra khỏi nhà tù, họ cũng chẳng nhớ đến những danh xưng ấy nữa. Hầu hết họ đều khiêm tốn và thậm chí còn dưới cả mức vị trí của mình. Nói họ đi quá là không đúng chút nào.
Mục thứ hai Liên Sơn nói đến việc dư luận cho rằng chính quyền đang sợ hãi.
Ngay trong phần này, Liên Sơn lại nói đến một đoạn bác lại phần 1.
''Một Bùi Hằng chưa phải là cái gì đó để nhà nước Việt Nam phải sợ hãi. Kể cả những người bị cầm tù trước đó và sau này như Lê Quốc Quân, Nguyễn Tiến Trung, Uyên-Kha, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định….''

Ở đây Liên Sơn chính mình khẳng định những người được tôn sùng ấy chả là cái gì để nhà nước VN phải sợ hãi. Thế mà ở mục trên Liên Sơn lại cho rằng sự tôn sùng sẽ khiến họ đi quá xa, hay sẽ gây ảnh hưởng xấu đến phong trào đấu tranh.
 Tôi nghĩ Liên Sơn chưa đủ bao quát để nhìn sự tôn sùng xuất hiện như thế nào. Vì thế tác giả cứ nhặt hiện tượng thời điểm rồi đưa vào bài viết. Chính vì thế mới xảy ra chuyện lúc đầu lo lắng sự tôn sùng sẽ làm thế nọ, thế kia...sau cùng đoạn khác lại khẳng định những người được tôn sùng chả là cái gì cả.
trích đoạn phần 2
'' Thế nên, một Cù Huy Hà Vũ ở nước ngoài “chữa bệnh” cũng không khác gì một Lê Thị Công Nhân ở trong nước - “Thời hạn quản chế của tôi đã kết thúc từ hơn một năm nay, nhưng cuộc sống vẫn không hề thay đổi mà còn bị bóp nghẹt hơn ”
Có lẽ đến đây thì không cần phải nói thêm về việc tác giả Liên Sơn nói về sự tôn sùng cá nhân , phân cấp danh xưng sẽ ảnh hưởng đến phong trào nữa. Tự tác giả cũng đã khẳng định ở phần thứ 2 này.
Dẫn chứng có thể sai, dẫn đến kết luận sai là chuyện thường. Tuy nhiên khách quan nói ở phần thứ hai Liên Sơn nói đến việc nhiều người nghĩ chính quyền VN sợ hãi thì có thể không sai. Bởi vì chính quyền VN vẫn còn nắm được trong tay đội ngũ công cụ bạo lực khổng lồ, cũng như nhiều phương tiện truyền thông. Nói sợ hãi là quá, nhưng nói không sợ hãi cũng chẳng phải. Nếu nói  đúng thì những tổ chức, con người mà Liên Sơn chê trách ấy, ít nhiều đã khiến nhà cầm quyền lo lắng.
Những bằng chứng về sự lo lắng của nhà cầm quyền khi các tổ chức xã hội dân sự, cá nhân đấu tranh thiết nghĩ quá nhiều, không cần phải dẫn giải.
Ở phần 1 Liên Sơn sai toàn phần, ở phân 2 Liên Sơn sai một nửa.
Phần thứ 3 về vấn đề tổ chức.
Ở phần này, ý kiến cá nhân tôi đồng ý hoàn toàn với những gì tác giả nói. Những điểm yếu trong kết cấu của các tổ chức Liên Sơn vạch ra là hiện hữu. Cần nhìn rõ để khắc phục. Nhưng có điều nếu đọc kỹ phần này, ngoài sự khách quan muốn xây dựng phong trào nói chung, tác giả Liên Sơn đã phê phán hành động của các nhóm khác,  hàm ý muốn để cao nhóm của mình, một nhóm mà đang tự hào rằng mình hoạt động chuyên nghiệp và hiệu quả, không khoe khoang khoác lác như nhóm khác. Tuyên truyền tiếp cận người dân bằng nhiều hình thức dễ gần....
