Tổng số lượt xem trang

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013

Tham nhũng nghìn tỉ thời ông Trọng được đồng chí X lôi ra phục vụ Hội nghị Trung ương 7?

Tham nhũng nghìn tỉ thời ông Trọng được đồng chí X lôi ra phục vụ Hội nghị Trung ương 7?

Cố tình “tạo điều kiện” cho doanh nghiệp, làm thất thu thuế của nhà nước hàng nghìn tỉ đồng, được doanh nghiệp lại quả biệt thự triệu đô. Tiêu cực đặc biệt nghiêm trọng diễn ra dưới thời Bí thư Thành ủy Nguyễn Phú Trọng cuối 2004. Các cá nhân liên quan: Phan Văn Khải,Nguyễn Công Tạn, Nguyễn Phú Trọng, Hoàng Văn Nghiên, Vũ Hồng Khanh … Gần 10 năm sau, hàng nghìn biệt thự bị “phanh” lại khi xin cấp sổ đỏ. Các cơ quan Trung ương và Hà Nội đang đau đầu về vụ truy thu hàng nghìn tỉ tại khu đô thị lớn nhất và sang trọng nhất cả nước – CIPUTRA, Phú Thượng, Tây Hồ. Sắp tới Hội nghị TW 7, vụ này lại được  móc ra đặt vào tay Nguyễn Bá Thanh để xem Ban Nội chính hành xử ra sao.
Nhằm giúp doanh nghiệp trốn mức thuế sắp áp dụng từ 1/1/2005, ngày 14/12/2004, Hoàng Văn Nghiên (Chủ tịch Hà Nội), dĩ nhiên được Thành ủy đứng đầu là Bí thư Trọng bật đèn xanh đã ban hành quyết định “ưu tiên” cho CIPUTRA nộp thuế theo mức “đặc cách”. Quyết định do Hoàng Văn Nghiên ban hành đã khiến nhà nước thiệt hại trên 3000 tỉ đồng. Được hưởng siêu lợi nhuận này là nhà đầu tư bất động sản CIPUTRA. Phương pháp ông Nghiên, ông Trọng “tính giúp” cho CIPUTRA đến bây giờ đang gây ra tranh cãi lớn.
Ngay tại Hội nghị toàn quốc về chống thất thu thuế 3/2013 vừa qua, trường hợp CIPUTRA bị bộ Tài chính (dưới sự chỉ đạo của đồng chí X) nêu đích danh là vụ trốn thuế lớn nhất lịch sử Việt Nam và yêu cầu các cơ quan chức năng sớm điều tra, truy cứu trách nhiệm cá nhân kể cả có cán bộ hiện làm rất to.
Dưới sức ép phe phái, vừa qua, Hà Nội buộc phải ép CIPUTRA nộp lại 1400 tỉ đồng trong số hơn 3000 tỉ đã bị cố tình tính sai. Hàng nghìn biệt thự triệu đô không được cấp sổ đỏ bởi đất CIPUTRA thuê có thời hạn 50 năm bị cố tình áp sai thuế một cách nghiêm trọng. Hiện, liên doanh bất động sản kinh doanh khu đô thị CIPUTRA đứng trước bờ vực phá sản. Hàng trăm héc ta đất vàng không sử dụng cả chục năm. Khu mua sắm CIPUTRA Mall (đường Lạc Long Quân) khổng lồ đang bỏ hoang là minh chứng cho sự lãng phí, tiêu cực khủng khiếp dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng.
Để dựng bình phong che giấu tiêu cực, hàng chục biệt thự triệu đô đã được biếu không cho các “gia đình chính sách” (lãnh đạo tiền bối – kể cả còn sống và đã chết) như Nguyễn Văn Trân, Trần Duy Hưng … Hà Nội lại đem mảnh đất vàng Võng Thị ngay sát Hồ Tây “hiến” cho Tổng bí thư Nông Đức Mạnh (lúc còn đương chức) làm biệt thự riêng để chỉ đạo Thanh tra CP “làm êm” vụ CIPUTRA. Mảnh đất vàng này đã từng được “cơ cấu’ cho 1 đại tướng lừng danh. Do việc chạy lễ này của Hà Nội mà đại tướng có nguy cơ lâm cảnh vô gia cư vì biệt thự cụ này đang ở bị quy hoạch bảo tồn quần thể Ba Đình.
Hiện, dân tình đang xôn xao rằng đồng chí X ra đòn hiểm thật, cho quân chọc vào hai vụ tiêu cực đất đai (một tại Đà Nẵng, một tại Hà Nội), đều hàng nghìn tỉ và liên quan trực tiếp đến người đứng đầu bộ máy Nội chính, Chống tham nhũng khiến các cơ quan này vừa bày ra đã có nguy cơ chết yểu.
10/04/2013
Cầu Nhật Tân
(Blog Cầu Nhật Tân)

Việt Nam còn thiếu những gì để có dân chủ?

