Tổng số lượt xem trang

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2011

ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÔNG THỂ PHÁT BIỂU VI HIẾN

Luật gia Trần Đình Thu
18-11-2011
Vừa qua, vị Đại biểu quốc hội Hoàng Hữu Phước đã làm nóng dư luận khi nêu vấn đề liên quan đến 2 dự luật Luật biểu tình và Luật lập hội tại diễn đàn quốc hội. Bằng một số lập luận ngắn, ông kết luận, cần phải loại bỏ 2 luật này ra khỏi chương trình nghị sự quốc hội trong suốt khóa XIII và còn ám chỉ cần loại bỏ vĩnh viễn khỏi đời sống chính trị của xã hội Việt Nam.
Việc diễn đạt để đi đến các kết luận như trên của ông Hoàng Hữu Phước khá băm bổ, đọc lên không thấy một chút nào là lập luận của một nhà lập pháp. Chẳng hạn về Luật biểu tình ông viết: “Liệu cái gọi là quyền biểu tình ấy có lớn hơn quyền được kiếm sống của người dân, quyền được ra đời của con cái của người dân, quyền được sử dụng công lộ của người dân, quyền được mưu cầu hạnh phúc của người dân”.
Quyền tự do lập hội, tự do biểu tình là 2 trong 5 quyền cơ bản của công dân được ghi rõ trong các văn bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 (5 quyền là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội và tự do biểu tình) thế mà ông Phước gọi là “cái gọi là”, một cách gọi hết sức miệt thị. Cách gọi này của ông Phước chẳng những vô nguyên tắc mà thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường hiến pháp, coi thường quốc hội các khóa trước.
Thực ra Hiến pháp quy định là quy định khung, còn chúng ta sẽ cân nhắc để mở các quyền ra cho công dân đến mức nào là tùy vào tình hình thực tiễn của từng giai đoạn, quốc hội sẽ sáng suốt xem xét, nhưng một đại biểu quốc hội không thể vì lý do không muốn mở quyền mà phát biểu vi hiến bằng cách xổ toẹt cả hiến pháp như thế.
Bây giờ tôi xin trao đổi vài điểm với ông Hoàng Hữu Phước. Về Luật lập hội, ông viết: “Nếu Luật lập hội là để tạo nên các đối thủ bên ngoài hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vô hiệu hóa, tiến đến xóa sổ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vậy Luật lập hội có cần không? Nếu Luật lập hội là để tạo nên các hội mới nằm bên trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như 44 thành viên hiện hữu để làm phong phú hơn tổ chức hùng mạnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vậy Luật lập hội có cần không?”. Thưa ông Phước, ở đây ông đã nhầm lẫn khái niệm. Luật lập hội là để quy định một loạt các vấn đề có tính nguyên tắc khi lập hội, bao gồm cho cả hội mới và cả hội đã có sẵn về số lượng thành viên tối thiểu, thủ tục đăng ký, con dấu, trụ sở, kinh phí hoạt động… Còn Mặt trận Tổ Quốc là một khái niệm hoàn toàn khác. Nếu ông chưa rõ khái niệm Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam là gì, thì xin mời ông đọc lại Khoản 1 Điều 1, Luật Mặt Trận Tổ Quốc:
Điều 1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị
1- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Ông thấy đó, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đâu phải là một nhóm hội kiểu như một tổng công ty trong hoạt động kinh tế đâu mà có đối thủ cạnh tranh là một nhóm hội khác, mà có bên ngoài bên trong? Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam là một tổ chức liên minh hết thảy các hội và các tổ chức, cá nhân khác. Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam còn bao gồm cả Đảng cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam nữa kia mà. Vậy thì làm gì có chuyện “tạo nên các đối thủ bên ngoài hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”?
Lập luận khiên cưỡng, không căn cứ vào cái gì cả, đặc biệt là vi hiến nghiêm trọng, thế nhưng ông Hoàng Hữu Phước lại nhân danh rất nhiều tầng lớp nhân dân trong xã hội để đề nghị Quốc hội “loại bỏ Luật lập hội và Luật biểu tình”, trong khi một trong 2 luật ấy được đích thân Thủ tướng chính phủ đề xuất xây dựng. Phải chăng là chuyện tréo ngoe?
T.Đ.T


‘Luật biểu tình sẽ có tác dụng tích cực cho xã hội’ (VnEx 17-11-11) — P/v đại biểu Dương Trung Quốc -
- Sợ biểu tình – Căn bệnh lệch lạc về tư duy chính trị! – (Lê Nguyên Hồng).
- Đại ca Chém Gió đã có người kế vị  –  (DLB).  – Bất đồng về Luật Biểu tình (NLĐ). – Phỏng vấn ĐB Dương Trung Quốc: ‘Biểu tình có thể chĩa vào cán bộ nhà nước nhưng phục vụ Chính phủ’ (ĐV).  – Bùi Tín: Những luật nào là cần nhất? —  (VOA’s blog). - Nổ bùng tranh luận tại Quốc hội về luật Biểu tình (DT). - Dự luật Biểu tình gây tranh cãi ở Quốc hội (TN). - “Cần ban hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật” (TTXVN).
“Biểu tình” khác với “tập họp đông người”! Tranh luận nảy lửa Luật biểu tình (VNN 17-11-11) -THD- Một đại biều nói: “.. trong tiếng Anh biểu tình, tức là demonstration luôn để chống Chính phủ. Còn tập hợp đông người để bày tỏ sự ủng hộ nước mình hay ủng hộ một chủ trương của chính phủ nước mình, gián tiếp biểu thị sự không đồng tình đối với chính phủ nước khác thì đó là đức tin hoặc cuộc tuần hành biểu dương lực lượng.” (Nghe ông này thì con mắt của nhiều người sẽ lộn ngược ra sau vì…  trợn trắng!) - - Tranh luận nảy lửa về dự án Luật Biểu tình (PLTP).
-Tranh luận nảy lửa Luật biểu tình- - Đại biểu tự ứng cử ở TP. HCM Hoàng Hữu Phước cho rằng nếu lấy ý kiến, đa số dân sẽ không đồng ý ban hành Luật  biểu tình, song theo ông Dương Trung Quốc, phát biểu như vậy là xúc phạm đến dân.
Thảo luận hội trường sáng nay (17/11) về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nhiều đại biểu đã bày tỏ quan điểm về việc cần hay không Luật biểu tình.
“Đa số công dân sẽ không ủng hộ”
Đại biểu Hoàng Hữu Phước (TP.HCM) gây chú ý với câu mở đầu bài phát biểu:“Đề nghị Quốc hội loại bỏ Luật lập hội và Luật biểu tình khỏi danh sách dự án luật”.
Lý do đầu tiên ông Phước nêu là ở Việt Nam đã có Mặt trận Tổ quốc. “Nếu Luật lập hội là để tạo nên các đối thủ bên ngoài hệ thống Mặt trận vô hiệu hóa, tiến đến xóa sổ Mặt trận, vậy Luật lập hội có cần không?”, ông Phước dõng dạc hỏi.
Luật biểu tình, theo ông lại càng không cần. Và ông tỉ mỉ dẫn lại các cứ liệu lịch sử.

