Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 24 tháng 7, 2014

Quá trình chiếm hữu và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Quá trình chiếm hữu và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Quá trình chiếm hữu và thực thi chủ quyền của VN tại hai quần đảo HS- TS: Thực tế, không gián đoạn, hòa bình và minh bạch
Gs -Ts Hồ Sĩ Quý. Ảnh: Nguyễn Xuân Diện
I. Ít nhất, từ thế kỷ XVII, Hoàng Sa không phải là lãnh thổ vô chủ (Terra Nullius)
Sử sách Trung Hoa suốt từ các đời Tần, Hán đến tận sau Thế chiến thứ II, không có tài liệu nào xác nhận, Biển Đông với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc (Biển Đông được người Trung Quốc và giới hàng hải gọi là中国南海 Trung Quốc Nam Hải, 花南Hoa Nam, South China Sea, người Philippines từ 2012 gọi là biển Tây Philippines, West Philippine Sea; quần đảo Hoàng Sa được người Trung Quốc gọi là西沙Tây Sa, tiếng Anh: Paracels và Trường Sa người Trung Quốc được gọi là 南沙 Nam Sa, tiếng Anh: Spratlys). Trong khi đó, không ít thư tịch cổ Trung Hoa, do chính người Trung Hoa viết lại đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam[1].

Phía Trung Quốc thường tuyên truyền chủ quyền của họ đối với Biển Đông có từ hơn 2000 năm trước. Nhưng những chứng cứ chủ yếu lại chỉ là những ghi chép của người đương thời và người đời sau về các con đường hàng hải từ Trung Quốc ra nước ngoài, các hoạt động thám hiểm, buôn bán, đánh cá... và qua đó có ghi chép về địa lý, lịch sử, phong tục… ở các vùng mà những người chứng kiến đã đi qua. Cũng có tài liệu nói người đánh cá Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và các nước khác khi buôn bán, đánh cá hoặc gặp thiên tai trên biển… đã từng sống trên các đảo tuỳ theo mùa vụ, nhưng cụ thể từ khi nào và mùa vụ là bao nhiêu lâu thì chưa thấy tài liệu nào ghi chép thật rõ[2], và chỉ riêng điều đó thì cũng không có ý nghĩa về mặt chủ quyền. Ở đây các nhà nghiên cứu đôi khi thường bắt gặp có sự nhầm lẫn hoặc cố tình nhầm lẫn của những người làm sử thiếu khách quan. Theo luật pháp quốc tế, việc thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền trên các vùng biển đảo, ngày nay, không phụ thuộc vào việc phát hiện, thám hiểm hay thực thi buôn bán, làm ăn trên biển. Cũng không phụ thuộc vào sự hiểu biết của người quan sát về biển đảo. Từ thế kỷ thứ VIII, người Bắc Âu, Hà Lan, Tây Ban Nha, Anh… đã có tiếng là những Viking[3] gồm những nhà thám hiểm, nhà buôn, chiến binh, và cả những hải tặc đã tung hoành trên nhiều vùng biển của địa cầu. Những ghi chép của người Anglo-Saxon về hải dương từ lâu đã là nguồn tra cứu phong phú và quý giá của nhân loại. Tiếp theo là những người Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Việt Nam… cũng có mặt ở nhiều vùng trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Phương Đông không có các Viking, ít các nhà thám hiểm nên người phương Đông có mặt trên biển chủ yếu là buôn bán, làm ăn, đánh cá...
Gần đây, phía Trung Quốc còn đưa thêm nhà thám hiểm người Hồi là Trịnh Hòa vào hồ sơ tranh chấp biển đảo. Nhưng thực ra Trịnh Hòa chỉ đi ngang qua Biển Đông và các ghi chép về 7 chuyến đi của ông cũng không thấy nói gì đến Hoàng Sa, Trường Sa: Từ năm 1405-1433, Minh Thành Tổ cử Đô đốc Thái giám Trịnh Hòa chỉ huy đoàn thám hiểm “hạ Tây dương” 7 lần đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với trên 30 quốc gia duyên hải, triển khai Con đường Tơ lụa trên biển tại Ấn Độ, Phi Châu và Trung Đông. Những chuyến hải hành của Trịnh Hòa trên thực tế không hề dừng ở Biển Đông. Trạm trú chân duy nhất của đoàn trong khu vực này là Đồ Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều Minh đã phê phán những cuộc hải trình này chỉ là phô diễn và làm suy yếu kinh tế quốc gia.
Trên thực tế, từ nhiều thế kỷ nay, nguyên tắc “quyền phát hiện” và nguyên tắc “chủ quyền lịch sử” đã không còn phù hợp và đã bị thay thế. Nghĩa là, nếu giả sử luật pháp quốc tế vẫn còn căn cứ vào luận thuyết chủ quyền lịch sử hay sự phát hiện biển đảo để xác định chủ quyền thì quyền chiếm hữu và sở hữu các châu lục ngày nay hầu hết đã thuộc về các Viking, các nhà thám hiểm hoặc các tay cướp biển Tây Âu.
Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được các triều đại phong kiến Việt Nam thực thi từ rất sớm. Có tài liệu nói từ thế kỷ XV. Nhưng rõ nhất là từ đầu thế kỷ XVII đến tận năm 1932, khi Pháp chính thức tuyên bố kế thừa và tiếp tục chủ quyền tại hai quần đảo này, các triều đại phong kiến Việt Nam đều đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền thực tế đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Quá trình này diễn ra một cách liên tục, với những hoạt động kinh tế - xã hội rất hòa bình và lúc đó cũng chưa hề có tranh chấp[4]. Về mặt pháp lý, ít nhất từ thế kỷ XVII, Hoàng Sa đã không còn là lãnh thổ vô chủ nữa (Terra Nullius).

Năm 1698, Hoàng Sa trở nên nổi tiếng trong các biên niên sử hàng hải với vụ đắm tàu Amphitrite dưới thời vua Louis XIV khi đi từ Pháp sang Trung Quốc.
Năm 1753, 10 người lính của Đội Bắc Hải đã có mặt ở quần đảo Hoàng Sa. 8 người lên đảo, còn 2 người ở lại canh thuyền. Một cơn bão ập tới và thuyền bị trôi dạt đến tận cảng Thanh Lan của Trung Quốc. Chính quyền Trung Hoa lúc đó cho điều tra, và khi biết các sự kiện, đã trả 2 người lính về Việt Nam. Lê Quý Đôn viết: “Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương Quỳnh Châu gửi cho Thuận Hóa nói rằng, năm Càn Long thứ 18 (1753), có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh tổng Cát Liềm huyện Chương Nghĩa phủ Quảng  Ngãi nước An Nam, một ngày tháng 7 đến Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán...”[5]. Sự kiện này cũng là một dấu hiệu về việc người Trung Quốc không coi Hoàng Sa là của mình.
Năm 1816, vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo Hoàng Sa, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Khâm sứ Pháp tại Đông Dương Jules Brevie đã ra lệnh thành lập cơ quan hành chính quản lý quần đảo Hoàng Sa và cho dựng trên quần đảo một tấm bia có dòng chữ “Cộng hòa Pháp - Vương quốc An Nam - quần đảo Hoàng Sa, 1816”[6].
Năm 1835, vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiệm vụ khai thác, tuần tiễu, thu thuế trên đảo, và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương. Từ đó đến năm 1847-1848, việc quản lý hành chính các đảo này được triều Nguyễn duy trì nhằm giúp đỡ các cuộc hải trình và cũng để thu thuế ngư dân trong vùng[7].
II. Nước Pháp công nhận việc thực thi chủ quyền của các triều đại phong kiến Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và chịu trách nhiệm kế thừa
Năm 1884, Hiệp ước Huế áp đặt chế độ thuộc địa. Ngày 9/6/1885: Hiệp ước Pháp – Thanh tại Thiên Tân chấm dứt xung đột giữa Pháp Thanh; Việt Nam vĩnh viễn thoát khỏi chế độ phên thuộc. Ngày 26/6/1887, Hiệp ước Pháp – Thanh ấn định biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa. Nghĩa là từ đây, mọi tuyên bố hay hành vi của Pháp về Hoàng Sa, Trường Sa, được hiểu là và trên thực tế là, đại diện cho Việt Nam, của Việt Nam.
Năm 1895 con tàu La Bellona và năm 1896 con tàu Imeji Maru bị đắm gần Hoàng Sa. Những người đánh cá ở Hải Nam đến thu lượm đồng từ hai chiếc tàu đắm này. Các công ty bảo hiểm của hai con tàu này phản đối chính quyền Trung Hoa. Chính quyền Trung Hoa trả lời là không chịu trách nhiệm, lấy lý do là Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Hoa, cũng không phải là lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1899, Toàn quyền Paul Doumer đề nghị chính phủ Pháp xây ngọn hải đăng nhưng việc này không thành vì lý do tài chính.
Vào năm 1909, Tổng đốc Lưỡng Quảng ra lệnh cho đô đốc Lý Chuẩn đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa. Cuộc đổ bộ khoảng không quá 24 giờ. Họ kéo cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc. Sự kiện này không gây ra phản ứng gì của các nước, kể cả nước Pháp đại diện cho An Nam vì cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân chuyến thám sát đảo xa. Sự kiện này cũng làm lộ ra mâu thuẫn trong lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu, thì tại sao Lý Chuẩn lại không biết điều này và hành xử với tư cách là người lần đầu tiên phát hiện ra quần đảo.
Năm 1920, một công ty Nhật Bản là Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa, Pháp từ chối. Cũng bắt đầu năm 1920, Pháp kiểm soát quan thuế và tuần tiễu trên đảo.
Ngày 8/3/1921, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp. Nhưng ngày 30/3/1921, Tổng đốc Lưỡng Quảng tuyên bố sát nhập Hoàng Sa với Hải Nam, Pháp lại không phản đối. Ngay sau đó các nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội người Pháp ở Hà Nội đã chỉ trích Toàn quyền Đông dương về thái độ này. Công đầu trong việc này là tờ tuần báo “Thức tỉnh kinh tế Đông Dương” (L’Éveil Économique de l’Indochine).
Tuần báo L’Éveil Économique de l’Indochine ra số đầu tiên vào thứ bảy, ngày 16/6/1917 và số cuối cùng vào năm 1934. Người sáng lập, là Chủ bút và cũng là tác giả của nhiều bài viết trong tuần báo này là Henri Cucheroussset (1879 – 1934, ông qua đời tại Hà Nội và cũng là người đặc biệt yêu mến Hoàng Sa, chiến đấu không mệt mỏi cho chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa). Trong 835 số tuần báo, Chính phủ Pháp và An Nam đã triệt để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa với chính quyền Quảng Đông (lúc đó ly khai khỏi Trung Quốc và cũng không được Trung Quốc và các nước khác thừa nhận). Ông Henri Cucheroussset đã đưa vấn đề ra Thượng viện và Hạ viện Pháp, vì lý do Toàn quyền Đông dương ở Hà Nội không đủ nỗ lực quan tâm đến vấn đề. Trên tờ tạp chí này, các sự kiện sau đây đã được phản ánh:
  • Các đề nghị đối với chính quyền bảo hộ: Đặt trạm hải đăng, trạm khí tượng, trạm phát sóng cực ngắn, các phao đèn và cọc tiêu, vẽ các bản đồ quần đảo Hoàng Sa: tỷ lệ 1:200.000, & 1 :25.000; Xây dựng cảng cá và tổ chức nơi trú ẩn cho ngư dân, phát triển công nghiệp cá, phát triển các tầu đánh cá có thể đánh bắt xa bờ từ 2 đến 300 km; Thiết lập hệ thống hành chính trên hai quần đảo và cần thiết có quân đội thường trú bảo vệ và tuần tra khu vực[8].
  • Trách nhiệm của nước Pháp và các quan chức Pháp tại Đông Dương: Tác giả trách cứ một số quan chức Đông Dương vô trách nhiệm đối với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa như Ông Monguillot (Thống sứ Bắc Kỳ, có lúc được cử làm quyền Toàn quyền Đông Dương), Trung tá Rémy hạm trưởng Hải quân Pháp tại Sài Gòn và đặc biệt là ông Toàn quyền Pière Pasquier. Và nhờ đó, các chính khách đã quan tâm đến vấn đề quần đảo Hoàng Sa như Thượng nghị sĩ Albert Sarraut, Nghị sĩ Ernest Outrey, Thượng nghị sĩ Bergeon … và đề nghị tổ chức một hội nghị về quần đảo này tại Luxembourg (Thượng nghị viện Pháp) và lâu đài Bourbon (Hạ nghị viện Pháp).
  • Vỉa phốt phát có diện tích khoảng 4 triệu m2 có độ dầy trung bình 2m, tức 8 triệu m3 và với có thể thu được 2 tấn / m3 phốt phát tức 16 triệu tấn phốt phát ở Hoàng Sa. Tuy nhiên, chính quyền quản lý lơ là để Nhật Bản và Trung Quốc khai thác bất hợp pháp, không mang lại đồng nào cho Annam.
  • Bằng con tàu Malicieuse, ngày 13/4/1930, nước Pháp đã chính thức đặt chủ quyền của An Nam dưới sự bảo hộ của Pháp đối với quần đảo Trường Sa[9].
  • Chính quyền Pháp và An Nam đã dựng bia chủ quyền cho quần đảo Hoàng Sa trên đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) với dòng chữ: République française - Royaume d'Annam - Archipel des Paracels 1816 - île Pattle – 1938 (Cộng hòa Pháp – Vương quốc An Nam – Quần đảo Paracels 1816 – đảo Pattle 1938). Chính quyền Pháp đã lần lượt đặt hai trạm khí tượng trên đảo Boisée (Phú Lâm) và  trên đảo Pattle (Hoàng Sa). Trước đó, vào năm 1933, Quần đảo Trường Sa đã được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa.