Thêm chú thích
Thế kỷ 21 đang chứng kiến những xáo trộn vĩ đại nhất thế giới. Con người hết sống trong khuôn khổ trong quốc gia mà sống trên trái đất. Các công ty không chỉ cạnh tranh với những đối thủ trong nước mà còn phải cạnh tranh với những công ty khác từ thế giới đổ vào.
Về kinh tế, hiện tượng toàn cầu hóa là không thể tránh khỏi.
Trong diễn văn của các lãnh đạo độc tài, từ Á sang Phi, từ Nguyễn Phú Trọng đến Tập Cận Bình, Al Assad, Ahmadinejad... đều kêu gọi phòng ngừa các thế lượng thù địch từ nước ngoài.
Các người này nói đúng nhưng chưa rõ ràng.
Qua báo chí, mua bán, giao lưu, du học, tranh chấp... thì nhân dân của các nước độc tài thấy rằng những quốc gia dân chủ hơn họ rất nhiều thứ. Và nền chính trị dân chủ là một câu trả lời phù hợp nhất với nguyện vọng và ước muốn của mình.
Thế lực thù địch mà "các ngài" ám chỉ đây là nền văn hóa, quyền công dân, kinh tế, xã hội, dân trí... của các nước dân chủ.
Về chính trị, phong trào dân chủ lan tỏa khắp thế giới là điều không thể tránh khỏi. Dân chủ hóa khắp nơi, từ Châu Âu đến Châu Á, từ châu Phi đến châu Mỹ.
Độc tài đưa đến độc quyền, độc quyền đưa đến bất công, bất công gây ra phản kháng đòi dân chủ. Bên kia biên giới, có một tỷ mấy trăm triệu người đòi những kiểu hành xử công bằng từ chính quyền. Họ đòi hỏi những "mẩu vụn" dân chủ. Theo thời gian, đảng cộng sản Trung Quốc hết còn có thể là chủ nhân duy nhất của đất nước Trung Quốc. Đảng cộng sản Trung Quốc sẽ mất nước.
Phong trào dân chủ ở Việt Nam đã đi xa hơn. Các sử gia thấy có 4 hiện tượng của những triều đại lúc lâm chung:
a) Thối nát, băng hoại đến nỗi mất hết khả năng giải quyết mọi vấn đề khẩn cấp của Quốc gia và bảo đảm những điều kiện sinh hoạt thường nhật của dân chúng.
b) Tâm lý oán ghét chế độ mỗi ngày mỗi tăng cao, quần chúng rộng lớn hầu như tuyệt vọng, họ sẵn sàng hy sinh để thay đổi số phận.
c) Mâu thuẫn, xung đột kịch liệt ngay trong nội bộ hàng ngũ thống trị, phe thống trị mất tin tưởng cả chính mình.
d) Xã hội khao khát một thế lực mới để cứu vãn tình thế.
Hiện nay Việt Nam đã có 4 điều này. Câu hỏi hết còn là có thay đổi chính trị hay không tại vì chuyện này sẽ xảy ra.
Đảng cộng sản run sợ hỏi: Ai nào?
Nhân dân khắc khoải hỏi: Chừng nào?
Những người đấu tranh cho dân chủ đau đáu hỏi: Cách nào?
Mới năm nào, những người đấu tranh còn rời rạc, manh mún. Nhưng hiện nay họ đã đoàn kết. Sự gắn bó đã trở thành những cam kết bởi những kiến nghị 72, bản góp ý kiến của Hội Đồng Giám Mục, của Phật Giáo, Hòa Hảo, Lời Tuyên bố của các Công Dân Tự Do...
Thế lực mới mà nhiều người mong đợi bắt đầu có khả năng cạnh tranh với chế độ cộng sản.
Ở trên mạng, cản trở không cho chúng ta đi tiếp?
Dạ thưa, chẳng có gì cả.
Đảng cộng sản cấm biểu tình ngoài đường thì thế lực mới biểu tình trên mạng. Biểu tình trên mạng nâng cao hiệu quả trong thời gian và không gian, ở mọi nơi và mọi lúc. Biểu tình kiểu này được đọc giả người Việt khắp thế giới xem và ủng hộ.
Đảng cộng sản giam cầm, quản thúc những cá nhân có khả năng trở thành lãnh tụ thì thế lực mới thay thế bằng tập thể lãnh tụ. Những cách thức ứng xử với cộng sản, nhân cách, lối suy nghĩ và lời tuyên bố của họ cũng có tác dụng với đồng đội ngang như những mệnh lệnh, chỉ thị... của đảng cộng sản.
Đảng cộng sản lập ra đội ngũ dư luận viên cũng thất bại. Các công an mạng đấu khẩu trong những tình thế hoàn toàn bất lợi. Họ bảo vệ chính phủ trong những sự kiện không thể bảo vệ, ở những website mà ban điều hành có thể xóa bỏ lý luận của họ. Và cuối cùng, họ cũng không đủ kiến thức để đối chọi với các "còm sĩ". Các còm sĩ vượt xa những CAM về số lượng lẫn sự hiểu biết, thành hẳn một lực lượng đấu tranh cho dân chủ. Lực lượng CAM càng làm cho tâm lý oán ghét trong dân chúng mỗi ngày một dâng cao.
Đảng cộng sản Việt Nam cấm đoán 700 tờ báo đưa ra những thông tin bất lợi cho chính phủ. Nhưng sao là bất lợi? Khi công an đánh đập dân chúng là bất lợi? Khi cưỡng chế đất đai là bất lợi? Khi con ông cháu cha coi mạng người như cỏ rác là bất lợi?
Còn gì là mới mẻ khi đăng tải chuyện gì xảy ra cũng phải đợi chờ tầng tầng lớp lớp kiểm duyệt?
Làm sao có sáng tạo khi ho một tiếng cũng phải xin phép?
Riết rồi báo chí lề đảng chẳng biết viết gì và đăng gì? Quần chúng quay ra tìm tin tức ở báo chí lề dân.
Muốn tìm những tường thuật khít khao với sự thật hay những phân tích sâu xa về chính trị, kinh tế thì cứ nhấn chuột "xề" qua báo lề dân là được giải thích, phản bác rõ ràng. Báo chí lề đảng đã bị á khẩu. Đảng cộng sản mất danh chính ngôn thuận để tiếp tục lãnh đạo đất nước. Đảng cộng sản đã mất nước Việt Nam. Lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở trên mạng rùng rùng chuyển động, ngày càng lớn mạnh. Vậy còn thiếu gì để lực lượng này đổ ra lề đường?
Dạ thưa, còn thiếu nhiều thứ.
Xin mổ xẻ chỉ một vấn đề duy nhất mà thôi. Chúng ta còn thiếu đội ngũ chính trị gia đấu tranh cho dân chủ ở tất cả các giai cấp và các nghề nghiệp..
Văn hóa Việt Nam bị ảnh hưởng của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Đạo đức của của một người quân tử cổ điển gồm toàn là những chữ không: không tranh chấp, không tranh giành, không ham muốn, không đảng phái, không được cãi lời bề trên, không được đàm tiếu về nhà cầm quyền, không được vạch những cái xấu xa của kẻ khác, không thế này, không thế nọ... Cho nên bất cứ ai sống theo khuôn khổ đạo lý, tu nhân tích đức này cũng không thể làm chính trị!!!
Điều này rất có lợi cho những chế độ độc tài. Nó biến thành tín điều mà kẻ thống trị muốn nó tồn tại mãi mãi. Nhờ vậy mà con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa. Vua chúa sinh ra là để tiếp tục làm vua chúa, quý tộc. Các hoàng tử, hoạn quan, ngoại thích tranh giành ngôi báu, lợi lộc. Họ làm chính trị âm mưu mà không làm chính trị đại cục.
Những trí thức nghiền ngẫm triết lý thánh hiền, văn chương từ phú rồi thi cử làm quan. Họ thay vua mà cai trị dân chúng. Họ chỉ làm kẻ điều hành, phân phát mệnh lệnh của bề trên. Họ cũng không làm chính trị.
Còn dân chúng là thành phần đám đông câm lặng. Họ không được phát biểu, đòi hỏi gì. Cái gì cũng thông qua cầu xin, lạy lục. Giai cấp trí thức muốn canh tân xứ sở mà không xin xỏ bề trên được cũng chỉ biết ngồi khóc!
Tuy có sửa đổi đôi chút, cộng sản Việt Nam cũng áp dụng hình thức phong kiến này. Thay cho một vua thì 14 vua. Thay cho triết lý Nho Giáo là triết lý Mác Lê –Nin. Thay cho quan lại là quan chức. Chỉ có dân chúng câm lặng thì phải tiếp tục câm lặng. Cái gì cũng thông qua đút lót, bôi trơn. Trí thức có khuyên ngăn gì thì cũng nghe phán: Đây là nguyện vọng lớn của đảng và nhà nhà nước!
Trong khuôn khổ trật tự giai cấp và đạo đức do những kẻ cầm quyền sắp đặt, danh từ làm chính trị đi sâu vào quần chúng như một danh từ xấu xa và nguy hiểm. Người làm chính trị là người có tham vọng cá nhân, đáng khinh nhờn. Những người bất đồng ý kiến bị chụp mũ là làm chính trị và có thể bị bắt bớ, bỏ tù bất cứ lúc nào.
Vậy làm chính trị là gì?
Khi loài người sống chung với nhau thì sẽ sinh ra những mâu thuẫn về thực phẩm, đất đai, phong tục, lãnh thổ, dân tộc... Làm chính trị là giải quyết những vấn đề vốn có trong xã hội cho êm thắm. Khi kỹ thuật, kinh tế phát triển thì những sự mâu thuẫn này càng phức tạp. Muốn giải quyết bằng chính trị thì phải luôn luôn xem xét lại cách điều hành trong quá khứ rồi bổ sung, sửa chữa cho phù hợp với tình thế hiện tại và tương lai.
Những chế độ dân chủ luôn luôn có sự thay đổi. Nhờ thể chế đa nguyên, đa đảng, không những chính quyền thay đổi nhân vật chủ chốt mà còn thay đổi luôn về những quốc sách, luật lệ... Quốc gia ứng phó kịp những tình huống bất ngờ, bắt kịp những kỹ thuật hiện đại và phát triển.
Không như ở Việt Nam, những người tham gia vào chính trị ở các nước dân chủ không bị xem như là những thành phần xấu xa, xảo quyệt. Họ là những người có hoài bão đấu tranh cho một xã hội hoàn thiện hơn. Có thể chia các chính trị gia này thành ba thành phần.
a) Chính quyền địa phương.
b) Các bộ phận chuyên môn của chính phủ như bộ kinh tế, bộ giáo dục, các đảng phái, quốc hội…
c) Thành phần lãnh đạo đại diện cho quốc gia như thủ tướng, tổng thống.
Mỗi thành phần có trách nhiệm và bổn phận riêng nhưng đều có khả năng thay thế lẫn nhau.
Dân chúng của một nước dân chủ cần gì từ chính quyền?
Cần lắng nghe và giải quyết những vấn đề thường ngày, bảo vệ những quyền lợi mà công dân nào cũng có theo luật pháp.
Ở các quốc gia dân chủ khác, bất kể ai cũng có thể là cố vấn, quận trưởng, thị trưởng, bộ trưởng hay thủ tướng... nếu người đó muốn và tranh đấu bằng cách hợp pháp. Hợp pháp chỉ vỏn vẹn là ghi tên ứng cử. Nếu có thể thì gia nhập vào một đảng phái có quan điểm chính trị giống mình để được thêm giúp đỡ. Dân chúng sẽ lựa chọn, bỏ phiếu.
Người không đủ phiếu ủng hộ thì không được đại diện ai hết. Sự nghiệp chính trị của họ chấm dứt hoặc phải đợi đến lần ứng cử tiếp theo. Người có nhiều phiếu hơn thì được vào những vai trò phụ như cố vấn, phó phòng... Người nào có nhiều phiếu ủng hộ hơn hết thì sẽ được làm chức vụ chủ chốt.
Làm chính trị có nghĩa là đưa ra một đường lối, những dự tính để giải quyết những khó khăn vốn có trong xã hội. Và sẽ được thực thi nếu những nhóm người này được dân chúng ủng hộ. Thất bại chưa chắc là sự buồn phiền, thắng lợi cũng chưa hẳn là được lợi lộc.
Trong một vài thành phố của thế giới, mọi chi tiêu của chánh quyền đều được kê khai rõ ràng trên internet. Người công dân có thể kiểm tra bất cứ gì và bất cứ lúc nào. Xa hơn bước nữa, họ cũng biết rõ ràng số lượng và danh tính của những từng người bỏ phiếu chống, thuận hay phiếu trắng. Mọi sự lường gạt, lừa đảo gần như là không có.
Làm chính trị theo đúng nghĩa của nó: Hy sinh và phụng sự.
Tôi viết những dòng chữ trên để nhắn gởi đến mọi tầng lớp của những người Việt Nam yêu nước. Nhất là giới trẻ và những thành phần mà xã hội cho là ít học, làm việc tay chân. Xin đừng xem làm chính trị là một công việc xấu xa hay vượt quá khả năng của mình. Làm chính trị trong nền dân chủ cao thượng hơn là người ta tưởng. Cái mà dân chúng cần chỉ là cái tâm. Mà cái tâm thì đâu phải chỉ dành riêng cho những người trí thức, học cao hiểu rộng? Làm đày tớ nhân dân không cầu học vị, bằng cấp để chứng tỏ mình thông minh. Chỉ cần làm nghiêm túc những việc mà nhân dân giao cho là quá đầy đủ.
Muốn làm chức vụ cao hơn trong bộ máy chính quyền thì ngoài cái tâm ra còn phải có thêm sự hiểu biết về chuyên môn có khả năng nhìn xa, cái tâm và cái tầm. Nhờ vậy mới có những cách giải quyết hoàn mỹ hơn. Sự hiểu biết đây cũng không hẳn là bằng cấp. Trên nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều nông dân đã làm bộ trưởng bộ nông nghiệp. Sự hiểu biết đây là hiểu biết nắng mưa, được mùa, thất giá... Bộ trưởng được lựa chọn một nhóm người cộng tác với mình, có thể hỏi ý kiến của những chuyên gia. Rốt cuộc làm bộ trưởng vỏn vẹn tạo được niềm tin ở dân chúng và biết giải quyết được những vấn đề ở trong bổn phận của mình. Khi giải quyết những vấn đề chính trị ở cấp cao thì không tránh khỏi đụng chạm đến quyền lợi của một nhóm người khác. Làm chính trị không dễ dàng như ngắm cảnh xem hoa nữa mà phải cần quyền lực, đấu tranh, liên kết...
Sự đạo đức của một nền chính trị dân chủ là các phần tử quyền lực đấu tranh bằng lý lẽ. Lời nói thay cho súng đạn. Chính sách thay cho âm mưu.
Trong những bàn luận, comment ở trên mạng, thường có những lời yêu cầu những cá nhân đấu tranh cho dân chủ đứng lên làm lãnh tụ. Thái độ này còn mang nặng khuyết điểm tâm lý: Bị ràng buộc về văn hóa, giáo dục nên không thể tự đứng lên mà muốn người khác làm chính trị thay cho mình.
Nhưng cuộc cách mạng hôm nay đã khác xa với những cuộc cách mạng trong quá khứ. Vì bị cộng sản chống phá, mọi đấu tranh bằng cách tìm ra lãnh tụ, lãnh tụ tổ chức ra đảng phái, đảng phái điều hành và kết nạp thành viên... đều bị dập tắt.
Thay vào đó là một quần thể lãnh đạo.
Mỗi người đấu tranh là một người thủ lãnh của chính mình. Những Nguyễn Đan Quế, Lê Thị Công Nhân, Huỳnh Thục Vy, Điếu Cày... không cần được tôn vinh họ làm thủ lãnh. Họ mong muốn chúng ta đậu vai sát cánh đấu tranh cùng với họ.
Nhiều người còn chưa dám làm chính trị vì cho rằng Việt Nam còn thiếu giáo dục, ngôn ngữ, văn hoá... để trở thành một đất nước có dân chủ.
