Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

Lượm tin

CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
- Gần 150 nghệ sĩ gửi mùa xuân đến lính đảo (TT).
- Việt-Trung làm cầu truyền hình  —  (BBC). “dường như các tường thuật trên báo chí trong nước đều khá ngắn gọn và thiếu nồng nhiệt, không tương xứng với quy mô hoành tráng và sự dàn dựng công phu của chương trình”.
- Tạm ngừng blog: Tự vấn – (Cu Làng Cát). “Từ 12 giờ trưa nay đến sáng thứ bảy (17-12) Cu Làng Cát không cập nhật blog bài mới, không dẫn bài từ các trang khác. Đó là cách tự ‘phạt’ bản thân một ngày tự vấn vì đã làm tổn thương tình cảm rất nhiều bà con với thái độ chủ quan”. Cũng tại BTV, hôm qua sau khi đăng Tài liệu về trận Hải chiến Hoàng Sa xong thì đặt Cu Làng Cát viết bài, nói rằng ngày mai muốn thấy bài của bác liên quan đến bài dịch đó. Phải chăng do viết vội mà CLC không đủ thông tin? Cũng có thể do CLC chủ quan nên đã không làm research thêm cho một chủ đề nhạy cảm? Dù gì đi nữa thì bà con cũng phải “nhịn” đọc bài của CLC mấy ngày rồi.

- Cầu truyền hình hay diễn biến hòa bình? (Trần Kinh Nghị). “Thì ra trọng nghĩa tình vừa là một đạo lý truyền thống tốt đẹp vừa là “gót chân achilles” của người Việt. Nó có thể làm cho cả cơ thể yếu mềm; đôi khi yếu đến nỗi không dám chấp nhận và nhìn thẳng vào sự thật”.
- Khai mạc kỳ họp HĐND, Chủ tịch tỉnh Thanh Hoá: Yêu cầu đại biểu không ngủ gật (LĐ). “…ông Mai Văn Ninh – Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch HĐND tỉnh – yêu cầu: “Các đại biểu, kể cả đại biểu mời cần chuẩn bị ý kiến phát biểu. Không được ngủ gà gật tại nghị trường”.
- Trần Đăng Khoa: Bàn với Bộ trưởng Thăng (VOV).
KINH TẾ
- Ngân hàng đánh vật với giới hạn tín dụng cuối năm (VnEconomy).
VĂN HÓA-THỂ THAO
- Dựng tượng đài nghĩa sĩ Cần Giuộc (DT).
- Bùi Văn Nam Sơn: Văn hoá phản tỉnh (SGTT).
- Tiểu thuyết của Phan Khánh:  HOÀN CHỈNH SAI – Kỳ 1 (Lê Thiếu Nhơn).
- Chữ nghĩa để lại giới thiệu sách Hoa Đường tuỳ bút của Phạm Quỳnh (SGTT).
GIÁO DỤC-KHOA HỌC
- Đổi mới giáo dục, bắt đầu từ nóc? (VNN).
XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG
- Đà Nẵng: 4 ngư dân mất tích trên biển (DT).
- Vũ Thế Long: “Nỗi oan” của đỉa? (Quê choa). “Những tưởng chỉ có ở cái giống người mới có chuyện oan sai, nào ngờ con vật thấp hèn sống rúc dưới bùn thối đáy ao như con đỉa mà cũng bị oan sai ư?”:  – Minh oan cho con đỉa (DV).
QUỐC TẾ
- 25 người Syria thiệt mạng trong hôm thứ Tư  —  (VOA).  – Bạo lực bùng phát tại Syria, Nga và phương Tây căng thẳng (VOV).



BTV: Lâu nay quý độc giả đã đọc qua các bài viết mô tả trận Hải chiến Hoàng Sa do những người lính Việt Nam Cộng hòa đã từng tham gia trận đánh này kể lại, hiếm khi có dịp đọc tài liệu từ phía Trung Quốc nói về trận chiến này. Dưới đây là trận Hải chiến Hoàng Sa đã được tái hiện qua ngòi bút của phía “bạn”, mô tả lại việc họ đã sử dụng vũ lực để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam như thế nào. Bài viết này còn cho thấy, việc cưỡng chiếm Quần đảo Hoàng Sa đã được phía Trung Quốc tính toán và lên kế hoạch rất kỹ. Trận đánh này nằm trong kế hoạch chiến lược lớn hơn của Trung Quốc, không như ý kiến của một số người cho rằng, do phía VNCH không khéo xử sự, để bị rơi vào tình trạng khiêu khích, tạo cơ hội cho Trung Quốc “ra tay”, như bài viết của ông Nguyễn Hữu Hạnh: LỘ DIỆN KẺ ĐÁNH MẤT HOÀNG SA SAU 33 NĂM, mà nhiều người đã đọc qua.
Trong bài có nói đến hộ tống hạm Nhật Tảo, chiếc HQ-10, mà phía Trung Quốc gọi là “Sóng Dữ”, chúng tôi xin giữ nguyên văn cụm từ này, cùng các cụm từ khác như: Tây Sa (tức Hoàng Sa), Nam Sa (tức Trường Sa), Nam Hải (tức biển Đông), Đông Hải (tức biển Hoa Đông), Nam Việt (tức Việt Nam Cộng hòa)… cho đúng khẩu khí của người viết. Thêm một điểm cần lưu ý, trong bài tiếng Trung có nhiều chỗ đánh dấu bằng hai dấu hoa thị (**), người dịch không hiểu là gì nên đã để nguyên như vậy. Những chỗ đánh dấu như thế trong bài đa số là tên của các loại vũ khí, nên BTV cho rằng, có thể đó là những chữ đã bị kiểm duyệt, do một số thông tin phía Trung Quốc vẫn còn bảo mật.
————
Canglang.com

