Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2013

Đến lượt Thủ tướng phản công

Khai Xuân: Đến lượt Thủ tướng phản công

Đến nay thì phần lớn công luận đều thừa nhận hội nghị trung ương 6 là một thất bại thảm hại của phe Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Tuy nhiên, sở dĩ có nhận định đó là vì mức chờ đợi của xã hội đã lên quá cao cùng với các tuyên bố đầy hứa hẹn trước hội nghị, chứ khó có thể xem hội nghị 6 là thắng lợi của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Tuy kết quả sau cùng là xé được bản quyết định kỷ luật của Bộ Chính Trị nhưng uy tín và sĩ diện của ông Nguyễn Tấn Dũng cũng bị sứt mẻ đáng kể, từ việc trở thành trò cười "đồng chí X" đối với cả nước đến việc bị coi là không xứng đáng nắm ghế trưởng ban chỉ đạo chống tham nhũng nữa, v.v. Chính vì vậy mà nhiều người chờ đợi ông Nguyễn Tấn Dũng, với quyền lực tài chính và công cụ công an còn nguyên trong tay, sẽ lập tức phục hận.
Nhưng quả đúng với bản chất nhiều mưu trí của ông Dũng – mà tùy góc nhìn, có người xem là "bản lãnh", có người gọi là "hiểm độc" – ông đã tạm án binh bất động để ổn cố lại hàng ngũ dưới trướng. Ông chỉ đi đó đây thăm các đơn vị công an, sinh viên để hô hào phải có “liêm sỉ”.
Trong khi đó, phe 2 ông Sang - Trọng liên tục ra tay: Từ việc chính thức chỉ định ông Nguyễn Bá Thanh, bí thư Đà Nẵng, ra Hà Nội làm Trưởng ban Nội chính Trung ương vừa tái lập; đến rình rang công bố các thành viên thuộc 3 ban của đảng gồm Ban Nội Chính, Ban Kinh Tế, Ban Chống Tham Nhũng; đến tường thuật rôm rả buổi họp Ban Chống Tham Nhũng đầu tiên do ông Nguyễn Phú Trọng chủ tọa.
Hiển nhiên, với quá nhiều các ban tương tự trong quá khứ, đặc biệt là những gì vừa xảy ra ở Hội nghị 6, công luận vừa dè dặt vừa hy vọng về 3 ban lần này. Nhưng đến khi nghe ông Nguyễn Phú Trọng cất tiếng: "Tay nhúng chàm không thể chống tham nhũng" thì giới đại gia và tập thể các quan chức cấp cao đều thở phào nhẹ nhõm. Câu nói này không khác gì câu "kỷ luật sẽ tạo thù hận" của cùng tác giả vào tháng trước. Vì giới nắm tiền và nắm quyền ở thượng tầng hiện nay đều biết rõ TẤT CẢ các thành viên thuộc cả 3 ban, kể cả 3 trưởng ban, đều dính chàm không chỉ trên tay mà còn khắp người nữa. Riêng ông Dũng thì không chỉ biết mà còn có luôn con số "chàm" ai đã nhận từ ông bao nhiêu và có luôn hồ sơ "chàm" từ công an – an ninh về các vụ tham ô của thành viên khác. Tóm tắt lại, ông Dũng biết tất cả các thành viên 3 ban đều đang đeo găng tay đi họp mà thôi và vì vậy cái ban của ông Trọng chỉ là đòn hù.
Có lẽ chỉ có 1 người mà ông Nguyễn Tấn Dũng quan ngại là ông Nguyễn Bá Thanh. Một phần lý do, vì ông Thanh nổi tiếng về bản tính đánh thí mạng — nghĩa là nhắm mắt ra đòn cực độc và bất chấp đối phương sẽ phản công và làm thiệt hại mình thế nào. Vụ giao tranh với tướng công an Trần Văn Thanh từ 2007 đến 2009 là một thí dụ điển hình. Và phần lý do còn lại là lời hứa đã lọt ra tới công luận, đó là lời hứa từ Bộ Chính Trị sẽ giao cái ghế thủ tướng của ông Dũng cho ông Thanh.
Với bản tính và lời hứa nặng ký đó, người ta không ngạc nhiên khi từ Đà Nẵng, Bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh trong những ngày chưa chính thức nhậm chức trưởng Ban Nội Chính, đã hăng hái nổ nhiều phát súng nhắm về hướng của phe nhóm thủ tướng. Hàng ngũ cán bộ và cả một vài tờ báo nhanh chóng truyền tai nhau các câu hăm dọa của ông Thanh: "Sắp tới tôi sẽ rà vô một số cái, cho hốt liền, không nói nhiều", hay "Một số ông giờ đang ngồi run", hay "Bắt liền chứ không cần phải đợi có bằng chứng chung chi gì hết." …. Tóm tắt lại, ông Thanh đã tuyên chiến lập tức: ông sẽ tỉa dần hàng ngũ quanh ông Dũng trước khi tiến vào tâm điểm chính là cá nhân thủ tướng. Rõ ràng ông Thanh dám làm điều mà ông Sang, ông Trọng rụt rè trong những tháng qua vì sợ đối phương vạch luôn bàn tay "chàm" của gia đình 2 ông.
Và đó là lý do mà ông Nguyễn Tấn Dũng phải lấy quyết định chuyển sang thế phản công. Đòn phản công của ông Dũng bao gồm cả hai mặt: thủ và công.
Thứ nhất về mặt thủ, ông Dũng cố hạ tối đa uy tín của Trưởng Ban Nội Chính trước khi ban này khởi động làm việc. Đó là việc xuất hiện ngày 17/1/2013 hồ sơ thanh tra và kết luận của Thanh tra Chính phủ trên báo chí, dù hồ sơ này mới đóng dấu “mật” chỉ mấy ngày trước đó. Kết luận này nói rằng thành phố Đà Nẵng mà ông Thanh vẫn đang nắm ghế bí thư thành ủy đã "gây thất thu ngân sách" hơn 3,400 tỷ đồng do định giá đất đai không chính xác hay giảm giá đất không theo quy định của nhà nước. Ngay sau đó Bộ Công an được Thủ tướng Dũng nhanh chóng và công khai giao nhiệm vụ nhập cuộc điều tra, "làm rõ dấu hiệu cố ý làm trái". Nghĩa là hăm dọa sẽ truy tố hình sự một khi "tìm thấy chứng cứ".
Hai ngày sau, 19/1/2013, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng, ông Văn Hữu Chiến lập tức kêu oan về cả kết luận điều tra lẫn cách thức điều tra, bằng một văn bản dài và hàng loạt phỏng vấn với báo chí. Ông Chiến phản đối kết luận của Thanh tra Chính phủ vì "không có cơ sở"; phản đối việc "Thanh tra không chịu nghe giải trình của Thành phố"; phản đối việc "Thanh tra đưa kết luận này ra thông báo trên báo chí".
Ngày 29/1/2013, văn phòng thủ tướng, qua miệng của ông Vũ Đức Đam, một lần nữa công bố giữ nguyên kết luận về sai phạm của lãnh đạo Đà Nẵng và tiếp tục tiến hành lệnh của thủ tướng cho công an điều tra để truy tố. Ông Đam còn nói: "Thủ tướng chưa nhận được ý kiến phản ánh nào… của thành phố Đà Nẵng".
Cho đến nay, hầu như tất cả công luận đều xem đây là một đòn công khai của ông Nguyễn Tấn Dũng đánh vào uy tín của ông Nguyễn Bá Thanh, đặc biệt nếu so với cách hành xử đầy tính châm chước của ông Dũng đối với chính quyền Thành phố Hải Phòng ngay sau vụ tai tiếng lớn ở Tiên Lãng.
Có xác suất cao trong những ngày tới, trưởng Ban Nội Chính Trung Ương sẽ phải dành một phần thời giờ để trả lời các đoàn điều tra từ bộ công an và thậm chí có thể phải ra trước tòa để trả lời về các "sai phạm" trong quá khứ tại Đà Nẵng. Và dĩ nhiên các buổi này nhiều phần sẽ được công bố thoải mái trên báo chí.
Và dĩ nhiên, mọi đòn đánh nhắm vào ông Nguyễn Bá Thanh đều là lời cảnh cáo dằn mặt cho từng thành viên của cả 3 ban Nội Chính, Kinh Tế, và Chống Tham Nhũng của Bộ Chính Trị.
Thứ nhì trong thế công, ngày 21/1/13, tức là chỉ 3 ngày sau khi tung ra “hồ sơ mật” nêu trên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Phòng Chống Tội Phạm (Ban Chống Tội Phạm) trực thuộc Văn phòng Thủ tướng. Ban chỉ đạo này do cánh tay mặt của thủ tướng là Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đứng đầu và Bộ trưởng Công an, tướng Trần Đại Quang, giữ vai trò Phó ban thường trực.
Thoạt nhìn trên lý thuyết, người ta thấy có sự tách bạch khá rõ giữa Ban Nội Chính của Trung ương Đảng và Ban Chống Tội Phạm của chính phủ. Trên giấy tờ, Ban Nội chính có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng cho chủ trương; định hướng xử lý một số vụ việc, vụ án; thực hiện nhiệm vụ cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng. Tức là những nhiệm vụ mang tính đối phó với nội bộ đảng.
Trong khi đó, cũng trên giấy tờ, nhiệm vụ của Ban Chống Tội Phạm là "phối hợp các cơ quan chức năng, các lực lượng để đấu tranh với các băng nhóm tội phạm nguy hiểm”, nghĩa là nhắm vào việc đối phó với xã hội bên ngoài.
Tuy nhiên, chỉ nhìn sâu hơn một chút, người ta đã có thể thấy rõ ngay mưu trí của ông Dũng khi tạo lập Ban Chống Tội Phạm như một vũ khí tấn công mới. Trước hết, Ban Chống Tội Phạm không bị giới hạn vào một lãnh vực phạm pháp nào. Cụ thể nó được cho phép “hoạt động trên nhiều địa bàn, các vụ án nghiêm trọng, phức tạp về an ninh, kinh tế, trật tự an toàn xã hội nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội”. Đây là những thuật ngữ khá quen thuộc để cho phép loại quyền hạn không biên giới. Thế nào là "nghiêm trọng, phức tạp" hoàn toàn do văn phòng thủ tướng hay chính ban này định đoạt. Và tất cả mọi loại "sai trái" dù trong bất kỳ lãnh vực nào đều có thể qui về phạm trù mơ hồ của "an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội".
Nói cách khác, Bộ Chính Trị vừa tước ghế trưởng Ban Chống Tham Nhũng khỏi tay thủ tướng, ông Dũng cho lập ngay một Ban mới với quyền hạn còn rộng hơn nữa và hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của thủ tướng.
Kế đến Ban Chống Tội Phạm cũng không bị hạn chế trong phạm vi đối tượng. Nó không bị dừng lại ở cấp bộ nào, dù là địa phương hay trung ương, một khi đã tự kết luận đó là một vụ "nghiêm trọng, phức tạp". Và khi nhân danh đối phó với những kẻ phạm pháp, ban này không cần phân biệt đó là đảng viên hay dân thường. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay ở Việt Nam, chỉ những người có quyền chức mới có cơ hội và phương tiện để phạm pháp nghiêm trọng, và đặc biệt, mới có khả năng lập "băng nhóm tội phạm". Và tuyệt đại đa số những người đang nắm chức quyền đều là đảng viên trung và cao cấp. Do đó, đối tượng chính của Ban Chống Tội Phạm là thành phần đảng viên có máu mặt, y như 3 ban của Bộ Chính Trị.
Về mặt bắp thịt, Ban Chống Tội Phạm của ông Dũng không kém gì Ban Chống Tham Nhũng của ông Trọng. Ban Chống Tội Phạm không những do phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, cánh tay mặt của ông Dũng, cầm đầu mà còn đặt Bộ trưởng Bộ Công An Trần Đại Quang ở vị trí phó ban. Đây là yếu tố hệ trọng vì Công An là nơi đảm trách hầu hết công việc điều tra để các Ban dựa vào kết quả điều tra đó mà ra đối sách. Kinh nghiệm cho thấy, trong các vụ án chính trị cũng như kinh tế, những hồ sơ của cơ quan điều tra Bộ Công an có thể thay đổi, thêm bớt hoặc ngay cả dựng đứng, bịa đặt cho phù hợp với từng đối tượng, từng “chuyên án” đã được chỉ đạo. Với cách sắp xếp này trong Ban Chống Tội Phạm, ông Nguyễn Tấn Dũng có thể thực hiện được hai điều: (1) Có thể ngăn chận hoặc ra lệnh sửa đổi bất kỳ bản điều tra nào của công an nếu xét thấy không có lợi cho phe nhóm ông; hoặc tùy tiện tung ra công luận các bản điều tra có nhiều thiệt hại cho các đối thủ. (2) Có thể ra lệnh cho công an tấn công các đối thủ dưới dạng mở hồ sơ điều tra, khám xét nhà cửa, kiểm tra tài sản, tạm giữ, tạm giam,…
Và một vũ khí trong bóng tối khác của ông Dũng cũng góp phần khiến bắp thịt của Ban Chống Tội Phạm đáng sợ hơn tất cả mọi ban khác. Đó là hệ thống riêng của cựu thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng, người được xem là một hung thần theo truyền thống của trùm mật vụ Beria dưới thời Stalin trên đất Liên Xô. Công luận Việt Nam, báo chí lề trái vẫn tiếp tục ngờ vực bàn tay ông Hưởng trong những vụ đột tử, như cái chết mờ ám của ông Đào Duy Tùng năm 1994 khi đang là thường trực Bộ Chính Trị; cái chết vì ngộ độc của thứ trưởng bộ Công An Nguyễn Văn Rốp (Tư Rốp) năm 2001; cái chết bất ngờ của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt ở Singapore; kể cả vụ ám sát hụt ông Ba Kiên Tham mưu trưởng Quân Khu 7 ở Campuchia,…. Tin tức về bàn tay trong bóng tối này đã trở nên thông thường trong dân chúng đến độ khi nghệ sĩ Kim Chi từ chối đề nghị ban khen của ông Dũng, bà nghĩ ngay đến xác suất một cái chết sắp được dàn dựng cho bà.
Với vũ khí Ban Chống Tội Phạm mang thẩm quyền vô giới hạn và có cả phương tiện công khai lẫn bí mật như vậy, ông Dũng thừa sức vô hiệu hóa cả 3 ban của Bộ Chính Trị. Điều này có thể thấy ngay qua một vài phóng chiếu cụ thể. Chẳng hạn như khi Ban Nội Chính sắp sửa truy tố một nhân vật nào đó thuộc phe ông Nguyễn Tấn Dũng theo lời khai của một số nhân chứng, thì các nhân chứng trong vụ án đột nhiên mất tích hay qua đời trong thầm lặng. Ở mức thấp nhất, các nhân chứng này bỗng nhiên bị công an bắt giam khẩn cấp vì những tội danh khác và bị điều tra về nhiều loại tội khiến các lời khai của họ với Ban Nội Chính không còn đáng tin và không đáng làm cơ sở buộc tội nữa. Đây là việc làm quá dễ trong chức năng phó Ban Chống Tội Phạm kiêm Bộ trưởng Công An của tướng Trần Đại Quang. Ở mức chủ động tấn công hơn nữa, khi Ban Nội Chính sắp điều tra một vụ việc gì không có lợi cho phe ông Nguyễn Tấn Dũng, Ban Chống Tội Phạm còn có thể lập tức dùng một sai phạm nào đó ở hiện tại hay trong quá khứ, để mở màn "điều tra người điều tra" và tung ngay tin tức này ra báo chí.
Và dĩ nhiên Ban Chống Tội Phạm cũng sẽ rất hiệu quả trong việc tấn công ngược vào hàng ngũ của ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng để đánh trả mỗi khi Ban Nội Chính làm thiệt hại hàng ngũ dưới trướng ông Dũng. Diễn trình ăn miếng trả miếng này đã và đang liên tục xảy ra kể từ sau vụ đổ bể hệ thống ngân hàng. Thí dụ điển hình là các tấn công nhắm vào chị em bà Đặng Thị Hoàng Yến và ông Đặng Thành Tâm, những người được xem là thành viên trong hệ thống làm ăn của ông Trương Tấn Sang.
***
Các đòn phép, và từ đó danh sách các "nạn nhân", sẽ gia tăng nhanh trong cuộc chiến giữa Ban Chống Tội Phạm và 3 ban của Bộ Chính Trị trong những tháng trước mặt.
Nhưng giữa lúc các ban giương cờ xí lên chuẩn bị đánh nhau lớn, chẳng ai thấy có ban nào nhắc tới vụ tham nhũng lớn nhất trong lịch sử đất nước, đó là số tiền hàng trăm tỉ mỹ kim đã thất thoát qua các tập đoàn kinh tế và tổng công ty. Núi tiền khổng lồ đó không thể tan biến mà không để lại dấu tích gì. Phải chăng chẳng ban nào dám nói tới vì số "chàm" đó đã được chia và gởi lên quá nhiều cửa ở thượng tầng?
Nếu viết lại các phân tích của mình vào thời điểm giành giật "chống tội phạm - chống tham nhũng" hiện nay, hy vọng ông Nguyễn Văn An sẽ bổ túc vào cái tên mà ông đã khéo đặt cho cốt lõi của các tệ nạn và tình trạng không thể tự chữa của Đảng CSVN. Đã đến lúc gọi đó là các LỖI HỆ THỐNG CHÀM cho rõ nghĩa hơn chăng?
Phạm Nhật Bình – Lê Vĩnh
(DĐCTM)

Hòa Vân - “Bên thắng cuộc” và dư luận: Những cực đoan vẫn còn đó... nhưng không còn đe doạ được ai

Có lẽ chưa có một cuốn sách tiếng Việt nào đã được đón đọc rộng rãi, gây nhiều dư luận vừa tương phản từ rất đồng thuậnđến rất chống đối như cuốn sách này của Huy Đức. Bài này không trực tiếp nói về nội dung cuốn sách như một bài phê bình, điểm sách, mà tập trung nói vềdư luận ấy.