Không sao. Nhờ internet, những người đấu tranh có thể học hỏi lẫn nhau, tạo ra một sự hiểu biết tập thể. Cộng sản chân chính là gì?
Xem bài của Hà Sĩ Phu sẽ giải mã được cộng sản chân chính là gì!
Dân chủ để được gì?
Xin vào xem Lời Tuyên bố của các Công Dân Tự Do.
Thắc mắc về nguồn cội, người Việt trong nước hay nước ngoài?
Cũng không sao, Huỳnh Ngọc Chênh đã trả lời rằng không phân biệt trong hay ngoài. Những câu nói cứ tưởng như tầm thường mà lại ảnh hưởng lớn lao cho những người lập pháp tương lai.
Không phân biệt nên thứ gì cũng dễ. Dễ mua nhà, dễ sinh sống, dễ đóng thuế, dễ tham gia vào chính trị... Người Việt ở nước ngoài về quê hương định cư không được ưu đãi nào hơn người ở trong nước. Và khi họ phạm tội ở Việt Nam, họ cũng phải bị xử tội theo luật pháp của Việt Nam.
Đấu tranh bằng tính cách đoàn thể gặt được những thành quả không ngờ. Nhìn theo khía cạnh đấu tranh thì lời tuyên bố của Nguyễn Đức Kiên là một chuyện để đời: trả lời đúng nhất đối với phát biểu của Trọng Lú, là những lời muốn nói đúng nhất của những người đấu tranh, là sự mong đợi đúng nhất của quần chúng. Tóm lại là đúng đủ thứ.
Nhưng Nguyễn Đức Kiên khó lập lại một hành động gây ảnh hưởng lớn lao như vậy nữa. Những hành động chính trị gây dấu ấn kế tiếp phải trông cậy vào những người đấu tranh khác, những Nguyễn Văn A, Trần Thị B... đang tiềm ẩn trong quần chúng.
Điều này cũng dễ hiểu thôi vì ngay những chính khách lỗi lạc cũng không thể đúng ở mỗi quyết định và ở mỗi câu nói. Winston Churchill chỉ là anh hùng trong thế chiến thứ hai, ngoài mốc thời gian này ra, những gì ông làm đều tầm thường, thậm chỉ đã từng mất chức.
Làm chính trị cần có gì?
Cần có lập trường rõ ràng. Mandela Nelson từ chối cam kết rằng sẽ không đấu tranh bằng bạo động. Và ông đã chấp nhận 27 năm tù tội. Ông trở thành tổng thống vì nhờ có một lập trường vững vàng.
Ngược lại, bà Aung San Suu Kyi không đấu tranh bằng bạo động. Theo bà, nếu bạo động thì sẽ chẳng khác gì những kẻ thù của bà. Dù có lần bị ám sát hụt và cam chịu mười mấy năm quản thúc mà bà chẳng hề thay đổi ý kiến. Đó cũng là một lập trường vững vàng.
Hành động của cựu trưởng đoàn kiến nghị 72 Nguyễn Đình Lộc có thể xem là thiếu lập trường. Dù ông bị đài truyền hình của cộng sản cắt xén lời nói thì ông vẫn có thể đính chính qua mạng internet. Ông đã không làm như vậy. Sự nghiệp chính trị của ông bị dính một vết nhơ.
Trong chính trị, im lặng cũng có nghĩa là thất bại.
Cộng sản muốn nhờ sự cố này để lung lạc những kẻ đấu tranh thì lầm to. Khi tôi ký vào Lời tuyên bố của những công dân tự do thì những lời viết của Nguyễn Đức Kiên đã không còn là của anh Kiên nữa. Nó đã thành lời của chính tôi. Cũng như kiến nghị 72 vẫn là còn của những người ký tên khác.
Một người làm chính trị có khả năng cũng là người có thể dẹp bỏ những hỉ nộ, ái ố bình thường mà tìm nguồn gốc của sự việc.
Với sự kiện Hồ Tập Chương là Hồ Chí Minh đăng tải trên báo chí Trung Quốc. Đúng hay sai thì chưa biết nhưng nhiều người kết luận là đã bị mất nước từ năm 1945 theo ông Hồ. Vì đã mất nước nên họ thấy việc đấu tranh là quá to tát, cực khổ nên chẳng muốn làm gì nữa. Nhưng Hồ Chí Minh chẳng còn quyền hành gì hết ở lúc cuối đời. Nếu bị mất nước từ năm 1945 thì sao có chiến tranh biên giới Việt-Trung?
Soi xét với gốc độ chính trị thì dù được thần phục, ôm chân nhưng Trung Quốc cũng chẳng từ bỏ hành động nào để hạ bệ uy tín của đảng cộng sản Việt Nam. Kẻ hủy diệt cộng sản Việt Nam là phong trào dân chủ nhưng kẻ làm cộng sản Việt Nam suy yếu là Trung Quốc. Đảng cộng sản đang níu cánh bèo mà cứ ngỡ là cái phao, ôm con cọp rằn mà tưởng là con bò sữa!
Theo hội nghị Thành Đô, chánh quyền cộng sản cam nguyện lệ thuộc Trung Quốc. Những người không đấu tranh thì than vãn và khóc lóc. Nhưng đã là một người đấu tranh thực thụ thì không thể xem sự việc trong tương lai như một chuyện đã an bài. Nó nung nấu những người đấu tranh càng quyết liệt hơn nữa. Chúng ta còn nhiều thời gian để rốt ráo làm đủ thứ chuyện.
Trong tương lai, ở một đất nước Việt Nam dân chủ, ai có thể tham gia vào chính trường?
Xin thưa, trên lý thuyết thì bất cứ ai nếu người đó muốn.
Kỹ sư, bác sĩ, luật sư, thầy giáo, nhà báo, nhà văn...?
Dạ được. Song song với sự học hành, các chế độ độc tài còn lồng thêm cái đạo đức chỉ đẹp và chỉ thực hiện được trong trí tưởng tượng. Cái đạo đức mà không ai áp dụng để làm chính trị được.
Không tham gia vào chính trị là câu nói thường ngày của giới trí thức để chứng tỏ mình trong sạch. Dù không phải là trí thức, cách đây vài tháng tôi cũng suy nghĩ như vậy. Nhưng khi đọc bài Đảng cộng sản Việt Nam đã chết, trong đó có câu làm chính trị là hy sinh và phụng sự. Tôi bừng tỉnh. Từ vai vế của một con cừu, tôi trở thành một người đấu tranh. Thà chết mà tự hào rằng mình đã sống. Còn hơn sống mà thực ra đang chết.
Nông dân, về hưu, chạy xe ôm, làm nội trợ...?
Cũng được luôn.
Xin lấy một thí dụ của lịch sử. Ngày xưa trước khi theo phò Hán Cao Tổ rồi làm đến chức thừa tướng, Trần Bình là một gã bán thịt heo. Vì khéo chia phần mà được người khác khen ngợi. Trần Bình tuyên bố nếu làm thừa tướng thì cũng biết phân chia mọi việc đều như vậy.
Làm chính trị thì cũng nôm na như quán xuyến một gia đình. Bà nội trợ là nội tướng thành công nếu ngoài thời gian đi học, đi làm ra, những phần tử trong gia đình ham muốn về nhà, quây quần với nhau trong bữa cơm ấm cúng, vui vẻ chia sẻ những chuyện bình thường, bàn luận nghiêm túc những kế hoạch hằng ngày... Quốc gia có thể xem như là một gia đình nhân rộng.
Trong một nền dân chủ trực tiếp hay bán trực tiếp, ai ai cũng có thể tham gia cầm quyền chính trị. Ngay cả người chỉ học hết lớp 7. Không biết phải làm gì thì xã trưởng, thị trưởng học hết lớp 7 này làm sao?
Hỏi ý kiến của người khác.
Thắc mắc chuyện chi thì cứ hỏi dân. Họ biết lo cho họ hay hơn là những tiến sĩ, thạc sĩ mua bằng cấp với giá vài trăm triệu. Có điều tất khuất trong chi tiêu, cách bổ nhiệm người, những nguy hiểm họa sắp đến.... Dân sẽ lên tiếng cho anh. Anh theo ý dân là anh thành công.
Nhưng trong những quốc gia có dân chủ thực sự thì vẫn có những loại người không được tham gia vào chính trị. Tham gia vào chính trị dành cho những người chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật. Do vậy nên trẻ em, người bị bệnh tâm thần, người đang bị tù tội... không được tham gia vào chính trị.
Vì chính sách tam quyền phân lập, những công an, thẩm phán cũng không thể đứng ra ứng cử được. Nếu không thì chế độ dân chủ dễ trở thành một chế độ công an trị. Chính quyền và công an toa rập với tòa án như ở Việt Nam. Các quân nhân trong quân đội cũng không thể tham gia chính trị, vì vậy cũng sẽ dễ trở thành một chế độ quân phiệt như Miến Điện. Nhiều quốc gia cũng chẳng cho phép những quân nhân thuần túy lên làm bộ trưởng bộ quốc phòng. Những vị tướng này thường kiếm cớ để khiêu khích chiến tranh, lưu danh trong lịch sử!
Muốn tham gia vào chính trị thì họ phải từ chức cảnh sát, thẩm phán trước đã.
Vậy đảng viên cộng sản Việt Nam có thể tham gia vào chính trị hay không?
Cái đó còn tùy. Tùy theo sự lật đổ cộng sản là do dân chúng hay đảng cộng sản tự thay đổi. Nếu dân chúng lật đổ chế độ bằng máu thì tính mạng của các đảng viên cộng sản chưa biết có còn hay không? Nói gì đến chính trị chính em.
Đừng nghĩ là những đảng viên cộng sản có thể chạy trốn. Chạy đi đâu? Chạy qua Tàu trong khi những người cộng sản Tàu đang chạy đi xứ khác. Trung Quốc sẽ bỏ đồng minh cũ để bang giao, thương lượng với chính quyền Việt Nam mới. Mạng sống của mấy vị “đỉnh cao trí tuệ” không nặng hơn mấy hợp đồng còn dang dở. Chạy qua Tàu là một suy nghĩ không có căn cứ. Xin đừng ngộ nhận.
Chạy qua xứ khác? Các nước mới dành được dân chủ rất khó lấy lại tài sản của những nhà độc tài. Nhưng việc bắt giữ những nhà độc tài lẫn thân nhân lại cực kỳ dễ dàng. Cũng dễ hiểu thôi vì không thể đem chân và tay dấu ở quốc gia này, lấy lưng hay bụng ém ở nhà băng khác, đầu ở Ngô, thân ở Sở. Cũng như Kadafi, Al Assad sẽ bị sát hại ở quê hương của mình.
Nếu chế độ cộng sản tự thay đổi hay có một lực lượng trong đảng cộng sản làm cuộc chính biến, thì dân chúng không bị đổ máu nên không đòi hỏi trả thù. Có thể một vài phần tử bị hạ bệ, lôi ra tòa án nhưng phần đông đảng viên vẫn có quyền đòi hỏi tham gia vào một trong những đảng phái của nền dân chủ mới.
Vì lợi ích của dân tộc, chính phủ mới không thể ban thưởng những người đã đấu tranh dân chủ Việt Nam đã bị áp bức, cầm tù bằng chức vị. Đại loại kiểu ông này ở tù bao nhiêu năm thì được thưởng chức vụ này, chị kia ở khám bao nhiêu tháng thì được ân huệ kia. Một nhà cách mạng rất can trường có thể là một chính khách rất dở. Vì làm chính trị trong một nền dân chủ đòi hỏi những tài năng mà họ chưa chắc có. Vậy thì làm sao?
Khi Thế chiến thứ hai chấm dứt, các nước Âu Châu đặc biệt ưu đãi những công dân đã bị Đức Quốc Xã cầm tù với cách ưu tiên kiếm công ăn việc làm và mọi phương tiện khác. Nếu họ muốn tham gia vào chính quyền thì quá khứ của họ là vốn liếng chính trị quý báu. Đến cuối đời, những người này cũng được hưởng bậc lương hưu cao nhất. Tôi đề nghị chính phủ Việt Nam tương lai áp dụng hình thức này.
Xin đừng bắt chước cộng sản, ban chức tước cho những kẻ theo cách mạng từ 11, 12 tuổi, mà khả năng đọc và viết còn lọng cọng. Nếu vậy thì chúng ta chỉ đập đổ chế độ độc tài này để xây dựng chế độ độc tài khác, đánh đuổi những kẻ ngu si này để vâng lệnh những kẻ ngu si khác. Cũng may, phần đông những người bị đàn áp, cầm tù, quản chế... là những người tài giỏi. Do đó chính phủ tương lai trả lại sự công bằng cho họ dễ dàng hơn.
Sẽ có một số nhà đấu tranh cho dân chủ sẽ dừng cuộc khi cộng sản bị lật đổ vì họ xem vậy là đủ rồi. Vì tương lai của dân tộc, tôi xin các người đang đấu tranh hãy đấu tranh tiếp tục bằng cách ứng cử vào guồng máy của chính phủ mới. Lật đổ cộng sản chỉ là bước đầu của nền dân chủ. Lật đổ đã khó, nhưng xây dựng một chế độ dân chủ công bằng cũng khó khăn không kém. Điều quan trọng không phải là bắt đầu mà là làm đến cùng. Các vị đã kiên cường trước kẻ thù, xin hãy phấn đấu cho một Việt Nam tươi đẹp bằng cách ôn hòa hơn. Các vị nên ứng cử, dân chúng sẽ quyết định. Một dân tộc sẽ kiêu hùng nếu được quản trị bởi những nhân vật kiêu hùng.
Trong những người đấu tranh đang bị quản chế, cầm tù tại ngoại hay trong dân chúng sẽ nổi bật một vài cá nhân có khả năng cầm đầu chính phủ. Hiện nay, không có lãnh tụ cũng có cái lợi ích của nó. Quốc hội và nhân dân có thể bàn thảo mà hạn chế quyền hạn, lợi lộc và thời gian cầm quyền của người đứng đầu chính phủ.
Ông George Washington đã cứu nước Mỹ hai lần. Lần thứ nhất là đánh bại quân lính của đế quốc Anh. Lần thứ hai là từ chức về vườn sau 2 nhiệm kỳ làm tổng thống. Một tiền lệ rất tốt đối với những tổng thống Hoa Kỳ khác. Họ không thể tạo dựng bè phái để kéo dài sự cai trị của mình. Và phải cố gắng những gì phải làm trong một thời gian ngắn. Nhờ vậy mà Hoa Kỳ mãi là một quốc gia trẻ trung và đầy sinh lực.
Xin đừng xem việc tham gia chính trị như là một hành vi thiếu đạo đức. Vì “đạo đức” của Khổng Tử, Lão Tử, Hồ Chí Minh... mà chính quyền Việt Nam ca tụng là một trong những hình thức đè bẹp khả năng phản kháng của con người. Với khẩu hiệu để đảng và nhà nước lo, quần chúng bị tước đoạt khái niệm con người là một động vật chính trị. Trong một quốc gia lấy nền dân chủ làm nền tảng, làm chính trị cũng cao cả như những người cầm súng bảo vệ quê hương. Cũng như làm lính, làm chính trị cũng đòi hỏi sự hy sinh, gian lao, nghị lực dồi dào.
Để kết luận, xin trả lời cho ba câu hỏi.
Ai nào?
Rất đông nếu mỗi người mở được gông cùm tâm lý trong đầu óc mình. Những người đấu tranh cho dân chủ không còn đếm bằng hàng trăm, hàng ngàn mà phải đếm bằng con số hàng triệu trở lên.
Chừng nào?
Rất mau. Đừng tưởng là cộng sản mạnh. Vài tháng trước khi bị dân quân nổi dậy lôi ra từ ống cống, Kadafi cũng huênh hoang tuyên bố những lời giống như đảng cộng sản hôm nay.
Cách nào?
Xin những người đấu tranh cho dân chủ đừng lo lắng, hãy làm những gì mà mình cho là cấp bách và cần thiết. Những gì phải đến sẽ đến. Quần thể lãnh đạo sẽ có những quyết định đúng đắn để đi đến thành công. Xin nhắc lại là phong trào dân chủ là một hiện tượng toàn cầu hóa. Không một quốc gia độc tài nào cản được sự toàn cầu hóa chính trị này.
Dân Đọc Báo
(DLB) 