Tái hiện tin mật về xung đột Trung – Việt trong trận hải chiến Tây Sa năm 1974

07-11-2011
Quốc Trung dịch
Hải chiến Tây Sa là trận hải chiến xảy ra giữa nước ta với Nam Việt trong tranh chấp quần đảo Tây Sa cách nay đã mấy chục năm, hiện có một số bài viết đưa lên gọi là giải mật về Tây Sa, chẳng thấy có chút gì là “giải mật” mà chỉ là đăng lại, dựa theo những bài viết công khai mà thôi, vì thế khi cho đăng tư liệu mình thu thập được, hy vọng xin được sự chỉ giáo từ chư vị.
Chương I: Ôn lại trận chiến
Tân Hoa Xã ngày 19 tháng 1 năm 1974 đưa tin, từ 11 tháng 1 năm 1974 đến nay, Bộ Ngoại giao nước ta đã nhiều lần ra tuyên bố và cảnh cáo, nhưng Nam Việt vẫn chưa hề rút lại hành vi xâm lược của mình, mà trái lại còn đưa hải quân và không quân xâm nhập quần đảo Vĩnh Lạc trong quần đảo Tây Sa của ta. Chúng ta không thể chịu đựng thêm được nữa, đã tiến hành đánh trả tự vệ anh dũng, đem lại sự trừng phạt cần có cho quân xâm lược.
Nam Việt:  “Hải quân Trung cộng đã điều tàu loại Komar, có trang bị tên lửa Styx. Trận chiến ác liệt chưa từng có…”
Mỹ:  Đệ thất Hạm đội Hải quân Mỹ hoạt động tại vịnh Bắc Bộ đã từ chối các cuộc gọi của hải quân Nam Việt, yêu cầu sự can thiệp của Mỹ, thậm chí còn từ chối cả việc cử tàu đến cứu những người bị chết đuối.
•  Canh bạc lúc tàn hơi
Quần đảo Vĩnh Lạc là một bộ phận của quần đảo Tây Sa, quần đảo này được tạo thành từ các đảo san hô là: San Hô, Cam Tuyền, Kim Ngân, Thâm Hàng, Tấn Khanh và Quảng Kim…, từ xa xưa là lãnh thổ của nước ta, nhưng từ thế kỷ 19, một phần các đảo bị nước Pháp là thực dân Đông Nam Á chiếm giữ. Năm 1954, Pháp bị đuổi đi, đảo San Hô bị Pháp chiếm giữ rơi vào tay Nam Việt. Tháng 1 năm 1973, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, đồng thời giao một lượng lớn tàu chiến cho Nam Việt. Từ tháng 8 năm 1973, Nam Việt liên tiếp đưa tàu quân sự xâm phạm lãnh hải của nước ta. Ngày 11 tháng 1 năm sau, lại càng trắng trợn hơn khi cho công bố bản đồ, quy Tây Sa vào bản đồ của họ. Khi ấy nước ta liên tục nảy sinh các vấn đề nội bộ và bên ngoài, trong nước rơi vào trạng thái hỗn loạn của cuộc “Đại cách mạng văn hóa”, rồi quan hệ Trung-Xô căng thẳng, không còn sức để ngó ngàng đến phía nam. Vì thế hành động của Nam Việt mỗi lúc một mạnh, ngày 15 tháng 1, phiên hiệu “Lý Thường Kiệt” (HQ-16) của hải quân Nam Việt xâm nhập đầu tiên, nổ súng uy hiếp vào hai tàu cá 402 và 407 đang tác nghiệp ở gần đảo Cam Tuyền. Trưa ngày 17, quân địch đổ bộ lên đảo Kim Ngân, đến chiều còn cưỡng chiếm cả đảo Cam Tuyền.
•  Cuộc đối đầu trên biển
Đối mặt trước sự xâm nhập ấy, hạm đội Nam Hải đã theo lệnh đưa hai con tàu 271 và 274 thuộc Đại đội tàu Chống ngầm 73 ở căn cứ Du Lâm, do Ngụy Minh Sâm, Phó Tư lệnh Quân 38002 và Đại Đội trưởng Vương Khắc Cường chỉ huy, hợp thành Biên đội 271, thực thi nhiệm vụ bảo vệ cá và vận chuyển cung cấp cho quân dân trên đảo. Biên đội này tới quần đảo Vĩnh Lạc vào đêm ngày 18, đưa 4 trung đội dân binh có vũ trang thuộc Quân khu Nam Hải đến 3 đảo Tấn Khanh, Thâm Hàng, Quảng Kim.
Trưa ngày 18, các tàu quân sự Nam Việt phiên hiệu “Trần Khánh Dư” và phiên hiệu “Lý Thường Kiệt” tiến đến gần tàu cá số 407, nhấn chìm, hăm dọa để buộc phải dời đi. Thuyền trưởng tàu 407, Dương Quý Hào không chịu khuất phục, tàu “Lý Thường Kiệt” đột ngột chuyển bánh lái, đâm thủng mạn trái tàu cá. Chính giữa lúc các ngư dân đang cầm xỉa cá giơ lên quyết tử chiến, thì các tàu 271 và 274 của ta lao đến, phát tín hiệu cảnh báo. Khi thấy hải quân ta tới, tàu Việt đã treo cờ tín hiệu “Tàu mất lái”, rồi vội vàng rời khỏi hiện trường.
Tối hôm đó, đại tá quân địch Hà Văn Ngạc đã đưa tàu phiên hiệu “Trần Bình Trọng” (HQ-5) cùng tàu phiên hiệu “Sóng Dữ” (1) (HQ-10) đi kèm tới tận nơi. Dù số lượng tàu của hai bên là 4-4, song xét cả về trọng tải lẫn hỏa lực, quân Việt đều chiếm ưu thế áp đảo. Tổng trọng tải các tàu bên quân ta còn chưa bằng một tàu của bên quân Việt! Hơn nữa, tàu bên quân Việt đều được trang bị hệ thống điều khiển tự động, còn tàu bên quân ta về cơ bản vẫn là thao tác bằng sức người, sự chênh lệch về tương quan thực lực giữa hai bên là quá rõ ràng.
Sáng sớm ngày 19, bên quân Việt phát hiện thấy bên quân ta chỉ có 4 con tàu nhỏ, liền cho rằng có thể tận dụng ưu thế binh lực để tiêu diệt quân ta, tàu Việt bố trận lại từ đầu, chia làm hai cánh chiếm đường ngoài lợi thế, triển khai đội hình chiến đấu, tàu phiên hiệu “Trần Bình Trọng” dẫn tàu phiên hiệu “Trần Khánh Dư” từ ngoài khơi phía nam đảo Kim Ngân, rạn san hô Linh Dương tiếp cận hai đảo Thâm Hàng, Quảng Kim, các tàu phiên hiệu “Sóng Dữ” và phiên hiệu “Lý Thường Kiệt” từ tây bắc đảo Quảng Kim tiếp cận chiến hạm của ta. Đồng thời, Tổng bộ hải quân Nam Việt hạ lệnh cho đại tá Hà Văn Ngạc nổ súng.
•  Kịch chiến trên biển
Theo sự dàn trận của Quân khu Quảng Châu, biên đội 396 tiến vào phía tây bắc đảo Kim Quảng để đánh chặn các tàu phiên hiệu “Lý Thường Kiệt” và tàu phiên hiệu “Sóng Dữ”, biên đội 271 tiến vào mặt biển đông nam đảo Kim Quảng để giám sát các tàu phiên hiệu “Trần Khánh Dư”, phiên hiệu “Trần Bình Trọng”. Các pháp thủ bên quân ta bám chặt trận địa chờ đợi khi vừa phát hiện  thấy nòng pháp bên tàu địch lóe lên, là liền lập tức đạp cò, đạn pháo của chúng ta cũng ra khỏi nòng. Thời khắc ấy là 10 giờ 25 phút trưa ngày 19 tháng 1 năm 1974.
Toàn bộ trận hải chiến là tương quan 2-2. Biên đội 271 và các tàu phiên hiệu “Lý Thường Kiệt”, “Trần Khánh Dư” ở phía đông nam đảo Quảng Kim là chủ lực của hai bên, cho nên không hẹn mà cùng đều áp dụng chiến thuật “Đánh rắn phải đánh giập đầu”. Thế nhưng cả hai bên đều xuất hiện phán đoán sai lầm. Theo hồ sơ được phía Việt Nam công bố mấy năm gần đây, do khi Hà Văn Ngạc tới, quân Việt đổi tàu đô đốc từ phiên hiệu “Trần Khánh Dư” thành phiên hiệu “Trần Bình Trọng”, bên ta không biết, tất cả hỏa lực đều dồn vào tàu “Trần Khánh Dư; còn bên Việt thì cho rằng tàu 274 đi sau phía ta là tàu chỉ huy, vì thế hỏa pháo của trung đội 1 đã nhằm vào đài chỉ huy trên đó để quét, Chính ủy Phùng Tùng Bá chẳng may trúng đạn hy sinh. Tuy nhiên, bên địch đã phạm phải một sai lầm chiến lược nghiêm trọng: Chúng đã sử dụng đạn xuyên thép với tàu chống ngầm không bọc thép, như vậy ngay cả đạn pháo có bắn trúng thì cũng thường xuyên qua thân tàu mà rơi xuống biển, thậm chí còn có rất nhiều đạn xịt; nếu sử dụng đạn nổ mạnh thì thắng thua là điều khó nói. Còn hai tàu bên quân ta thì đã tận dụng các đặc điểm mục tiêu nhỏ, chạy nhanh để dũng cảm đánh tiếp cận. Pháo bắn nhanh cỡ nhỏ bên quân ta liên tục nhả đạn về phía tàu địch, tàu “Trần Khánh Dư” không bọc thép bị bốc cháy rất nhanh, cự li bắn giữa hai bên từ 1.000m rút lại còn 300m. Lúc này, bánh lái điện của tàu 274 bất ngờ phát sinh sự cố, tận mắt nhìn thấy con tàu nhỏ mất lái đâm vào lưới lửa chằng chịt của tàu “Trần Khánh Dư” và tàu “Trần Bình Trọng”. Trong thế ngàn cân treo sợi tóc, thuyền trưởng tàu Lý Phúc Tường bình tĩnh ra lệnh chuyển sang người lái, đồng thời từ đài chỉ huy nhảy lên sàn tàu, đứng ở cửa cabin lớn tiếng ra lệnh quay đầu thật nhanh, rồi dùng khẩu lệnh và tay chỉ huy tác chiến. Đồng thời, tiểu đội trưởng chủ pháo Vương Tuấn Dân đã chỉ huy hỏa pháo bắn dữ dội về phía tàu “Trần Khánh Dư” đang lao tới trước mặt, tàu địch chống đỡ không nổi, quay đầu tháo chạy. Tàu 274 lại quay pháo bắn liên tiếp vào tàu “Trần Bình Trọng” đang chạy tới chi viện. Người nạp đạn Lý Như Ý nạp bắn một lèo tới hơn 180 quả đạn pháo, làm câm bặt chủ pháo ở sau tàu “Trần Bình Trọng”.
• Tử chiến ở hồ đá ngầm
Trận chém giết lẫn nhau bên trong hồ đá ngầm lại còn oanh liệt hơn, tác chiến trong một phạm vi nhỏ hẹp đầy những rạn san hô, không có khoảng chừa cho tác chiến cơ động, ai là kẻ dũng cảm sẽ chiến thắng, thế là hai tàu 396 và 389 dồn hỏa lực công kích vào tàu “Lý Thường Kiệt”. Tại đó, quân Nam Việt ở vào thế bất lợi, tàu “Sóng Dữ” nguyên là một chiếc tàu dò mìn, tốc độ cao nhất cũng chỉ có 14, có lòng mà giữ được hiệp đồng với tàu “Lý Thường Kiệt”. Cho nên, hai bên vừa bắn nhau, tàu “Sóng Dữ” chỉ có thể tạm thời bắn trước về phía đảo Quảng Kim, rồi chỉ còn cách đứng nhìn  tàu “Lý Thường Kiệt” bị quân ta tập trung công kích mà chẳng có cách gì đi vào chi viện. Khi ấy, hỏa lực mạn bên lớn nhất của quân Việt là 1 khẩu pháo 127 ly, 3 khẩu pháo 40 ly, một khẩu pháo 20 ly và 2 khẩu súng máy, còn bên quân ta thì vũ khí dùng được là 1 khẩu pháo 85 ly, 6 khẩu pháo 37 ly, 4 khẩu pháo 25 ly và 4 khẩu súng máy.  Chỉ cần tiếp cận được hoàn toàn vào tàu địch, không để cho khẩu pháo 127 ly này phát huy uy lực, thì ở chiến trường cục bộ này, bên quân ta vẫn có thể giành được ưu thế hỏa lực tương đối.
Hai tàu 396 và 389 một bên ép sát, một bên nhả đạn pháo lên tàu “Lý Thường Kiệt”. Lúc này, 1 phát đạn pháo 127 ly từ dưới nước vọt trúng tàu “Lý Thường Kiệt”, xuyên thủng khoang máy, nhưng không nổ. Thì ra vì cự ly chiến đấu giữa hai bên quá gần, nên đạn pháo chi viện cho tàu bạn từ tàu “Trần Bình Trọng” đã bắn nhầm phải người mình. Khi đó, tàu “Sóng Dữ” lao tới, bắn thọc đằng sau lưng biên đội của ta. Thế cục thay đổi trong nháy mắt, khiến cho tàu 389 bị quân địch tấn công từ hai phía bốc cháy nhiều chỗ. Mặc dù đã trúng đạn đầy mình, nhưng tàu 389 vẫn ép sát tàu địch, các chiến sĩ trong tình thế nguy cấp đã ôm luôn cả bệ phóng rocket, xách luôn cả súng tiểu liên, tay cầm lựu đạn, đúng là một trận đánh dũng mãnh, đã xảy ra một trận “đấu lưỡi lê trên biển” hiếm thấy trong lịch sử các cuộc hải chiến, quả là một trận xáp mạn tàu khiếp vía kinh hồn! Thuyền trưởng tàu “Sóng Dữ”, thiếu tá họ Ngụy [Văn Thà] đã mất mạng trong trận chiến trần trụi bằng lưỡi lê trên biển này.
Lúc này, tàu “Lý Thường Kiệt” quay về hồ đá ngầm, chuẩn bị cầu cứu tàu “Sóng dữ”. Đạn pháo trên tàu 389 đã bắn hết sạch, thuyền trưởng tàu Tiêu Đức Vạn hạ lệnh nạp bom chống tàu ngầm, quyết cùng chết với tàu địch. Còn thượng úy (2) họ Nguyễn (tức Nguyễn Thành Trí: BTV) chỉ huy thay thế tàu “Sóng dữ” thì muốn cố sức đâm chí mạng vào tàu 389. Chính trong thời khắc nguy cấp ấy, tàu 396 đã chuyển hướng đón chặn trước mặt tàu “Lý Thường Kiệt”, yểm trợ cho tàu 389 thoát hiểm. Tàu “Lý Thường Kiệt” vừa kịp hoàn hồn, không ngờ lại bị một đòn đau, chỉ còn cách rút lui về hướng tây bắc.
 • Thắng lợi và ý nghĩa của nó
11 giờ 49 phút, đại đội 74 tàu chống ngầm sinh lực quân của bên ta lao vào chiến trường. Hạm đội Nam Việt cho là đại quân (trong Hồi ký của trung tá họ Vũ [Hữu San], hạm trưởng tàu “Trần Khánh Dư” cho rằng Trung Quốc đã điều 42 tàu quân sự và 2 tàu ngầm) đã quay đầu rút lui vào lúc 12 giờ. Bản thân tàu “Sóng dữ” tốc độ chậm, lại bị thương tích, nên đã không thể đuổi theo kịp đồng bọn đang tháo chạy. 12 giờ 12 phút, đại đội 74 vừa tới nơi đã tiếp nhận mệnh lệnh tấn công, tàu 281 lao lên hết tốc lực, bắn dữ dội vào tàu “Sóng dữ”, làm nó bị đánh chìm ở phía nam bãi đá ngầm Linh Dương vào lúc 14 giờ 52 phút.
Sau khi quân ta đã phải trả giá với 18 người tử trận, 67 người bị thương, trận hải chiến Tây Sa đã kết thúc bằng thắng lợi về phía quân ta. Sau đó quân ta thừa thắng xuất kích, thu hồi hoàn toàn Tây Sa. Chiến thắng này làm cho quân ta hiểu được rằng ở nơi Nam Hải “nước xanh” mênh mông rộng lớn này còn có được chủ quyền và lợi ích không dễ gì xâm phạm chính bởi trận hải chiến này, mà việc thiết lập lòng tin về sự tác chiến của hải quân ta ở nơi cách xa đại lục đã dần dần được điều chỉnh, sau cuộc chiến ấy, căn cứ Du Lâm lập tức được tăng viện 2 tàu hộ tống. Có thể nói, kể từ khi ấy, Nam Hải mới đi vào tầm ngắm của sự phát triển chiến lược của hải quân ta. Cho nên, xét từ ý nghĩa này, trận hải chiến Tây Sa chính là bước khởi đầu cho hải quân ta tiến ra “biển xanh”.