Về mặt đón nhận, mặc dù độc giả Việt Nam còn một bộ phận khá lớn quen “đọc chùa” hơn là mua sách, một chỉ dấu cho thấy sức lan toả của cuốn sách: khi bạn mở website của nhà sách trên mạng smashwords.com, nơi xuất bản và bán phiên bản điện tử của sách (cùng với amazone), bấm vào từkhoá “non-fiction” (cột bên trái), và dòng đầu bên phải, chọn “sort by best-sellers”, bạn sẽ thấy hai tập “Quyền Bính” và “Giải phóng” của “Bên Thắng cuộc” xếp hạng thứ nhất, trước các cuốn sách tiếng Anh. Điều này, chúng tôi đã kiểm tra mấy lần trong tháng 1.2013, và vẫn đúng khi bài báo này được lên khuôn (8.2.2013).

Nhưng nếu số người mua một cuốn sách là một chỉ dấu quan trọng về ảnh hưởng của nó, trong thời buổi internet những phản ứng muôn màu của người đọc thông qua các trang báo mạng, các blogs hay facebook (FB), còn cho thấy rõ hơn thành công hay thất bại của tác giả trong ý đồ chuyển tới người đọc những ý tưởng của mình, thông qua sự trình bày, phân tích dữ liệu mà mình dày công thu thập (tôi đang nói tới một cuốn sách “phi hư cấu”, không thuộc thể loại tiểu thuyết, văn chương khác). Có thể nói ngay, số người lên tiếng về cuốn sách, hoặc qua hình thức viết bài đăng báo, đăng trên blog hay trang FB cá nhân, hoặc qua những lời bình ngắn, quen được gọi là “còm”[1], cũng chưa bao giờ nhiều, sôi động như thế, ít ra theo quan sát của người viết bài này vốn mất khá nhiều thì giờ để theo dõi tình hình trong nước qua mạng. Nếu bạn gõ hai cụm từ “Bên thắng cuộc”và “Huy Đức” lên trang google (kể cả ngoặc kép để loại những kết nối với từng từ trong các cụm từ này), bạn sẽ thấy – vào sáng ngày 8.2, 8g40, giờ Paris – hơn 2 triệu kết nối. Tất nhiên, có rất nhiều trùng hợp, hàng ngàn hoặc nhiều hơn thế đường kết nối sẽ dẫn về cùng một trang mạng, nhưng dù thế chắc cũng chẳng ai có thể đọc hết những bài viết về cuốn sách có trên mạng và những “còm” về các bài viết đó[2]. Chỉ riêng đọc những còm sau những bài viết được đăng trên trang Ba Sàm cũng đã khó! Người đọc nhiều, người đọc xong viết ra phản ứng của mình như vậy cũng có thể nói là đông đảo hơn nhiều lần so với một quyển sách bình thường khác. Kể cả những người chưa đọc trang nào nhưng nghe người khác nói tới cũng nhảy vào tham gia “còm” v.v., tạo thành hiệu ứng “cơn sốt dư luận” như nói trên. Thành công đầu tiên của Huy Đức là ở đó, ở chỗ ít người đọc xong rồi có thể bỏ qua, quên đi, không bị ám ảnh, cật vấn trong chiều này hay chiều khác bởi những nội dung mà cuốn sách đề cập, hoặc bởi những phản ứng của người khác trên các nội dung ấy...

Thành công đó, nhiều người đã chỉ ra, là sự kết hợp một chủ đề “nhạy cảm” với một công phu đáng phục kéo dài nhiều năm trời trong việc tìm kiếm và sưu tầm dữ liệu[3]– cả dữ liệu “sống” ghi từ các cuộc gặp, phỏng vấn các chứng nhân tới các sách vở, báo chí - và một tài năng hiếm có trong việc xử lý, sắp xếp các dữ liệu đó nhằm phục vụ nội dung mà tác giả muốn chuyển tải. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người coi Huy Đức là một nhà báo “số một”của Việt Nam hiện nay.

Cũng có những người đọc bĩu môi “biết rồi, khổ lắm”, nhưng đó đa phần là những người viết các còm ngắn, ít đầu tư suy nghĩ, vào bài của những người khác. Còn trong số những người bỏ công viết bài để nói lên suy nghĩ của mình sau khi đọc sách thì số đông hơn là những người dù thích hay không cuốn sách vẫn công nhận không chỉ sự phong phú của tư liệu mà cả cái tài trình bày, độ khách quan của tác giả. Khiến cho những điều mình tưởng đã biết nay có được diễn giải, dẫn chứng cụ thể hơn, sâu chuỗi rành mạch làm nổi bật lên hơn nhiều điều quan trọng vẫn được ẩn giấu – chẳng hạn như quá trình cụ thể của một quyết định được những người cầm quyền đưa ra, như một quyết định tập thể, “nhất trí”, trong khi sự nhất trí đó thường là không có thực, và trong cái “tập thể” kia vẫn có những suy nghĩ rất khác nhau, thậm chí đối kháng nhau (kiểu ông Nguyễn Văn Linh thù dai ông Võ Văn Kiệt, dẫn tới một hệ quả không hề nhỏ là ông Đỗ Mười được bầu làm thủ tướng thay ông Phạm Hùng chứ không phải ông Kiệt v.v.). Một ít người đưa ra được lời phê bình ở cấp độ “học thuật” về các tư liệu mà tác giả đưa ra, như câu này của ông Lê Mai, một người từng làm công tác ngoại giao của “bên thắng cuộc”: “Điểm mạnh của “Quyền Bính”cũng như “Giải Phóng”là nhiều tư liệu, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, được thể hiện bởi một nhà báo lão luyện – công trình mang phong cách báo chí. Tuy nhiên, tác giả Bên Thắng Cuộc tái hiện một giai đoạn lịch sử VN hiện đại nhưng tư liệu gốc chiếm tỷ trọng không nhiều lắm, chỉ có một số bức điện, một số báo cáo, một số biên bản, một số nghị quyết, còn chủ yếu sử dụng các hồi ký và phỏng vấn nhân chứng– người viết nhấn mạnh. Đối với những người am hiểu, còn rất nhiều sự kiện lịch sử VN cực kỳ quan trọng, song có thể vì lẽ này, lẽ khác chưa được tác giả đề cập. Vì vậy, tính đầy đủ và chính xác của nó chắc rằng còn phải thảo luận nhiều”. Nhưng ông Lê Mai vẫn công nhận:”Dẫu sao, Bên Thắng Cuộc thực sự là một công trình rất đáng đọc, rất đáng tìm hiểu, rất đáng suy ngẫm, với tất cả ý nghĩa đầy đủ của nó”.  Dưới những góc tiếp cận khác, với ngôn từ khác, có thể coi đó cũng là kết luận của nhiều bài viết của nhiều tác giả trong và ngoài nước như Dương Trung Quốc (bài trả lời phỏng vấn của BBC, ông Quốc không quên nhắc “không nên tuyệt đối hoá Bên thắng cuộc”),Tiêu Dao Bảo Cự, Nguyễn Xuân Long (một nhà khoa học hiện đang làm việc tại Mỹ), Vũ Anh, Đồng Phụng Việt (người Miền Nam sang Mỹ sau 1975) v.v. 

Nhưng nếu công phu và tài năng của tác giả tạo nên giá trị của cuốn sách và sự đồng thuận cao trong bạn đọc về giá trị ấy, thì chủ đề của nó và sự chọn lựa cách tiếp cận, cách xử lý các nội dung được đề cập của tác giả lại là lý do gây nên các tranh cãi trong dư luận. Nhất là trong những người vì lý do này hay lý do khác, chưa “tiêu” được cuộc chiến tranh đã kết thúc gần 40 năm nay. Và như chờ đợi, những chống đối mạnh nhất dành cho Huy Đức và cuốn sách đến từ hai cực của sân khấu chính trị.

Nhà báo Vũ Ánh, một người “bên thua cuộc” từng bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo sau 1975, đã nhận xét: “Huy Đức đã sắp xếp những dữ kiện lịch sử sau 30 tháng 4 như một bản cáo trạng bày rõ những sai lầm của chính quyền được mệnh danh là “cách mạng”. Bản cáo trạng ấy không hề có lời lên án được đọc lên với giọng hùng hồn và ngược lại nó được kể lể với một giọng bình thản, thầm lặng lâu lâu lại xuất hiện một lời trách cứ nhẹ nhàng nhưng nó là những nhát dao sẽ để lại nhiều vết thẹo trên khuôn mặt cường quyền”. Nhưng như thế là chưa đủ để anh được các nhà chống cộng chuyên nghiệp ở quận Cam “tha thứ” vì cái tội đã từng là nhà báo “cộng sản”, đã “được” cộng sản cho đi Mỹ, một thứ tội tổ tông y như tội của những ca sĩ trong nước sang Mỹ biểu diễn từ khi hai nước nối lại bang giao. Phải biểu tình (trước toà soạn báo Người Việt, vì tội phổ biến bản in cuốn sách), phải lên mạng chửi bới, dù chưa đọc một dòng sách...

Ngược lại, cái giọng bình thản đó trong lời kể về các trại cải tạo, các vụ đánh tư sản, các diễn biến mở rồi lại trói đối với giới văn nghệ sĩ, các đấu đá giành quyền lực sau hậu trường v.v. lại làm cho các nhà tuyên giáo bế tắc, gần một tháng sau khi sách ra đời mới tìm được một người viết bài phản bác trên báo chính thống. Nhưng hình như chính tác giả bài viết đầu tiên ấy, nhà báo Nguyễn Đức Hiển trên Pháp luật TPHCM, cũng chẳng tìm thấy được lỗ hổng nào đáng kể trong các sự kiện được Huy Đức đưa ra trong “Bên Thắng Cuộc”, nên đành dùng một thủ thuật là lôi tính chính thống của “lịch sử” ra để đập cuốn sách, dù hiển nhiên là nó... lạc đề. Bởi, nếu ngay câu đầu của chương 1, tập 1 “Bên Thắng Cuộc”, tác giả viết: “Ba mươi tháng Tư năm 1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc. Ngày chấm dứt hơn hai mươi năm “da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”, cuốn sách không hề tranh cãi về tính chất của cuộc chiến trên cơ sở những dữ kiện lịch sử diễn ra trước khi nó xảy ra. Huy Đức đã chủ yếu nói chuyện hôm nay để nhìn lại chuyện hôm qua. Hàng loạt những sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội lớn nhỏ, sau khi chiến tranh kết thúc, được mô tả như nó đã xảy ra – ít ra là trong quan sát, tìm hiểu được của tác giả, mà như trên đã nói, sự tìm hiểu này không hề dễ dãi, hời hợt, mà công phu, kiên trì, qua hàng chục năm, hàng trăm cuộc tìm gặp để phỏng vấn các nhân vật liên quan, như chưa bao giờ người ta được thấy trong những cuốn sách, những bài báo của các tác giả trong nước. Điều đó không có nghĩa là sách không có sai sót! Thế thì, để không lạc đề, lẽ ra Đức Hiển phải tranh luận về các dữ kiện được đưa ra chứ, chúng có được phản ánh một cách trung thực không, cụ thể có những sai sót gì, cái nào là nghiêm trọng..., tác giả sách có dựa trên các dữ kiện đó để đưa ra những lập luận sai lạc nào hay không... Còn như, nếu qua những chính sách, những con người, những sự việc được mô tả trong sách, chính quyền cộng sản hiện lên như một bộ máy toàn tâm toàn ý hướng về việc giành và giữ quyền lực chính trị chỉ cho lợi quyền phe đảng của mình thay vì giành và sử dụng quyền ấy để mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, thì vấn đề là ở những chính sách, những con người đó hay là ở người mô tả chúng? Cũng cần nói thêm, những trang viết của Huy Đức về các nhân vật cầm quyền đâu phải là những trang bôi đen? Có người nghĩ ngược lại là khác. Chẳng hạn như trên blog của một bạn trẻ thuộc “bên thắng cuộc” ký tên là Teq, tác giả đánh giá là cuốn sách mang lại một điều “mới mẻ lớn” ở chỗ nó “đem đến những chân dung cụ thể về các vị lãnh đạo. Các vị lãnh đạo được nhắc tới trong sách, được kể một cách sống động, rất con người thường nhật”, khiến bạn ấy nghĩ rằng “dường như cuốn sách này được viết ra để thanh minh cho các vị lãnh đạo, bao trùm hơn nữa là cho chế độ”...

Trong khi Đức Hiển “lạc đề” thì nhóm các “nhà báo”trên tờ Công an TPHCM và trên những blogs “người nhà” chọn cách đánh quen thuộc hơn của lực lượng mà họ phục vụ: đánh bẩn dưới thắt lưng. Chửi rủa, bôi nhọ, vu khống..., với mục tiêu hiển nhiên là gieo nghi ngờ để hạn chế số người muốn tìm đọc cuốn sách đầy ắp những tư liệu tố cáo cái chế độ mà chúng phục vụ. Đồng thời tung ra lời đe doạ tác giả về những biện pháp bẩn thỉu hơn mà chúng có thể sẽ sử dụng cả ở bên Mỹ hay khi về nước.

Nhưng, như Huy Đức đã trả lời một bạn đọc trên trang FB “Sách Bên thắng cuộc” mà anh mở ra để quảng bá và tiếp nhận phản hồi về cuốn sách: “Không ai muốn hứng chịu “những điều không hay”nhưng nếu cứ trú ngụ trong sự sợ hãi thì sự thật sẽ không bao giờ được nói ra”.

Đọc những bài viết về Bên thắng cuộc và các còm đi theo, người ta khó có thể không thấy rằng câu trả lời ấy cũng được đón nhận với sự đồng cảm chẳng kém gì cuốn sách. Ngày càng nhiều người không để cho sự sợ hãi dẫn dắt cuộc sống và những suy nghĩ của mình. Đó cũng là nét sáng hiếm hoi của tình hình chính trị -xã hội trong nước năm qua, giữ cho khỏi tắt ngọn lửa hi vọng cho tương lai.

Những cực đoan còn đó, nhưng chẳng còn đe doạ được bao người.

Hòa Vân

----------------
Ghi chú:

[1] Viết tắt từ từ tiếng Anh “comment”, “còm” đã trở thành một từ “thuần Việt” trong nghĩa là nó hoàn toàn không có trong từ vựng của ngôn ngữ gốc mà nó xuất phát !

[2] Riêng mặt báo Diễn Đàn đã giới thiệu trong mục “Thấy trên mạng” 12 bài viết từ nhiều chân trời chính trị khác nhau (không kể vài lần trích bài của chính tác giả Huy Đức), mỗi bài lại dẫn đến rất nhiều bình luận trên các trang báo, trang mạng khác không thể đếm hết. Để viết bài này, người viết đã chép vào một tệp riêng khoảng 40 bài đọc trên mạng, tuy nhiên do tính chất một bài báo ngắn sẽ không có các dẫn chứng cụ thể như trong một bài nghiên cứu.

[3] Tập I (Giải phóng) có danh mục 126 cuốn sách tham khảo và 608 chú thích (chiếm hết 100 trang chữ nhỏ). Tập II (Quyền Bính) ghi 69 cuốn sách, 52 hồi ký, bản thảo, sách nhiều tác giả... (một số đã được kể trong danh mục sách tham khảo của tập I nhưng không phải tất cả) và 654 chú thích chiếm gần 130 trang. Nói cuốn sách "đầy ắp những sự kiện, những thông tin" không phải là nói ngoa!