Bắt đầu từ năm 1925, Viện Hải dương học Nha Trang tiến hành những thí nghiệm khoa học trên đảo Hoàng Sa do tiến sĩ Krempt tổ chức.
Năm 1927, Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường Sa.
Năm 1930: Ba tàu Pháp La Malicieuse, L’Alerte và L’Astrobale chiếm quần đảo Trường Sa và cắm cờ Pháp và tuyên bố thực thi chủ quyền trên quần đảo này.
Năm 1931, Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa, ban quyền khai thác cho Công ty Anglo-Chinese Development. Pháp phản đối.
Năm 1932, Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa, sát nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên. Nghĩa là Pháp công nhận và chịu trách nhiệm kế thừa chủ quyền của Việt Nam từ trước đó, tiếp tục thực thi chủ quyền tại hai quần đảo này.
Năm 1933, Quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng đề nghị với Trung Hoa đưa vấn đề ra Toà án Quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.
III. Việt Nam “xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” trước cộng đồng quốc tế tại San Francisco 1951
Năm 1937, bất chấp sự phản đối của Pháp, Nhật chiếm các đảo “nằm ngoài khơi Đông Dương”, đổi tên thành Shinnan Gunto (Tân Nam Quần Đảo) và đặt dưới quyền tài phán của Cao Hùng (Đài Loan). Trong suốt thời gian Thế chiến II, các quần đảo bị Nhật chiếm đóng.
Năm 1938, Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quần đảo Hoàng Sa.
Năm 1945, Nhật Bản thua trận rút khỏi Đông Dương. Pháp khôi phục lại sự có mặt của mình tại Hoàng Sa vào tháng 6/1946. Pháp trở lại đảo An Vĩnh, nhưng phải rút vì lý do chi viện cho chiến cuộc đang căng thẳng ở Bắc Việt Nam.
Suốt chiều dài lịch sử cho đến tận năm 1945, ngoài nỗ lực thị uy của chính quyền Quảng Đông năm 1909, Trung Quốc không hề có sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành chính thực tế nào trên các đảo ở biển Đông.
Cuối năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc đưa quân chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa), sau khi Pháp đặt bia chủ quyền ở đó.
Tháng 1/1947, Trung Quốc (lúc đó là quân của Tưởng Giới Thạch) đổ bộ lên đảo Woody (Phú Lâm) của quần đảo Hoàng Sa. Pháp lập tức phản đối việc chiếm hữu trái phép này của Trung Quốc và cử một phân đội ra quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí tượng này hoạt động trong suốt 26 năm với những nhân viên Việt Nam cần mẫn cho đến khi Trung Hoa đại lục cưỡng chiếm bằng quân sự vào năm 1974. Ngày nay thông tin về khí tượng thủy văn phát đi từ Hoàng Sa vẫn được toàn thế giới biết đến với danh nghĩa một trạm khí tượng của một hòn đảo nhiệt đới Việt Nam. Hai bên đàm phán tại Paris. Cũng năm 1947, Pháp đề nghị đưa vấn đề tranh chấp ra Trọng tài quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối. Năm 1950, sau khi chính phủ phải chạy ra đảo Đài Loan, quân của Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Phú Lâm.
Tháng 10/1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời. Tháng 5/1950, Quân đội Quốc dân Đảng phải rời khỏi các đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình (quần đảo Trường Sa). Các trại đồn trú của Pháp vẫn được tiếp tục duy trì ở Hoàng Sa. Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý quần đảo này. Thủ hiến Trung phần Việt Nam lúc bấy giờ là Phan Văn Giáo đã chủ tọa việc chuyển giao quyền hành quản lý quần đảo Hoàng Sa. Thời điểm này diễn ra một sự kiện quan trọng, đó là hội nghị được tổ chức tại San Francisco, California (Mỹ) giữa lực lượng Đồng minh và Nhật Bản.
Hội nghị San Fransisco diễn ra từ ngày 5/9 đến 8/9/1951, có phái đoàn của 51 quốc gia tham dự để thảo luận về vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á - Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Trong hội nghị này, Trung Hoa Đại lục và Trung Hoa Dân quốc không được mời tham dự do giữa Mỹ và Liên Xô không thống nhất được ai là người đại diện chính thức cho quyền lợi của Trung Hoa.
Ngày 5/9/1951, Ngoại trưởng Liên Xô Gromyko đã đề nghị 13 khoản tu chính. Trong đó, có khoản tu chính liên quan đến việc Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Trung Hoa đại lục đối với đảo Hoàng Sa. Hội nghị bác bỏ với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ của một hội nghị quốc tế.
Ngày 7/9/1951, cũng tại hội nghị, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại đã long trọng tuyên bố, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam: “Cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt các mầm mốmg tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”[10]. Kết thúc hội nghị là việc ký kết Hòa ước với Nhật ngày 8/9/1951. Trong hòa ước này, ở Điều 2, đoạn 7, ghi rõ: “Nhật Bản khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với tất cả các lãnh thổ mà họ chiếm bằng vũ lực trong đệ nhị thế chiến, trong số đó có các đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. 50 phái đoàn yên lặng nghe lời tuyên bố của phái đoàn Việt Nam, không quốc gia nào phản đối[11]. Trung Quốc đại lục sau đó đã phản ứng bằng cách tuyên bố bảo lưu yêu sách của họ đối với các quần đảo qua tuyên bố của bộ trưởng ngoại giao Chu Ân Lai ngày 15/8/1951. Nhưng chính quyền Tưởng Giới Thạch thì không phản ứng gì. Lúc đó, đa số các nước vẫn công nhận chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch là đại diện chính thức cho Trung Quốc.
Sau Hội nghị San Francisco, 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do chính quyền Bảo Đại quản lý. Đến năm 1954, 2 quần đảo này được đặt dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Tháng 4/1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, đội tuần tra của Pháp trên đảo Hoàng Sa được thay thế bởi đội tuần tra của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Nhưng khi đó chính quyền Trung Quốc đại lục đã bí mật cho quân đổ bộ chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (cụm An Vĩnh, tiếng Anh: Amphitrite Group, tiếng Hoa:  宣德群岛, Tuyên Đức quần đảo). Trong khi phía Tây, nhóm Lưỡi Liềm, còn gọi là Nguyệt Thiềm (tiếng Anh: Crescent Group, tiếng Hoa: 永乐群岛, Vĩnh Lạc quần đảo) vẫn do quân đội Việt Nam đóng trên đảo Pattle nắm giữ. Ngày 1/6/1956, ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo. Ngày 22/8/1956, Một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hoà cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia đá.
IV. Việc Trung Quốc sử dụng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa là trắng trợn vi phạm tuyên ngôn 1970 của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc
Ngày 4/9/1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải lý, áp dụng cho cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 
Năm 1961, quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của tỉnh Quảng Nam. Năm 1973, thuộc tỉnh Phước Tuy.
Tháng 1/1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm các đảo do quân đội Việt Nam Cộng hoà đóng, 75 sĩ quan và binh sĩ Sài Gòn hy sinh, Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Nghĩa là kể từ 1974, trong vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Việt Nam đã bị tước mất yếu tố vật chất (Corpus), nhưng chủ quyền của Việt Nam vẫn không bị gián đoạn do được đảm bảo bằng yếu tố tinh thần (Animus). Tháng 12/1982, huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được thành lập. Nhưng điều quan trọng hơn, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24/10/1970 ghi rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lưc. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp” [12]. Do đó, các hành động dùng vũ lực trái ngược với luật quốc tế của Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho nước này đối với quần đảo Hoàng Sa.
Đối với quần đảo Trường Sa, theo Jan Rowiński, cho đến thời điểm tháng 1/1974 “Trung Quốc không có khả năng gây ảnh hưởng đối với khu vực quần đảo Trường Sa, chứ chưa nói gì đến chuyện kiểm soát nó”[13]. Tháng 2.1988, Trung Quốc đưa quân đội đến chiếm một số đảo trên quần đảo Trường Sa.
Năm 1975, Việt Nam thống nhất, quân đội Nhân dân Việt Nam thay thế quân đội Việt Nam Cộng hoà tại quần đảo Trường Sa. Năm 1977, Việt Nam ra tuyên bố lãnh hải đất nước, kể cả lãnh hải của các đảo. Trong thời gian này, nhiều quốc gia khác cũng đã chiếm một số đảo của quần đảo Trường Sa.
Tháng 3/1988, lần đầu tiên Trung Quốc có mặt trên quần đảo Trường Sa bằng cách đưa quân tới xâm lược bãi đá Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma, do ba bãi đá này không có quân đội đồn trú nên Hải quân Việt Nam phải đưa quân ra bảo vệ. Ngày 11/3/1988, tàu HQ 604 (Lữ đoàn 125) của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ xuất phát từ Cam Ranh với 70 bộ đội công binh của Trung đoàn 83 và 22 bộ đội của Lữ đoàn 146 ra xây dựng cụm đảo Gạc Ma. Khi đang chuyển vật liệu lên đảo thì ba tàu chiến Trung Quốc áp sát, giật cờ, nã súng xâm chiếm đảo Gạc Ma trái phép. Sau đó, tàu Trung Quốc tiếp tục tấn công tàu HQ 605 đang bảo vệ và xây dựng đảo Len Đao và tàu HQ 505 canh giữ Cô Lin. Trận xung đột đã làm hai tàu của Việt Nam bị chìm, một tàu hỏng, 64 sĩ quan và chiến sĩ hy sinh, 9 người bị phía Trung Quốc bắt làm tù binh. Trung Quốc còn chặn không cho tàu mang cờ Chữ Thập Đỏ ra cứu hộ. Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, thương vong 24 thủy binh. Kể từ đó Trung Quốc chiếm đóng Gạc Ma.
Tháng 4/1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo Hải Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tháng 5/1989, Trung Quốc chiếm thêm một đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa.
Năm 1990, Trung Quốc đề nghị khai thác chung quần đảo Trường Sa.
Năm 1992, Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nữa.
Năm 1994, Đụng độ giữa Việt Nam và một chiếc tàu Trung Quốc nghiên cứu cho Công ty Crestone.
Tháng 2/1995, Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn, một đảo đá nhỏ do Philippines quản lý trên quần đảo Trường Sa.
Hiện nay Trung Quốc kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Còn quần đảo Trường Sa thì do sáu quốc gia và vùng lãnh thổ chiếm giữ là Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei.
***
Những sự kiện vừa dẫn ra ở trên cho thấy ý đồ và bước đi của nhà cầm quyền Trung Quốc trong nhiều thế kỷ qua đã diễn ra theo một logic đáng ngại cho hòa bình và công pháp quốc tế. Nhưng không dừng ở đó, tháng 5/2014, Trung Quốc đã đưa giàn khoan khổng lồ Haiyang Shiyou 981 cùng với hàng chục máy bay chiến đấu, hàng trăm tàu bán quân sự và quân sự vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Thực chất đây là một cuộc xâm lăng với tất cả các dấu hiệu vừa “cổ điển” vừa chưa có tiền lệ của nó. Cổ điển vì đã vượt biên giới, có vũ khí, hành động đơn phương với mưu đồ cưỡng chiếm lãnh thổ và thôn tính dài lâu. Nhưng lại chưa có tiền lệ vì sử dụng “lãnh thổ di động”, chưa nổ súng và có thể không nổ súng nhưng vẫn có khả năng biến lãnh thổ quốc gia khác thành vùng tranh chấp rồi mới cưỡng đoạt. Giấc mộng Trung Hoa trên thực tế đã dần trút bỏ “lá nho che đậy không kém phần trơ trẽn” của nó[14].
“Những gì mà Trung Quốc đang làm khác rất xa những gì mà Trung Quốc nói”, đây là nhận định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc họp báo ngày 22/5/2014 tại Manila, nhân chuyến viếng thăm cấp quốc gia của Ông tại Philippines. Tại cuộc họp báo này, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đã nói rõ: “Chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển. Nhất định Việt Nam không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”[15].
Điều Thủ tướng nói chính là điều thuộc về ý nguyện của nhân dân.
 