Chương II: Bối cảnh quốc tế
Trận phản kích tự vệ Tây Sa tuy là một trận chiến quy mô nhỏ, nhưng bối cảnh của nó lại rộng lớn, phức tạp. Liên quan đến chiến lược toàn cầu của 3 nước lớn Trung Quốc, Mỹ và Liên Xô khi ấy còn có cả Việt Nam và khu vực Đài Loan. Muốn nói về trận phản kích tự vệ Tây Sa, còn phải được bắt đầu bằng việc Nixon dến thăm Trung Quốc mở cửa cho quan hệ Trung-Mỹ.
Vào đầu thập niên 70, mối quan hệ Trung-Xô xấu đi nhanh chóng, Liên Xô cho bố trí hàng trăm vạn quân ở biên giới phía bắc Trung Quốc. Đặc biệt là sau trận phản kích tự vệ ở đảo Trân Bảo vào năm 1969, trung Quốc đã phải chịu sự uy hiếp chiến tranh to lớn từ Liên Xô. Mỹ và Liên Xô trong cuộc đối đầu chiến tranh lạnh cũng trở nên hết sức bị động. Vào cuối thập niên 60, lực lượng chiến lược Liên Xô có xu hướng hòa hoãn với Mỹ, nước Mỹ khi phải đối mặt với sự uy hiếp chiến lược của Liên Xô đang leo thang nghiêm trọng, đã yêu cầu được liên hợp với Trung Quốc để cùng nhau áp chế Liên Xô. Đồng thời, chính phủ Mỹ vội vã rút quân khỏi Việt Nam, cũng yêu cầu có sự phối hợp chiến lược của Trung Quốc. Chính trong tình hình ấy, Mao Trạch Đông và Nixon, xuất phát từ con mắt chiến lược sâu rộng, đã mở cửa cho mối quan hệ Trung-Mỹ. Việc thu hồi Tây Sa có thể nói là một sản phẩm ăn theo của quyết sách chiến lược này.
Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, rất nhiều hòn đảo của Tây Sa đã bị Nam Việt chiếm giữ dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, chứ không phải Bắc Việt **. Những hòn đảo này của Tây Sa đã bị Bắc Việt chiếm giữ khi nước Mỹ không muốn rút quân, bởi vì giao Tây Sa cho Bắc Việt thì chẳng khác nào giao cho Liên Xô. Chuyện này có một dẫn chứng quan trọng: Căn cứ quân sự trọng yếu của quân Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam là vịnh Cam Ranh, sau Chiến tranh Việt Nam, Liên Xô nhanh chóng thuê lại vịnh Cam Ranh làm căn cứ quân sự cho họ, cho đến tận bây giờ (năm 2004 hết hạn) (3). Cho nên, chúng ta có thể phân tích thế này, về vấn đề Trung Quốc thu hồi Tây Sa, Đệ thất Hạm đội hải quân Mỹ đã từ chối lời yêu cầu hải quân Mỹ can thiệp, thậm chí còn từ chối cả việc đưa tàu tới ứng cứu những người bị chết đuối, chứng tỏ Trung Quốc đã có thỏa thuận ngầm với Mỹ. Điều này không hề xuất phát từ chuyện Mỹ tốt với Trung Quốc đến đâu, lại càng không phải là ban ơn, mà hoàn toàn là xuất phát từ lợi ích tự thân của nước Mỹ. Chính trong bối cảnh toàn cục ấy, trong thời khắc then chốt ấy, Trung Quốc đã chớp lấy thời cơ để thu hồi Tây Sa.
Khi Trung Quốc thu hồi Tây Sa, binh lực của Hạm đội Nam Hải rất thiếu, đòi hỏi phải có sự chi viện từ Hạm đội Đông Hải. Đảo Đài Loan nằm ở giữa Nam Hải và Đông Hải, việc điều động hạm đội trước đây đều đi vòng từ ngoài khơi đảo Đài Loan, để tránh đi vào đường nhạy cảm trong eo biển Đài Loan. Thời gian hành động của hạm đội lần này quá gấp gáp, quy mô lại hết sức lớn, liệu có thể đi qua eo biển Đài Loan nổi không? Nixon đến thăm Trung Quốc, đụng chạm vào chính phủ Tưởng Giới Thạch có thể nói là thảm họa. Điều động hạm đội quy mô lớn đi qua eo biển Đài Loan vào lúc này, Tưởng Giới Thạch sẽ có phản ứng gì? Lãnh dạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đã liên hệ được với Tưởng Giới Thạch thông qua kênh bí mật, Tưởng Giới Thạch cân nhắc từ đại nghĩa dân tộc, đã để cho hạm đội được đi qua eo biển Đài Loan một cách suôn sẻ, giành được thời cơ cho cuộc chiến. Đài Loan từng nhiều lần thả hải quân Trung Quốc đại lục trong trận hải chiến với Trung Quốc đại lục, chưa hề có mối quan hệ mật thiết nào dưới sự chỉ đạo đằng sau của Mỹ.
Trận phản kích tự vệ Tây Sa không hề được coi là trận hải chiến quy mô lớn. Khi trận chiến kết thúc, Bắc Việt ** lập tức ra tuyên bố, “cảm ơn chính phủ Trung Quốc đã giúp đỡ họ giải phóng Tây Sa từ tay Nam Việt”. Điều này đồng nghĩa với việc đề xuất với Trung Quốc yêu cầu về lãnh thổ Tây Sa. Chính phủ Trung Quốc không đếm xỉa gì đến chuyện này, gọi trận chiến đó là “trận phản kích tự vệ”, nhấn mạnh Tây Sa từ xa xưa đã là lãnh thổ của Trung Quốc. Trung Quốc thu hồi lại lãnh thổ của mình từ tay “ngụy quân Nam Việt” từ sự hỗ trợ của Mỹ. Chính nước cờ hay tuyệt diệu này đã khiến cho Trung Quốc giành được thế chủ động trong tương lai về vấn đề Nam Hải. Và cũng chính điểm này, sau khi Nam – Bắc Việt Nam thống nhất, đã trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến Việt Nam dựa vào Liên Xô, thù địch với Trung Quốc.
Chương III  Bối cảnh khi xảy ra trận chiến
Nguyên nhân xảy ra trận hải chiến Tây Sa là do sau khi Bắc Việt ký Hiệp định đình chiến, chính phủ Nam Việt đã nhân cơ hội đó để ổn định lại cục diện chiến đấu trên bộ, tích cực triển khai hoạt động trên các yếu điểm chiến lược Nam Việt đã chiếm đoạt. Bắt đầu từ tháng 8 năm 1973, tàu quân sự Nam Việt liên tục xua đuổi và bắt giữ ngư dân Trung Quốc trong vùng biển Tây Sa, chiếm giữ đảo, mưu đồ đẩy Trung Quốc ra khỏi khu vực này, tiến vào độc chiếm quần đảo Tây Sa, khi ấy Trung Quốc và Việt Nam mỗi bên chiếm giữ một vài hòn đảo, tương tự như với quần đảo Nam Sa. Công bằng mà nói, động thái này của chính phủ Nam Việt quả thực rất có tầm nhìn chiến lược, đồng thời không loại trừ có người Mỹ đứng đằng sau khi trù mưu tính kế.
Trung Quốc khi ấy lại đang sa vào vũng lầy của cuộc Đại Cách mạng Văn hóa. Tầm nhìn của Trung ương và Quân ủy đều tập trung vào 3 khu vực phía bắc tiếp giáp với Liên Xô. Khi ấy Liên Xô đang tập kết tới bốn mươi mấy sư đoàn đã được cơ giới hóa ở toàn bộ phía Đông, cộng thêm quân đội hàng không và quân đội dự bị chiến lược, tổng binh lực lên tới gần 1 triệu quân! Trận chiến trên đảo Trân Bảo nguy cấp nhất, tuy binh lực của cả hai bên không vượt quá quy mô tiểu đoàn, song bày trận ở đằng sau mỗi bên là binh lực với quy mô tập đoàn quân! Trong thời khắc nguy cấp ấy, phía Liên Xô còn tổ chức diễn tập quân sự quy mô lớn (với quy mô mười mấy sư đoàn) ngay trước mắt chúng ta. Phản ứng của phía ta là chỉ trong vòng 2 tháng đã cho nổ 2 quả bom hạt nhân! Không hề đưa một chữ nào trong phần tin tức. Sự kiện một phân đội đi tuần tra biên giới phía bắc sau đó đã khiến cho Trung ương hạ quyết tâm nhanh chóng cải thiện mối quan hệ với Mỹ nhằm giảm bớt áp lực của Liên Xô đối với chúng ta. Không thể lơ lỏng dù chỉ một khắc cuộc đối đầu quân sự với Liên Xô ở phía bắc. Đại bản doanh nguồn lực quốc phòng đã bị liên lụy về phía ấy, còn với khu vực Nam Hải thì nói chung là áp dụng thái độ bỏ mặc, trong khi sự khiêu khích của chính phủ Nam Việt thì lại càng ngày càng mạnh.
Đến tháng 1 năm 1974, chính phủ Nam Việt tuyên bố phải khai thác dầu ở khu vực Tây Sa, buộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc phải ra tuyên bố, nhắc lại chủ quyền của mình đối với Tây Sa và Nam Sa. Nhưng hành động của hải quân Nam Việt lại leo thang ngay tiếp sau đó, 4 ngày sau, biên đội chiến hạm chiến đấu của họ tiến đến vùng biển Tây sa, khiêu chiến với Trung Quốc bằng vũ lực. Phía Trung Quốc khi ấy về cơ bản chưa chuẩn bị cho việc đánh, trong lúc nguy cấp đã vội vã điều 2 tàu dò mìn (phiên hiệu 396 và 389), 2 tàu chống ngầm (phiên hiệu 271 và 274) đến Tây Sa vào ngày 17 tháng 1. Tàu dò mìn 389 trong số đó vừa được xuất xưởng sửa chữa, chưa hề lái thử, đã phải xuất phát đến vùng chiến địa. Có thể thấy được sự thảm hại của phía quân Trung Quốc khi ấy. Hơn 1 ngày sau, phía quân Trung Quốc lại vội điều 2 tàu chống ngầm (phiên hiệu 281 và 282) đến tăng viện cho Tây Sa. Sau này đã thấy: Chính 2 chiếc tàu này đã bảo đảm cho sự thắng lợi cuối cùng của quân Trung Quốc trong trận Tây Sa.
Những người am hiểu sẽ nhìn ra được những chiếc tàu này không phải được dùng cho các trận hải chiến đích thực. Chứng tỏ phía Trung Quốc khi ấy cơ bản là không muốn đánh, mà chỉ muốn chứng minh sự tồn tại vũ lực của mình ở vùng biển Tây Sa, nhìn mấy chiến tàu nhỏ bên quân Trung Quốc điều đến mà đã tạo nên dũng khí để làm nên chuyện, thì e rằng cũng đã nằm ngoài dự liệu của các nhà quyết sách quân sự khi ấy.
Ngày 18 tháng 1, tàu Trung Quốc đến vùng biển Tây Sa, gặp phải tàu của hải quân Nam Việt ở đó, tổng cộng có 1 tàu khu trục (số ghi ở thân tàu là 04), 2 tàu hộ tống (số ghi ở thân tàu là 05 và 16) và 1 tàu tuần tra (số ghi ở thân tàu là 10). Bốn tàu của hải quân Nam Việt, với tổng trọng tải hơn 6.000 tấn, hơn 50 khẩu hỏa pháo, lại được trang bị hệ thống điều khiển bắn tự động điện tử tiên tiến nhất hồi bấy giờ; còn 4 chiếc tàu bên quân ta gộp lại tổng cộng mới được hơn 1.700 tấn, 16 khẩu hỏa pháo, trọng tải tàu tối đa không bằng trọng tải con tàu nhỏ nhất của quân Nam Việt. Tương quan thực lực giữa hai bên đối trận chênh nhau như vậy cũng là điều hiếm gặp trong lịch sử các trận chiến hải quân trên thế giới. Vì thế, hải quân Nam Việt phán đoán máy bay chiến đấu của Trung Quốc do hành trình xa nên không thể tới chi viện cho Tây Sa được, cảm thấy vẫn có thể đánh được biên đội hải quân nhỏ ấy của Trung Quốc. Cũng có nghĩa là vào sớm ngày hôm đó, sĩ quan chỉ huy tàu Nam Việt khi đã liên lạc được với tổng thống của họ là có thể được trao quyền khai hỏa vào tàu Trung Quốc.
Song hải quân Trung Quốc khi ấy, mặc dù về mặt trang bị và sẵn sàng tác chiến không bằng được Việt Nam, nhưng lòng quả cảm và sĩ khí thì lại ở hàng đầu, là quân đội được trang bị bằng tư tưởng Mao Trạch Đông, đã không hề run sợ trước hải quân Nam Việt với ưu thế áp đảo. Còn hải quân Việt Nam khi gặp phải biên đội tàu Trung Quốc tiến tới bất ngờ, tuy coi thường, nhưng vì cũng không biết được nội tình bên quân Trung Quốc nên cũng không dám manh động, hai bên lại đối đầu trong đêm tối, thế là cả hai bên cùng thu quân. Ngày hôm sau, 19 tháng 1, tàu Nam Việt nhìn thấy bên quân ta không hề có tăng viện, chỉ vẻn vẹn có 4 chiếc tàu nhỏ, thế là can đảm hẳn lên. Tàu hộ tống 5 cậy mình thừa đủ trọng tải mã lực đã va vào trước đánh chặn 2 tàu dò mìn 396 và 389 của bên quân ta, tàu dò mìn 396 của ta bị hư hỏng nhẹ, dùng mấy chiếc xuồng máy đưa khoảng 1 trung đội lính đánh bộ lên 2 hòn đảo Trân Hàng, Quảng Kim, đã bị bên quân ta khống chế (2 hòn đảo này có 1 đại đội dân binh của ta đóng trên đó), đối đầu với dân binh Trung Quốc trên đảo. Tàu bên quân ta nhằm hỏa pháo vào quân Nam Việt đang đổ bộ lên đảo, hiệp trợ dân binh trên đảo, còn tàu quân sự lớn của Nam Việt do ở quá gần đảo, nên chủ pháo ** đã bị rơi vào góc chết, chẳng trợ giúp gì được. Trong tình huống có cảnh cáo cũng vô hiệu ấy, dân binh Trung Quốc đã nổ súng trước, giết chết 1 tên địch, làm bị thương 3 tên, buộc quân Nam Việt phải quay đầu rút chạy thảm hại.
Khi thấy không dễ gì chiếm được đảo, tàu quân sự Nam Việt đã thu hồi quân đổ bộ lên đảo, lượn một vòng ra ngoài khơi (khiến cho tàu bên quân ta bị nằm vào tầm bắn của hỏa pháo ** bên họ), triển khai đội hình chiến đấu. Biên đội tàu Trung Quốc không những không lui về, mà còn dốc hết mã lực cũng triển khai đội hình chiến đấu để đón đầu tàu quân sự Nam Việt (bởi nếu như bị chúng giãn cách cự ly, thì bên quân ta chỉ còn cách chịu đòn). Hai bên đối trận lúc này, pháo chĩa vào nhau, lưỡi lê đã tuốt, khoảng cách ngày một thu hẹp, căng thẳng tột độ. Cuối cùng tàu quân sự Nam Việt không nén nổi, các tàu cùng nổ súng về phía quân Trung Quốc, ngay chính trong khoảnh khắc lửa pháo lóe lên, pháo thủ bên quân ta cũng ấn nút điện, trận hải chiến Tây Sa chính thức bắt đầu!
Chương IV: Giải mật tư liệu