(Diễn đàn)

Cần thay đổi phương pháp giáo dục cổ hủ

Nhân dịp đầu năm mới, Kiến Thức khởi đăng loạt bài góp ý cải cách giáo dục. Đây là những ý kiến của thầy cô giáo, học sinh, bạn đọc... và các chuyên gia quan tâm đến "sự nghiệp trồng người".
Chính người thầy phải thay đổi
Những bất cập của hệ thống giáo dục đã được các chuyên gia mổ xẻ. Nhưng để đổi mới, chỉ nhìn ra bất cập thôi chưa đủ. Vậy giải pháp nào mới là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa giáo dục hiện đại, đáp ứng yêu cầu thực tế? Chiếc đũa thần nào khép được cánh cửa giáo dục đã lạc hậu, cũ kỹ, gỉ sét, không còn phù hợp nữa? Làm thế nào để không còn tình trạng thừa thầy thiếu thợ, học nhiều hiểu ít, chen đổ cổng trường xin học, ngồi nhầm lớp, quay cóp gian lận thi cử... Có lẽ phải là sự vào cuộc của cả hệ thống.
Sự chuyển dịch đầu tiên phải chính là người thầy. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, thực tế vẫn tồn tại nhiều thầy cô có phương pháp giáo dục cổ hủ, duy lý. Họ không chịu cập nhật những cái mới để theo kịp sự phát triển của học sinh. Trong khi đó, nếu thầy sai và không chứng minh được kiến thức, luận điểm của mình đưa ra là đúng và phù hợp thì tự nhiên, học trò sẽ đào thải thầy. Có những công nghệ, giải pháp, công thức... hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, giáo viên vẫn cứ lấy ra để giảng dạy cho học sinh. Với những em nhạy bén, chúng sẽ ngay lập tức nhận ra sự không phù hợp. Khi đó, sự kính trọng của người thầy của học trò cũng sẽ giảm bớt.
Học sinh phải chủ động, sáng tạo trong cách học, cách tiếp thu bài giảng. Làm chủ kiến thức của mình để không tự biến mình thành những con vẹt biết nói. Học sinh có nền tảng kiến thức để đánh giá chính giáo viên của mình. Khi học sinh tự nâng tầm của mình thì giáo viên - vì lo sợ bị đào thải - cũng sẽ phải cố gắng nhiều hơn.
Học sinh chủ động làm chủ kiến thức của mình để không tự biến mình
thành những con vẹt biết nói.  
Đổi mới toàn diện
TS Nguyễn Tùng Lâm cho rằng, nếu chúng ta để tình trạng giáo dục lạc hậu thì không có cách nào chúng ta có thể "sánh vai với các cường quốc năm châu". Trong các chỉ thị, nghị quyết thì giáo dục là một trong những ngành được nhiều mỹ từ đẹp đẽ, có sức hấp dẫn lớn như "quốc sách hàng đầu", "đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển", "cho tương lai", nhưng trên thực tế ngành giáo dục lại không được ưu tiên.
Theo GS Phạm Minh Hạc để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục là đổi mới SGK, làm cho SGK chính xác, thiết thực với phần thực hành tương thích (cần hoàn thành viết lại SGK trước năm 2015); trang bị đầy đủ thiết bị dạy học, các cấp học đều học hai buổi/ngày; chấn chỉnh đội ngũ nhà giáo có tay nghề. Ngành giáo dục hiện vẫn cứ loay hoay với việc dạy chữ; từ sách giáo khoa đến phương pháp dạy học. Cải tiến mãi vẫn trong vòng luẩn quẩn... Đổi mới phải căn cơ, có lộ trình với những bước đi bài bản.
Tại sao lại có chuyện "mua bằng bán điểm", tại sao lại có tình trạng học thêm tràn lan từ mầm non, tiểu học? Tại sao bằng cấp từ các cuộc thi là "bằng thật" nhưng lại đẻ ra những sản phẩm người học "lại giả"; không chịu học hành rèn luyện, cứ hết năm lên lớp, cuối cấp nhận bằng. Làm sao giáo dục có chất lượng được. Chúng ta đã không điều khiển ngành giáo dục bằng chính quy luật tích cực của kinh tế thị trường. Có lúc chúng ta đã nhầm lẫn giữa việc chống "thương mại hóa giáo dục" với việc vận dụng các quy luật tích cực của kinh tế thị trường như "cạnh tranh", "cung phải đáp ứng cầu" quy luật "giá trị"? Cách đào tạo hiện nay chỉ khuyến khích người học học vẹt, chỉ biết làm theo không dám sáng tạo, không có khát vọng cống hiến.
Những phương pháp giảng dạy sáng tạo cũng đã được đề xuất, học trò hào hứng. Nhưng nó chỉ phù hợp với một đối tượng nhỏ hẹp và có tác dụng trong phạm vi nhất định. Còn để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục cần có những quyết sách lớn, vĩ mô.
(Kiến thức)
 

Chỉ mỗi chuyện mừng trước mừng sau mà không nhường nhau được, thế thì làm được gì?

Cảm xúc

Tết này ra đường lại gặp những khẩu hiệu "Mừng Đảng, mừng Xuân"... Chuyện tưởng nhỏ như con thỏ, nhất là khi lòng dân đã quá rõ... Nhưng ý Đảng sao còn quá xa vời? Trong lòng bất giác trào lên một cảm xúc khó tả: Chẳng lẽ sự bảo thủ và trì trệ đáng sợ đến vậy? Chỉ  mỗi chuyện mừng trước mừng sau mà không nhường nhau được, thế thì lấy đâu ra dũng khí, dũng cảm để tiếp tục chèo lái con thuyền ?
Nói thật nhé! Hàng  ngàn lời phê và tự phê trong hàng vạn lần cuộc kiểm điểm cũng không bằng một động tác đơn giản là trả lại đúng chỗ của từ "đảng". Chỉ cần làm được thế đất trời sẽ hài hòa,  lòng dân được giải tỏa.... Cớ sao không làm? Hay chung quy chỉ tại...?    
Hà Nội, 28 Tết Quý Tị 
Trần Kinh Nghị
(Blog Trần Kinh Nghị) 

Nguyễn Thị Từ Huy - Chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng

"Dù có tạo ra khác biệt cỡ nào về quyền lực và vật chất, khi tước đoạt tự do của toàn xã hội thì thiểu số quyền lực và giàu có cũng không có tự do đích thực, tất cả đều cùng bị đẩy vào trạng huống của những kẻ nô lệ."
Để kết thúc một năm cũ
Việc những người nông dân mới đây ký tên vào Lời kêu gọi do những trí thức khởi xướng và việc những cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa ký tên vào văn bản do những người cộng sản soạn thảo đã làm tôi nghĩ đến điều này : chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng.
Không ai phủ nhận được sự khác biệt giữa các cá nhân, sự khác biệt giữa các vùng miền, giữa các tầng lớp có nghề nghiệp khác nhau, có mức độ tài sản khác nhau… Nhưng liệu có thể phân biệt một cách hết sức rạch ròi giữa người miền Nam và người miền Bắc, giữa công nhân, nông dân và trí thức, giữa người trong nước và người sống ở hải ngoại ? Có thể nào vạch ra một ranh giới rõ rệt giữa những con người, có thể nào phân chia con người thành những chiến tuyến bất di bất dịch ? Có lẽ chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng. Thế nên những người chống cộng sẽ có một ngày ngỡ ngàng chứng kiến một nghệ sĩ cộng sản (mà nếu có sang biểu diễn ở Cali rất có thể sẽ bị họ tẩy chay) từ chối nhận bằng khen của người đứng đầu chính phủ mà bà cho là « làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân ». Nhưng Kim Chi nói là bà không chống cộng, bà chỉ chống cái xấu, cái ác, sự hủy diệt. Có lẽ những người chống cộng cũng đã không chống cộng nếu sau khi chiến tranh kết thúc họ được sống trong tình nhân ái, họ được đối xử bình đẳng, được nhìn nhận như là nạn nhân của một hoàn cảnh cụ thể chứ không phải như kẻ thù không đội trời chung, nếu họ có một cuộc sống bình an, có một cuộc sống của con người.
Chúng ta cùng có những nỗi niềm, dù có thể khác nhau nhưng đều là những nỗi niềm.
Các nhà văn miền Nam phải vào trại cải tạo dĩ nhiên bị tổn thương. Còn các nhà văn miền Bắc phải bị giam cầm như nhóm Nhân Văn, Hoàng Hưng, Hoàng Cầm, Dương Thu Hương, Bùi Ngọc Tấn… có bị tổn thương không ? Chúng ta đều tổn thương, với các mức độ khác nhau nhưng đều tổn thương. Sao vẫn không hết nhu cầu tiếp tục làm tổn thương nhau ? Tuổi thơ tôi từng trải qua những đêm dài bên bếp lửa mùa đông, ba tôi đọc cho chúng tôi nghe những câu thơ về miền Nam, và ông khóc. Giảng viên và sinh viên miền Bắc tìm đọc các tác giả Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Mộng Giác, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền…với tất cả sự yêu mến chân thành của họ. Nhiều sinh viên miền Bắc ngày nay hứng thú làm các bài tập nghiên cứu về các nhà văn nhà thơ đô thị miền Nam trước 75, những nhà văn nhà thơ mà sinh viên ở không ít trường đại học miền Nam cho đến thời điểm này vẫn không được tiếp cận trong phạm vi trường đại học. Vậy sao không tin là người miền Bắc thật lòng với miền Nam ? Sao có thể gộp tất cả những người sống ở miền Bắc vào cái danh từ « người miền Bắc » đầy định kiến?
Hỏi thì hỏi vậy, nhưng tôi và nhiều người khác đều hiểu cái quá khứ đau thương mà người miền Nam phải trải qua sau khi chiến tranh chấm dứt.
Điều quan trọng là một bộ phận nhỏ trong xã hội, ở cả hai miền, bộ phận lãnh đạo có khả năng và trách nhiệm thực hiện quá trình hóa giải cho nỗi đau của những người dân của hai miền, cái bộ phận ấy cho đến giờ vẫn chưa có những động thái cần thiết cho sự hòa giải.
Tại sao những người lãnh đạo lại phải nhìn đồng bào của mình như những kẻ thù truyền kiếp ? Tại sao không thể nhìn nhận họ như là nạn nhân của thời cuộc, không hiểu rằng họ đã chẳng có lựa chọn nào khác ? (Mà suy cho cùng, có sai không khi nói rằng tất cả, bên này hay bên kia, đều là nạn nhân của thời cuộc ? ) Tại sao không thể đối xử với họ như là đồng bào, và như là con người ? Tại sao không thể làm như Nelson Madela ?
Tại sao giờ đây vẫn cứ phải tiếp tục nhìn đồng bào mình như những kẻ thù, tại sao vẫn phải luôn tìm kiếm kẻ thù, tại sao cứ phải biến mọi người thành kẻ thù, kể cả khi chiến tranh đã kết thúc?
Ngày nay khắp nơi đều xảy ra cảnh bất công. Nông dân trong Nam bị cướp đất, còn nông dân ngoài Bắc thì không ư ? Còn ai là không biết tới các vụ Tiên Lãng, Văn Giang, Nam Định ? Công dân trong Nam « thắt cổ tự tử » chết trong đồn công an, còn công dân ngoài Bắc bị công an đánh chết công khai. Giờ đây còn ai không biết tới bi kịch của gia đình chị Thanh Tuyền và chị Kim Tiến ? Và càng ngày càng nhiều người phải vào tù vì các hoạt động đấu tranh cho quyền con người, cả ở miền Nam cũng như miền Bắc.
Bắc hay Nam có khác gì nhau ?
Những người như tôi là người ở đâu ? Sinh ra lớn lên ở miền Trung, từng làm việc ở miền Bắc và giờ đây sống ở miền Nam, tôi chẳng là người của miền nào, hay là người của cả ba miền ? Điều mà tôi biết rõ : tôi là người Việt Nam.
Liệu chúng ta có thể không chỉ nhìn mình như là người của một vùng nào đó, không chỉ nhìn mình như là người của một giới nào đó, để có thể vừa nhìn thấy mình vừa nhìn thấy cả người khác, để thấy rằng chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng ? Nếu một người như André Menras Hồ Cương Quyết có thể kiêu hãnh giơ tấm chứng minh thư lên để tự xác nhận mình là người Việt Nam thì chúng ta có nên cứ giữ mãi cái ranh giới bắc nam như một vết thương không bao giờ khép miệng ?
Chúng ta có nhiều thứ chung hơn là chúng ta tưởng, cho dù chúng ta ở bên nào : bên bị đạp vào mặt hay bên đạp lên mặt người khác, bên phải vào tù vì can đảm dám nói lên sự thật hay bên phải bịa ra những bản án kết tội những người vô tội. Dù chúng ta là những dư luận viên hay là những người cầm bút để phản biện thì hàng ngày có thể chúng ta vẫn đi trên cùng những con đường dưới cùng những hàng cây, thở cùng một loại không khí, uống cùng một nguồn nước, ăn cùng những thực phẩm như nhau. Con cái chúng ta có thể chơi đùa trong cùng một công viên, có thể đến cùng một trường học, có thể sẽ được dạy dỗ bởi những người thầy cất tiếng nói phản biện vì mong muốn một tương lai tốt đẹp cho học sinh sinh viên của họ. Một vài người thầy trong số đó, như Đinh Đăng Định, đã chấp nhận chịu bất công, chịu bị trừng phạt với hy vọng rằng con cái của chúng ta, con cái của chính các dư luận viên có một xã hội công bằng hơn, nhân văn hơn, có những trường học tiến bộ hơn, chất lượng hơn và không phải đi nước khác để tị nạn giáo dục.
Chúng ta đón cùng một cái tết, ăn cùng một loại bánh chưng. Chúng ta có cùng một quá khứ, có cùng một nguồn cội, có cùng những nỗi đau. Dù chúng ta là kẻ gây ra nỗi đau hay là kẻ chịu đựng nỗi đau thì đó cũng là nỗi đau chung của chúng ta. Và ngày nay chúng ta cùng đối diện với những vấn nạn chung của xã hội, với cái nguy cơ chung là an ninh quốc gia bị đe dọa.
Dù có tạo ra khác biệt cỡ nào về quyền lực và vật chất, khi tước đoạt tự do của toàn xã hội thì thiểu số quyền lực và giàu có cũng không có tự do đích thực, tất cả đều cùng bị đẩy vào trạng huống của những kẻ nô lệ.
Dù chúng ta có đứng về phía nào, phe nào, phái nào, dù chúng ta có mạt sát nhau, gây tổn thương cho nhau, trừng phạt nhau đến mức nào, thì khi mất nước chúng ta sẽ cùng là những kẻ nô lệ.
Chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng.
Sài Gòn, ngày 15/1/2013

Nguyễn Thị Từ Huy

(Diễn đàn) 

HOT - BÀI VIẾT NÊN ĐỌC

Nguyễn Tường Tâm – Sửa hiến pháp: Bất khả thi!

Nguyễn Tường Tâm (luật gia)
Đảng và chính quyền đang tung chiến dịch kêu gọi toàn dân góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp 1992. Nhưng qua nội dung bản dự thảo và những ý kiến được phát biểu trên cả báo lề phải cũng như lề trái cho tới nay, người ta thấy việc sửa hiến pháp sắp tới sẽ khó thỏa mãn nguyện vọng của nhân dân. Có ba lý do để các chuyên gia pháp lý nghĩ như vậy:
1- Thời hạn ba tháng góp ý quá ngắn.
2- Đảng và chính quyền chưa tỏ thực tâm sửa đổi (incentive problem).
3- Cán bộ pháp lý cao cấp của Đảng và chính quyền chưa cho thấy đầy đủ kiến thức pháp lý để thực hiện cải tổ (knowledge problem).
* * *

I/ Thời gian góp ý được Đảng qui định đã được một số trí thức hàng đầu cho biết là không đủ.

Lý do dễ hiểu là trong việc góp ý sửa đổi Hiến Pháp có hai thành phần dân chúng: Thành phần ngoài giới pháp luật và thành phần luật gia. Nếu ba tháng có thể tạm đủ cho thành phần dân chúng ngoài giới luật pháp nêu lên ý kiến của mình thì những ý kiến đó chỉ bộc lộ những mong muốn, ước vọng, và ý thích. Những mong muốn của quần chúng thật quan trọng để chính quyền quan tâm khi hình thành bản hiến pháp hợp lòng dân. Nhưng những mong muốn của người dân thì đa dạng, người muốn thế này, người muốn thế khác. Làm thế nào để đạt sự đồng thuận, dù luôn luôn chỉ là tương đối? Đây là vấn đề của những luật gia, những người được học hỏi những lý thuyết triết học, xã hội, kinh tế và pháp luật đã có trong suốt quá trình phát triển của xã hội loài người. Chính những luật gia sẽ thu thập tất cả nguyện vọng của người dân, những nguyện vọng có thể đối chọi nhau, để tìm kiếm trong kho tàng kiến thức luật pháp của nhân loại những lý thuyết pháp lý, học thuyết, mẫu mực tổ chức công quyền đáp ứng nhiều nhất ước vọng của người dân. Chính các luật gia mới là những người có thể giúp người dân hiểu rõ lý thuyết nào, hình thức chính quyền nào bảo vệ quyền lợi của họ hữu hiệu nhất, nhiều nhất; những lý thuyết nào, mẫu mực chính quyền nào làm thiệt hại quyền lợi của họ nhất, để người dân có được những quyết định xác đáng nhất (informed decisions) [1]. Về mặt kỹ thuật, bài nghiên cứu sau khi hoàn thành phải đăng trên mọi hình thức truyền thông, chờ các luật gia khác nghiên cứu góp ý phản hồi. Thêm nữa, để giúp quần chúng thông hiểu vấn đề, các luật gia không thể viết một bài nghiên cứu toàn bộ Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp, vì sẽ quá dài và phức tạp, mà phải nghiên cứu từng vấn đề mà bản Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp nêu lên. Như thế sẽ mất rất nhiều thời gian. Thời gian để các luật gia nghiên cứu, phổ biến ý kiến, thảo luận phải nhiều tháng, có khi một năm, như nhóm trí thức do cựu bộ trưởng tư pháp Nguyễn Đình Lộc trưởng đoàn vừa đề nghị. Tóm lại, quá trình trao đổi góp ý cho bản Dự thảo sửa đổi hiến pháp phải dài nhiều hơn là ba tháng. Đây là trở ngại thứ nhất khiến cho công cuộc sửa đổi hiến pháp sắp tới có tính cách “bất khả thi”, trong ý nghĩa khó đạt hiệu quả đa số nhân dân mong muốn.