 Chính ý đồ này của tác giả là nội dung khởi nguồn của bài viết.
Một người như Phạm Chí Dũng quá lành để viết ra một bài như thế này, người ta nói là của Phạm Chí Dũng. Tôi thì không tin.
Tuy nhiên thì tôi vui vì có những người như Liên Sơn đấu tranh với nhà cầm quyền cộng sản. Một người nhiều mưu lược và thủ đoạn như vậy mới có thể vạch được kế hoạch đối phó với nhà cầm quyền cộng sản. Để thành công Lý Thuỵ bán cụ Phan, Tào Tháo giết Lã Bá Xa để không ảnh hưởng đến mưu tính của mình. Liên Sơn và nhóm của mình có tố chất để làm được điều ấy, ắt cũng có tố chất thành công khi đối đầu với nhà cầm quyền Việt Nam.
Người Buôn Gió
(Blog Người Buôn Gió)

Nhìn lại cuộc đấu tranh


 Ở trong nước đang có cuộc trao đổi, nhìn lại cuộc đấu tranh vừa qua để rút ra những kinh nghiệm quý báu cho những người bất đồng chính kiến đang kết hợp với nhau trong các tổ chức xã hội dân sự nhằm thay đổi tình hình. Việc rút kinh nghiệm, kiểm điểm lực lượng là hết sức quan trọng, giúp cho phong trào nhìn rõ thêm chỗ mạnh chỗ yếu của mình, nhìn rõ thêm thế và lực của đối tượng đấu tranh, để chuẩn bị tốt cho các cuộc ra quân kế tiếp.
Trước hết cần xác định mục tiêu đấu tranh của toàn xã hội lúc này là đưa đất ước thoát khỏi chế độ cai trị lỗi thời của thế kỷ trước, xây dựng một hệ thống cai trị tiến bộ, hiện đại, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội, xây dựng một nước VN hoàn toàn độc lập, dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải, có chế độ pháp quyền nghiêm minh, bình đẳng, phát triển hài hòa bền vững, với thành quả được toàn xã hội chung hưởng.
Tuy số tổ chức xã hội dân sự còn ít ỏi, bé nhỏ so với số dân, nhưng so với mươi năm về trước, xã hội dân sự nước ta đã lớn lên khá nhanh, từng bước vững chắc, bao gồm cả Bắc, Trung, Nam và hải ngoại, nhiều ngành nghề, được xã hội tin yêu, được thế giới quý trọng, được các chính quyền và các tổ chức dân chủ, nhân quyền quốc tế ủng hộ.
Rõ ràng xã hội dân sự VN đang phát triển, mặc dầu bị chính quyền đảng trị ra sức cản phá bằng lực lượng công an mang danh hiệu «nhân dân» nhưng thực chất là làm công cụ giữ nhà riêng cho đảng CS và nhóm quan chức tham nhũng chóp bu. Tất nhiên những tổ chức non trẻ mới hình thành trong cuộc đấu tranh gian khổ, đôi khi khốc liệt, có thể có những nhược điểm mang tính chất ấu trĩ. Nay đã đến lúc cần chỉ ra những nhược điểm đó để giúp nhau khắc phục.
Ví dụ như thái độ lạc quan thiếu cơ sở, với nhận định chủ quan là trong Bộ Chính trị có một nhóm gọi là «nhóm đổi mới, cấp tiến, thân phương Tây» có khả năng dành thế áp đảo, tiến hành một cuộc «xoay trục hoành tráng», thực hiện “liên minh toàn diện với Philippines, Nhật Bản, Ấn Độ, Hoa Kỳ». Cũng có cả quan điểm cho rằng Quân đội Nhân dân VN từ khi có tổng tham mưu trưởng mới đã ngả dần sang phương Tây, do Hoa Kỳ lôi kéo và tác động. Theo xu hướng lạc quan như thế, đã có người tin rằng chính quyền sẽ trả tự do cho ba nhà bất đồng chính kiến ở tòa án Đồng Tháp, và một số bà con theo đạo Hòa Hảo còn chuẩn bị cuộc rước đón hân hoan, để rồi rốt cuộc bị thất vọng, sững sờ trước ba bản án quá nặng.