Về chuyện ai nổ súng trước, có một loạt quan điểm cho rằng, tàu quân Nam Việt lúc ấy nổ súng trước là khi lui về phía sau để giãn cách cự li, cho hỏa pháo ** ở vào vị trí lợi thế, thì tàu quân Trung Quốc đã truy kích để thu hẹp cự ly, thực ra không phải như vậy. Trước hết, nếu đúng là như vậy, thì tàu quân Nam Việt chắc chắn đã đối mặt với quân Trung Quốc bằng pháo đuôi chứ không phải bằng chủ pháo, không phải ở vị trí đắc địa; thứ hai, khi đối đầu, tàu của hai bên ở cách nhau rất gần, dùng theo cách nói của người Nam Việt là “trong tầm cự ly bắn của **”, thì tàu bên quân ta lại chạy nhanh hơn tàu quân Nam Việt (bên Trung Quốc tốc độ 25, bên Nam Việt tốc độ 20), nên chẳng cần phải đợi đến khi tàu quân Nam Việt chạy xa rồi mới đuổi theo; thứ ba, các văn bản chính thức của phía Trung Quốc cũng nói khi ấy hai bên chĩa súng vào nhau, quân Nam Việt nổ súng trước. Cho nên, tình huống khi ấy nên hiểu là khi hai bên tiếp cận chính diện với nhau, đối với quân Nam Việt, nếu quân Trung Quốc tiến gần vào nữa là sẽ bị rơi vào góc chết của chủ pháo ** hạm đội Nam Việt, sẽ bất lợi cho họ, nên họ phải nổ súng trước.
Khẩu pháo ** số 1 của tàu quân Nam Việt là đài chỉ huy của tàu bên quân ta, do ** rất lâu, nên đạn pháo đã bắn rất chuẩn. Một loạt đạn pháo bắn ra, mấy thuyền trưởng và chính ủy bên quân ta khi ấy đã có thương vong. Nhưng tàu bên quân ta tiếp tục áp sát địch hết tốc lực, phát huy ưu thế cự ly gần  của pháo bắn tốc độ **, nên đã áp chế được tàu quân Nam Việt. Còn tàu quân Nam Việt lúc này do tốc độ bắn của hỏa pháo ** chậm, tàu của bên quân ta lại nhỏ, chiều cao chỉ có 2 m, cự ly lại quá gần, rơi vào góc chết của pháo rất khó điều chỉnh, không phát huy được ưu thế hỏa lực, nên đã bị tàu Trung Quốc bắn trả điên cuồng. Để thoát khỏi thế bị động, tàu quân Nam Việt có ý đồ giãn cách cự ly, còn tàu bên quân ta thì truy đuổi đến cùng, áp sát tàu quân địch. Tập trung hỏa lực bắn vào các tàu khu trục 04, tàu hộ tống 16. Quân ta dũng mãnh tấn công tàu khu trục 4 và tàu hộ tống 16 của Nam Việt, vì những con tàu ấy lần lượt ở vào vị trí tàu chỉ huy trong các tàu quân sự Nam Việt. Còn cho đến sau trận hải chiến ấy, phía Trung Quốc đều cho rằng tàu khu trục 04 là kỳ hạm của cả hạm đội Nam Việt. Thực tế, tin của tình báo Trung Quốc rất chuẩn xác, cho đến ngày 18, tàu khu trục 04 luôn là kỳ hạm của Nam Việt, nhưng vào sớm ngày 19, do sự thay đổi về chỉ huy hạm đội Nam Việt, tàu hộ tống 05 đã biến thành kỳ hạm, đây là điều bên quân Trung Quốc không ngờ tới. Hỏa lực từ các tàu chống ngầm 271 và 274 của bên quân ta đã chuyển hướng bắn về phía chủ pháo cùng hệ thống điều khiển bắn, thông tin và chỉ huy của tàu hộ tống 04 Nam Việt.
Mặc dù có sự cứu viện của tàu hộ tống 05, tàu này vẫn bị đánh tới mức làm gián đoạn thông tin, chỉ huy vô hiệu lực, tàu bị cháy khói um lên. Cùng lúc ấy, các tàu quân sự của Nam Việt cũng cố sức bắn trả về phía quân Trung Quốc, pháo ** bắn tàu Trung Quốc ở gần không được liền bắn tới tàu Trung Quốc ở xa, để chi viện cho đồng đội. Do tàu quân ta và quân địch đánh nhau ở cự ly gần, nên không ít ** lực của Nam Việt đã bị đánh gục trên tàu của mình, các tàu của Nam Việt đều bị xơi phải đạn pháo của người mình.
Tàu tuần tiễu số 10 của hải quân Nam Việt đã lao tới và nhả đạn điên cuồng vào tàu dò mìn 389 của ta, để tìm hiểu cứu vãn tàu hộ tống 16 đang bị 2 tàu dò mìn 396 và 389 của quân ta vây đánh. Tàu dò mìn 389 của ta đang chịu tấn công từ hai phía đã bị trúng đạn nhiều chỗ, 6 sĩ quan và lính tử trận, trên tàu bốc cháy, nhưng vẫn dũng cảm chiến đấu, cùng với tàu 396 quay họng pháo bắn trả xối xả về phía tàu tuần tiễu số 10 của đối phương, rồi quay đầu lao tới tàu này. Tàu tuần tiễu số 10 của hải quân Nam Việt bị bắn trúng phải kho đạn đã phát nổ bốc cháy. Tàu dò mìn 389 của ta lúc này đạn pháo cũng đã hết sạch, nhưng vẫn dũng cảm lao lên, xông thẳng tới chỗ cách tàu số 10 mấy chục mét, hải quân Trung Quốc xách cả bệ phóng rocket, súng tiểu liên, bắn xối xả về sàn tàu số 10 (số vũ khí này vốn là vận chuyển cho dân binh của ta đóng trên đảo, nhưng do đêm 18 [tháng 1-1974] sóng quá lớn, nên không thể đưa lên đảo được). Thuyền trưởng tàu tuần tiễu số 10 của Nam Việt đã bị bắn chết trong trận chiến (4).
Tàu hộ tống số 16 của Nam Việt muốn tiến tới cứu tàu tuần tiễu số 10, nhưng đã bị tàu dò mìn 396 của ta đánh chặn. Tàu hộ tống số 16 của Nam Việt đã bị trúng phải một phát đạn pháo từ tàu hộ tống số 5 của họ (may mà quả đạn pháo này không nổ, nếu không thì quân Nam Việt đã đánh đắm mất con tàu của họ trước), sau đó lại bị 2 tàu của quân ta tấn công, lúc này các hệ thống thông tin, điều khiển và cung cấp điện đều bị mất hiệu lực hoàn toàn, tàu bị nghiêng 20º (khi về đến cảng quân sự Nam Việt bị nghiêng tới 40º, chỉ còn lại phần máy chính là còn có thể vận hành), không thể tiếp tục tác chiến, thế là quay đầu tháo chạy ra ngoài khơi.
Nhìn thấy tàu số 16 rút chạy, chính ngay lúc đó,  2 tàu chống ngầm 281 và 282 của quân ta đã đuổi đến vùng biển chiến trận (hai con tàu này đã đến địa điểm được chỉ định sớm hơn một chút, đêm 18 gặp phải sóng lớn, đã vội chạy với tốc độ tối đa cao hơn so với thiết kế của tàu, cuối cùng được phía Trung Quốc kịp thời đưa về sinh lực quân, khiến cho cán cân chiến thắng của trận hải chiến Tây Sa cuối cùng đã nghiêng về phía Trung Quốc). Tàu tuần tiễu 04, tàu hộ tống 05 của Nam Việt không còn lòng dạ nào để chiến đấu tiếp, bỏ lại tàu số 10 đã bị đánh cho tơi tả, cũng quay đầu tháo chạy ra ngoài khơi. Kể từ lúc tàu Nam Việt nổ súng cho đến khi tàu của chúng bị đánh cho tơi tả, chỉ vẻn vẹn trong vòng có mười mấy phút. Theo kiểm nghiệm của hải quân Nam Việt sau trận chiến, ngoại trừ tàu tuần tiễu số 10 bị ta đánh chìm ra, 16 chiếc tàu hộ tống đã bị trúng 820 phát đạn, 2 chiếc tàu còn lại đều bị trúng trên cả ngàn phát đạn, có thể thấy được độ ác liệt của trận chiến và sự anh dũng trong tác chiến của hải quân Trung Quốc.
Mặc dù hạm đội của Nam Việt đã bị đánh tơi bời, tàu bên quân ta lúc này cũng ở trong tình trạng không hay: Tàu  389 cháy mãi không tắt, thân tàu bị nghiêng lệch nặng, buộc phải đưa vào bãi cạn với sự hiệp trợ của các tàu bên ta để khỏi bị chìm. Ba tàu còn lại cũng bị thương tổn, đạn dược lại còn ít, nên chẳng biết làm gì với tầu tuần tiễu số 10 đã không còn đủ năng lực tự vệ của Nam Việt. Cuối cùng phải để cho 2 tàu chống ngầm 281 và 282 của quân ta đưa tàu tuần tiễu số 10 của bên quân địch nhấn chìm xuống biển.
Trận hải chiến Tây Sa cùng hậu quả của nó đã khiến cho Trung Quốc và chính phủ Nam Việt cùng cảm thấy kinh hoàng và bất ngờ. Trung Quốc là bên yếu thế về hải quân đã giành được thắng lợi không hề có sự chuẩn bị ở Tây Sa đã lập tức bắt đầu tổng động viên chiến tranh, với ý đồ mở rộng chiến quả, ra tay giải quyết luôn vấn đề Tây Sa. Phía Trung Quốc khẩn cấp trưng dụng 500 lính đánh bộ và dân binh, đưa các tàu quân sự và tàu cá ra vùng chiến địa vào ngày 20, ngoài việc điều các tàu của hạm đội Nam Hải khẩn cấp ra chi viện Tây Sa, 2 tàu khu trục đạn đạo của hạm đội Đông Hải cũng từ phía nam eo biển Đài Loan tới tăng viện. Về không quân, nghe nói khi ấy đã điều máy bảy chiến đấu F-7 vừa mới được nghiên cứu chế tạo (có tính năng ngang với Mic-25), mặc dù thời gian đậu lại giữa không gian trên vùng biển Tây Sa của loại máy bay chiến đấu này chưa đầy 10 phút, nhưng sự xuất hiện của nó vẫn gây sự phấn chấn lớn lao. Ngày 20 tháng 1, bộ đội tinh nhuệ của Trung Quốc đã đến Tây Sa, dưới sự yểm trợ của hỏa lực pháo hạm, đã chiếm gọn cả 3 hòn đảo từng bị hải quân Nam Việt chiếm giữ từ năm 1956, bắt sống 48 tên địch, trong đó có 1 sĩ quan liên lạc Mỹ.
Tuy Bắc Việt đang đánh nhau với Nam Việt, nhưng khi chúng ta trừng phạt Nam Việt, trong lòng Bắc Việt chưa hẳn đã hài lòng. Với trận hải chiến Tây Sa, hải quân Nam Việt vốn đã có sự chuẩn bị, với ý chí quyết giành bằng được, không ngờ lại bị ăn một đòn trời giáng, đột nhiên trở nên hoảng loạn. Khi viên chỉ huy trận hải chiến đến gặp Tổng thống Nam Việt để báo cáo, không dám nói là trận hải chiến đã bị thất bại, mà chỉ một mực trách không quân không đến chi viện. Đến chiều ngày 20 tháng 1, Nam Việt mới đưa tàu quân sự Kỳ lân chở 1 tiểu đoàn lính đánh bộ, với ý đồ tăng viện cho quân đóng ở Tây Sa (nửa đường đã quay về), ngoài ra còn cho tập kết lính hải, không quân rải khắp làm khung sườn tái chiếm, nhưng sau khi đối mặt với sự tăng viện lớn của bên quân ta, lính hải quân Tây Sa bám trận địa chờ thời từ trước, đã không hề dám manh động, cuối cùng phải rút về.
Trong trận chiến ở Tây Sa, các tàu quân sự của phía Nam Việt đã bị đánh chìm, bị đánh trọng thương, bị thương nhẹ mỗi loại 1 chiếc, lính tử trận hơn 100 người, bị bắt sống 18 người, số bị thương không rõ. Các tàu phía Trung Quốc bị đánh trọng thương 1 chiếc, bị thương nhẹ 3 chiếc, lính tử trận 18 người, bị thương 67 người. Mặc dù phía Trung Quốc đã không lường trước được hết quyết tâm khai chiến của Nam Việt, binh lực điều động hết sức yếu ớt, nhưng sĩ quan binh lính hải quân Trung Quốc tham gia chiến trận đã chiến đấu dũng cảm, chiến thuật vận dụng cũng hết sức thành công, nên cuối cùng đã giành được thắng lợi. Khi xem xét đến sự chênh lệch về tương quan lực lượng giữa hai bên, sẽ thấy chiến quả như vậy là hiếm gặp trong lịch sử hải quân thế giới. Còn ý nghĩa thực sự của trận chiến ở Tây Sa, nằm ở chỗ đã tiêu diệt được quân đội Nam Việt chiếm cứ ở đó từ năm 1956, là đã đánh đuổi sạch thế lực Nam Việt. Nếu không, đợi đến hơn một năm nữa thôi, Việt Nam sau khi thống nhất sẽ tiếp quản luôn cả mấy hòn đảo ở đó, thì nỗi rầy rà của phía Trung Quốc sẽ còn lớn hơn.
1)  Số lượng tàu tham chiến
Con số thực và loại hình tàu tham chiến của phía Trung Quốc: 2 tàu chống ngầm, 2 tàu dò mìn, 2 tàu hộ tống cao tốc; trong đó có 4 tàu khai chiến trước, 2 tàu đuổi theo sau, và chính 2 chiếc tàu đuổi theo sau này đã khiến hải quân Nam Việt cho là còn có một loạt tàu tăng viện nữa đang đuổi tới, gây khiếp đảm, làm quân Nam Việt phải bỏ chạy, ở bước ngoặt quyết định cuối cùng đã làm cho cán cân thắng lợi nghiêng về phía quân ta.
2)  Ai là người nổ phát súng đầu tiên?
Thật tình là hiện giờ cũng không thể nói rõ được ai là người nổ phát súng đầu tiên. Theo những người tham chiến nói, khi ấy bên quân ta chắc chắn không ra lệnh nổ súng, nhưng trước khi nổ súng, bên quân Nam Việt đã bắn 1 phát đạn pháo về phía quân ta bằng pháo **, (đương nhiên là không có trong lệnh), do hỏa pháo chủ yếu của các tàu bên quân Nam Việt đều được điều khiển tự động bằng rađa, cho nên phát đạn pháo này bên quân ta phán đoán là để hiệu chỉnh hệ thống điều khiển bắn tự động, đồng thời sau khi tàu bên quân Nam Việt lui lại với ý đồ giãn cách cự ly (điều này buộc phải làm về mặt chiến thuật khi tàu lớn khai chiến với tàu nhỏ), chỉ huy bên quân ta phải ra lệnh cho 2 biên đội bám sát, đồng thời cảnh báo: Chú ý, quân địch sắp nổ súng! Vào lúc ấy, trận hải chiến đã nổ ra. Khi người bên quân ta phát hiện thấy nòng pháo bên quân địch tóe lửa một cái là liền lập tức đạp cò! Cho nên gần như cùng lúc với bên quân địch nổ súng, đạn pháo bên quân ta cũng nhả luôn! Nhưng do phía quân ta pháo nhỏ, vận tốc cao, thế nên loạt dạn pháo đầu tiên của bên quân ta đạp cò sau, nhưng lại rơi xuống đầu hải quân Nam Việt trước (quả có chút nực cười). Lúc này, chỉ huy bên quân ta quả thực không ra lệnh nổ súng, bắn trả hoàn toàn là sự phản ứng tự động của các chiến sĩ (sự phản ứng tự động này tương đối quan trọng, nếu như đợi đến khi chỉ huy ra lệnh mới bắn trả, thì rất có thể lịch sử về trận hải chiến Tây Sa sẽ phải viết lại). Viết đến đây, đã có thể rõ được ai là người nổ súng trước rồi.