Ngô Nhân Dụng - Ai đáng phải ra tòa?

cuong-che-dat-tien-lang.jpg
Thêm chú thích
Ba quan chức huyện Tiên Lãng và hai người ở xã Vinh Quang bị truy tố về vụ cướp đất, phá nhà gia đình ông Đoàn Văn Vươn. Đúng như Luật sư Trần Vũ Hải nhận xét: “Các bị cáo thực hiện chức trách chứ không phải do tư thù cá nhân. Họ phạm lỗi trong lúc đang hành xử như lãnh đạo chính quyền. Cho nên đúng ra phải là chính quyền bồi thường,; sau đó chính quyền sẽ yêu cầu người làm sai phải bồi hoàn lại khoản tiền đó."
Cái tội chính của những bị cáo trên là tội đã ra tay phá hủy nhà cửa của anh em ông Đoàn Văn Vươn trong khi thi hành các chính sách của đảng Cộng Sản. Nhưng chính họ không phải là những người đã quyết định những chính sách sai lầm đó. Những sai lầm căn bản ở đâu mà ra?
Sai lầm đầu tiên là chính sách dụ dỗ người dân nghèo đi khai phá đất đai, khuyến khích họ biến gần 40 mẫu (ha) đất ven biển còn ngập nước mặn thành một khu đất có thể sinh lợi, nhưng lại không cho họ quyền được làm chủ khu đất là kết quả công lao khó nhọc của họ. Không một chính quyền nào trên thế giới lại nhẫn tâm đánh lừa người nông dân đổ mồ hôi nước mắt khai phá đất đai rồi sau đó đòi lại đất vì “hết hạn hợp đồng.” Ngày xưa, chắc cũng không có địa chủ nào ở nước ta giao con nghé cho một nông dân, rồi hai năm sau đòi lại, nói “Con trâu này của tao!” Nếu có một địa chủ nhẫn tâm như vậy thì người nông dân có quyền kiện lên làng xã, lên huyện, lên tỉnh, đòi đền bồi công mình chăm nuôi con nghé. Mà làng xóm chắc chắn sẽ chê bai, chửi rủa một địa chủ dã man như thế, từ đời cha sang đời con không ngớt.
Nhưng tại sao trong chế độ cộng sản các quan chức huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang lại đi làm như vậy mà không sợ dư luận chửi rủa? Bởi vì họ chỉ làm theo một chủ trương của đảng Cộng sản: Không người dân nào được làm chủ ruộng đất, dù họ đã bỏ công cầy cấy hay biến đất hoang thành hồ nuôi tôm cá. Như đã trình bầy nhiều lần trong mục này: Đảng Cộng sản chính là một Đảng Cướp Đất. Từ 1930 họ chiêu dụ nông dân Việt Nam bằng khẩu hiệu: Đem ruộng đất về tay dân cầy. Năm 1953 họ bắt đầu cuộc cải cách ruộng đất, đấu tố, hành hạ, giết chết các địa chủ; dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Cộng. Nhưng cuối cùng, nông dân cũng vẫn không được làm chủ mảnh đất mà họ cầy cấy. Tất cả được thu vào tay Đảng, tức là trong tay các quan chức, cán bộ. Để nắm chắc “quyền sở hữu” này, năm 1980 Đảng ghi rõ vào trong hiến pháp một điều: Ruộng đất thuộc về toàn dân. Nhà nước được toàn quyền quản lý ruộng đất, mà Nhà Nước thì chỉ là một công cụ của Đảng, hoàn toàn do các cán bộ đảng thao túng từ cấp trung ương xuống đến xã, thôn. Đảng Cộng sản đã tự biến họ thành một ông địa chủ vĩ đại với quyền hành tuyệt đối, vượt lên trên các quy tắc luật pháp và đạo lý trong các xã hội bình thường. Nếu không vì sai lầm vĩ đại này thì không có vụ cướp đất của gia đình Đoàn Văn Vươn; cũng không có những người dân kêu oan ở Vụ Bản, ở Dương Nội.
Sai lầm vĩ đại này do đâu mà sinh ra? Ai cũng biết, điều khoản nói “ruộng đất thuộc về toàn dân” đã sao chép lại đúng như được ghi trong hiến pháp Liên Xô. Năm 1953 Hồ Chí Minh đã nộp nguyên văn bản dự thảo Luật cải cách ruộng đất cho Stalin xin thỉnh ý trước khi ban hành. Năm 1980 Lê Duẩn từng gọi Liên Xô là “tổ quốc thứ hai,” sau khi đã làm xong nhiệm vụ “Đánh miền Nam là đánh cho Trung Quốc, cho Liên Xô.”
Nhưng tại sao người ta lại thần phục và bắt chước Liên Xô, Trung Quốc như vậy?
Bởi vì ngay khi ra đời đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là một chi nhánh của Cộng sản Quốc tế. Hồ Chí Minh vẫn hãnh diện kể rằng biến cố lớn nhất quyết định cuộc đời ông là ông “Giác ngộ chủ nghĩa Mác Lê Nin.” Ngay khi mới về nước, trú ẩn ở hang Pắc Bó, nhìn chung quanh ông đã đặt ngay tên một ngọn núi, một con sông bằng tên Marx và tên Lenin. Trước khi chết ông viết di chúc đã mở đầu nói rằng ông sắp về với các cụ Marx và Lenin.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đi theo con đường đó suốt 80 năm qua. Đó chính là thủ phạm đáng phải đem ra tòa, thay vì những cán bộ ở huyện Tiên Lãng và xã Vinh Quang, những người thừa hành chính sách của đảng Cộng sản và đã được đảng đào tạo, nuôi dưỡng bao nhiêu năm. Nếu họ không sống trong chế độ cộng sản, thì chắc họ cũng không trở thành tội phạm.
Nhưng không một tòa án nào có thể đưa cả một đảng ra tòa vì đã theo các chính sách sai lầm. Tòa án chỉ có thể đưa các cá nhân ra tòa chịu trách nhiệm. Ông Hồ Chí Minh đã chết rồi, ông Lê Duẩn cũng không còn nữa. Khó đưa những người thừa kế họ như Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang ra tòa, bởi vì cả hệ thống tư pháp nước ta hiện nay, từ các người đóng vai công tố buộc tội đến những quan tòa ngồi xử án đều là tay chân, cùng trong một đảng với các bị cáo.
Chỉ có một thứ tòa án có khả năng xét xử các bị cáo này, là toàn thể dân Việt Nam; trong một phiên tòa chính đáng nhất là những cuộc bỏ phiếu tự do. Nếu dân Việt Nam được bỏ phiếu tự do chọn thể chế chính trị của nước mình, bãi bỏ độc quyền cai trị của đảng Cộng sản, thì chúng ta sẽ chấm dứt các chính sách sai lầm di lụy cả dân tộc từ 60 năm nay; mà nạn nhân không phải chỉ gồm gia đình Đoàn Văn Vươn hay các bà con nông dân Thái Bình, Phú Thọ, Phước Long.
Đó cũng là ý kiến của ông Lê Hồng Hà, một đảng viên cộng sản lâu đời. Khi góp ý kiến với việc sử đổi hiến pháp, ông Lê Hồng Hà đã nói thẳng rằng: Các bản Hiến Pháp năm 1959,1980,1992 đều “mang nặng đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, thể hiện thể chế chính trị chuyên chính vô sản (theo Nghị quyết của các Đại hội Đảng III, IV, V, VI, VII); tức là rất nhiều sai lầm.” Ông dẫn chứng: “Qua thực tế của các nước trên thế giới, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cuối thế kỷ 20, đã chứng minh chủ nghĩa Mác Lê Nin là sai lầm, mô hình Chủ nghĩa Xã hội Xô Viết là sai lầm …”
Là một người đã từng làm chánh văn phòng bộ Công An, bây giờ ông Lê Hồng Hà đã tỉnh ngộ khi nhìn ra: “Do mấy chục năm qua,  cả nước ta đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa sai lầm nói trên, nên đất nước ta lâm vào tình trạng suy yếu, xuống cấp về hầu hết các mặt của đời sống xã hội (không chỉ kinh tế mà cả chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức v.v.) và tụt hậu so với nhiều nước xung quanh, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm.”
Một người đã theo đảng Cộng sản gần suốt cuộc đời, đã đóng vai nòng cốt bảo vệ và củng cố “thể chế chính trị chuyên chính vô sản” bằng guồng máy công an; mà nay đã nói lên được những lời thành thật đó, ông Lê Hồng Hà là một con người can đảm, đáng kính trọng.
Những bị cáo đang ra tòa vì thi hành lệnh cướp đất, nếu cũng can đảm như vậy, thì họ cũng có thể chuộc tội với các nạn nhân. Chính họ cũng là những nạn nhân bị đảng Cộng sản đưa đẩy vào việc phạm tội. Tại sao họ đi đòi lại mảnh đất mà gia đình Đoàn Văn Vươn đã khai phá? Bởi vì đó là chủ trương cướp quyền sở hữu đất đai mà đảng Cộng sản đã theo đuổi từ khi ra đời. Tại sao họ đang tay phá nhà cửa của những người hàng xóm của mình, rồi huênh hoang tự khen là “một trận đánh đẹp?” Bởi vì họ đã được đảng Cộng sản huấn luyện như vậy, dậy họ rằng tất cả những người không nghe lệnh của họ đều là “phản động,” là “kẻ thù của nhân dân,” hay bây giờ gọi là “những thế lực thù địch.” Trên thực tế, bao năm qua họ đã được Đảng trao cho toàn quyền thao túng luật lệ, sai bảo công an và bộ đội hoặc thuê bọ  đầu gấu, sử dụng tất cả các công cụ đó để trấn áp, cưỡng chế, miễn là thi hành theo chính sách của Đảng. Cuộc đời thi hành công tác Đảng đã tạo cho họ tập thành thói quen tàn nhẫn, vô tình, suốt cuộc đời làm cán bộ, để dần dần họ chỉ làm những việc trấn áp dân như máy móc, không còn một phút để tự vấn lương tâm. Họ cũng là những nạn nhân của “chuyên chính vô sản.”
Gia đình Đoàn Văn Vươn và một số người dân ở Tiên Lãng cho các nhà báo biết theo họ thì bị cáo ông Nguyễn Văn Khanh, phó chủ tịch huyện Tiên Lãng, đứng đầu Ban chỉ đạo trong vụ phá nhà, cướp đất “cũng là người phản đối mạnh mẽ quyết định thu hồi đất;” và ông ta đã “bị ép làm người đứng đầu đoàn cưỡng chế.” Trong năm qua ông Khanh đã đền bù gia đình ông Vươn bằng cách xây lại lán trại cho họ. Ông cũng là người duy nhất bị giam giữ trong khi các bị cáo khác còn được tự do.
Nếu được sống trong một xã hội bình thường, không phải học tập, bị nhồi sọ, và phải thực hiện cái thứ gọi là “chuyên chính vô sản” thì một bị cáo như Nguyễn Văn Khanh có thể sẽ là một người bạn tốt của gia đình các nạn nhân không chừng. Vì nếu không bị huấn luyện những thói quen tàn nhẫn, độc ác, thì người Việt Nam mình xưa nay đâu có ai nỡ đối xử với nhau theo lối “cạn tàu ráo máng” như họ đã làm với anh em ông Đoàn Văn Vươn?
Nếu cũng can đảm như ông Lê Hồng Hà, thì ra trước tòa ông Nguyễn Văn Khanh có thể tự biện hộ rằng cái tội lớn nhất của ông không phải là tội đi phá nhà, mà là cái tội đã theo đảng Cộng sản. Chính đảng Cộng sản mới là thủ phạm đáng bị đem ra tòa.
(Người Việt)