ĐB Hoàng Hữu Phước


Theo đó, từ khi có cuộc biểu tình đầu tiên trong lịch sử loài người năm 1913 do Gandhi tổ chức, mãi cho đến những năm 1960, từ ngữ “biểu tình” mới xuất hiện ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ bắt đầu từ việc chống lại chính phủ Kennedy đẩy mạnh cuộc chiến tranh Việt Nam.
“Điều nhất thiết phải khẳng định ở đây là ngay từ khởi thủy và cho tới tận ngày nay, biểu tình là để chống lại chính phủ“, ông Phước nói.
Ông Phước dẫn chứng thêm, trong tiếng Anh biểu tình, tức là demonstration luôn để chống Chính phủ. Còn tập hợp đông người để bày tỏ sự ủng hộ nước mình hay ủng hộ một chủ trương của chính phủ nước mình, gián tiếp biểu thị sự không đồng tình đối với chính phủ nước khác thì đó là đức tin hoặc cuộc tuần hành biểu dương lực lượng.
Từ lập luận trên, ông Phước đúc kết lại, “Việt Nam có cần một cuộc biểu tình chống chính phủ, chống các chủ trương, chính sách, đạo luật của Chính phủ Việt Nam hay không. Nếu không cần, tại sao lại đưa dự án Luật biểu tình, nói rồi nói mãi như thể nó là khuôn vàng, thước ngọc để đo chiều cao, chiều rộng, chiều dài, chiều sâu của cái gọi là tự do, dân chủ”.
Theo ông, điều mà nước ta đang cần có thể là những quy định về đức tin, về tuần hành đông người. “Nhưng liệu Quốc hội có nên dành ra 2 năm và bao nhiêu tiền của của nhân dân để soạn ra dự án Luật đức tin hay Luật tuần hành hay không?”, ông Phước lên tiếng.
Sau hàng  loạt lập luận trên, vị đại biểu của TP.HCM dẫn chứng về hậu quả của một số cuộc biểu tình vừa diễn ra vừa qua. Mà điển hình là các cuộc biểu tình đó gây ra nạn tắc đường.
Khi đi ngang qua vài cuộc tập hợp đông người ở thành phố nhằm chống đường lưỡi bò, ông đã nghe những người bị kẹt xe lớn tiếng đe dọa những người đang tập hợp biểu tình ấy.
“Sự giận dữ này có thể sẽ biến thành gây hấn, bạo loạn, đánh nhau giữa vài nhóm người biểu tình và chống biểu tình. Chưa kể những cuộc tập hợp đông người ngoài trời ấy có xâm hại quyền tự do đi lại của người dân tại khu vực bị phong tỏa do biểu tình”, ông Phước nói.
Ông kết luận, cái gọi là quyền biểu tình ấy có lớn hơn quyền được kiếm sống của người dân, quyền được ra đời của con cái của người dân, quyền được sử dụng công lộ của người dân, quyền được mưu cầu hạnh phúc của người dân.
Ông Phước khẳng định, nếu được lấy ý kiến, đa số công dân sẽ không ủng hộ Luật biểu tình vì bản chất dễ bị tổn thương và dễ bị lợi dụng gây ra biến loạn.
Phản ứng với quan điểm cho rằng ở nước ngoài vẫn tổ chức biểu tình thì Việt Nam cũng sẽ làm được, ông Phước lần lượt nêu dẫn chứng các cuộc biểu tình xảy ra ở Anh, ở Mỹ vừa qua và kết luận, hầu hết đều biến thành bạo loạn và làm ô danh đất nước.
“Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể đài thọ cho một sự ô danh”, ông Phước chốt lại bài phát biểu đanh thép của mình.
Rất nhiều ĐBQH cũng tán thành ý kiến ông Phước. Chẳng hạn, theo đại biểu Huỳnh Thế Kỳ (Ninh Thuận), phải hiểu sâu xa những vụ việc biểu tình phản đối đường lưỡi bò như vừa qua có thể xuất phát từ động cơ tốt nhưng nên hiểu rõ đằng sau đó là gì? 
Đại biểu Đặng Ngọc Nghĩa (Huế) nói, cho phép tổ chức biểu tình sẽ dễ khiến nhiều lực lượng lợi dụng, thậm chí sự chỉ đạo của nước ngoài. Nếu xảy ra vấn đề nhạy cảm, tranh chấp, chính quyền nên tăng cường đối thoại với dân. “Chứ theo tôi nghĩ có Luật biểu tình vô hình trung có thể thành chống chế độ, nếu chúng ta mít tinh như ý kiến của anh Phước tôi đồng tình, mít tinh là biểu thị sự đồng tình”.
Còn đại biểu Nguyễn Thanh Tùng (Bình Định) cho rằng, ra luật vào lúc này là rất nhạy cảm và nói đến biểu tình là nói đến phản đối, chống đối là chính. “Tự do, dân chủ không phải là biểu tình, không phải cứ cho biểu tình là mới có tự do, dân chủ mà cái chính là chăm lo phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đó mới là cái cơ bản”, ông Tùng nói.
“Phát biểu như thế là xúc phạm đến dân”
Là người duy nhất ủng hộ dự án luật trong sáng nay, ĐBQH Dương Trung Quốc(Đồng Nai) đã đứng lên trao đổi: “Diễn đàn Quốc hội là nơi để các đại biểu với tinh thần trách nhiệm và nhận thức của mình để phát biểu ý kiến nhằm trao đổi, nhằm thuyết phục hướng tới sự đồng thuận trong những quyết định chung”.

ĐB Dương Trung Quốc


Theo ông, ở Quốc hội, đã đề cập đến vấn đề gì cần nghiên cứu đến nơi đến chốn, trường hợp đưa ra những bằng chứng lịch sử dở dang, ngộ nhận là hết sức nguy hiểm.
Ông Quốc dẫn lại nhiều cứ liệu lịch sử chứng minh nội hàm của “quyền biểu tình” đã được xác lập từ trong lịch sử và cũng nhiều lần được Hồ Chí Minh nhắc đến.
“Chúng ta tự hào trong lịch sử cách mạng Việt Nam, cuộc biểu tình ngày 1/5/1938, hạt nhân lãnh đạo là những người cộng sản tập hợp lực lượng quần chúng đấu tranh đòi tự do, cơm áo hòa bình và ủng hộ Chính phủ Mặt trận nhân dân. Như thế biểu tình có từ nguồn gốc xa xưa, nhận thức nó như thế nào ở góc độ của một nhà nước, của người cầm quyền”, ông Quốc nói.
Theo ông, ngay trong bản Sắc lệnh 31 ban hành 11 ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập đã viết rằng “công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài”.
Hiến pháp năm 1946 không có chữ “biểu tình”. Nhưng trong Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành trước đó đã giải thích: “Xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ dân chủ cộng hòa, nhưng trong tình thế đặc biệt hiện thời cần phải xem xét kiểm soát những cuộc biểu tình để tránh những sự bất trắc có thể ảnh hưởng đáng tiếc đến việc nội trị hay ngoại giao”.
Ông Quốc khẳng định, phải nhìn biểu tình cả hai cách, đó là một quyền cơ bản của người dân, đồng thời đó là một công cụ hành pháp, công cụ lập pháp để mà thực thi quyền hành pháp. Nhìn một mặt thì chỉ thấy sự hỗn loạn.
Hiến pháp năm 1959 khi bàn về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã đề cập đến quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình và thuật ngữ “biểu tình” đã trở thành một chính văn của luật cơ bản.
Theo ông Quốc, những cuộc biểu tình phát huy cả hai mặt. “Đứng từ lợi ích chính trị của một thể chế, chúng ta thấy cuộc biểu tình chống chính quyền Sài Gòn của phong trào, đặc biệt ở đô thị đã tác động tích cực vào quá trình của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chúng ta thấy những cuộc biểu tình ở miền Bắc là ủng hộ các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước”, ông Quốc phân tích.
Bằng chứng rõ ràng nhất là những năm 1980, khi các hiện tượng diễn ra ở nông thôn Thái Bình, theo cách nhìn của đại biểu Phước là bạo loạn, phải dẹp bỏ thì các nhà lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã trực tiếp đi vào tận tâm bão tìm hiểu để thấy hai mặt của vấn đề rồi từ đó kịp thời điều chỉnh.
Ông Quốc giải thích, việc bày tỏ thái độ của người dân là cần thiết, nó có nhiều diễn đạt khác nhau, nhiều hình thức khác nhau, việc tụ tập đông người mà thực chất là biểu tình là nói đúng tên của nó.
“Chính bởi vì không có luật nên mới dẫn đến tình trạng hỗn loạn. Tôi không tán thành các đại biểu Quốc hội cứ nhân danh nhân dân. Tại diễn đàn Quốc hội chúng ta hãy nhân danh cá nhân mình thôi, trừ khi chúng ta có sự ủy nhiệm, hoặc có điều tra định lượng để nói rằng người dân phản đối, người dân băn khoăn trước định lượng đó, nó dẫn đến tiêu cực xã hội. Nhưng người ta rất mong muốn rằng những tình cảm, cách thể hiện đó đúng lúc, đúng chỗ, nói cách khác là có luật”, ông Quốc nói.
Theo ông, Luật biểu tình là một công cụ để điều chỉnh, bảo đảm những yếu tố tích cực và quyền của người dân.
“Không phải tự nhiên mà Thủ tướng cũng đã rất chủ động đề cập đến việc đề nghị đưa vào chương trình luật pháp của chúng ta về biểu tình. Tôi nghĩ Quốc hội hết sức thận trọng. Phát biểu như thế là xúc phạm đến chính người dân. Chính vì thế càng thấy chúng ta cần phải có Luật biểu tình càng sớm càng tốt. Đây là luật rất nhạy cảm, khó khăn, phải có lộ trình thận trọng, nhưng không vì thế mà phủ nhận để biến chúng ta thành một ốc đảo dị thường”, ông Quốc kết luận.
Lê Nhung – Ảnh: Bình Minh
-Nguồn:Tranh luận nảy lửa Luật biểu tìnhVietNamNet