II/ Đảng và chính quyền chưa tỏ thực tâm sửa đổi (incentive problem).

Theo lý thuyết chính trị & kinh tế dĩ công vi tư (Public choice theory, chữ dịch của tác giả) [2], chính quyền, gồm những con người, tự bản chất, luôn luôn giống như mọi con người bình thường khác (rational people), luôn muốn có những đạo luật, những chính sách, những quyết định có lợi cho mình, đi ngược lại quyền lợi của người dân. Kẻ cầm quyền sẽ không phục vụ lợi ích của nhân dân nếu không có lý do thúc đẩy họ làm như thế. Tại những quốc gia dân chủ, các chính trị gia không thể tham nhũng, cho nên lợi ích của họ là lấy lòng cử tri để được tái cử trong nhiệm kỳ kế tiếp. Trong một chế độ mà các người lãnh đạo công quyền không phải do người dân bầu ra, việc tái đắc cử hay được tiếp tục giữ chức vụ hoàn toàn do đảng quyết định, người dân không có tiếng nói quyết định vận mạng chính trị của họ, thì họ không quan tâm tới nguyện vọng của người dân. Vì thế không có lý do gì để tin tưởng rằng Đảng và chính quyền hiện nay có thực tâm sửa đổi hiến pháp. Điều này được chứng minh qua cuộc vấn đáp của nhà báo với Đại biểu Quốc hội Ngô Văn Minh trong bài Ngồi trên trời mà làm chính sách” (http://www.tinnongtrongngay.net/2013/01/ngoi-tren-troi-ma-lam-chinh-sach.html) Khi được hỏi: “* Ông Vũ Đức Đam, bộ trưởng – chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, thừa nhận có tình trạng thông tư của bộ, ngành thường được soạn thảo theo hướng thuận lợi cho sự quản lý của mình,… ông nghĩ sao?” Đại biểu Minh trả lời: “Tôi đồng tình với quan điểm của ông Đam.“
Sự thiếu tin tưởng rằng Đảng và chính quyền có thực tâm sửa đổi hiến pháp cũng dựa trên mấy hành động thực tế của Đảng như thủ tục thu thập ý kiến của người dân dưới đây:
Đảng để thời gian thu thập ý kiến của người dân quá ngắn khiến người dân nghĩ rằng việc thu thập ý kiến của nhân dân chỉ có tính cách hình thức.
Thủ tục góp ý có tính cách hành chánh quan liêu: chỉ ghi nhận những ý kiến người dân mang tới văn phòng của Ủy Ban, hay gửi vào trang mạng của Ủy Ban Soạn thảo Dự án hoặc được đăng trên các báo nhà nước. Các ý kiến phát biểu trên các trang mạng hay các blog của người dân không được Đảng chấp nhận. Nếu thực tâm muốn thu thập toàn bộ ý kiến của người dân thì bất cứ ý kiến được phát biểu dưới hình thức nào cũng cần được thu thập để đánh giá.
Việc thu thập ý kiến có tính cách đe dọa người dân có ý kiến không hợp ý Đảng. Trong lịch sử cầm quyền của Đảng, đây là lần đầu tiên Đảng kêu gọi người dân đóng góp ý kiến vào việc sửa đổi Hiến Pháp. Cho tới mới đây những ý kiến kêu gọi Đảng sửa đổi Hiến pháp chẳng những không được đáp ứng mà những người nêu ý kiến còn bị Đảng bỏ tù như Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường (thập niên 1950), Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ mới đây, và không ít người bất đồng chính kiến khác nữa, khiến người dân sợ không dám đụng chạm tới đề tài cấm kỵ này. Với tâm trạng lo sợ đó mà nay Đảng kêu gọi người dân đóng góp ý kiến phải viết tên, địa chỉ và số điện thoại thì chỉ có những người đóng góp những ý kiến vụn vặt hay thuận theo bản dự thảo của Ủy Ban soạn ra mới dám lên tiếng, chứ những người có những ý kiến liên quan tới những điều quan trọng trái ngược với bản Dự thảo của Ủy ban Soạn Thảo thì chắc chắn không dám. Đây là trở ngại khá lớn để lần sửa đổi này có khả năng đáp ứng nguyện vọng của đa số nhân dân.
Một sự kiện nữa khiến người dân chưa tin đảng thực tâm muốn sửa đổi Hiến pháp lần này là phát biểu mới đây nhất của ông Nguyễn Văn Phúc – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Phó Trưởng Ban Biên Tập dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992 cho biết Đảng sẽ soạn Luật Đất đai trước rồi sau đó mới soạn Hiến Pháp sao cho Hiến pháp phù hợp với Luật Đất đai. Điều này là trái với nguyên tắc thông thường soạn thảo và sửa đổi Hiến Pháp. Trên thế giới ngoài khối Xã Hội Chủ Nghĩa và Cộng Sản, không nước nào soạn thảo hay sửa đổi Hiến Pháp một cách thiếu hiến tính như vậy. (Nguyễn Tường Tâm – Sửa Hiến Pháp – Bịp có bằng chứng)
Và quan trọng hơn hết, chính Ô. Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước đã mạnh dạn tuyên bố “Bỏ điều 4 Hiến Pháp là tự sát.” Quan điểm của Đảng đã định trước như thế thì việc sửa đổi hiến pháp trong tương lai nếu có cũng chỉ là bề mặt như nhiều người đã nhận định.

III/ Cán bộ pháp lý của Đảng và chính quyền chưa cho thấy đầy đủ kiến thức pháp lý để thực hiện cải tổ (knowledge problem).

Sự thiếu trình độ, không có kinh nghiệm nghiên cứu của cán bộ lãnh đạo tư pháp của Đảng và Nhà nước trước tiên thể hiện ở việc qui định thời gian góp ý quá ngắn. Như đã trình bày ở mục I (thời gian góp ý quá ngắn). Nếu có kinh nghiệm nghiên cứu một đề án lớn, người ta sẽ không qui định thời gian góp ý ngắn như vậy.
Nhiều báo cáo chính thức của cán bộ đầu ngành tư pháp Việt Nam xác nhận trên 50% thẩm phán, Kiểm sát viên viện kiểm sát thiếu trình độ chuyên môn (báo cáo chính thức quá nhiều nên xét thấy không cần trích dẫn ra đây.) Ngay cả Chánh án tòa án Tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao cũng bị cán bộ tư pháp trong ngành tố cáo là bằng “rỏm”, tức là bằng thật nhưng không thật vì không biết hai vị đó học lúc nào, tại trường đại học nào (việc tố cáo đã gây rầm rộ một thời nên xét thấy cũng không cần trích dẫn).
Sự thiếu khả năng pháp lý ở cấp cán bộ cao nhất nước đã đưa tới việc soạn thảo những đạo luật phải cần từ 200 tới 400 thông tư, nghị định hướng dẫn như lời Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng phát biểu trong buổi phát biểu của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang trước Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội được đăng trên báo Lao Động ngày 17-122-2012 (http://laodong.com.vn/Chinh-tri/UB-Thuong-vu-QH-thao-luan-ve-luat-dat-dai-sua-doi-Phai-tiep-tuc-tiep-thu-hoan-thien/95771.bld) Nếu cán bộ lãnh đạo tư pháp có trình độ đúng mức thì không thể có những đạo luật như vậy.
Mới đây nhất, theo báo Pháp Luật, Bộ Công Thương vừa công bố một nghị định hướng dẫn Luật Điện Lực (sửa đổi) theo đó bên mua điện sử dụng lượng điện thấp hơn 50% công suất được đăng ký trong hợp đồng mua bán điện cũng bị xem là vi phạm và sẽ bị phạt. Chỉ có ở Việt Nam mới có những cán bộ tư pháp cấp cao mà thiếu trình độ đề ra luật “điên” như vậy. (http://phapluattp.vn/20130204124358340p1014c1068/d249ng-dien-237t-cung-bi-phat.htm)
Những dẫn chứng về sự thiếu trình độ tư pháp của cán bộ tư pháp mọi cấp của Việt Nam thì tràn lan hàng ngày trên báo chí của chính quyền.
Chưa nói tới trình độ tư pháp, riêng về trình độ văn hóa phổ thông, cán bộ lãnh đạo ngành tư pháp Việt Nam cho thấy chỉ ở trình độ học hết cấp 1 theo tiêu chuẩn giáo dục của mọi quốc gia trên thế giới. Sau khi học hết cấp 1 thì người học sinh không thể viết một bản văn có những từ vô nghĩa, hay tác giả không hiểu nghĩa. Vậy mà trong bản Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp 1992 hiện nay có những từ vô nghĩa, không ai biết nghĩa là gì, ngay cả giới lãnh đạo khi được hỏi cũng không giải thích được, đó là mấy từ “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; “dân chủ tập trung”; “Pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.
Thêm nữa, khi học hết cấp 2, học sinh đã biết viết một bài văn luận đề trong đó không được có những ý tưởng mâu thuẫn nhau (thiếu logic). Vậy mà trong bản Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp hiện nay có những điều khoản mâu thuẫn với điều 4 của Dự thảo (đã được nhiều người nêu lên).
Ngoài ra, trong bản Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp hiện nay cũng còn nhiều điều cho thấy cán bộ lãnh đạo cũng như các chuyên viên soạn thảo thiếu trình độ pháp lý cần thiết, sẽ được trình bày trong các bài chuyên đề tiếp theo sau này.
Trình độ yếu kém của cán bộ cao cấp ngành tư pháp cũng được thể hiện qua cuộc vấn đáp của nhà báo với Đại biểu Quốc hội Ngô Văn Minh trong bài “Ngồi trên trời mà làm chính sách” nêu trên. Khi được hỏi: “Nguyên nhân của những văn bản bị dư luận phản ứng, thậm chí có văn bản chưa thực hiện đã phải sửa, theo ông là từ đâu, do quan liêu hay do trình độ của những người soạn thảo văn bản đó?” Đại biểu Quốc Hội Ngô Văn Minh đã trả lời: “Tôi nghĩ là do cả hai, cả trình độ năng lực và sự quan liêu, kể cả người thẩm định các văn bản đó cũng quan liêu.“
Tóm lại, trong ba yếu tố khiến cho công cuộc sửa đổi hiến pháp sắp tới khó đáp ứng được nguyện vọng của người dân thì hai yếu tố quan trọng nhất là Đảng và Chính quyền thiếu thực tâm và thiếu kiến thức luật pháp.
_______________

Ghi chú:

- Tác giả sẽ có nhiều bài tiếp theo dựa trên lập luận pháp lý để phân tích những điều khoản thiếu hiến tính trong Bản Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992 đang được nhiều người quan tâm mà chưa được luật gia nào phân tích.
[1] Một quyết định xác đáng (an informed decision) là một quyết định sau khi người quyết định được biết tất cả những thông tin quan trọng liên quan tới trọng tâm của quyết định (An informed decision is a decision made after learning relevant facts (informing oneself) about the focus of the decision.)
http://wiki.answers.com/Q/What_is_an_informed_decision
[2] Lý thuyết “dĩ công vi tư” (Public choice theory) cho rằng mọi người chủ yếu bị hướng dẫn bởi quyền lợi của họ, và quan trọng hơn nữa, lý thuyết này cho rằng động cơ của con người trong tiến trình chính trị (chính trị gia hay người dân bầu cử-chú thích của tác giả) không khác với động cơ của con người khi vào nhà hàng ăn hay mua xe hơi. Sau cùng, tất cả họ cũng là con người như nhau. Như thế, cử tri “bỏ phiếu cho túi tiền của họ”, ủng hộ những ứng cử viên nào và các dự án luật nào mà họ nghĩ sẽ khiến quyền lợi của họ được nhiều hơn; các viên chức nhà nước thì cố gắng để thăng tiến trong nghề nghiệp.
(But public choice, like the economic model of rational behavior on which it rests, assumes that people are guided chiefly by their own self-interests and, more important, that the motivations of people in the political process are no different from those of people in the steak, HOUSING, or car market. They are the same human beings, after all. As such, voters “vote their pocketbooks,” supporting candidates and ballot propositions they think will make them personally better off; bureaucrats strive to advance their own careers.)
http://www.econlib.org/library/Enc/PublicChoice.html

Song Chi - Làm sao tin đảng CSVN thực sự muốn thay đổi?

Việc Luật Sư Lê Công Ðịnh được ra tù trước thời hạn là một trong những việc bất ngờ, hiếm hoi, từ phía nhà nước Việt Nam.