Bùi Minh Quốc - Vì sao tôi lại đề nghị bỏ điều 4?

Nhà văn Bùi Minh Quốc giơ tay xin phát biểu tại đại hội Nhà văn VIII - Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Năm 1992, tại diễn đàn của hội nghị Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, giáo sư Phan Đình Diệu trong phát biểu bằng văn bản của mình, chính thức đề nghị Quốc hội bỏ điều 4 trong Hiến pháp 1992.
Đầu năm 1993, nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang với bút danh Lương Dân có bài đăng trên báo Khoa học và Tổ Quốc (cơ quan ngôn luận của Liên hiệp các hội khoa học&kỹ thuật Việt Nam) nêu ý kiến đề nghị bỏ điều 4.Đây là lần đầu tiên và duy nhất cho tới nay, ý kiến đề nghị bỏ điều 4 được đăng nghiêm chỉnh trên một tờ báo chính thống do Đảng và Nhà nước kiểm soát.

Tháng 10 năm 1993, tôi, Bùi Minh Quốc, với tư cách công dân, gửi thư ngỏ đến Quốc Hội, Trung ương Đảng, Mặt trận và các báo đài đề nghị bỏ điều 4.Tháng10 năm 2007, trong bài viết “Chống nội xâm, cứu nước !” (gửi báo Nhân dân nhưng báo không đăng), tôi nhắc lại đề nghị bỏ điểu 4.

Nhân dịp Quốc Hội tổ chức cho dân góp ý kiến sửa đổi HP, kính nhờ các trang mạng bốn phương công bố giùm ý kiến trước đây của tôi, trân trọng cám ơn.


                                                          THƯ  NGỎ

            Kính gửi: -Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

                                  -Ban chấp hành  Trung ương Đảng CSVN

                                  -Mặt trận Tổ QuốcViệt Nam và các đoàn thể trong Mặt trận

          Đồng kính gửi:

                                 - Các báo đài

                                 - Ông Hoàng Minh Chính và các ông bà bị nạn trong

                                   vụ án “xét lại hiện đại” cùng thân nhân

                                 - Bạn hữu trong  và ngoài giới cầm bút.