Ngoài ra còn ý kiến cho rằng không nên đề cao quá mức một số nhà bất đồng chính kiến, không nên coi cô Minh Hằng hay luật sư Hà Vũ là «biểu tượng» của cuộc đấu tranh, không nên coi em Phương Uyên là «anh thư của thời đại», không coi Minh Hạnh là «cánh chim báo bão» sắp quật đổ chế độ bất nhân. Theo tôi, không nên quá khắt khe với những lời khen tặng hay danh hiệu có phần quá đà như thế, miễn là người được khen luôn khiêm tốn và ai cũng hiểu đó chỉ là những chữ «thậm nhấn» khi quá tin yêu.
Trong chiều hướng nghiêm khắc như thế, càng không nên đánh giá quá cao chính quyền độc đảng trong cuộc đàn áp tàn khốc những người bất đồng chính kiến để làm yên lòng quan thầy bành trướng, cho rằng «họ không sợ gì phong trào, họ muốn làm gì cũng được, vì luật pháp, công an, tòa án đều nằm trong tay họ». Thật ra, họ sợ chứ, sợ nhiều, sợ từ mọi phía. Họ sợ dư luận xã hội, sợ công luận quốc tế. Họ rất sợ số đảng viên CS lão thành phản tỉnh, họ sợ trí thức có tâm và có tầm, có uy tín xã hội và lập luận chặt chẽ. Họ rất sợ việc hình thành các tổ chức được điều hành chặt chẽ, vươn ảnh hưởng ra ngoài nước, hình thành một mặt trận ngoại giao nhân dân phối hợp với cộng đồng ngoài nước . Họ sợ các blogger tự do lề trái đánh bạt hơn 700 công cụ trên lề phải thưa thớt khách thông tin. Họ sợ 3 chiến sỹ bất đồng chính kiến ở Đồng Tháp nên mới giam tiếp thêm, mới huy động hàng trăm công an bắt bớ gần một trăm bà con ta. Họ sợ quan thầy của họ hơn tất cả các nỗi sợ, nên dù bị mắng là «đứa con hư hỏng phải quay về»,họ đã quay về thật!
Anh chị em bất đồng chính kiến nên nhớ một điều là tình thế của thế lực cầm quyền CS hiện đang ở thế yếu chí mạng, sa sút, thoái hóa, mất uy tín chưa từng có. Không ít bà con ta, qua những đảo lộn lịch sử ở Liên Xô cũ, ở Đông Âu, Bắc Phi, Trung Đông … coi nhóm lãnh đạo hiện tại từ trung ương xuống địa phương là những tên tội phạm chính trị-kinh tế- tài chính-hình sự mặc nhiên sẽ phải ra trước vành móng ngựa tòa án nhân dân, như Nicolas Céausescu ở Romania hay như Erich Honecker ở Đông Đức, một khi sự căm phẫn của nhân dân bùng nổ theo kiểu tức nước vỡ bờ.
Tôi hoàn toàn tán thành phương hướng hành động của các tổ chức xã hội dân sự trong thời gian trước mắt như được anh Nguyễn Quang A nêu lên là: thức tỉnh nhiều thêm, sâu thêm mọi công dân yêu nước đứng lên thực thi mọi quyền tự do của công dân được Hiến pháp bảo vệ không cần xin phép ai, từ đó làm cho xã hội dân sự lớn mạnh không ngừng trong thử thách đấu tranh. Nâng cao dân trí, thực hành dân chủ và nhân quyền là chìa khóa mở cửa tương lai của dân tộc; không nên vội vàng nôn nóng, càng không thể nản chí với thời gian. Hãy vận động thêm những công dân lương thiện, yêu nước thương dân, không sợ chính quyền toàn trị gia nhập các tổ chức xã hội dân sự, cùng nhau phá cái xấu, cái cũ, kiên nhẫn xây dựng tương lai.