-


Tranh luận nảy lửa về Luật biểu tình 

QH thảo luận chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
Đài Truyền Hình Việt Nam
Sáng nay (17/11), Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa 13. Cùng với việc phân tích nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của …

Quốc hội thảo luận về Chương trình xây dựng pháp luật năm 2012Báo Phú Yên
Xây dựng luật phải xuất phát từ cuộc sốngHà Nội Mới
VnEconomy -Báo điện tử Chính phủ -Sài gòn Giải Phóng

- - Video: CA Hà Đông hành hung bắt người trái phép ngày 11-11-11 – Phần 1 –  CA Hà Đông hành hung bắt người trái phép ngày 11-11-11 – Phần 2 – Phần 3 (MsLeQuocKhanh/ Youtube).
- Về gia đình nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn: Một gia đình yêu nước bất khuất – (DLB). – Huỳnh Thục Vy: Tâm tư nhân ngày lễ Tạ ơn – (DLB).
- - –Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ bày tỏ thất vọng về tình trạng nhân quyền ở VN  —  (VOA).- Người Việt biểu tình phản đối Trung Quốc ở hội nghị APEC – (DCVOnline). Dịch từ bài đã điểm hôm trước: Vietnamese Protest Against China at APEC (Civil Beat). - Phản ứng về bài ‘cách mạng hoa nhài’  —  (BBC). 


-- Đình công sẽ còn là bất hợp pháp (PLTP). 






Obama flays China on market access and human rights DPA -Ông Ngải Vị Vị cảm thấy như bị ăn cướp - (BBC) Nghệ sĩ TQ Ngải Vị Vị nói ông đã nộp tiền thế chấp để khiếu nại trát thu thuế 2,4 triệu đôla nhưng cảm thấy như bị ăn cướp.-- Ngải Vị Vị : đấu tranh với sở thuế để cho thấy bộ mặt thật của chính quyền Trung Quốc  —  (RFI). - Milovan Djilas – Giai cấp mới (Kì 8 )   —  (Phạm Nguyên Trường).