          Tôi đã đọc đơn kiện của ông Hoàng Minh Chính gửi các cơ quan hữu trách và các bạn hữu, yêu cầu đưa ra ánh sáng vụ án bí mật mà ông Lê Đức Thọ ủy viên Bộ Chính trị, trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đạo diễn và quyết án, để kéo dài mấy chục năm trời đầy đọa trong bóng tối ông Hoàng Minh Chính cùng hàng loạt trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ trung cao cấp  của Đảng, có cả tướng lĩnh và Ủy viên Trung ương.
          Chừng nào chưa có một tòa án  vô tư, độc lập, không đảng phái với chứng lý rõ ràng, công khai bác bỏ được sự việc ông Hoàng Minh Chính nêu ra, thì chừng đó tôi còn tin việc đó là có thật, một sự thật phi lý, phi pháp, vô nhân đạo  mà bất cứ ai còn chút lương tri cũng không thể làm ngơ.
          Ông Hoàng Minh Chính bị bắt ngày 27-7-1967.
         Chính ngày ấy tôi đang trên đường hành quân vượt Trường Sơn, đem trái tim và ngọn bút đầy hăng say tin tưởng vào trực tiếp tham gia kháng chiến ở miền Nam, chống Mỹ cứu nước. Sau đó không lâu, vợ tôi , nhà văn Dương Thị Xuân Quý cũng để  con gái nhỏ 16 tháng tuổi lại hậu phương lên đường vào Nam chiến đấu và đã hy sinh. Tôi không thể ngờ khi gia đình chúng tôi cũng như mọi gia đình Việt Nam yêu nước lao lên phía trước sẵn sàng hiến dâng tính mạng mình để giành độc lập cho Tổ quốc và Tự do cho mỗi con người, thì sau lưng chúng tôi, chính người lớn tiếng hô hào chúng tôi chiến đấu lại đưa bàn tay sắt tước đoạt tự do và hành hạ những người đồng chí – những chiến sĩ cách mạng, những trí thức văn nghệ sĩ yêu dân, yêu nước, yêu chân lý chỉ vì họ kiên định quan điểm xét lại hiện đại mà họ tin là đúng, trong khi người đàn áp họ đã quay ngoắt 180 độ về quan điểm.
          Chỉ có những thế lực phi nghĩa mới dùng bạo lực trong cuộc đấu tranh về quan điểm.
          Máu của gia đình tôi cùng hàng chục triệu gia đình Việt Nam đã đổ ra dứt khoát không phải để tạo dựng một bộ máy độc tài đảng trị – hực chất  chỉ là sự thống trị của từng cá nhân hoặc nhóm nhỏ ở mỗi cấp ủy núp dưới danh nghĩa Đảng dùng mọi thủ đoạn trắng trợn và tinh vi  loại bỏ dần đội ngũ trung kiên có đức có tài để thoán đoạt quyền bính và đục khoét, vơ vét. Hiện nay các phần tử này đang hối hả vét gấp, bị nhân dân khinh bỉ, làm cho người tử tế còn lại trong Đảng mang tiếng lây, xấu hổ lây.
          Tình trạng vừa nêu trên đã khiến Đảng – vốn là một tổ chức chính trị tập hợp được khá đông đảo những tinh hoa từ mọi giai tầng của dân tộc, được dân tin, dân yêu, dân theo, dân bảo vệ trong suốt quá trình nếm mật nằm gai giành độc lập – khi cầm quyền thoái hóa dần thành một thế lực đứng trên đầu dân, trên nhà nước, trên luật pháp, nuốt lời hứa với dân. Tất cả các quyền tự do của công dân được ghi trong hiến pháp từ năm 1946 đến nay vẫn chỉ có trên giấy, quyền con người bị vi phạm nghiêm trọng kéo dài mà vụ “xét lại hiện đại” là một bằng chứng điển hình.
          Đến cả di chúc của Chủ tịch Hồ Chí minh  người sáng lập Đảng, sáng lập nhà nước dân chủ cộng hòa cũng không được tôn trọng, nói gì đến các thứ quyền của người dân thường.
          Tình trạng này không thể kéo dài thêm nữa.
          Tôi khẩn thiết đề nghị một số điều thuộc loại “Những việc cần làm ngay”:
1-Đáp ứng ngay 7 yêu cầu và kiến nghị của ông Hoàng Minh Chính.
2-In và phát hành rộng rãi đến từng người dân bản Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế mà nhà nước ta đã ký kết tuân thủ.
3-Đưa chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội trở về đúng vị trí một sự lựa chọn ý thức hệ riêng của Đảng chứ không áp đặt thành sự lựa chọn của cả dân tộc, lấy mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh, con người tự do và hạnh phúc, hòa nhập với  thế giới”, làm mục tiêu  chung, đoàn kết hòa giải hòa hợp mọi người Việt Nam yêu nước.
4-Bỏ điều 4 trong Hiến Pháp đồng thời ra một bộ luật trước mọi bộ luật là luật về hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam,đảm bảo sự giám sát  của nhân dân  đối với Đảng, đảm bảo ngăn chặn tệ nạn lộng quyền nhân danh Đảng, loại trừ tình trạng Đảng đứng trên nhân dân, đứng trên nhà nước.
5- Thực hiện một  cuộc sửa sai công khai triệt để có hệ thống, có bước đi thích hợp. Đối với tất cả những người bị bắt mà không xét xử, phải thi hành đúng các thủ tục tố tụng, nếu họ vô tội, phải công khai minh oan, xin lỗi, bồi thường mọi tổn thương về thân thể và danh dự.
6-Sửa luật bầu cử ứng cử hiện hành để đảm bảo quyền tự do ứng cử của mọi công dân không phải qua “hiệp thương” do Đảng sắp đặt thành một cuộc bầu cử trước bầu cử  như lâu nay mà người dân thường vẫn gọi là “Đảng chọn dân bầu” (thực chất cũng không phải là Đảng chọn mà chỉ do một số cá nhân hoặc nhóm quyền lực trong mỗi cấp ủy độc đoán quyết định việc lựa chọn này).
7-Không coi vấn đề đa nguyên đa đảng là một đề tài cấm kỵ, thực hiện một cuộc trao đổi ý kiến công khai, dân chủ, bình đẳng trong toàn dân Việt Nam (kể cả người Việt Nam ở nước ngoài) về vấn đề này để cùng tìm kiếm những bước đi thích hợp cho quá trình dân chủ hóa trong hòa bình, ổn định và phát triển.
          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói từ lâu rằng: nước được độc lập mà dân không được tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì.
          Lấy lời ấy soi vào hiện tình đất nước, tôi thấy mình đang sống trong một nền độc lập không có ý nghĩa gì. Lương tâm tôi, xương máu của bao người đổ cho nền độc lập, nỗi oan ức của bao người chân chính bị đàn áp  trong thầm lặng đòi hỏi tôi viết những dòng này để góp một hạt cát xây dựng một nền độc lập có ý nghĩa: ĐỘC LẬP cho DÂN TỘC gắn chặt với TỰ DO cho MỖI CON NGƯỜI.
Kính thư
Đà Lạt, ngày 3-10-1993
-----------------
Bùi Minh Quốc: Trích bài “CHỐNG NỘI XÂM, CỨU NƯỚC !” :
Nói đến giai cấp công nhân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam thì không thể không nói đến điều 4 Hiến pháp mà tôi đã đề nghị cần phải bỏ (trong một thư ngỏ viết tháng 10.1993 gửi Quốc hội).
Vì sao tôi lại đề nghị bỏ điều 4?
Xin thưa vì những lý do sau đây:
-         Khi chưa có điều 4, dân rất tin Đảng, lòng tin ấy một phần là tin vào mục tiêu độc lập, tự do, dân chủ mà Đảng nêu cao, phần chính là tin qua tấm gương dũng cảm, tận tuỵ, hy sinh, liêm khiết của đông đảo những con người đảng viên cụ thể mà người dân chứng kiến hàng ngày giữa thiếu thốn, đói no, tù đày, sống chết. Nhưng rồi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, từ khi có điều 4, lòng tin của dân đối với Đảng kém sút hẳn, Đảng trở nên hư hỏng, đường lối thì sai lầm, đưa đất nước đến bên bờ vực (Đại hội 4), cán bộ thì thoái hoá, sa đoạ với tốc độ, qui mô ngày càng khủng khiếp và chiều hướng ngày càng khó ngăn chặn.
-         Phải chăng vì Đảng mất chỗ đứng trong lòng dân, nên mới phải bám vào điều 4 để ngồi trên đầu dân và bước đi chệnh choạng trên đôi chân cà khoeo – một bên súng, còng (quân đội, công an), một bên loa (hệ thống thông tin đại chúng độc quyền)?
Như vậy, rõ ràng điều 4 chỉ cần thiết cho một bộ phận đã tha hoá, cố thủ sau bình phong Đảng lãnh đạo để giữ đặc quyền đặc lợi, chứ hoàn toàn không cần thiết cho Đảng mà lại làm hại Đảng.
Điều 4 ghi rằng Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, theo chủ nghĩa Mác Lê-nin, Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội…, toàn bộ nội dung này bất ổn cả về lý luận lẫn thực tiễn.
Hãy dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật:
- Đảng không phải là đội tiền phong của giai cấp công nhân, ngay cả những công nhân hầm mỏ Quảng Ninh vừa cởi chiếc áo nâu lấm bùn để khoác vào chiếc áo xanh thợ, chứ chưa nói là giai cấp công nhân đại công nghiệp như Mác xác định. Những sai lầm chết người như cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, đường lối phiêu lưu duy ý chí của Đại hội 4 đưa đất nước đến bờ vực thẳm chẳng phải là biểu hiện tày đình của một thứ chủ nghĩa nông dân mo cơm quả cà tệ hại nhất đó sao? Còn nhớ, năm 1978 Đảng có nghị quyết chống tập đoàn cầm quyền bành trướng Bắc Kinh, trong đó đã đặt vấn đề phê phán tư tưởng nông dân. Sau cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, Tổng Cục chính trị Quân đội Nhân dân triển khai cuộc học tập lý luận chống chủ nghĩa Mao, phân tích phê phán tư tưởng nông dân – cơ sở xã hội của chủ nghĩa Mao – dịp ấy, nhà văn Nguyễn Minh Châu có một ý phân tích ngắn gọn mà cực kỳ sắc sảo : anh nông dân nào cũng thích làm vua, cốt lõi tư tưởng nông dân là thích làm vua.Nhưng thật lạ, cuộc học tập phê phán đang tiến hành sôi nổi hào hứng thì bị ngừng lại đột ngột theo lệnh trên.Mọi người bảo nhau : các ông trên các ông ấy sợ, bắt ngừng lại là phải thôi, bởi vì mới phân tích sơ sơ đã thấy lòi ra đặc sệt cái chất nông dân của Đảng mình.
- Đảng tuyên bố theo chủ nghĩa Mác Lê-nin, nhưng trong Đảng may lắm cũng chưa chắc có được 1% đảng viên nắm vững chủ nghĩa ấy, còn trong cán bộ từ Bí thư Tỉnh uỷ trở lên thì liệu có được 0,001%? Tiện thể xin hỏi: anh Nông Đức Mạnh có dám tự khẳng định trước các nhà lý luận rằng anh nắm vững chủ nghĩa Mác Lê-nin? Tuyên bố theo một chủ nghĩa (với giả định là chủ nghĩa ấy đúng hoàn toàn) mà chỉ có được chừng đó người nắm vững chủ nghĩa thì chẳng ai tin, người đời bảo thế là “treo đầu dê bán thịt chó”. Một thực tế sừng sững như dãy Trường Sơn cho thấy chủ nghĩa Mác Lê-nin đã phá sản ngay tại nơi mà nó ra đời, một bộ phận trong giới lãnh đạo mấy Đảng cầm quyền ở Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào sở dĩ còn cố níu giữ không phải vì giá trị khoa học mà vì muốn sử dụng chủ nghĩa như một công cụ cai trị tiện lợi nhất : có chủ nghĩa Mác Lê-nin thì mới có độc quyền cai trị của Đảng Cộng sản (thực chất là độc quyền của thiểu số đặc quyền đặc lợi trong Đảng), có vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, có sở hữu toàn dân về đất đai – những miếng mồi béo bở nhất cho tham nhũng, có chuyên chính vô sản mà nòng cốt là công an, quân đội và hệ thống truyền thông đại chúng độc quyền (trong các văn kiện chính thức không dùng cụm từ “chuyên chính vô sản” nữa, nhưng bản chất hệ thống chính trị vẫn y như cũ) để dễ bề “dùng chuyên chính vô sản để tích luỹ tư bản” (phát hiện năm 1988 của Hà Sĩ Phu).Hơn nữa, đưa chủ nghĩa Mác Lê-nin vào điều 4 là một hành vi quốc giáo hoá chủ nghĩa ấy, là chăng lưới thép trên bầu trời tư duy của toàn dân tộc, ngăn chặn mọi cánh chim trí tuệ Việt Nam vút lên, rồi đặt thành một môn học bắt buộc đối với học sinh, sinh viên, công chức, người dạy không tin vào điều mình dạy, người học cũng chẳng tin vào điều mình học; đó rành rành là hành vi ngu dân (trước hết là  ngu Đảng) đại qui mô giống hệt các giáo quyền trung cổ.Đó là một tội lớn về tư tưởng và văn hoá đối với đại đa số đảng viên, với dân tộc và nhân loại.
- “Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội…”, mệnh đề thứ ba của điều 4 ghi như thế. Vậy thế nào là lãnh đạo? Hai chữ lãnh đạo đã được xác định từ lâu rất rõ ràng, giản dị như sau: lãnh đạo là vận động, giáo dục, thuyết phục bằng tư tưởng đúng, đường lối đúng, bằng sự gương mẫu về phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ. Vậy thì cần gì một hệ thống biên chế từ xã đến huyện, tỉnh, trung ương đông đúc cồng kềnh đến thế với lớp lớp trụ sở xe cộ nghênh ngang sang trọng tốn kém đến thế mà nội dung công việc phần lớn trùng lặp chồng chéo với cơ quan nhà nước, tất cả đều chi xài bằng tiền thuế của dân, quyền hành thì nắm toàn diện triệt để tuyệt đối mà trách nhiệm thì hết sức chung chung, hết sức mù mờ.
Cũng cần nhắc lại, năm 1993 khi đề nghị bỏ điều 4, tôi đã đồng thời nêu rõ: chừng nào chưa bỏ điều 4 thì phải có ngay một bộ luật về sự lãnh đạo của Đảng để xác định rạch ròi quyền hạn và trách nhiệm, ngăn và chống tình trạng lạm quyền lộng quyền nhân danh sự lãnh đạo của Đảng; lãnh đạo đúng thì được ghi nhận, lãnh đạo sai gây hại cho dân cho nước thì phải ra toà.
Điều 4 được thông qua bằng một Quốc hội không đại diện cho dân bởi các đại biểu đều do Đảng (thực chất là một vài cá nhân nắm giữ công việc nhân sự của Đảng) sắp đặt, hoạt động một cách hình thức. Việc đó nói thẳng ra thì đích thị là một xảo thuật pháp lý nhằm đưa Đảng (thực chất chỉ là một vài người ở cấp tối cao của Đảng) lên ngôi vua. Nhiều nhà trí thức trong và ngoài Đảng cùng nhiều lão thành cách mạng gọi chế độ chính trị hiện hành là chế độ phong kiến trá hình hay chế độ toàn trị (đang biến chủng thành hậu toàn trị) là đã gọi rất đúng tên sự vật.
Tóm lại, điều 4 là một bằng chứng hiển nhiên về sự đối chọi giữa danh và thực, một xảo thuật cầm quyền hết sức mất dân chủ, nói thẳng ra là sự dối trá, một sự dối trá bao trùm lên toàn bộ đời sống xã hội.       Bỏ điều 4 là Đảng trút bỏ được một gánh nặng, thoát khỏi thế kẹt để trở về chỗ đứng vững chắc trong lòng dân, từ đó tiến hành đổi mới bản thân Đảng bằng nguồn sức mạnh từ nhân dân.
BMQ
Tác giả gửi cho NTT blog
(Blog Nguyễn Tường Thụy)