3)  Trận hải chiến đã liều ném luôn cả lựu đạn?

Không phải là bên quân ta đã có chiến pháp liều ném lựu đạn trong trận hải chiến, mà là một chiếc tàu khi ấy do bị thương, mất lái, tốc độ chạy quá nhanh, đâm thẳng vào giữa 2 chiếc tàu bên quân Nam Việt, nên đã bị tấn công bằng hỏa lực chằng chịt rồi bốc cháy, tổn hại nghiêm trọng, chiếc tàu phía sau của quân ta nhìn không rõ (khi ấy cho là khói do tự mình tuôn ra) sợ đánh bị thương nhầm tàu mình, lại không thể chi viện được, nên kết quả là chiếc tàu này lái luôn cả khói lửa đâm thẳng vào tàu số 10 của địch, thuyền trưởng hoa mắt:  Lắp tên lửa chống tàu ngầm! Chuẩn bị sống chết với quân địch. Thế là tàu số 10 quay lái sạt qua tàu của ta, nguy hiểm tới cực điểm. Lúc này hỏa pháo của hai bên đều không thể dùng được, thuyền trưởng gặp nguy ứng biến: Ném lựu đạn! Khi ấy bên quân ta cơ bản chưa chuẩn bị đánh trận hải chiến, trên tàu này có mấy hòm lựu đạn chuyển cho dân binh đóng trên đảo, vào lúc này đã được điều dùng cho trận chiến. Thế là mọi người tranh nhau vớ lấy lựu đạn ném sang tàu số 10 của Nam Việt, có người còn ôm luôn cả bệ phóng tên lửa chống tăng của bộ binh bắn về phía tàu Nam Việt! Đây chính là xuất xứ của chuyện quân Trung cộng đã sử dụng lựu đạn mà Nam Việt đã thông tin cho giới truyền thông sau này, nhân lúc quân địch hoảng loạn chuyển hướng, quân ta đã ngoặt tàu chạy hết tốc độ, đẩy lui được cuộc tấn công của Nam Việt, sau đó lao tới tự cứu lại được bãi đá ngầm.
4)  Được mất về chiến thuật của trận hải chiến

Về kết quả của trận hải chiến mọi người đều đã rõ: Bên quân Nam Việt: 1 chiếc tàu hộ tống nhỏ nhất (phiên hiệu “Sóng dữ”, 650T) bị chìm, 3 chiếc tàu khu trục còn lại bị thương (rất nhẹ). Bên quân ta: 1 chiếc tàu dò mìn gần như bị chìm (đưa lên bãi cạn thành công, tất nhiên, nếu đưa lên bãi cạn không kịp thì chắc chắn sẽ chìm), bị thương 1 chiếc, 2 chiếc còn lại cũng bị thương nhẹ, nhưng 2 chiếc thêm vào sau đó lại không hề bị sứt mẻ gì.
a)  Khi khai chiến, cả hai bên đều theo quan điểm đã đánh phải đánh cho giập đầu, tấn công vào tàu chỉ huy của đối phương, song đều phán đoán nhầm: Trong số 2 biên đội bên quân ta, 1 chiếc tàu xông lên trước nhất là tàu chỉ huy, mà bên quân địch tấn công lại là 2 chiếc tàu ở đằng sau 2 biên đội bên quân ta, phán đoán sai (nếu như quân địch khi ấy đọc được báo chí Trung Quốc thì sẽ không bị sai). Bên quân ta phán đoán quân địch sợ chết, cho nên viên chỉ huy sẽ nấp ở đằng sau, vì thế cũng tấn công 2 tàu ở đằng sau, và cũng phán đoán sai! Xác minh sau trận chiến cho thấy, tàu chỉ huy bên quân địch là tàu đầu ở biên đội số 2!
b)  Bên quân Nam Việt đã sai lầm về vận dụng chiến thuật:  Hải quân Nam Việt cho rằng tàu của ta đại pháo lớn, dùng đạn xuyên thép làm thủng cho mấy lỗ là tàu nhỏ của mày chìm ngay, cho nên trong lúc bắn nhau bên quân Nam Việt đã sử dụng đạn xuyên thép (tất nhiên, không thể nói là không đúng, nhưng nếu như một tàu dùng đạn xuyên thép, một tàu dùng đạn bộc phá thì rất có thể bên quân ta sẽ phải chịu kết cục thảm hại, bởi dẫu sao thì tàu của ta cũng quá nhỏ).
Bên quân ta cho rằng, mặc dù mày là hỏa lực tự động, nhưng có phải lúc nào cũng có người đến thao tác đâu? Tao đánh cho mày bò lê bò càng hết cả ra, thì mày có tự động hóa thì cũng chẳng có ai đến ấn nút được cả! Cho nên tình hình bên quân ta sử dụng đạn bộc phá (người viết cho rằng đây là chiến thuật khi ấy không có biện pháp để đề xuất) trong giao chiến là:  Hai bên vừa bắn nhau, toàn bộ hải quân trên tàu quân sự Nam Việt đều chui hết cả xuống dưới boong tàu, còn hỏa pháo tự động hóa cũng bị mất hiệu lực khi bị quân ta tấn công trọng điểm vào hệ thống điều khiển tự động bằng rađa, người điều khiển pháo đương nhiên là không bắn được chúng ta nữa rồi. Sau khi bên quân ta bị bắn đạn xuyên thép, phần tàu chìm dưới nước bị thủng mấy lỗ lớn, mà những miếng nút chúng ta chuẩn bị sẵn thì lại không đủ, may mà có các chiến sĩ xả thân bịt lại thì mới bảo vệ được tàu. Từng có tin là có chiến sĩ đã hi sinh vì dùng thân mình bịt tàu, thế nhưng quân lính hiện giờ đã được điều đi xa rồi, lát nữa người viết kể cho mọi người nghe về trận hải chiến Xích Qua Tiêu (tức Bãi đá Gạc Ma – ND) thì sẽ biết.
Lời cuối:  Nghe nói sau khi Trung Quốc thu hồi Tây Sa, Bắc Việt là đồng chí và anh em với chúng ta khi ấy, đã gửi điện cảm ơn chính phủ Trung Quốc: Cảm ơn anh em Trung Quốc đã thay chúng tôi thu hồi lại được quần đảo Tây Sa từ tay quân tay sai Nam Việt! Chính phủ Trung Quốc đã từ chối bức “Điện cảm ơn” này, đây cũng là sự khởi đầu cho việc từ chỗ thừa nhận đến chỗ trở mặt về chủ quyền đối với Nam Sa của Trung Quốc từ phía Việt Nam.
Trong trận hải chiến oai hùng thề chết bảo vệ quần đảo Tây Sa của quân dân Trung Quốc, hải quân Trung Quân ở vào thế yếu về trang bị, tổng cộng đã bắn chìm một tàu hộ tống,  bắn bị thương ba tàu khu trục, tiêu diệt thuyền trưởng tàu “Sóng dữ” cùng hơn 100 quân dưới quyền bên quân Nam Việt; trong khi đổ bộ thu hồi ba hòn đảo Cam Tuyền, đảo San Hô và đảo Kim Ngân, bộ đội và dân binh Trung Quốc  đã bắt sống được thiếu tá Phạm Văn Hồng cùng 48 quân dưới quyền bên quân Nam Việt, viên sĩ quan liên lạc Kirsch thuộc Lãnh sự quán Mỹ thường trú tại Đà Nẵng cũng đã thành tù nhân của quân dân Trung Quốc. Tất nhiên, trong trận chiến đấu bảo vệ quần đảo Tây Sa, quân dân Trung Quốc cũng đã phải trả những cái giá nhất định. Chính ủy tàu 274 của hải quân Trung Quốc, Phùng Tùng Bá cùng 18 sĩ quan binh lính khác đã anh dũng hy sinh, 67 chiến sĩ tham chiến bị thương, tàu 389 của ta bị bắn hỏng.
Biên đội trên biển, bộ đội tàu chống ngầm của hải quân ta
Trong trận chiến, tàu tham chiến của quân ta đã cố sức áp dụng thủ pháp cận chiến, cự ly bắn giữa hai bên từ 1.000 m đến 300 m, pháo bắn nhanh khẩu độ nhỏ của quân ta liên tục rót đạn về phía tàu địch, buộc địch không còn dám ở lại trên tầng cao của tàu quân sự.
Trong ảnh là tàu của hải quân Nam Việt chuẩn bị xâm phạm vùng biển Tây Sa đang được kiểm tra sửa chữa ở cảng Đà Nẵng, đồng thời đậu ở bên ngoài là kỳ hạm tham chiến của hai quân Nam Việt, phiên hiệu “Trần Bình Trọng” (số ghi bên mạn tàu là “5″).
Bản đồ hiển thị tác chiến của trận hải chiến Tây Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974.
Sau thắng lợi của trận hải chiến Tây Sa, quân ta thừa thế thu hồi lại tất cả những hòn đảo đã bị Nam Việt xâm chiếm, bắt sống hơn 40 sĩ quan binh lính Nam Việt, trong đó có cả 1 cố vấn Mỹ.
————
Ghi chú của BTV:
(1) Chiếc HQ-10 mà phía Trung Quốc gọi là “Sóng Dữ” (怒涛), Việt Nam gọi là Nhật Tảo, do ông Ngụy Văn Thà làm thuyền trưởng lúc đó .
(2) Ông Nguyễn Thành Trí lúc đó giữ chức đại úy.
(3) Có lẽ bài gốc được viết trước năm 2004.
(4) Tức thiếu tá Ngụy Văn Thà, sau khi mất, ông được truy phong hàm Trung tá Hải quân.
Nguồn: Canglang.com

LỘ DIỆN KẺ ĐÁNH MẤT HOÀNG SA SAU 33 NĂM

Dinhtan:
Ông Hạnh chỉ trích Ông Thiệu,là “thủ phạm”làm mất Hoàng Sa?Sao Ông không đề cập đến bối cảnh tình hình VNCH trong thời điểm này?Ông Hạnh đã thấy trước,biết trước,ông là người “được cài vào”,sao Ông không báo cho “phe ta” có tới hai “quân đội” là MTGPMN và VNDCCH ra đánh tiếp để lấy lại HS ,rồi về “tiếp tục đánh nhau” có hơn không?.Bây giờ đổ lỗi này kia,chả được gì,hay để chửi Ông Thiệu,chỉ là hồn ma?
Còn mất đất,biển,Trường Sa,không lẽ là “Ông Thiệu”?Ngư Dân bị bắn,cướp…cũng là hồn ma Ông Thiệu? Ối Trời sao mà khéo vẽ thế???!!!Còn 16 tấn vàng (không kể vàng làm thành đồ trang trí biếu tặng Quốc gia;Tìm trong mục” Hồ sơ” báo Tổi trẻ cũ mà coi)Ông Thiệu “ăn” hết chưa? sao không nói luôn????Hay bọn chó nào ăn rồi đổ thừa?Ông Thiệu chết mất rồi,ai làm chứng đây???
Cú sốc cách đây 33 năm…

Ông Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên là chuẩn tướng, phụ tá Tổng Tham trưởng mưu quân đội Sài Gòn năm 1975, hiện nay là uỷ viên UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Ông là một nhân chứng lịch sử trong thời điểm xảy ra những xung đột giữa chính quyền Sài Gòn và Trung Quốc năm 1974, dẫn đến sự chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ông tâm sự: Cuối năm 1973, tôi nhận lệnh ra Đà Nẵng với chức danh là Chuẩn tướng, Tổng Thanh tra Quân đoàn I và Quân khu I.
Quần đảo Hoàng Sa lúc ấy thuộc nhóm đảo Nguyệt Thềm trực thuộc tỉnh Quảng Nam, nằm ngoài khơi phía Đà Nẵng. Nhóm này gồm có đảo lớn nhất là Hoàng Sa, phía đông Hoàng Sa có 4 đảo, phía nam có 1 đảo. Các đảo nhỏ chung quanh Hoàng Sa đều không có người ở. Dưới thời Ngô Đình Diệm, có một tiểu đoàn Thuỷ quân lục chiến đóng tại đây. Thuỷ quân lục chiến ngày đó đặt dưới quyền của Hải quân nên có đầy đủ phương tiện đi kiểm soát các đảo nhỏ không người ở. Trên đảo Hoàng Sa lúc ấy có đài khí tượng Thuỷ văn, có mấy mã lính từ thời Gia Long, có một ngôi Miễu Bà… Nghĩa là nó mặc nhiên thuộc về chủ quyền người Việt. Đến thời Nguyễn Văn Thiệu thì nơi này được giao cho một trung đội địa phương quân của Tiểu khu Quảng Nam (Thuỷ quân lục chiến đã trở thành sư đoàn Tổng trù bị của quân đội Sài Gòn) nên điều kiện để bảo vệ và chống trả lực lượng Hải quân Trung Quốc lúc đó là không có.
Đầu năm 1974, Tổng thống Thiệu ra Đà Nẵng. Tại buổi tiệc chiêu đãi Tổng thống, một đại tá tư lệnh Hải quân Quân khu I (Quân đội Sài Gòn) cho biết người của Trung Quốc đã chiếm 3 hòn đảo nhỏ ở phía đông Hoàng Sa. Tổng thống Thiệu bảo ngay ngày mai ông ta sẽ tới Bộ Tư lệnh Hải quân để nghe trình bày rõ hơn. Hôm sau nữa, văn phòng quân khu có cho tôi đọc một bản viết tay của ông Thiệu ra lệnh cho Đề đốc Chơn, Tư lệnh Hải quân của quân đội Sài Gòn, tổ chức hành quân đuổi người Trung Quốc ra khỏi ba đảo đã bị chiếm. Và có lẽ, đó là một sai lầm quan trọng của ông Thiệu: phát động chiến tranh với nước ngoài mà không hề thông qua Quốc hội.

Những gì diễn ra trong chiến dịch này thật là thê thảm: Bên Hải quân quân đội Sài Gòn có 4 tàu chiến đi thành hai cặp: gồm các chiếc HQ4 và HQ5, HQ10 và HQ16. Trong phút chốc 4 chiếc tàu này đã dễ dàng đuổi hết những cư dân Trung Quốc trên 3 hòn đảo Quang Ảnh, Quang Hoà và Duy Mộng. Nhưng giống như có chuẩn bị sẵn, ngay lập tức, 11 tàu chiến Trung Quốc xuất hiện, trong đó có chiếc tàu Koma trang bị vũ khí điện tử. Đó là những chiếc tàu nhỏ, vũ khí mạnh hơn, di chuyển nhẹ nhàng và linh động hơn tàu chiến của quân đội Sài Gòn. Tàu Trung Quốc khiêu khích gây sự rồi cuộc chiến đã xảy ra. Hai chiếc HQ10 và HQ16 từ phía bắc bọc phía tây đảo Hoàng Sa và khi đến phía nam thì đụng độ dữ dội. Phía Trung Quốc bị chìm một tàu, phía Sài Gòn chìm chiếc HQ10 còn chiếc HQ16 bị thương nặng, nghiêng một bên không chạy được. Hai chiếc HQ4 và HQ5 cũng bị thương nhưng còn kịp kè được chiếc HQ16 thoát chạy về phía Đà Nẵng, bỏ lại toàn bộ người trên đảo Hoàng Sa. Lúc đó, trên đảo còn lại tổng cộng 41 người, có cả cố vấn Mỹ Gerald Kosh và một thiếu tá tên Hồng, trưởng phòng 2 (tình báo) của Quân khu I. Điều ngạc nhiên nhất là tàu Trung Quốc lại không hề đuổi theo tấn công hoặc chiếm tàu của phía Sài Gòn, họ chỉ đổ bộ lên đảo, bắt toàn bộ tù binh đem về. Quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Số phận 41 tù binh được giải quyết đơn giản sau hai tuần giam giữ (từ 18-1 đến 31-1-1974), họ được Mỹ đưa máy bay rước về từ… Hồng Kông.