Việc xuất hiện Văn đoàn Độc lập tập họp những anh chị em văn nghệ sỹ dân chủ, Hội nhà báo Độc lập hội tụ các anh chị em nhà báo dân chủ, sau khi đã có nhóm các blogger VN và một loạt mạng thông tin lề trái rất có uy tín với bạn đọc, là những phát triển có ý nghĩa. Nên chăng có thêm tổ chức Hội các luật gia độc lập hay dân chủ, Hội các nhà giáo dục dân chủ để tập họp lực lượng luật gia và những nhà giáo dục tiến bộ, 2 lĩnh vực mũi nhọn của một xã hội văn minh.
Hiện có rất nhiều luật sư, nhà luật học tham gia phong trào đang bị tù đày, rất nhiều nhà giáo dục có thiện chí xây dựng một nền giáo dục dân chủ mang tính khai phóng, khuyến khích tư duy độc lập, là điều kiện hội đủ để hình thành Hội luật gia dân chủ và Hội nhà giáo dân chủ.
Theo kinh nghiệm ở Ba Lan và Hungary, các nhà kinh doanh vừa và nhỏ ở Việt Nam cũng nên tổ chức một hội đoàn độc lập của mình để bảo vệ quyền lợi của giới mình, chống lại sự cạnh tranh phi pháp của các phe nhóm tư bản lớn cũng như sự lấn ép của các tập đoàn quốc doanh độc quyền, vi phạm nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng được Hiến pháp bảo vệ.
Đảng CS cầm quyền đang trải qua cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất. Khủng hoảng học thuyết, ý thức hệ, khủng hoảng về đường lối, cả đối nội lẫn đối ngoại, khủng hoảng kinh tế- tài chính với nguy cơ vỡ nợ nhà nước, khủng hoảng văn hóa về đạo đức xã hội, khủng hoảng về an ninh khi lực lượng công an biến thành tay sai của phe đảng chống lại nhân dân.
Điều cần khẳng định là vừa qua là thời kỳ phát triển, trỗi dậy có khí thế của các tổ chức xã hội dân sự trẻ khỏe và năng động, so với 10 năm trước có thể coi là thời kỳ trưởng thành đáng mừng, làm cho thế và lực cùng vươn lên.
Trong khi lãnh đạo đảng CS chuẩn bị cho Đại hội XII, công bố dự thảo các văn kiện, các tổ chức xã hội dân sự có dịp để phản biện một cách ngay thẳng, mạnh mẽ, đồng thời yêu cầu nhà cầm quyền phải làm đúng, đầy đủ lời hứa danh dự trong Thông điệp đầu năm, công nhận «người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm», có nghĩa là tôn trọng sự tồn tại, phát triển, hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự, tài sản nhân lực và tinh thần quý báu vô giá của nhân dân Việt Nam.
Bùi Tín
* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
 
(VOA) 

'Lãnh đạo VN cần biết rõ bạn và thù'

Kiến nghị nói Việt Nam nên kết bạn với các nước phương Tây từng là cựu thù
Chính quyền Việt Nam phải giải trình cho người dân rõ về những gì mà họ đã ký kết với Trung Quốc tại Hội nghị Thành Đô cách nay hơn 20 năm, một số vị tướng tá về hưu trong quân đội và công an Việt Nam vừa lên tiếng.
Đây là một trong bốn điểm mà 20 vị tướng tá ký tên vào bản kiến nghị đề ngày 2/9 gửi đến Chủ nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu.
Trao đổi với BBC, Đại tá Bùi Văn Bồng, người từng là cán bộ cao cấp trong báo Quân đội nhân dân, đã xác nhận tính xác thực của bản kiến nghị này.