Truy bức đến ba đời?

Đứa bé một tháng tuổi và người mẹ trẻ nầy là tội phạm quốc gia cần phải trừng trị?
Cô Huỳnh Khánh Vy
Đứa bé một tháng tuổi và người mẹ trẻ nầy là tội phạm quốc gia cần phải trừng trị?
Thời phong kiến, vua tự cho mình là con trời, ai có ý gì không đồng tình với vua liền bị ghép vào tội phản nghịch, bị tru di đến ba họ và xử trảm đến ba đời. 
Tưởng cái thời mông muội ấy đã qua, đất nước đi vào thời kỳ văn minh dân chủ, quyền con người được tôn trọng như pháp luật đã ghi, người dân có quyền nói lên bất kỳ ý kiến nào của mình, dù cho tiếng nói ấy có khác với đường lối của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào, miễn không vi phạm pháp luật.
Ấy vậy mà không phải như thế. Ông Huỳnh Ngọc Tuấn vì những bài viết đi ngược lại chủ trương đường lối của đảng cầm quyền cách đây trên mươi năm, đã phải bị đi tù.
Tưởng rằng chỉ mình ông làm thì ông chịu (dù không đúng). Nhưng không, các con ông đều bị liên lụy. Con gái lớn của ông là Huỳnh Thục Vy đã không vào được đại học, phải tự học ở nhà rồi sau đó bị biết bao điều phiền nhiễu kể ra không hết. Con trai ông là Huỳnh Trọng Hiếu, mới đây bị cấm đi ra nước ngoài một cách bất ngờ, khi đã ra đến sân bay, mà không cần có lý do chính đáng. Rồi mới đây nhất, con gái út của ông là Huỳnh Khánh Vy, được học bổng đi Úc thì bị gây cản trở một cách khó hiểu để rồi phải bỏ học.
Nhưng vẫn chưa hết, việc trả thù còn được đẩy đến tận cùng của sự ti tiện mà ngay cả quan lại nhũng nhiễu thời phong kiến thối nát cũng không thể nào hạ tư cách của mình xuống thấp hơn nữa để gây ra. Khi Huỳnh Khánh Vy lập gia đình, hai vợ chồng trẻ không dám ở trong nhà của ông Tuấn, nơi liên tục bị quấy nhiễu, bèn thuê một căn phòng tạm trú tại Đa Nẵng để tìm sự yên ổn cho sự ra đời của đứa con đầu lòng.
Thế nhưng thế hệ thứ ba của gia đình họ Huỳnh nầy vẫn không được yên ổn kể từ lúc chưa sinh ra đời. Chủ nhà cho đôi vợ chông trẻ thuê và đôi vợ chồng trẻ liên tục bị hạch sách quấy nhiễu. Đứa bé trong bụng mẹ phải liên tục theo mẹ di chuyển chỗ ở, từ khi thụ thai cho đến lúc chào đời, đến 5 lần.
Cuối cùng khi bé chào đời, hai vợ chồng trẻ phải đành đưa cháu về Tam Kỳ, nhà ông ngoại Tuấn để trú ẩn vì không còn chỗ nào để thuê được nhà dù biết về đây cũng chẳng an toàn gì.
Tội phạm một tháng tuổi?
Quả nhiên đúng như vậy, chỉ ở được vài đêm, nhà ông ngoại Tuấn liền bị bọn xấu (???) lén lút ném mắm tôm và cá thối vào nhà. Nôi đứa bé chưa tròn tháng tuổi cũng ướt đẩm nước cá thối. Đứa bé một tháng tuổi ấy cũng là tội phạm quốc gia hay sao?
Nếu xét thấy ba đời nhà ông Huỳnh Ngọc Tuấn đều có tội trước pháp luật thì cứ mang cả ba đời ấy ra xét xử và cần thiết cứ xử trảm hết kể cả đứa cháu ngoại chưa tròn tháng tuổi như thời phong kiến cho hả dạ. Còn nếu không căn cứ vào pháp luật để buộc tội được ba đời nhà họ thì hãy để họ sống tối thiểu cho ra những con người.
Chúng ta có còn đang sống trong thời đại văn minh và trong xã hội loài người hay không đây?
Xem nhật ký trên Facebook của Jane Hoàng Huỳnh Thục Vy để cảm nhận cái cùng cực của sự ti tiện mà ba đời nhà nầy phải gánh chịu.
Hồ Ly Tiên
10 tháng 4 2013