Phía Sài Gòn, Tổng thống Thiệu rình rang tổ chức “mừng chiến thắng” ở Hoàng Sa.
Tôi lúc đó cảm thấy tức giận vô cùng, không hiểu được người ta ăn mừng cái gì: Tàu ta chìm, lính ta bị bắt, đất ta mất.. mà hô hào chiến thắng? Tôi cất công đến thăm người bạn là phó Đề đốc Tánh (Tư lệnh phó Hải quân) để nắm tình hình. Ông Tánh cho vị đại tá trực tiếp chỉ huy chiến dịch này kể cho tôi nghe toàn bộ câu chuyện, thậm chí, cho xem cả những tấm hình tàu Trung Quốc khiêu chiến trước mũi tàu của quân đội Sài Gòn. Tôi cũng không hiểu được vì sao hai nước giao tranh, người ta lại có thể thả tù binh một cách êm thấm như vậy? Không hiểu sao người ta lại tổ chức ăn mừng và Tổng thống Thiệu thì lên đài tuyên bố vài câu huyênh hoang nào đó.
Cuối cùng, những thông tin tình báo và tâm lý chiến cho tôi hay: Hạm đội 7 của Mỹ ở ngoài khơi đã rút khỏi miền Nam, tình hình chính trị của Liên Xô và Trung Quốc có cảnh không êm thấm và Mỹ muốn giao Hoàng Sa lại cho Trung Quốc để chặn đường vào Bắc Việt của hạm đội Liên Xô… Mất Hoàng Sa, tại Sài Gòn, Bộ Ngoại giao và nhiều tổ chức báo chí bắt đầu lên tiếng, tuy nhiên trách nhiệm lớn nhất, tôi nghĩ, thuộc về ông Thiệu. Lẽ ra, nếu khéo một tí, tổ chức phòng thủ trên đảo Hoàng Sa, còn 3 đảo bị chiếm đóng thì dùng nhiều giải pháp khác, ít nhất, cũng không bị rơi vào tình trạng bị khiêu khích khi lực lượng Hải quân không đủ mạnh…
Đó là câu chuyện 33 năm trước mà tôi chứng kiến, như một người trong cuộc, về sự kiện Hoàng Sa bị mất!
33 năm qua, lòng tôi đau đớn về sự kiện này. Ngày ấy, Việt Nam chỉ là một con cờ trong tay nước lớn. Vị Tổng thống có thể bình yên mà huênh hoang chút ngẫu hứng anh hùng cá nhân trong khi nước mất nhà tan…
Còn giờ đây, sau 33 năm, một nước Việt Nam thống nhất, một nhà nước Việt Nam đủ mạnh và là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, tôi nghĩ nên khéo léo và cương quyết giải quyết chuyện này bằng con đường ngoại giao, nếu không hiệu quả, chúng ta nên đưa việc này ra Liên Hiệp Quốc. Dẫu biết là không dễ dàng gì, có thể kéo dài 50 năm thậm chí 100 năm đi nữa thì chúng ta cũng phải làm.
Thế hệ chúng tôi là người chứng kiến sự kiện chúng ta mất Hoàng Sa mà không làm được điều gì. Còn ngày nay, nếu chúng ta cứ tiếp tục để như 33 năm về trước, thì thế hệ con cháu sau này sẽ nói sao với chúng ta đây?
Có thể, con đường để giành lại Hoàng Sa, Trường Sa là tính bằng hàng thập kỷ hay hơn nữa, thậm chí, thế hệ chúng ta nhiều khi chỉ làm nên một tiền đề để con cháu còn có cơ sở mà tiếp tục cuộc hành trình giành lấy công bằng cho quyền lợi của Tổ quốc mình… Có khó khăn bao nhiêu đi nữa, chúng ta cũng phải làm!
(Nguồn: Xưa & Nay, số 301 + 302, 2/2008, tr 25 )


Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011

'Vi phạm nghiêm trọng trong vụ xử 3 thanh niên án hiếp dâm'

'Vi phạm nghiêm trọng trong vụ xử 3 thanh niên án hiếp dâm'

Tiếp tục thông tin nhiều phía vụ bác kháng nghị ‘kỳ án hiếp dâm’ (TP). – Kỳ án hiếp dâm: Sự bất thường trước phiên giám đốc thẩm (GDVN). '3 thanh niên kỳ án hiếp dâm đều có chứng cứ ngoại phạm' Từng 40 năm trong công tác điều tra, nhưng chưa vụ nào ám ảnh đại tá Lã Ngọc Tỉnh như "kỳ án hiếp dâm". Theo ông, những chi tiết ngoại phạm quan trọng đã không được xem xét thấu đáo trong phiên xét xử.

Hành trình kêu oan của 3 thanh niên trong 'kỳ án hiếp dâm'Bác kháng nghị vụ 3 thanh niên mang án hiếp dâmNữ bác sĩ đi tìm công lý cho 3 thanh niên bị án hiếp dâm
Trong phòng khách nhỏ, ấm cúng trong con ngõ yên tĩnh thuộc quận Đống Đa, Hà Nội đại tá Lã Ngọc Tỉnh, người từng có nhiều năm kinh nghiệm trong ngành điều tra ngồi tư lự. Việc TAND Tối cao vừa bác đơn kháng nghị của VKS Tối cao về việc 3 thanh niên mang án hiếp dâm khiến cựu phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Hà Nội này trăn trở mấy ngày nay.

Từng 40 năm trong công tác điều tra, nhưng chưa vụ nào ám ảnh ông như vụ này. Những chồng tài liệu về vụ án được ông nghiên cứu, lưu giữ rất kỹ càng, cẩn thận.
Đại tá Tỉnh nhớ lại khi nhận nhiệm vụ điều tra lại vụ án, ông đã chỉ đạo các điều tra viên không quản vất vả trong nhiều tháng trời đi xác minh, thu thập chứng cứ. Bản thân ông cũng không dưới 5 lần đi xuống hiện trường, cả đêm lẫn ban ngày để nghiên cứu. Quá trình điều tra vụ án trước đây, và quá trình xác minh theo đơn khiếu nại, tố cáo sau này, đã xuất hiện hoặc củng cố rõ hơn nhiều tình tiết, chứng cứ gỡ tội cho các bị cáo.
Ba thanh niên trong "kỳ án hiếp dâm" bên cạnh nữ lương y đã giúp họ kêu oan nhiều năm qua. Ảnh: Nam Anh
Theo ông, 3 bị án Lợi, Kiên, Tình đều có chứng cớ ngoại phạm. Họ đi dự sinh nhật từ 22h đến 22h30 ngày 24/10/2000 (thời gian xảy ra vụ án) được xác thực qua lời khai của nhiều nhân chứng. Tuy nhiên, những chứng cứ quan trọng này không được đưa vào hồ sơ và làm rõ tại hai phiên tòa.
"Trong các lời khai của bị cáo, có người khai lội qua mương, nước đến mắt cá chân, người khai đến đùi. Bản thân bị hại là anh Hải thì khai nước đến vùng bụng. Chúng tôi đến Trạm thủy nông xem xét lại mức nước ở con mương trong ngày xảy ra vụ án trong cuốn lịch được ghi chép cẩn thận của họ. Bản thân những người làm trong ngành này khẳng định, mực nước quanh năm đều đầy và không bao giờ đến mắt cá chân", ông Tỉnh phân tích.
"Chúng tôi đã xác định được 3 nghi phạm của vụ án, hiện một người thụ án trong trại giam vì phạm tội trong vụ án khác. Tất cả những tài liệu liên quan đến 3 nghi phạm này, tôi vẫn cất giữ cẩn thận, tiếc rằng tôi đã nghỉ hưu rồi... ", đại tá Tỉnh nói.
Ông tâm sự, đầu năm 2010 khi VKSND Tối cao ra kháng nghị theo hướng tuyên 3 thanh niên vô tội, ông cũng thấp thỏm về số phận pháp lý của những người này. Từng lặn lội hàng nghìn cây số để tìm ra những điểm được cho là thiếu sót trong quá trình điều tra, ông hy vọng với những gì cả ngành điều tra và VKSND Tối cao đã làm, vụ án sẽ được TAND Tối cao xử công bằng, minh bạch.
Ông bảo trong một cuộc họp mới đây, phía TAND Tối cao và các cán bộ của ba ngành tư pháp tỉnh Hà Tây (cũ) đều khẳng định Tòa sơ thẩm, Phúc thẩm xét xử tuyên phạt tù 3 thanh niên là đúng, không oan sai. Trong phiên họp này, những người có thẩm quyền cho rằng, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Hà Nội điều tra lại vụ án này là không đúng, vì vụ án đã có hiệu lực pháp luật, không thuộc thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Theo ông Tỉnh, thành phần cuộc họp này "chủ yếu là những người đã tham gia điều tra, truy tố, xét xử vụ án, thuộc Cơ quan CSĐT, Viện KSND, TAND tỉnh Hà Tây (cũ)". Còn đại diện các cơ quan khác lần đầu tiên nghe vụ án hoặc chỉ mới xem lướt qua hồ sơ nên nội dung là "không khách quan, vô tư".
Trong báo cáo gửi lãnh đạo ngành công an ngày 20/9, ông chứng minh hiện trường vụ án đã được xác định sai, thu giữ sai vật chứng, nhận dạng sai quy định; bỏ qua, không điều tra nhiều nhân chứng, nhiều tình tiết quan trọng của vụ án... Theo ông, những chi tiết quan trọng này không được xem xét thấu đáo trong phiên xét xử.
Khi được hỏi quan điểm sau khi Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao vẫn giữ nguyên quan điểm xét xử của 2 cấp tòa án trước đó, ông Tỉnh trầm ngâm một lát rồi nói: "Người xưa có câu án tại hồ sơ, nhưng rất tiếc trong vụ án này, án lại không nằm trong hồ sơ".
10 năm trước, 3 thanh niên Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Đình Lợi và Nguyễn Đình Tình bị xác định là thủ phạm gây ra vụ hiếp dâm, cướp tài sản tại khu trạm bơm ở xã Yên Nghĩa, Hà Đông.
Ngày 21/1/2002, TAND tỉnh Hà Tây (cũ) đã tuyên phạt Lợi 16 năm tù do được coi là người khởi xướng, đứng đầu. Tình nhận án 14 năm và Kiên khai báo thành khẩn và có đơn tự thú, nên chỉ bị phạt 11 năm tù.
Theo đơn chống án kêu oan của các bị cáo, 3 tháng sau, phiên phúc thẩm của TAND Tối cao được mở. Cho rằng không có cơ sở xem xét kháng cáo, cấp phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm.
Suốt 10 năm, các bị cáo và gia đình liên tục gửi đơn kêu oan đến nhiều cơ quan. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết yêu cầu VKSND Tối cao rà soát và báo cáo vụ việc.
Đầu năm 2010, VKSND Tối cao ra kháng nghị, đề nghị xem xét lại vụ án theo trình tự giám đốc thẩm, tuyên 3 thanh niên không phạm tội hiếp dâm, cướp tài sản. Ba thanh niên được tạm tha, cho trở về nhà.
Ngày 7/12/2011, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã bác kháng nghị này.
Anh Thư

Tiếp vụ “Tòa thượng thẩm bác kháng nghị kỳ án hiếp dâm”: Thông tin nhiều phía (TP).  – Kỳ án hiếp dâm: Nguyễn Đình Tình không phải đi tù (VNN).Không khí ảm đạm của 3 gia đình vụ ‘kỳ án hiếp dâm’ (VNE).  – Kỳ án hiếp dâm ở Hà Đông: Sự thật ‘huyệt trai trinh’(VTC/CL). – Kỳ án hiếp dâm, bà Hồng ‘thưa’ lên Tổng Bí thư (VNN).  – ÁC QUÁ – (Văn Công Hùng). Quốc hội là cửa kêu oan cuối cùng trong ‘kỳ án hiếp dâm’ (VNE). -“Kỳ án” hiếp dâm: “Hội đồng thẩm phán đã cân nhắc kỹ"-(GDVN) - Đó là nhận xét của ông Nguyễn Đình Quyền – Phó chủ nhiệm chuyên trách Ủy ban tư pháp của Quốc hội về vụ “kỳ án” hiếp dâm...- TIN GÌ Ở CÔNG LÝ? (Jasmine).
– Đinh Anh Tuấn: SAO LẠI “Y ÁN” VỤ ÁN OAN? (Nguyễn Trọng Tạo). – Ra rồi lại vào (PLTP). - ‘Vi phạm nghiêm trọng trong vụ xử 3 thanh niên án hiếp dâm’ (VNE). - Kỳ án huyệt trai trinh: Chỉ còn chờ Quốc hội (DT).-  Khép lại vụ “kỳ án” 3 thanh niên ở Hà Đông kêu oan (Công Lý). – Những dấu hiệu bất thường “kỳ án hiếp dâm” Hà Đông (giaoduc.net). – Uy tín của Hội đồng thẩm phán TAND Tối Cao qua 1 vụ án hiếp dâm – (RFA). 
 - 'Vi phạm nghiêm trọng trong vụ xử 3 thanh niên án hiếp dâm' -VnExpress "Những sai sót, vi phạm là do việc nghiên cứu hồ sơ chưa kỹ của những người được phân công trực tiếp xử vụ án", ông Lê Hữu Thể, Viện phó VKSND Tối cao trả lời VnExpress.net về vụ 3 thanh niên được 'giải oan' sau 10 năm tù vì tội hiếp dâm.
- Nhìn lại vụ án 3 thanh niên bị kết án hiếp dâm và cướp tài sản ở Hà Đông, VKSND Tối cao đã vạch ra 9 sai sót trong quá trình tố tụng. Theo ông, đâu là sai sót nghiêm trọng nhất?
- Vụ án này xảy ra cách đây 10 năm, đã được truy tố, xét xử qua 2 cấp và bản án có hiệu lực pháp luật, các bị án đã thi hành án được gần 10 năm.
Vừa qua VKSND Tối cao đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, theo hướng đề nghị Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao tuyên các bị cáo không phạm tội hiếp dâm và cướp tài sản.
Kháng nghị của VKS Tối cao đã nêu ra 9 sai sót trong quá trình tố tụng. Các sai sót nêu ra đều rất quan trọng, là cơ sở để VKS Tối cao kháng nghị. Điều cần nhấn mạnh là quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc và quy định cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Nhiều người cho rằng đây không phải là vụ án quá khó, có nhiều tình tiết phức tạp để có thể dẫn đến sai sót trong quá trình điều tra. Ông nhận xét gì về ý kiến này?
- Đây không phải là vụ án quá khó, vì người bị hại đã nhận diện được đặc điểm của những kẻ gây án. Hung khí gây án cũng được xác định.
Người bị hại đã giữ lại được vật chứng mà thủ phạm bỏ lại hiện trường, trình báo và giao nộp ngay cho cơ quan điều tra. Dấu vết của tội phạm (dấu vết sinh học) đang còn để lại trên người nạn nhân bị hiếp dâm. Có nhiều nhân chứng xác định sự ngoại phạm của các bị cáo...
Nếu quá trình điều tra tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về khám nghiệm hiện trường, thu giữ và nhận dạng vật chứng, nhận dạng người, lấy lời khai các nhân chứng thì sẽ không có những sai phạm như kháng nghị đã nêu.