Luật Sư Lê Công Ðịnh
Trước đó, Hà Nội cũng bất ngờ trục xuất Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân, công dân Mỹ gốc Việt, đảng viên cao cấp của Việt Tân, về Hoa Kỳ, sau hơn 9 tháng giam giữ và một vài lần tuyên bố đưa ra xét xử rồi lại hoãn.
Cùng với việc blogger Lê Anh Hùng được trả về sau 10 ngày bị bắt cóc đưa vào trại tâm thần, đây có thể coi là những tin vui hiếm hoi trước khi kết thúc một năm có quá nhiều điều gây phẫn nộ trong nhân dân.
Quá nhiều u ám từ tình hình quốc phòng, chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường cho đến việc gia tăng đàn áp tôn giáo, đàn áp những người bất đồng chính kiến...
Từ trước đến nay, nhà nước cộng sản VN vẫn bị xem là một trong vài chính quyền bảo thủ, cứng rắn, không khoan nhượng nhất, bất chấp dư luận thế giới nhất trong cách đối xử với người dân. Nhà nước VN cũng “nổi tiếng” với sự bất nhất giữa lời nói và việc làm.
Do vậy, một vài việc làm rất nhỏ như thả một hai tù nhân bất đồng chính kiến không làm cho người dân vội tin rằng đã có những chuyển biến tích cực nào đó từ phía họ.
Vẫn còn đó hàng trăm, ngàn tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, nhà hoạt động tôn giáo đang phải chịu cảnh tù đày khắc nghiệt với những bản án quá nặng nề, phi lý.
Những người bị bắt từ một hai thập niên gần đây dù sao cũng còn may mắn hơn các thế hệ tù nhân chính trị trước đó. Nhờ có Internet, các trang mạng xã hội, blog, báo chí độc lập trong và ngoài nước sẽ nhanh chóng đưa tin về những trường hợp bị bắt, hay bị bắt cóc, bị hành hạ, xúc phạm đến thân thể, nhân phẩm...
Cho dù sự lên tiếng của dư luận và sức ép của thế giới có thể cũng không làm cho Hà Nội chùn chân, nhưng chí ít, họ không thể lẳng lặng “xóa bỏ” cuộc đời của một con người một cách không dấu vết.
Biết bao nhiêu người trước kia phải chịu án tù đằng đẵng, thầm lặng trong hàng chục năm trời mà mãi gần đây, hoặc khi họ chết, chúng ta mới biết.
Như trường hợp cựu Ðại úy VNCH Nguyễn Hữu Cầu bị giam đến nay đã 37 năm, bệnh tật tàn phá cơ thể nặng nề.
Như hạ sĩ quan quân lực VNCH Trần Tư bị bắt từ năm 1993 trong bài viết “Xin đừng lãng quên người tù bất khuất, xuyên thế kỷ Trần Tư” của tác giả Nguyễn Thu Trâm.
Tù nhân Trương Văn Sương, trung úy quân lực VNCH, bị bắt từ năm 1984 vì tội “chống phá chính quyền cách mạng” đến tháng 7, 2010, thì được tạm tha một năm về nhà chữa bệnh vì sức khỏe quá yếu, sau đó lại bị đưa vào tù và chết chỉ 25 ngày sau. Tổng cộng cả thời gian đi học tập cải tạo trước đó, ông đã ở tù 33, 34 năm.
Tù nhân Nguyễn Văn Trại, bị kết án 15 năm, chết trước khi mãn hạn tù vài tháng.
Tù nhân Trần Văn Thiêng, sĩ quan lực lượng cảnh sát đặc biệt VNCH, bị tù vì tội “viết tài liệu chống phá cách mạng,” 26 năm mới được ra, Ðại úy Nguyễn Anh Hảo 3 lần bị bắt tổng cộng 23 năm tù...
Khi họ được thả về hoặc chết, thế giới mới biết được cuộc sống tù đày vô cùng khắc nghiệt, vô nhân đạo trong các trại giam lớn nhỏ khắp nước của chế độ cộng sản ở VN. Và mới được biết còn rất nhiều tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm khác vẫn đang phải thi hành án, bao nhiêu người khác phải chết lặng lẽ cô đơn.
Nếu thật sự chuyển biến, điều tối thiểu đầu tiên mà nhà nước cộng sản phải làm là thả dần dần đến hết, tất cả tù nhân chính trị hiện còn đang trong tù, nhất là những người tù trên 10, 15 năm, sức khỏe cạn kiệt.
Một chế độ luôn luôn nuôi dưỡng trong lòng mối thù dai và trả thù hết sức nặng nề đối với những người không cùng quan điểm chính trị, không tán thành sự lãnh đạo của mình.
Một nhà cầm quyền đã gây ra quá nhiều vết thương thù hận, chia rẽ giữa những kẻ chiến thắng và phe bị cho là bại trận, nhưng lại không hề có được một cử chỉ nhân đạo, thiện chí nào đối với tù nhân chính trị, thương phế binh, gia đình tử sĩ chế độ miền Nam cho đến những nấm mồ bị bỏ hoang phế trong nghĩa trang quân đội VNCH... Thì làm sao có thể tin họ thực sự muốn thay đổi?
Từ những sự kiện, sự việc có liên quan đến cuộc chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm mà nhà cầm quyền vẫn không tỏ ra muốn chấp nhận sự thật, có tinh thần hòa hợp hòa giải hay chí ít, tôn trọng “đối phương.” Thay vì vẫn tiếp tục kỷ niệm tưng bừng những ngày lễ 30 Tháng Tư, tiếp tục làm phim dối trá về sự kiện Tết Mậu Thân 1968, không công nhận những người lính VNCH đã ngã xuống trong trận hải chiến Hoàng Sa cũng là liệt sĩ, v.v...
Cho đến cách hành xử đối với những sự việc đang xảy ra trong xã hội ngày hôm nay.
Nếu thực sự chuyển biến, nhà nước VN phải chấp nhận sửa đổi Hiến Pháp thực sự trở thành một bản Hiến Pháp tiến bộ của một nước dân chủ, chấp nhận đa nguyên đa đảng, chấp nhận thể chế tam quyền phân lập, cộng thêm sự tồn tại độc lập của báo chí truyền thông, của những tổ chức dân sự.
Thay đổi ngay những vấn nạn lớn nhất mà cũng là “tử huyệt” của chế độ như sửa đổi luật đất đai cho phép người dân được sở hữu thực sự mảnh đất của mình, xóa bỏ vai trò chủ đạo của các tập đoàn kinh tế nhà nước, kinh tế quốc doanh v.v. và v.v.
Nhìn lại hơn 70 năm độc quyền lãnh đạo, đảng và nhà nước cộng sản VN không chỉ gây ra quá nhiều thiệt hại cho đất nước, dân tộc về mọi mặt mà chính họ, bây giờ cũng đang hết sức bế tắc.
Những người lãnh đạo cao nhất lâu nay từng nhiều lần phải lên tiếng thừa nhận đảng cộng sản đang bị thoái hóa, biến chất nghiêm trọng mà bao nhiêu cuộc chỉnh đốn cũng không đem lại kết quả gì.
Ða số đảng viên không còn niềm tin vào lý tưởng, vào sự lãnh đạo của đảng mà chỉ gắn bó với chế độ vì quyền lợi cá nhân. Nội bộ bị phân hóa, chia rẽ sâu sắc, người tài giỏi bị thui chột, không có điều kiện tiến thân nên sau nhiều năm dài, trong bộ máy của đảng và nhà nước chỉ toàn là những kẻ bất tài, cơ hội, thủ đoạn, không có cả năng lực lẫn cái tâm cái tầm. Ðảng bị nhân dân oán hận, xa lánh.
Nhìn ra thế giới thì chả có ai là bạn, là đồng minh chiến lược, cũng chẳng được các nước dân chủ tiến bộ có thiện cảm do “thành tích” tệ hại về nhân quyền, đàn áp tự do dân chủ cũng như sự kém cỏi trong điều hành quản lý đất nước.
Ngay cả các nước cộng sản “anh em, đồng chí” ít ỏi còn lại cũng chẳng mặn mà gì. Sinh nhật đảng 3 tháng 2, 2013 vừa qua chỉ có... Ban chấp hành Trung ương Ðảng Nhân dân Cách mạng Lào và Ðảng Nhân dân Campuchia gửi điện chúc mừng, còn Trung Quốc, Cu Ba, Bắc Hàn đều... lơ! “Trung Quốc không những không gửi điện mừng, mà ngày 4 tháng 2, trang Hoàn Cầu Thời Báo có bài trích báo tiếng Anh có ý chê rằng lễ kỷ niệm sinh nhật Ðảng tại Việt Nam không còn tính thời sự.” (“Vắng lời chúc mừng sinh nhật đảng ở VN? - BBC).
Ðó là chưa kể cái thòng lọng của thế lực bành trướng Trung Quốc cứ ngày càng khép chặt trên biển, sự lộng hành lấn lướt ngày càng tăng cộng với những chính sách ngấm ngầm phá hoại từ kinh tế đến chính trị, xã hội... của nhà cầm quyền TQ trước nước láng giềng bạc nhược.
Chưa bao giờ đảng cộng sản VN ở trong tình trạng khó khăn, bế tắc, cô đơn đến vậy.
Nhưng liệu họ đã nhìn ra điều đó chưa?
Hãy thử nhìn qua những gì chính quyền Miến Ðiện của Tổng Thống Thein Sein đã làm chỉ trong vòng hai năm qua, đã khiến thế giới thật sự tin rằng họ muốn thay đổi. Còn nhà nước VN thì từ người dân trong nước cho đến các nước dân chủ tiến bộ trên thế giới, đã quá mất lòng tin cũng như đã quá thuộc “bài” của họ. Cứ khi nào cần thương lượng một điều gì đó với Hoa Kỳ, với thế giới thì lại đem tự do, sinh mạng của một vài tù nhân chính trị ra đổi chác.
Nhân dân chẳng khác nào những con cá nằm trong rọ, muốn bắt, muốn đưa vào trại tâm thần lúc nào là bắt, muốn thả lúc nào là thả, nhưng luôn luôn có mục đích cả. Hoàn toàn không có gì đáng tự hào cho một chính quyền khi phải dùng đến kế hạ sách nhất, là sử dụng nhân dân như những con tin của mình.
Song Chi
(Người Việt)

Brunei chủ tịch ASEAN : Trung Quốc khó lòng o ép như đối với Cam Bốt


Logo của ASEAN 2013 tại Brunei
Logo của ASEAN 2013 tại Brunei
Năm nay 2013, Brunei chính thức thay Cam Bốt giữ chức chủ tịch ASEAN. Thời kỳ Cam Bốt nắm quyền lãnh đạo Hiệp hội các nước Đông Nam Á đã diễn ra một cách rất tệ hại cho toàn khối, vì Phnom Penh đã thẳng thừng chiều theo quan điểm của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông. Theo thông tín viên Arnaud Dubus phụ trách khu vực Đông Nam Á, dù là một nước tí hon, lại có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc, nhưng Brunei sẽ không quỵ lụy Bắc Kinh như Phnom Penh đã làm trong năm vừa qua.
Từ tháng Giêng năm nay 2013, Brunei chính thức lên thay Cam Bốt giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN. Thời kỳ Cam Bốt nắm quyền lãnh đạo Hiệp hội các nước Đông Nam Á đã diễn ra một cách rất tệ hại cho toàn khối, mà ví dụ điển hình là sự kiện các quốc gia ASEAN đã không công bố được một thông cáo chung nhân Hội nghị Ngoại trưởng vào tháng 7/2012 tại Phnom Penh.
Thất bại đó bắt nguồn từ việc Cam Bốt thẳng thừng chiều theo quan điểm của Trung Quốc trên vấn đề căng thẳng ở Biển Đông.Câu hỏi đặt ra hiện nay là liệu việc Brunei – quốc gia nhỏ bé, và ít dân cư nhất trong số các nước Đông Nam Á – lên giữ chức chủ tịch có mang lại thay đổi gì hay không ?
Thông tín viên Arnaud Dubus tại Bangkok
10/02/2013
by Trọng Nghĩa
Theo thông tín viên Arnaud Dubus phụ trách khu vực Đông Nam Á, dù là một nước tí hon, lại có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc, nhưng Brunei sẽ không quỵ lụy Bắc Kinh như Phnom Penh đã làm trong năm vừa qua. Đánh giá về khả năng Brunei có thể vãn hồi tình hình trong khối ASEAN vốn đã bị nhiệm kỳ chủ tịch của Cam Bốt làm xấu đi đáng kể, Arnaud Dubus có nhận xét tương đối lạc quan :
Arnaud Dubus : Phải nói trước hết là khó có nước nào có thể làm tệ hơn Cam Bốt trong vai trò chủ tịch ASEAN. Trong lịch sử của mình, chưa bao giờ Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á bị suy yếu đi như thế vì lập trường 100% đi theo Trung Quốc của Phnom Penh.
Tình hình chắc chắn sẽ khác hơn đối với Brunei, một trong những nước cũng có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc, cùng với Việt Nam, Philippines và Malaysia. Dĩ nhiên là Brunei không năng động như Hà Nội hay Manila trên vấn đề này, nhưng Brunei đã ủng hộ việc thành lập một bộ quy tắc ứng xử chung mang tính chất răng buộc trong vùng biển có tranh chấp.
Tuy nhiên, sự năng động của Brunei trên hồ sơ tranh chấp Biển Đông trong giai đoạn họ làm chủ tịch có thể bị giới hạn do các quan hệ kinh tế quan trọng mà Bandar Seri Begawan muốn duy trì với Bắc Kinh.
Bắc Kinh là khách hàng rất quan trọng mua khí đốt và dầu hỏa mà Brunei khai thác ngoài khơi của mình. Đây là một yếu tố quan trọng vì năng lượng chiếm đến 90% xuất khẩu của tiểu vương quốc này.
Song song với xuất khẩu, hàng lượng hàng Brunei nhập khẩu từ Trung Quốc cũng gia tăng mạnh mẽ trong thời gian gần đây, và kim ngạch thương mại song phương Trung Quốc-Brunei đã lên đến 1,3 tỷ đô la trong năm 2011. Những tập đoàn lớn của Trung Quốc đã đầu tư vào các đề án khai thác dầu khí hay lọc dầu ở Brunei.
Tóm lại, ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc rất lớn đối với Brunei, đúng vào lúc mà đất nước này chuần bị đối phó với một viễn cảnh kinh tế không sáng sủa khi mà trữ lượng dầu khí của họ có nguy cơ cạn kiệt.
Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là Brunei sẽ tuân theo các chỉ thị của Trung Quốc.
RFI : Brunei là quốc gia nhỏ bé nhất ASEAN, cho dù đó là một nước tương đối giàu có nếu tính trên thu nhập bình quân theo đầu người. Nhưng trên hồ sơ tranh chấp chủ quyền ngoài Biển Đông, liệu tình hình rắc rối hiện nay sẽ vượt quá tầm kiểm soát của Brunei ?
Arnaud Dubus : Dĩ nhiên là Brunei không phải là một thành viên nặng ký của ASEAN, không chỉ là vì dân số quá ít – không đầy 400.000 dân – mà còn là vì Brunei không phải là nước sáng lập khối Đông Nam Á, họ chỉ gia nhập ASEAN vào năm 1984, tức là 17 năm sau khi Hiệp hội được thành lập.
Tuy nhiên, nhiệm kỳ chủ tịch luân phiên của Brunei này có thể là một cơ hội để tiểu vương quốc này khẳng định thế đứng của mình một cách mạnh mẽ hơn trong khu vực. Đây là một cơ hội lý tưởng cho Brunei vì nhiệm kỳ chủ tịch của Cam Bốt trước đó đã có kết quả quá tồi tệ.
Quốc vương Brunei, người đứng đầu một chế độ quân chủ chuyên chế duy nhất trong vùng, cần chứng tỏ uy tín chính trị của ông, không những đối với dân chúng Brunei, mà cả đối với khu vực.
Ngoài ra, cũng cần phải ghi nhận rằng cho dù quan hệ kinh tế Brunei – Trung Quốc rất chặt chẽ, nhưng đó không phải là một sự thống trị kinh tế của Bắc Kinh như đối với Cam Bốt, nước đã được hưởng rất nhiều khoản tín dụng đặc biệt ưu đãi và những khoản tiền cho không của Trung Quốc.
Hiện đã có nhiều dấu hiệu rất đáng khích lệ. Khi Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang viếng thăm Brunei vào tháng 11 năm ngoái (2012), quốc vương Brunei đã khẳng định trở lại hậu thuẫn của ông đối với bản Tuyên bố Ứng xử ở Biển Đông (DOC) mà ASEAN và Trung Quốc đã ký năm 2002, cũng như đối với một bộ Quy tắc ứng xử trong vùng.
Bandar Seri Begawan do đó hoàn toàn có thể là sẽ đưa ra bàn bạc trở lại vấn đề thiết lập bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc ở Biển Đông, điều mà Hà Nội và Jakarta đã từng làm trước nhiệm kỳ chủ tịch của Phnom Penh.
RFI : Trung Quốc sẽ phải xử sự như thế nào với Brunei khi mà Tiểu vương quốc này đã làm chủ tịch ASEAN ?
Arnaud Dubus : Rõ ràng là Bắc Kinh không thể chờ đợi việc Brunei đóng vai người thừa lệnh như Cam Bốt đã làm vào năm ngoái. Vì vậy, Trung Quốc sẽ phải vận động để gây áp lực một cách khéo léo, chứ không thể nào thẳng tay đối với Brunei, vì những quốc gia khác, nhất là Việt Nam, Philippines sẽ có phản ứng. Nhất là khi những bài học rút ra từ nhiệm kỳ chủ tịch của Phnom Penh vẫn còn in đậm trong tâm trí mọi người.
Cũng phải ghi nhận rằng dù Brunei nhỏ bé, nhưng nước này lại nằm trong một thực thể rộng lớn hơn của khu vực văn hóa, ngôn ngữ Mã Lai, trải rộng từ Malaysia, Indonesia cho đến miền Nam Philippines. Bandar Seri Begawan có thể dựa vào hậu thuẫn của Jakarta chẳng hạn, nếu Trung Quốc gây sức ép quá đáng. Cần phải nhớ là quan hệ Trung Quốc – Indonesia chưa bao giờ đằm thắm hoàn toàn.
Tuy nhiên có một dấu hiệu đáng ngại là dường như chưa có một cuộc hội ý nào trong nội bộ ASEAN về cách thức tránh lập lại thất bại tháng 7/2012, cũng như phương thức giúp đỡ Brunei trong nhiệm vụ khó khăn của mình. Và cũng như thường khi với ASEAN, rất có thể khối nước này lại để lâm vào tình trạng « tùy cơ ứng biến ».

Ngòi bút sử

ngòi bút sử đừng viết tròng viết tréo
đừng vẽ tròn vẽ méo, vẽ quanh co
thương thân em làm trẻ học trò
buộc phải nuốt những điều không bằng chứng
những sự thật to đùng sừng sững
sao không ghi vào lịch sử để mai sau
ải Nam Quan nay đã về đâu?
biển đảo mất, vì sao bị mất?
ngòi bút sử cần viết ra sự thật
cho mai sau con cháu biết sử mình….
xin đừng ngậm bút làm thinh!