Tranh luận nảy lửa về Luật biểu tình

VietNamNet

Tranh luận nảy lửa về Luật biểu tình

- Đại biểu tự ứng cử ở TP. HCM Hoàng Hữu Phước cho rằng nếu lấy ý kiến, đa số dân sẽ không đồng ý ban hành Luật  biểu tình, song theo ông Dương Trung Quốc, phát biểu như vậy là xúc phạm đến dân.
Thảo luận hội trường sáng nay (17/11) về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nhiều đại biểu đã tranh thủ diễn đàn để bày tỏ quan điểm về việc cần hay không Luật biểu tình.
“Đa số công dân sẽ không ủng hộ”
Đại biểu Hoàng Hữu Phước (TP.HCM) gây chú ý với câu mở đầu bài phát biểu: “Đề nghị Quốc hội loại bỏ Luật lập hội và Luật biểu tình khỏi danh sách dự án luật”.
Lý do đầu tiên ông Phước nêu là ở Việt Nam đã có Mặt trận Tổ quốc. “Nếu Luật lập hội là để tạo nên các đối thủ bên ngoài hệ thống Mặt trận vô hiệu hóa, tiến đến xóa sổ Mặt trận, vậy Luật lập hội có cần không?”, ông Phước dõng dạc hỏi.
Luật biểu tình, theo ông lại càng không cần. Và ông tỉ mỉ dẫn lại các cứ liệu lịch sử.
ĐB Hoàng Hữu Phước
Theo đó, từ khi có cuộc biểu tình đầu tiên trong lịch sử loài người năm 1913 do Gandhi tổ chức, mãi cho đến những năm 1960, từ ngữ “biểu tình” mới xuất hiện ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ bắt đầu từ việc chống lại chính phủ Kennedy đẩy mạnh cuộc chiến tranh Việt Nam.
“Điều nhất thiết phải khẳng định ở đây là ngay từ khởi thủy và cho tới tận ngày nay, biểu tình là để chống lại chính phủ“, ông Phước nói.
Ông Phước dẫn chứng thêm, trong tiếng Anh biểu tình, tức là demonstration luôn để chống Chính phủ. Còn tập hợp đông người để bày tỏ sự ủng hộ nước mình hay ủng hộ một chủ trương của chính phủ nước mình, gián tiếp biểu thị sự không đồng tình đối với chính phủ nước khác thì đó là đức tin hoặc cuộc tuần hành biểu dương lực lượng.
Từ lập luận trên, ông Phước đúc kết lại, “Việt Nam có cần một cuộc biểu tình chống chính phủ, chống các chủ trương, chính sách, đạo luật của Chính phủ Việt Nam hay không. Nếu không cần, tại sao lại đưa dự án Luật biểu tình, nói rồi nói mãi như thể nó là khuôn vàng, thước ngọc để đo chiều cao, chiều rộng, chiều dài, chiều sâu của cái gọi là tự do, dân chủ”.
Theo ông, điều mà nước ta đang cần có thể là những quy định về đức tin, về tuần hành đông người. “Nhưng liệu Quốc hội có nên dành ra 2 năm và bao nhiêu tiền của của nhân dân để soạn ra dự án Luật đức tin hay Luật tuần hành hay không?”, ông Phước lên tiếng.
Sau hàng  loạt lập luận trên, vị đại biểu của TP.HCM dẫn chứng về hậu quả của một số cuộc biểu tình vừa diễn ra vừa qua. Mà điển hình là các cuộc biểu tình đó gây ra nạn tắc đường.
Khi đi ngang qua vài cuộc tập hợp đông người ở thành phố nhằm chống đường lưỡi bò, ông đã nghe những người bị kẹt xe lớn tiếng đe dọa những người đang tập hợp biểu tình ấy.
“Sự giận dữ này có thể sẽ biến thành gây hấn, bạo loạn, đánh nhau giữa vài nhóm người biểu tình và chống biểu tình. Chưa kể những cuộc tập hợp đông người ngoài trời ấy có xâm hại quyền tự do đi lại của người dân tại khu vực bị phong tỏa do biểu tình”, ông Phước nói.
Ông kết luận, cái gọi là quyền biểu tình ấy có lớn hơn quyền được kiếm sống của người dân, quyền được ra đời của con cái của người dân, quyền được sử dụng công lộ của người dân, quyền được mưu cầu hạnh phúc của người dân.
Ông Phước khẳng định, nếu được lấy ý kiến, đa số công dân sẽ không ủng hộ Luật biểu tình vì bản chất dễ bị tổn thương và dễ bị lợi dụng gây ra biến loạn.
Phản ứng với quan điểm cho rằng ở nước ngoài vẫn tổ chức biểu tình thì Việt Nam cũng sẽ làm được, ông Phước lần lượt nêu dẫn chứng các cuộc biểu tình xảy ra ở Anh, ở Mỹ vừa qua và kết luận, hầu hết đều biến thành bạo loạn và làm ô danh đất nước.
“Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể đài thọ cho một sự ô danh”, ông Phước chốt lại bài phát biểu đanh thép của mình.
Rất nhiều ĐBQH cũng tán thành ý kiến ông Phước. Chẳng hạn, theo đại biểu Huỳnh Thế Kỳ (Ninh Thuận), phải hiểu sâu xa những vụ việc biểu tình phản đối đường lưỡi bò như vừa qua có thể xuất phát từ động cơ tốt nhưng nên hiểu rõ đằng sau đó là gì? 
Đại biểu Đặng Ngọc Nghĩa (Huế) nói, cho phép tổ chức biểu tình sẽ dễ khiến nhiều lực lượng lợi dụng, thậm chí sự chỉ đạo của nước ngoài. Nếu xảy ra vấn đề nhạy cảm, tranh chấp, chính quyền nên tăng cường đối thoại với dân. “Chứ theo tôi nghĩ có Luật biểu tình vô hình trung có thể thành chống chế độ, nếu chúng ta mít tinh như ý kiến của anh Phước tôi đồng tình, mít tinh là biểu thị sự đồng tình”.
Còn đại biểu Nguyễn Thanh Tùng (Bình Định) cho rằng, ra luật vào lúc này là rất nhạy cảm và nói đến biểu tình là nói đến phản đối, chống đối là chính. “Tự do, dân chủ không phải là biểu tình, không phải cứ cho biểu tình là mới có tự do, dân chủ mà cái chính là chăm lo phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đó mới là cái cơ bản”, ông Tùng nói.
“Phát biểu như thế là xúc phạm đến dân”
Là người duy nhất ủng hộ dự án luật trong sáng nay, ĐBQH Dương Trung Quốc (Đồng Nai) đã đứng lên trao đổi: “Diễn đàn Quốc hội là nơi để các đại biểu với tinh thần trách nhiệm và nhận thức của mình để phát biểu ý kiến nhằm trao đổi, nhằm thuyết phục hướng tới sự đồng thuận trong những quyết định chung”.
ĐB Dương Trung Quốc
Theo ông, ở Quốc hội, đã đề cập đến vấn đề gì cần nghiên cứu đến nơi đến chốn, trường hợp đưa ra những bằng chứng lịch sử dở dang, ngộ nhận là hết sức nguy hiểm.
Ông Quốc dẫn lại nhiều cứ liệu lịch sử chứng minh nội hàm của “quyền biểu tình” đã được xác lập từ trong lịch sử và cũng nhiều lần được Hồ Chí Minh nhắc đến.
“Chúng ta tự hào trong lịch sử cách mạng Việt Nam, cuộc biểu tình ngày 1/5/1938, hạt nhân lãnh đạo là những người cộng sản tập hợp lực lượng quần chúng đấu tranh đòi tự do, cơm áo hòa bình và ủng hộ Chính phủ Mặt trận nhân dân. Như thế biểu tình có từ nguồn gốc xa xưa, nhận thức nó như thế nào ở góc độ của một nhà nước, của người cầm quyền”, ông Quốc nói.
Theo ông, ngay trong bản Sắc lệnh 31 ban hành 11 ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập đã viết rằng “công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài”.
Hiến pháp năm 1946 không có chữ “biểu tình”. Nhưng trong Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành trước đó đã giải thích: “Xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ dân chủ cộng hòa, nhưng trong tình thế đặc biệt hiện thời cần phải xem xét kiểm soát những cuộc biểu tình để tránh những sự bất trắc có thể ảnh hưởng đáng tiếc đến việc nội trị hay ngoại giao”.
Ông Quốc khẳng định, phải nhìn biểu tình cả hai cách, đó là một quyền cơ bản của người dân, đồng thời đó là một công cụ hành pháp, công cụ lập pháp để mà thực thi quyền hành pháp. Nhìn một mặt thì chỉ thấy sự hỗn loạn.
Hiến pháp năm 1959 khi bàn về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã đề cập đến quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình và thuật ngữ “biểu tình” đã trở thành một chính văn của luật cơ bản.
Theo ông Quốc, những cuộc biểu tình phát huy cả hai mặt. “Đứng từ lợi ích chính trị của một thể chế, chúng ta thấy cuộc biểu tình chống chính quyền Sài Gòn của phong trào, đặc biệt ở đô thị đã tác động tích cực vào quá trình của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chúng ta thấy những cuộc biểu tình ở miền Bắc là ủng hộ các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước”, ông Quốc phân tích.
Bằng chứng rõ ràng nhất là những năm 1980, khi các hiện tượng diễn ra ở nông thôn Thái Bình, theo cách nhìn của đại biểu Phước là bạo loạn, phải dẹp bỏ thì các nhà lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã trực tiếp đi vào tận tâm bão tìm hiểu để thấy hai mặt của vấn đề rồi từ đó kịp thời điều chỉnh.
Ông Quốc giải thích, việc bày tỏ thái độ của người dân là cần thiết, nó có nhiều diễn đạt khác nhau, nhiều hình thức khác nhau, việc tụ tập đông người mà thực chất là biểu tình là nói đúng tên của nó.
“Chính bởi vì không có luật nên mới dẫn đến tình trạng hỗn loạn. Tôi không tán thành các đại biểu Quốc hội cứ nhân danh nhân dân. Tại diễn đàn Quốc hội chúng ta hãy nhân danh cá nhân mình thôi, trừ khi chúng ta có sự ủy nhiệm, hoặc có điều tra định lượng để nói rằng người dân phản đối, người dân băn khoăn trước định lượng đó, nó dẫn đến tiêu cực xã hội. Nhưng người ta rất mong muốn rằng những tình cảm, cách thể hiện đó đúng lúc, đúng chỗ, nói cách khác là có luật”, ông Quốc nói.
Theo ông, Luật biểu tình là một công cụ để điều chỉnh, bảo đảm những yếu tố tích cực và quyền của người dân.
“Không phải tự nhiên mà Thủ tướng cũng đã rất chủ động đề cập đến việc đề nghị đưa vào chương trình luật pháp của chúng ta về biểu tình. Tôi nghĩ Quốc hội hết sức thận trọng. Phát biểu như thế là xúc phạm đến chính người dân. Chính vì thế càng thấy chúng ta cần phải có Luật biểu tình càng sớm càng tốt. Đây là luật rất nhạy cảm, khó khăn, phải có lộ trình thận trọng, nhưng không vì thế mà phủ nhận để biến chúng ta thành một ốc đảo dị thường”, ông Quốc kết luận.

Lê Nhung  – Ảnh: Bình Minh

——–
Dưới đây là toàn văn lời phát biểu của hai đại biểu Hoàng Hữu Phước và Dương Trung Quốc