Ông Lê Hữu Thể
Ông Lê Hữu Thể, Viện phó VKSND Tối cao. Ảnh: Anh Thư

- Trong bản kháng nghị đã nêu rõ 3 thanh niên không phạm tội hiếp dâm, cướp tài sản, tuy nhiên, nhưng trong hồ sơ vụ án, họ lại nhận tội. Ông đánh giá thế nào về tố cáo của 3 thanh niên rằng họ bị cảnh sát ép cung?
- Trong quá trình điều tra, lời nhận tội của các bị cáo có nhiều mâu thuẫn với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nhất là với lời khai của người bị hại về hiện trường vụ án, hung khí, diễn biến hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhận dạng bị cáo...
Tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo có khai việc bị cán bộ điều tra ép cung trong quá trình điều tra, nhưng không được xem xét, xác minh, kết luận. Việc các bị cáo có bị ép cung, nhục hình hay không, VKSND Tối cao sẽ tiếp tục xác minh làm rõ và có kết luận cụ thể.
- Tại phiên tòa, nhiều nhân chứng đã xác nhận bằng chứng ngoại phạm của 3 thanh niên. Ông đánh giá thế nào về việc cơ quan xét xử không quan tâm đến những lời khai của các nhân chứng?
- Tại các phiên tòa xét xử, những bằng chứng ngoại phạm của các bị cáo chưa được Hội đồng xét xử quan tâm xem xét đúng mức là vi phạm nguyên tắc xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong Bộ luật nêu rõ, việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phải toàn diện, đầy đủ và khách quan, phải xem xét các chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội. Chính vì vậy, hai cấp tòa án đã ra bản án chưa phản ánh đúng diễn biến khách quan của vụ án.
- Hiện nay, sau khi lật lại hồ sơ, nhiều sai sót trong quá trình điều tra của cảnh sát đã được làm rõ. Việc 2 cấp xét xử không nhận ra được những sai sót của cơ quan điều tra cho thấy điều gì?
- Trong vụ án này, các sai sót xảy ra ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố. Khi xét xử, tòa án đã không xem xét, đánh giá đầy đủ, kỹ lưỡng, toàn diện, khách quan các tài liệu có trong hồ sơ vụ án dẫn tới việc ra một bản án không phù hợp với diễn biến khách quan của vụ án.
Những sai sót, vi phạm trên là do việc nghiên cứu hồ sơ vụ án chưa kỹ của những người được phân công trực tiếp xử lý vụ án này.
Ông đánh giá thế nào về vai trò của đại diện VKS tại 2 phiên tòa?
- Trách nhiệm của kiểm sát viên không chỉ tại phiên tòa mà ngay trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án. Suốt quá trình điều tra, kiểm sát viên đã không phát hiện những vi phạm, thiếu sót của cơ quan điều tra trong việc thu giữ, nhận dạng vật chứng, khám nghiệm hiện trường để yêu cầu khắc phục.
Tại cả hai phiên tòa xét xử, những vi phạm, thiếu sót của hội đồng xét xử cũng có trách nhiệm của kiểm sát viên, vì đã không thực hiện hết trách nhiệm mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
Nguyễn Đình Tình (áo trắng, bên trái), Nguyễn Đình Kiên (Lợi), Nguyễn Đình Kiên đang kể cho phóng viên về diễn biến vụ việc. Ảnh: Anh Thư.
- Với những diễn biến vụ án như hiện nay, các cơ quan chức năng cần phải làm gì để bảo vệ quyền lợi về kinh tế, nhân phẩm cho 3 thanh niên nói trên?
- Việc cần thiết làm ngay lúc này là nhanh chóng đưa vụ án ra xét xử để có cơ sở pháp lý phục hồi các quyền công dân cho 3 thanh niên và giải quyết các quyền lợi hợp pháp cho họ theo đúng quy định của pháp luật.
- Thưa ông, trong trường hợp Tòa tối cáo bác kháng nghị giám đốc thẩm, không tuyên vô tội đối với 3 thanh niên trên, VKS Tối cao sẽ có những động thái gì tiếp theo?
- Tôi tin tưởng rằng, với tinh thần trách nhiệm và sự công tâm, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm sẽ có quyết định đúng đắn, khách quan, công bằng và thuyết phục.
Anh Thư thực hiện
-.Bác kháng nghị “giải oan” cho 3 thanh niên(NLĐ) - Ngày 7-12, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã bác kháng nghị của VKSND Tối cao về việc tuyên vô tội đối với Nguyễn Đình Lợi, Nguyễn Đình Tình và Nguyễn Đình Kiên (ngụ quận Hà Đông, TP Hà Nội) - bị mang án hiếp dâm và cướp tài sản. Đây là phán quyết cuối cùng về vụ án này và có hiệu lực ngay lập tức.


Theo dòng sự kiện:
Xét kháng nghị 'giải oan' tội hiếp dâm cho 3 thanh niên (17/03)
Tiếp tục hoãn phiên xử 3 thanh niên bị kết tội hiếp dâm (06/07)
Ngày 5/7 xử vụ án 3 thanh niên 'hiếp dâm' kêu oan (03/07)
Bất ngờ hoãn phiên xử 3 thanh niên kêu oan tội hiếp dâm (05/06)
Hai phiên xử 3 thanh niên tội hiếp dâm qua lời kể luật sư (04/06)