PHONG TỤC TẬP QUÁN VIỆT NAM

Làng Phường
Giao thiệp
Tết Nguyên Đán
Giổ Tết , tế lễ
Tục lễ đầu Xuân
Cưới hỏi
Tết Thanh Minh
Cúng giổ
Lễ hội
Tang Lễ

Làng Phường
Nền văn hoá truyền thống Việt Nam được hình thành trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp. Cuộc sống của mỗi người Việt Nam đều gắn bó mật thiết với xóm làng, quê hương.
Trong xã hội Việt Nam, dân cư tụ hội thành làng xã ở nơi đồng ruộng và phường, hội ở nơi thành thị. Làng và phường đã ra đời ngay từ những buổi đầu trứng nước của dân tộc. Dần dà, các tổ chức này ngày càng ổn định và chặt chẽ hơn.
Trên cơ sở đồng lòng nhất trí, ở làng có luật của làng, gọi là hương ước, thợ thủ công ở các xóm nghề, phố nghề thì có phường ước.
Tinh thần then chốt của những hương ước, phường ước xuất phát từ thuần phong mỹ tục của làng, phường, là những cụ thể hoá phong phú sinh động nằm trong khuôn khổ của luật pháp quốc gia.Bảo tàng Hán – Nôm ở Hà Nội và ở các địa phương hiện còn lưu giữ hàng vạn bản hương ước, phường ước như vậy.
Giao thiệp
Theo phong tục Việt Nam,”miếng trầu là đầu câu chuyện”, miếng trầu tuy rẻ tiền nhưng chứa đựng nhiều tình cảm ý nghĩa, giầu nghèo ai cũng có thể có, vùng nào cũng có. Miếng trầu đi đôi với lời chào, người lịch sự không “ăn trầu cách mặt” nghĩa là đã tiếp thì tiếp cho khắp. Vì trầu cau là “Ðầu trò tiếp khách” lại là biểu tượng cho sự tôn kính, phổ biến trong các lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng…
* Tục ăn trầu
Tương truyền có từ thời Hùng Vương và gắn liền với một chuyện cổ tích nổi tiếng “chuyện trầu cau”. Miếng trầu gồm 4 thứ nguyên liệu: cau (vị ngọt), lá trầu không (vị cay), rễ (vị đắng) và vôi (vị nồng). Món trầu thể hiện nếp sinh hoạt mang đậm tính dân tộc độc đáo của Việt Nam. Sách xưa ghi rằng “ăn trầu làm thơm miệng, hạ khí, tiêu cơm”.
Miếng trầu, làm cho người ta gần gũi, cởi mở với nhau hơn. Miếng trầu nhân lên niềm vui, khách đến được mời trầu; tiệc cưới có đĩa trầu để chia vui; ngày lễ, tết, ngày hội miếng trầu với người lạ để làm quen, kết bạn; với người quen miếng trầu là tri âm tri kỷ. Miếng trầu cũng làm người ta ấm lên trong những ngày đông lạnh giá, làm nguôi vợi bớt nỗi buồn khi nhà có tang, có buồn được sẻ chia cảm thông bởi họ hàng bạn bè làng xóm. Miếng trầu còn là sự thể hiện lòng thành kính của thế hệ sau với các thế hệ trước cho nên trên mâm cỗ thờ cúng gia tiên của người Việt có trầu cau.
* Hút thuốc lào
Sẽ là thiếu nếu nhắc đến trầu mà không nhắc đến thuốc lào. Ða số giới nữ ăn trầu và miếng trầu là đầu câu chuyện còn đàn ông, thuốc lào gắn bó với họ lúc vui, buồn thậm trí suốt cả cuộc đời. Thuốc lào được hút bằng điếu ống, điếu bát, để cho tiện dụng khi xa nhà lại hút bằng điếu cày (điếu để hút thuốc trong lúc cày bừa ở đồng ruộng nên gọi là điếu cày)
Giỗ tết, Tế lễ
Quan niệm cổ xưa không riêng ta mà nhiều dân tộc trên thế giới mọi vật do tạo hóa sinh ra đều có linh hồn, mỗi loại vật, kể cả khoáng vật, thực vật cũng có cuộc sống riêng của nó. Mọi vật trong tạo hoá hữu hình hay vô hình, cụ thể hay trừu tượng đều mang khái niệm âm dương, đều có giống đực giống cái. Ðó là xuất xứ tục bái vật hiện tồn tại ở nhiều dân tộc trên thế giới và một vài dân tộc ở miền núi nước ta.
Ở ta, hòn đá trên chùa, cây đa đầu đình, giếng nước, cửa rừng cũng được nhân dân thờ cúng, coi đó là biểu tượng, nơi ẩn hiện của vị thiên thần hay nhân thần nào đó. Người ta “sợ thần sợ cả cây đa” mà cúng cây đa, đó không thuộc tục bái vật. Cũng như người ta lễ Phật, thờ Chúa, quì trước tượng Phật, tượng Chúa, lễ Thần, quì trước long ngai của thần, nhưng thần hiệu rõ ràng, chứ không phải khúc gỗ hòn đá như tục bái vật.
Ngày nay chỉ còn lại vài dấu vết trong phong tục. Thí dụ, bình vôi là bà chúa trong nhà, chưa ai định danh là bà chúa gì, nhưng bình vôi tượng trưng cho uy quyền chúa nhà, nhà nào cũng có bình vôi. Khi có dâu về nhà, mẹ chồng tạm lánh ra ngõ cũng mang bình vôi theo, có nghĩa là tạm lánh nhưng vẫn nắm giữ uy quyền. Khi lỡ tay làm vỡ bình vôi thì đem mảnh bình còn lại cất ở chỗ uy nghiêm hoặc đưa lên đình chùa, không vứt ở chỗ ô uế. Gỗ chò là loại gỗ quí, gỗ thiêng chỉ được dùng để xây dựng đình chùa, nhà thờ. Dân không được dùng gỗ chò làm nhà ở. Ngày xưa trong đám củi theo lũ cuốn về xuôi, nếu có gỗ chò, các cụ còn mặc áo thụng ra lạy.
Tết Nguyên Đán
* Giao thừa & Lễ trừ tịch
Lẽ trời đất có khởi thuỷ phải có tận cùng, một năm có bắt đầu ắt phải có kết thúc, bắt đầu vào lúc giao thừa, cũng lại kết thúc vào lúc giao thừa.
Giao thừa là gì? Theo từ điển Hán Việt của Ðào Duy Anh nghĩa là cũ giao lại, mới đón lấy. Chính vì ý nghĩa ấy, nên hàng năm vào lúc giao tiếp giữa hai năm cũ, mới này, có lễ trừ tịchTrừ tịchlà giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt đầu qua năm mới. Vào lúc này, dân chúng Việt Nam theo cổ lệ có làm lễ Trừ tịch. Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ trừ tịch còn là lễ để ” khu trừ ma quỷ”, do đó có từ “trừ tịch”. Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên còn mang tên là lễ giao thừa.
*Cúng ai trong lễ giao thừa
Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới. Lễ giao thừa được cúng ở ngoài trời là bởi vì các cụ xưa hình dung trong phút cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương luôn có quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vã (nhưng mắt trần ta không nhìn thấy được), thậm chí có quan quân còn chưa kịp ăn uống gì. Những phút ấy, các gia đình đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả, toàn đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với lòng thành tiễn đưa người nhà trời đã cai quản mình năm cũ và đón người nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị không thể vào trong nhà khề khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà.
*Sửa lễ giao thừa
Người ta cúng giao thừa tại các đình, miếu, các văn chỉ trong xóm cũng như tại các tư gia. Bàn thờ giao thừa được thiết lập ở giữa trời. Một chiếc hương án được kê ra, trên có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm: chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mã, đôi khi có thêm chiếc mũ của Ðại Vương hành khiển.Ðến giờ phút trừ tịch, chuông trống vang lên, người chủ ra khấu lễ, rồi mọi người kế đó lễ theo, thành tâm cầu xin vị tân vương hành khiển phù hộ độ trì cho một năm nhiều may mắn. Các chùa chiền cũng cúng giao thừa nhưng lễ vật là đồ chay. Ngày nay, ở các tư gia người ta vẫn cúng giao thừa với sự thành kính như xưa nhưng bàn thờ thì giản tiện hơn, thường đặt ở ngoài sân hay trước cửa nhà.
· Lễ cúng Thổ Công
Sau khi cúng giao thừa xong, các gia chủ cũng khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà. Lễ vật cũng tương tự như lễ cúng giao thừa.
· Mấy tục lệ trong đêm trừ tịch
Sau khi làm lễ giao thừa, các cụ ta có những tục lệ riêng mà cho đến nay, từ thôn quê đến thành thị, vẫn còn nhiều người tôn trọng thực hiện.
Lễ chùa, đình, đền:Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện để cầu phúc, cầu may, để xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và gia đình và nhân dịp này người ta thường xin quẻ thẻ đầu năm.
Kén hướng xuất hành:Khi đi lễ, người ta kén giờ và hướng xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp may mắn quanh năm.
Hái lộc:Ði lễ đình, chùa, miếu, điện xong người ta có tục hái trước cửa đình, cửa đền một cành cây gọi là cành lộc mang về ngụ ý là “lấy lộc” của Trời đất Thần Phật ban cho. Cành lộc này được mang về cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô.
Hương lộc:Có nhiều người thay vì hái cành lộc lại xin lộc tại các đình, đền, chùa, miếu bằng cách đốt một nắm hương, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó về cắm vào bình hương bàn thờ nhà mình.Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt được lấy từ nơi thờ tự về tức là xin Phật ,Thánh phù hộ cho được phát đạt quanh năm.
Xông nhà:Thường người ta kén một người “dễ vía” trong gia đình ra đi từ trước giờ trừ tịch, rồi sau lễ trừ tịch thì xin hương lộc hoặc hái cành lộc ở đình chùa mang về. Lúc trở về đã sang năm mới và ngưòi này sẽ tự “xông nhà” cho gia đình mình, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đình. Nếu không có người nhà dễ vía người ta phải nhờ người khác tốt vía để sớm ngày mồng một đến xông nhà trước khi có khách tới chúc tết, để người này đem lại sự may mắn dễ dãi.
Tục lễ đầu xuân
*Tục lễ Ðộng thổ
Lễ Ðộng Thổ bắt đầu ở Trung Quốc sau truyền sang Việt Nam. Ðộng thổ nghĩa là động đất, và trong khi động đất phải có lễ cúng Thổ Thần để trình xin bắt đầu động đến đất cho một năm mới.
Hàng năm, sau ngày mồng ba Tết, các làng thường làm lễ Ðộng Thổ để cho dân làng có thể đào cuốc xới được. Các bậc kỳ lão và quan viên được cử làm chủ tế và bồi tế. Lễ vật gồm hương đăng, trầu rượu, y phục và kim ngân đồ mã. Trong buổi lễ, ông chủ tế cuốc mấy nhát xuống đất để lấy một cục đất đặt lên bàn thờ, “tường trình” với Thổ Thần xin cho dân được động thổ. Sau lễ động thổ dân làng mới được động tới đất. Ai cuốc xới trước lễ động thổ bị dân làng bắt vạ.
* Lễ Khai hạ
Theo tục lệ Việt Nam, ngày mồng bảy tháng Giêng là ngày hạ cây nêu. Cây nêu trồng trong năm, khi sửa soạn đón tết cùng với cung tên bằng vôi trắng vẽ trước cửa nhà để “trừ ma quỷ”, nay được hạ xuống.
Lễ hạ nêu còn được gọi là lễ Khai Hạ. Nhân dịp này, ngoài lễ giữa trời cúng Trời Ðất, người ta còn sửa lễ cúng Gia Tiên, cúng Thổ Côngvà thần Tài. Thường sau ngày lễ này, mọi công việc thường xuyên mới được bắt đầu trở lại.
* Lễ Thần nông
Thần nông tức là vị hoàng đế Trung Hoa đầu tiên đã dạy dân nghề làm ruộng. Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông để cầu mong sự được mùa và nghề nông phát đạt.
Trên các quyển lịch hàng năm của người Trung Hoa thường có vẽ một mục đồng dắt một con trâu. Mục đồng tức là vua Thần Nông, còn con trâu tượng trưng cho nghề Nông. Hình mục đồng cũng như con trâu thay đổi hàng năm tuỳ theo sự ước đoán của cơ sở dự báo khí tượng về mùa màng năm đó tốt hay xấu. Năm nào được mùa, Thần Nông giầy dép chỉnh tề, còn năm nào đói kém, Thần Nông có vẻ như vội vàng hấp tấp nên chỉ đi giày có một chân. Con trâu đổi màu tuỳ theo hành của mỗi năm, vàng, đen, trắng, xanh, đỏ đúng với Kim, Mộc, Thuỷ, Hỏa, Thổ. Hàng năm, vào ngày Lập Xuân tại triều đình xưa cũng như tại các tỉnh có tục tế và rước Thần Nông. Người ta nặn trâu và tượngThần Nông có dáng vẻ và màu sắc đúng với sự ước lượng về mùa màng năm đó. Sau đó lập đài để rước trâu và tượng Thần Nông tới làm lễ tế. Sau mỗi cuộc tế, trâu và tượng Thần Nông được khiêng cất vào kho hoặc đem chôn.
* Lễ Tịch điền
Lễ Tịch điền còn gọi là lễ Hạ điền do chính vua Thần Nông đặt ra. Cũng như các nghi lễ khác, lễ Tịch Ðiền của người Tàu đã du nhập sang ta. Hàng năm vào đầu xuân, nhà vua lại tự thân cày mấy luống đất để làm gương cho dân chúng và cử hành lễ Tịch Ðiền. Tiếp sau vua, các hoàng thân, các quan văn võ, các chức sắc, bộ lão sở tại cũng ra cày. Tại các tỉnh, các xã cũng có lễ Tịch Điền… Ở tỉnh, quan tỉnh bắt đầu lễ Tịch Điền bằng việc cày và ở xã là vị chức sắc cao nhất trong xã. Tùy từng triều đại việc cử hành lễ Tịch Ðiền có lúc long trọng, lúc đơn giản và ở mỗi địa phương cũng có những tục lệ riêng.
* Lễ Thượng Nguyên hay Cúng rằm tháng Giêng
Lễ Thượng Nguyên vào ngày rằm tháng Giêng. Từ triều đình đến dân chúng đều có lễ Phật trong ngày này. Ta có câu: “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng Giêng”. Tục ta tin rằng ngày rằm tháng Giêng, đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng độ lòng thành của các tín đồ phật giáo. Trong dịp này chùa nào cũng đông người tới lễ bái.
* Lễ Khai ấn
Các ấn được lau chùi trong năm, ngoài xuân bộ lễ theo tục cũ cũng được chọn ngày lành, giờ tốt để làm lễ khai ấn nghĩa là dùng ấn đóng lên một công văn, chỉ dụ.
Thường văn bản đầu tiên được đóng ấn là bản văn tốt lành. Tục khai ấn này, Tại cáctỉnh, các phủ, huyện, châu, xã xưa kia mỗi viên chức có ấn đều được chọn ngày khai ấn và sửa lễ cúng vị thần giữ về ấn tín trong dịp lễ khai ấn.
Tết Thanh Minh
Thanh Minh
Là tiết thứ năm trong “nhị thập tứ khí” và đã được người phương Ðông coi là một lễ tiết hàng năm. Tiết Thanh Minh đến sau ngày Lập Xuân 45 ngày. Theo nghĩa đen, thanh là khí trong, còn minh là sáng sủa. Khi tiết Xuân Phân qua, những cơn mưa bụi của trời xuân đã hết, bầu trời trở nên quang đãng, sáng sủa là sang tiết Thanh Minh (thường bắt đầu trong tháng ba hoặc muộn lắm là đầu tháng tư âm lịch tuỳ từng năm).
Tết Thanh Minh
Nhân ngày Thanh Minh, cũng như nhiều dân tộc Á Đông khác. Dân ta có tục đi viếng mộ gia tiên và làm lễ cúng gia tiên sau cuộc tảo mộ.
Lễ tảo mộ:Tảo mộ chính là sửa sang ngôi mộ cho sạch sẽ. Nhân ngày lễ Thanh Minh người ta mang theo cuốc xẻng để đắp lại nấm mồ cho to, rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trèo lên mộ có thể phạm tới hài cốt của người thân đã khuất. Sau đó cắm mấy nén hương, đốt vàng mã hoặc đặt thêm bó hoa dâng cho vong hồn người quá vãng.
Bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, săn sóc, còn có những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng. Những người có lòng nhân đức không khỏi mủi lòng thường cắm một nén hương, đốt nắm vàng mã cho những ngôi mộ này. Tại các nơi tha ma mộ địa còn có lập một cái am để thờ chung những mồ mả vô chủ gọi là Am chúngsinh và mỗi cửa am có một bà đồng sớm tối đèn hương thờ phụng.
Mọi người đi tảo mộ ăn vận rất chỉnh tề. Những người quanh năm đi làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này để tảo mộ gia tiên và sum họp với đại gia đình. Thường người ta đi tảo mộ từ sáng sớm cho đến gần trưa.
Tục lệ tảo mộ:Thường người ta đi tảo mộ vào tiết Thanh Minh trời quang mây tĩnh, và sau đó kính mời hương hồn tổ tiên về hưởng cỗ con cháu cúng trong dịp này. Nhưng cũng có nhiều nơi người ta tảo mộ vào dịp trước và sau ngày Tết. Nhiều làng thuộc tỉnh Hà Ðông ở vào vùng đất thấp, tới vụ nước, ruộng nương và cả bãi tha ma đều ngập nước, thì người ta đi tảo mộ vào đầu tháng chín, sau khi nước đã rút. Dù đi tảo mộ vào ngày nào thì việc thăm nom mồ mả tổ tiên cũng là việc hay. Nghĩ đến gia tiên tức là nghĩ đến gốc, tưởng đến nguồn.