Hoàng Hữu Phước – TP Hồ Chí Minh

Kính thưa Quốc hội.
Tôi kính đề nghị Quốc hội loại bỏ Luật lập hội và Luật biểu tình khỏi danh sách dự án luật suốt nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII này vì những lý do như sau:
Thứ nhất, về Luật lập hội, ở Việt Nam Mặt trận Tổ quốc được thành lập năm 1977 trên cơ sở thống nhất ba tổ chức: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam – Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ, hòa bình Việt Nam.
Hiện nay Mặt trận Tổ quốc có 44 tổ chức thành viên, nếu xếp theo các loại hình tổ chức như đoàn thể chính trị, tôn giáo, từ thiện, xã hội và nghề nghiệp thì có đến 22 hội đoàn trong nhóm nghề nghiệp: từ Hội luật gia, Hội nhà báo đến Hiệp hội sản xuất kinh doanh của người tàn tật, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập v.v… Nếu như vẫn còn thiếu các hội nghề nghiệp khác mới xuất hiện do sự phát triển của xã hội thì có thể thành lập mới cùng trong quy mô rộng khắp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Nếu Luật lập hội là để tạo nên các đối thủ bên ngoài hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vô hiệu hóa, tiến đến xóa sổ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vậy Luật lập hội có cần không?
Nếu Luật lập hội là để tạo nên các hội mới nằm bên trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như 44 thành viên hiện hữu để làm phong phú hơn tổ chức hùng mạnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vậy Luật lập hội có cần không?
Thứ hai, về Luật biểu tình. Kể từ khi có cuộc biểu tình đầu tiên trong lịch sử loài người năm 1913 do Gandhi tổ chức nhằm phản đối Chính phủ Vương quốc Đại Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan áp bức nhân dân Ấn Độ . Mãi cho đến những năm 60 của thế kỷ trước từ ngữ “biểu tình” mới xuất hiện ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ bắt đầu từ việc chống lại Chính phủ Kennedy đã đẩy mạnh cuộc chiến tranh Việt Nam, rồi phát triển mạnh mẽ thành các cuộc biểu tình chống Chính phủ Mỹ liên tục từ năm 1960 đến 1975, thậm chí tiếp tục ngay cả sau khi Hoa Kỳ thất bại tháo chạy khỏi Việt Nam, biểu tình chống Chính phủ Mỹ đã từ Mỹ lan ra toàn thế giới. Điều nhất thiết phải khẳng định ở đây là ngay từ khởi thủy và cho tới tận ngày nay biểu tình là để chống lại Chính phủ nước mình hoặc chống lại một chủ trương của Chính phủ nước mình, khi 1 triệu người dân Mỹ đổ về Thủ đô Washington tháng 9 năm 2009 họ chống lại Tổng thống Obama, gọi ông là kẻ có dã tâm, biến Hoa Kỳ thành quốc gia xã hội chủ nghĩa, bày ra kế sách bảo hiểm y tế vì người nghèo, biểu tình chưa là hình thức bày tỏ chính kiến chống lại một nước khác ngay cả khi nước đó đang xâm lược nước mình. Cuộc tập hợp khổng lồ tại quảng trường đỏ là để bao quân đoàn Liên Xô tiến thẳng ra chiến trường chiến đấu chống Đức quốc xã và chống bọn nha gian. Để phản đối sự xâm lược của nước khác tiến hành chống lại nước mình chỉ có gia nhập quân đội, dồn tài sản cá nhân cho Bộ Quốc phòng mới là hành động duy nhất, cần thiết. Điều cần làm rõ ở đây là trong tiếng Anh biểu tình, tức là Demonstration luôn để chống Chính phủ nước mình hay một chủ trương của Chính phủ nước mình, còn tập hợp đông người để bày tỏ sự ủng hộ nước mình hay ủng hộ một chủ trương của Chính phủ nước mình, gián tiếp biểu thị sự không đồng tình đối với Chính phủ nước khác thì đó là đức tin hoặc cuộc tuần hành biểu dương lực lượng.
Như vậy, Việt Nam có cần cho cuộc biểu tình chống Chính phủ Việt Nam hay không, chống các chủ trương, chính sách, đạo luật của Chính phủ Việt Nam hay không. Nếu không cần tại sao lại đưa dự án Luật biểu tình, nói rồi nói mãi như thể nó là khuôn vàng, thước ngọc để đo chiều cao, chiều rộng, chiều dài, chiều sâu của cái gọi là tự do dân chủ. Như vậy, cái Việt Nam cần có thể là những quy định về đức tin, về tuần hành đông người. Nhưng liệu Quốc hội có nên dành ra 2 năm và bao tiền của của nhân dân để soạn ra dự án Luật đức tin hay Luật tuần hành hay không. Khi đi ngang qua vài cuộc tập hợp đông người gần đây Thành phố Hồ Chí Minh chống đường lưỡi bò tôi đã nghe những người bị kẹt xe lớn tiếng nguyền rủa, thóa mạ, văng tục đầy đe dọa những người đang tập hợp mà ta gọi là biểu tình ấy. Sự giận dữ này có thể sẽ biến thành gây hấn, bạo loạn, đánh nhau giữa vài nhóm người biểu tình và chống biểu tình, chưa kể những cuộc tập hợp đông người ngoài trời ấy có xâm hại quyền tự do đi lại của người dân, xâm hại quyền tự do mưu cầu hạnh phúc của người dân, buôn gánh bán bưng, đoan chính, tự trọng kiếm từng đồng tiền nhỏ chứ quyết tâm không làm hành khất, xâm hại thu nhập chính đáng của những cửa hàng hoạt động kinh doanh hợp pháp tại khu vực bị phong tỏa do biểu tình, xâm hại quyền được chăm sóc của công dân khi đau ốm hay khi chuyển dạ sinh con mà xe cứu thương không để đến được hay xâm hại hạnh phúc của công dân khi xe hoa của họ không thể nhúc nhích được trên đường vì tắc đường.
Liệu cái gọi là quyền biểu tình ấy có lớn hơn quyền được kiếm sống của người dân, quyền được ra đời của con cái của người dân, quyền được sử dụng công lộ của người dân, quyền được mưu cầu hạnh phúc của người dân. Câu hỏi được đặt ra ở đây là dự án Luật biểu tình đã tham vấn ý kiến, nguyện vọng của cử tri, công dân là người cao tuổi, cựu kháng chiến, cựu chiến binh, anh hùng các lực lượng vũ trang, anh hùng lao động, tập thể nông dân, tập thể quân đội, công an, những chiến sỹ biên phòng đang trấn giữ biên cương của tổ quốc và hải đảo quốc gia, những nhà tu hành chân chính hay chỉ vì một nhóm nhỏ vài chục, vài trăm sinh viên, học sinh, những người chưa là những công dân có thu nhập, có việc làm. Đa số công dân sẽ không ủng hộ Luật biểu tình vì bản chất dễ bị tổn thương và dễ bị lợi dụng gây ra biến loạn.
Có ý nói rằng ở nước ngoài người ta biểu tình đàng hoàng nên ở Việt Nam cũng sẽ làm được. Ở Việt Nam hiện nay đã 100% đội mũ bảo hiểm khi đi bằng xe máy chưa, có chấm dứt chen lấn ở nơi công cộng chưa, có tham gia giao thông đúng luật chưa. Đó là chưa kể ở đất nước có nền văn học hoàng kim, mặt trời không bao giờ lặn trên cương thổ vương quốc Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan, cuộc biểu tình tháng 8 vừa qua tại Luân Đôn và lan ra một số thành phố lớn khác đã biến thành bạo loạn, cướp bóc, đốt nhà, làm ô danh đất nước. Cuộc biểu tình chiếm phố Wall suốt 2 tháng nay tại NewYork và hơn 20 thành phố lớn ở Mỹ vừa bị cảnh sát ra tay dẹp do tình trạng bẩn thỉu, mất vệ sinh, ẩu đả, trộm cắp và hiếp dâm xảy ra tại các nơi biểu tình làm ô danh nước Mỹ. Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể đài thọ cho một sự ô danh. Đây là ý kiến của tôi mong được sự ủng hộ của Quốc hội. Xin cảm ơn.
————-