 
Hồ Sĩ Quý *


* GS.TS., Viện Thông tin Khoa học xã hội.
[1]. Xem: Lưu Văn Lợi (1995). Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nxb. Công an nhân dân. // Trần Xuân Hiến (2014). Tư liệu Hoàng Sa Trường Sa trong thư tịch cổ Trung Quốc (TL Viện Thông tin KHXH). // Thư tịch cổ Trung Hoa thừa nhận Hoàng Sa Trường Sa thuộc Việt Nam. http://www.biendong.net/hoang-sa-truong-sa/372-th-tch-trung-hoa-tha-nhn-hoang-sa-trng-sa-thuc-vit-nam.html.
Về tên gọi Hoàng Sa: Năm 1838 nhà truyền giáo người Pháp Joan-Luis-Taberu đã xuất bản cuốn "Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum (“Từ điển Việt-Latin”). Trong đó quần đảo Hoàng Sa được định nghĩa là “Paracel seu Cát vàng”. Tiếp sau đó, nhà địa lý Hà Lan Villem Blau chính thức đặt tên cho đảo này bằng tiếng châu Âu là "Pracel". Về sau do sự mai một của thời gian và các nhà đi biển người Pháp truyền khẩu không chính xác nên “Pracel” đã bị gọi chệch đi thành “Le Paracel.” (Xem: Вьетнамцы никогда не смирятся. газета.ru  1/6/2014. http://www.gazeta.ru/science/2014/06/01_a_6054413.shtml.).
[2]. Xem: Keith Johnson (2014). Lord of the Sea, Foreign Policy, 2014, May 16. http://www.foreignpolicy.com/articles/2014/05/16/lord_of_the_sea // Phạm Hoàng Quân (2013). Về địa danh và vị trí vạn lý trường sa, vạn lý thạch đường trên địa đồ hàng hải thời Minh ở Thư viện Đại học Oxford. http://boxitvn.blogspot.com/2013/01/ve-ia-danh-va-vi-tri-van-ly-truong-sa.html // Phạm Hoàng Quân (2013). Phân tích tổng quan nguồn sử liệu Trung Hoa liên quan đến biển Đông Việt Nam. http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=6363&CategoryID=42.
[3]. Viking: thuật ngữ chỉ những nhà thám hiểm tài ba, phiêu lưu trên biển.
[4]. Nhiều tài liệu đã mô tả kỹ quá trình này. Mới đây, TS. Trần Công Trục một lần nữa mô tả chi tiết lịch sử chiếm hữu và khẳng định, Nhà nước phong kiến Việt Nam suốt từ thời chúa Nguyễn, qua thời Tây Sơn đến thời các triều Nguyễn, với 3 triều đại khác nhau, đều đã thực hiện sứ mệnh thiêng liêng với tư cách Nhà nước Đại Việt, tiến hành chiếm hữu và thực thi chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Xem: Trần Công Trục (2014). Hoàng Sa, Trường Sa chưa từng thuộc về Trung Quốc. http://dantri.com.vn/chinh-tri/ky-2-chu-quyen-lich-su-khong-phai-de-chung-minh-chu-quyen-881793.htm
Về điều này, sách trắng của Việt Nam công bố 1988 “Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế” cũng đã dẫn các nguồn tài liệu có giá trị như Đại Nam thực lục tiền biên (1600-1775), Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1630-1653), Phủ biên tạp lục (1776), Đại Nam thực lục chính biên (1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (bộ sách địa lý lịch sử chung của Đại Nam 1865-1882), Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876), các châu bản triều Nguyễn về các bản tấu, phúc tấu, các dụ của các vua, và hàng loạt bản đồ, tài liệu… của nước ngoài.
[5]. Trích theo: Thái Văn (2014). Hoàng Sa, chủ quyền Việt Nam không thể tranh cãi. (Trường Sa ở đây là một hòn đảo thuộc Hoàng Sa). http://www.phununet.com/tin-tuc/hoang-sa-chu-quyen-viet-nam-khong-the-tranh-cai-ky-1/5c-3404sc-660324n.html.
[6]. Вьетнамцы никогда не смирятся. газета.ru  1/6/2014.http://www.gazeta.ru/science/2014/06/01_a_6054413.shtml.
[7]. Xem: Lưu Văn Lợi (1995). Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nxb. Công an nhân dân.
[8]. L’Éveil économique de l’Indochine số 394, 398, 491, 602, 627, 644 …
[9]. L’Éveil économique de l’Indochine. 4/5/1930. - No 672,  tr. 18…
[10]. Les États Associés à la conference de San Francisco. les 6 et 7 Septembre 1951: Viet-nam Declaration du Président Trần Văn Hữu. // France-Asie – Saigon, 1951, 6o année, tome VII, 66-67 (Déc. 1951), pp. 502-505.
[11]. Phạm Ngọc Bảo Liêm (2010). Hội nghị San Francisco với vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tạp chí Xưa và Nay, Số 360, 7/2010.
[12]. Declaration on Princ Ples of International Law Concerning Friendly Relations and Co-operation among States in Accordance with the Charter of The United Nations. United Nations General Assembly Resolution 2625 (XXV), 24 October 1970. http://thuvienphapluat.vn/archive/Dieu-uoc-quoc-te/Tuyen-bo-nguyen-tac-cua-Luat-Quoc-te-dieu-chinh-quan-he-huu-nghi-hop-tac-giua-cac-quoc-gia-phu-hop-voi-Hien-chuong-lien-hop-quoc-1970-vb65775t31.aspx.
[13]. Rowiński Jan (1990). Biển Đông, khu vực tiềm tàng tranh chấp ở châu Á, Warszawa. (Trích theo: Nguyễn Thái Linh (2014). Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế. http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=42&News=4605).
[14].同主题阅读:[ZGPT]未来50年中国的六场战争:将彻底打破世界格局
http://www.mitbbs.com/article_t/MiscNews/31207047.html (Website Chinanew nói về 6 cuộc chiến tranh mà Trung Quốc sẽ tiến hành để thực hiện Giấc mộng Trung Hoa trong 50 năm tới: 1/ Đài Loan 2020-2025; 2/ Biển Đông 2025-2030; 3/ Tây tạng 2035-2040; 4/ Điếu Ngư-Lưu Cầu 2040-2045; 5/ Ngoại Mông 2045-2050; Nga 2055-2060. Từ năm 2011 đến nay, 6/2014, bài viết này đã bị phản đối gay gắt trên khắp thế giới. Nhưng Trung Quốc vẫn không chịu gỡ bỏ).
[15]. Thủ tướng: Không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông. http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/thu-tuong-khong-danh-doi-chu-quyen-lay-huu-nghi-vien-vong-2994075.html
[16]. Các tư liệu ảnh trong bài lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam).

Tưởng Năng Tiến - Bánh Vẽ và Áo Giấy

Bốn mươi năm trước, khi luận về chuyện “Chúng Ta Qua Tiếng Nói,” nhà văn Võ Phiến đã có lời bàn:

 “Chúng ta chỉ lấy làm quan trọng những ghi nhận của giác quan bằng những hình dạng màu sắc v.v. Mũi thì gọi là cái mũi, nhưng mắt lại là con mắt; trâu thì lúc nào cũng là con trâu, nhưng kiến thì có thể là cái kiến. Một bên linh động, một bên không linh động; một bên là giọng bình thường, một bên bị khinh thị: những ghi nhận như thế chúng ta không bỏ qua…

Chúng ta nói tiếng nói của giác quan, mà cũng là tiếng nói của tình cảm nữa.”

Lão thợ rèn, gã thợ rèn, ông thợ rèn, bác thợ rèn…, tất cả đều là người thợ rèn.Nhưng mỗi người đặt trong một quan hệ tình cảm khác nhau đối với kẻ nói … Chúng ta không nói một cách ‘khách quan’.Chúng ta nói đến một người nào là đồng thời nói luôn cả cái tình cảm của mình đối với người ấy.


Thái độ ấy không khỏi làm ngỡ ngàng người ngoại cuộc. Hãy tưởng tượng cái tình cảnh khốn đốn của một người Pháp, người Anh học tiếng Việt, mỗi lần ậm è cân nhắc giữa những gã, lão, ông, bác v.v. để chọn lựa một tiếng thích hợp. Hễ động nói đến ai cũng phải khai trình minh bạch liên hệ tình cảm, sao mà khổ sở quá vậy?

…Đã từ hai nghìn năm nay, chúng ta được biết một đức Khổng Tử. Hồi đầu năm 1974 này, có 48 chiến sĩ Việt Nam bị quân đội Trung Cộng bắt từ quần đảo Hoàng Sa đem về Quảng Châu giam giữ. Tại đây, lần đầu tiên họ nghe nói đến một tên Lâm Bưu với một thằng Khổng Tử! Họ sững sờ.”

 Bốn mươi năm sau, sau những giây phút “sững sờ” thì bối rối là tâm cảm chung của người dân miền Nam – nơi mà người ta quen gọi nhau là ông đạp xích lô hay bà lão ăn mày – khi nghe nói đến đủ thứ tên hay thằng như thằng Ken-nơ-đi, thằng Gion-xơn, thằng Ních-xơn, thằng Diệm, thằng Thiệu, thằng Kỳ…  Ai vẫn cứ gọi theo thói quen là ông Kennedy, ông Johnson, ông Nixon, ông Diệm, ông Thiệu, ông Kỳ…  (dám) sẽ bị lôi thôi ngay, và (không chừng) còn bị qui chụp là đã “chao đảo” về “lập trường chính trị!”

 Cùng lúc, dân chúng ở vùng đất vừa được giải phóng lại được biết thêm một số người cầm lái vĩ đại (những vị lãnh tụ kính yêu của toàn thể nhân dân vô sản trên toàn thế giới) qua hình ảnh tràn ngập khắp nơi, cùng với cách gọi hết sức thân thương – nghe cứ y như thể là bà con ruột thịt trong nhà vậy: bác Hồ, bác Mao, bác Kim, bác Lê-nin, bác Xít-ta-lin, bácPhi-đen Cát-xtơ-rô …

 Các bác không chỉ được nhắc nhở qua những bản tin, hay cuốn phim thời sự mà còn qua thơ văn nữa:

 Bác Mao chẳng ở đâu xa

Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao

 Nói chung, quí bác đều được xưng tụng như thần thánh hay những giáo chủ. Còn tín đồ cũng không phải loại quần chúng vớ vẩn, bình thường mà toàn thuộc thành phần chọn lọc.

 Họ đều thuộc “diện” nông dân giác ngộ, công nhân tiên tiến, chiến sĩ thi đua, tư sản tiến bộ, trí thức yêu nước, nghệ sĩ nhân dân, nhà giáo ưu tú… Họ cũng đều xuất thân từ những gia đình có công với cách mạng, gia đình thuộc diện chính sách, gia đình văn hóa… Và tất cả đều đang phục vụ trong những ban ngành, hay đơn vị xuất xuất sắc, luôn luôn sản xuất đạt tiêu chuẩn và vượt chỉ tiêu.

 Trong một thời gian dài, những danh hiệu vừa nêu được mặc nhiên coi như là phần thưởng tinh thần để bù đắp (ít nhiều) vào đồng lương khiêm tốn, cùng với những thiếu thốn thương trực trong cuộc sống hàng ngày – khi mà “khó khăn là hoàn cảnh chung của cả nước” nên cũng không có chi để so bì, và cũng chả có ai để mà so sánh.

 Cho đến lúc cuộc chiến tàn, bên thắng cuộc mới nhìn thấy được tận mắt thấy cảnh “phồn vinh giả tạo” của phe bại trận, và được nhấm nháp chút hương vị thực sự của cuộc đời – thay vì chỉ là danh hiệu, hay khẩu hiệu – qua những sản phẩm tiêu thụ hàng ngày ở bên kia chiến tuyến.

 Từ đây, mới bắt đầu có hiện tượng Samit nói ít hiểu nhiều. Ba Con Năm (555) vừa nằm vừa ký. Qua đến thời kỳ đổi mới, rồi hội nhập với thế giới thì cả nước cùng lăn xả vào những bữa tiệc đời, chưa thấy bao giờ  – trước đó.

 Giới lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay (những vị mà chữ ký có thể mang về số tiền lại quả cỡ hàng triệu Mỹ Kim) ăn uống, chia chác ra sao là chuyện thuộc lãnh vực an ninh quốc gia và bí mật quốc phòng nên rất ít người được biết đến. Đụng tới họ là tù tội tức thì.

Còn cách “hưởng thụ” của quần chúng thì đã được “phản ảnh,” dù  tận nước ngoài – nơi có treo những tẩm biển nhắc nhở, đại loại như: XIN VUI LÒNG ĂN BÂY NHIÊU LẤY BẤY NHIÊU.

Hay những tấm bảng CẢNH CÁO VỀ TỘI PHẠM TRỘM CẮP:

Ngày 17 tháng 6 năm 2014 vừa qua, trên trang mạng Stomp(Singapore)  xuất hiện một bản tin ngắn, cùng hình ảnh, về một phụ nữ Việt Nam bị bắt vì tội móc túi, và bị làm nhục giữa chợ – ở Mã Lai.

Sự kiện này khiến cho nhiều bậc thức giả phải suy nghĩ và băn khoăn không ít. Blogger Nguyễn Hoàng Đức … kêu trời:

 “Còn nghĩ gì ư? Một nỗi nhục đã hiển hiện ra như thế mà vẫn còn nghĩ quanh co để lẩn trốn nỗi xấu hổ ư? Là người Việt chắc chúng ta chẳng lạ gì con người và quê hương, vì đấy là máu thịt giống nòi của ta, nó thân quen như quả cà với bát tương… nhưng thử ôn một tí kẻo chúng ta quên: mới đây Nhật cảnh báo số vụ ăn trộm của người Việt chiếm 40% các vụ trộm cắp ở Nhật.

Trời ơi, có một rúm người Việt trên đất Nhật mà ăn cắp bằng gần một nửa cả thế giới cộng lại… như vậy có phải người Việt ăn cắp thường trực không? Ăn cắp đã thế còn gian tham thì ở cỡ nào? Mới đây một cô gái Việt bị treo biển làm nhục giữa chợ trên đất Malaxia, sao cô ta lại không phải là người nước khác nhỉ?

 Các nước Bắc Âu đã từng đặt camera theo dõi các công nhân Việt Nam, thấy họ ăn cắp thường trực mọi lúc mọi nơi, và đã đặt một cái tên “Không thể làm ăn với Việt Nam”. Một người Nhật mới đây nói thẳng “người Việt mãi mãi hèn khổ vì gian vặt, ăn cắp vặt, một mét dây cao cấp giá dăm triệu, bị người Việt cắt vụn ăn cắp bán có vài trăm, thế thì bao giờ mới giầu mạnh được?”

 Nhạc sĩ Tuấn Khanh cũng phải bầy tỏ đôi lời cảm thán:

 “Người Việt đã trãi qua nhiều khốn khó, sự kiện một phụ nữ Việt ăn cắp bị bắt, làm nhục tại Kepong, Baru nhắc lại những điều chúng ta đã đổ vỡ, nhắc những điều chúng ta cần làm nhưng chưa thể…

 Giờ phút chúng ta nhìn lại, giữ lại cho dân tộc mình đã đến. Giờ phút đó gõ cửa từng nhà và nhắc rằng chúng ta là một dân tộc có 4000 năm văn hiến. Giờ phút buộc chúng ta nhớ lại rằng lịch sử cha ông không xấu xí như hôm nay, lịch sử của một dân tộc hiền hòa biết kính trên, nhường dưới, thương trẻ mến già.

 Cuộc sống có đúng sai, nhưng không có chỗ của cái ác mà chúng ta nhìn thấy ở đám đông người Hoa tại Malaysia. Việt Nam có thể một người ăn cắp nhưng Việt Nam không tiếc sức để tìm kiếm những người Malaysia, người Hoa không quen biết trên chiếc máy bay MH-370 bị mắc nạn trên đại dương. Trong những dòng tin nhắn mà tôi nhận được, ghi rằng “thật xấu hổ cho người phụ nữ Việt Nam này, nhưng còn xấu hổ hơn nữa cho đất nước Malaysia”.

 Chuyện còn “đáng xấu hổ hơn nữa” của “đất nước Malaysia” (nói thiệt) tôi không dám lạm bàn. Tôi cũng chưa bao giờ có được những ý nghĩ sâu sắc như những tác giả thượng dẫn.

 Dòng chữ  nhắc nhở (“ĂN KHÔNG HẾT SẼ BỊ PHẠT”) hay hình ảnh những phi công hoặc tiếp viên hàng không Việt Nam bị bắt giữ vì tình nghi có liên quan đến hàng hoá trộm cắp chỉ khiến tôi nhớ đến đoàn người rồng rắn trước mấy cửa hàng quốc doanh (để chờ mua mấy cân thịt hay vài mét vải) cùng những bức tường nhà treo tá lả đủ thứ bảng danh hiệu, giấy khen, giấy chứng nhận, giấy ghi công, bằng tuyên dương, bằng tưởng thưởng … ở cái đất nước khốn khổ của mình.

 Tại vì dân Việt đã sống thiếu thốn quá lâu, hay vì chúng ta đã bị ép mặc áo giấy và ăn bánh vẽ quá nhiều nên khó có thể “cầm lòng” khi được nhìn thấy thực phẩm hay hàng hoá bầy ê hể bầy ra trước mắt?

Có lẽ tại cả hai!
    Tưởng Năng Tiến
( Theo Alan Phan Blog )

Ai Tạo Ra Trận Chiến Facebook ?

Báo Nhân Dân Online hôm Thứ hai 21/7 đăng lại một bài viết ký tên Tuấn Hưng (được Nhân Dân Online tiết lộ là của Blogger Nhạn Biển) chạy tội cho nhà cầm quyền CSVN trong việc huy động “dư luận viên” lợi dụng điểm yếu của Facebook hiện nay, để report đóng cửa nhiều trang Facebook của một số Facebooker Việt Nam và đổ vụ việc này cho đảng Việt Tân.
CSVN đã từng chơi trò “ném đá giấu tay” này từ lâu; nhưng khi bị Phóng viên Kính Hòa của RFA lột mặt nạ qua bài “Cuộc chiến Facebook” loan tải hôm 15/7 thì chính Hà Nội đã mở chiến dịch vừa huy động dư luận viên report đánh sập nhiều trang Facebook, vừa đổ hô rằng Việt Tân đã đánh sập nhiều trang Facebook ủng hộ chế độ hay những ai từng chống Việt Tân.
Thậm chí trong bài viết, Tuấn Hưng còn phịa ra cái gọi là chiến dịch KVCT (Kill Vietnam Communist Team) rồi gắn tên Lương Xuân Việt, chuẩn tướng thủy quân lục chiến quân đội Hoa Kỳ, phong làm tổng chỉ huy quân lực VNCH tại Nam California… lập ra đơn vị biệt kích mạng nhằm tiêu diệt tất cả tài khoản facebook của bọn dư luận viên, đảng viên cộng sản…
Những mô tả của Tuấn Hưng nói trên chỉ có trong đầu óc bệnh hoạn của những chế độ độc tài luôn luôn tìm mọi cách ngăn chận luồng suy nghĩ độc lập, tự do của cư dân mạng.
Facebook là mạng xã hội mà tính năng tương tác giữa con người với con người rất đa dạng và rộng lớn với 1,5 tỷ người truy cập hàng giây chứ không phải hàng giờ. Riêng Việt Nam có đến 24,6 triệu người sử dụng trong đó có đến 81% cư dân mạng truy cập hàng phút.
Với một diễn đàn rộng lớn như vậy, thông tin được truyền đi nhanh chóng, và cũng là nơi ra đời nhiều hội, nhóm khác nhau để các thành viên chia xẻ những thông tin, những ý kiến về xã hội, tình hình đất nước.
Chính điều này đã trở thành nỗi lo sợ của các chế độ độc tài vì những gì được kết tụ trên mạng ảo sớm muộn gì cũng diễn ra trong cuộc sống thực, trên đường phố. Biến cố Bắc Phi xảy ra vào mùa Xuân năm 2011 đã chứng minh điều này.
Do đó Ban Tuyên giáo CSVN đã thành lập đội dư luân viên với một số nhiệm vụ trọng điểm:
1/Lập đi lập lại những Comment tục tĩu, chửi bới lung tung trên các Post của những bài viết phê phán chế độ để làm nản chí những người muốn vào đọc và trao đổi các comment. Tức là phá hủy một chức năng rất quan trọng của Facebook là chia xẻ ý kiến, bày tỏ sự ủng hộ bên cạnh chức năng Like.
2/Huy động đông đảo dư luận viên report sai trái với công ty Facebook về những post mà chế độ Hà Nội thấy là thất lợi cho chế độ hay có những ảnh hưởng tiêu cực đối với đảng CSVN.
3/Lợi dụng kẽ hở của Facebook, huy động hàng ngàn dư luận viên report những trang facebook của một số người có ảnh hưởng trong cộng đồng mạng để đánh sập.
Nếu CSVN không dùng dư luận viên làm những trò bỉ ổi nói trên, Facebook sẽ là diễn đàn đóng góp rất lớn cho hai nhu cầu nâng cao quyền con người và mở mang dân trí.
Khi CSVN coi việc kiểm soát tài khoản cá nhân trên mạng Facebook như quản lý sim điện thoại hiện nay (dù đã bị thất bại) cho thấy là chế độ này quá hoang tưởng và quá lo sợ những gì phát triển nằm ngoài tầm kiểm soát.
Chính vì muốn kiểm soát mà lại kiểm soát không được - ngược với trào lưu chung – nên CSVN mới bày trò phá bỉnh và chính họ mới là kẻ tạo ra cuộc chiến Facebook hoang tưởng.
Lý Thái Hùng
(Việt tân)
 

Nối lại ODA cho Việt Nam: Tại sao là Nhật?

Nối lại ODA cho Việt Nam: Tại sao là Nhật?


(VNTB) Chỉ khoảng một tháng sau quyết định tạm ngừng viện trợ không hoàn lại ODA cho các dự án quá nhiều tai tiếng ở Việt Nam, Tokyo lại tiếp tục chương trình này.
Một động thái “lạ” từ phía nhà cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam.
Trong khi đó, vụ việc hối lộ tại Công ty tư vấn giao thông Nhật Bản (JTC) vẫn chưa có hồi kết. Những quan chức Việt Nam bị nghi nhận hối lộ vẫn chưa được điều tra tới nơi tới chốn.
“Bò sữa”
Đã từ quá lâu, ODA là một loại sân chơi bòn rút dành riêng cho giới quan chức tại một số cấp chính quyền trung ương và địa phương phụ trách lĩnh vực này. PMU18 là một minh họa điển hình, khi vào năm 2006 vụ việc gây chấn động này đã trở nên một hình ảnh tương phản kỳ quặc giữa người dân thế giới chắt chiu đóng thuế và một kẻ như Bùi Tiến Dũng đục khoét tiền viện trợ để tắm bia và mua dâm; giữa sự phát giác chỉ đến từ báo chí và dư luận quốc tế và thói quen im lặng trong suốt một thời gian dài của các cơ quan hữu trách Việt Nam.
Cho đến khi nổ ra vụ án PCI – Đại lộ Đông Tây ở TP.HCM năm 2008, dư luận thế giới mới hiểu rõ chân tướng thực của những kẻ như Huỳnh Ngọc Sĩ và tật đục khoét ký sinh đã trở nên trắng trợn hơn bao giờ hết. Một lần nữa, người dân đóng thuế ở các nước phát triển lại có đầy đủ lý do để quan ngại sâu sắc về môi trường vừa thiếu minh bạch vừa tràn lan tham nhũng trong nhiều lĩnh vực ở Việt Nam, mà ODA chắc chắn là một hiện hình trong số đó.
Nhưng từ năm 2006 đến nay, những kỳ quặc tiếp theo cũng lại đã xảy ra, hầu như công khai, vì từ sau vụ PMU18, đã chẳng có bất kỳ trường hợp sâu mọt nào trong lĩnh vực nhận viện trợ ODA được chính quyền Việt Nam chủ động công bố. Những phát hiện từ cơ quan chức năng về hành vi vi phạm ODA, dù chỉ rất ít về số lượng, nhưng cũng không vì thế mà được công khai khi luôn tồn tại vô số rào cản vô hình ở phía trước.
Chỉ đến đầu tháng 6/2012, sự việc Đại sứ quán Đan Mạch phải đi đến quyết định dừng 3 dự án viện trợ ODA cho Việt Nam, cùng lúc website của cơ quan này đã đăng tải toàn bộ kết quả kiểm toán tài chính các dự án, mới trở thành tiền lệ đầu tiên về phản ứng quyết liệt không tránh khỏi của khối quốc gia phát triển đối với một đất nước đã có quá nhiều tiền lệ về nạn tham nhũng, trong đó ODA luôn là một lĩnh vực được ví như “bò sữa”.
Ăn cắp vặt
Với nghi án nhận hối lộ từ JTC của Nhật Bản, một lần nữa, lời hứa “sẽ kiên quyết chống tham nhũng” của một số quan chức quản lý nào đó của Việt Nam lại có nguy cơ bị biến thành một thứ bong bóng ứ đầy bụng song lại quá dễ để xì hơi.
Tật xấu của người Việt – một trạng thái nhận thức và lối hành xử ti tiện trong nạn ăn cắp vặt, khiến cho chính chúng ta, những người dân Việt, đã thường phải thốt lên lời ta thán về thể diện quốc gia đã rước vào thân nỗi nhục quốc thể.
Vẫn còn đến 30 tỷ USD viện trợ ODA được các nhà tài trợ nước ngoài cam kết giải ngân. Vẫn còn nhiều công trình giao thông sử dụng đậm vốn ODA và nhiều dự án được xem là quốc kế dân sinh, xóa đói giảm nghèo ở nhiều địa phương khác…
Nhưng nhìn vào một thời gian đắm chìm quá lâu của công tác quản lý vốn ODA ở Việt Nam kể từ sau vụ PMU18, liệu các nhà tài trợ có nhất thiết phải đổ tiền vào một môi trường vẫn thiếu minh bạch về tài chính cùng nạn tham nhũng chỉ có tiến mà không chịu lùi?
Câu trả lời gần như là không còn cần thiết nữa, lồng trong cận cảnh gánh nợ ODA sẽ tiếp tục chồng chất lên đầu người dân nghèo Việt như một cái giá quá đắt phải trả thay cho giới ăn cắp vặt.
Tại sao là Nhật?
Việc Nhật Bản vẫn tiếp tục cung cấp nguồn tài chính ODA trong bối cảnh nạn tham nhũng ODA đang tràn ngập ở Việt Nam cho thấy lợi ích kinh tế của nước tài trợ là không phải nhỏ. Khác hẳn với trường hợp một số quốc gia như Đan Mạch và Thụy Điển đã cắt giảm khá nhiều viện trợ ODA đối với Việt Nam, nước Nhật dường như phụ thuộc nhiều hơn vào nghị trình đàm phán TPP và chủ ý chính trị của người Mỹ.
Có lẽ đó cũng là nguồn cơn sâu xa và phần nào bí ẩn khi tại cuộc xem xét báo cáo đầu ra của Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) về nhân quyền đối với Việt Nam vào tháng 6/2014, có đến 100% thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc tán thành với báo cáo “đã thực hiện hơn 80% khuyến nghị” của phái đoàn Việt Nam.
Trong trường hợp này, kinh tế khá thường song hành với chính trị.
Trường Sơn
(Việt nam Thời báo)

Sự thật của chiến tranh Việt Nam

Tháng 07, 2014
 
Toàn bộ phần chuyển ngữ:
 
Trở lại cách đây vài thập niên, Nam Việt Nam và Hoa Kỳ lúc đó đang chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nam một cách dứt khoát theo bất cứ thước đo nào
Đó không phải chỉ theo quan điểm của tôi. Đó cũng là quan điểm của kẻ thù của chúng ta: cán bộ nhà nước cộng sản VN.
Chiến thắng đã là điều hiễn nhiên khi Tổng Thống Nixon ra lệnh không lực Mỹ dội bom các cơ sở kỹ nghệ và quân sự tại thủ đô Hà Nội và tại thành phố cảng Hải Phòng.
Và sẽ ngưng dội bom nếu cộng sản Bắc Việt đồng ý trở lại bàn hội nghị hòa bình tại Paris mà họ đã rời khỏi trước đó. Cộng sản miền Bắc quả thực đã phải trở lại bàn hội nghị và chúng ta ngưng dội bom như đã hứa.
Ngày 23/01/1973, Tổng Thống Johnson đọc bài diễn văn trước toàn dân vào giờ cao điểm công bố rằng Hiệp ước hòa bình đã được ký tắt bởi Hoa kỳ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam, VC(MTGP) và sẽ được chính thức ký vào ngày 27/01/1973.
Những gì mà Hoa Kỳ và Miền Nam Việt Nam đạt được từ hiệp ước là chiến thắng.
Tại Tòa Bạch Ốc, ngày này được gọi là “Ngày chiến thắng tại Việt Nam”
Hoa Kỳ đã bảo vệ cho chiến thắng này với một điều cam kết đơn giản ghi trong Hiệp ước.
Đó là: nếu Nam Việt Nam cần bất cứ thiết bị quân sự để tự vệ mình chống lại hành động xâm lược của Bắc Việt, Mỹ sẽ cung cấp viện trợ thay thế cho Miền Nam từng món một, 1 viên đạn cho 1 viên đạn, 1 trực thăng cho 1 trực thăng. Thay thế cho tất cả trang cụ bị mất mác. Việc xâm nhập của lực lượng quân sự từ cộng sản miền Bắc đã bị ngừng lại vì những thỏa thuận đó.
Nhưng những cam kết của Mỹ đã bị đổ vở. Nó đã xảy ra theo cách thức như vầy: một năm sau, vào tháng 08/1974 Tổng Thống Nixon từ chức vì vụ “xì căn đan” Watergate. Ba tháng sau ngày Nixon từ chức, cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 11/1974 với kết quả là đảng Dân Chủ thắng lớn tại Hạ Viện. Đảng Dân Chủ tại Hạ Viện đã dùng số đa số mới đạt, đã hủy diệt những điều cam kết của Mỹ về viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam nhằm thay thế quân cụ theo cách một cho một, hủy hoại hoàn toàn những cam kết của chính quyền Mỹ với miền Nam Việt Nam tại Paris là cung cấp toàn bộ thiết bị quân sự mà chính quyền Việt Nam
Cộng Hòa cần đến trong trường hợp miền Bắc xâm lược. Nóí một cách đơn giản và chính xác là đại đa số dân biểu đảng Dân Chủ của QH Mỹ lần thứ 94 đã không giữ lời cam kết của nước Mỹ.
Ngày 10/04/1975, Tổng Thống Gerald Ford đã trực tiếp thỉnh cầu các dân dân biểu của Quốc hội Mỹtrong một phiên họp vào buổi tối của lưỡng viện được trực tiếp truyền hình trên cả nước.
Trong bài diễn văn Tổng Thống Ford đã cầu khẩn lưỡng viện hãy giữ lời cam kết của Mỹ. Trong khi Tổng Thống Ford đọc bài diễn văn, nhiều dân biểu của đảng Dân chủ đã bỏ phòng họp đi ra ngoài.
Nhiều vị này đã góp phần tạo nên sự đổ vỡ và thất bại tại Việt Nam. Chính họ đã từng tham gia vào các cuộc biểu tình chống lại việc giúp Miền Nam VN chiến đấu chống cộng sản miền Bắc trong nhiều năm. Và đương nhiên họ từ chối cung cấp viện trợ cho miền Nam Việt Nam.
Ngày 30/04/75 Miền Nam đầu hàng và hàng loạt trại tù gọi là cải tạo được CS VN dựng lên khắp cả nước và hiện tượng thuyền nhân đã bắt đầu.
Nếu người dân miền Nam Việt Nam nhận được viện trợ từ Mỹ như đã được cam kết, có thể nào kết quả sẽ khác đi?
Thật ra kết quả trước đó đã khác rồi. Lãnh đạo cs miền Bắc đã thừa nhận họ chỉ thử Tổng Thống mới đắc cử G. Ford xem ông phản ứng ra sao với hành động vi phạm hiệp ước của họ bằng cách tấn công lấn chiếm hết làng này đến làng khác rối tiếp theo là thành phố, rồi các tỉnh lỵ. Và Hoa Kỳ chỉ đáp lại bằng hành động phản bội lại những điều chính Hoa Kỳ đã từng cam kết. Mỹ đã từ chối tái cung cấp khí cụ cho dân chúng miền Nam Việt Nam theo như Mỹ đã từng hứa cam kết. Từ lúc đó bộ đội Miền Bắc biết rằng họ đang trên đường tiến tới chiếm đóng thủ đô Sài gòn của MN VN. Thành phố này sau đó nhanh chóng được đổi tên thành phố Hồ chí minh.
Cựu Thượng nghị sĩ William Fulbright của tiểu bang Arkansas, nguyên là chủ tịch Ủy Ban Đối Ngoại, đã tuyên bố công khai về vấn đề miền Nam Việt Nam đầu hàng. Ông nói như vầy: “Tôi không buồn rầu hơn so với tôi buồn rầu về việc Arkasas thua Texas một trận banh bầu dục”.
Mỹ đã biết rỏ miền Bắc có khả năng sẽ vị phạm trắng trợn Hiệp ước Paris, do đó Mỹ đã có kế hoạch đối phó. Điều mà chúng ta không biết là chính quốc hội Mỹ của chúng ta lại vi phạm trắng trợn hiệp ước đó. Và Hoa Kỳ đã vi phạm mọi điều khoản ghi trong Hiệp ước, thay mặt cho cộng sản miền Bắc.
Đó là những gì đã xảy.
Tôi là Bruce Hutchinson
Sau khi Sải gòn bị thất thủ, hơn một triệu người dân miền Nam bị đưa vào các trại giam cải tạo trong vùng quê, rừng thiên nước độc.
250.000 người đã bị chết tại đó, những nạn nhân của các vụ hành quyết tập thể, tra tấn dã man, bệnh tật, và thiếu dinh dưởng.
Từ năm 1975 đến 1995, hai triệu người miền Nam Việt Nam đã đào thoát trốn khỏi đất nước của họ, vượt Biển Đông trên các chiếc thuyền mong manh không đủ trang bị để mưu tìm tư do.
Được thế giới biết đến là Thuyền Nhân, ước tính là có khoảng 200 ngàn người trong số họ đã bị chết trong nỗ lực đó-tìm tự do-nạn nhân của chết đuối và của bị giết hại bởi bọn hải tặc.
Hiện giờ Việt Nam vẫn còn bị cai trị bởi một nhà nước cộng sản chuyên chế.
Nhưng họ lại từ bỏ tất cả lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa cộng sản mà họ đã căn cứ vào đó đưa vô số người dân cùng chung huyết thống của họ ra làm vật tế thần.
Trình bày: Bruce Hutchinson
 
Chuyển ngữ và phụ đề tiếng Việt
Ngày 22 tháng 07 năm 2014

Ngô Nhân Dụng - Putin tự hại

Tổng thống Nga Vladimir Putin. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Tổng Thống Nga Vladimir V. Putin
Tổng Thống Nga Vladimir V. Putin đang lâm vào thế bí sau khi chiếc máy bay MH-17 của Hàng Không Mã Lai bị bắn hạ, làm chết 298 người.
Cả thế giới công nhận một hỏa tiễn SA-11 của Nga đã bắn rớt chiếc phi cơ này, từ vùng đất do quân phiến loạn kiểm soát, do ông Putin tiếp tế vũ khí và đưa biệt kích Nga sang chỉ huy. Nhưng ông Putin vẫn chối; trâng tráo nhất là các đài ti vi Nga đổ tội cho chính phủ Ukraine, với cơ quan tình báo Mỹ CIA đứng sau lưng. Nhưng quân đội Ukraine chưa bao giờ dùng đến loại hỏa tiễn từ dưới đất bắn lên (địa không) trong các cuộc tiễu trừ phiến loạn, giản dị vì quân nổi loạn chưa bao giờ có máy bay. Quân đội Nga hay Ukraine đều có khả năng xác định một chiếc máy bay trên cao 10,000 mét là phi cơ quân sự hoặc dân sự, quân phiến loạn thì không có dụng cụ kỹ thuật và được huấn luyện, cho nên mới họ lầm chiếc Boeing 777 là phi cơ chiến đấu. Nhưng họ cũng không có chuyên viên để điều khiển việc phóng chiếc hỏa tiễn “tầm nhiệt” SA-11 này. Phải có các chuyên viên trong quân đội Nga tham dự trong tội ác.
Vladimir Putin vẫn tìm cách chối tội. Hai tướng lãnh người Nga vẫn còn lên tiếng đổ tội cho quân đội Ukraine, đòi hỏi chính phủ Mỹ phải trưng ra bằng cớ là quân phiến loạn đã phóng chiếc hỏa tiễn. Ông Putin còn một cách chối tội khác, là mô tả chiếc hỏa tiễn đó là do quân phiến loạn cướp được từ kho vũ khí của quân đội Ukraine, mà việc đó có thể xẩy ra. Nhưng các hỏa tiễn chứa trong kho thường không đầy đủ, đặc biệt là còn thiếu các đầu đạn chứa chất nổ và bộ phận kích hỏa. Vì vậy, câu chuyện dính tới cả chính quyền cộng sản Việt Nam. Cảnh sát quốc tế mới ngăn chặn được một kiện hàng chứa các bộ phận của hỏa tiễn SA-11, xuất phát từ Việt Nam trên đường chuyển tới Ukraine. Có thể chính quyền Nga đã yêu cầu cộng sản Việt Nam trả lại một số bộ phận viện trợ trong thời chiến tranh, và ra lệnh gửi thẳng sang miền Ðông Ukraine, nơi phiến quân kiểm soát để tránh tiếng cho Nga.
Vladimir Putin đang tự đưa đầu vào chiếc thòng lọng mà ông ta tính dùng để treo cổ nền độc lập và chế độ tự do dân chủ tại Ukraine. Putin đã mù quáng vì tham vọng tái lập một đế quốc Nga, giống như từ thời các Nga hoàng và thời chế độ cộng sản. Năm 1994, Putin đã nói về nỗi ẩn ức của mình tại một hội nghị quốc tế ở St. Petersburg; khi đó ông ta mới chỉ là phụ tá cho vị thị trưởng thành phố này. Putin nói rằng lãnh thổ Nga đã bị xé mất quá nhiều đất đai sau khi chế độ cộng sản sụp đổ. Ông ta kể đến vùng Crimea, đến miền Bắc Kazakhstan, và những vùng khác như chung quanh Kaliningrad ở bờ biển Baltic. Ông nói rằng chính phủ Nga không thể “bỏ rơi” 25 triệu người nói tiếng Nga sống ở nước ngoài; và kêu gọi thế giới phải tôn trọng quyền của nước Nga phải bảo vệ “đại dân tộc Nga” (russkiy mir). Với luận điệu như thế, chính quyền cộng sản Bắc Kinh có thể cũng đòi “bảo vệ” các người gốc Trung Hoa ở khắp vùng Ðông Nam Á, kể cả Singapore!
Năm 1999, Putin lên làm thủ tướng, rồi trở thành tổng thống Nga trong hai nhiệm kỳ. Sau mấy năm đóng vai thủ tướng, ông ta trở lại làm tổng thống, với triển vọng thêm hai nhiệm kỳ bẩy năm nữa. Trong hai nhiệm kỳ đầu, Putin đã đóng vai trò một chính khách sẵn sàng cộng tác với thế giới bên ngoài. Năm 2001, Tổng Thống Mỹ George W. Bush sau khi gặp Putin đã tuyên bố, “có thể nhìn thẳng vào mặt nhau được,” ý nói có thể tin tưởng Putin không có tham vọng đế quốc. Trước khi đắc cử làm tổng thống lần thứ hai, Putin đã bắt đầu thực hiện tham vọng đó, với cuộc xâm lăng Georgia. Nhưng đến năm 2013, kế hoạch bành trướng của Putin mới lộ rõ, sau khi không thể ngăn cản nước Ukraine tiến đến gần với Liên Hiệp Châu Âu (EU) qua một hiệp ước hợp tác thương mại. Putin đã gây rối loạn rồi sát nhập vùng Crimea; và nay đang gây loạn ở hai tỉnh miền Ðông, sát biên giới Nga.
Phản ứng của các nước dân chủ Tây Phương rất dè dặt trước các hành động của Putin. Dân Mỹ không ai chấp nhận đưa quân đến cứu nước Ukraine, cũng như trước đây không cứu Georgia. Vũ khí duy nhất để ngăn cản Putin là phong tỏa kinh tế, nhưng kinh tế các nước Âu Châu đều bị ràng buộc quá chặt chẽ với Nga. Một phần ba số khí đốt và dầu lửa dùng ở Châu Âu được nhập cảng từ Nga; trong quá khứ Putin đã dọa cắt nguồn tiếp tế này. Chính phủ Mỹ không thể đơn phương phong tỏa kinh tế Nga, vì sẽ thất bại nếu các nước Châu Âu không hợp tác.
Vladimir Putin đã thực hiện một kế hoạch “tầm ăn dâu” đối với Ukraine. Sau khi nuốt được Crimea, Nga đã xúi giục những người gốc Nga ở miền Ðông Ukraine nổi lên đòi quyền tự trị, tuyên bố thành lập cả một “nước Cộng Hòa Nhân Dân” mới. Trong khi đó, Putin dùng thủ đoạn vuốt ve bên ngoài, và tuyên bố cộng tác với các nước khác để giữ “hòa bình, ổn định” trong xứ Ukraine. Chỉ có chính phủ Mỹ tiếp tục dùng các biện pháp cứng rắn, khi đơn phương ra lệnh phong tỏa hai công ty năng lượng lớn nhất của Nga và mấy ngân hàng quan trọng. Hành động “trừng phạt” này diễn ra một ngày trước khi xẩy ra vụ bắn hạ chiếc máy bay MH-17; với viễn tượng các nước Châu Âu vẫn chưa chịu hợp tác.
Nhưng vụ MH-17 đã thay đổi tình thế. Phản ứng của cả thế giới là phẫn nộ, không những vì cảnh gần 300 thường dân vô tội bị thảm sát, mà còn vì thái độ trâng tráo của chính quyền Vladimir Putin.
Bà Thủ Tướng Ðức Angela Merkel, Thủ Tướng Anh David Cameron và Tổng Thống Pháp Francois Hollande đã nói chuyện với nhau vào cuối tuần qua, đồng ý rằng chính sách trong vụ Ukraine phải thay đổi; trong cuộc họp của ngoại trưởng các nước bắt đầu ngày hôm qua, Thứ Ba, 21 Tháng Bảy. Hòa Lan là một nước Âu Châu vẫn chủ trương dè dặt đối với Nga trong vụ này; nhưng chính phủ Hòa Lan đang bị áp lực từ dân chúng phải thay đổi, sau khi gần 200 công dân nước họ chết oan. Âu Châu sẽ phải chấp nhận thiếu thốn khí đốt trong mùa Ðông năm tới, để cho ông Putin một bài học. Một cuộc nghiên cứu của hãng dầu Total, Pháp, cho thấy Âu Châu có thể chịu đựng được một mùa Ðông nữa, dù Nga cắt đứt hơi đốt. nhưng các nước Bulgaria, Romania, Hungary and Slovakia sẽ gặp khó khăn nhất. Nước Ý cũng phụ thuộc vào nguồn hơi đốt của Nga nhưng có thể được bù đắp bằng nguồn khác, đến từ Bắc Phi và Trung Ðông.
Nếu cả Mỹ và Âu Châu cùng phong tỏa mạnh hơn, nền kinh tế Nga sẽ khốn đốn. Ngay từ tuần trước, hai thị trường chứng khoán đã mất 5% và 7% và đồng rúp của Nga đã xuống giá, sau khi chiếc máy bay MH-17 bị bắn hạ. Nhiều đại gia, tỷ phú đô la ở Nga đã than phiền rằng chính sách của ông Putin sẽ làm kinh tế Nga khánh kiệt. Chính ông Putin sẽ không thể quyết định cắt tất cả nguồn tiếp tế dầu, khí cho Âu Châu, kể cả đường dẫn qua Ukraine, vì nước Nga cũng đang cần ngoại tệ, như dân Châu Âu cần năng lượng. Một phần ba ngân sách chính phủ Nga tùy thuộc vào việc xuất cảng dầu khí. Vũ khí năng lượng của Nga chỉ có giá trị trong ngắn hạn, trong vài ba năm, vì nước Mỹ đang bắt đầu thặng dư dầu khí, sẽ trở thành một xứ xuất cảng nhiều hơn nhập cảng.
Ông Putin có thể đang chiếm lợi thế về quân sự tại miền Ðông Ukraine, nhưng trên các mặt trận ngoại giao, kinh tế, ông ta đang bị đẩy vào chân tường. Về lâu dài thì tham vọng bành trướng để tái lập một đế quốc Ðại Nga sẽ hoàn toàn thất bại. Khi kinh tế suy sụp thì những vận động phản kháng của người dân Nga sẽ bùng lên, chính ngai vàng của ông Putin cũng khó vững.
Ngô Nhân Dụng
(Người Việt) 

Nguyễn Huy Canh - Vài ý kiến về hiểm họa đen của ông Nguyễn Trung

Gần đây trên nhiều trang mạng có bài về “Hiểm họa đen” của ông Nguyễn Trung (HDTG, Tễu-blog…). Ông đã phác họa, tuy ngắn gọn, nhưng chính xác và sinh động về tình hình thế giới từ nhãn quan quan hệ quốc tế. Đó là tính đa cực của thế giới ngày nay, tạm tính từ năm 2010 đến giờ.Đặc biệt những phân tích sâu sắc của ông về siêu cường TQ, về âm mưu chiến lược độc chiếm Biển Đông, thực hiện “giấc mộng Trung Hoa”, uy hiếp VN của siêu cường này.
Từ những phân tích của ông, có thể cho phép ta rút ra một kết luận: sự phát triển của thế giới, lịch sử không đơn chiều, tuyến tính theo công thức đầy tính huyền thoại: chính đề-phản đề ->hợp đề. Chủ nghĩa cộng sản, mà giai đoạn đầu của nó là cnxh, không hề tiêu hóa vào trong cái hợp đề đó. Đó chỉ có thể là một ảo giác.
Điều đó cũng có nghĩa là, thế giới đang triển khai mạnh mẽ tình thế đa nguyên của nó. Nhưng tình hình ấy còn đến chậm chạp với xã hội, và nền văn hóa đậm nét kí ức truyền thống đang trỗi dậy của chúng ta. Tính nhất nguyên của đời sống, vì thế còn tương đối mạnh mẽ (điều này dễ nhìn thấy trong đời sống cộng đồng làng-xã, ở nông thôn, và trong cấu trúc của nền kinh tế theo định hướng…).
Do vậy, đại tự sự của học thuyết Marx-Lenin vẫn còn có vẻ nhiều giá trị với các nhà lãnh đạo, và thực tiễn VN, và đặc biệt hơn, các lợi ích nhóm hình thành từ các trung tâm quyền lực ở các cấp, ngành đã nhìn thấy nó như một vật che chắn đã tích cực lợi dụng nó, nhân danh cái phổ biến trên tư thế làm vua của mình-vua có ngai, và những ông vua không ngai, để đem về đất đai, tiền bạc nhiều cho bản thân, vợ con; cho anh em, dòng họ từ công cuộc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, đấu thầu các dự án (đặc biệt các dự án có nguồn vốn ODA)…Đó là mặt tha hóa của đảng, của một bộ phận không nhỏ trong đảng.
Trong nhiều sự kiện khác của đời sống xã hội, đã bộc lộ một cái nhìn quan liêu, giáo điều về quần chúng nhân dân: đảng đã xem họ là đối tượng cần được thống nhất, tổ chức và hướng dẫn nhằm vươn tới những bản chất cao hơn. Kết quả, đảng đã “vô tình” tạo cho những lợi ích nhóm, những vị trí lãnh đạo cái cơ hội đứng trên nhân dân, áp bức, và bóc lột nhân dân. Ông Nguyễn Trung đã nhìn thấy, tuy rằng chưa được chính xác trong tính phổ biến của nó,một mối quan hệ mới được xác lập giữa đảng,nhà nước với nhân dân trong thể chế chính trị toàn trị: quan hệ thống trị và bị trị.
Tất cả những điều đó được ông cảnh báo trong một viễn cảnh đầy lo âu: hiểm họa đen.
Nhìn thấy hoàn cảnh có v/đ, con người phải tìm cách hành động, biến đổi nó. Cái khó lại nằm ở con đường và các biện pháp khắc phục.
Với tác giả, có thể nói từ nhiều năm nay, đã ấp ủ một lựa chọn: đảng phải tự vượt lên trên bản thân mình trở thành đảng dân tộc, trong thể chế chính trị pháp quyền, dân chủ
Làm sao tự vượt lên theo cách đó được? Lời kêu gọi của ông,sự lựa chọn của ông, có thể xuất phát từ chỗ lối mòn của tư duy luôn xem nó là mặt chủ quan của chủ thể, mà không ý thức một cách bản thể học,rằng bản tính của nó còn nằm ở mặt khách quan-vật chất, cũng tức là bị tồn tại qui định, và điều này càng rõ nét trong nền văn hóa còn nhiều tính sử thi, và huyền thoại của chúng ta. Vì vậy, tôi cho rằng, lựa chọn ấy, yêu cầu ấy của ông cũng đầy chủ quan tính về lịch sử, và đời sống; mặt khác, ông đã quay mặt đi, không nhìn thấy lợi ích như cái gì đang quá bướng bỉnh, và đầy quyến rũ đối với đời sống quyền lực trong nền kinh tế có nhiều/ chứ không phải đa- đây là chỗ nhầm lẫn của nhiều học giả/ thành phần sở hữu, nền kinh tế thị trường.
Muốn đổi mới đảng, để đảng đồng hành cùng dân tộc trong viễn cảnh của ý niệm: nhân dân là chủ, tôi cho rằng, trước những đòi hỏi của nền kinh tế cần phải được tự chủ, và phát triển; trước đòi hỏi dân chủ hóa đất nước, trước mắt,chúng ta cần phải đặt vào 3 trọng tâm sau:
- Đổi mới mạnh cấu trúc kinh tế theo hướng cổ phần hóa, tư nhân hóa các doanh nghiệp, tổng công ti, tập đoàn kinh tế nhà nước trong, như Chính phủ đã đề ra, nhằm giảm tới mức tối đa tính chủ đạo của nó, và từ đó đem lại khả năng, tính độc lập, và bình đẳng cần thiết cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.Đặc biệt cần có chính sách chú ý đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
-Thừa nhận, và tạo dần điều kiện pháp lí cho sự tồn tại, và hoạt động lành mạnh của các hội đoàn của xhds, trong ý thức xây dựng, rằng đảng, nhà nước là có giới hạn trong việc dẫn dắt đời sống đầy kinh nghiệm của họ, là có thực.
- Xem xét, cảnh giác mối quan hệ với TQ trong nội hàm hữu nghị ở mặt thực tiễn của nó; đẩy mạnh trục quan hệ sang Hoa Kỳ trên tất cả các lĩnh vực trong thế chủ động của mình, cũng như với các nước trong khu vực có chung hoàn cảnh, về thực chất. Thế giới ngày nay đang vận động trong xu thế đa cực, phải được chúng ta đem vào nhận thức dựa trên qui chiếu lợi ích quốc gia là tối thượng, có tính đến lợi ích của các bên…
Đây là 3 trụ cột của lộ trình đổi mới (ban đầu) hầu giúp ích cho công cuộc đa nguyên hóa đời sống như một giá trị phổ biến dựa trên đòi hỏi của lợi ích và tiến bộ xã hội.
Thực hiện được 3 trụ cột này, chính là đổi mới đảng từ trong tính hiện thực của nó. Và rồi sau này sẽ kéo theo sự biến chuyển về mặt chủ quan của đảng (như Điều lệ, phương thức tổ chức quyền lực, cùng các thiết chế xã hội khác), và cùng với nó, tính chủ quan của nền văn hóa cũng thay đổi theo.
Nguyễn Huy Canh
(Quê choa)