Cúng lễ trong ngày Tết Thanh Minh:Tết Thanh Minh cũng là dịp để con cháu sửa lễ cúng gia tiên sau khi viếng mộ về. Cũng có nhà sửa lễ mang ra mộ cúng, nhưng đó chỉ là cúng riêng một ngôi mộ. Còn sau đó người ta vẫn cúng ở bàn thờ tổ tiên và khấn tất cả gia tiên nội ngoại về phối hưởng. Người ta thường cúng mặn trong ngày Thanh Minh, nghĩa là có làm cỗ, hoặc không làm cỗ thì cũng có đĩa xôi, con gà cùng với hương hoa, trà rượu, vàng mã. Và đồng thời với việc cúng tổ tiên cũng có cúng Thổ Công như trong mọi dịp.
Cúng giỗ
Theo tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm trọng, cho nên ngày đó, ngoài việc thăm phần mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí người đã khuất mà cúng giỗ. Ðây cũng là dịp gặp mặt người thân trong gia đình trong dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn việc người sống giữ gìn gia phong. Vào dịp đó người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là ăn giỗ, thì cũng là trước cúng sau ăn, cũng là để cho cuộc gặp mặt đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp, kể chuyện tâm tình, chuyện làm ăn. Với ý nghĩa “Uống nước nhớ nguồn” việc đó có thể xếp vào loại thuần phong mỹ tục.
* Ngày cúng giỗ
Ngày giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ. Nguyên ngày trước, “Lễ giỗ” gọi là “Lễ chính kỵ”; chiều hôm trước lễ chính kỵ có “lễ tiên thường” (nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu mời bà con làng xóm ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần hoặc vì bận việc hoặc vì kinh tế hoặc vì thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một
lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả hai lễ. Tóm lại, nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước thì trước
ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng.
* Mấy đời tống giỗ
Theo gia lễ: “Ngũ đại mai thần chủ”, hễ đến năm đời thì lại đem chôn thần chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới mất mà thế vào thần chủ ông khảo.
Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, tằng, tổ, phụ (4 đời trên); thân mình và tử, tôn, tằng tôn, huyền tôn (4 đời dưới mình). Như vậy là chỉ có 4 đời làm giỗ (cao, tằng, tổ, phụ) tức là kỵ (hay can) cụ (hay cố), ông bà, cha mẹ. Từ “Cao” trở lên gọi chung là tiên tổ thì không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của thuỷ tổ.
* Cúng giỗ người chết yểu
Những người đã đến tuổi thành thân, thành nhân nhưng khi chết chưa có vợ hoặc mới có con gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng con trai cũng chết, trở thành phạp tự (không có con trai nối giòng). Những người đó có cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai anh hoặc anh ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hay toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó tiếp tự.
Những người chưa đến tuổi thành thân (dưới 16 hoặc dưới 18 tuổi, tuỳ theo tục lệ địa phương) sau khi hết lễ tang yết cáo với tổ tiên xin phụ thờ với tiên tổ.
Những người đó không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, một đôi đũa đặt bên cạnh mân, coi như người thân còn sốngtrong gia đình. Ðiều này không có trong gia lễ nhưng thuộc về tâm linh, niềm tưởng vọng đối với thân nhân đã khuất.
Cưới hỏi
* Nam nữ thụ thụ bất thân là gì?
Ðây là câu nói cửa miệng, quen dùng chỉ mối quan hệ nam nữ theo quan niệm của nhà nho. Người đàn ông và người đàn bà ngày xưa trao cho nhau cái gì, nhận của nhau cái gì, đều không trực tiếp tận tay, sợ bấm nháy, ra hiệu gì với nhau chăng? Hai người muốn mời nhau ăn trầu, thì người chủ tiêm trầu, đặt giữa bàn, khách tự nhặt lấy mà ăn. Lễ giáo phong kiến thật khắt khe, việc tỏ tình trực tiếp khó mà thực hiện được, họa chăng chỉ có đôi mắt là thầm lén nhìn nhau! Vì vậy các nhà quyền quý thường “cấm cung” con gái. Ngay từ tuổi thơ đã sớm hình thành sự ngăn cách giới tính.
* Mối lái là gì ?
Trong xã hội phong kiến xưa “Nam nữ thụ thụ bất thân” nên hôn nhân cần phải có môi giới. Nếu yêu nhau, cưới hỏi không cần mối lái sẽ bị chê trách. Trong xã hội cũ, có những người chuyên làm nghề mối lái, nếu đẹp đôi vừa lứa thì trở thành ân nhân suốt đời. Ở xã hội mới, ngày nay vẫn còn có các bà mối, các bà mối thời nay là người cố vấn, người đỡ đầu cho đôi trẻ xây dựng hạnh phúc lâu dài. Các bà mối chính là phương tiện thông tin đại chúng, câu lạc bộ người độc thân, các công ty dịch vụ….
*Lễ vấn danh có ý nghĩa gì ?
Là lễ nhà trai đến nhà gái hỏi tên tuổi cô gái, ngày nay gọi là lễ “Chạm ngõ” hay là lễ “Dạm”.
Trong hôn nhân xưa chỉ chú trọng có môn đăng hộ đối hay không, có hợp tuổi không, gia đình nào thận trọng mới tìm hiểu “Công, dung, ngôn, hạnh”. Chẳng những các chàng trai, trước khi cưới nhiều chàng chưa biết mặt vợ, mà cả những ông bố chồng là người chủ động đi hỏi dâu cũng không biết mặt con dâu.
*Sự tích tơ hồng
Tơ hồng Nguyệt lão thiên tiên dựa theo tích Vi Cố gặp ông lão trong một đêm trăng, ngồi kiểm soát hướng về phía mặt trăng, sau lưng có túi đựng dây đỏ. Ông lão bảo đó là văn thư đựng hôn ước của thiên hạ, còn những sợi dây đỏ để buộc chân những đôi trai gái sẽ thành vợ thành chồng. Một hôm, Vi Cố vào chợ gặp một bà lão chột mắt bế một đứa bé gái, ông lão hiện ra bảo cho biết đứa bé gái kia sẽ là vợ anh, Vi Cố giận, sai đầy tớ tìm giết đứa bé ấy đi. Người đầy tớ đâm đứa bé giữa đám đông rồi bỏ trốn. Muời bốn năm sau, quan Thứ Sử Trương Châu là Vương Thái gả con gái cho Vi Cố. Người con gái dung sắc tươi đẹp, giữa lông mày có dính trang điểm một bông mai vàng. Vương Cố gạn hỏi, vợ mới thưa: thuở còn bé, bà vú bế vào chợ bị một đứa cuồng tặc đâm. Vi Cố hỏi lại: có phải bà vú bị chột mắt không? Người vợ bảo: đúng thế. Vi Cố kể lại việc trước, hai vợ chồng càng quý trọng nhau cho là duyên trời đã định sẵn.
* Tục thách cưới
Thách cưới là một lệ tục lạc hậu, trói buộc cả nhà trai lẫn nhà gái, có khi làm cho chàng rể phải bỏ cuộc mà nỗi thiệt thòi lại rơi vào thân phận người con gái, dẫu sao cũng mang tiếng một đời chồng, dẫu sao cũng làm cho những chàng trai khác phải ngại, xui nên thân phận hẩm hiu.
Ðáng lẽ nên vợ nên chồng, thành gia thành thất, là mừng cho cả hai gia đình nhưng gặp phải ông bác bà cô bên nhà gái khó tính, thách cưới nào là quần áo, nón dép, nào nhẫn xuyến, hoa tai, tiền mặt, cỗ cưới…nên nhà trai phải bỏ cuộc hoặc phải chạy ngược chạy xuôi, lo xong việc rồi kéo cày trả nợ, song ngay từ buổi thành hôn, nghĩa vợ chồng, tình thông gia đã bị sứt mẻ, đó là mầm mống gây nhiều bất trắc về sau.
Cũng có trường hợp nhà gái túng thiếu không thể tự lực cung cấp cho đủ lệ làng, đòi hỏi nhà trai phải lo chu toàn. Cũng có trường hợp bố mẹ cô dâu còn phải xuất ra gấp năm gấp mười lần, và sau khi thành thân, còn cho con gái, con rể nhiều thứ, nhưng cũng thách cưới cao để tránh tiếng xì xào, đàm tiếu rằng con gái mình dở duyên rồi, nên phải cho không.
Hay các gia đình có học thì lại không thách tiền, thách của mà thách chữ nghĩa văn chương chọn rể con nhà gia thế, với hy vọng tương lai con gái mình còn được “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”.
* Tiền “Cheo”
Tiền “Cheo” là khoản tiền nhà trai nạp cho làng xã bên nhà gái. Trai gái cùng làng xã lấy nhau cũng phải nộp cheo nhưng có giảm bớt. Xuất xứ của lệ “nạp cheo” là tục “Lan nhai” tức là tục chăng dây ở dọc đường hoặc ở cổng làng. Ðầu tiên thì người ta tổ chức đón mừng hôn lễ, người ta chúc tụng. Ðể đáp lễ, đoàn đưa dâu cũng đưa trầu cau ra mời, đưa quà, đưa tiền biếu tặng. Dần dần có nhiều người lợi dụng vòi tiền, sách nhiễu, trở thành lệ tục xấu, triều đình ra lệnh bãi bỏ. Thay thế vào đó, cho phép làng xã được thu tiền cheo. Khi đã nộp cheo cho làng, tức là đám cưới được công nhận có giấy biên nhận hẳn hoi. Ngày xưa, chưa có thủ tục đăng ký kết hôn, thì tờ nạp cheo coi như tờ hôn thú. Khoản tiền cheo này nhiều địa phương dùng cho việc công ích như đào giếng, đắp đường, lát gạch, xây cổng làng… Ðã hơn nửa thế ký, lệ làng này bị bãi bỏ rồi.
*Trước khi cô dâu về nhà chồng cần những thủ tục gì?
Khi nhà trai bắt đầu đến đón dâu cùng với chú rể đến trước bàn thờ xin tổ tiên chấp nhận kể từ nay nên vợ nên chồng, phù hộ cho trăm năm duyên ưa phận đẹp, cầm sắt giao hoà. Lễ xong, hai người đi mời chào thân nhân, khách khứa, trước hết là những người bề trên, cao tuổi, khách trước, người nhà sau. Trong khi chào mời, cô dâu phải giới thiệu cho chàng rể biết mối quan hệ để biết cách xưng hô.
Sau cùng, trước khi bước ra cửa để về nhà chồng là lễ tạ cha mẹ. Cha mẹ ngồi sẵn một phía ở cửa chính, nếu ông bà nội ngoại còn thượng tại có đến dự thì ông bà cũng ngồi chung một phía, nhưng ở phía cao hơn. Thời xưa đôi tân hôn phải lạy hai lạy, ngày nay châm chước, cúi đầu cung kính xin phép ông bà, cha mẹ. Lúc đó, cha mẹ ban phát cho con gái, con rể một vật gì đó làm kỷ niệm.
*Ý nghĩa của lễ xin dâu và thủ tục
Lễ này rất đơn giản, trước giờ đón dâu, nhà trai cử một hai người, thường là bác, bà cô, bà chị của chú rể đưa một cơi trầu, một be rượu đến xin dâu, báo trước giờ đoàn đóndâu sẽ đến, để nhà gái sẵn sàng đón tiếp. Phong tục này có nhiều ý nghĩa hay: mặc dù hai gia đình đã quy ước với nhau từ trước về ngày giờ và thành phần đón dâu, song để đề phòng mọi bất trắc nên mới định ra lễ này để cẩn trọng trong hôn lễ. Thời gian này chú rể và bố mẹ chú rể rất bận rộn nên không thể sang nhà gái, nên uỷ thác cho người đại diện sang báo như bộ phận “tiềm trạm”.
Trong trường hợp hai gia đình cách nhau quá xa hoặc quá gần, hai gia đình có thể thoả thuận để miễn lễ nay, hoặc nhập lễ xin dâu và lễ đón dâu vào làm một. Cách nhập lễ xin dâu và đón dâu tiến hành như sau:
Khi đoàn vào đón dâu đến ngõ nhà gái, đoàn chỉnh đốn lại y trang, sắp xếp lại thứ tự đi trước đi sau, trong khi đó một cụ già đi đầu cùng một người đội lễ (mâm quả trong đựng trầu cau, rượu) vào trước, đặt lên bàn thờ, thắp hương vái rồi trở ra dẫn đoàn vào chính thức làm lễ đón dâu. Lễ này phải tiến hành rất nhanh. Thông thường nhà gái vái chào xong, chủ động xin miễn lễ rồi một vị huynh trưởng cũng ra luôn để đón đoàn nhà trai vào.
*Mẹ chồng làm gì khi con dâu bắt đầu về nhà?
Phong tục ở mỗi địa phương một khác, trái ngược nhau nhưng đều có ý nghĩa hay.
Ngày xưa ở nhiều địa phương Nghệ An, Hà Tĩnh có lệ tục mẹ chồng ra cất nón cho con dâu: Nhà trai đặt sẵn trước ngõ một nồi đồng, một cái gáo, trong nồi đặt sẵn một quan tiền đồng và đựng đầy nước trong. Cô dâu vào đến cổng dùng gáo múc nước rửa mặt mũi chân tay, mẹ chồng bước ra cất nón cho con dâu.
Tang lễ
Người Việt Nam quan niệm rằng “nghĩa tử là nghĩa tận” nên khi có người chết, tang lễ được tổ chức trọng thể. Trình tự lễ tang ngày trước như sau: người chết được tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo tươm tất, rồi lấy một chiếc đũa đặt giữa hai hàm răng, bỏ vào miệng một dúm gạo và ba đồng tiền xu gọi là lễ ngậm hàm. Sau đó đặt người chết nằm xuống chiếu trải sẵn dưới đất (theo quan niệm “từ đất sinh ra lại trở về với đất”). Tiếp đó là lễ khâm liệm (liệm bằng vải trắng) và lễ nhập quan (đưa thi hài vào quan tài). Sau khi nhập quan là lễ thành phục, chính thức phát tang. Con trai, con gái và con dâu của người quá cố, đội khăn sô, mũ chuối (hoặc mũ tết bằng rơm), mặc áo sô. Cháu chắt họ hàng, thân thích chít khăn để tang. Những ngày quàn người chết trong nhà đều phải cúng cơm sớm, chiều. Phường nhạc cử nhạc ai, bà con, bạn bè, làng xóm đến viếng. Sau khi chọn được ngày, giờ tốt làm lễ đưa tang. Đám tang có câu đối, linh sàng, nhà táng (nơi đặt linh cữu). Người đưa tang đi sau linh cữu, dọc đường có rắc vàng thoi (bằng giấy). Đến huyệt làm lễ hạ huyệt và đắp mộ. Chôn cất xong về nhà làm lễ tế. Ba ngày sau tang chủ làm lễ viếng mộ (lễ mở cửa mả), được 49 ngày làm lễ chung thất (thôi cúng cơm cho người chết). Sau 100 ngày làm lễ tốt khốc (thôi khóc). Sau một năm làm lễ giỗ đầu, sau ba năm (ở nhiều nơi là hai năm) làm lễ hết tang.
Ngày nay, lễ tang được tổ chức theo nghi thức đơn giản hơn: lễ khâm liệm, lễ nhập quan, lễ viếng, lễ đưa tang, lễ hạ huyệt và lễ viếng mộ. Người trong gia đình để tang bằng cách chít khăn trắng hoặc đeo băng tang đen.
Lễ hội Việt Nam
Mùa xuân – mùa khởi đầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của vạn vật, cỏ cây…Giữa tiết trời ấm áp ấy, lòng người phơi phới rủ nhau đi hội, hành hương về cội nguồn, vui chơi và cầu mong cho mùa màng tốt tươi, con người hạnh phúc.
Lễ hội ở Viet Nam thật đa dạng và phong phú. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyền lớn, nhỏ trải rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế… Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình. Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân.
Bởi phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng nhớ người có công với nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các trò vui chơi ở lễ hội thường mang nhiều tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như: thi bắn nỏ, đấu vật (hội Cổ Loa) đấu vật, đấu võ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, Nam Định), thi bắn nỏ, ném còn (ở vùng đồng bào dân tộc phía Bắc) v.v…ở các lễ hội của bà con dân tộc Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu được coi như tiêu biểu nhất. Trong lễ hội này, ngoài nghi lễ đâm trâu hiến tế hấp dẫn, ly kỳ còn có trò múa khiên, ném lao, đấu gậy.
Các trò vui chơi giải trí ở lễ hội còn bao gồm những hoạt động văn hoá, xã hội khác như thi hát Quan họ, thi thổi cơm, chọi gà, dệt vải, đấu vật, đánh đu… Đặc biệt nhất là thi đánh đu, không chỉ xuất hiện trong dịp lễ hội lớn mà còn là một trò vui chơi dân dã trong những ngày Tết ở khắp các làng xã.
Nguồn : Tổng Cục Du lịch Vietnam