Dương Trung Quốc – Đồng Nai

Kính thưa Quốc hội,
Tôi nhận thức diễn đàn Quốc hội là nơi để các đại biểu với tinh thần trách nhiệm và nhận thức của mình để phát biểu ý kiến nhằm trao đổi, nhằm thuyết phục hướng tới sự đồng thuận trong những quyết định chung của Quốc hội. Vì thế, tôi muốn trao đổi ý kiến của một số đại biểu cho rằng Luật Biểu tình là chưa cần thiết.
Ở Quốc hội, đã đề cập đến vấn đề gì cần nghiên cứu đến nơi đến chốn, đưa ra những bằng chứng lịch sử dở dang, ngộ nhận hết sức nguy hiểm. Biểu tình đâu chỉ bắt đầu có từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chúng ta đang được hưởng ngày Quốc tế lao động là thành quả của cuộc đấu tranh của những người lao động ở Chicago từ những thế kỷ trước. Chúng ta tự hào trong lịch sử cách mạng Việt Nam, cuộc biểu tình ngày 1/5/1958, hạt nhân lãnh đạo là những người Cộng sản tập hợp lực lượng quần chúng đấu tranh đòi tự do, cơm áo hòa bình và ủng hộ Chính phủ Mặt trận nhân dân. Như thế biểu tình có từ nguồn gốc xa xưa, nhận thức nó như thế nào ở góc độ của một Nhà nước, của người cầm quyền. Tôi thấy cần nhắc lại bản Sắc lệnh 31 ban hành 11 ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích trong bản Sắc lệnh nội hàm của chữ “biểu tình” để chúng ta thấy được phải nhận thức nó từ hai chiều. Văn bản này viết rằng “công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài”, đúng là trong Hiến pháp năm 1946 không có chữ “biểu tình”. Nhưng trong Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành trước đó đã giải thích: “xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ dân chủ cộng hòa, nhưng trong tình thế đặc biệt hiện thời cần phải xem xét kiểm soát những cuộc biểu tình để tránh những sự bất trắc có thể ảnh hưởng đáng tiếc đến việc nội trị hay ngoại giao nên ra Sắc lệnh này”, tức là Sắc lệnh về biểu tình.
Như thế ta phải nhìn biểu tình cả hai cách của nó, đó là một quyền cơ bản của người dân, đồng thời đó là một công cụ hành pháp, công cụ lập pháp pháp luật để mà thực thi quyền hành pháp. Nếu không chúng ta chỉ nhìn một mặt thì chúng ta chỉ nhìn thấy mặt hỗn loạn của nó thôi. Chúng ta biết rằng cho đến bản Hiến pháp năm 1959 thì chữ “biểu tình” đã được đưa vào trong chính văn, ở Chương III của Hiến pháp năm 1959 khi bàn về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều 25 khi đề cập đến quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình thì thuật ngữ “biểu tình” đã trở thành một chính văn của luật cơ bản. Như thế nó không phải vì xa lạ cả, chúng ta thấy tất cả trong thực tiễn lịch sử những cuộc biểu tình ấy có thể phát huy cả hai mặt, đứng từ lợi ích chính trị của một thể chế chúng ta thấy cuộc biểu tình chống chính quyền Sài Gòn của phong trào, đặc biệt ở đô thị đã tác động tích cực vào quá trình của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chúng ta thấy những cuộc biểu tình ở miền Bắc là ủng hộ các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước. Còn chữ “mít tinh” cũng chỉ là biến dạng của ngôn ngữ. Nếu chúng ta nhìn vào hiện tượng ngay gần đây gắn liền với thời kỳ đổi mới khi những hiện tượng diễn ra ở tỉnh Thái Bình nơi từng có truyền thống của tiếng trống Tiền Hải. Nếu quan niệm đơn giản như chúng ta, như đại biểu Phước ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có cách dẹp bỏ nhưng chính lúc đó các nhà lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã trực tiếp đi vào tận tâm bão tìm hiểu thì thấy hai mặt của vấn đề có những yếu tố kích động nhưng cũng có những yếu tố thực tế, có vấn đề trong bộ máy lãnh đạo cầm quyền, vì vậy dẫn đến điều chỉnh một cách thích hợp.
Bây giờ chúng ta đang chứng kiến những sự kiện trong quá trình hội nhập thế giới, việc biểu tỏ thái độ của người dân là cần thiết, nó có nhiều diễn đạt khác nhau, nhiều hình thức khác nhau, việc tụ tập đông người mà thực chất là biểu tình, ta nói đúng tên của nó. Chính bởi vì không có luật nên mới dẫn đến tình trạng hỗn loạn. Tôi không tán thành các đại biểu Quốc hội cứ nhân danh nhân dân. Tại diễn đàn Quốc hội chúng ta hãy nhân danh cá nhân mình thôi, trừ khi chúng ta có sự ủy nhiệm, hoặc có điều tra định lượng để nói rằng người dân phản đối, người dân băn khoăn trước định lượng đó, nó dẫn đến tiêu cực xã hội. Nhưng người ta rất mong muốn rằng những tình cảm, cách thể hiện đó đúng lúc, đúng chỗ, nói cách khác là có luật. Luật biểu tình là một công cụ để chúng ta điều chỉnh, chúng ta bảo đảm những yếu tố tích cực của nó và chúng ta bảo đảm quyền của người dân, thóa mạ những người biểu tình như thế chúng ta đi ngược lại những tuyên bố chính thức của nhà nước, đó là những người yêu nước, cách biểu thị của họ không thích hợp trong hoàn cảnh này vì chúng ta chưa có luật. Không phải tự nhiên mà Thủ tướng Chính phủ cũng đã rất chủ động đề cập đến việc đề nghị đưa vào chương trình luật pháp của chúng ta về biểu tình. Tôi nghĩ Quốc hội chúng ta hết sức thận trọng. Phát biểu như thế là xúc phạm đến chính người dân. Chính vì thế càng thấy chúng ta cần phải có Luật biểu tình càng sớm càng tốt. Đương nhiên đây là luật rất nhạy cảm, khó khăn, chúng ta phải có lộ trình thích hợp, thận trọng, nhưng không vì thế mà phủ nhận để biến chúng ta thành một ốc đảo dị thường trong thế giới hiện nay. Xin cảm ơn Quốc hội.


MỸ CHUYỂN TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC SANG CHÂU Á VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI PHÓ CỦA TRUNG QUỐC

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ Năm, ngày 17/11/2011

MỸ CHUYỂN TRỌNG TÂM CHIẾN LƯỢC SANG CHÂU Á

VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI PHÓ CỦA TRUNG QUỐC

TTXVN (Bắc Kinh 11/11)
Ngày 4/11, trang “China.com” đăng bài viết “Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á và chính sách đối phó của Trung Quốc” của tác giả Trương Tử Đồng, nội dung như sau:
Từ mùa Hè năm 2010, Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton đã công khai tuyên bố Mỹ sẽ quay trở lại châu Á nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia của mình tại khu vực này. Về chiến lược quân sự, Mỹ bắt đầu chuyển dịch từng bước 2/3 binh lực và trang bị vũ khí đến các khu vực yếu điểm địa chiến lược tại châu Á, trong đó lấy Haoai và đảo Guam làm trung tâm. Về chính trị, ngoại giao, kinh tế và thương mại, Mỹ cũng phối hợp toàn diện, chặt chẽ các lĩnh vực này nhằm thực hiện kế hoạch chiến lược toàn cầu mới của mình.
Mục tiêu duy nhất khiến Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược toàn cầu sang châu Á là muốn bao vây, kiềm chế, thậm chí làm Trung Quốc sụp đổ. Hơn một năm trở lại đây, toàn thế giới đều rõ, Mỹ hầu như liên tục tìm kiếm liên minh quân sự tại châu Á, trước cửa ngõ duyên hải phía Đông Nam của Trung Quốc, Mỹ nhiều lần tổ chức diễn tập quân sự trên biển, bất chấp những hiệp định, thông cáo đã đạt được giữa lãnh đạo cấp cao hai nước trên vấn đề biển, Mỹ không chỉ tiếp tục bán vũ khí tiên tiến cho hòn đảo này, mà còn ngày càng táo tợn hơn, bán vũ khí mang tính tấn công huỷ diệt cho hòn đảo này, nhiều lần thêu dệt và thổi phồng thuyết về mối đe doạ từ Trung Quốc.
Về chính trị ngoại giao, Mỹ âm thầm ủng hộ Việt Nam, Philippin, Malaixia, Brunây chiếm đoạt lãnh thổ Nam Hải (Biển Đông) của Trung Quốc; ủng hộ Nhật Bản cưỡng chiếm quần đảo Điều Ngư vốn thuộc Trung Quốc; khuyến khích Hàn Quốc tiếp tục chiếm đóng các đảo của Trung Quốc; ra sức ủng hộ lập trường của Ấn Độ trương cuộc tranh chấp biên giới Trung-Ấn; âm thầm kích động thế lực Đài Loan, Tân Cương, Tây Tạng tiến tới độc lập. Về kinh tế, không ngừng gây sức ép đòi tăng giá đồng NDT.
Theo tình hình quốc tế hiện nay, Trung Quốc là quốc gia duy nhất có đủ tiềm lực thách thức địa vị bá quyền của Mỹ, Trung Quốc đang trỗi dậy, trong con mắt của Mỹ, cho dù là phương thức trỗi dậy hoà bình, đồng thời bảo đảm không đe doạ địa vị bá quyền của Mỹ, song Mỹ vẫn không từ bảo chính sách bao vây, kiềm chế Trung Quốc.
Chiến lược toàn cầu mới của Mỹ đã làm dấy lên các cuộc tranh luận quyết liệt trong nội bộ lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc. Phái cấp tiến chủ trương áp dụng các biện pháp cứng rắn đối đầu với Mỹ và đồng minh của Mỹ, như cắt giảm, ngừng hoặc bán tháo trái phiếu Chính phủ Mỹ; Mỹ tiếp tục bán vũ khí tiên tiến cho Đài Loan, tại sao Trung Quốc không trả đũa như bán vũ khí tiên tiến cho Bắc Triều Tiên, Iran, Mianma, thậm chí cả các nước Trung Đông nhằm chống lại Ixraen, đồng minh thân cận của Mỹ; cắt đứt giao lưu quân sự Trung Quốc-Mỹ; dùng vũ lực giải quyết tranh chấp lãnh thổ Trung Quốc-Việt Nam, Trung Quốc-Philippin, Trung Quốc-Nhật Bản, Trung Quốc-Ấn Độ. Trong khi đó, phải ôn hoà lại chủ trương kiên trì tiếp tục đối thoại với Mỹ, chờ đợi tình thế có lợi mới hành động, tuyệt đối không nói đến chiến tranh. Cho đến hiện nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục mua trái phiếu Chính phủ Mỹ, đồng NDT vẫn tăng giá chậm, giao lưu quân sự Trung-Mỹ vẫn được tiến hành đúng hạn, tranh chấp Trung Quốc-Việt Nam, Trung Quốc-Philippin vẫn chỉ là đàm phán trên bàn giấy, khẩu chiến là chính. Phái ôn hoà hiện nay đang chiếm thế thượng phong ở Trung Quốc, nhưng khả năng phái này duy trì trong bao lâu, khó có thể dự đoán. Nhân dân Trung Quốc, nhất là cư dân mạng thời gian gần đây có tinh thần yêu nước lên cao, lòng đầy căm phẫn. Ý kiến ủng hộ chủ trương dùng vũ lực trừng phạt Việt Nam, Philippin ngày càng nhiều. Lòng kiên nhẫn là có hạn, hy vọng các nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc chú ý đến tâm nguyện của dân chúng.
Đi sâu quan sát, không khó phát hiện ra rằng ngoài việc tăng thêm binh lực và thiết bị vũ khí tại châu Á, chiến lược toàn cầu mới của Mỹ vẫn chỉ là “bình mới rượu cũ” mà thôi. Mỹ tự cho rằng sau khi từng bước kết thúc chiến tranh tại Irắc và Ápganixtan, sẽ có thể rảnh tay dốc toàn lực đối phó với Trung Quốc. Tuy nhiên, Mỹ không thể rút ra khỏi Trung Đông vì khu vực này từ xưa đến nay là vùng đất tranh chấp của các cường quốc muốn xưng bá trên thế giới. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Kissinger từng nói, ai khống chế được Trung Đông, khống chế được dầu mỏ thế giới sẽ có quyền khống chế thế giới. Hiện nay, Mỹ vẫn là một siêu cường duy nhất trên thế giới, Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh tại Irắc và Ápganixtan trong hơn 10 năm qua, tiêu hao hàng nghìn tỉ USD, binh sĩ thương vong lên đến hơn 50.000 người, làm sao Mỹ có thể cam tâm nhường lợi ích cho người khác. Người Mỹ càng không muốn thấy một đồng mình Ixraen bị cô lập và bao vây tại Trung Đông, cũng không muốn thấy một Trung Quốc tung hoành làm ăn trên đất châu Phi và thế lực Trung Quốc vươn tới khu vực sân sau của Mỹ. Theo tác giả, Mỹ không thể dịch chuyển 2/3 binh lực và vũ khí đến khu vực châu Á. Đây rất có thể chỉ là đòn tâm lý chiến của Mỹ, là nước cờ hư hư thực thực của Mỹ mà thôi. Phân tích từ một góc độ khác, cho dù có chuyển 2/3 binh lực và vũ khí đến châu Á, liệu Mỹ có thể thật sự uy hiếp Trung Quốc? Lính lục quân đang tại ngũ của Mỹ thiếu rất nhiều, không thể trực tiếp điều ra chiến trường, vì vậy chỉ có thể tăng cường điều động tàu sân bay và tàu ngầm hạt nhân, đồn trú lâu dài tại các căn cứ quân sự bên ngoài của Mỹ ở châu Á. Trung Quốc đã sớm quen với việc Mỹ sử dụng tàu sân bay và tàu ngầm hạt nhân để diễu võ giương oai trước mặt Trung Quốc. Tuy thế, trong thời gian trước mắt cũng khiến Trung Quốc không dám sử dụng vũ lực trừng phạt Việt Nam và Philippin, hoặc phát động chiến tranh Trung-Nhật. Nhưng về lâu dài, hiệu ứng uy hiếp của Mỹ sẽ bị Trung Quốc hoá giải. Trong vòng 10 năm tới, máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ 5 J-20, tên lửa Đông Phong 21-D chuyên tấn công tàu sân bay, tàu ngầm hạt nhân “096” của Trung Quốc có thể được biên chế vào quân đội, như vậy có đủ khả năng để đối kháng với quân đội Mỹ đồn trú tại châu Á.
Bên cạnh chiến lược toàn cầu mới, Mỹ còn thực hiện các chính sách khác nhằm vào Trung Quốc, như kích động thế lực Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương độc lập, tiếp tục bán vũ khí tiên tiến cho Đài Loan, thổi phồng thuyết về mối đe doạ từ Trung Quốc, gây sức ép tăng giá đồng NDT, liên kết với Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia và một số quốc gia Đông Nam Á, bao vây toàn diện Trung Quốc. Trong tranh chấp lãnh thổ Trung-Ấn, Trung-Nhật, Mỹ ra sức ủng hộ Ấn Độ và Nhật Bản trên mọi phương diện. Mỹ cũng đứng sau hậu trường, giật dây Việt Nam và Philippin tiến ra tuyến đầu, giành giật lãnh thổ Nam Hải cùng Trung Quốc, khiến Trung Quốc gặp khó khăn trong đối phó, thậm chí cảm thấy mệt mỏi. Trước sự quan tâm cao độ của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc đã thể hiện thành ý hoà bình, kiên trì tổ chức nhiều cuộc đàm phán ngoại giao với Việt Nam và Philippin, mời nguyên thủ hai nước đến Bắc Kinh và cùng ký các hiệp định liên quan. Nhưng ngay sau đó, hai nước này lại lần lượt ký với Nhật Bản, Ấn Độ hiệp định hợp tác cùng khai thác tài nguyên tại Nam Hải, làm Trung Quốc mất thể diện, Thậm chí Philippin còn trắng trợn vô cớ bắt giữ tàu thuyền Trung Quốc, động thái này rõ ràng được Mỹ đứng đằng sau bảo lãnh. Một loạt hành động qua mặt này, khiến cho phái cứng rắn tại Trung Quốc (chủ yếu là giới quân đội) có căn cứ để dùng vũ lực giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại Nam Hải.
Để đối phó với tình hình trên, Chính phủ Trung Quốc cũng đã dùng tâm lý chiến, tạo ra các tình hình chuẩn bị chiến tranh, lần lượt tập kết các lực lượng quan trọng tại biên giới Trung-Việt, tăng chi viện máy bay chiến đấu xuống phía Nam, nâng cao thực lực cho Hạm đội Nam Hải, đồng thời thường xuyên tổ chức các loại hình diễn tập quân sự. Tuy nhiên, các biện pháp này cũng không có mấy hiệu quả răn đe. Dễ dàng nhận thấy, Việt Nam và Philippin đã được bên thứ ba là Mỹ ủng hộ. Họ cũng biết rõ rằng điều kiện để giành thắng lợi trong chiến tranh với Trung Quốc tại Nam Hải vẫn chưa vững chắc. Hiện nay, Trung Quốc chưa giành được quyền khống chế Nam Hải, máy bay chiến đấu tiên tiến nhất của Trung Quốc vẫn chưa thể dễ dàng tác chiến đường dài tại Nam Hải. Một khi Trung Quốc có tổ hợp tàu sân bay, tình hình sẽ lập tức thay đổi, phần lợi thế sẽ nghiêng về Trung Quốc. Đến khi đó Mỹ cũng không dám liều lĩnh can dự. Nhưng tổ hợp tàu sân bay của Trung Quốc cũng cần ít nhất từ 5-7 năm nữa mói có thể đưa vào sử dụng. Dưới sự bảo hộ của Mỹ, các nước nhỏ trong khu vực như Việt Nam, Philippin cố gắng nhanh chóng khai thác tài nguyên dầu mỏ tại các vùng biển chiếm đóng ở Nam Hải, tạo sự thật quốc tế nhằm lôi kéo thêm các nước khác duy trì sự ủng hộ lâu dìa đối với chủ quyền của họ tại đây. Các nước nhỏ như Việt Nam và Philippin biết rằng Trung Quốc không dám tuỳ tiện phát động chiến tranh tại Nam Hải, lo ngại sẽ làm cản trở tiến trình phát triển bền vững của khu vực mậu dịch Trung Quốc-ASEAN. Đây cũng là khu vực mà Trung Quốc hy vọng sẽ giúp mình giảm thiểu sự phụ thuộc xuất khẩu vào thị trường Mỹ, và đẩy nhanh tốc độ quốc tế hoá của đồng NDT.
Theo đánh giá ở trên, đối mặt với một Việt Nam và Philippin hung hăng, ngoài giải quyết bằng biện pháp vũ lực, Trung Quốc dường như không còn con đường nào khác. Có lẽ Trung Quốc đang tìm mọi cách thông qua các kênh đào khác nhau để thăm dò thái độ của Mỹ. Hiện tại, vấn đề Nam Hải chỉ có hai nước Trung Quốc và Mỹ mới có thể giải quyết. Nếu Mỹ can dự vào chiến tranh Nam Hải, Mỹ sẽ giành ưu thế trước Trung Quốc. Tuy nhiên, tính toán của Mỹ không phải là thắng hay thua, mà là sau khi Mỹ giành chiến thắng, châu Á sẽ xuất hiện một cục diện hoàn toàn mới, Mỹ có thể kiểm soát tuyệt đối cục diện này hay không? Lợi ích thu được là bao nhiêu? Nếu Trung Quốc thất bại trong cuộc chiến tại Nam Hải, có thể sẽ gây nên tình trạng chính quyền bất ổn, xã hội biến động bất an; đồng thời có thể hình thành một quốc gia có tinh thần dân tộc lên cao kiên quyết chống lại Mỹ. Trong khi đó, hiện nay Mỹ cũng đang muốn một Trung Quốc ổn định, có thể nhập khẩu lâu dài hàng hoá của Mỹ, giúp Mỹ nhanh chóng phục hồi kinh tế.
Hiện tại, hầu như các vấn đề hóc búa của Trung Quốc đề có bàn tay của Mỹ trực tiếp hoặc gián tiếp, gây ra. Đối thủ giải quyết vấn đề thu hồi Đài Loan không phải là Mã Anh Cửu, mà là Mỹ. Giải quyết tranh chấp lãnh thổ Trung-Nhật, Trung-Ấn, Trung-Hàn và vấn đề Nam Hải cũng là Mỹ. Giải quyết vấn đề Tây Tạng, Tân Cương cũng dính dáng đến Mỹ. Thời đỉnh cao sức mạnh của Mỹ, cơ hội đối thoại ngang hàng của Trung Quốc với Mỹ rất là khó khăn. Hiện nay, tài chính Mỹ kiệt quệ, thế lực bá quyền không còn, Mỹ như mãnh hổ mất vuốt, tinh lực suy giảm, chính là thời điểm tốt nhất để Trung Quốc đàm phán trao đổi với Mỹ, hai nước không nhất thiết phải chĩa súng vào nhau, một mất một còn. Nhân dân Mỹ chán ghét chiến tranh, hà cớ gì Mỹ không thuận theo dân tình, thực hiện trao đổi cùng có lợi với Trung Quốc. Trung Quốc có nguồn dự trữ ngoại tệ hơn 3.000 tỷ USD, một thị trường trong nước to lớn và nguồn nhân công giá rẻ, đây là một nguồn lợi to lớn mà Mỹ có thể thấy. Vấn đề là Trung Quốc làm thế nào có thể khiến Mỹ không thể cự tuyệt quan điểm trao đổi với Trung Quốc.
Thực sự, Trung Quốc có thể đạp tan chiến lược toàn cầu mới của Mỹ trên nhiều phương diện. Tác giả cho rằng, chiến lược phản kích của Trung Quốc có thể phân thành ngắn hạn và dài hạn, đồng thời cùng tiến hành song song. Chiến lược phản kích dài hạn gồm: (1) Về vũ khí hạt nhân, Trung Quốc tiếp tục nghiên cứu nâng cấp và triển khai các loại tên lửa xuyên lục địa DF 31-A. Về số lượng cần đạt tới con số hàng trăm đầu đạn tên lửa hạt nhân, với hành trình có thể bắn tới bất cứ mục tiêu nào trên toàn cầu. Tiếp tục chế tạo tàu ngầm hạt nhân “mẫu 096” với số lượng trên 10 chiếc, trong đó trang bị tên lửa Cự Lang-2 hoặc các loại tên lửa xuyên lục địa tiên tiến; (2) Đẩy nhanh việc phát triển các loại vũ khí không gian, tương lai của thế giới là vũ trụ. Mặc dù, Trung Quốc có xuất phát điểm thấp và muộn, nhưng không chỉ có thể đuổi kịp Mỹ và còn có thể vượt Mỹ trong thời gian tới. Trung Quốc có nguồn tài lực và nhân tài khoa học kỹ thuật dồi dào, nên sẽ chiếm ưu thế lâu dai về lĩnh vực này.
Chiến lược phản kích ngắn hạn của Trung Quốc, bao gồm: (1) Nhanh chóng biên chế máy bay chiến đấu J-20, tên lửa đạn đạo chống hạm DF 21-D và từ 2-3 nhóm tác chiến tàu sân bay vào lực lượng quân đội. Nhiệm vụ trước mắt là tránh xảy ra chiến tranh với Mỹ tại Nam Hải; (2) Đẩy nhanh quốc tế hoá đồng NDT. Theo kế hoạch đề ra của Trung Quốc, điều chỉnh giá trị đồng NDT. Sử dụng hiệu quả nguồn dự trữ ngoại tệ làm vũ khí phản kích chiến lược; (3) Bắt tay với Iran, Nga, bổ sung những điểm yếu chiến lược của Mỹ, khiến Mỹ ăn ngủ không yên. Tiếp tục xâm nhập sâu vào thị trường châu Phi, đồng thời tiến quân vào khu vực Bắc, Trung và Nam Mỹ, lấy tăng cường quan hệ kinh tế đặc biệt với Braxin, Áchentina, Pêru, Cuba, Vênêxuêla và Chilê để thúc đẩy hơn nữa việc xây dựng quan hệ quân sự với các nước này. Ly gián quan hệ Mỹ-Canada, Mỹ-Mêhicô, khiến Mỹ luôn cảm thấy có mối đe doạ tại các khu vực sân sau của mình. Lấy kinh tế làm mồi nhử, ly gián quan hệ Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn, Mỹ-Ôxtrâylia, Mỹ-EU. Đồng tiền là vạn năng, đối với cá nhân hay quốc gia, đều có hiệu năng như nhau. Với chính sách ngắn và dài hạn như vậy, chiến lược toàn cầu mới của Mỹ mà mục tiêu chủ yếu là nhằm bao vây, kiềm chế Trung Quốc sẽ bị phá vỡ, đẩy Mỹ vào tình thế ngày càng suy yếu và bất lợi./.