Ông Bồng cũng bình luận về những đồn đoán liên quan tới nội dung thỏa thuận giữa hai bên từ Hội nghị Thành Đô.
“Chủ quyền đất nước là của toàn dân chứ không phải của các nhà lãnh đạo Đảng,” ông nói, “Cho nên với cương vị lãnh đạo Đảng mà quyết định vận mệnh, lãnh thổ quốc gia là sai hoàn toàn.”
“Hội nghị Thành Đô vẫn đang là một tấm màn bí mật,” ông nhận định.
“Từ khi hội nghị Thành Đô xong, hầu như đường lối đổi mới của Đảng xoay chuyển hẳn. Trong 24 năm vai trò của Đảng ngày càng yếu, uy tín kém đi.”
Kiến nghị được đưa ra vào lúc này, theo ông Bồng, là nhân lúc Đảng đang chuẩn bị văn kiện cho Đại hội 12 để đóng góp ý kiến cho Đảng.
Ngoài điểm về Hội nghị Thành Đô, các vị cựu tướng tá còn thúc giục giới lãnh đạo cam kết cho điều họ gọi là "không được dùng quân đội và công an đàn áp nhân dân, ghi nhận thỏa đáng sự hy sinh của các thương binhh liệt sỹ trong cuộc chiến năm 1979 với Trung Quốc, và xác định chính xác bạn và thù."
“Chúng tôi (những người ký kiến nghị) muốn có sự đổi mới trong các lãnh đạo sao cho có dân chủ, có lợi cho dân và đúng với bản chất truyền thống của quân đội và công an,” ông Bồng nói.
‘Kẻ thù truyền kiếp’

Quân đội Việt Nam phải trung thành với Đảng theo quy định Hiến pháp
Ông giải thích là những vấn đề nêu lên trong các kiến nghị là ‘bức xúc từ lâu lắm rồi’, nhất là việc công an và quân đội được trưng dụng để ‘đàn áp dân’ trong các vụ cưỡng chế thu hồi đất.
Về kiến nghị xác định rõ ràng bạn thù, ông Bồng nói ông không rõ quân đội Việt Nam hiện nay xác định bạn thù như thế nào nhưng bản thân ông cho rằng ‘Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam vì họ luôn lăm le xâm lược Việt Nam’.
“Pháp với Mỹ là kẻ thù của thời loạn, của hoàn cảnh thế giới nằm trong kế hoạch của các nước tư bản đế quốc một thời,” ông nói thêm.
Bản kiến nghị thu hút được 20 chữ ký của các tướng tá về hưu, đứng đầu là Trung tướng Lê Hữu Đức, cựu cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.
Ngoài ra còn có năm vị thiếu tướng quân đội khác cũng tham gia ký tên, bao gồm các ông Trần Minh Đức, cựu phó tư lệnh Hậu cần ở Thừa Thiên-Huế, Huỳnh Đắc Hương, cựu tư lệnh kiêm chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Lê Duy Mật, cựu tư lệnh kiêm phó tham mưu trưởng Quân khu 2, Bùi Văn Quỳ, cựu phó tư lệnh chính trị Bộ đội Tăng-thiết giáp và Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu chính ủy Quân khu 4, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc.
Đại tá Bồng nói rằng 20 chữ ký này ‘chỉ là sự tập hợp điển hình’ bởi vì các ông ‘không có thời gian kêu gọi vận động mọi người’.
“Trong tâm tư của các cựu chiến binh thì họ ủng hộ đông lắm nhưng khi lên tiếng ủng hộ thì họ sợ sệt thế này thế kia. Có khi bị cho là suy thoái tư tưởng,” ông Bồng nói.
Hội nghị Thành Đô 1990

Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười thăm Thành Đô, Tứ Xuyên từ ngày 3 đến ngày 4/9 năm 1990, họ cũng hoan nghênh Cố vấn Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng cùng đi.
 Xem thêm tư liệu không phải của BBC về 'Bấm Hội nghị Thành Đô 1990'.
(BBC)