Ngô Nhân Dụng - Ta về cho kịp độ Xuân sang

BINH LUAN
Tác giả Ngô Nhân Dụng
Có một nhà báo Mỹ đang chịu búa rìu dư luận trên mạng Internet, vì một bài ông ta viết sau chuyến đi thăm Việt Nam. Joel Brinkley mở đầu bài báo trên mạng Chicago Tribune như thế này: “Bạn không cần phải ở Việt Nam lâu ngày mới thấy một điều bất bình thường.
Không nghe thấy tiếng chim hót, không thấy những con sóc leo cây hay những con chuột bới đống rác. Không thấy ai dắt chó đi ngoài đường. Sự thật là, bạn không nhìn thấy con thú nào, sống hoang hay được người nuôi. Chúng đi đâu cả? Bạn sẽ ngạc nhiên khi biết tại sao: Phần lớn đã bị ăn thịt.”
Joel Brinkley kể tiếp về thú vui ẩm thực của người Việt, đặc biệt là người ta ăn cả thịt chó lẫn thịt chuột. Ðó là ông chưa thấy họ ăn cả thịt rùa, ba ba, thịt rắn, thịt kỳ đà, thịt chim cút, ăn nhộng, ăn lòng lợn, gan gà, tiết canh vịt, ăn châu chấu, ăn rươi, ăn cả những con sâu “đoong” nằm trong cuống dừa. Nhiều người nghe nói tới những món đó chắc muốn hỏi có sách nấu nướng nào dạy không. Còn chàng du khách Brinkley thì nhận xét: “Người Việt thích ăn thịt, chắc ăn nhiều quá nên tính tình hung hăng hay gây sự (aggressive).”
Joel Brinkley có vẻ thích thú đã tìm thấy một định luật về “dinh dưỡng-xã hội-tâm lý-sinh lý học,” sau chuyến du lịch ba tuần! Một nhà báo (dù đã từng được giải Pulitzer), và một giáo sư dạy môn báo chí (dù dậy ở Ðại Học Stanford) cũng không nên công bố một định luật “đa khoa” (multidisciplinary) nhanh quá như vậy! Chẳng trách, một sinh viên người Mỹ viết: “May quá, ông này không dạy tôi!” Một người Mỹ khác than: “Brinkley làm xấu mặt cả giới làm báo!” Sonny ở California dùng các con số: “Về khuynh hướng hung hăng do ăn thịt gây ra thì tôi nghĩ ông đang nói về nước CHÚNG TA (nhấn mạnh trong nguyên văn), nước ông và nước tôi. Người Mỹ mỗi năm ăn trung bình 125 ký lô thịt, đứng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Luxembourg (136 kilos), so với người Việt ăn mỗi năm chỉ ăn 41 ký, đứng hàng thứ 90! Mà tôi chưa nghe nói nước Luxembourg đi đánh nhau với ai bao giờ cả!” Một độc giả khác, McElwee đã sống ở Việt Nam năm năm, cũng tự hỏi: “Không hiểu sao ông ta đi từ chỗ ghét những người ăn thịt chó và thịt chuột để liên hệ tới ý tưởng là ở Việt Nam thiên nhiên hoang dã không được bảo vệ?”
Sau khi đọc bao lời bình phẩm như trên (có cả một độc giả gốc Hàn Quốc tham dự), Joel Brinkley đã viết một bài ngắn tự phân trần. Ông nhận xét: “Người Việt Nam có vẻ rất nhậy cảm khi bị phê bình. Mà dân tộc nào chẳng vậy.” Ông nói rất chí lý, nhưng tưởng điều này ai cũng biết cả rồi. Vẫn bảo vệ định lý “ăn thịt sinh hung dữ,” ông so sánh người Việt với người Lào, Campuchia. Ông thấy dân chúng hai nước này thường chỉ ăn cơm, cho nên trẻ em nhỏ con hơn và không khôn lanh bằng trẻ Việt. Ông kết luận: “Có phải như vậy thì khi lớn lên chúng không hung hăng như người Việt Nam không? Tôi (Brinkley) tin như thế.”
Lại thêm một định luật đa khoa nữa. Ðộc giả có ai tin như thế hay không? Chắc ông Brinkley phải nghiên cứu lại xem Pol Pot và các đồng chí Khờ Me đỏ họ ăn cái gì! Một độc giả nói thẳng: “Bài trả lời của ông ta còn tệ hơn bài trước. Cứ theo lối ông ta nói về người Lào và người Campuchia thì chắc mình phải bắt các dân tộc này cứ tiếp tục nghèo và đói, để họ khỏi hung dữ...”
Trong bài trả lời, Brinkley cũng cho lên mạng một bức hình ông chụp ở Việt Nam, hình một bà đang ngồi ở chợ, trước mặt là mấy cái thau ngâm xác những con chuột trắng hếu: Ðó, trông ghê chưa? Nhưng nhiều người coi hình không thấy ghê. Cô Erica J. Peters, đã viết sách về thức ăn Việt Nam, nhận xét: “Bức hình của ông cho thấy những con vật này đã được làm sạch sẽ, giống như ở bất cứ một cửa hàng bán thịt nào!” Về chuyện giết chuột, một độc giả tên Quốc Tấn so sánh: “Ở Mỹ số chuột bị giết cao hơn ở Việt Nam gấp bội, họ gọi đó là Bảo vệ Mùa màng!”
Còn nhiều người phản đối ông Brinkley nữa, nhưng đọc bấy nhiêu lời cũng đủ. Một trong những “người Việt nhậy cảm” là cô Uyên Nguyễn, một sáng lập viên OneVietnam Network. Cô nói thẳng về bài báo: “Nó sỉ nhục. Nó đánh thẳng vào văn hóa của chúng tôi.”
Chắc cũng không cần quá nhậy cảm với một bài báo về du lịch. Một ký giả trang du lịch chỉ muốn viết mua vui, kiểu những người đi xa về thì hay nói; chắc không cố ý sỉ nhục ai hết. Tiếc là trong khi kể chuyện người viết không biết tự kiềm chế, lại đưa ra những định luật tổng quát nằm ngoài phạm vi chuyên môn của mình. Có thể tin lời Brinkley phân trần, ông ấy không hề có ý định nói xấu người Việt Nam. Ðúng kiểu người Việt Nam, tôi sẽ bảo ông: Thôi, xí xóa.
Tôi kể lại câu chuyện trên vì sau bài báo trên rất nhiều độc giả Mỹ xúm lại nói người Việt Nam rất tốt. Có người viết: “Người Việt, mặc dù họ ăn mấy món không hợp khẩu vị chúng ta, nhưng họ là một dân tộc rất dễ thương.” Tất nhiên rồi! Một người khác đã du lịch Việt Nam, viết: “Mấy năm trước tôi đi Việt Nam hai tuần... và ngạc nhiên thấy ngoài đường rất nhiều chó do người ta nuôi... Tôi chưa từng thấy dân tộc nào nồng hậu và hào phóng (warm and generous) bằng người Việt Nam. Có lần tôi đi dạo bằng xe đạp, khát nước quá, một người bán xăng đã chạy vào trong lấy ra chai nước của anh ta, cho tôi, và nhất định không nhận tiền.” Tất nhiên rồi! Người nước nào gặp người ngoại quốc cũng cư xử tốt hơn với người cùng nước họ! Những giống dân tử tế thì lại càng tốt hơn!
Mà chính người Việt, họ đâu có ngần ngại không tự kể tật xấu của mình? Nhà báo Từ Thức, ở Paris viết: “Tự hào dân tộc để một bên, phải nhìn nhận cái cảnh thịt chó, thịt chuột treo lủng lẳng trong tiệm ăn nó ghê rợn thiệt. Nhất là cái cảnh giết chó. Ngồi hào hứng nhậu, bên cạnh cái màn giết chó, cắt cổ con vật, lấy gậy đập đầu chó kêu thảm thiết. Khó kiếm chữ nào để diễn tả hơn chữ 'man rợ.'” Và ông viết chúc Tết Quý Tỵ cho bạn bè thế này: “Chúc cho đất nước yêu quý của chúng ta đang nằm trong số 10 nước nghèo khổ nhất thế giới sẽ tiến lên, trở thành một trong 20 nước nghèo khổ nhất thế giới!”
Nhưng tại sao chúng ta thấy ghê rợn trước cảnh “thịt chó, thịt chuột treo lủng lẳng” mà lại không cảm thấy gì hết khi nhìn những cái đùi heo hun khói cũng treo lủng lẳng trong các tiệm ăn ở Paris (jambon) hay Madrid (jamón) nhỉ? Chắc khi nhìn những cái đùi tròn trĩnh thơm tho thì mình chỉ thèm thuồng nên quên cảnh con heo bị chọc tiết! Nhiều cái chợ, trên cái tủ lạnh đầy thịt bò đỏ tươi còn treo cái hình đầu bò đang cười toe toét. Làm như cô bò đang hân hoan “kính mời quý khách mua các món thịt đùi, món xì tếch, món sườn bò Ðại Hàn, món filet mignon,” để thưởng thức thịt chúng tôi! Mại vô! Loài người kể cũng hay thật! Không hiểu nếu những con sư tử, con cọp biết mở siêu thị thì chúng có treo thịt đùi người lủng lẳng hay không nhỉ?
Thật ra, nếu muốn tìm những cái xấu ở Việt Nam không phải chỉ có tật ăn thịt chuột đáng mang ra phê bình. Nếu như Joel Brinkley chủ tâm nói xấu, ông sẽ được nghe nhiều chuyện tệ hơn, tha hồ kể. Như chuyện một phụ nữ bị cướp mất nhà, đất, uất ức quá mà không làm gì được, bèn cởi hết quần áo để bày tỏ ý kiến. Tất nhiên, bà bị kết tội “lạm dụng quyền tự do ngôn luận,” một thứ quyền thực ra chỉ được được nhà nước cấp phát từng trường hợp, giống như “tem phiếu tự do!” Lại đến cảnh một bà mẹ phải tự đốt mình sau khi cả mẹ con bà bị đe dọa đuổi nhà, chỉ vì có một cô con gái dám “tự do ngôn luận” bằng cách đi biểu tình và làm blog phản đối... một nước láng giềng cướp mấy hòn đảo của nước mình!
Ðiều đáng xấu hổ không phải chỉ là chuyện một chế độ đàn áp người dân. Ðáng hổ thẹn nhất là phản ứng của người dân trước nỗi khổ cùng cực của hai phụ nữ trên. Họ nhìn chuyện đó là bình thường! Nếu muốn cho người Việt Nam xấu hổ, Joel Brinkley có thể kể chuyện nước ông để so sánh. Năm 1955 một phụ nữ da đen ở Montgomery, tiểu bang Alabama đã từ chối không đứng dậy nhường chỗ cho một người da trắng, theo lệnh ông tài xế xe buýt. Vụ bà bị đưa ra tòa sau đó gây ra cả một phong trào đòi dân quyền trên cả nước Mỹ trong hàng chục năm; dẫn tới những đạo luật dân quyền sau này. Khi từ trần năm 2005, bà Rosa Parks là người Mỹ thứ nhì, chỉ là dân thường mà đám tang được cử hành trong trụ sở Quốc Hội. Còn ở nước Việt Nam, bà Ðặng Thị Kim Liêng tự thiêu chết oan khốc như vậy mà báo, đài không dám loan tin, không dám bình luận. Và sau đó cô con gái bà vẫn bị tòa án bỏ tù. Chuyện mới xẩy ra năm tháng trước, mà người Việt Nam bây giờ hầu như đã quên rồi.
Nhiều người Việt đã nhận xét dân mình đánh mất cái thói quen biết hổ thẹn; cũng không còn cái khả năng biết nổi giận trước cái ác. Nhiều cá nhân vẫn nổi giận khi bị người khác đi xe lấn đường, cũng biết hổ thẹn khi mặc cái quần rách. Nhưng đối với những chuyện lớn thì không, đại đa số hoàn toàn lãnh cảm.
Chắc chúng ta phải nhìn nhau tự hỏi: Tại sao nước mình đến nỗi như vậy nhỉ? Cái gì gây ra tính lãnh cảm tập thể này? Ông bà mình ngày xưa có thờ ơ như thế hay không?
Không, nước mình vốn không tệ như thế! Tổ tiên mình đâu đến nỗi tệ như thế? Mình vẫn thường hãnh diện về lịch sử dân mình đấy chứ?
Một người từng tuyên bố hãnh diện làm dân Việt Nam là Ngô Thì Nhậm (1746-1803). Trong một chuyến đi sứ sang Trung Quốc dưới thời vua Quang Trung, lúc đang trong tỉnh Quảng Tây, Ngô Thì Nhậm viết bài thơ “Hoãn Nhĩ Ngâm” (Mỉm cười mà ngâm thơ) để chế nhạo những thành kiến sai lầm trong sách sử của người Trung Hoa. Ngô Thì Nhậm dành lời phê bình nặng nề nhất đối với thói phân biệt, coi dân Hoa Hạ hơn dân Man di. Ðể thuyết phục người Trung Hoa, và những người Việt hay sợ Trung Quốc quá, ông viện dẫn Chu Hy đời Tống, một thẩm quyền có uy tín trong Nho Giáo và văn hóa Trung Quốc. Chu Hy đã nhận xét, “Thịnh xưng tây nam phiên - Văn tự đa cao thủ - Tất hữu khai kỳ tiên - Bất độc quốc trung hữu.” (Ðáng khen các dân tộc miền Tây Nam - Có nhiều người giỏi chữ nghĩa - Tất họ đã khai hóa từ lâu - Ðâu phải chỉ Trung Quốc mới có tiến bộ). Dẫn ra những lời đó rồi, ngay câu sau, Ngô Thì Nhậm nói khi về nước ông sẽ bảo với bạn hữu rằng: “Hạnh tai sinh Nam bang!” May mắn thay, chúng ta sinh ở Nước Nam!
Bây giờ có bao nhiêu người Việt đang nghĩ như Ngô Thì Nhậm? Nếu người nào không nghĩ mình may mắn làm dân Việt là, thì chắc cũng phải ước mong con cháu sau này được thấy làm dân Việt là may mắn. Ngô Thì Nhậm đã nghĩ như thế; thì thế hệ sắp tới cũng phải có người, có lúc, sẽ cao hứng thốt lên: May mắn thay, sinh làm người Việt Nam!
Nghĩ đến tổ tiên, phải thấy đó là một bổn phận. Bổn phận trả lại cho nước Việt Nam niềm hãnh diện mà người xưa vẫn nói với nhau trong đám bạn bè: Hạnh tai, sinh Nam bang! Ðêm giao thừa năm nay, sẽ khấn khứa ông bà, xin nguyện sẽ cố gắng giúp các thế hệ sắp tới có thể nói như thế: May mắn thay, sinh làm người Việt Nam!
Năm nay chúng ta có thể bắt chước Tú Xương mà chúc cả nước ăn ở với nhau “Sao được cho ra cái giống người!” Sống làm sao cho ra con người có phẩm giá. Thực hành lời nguyện này cũng không khó lắm. Sống với nhau cho tử tế. Như vậy đã là một điều cho con cháu hãnh diện rồi. Ăn ở như thế nào thì gọi là tử tế? Sống công bằng, ngay thẳng, chắc cũng đủ. Như trong cuốn sách hướng dẫn di dân muốn nhập quốc tịch Australia, họ nhấn mạnh đến một quy tắc “a fair go!” Ở nước Úc hễ ai có khả năng và cố gắng làm việc là sẽ khá hơn, không cần phải có cha mẹ giầu hoặc quyền thế. Thực hiện quy tắc này, phải bàn chuyện cách tổ chức chính quyền, hệ thống giáo dục, tư pháp, luật lệ kinh tế, vân vân.
Nhưng cũng không phải chờ đợi thi hành các quy tắc lớn như vậy mới sống tử tế được. Cứ tử tế với nhau ngay trong đời sống hàng ngày, trong cách cư xử với xóm giềng, ngay với những người qua đường, cũng đủ. Văn hóa thuần mỹ thể hiện trong đời sống hàng ngày, không cần hô khẩu hiệu. Trong cuốn sách chỉ dẫn về nhập tịch, chính phủ Anh quốc dặn dò các công dân mới một điều: “Nhớ giữ cho cái vườn nhà mình sạch sẽ đàng hoàng (không đầy rác hoặc cỏ dại); đến ngày đổ rác thì nhớ đem thùng rác hay túi rác ra đường, chỉ để ở chỗ dành riêng cho rác, và không đem ra quá sớm trước giờ ấn định.” Những chuyện nhỏ nhặt đó tạo nên những xã hội tử tế.
Người Việt Nam có thể sống tử tế với nhau, ngay bây giờ. Mỗi người cứ sống cho tử tế, rồi người khác sẽ theo. Khi người ta không tử tế, mình vẫn giữ tư cách con người tử tế. Ðó là đóng góp cho tương lai nước Việt Nam. Sẽ có ngày trẻ em Việt Nam được sống trong một đất nước an hòa, tự do, dân chủ, dù các em ăn thịt hay không ăn thịt. Trong vườn các em được nghe tiếng chim hót, như trong bài hát của Huy Tuấn: “Một ngày nắng rất hiền, nắng lung linh trong vườn, bông hoa đang cười thương thật thương!” Sẽ có ngày, nghề dạy học đủ nuôi sống gia đình nhà giáo. Các em đến trường không bao giờ quên cúi chào các thầy cô; các thầy cô đều mỉm cười. Tết đến, ra chợ lại nhớ cảnh xưa trong thơ Ðoàn Văn Cừ; cảnh trí khác nhưng niềm vui vẫn thế. Khi lớn khôn, có lúc các em sẽ thốt lên: May mắn thay, mình là người Việt Nam. Giống như Ngô Thì Nhậm hơn 200 năm trước.
Chúng ta đón mùa Xuân về với niềm tin tưởng là ngày đó không xa. Phục hồi một nếp sống thuần hậu, ngay thẳng, chánh trực; sống lại các giá trị đạo lý của Chu An, Nguyễn Ðình Chiểu; Phan Châu Trinh; chúng ta sẽ trở về trước bàn thờ, trong ngôi nhà cũ của tổ tiên. Ngày về sắp đến rồi. Cái gì tới chỗ cùng cực, sẽ phải thay đổi. Cả nước đang rạo rực chờ biến chuyển. Cả dân tộc đang trở về nhà, lòng náo nức như một thi sĩ sắp được về sau “Mười năm mặt sạm soi khe nước - Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.” Trong lòng thi sĩ vẫn tràn ngập niềm vui:
Tiếng biển lời rừng nao nức giục

Ta về cho kịp độ xuân sang
(Ta Về, Tô Thùy Yên)
Ngô Nhân Dụng
(Người Việt)