-'Vi phạm nghiêm trọng trong vụ xử 3 thanh niên án hiếp dâm' -VnExpress

- Kỳ án “huyệt trai trinh”: Bao giờ minh oan?
Thứ Bảy, 20/11/2010 (GMT+7) 3 chàng thanh niên ấy đã từng vui sướng và hạnh phúc khôn cùng khi được trở về với cuộc sống ngoài song sắt nhưng gần 1 năm nay, chừng ấy con người và cả gia đình họ đang thoi thóp, mòn mỏi từng ngày chờ đợi tự do.
TIN BÀI KHÁC
Sống mà như… đã chết
Vụ án hiếp dâm tại thôn La Cả, xã Yên Nghĩa, Hoài Đức (nay là Hà Đông, Hà Nội) gần 10 năm trước đã làm chấn động dư luận cả nước. Người ta bàng hoàng, sững sờ khi hay tin 3 chàng trai trẻ dòng họ Nguyễn Đình tuổi mới mười tám, đôi mươi lại chính là thủ phạm trong vụ trọng án này.
Hàng trăm lá đơn kêu oan nhiều năm ròng, công an vào cuộc điều tra, sơ thẩm rồi phúc thẩm, cuối cùng tòa vẫn tuyên y án tổng cộng 41 năm tù giam dành cho 3 chú cháu Nguyễn Đình Tình (SN 1981), Nguyễn Đình Lợi, Nguyễn Đình Kiên (SN 1980), cả 3 trú tại xóm Quyết Thắng - thôn Nghĩa Lộ - Yên Nghĩa) về tội cướp tài sản và hiếp dâm.
Mô tả ảnh.
3 chú cháu (từ trái qua) Nguyễn Đình Lợi, Nguyễn Đình Tình và Nguyễn Đình Kiên sau ngày hoãn thi hành án (Ảnh: Bee.net.vn)
Đang trong lúc đường cùng và kiệt sức thì bất ngờ vào ngày 26/1/2010, VKSND Tối cao ra Quyết định hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm của vụ án này, điều tra lại toàn bộ vụ việc, tuyên 3 bị cáo trên không phạm tội “cướp tài sản” và tội “hiếp dâm”, đồng thời tạm đình chỉ thi hành án đối với Tình, Lợi, Kiên, chờ phiên Giám đốc thẩm.
Tuy nhiên suốt từ đó đến nay, 3 chú cháu dòng họ Nguyễn Đình vẫn đang ngày ngày mòn mỏi chờ đợi phán quyết minh oan.
TIN LIÊN QUAN
Gần đây, một đồng nghiệp báo GĐ&XH đã tìm đến tận nhà Tình, Lợi, Kiên và mới hay 3 chàng trai ngày nào đã suy sụp và mòn mỏi đến dường nào, ánh mắt không giấu nổi niềm thất vọng và sự mệt mỏi. Họ đang sống mà như.. không tồn tại khi không có bất kỳ giấy tờ tùy thân nào, những khao khát muốn hòa nhập cộng đồng, gây dựng cuộc sống đã từng cuộn cháy trong họ bao nhiêu thì nay chỉ còn âm ỉ, le lói.
Điều đáng nói là trong số 3 chàng trai ấy, Nguyễn Đình Tình đã không may nhiễm phải căn bệnh HIV trong một lần chơi thể thao vào năm 2007 tại trại giam. Anh đang gắng gượng sống từng ngày mong chờ thời khắc được gột sạch nỗi oan. Anh chia sẻ niềm khao khát được tự do với báo GĐ&XH rằng: “Chờ phiên xử giám đốc thẩm ư? Chờ chứ! Công lý phải được thực hiện chứ, nhưng chúng em chờ lâu quá rồi… Phiên xử này không chỉ gột nỗi oan sai cho bản thân chúng em mà phụ huynh, người thân của chúng em cũng đỡ khổ. Hơn chục năm nay họ sống trong sự đàm tiếu, ra đường không dám nhìn ai, khổ lắm rồi...”.
Sức khỏe của Tình hiện không được tốt, sự hao mòn của thể xác hiện rõ trên gương mặt, làn da tái xám, đôi tay gầy guộc nổi rõ gân xanh… Hàng ngày anh uống thuốc nhiều hơn ăn cơm, dẫu vậy Tình vẫn mơ ước được đi học, được đến trường. Anh cho biết đã đăng kí dự thi vào trường ĐH Đại Nam trong niềm hồ hởi hạnh phúc với hy vọng vượt qua bệnh tật để bắt nhịp tương lai nhưng rồi anh đã đau khổ, hụt hẫng khi biết tin hồ sơ không được chấp nhận vì không có giấy tờ tùy thân.
Rồi Lợi, rồi Kiên, 2 chàng thanh niên ngày nào giờ cũng đã bước sang tuổi ngoài 30. Ngày trở về họ lạ lẫm với cuộc sống mới rồi gắng bắt nhịp để hòa nhập cộng đồng. Lợi quay lại với nghề sửa xe, mở cửa hàng ngay trước cổng trường ĐH Thành Tây, rủ cả Kiên cùng theo học nghề.
Lợi kể về cuộc sống mới với bao điều lạ lẫm: “Hồi em còn học ở Trung tâm Phương Nam, thời đó chỉ học sửa toàn xe Simson, Cup 50, 81. Ngồi tù 10 năm trở về, thấy bao nhiêu loại xe lạ trên đời”. Còn Kiên hy vọng xa xăm vào phiên giám đốc thẩm. Nhiều khi cứ nghĩ nó đến gần lắm, chạm tay là có thể với được nhưng rồi gần 1 năm qua đi, đợi hoài, đợi mãi… chưa thấy đâu. “Về làng với 10 năm tù tội, chú Tình lại bị bệnh, chúng em thì chưa được tự do thật sự. Anh xem có cô gái nào ba đầu sáu tay mà dám đến với chúng em. Nếu tòa án cứ dây dưa thế này, chẳng mấy mà mọi thứ sẽ khép lại với chúng em...", Kiên chua xót nói.
Án “hiếp dâm” vẫn lơ lửng trên đầu
Cuộc sống của Tình, Lợi, Kiên mang tên chờ đợi. Họ khắc khoải, đợi mong và hy vọng vào tương lai gần được bắt nhịp cuộc sống mới nhưng ngày mở phiên Giám đốc thẩm cứ kéo dài mãi, họ đặt câu hỏi nghi hoặc “Không biết bao giờ mình mới được minh oan”? Cũng có thể năm sau, năm sau nữa hoặc vài năm nữa hoặc là không bao giờ…
Vào đầu tháng 8/2010, một lãnh đạo Văn phòng cơ quan điều tra Công an Hà Nội tiết lộ với báo điện tử Bee rằng đã xác định được 3 nghi phạm gây ra vụ án trên khiến cả 3 hồi hộp ngóng đợt từng ngày được tự do theo đúng nghĩa tuy nhiên đến nay thông tin chính thức về danh 3 nghi phạm này đến nay vẫn chưa được công bố. Cả 3 tiếp tục chờ đợi.
Mô tả ảnh.
Hiện Nguyễn Đình Lợi đã quay lại mở cửa hàng sửa chữa xe máy (Ảnh: GĐ&XH)
Rồi kế đó, báo PL&CS cũng đã quyết lật lại vụ án, tìm cho ra nạn nhân N.T.H.H năm nào thì đã nhận được những câu trả lời vô cùng phũ phàng từ chị của H. rằng “"Giờ em tôi có chồng rồi, hai con rồi. Còn gia đình nhà chồng nữa. Bây giờ mọi người đến như thế này là gợi nỗi đau cho nó".
Sau đó, PV cũng đặt thẳng vấn đề rằng, biết là H. đau khổ nhưng vì H. mà 3 chàng trai bị ngồi tù oan, thậm chí 1 người hiện còn đang bị nhiễm HIV. H. vẫn im lặng, còn người phụ nữ kia thẳng thắn: "Cái đấy thì phải kêu lên nhà chức trách. Gia đình tôi không có trách nhiệm với oan sai trong vụ án...".
Trước đó trong suốt quá trình tố tụng, truy xét vụ án, ngoài đơn kêu oan của 3 bị cáo, gia đình bị cáo cũng đã từng nhiều lần đến van xin H. ra trước tòa để một lần nữa xác nhận lại mặt những kẻ mà cô từng cho là đã hãm hiếp cô.
Tuy nhiên H. cũng đã viện mọi lý do để từ chối. H. bảo cô đã có chồng và đang mang thai, cô lo sợ nếu chồng biết chuyện này thì sẽ bỏ cô mất và nhất quyết trả lời thẳng thắn rằng việc 3 bị cáo bị oan sai đó là trách nhiệm của các cơ quan chức năng.
Người phụ nữ ấy giờ đã có chồng và 2 con. Suốt từng ấy năm, chị là hy vọng duy nhất để 3 chàng trai gột sạch nỗi oan cho mình. Nhưng chị đã trốn chạy, đã từ chối và vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử. Vậy là thêm một lần nữa hy vọng của Tình, Lợi, Kiên bị co ngắn lại.
Nhớ lại những ngày đầu khi 3 chú cháu Nguyễn Đình bị bắt, bà Nguyễn Thị Hưng (mẹ Nguyễn Đình Lợi) vẫn không thể giấu nổi nỗi buồn. Bà cho biết đi đến đâu cũng gặp những ánh mắt kỳ thị, soi mói đến nỗi nhiều khi không dám ra ngoài. Có đi ăn cưới cũng phải chui lủi, tránh mặt và phải đến bằng cửa sau.
Sau bao nhiêu năm lặn lội vì con, vì cháu cuối cùng Tình, Lợi, Kiên cũng đã được tự do nhưng một nỗi lo khác lại xen lấn trong lòng bà: "Không biết các cháu có được xử lại không? Dân tình người ta cứ bảo được thả ra là tốt rồi chứ đừng mong có phiên xử cuối cùng. Hoãn xử đến lần thứ 3 rồi. Tuy nhiên tôi vẫn mong mỏi đến ngày đó, các cháu đã quá khổ rồi, nỗi nhọc phải mang quá lâu, chỉ chờ ngày được gột rửa chứ", bà Hưng tâm sự với báo GĐ&XH.
Chừng ấy con người, cứ ngày ngày ngóng chờ và không nguôi hy vọng một ngày nào đó sẽ được minh oan. Họ đã chờ và vẫn sẽ đợi nhưng họ đang kiệt sức, niềm hy vọng đang bị lung lay còn cái án oan vẫn chưa thể gột sạch.
Kỳ án "huyệt trai trinh"
Ngày 24/10/2000, tại thôn La Cả, xã Yên Nghĩa xảy ra một vụ hiếp dâm tập thể, cướp tài sản, nạn nhân là chị N.T.H.H. Theo lời khai của chị H. có 3 đối tượng gây ra vụ án này.
Ngày 25/10/2000, CA tỉnh Hà Tây (cũ) ra quyết định khởi tố vụ án nhưng hơn 1 tháng truy xét mà vẫn không tìm ra được thủ phạm.
Ngày 12/12/2000, Nguyễn Đình Lợi bị bắt và liên tiếp sau đó Nguyễn Đình Tình và Nguyễn Đình Kiên cũng bị “gọi lên làm việc”.
Ngày 21/12/2002, TAND tỉnh Hà Tây mở phiên tòa sơ thẩm tuyên phạt Nguyễn Đình Lợi 16 năm tù giam, Nguyễn Đình Tình 14 năm tù giam và Nguyễn Đình Kiên 11 năm tù giam về tội cướp tài sản và hiếp dâm.
Ngày 22/4/2002, TAND Tối cao mở phiên tòa phúc thẩm nhưng kết thúc phiên tòa, tòa y án sơ thẩm.
Trong suốt thời gian ngồi tù, 3 chàng trai đã viết hàng trăm lá thư kêu oan gửi đến các cơ quan chức năng.
Tháng 12/2006, cơ duyên đưa Nguyễn Đình Lợi gặp gỡ với lương Y Phạm Thị Hồng khi anh được CA đưa vào Bệnh viện đa khoa Hà Đông điều trị do bị liệt nửa người sau tai biến mạch máu não.
Từ đây, nỗi oan khuất của 3 chàng trai dòng họ Nguyễn Đình bắt đầu được làm sáng tỏ khi bà Hồng khẳng định chắc như đính đóng cột rằng 3 chàng thanh niên này vẫn còn tân, chưa từng quan hệ với bất kỳ người phụ nữ nào thông qua cách bấm huyệt “Dương Minh”. Thậm chí chị sẵn sàng tự thiêu để chứng minh cho nhận định đó của mình là đúng.
Ngày 26/1/2010 VKSND Tối cao ra đã ra quyết định hủy bán án sơ thẩm và phúc thẩm của vụ án này, đình chỉ thi hành án đối với 3 bị cáo Tình, Kiên, Lợi chờ phiên Giám đốc thẩm.
Ngày 4/6/2010, phiên Giám đốc thẩm tại TAND Tối cao như dự kiến bất ngờ bị hoãn do sự vắng mặt đột xuất của một số thành viên trong Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao.
Từ đó đến nay, phiêm Giám đốc thẩm vẫn chưa được mở lại.
  • Minh Anh (tổng hợp)
Trả lại tự do cho 3 thanh niên bị kết tội hiếp dâm oan
Từ một chiếc áo do nạn nhân nhặt được tại hiện trường và một lời khai cho rằng một trong các bị cáo đã từng mặc chiếc áo giống như vậy 2 năm trước 3 thanh niên bị lĩnh tội oan. Những bằng chứng ngoại phạm khác của Tình, Kiên, Lợi lại bị bỏ qua. Sau 10 năm, vụ án được lật lại 3 thanh niên bị kết tội hiếp dâm phải ngồi tù oan được trả lại tự do. Vụ án hiếp dâm ở Hà Đông xảy ra 10 năm trước mở ra hướng điều tra mới sau khi 3 thanh niên Nguyễn Đình Tình, Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Đình Lợi (cùng ở Yên Nghĩa, Hà Đông) được xem xét lại tội trạng. Rà soát lại sự việc và ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm sau khi các bị cáo đã thụ án gần 10 năm, VKSND tối cao nhận định, vụ cướp tài sản, hiếp dâm xảy ra tại trạm bơm Yên Nghĩa khi đó là có thật. Tuy nhiên, quá trình điều tra và việc xác định thủ phạm đã có nhiều vi phạm tố tụng hình sự.
Cơ quan điều tra đã thiếu khách quan, làm không đầy đủ và không triệt để, nhiều chứng cứ gỡ tội chưa được xác minh làm rõ. Công tác điều tra có nhiều vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự. Từ vật chứng duy nhất là chiếc áo thủ phạm bỏ lại hiện trường, nạn nhân nhặt được không thể hiện trong hồ sơ vụ án mà là một chiếc áo phông khác.
Từ đó, chỉ vì một lời khai cho rằng một trong các bị cáo đã từng mặc chiếc áo giống như vậy 2 năm trước, 3 thanh niên lĩnh tội oan. Những bằng chứng ngoại phạm khác của Tình, Kiên, Lợi lại bị bỏ qua.
Sau khi vụ án được lật lại, cơ quan tố tụng xác định 3 “tội nhân” không phải là thủ phạm trong vụ án, Công an Hà Nội đã tiếp tục truy tìm thủ phạm đích thực.
Văn phòng CQĐT Công an Hà Nội vừa cho biết đã xác định được 3 nghi phạm, trú tại làng Dương Nội, Hà Đông có đặc điểm hoàn toàn trùng khớp với những yếu tố, tình tiết trong vụ án. Đặc biệt, những người này có khuôn mặt, lời nói phù hợp với lời khai của các bị hại ngay sau khi vụ án xảy ra.
Công an Hà Nội đang tích cực điều tra để sớm làm rõ, xác định chính xác thủ phạm đích thực dẫn đến án oan cho 3 thanh niên Tình, Kiên, Lợi.
----------
Vụ 10 năm chịu oan án hiếp dâm:Xác định nghi phạm mới!
02/08/2010 21:04:39- Danh tính ba nghi phạm gây ra vụ án cướp tài sản, hiếp dâm 10 năm trước khiến ba thanh niên Nguyễn Đình Tình, Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Đình Lợi (cùng ở Yên Nghĩa, Hà Đông) bị oan sai đã được xác định.
TIN LIÊN QUAN
Thông tin trên được một lãnh đạo Văn phòng cơ quan điều tra Công an Hà Nội tiết lộ chiều 2/8.
Theo nguồn tin của Bee.net.vn, 3 nghi phạm ở làng Dương Nội có đặc điểm hoàn toàn trùng khớp với những đặc điểm được mô tả trong vụ án. Đặc biệt, những người này có khuôn mặt, lời nói phù hợp với lời khai của các bị hại ngay sau khi vụ án xảy ra.
"Chúng tôi đang tích cực làm rõ để sớm đưa những kẻ phạm tội đích thực ra trừng trị trước pháp luật", một lãnh đạo Văn phòng cơ quan điều tra Công an Hà Nội cho biết.
Ba thanh niên chịu oan án hiếp dâm
Ba thanh niên chịu oan án hiếp dâm
Trước đó, bị cáo buộc liên quan đến vụ án, 3 thanh niên Nguyễn Đình Tình, Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Đình Lợi (cùng ở Yên Nghĩa, Hà Đông) đã bị bắt giam. Qua 2 cấp xét xử, họ bị kết án tổng cộng 41 năm tù.
Suốt gần 10 năm sống trong song sắt trại giam, 3 thanh niên đã liên tục kêu oan. Cuối cùng, thông tin vụ việc tới tay chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Người đứng đầu nhà nước đã yêu cầu VKSND Tối cao rà soát lại vụ việc.
Phó viện trưởng VKSND Tối cao Lê Hữu Thể khẳng định trong kháng nghị giám đốc thẩm ký ngày 26/1: "Cơ quan điều tra đã thiếu khách quan, không đầy đủ và không triệt để, nhiều chứng cứ gỡ tội chưa được xác minh làm rõ. Công tác điều tra có nhiều vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự. Các bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã căn cứ vào các tài liệu điều tra thiếu tính khách quan để kết tội các bị cáo...".
VKSND Tối cao nhận thấy, quá trình điều tra và xác định thủ phạm đã có nhiều vi phạm tố tụng hình sự. Đáng chú ý nhất là vật chứng duy nhất - chiếc áo thủ phạm bỏ lại hiện trường, nạn nhân nhặt được đã không được thể hiện trong hồ sơ vụ án, mà thay vào đó là một chiếc áo phông khác.
Ít ngày sau khi VKSND Tối cao kháng nghị, 3 thanh niên trong "kỳ án 10 năm kêu oan" này được trở về nhà nhưng họ vẫn chưa được minh oan một cách danh chính ngôn thuận.

Hồng Anh

Kỳ án 3 thanh niên phạm tội hiếp dâm: Xác định được nghi phạm gây án
Thanh Niên
Hôm qua, Văn phòng cơ quan điều tra Công an TP Hà Nội cho biết đã xác định được danh tính 3 nghi phạm đã gây ra vụ cướp, hiếp dâm xảy ra cách đây 10 năm tại xã Yên Nghĩa, H.Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là xã Yên Nghĩa, Q.Hà Đông, TP Hà Nội). ...
Xác định nghi phạm gây án
Người Lao Động
Lộ diện nghi phạm “thật” vụ 3 thanh niên bị kết tội hiếp dâm oan
Dân Trí
Vụ 10 năm oan án hiếp dâm: Xác định nghi phạm mới!
VietNamNet
VNExpress

tất cả 5 bài viết »
Lại hoãn phiên xử 3 thanh niên mang án hiếp dâm
Hội đồng Thẩm phán yêu cầu VKSND Tối cao cung cấp thêm một số tài liệu để Tòa có căn cứ ra phán quyết cuối cùng.
'Virginity test' helps free 3 Straits Times
HANOI (Vietnam) - AN ACUPUNCTURIST who claims she can detect a man's virginity based on a small dot on the ear has become a minor celebrity in Vietnam, where she is credited with helping to free three convicted rapists from prison.
Traditional medicine practitioner Pham Thi Hong started lobbying for the men's release, pleading their case all the way to the president, because she believes all three men are virgins and therefore could not be guilty of rape.
Ngày 5/7, xử vụ 3 thanh niên mang án hiếp dâm

Trước đó, phiên giám đốc thẩm được ấn định vào ngày 4/6 đã bị bất ngờ hoãn lại do sự vắng mặt đột xuất của một số thành viên.
Ngày 5/7 xử vụ án 3 thanh niên "hiếp dâm" kêu oan
pictureNgày 5/7, phiên giám đốc thẩm xét kháng nghị của VKS về việc tuyên vô tội 3 thanh niên bị kết án hiếp dâm, cướp tài sản sẽ được mở lại sau gần một tháng hoãn.
Người mang án hiếp dâm xin gặp Chánh án TAND tối cao
Bee 07/07/2010 09:48:45- Sáng qua, anh Nguyễn Đình Tình, một trong 3 thanh niên mang án hiếp dâm đã có đơn xin gặp Chánh án TAND Tối cao để làm rõ hành vi của mình.
Anh Tình cho biết, hiện anh đang mắc bệnh hiểm nghèo, khó qua khỏi trong nay mai, nên anh mong muốn được biết kết quả cuối cùng về vụ kỳ án liên quan đến mình.
Đơn anh Tình có đoạn: “Qua báo chí, cháu được biết, hôm 5/7, Hội đồng thẩm phán - TAND Tối cao xử giám đốc thẩm vụ án, vậy cháu xin gặp ông Chánh án để hỏi sự thật có được trả về đúng vị trí của nó hay không. Nếu không, chúng cháu muốn biết, chúng cháu bị tuyên tội gì?”.
Cũng theo Tình, Phòng Tiếp công dân, TAND Tối cao đã tiếp nhận đơn và hẹn trả lời anh trong một ngày gần nhất.(Theo TPO)
- TS Nguyễn Văn Điệp, Trưởng khoa Đào tạo Luật sư (Học viện Tư pháp), cho biết: “Việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động tố tụng trong vụ án xét xử 3 thanh niên trú tại xã Yên Nghĩa (Hà Đông, Hà Tây) chưa nghiêm ngặt nên dẫn tới án oan, án sai”.
TIN LIÊN QUAN
Trong vụ án này, cơ quan nào làm sai cuối thì cơ quan ấy phải chịu trách nhiệm, đó chính là cơ quan tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm.