Tổng số lượt xem trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn van hoc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn van hoc. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2016

Cười té ghế hay đau thắt lòng với chữ sửa Truyện Kiều?

(ĐSPL) – Mỗi từ, mỗi câu trong Truyện Kiều là mỗi viên ngọc long lanh trong kho tàng ngôn ngữ và văn chương Việt Nam, điều đó có lẽ không cần phải bàn. Nhưng nay có lẽ phải bàn lại vì có người… chê dở, và đã sửa tới 1/3 tác phẩm!
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ Tài, chữ Mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua mỗi cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Mỗi người thứ có thứ không
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen…”
Đọc những câu thơ trên, ắt hẳn người ta sẽ nghĩ: “Sao mang máng như Truyện Kiều, mà sao hình như không phải Truyện Kiều?
   Cười té ghế hay đau thắt lòng với chữ sửa Truyện Kiều? - Ảnh 1
Ngôn từ Truyện Kiều đang bị người ta dùng bạo lực can thiệp! (Ảnh minh họa)
1/3 kiệt tác bị sửa!
Vâng, nói sao cũng đúng. Là Truyện Kiều cũng đúng, bởi cái gốc là đại thi hào Nguyễn Du viết ra. Nhưng nói không phải Truyện Kiều cũng không sai, vì nó đã được/bị ông Đỗ Minh Xuân, một kỹ sư, sửa đi rồi.
Ngay những câu đầu tiên mở đầu kiệt tác, đã bị ông Đỗ Minh Xuân chọc bút vào. Một câu ông sửa một từ (Trải qua mỗi cuộc bể dâu); còn một câu ông thay đổi hoàn toàn. Chắc chắn những người đã thuộc câu thơ lấp lánh ánh ngọc “Lạ gì bỉ sắc tư phong” của đại thi hào, nay trở thành “Mỗi người thứ có thứ không”, có lẽ không thể nào không bị… sốc phản vệ!
Chuyện cứ tưởng như đùa nhưng lại là có thật 100% ở xứ ta! Xin đừng nóng vội, “dẽ cho thưa hết một lời đã nao” (Kiều - Nguyễn Du). Đó là trong cuộc hội thảo Dòng chảy văn hóa xứ Nghệ - Từ Truyện Kiều đến phong trào Thơ mới, tổ chức vào ngày 15/12/2012 tại khu di tích Nguyễn Du (Hà Tĩnh), mỗi đại biểu tham dự được phát một cuốn sách (bản photo) có nhan đề Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng, do Đỗ Minh Xuân khảo dịch - NXB Văn hóa - Thông tin in năm 2012. 
Ông Đỗ Minh Xuân, được biết là một kỹ sư. Không rõ kỹ sư gì, nhưng thông thường danh từ này dành cho giới kỹ thuật, khoa học tự nhiên. Thế nhưng ông đã “dày công nghiên cứu, nghiền ngẫm, đối chiếu, so sánh…”, và ông đã sửa hơn 1.000 chỗ trong Truyện Kiều như thế.  Cứ cho là mỗi đơn vị sửa sẽ rơi vào 1 câu, thì với  Truyện Kiều 3.524 câu, ông Xuân đã sửa đến 1/3 kiệt tác của đại thi hào!
Thật là ngạc nhiên, chưa nói là việc này có giúp làm cho tác phẩm hay hơn hay dở hơn, thì việc sửa tác phẩm của người khác là điều xưa nay chưa bao giờ có trong giới văn chương và kể cả các lĩnh vực học thuật khác. Trước hết, bởi quyền tác giả và trí tuệ của tác giả đã bị xâm phạm.
Lý do ông Xuân đưa ra là, vì người đọc Truyện Kiều ngày nay, không còn thịnh như trước đây do rào cản về điển tích, từ Hán, từ cổ, từ địa phương…, trong khi đó chữ nghĩa của Truyện Kiều lại rườm rà, trùng lặp, không hay, thiếu logic, trái văn cảnh…, nên ông sửa lại cho phù hợp!
Cười đến… dào mạch Tương!
Nói vòng vo không bằng chỉ ra trực diện. Ngoài câu mở đầu “Lạ gì bỉ sắc tư phong” lấp lánh ánh văn chương đã bị hãm hiếp bởi câu “Mỗi người thứ có thứ không” đầy cục súc, thì hàng loạt câu, từ, điển cố điển tích… đã bị ông kỹ sư này ra tay sát hại không thương tiếc. Chiếc cầu Lam, được gọi là “Lam kiều” một cách thướt tha sang trọng trong câu “Xăm xăm đè nẻo Lam kiều lần sang”, được ông thay bằng từ “đánh liều”, thì quả thật không có sự… liều mạng nào bằng!
“Thời trân” thì sửa thành “quả ngon”, “sẵn bày” thành “xách tay”, nên câu thơ miêu tả hành động của Thúy Kiều, một người con gái khuê các với mỗi động tác đều dịu dàng thanh nhã, cao sang “Thời trân thức thức sẵn bày”, thành ra một hành động dung tục “Quả ngon thức thức xách tay”! Nghe cứ như là nàng Kiều đang ăn trộm trái cây nhà mình cho vào giỏ rồi lén lút mang sang cho tình lang Kim Trọng!
   Cười té ghế hay đau thắt lòng với chữ sửa Truyện Kiều? - Ảnh 1
Trộm nghe thơm nức hương lân,"Buồng đào nơi tạm khóa Xuân hai Kiều"! (Đỗ Minh Xuân)
Nhưng chưa! Điều đáng sợ là ông Xuân… sợ điển cố điển tích, nên cứ gặp điển cố là ông cố tình gạt ra và thay vào đó là thứ từ ngữ dung tục của ông! Cái đài Đồng Tước mà Tào Tháo xây lên để tính vui thú với 2 nàng con gái sắc nước hương trời Đại Kiều và Tiểu Kiều - vợ của Tôn Sách và Chu Du - hiện lên trong câu thơ của đại thi hào một cách nên thơ, đẹp đẽ và sang trọng:
Trộm nghe thơm nức hương lân
Một nền Đồng Tước khóa Xuân hai Kiều”
đã bị ông Xuân hô biến thành “Buồng đào nơi tạm khóa Xuân hai Kiều”, nghe cứ như là cái buồng tạm giam tội phạm hình sự!
Không thể nào nói hết cái ngô nghê, ngớ ngẩn với hành động “sát phạt điển cố” đến kỳ dị của ông kỹ sư. Trong đêm gió mát trăng thanh, lửa tình nồng nàn, chàng thư sinh Kim Trọng cũng muốn thụ hưởng cái thơm tho của xác thịt người con gái đẹp như hương như hoa. Để giữ tiết trinh, nàng Kiều đã dẫn chuyện của cặp đôi Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy trong “Tây Sương ký”. Cặp đôi này vì quá yêu nhau mà đã ăn nằm với nhau trước khi thành hôn, để rồi sau đó chán nhau, bỏ nhau, khiến người đời sau cứ tiếc mãi cho đôi trai tài gái sắc mà không thành duyên giai ngẫu:
“Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay
Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi – Trương
Mây mưa đánh đổ đá vàng
Quá chiều nên đã chán chường yến anh
Trong khi chắp cánh liền cành
Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên
Mái Tây để lạnh hương nguyền
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng…”
Ấy thế nhưng ông Xuân sẵn sàng chém ngay cái điển cố:
“Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay
Lứa đôi từng thấy những ngày trái ngang”!
Nàng Kiều thông minh tuyệt đỉnh đã lấy truyện "Tây Sương ký" để thuyết phục Kim Trọng. Như vậy Kim Trọng mới thực sự bị thuyết phục và “Thấy lời đoan chính dễ nghe / Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân”. Còn nay, khi ông Xuân cắt quách đi cái điển cố văn học này, thì có nghĩa những lời Kiều nói chỉ là lý luận suông của nàng. Thử hỏi trong đêm gió mát trăng thanh, người yêu như hoa như ngọc, rượu đã ngấm, tình đã nồng, có ông thánh nào chịu chấp nhận những lời lý lẽ suông của người yêu như vậy không?
Lệch lạc, ngớ ngẩn, sai kiến thức, quy chụp… là những thứ nhan nhản trong “bản sửa” của ông kỹ sư. Vua Thuấn đi tuần thú sông Tương và chết, hai người vợ là  Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm, và ngồi bên bờ sông khóc, rồi trầm mình tự vẫn. Từ đó “mạch Tương”, “giọt Tương” chỉ giọt nước mắt, là khóc. Thúy Kiều khóc cho thân phận mình: “Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương”. Ấy thế nhưng ông kỹ sư ngang nhiên sửa thành “trời đã sáng”: “Chưa xong điều nghĩ đã chào vừng dương”!
Than ôi, còn sự hàm hồ nào bằng!
Còn nhiều, nhiều lắm, vô kể. Thiếp Lan Đình thì gọi là “thiếp xem tình” (?), Lãm Thúy (có lý giải đây là danh từ riêng) đổi thành “kiểu dáng”; “đỉnh Giáp, non Thần” ngụ ý chuyện nam nữ mây mưa thì bị cưỡng hiếp đổi thành “tiên nữ giáng trần”, Chung (Tử) Kỳ - danh từ riêng, một người nghe đàn giỏi - được biến thành “ngưỡng vì”, lạ hoắc chẳng ăn nhập gì với nhau!...
Đọc những câu từ được ông kỹ sư sửa lại, người ta không khỏi ôm bụng mà cười! Thế nhưng, cười nhưng mà đau xót. Cười nhưng mà không thể không… dào mạch Tương, tức không thể không khóc! Không thể nào nghĩ ra được rằng, người ta có thể dám ngang nhiên mạo phạm văn chương, mạo phạm tiền nhân đến như vậy! Nhà thơ Nguyễn Quang Thân gọi hành động này là “vô đạo”, còn ông Thế Anh, trên tạp chí “Thơ” của Hội Nhà văn Việt Nam, gọi việc làm, hành động này là “vô lối”, “hỗn hào”; có người nói đây là hành động bất kính, người thì cho là hành động phản văn hóa, phản văn chương.
   Cười té ghế hay đau thắt lòng với chữ sửa Truyện Kiều? - Ảnh 1
Hiện nay Truyện Kiều có quá nhiều dị bản. Người ta cố giữ những bản Kiều cổ vì muốn tìm về đúng nguyên bản của nó.
Được cổ xúy bởi nhà nghiên cứu văn hóa lừng danh!
Cứ như vậy, đến hơn 1.000 chỗ sửa, 1/3 tác phẩm chứ không phải ít ỏi, tức gần như bất cứ chỗ nào trong Truyện Kiều, cũng bị ông kỹ sư cắt xé, bức tử!
Điều đáng nói là, việc sửa thơ này của ông kỹ sư lại nhận được cổ xúy của một bậc giáo sư lừng danh: Anh hùng lao động, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, Giáo sư Đặng Vũ Khiêu!
Người ta đã kinh ngạc với hành động của ông kỹ sư, thì lại càng kinh hãi hơn khi biết rằng, hành động này được một bậc danh tiếng, “đức cao vọng trọng” trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa khuyến khích và tán dương! Quả thật giới văn chương và học thuật không khỏi ngỡ ngàng rồi kinh sợ, khi đọc những dòng đề tựa của vị giáo sư này:
Với một tinh thần khoa học rất nghiêm túc, ông tìm lại hầu hết các bản Truyện Kiều từ trước đến nay, so sánh các dị bản, ông tìm đọc hầu hết các bài đã bình luận, phân tích tác phẩm và tác giả Truyện Kiều. Từ đó, ông đã có ý tưởng lớn là làm thế nào để phổ cập hóa Truyện Kiều cho quảng đại công chúng, ông gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ thuần Việt trong Truyện Kiều… Tôi hoan nghênh công phu nghiên cứu của ông Đỗ Minh Xuân và tin rằng cuốn sách này của ông là một đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu Truyện Kiều…”
Chính vì vậy chả trách tại sao, cứ mỗi chỗ sửa, ông Xuân tự khen là hay hơn cả chữ của Nguyễn Du, đến nỗi còn nói nếu cụ Nguyễn Tiên Điền mà sống dậy thì ắt phải thốt lên “hậu sinh khả úy”!
Quả thật đây là lối nói hàm hồ! Ngày nay, người ta dùng Truyện Kiều để bói, còn gọi “bói Kiều”. Điều này không phải do nàng Kiều linh thiêng linh ứng, mà bởi chính vì tác phẩm của đại thi hào quá súc tích, nó đã chứa đựng tất cả mọi mặt của cuộc sống, của đời người trong đó. Đồng thời, cũng có nghĩa bất cứ người dân nào cũng biết Truyện Kiều, chứ không phải như ông Xuân nói là ít người đọc.
Còn việc hiểu, thẩm thấu, phải nói Truyện Kiều là một hiện tượng đặc biệt: Ngôn ngữ Truyện Kiều là thứ ngôn ngữ văn chương bác học nhưng diễn đạt lại rất giản dị, khiến mọi người, tất cả những ai, khi đọc đều hiểu. Người học ít thì hiểu theo mức của người học ít, người học cao thì hiểu theo cách của người học cao, còn người không biết chữ cũng hiểu được, theo cách của người không biết chữ. Chẳng vì thế mà ông bà ta xưa, dù không biết đọc chữ Nôm, vẫn thuộc làu làu 3.524 câu một mạch không vấp. Thậm chí có người mê Truyện Kiều đến mức, thuộc và đọc ngược nguyên tác phẩm! Thậm chí, dân gian còn thạo Truyện Kiều đến mức còn tập Kiều, vịnh Kiều, đố Kiều... Biết bao nhiêu là hoạt động phong phú, thể hiện dân ta đâu có... dốt Kiều, như ông Xuân nói.
Sở dĩ, trong văn học Việt Nam, chúng ta có một khối lượng đồ sộ tác phẩm, bài viết, công trình nghiên cứu Truyện Kiều, cũng bởi độ uyên bác, thâm sâu của tác phẩm này, mà tất cả đều nằm trong văn chương, ngôn từ của tác phẩm. Vậy thì, khi ông Xuân làm một cái việc là "làm cho dễ hiểu", thì có còn gì là cái bản thể, cái tinh hoa của Truyện Kiều nữa!
Phải nói, ngôn ngữ trong Truyện Kiều cô đọng, súc tích, thâm sâu đến mức, cố học giả Đào Duy Anh đã phải viết một cuốn "Từ điển Truyện Kiều", giải nghĩa từng từ một theo nội dung tác phẩm. Như vậy, khi ông Xuân kỹ sư dùng bạo lực can thiệp vào Truyện Kiều thế này, thì có nghĩa công trình của ông Đào Duy Anh đành phải... vứt sọt rác?
Cách đây gần trăm năm, Phạm Quỳnh, cố học giả, nhà báo, nhà văn, đã viết: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn…”. Một thời quan điểm của học giả Phạm Quỳnh bị ta chỉ trích kịch liệt. Nhưng đến giờ, ngẫm lại câu nói của ông vẫn cứ nguyên giá trị.
Nhưng, nếu vậy thì hiện “tiếng ta” có lẽ bị lung lay bởi việc làm ngông cuồng của một ông kỹ sư! Bởi những viên ngọc long lanh trong Truyện Kiều đang bị chà đạp bằng một thứ ngôn ngữ cục súc, mà được giáo sư Vũ Khiêu cho là kết quả của một một việc làm “với một tinh thần rất khoa học và nghiêm túc”, để thực hiện một “ý tưởng lớn”! Nếu thứ sản phẩm của trí óc điên loạn này mà đem phổ biến ra, tức là thực sự Truyện Kiều đã mất! Mà, cứ tam đoạn luận theo kiểu Đề-các, thì “Truyện Kiều còn – tiếng ta còn”, nên Truyện Kiều mất thì tiếng ta… còn đâu! Rồi “tam đoạn luận” nữa: Tiếng ta mất thì nước ta… Hỡi ôi! Nghĩ đến đây thấy giật mình, không dám nghĩ tiếp nữa! Sợ quá!
ĐẶNG VỸ

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

BA NGƯỜI KHÁC – Tác giả : Tô Hoài

BA NGƯỜI KHÁC – Tác giả : Tô Hoài.- Cuộc Cách mạng long trời lở đất của ĐCSVN : CCRĐ.

VNTQ

Trích đoạn : CHƯƠNG II (b)
Nhà tù của liên đoàn uỷ đoàn phúc tra là lô cốt và trại giam ở phủ lỵ thời Pháp. Dây bìm bám rêu trùm lên lù lù tựa quả đồi xanh om, bên trong là các xà lim, các buồng giam lỗi lõm như hang hốc núi đá, dân quân các xã ngày đêm đổi phiên canh gác vòng trong và bên ngoài. Người bị bắt càng đông – cái nhà cũ không đủ chỗ chứa, phải làm thêm đẵn tre để nguyên cả gióng chôn liền thành bức tường dài rộng đến hơn hai trăm thước chia thành ngăn, mái lộ thiên chống hốc. Trông giống cái chuông trâu. Các đoàn cải cách, đoàn phúc tra, đoàn chỉnh đốn tổ chức đều có nơi giam người tương tự. Có câu hù doạ “phải ngồi chuồng trâu là toi đời”, là những trại tạm giam này.
Chiếc xe commăngca Ru° (xe commăngca đít vuông của Rumani) đít vuông xóc lồng lên. Đình bị trói chặt tay chân nằm còng queo dưới sàn xe, không thể cựa được. Thế mànn bà nchân những người ngồi trên ghế còn chặn lên cho khỏi quẫy. Ô tô chạy từ đêm đến sáng sớm, những người đi chợ huyện thấy nhấp nho trong xe hai người quần áo nâu mới, thắt lưng da to bản cầm dựng khẩu súng trường. Chỉ lạ mắt, không ai đoán được xe công việc gì đi hay về sớm thế. Sắp đến huyện, người ngồi ghế đằng trước quay lại:
- Chốc nữa đến nơi, gọi một tiểu đội ra gác rồi cơi chân cho nó đi. Vào chhõ giam, trói ngay vào cột. Thằng này nguy hiểm số một. Để xổng thì mất đầu cả nút đấy.
Nơi giam Đình ở cũi phái ngoài lô cốt. Không một lỗ cửa sổ, trên mái trống hốc mà như tối mù. Nhiều người đã bị nhốt trước ở đấy, bùn cứt thối khẳn lõng bõng ngập mắt cá chân. Đình phải trói đứng suốt ngày. Đêm ngủ lả đầu xuống, lưng cong như con tôm, hai tay vẫn treo lên cái vấu tre. Lúc lúc lại quờ quạng dật dờ ngọ ngoạy. Đình vẫn chưa hết cơn choáng váng bởi không hiểu thế nào.
Mấy ngày liền không biết. Hôm đầu Đình còn tỉnh, nghe sau các vách cũi bên cạnh, tiếng rên, tiếng ho, tiếng nôn ồng ộc, tiếng thở dài não ruột, chẳng rõ người hháp hối hay con chó vừa bị một chày vào đầu, chỉ còn ư ử mấy tiếng mơ hồ.
Một buổi sáng, nghe người quát hỏi bên ngoài: Thằng việt gian Nguyễn Văn Đình ở buồng nào, thưa lên, ở buồng nào? Đình ú ớ: Tôi… tôi… Mấy cây tre gộc được nhấc ra, đẩy Đình ngã bệt xuống trước hai mũi súng chĩa.
M cánh tay thò vào, lôi ra.
- A, nó giở trò.
Thực sự, Đình không ngồi dậy được. Những cái lưng thễ lễ máy quả lựu đạn lại cúi xuống lôi Đình đứng lên. Nhưng người bị giam lại khuỵu xuống, không nhấc nổi hai bắp chân tụ máu. Xung quanh hét lấy lệ: đi, đi. Đình bò lồm ngồm, cũng không ai đoái hoài ngó lại. Đến bậc thềm, Đình như sực nhớ, mắt chớp chớp. Đình trông thấy cái bể nước đằng gốc cau, cái bể nước trơ trụi bên tường từ hồi Đình còn công tác dưới huyện. Hình như bây giờ để tôi vôi, thành bể trắng nhoe nhoét.
-… Đồng chí…
- Ai đồng chí với mày! Thưa các ông, mày nghe rõ chưa.
- Các ông cho tôi nước, tôi khát quá.
Một người thương hại, đem gáo dừa nước lại. Người đứng cạnh, chắc là tiểu đội trưởng, giằng gáo vất đi.
- Không được liên quan giai cấp. Phải cảng giác, cnó cầm cái cán gáo chọc vào cổ chết bị đầu mối thì sao.
Qua sân, Đình bò lên bậc thềm, vào một toà nhà ngói. Đấy là công đường cũ của quan tri phủ, rồi sau là trụ sở uỷ ban huyện, Đình đã ra vào, thuộc từng xó. Dường như vẫn thế, chỉ khác đằng cuối, những lá cót mới quây ngăn thành gian riêng, ngoài thêd\fm kê một hàng giá gỗ, trên đặt những chậu tráng men hoa và chiếc khăn mặt bông trắng vắt cạnh- nơi của các đoàn uỷ, đâu cũng giống nhau. bàn ghế lộn xộn, những người làm việc đều lạ mặt, ai cũng quần áo nâu một loạt.
Đình được dẫn tới trước một bàn làm việc.
- Thưa đồng chí, phạm nhân Nguyễn Văn Đình…
Người ngồi sau bàn, một thanh nhiên nhỏ nhắn, trắng trẻo đôi mắt kính trắng, như thày lục sự ngày trước, nhưng lại đánh bộ quần áo nâu nom mới. Không đoán ra được là cán bộ gì. Thoạt trông, hồi tưởng những hôm ở chỗ cửa phủ ngoài kia cách đây hơn mười năm, khi mới cướp chính quyền, suốt ngày trống ngũ liên gọi người đén ghi tên đầu quân. Lại phấp phỏng như hôm nào ta lên báo cáo đoàn uỷ, lại nghĩkp, lai…
Người ấy ngẩng nhìn Đình rồi hỏi nhoe nhàng, nhưng lạnh ngắt, thất Đình lúng búng “bẩm, bẩm…”
- Cái gì?
- Tôi xin ngụm nước, mấy hôm rồi tôi chưa được hạt cơm hạt nước nào.
Đình run rẩy ngã xụp xuống. Đám người giải Đình tới đã lui ra ngoài từ nẫy, đứng hai bên cửa. Người ngồi bàn giấy ngẩng lên hất hàm ra phía ấy, vẫn giọng dịu dàng:
- Cho nó uống nước.
Một người ra chỗ những chậu rửa mặt, nhìn quanh quất rồi cầm cái nắp nhựa hộp xà phòng, vục vào cái chậu còn nước, bưng lại cho Đình.
Đình ừng ực uống hết nắp na quyện mùi xà phòng thơm. Vẫn khát như móc họng, nhưng không dám xin thêm. Từ hôm nọ tới giờ mới thấy được đối xử có vẻ như khác.
- Mày là Nguyễn Văn Đình?
Câu hỏi gay gắt, Đình lại buồn hẳn.
- Vâng ạ.
- Vâng ạ thế nào?
- Vâng ạ, Nguyễn Văn Đình.
- Quê quán, tuổi, nghề nghiệp.
- Tôi… tôi ba mươi tư… cán bộ phòng…tỉnh…
- Được rồi, mày mắc tội gì, biết chưa?
- Không ạ.
- Mày là thằng quốc dân đảng có rồi nhiều tội ác với nhân dân.
- Tôi không biết.
- Câm mồm. Năm ấy bọn phản động cho mày lập ra cái trại có tên là đại đồng. Chúng mày thham lắm, đại đồng là hai chữ đđ viết tắt, là tên quốc dân đảng của chúng mày. Ở trại mày giết hàng trăm người vô tội. Hiện có nhiều người dưới xuôi lên nhận mả người tản cư đã chết ở trại cùng với nông dân trong huyện tố cáo tội ác của mày. Khai ra mày theo phản động từ bao giờ, ai đưa mày chui vào Việt Minh.
Ông toà án vẫn nói nhỏ nhẹ. Nhưng Đình nghe đến đau, như từng miếng thịt sau gáy giật lên.
Đình luống cuống.
- Xin toà soi xét, tôi không phải quốc dân đảng. tôi không giết người.
- 56 người bị giết, danh sách từng người chết oan đây.
- Không, tôi…
Người trẻ tuổi đứng dậy, khoan thai như thày giáo giảng bài.:
- Các đồng chí dân quân, khai khẩu cho nó nói ra.
Lập tức, tốp người trực ở ngoài ùa vào lôi Đình xuống sân. Một cái gộc tre xù xì đạp bốp vào mồm Đình con đương há hốc. Ba chiếc răng cửa Đình văng ra như những hòn cuội, máu tuôn lênh láng. Đình lăn ra thở sằng sặc. Những đầu mấu tre giáng xuống như giã giò, thình thịch, vun vút, bất kể vào đầu, vào lưng. Đình trợn ngược mắt, nhuôi ra. Chiếc gây chọc vào lưng, lay đi lay lại. Rồi gậy lại chan chát xuống, như thử biết người còn sống không. Hai bàn tay Đình ruỗi như búng con quay rồi duỗn thẳng không nhúc nhích.
Người cán bộ kính trắng đã đứng đằng sau từ lúc nào.
- Khiêng nó về nhà giam. Cho cơm nước tử tế. Nó mà chết, các người gác phải thế mạng, không giỡn đâu.
Cả ngày Đình được một nắm cơm không và một gáo dừa nước lã. Cái miệng vừa mất răng, mặt sưng vều lên đỏ rừ, nhưng Đình cũng trệu trạo nhai nắm cơm và tu sạch gáo nước. Người canh gác đứng đợi Đình nuốt hết cơm rồi lại trói Đình vào cọc xong mới cầm chiếc gáo đi. Một người khác đến ngay, cắt lượt gác canh suốt đêm ngoài dóng cũi.
Tuy đau nhưng nuốt được vào của ngọc thực. Đình cũng tinh tỉnh đôi chút. Càng tỉnh càng khiếp sợ., có lúc muốn đập đầu chết ngay, có lúc tưởng tụe dưng cũng sắp tắt thở. làm sao đến nông nỗi này? Làm sao cái trại đại đồng lại lên trại quốc dân đảng? Những người ở xuôi tản cư không quen thung thổ đã ốm sốt rét ngã nước, cả vùng ai cũng biết. thế là thế nào, bí thư chủ tịch còn cả đấy, ở huyện, ở tỉnh à…à…
Có nhẹ trong đầu, nhưng khắp người đau như dần. Hai tay bị thít vào cột, cả đêm Đình ỉa đái tuôn xuống quần. Có lúc khát rát cổ quá, cứ ngửa mặt ngáp như cá mè úi nước. Những trai giam, chuồng giam thế này, Đình đã biết nhiều. mọi khi anh đội rảo bước qua, rồi hét dân quân giải phạm nhân lên, điều không thể tưởng rồi ra có ngay anh đội lại phải trói đứng trong cái cũi tre. Đình đau đớn, ruột xót như bào.
Hôm sau, Đình lại bị dẫn lên. Mặt tấy to tròn như cái tráp, Đình tập tễnh lạch đi. Mà không biết thế nào, không biết ai giải cứu cho được. Cố cũng cgỉ được vài bước, Đình với tay vịn người dân quân đi cạnh. Người kia chẳng nói chẳng rằng giơ báng súng tống vào mạng sườn Đình một cái, Đình bật tay ngã rụi.
Một lúc sau cũng rật rờ đến được trước bàn.
- Toà hỏi lại, trả lời cho rõ: mày vào đảng phản động bao giờ, ai đưa vào, ai tổ chức cho mày trá hình chui vào Việt Minh, ai ra lẹnh cho mày tập trung người, giết người.
- Tôi lập trại nuôi người tản cư.
- Lại chối hả? Không sợ mất nốt hàm răng?
- Bẩm có chủ tịch, có bí thư đoàn huyện làm chứng. Các anh ấy bây giờ đương còn công tác trên tỉnh.
- Hai thằng phản động ấy là trùm quốc dân đảng vùng này, đã phải đền tội trước nhân dân rồi. Chúng nó cho tiền mày lập trại giết người phá kháng chiến thế nào, khai rõ ra.
- Thưa, không…
Thế thì chết rồi, Đình hốt hoảng, run rẩy. Nhưng rồi Đình tỉnh hẳn. Những câu hỏi móc máy ấy Đình cũng đã nghe quen tai, chẳng biết Đình đã từng nói hay từng nghe hỏi thế nhiều lần. Cặp kính trắng của ông toà mặt hiền lành cúi xuống đọc tài liệu, ký giấy tờ, nhưng những câu ông hỏi, ông nói lại là con dao bầu cứ thế, nhất định mổ lôi tưng khúc ruột gan lú lấp của Đình ra, khiến cho Đình chỉ biết, chỉ nhơ mình có tội., tội nặng. Thế ra những thằng bí thư, thằng chủ tịch này ấy cũng đã là bon phản động mà “được đền tội” cả rồi.
- Tội nhân Nguyễn Văn Đình.
- Dạ, em… Thưa, con…
- Mày đã nhận thấy tội mày chưa?
- Con nhận thấy tội rồi.
- Tội thế nào?
- Con giết nhiều người.
- Mày vào quốc dân đảng phản động bao giờ?
- Đã lâu lắm, con quên…
- Không được quên. Đứa nào đưa mày vào?
- Vâng ạ, Thằng chủ tịch, thằng bí thư, còn đứa nào nữa…
- Sao mày lọt lưới đi cải cách?
- Con không biết.
- Mày lọt lưới cả phúc tra cải cách?
- Vâng, con lọt lưới.
Thôi, cho về.
Đình lại giở chứng, không muốn về cái chỗ thối ghê gớm ấy, giá cứ được đứng đây. Một báng súng đã thúc vào lưng, đun ra.
Nhưng hôm sau thêm nhiều người nữa ngồi ở hai cái bàn kê ai cũng hỏi hỏi, ghi chép, có cái máy đánh chữ tanh tách ngay cạnh. Thỉnh thoảng một tờ giấy vừa đánh chứ bật ra lại đem cho Đình ký vào cuối trang. Đình cứ ký, cứ vâng dạ trả lời. Đình đã giết người thế nào, bao nhiêu người. Có người bị chọc tiết, phải không? – Vâng ạ- Có ai bị chôn ssóng không? – Có, có – Mấy người? Một ạ- Cả thảy mười lăm người, danh sách đây. – Có người chân còn thò lên mặt đất? – Có ạ – Mày lấy cuốc chặt đi phải không? – Vâng ạ – Chặt thế nào? Tôi chặt một cái. Những chuyện ghê rợn cứ người nói người kể. Cái sợ, cái chết đến nơi, bí thư và chủ tịch huyện đã xuống suối Vàng rồi, Đình cũng đương đi… Đình tỉnh rồi lại mê.
Người thẩm vấn hỏi một câu lạ, khác lúc nãy.
- Sao mày làm nhiều tọi ác dã man thế?
- Vâng ạ.
- Tại sao, trả lời ngay!
- Chúng nó bảo tôi làm.
- Được rồi.
Ở cũi giam, là một nắm cơm, một gáo nước hàng ngày. Nhà Đình ở ngay trong làng, cuối phố huyện đây. Nhưng làm sao vợ con biết được, chúng nó có biết hay không. Mấy hôm nay thôi phải gọi lên hỏi nữa. Hay tay Đình đội cởi trói. Đình ngồi phệt trên vũng bùn cứt, như con lợn quết bụng trong chuồng. Từ chân lên mặt vẫn sưng tấy, buốt đến tận óc. Đình chẳng còn chờ đợi gì, chỉ mong được chóng chết. Nhưng mà thế nào cũng sắp chết rồi. Cứ chôn đứng chôn ngồi thế nào thì cũng chết đén nơi.
Một tháng rồi ba tháng đã qua. Đình vẫn ngắc ngoải.
Hôm ấy, Đình phải điệu ra toà xử công khai. Cũng như những phiên toà giữa trời ở các xã. Một cái bãi liền chợ, đông nghịt cả hàng huyện kéo đến trường đấu. Trên hàng người, những chiếc đòn ống vát đầu tua tủa lên như cắm chông. Dễ thường có con mẹ hĩm cu vợ Đình trong đám ấy- các cụ để lại, xưa rày nhà Đình chỉ có một miếng ruộng, hồi giảm tô, vợ Đình được là chuỗi, là tổ trưởng dân quân. Ôi, nhưng mà cũng có khi bị đấu vì tội liên quan với phản động hay là đã chết cả rồi.
Những hy vọng vừa mơ màng tới, lại tối sầm. Từng đợt hô khẩu hiệu ồn ào bốn phía làm Đình xanh xám. Đình bị trói giật cánh khuỷu, mỗi bước cứ khuỵu xuống, hai bên dân quân lại lôi xềnh xệch. Trước dãy bàn xử án, mấy tấm cót ken nối nhau, dài in hàng chữ hắc ín: Đả đảo Việt gian phản động Nguyễn Văn Đình. Bên cạnh một cọc tre tươi còn cả chòm lá phơ phất được cắm xuống, đất mới loang lổ xung quanh. Đình đã trông thấy những cái cọc như thế ở các mít tinh xử án, cọc trói người đem bắn. Đình bủn rủn lai ngã gục, không gượng lên được nữa. Bởi vì Đình đã lại trông thấy khuất sau chiếc ghế dài các đại biểu ngồi, trang trí tết lá dừa lưa thưa, hai người vừa khiêng ra một chiếc quan tài gỗ gạo tươi còn lướp tướp trắng bệch. Đình đã biết cả.
Mấy báng súng tống vào lưng, đẩy Đình ngồi tựa ngay vào cái cọc tre ấy. Một chiếc thừng luồn vào nách, buộc chéo lên cọc, giữ cho Đình khỏi ngật ngưỡng. Đình lom khom quỳ nghiêng trông ra đừng chợ, không được sấp mặt vào hàng ghế toà án, mà cũng không được chổng đít xuống đám đông mít tinh dưới kia. Từ nãy, cái vỏ ốc thằng Đình cứ bị xoay đi xoay lại mấy lần, đằng nào thì Đình cũng trông thấy quang cảnh đã biết ở đâu.
Hình như linh tính thế nào, Đình nhác mắt ra. thoáng đằng sau hàng dân quân cầm giáo mác, dưới kia, trong đám các làng còn đương kéo lên có một người đàn bà nhấp nhô. Không nghe tiếng hô khẩu hiệu, không giơ tay, chỉ thấy nhẩy nhẩy. Trông rõ cả những người ấy bồng lên cổ một cu con, mặc áo ca rô xanh. Ối giời ơi, cái áo kẻ ca rô mà tháng trước Đình được chia cho phiếu mâu ở cửa hàng mậu dịch trên thị xã rồi gửi về cho con. Thằng cu nhà Đình! Thằng cu nhà Đình! Mẹ nó xốc nó lên cho Đình trông thấy. Đình trông thấy rồi. Nhưng cái cổ Đình sái như gẫy không ngoảnh được mặt. Rồi chỗ đông nhô ra ấy, bị mấy cái đầu gậy túi bụi rúi xuống, chẳng thấy nữa. Khắp bãi lặng im nghe toà đọc cáo trạng tội Việt gian phản động Nguyễn Văn Đình chống phá kháng chiến, lập trại giam trá hình, giết chết hàng trăm những người vô tội.
Xung quanh, mỗi lúc một phẫn nộ. chốc chốc, bốc lên hàng loạt tiếng hô, đứt quãng cả tiếng người đương nói trên loa. Đả đảo Việt gian phản động… Đả đảo Việt gian… Bản cáo trạng dài lắm. Dần dần đã ta hẳn sương, trời quang. Một hàng năm người ngồi ghế sau tấm cót, hia đàn ông, ba đàn bà, áo nâu non mới. Đình không dám nhìn ai, lại lẩn thẩn nghĩ không biết toà án của đội hay trên đoàn tổ chức.
Ông nhỏ nhắn đeo kính trắng hỏi cung mọi khi hôm nay mặc đại cán màu xi măng, vai đeo túi dết, trịnh trọng đứng lên.
- Tội nhân Nguyễn Văn Đình!
Có mỗi một cái loa tiếng e é, đặt trên bàn toà án. Đình ngồi dưới chỗ cái cọc trả lời hay im lặng, chẳng biết. Chỉ có tiếng ông toà án bốn phía nghe được mà thôi.
Toà hỏi: ai xui mày lập trại giết người?
-…
- Bây giờ đồng bọn mày trốn ở đâu?
-…
- Mày đã giết bao nhiêu người?
-…
- Phải nói con số cụ thể.
-…
- Luật pháp không mớm cung, ép cung, luật pháp yêu cầu nói sự thật những việc đã làm.
-…
Một câu hỏi bỗng vang xuống hàng nghìn người ngồi, đứng dưới kia.
- Có ai lên vạch mặt tội ác Nguyễn Văn Đình?
Mấy người vừa lên, vừa chạy vừa hét. Toà cho đwsng nói ở chỗ loa. Tiếng quát rít lên: “Thằng Nguyễn Văn Đình ngẩng mặt lên”, nhưng Đình không còn sức ngọ nguậy được cái cổ, cứ trơ ra. Người ấy la hét, kêu khóc kể Đình bỏ đói, suốt ngày bắt lên đồi đào sắn trựa, lấy thức ăn nuôi lợn. Hôm nbào cũng thấy xác người bị nhét trong những cây nứa tươi đạp rập đem đi vùi, có đem đốt đuốc khiêng đi.
The thé tiếng một người đàn bà:
- Đêm nào thằng Việt gian cũng đi hủ hoá. Nó hủ hoá cả tôi. Hu, hu…
Ở dưới nhộn nhạo, không rõ người ta buột miệng cười ầm lên hay đả đảo, đả đảo, có lúc nghe tiếng khóc thảm thiết rồi lại rồn rập: Đả đảo Việt gian…
Một người vọt tới, xỉa tay vào trán Đình – mặt Đình.
- Ba đời mày làm cai tổng, hành hạ cả làng, có phải thế không, nhận đi.
Đình lờ đờ ngước mắt xem có ai bị trói bên cạnh. Nhưng không. Người ta đấu có mỗi một Đình, một thằng bạch đinh.
- Ông mày là cai tổng, thì ông tao chết đường, bố mày làm lý trưởng, thì bố tao phải bỏ làng đi ăn mày, đến đời tao…
- Đả đả! Đả đảo!
Ông toà án ngồi giữa đứng ra nói:
- Tội trạng Nguyễn Văn Đình đã rõ trong cáo trạng và những tố cáo của quần chúng. Bây giờ sang mục toà nghị án.
Rồi ông cất cao giọng:
- Tôi lấy ý kiến giai cấp nông dân, xin hỏi tên Nguyễn Văn Đình đáng tội gì?
- Tội chết! Tội chết!
Trong làn nước mắt lờ mờ, Đình cố trông lại cái chỗ người đàn bà bế con lên vai lúc nãy. Chẳng biết có phải thấy mẹ con nó đương nhảy hay không. Ánh mặt trời chói lói, ấm áp trong các đội sắp hàng nhốn nháo, huyên náo: Chết! Tội chết! Đả đảo mật thám! Hát lên: Hò lơ, hó lơ…- Không, không, Nông dân là quân chủ lực! Một hai ba: Nông dân là…
- A lô! A lô! Yêu cầu đồng bào im lặng.
Bỗng lặng phắc:
- Toà tuyên án: tử hình Nguyễn Văn Đình! án xử ngay tại chỗ.
Lại sôi lên:
- Hoan hô giai cấp nông dân! Kiên quyết tử hình Việt gian.
Đình bị kéo đứng thẳng, ngay cái cọc tre ấy, dân quân xúm lại thiết chiếc thừng bó giò cả chân tay, cả người. Lúc mặt đã buộc miếng vải thâm thì cái quan tài gỗ trắng nhở cũng được hai dân quân khiêng ra, mở nắp sẵn, đặt cạnh. Nhưng Đình đã li bì, không biết gì nữa.
Bài hát Nông dân là quân chủ lực vẫn vang vang. mỗi đám gào một phách, loạn xạ như vỡ chợ. Chỉ có tiểu đội dân quân trên bãi cỏ trước cái cót vẫn hí húi, hì hục, lặng lẽ. Người nện cán cuốc lèn thêm cho chặt đứng chân cọc. Người thít lại mối thừng quấn lên người phạm nhân. Đằng sao bước ra một tiểu đội dân quân khác. Tám người súng trường bồng trên vai, áo nâu, mũ lá cọ, thắt lưng da to bản bóng nhoáng cài hai quả lựu đạn có rọ đan cẩn thận. Tiểu đội ấy đứng dàn hàng ngang, trông về phía bãi trống, trước mặt người sắp bị xử bắn. Rồi hạ súng, báng dựng ngay chăm chắm, đợi lệnh.
Đột nhiên một người từ đằng sau nhô lên chỗ bàn toà án. Ông toà nhỏ nhắn đeo kính trắng cúi lom khom giơ bắt tay người mới đến. Ông cán bộ đã đứng tuổi, mép để hàng râu con kiến, cũng mặc áo nâu, áo đại cán màu hồng nhạt, đeo sắc cốt da, đừng lưng áo gồ hẳn lên chuôi khẩu súng lục to. Rõ ra cán bộ cấp trên. Cả mấy người đã đứng dậy. Có những người lóc cóc chạy đi bưng thêm ghế tựa.
Ông cán bộ nói mấy câu với các vị toà án rồi bước vào trước micrô, thong thả, vang lừng:
- Thưa toàn thể đồng bào giai cấp nông dân huyện ta, tôi bí thư đại diện đoàn uỷ khu về truyền đạt một chỉ thị quan trọng của trung ương. Tôi thông báo để tất cả đồng bào rõ, kể từ giờ phút nhận được lệnh này của khu, các đội cải cách, đội phúc tra, đội chỉnh đốn tổ chức đình chit tất cả các vụ xử bắn. Toà án phải thi hành đúng pháp luật nhà nước, yêu cầu triệt để thi hành.
Ở dưới vẫn im, không hoan hô, không đả đảo. Rồi lại nhốn nháo và cứ thế lộn xộn, xô bồ người ta kéo về không ra hàng ngũ gì cả cũng không cản được, mà cũng không ai cản cả. Đình đã thỉu đi rồi và như bị bỏ quên vẫn bị trói đứng trơ trơ ra đấy. Cả các ông toà án cũng lúng túng, chỉ có đoàn uỷ khu về chận nhưng vẫn còn kịp, ông bình tĩnh và cẩn thận, ông đề phòng nông dân còn đương bồng bột, nhỡ đám đông xông lên đánh chết người, thì lại phạm pháp. Đình được khiêng về chỗ giam. Ông bí thư xem xét lại mọi hồ sơ của Đình, bàn bạc với các ông toà án, đến hôm sau, Đình được thả. Xoá cái án chém mà nhẹ như không, những người già bảo rằng trời còn có mắt.
Không biết đến hôm nào Đình mới lết được về nhà. Làng làng vẫn im ắng, vừa sợ vừa phấp phỏng, mặc dầu bây giờ đương bắt đầu công tác sửa sai. Nhưng đường xá có thảnh thơi hơn. Các đội sửa sai vẫn áo nâu và ba lô về làng nhưng mặt mũi tươi tỉnh, gặp ai cũng chào và đi xe đạp tới trụ sở uỷ ban xã. Sửa sai mà, sửa sai cải cách, sửa sai phúc tra cải cách, sửa sai chỉnh đốn tổ chức – sửa sai chồng đống cả loạt. Lớp cán bộ mới từ huyện, tỉnh đến trung ương lũ lượt xuống cơ sở. Cán bộ đi cải cách trở về cơ quan, đơn vị. Những chuỗi rễ đã thành cán bộ đội, không dám trở về làng, hàng trăm con người ở lỳ các trạm, chờ khắp các tỉnh, không biết rồi các địa phương giải quyết thế nào.
Để ý kỹ, quang cảnh cũng có khác. Buổi chiều một chú bé đội chiếc mũ lá vắt vẻo trên lưng con trâu nhẩn nha lên đe gặm cỏ. Bây giờ người ta mới nhớ ra có con chim chích choè hót sáng sớm. Con chim gáy báo giờ trưa chiều. Con thủ thỉ thù thì ầm ừ trong hoàng hôn bên kia sông. Con tu hú về mùa quả vải. Khi hoa gạo nở đỏ khé, hàng đàn sáo đã đén đậu trên càng cãi cọ vang vang.
Tất cả những chuyện trên tôi biết được và nhớ lại, vì cái hôn tình cờ tôi gặp lại Đình. Ai có thể tưởng tượng cuộc gặp gỡ kỳ lạ đến thế.
Có đến hơn hai mươi năm sau. không nhớ chính xác. Trên vỉa hè, các nách ngõ và quanh công viên thành phố dạo này người ta ở đâu kéo ra lắm người lang thang đên thế. Gầm cầu, chân tường vợ chồng con cái rúm ró với mọi thứ việc, không thể gọi là việc được. Mỏ rác, ăn mày, ăn cắp, cướp giật. Khi mưa khi nắng vào những kỳ gió bấc thổi, không biết người ta trốn tránh thế nào.
Bao nhiêu bệ rạc hội tụ lại, quần áo rách rưới chăng mành mành trên hai sợi dây nhựa căng đợt trên đợt dưới giữa hai gốc cây bạch đàn đầu công viên. Những mẩu gạch làm ông đầu rau ám khói đen thui. Chiếc nồi nhôm cơm lên hơi nghi ngút. Một xoong rau muống sào bốc mùi tỏi. Hai đứa bé lấm láp nghịch ngợm chơi tụt dốc trên lưng mẹ đương cúi cời than bếp. Một người con trai mặt sốt rét bủng rứ ngồi với một ông lão trên mảnh chiếu đã xạm xám mùi mồ hôi trải sát chân tường. Chai rượu trắng đặt cạnh một đĩa lạc rang ủ trong bọc giấy báo mới lấy ra. Ông lão mặt đỏ lựng ngất ngưởng chòm râu lởm nhơm không ra để, không ra lâu chưa cạo. Đôi chốc những người trai lại thò chân bới đống rác dưới gốc cây. Ngón chân cái chia gạt ra chỗ để giẻ rách, chỗ miếng nhựa, chỗ chai bia, vỏ đồ hộp, ống bơ sữa. Anh ta ưống rượu đợi cơm mà vẫn chịu khó lam làm.
Cái mặt lão này, ờ cái mặt nhữ đã gặp ở đâu. Chỉ lạ bộ râu xồm xoàm tuổi tác, còn thì quen lắm. con mắt ốc nhồi, cái mũi đỏ, cái ve đuôi mắt nhấp nháy. Trong đời, mọi giao du hàng ngày, biết đâu mà nhớ xuể, nhưng những khuôn mặt về già mà vẫn gày gùa thì thường ít thay đổi, không như những người béo phì. Vụt một cái, như óc mở nắp, nhớ rồi: hình như thằng Đình, cán bộ Đình.
Tôi bước tới:
- Đình phải không?
- Đình cũng nhận ra ngay được tôi.
- Bối hả?
Kể ra hai con người tóc bạc da mồi, đã tả tơi cả, vừa nhận ra nhau bơi linh cảm, còn những hoàn cảnh và trường hợp đã trải với nhau thì không thể quên. Cứ ngẫm từ cái thằng tôi, vui buồn chỉ còn lại một nõôi ngậm ngùi. Nhưng Đình thì dường như không. Lũ ăn mày trôi dạt trên vỉa hè mà đình huỳnh như giữa nhà. Đình cười khớ khớ. Lại nhận ra vẫn cái cười láu tôm bất cần từ hồi ấy. Đình trỏ tay:
- Vợ tớ kia, bà hai đấy. Bà cả mất ở huyện Sông Mã, được mỗi thằng cu mhớn này từ ở làng đem theo.
Rồi Đình hỏi tôi dồn đạp:
- Thế nào? Làm ăn ra sao? Quần áo người ngợm coi bộ phờ phạc thế? Bây giờ thống nhất Bắc Nam rồi, phải phóng tay chứ?
- Phóng cái con hươu!
- Còn đẽo cơm nhà nước hả?
- Bị đá đít đã lâu rồi.
- Thì xcx như tớ ngày ấy, lo đếch gì. Dạ dày, gan ruột tốt chứ, làm một tợp.
Tôi ngồi xuống mảnh chiếu. Ngỡ ngay mình cũng đương lang bạt như bọn nhà này. Đình nhìn quanh rồi chùi chiếc vung nhựa đựng muối, lật ngửa ra như cái phễu, rót cho tôi một vung rượu.
Lại chẳng đợi tôi hỏi, Đình kể một thôi một thốc, từ cái ngày đương ở Chuôm rồi bị bắt. Bao nhiêu chuyện rùng rợn và đau đớn mà cứ liến thoắng bô bô như chuyện ai ở đâu.
Đình chép miệng:
- Đến nước ấy thì chỉ còn chết chứ gì. Ba đời cùng đinh mà đấu lên ba đời cai tổng, ba đời mật thám. Toàn những bố láo, bố láo tất.
Tôi cười, chọc tức:
- Cũng bố láo đại khái cái trại đại đồng của mày. Tội giết người thì không có, tao biết mày, nhưng tội hủ hoá thì chắc là sẵn.
Đình cũng cười nhưng nói nghiêm:
- Không được nói bậy, tớ đã bỏ bao nhiêu công sức vào đấy.
Tôi lấy làm lạ vẻ cương quyết đột nhiên của Đình, trong khi Đình kể tiếp:
Được tha chết, nhưng chẳng còn ai nhìn nhọ đến mình, ở làng để chết đói hả, thôi thì chết ở đâu thì chết, không chết ở đát này, vợ chồng tớ với thằng cu này bồng bế nhau lên tận huyện Sông Mã giáp nước Lào. Mấy năm sau dần dần mới có các nơi người ta lên Tây Bắc phá rừng khai hoang, ít lâu thành làng xóm mới.
- Lại làng đại đồng!
Tôi nói câu vô ý ngỡ chạm vào chỗ đau. Nhưng Đình đã cười cười nhăn nhúm cả mặt, cả râu ria.
Đại đồng đã suýt toi mạng, chẳng chơi. Mà cũng chẳng ai cần đến mình, chân trắng dân đen mà. Cũng tự nhiên, cũng cái xóm cái làng, nhà nào nhà ấy như dưới xuôi. Tớ kỳ cựu ở lâu nhất, làm trưởng thôn rồi lên chủ tịch xã. Bây giờ miền núi đã cải cách đân chủ rồi cũng nhẹ nhàng thôi, làm chân chủ tịch chân chẳng rợn gáy nữa. Cả vùng Mường, vùng Thái huyện Sông Mã gọi tớ là cán bộ Đinh, chủ tịch Đinh, thành Nguyễn Văn Đinh rồi.
- Oai nhỉ, vẫn oai!
- Oai chứ. Nhưng miền núi ngoài này chó ăn đá, gà ăn sỏi, còn đâu moi ra lấy cái ăn, lại năm nào trời cũng ra tai, khi hạn hán, khi lũ ống, vợ tớ chết bị trận lũ lở núi. Đến khi nghe tin đã thống nhất, tiếng đồn trong Nam đất đai sướng lắm, làm chơi ăn thật, tớ mới cho vợ con…
- Vào Nam?
- Chưa. Mới vừa đến đây.
- Ở lại Hà nội.
- Không, dừng tàu dừng toa thôi chứ ở Hà nội đi ăn mày cũng không được. Trong người thằng Đình này vẫn sôi nửa trăm độ máu cán bộ. Tớ được cả làng trên Sông Mã góp tiền cho đi thăm luồng trước. Nếu làm ăn được thì kéo nhau vào. Tớ tạm trú ở đây để lo xin Hà nội cho cái giấy kinh tế mới đi Lâm Đồng. Có giấy tờ chắc chân mới vùng vẫy. Ái chà chà… Kể ra đất phường phố cũng dễ kiếm gạo. Mấy mẹ con nhà nó, cả hai thằng oắt tỳ kia với thằng nhớn này, với tớ, ngày ngày bới rác cũng ra gạo, ra rượu. Nhưng không, vùng kinh tế mới mới là nơi hoạt động của cán bộ Đinh.
Đức tính ấy của Đình mà tôi không có, bây giờ tôi mới nhận ra, có thể nó bắt đầu từ cái trại đại đồng khiến anh suýt ngoẻo mà tư tưởng anh vẫn đa mang. Đình đậm trò tổ chức, khoái làm cán bộ, đến già vẫn vậy thì thành tích cả đời rồi.
Tôi ngồi chịu trận giữa bãi rác nghe Đình thia lia nói những câu tự tin và quyền hành. Không hiểu sao, mỗi lại thấy ra cả đời tôi là một thằng đụt, thằng hèn, chẳng có mảy may chí khí. Sao tôi không có được cái tư tưởng thảnh thơi như nó. Cái thằng Đình suýt chết chém đến bây giờ đầu râu tóc bạc cả rồi mà vẫn cười nhăn răng, vẫn đi chạy giấy tờ, vẫn mộng lập làng mới.
Đình hỏi tôi:
- Cái Hà nội nhiều cửa quá, mày biết có cửa nào chạy được nhanh.
- Tao chỉ biết có cửa mả thôi. Mà mày không có hộ khẩu ở đây.
- Rồi xoay cũng ra thôi.
- Tao chịu.
Tôi giở giọng trốn việc. Nhưng tôi có gì, tôi bùi ngùi trạnh nghĩ thân mình cũng đang cầu bơ cầu bất. Tôi thở dài.
- Tao chẳng biết.
Hôm sau, hôm nào lò dò qua hồ tôi tránh đi về phía ấy. Nhìn xa xa, tôi thấy ở chỗ gốc cây bạch đàn vẫn còn thấy phơi loi thoi những mảnh quần áo. Chiều chiều, khói bếp um lên. Ở các cây khác cũng thế, phải m lúc mới nhận ra chỗ lão Đình râu Trương Phi ngồi xếp bằng. Vẫn đương uống rượu với thằng con trai như mọi khi. Tôi lủi sang bên kia hè phố.
Nhưng rồi lại cứ tò mò nhìn sang phía ấy. M hôm tôi nhận ra những gốc bạch đàn trơ trọi, vòm lá leo reo. Không trông thấy dây phơi quần áo. Tôi đến tận nơi. Vẫn ba hòn gạch vua bếp trên đặt một ống bơ cơm đương sủi. Một người đàn bà tóc xoã sượi đương nằm đắp chiếu rên khừ khừ ngay bên cạnh. Người ốm thò tay run rẩy những mảnh giấy vụn vào bếp.
Nhà Đình đã đi rồi. Không biết Đình đi kinh tế mới hay đã đổi chỗ đến những xóm liều giữa bãi rác, kiếm nhanh hơn. Nhưng tôi đoán chắc Đình đi Lâm Đồng.
°°°
Thế là tôi sang thôn Chuôm thay “thằng phản động Đình”. Thôn này đã có địa chủ, địa chủ đã đi tù, yên chí anh đội. Duyên là chuỗi, tổ trưởng dân quân, Đình đã cắt đặt từ trước. Tôi vẫn không đoán được cái đêm rình thằng Đình ở cạnh đền, Duyên bẫy tôi vào lưới hay là chuyện thật thế. Đằng nào thì cũng vậy thôi.
Nhưng ông trời khoảnh ác không cho cái thằng lười tôi yên thân. Theo kế hoạch chung, tối nào cũng họp tổ nông hội, họp thôn kể khổ, đôi khi đấu lưng cả địa chủ đã chết tới sáng. Phải soi mói cùng kiệt, không để lọt lưới. Bố mẹ nhà địa xuống âm phủ đã tám hoánh thì moi lên đấu bóng, đấu cho tăng căm thù đón ngày mít tinh xoá bỏ giai cấp địa chủ toàn xã. Nhưng tố khổ địa chủ sống vẫn còn sôi sục hơn. Ở ngay cái sân gạch bát tràng mà xưa kia Lý thìn, đến mỗi vụ thuế hàng năm đã nọc ra đánh không biết là bao nhiêu cùng đinh chậm thuế, thiếu thuế. Đêm đêm người ta tính dổ tội. Lý Thìn cởi trần, thắt lưng lụa điều, cầm hèo, tổng cộng ngần này năm phó lý rồi lý trưởng trước khi lên làm chánh tổng đánh bao nhiêu người, hai trăm tám mươi bảy cả dần ông đàn bà, đếm được rõ ràng đén thế. Tôi buồn ngủ cứng mắt, rơi cái bút lúc đương vật vờ ghi chép. Mặc dầu, vẫn chốc lại cố cất giọng khàn khàn: “Bà con ta ai có khổ nói khổ, nông dân ta vùng lên”. Nghe gà đã eo óc gáy dồn, tôi đứng dậy, chỉ kịp nói “bế mạc”, cả đám họp đã cung cúc chạy. Vẫn chưa thoát cái vất vả nữa. Các thôn lại nháo nhác. Có hai đám tự tử, một người đâm đầu xuống giếng, một người thắt cổ. Dưới thôn Đìa- thôn trọng điểm của đội trưởng, nửa đem cháy hơn chục nóc nhà, người phải ra đồng chất đất cày như xếp ải làm vách lỗ đất hang chuột để ở tạm.
Cuộc hội ý đội sáng sớm vẫn thường ngày. Và từ tờ mờ, cái Đơm đã ra đứng đợi tôi trong bụi cây duối. Đến lúc vào họp, tôi vẫn còn thờ thẫn, nhớ lúc nãy hì hục với con Đơm.
Đội trưởng Cự đứng lên:
- Các thôn báo cáo.
Cuối bước hai thôn nào cũng dồn dập, có thôn, cả bốn địa chủ với hai phản động gian ác phá tường nhà tạm giam, trốn mất. Xóm nào cũng mất trộm gà, bốn con trâu bị giắt ra đồng bị đâm lòi ruột, kềnh đấy.
Đội trưởng Cự nói, ngay câu đầu đã gay gắt:
- Tố khổ bước một, bọn địa chủ còn nghe ngóng, bây giờ chúng nó mới mới ra mặt chống phá. Chớ quên thành tích đội ta đã giật được lá cờ đầu đánh địch nên mới được ra làm cải cách vùng đất hai trăm ngày này. Quân Pháp được rút chậm hai trăm ngày ở Hải Phòng cho nên xung quanh thành phố là cái túi đựng mọi loại phản động. Chi bộ xã này, một địa chủ cường hào gian ác đội lốt huyện uỷ viên về thành lập lúc bị tạm chiếm. Ngay khi ấy đã chi bộ hai mang, bí thư hai mang. Khi đội về, chi bộ đã có 47 đảng viên, đoàn uỷ cho ta thanh lọc đã duyệt đuổi ra 37 địa chủ, mật thám, quốc dân đảng và các thành phần linh tinh, thế mà chúng vẫn còn uy hiếp nặng nề. Tôi đã lên đoàn đề nghị xử bắn bí thư. Không thế, khí thế nông dân không lên được. Nó làm bí thư ta, lại là bí thư phản động. Tôi đã đi cải cách ba đợt, chưa lần nào gặp nhiều địch như lần này. Các đồng chí đã biết rồi, chúng nó đã chia sẵn ruộng đất trước khi đội đến. Hôm tôi vào nhà bí thư, nó khiêu khích ngay: “Ruộng đất các thôn trong xã đã được chia lại hết. mỗi chủ ruộng, mỗi người được chia đều có hỏi ý kiến của hai bên, thật công bằng. Thế là nhẹ việc cho các anh”. Có gớm không, vậy thì chúng tôi chỉ còn có việc đầu hàng giai cấp địa chủ.
Đội trưởng Cự quắc mắt từng đợt:
- Tình hình nghiêm trọng, các thôn phải tuần phòng cẩn mật suốt ngày đêm. Kế hoạch ba ngày nữa, duyệt xong hết địa chủ. Yêu cầu mỗi thôn lập hồ sơ đề nghị làm án nặng một địa chủ có tội với nông dân, có thế mới đưa được tinh thần nông dân lên.
Hôm sau, mít tinh xử bắn tên phản động đội lốt bí thư chi bộ dưới xã Đìa. tôi nhát thấy máu, lại phụ trách toà án. Nhưng tôi đã có được lý do chính đáng. Đội trưởng đã phát hiện ra bọn phản động thôn Đìa- tôi chưa tìm ra cách thoái thác trốn việc thế nào đội trưởng đã nhân phụ trách toà án vụ này và phân tôi huy động dân quân toàn xã bảo vệ mít tinh xử án.
Tháng này các chuôm ngoài bãi chỉ còn xâm xấp nước. Ngoài sông, không có một người mò hến, kéo tôm, vắng cả trẻ con lau nhau đi đổ đó. Không biết chúng nó biến đâu, chẳng thấy một mống. Chúng nó đi xem hay chúng nó sợ, trốn ở nhà. Tôi dạo quanh một vòng bãi, gặp các tổ trưởng dân quân, dăn dò mấy câu kỷ luật rồi trở về, úp quyển sổ tay lên mặt, đế cái bút báy mở nắp ngang nan chõng. Tôi định ngủ một giấc, nhưng cứ trằn trọc. Những tiếng hô khẩu hiêụ từ ngoài bãi vọng lại. Tôi vẫn lo sợ vẩn vơ về một người sắp bị bắn mà tôi cũng không biết mặt.
Đến lúc nghe đoang đoàng mấy tiếng súng, tôi bật dậy. Thế là ngoài bãi mít tinh xong rồi. Tôi hí húi thảo một kế hoạch canh gác sít sao. Làm kế hoạch thì tôi quen rồi. chỗ nào cũng để mắt tới, con chim lạ bay qua cũng phải biết. tuần các ngõ, lại lập chen vào những chốt gác bí mật. Cán bộ đội các thôn đi tuần với dân quân. Tôi chạy đi gặp đội trưởng, báo cáo kế hoạch, làm như cả buổi mít tinh tôi vẫn có mặt ở đám du kích canh gác, bảo vệ.
Hôm sau lại một người thắt cổ- một nông dân. cứ có người chết, tôi được phân công viết điếu văn. tôi có tiếng là người nhiều “văn hoá” trong đội. Chết đói, chết đuối, điếu văn đều xúc động và gợi căm thù. Hương hồn anh yên nghỉ, tên anh từ đay ghi vào lịch sử đấu tranh máu và nước mắt của nông dân xã ta… Tôi đã chép được ở đây câu ấy, cứ thế, cứ thế, chạy loăng quăng, giữa những việc lút đầu.
Tối nào tôi cũng đi tuần với tổ dân quân Duyên – kế hoạch tôi vạch ra cho dân quân cả xã cơ mà. Vả lại, mấy hôm nay mới có người thắt cổ, Duyên hốt đi quãng ấy. Bây giờ Duyên đi đâu cũng mặc áo lót cổ vuông của tôi, kể cả đêm đi tuần. Tôi lại phải dạo tôi sắp đổi đi thôn khác, tôi doạ không cùng đi tuần với nữa. Con bé vẫn nhũng nhẽo nài: anh cho em mặc ở nhà, mặc tối thôi, cái áo anh có bùa mê, anh ạ. Tôi đành chịu. Mà tôi cũng quen mũi cái mùi mồ hôi cỏ, mồ hôi bùn của Duyên. Vả lại, lũ trẻ đen tối mới cõng nhau vào nhà không lên đèn. Bố Duyên thì hai mắt lông quặm, phải kẹp tre kéo mí lên từ thuở trẻ. Họp xóm, ông ngồi thụp vào một góc, tránh ánh đèn chói, tối đi ngủ từ lúc gà lên chuồng.
Đội tuần thôn chia từng tốp đi khắp. Tay gậy, tay súng, thắt lưng giắt quả lựu đạn điếc, vòng ra tận ngoài bờ tre. quá nửa đêm tụ tập về trạm đầu xóm. Lúc ấy vãn dần. Đám con trai lỉnh đi, lùa theo những con mái nào không biết. Khoảng một giờ sáng, trở lại trạm gác chỉ còn mấy cô- tối nhụ nhoạ, chẳng rõ mặt ai, các cô ngồi đứng xoã tóc gió thổi như ma đánh đu.
Anh đội và các cô dân quân rúc cả vào túp lều sàn lát mảnh hóp đá, cái giống hóp mỏng mặt nhưng chắc và mát lưng, nửa chân cột cắm xuống mặt nước ao làng. các cô đẩy nhau mnằm cạnh tôi. Duyên quát rít lên: “Tao là tổ trưởng, tao pp xít xao với anh đội “. Rồi Duyên nhảy phắt vào, xô cả tôi dạt sang bên. Duyên nằm xóng xoài ra gối cái báng súng trường lên đầu, làm như ngủ luôn. Không cô nào chen, tỵ nạnh nữa.
Chúng họ xoay sang nói kháy, trêu chọc nhau.
- Mai kia mày vác anh đội phó về Thanh Hà quê chồng mày à?
- Tao để lại cho chúng mày đấy.
- Thanh Hà chẳng đói như ở đây đâu, anh Bối cứ về. Có nước cáy lại đến mùa rươi…
- Bắt rươi vất bỏ mẹ!
- Được lấy một lúc hai chồng, sướng quên chết rồi.
- Cứ doạ làm anh ấy ghê. Anh Bối ạ, chẳng đâu bằng ở đất này, tháng ba ngày tám thì gày giơ xương sườn, teo vú một tý, chứ đến ngày mùa hốc hai ba bữa cật lực thì lại tròn như con cun cút. Béo nẫn ra ấy chứ. Anh đi với cái Duyên xuống Thanh Hà hay anh ở đay với chúng em.?
Duyên quát:
- Tao sắp về Hà nội đây.
Rồi rúc mặt vào lưng tôi, cười rinh rích.
Canh khuya, tiếng thở dài thườn thượt khao khát, tiếng cù nhau cười như chuột rúc, tiếng nước bọt nhổ bèn bẹt xuống mặt ao như cá đớp. Chỉ một lát đã chập chờn. Duyên nằm đè lên tôi quẫy huỳnh huỵch, chẳng ra ngủ mê, chẳng ra thức. Tôi thấp thỏm ngạu tiếng rin rít mảnh giát hóp đương lung lay, khéo đổ cái sàn mất. Duyên rên u ử như con chó mê ngủ rồi lăn ra. Những hơi thở nồng nàn hai bên lay tôi tỉnh lại. Nhớ những cuộc tuần đêm khi còn ở trong Nông Cống. Hệt thế này. Sao những lúc mơ màng ngái ngủ thì người ta giống nhau thế. ăn nằm với nhau hẳn hoi mà như ngủ mê. Tiếng thở lẫ tiếng ngáy rờn rờn nâng cổ tôi dậy, tôi bò sang. Chốc chốc, sàn lều rập rình như thuyền. Chỗ góc ao này chắc lầy lội, con chẳng chuộc, con chẫu chàng càng khua càng uôm oạp inh tai, át cả tiếng kẽo kẹt mắt nứa, mặt hóp lẫn lộn vào đấy. Tôi lần lần… Thì ra chưa cô nào ngủ cả. Các cô nghiến răng níu áo tôi lại. Nhưng tôi như con lươn luồn đi, chẳng bao lâu lại rúc về chỗ Duyên.
Tôi như con trâu con bò, không ra sợ không ra liều. Những điều về công tác, về kỷ luật viết trên giấy trong lịch ngày, lịch tuần, lịch bước, lịch đợt. Tôi không hiểu, tôi không muốn hiểu, lỳ. Duyên nói tỉnh khô: “Anh mà ngủ với em khi ngày mùa ấy à, như nằm đệm bông. Bây giờ thiếu ăn hóp cả người thì em phải giũ, chứ cái bánh xương chè của em mà đâm lên thì anh gãy mạng sườn mất”. Đói mà còn khoẻ thế.
Nhớ lại cái quang cảnh hôm chợ huyện. Chúng tôi húc đầu vào hàng bánh đúc thì xung quanh mênh mông đói khát. Trong chợ, những cẳng tay cẳng chân đi lại như những cành que. Một người đàn bà ở đâu đến ngồi xệp xuống, bồng đứa con gái nhỏ trên tay. Thằng con trai khoảng bốn năm tuổi mặt già cấc bò bên chân. Mỗi lần người mẹ giơ đứa bé cho người hỏi mua, đứa anh lại oà lên khóc. Người mẹ mếu máo: “Nó khóc quá, tôi không dám cho”, chốc chốc lại nói lại câu ấy. Một bà nói: “Để tôi đi mua cái kẹo nhử thằng bé thì nó mới nhẫng em nó được”. Người đàn bà vỗ vỗ lưng con, lặng im. Xung quanh đổ đến mỗi lúc một đông. Cái người tần ngần đứng hỏi mua trẻ con, người ấy cụt một tay. Có người đòi xem thẻ thương binh của anh ta. Tiếng ai kê u lên: “Ơi giời ơi, cái lúc lung tung này, thằng Ngô Đình Diệm ở trong Nam cho người đi mua trẻ con rồi ném vào bụi, đổ cho ta giết. Đã tìn ra khối đấy. Phải cẩn thận cái thằng địch đồng bào ạ. Mấy người cho mẹ con nhà nọ cái bánh đúc ngô. Hai đứa trẻ nhai nhỏm nhẻm. Người cụt tay hỏi mua trẻ đã bỏ đi từ lúc nào.
Giấc ngủ mê mệt của tôi rối loạn những chuyện đói: Hết cả hơi, tôi cũng đương đói bụng dốc bụng. Tiếng vành bánh xe bò người kéo lộc cộc, các làng đi chợ sớm đã lẹt quẹt gồng gánh ngoài kia. Tôi uể oải mở mắt. Các cô dân quân đã đi hết, chỉ còn mf tôi nằm trơ giữa cái lều. Tôi lồm cồm, vơ cái xắc cốt, đứng dậy vươn vai, oằn lưng bẻ khục răng rắc mấy cái rồi về xóm Am hội ý đội… Tôi tránh qua chỗ bụi cây duối, sợ cái Đơm ngồi rình trong ấy. Tôi bước nhấp nhô trên cánh đồng cày ải, đất xám bàng bạc. Đổ ải những guồng nước kĩu kịt, người tát nước nhịp đôi, nhịp ba, nhịp bốn lên đồng cao. Chỉ mấy hôm nữa, đất ngấm nước tươi màu dần, đường bừa ào qua váng nước trắng mặt ruộng. Mạ đx đến tuổi, nhưng chưa biết thế nào. Năm nay chạy đói mới cấy cưỡng, đồng đất vùng này vốn chỉ ăn được một vụ mùa.
Vào họp, đội trưởng Cự tuyên bố:
- Thảo luận công tác thôn Am, thôn Chuôm.
Thường lệ, các xóm “mọi việc đều tốt”, cả cái hồi tôi bối rối ở bên Am, chưa mò ra địa chủ, tôi cũng “thưa các đồng chí… tôi đương lên phương án”. Ai nấy hí hoáy sổ tay, tôi tẩn mẩn vòng móc xích những chữ o liền nhau. Mới sáng mà mắt tôi mờ như quáng gà, tôi ngủ gật, ngòi bút rụi xuống xuống giấy, nhoét mực. Nhọc quá, từ đêm chưa được một hột vào bụng.
Nghe tiếng “thôn Am… thôn Chuôm…” mắt tôi bỗng ráo hoảnh, cơn ngủ biến mất, tôi ngẩn người nghe đội trưởng nói:
- Về tình hình thôn Am trước. Khuyết điểm, đồng chí Bối sẽ kiểm điểm sau về việc hai tuần lễ không phát hiện ra địa chủ. Tôi về thay, tôi đọc tài liệu rồi để nửa buổi thăm nghèo hỏi khổ đã lòi ngay ra một thằng địa, đem hồ sơ lên Đoàn được duyệt tức khắc. Suýt nữa con cá chuối lọt lưới. Cái thằng Tư nhỡ lù lù đấy chứ đâu. Thằng ấy bảo là học trò trên huyện, về chân lấm tay bùn đã lâu, nói láo. Cái cây tre buộc sợi thép lủng lẳng nó bảo là hộp galen để nghe tin tức của đài ta, đồng chí Bối tin thế hả? Không, tôi ở quân đội tôi biết, nó là cái bắt tin, đánh tin đấy. Thằng Tây đã cho nó lặn lại thì phải cho nó thông tin liên lạc. Mà rõ ràng đấy, cửa nhà nó có cái bảng đề chữ Tây treo to bằng cái hoành phi sơn son thiếp vàng trên bàn thờ bố nó. Rễ chuỗi đã lôi nó ra đấu một đêm, nó gục. Địa chủ Tư Nhỡ đã phải ký biên bản nhận tội tay sai phản động rồi. Tôi đã cho dân quân gác không cho nó ra khỏi cửa, đọi lệnh của đoàn. Còn sang đến mục không có lao động, thì nhà Tư Nhỡ đã thuê người từ cấy hái đến đánh cây rơm. Người làn nhà nó đã tố hết. Bây giờ nói về rễ chuỗi thôn Am, anh Diệc vốn là cố nông, đồng chí Bối đã bắt rễ đúng. Nhưng khuyết điểm là anh Diệc không được bồi dưỡng, chuỗi rễ là cô Đơm con anh Diệc cũng chỉ có tên thế thôi, rễ và chuỗi đều chưa có tác dụng. Địa chủ Thìn thật độc ác, vợ anh Diệc què gẫy mù loà thế mà địa chủ Thìn bắt anh Diệc lấy rồi lại phải cày cấy trả nợ. tôi đã chỉ định đồng chí Diệc làm trưởng thôn, đồng chí đơm làm tôt trưởng dân quân. tôi sẽ phát động đồng chí Diệc, đồng chí Đơm lên ngang mặt đấu địa chủ Thìn hôm toà án xử.
Tội ác địa chủ Thìn thì tôi đã nghe bác Diệc và thằng Vách kể, họp đội tôi vẫn báo cáo, nhưng đến lúc đội trưởng Cự nói thì những việc đội trưởng vừa phát hiện mới đúng. Không hiểu sao, nghe Cự nói tôi lại nghĩ rồi một chuyện nhảm khác: thằng này đã ngủ với con Đởm. Tôi càng đinh ninh thế khi cách đây mấy hôm độị trưởng Cự đưa vợ ở Đìa lên chào đội, nói vợ đồng chí sắp đi công tác. Cô “rễ” ấy đã được Cự lên đoàn uỷ xin cho đi thoát ly. Cô bé ngơ ngác hôm nào, đã thành người cán bộ áo nâu quần thâm mới, vai đeo túi vải kaki, nhanh nhẹn hoạt bát. Cái ám ảnh mấy đợt cải cách đội trưởng đã chế tạo ra không biết mấy cái rễ vợ như thế lại lẩn quẩn trong tôi. Vợ mà đi công tác thì cái thằng “Nguyễn Bổn” ấy lại ngủ ngay với người khác thôi. Cái thằng mắt lúc nào cũng đỏ cá chày thế kia chịu sao được tối nằm không. Ờ mà mấy sớm nay không thấy đơm đón đường kéo tôi vào bụi duối. Mọi khi Đơm vẫn liều lĩnh như con cún đói ngồi rình chụp mồi trong but. Đơm núp trong ấy từ lúc chưa tỏ mặt người. Có hôm, tôi chui được ra thì áo toác chỉ lung tung, một bên má bị cắn rớ’m máu. Đến họp đội, tôi nói bịa vô ý đâm vào cái cọc chạn bát.
Mà Cự đã phân công anh đội khác về Đìa. Cự đã lên ở nhà bác Diệc, văn phòng đội, họp đội cũng lên đây. Tôi mang máng đoán ra. Tôi chẳng ghen tức nỗi gì, tôi chỉ phân tích ra thế. Đi họp, tôi chi nghĩ quanh quẩn vẩn vơ.
Nhưng vài hôm không gần gũi Đơm cũng lại nổi cơn thèm. Cái ngây ngô của Đơm đáng yêu làm cho mình có cái đàn ông hơn trước những thành thạo ngỗ ngược của Duyên. Trời đương mua lăn phăn. Tôi vác cái cào như đi đánh cỏ, tôi loạng quạng ra đồng. Xem ngỡ may có gặp Đơm. Cánh đồng và gò đồng xa vang trong mưa mù. Nghe tiếng cả bước chân người rào rạo trên cỏ. Giá ban ngay nắng ráo mà được lăn lộn ở đây, vật nhau có rống lên như bò cũng không có đứa nào nghe tiếng. Đương nghĩ thích thú, thấy bóng người trong bịi mưa đi tới. Tôi ngỡ là đội trưởng Cự. Cự thật, Trong trước thấy cái sắc cốt thâm xì nước mưa
- Bội đấy a! Làm gì thế?
- Tôi đi cào cỏ
- Thôi, về đã! Có việc quan trọng. Nghe hai tiếng quan trọng, tôi đã thấy đắng miệng. Tự’ dưng nghĩ ngay đến cái lúc Cự thì thào thằng Đình bị trói nửa đêm đem di.
Tôi bước theo Cự, chẳng nói chẳng rằng. Cự cũng im. Tôi càng rờn rợn. Vào nhà bác Diệc đã thấy cả hơn mười anh đội các thôn về ngồi đây.
Đội trưởng Cự đứng dưới mái tranh, cất tiếng như hô khẩu hiệu:
- Báo cáo các đồng chí, trên đã duyệt án tử hình địa chủ Thìn.
Những người ngồi quanh vỗ tay độp độp như đập mẹt, tôi còn tìm chỗ gác cái cào cỏ và chưa hết cơn hốt hoảng vừa rồi, chưa hiểu thế nào, đến lúc nghe thấy thế lại sợ tiếp. Địa chủ Thìn xóm Chuôm, lại bậnn bịu lôi thôi đến tôi rồi. Chỗ giam lão ta cũng tại ngay nhà lão, tôi thường đi qua kiểm soát dân quân canh gác. Một lão già tám mươi tuổi heo hắt như cái dây khoai, mắt thong manh mù dở, khoèo chân không duỗi ra được. Chẳng có ăn thì cũng chi dăm hôm nữa lão ngoẻo thôi.
- Tôi phân công đồng chí Bội đội phó phụ trách toà án chịu trách nhiệm hôm tổ chức xử địa chủ Thìn. Các thôn khác huy động triệt để quần chúng đi dự.
Lần nay, tôi không thể lùi đi, đổ việc cho ai. Thế là, cũng đột nhiên tôi cứng cáp, nhanh nhảu, phát biểu và ghi chep nhoay nhoáy nhanh như máy.
Tôi ra họp tổ dân quân. Bọn con gái vừa trông thấy tôi, đã nói to như mách nước cho tôi biết phải theo thế: “Các đồng chí nam vào bắt thằng tù. Chúng em đứng ngoài canh gác. Cả tổ trưởng Duyên cũng vào hùa với chúng nó và tôi đã cắt đặt theo như thế. Sớm hôm sau, bốn người đeo súng trường vào chỗ giam địa chủ Thìn. Người nào cũng hăng hái, sững sờ khác thường như vừa có chén rượu. Tôi đứng giữa nhà, nhìn bao quát. Hai người mở chốt cũi. Đũng quần lão già đầy kẹp cứt, cả gian âm u ẩm ướt thối không chịu được. Mấy người nhà xúm lại khóc rưng rức, đỡ lão Thìn.
Tôi hét:
- Cút ra đằng kia!
Một dân quân vào bếp lấy ra cái đòn ống. Trưởng thôn Cối ở đâu xồng xộc chạy vào, cúi xuống, lột cái áo vét đã đen địa chủ Thìn đương mặc, ngẩng lên cười hê hê: “Để cho mày khỏi vướng rồi Coi xỏ fay vào mặc áo luôn. Lão tự bị buộc tay buộc chân, hai người khoác súng xỏ đòn ống, khiêng boông beêng đi. Cái lưng áo dạ với hai vai nhấp nhô của Côi, tôi ngờ đây là lão Thìn đã lộn kiếp, nhập sang người thằng kia.
Bãi mít tinh đông nghịt người. Giữa đám, lại những túm là móc diều, những tàu dừa kết thành mm hàng rào xanh trang trí sau bàn toà án.
Cuộc đấu lên nổ liên tiếp, khi địa chủ Thìn vừa được đặt xuống ngồi tựa vào cái cọc. Người chạy lên chạy xuống, tới tấp.
- Mày có biết tao là ai không?
Thế nào mà tiếng lão già sắp chết này vẫn nói sang sảng:
- Thưa bà nông dân… tôi không biết…
- Tao đi ở cho cháu mày.
- Thế thì tôi không biết thật ạ.
- Mày lấy roi cặc bò đánh tao. Đả đảo địa chủ!
Rồi hớt hải chạy xuống giữa tiếng đả đảo cuồn cuộn trong đám người.
Cái bãi lau chen chúc lôi thôi, đần nước trắng đằng cuối. Những con chim hét đen tuyền, những đàn cò trắng không dám đậu xuống, lượn quanh trên trời với mấy con diều hầu. Thường ngày, trẻ con chăn bò trên bờ cỏ lác đằng kia. Cái sa chắn cá trong hõm xâu vào lạch ruộng, xưa kia đây chỉ toàn bãi rậm. Xa xa, dưới bồng gò đất chơ vơ giữa đồng, những xóm mới, xóm trại nhích lại dần. Tôi vẫn hay đi qua đây, sáng chiều nước ánh lên bóng người tha thui ngoài sông ngoài đồng về lúc chặp tối, đã bao nhiêu đời buồn bã thế.
Lát nữa lão Thìn sẽ chết ở cái bãi mà mới năm trước, lão thuê cả lính bốt, hương dũng đốt cỏ lác cày vỡ hoang.
Lão Thìn lả người, lăn quay ra giữa bãi đồng văn tự, giấy tờ, sổ sách chữ Tây chữ ta trong nhà lão khuân ra đốt, khói urn lên, tàn than lả tả bay như đàn bướm đen. Những tiếng quát xô lên: Không cho nó nằm! Nó nằm sập gụ cả đời rồi! Bắt nó đứng! Bắt nó… Địa chủ Thìn bị xốc lên, trói hẳn vào cái cọc đã chôn sẵn. Đầu lão ngật đi. Chốc chốc lại ỉa tháo ra cái quần đã tụt võng hẳn xuống hai đốt chân bằng cái ống nứa.
Tôi ở ghế chủ toạ đứng lên đọc một bản cáo trạng tội ác lão Thìn. Nhà nó đã mấy đời bóc lột, càng ngày càng giầu, càng ác. Nó thu thoc ta cho Phap, cho Nhật, khi kháng chiến đội lốt làm chủ tịch xã, dến hồi Tây về nó ra làm tổng uỷ – nó là con chó săn của hai, ba đế quốc. Con gái nó đui què, câm điếc, nó bắt nông dân phải lấy, rồi lại phải phải cấy rẽ giả nợ… Đả đảo địa chủ, cường hào ác bá…
Giữa những tiếng láo nháo hô đả đảo, bác Diệc run run bước lên. Mặt tái ngoét như con gà cắt tiết. Tổ dân quân mấy xóm dàn hàng ngang. Đơm khoác súng đứng hàng đầu. Duyên thắt lưng, đeo lựu đạn, vẻ quắc thước quân sự. Đôi lúc, Duyên mặt đỏ hây, cặp mắt nhìn xuống hai đâu vú đương cương cong tớn. Thấy thế, tôi mới nhớ vẫn Duyên ấy. Đơm thì nước mắt ròng ròng nhìn lên tôi. Có phải những giọt nước mắt nói: ông em ngay trước đây.
Bác Diệc chỉ tay vào địa chủ Thìn:
- Tao thù mày! Tao thù…
Rồi khóc rong lên, chạy xuống. Đội trưởng Cự Cự xô ngay ra trước loa, quát to:
- Hôm nay là ngày thắng lợi của giai cấp nông dân chúng ta, cấm không ai được khóc.
Ở đám các làng ngồi chen chúc, một bà lão gày rạc, da mặt đọng từng vũng nhăn nhúm. Bà lão nói choang choác: “Đận đói năm trước, nhà tôi một tháng chết mất ba người. Đến đận này ruộng kiệt nước, đói dài hai năm mà không ai chết. May được bộ đội về đây giồng rau muống, rau lang an trợ thời. Cái khi thằng Thìn làm phó lý, chồng tôi chậm thuế thân, thằng Thìn cho tuần vào bắt cái nồi tư, tôi đương kéo vó bè, nó rỡ cả vó. Nhờ các ông các ba lên kê khổ hộ tôi.
Lại nghe loác choác, bô bô tiếng lão Côi điếc:
- Bố thằng Tư Nhỡ làm hương kiểm, một đêm, nó sai tôi đi úp trộm cá ngoài ao làng. Khán thủ bắt được trói đánh đau quá, tôi phun ra hương kiểm sai. Khán thủ cũng phải sợ thế lực hương kiểm, nhưng từ bấy giờ hương kiểm thù tôi làm nó bẽ mat, cứ gặp tôi đâu là đánh. Một đêm có lệnh canh đê trên phủ từ về gấp. Khán thủ cho tôi đem giấy vào hương kiểm. Hương kiểm nhà giầu sợ cướp đã có hiệu trước, không cho tuần đinh gọi cửa đêm, hễ có việc quân chỉ được đứng ngoài thổi tù và gọi. Tôi đứng bờ ao, rúc từ và từ nửa đêm đến gà gáy sáng, phồng rát cả hai má, long oc, ret run cầm cập vẫn không thấy ai ở nhà hương kiểm ra. Sau trong xóm nghe tù và điếcc tai quá, phải chạy vào gọi hộ. Hương kiểm vác hèo ra njt: “Sao mày không thổi giục chứ thổi như đi tuần thế thì bố mày càng không biết. “Rồi quật tôi ba hèo bắn máu đít. Tôi đã ghi cả vào óc rồi. Cha làm con chịu, cái thằng từ Nhỡ bây giờ phải đền tội cho thằng bố, thằng cụ, thằng kỵ nhà nó.
Một người nói:
- Hôm nay mới đấu thằng Thìn, chưa đến lượt tư Nhỡ.
- Ấy chết, tôi cứ tưởng hôm nay đến thằng tư Nhỡ?
Chẳng ai trả lời lão điếc lại say rượu. Không biết có phải vì cái khổ đã đau đớnlắm rồi, lại nghe nhiều rồi, chẳng mấy người muốn nói nữa. Một lát, cái bà lão lúc nãy lại hỏi: “Nó lắm vợ quá, năm vợ, mười bốn con, đã ai lên đấu nó cái tôi bóc lột ấy chưa?” Cũng không ai trả lời cau hoii ngu ngơ. Một người dáng như tổ trưởng, xách cái gậy lảng vảng đến. “Đây không phải cái chợ. Ai xì xào nữa người ta cắt lưỡi đấy.
Cả nghìn con người lại im như tờ. Khi một loạt tiếng súng toả khói xanh um lên, đám đông ở dưới đẩy nhau chạy. Ai cũng khiếp tiếng nó. Người hãi máu, bịt mắt lại. Người nhốn nháo ra các ngả. Tiếng trống cả rung của đội thiếu nhi nói lên khua rầm rầm, vang vạng. thế là địa chủ Thìn chết, chết trước khi phục, chẳng biết địa chủ mà bị xử chậm lại gặp đội sửa sai thì có được tha không, nhưng dẫu có may mắn thế, chắc lão cũng ốm chết trước đấy lâu rồi.
Thế mà ngay tôi ấy lại có họp – một tổ cán bộ đoàn uỷ xuống huyện vận động sản xuất và hô hào đóng thuế nông nghiệp. Việc hoả tốc phải quán triệt ý nghĩa quan trọng vụ mùa tới và định mức thuế tạm thu. Mọi đêm, cuộc họp nào cũng chật cứng ra cả ngoài sân đền. Tối nay mỗi xóm có tổ vài người gom lại. Hơn mấy chục đầu lố nhố, đi mít tinh cả ngay lại xem bắn người, khiếp quá chưa lại sức, hay tan tác đâu chưa hoàn hồn về, hay sợ lại phải họp oqr gần cái bãi tha ma ban trưa, người ta hốt hoá ỳ ra. Những việc cấp bách không thể hoãn, tối mai tổ cán bộ huyện đã sang làng khác.
Cuộc họp lèo tèo mà vẫn hỗn dộn triền miên như mọi khi. Một cán bộ đọc to thư của liên khu kêu gọi đóng thuế nông nghiệp, sau phổ biến bốn câu hỏi để lần lượt thảo luận. Vài người – có những người đã thành thói quen ở cuộc họp nào cũng hay nói, nói nhiều, đã quen mặt và nhàm tai, cả đám người khác rúc đầu vào canh tay, làm con vịt ngủ.
Rồi cán bộ trịnh trọng phổ biến mức thuế của xã cho xóm: vụ này tạm thu năm tấn. Cán bộ xoè hai bàn tay làm loa nói to kêu gọi mọi người thi đua đóng thuế. Hai tổ trưởng nông hội ngủ từ lúc nào, có người đằng sau đẩy vào đít, bật dậy, ú ớ giơ tay:
- Tôi thi đua!
- Tôi, tôi nữa!
- Đề nghị cho tổ tôi…
Lại một người kêu to:
- Đồng ý, đồng ý.
Ai cũng hô theo: đồng ý…
Vẫn chưa họp xong. Con việc bình cho một nông dân lên huyện học bảy ngày để về làm công tác vệ sinh viên. Có người nói:
- Còn có cụ Cối rỗi việc, lại thành phần rễ chuỗi, cho cụ ấy đi học vệ sinh viên.
Một người ghé tai cụ Cối, hét lại thế. Cụ Cối cười: “Cấp tiền cho tôi thì tôi đi ngay” – rồi cười giơ hàm răng móm, lão già tai lành tai điếc mà khôn lòi tù và. Cả làng au rau muống khô cứu đói lại đòi người ta đóng tiền cho lên huyện ăn cơm.
Cán bộ cả tiếng hô hào tương thân tương ái, ủng hộ người đi học vệ sinh là tiến lên văn hoá mới. Chẳng ai để tai. Nghe tiếng lão Cối ngáp to: “Gà gáy rồi, giải tán thôi, có gì mai họp nốt. Mới người ù té về. Cũng chưa ngã ngũ ai lên huyện bảy ngày học vệ sinh viên.
Tôi mệt bã người. Vẫn còn ám ảnh mùi máu, mùi hôi thối bắn ngay. Cổ khan lại, tôi bỏ không nuốt được bát rau muống khô của lão Cối để phần. Vùng này đương vào vụ giáp hạt, nhà nào cũng cơm lẫn cám, với rau lang, rau muống khô trộn muối. Thế mà lại kêu gọi sản xuất, trong khi cây mạ vàng óng mới cắm xuống ruộng, chưa biết thế nào. Lại còn sắp sẵn thuế tạm thu, bổ đầu từng xóm. Tôi không hiểu ra sao, lại nghĩ bài bây ra sao thi ra. “Cũng như trong buổi họp, bảo thi đua, người ta giơ tay thi đua bạt mạng. Duyên vẫn cầm tiền của tôi, thấy tôi không ăn cơm được thì mai lại lên chợ mua bánh đúc ngô, cái ngô nướng, chiếc bánh khoai, đem về cho tôi ăn vụng như cái Đơm mấy hôm trước vẫn đi mua thế.
Tôi lăn vào giường góc nhà nằm gối đầu lên cái túi. Bụng đói cồn cào rỗng không. Những việc bắn ngay dữ dội, việc bắn tối hội họp đến kiệt cùng kẻ ra cũng đã quen qua mấy đợt, chỉ mệt mệt rũ. Chắc Duyên đã đi canh gác. Tôi thiếp đi lúc nào không biết.
Mơ màng như có còn mối hay còn chuột đụng vào chân. Tôi mở mắt, quờ lên cái túi. Không biết đã khuya thế nào, ngoài sân tối om. Trong lô thủng trên mái lá nhà dột, nhấp nhánh ánh sao như những còn đom đóm bay. Sau trận mưa rào cuối mùa còn sót lại, ngoài chuôm, ễnh ương đối đáp nhau inh tai. Thình lình tôi nhìn có bóng người lù lù trước mắt. Nhưng không phải Duyên. Là Duyên thì đã đi xộc vào, không lom khom ngồi xổm thế. Hay là ma, ma lão Thìn, hay là, thằng Cối mặc cái áo vét đến bị hồn địa chủ nhập vào ma đương về trêu tôi.
Tiếng thì thào:
- Anh Bối! Anh Bối ơi!
- Hừ!
- Em là Nhỡ, tư Nhỡ đây. Anh sang đây, anh bỏ em rồi. Ern sắp phải chết bắn như địa chủ Thìn a?
Tôi ngồi dậy, nguôi cơn hốt. Cái thằng tư Nhỡ bên xóm Am. Nó bị câu lưu tại nhà rồi mà. Chắc nó leo tường lội tắt ao sang đây, quần áo ướt sột soạt. Tôi rít khe khẽ trong bóng tối:
- Cút ngay! Bỏ mẹ cả lũ bây giờ! Cút!
- Anh bắn em thật ư?
Tư Nhỏ lại lắp bắp. Bỗng có tiếng lên đạn lạch xạch khô khốc lạnh rợn ngay sau lưng. Tổ trưởng dân quân Duyên hiện ra, thúc mũi súng vào cái bóng ngồi dưới đất.
- Bước! Cho ăn một phát đạn này.
Cái bóng rúm lại, chạy ra, tan vào sương đêm. Duyên cất súng trong xó, lôi ngay tôi xuống đất. Đàn bà, đàn ông ở đây ăn nằm đùa cợt với nhau như gà, chỗ nào lúc nào cũng được. Tôi thấy hợp với tính tôi. Mặt đất đóng hạt trám lổn nhổn mát lạnh như lát gạch mà tôi không cảm thấy. Gian bên, lão Cối ngay pho pho lẫn tiếng nghiến răng, tiếng mê ngủ những đứa trẻ đạp nhau.
Duyên dúi vào tay tôi, chiéc bánh dầy nhân đậu.
- Chiều nay nhịn cơm a?
- ăn sợ mửa, còn tanh quá.
Duyên đút bánh vào miệng tôi, rồi đưa cắn một nửa, vừa nhai vừa lè đổi cho nhau ăn chung, giữa những cấu lào thào rì rấm.
- Anh chết nhé, liên quan rồi, đêm địa chủ mò tới, dân quân bắt được.
- Nó dẫn xác đến chứ.
Duyên lại đe câu khác:
- Từ giờ cấm không được đi tuần đêm.
- Sao?
- Sao trên giời, sao ở ngoài lều canh ấy. Cứ ư ử như chó lẹo nhau bên cạnh người ta, điếc cả tai. Nói cho mà biết, bận sau thì con nay thiến đấy.
Tôi hãi cứng đơ cả hàm, không nuốt nổi miếng bánh. Duyên lại nói rành rọt.
- Vài thưa che mắt thánh a? Lại cái con Đơm ở bụi duối. Cắn cho một cái đứt lưỡi chết tươi này. Chừa chưa?
- Chừa rồi.
- Thật không?
- Thật.
- Thế đi…
Tôi chưa kịpíu ớ đã bị Duyên vật bằng mấy thằng đàn ông lăn ra. Cái mệt thật êm đềm. Lại kể đàn bà con gái vùng này rõ thật ngỗ ngược, lên cơn cứ rằn ngửa người ta ra, khiếp quá. Đói toát mồ hôi lạnh thì càng dữ.
Khuya khuya, Duyên thủ thỉ:
- Em sắp được kết nạp, có phải không?
- Không biết.
- Cả bố em nữa.
- Không biết thật mà.
- Kết nạp em, anh phải đứng tuyên bố.
- Đã bảo không biết thật mà.
- Cái lão đội trưởng mắt cá ngão đỏ ngầu, trông đã thấy gớm. Anh không tuyên bố cho em thì em đét vào đâu.
Rồi hai cái môi Duyên lại nóng rực lên. Tôi không kịp nói tôi chưa phải đảng viên. Tôi nghĩ thế thôi, chứ cũng không ở đâu tôi nói vậy. Không phải đảng viên mà tôi đã mấy đợt tổ chức kết nạp cả chục rễ chuỗi vào đảng. Không biết trên có biết không, chẳng có ý kiến gì cả. Tôi làm việc kết nạp đảng cho rễ chuỗi cũng như đi họp, đi làm đồng.
Tôi cũng có ý đợi xem việc kết nạp Duyên thế nào, có thật không, nhưng đội trưởng Cự chưa nói, rồi công việc lôi cuốn, vả lại, còn đương đói vàng mắt, chắc hãy khoan. Tháng ba ngày tám dần dần lắm nhà thiếu quá. Mấy xã trên, nhiều cốt cán rạc người, thiếu sức, có mấy nơi người chết lăn ra ở những cuộc đấu địa chủ suốt đêm. Hàng ngày quen mat, nhưng tôi cũng hốc hác, nhìn lại cả thôn nay cũng đói vêu vao cả rồi. Tôi để ý cái xương bánh chè hai bên hông Duyên trồi lên thật, mỗi khi ấy Duyên cứ phải co bụng lại cho tôi đỡ đau. Những người như cái xác lướt qua trước mặt, chân tay phù mọng vàng nhợt, đến chỗ họp người ta ngồi xúm lại từng bọn phảng phất chập chờn như những cái bóng. Có ai vừa nói vừa khóc: biết còn sống được mà đấu tranh, mà trông thấy hạt lúa không.
Một xóm nổi bệnh tả. Mấy ngày thôi mà chết mất mười người. Đoàn uỷ có lệnh cho ngừng công tác cải cách. Yêu cầu các đội cùng nhân dân phòng bệnh, cứu đói. Ở trên cho về mấy xe vôi bột rắc khắp xóm, trắng lốp như chỗ nào cũng có đám ma. Cũng chẳng biết làm thế nào, ai chết thì chết thôi. Tôi cho người xuống thôn Đìa quẩy thêm mấy gánh dây rau muống. Cái mảnh ruộng cao quanh chân tre đất rắn như sỏi được cuốc ngay lên trồng rau muống vườn. Lại gây dây mồng tơi, chỗ nào cũng cấy rau sam, rau dền cơm, dền đất, mặt ao thì thả rau rệu – những rau có ấy chỉ nửa tháng đã được, người ăn như con dê nhai lá.
Cả xóm quảy nước, xách nước tưới những vạt ruộng còi cọc, phờ phạc.

Kỳ 46: Cuộc hành quyết man rợ trên núi Mộc Phong – Trung Quốc

Chu Quần cùng chồng và những nạn nhân ghép vào “đối tượng thù địch của đảng và nhân dân” bị thúc ép đi nhanh lên núi Mộc Phong. Nửa đường, một đám cầm gậy tách ra chạy ngược về phía nhà Chu Quần bắt thêm ba đứa con nhỏ của vợ chồng cô lên theo. Tới nơi, dưới ánh đuốc lạnh lẽo, bí thư Đường Minh Hạo dõng dạc đọc “cáo trạng” lẫn bản “tuyên án” chỉ gọn lỏn trong một câu sấm sét:

“Chúng tao là Tòa án tối cao của bần nông, hôm nay tuyên án tử hình tất cả chúng mày!”

Ai nấy phải đứng im, không được phép biện hộ một tiếng nào, nghe kêu tên người nào người đó phải bước tới, quỳ bên miệng hang sâu tối om, để các đao phủ áo đen “dùng xà beng quật vào sau não cho gục ngã, rồi đạp xuống hang” từng người một.

Motthegioi

Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay

Kỳ 46: Cuộc hành quyết man rợ trên núi Mộc Phong – Trung Quốc

Hoàng thân Sihanouk: “Mao Trạch Đông đã chọn cách ủng hộ chế độ mới của Khmer Đỏ để (Pol Pot )ganh đua (thực hiện) cuộc cách mạng văn hóa được vợ ông, bà Giang Thanh, cổ vũ đang tàn phá đất nước ông” (Hồi ký Sihanouk – sđd ở Kỳ 44)
Hoàng thân Sihanouk: “Mao Trạch Đông đã chọn cách ủng hộ chế độ mới của Khmer Đỏ để (Pol Pot )ganh đua (thực hiện) cuộc cách mạng văn hóa được vợ ông, bà Giang Thanh, cổ vũ đang tàn phá đất nước ông” (Hồi ký Sihanouk – sđd ở Kỳ 44)

 Ngọn Mộc Phong tỉnh Hồ Nam có nhiều hang sâu thăm thẳm với các “hốc đá tử thần” đón những xác người bị hành quyết ném từ cửa hang xuống…

Hôm ấy nhằm 21 tháng bảy âm lịch, vùng núi Mộc Phong đã vào tiết Xử thử (dứt cơn nóng) cách đó một ngày. Còn gần hai tuần nữa mới đến tiết Bạch lộ (sa mù trắng) mà chim nhạn đen (huyền điểu) đã sớm bắt đầu họp đàn đông đúc, sum vầy, rủ nhau bay về núi – làm cô giáo Chu Quần thấy lẻ loi thêm. Vì chồng cô, anh Tưởng Hán Chính, thuộc đối tượng “xuất thân địa chủ” bị hồng vệ binh nông dân bắt đi mất, chưa về.
Đêm ấy, đến lượt cô, vừa chợp mắt bỗng tiểu đoàn trưởng dân quân Tưởng Văn Minh xô cửa xông vào, bắt cô dẫn ra sân kho của đại đội sản xuất Hoành Lĩnh. Cô thấy chồng mình Tưởng Hán Chính cùng 13 người khác bị trói quặt tay ra sau lưng bằng những sợi dây thép, đứng thành một cụm giữa sân. Vây quanh họ có đám đông hồng vệ binh nông thôn, mặt mày sát khí, cầm sẵn mã tấu, cuốc xẻng trên tay. Bí thư chi bộ Đường Hưng Hạo ra lệnh: “Đi!”
Chu Quần cùng chồng và những nạn nhân ghép vào “đối tượng thù địch của đảng và nhân dân” bị thúc ép đi nhanh lên núi Mộc Phong. Nửa đường, một đám cầm gậy tách ra chạy ngược về phía nhà Chu Quần bắt thêm ba đứa con nhỏ của vợ chồng cô lên theo. Tới nơi, dưới ánh đuốc lạnh lẽo, bí thư Đường Minh Hạo dõng dạc đọc “cáo trạng” lẫn bản “tuyên án” chỉ gọn lỏn trong một câu sấm sét:
-  “Chúng tao là Tòa án tối cao của bần nông, hôm nay tuyên án tử hình tất cả chúng mày!
Ai nấy phải đứng im, không được phép biện hộ một tiếng nào, nghe kêu tên người nào người đó phải bước tới, quỳ bên miệng hang sâu tối om, để các đao phủ áo đen “dùng xà beng quật vào sau não cho gục ngã, rồi đạp xuống hang” từng người một.
Người thứ nhất, thứ hai, đến người thứ ba là chồng Chu Quần. Anh Tưởng Hán Chính bị đánh mạnh xà beng vào ót trong ánh mắt kinh hoàng của vợ anh và tiếng kêu ré thảm thiết của ba đứa con anh…
Nạn nhân thứ tư là thầy thuốc Đông y Tưởng Văn Phàm. Phàm bình tĩnh đón nhận cái chết, ung dung đòi “một ngụm nước uống”. Chúng quát: “Làm gì có nước cho mày uống!”. Phàm là người duy nhất hôm ấy dám bắt bẻ: “Ngày xưa khi bị chặt đầu còn cho được ba cái bánh bao nóng để ăn!” – dứt lời, bị đạp ngay xuống hang. Tân Tử Lăng thuật tiếp (tài liệu đã dẫn ở Kỳ 2):
Người thứ 8 là Chu Quần. Ba đứa trẻ nhìn mẹ bị hại, khóc lóc thảm thiết. Không biết ngất đi trong bao lâu, Chu Quần bỗng nghe tiếng gọi mẹ văng vẳng bên tai. Tỉnh lại, chị thấy đứa con gái 8 tuổi nằm bên, thì ra mấy cháu cũng bị ném xuống hang theo mẹ. Nhờ đám xác người bị giết trước, hai mẹ con chị sống sót. Chị bảo con cởi trói cho mình. Hôm sau, những kẻ giết người phát hiện dưới hang còn người sống sót, liền ném đá xuống. Hai mẹ con từ tầng trên rơi xuống tầng dưới nơi có những góc chết. Chị phát hiện chồng và hai đứa con trai nằm ở đó. Cả nhà may mắn thoát chết, một cuộc đoàn tụ hiếm hoi và thảm thương trên đống xác người dưới hang sâu tối tăm”.
Sợi dây thép trói tay anh Tưởng chặt quá như ăn dính vào thịt không làm sao cởi ra nổi. Đầu óc anh đâm ra hoảng loạn, không đứng yên được, cứ đi đi lại lại miệng nói lảm nhảm trên đống xác người. Cảnh thê lương dưới đáy hang như thế tiếp diễn suốt mấy ngày đêm không được rõ, cả ba đứa con của Chu Quần “lịm dần rồi tắt thở”. Anh Tưởng kêu khát nước “chị Chu lấy áo thấm vào vũng nước trộn máu, vắt ra cho chồng uống. Song anh không nuốt nổi, gục đầu xuống lìa đời. Sau nhờ hai học sinh đến cứu, chị thoát chết, và vụ giết người rùng rợn này mới có ngày được phơi trần”. Cuộc thảm sát ấy xảy ra đêm 26.8.1967 (21.7 Đinh Mùi).
Nhắc đến các vụ hành quyết man rợ thời Mao là để đối chiếu thấy rõ thêm cách Pol Pot giết người tương tự theo “bài bản của Mao” và phương châm: “tiết kiệm đạn”, không dùng súng, chỉ lấy cuốc xẻng đập đầu, hoặc các vật cứng khác để hành hình, như trường hợp:
Phlek Chhat một bác sĩ nội trú tại bệnh viện Preah Ket Mealea đã bị bắt ở tỉnh Kompong Cham, bị nhét một ngọn đuốc đang cháy vào miệng và đã chết (…) Hàng trăm bác sĩ khác chẳng bao giờ gặp lại gia đình của họ sau khi bị bắt” (Hun Sen – sđd. tr. 250 – 251).
Mọi thảm cảnh ở Campuchia xuất phát từ chỗ “Pol Pot thấy được nguồn cảm hứng đối với chủ nghĩa cộng sản theo kiểu Mao Trạch Đông và tìm cách tái tạo khuôn mẫu chủ nghĩa Mao ở Campuchia qua việc đấu tranh giai cấp và cải cách ruộng đất” (Hun Sen – sđd. tr. 52). Thảm kịch diễn ra ngay từ ngày đầu lúc Khmer Đỏ vừa tiến chiếm Phnôm Pênh vào 17.4.1975 và bùng to dữ dội sau ngày Pol Pot đến Trung Nam Hải “triều kiến” Mao Trạch Đông tháng 6.1975 (xem Kỳ 45):
Khmer Đỏ “phá hủy nền kinh tế, đã đóng cửa các doanh nghiệp và các nhà máy, đã tàn sát có hệ thống những người trí thức Campuchia được phương Tây đào tạo, các bác sĩ, các giáo viên và các nhà khoa học bằng nhiệt huyết điên rồ của Khmer Đỏ xây dựng một nước Campuchia mới, một quốc gia không có bất cứ ảnh hưởng nào của phương Tây và họ đã nhiễm đầy các tư tưởng Mao Trạch Đông để xây dựng một xã hội dựa vào nền nông nghiệp” – một nền nông nghiệp quá lạc hậu và mang đầy dấu vết “nguyên thủy”.
Từ xuất phát điểm ấy, Pol Pot quay ra thù nghịch với hoạt động tài chính đương thời, đã “ghét tiền một cách cực đoan đến độ đánh sập tòa nhà Ngân hàng trung ương tại đại lộ Tou Samouth” (Hun Sen – sđd. tr. 233-234). Bà Saumura – bỏ công việc ở Paris để nhận làm Phó tổng giám đốc Ngân hàng Quốc Gia Campuchia – phê phán hành động đó của Pol Pot là đã “gây tổn thương lớn (…) khi Khmer Đỏ đánh sập hoàn toàn nhà ngân hàng này, Ngân hàng Trung ương, vì nó (dưới mắt Pol Pot) là biểu tượng của chủ nghĩa tư bản. Họ muốn cho thấy thái độ thù địch của họ chống lại thị trường tự do” (Hun Sen – sđd. tr. 234).
Về giáo dục, Khmer Đỏ đóng cửa các trường học, hành quyết các nhà giáo, để rồi: “không sao có thể xây dựng lại một hệ thống giáo dục đúng nghĩa vì các giáo viên đã chết – toàn bộ những người làm nghề giáo đã bị giết bằng lưỡi lê” – Hun Sen, sđd. tr. 248. (còn nữa)
Giao Hưởng

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

"Dân chủ" hay "phản dân chủ"?

"Cách mạng Nhung" VN đang đến?

Hãy từ bỏ việc đồng nhất Tổ quốc và quyền lợi của nhà cẩm quyền. Đó là một nhầm lẫn tai hại do tuyên truyền khiến người VN khốn khổ từ bao đời nay.
Thời đại đã khác. Cách thức tiến hành chiến tranh vệ quốc hoàn toàn khác. Có nhiều biện pháp không phải mất súng đạn và máu xương. Sử dụng những thế cờ chính trị trong một tổng thể liên minh, bằng CM Nhung và chiến tranh ngoại giao là biện pháp duy nhất có thể cứu nhà cứu nước trong thời điểm này.


§ VN bên bờ hủy diệt
Có thể nói rằng nhà cầm quyền TQ đã thực hiện một kịch bản và chọn thời cơ hoàn hảo cho việc thôn tính VN. Với tiền lệ Nga ngon xơi một phần lãnh thổ của Ucraina mà Mỹ và châu Âu cũng chỉ có thể phản ứng yếu ớt trên sự đã rồi, TQ càng thêm táo tợn.
Vòng vây xâm lược của Trung quốc thêm ráo riết, đặt ra những tình huống khốc liệt. Nhà cầm quyền VN ngày càng bối rối và có quá ít điều để lựa chọn. Trong khi đó, TQ tấn công ngày càng mạnh mẽ trên mọi phương diện, đặc biệt là truyền thông. Thông cáo của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 8/6/2014 tố cáo : “… từ 5 giờ chiều ngày 7/6, lúc cao điểm có tới 63 tàu Việt Nam trong khu vực. Các tàu này tìm cách phá vỡ hàng rào của Trung Quốc và đâm vào tàu chính phủ của Trung Quốc tổng cộng 1.416 lần”. Bằng những phương tiện theo dõi hiện đại, các nhà quan sát quốc tế có thể phân định được đúng sai. Nhưng VN đang là nạn nhân thì phản ứng một cách hết sức yếu ớt, thậm chí nhiều người có trách nhiệm vẫn bao che cho TQ, vẫn chưa chịu kiện TQ ra tòa án quốc tế thì việc mất nước theo những bước leo thang táo tợn của TQ là điều đương nhiên.
Không ai dám đảm bảo rằng TQ, qua một số người trong nhà cầm quyền VN đang được dư luận cho rằng đớn hèn và bán nước, sẽ không sử dụng thủ đoạn tương tự Nga đã làm với Crưm, sẽ mượn cớ “trưng cầu dân ý” và dùng vũ lực để chiếm đoạt VN trong một ngày không xa.
Phải chăng nhiều nhà cầm quyền VN đang trên lộ trình đã cài đặt sẵn là ôm đống vàng cướp bóc được của dân để ngủ ngon trên đống giáp trụ đã cởi bỏ để quy hàng TQ. VN sẽ biến mất trên bản đồ thế giới?!
Hoặc toàn dân VN sẽ mù quáng tuân theo tiếng gọi nô lệ cho chủ nghĩa dân tộc và nhà cầm quyền thực dân, quên nhu cầu làm người của mình, ưỡn ngực ra trận “còn cái lai quần cũng đánh”, sẵn sàng tan xương nát thịt trong biển máu theo đuổi một cuộc chiến hoàn toàn không cân sức với TQ?
Còn cách nào khác không? Một cánh chim nhỏ cô đơn giữa tầng không còn có thể làm gì?

§ Đã đến, khoảnh khắc CM Nhung VN
Ngày 24/5/2014- Want China Times cho biết chuyến bay HU-7863, cất cánh từ tỉnh Sơn Tây, gặp phải sự cố khi vừa đến sân bay quá cảnh Lạc Cương Hợp Phì ở tỉnh An Huy. Nguyên nhân sự cố là do máy bay đâm phải một con chim. Cú va chạm khiến mũi phi cơ bị móp, trầy xước nặng. Máy bay phải hạ cánh khẩn cấp.
Lịch sử hàng không thế giới đã ghi nhận nhiều trường hợp một cánh chim có thể làm tan xác một chiếc máy bay khổng lồ có sức mạnh và vận tốc triệu lần. Nguyên nhân chủ yếu do lực cộng hưởng và xung lực vô cùng lớn tại khoảnh khắc va chạm.
Quy luật này hoàn toàn có thể vận dụng trong nhiều lĩnh vực của xã hội, đặc biệt là những thời điểm hội đủ điều kiện cộng hưởng các xung lực cho một cuộc cách mạng.
 
Cách mạng Nhung VN cũng vậy thôi.
Đó sẽ là một cuộc cách mạng êm ái, ít gây thiệt hại nhất, các bên đều gặt hái lợi ích khả thể, và quyền lợi của của dân VN đã bị thể chế độc tài cướp đoạt sẽ được trả lại bằng một thể chế minh bạch, đa nguyên.
Khoảnh khắc đó đang đến với VN, và đã chín muồi…
§ * Xung lực tạo Cách mạng Nhung VN
Vấn đề là xung lực nào và ai có khả năng nắm bắt nó để biến CM Nhung VN thành hiện thực?
Xung lực quan trọng nhất là từ bên trong thể chế chính trị . Nhân tài vật lực VN đã cạn kiệt. Các số liệu từ mọi phía, nếu không là dối trá che đậy, đều cho thấy nền kinh tế và chính trị VN đều có thể sụp đổ bất cứ lúc nào nếu không thay đổi.
Mối nguy Trung quốc xâm lược, mối nguy nước mất nhà tan đã vô tình tập hợp được một lực lượng đông đảo mọi sắc cờ người VN dù ở trong hay ngoài nước đòi hỏi phải cải cách mạnh mẽ để bảo vệ Tổ quốc.
Rất nhiều người dân VN đã quá chán ngán và bất bình trước nhà cầm quyền đương nhiệm. Ngay cả phần lớn các cán bộ công chức, đảng viên bảo thủ cũng khao khát có được một gương mặt lãnh đạo xứng tầm, đáng tin cậy để bảo vệ đất nước và giữ quyền lợi cho chính họ.
Tầng lớp cấp tiến, bao gồm nhiều nhân sĩ trí thức, các tổ chức xã hội dân sự và những công dân thuộc các tầng lớp sớm tỉnh ngộ trong và ngoài nước, đang có những hoạt động mạnh mẽ cả về hành động và truyền thông, được nhiều lực lượng trọng công lý và nhân quyền trên thế giới ủng hộ. Số lượng này đang nhân bản theo cấp số nhân, đòi hỏi đưa đến một cuộc cách mạng xã hội và thể chế chính trị.
Trong hoàn cảnh đó, sự kiện giàn khoan Trung quốc, vô tình lại như một mồi lửa rất đúng lúc làm cháy đống củi, là một cơ hội để người VN thoát ra khỏi ảo tưởng, thoát gọng kìm Trung quốc.
Lựa chọn sống còn đó chỉ có thể là: thực hiện cấp bách một cuộc cải cách thể chế để VN đủ điều kiện đón nhận cánh tay mạnh mẽ, đáng tin cậy của nước Mỹ và các nước đồng minh. Muốn Mỹ thực sự bảo vệ như một đồng minh, thì phải đồng thời làm CM Nhung VN để cải cách thể chế.
May mắn ngoài sức tưởng tượng cho VN, trên thực tế, Mỹ đã chìa tay ra, công khai và lẫm liệt, dù với một nhà cầm quyền từng bộc lộ nhiều tráo trở như VN.
Tổng thống Mỹ Barac Obama, ngày 28/5/2014, trong bài nói chuyện về chính sách đối ngoại của Mỹ tại học viện quân sự West Point tuyên bố : “Một hành động gây hấn dù là ở Nam Ukraine, Biển Đông hay bất cứ nơi nào khác trên thế giới đều có ảnh hưởng đến đồng minh của Hoa Kỳ và có thể kéo theo hành động quân sự của nước Mỹ”.(theo RFA -2014-05-28 ).
Ngày 31/5/2014, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ - Ông Chuck Hagel tại Đối thoại Shangri-La tại Singapore, đã mạnh mẽ nói "Chúng tôi kiên quyết chống lại bất cứ hành động khiêu khích, gây hấn hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để khẳng định chủ quyền từ bất cứ quốc gia nào".
Ý chí của nhà cầm quyền Mỹ cũng được ủng hộ bởi các nhà lập pháp tại Thượng viện Mỹ.
Nhiều giải pháp của các chuyên gia có uy tín trong và ngoài nước VN đã được đưa ra. Lựa chọn cải cách thể chế, bắt tay với Mỹ và đồng minh đang là xu thế ưu việt nhất.
“Không liên minh quân sự với Hoa Kỳ thì chắc chắn mất Biển Đông. Liên minh quân sự với Hoa Kỳ thì vừa giữ được Biển Đông vừa giữ được môi trường hòa bình. Trong tình thế hiện nay mà chỉ thề một lòng vì hòa bình tức là khoanh tay nộp mạng cho bọn Đại Hán. …cùng ta giữ Biển Đông trong trường hợp cụ thể này chỉ có thể tìm kiếm chủ yếu ở Hoa Kỳ…Muốn liên minh được với Hoa Kỳ chỉ cần Đảng bớt độc quyền, độc đoán, độc tài vì Đảng mà hãy vì nhân dân, vì Tổ quốc mở rộng tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền.”(TS Nguyễn Thanh Giang trả lời PV RFA)
Giáo sư Jonathan London – một trong những nhà nghiên cứu về VN rất có uy tín trên thế giới đã phân tích rõ: “Có những hạn chế nhất quán về quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam liên quan đến tình hình nhân quyền, và mỗi khi đề cập đến việc này thì phải đối mặt với một rào cản. Vì vậy, có rất nhiều điều Việt Nam cần phải làm ngay lập tức nếu thực sự muốn có bạn bè và đồng minh… Ðó là lý do tại sao nhiều người cho rằng có nhiều triển vọng cho Việt Nam, vì nếu Việt Nam bước trên một lộ trình khác, một lộ trình thực sự độc lập mà không phải là một đàn em của Trung Quốc, và giải quyết những vấn đề thể chế, bao gồm việc không giới hạn nhân quyền từ trước đến giờ cản trở nhiều mối quan hệ với các nước khác…”.
“…cần tìm tới một đồng minh xa xôi hơn, như Hoa Kỳ chẳng hạn, quốc gia có thể sẽ chấp nhận tham gia vào mối quan hệ địa chính trị, và họ cũng là quốc gia duy nhất có thể cân bằng lại với sức mạnh của Trung quốc, còn nếu riêng từng nước đơn lẻ trong khu vực thì không thể đấu lại được,” “… Nhưng lúc đó Việt Nam sẽ ở vào vị trí phải thương lượng với người Mỹ, mà một khía cạnh có lẽ chắc chắn được đề cập tới là nhân quyền và sự minh bạch trong chính trị Việt Nam…Với cách làm này thì điều sống còn là Đảng Cộng sản Việt Nam phải tách rời phương Đông thêm một chút, và chấp nhận cởi mở nền chính trị vốn đang giữ kẽ với Hoa Kỳ…Như thế có nghĩa là Hoa Kỳ đã bày tỏ ý kiến rằng, chúng tôi chỉ trao vũ khí cho các anh để phòng ngự khi các anh chấp nhận tiến trình dân chủ.( - Ông Gédéon, nhà nghiên cứu người Pháp - (theo BBC- 25/5/2014).
Rõ ràng, với VN hiện nay, Nhật bản đã là một tiền lệ thành công đáng học hỏi. Gần một thế kỷ nay, Mỹ không bất tín với Nhật. Nước Nhật vận hành trên đường ray của Mỹ ngày càng yên bình, hùng cường và được tôn trọng trên toàn thế giới. Gần đây là những thí dụ về Myanma, Philipin và Ucraina…
* Ai lãnh đạo Cách mạng Nhung?
Thời cơ Cách mạng Nhung VN đã đến, thậm chí CM Nhung đang diễn ra từng giờ phút?
Cách mạng Nhung VN chỉ có thể thành công khi có được sự ủng hộ của đông đảo người người dân VN yêu hòa bình, chuộng sự thật và nhân quyền trên cơ sở nội lực và sự ủng hộ giúp đỡ của nhiều cường quốc văn minh trên thế giới
Nhưng ai lãnh đạo CM Nhung VN? Ai đủ năng lực và tầm cỡ?
Thực tế cho thấy CM có vô số con đường xẩy ra ở một quốc gia, thường rất bất ngờ, thậm chí những chuyên gia chính trị không hình dung nổi.
Lãnh đạo một cuộc CM, nhiều khi không hẳn là một cá nhân đủ uy tín, trong sạch, đại diện cho một lực lượng ưu tú của xã hội đương thời. CM nhiều khi khơi nguồn và dẫn dắt từ một vài nhân vật nào đó đã nhận thức ra sai lầm của mình và bị dồn vào tình thế “Thay đổi hay là chết”.
Đó là câu chuyện bí ẩn muôn đời giữa Thời và Thế. Ai đủ khát vọng, đủ tinh nhạy, dám thay đổi và đủ lực nắm được khoảnh khắc ngàn năm có một của CM Nhung, người đó sẽ thắng.
 
Ở VN hiện nay, ai có thể?
Cuộc biểu tình được chính quyền bật đèn xanh rộng khắp tại nhiều tỉnh thành VN ngày 11/5/2014 vừa qua phải chăng là một phép thử, một cuộc tập dượt, chuẩn bị cho những toan tính của lực lượng nào đó ở tầm vĩ mô?
Phân tích tình hình, GS Jonathan London nhận định: …” Tôi không biết ông Nguyễn Tấn Dũng đóng vai trò nào trong tương lai chính trị của Việt Nam, nhưng tại thời điểm này ông rõ ràng đã trở thành một lãnh đạo nổi bật nhất của đất nước, trong khi đó một số các nhà lãnh đạo khác phần lớn im lặng về các cuộc xung đột hiện nay với Trung Quốc. Việt Nam chỉ có thể có lợi trong việc lợi dụng tình huống này như một cơ hội để đạt được những cải cách mang tính đột phá mà mọi người dân Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới đã chờ đợi và khuyến khích. Cái cần phải có là can đảm chính trị”.
Không ít người tán đồng nhận định này.
Nguyễn Tấn Dũng – mặc dù lộ trình lãnh đạo của ông trong vai trò Thủ tướng bên một Đảng độc tài mà ông vừa lũng đoạn lại vừa bị kiềm chế, đã để lại rất nhiều hậu quả khiến cho tham nhũng mặc sức tung hoành; TQ tha hồ cướp bóc cả về chính trị và kinh tế, ngoại giao; nền kinh tế VN khánh kiệt, nhân quyền bị xâm hại nghiêm trọng, và đất nước bên bờ sụp đổ… Ông đã từng làm cho người dân VN phẫn nộ và chán ngán.
Nhưng xem ra, trong tình thế này, ông đã có một lựa chọn hợp lý. Ông là vị lãnh đạo thức thời khi nhận ra rằng phải thay đổi thì mới giữ được quyền lợi của mình và giữ được đất nước. Ông kêu gọi cải cách thể chế và thẳng thắn phản đối TQ xâm chiếm lãnh thổ VN. Khuynh hướng mà ông tỏ rõ là thoát TQ và bắt tay với Mỹ.
Hành động của vị Thủ tướng này đã tạo sự nổi bật trên chính trường. Dù chưa ai có thể dám chắc chắn về sự thực tâm của ông đến đâu. Nhưng chí ít, hành động này đã tạo sự đối lập với những vị lãnh đạo khác đang lờ đi hoặc bày tỏ yếu ớt, thậm chí còn ve vuốt TQ, khiến cho người VN vô cùng thất vọng vì mỗi giây phút qua lại càng gần bờ vực mất nước.
Nguyễn Tấn Dũng đã đưa tay cầu cứu về phía Mỹ và các cường quốc thuộc thế giới văn minh . Nếu muốn Mỹ thực sự giúp VN, như Nhật bản trước đây đã được Mỹ cứu giúp khi đại bại sau thế chiến II, dù muốn hay không, vị Thủ tướng này cũng phải tận dụng mọi lực lượng, ngay trong tầng lớp lãnh đạo VN đương nhiệm và người dân VN, hợp lực làm một cuộc đại loại như CM Nhung Việt Nam để cải cách thể chế, vượt rào cản ngăn VN với sự cứu giúp của thế giới văn minh.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện đang được nhiều nhà quan sát hy vọng là nhân vật có thể tận dụng uy quyền cũng như những thủ pháp tập hợp lực lượng từ nhiều phía. Nếu thế, phải chấp nhận thương thảo, điều hòa các quyền lợi để xác lập một thể chế đa nguyên, dù chưa hẳn ông đã thực sự muốn. Nhưng chỉ có thể bằng cách này mới giúp ông và nhóm lợi ích của ông cũng như nhà cầm quyền VN thoát khỏi tình thế khủng hoảng chính trị và mất tất cả. Đó cũng là cách vừa tránh đổ máu cho dân VN mà vẫn bảo vệ được đất nước.
Đó là lối thoát ưu việt nhất. Nếu ông làm được, người dân VN sẽ tha thứ cho ông về những hậu quả trước đây trong vai trò là một Thủ tướng và biết ơn ông vì mở ra một trang mới cho VN.
 
Đây là thời điểm mà người VN cần sáng suốt lựa chọn.
Hãy từ bỏ việc đồng nhất Tổ quốc và quyền lợi của nhà cẩm quyền. Đó là một nhầm lẫn tai hại do tuyên truyền khiến người VN khốn khổ từ bao đời nay.
Thời đại đã khác. Cách thức tiến hành chiến tranh vệ quốc hoàn toàn khác. Có nhiều biện pháp không phải mất súng đạn và máu xương. Sử dụng những thế cờ chính trị trong một tổng thể liên minh, bằng CM Nhung và chiến tranh ngoại giao là biện pháp duy nhất có thể cứu nhà cứu nước trong thời điểm này.
Đây là tình thế muôn năm có một. Người VN cần biến lòng yêu nước và chủ nghĩa dân tộc cực đoan thành lòng yêu hòa bình và yêu quyền con người của chính mình và đồng loại bằng cách đồng lòng chung tay thiết lập một thể chế chính trị có đủ điều kiện tối thiểu để bảo vệ điều đó.
Ngày 7-6 vừa qua, trong Lễ tuyên thệ nhậm chức, Tổng thống mới của Ukraine, ông Petro Poroshenko đã nói những điều cốt thiết cùng đồng bào của ông – những người vừa đứng lên làm một cuộc cách mạng lật đổ nhà cầm quyền thực dân và tham nhũng, bán nước để giành quyền đi về phía một thế giới văn minh: “...Nhưng tự do không thể đạt được chỉ một lần và mãi mãi. Chúng ta luôn luôn phải đấu tranh vì tự do…Không ai có thể biến chúng ta thành nô lệ tội phạm và quan liêu, thành đầy tớ của chính quyền thực dân…”
Người dân VN cũng vậy. Mỗi công dân phải dũng cảm đứng lên đòi quyền con người, dũng cảm bộc lộ thái độ đối với những kẻ bán nước, không khoan nhượng với việc chậm trễ cải cách thể chế và không bao giờ thỏa mãn với những thành quả tạm thời đã đạt được.
Như thế, mỗi người sẽ góp phần vào thúc đẩy sự thành công của CM Nhung VN. Thiết yếu nữa là hãy luôn cảnh giác với khuynh hướng tự nhiên đi về phía lạm dụng và đồi bại của tầng lớp cầm quyền dù cũ hay mới, dù ở thể chế nào nếu không có một thiết chế xã hội hữu hiệu để ngăn chặn.
Người VN cần rất nhiều dũng lược và kiên trì, đồng lòng, hết thế hệ này sang thế hệ khác để canh giữ nền hòa bình, tự do và công lý ngay cả sau khi CM Nhung thành công. /.
  Võ Thị Hảo
Facebook Võ Thị Hảo

Phân hóa giàu nghèo ở VN có xu hướng gia tăng

Một người bán dạo trên đường phố Sài Gòn hôm 30/11/2013



Phân hóa giàu nghèo ở VN



rong cuộc thảo luận về thực hiện chính sách giảm nghèo giai đoạn 2005-2012 tại kỳ họp Quốc hội thứ 7-khóa XIII, hôm mùng 7 tháng 6, được đánh giá đạt được những kết quả ấn tượng nhưng vẫn còn nhiều lực cản trong mục tiêu giảm nghèo bền vững.

TS Trịnh Hòa Bình, Phó Tổng thư ký Viện Xã hội học VN có cuộc trao đổi với Hòa Ái để tìm hiểu thêm về hiệu quả của chính sách giảm nghèo ở VN hiện nay.
Chuẩn nghèo

Trước tiên, TS Xã hội học Trịnh Hòa Bình nhận xét về ý kiến của đại biểu Quốc hội cho rằng do “bội thực chính sách” nên dẫn đến tình trạng xóa đói giảm nghèo chưa đồng đều và thiếu bền vững:

Nguyên nhân gọi là có đại biểu bình luận đưa ra rằng là có quá nhiều chính sách dẫn đến “bội thực” thì không phải là không có. Tuy nhiên đó không được xem là nguyên nhân chính, không phải là nguyên nhân quan trọng nhất của công cuộc giảm nghèo ở VN không vững chắc. Quan trọng hơn là do xuất phát điểm, do kết cấu hạ tầng, nói chung có cả những vấn đề thuộc về bất bình đẳng xã hội vẫn chưa giải quyết được. Thêm một điều nữa, cũng có thể nói là cơ chế để củng cố việc giảm nghèo đó không được thực thi một cách đầy đủ, đàng hoàng. Thêm nữa vấn đề về chuẩn nghèo ở VN chúng tôi cũng thay đổi theo thời gian.

Và thực ra mức giới hạn dưới của chuẩn thoát nghèo không ổn định cho nên ngay trong phiên họp vừa rồi và trong thực tiễn của giới nghiên cứu cũng như nhà quan sát thì chỉ cần nâng mức nghèo có tính chất phổ quát lên theo như thế giới thì ngay lập tức một tỉ lệ lớn hơn trong cộng đồng cư dân sẽ rơi ngay vào tầm nghèo, thậm chí nếu không gọi là mức đói, bởi vì ở VN có khái niệm nghèo đói. Có những đại biểu đề nghị mức chuẩn nghèo đặt lên ngang tầm với khu vực, với thế giới chẳng hạn. Như vậy chúng tôi cho rằng chỉ cần thay đổi chuẩn nghèo đó thì sẽ khác hẳn.

Hòa Ái: Qua chia sẻ của TS cho thấy có thể hiểu chính sách giảm nghèo hiện nay không đi sát với đời sống thực tiễn và có vẻ như không phát huy được hiệu quả, thưa TS?




Có những đại biểu đề nghị mức chuẩn nghèo đặt lên ngang tầm với khu vực, với thế giới chẳng hạn. Như vậy chúng tôi cho rằng chỉ cần thay đổi chuẩn nghèo đó thì sẽ khác hẳn.

- TS Trịnh Hòa Bình
TS Trịnh Hòa Bình: Quốc tế cũng nhìn nhận việc sử dụng đồng vốn dành cho sự nghiệp giảm nghèo thì cũng phát huy được hiệu quả. Ở đây tôi không muốn nói đến bệnh thành tích nhưng mà thường có hiệu ứng từ nhiều hoạt động khác nhau và đồng vốn được đầu tư cho cơ sở hạ tầng rồi dành cho giao thông, dành cho khả năng tiếp cận dịch vụ an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe v.v của cộng đồng dân cư thì khi người ta tính dành cho dân nghèo thấy rằng bình quân đầu người hay con số tuyệt đối lớn.

Tuy nhiên kỳ thực con số đó dành cho đầu tư cho sự phát triển nói chung của cộng đồng các địa phương. Cho nên một khi bóc tách một cách nghiêm cẩn thì người nghèo thực ra chưa được hưởng nhiều lắm. Người nghèo khi được lên ngưỡng xấp xỉ giữa hết nghèo, tức là trên cận nghèo một chút, gọi là trung bình nhưng không vững chắc ở chỗ chỉ chực chờ một rủi ro, một thiên tai hay một tai nạn nào đó thì ngay lập tức bị rơi xuống vì thực ra vẫn chỉ là đầu tư để nâng đỡ họ phần nào thôi chứ không phải thay đổi một cách căn bản.

Giảm nghèo bền vững

Một người thu lượm ve chai ngủ trong công viên gần một bức chân dung Hồ Chí Minh trong Dinh Thống Nhất tại TPHCM hôm 30/11/2013. AFP photo
Hòa Ái: Dưới góc độ một chuyên gia nghiên cứu về xã hội, TS có đồng ý với những ý kiến cho rằng chính sách giảm nghèo hiện không ổn định cũng như còn tồn đọng nhiều yếu tố gây trở ngại cho mục tiêu giảm nghèo bền vững hay không?

TS Trịnh Hòa Bình: Đây là một vấn đề rất nhạy cảm. Ngay trong kỳ họp Quốc hội vừa rồi cũng có những đại biểu không thật sự đồng thuận rằng người ta mong có một sự đầu tư lớn hơn với tính cách bảo hiểm cho việc thoát nghèo thì vẫn tiếp tục tái đầu tư cho người ta một thời gian nữa với tính cách là trợ giúp thay vì cứ đưa họ lên thoát ngưỡng đó rồi xoa tay hớn hở báo cáo rằng đã đưa được một tỉ lệ đáng kể thoát nghèo.

Thoát nghèo như vậy mới chỉ mang tính chất rất cập nhật và thời cơ chứ không ổn định và không vững chắc. Bởi vì ổn định và vững chắc hay không tùy thuộc vào một hệ thống bền vững hơn bao gồm công nghệ, năng lực canh tác dựa trên cơ sở của nền dân trí được cải thiện một cách căn bản. Ở đây đã thấy rõ có đầy đủ những lực cản, tất cả những thách thức liên quan từ dân trí đến sức mạnh, chiều sâu của nguồn lực cũng như việc phân phối, chia sẻ các nguồn lực tài chính đến nơi một cách minh bạch, công bằng và thật sự có hiệu quả.

Hòa Ái: Và nhận xét của TS như thế nào về nhận định của Bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội rằng chênh lệch giàu nghèo ở VN đang có xu hướng gia tăng?

TS Trịnh Hòa Bình: Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, Ủy viên Thường vụ Quốc hội-Trương Thị Mai đã có báo cáo đánh giá và đưa ra nhận định rằng là chênh lệch giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng. Đấy là một nhận định chuẩn xác, nhận xét thận trọng có cơ sở khoa học do dựa trên toàn bộ chương trình giảm nghèo ở VN thực hiện trong thời gian vừa qua qua ý kiến của các chuyên gia cũng như bộ máy đã rà soát và đánh giá. Và nhận định đó cũng có sự nhận thức của giới nghiên cứu ở VN chúng tôi.

Hòa Ái: Thưa TS, chính sách giảm nghèo với mục tiêu cuối cùng hướng tới một xã hội dân sinh thịnh vượng và công bằng. Như vậy, giai đoạn phân hóa giàu nghèo đang trong xu hướng gia tăng này sẽ được điều chỉnh ra sao và trong thời gian bao lâu?




Ở đây có nhận định nói rằng VN đang đứng trước thực tiễn độ giãn ra giữa nhóm giàu và nhóm nghèo đang tăng lên, tôi cho rằng không phải tăng lên một cách tuyệt đối.

- TS Trịnh Hòa Bình
TS Trịnh Hòa Bình: Ở đây có nhận định nói rằng VN đang đứng trước thực tiễn độ giãn ra giữa nhóm giàu và nhóm nghèo đang tăng lên, tôi cho rằng không phải tăng lên một cách tuyệt đối. Nhưng thời gian điều chỉnh với tinh thần theo nghĩa nỗ lực cao nhất để làm giảm bớt sự chênh lệch giữa giàu và nghèo chỉ là phương châm, chỉ là lý tưởng hành động, không dễ gì thực hiện và chắc chắn phải trong một thời gian khá dài. Bởi vì chúng tôi thực hiện công cuộc giảm nghèo trong bối cảnh đối diện rất nhiều thách thức: những đình đốn, sa sút về đời sống kinh tế và những cú sốc về mặt tài chính của khu vực cũng như thế giới và VN cũng không phải không gánh những hệ lụy như vậy.

Còn việc đưa ra những nỗ lực giảm nghèo thì hầu như vẫn chỉ mang tính cách rất cơ học, không đến nỗi tự phát nhưng chỉ thuộc kiểu loại bao cấp của thời mới mặc dù chúng tôi thoát ly khỏi chế độ tập trung quan liêu bao cấp tính đến nay đã 25 năm. Cung cách dành cho sự nghiệp giảm nghèo không khác điều đó bao nhiêu. Và chúng ta cũng thấy được rõ về năng lực quản lý, tổ chức thực hiện không phải là không có những vấn đề mặc dù động cơ, phương châm rất tốt, rất tích cực, rất lành mạnh nhưng triển khai thực hiện thì không phải không ít những hạn chế.

Hòa Ái: Chân thành cảm ơn TS Trịnh Hòa Bình dành thời gian cho cuộc phỏng vấn với đài RFA.
Hòa Ái,
phóng viên RFA
Theo RFA

"Dân chủ" hay "phản dân chủ"?

Ðể đi tới một xã hội công bằng, tự do và dân chủ, nhân loại đã tiến hành nhiều cuộc cách mạng xã hội khác nhau nhằm chống lại các thế lực cản trở sự phát triển của xã hội, và gần đây từ một số biến động xã hội ở một số quốc gia, đã có xu hướng cho rằng loài người đang hướng tới cách mạng dân chủ. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa dân chủ đích thực với mạo danh dân chủ...

Hiểu một cách đơn giản, thì phong trào dân chủ là phong trào đấu tranh của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tức là phong trào ấy phải xuất phát từ nguyện vọng của đông đảo quần chúng, nhằm đòi lại quyền lợi bị chiếm đoạt. Tuy nhiên, phong trào dân chủ chỉ có ý nghĩa xã hội tích cực khi gắn với một tư tưởng cách mạng tiến bộ, phù hợp xu thế phát triển, đại diện cho lợi ích nhân dân, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Với các tiêu chí đó, nhân loại đã từng chứng kiến nhiều phong trào dân chủ đi cùng với một cuộc cách mạng như Công xã Pa-ri năm 1871, Cách mạng tư sản Pháp năm 1789, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc năm 1911,... Nhưng thực tế cho thấy, không phải phong trào dân chủ nào cũng đem lại các quyền lợi cơ bản cho nhân dân. Vì có khi phong trào dân chủ chỉ là hình thức mê hoặc để lợi dụng nhân dân, hoặc sau khi thành công, bộ phận lãnh đạo đã phản bội lại lý tưởng, mục đích ban đầu để xây dựng chế độ đối lập với lợi ích nhân dân. Gần đây, từ các cuộc "cách mạng màu" ở Ðông Âu, sau đó là các sự kiện diễn ra ở Bắc Phi, Trung Ðông, với đặc trưng chung là phe đối lập huy động, tổ chức quần chúng tiến hành các cuộc biểu tình lớn, dài ngày, có thể kèm bạo lực để lật đổ các chính quyền được cho là tham nhũng, độc tài,... một số người đã coi đó là các cuộc cách mạng dân chủ. Nhưng cùng với thời gian, hiện nay hầu hết giới nghiên cứu quốc tế đều cho rằng những giá trị dân chủ được cổ vũ từ các cuộc cách mạng kiểu đó cần phải được định tính lại. Bởi khi nhận ra phần lớn các cuộc cách mạng này đều được "đạo diễn" từ nước ngoài, họ phải đặt câu hỏi: Các cuộc "cách mạng" đó có thật sự chứa đựng giá trị, đặc điểm của phong trào dân chủ, có thật sự mang lại trái ngọt cho nhân dân, hay sau cách mạng, nhân dân lại tiếp tục phải đối mặt với đói nghèo, bạo lực và chết chóc?
Về phần mình, chúng ta có quyền tự hào khi nhắc đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vì đó không chỉ là cuộc cách mạng để giành lại độc lập, mà còn mang đầy đủ bản chất, đặc điểm của một phong trào dân chủ thành công do được dẫn dắt bởi một tư tưởng cách mạng, khoa học. Cho nên, việc ở Việt Nam gần đây có người trong nhóm tự xưng là "nhà đấu tranh dân chủ" coi Cách mạng Tháng Mười Nga và Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là hai cuộc cách mạng "có tính lừa mị" của cộng sản, thực chất là luận điệu xuyên tạc. Họ nhằm vào việc người cộng sản lãnh đạo cách mạng để phê phán và bác bỏ. Họ cố tình tảng lờ vấn đề quan trọng nhất của cả hai cuộc cách mạng đó là hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của đông đảo nhân dân, trả lại cho nhân dân vị trí làm chủ. Thí dụ, ai cũng biết trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cả dân tộc Việt Nam phải sống dưới ách bóc lột của chế độ thực dân Pháp và triều đình bù nhìn, sau đó thêm phát-xít Nhật. Ðói nghèo và bần cùng hóa biểu hiện cụ thể qua nạn đói năm 1945 với cái chết của hàng triệu người. Ðược giác ngộ lý tưởng cách mạng, ý thức tự giác về vai trò và quyền lợi xã hội, khi thời cơ đến toàn dân Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, sắc tộc,... đã tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại do Ðảng Cộng sản tổ chức, lãnh đạo. Năm 1946, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên được tiến hành, đó cũng là lần đầu tiên mọi người Việt Nam được thụ hưởng một quyền lợi chính đáng của mình, là quyền bầu cử.
Từ cách tiếp cận như trên, nhìn vào thực tế hoạt động của mấy người tự nhận hoặc phong tặng lẫn nhau là "nhà đấu tranh dân chủ" để tiến hành "phong trào dân chủ" ở Việt Nam, không khó để nhận ra những con người và cái gọi là "phong trào" đó không hề xác định hay hướng tới giá trị dân chủ đích thực. Chỉ cần viết một, hai đơn từ kiện cáo hoặc nói xấu cán bộ lãnh đạo hay một cơ quan Ðảng và Nhà nước là trở thành "nhà đấu tranh dân chủ"(!) Họ lập ra hàng trăm "hội nhóm" nhưng không "hội nhóm" nào có cương lĩnh hành động mang chất trí tuệ, chủ yếu xào xáo, lặp lại của nhau. Thậm chí, "phong trào dân chủ" còn tạo cơ hội để vài ba kẻ dụ dỗ mấy cô bé ngây thơ ngưỡng mộ "người hùng" mà bản án của TAND quận Ðống Ða (Hà Nội), dành cho "nhà dân chủ" Dũng Akudu đầu năm 2014 là một thí dụ! Ðặc biệt, một số "nhà dân chủ" còn bị đồng bọn moi móc, bêu riếu nhập nhèm tiền bạc, đấu đá tranh vị trí "thủ lĩnh", biển lận từ in ấn băng-rôn, khẩu hiệu, in tờ rơi, may in đồng phục... Như mới đây, sau khi bị đồng bọn phát giác chỉ cấp cho "dân oan" mỗi người 200 nghìn đồng nhưng lại quyết toán thành hai triệu đồng, một "nhà dân chủ" đã phải lên Facebook hứa trả lại để "bổ sung vào số dư tháng 5"! Ðó là điều lý giải tại sao các "nhà dân chủ" chủ yếu vô công rỗi nghề, làm ăn thua lỗ, nhưng lại có tiền mua sắm đồ nghề hiện đại, hễ tụ tập là nhậu nhẹt,... Ðối với họ, "đấu tranh dân chủ" không phải là mục đích mà là chiêu bài, là nghề kiếm sống, là hưởng lợi từ tiền hỗ trợ của các hội đoàn chống cộng ở hải ngoại như tổ chức khủng bố "Việt tân",... Dựa vào một số thế lực, họ cố gây áp lực lên Nhà nước Việt Nam nhằm đạt tới một cuộc "tiếm quyền" dưới danh nghĩa của các giá trị dân chủ nước ngoài. Về bản chất, họ đang đi ngược lại quá trình dân chủ, vì dân chủ thật sự phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của mọi người dân, chứ không buộc người dân đi theo quan niệm mà "nhà dân chủ" giả hiệu cổ súy. Chỉ tiếp cận từ tiêu chí "của nhân dân, do nhân dân" đã thấy cái gọi là "phong trào dân chủ" được quảng bá trên internet lại được một số tổ chức ở nước ngoài cổ vũ hoàn toàn đi ngược với khát vọng và cũng là mục tiêu mà toàn dân tộc Việt Nam đang phấn đấu đạt tới là xây dựng một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Không có ý nghĩa nào khác, một "phong trào dân chủ" lại từ chối mọi cơ hội để xây dựng đất nước, tảng lờ thành tựu của xã hội mà chính họ thụ hưởng, mượn danh nghĩa dân chủ để chống chính quyền, lấy tham vọng và lợi ích kỷ của cá nhân thay thế nguyện vọng dân tộc,... thực chất chỉ là một "phong trào phản dân chủ".
Xem xét tổng thể các vấn đề trên đây đã lý giải tại sao sau hàng chục năm cái gọi là "phong trào dân chủ" ở Việt Nam chỉ loay hoay và loanh quanh trong một nhóm người. Sự bất lực có thể đẩy con người tới hành vi thiếu sáng suốt, đó là nhân - quả của hoạt động và hệ lụy từ hoạt động của những người đang cố xây dựng một thứ "phong trào dân chủ" trái khoáy và phi lý. Phải chăng, vì không thể thực hiện tham vọng, vì bất lực, vì bị đe dọa "cắt nguồn tài trợ" từ bên ngoài,... mà gần đây họ có xu hướng cổ vũ cho mấy cuộc xuống đường tự phát, bột phát hành vi bạo lực? Hơn thế nữa, dường như họ còn có xu hướng muốn kết hợp cái gọi là "đấu tranh dân chủ" với chủ nghĩa dân tộc cực đoan qua hàng loạt các tuyên bố, thư ngỏ, bài viết, bình luận, tin tức trên internet nhằm kích động bạo lực.
Những ngày này, khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm, một số người tự coi mình là "nhà dân chủ" lại xem đây là cơ hội để vu cáo chính quyền, đưa ra các luận điệu vô trách nhiệm để mê hoặc bộ phận công chúng nhẹ dạ, cả tin hoặc chưa có điều kiện phân tích tình hình một cách sâu sắc. Ðây là thời điểm để chúng ta nhận diện, phân biệt đâu là người yêu nước chân chính, đâu là nhà hoạt động xã hội có ý thức trách nhiệm và đâu là người đang mượn danh nghĩa dân chủ để cản trở sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Và đối với chúng ta, một nền dân chủ thật sự chỉ đến từ các công dân có tinh thần tự chủ, yêu hòa bình, gắn bó với cộng đồng bằng tinh thần nhân văn, luôn biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích của chính mình với lợi ích mọi người.
TRẦN TÙNG SƠN
(Nhân dân) 

Tâm thư gửi thủ tướng Việt Nam

000_Hkg9800330-600.jpg
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng (giữa) đi cùng với các thành viên cùng đoàn đến dự lễ bế mạc hội nghị thượng đỉnh ASEAN 24 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Myanmar hôm 11/5/2014. AFP photo
Kính gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,

Trước tiên, kính mong Thủ tướng thứ lỗi cho sự đường đột và mạo muội của cháu. Vì Thủ tướng quá bận rộn khi phải lo giải quyết nhiều công việc quốc gia đại sự, và nhất là khi những căng thẳng xung quanh giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc vẫn chưa có dấu hiệu lắng dịu.

Đầu thư, cháu xin được chia sẻ câu chuyện liên quan tới thảm họa hạt nhân Fukusima, tháng Ba năm 2011 tại Nhật Bản: đó là bức thư tâm tình của Ashwin Cresswell, một cậu bé Úc 9 tuổi, gửi tới bà Julia Gillard, thủ tướng Úc. Trong thư, Ashwin bày tỏ sự cảm thông của mình với sự mất mát của Toshihito, một câụ bé Nhật Bản, mới chỉ 8 tuổi nhưng đã mất cả gia đình sau thảm họa kinh hoàng đó. Những lời trong bức thư của cậu bé Ashwin hồn nhiên như sau:

“Gửi bà Julia Gillard,

Mẹ cháu bảo các Thủ tướng có thể nói chuyện với những Thủ tướng khác. Xin bà hãy gửi bức thư này đến Thủ tướng Nhật Bản giúp cháu được không ạ?

Cháu không nói được tiếng Nhật Bản nhưng cháu hy vọng Thủ tướng Nhật sẽ nói được tiếng Úc.

Cháu đã nhìn thấy bức ảnh của cậu bé người Nhật Toshihito Aisawa trên báo. Mẹ cháu đã đọc cho cháu nghe câu chuyện của bạn ấy và mẹ cháu kể, bạn ấy đã mất hết cả cha mẹ trong trận sóng thần.

Bà có biết bạn Toshihito không ạ? Bạn ấy có được ăn và uống những thứ mình thích không ? Bạn ấy có chiếc áo thun đẹp để mặc không? Nếu bạn ấy không có, cháu sẵn sàng cho bạn ấy mượn.

Nếu bạn ấy không thể tìm được cha mẹ, bạn ấy có thể ở với gia đình cháu. Bạn ấy cũng có thể chơi đồ chơi của cháu và đi học với cháu. Không biết bạn Toshihito có thích ở với gia đình cháu không nhỉ?”

Có lẽ bất cứ ai cũng sẽ cảm động khi đọc bức thư đó và tấm lòng của Ashwin Cresswell đã được đích thân bà Julia Gillard chuyển tới tận tay người đồng nhiệm Nhật Bản, khi đó là thủ tướng Naoto Kan. Ngoài khía cạnh nhân văn và tinh thần chia sẻ, điều thường thấy ở những xã hội tiến bộ, đang ở những vị trí rất cao trong nấc thang văn minh của nhân loại như Úc, Nhât Bản, vv ... ta còn thấy ở đó là cái ý thức “dân sự” khi tâm nguyện của một cậu bé 9 tuổi có thể tới được tay lãnh đạo quốc gia để được xem xét.

Trên tinh thần đó, với tư cách là một công dân Việt Nam và đã từng hai lần đi "bỏ phiếu bầu cử tại địa phương” cháu cũng xin được chuyển tâm thư của mình tới Thủ tướng Việt Nam với nội dung "chính trị” liên quan tới sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế và mối trăn trở về những vấn đề của đất nước. Cách đây vài tháng, ông Algore, cựu phó Tổng thống Mỹ, trong bài nói chuyện với sinh viên của đại học Oxford, Anh Quốc có nhắn gửi: “Người trẻ tuổi cần biết quan tâm tới chính trị để làm cho xã hội tốt đẹp hơn” Và cũng rất mừng là mới đây thôi, trong kì thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông 2014, đề thi môn Văn học Việt Nam đã chọn giàn khoan Hải Dương 981 là chủ đề cho một câu hỏi chiếm 3 điểm trên tổng 10. Nhưng cũng đáng buồn là trong cuộc thi Hoa hậu Biển cách đây không lâu, một thí sinh đã vô tư hồn nhiên đáp: “Em mong Trung Quốc sẽ mở giàn khoan để cho đất nước Việt Nam của em ngày càng tươi đẹp hơn”.

Như một công dân Việt Nam bình thường; cháu sinh ra và lớn lên, đi học 12 năm phổ thông và tốt nghiệp đại học tại Việt Nam rồi có điều kiện để đi du học nước ngoài. Hiện tại, cháu đang là sinh viên cao học tại Đài Loan, một hòn đảo rất gần với Việt Nam và có nhiều mối liên hệ về lịch sử, văn hóa, chính trị với chúng ta và cũng có một số "vấn đề” đối với nhà nước Trung Quốc. Chỉ mới đây thôi, ngay trong tháng Ba, hàng trăm ngàn sinh viên của hòn đảo này đã tuần hành, biểu tình và chiếm đóng cả tòa nhà của Viện Lập Pháp tại Đài Bắc để phản đối hiệp định Hợp tác Thương mại dịch vụ mà Chính quyền Quốc dân Đảng của Tổng thống Mã Anh Cửu đã kí kết với Bắc Kinh và đơn phương thông qua bất chấp sự phản đối của đảng đối lập trong Quốc hội.

Những sinh viên đã hành động như vậy vì họ cho rằng: hiệp định này sẽ ngày càng gia tăng sự phụ thuộc của Đài Loan vào thương mại với Trung Quốc, lo ngại rằng Đài Loan sẽ bị Trung Quốc thôn tính, và họ nghi ngại rằng bên trong nội dung của bản hiệp định có những điều khoản không rõ ràng; điều mà họ đòi hỏi ở chính quyền là tính minh bạch và muốn tổng thống ra đối chất với họ. Sự kiện đó đã xảy ra trong hơn 20 ngày, nằm trong trật tự và tầm kiểm soát của an ninh, không có nhiều sự đàn áp, bắt bớ. Truyền thông quốc tế khi đó gọi sự kiện là Phong trào sinh viên Hoa Hướng Dương. Một điều đáng tiếc là gần 700 cơ quan báo chí truyền thông của Việt Nam lại không hề đưa tin về sự kiện này?

Với một chút kiến thức thu được cùng những trải nghiệm khi quan sát và học hỏi nơi xứ người, cháu có ước muốn sau này có thể đóng góp môt phần nhỏ bé sức của mình cho sự thay đổi của đất nước. Theo nhận xét của bản thân, cháu thấy rằng Đài Loan còn rất nhiều việc phải làm để có thể bắt kịp phương Tây hay Nhật Bản nhưng họ thực sự đã phát triển hơn Việt Nam rất xa và họ là một trong những vùng lãnh thổ có mức sống cao nhất châu Á. Tại hòn đảo này, hiện đang có tới 100 ngàn cô dâu Việt lấy chồng xa xứ với gần 150 ngàn đứa con lai Việt - Đài và quãng gần 100 ngàn lao động xuất khẩu tới từ những vùng quê nghèo của Việt Nam, trong số đó có hàng ngàn người hiện đang cư trú và làm việc trái phép, có thể bị bắt giam và trục xuất bất cứ lúc nào, vậy mà cơ quan ngoại giao của chúng ta vẫn chưa có sự quan tâm tới họ một cách thỏa đáng … Hiện tượng này đã và đang gây ra một số vấn đề cho xã hội của Đài Loan.

Những sinh viên đi du học như cháu chỉ chiếm một con số khiêm tốn là gần 4000 người so với những nhóm kể trên. Trong cuộc sống thường nhật, tiếp xúc và giao tế với người Đài, cháu nhận thấy rằng phần đông dân ở đây không coi trọng người Việt cho lắm, đúng hơn là còn có một chút coi thường; và có một chút xấu hổ khi ở nhiều nơi công cộng, người ta dán những bảng thông báo như "Cấm ăn cắp”, "Cấm băng ngang qua đường tàu” và "Cấm gây ồn” bằng tiếng Việt. Trong thâm tâm, cháu luôn khao khát một điều rằng đất nước Việt Nam của mình sẽ có ngày vươn lên, thật văn minh, thịnh vượng để không còn thua kém Đài Loan hay Mã Lai và những thanh niên nam nữ người Việt cũng sẽ không cần phải xuất ngoại để mưu sinh nữa, và người ta cũng sẽ không dám coi thường Việt Nam nữa.

Xa hơn nữa, cháu mơ rằng thế hệ trẻ của Việt Nam sau này sẽ được hưởng một nền giáo dục thật tốt với trường lớp và cơ sở vật chất phong phú hiện đại (những khuôn viên rộng và đẹp, có thư viện, hồ bơi và sân bóng, vv); khi đó bằng cấp do Việt Nam đào tạo sẽ được các quốc gia tiên tiến coi trọng và Việt Nam cũng sẽ tự ươm cho mình được một nguồn nhân lực cạnh tranh, giải quyết được tình trạng "chảy máu chất xám” đang gây hại nghiêm trọng cho sự phát triển của đất nước. Làm sao để đất  nước và cuộc sống của con người Việt Nam cũng tươi đẹp như núi rừng và biển trời của chúng ta. Vì sao mà một em bé mồ côi, nạn nhân của chiến tranh như Phillipne Roesler, rời Việt Nam qua Đức khi còn nằm nôi lại có thể trở thành phó Thủ tướng Đức ? Và tại sao chúng ta lại quá dễ dãi  để cho truyền thông tung hô sự kiện đôi vợ chồng siêu sao Brad Pitt và Angelina Jolie tới Việt Nam nhận cậu bé Pax Thiên làm con nuôi và coi đó là một niềm vinh hạnh?

Đã một tháng trôi qua kể từ khi Trung Quốc mang giàn khoan Hải Dương 981 và đặt nó trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Cùng tâm trạng như rất nhiều người Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới, cháu nghe ngóng và cập nhật tình hình về cái giàn khoan "ngang ngược” đó liên tục mỗi ngày. Mối quan tâm của cháu đối với sự kiện thậm chí còn lớn hơn cả việc học; và làm sao có thể học được khi chủ quyền và an ninh lãnh thổ của đất nước mình đang bị đe dọa. Mỗi khi đọc tin tức, xem hình ảnh lẫn những đoạn phim, cháu đã khóc khi thấy lực lượng cảnh sát biển Việt Nam và những ngư dân trung kiên quyết tâm bám biển và đương đầu với một thế lực áp đảo có vũ trang của "một thực thể lạ” như lâu nay truyền thông vẫn đưa tin. Vì sao “tàu lạ” lại có thể phun vòi rồng với áp lực nước cao, có thể làm vỡ cả cửa kính vào tàu kiểm ngư của ta, "tàu lạ” có thể ném đá gây thương tích cho ngư dân Đà Nẵng và đâm chìm cả tàu cá của ta? Tại sao họ lại có thể thực hiện hành vi giết người Việt Nam ở ngay trong vùng lãnh thổ và đặc quyền kinh tế của Việt Nam ? Tại sao "nước lạ” có thể điều máy bay quân sự và tàu hộ vệ mang tên lửa vào lãnh hải của Việt Nam với thái độ hung hãn, dẫn tới căng thẳng leo thang, thậm chí súng có thể nổ bất cứ lúc nào. Tại sao lại như vậy? Nói như những ngư dân Đà Nẵng thì “Biển là của mình cơ mà!”

Cuộc biểu tình dẫn tới bạo loạn với quy mô lên tới hàng chục ngàn của người lao động trong những khu chế xuất, khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khắp trên cả nước đã gây ra rất nhiều hệ quả và mối quan ngại về tương lai của Việt Nam. Không chỉ những doanh nghiệp Trung Quốc, mà cả Đài Loan, Hongkong, Singapore rồi Hàn Quốc và Nhật Bản, vv ... cũng chịu thiệt hại. Nghiêm trọng hơn là tình trạng cướp bóc, hôi của, ẩu đả và cả án mạng tại khu công nghiệp Formosa, Vũng Áng, Hà Tĩnh. Tiếp đó là việc Trung Quốc đưa tàu tới sơ tán hàng ngàn công nhân của họ về nước (chúng ta sẽ thấy giật mình là không ngờ người Trung Quốc đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam nhiều đến thế, và vì sao Trung Quốc lại trúng thầu quá nhiều dự án ở Việt Nam?) rồi giải phóng quân Trung Quốc còn điều hơn 300 ngàn lính với phương tiện hùng hậu tới sát biên giới phía Bắc, tuyên bố tình trạng chiến tranh cấp 3 ... làm cho người Việt phải lo âu, mất ăn mất ngủ.

Đất nước Việt Nam đã chịu đựng quá nhiều cuộc chiến tranh trong phần lớn thời gian của thế kỷ 20 rồi, nên giờ đây không mấy ai lại mong muốn có binh đao loạn lạc nữa. Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến dài, đẫm máu, đau thương nhất và gây chia rẽ, hận thù nhiều nhất trong lịch sử nhân loại. Cho tới hôm nay, dù đã gần 40 năm kể từ khi chiến tranh kết thúc, nhưng hai khối người Việt ở quốc nội và hải ngoại dường như vẫn chưa cùng nhau nhìn về chung một hướng, dù đất nước đang nguy ngập. Câu chuyện hòa giải, hòa hợp dân tộc vẫn còn rất xa vời vì đôi bên chưa có ai thật sự mở lòng và thực tâm chìa tay ra.

Vụ bạo loạn của tầng lớp công nhân Việt Nam đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh về những vấn nạn xã hội trên đất nước hôm nay. Theo như nhiều cơ quan báo chí truyền thông trong nước, cho rằng có những “thế lực xấu” đứng đằng sau tổ chức, giật dây kích động những người nhẹ dạ cả tin, thiếu hiểu biết, và kêu gọi tinh thần yêu nước phải dựa trên lý trí và sự tỉnh táo. Nhưng đằng sau đó có những căn nguyên khác mà chúng ta không mấy ai quan tâm tới: Vì sao những người công nhân lại hành xử như vậy ? Phải chăng vì họ bất mãn với đồng lương ít ỏi và cuộc sống khó khăn ? Đã có nhiều bài báo, viết về những cảnh đời trong những khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Thật xót xa làm sao khi biết nhiều nam công nhân phải chạy xe ôm ngoài giờ và nhiều nữ lao động thậm chí phải hành nghệ mại dâm để có thêm tiền trang trải cuộc sống và giúp đỡ gia đình. Đối với họ, tương lai là một cái gì đó mơ hồ. Tình trạng bất bình đẳng và những bất công trong xã hội Việt Nam hôm nay đã dẫn tới những ức chế tâm lý rồi đè nén thành một khối chỉ trực bộc phát khi bị châm ngòi... Và giàn khoan Hải Dương 981 chính là một mồi lửa.

Trong vụ bạo loạn này, rất nhiều doanh nghiệp của Đài Loan bị ảnh hưởng, và thực tế là họ chịu thiệt hại nặng nhất. Theo như tin tức mà báo đài đã đưa, có hàng trăm nhà máy của Đài Loan tại Việt Nam bị hư hỏng, phải đóng cửa, chủ thuê thì kinh hãi bỏ về nước, đã có những cuộc biểu tình của người Đài Loan phản đối Việt Nam tại Văn phòng Ngoại giao của Việt Nam tại Đài Bắc; chính quyền Đài Loan lên án, chỉ trích và yêu cầu Việt Nam phải bồi thường cho những doanh nghiệp; trên truyền hình của Đài Loan có chiếu cảnh ông Bùi Trọng Vân, đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Đài Bắc phải lên truyền hình xin lỗi phía Đài Loan với những lời lẽ khẩn khoản: “Chúng tôi rất xin lỗi người dân Đài Loan ... Mong các doanh nghiệp Đài Loan đừng rời bỏ Việt Nam” Cô dâu, người lao động và sinh viên chúng cháu đã phải đối diện với những ánh mắt và thái độ không mấy thân thiện từ người bản xứ, cùng với những câu hỏi, thắc mắc nhạy cảm và rất khó trả lời, đại loại như: “Vì sao người Việt Nam lại hành động như thế?” “Chúng tôi là người Đài Loan, không phải Trung Quốc” Một vị cô giáo dạy tiếng Hoa còn nói rằng “Xin đừng giết chúng tôi, chúng tôi là người Đài Loan”

Bản thân cháu cũng đã phải đối mặt với những áp lực tương tự, trong giờ học của một ông giáo sư có lập trường thân thiện với Bắc Kinh, nằm trong Ủy ban Hiệp Thương giữa hai bờ eo biển Đài Loan, ông ta thường xuyên hỏi cháu, sinh viên Việt Nam duy nhất trong lớp bên cạnh những bạn học Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Séc, Romani, Nhật Bản, vv ... những câu hỏi khó trả lời như là: “Vì sao người Việt Nam lại hành động điên cuồng như vậy?” “Đài Loan chúng tôi luôn coi trọng đầu tư vào Việt Nam và đối xử  tốt với công nhân Việt Nam” và “Vì sao Việt Nam lại phản ứng dữ dội như vậy với Trung Quốc?” và “Vì sao Việt Nam lại không chịu ngồi vào bản đàm phán để giải quyết vấn đề song phương cùng với Trung Quốc?” Cháu đã rất khó chịu và phải cố gắng để giữ bình tĩnh, đối đáp với ông ta rằng: “Xin lỗi Đài Loan nhưng đó là vùng đặc quyền kinh tế biển và chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam theo công ước quốc tế, một phần biển đảo của Việt Nam hiện đã bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng trong quá khứ và chúng tôi có đầy đủ những bằng chứng lịch sử lẫn pháp lý để có thể khởi kiện Trung Quốc. Việt Nam không thể nhượng bộ về vấn đề chủ quyền, dù đối phương là Trung Quốc, một cường quốc”.

Đó cũng chính là cái tinh thần trong những tuyên bố mới đây của Thủ tướng: "Không thể đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông, lệ thuộc”, "Việt Nam sẽ làm hết sức để bảo vệ chủ quyền” hay "Không thể vì tình hữu nghị mà im lặng”, vv. Tuyên bố dứt khoát, đầy bản lĩnh của Thủ tướng đã đem lại một niềm tin cho khối cộng đồng 90 triệu người dân Việt Nam và 4 triệu kiều bảo ở hải ngoại. Nhưng rõ ràng là chúng ta cần phải làm nhiều việc khác hơn nữa thì mới có thể bảo vệ được chủ quyền biển đảo.

Trong suốt thời gian qua, những phản ứng và bước đi của Chính phủ vẫn khiến người dân Việt Nam không khỏi lo lắng. Hội nghị cấp cao ASEAN đã không đạt được sự đồng thuận mong muốn giữa các nước thành viên về vấn đề biển Đông; những tuyên bố của bộ ngoại giao Việt Nam khi bác bỏ công hàm 1958, theo nhiều chuyên gia nghiên cứu về luật biển là không có lợi cho Việt Nam nếu đưa tranh chấp pháp lý ra giải quyết tại tòa án (vì tính chính danh của 2 nước Việt Nam sau năm 1954); trong lúc đó Trung Quốc vẫn luôn tìm cách bôi xấu và hạ thấp hình ảnh của Việt Nam với dư luận quốc tế, tìm mọi cách ngăn cản sự can thiệp từ đa phương; mà song phương thì chúng ta hoàn toàn yếu thế. Nhiều nước như Mỹ, Nhật, Pháp rồi Phillipines đều lên tiếng ủng hộ Việt Nam, nhưng chúng ta thực ra vẫn đang đơn độc vì không thể kì vọng nhiều hơn. Chúng ta có quan hệ ngoại giao, làm bạn với tất cả các nước, nhưng lại không có đồng minh chiến lược cùng chia sẻ lợi ích.

Bài phát biểu vài ngày trước của Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam tại diễn đàn đối thoại an ninh Shang-ri La lại mâu thuẫn với những phát ngôn mạnh mẽ, cứng rắn của Mỹ và Nhật Bản. Vì sao mà “Chuyện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam như mâu thuẫn nội bộ GIA ĐÌNH và cần giải quyết song phương: “Những vấn đề có liên quan đến hai nước thì cần giải quyết SONG PHƯƠNG… Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi” ? Lập luận này của chúng ta vô tình đã đặt Mỹ và Nhật Bản vào thế việt vị và khiến Việt Nam lại ở vào thế tự cô lập mình với những thiện chí của quốc tế.

Vì sao mà trước đó, trong năm 2011 trong chuyến thăm và làm việc của lãnh đạo 2 đảng, chúng ta lại đặt bút kí vào: “Thỏa Thuận Về Những Nguyên Tắc Cơ Bản Chỉ Đạo Giải Quyết Vấn Đề Trên Biển Giữa Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa”. Trong thỏa thuận này có 1 nguyên tắc rất bất lợi cho Việt Nam, đó là “Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị.” Và vì sao khi chúng ta đã là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, đã từng giữ cả ghế chủ tịch, nhưng lại không tranh thủ tận dụng nhiệm kỳ đó để đưa vấn đề biển Đông ra với thế giới?

Hiện giờ Trung Quốc vẫn đang tăng cường lực lượng và uy hiếp chúng ta trên biển lẫn trên đất liền. Điều gì sẽ xảy ra nếu căng thẳng leo thang dẫn tới không thể kiểm soát và có bên nổ súng trước ? Nếu chiến tranh xảy ra, đó thật sự sẽ là một thảm họa. Như các diễn đàn quân sự phân tích, Việt Nam hiện có lực lượng quân sự hùng hậu nhất Đông Nam Á, thời gian gần đây chúng ta cũng đã tăng cường mua sắm nhiều khí tài và hiện đại hóa quân đội ... chúng ta đã sở hữu thêm máy bay chiến đấu, tàu chiến, tàu ngầm và tên lửa phòng thủ thế hệ mới, vv ... nhưng những gì chúng ta có do mua được từ Nga hay Do Thái thì Trung Quốc cũng có thể mua được và còn có nhiều hơn ta nhờ vào tiềm lực kinh tế hùng hậu và chi tiêu quân sự khổng lồ. Trong trường hợp xấu nhất khi có xung đột, liệu chúng ta có thể bảo vệ được chủ quyền và an ninh của đất nước ? Về lâu về dài, khi kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khan do tham nhũng yếu kém, liệu chúng ta có thể đứng vững khi có xung đột và chúng ta hiện nay bị lệ thuộc quá nhiều vào nhập siêu từ Trung Quốc ? Tuy có phần cay đắng, nhưng có một sự thật mà chúng ta cần phải nhìn nhận là: Đất nước Việt Nam đang hết sức nguy ngập. Lối thoát nào cho Việt Nam?

Trong thời đại thông tin tự do và sự phát triển của internet như ngày nay, sẽ không quá khó để có thể tham khảo bài học lịch sử của rất nhiều quốc gia trên thế giới.

- Vì sao chỉ vài quả đạn pháo từ hạm đội của Đô đốc Matthew C. Perry nã vào thành Edo (Tokyo ngày nay) mà nước Nhật đã bừng tỉnh để thực hiện một cuộc cải cách Minh Trị Duy Tân toàn diện, sâu rộng, nhanh chóng trong nửa sau của thế kỷ 19, biến Nhật Bản từ lạc hậu trở thành cường quốc, đánh thắng Nga và Trung Quốc, cạnh tranh ngang ngửa với những đế quốc phương Tây đầu thế kỷ 20? Và vì sao một nước Nhật bại trận trong thế chiến thứ 2, từ đống đổ nát lại có thể vươn lên mạnh mẽ, trở thành cường quốc kinh tế thứ 2 thế giới chỉ trong một thế hệ (23 năm tính từ khi tuyên bố đầu hàng vô điều kiện sau khi bị Mỹ ném 2 quả bom nguyên năm 1945 cho tới khi tổ chức Thế vận hội Tokyo 1968)? Và ngày nay nước Nhật đang trở lại mạnh mẽ với vị thế của một cường quốc quân sự đích thực để duy trì hòa bình và an ninh trong khu vực trước những mối đe dọa mới.

- Vì sao chỉ hơn 20 năm sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, một số quốc gia Soviet cũ như Balan hiện đã đạt được mức phát triển gần ngang với Tây Âu, xã hội dân chủ, nhân văn và có thể tự tin đứng vững trước một nước Nga to lớn và hùng mạnh về quân sự.?

- Năm 1971, khi bị mất ghế ở Liên Hiệp Quốc; trước nguy cơ bị Bắc Kinh sát nhập. Đài Loan và nhất là Tưởng Kinh Quốc đã có những bước đi sáng suốt như thế nào để Mỹ thông qua đạo luật Đài Loan và ngầm hộ trợ về quốc phòng? Và vì sao Tưởng Kinh Quốc dám từ bỏ cả lợi ích của gia tộc để Đài Loan có một nền dân chủ và nhân quyền đáng ngưỡng mộ ở châu Á, điều làm cho Đài Loan khác biệt với Trung Quốc và vẫn có thể đứng vững trước những mối đe dọa.?

- Vì sao Thổ Nhỹ Kỳ cũng nằm ngay trên bờ Hắc Hải như Ukraine, nhưng nước Nga to lớn lại không thể mang quân vào Thổ dễ dàng như Crimea ? Vì sao Thổ Nhĩ Kỳ lại có một lực lượng mạnh trong NATO, có thể tự sản xuất cả những khí tài hiện đại như máy bay chiến đầu F-16 (mà nếu có chúng, Việt Nam sẽ bảo vệ biển đảo hữu hiệu hơn) trong khi trước Thế chiến thứ 2 Thổ cũng là một nước lạc hậu và phải liên tục thay đổi chính sách ngoại giao, khi ngả về Đức Quốc Xã, lúc thiên về Liên Xô, rồi cuối cùng lại tin tưởng theo Anh-Mỹ ?

- Và bên cạnh đó cũng là những bài học về sự thất bại trong việc bảo vệ chủ quyền như trường hợp của Tiệp Khắc những năm 1930, trong Thế chiến thứ Hai. Vì sao Tiệp Khắc khi đó có nền kinh tế, quân sự và khoa học hùng mạnh, là 1 trong 10 cường quốc ở châu Âu lại dễ dàng bị sát nhập và chiếm đóng bởi Đức Quốc Xã mà không tốn sức giao tranh? Vì sao những lãnh đạo của Tiệp Khắc khi đó lại để cho Hitler dễ dàng mang quân vào tiếp quản nước mình ?

Giáo sư Lê Xuân Khoa, một trí thức Việt Nam nổi tiếng ở hải ngoại có viết: “Trong quan hệ quốc tế, chỉ có lợi ích quốc gia là quan trọng hơn cả. Cũng như trong sự giao thiệp giữa các cá nhân, quyền lợi vị kỷ hay gia đình của mỗi người luôn luôn là ưu tiên được bảo vệ, mọi hình thức liên minh giữa các quốc gia đều chỉ tồn tại chừng nào mỗi thành viên còn thấy sự hợp tác đó có lợi ích cho xứ sở của mình ...” Và cũng có một câu châm ngôn trong chính trị học quốc tế : “Không có bạn bè và kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có đồng minh giai đoạn và lợi ích vĩnh viễn là quan trọng”.

Theo dõi tình hình và những biến động của chính trị quốc tế trong thời gian gần đây như: diễn biến tại Ukraina và Thái Lan, căng thẳng và tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông Á và biển Đông Nam Á, với chính sách xoay trục của Hoa Kỳ khi chuyển trọng tâm về khu vực Châu Á-Thái Bình Dương ... Sau hơn nửa thế kỷ, vị trí của Việt Nam hôm nay lại trở nên quan trọng và được quan tâm hơn bao giờ hết, nhưng mặt khác, đó cũng lại là một nguy cơ. Nhận thức được tầm quan trọng của tuyến hàng hải huyết mạch đi qua biển Đông, dự án kênh đào Kra của Thái Lan nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương thay cho sự quá tải của eo Mallaca sẽ được khởi động trong nay mai ... tự nhiên Phú Quốc, Kiên Giang, Sài Gòn, Cam Ranh và vịnh Vân Phong của Việt Nam có tiềm năng sẽ trở thành những điểm sáng trên bản đồ địa chính trị và kinh tế thế giới nếu có thể tận dụng được cơ hội từ những sự vận động chuyển dịch này, vừa có thể thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa đất nước vừa bảo đảm an ninh quốc phòng.

Nhưng có thể chỉ 10 năm nữa thôi, tầm quan trọng đó và cả cơ hội đó có thể sẽ qua đi nếu chúng ta không thể tận dụng. Biết chủ động chiến lược hóa, quốc tế hóa, quan trọng hóa vị trí của quốc gia cũng như biết khai thác mối lo của các cường quốc sẽ làm cho vị trí của quốc gia quan trọng hơn trong tranh chấp quốc tế. Chính sách BA KHÔNG mà hiện nay chúng ta theo đuổi, có phải là một lựa chọn có lợi cho quốc gia và dân tộc?

Trước những đòi hỏi cấp bách đó của thời đại và vận nước đang lâm nguy, rõ ràng là chúng ta CẦN PHẢI THAY ĐỔI như câu khẩu hiệu, trong cuộc biểu tình chống giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc: “Vì một quốc gia cường thịnh, cần phải thay đổi” Nhưng thay đổi như thế nào? Làm sao để thay đổi? Thủ tướng với quá nhiều kinh nghiệm trong chính phủ, trên nhiều lĩnh vực từ quốc phòng, an ninh cho tới tài chính, vv. và guồng máy giúp việc cho thủ tướng hoàn toàn biết rất rõ. Vấn đề chỉ còn là: LIỆU CHÚNG TA CÓ DÁM THAY ĐỔI HAY KHÔNG?

Cũng theo một ý đúc kết của Giáo sư Lê Xuân Khoa: “Bài học cho Việt Nam về lợi ích quốc gia trong quan hệ hợp tác quốc tế là mọi hoạt động đều phải hưổng về sự xây dựng và duy trì một hệ thông chính quyền dân chủ thích hợp, và sự hội nhập thành công vào cộng đồng thế giới để có thể vừa bảo vệ được những quyền lợi chính đáng của mình vừa tranh thủ được sự tôn trọng, hợp tác và giúp đỡ của các nước.” ... “Những nhà lãnh đạo thật tâm yêu nước và có tài là những người biết rút ra được những bài học của quá khứ, những kinh nghiệm hay, dở của mình và của người để áp dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đem lại an ninh, thịnh vượng và hạnh phúc cho nhân dân.”

Thư đã dài, tới đây cháu xin dừng bút,

Thưa Thủ tướng,

Trong đời người, được chứng kiến lịch sử thay đổi là một điều may mắn và nhất là lại còn có khả năng để kiến tạo cho sự thay đổi đó. Thủ tướng đang là người thuyền trưởng có trách nhiệm lèo lái con thuyền quốc gia trong cơn bão tố mà tất cả thủy thủ cũng như hành khách trên tàu sẵn sàng chịu chung số phận. Tiếng kèn đang thúc giục để lịch sử sang trang. Người dân Việt Nam ở hải ngoại cũng như quốc nội sẽ đồng hành cùng với Thủ tướng. Cháu mong rằng những bạn trẻ Việt Nam, cùng thế hệ như cháu, càng ngày càng quan tâm tới chính trị, hiểu và nắm bắt được thời cuộc, để có sự đồng tình và ủng hộ đối với những bước đi của Thủ tướng.

Xin Thủ tướng hãy đi đầu và dẫn dắt cho sự thay đổi của đất nước Việt Nam, để chúng ta có thể vươn lên, có thể mở mày mở mặt, để những thế hệ tương lai có quyền: “Tự hào vì là người Việt Nam”

Dù còn rất nhiều khó khăn, trở ngại và vẫn còn đó những thế lực ngăn cản “chống phá” nhưng cháu có một niềm tin mãnh liệt là Thủ tướng SẼ THÀNH CÔNG và sẽ mang lại một cuộc ĐỔI ĐỜI cho dân tộc Việt Nam; và người dân của chúng ta có ngày sẽ có thể kiêu hãnh mà gọi tên Tổ quốc mình.

Và chúng ta cần phải bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc, bằng bất cứ giá nào. Và chắc chắn rằng, giàn khoan Hải Dương 981 sau này sẽ đi vào lịch sử Việt Nam như là một sự kiện, bước ngoặt cho sự đổi thay của dân tộc.

Kính chúc Thủ tướng sức khỏe để đi trọn vẹn chặng đường này,

Kính thư,

Đài Bắc, ngày 4 tháng 6 năm 2014 (*) [1]

Đặng Thế Hải,

Công dân Việt Nam,

Du học sinh Việt Nam tại Đài Loan

Tái bút:

Bức tâm thư được viết trong tâm trạng lo âu và tấm lòng khi nghĩ về Tổ quốc và biển đảo. Đã có quá nhiều những lá thư ngỏ từ những trí thức nổi tiếng và nhân sĩ yêu nước ở cả trong và ngoài nước. Người viết chỉ mong muốn được góp một tiếng nói, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước của người Việt và nhất là thế hệ trẻ: Chúng ta hãy cùng quan tâm và biết lo những vấn đề hệ trọng của đất nước, để có một nước Việt Nam tốt đẹp hơn trong tương lai.
Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông cha lập ra
Cháu con phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà
Xóm làng là làng của ta
Xương máu ông cha làm ra
Chúng ta phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà
Cánh đồng đơm đầy hương hoa
Công khó dân ta làm ra
Quyết tâm ta gìn giữ lấy
Nuôi nhau chung sống một nhà
Xóm giếng ta là tình quê hương
Chung sống vui bên ruộng nương
Có nhau để cùng chung sức
Vươn lên non nước hùng cường
Cõi đời là đời của ta
Nuôi dưỡng công lao mẹ cha
Lớn khôn để gìn giữ nước
Thay nhau xây đắp sơn hà


[1] (*) Ngày 4 tháng 6, Tưởng niệm sự kiện Thiên An Môn, Trung Quốc
(RFA) 

Truyện ngắn của Võ Thị Hảo: Gái góa đi bán cao dê

Tôi gái góa hai mươi mốt tuổi. Tôi đi bán cao dê.
Cao dê hôm nay bán chạy. Làng Vệ tôi mở hội lớn, người trẩy về chùa đông đặc đầu đen, trông xa cũng giống đại hội bọ hung.
Đây lễ hô thần nhập tượng khánh thành chùa mới. Tam quan chùa mới ba tầng thâm thâm tai tái màu cờ đám ma.
 Chùa to bằng quả đồi, hãnh diện án ngữ chùa cũ, vừa nhìn đã thấy nể sợ.
 Ngôi chùa cổ người làng Vệ tôi đẽo đá tạc gỗ mà  dựng nên và chăm chút hương khói từ cả ngàn năm nay bây giờ thành lép vế. Từ tượng Phật cho tới tượng ông thần ông thánh nay bỗng còm nhom. Ông Thiện ông Ác cũng ủ rũ buồn hiu, mắt nhìn ra chiều bẽn lẽn. Cái tên cha sinh mẹ đẻ của chùa cũ bỗng mất tiêu. Thì ra cái tên có chân, cứ theo đồng vàng tượng ngọc mà đi, ngồi chễm chệ uy nghi sáng chóe trên chùa mới. Càng ngắm nhìn càng nể người xây chùa rõ ràng  khéo tay.  Thật là tên thì chùa ta mà trông  cứ lẫm liệt như lăng mộ người nước bạn.
Người làng tôi rỉ tai nhau, rằng đến chùa cũ thì phải uốn chân bảy lần, tung đồng tiền cũ, mặt dương ngửa thì đi, mặt dương sấp, có đi cũng chỉ công cốc. Muốn cầu tài cầu lộc thì cứ thẳng qua chùa mới, đường to đường lớn thế không đi thì đi đường cụt à. Thần Phật ở đó nhiều không đếm xuể, mỗi ông lại to lớn như ông voi, chưa kể cơ man nào là tảng đá khắc tên những ông những bà đang muốn xập xòe cất mình thành Phật sống. Có thờ có thiêng có kiêng có lành. Cứ đến đó mà lạy mà cầu, lời kêu xin không lọt tai ông này, biết đâu lại vào tai ông khác.
http://motthegioi.vn/Uploaded/thyhang/2014_01_25/IMG_0978_PVOH.JPG?width=600&height=300&crop=auto
NV Võ Thị Hảo
Tôi không biết uốn chân thế nào. Chân tôi lục cục những xương những gân. Thì tôi đành múa chân. Như cách đi chân chữ bát. Muốn đến chùa cũ bây giờ phải ngoằn ngoèo lượn. Tôi phải nín thở chui qua tam quan chùa mới hun hút sâu như cổng đưa hồn người chết. Đi mãi mới ra được sau lưng chùa mới. Chưa đến nơi  đã thấy nghi ngút khói xám. Tới gần chùa cũ là lạnh gáy. Từ trên bệ thờ vọng ra hàng loạt tiếng thở dài sườn sượt xen lẫn tiếng nấc.
Tôi là  đàn bà mà không mau nước mắt. Tôi khóc cha tôi, chồng tôi chết trẻ và khóc cái thân tôi gái góa đã hết nước mắt rồi. Tôi nay gan cóc tía. Tôi chỉ đến trước mặt bàn thờ, con mắt liếc ngang, hai tay chắp lại  nói ai thương thần thì vào tưới cho thần một chén rượu. Ai thương Phật thì vào cắm cho Phật một nén nhang. Người không rượu không nhang thì cũng cứ nên hờ một câu cho các vị ấy thỏa lòng.
 Vì Phật này là Phật cũ, Phật làng Vệ tôi. Người làng Vệ tôi, nay cứ ngơ ngác như đàn trâu bị đánh cho chạy cong đuôi  ra khỏi đồng cỏ, bị buộc phải nhường đất thấm máu cha ông khai khẩn cho chùa mới.
Rồi từ độ đó, thần Phật khóc nghẹn trách người làng tôi xa mặt cách lòng, bỏ hương tàn khói lạnh.
 Người làng tôi nay chỉ mê nhìn Phật béo ngồi sừng sững như quả đồi trước sân chùa. Phật cười hơn hớn Phật đeo đầy tiền. Nhìn Phật cười quen rồi, lại thấy khó chịu khi nhìn Phật cũ cứ ngồi thương khó sự đời. Người làng tôi đã học cách dùng tiền thật dán lên Phật béo cầu tài. Phật cũ làng Vệ  cứ đứng đó khóc nghẹn là chẳng biết tùy thời.
*
 Tôi phận gái góa đi bán cao dê.
Tôi tai điếc tai sáng, cũng a dua theo người ta, chỉ thích thấy Phật cười mà lánh xa Phật khóc. Vả lại, nghe bảo rằng hôm nay người ta rước xá lỵ Phật mới. Người làng tôi từ bao đời nay thấy chùa chẳng thấy xá lỵ, vẫn thấy Phật. Bây giờ  nghe nói có xá lỵ mới có Phật, lập tức thấy nôn nao, chỉ muốn nhào vô sờ tận tay cho bõ thèm.
Ông cậu tôi làm nghề dẫn khách đi ngang dọc thăm thú chùa mới đã vài tháng nay, đường ngang đường tắt đường xa đường gần nào cũng thông tỏ. Cậu ngày càng phởn.
 Xá lỵ là gỉ là gì ư? Cậu ngồi gác chân lên bàn trả, mắt lim dim ra chiều khinh bỉ tôi là đứa dốt nát, chỉ vẽ tường tận  rằng xá lỵ là xương là thịt Phật sau khi chết thiêu hóa ra những viên tròn lóng lánh như ngọc. Quý lắm báu vô kể. Tôi bảo rằng ôi thế thì đẹp quá là đẹp nhỉ, thì phải bán đi để xây chùa hoặc chia cho mỗi nhà một ít tiền dựng lều ở. Nếu cứ để ở chùa, sớm muộn gì cũng bị lấy cắp, uổng.
 Cậu tôi nóng mắt cho tôi một bợp tai, bảo mày ngu dại ít học chẳng biết phải biết trái, ai lại đi bán xá lỵ bao giờ. Mà chuyện đó là chuyện thiêng, miễn bàn, để treo đầu lưỡi chết oan có ngày. Hôm nay mày ra chùa mới mà xem người ta hô thần nhập tượng thì mở ngay cái mắt chó giấy của mày ra.
Mà mày phải biết rằng khi có chùa mới rồi thì đừng có lắng xắng đi sang chùa cũ. Khôn ngoan ở đời phù thịnh chớ phù suy. Mẹ con mày bán cao trâu toàn tính mà bảo rằng cao dê, đã thế gặp khách còn lòe bịp là cao mèo cao rắn. Loại lừa đảo vặt  như mẹ con mày thì chỉ còn cách sửa lễ cho đầy đặn, khấn vái ở chùa có Phật béo mới được phù hộ đắt hàng. Làm gì cũng phải đầu tư, cúng bái là đi buôn, mà buôn này là buôn một vốn mười lời trăm vạn lời chứ còn gì nữa.
Tôi hỏi tại sao lại thế, cậu tôi tảng lờ, rồi lúng búng dặn rằng chùa mới Phật mới, thấy ghi đầy rẫy tên những vị á Phật xưa nay chỉ quen ngửa tay đón nhận tiền rồi mới sấp tay ban phép. Những vị á Phật này còn có thói quen nhận chuyển tiền nhanh, đặc biệt là qua tài khoản đen xuyên lục địa, nhận tiền thật không nhận tiền âm phủ, thế mới phù hộ nhanh như điện, cầu cửa trước, mới chạm cửa sau đã thấy ứng nghiệm.
Nói gì thì nói, trước sau cậu tôi cũng là chúa rắc rối. Cậu tôi đi theo hầu đủ loại người, nghe lỏm đủ chuyện, nghe cậu nói lại chẳng biết thực hư. Tôi chán chẳng thèm nghe.
Tôi sắm nắm mặc chiếc áo thun lạnh Trung quốc màu đỏ, cổ trễ sâu. Đôi vú tôi như đầu hai viên đại bác, nhức nhối khiêu khích chỉ muốn xé toang làn áo mà lao vụt ra ngoài. Mặc thun lạnh bó sát người để nổi vòng lưng ong gái góa tôi chưa từng sinh nở, vì các chú các bác các anh nhìn cao dê thì ít mà nhìn mông nhìn ngực tôi thì nhiều. Khách nói cả người tôi mới là thỏi cao dê  toàn tính. Cao dê thì cao dê. Tôi mang mẹt cao dê ra chùa mới, nơi có hai ông sư tử Trung quốc to quá là to. Thật chẳng hổ danh ở chùa này cái gì cũng nhất.
Tôi đặt mẹt cao dê xuống đất, cúi dập đầu vào tượng Phật béo mà  khấn: Ông hổ ơi ông hổ, à mà ông sư tử, xin ông phù hộ cho tôi bán cao dê đắt hàng.
 Ông canh chùa đứng bên cạnh, nghe tôi khấn to, liền gắt:  phải gọi đó là hai ông tỳ hưu. Hai ông ấy du lịch từ nước bạn sang đây chứ không gà què ăn quẩn cối xay như nhà mày đâu. Tên hai ông ấy sang thế, sao mày cứ nôm na mách qué nào hổ nào sư tử.  Mày có biết tỳ hưu là ông gì không?
Dạ thưa nhà cháu cả đời chưa ra khỏi cái chợ cách nhà ba trăm bước chân, làm sao biết được cái ông tỳ hưu. À thì bây giờ mày biết.  Đó là cái giống chỉ ăn vàng ăn bạc mà không ị bao giờ. Chẳng nói một năm chứ cả trăm năm ngàn năm cũng không ị, của cải thiên hạ đổ vào mồm là giữ lại cho chủ nhân, không mất đi đâu một ly một lai.
Tôi ngửa cổ lên thành kính nhòm mồm hai ông tỳ hưu. Mồm hai ông ấy há to, không rõ là cười vì được ăn vàng hay đang dọa nạt người ta phải nôn vàng ra. Tôi bỗng gợn lòng thương hai ông ấy bị táo bón lâu ngày, chịu thế quái nào được, có lẽ miệng các ông ấy há ra là để chuẩn bị nôn ra tiền ra bạc cho nhẹ bụng. Tôi lập tức ngửa hai bàn tay ghé dưới mồm hai ông. Nếu các ông nôn ra tiền ra bạc thì hãy nôn bây giờ, có tôi đứng sẵn ở đây hứng, khỏi phải ngày ngày đi bán dạo cao dê cao mèo cao rắn nấu từ cao trâu toàn tính.
*
 Trời đất cha mẹ ơi, làng tôi hôm nay đông vui thật là vui. Bốn phương tứ chiếng đổ về, tay ai cũng lăm lăm tiền thật, xôi gà xôi lợn và nhiều thứ ăn được sặc sỡ hoa cả mắt.  
Những đầu lợn choai phết phẩm đỏ ánh ỏi ngạo nghễ giương đôi mắt chết, hai đùi choãi ra cưỡi trên cỗ xôi đầy ụ. Sao tôi chỉ đi bán cao dê cao mèo cao rắn mà cứ thấy như họ hàng với đám lợn đang cưỡi cỗ xôi kia nhỉ?
 A ha ha thì ra là đám lợn nhà hàng xóm. Nhà ấy trước làm vàng hương bán cho người vào lễ ở chùa cũ, nay có chùa mới, nhanh nhạy chuyển sang làm nghề đồ tể, giết trâu giết bò giết dê làm đặc sản, trở thành nguồn xương của mẹ tôi lâu nay. Bây giờ nhà ấy lại quay lợn nấu xôi làm cỗ bán cho khách giàu có từ thập phương đến khánh thành chùa mới.
Tôi nhận ra đôi mắt chết của đám lợn ấy thế mà quen. Có lẽ là vì đêm qua, khi tôi lượn sang nhà hàng xóm nhặt xương về nấu cao, tôi thấy một đám hàng trăm con lợn choai đang bị trói vào cái thang, chân chổng lên trời đầu chúc xuống đất. Mắt chúng trợn ngược lên đau đớn nứt khóe, thân mình co giật dữ dội, máu phun phè phè từng đợt trong tiếng òng ọc phì phịt từ chiếc họng bị cắt gần đứt khi lưỡi dao nhọn thọc vào cổ.
 Phật ạ Phật ở gần, Phật ở trong xá lỵ chỉ cách chúng con một bức tường xây xi măng rởm, Phật có nghe tiếng rú và tiếng run giật của hàng vạn con lợn bị chọc tiết để cúng Phật?
Tôi vân vi ngẫm lại. Thực ra con lợn choai không thể chảy quá nhiều máu. Máu chỉ đọng thành vũng lênh láng đáy chậu thau. Vậy mà sàn nhà hàng xóm tôi ngập tràn những chậu máu, màu đỏ ánh đen hắc lên trong đêm tối. Nhiều mạng lợn quá không đếm xuể.
Tôi lại nghĩ dại: Khi chết trong lò quay, tức cũng là thiêu, đám lợn có để lại xá lỵ không nhỉ?
Vừa nghĩ đến thế, tôi liền sợ hãi chết rồi chết rồi, đồ ngu khổ ngu sở. Ai lại nghĩ phạm thượng thế. Tôi liền đập đầu vào chân tượng, cắn lưỡi ba lần tự trừng phạt. Mồm tôi máu chảy ròng ròng. Tôi không dám rửa máu chảy, cũng không dám nuốt vào bụng cho khỏi phí phạm, bụng bảo dạ đợi đến lúc nào ông Phật béo gật đầu thì mới đi rửa máu ở mồm, thế mới gọi là đền tội.
Mẹ tôi chuyên nấu cao lợn cao trâu rồi dán nhãn cao dê cao mèo cao rắn bán cho khách vãng lai đến cầu khấn xin lộc xin tài nơi chùa mới.
Mẹ tôi nói rằng nhà ta bây giờ đổ đốn, sống cũng chẳng hơn gì loài chó lợn, không đáng làm người vì nấu cao lợn cao trâu toàn tính lại bảo rằng cao dê. Nhưng rồi mẹ chép miệng bảo thôi thịt trâu nay cũng thành đặc sản, ăn cao trâu toàn tính không bổ ngang cũng bổ dọc. Vài năm nay chỉ một vùng này thôi đã đầy chuyện cướp giết hiếp. Đầy đường báo loa rao các vụ c]ớp giết hiếp nghe cứ như tiếng reo mừng. Làng tôi cũng vậy thôi. Mười người bị hiếp chín người câm như hến vì sợ nhục sợ bị giết. Nếu ai cũng uống cao dê thật thì đàn bà con gái xứ này hết đường sống ư?
Cậu tôi nghe nói thế, cười kha kha rằng cao dê bán chạy chẳng qua là đàn ông bây giờ mười thằng thì bảy thằng liệt dương. Liệt là vì não teo lại bằng hòn cà, suốt ngày chẳng nghĩ ra chuyện gì hay ho thì cứ nhìn xuống dưới rốn, tiêu xài cạn ráo cái của trời cho. Thế là mới phải đốt đuốc đi tìm nào rượu Minh Mạng nào cao dê nào Viagra nào sừng tê để tự lừa mình, cứ uống cho lắm vào thì con giun chết vẫn là con giun chết mà thôi, chẳng công dụng quái gì sất.
Mẹ nói, cực chẳng đã mà mẹ con tao phải đi lừa đảo vặt thế thôi. Thiên hạ người ta lửa được những cục vàng to bằng cái đấu, mình thế này chẳng qua là chó cùng rứt giậu kiếm miếng đút vào mồm.
Cao trâu toàn tính chỉ có từ khi ngôi nhà của ông tôi đã năm đời vẫn nép vào chân núi dưới chùa cũ bỗng bị cái máy  xúc to bằng mười con voi từ đâu đến chõ mồm vào nhà chúng tôi mà rủa  xả bằng những tiếng gào rú điếc tai. Nó gào ba hơi thì căn nhà cột gỗ lim đã sống qua năm đời của ông tôi sập xuống, cột kèo mẻ vỡ nằm sõng sượt như xác chết bom. Nhà  bị san phẳng, đến cả móng cũng bị quật há hoác để lấy đất xây chùa mới. Mẹ con tôi gào khóc hết hơi, chạy xung quanh cái máy xúc như hai con cào cào chạy quanh con trâu. Van vỉ hết nước hết cái không được, mẹ tôi nghĩ mánh tụt quần nằm lăn ra nền nhà giẫy đành đạch để giữ đất nhưng chẳng ăn thua gì.
Cậu tôi thấy thế thì cười ha ha ha nói bà chị càng tụt quần bọn họ càng phấn chân, tinh thần lao động càng lên cao. Thế nên cả đoàn cứ đứng trố mắt ra nhìn hau háu cười khật khưỡng, đố có đứa nào xấu hổ mảy may. Bà chị dùng chiến thuật của “đội quân tóc dài” ở thời này là quá lạc hậu rồi bà chị ơi, chiến thuật đó chỉ ăn thua khi đối phương còn biết xấu hổ, còn thời nay bà chị cởi truồng chúng lại quay phim chụp ảnh bằng điện thoại, lưu trong máy, mail cho nhau xem, khác gì xem phim con heo miễn phí, thế thì còn nước mẹ gì. Thôi, em đưa cho vài đồng, mẹ con quây bạt làm lều, nấu giả cao dê bán, em đút lót tay trưởng ban bảo vệ chùa chút đỉnh thì cũng được bán dạo trước cổng chùa kiếm tiền sống tạm. Gì chứ việc này thì em có khả năng.
Thế thì mới có mẹt cao dê đeo trước bụng tôi bây giờ. Khách vừa mua, vừa ngửi, đưa lưỡi liếm, nhăn mặt chê tanh, nghi ngờ dèm pha nhưng đôi khi cũng mua một vài lạng, có người mua vài cân, nói làm quà cho người nhà. Tôi hiểu anh ấy chú ấy muốn ngụ ý rằng tôi là một con đực ngon lành, chẳng có vấn đề gì đâu, vấn để là kẻ khác kia. Mặc dù vậy, ai chẳng biết rằng họ mua để tự bồi bổ. Đàn ông rõ là buồn cười. Thì liệt dương cũng được chứ sao, giun đất thì giun đất, có gì đáng xấu hổ nào, thế mà lại coi đó là nỗi nhục nhã nhất và cố sống cố chết mà giấu. Về điều này thì cậu tôi nói có lý. Chẳng nghĩ ra được chuyện gì hay hơn nên chỉ biết nhìn xuống cái bộ phận  dưới rốn của mình mà tiêu xài rồi mọi thứ trên đời cũng chỉ lấy cái đó làm thước mà đo. Thế giới mà  đo bằng thước ấy thì đo bao giờ mới hết. Thế mới khốn khổ khốn nạn.
Nghĩ lan man là nghĩ trộm vậy thôi chứ việc của tôi là cười tủm thường trực và liếc con mắt đẹp duy nhất đưa tình với khách. Trời sập tôi chẳng lo, chỉ lo cao ế. Ế hàng thì mẹ con tôi chẳng có gì ăn. Nếu cao ế là bà liền giở giọng khóc hờ kể lể về ngôi nhà cổ đã bị san ủi đến bật hoác cả móng. Mẹ lại khóc hờ ông chồng - tức cha tôi, sao một hôm ra đi mất tăm tích như một khúc xương trâu ném xuống biển thế, người không về thì tiền cũng phải bò về mà trả nợ chứ.
Có người bảo cha tôi đánh đề thua rồi bị dụ sang bên kia biên giới bán gan bán thận nhưng trên đường mang tiền về thì bị cướp. Mẹ tôi rõ lẩm cẩm. Đến cái xác không còn thì mong gì tiền. Kể ra gói tiền mà cứ tự nó rời xác người, biết bò về nhà cho mẹ tôi thì có phải tốt bao nhiêu không, vì hàng ngày vẫn cứ có người vác dao đến đe mẹ con tôi và cứ đi theo chặn họng lấy tiền bán cao dê hàng ngày của tôi để trừ nợ cha.
Người làng tôi mất đất, còn không biết làm nghề gì, bây giờ lấy nghề thịt nhau để sống qua ngày. Lừa đảo nhau bán hàng đa cấp, đề đóm, cho vay cắt cổ, cá độ, mở quán game, rủ nhau đi làm điếm, lừa nhau đem sang Trung quốc bán nội tạng, đi bảy người chỉ về một,  không ốm liệt giường  cũng thành thân tàm ma dại. Thế chẳng phải ăn thịt nhau thì là cái gì.
Dạo này người ta đang rỉ tai nhau rằng có một loại thực phẩm chức năng bổ lắm trẻ người ra tới mươi lăm tuổi. Thuốc ấy thực ra là là làm bằng thịt người. Tôi nghi nghi hoặc hoặc. Mỗi khi tay đảo mớ cao dê cho khỏi mốc, tôi cứ tự hỏi có phải những người uống thuốc ấy đã uống một phần thịt của cha tôi hay không.
Giá như không có tin đồn có kẻ lấy xác cha tôi chế thực phẩm chức năng, cách gì tôi cũng vay cậu tôi tiền mua vài lọ uống xem có chữa được con mắt lườm giời hay không. Thực ra thì hai mắt của tôi đều nhìn rõ, mắt trái tròng đen đen láy tròng trắng xanh rõ là xanh , mắt phải thì đục lờ, ngồi bệt trên đất nhìn miếng cao dê mà mấy chú mấy anh cứ mừng rỡ tưởng là đang nhìn lên cửa quần họ, có lẽ vì thế mà cao tôi bán chạy hơn người. Nhưng tôi thì nghĩ khác. Nếu con mắt phải tôi cũng tình tứ như con mắt trái, cầm chắc là tôi đã chẳng phải chịu phận góa chồng và đi bán cao dê.
Thì đã nói tôi là gái góa tôi đi bán cao dê. Chồng tôi thuở còn sống nhăn thì học hết lớp mười, hay ho mọi nết, chỉ tội mắc bệnh lười nên gái chê. Gái chê mới đến lượt tôi. Cái đáng làm thì không làm, chồng tôi cứ nhầm bàn phím chơi game là chốn tỏ dạ anh hùng.
 Chồng tôi vào quán net, hết làm anh hùng cứu người đẹp, lại xem phim cởi truồng chat với người cởi truồng, đến khi chán, mới  dùng tên lửa tàu siêu tốc thủy lôi đánh phá căn cứ kẻ thù hết ngày  dài lại đêm thâu.
 Khi tôi nói bây giờ nhà chẳng còn gì ăn, cơm là cơm khoai là khoai chứ chẳng phải bàn phím, trở về mà đi nhặt xương trâu bò đi nấu cao dê, thì chàng nói rằng mày đừng lắm lời nhặng xị kẻo tao cho một phi tiêu siêu nhân là nổ tan xác pháo, cho luôn vào nồi cao toàn tính.
Tao từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, vốn xinh như trai Hàn quốc, vì bố mẹ  kiết xác mà từ thằng bạn học đến thằng hàng xóm tới quan xóm quan xã quan huyện đều coi không bằng  con chó. Tao phải lấy đứa vợ mắt lườm giời như mày chẳng qua chỉ là mẹ tao thấy mày là con bò béo giỏi kéo cày. Vậy thì tao chỉ còn việc phải làm anh hùng  trên bàn phím, ngẩng cái mặt lên cho xứng thằng đàn ông.
Và chồng tôi mải đi cứu nhân độ thế trên net, rồi chơi sang thuốc lắc, cho đến một ngày tôi đi vắng, không có ai để hạch họe, chồng tôi dí dao vào cổ cha chồng tôi nã tiền đi chơi game và chơi thuốc. Chồng tôi quá tay cứa ngang cổ ông.
Khổ thân bố chồng tôi. Tôi biết không phải ông tiếc tiền, mà chỉ vì một ngàn đồng để mua viên thuốc cảm ông cũng không còn. Ông sửng sốt kê cằm vào ngưỡng cửa chuồng trâu, đảo ngược mắt chết gục trên vũng máu trước dãy chuồng rỗng không.
Chồng tôi vẫn mê mải ra đi, cắm chân vào bàn game, ai gọi không thưa, mặt không ngẩng lên, cho đến khi chết ập mặt xuống bàn phím.
Thế thì hai mươi mốt tuổi tôi thành gái góa và tôi đi bán cao dê.
          *
Tôi lấy vài tờ báo cũ đặt cạnh mấy pho tượng La hán, tay xoa xoa đập đập vào mông. Người sạch sẽ là phải như thế chứ. Tôi đặt mẹt cao dê cao mèo cao rắn ra trước mặt, tay phải không quên chiềng tấm biển có dòng chữ đỏ: Cao dê cho tình xuân viên mãn. Đó là cậu tôi thuê một ông nhà thơ cấp huyện viết cho mới được thế. Con người ta có học có khác. Nhời nhẽ hay đến thế là cùng.
Tôi nhìn ra xung quanh. Kể ra có mất đất cũng đáng giá. Cái chùa mới này thật sừng sững. Từ xa đã thấy cái tam quan ba mái lợp ngói đen. Dân làng Vệ tôi cứ nói rằng  chùa chẳng phải chùa, là lăng chôn người chết thì có. Đen ngòm trên đường chân trời, tán cây xanh thẫm viền núi, kẻ yếu bóng vía thấy hàng rào kín mít sâu hút ngáng trở mà rởn tóc gáy. Tôi thề sống thề chết với cậu tôi rằng hơi ma mỗi ngày ba lần phà ra phùn phụt từ phía cổng chùa. Có người độc mồm nói: Làm chùa kiểu ấy, hóa ra khi bước vào cổng, phải chết queo củ từ rồi mới đến được với thần phật.
Rợn, lại còn bị bảo vệ chùa xua đuổi. Nhưng tôi thì đã quen, cũng bớt sợ. Muốn ngồi bán cao, chỉ cần cho vài ông anh trông chùa cấu véo một tí. Một tí chứ hai tí cũng đã chết ai. Tôi gái góa chưa đến mức đi làm gái điếm. Tôi vẫn ngồi lườm giời với mẹt cao dê bên chân mấy trăm vị La hán.
          Mừng quá thể là mừng. Hôm nay người qua lại kìn kìn. Thật ở hiền gặp lành, có thờ có thiêng, cao dê tôi đắt hàng, chưa đầy nửa buổi đã hết veo.
          Tôi hơn hớn phủi quần đứng dậy, nhìn mấy ông La hán mà thấy yêu. Đến trông  hai ông tì hưu nhe nanh kia cũng thấy tình tứ.
Tôi bấm điện thoại cho mẹ, bảo bà rằng tôi đang về đây, chuẩn bị cho tôi mẹt cao dê khác.
Bà nói: Đây rồi, gì chứ cao thì chẳng bao giờ thiếu. Nấu một con trâu toàn tính ra cơ man là cao. Nhưng hôm nay bán chạy thế là phải lễ tạ ngay lập tức. Ăn cây nào rào cây ấy. Thần Phật bây giờ là thần Phật mới, chẳng kêu chẳng cầu, không lễ thì không phù hộ, chẳng ai cho nhau ăn không bao giờ. Bây giờ người ta rước xá lỵ về rồi đấy, đẹp lắm thiêng lắm, chùa cũ ta xưa nay đâu có. Thật là phúc tổ, bao nhiêu đời nay , đến đời mày mới có dịp trông thấy là một. Tao có muốn ra xem thì mắt mờ chân chậm, chẳng may bị người ta chen bẹp ruột. Mày mua ít hoa quả rồi đặt mấy chục tiền thật mà vào lễ  mới có cớ vào xem xá lỵ rồi giương mắt ra mà nhìn cho kỹ, về kể cho tao nghe cấm bỏ qua điều gì. Lễ xong rồi mới lấy mẹt khác, kẻo Trời Phật phạt cho treo mồm, trơ mắt ếch. Mà mày cố sờ tay vào xá lỵ, biết đâu nhà ta được đền bù đất, thoát cảnh ở lều.
Được lời mẹ, tôi làm ngay. Mẹ phải biết rằng con giá mẹ ngoan, mẹ bảo làm một thì con làm mười đây này. Tôi quay ra bà hàng bán xôi gà. Hàng xôi của bà ruồi bâu đầy.
Bà nhặt cành lá dưới đất lên, đập đập làm phép lên đầu gà. Vừa  đuổi ruồi bà vừa giảng giải rằng ruồi là một chuyện mà lòng thành là một chuyện hoàn toàn khác. Đã là thần Phật,  đến quỷ ác một ngàn cái răng nanh, ăn trăm người một lúc như ăn gỏi mà còn bị thu phục, thì đương nhiên vi trùng có nhiều có thâm độc đến mấy cũng bị các ngài biến thành đệ tử, càng ăn vào càng như ăn thuốc bổ, có gì mà lo.
Bà nói càng nghe càng có lý. Thế là tôi hãnh diện đặt cỗ xôi gà lên mẹt cao dê, hiên ngang đội lễ vật của tôi vào chùa mới. Mẹ này mẹ thật chẳng biết thò cổ ra khỏi lều mà xem con gái mẹ bảo một làm mười đây này.
Người đến xem xá lỵ chen đông ôi là đông, như cả rừng những con bọ hung con cánh cam khổng lồ. Thật khấn khởi thật cả rừng quần áo đẹp. Mặt ai nấy đỏ gay, có người bị chẹt cả cổ, thở è è như rặn đẻ. Ai chứ tôi thì không đời nào lại chịu thế đâu nhá. Cậu tôi nói xá lỵ mới rước về là cất kỹ trong hậu cung, đợi quan khách đến đông đủ thì mới mở hòm mạ vàng mà phô ra. Chỉ quan khách sang trọng, thở ra khói nói ra lửa mới được nhìn tận mắt.
     Thế thì chỉ khổ cho đám bọ hung đám cánh cam rách cả cánh gẫy cả chân chen lấn.
 Tôi cũng chỉ là một con bọ hung. Nhưng tôi là con bọ hung thổ công. Cũng như cậu tôi, đường ngang lối tắt nào ở đây mà tôi chẳng biết. Tôi là con chuột chũi ở chùa.
Kìa lũ mặt đỏ gay khuỳnh tay chẹn chân người khác chỉ nhăm nhăm vọt vào gần hòm đựng xá lỵ kia, các người chẳng qua cũng là lũ gà trống ngứa cựa, chẳng được cái tích sự gì, chen mãi cũng chỉ trôi dạt hết bên này sang bên khác.
Nói là làm. Tôi lập tức bỏ cỗ xôi gà đã bay hết ruồi vào túi ni lông, đeo lên cổ. Mẹt đựng cao dê đã hết thì quá dễ xử lý. Cái mẹt lúc nào chẳng có dây buộc để đeo vào lưng như đeo ba lô.
 Toách! Xoạt! Phạch.
Dù bị rách cả cổ áo, lại toạc mất một miếng bắp tay, nhưng sau một hồi vừa luồn ngóc ngách vừa bò như chuột,  tôi mừng rỡ  nhảy bụp vào đúng chỗ cái hòm đựng xá lỵ đang được cất kỹ.
Chà chà, một rừng người ngào ngạt hương trầm đang ngồi lần tràng hạt tụng kinh. Trông ai cũng béo tốt rạng rỡ tới mức những chân tóc mới cạo cũng nhô lên bóng như sợi mỡ.
     Dù mắt hiếng nhưng không con bọ hung nào lủi nhanh bằng tôi khi biết cái việc mình cần phải làm. Mẹ dặn sống chết gì cũng phải nhìn thấy xá lỵ. Quý lắm báu quá. Cả năm đời nhà tôi bây giờ mới có tôi vinh quang là một. Tôi mà không xem, không đích thân khấn vái để xá lỵ trông thấy lòng thành của tôi thì thà tôi chết đi cho rảnh. Mẹ này cậu này, sau vụ này liệu có còn chê tôi ngẩn ngơ được nữa không.
Tôi đã đoán là trúng. Khi tôi chạm chân xuống đất, hòm xá lỵ cũng vừa được mở ra.
     Cả rừng người đang tụng kinh niệm Phật xung quanh quỳ lạy dập đầu xuống đá.
     Tôi cũng quỳ, cũng lạy mà không quên tôi đang bị mấy ông bảo vệ thộp cổ lôi xềnh xệch ra ngoài. Cổ tôi gãy chưa không biết, chỉ thấy đau điếng, máu chảy ra đằng tai.
Nhưng tôi vẫn lòng thành khấn lẩm bẩm trong miệng: Lạy trời lạy xá lỵ Phật mới, con gái góa ngu dại, cực chẳng đã con mới phải đi bán cao trâu toàn tính gọi là cao dê nhưng lòng con thành lắm. Con yêu ông Phật béo ông Phật cười ông tỳ hưu, nay con lại vô cùng kính quý xá lỵ Phật. Cái túi ni lông con đeo ở cổ đây đích thị là xôi gà. Xin xá lỵ hãy hiện ra cho con nhòm một cái thì dù có gãy cổ chết con cũng cam lòng.
Đích thị  có khấn là có thiêng.
Cái hòm mạ vàng quý ôi là quý mở ra. Tôi trợn to đôi mắt đã bị máu che mờ, cố nhòm vào.
Ối chà chà đẹp ôi là đẹp. Những người khác có thấy ngọc báu không thì tôi không biết, riêng tôi, thấy vô số viên màu xanh óng ánh. Hóa ra không phải màu hồng, mà là màu xanh cơ đấy.
Chết thì chết, tôi cũng phải sờ tận tay. Con mẹ là thế đấy mẹ ạ. Làm cái gì là làm đến nơi đến chốn. Com mà sờ được vào xá lỵ là ta được đền bù đất, thoát cảnh ở lều.
Tôi đợi thời.
Tôi chờ đến khi rừng người mặc áo vàng và rừng cánh cam xung quanh xá lỵ rên lên vì ngưỡng mộ, ngay cả ông bảo vệ đang khóa cánh tay tôi cũng rên xiết xúc động, tôi mới cắn một nhát vào tay ông ta.
Ông ta kêu ối lên như bị chọc tiết. Nhanh như cắt, tôi mới thò tay vào hòm đựng xá lỵ, quyết  vồ lấy một viên màu xanh. Này, chết thì chết này! Tôi sẽ được sống lại vì xá lỵ.
Nhưng tôi bỗng cảm thấy lạnh buốt dưới đầu ngón tay. Tôi rùng mình nhìn xuống.
Thì những viên ngọc xanh đâu chẳng thấy, chỉ thấy một đàn rắn con đang dùng cái mỏ nhọn đục vỡ những cái vỏ xanh, chui ra.
Đàn rắn con lúc nhúc, ngọ nguậy ngu ngơ trong hòm rồi lập tức trườn nhanh như điện ra ngoài chiếc hòm mạ vàng, chui vào ống tay áo vô số người.
Hình như cổ tôi đã gẫy. Trước khi ngất đi, tôi còn kịp hân hoan lườm giời: hớ hớ hớ. Ối mẹ ôi! Con gái ngoan của mẹ  sờ được  xá lỵ rồi!
Võ Thị Hảo
(FB. Võ Thị Hảo)