--------------------

Lại những trò bẩn của an ninh cộng sản 
Nửa đêm ngày 3 tháng 4 năm 2013, lúc cả gia đình đang ngủ, thì ba tôi nghe tiếng xe gắn máy trờ tới trước nhà, sát chỗ ông ngủ (phòng ngủ ba tôi ngay sát mặt đường làng). Sau đó, là tiếng ào ào, nước văng tung tóe và một mùi hôi thối kinh khủng bốc lên. Ba tôi bật dậy và thoáng thấy chiếc xe máy chở hai tên thanh niên rồ ga bỏ chạy.
Cả nhà thức giấc và hiểu ra đó là trò bẩn thỉu của an ninh mà nhiều người bất đồng chính kiến đã từng phải chịu trước đây như cụ Hoàng Minh Chính, bà Trần Khải Thanh Thủy… và gần đây là chị Bùi Hằng.
Nhân tiện, xin nhắc lại là trước đó, họ đã bỏ hai con rắn độc vào nhà tôi năm ngoái. Khi tôi làm việc với an ninh, tôi đã tố cáo họ dùng rắn độc hãm hại người nhà tôi. Tên an ninh Huỳnh Ngọc Truyền đã nói: “Gia đình mấy người làm gì để hàng xóm căm thù mà muốn giết mấy người đó thôi”.
Vậy là cả đêm hôm qua, cả nhà tôi mất ngủ kẻ cả em bé chưa đầy một tháng tuổi, một sản phụ còn yếu và một cụ già 87 tuổi.
ban

banbannha

Tam Kỳ ngày 4 tháng 4 năm 2013

Kinh tế Việt đang trong giai đoạn “10 năm mất mát”

Hội nghị mang tên “Diễn đàn kinh tế mùa Xuân 2013” quy tụ một số chuyên viên trong và ngoài nước diễn ra tại thành phố Nha Trang hai ngày 5 và 6 tháng 4 đã phác họa một bức tranh bi thảm về tình hình kinh tế Việt Nam.
Vấn đề chính được nhấn mạnh tại hội nghị này là Việt Nam đang đi vào một “thập niên mất mát,” y hệt như đất nước Nhật hồi đầu thập niên 1980.

Tình trạng đóng băng của thị trường bất động sản khởi đầu giai đoạn “10 năm mất mát” của Việt Nam? (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Phúc trình của ông Bùi Tất Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược – phát triển thuộc Bộ Kế hoạch – đầu tư Việt Nam cho rằng “thập niên mất mát” đang diễn ra ở Việt Nam, bắt đầu từ cuộc khủng hoảng địa ốc. Theo ông, tình trạng “nhà hoang, lầu vắng” diễn ra tại Việt Nam mấy năm qua rất đáng lo ngại. Hậu quả của tình trạng này, theo ông Thắng, hết sức lớn lao và nguy ngập, vì khiến hàng chục ngàn công ty sụp đổ, để lại gánh nặng lỗ lã cho nền kinh tế.
Mặt khác, phúc trình của ông Bùi Tất Thắng cũng cho thấy, phần lớn khoản tín dụng không đòi được của ngân hàng hiện nay là khoản cho các công ty kinh doanh địa ốc vay. Toàn bộ ngân khoản đó đã được tung ra thị trường nhà đất để nay trở thành “hoang hóa.”
Báo Thanh Niên dẫn phúc trình của Viện Kinh tế - Xây dựng cho biết, tổng số tiền mà ngân hàng cho các nhà kinh doanh bất động sản vay trong năm 2011 lên tới 348,000 tỉ đồng, tương đương $17.4 tỉ. Đây là con số thật, và nhiều gấp hai lần con số được các ngân hàng thương mại ở Việt Nam công bố.
Phúc trình của Viện Kinh tế Việt Nam còn tiết lộ tin nói rằng, Ngân hàng Đầu tư BIDV dẫn đầu về số nợ cho ngành xây dựng vay. Kế tiếp là Ngân hàng Công thương, rồi đến ACB, Sabombank, Phương Nam, Phương Tây, Đông Á... Người ta còn e rằng một nửa khoản $17.4 tỉ của các ngân hàng thương mại đã cho vay sẽ không thu hồi được. Điều đáng sợ mà người dân Việt Nam sắp phải đối diện là sự đổ vỡ của thị trường bất động sản kéo theo khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế và sau đó là sự bất ổn toàn xã hội.
Báo VNEconomy còn dẫn lời ông Tô Ngọc Hưng, Giám đốc Học viện Ngân hàng Việt Nam chỉ trích chính sách bơm tiền thêm vào thị trường địa ốc của nhà nước Việt Nam. Theo ông, số tiền được bơm vào thị trường này lại sẽ tiếp tục tạo thêm nhiều bong bong bất động sản khác, chứ không có hy vọng đưa nền kinh tế về trạng thái cân bằng. Như vậy, số nợ khó đòi tiếp tục tăng vọt không có điểm dừng.
(Người Việt) 

Sức quyến rũ của Việt Nam đã mất

Các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu mất lòng tin tại địa điểm nhiều hứa hẹn này giữa lúc cải cách vẫn còn quá chậm chạp và tham nhũng vẫn tiếp tục gia tăng.
Điều gì đó đã bị chệnh hướng tại Việt Nam. Việt Nam không còn là nơi lý tưởng đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Trong ba năm liên tiếp, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại nước này đã không đạt được mục tiêu đề ra và các bộ trưởng tại đây đánh giá rằng chính phủ hiện trong tình trạng rất lo lắng. Nếu tiếp tục sụt giảm, họ sợ rằng việc này sẽ tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế, và nếu tăng trưởng kinh tế chao đảo thì các nhà đầu tư có thể trở nên do dự.
Việc này tạo thành một vòng luẩn quẩn, và nếu bị rơi vào tình trạng đó thì Việt Nam không thể đổ lỗi cho ai khác ngoài bản thân họ. Việt Nam nghĩ rằng họ đặc biệt bởi vì quá khứ của họ, và thế giới sẽ ve vãn họ bất chấp chuyện gì xảy ra. Nhưng kinh doanh thì không bao giờ chờ đợi quá lâu, nếu bạn không sẵn sàng thì các nhà đầu tư sẽ tìm những đồng cỏ xanh tươi khác. Đó là chính xác những gì đang xảy ra trong trường hợp của Việt Nam. Trong khi Việt Nam đang kéo đôi chân của mình trong việc thúc đẩy hoặc nâng cấp cải cách thì các đối thủ cạnh tranh cũ của họ cũng đang sửa đổi các hành vi cần thiết để qua mặt và những đối thủ mới đang đến để phân chia cổ phần trên thị trường.
Không phải là các nhà đầu tư nước ngoài không tiếp tục vào Việt Nam nhưng những cam kết mới chắc chắn sẽ chậm lại giữa lúc những dự án cũ vẫn còn đóng băng. Năm ngoái, ngược với mục tiêu 15-17 tỷ USD, cam kết FDI mới đã giảm 13 tỷ USD, ít hơn dự kiến 14,7 tỉ USD so với một năm trước đó. Xa hơn nữa, cam kết này thậm chí còn ít hơn nhiều so với 18,1 tỷ USD trong năm 2010. Theo Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), ngay cả ở giá trị hối đoái hiện nay, dòng vốn FDI đổ vào Miến Điện đã tăng 90% và Cambodia gia tăng 104,3% trong năm ngoái so với năm trước đó. Tất nhiên, cả hai nước này vẫn còn đứng phía sau Việt Nam, nhưng vấn đề chính là tỷ lệ tăng trưởng và sự gia tăng hồi năm ngoái tại Myanmar đã lên đến 100% trong năm 2011.
Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất của Việt Nam, cho đến nay đã đăng ký 1.859 dự án với cam kết tổng số tiền đầu tư lên đến 29 tỷ USD. Nhưng hiện nay họ đang quan tâm nhiều hơn trong việc mở rộng đầu tư đến các quốc gia khác như Miến Điện, In-đô-nê-xi-a và Ma-lay-xi-a, bởi vì họ tin rằng, Việt Nam không còn sức cạnh tranh như những nước khác. Nền kinh tế ổn định, lạm phát được kiểm soát, hệ thống ngân hàng được tổ chức tốt hơn so với trước đây, nhưng những nỗ lực vẫn không “đủ tốt” và tham nhũng đang ngày càng gia tăng. Trong khi đó, có những vấn đề mà làm nhiều nhà đầu tư lo lắng như tăng lương, việc tìm kiếm nguyên liệu, thiếu hụt công nhân lành nghề, thủ tục hải quan phức tạp, và cơ sở hạ tầng không đầy đủ, trong đó điểm chính là chính phủ vẫn không có câu trả lời đáng tin cậy. Việt Nam thậm chí còn thiếu ngay cả các dịch vụ cơ bản như thu hồi đất đai và thanh toán bù trừ các địa điểm thực hiện dự án.
Trường hợp kỳ lạ của Tatas là một ví dụ tốt về những điều sai trái xảy ra tại Việt Nam. Năm năm trước, tháng Năm năm 2008, Tata Steel đã ký thỏa thuận với Tổng công ty Thép Việt Nam để xây dựng một nhà máy trị giá 5 tỷ USD, có công suất 4,5 triệu tấn một năm, nằm trong Khu kinh tế Vũng Áng thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Năm năm sau, dự án vẫn còn đó mà phía Việt Nam không đưa ra được một địa điểm cụ thể nào, trong khi trước đó vị trí cũ đã được giao cho một đối thủ cạnh tranh khác.
Câu chuyện thực sự còn kỳ quái hơn. Tata cần khoảng 4.000 mẫu Anh [khoảng 1.619 hec] để xây nhà máy, trong đó chính quyền tỉnh ước tính sẽ cần khoảng 200 triệu USD để sẵn sàng cho việc xây dựng. Nhưng họ nói rằng họ không có tiền và muốn Tata trả số tiền ấy. Tất nhiên, Tata đã từ chối vì theo quy định pháp luật của Việt Nam thì việc giải phóng mặt bằng là công việc của chính phủ. Tata đã ký một bản ghi nhớ khác với Tổng công ty Thép Việt Nam để thiết lập một nhà máy cán nguội trong cùng một tỉnh. Cả hai dự án đã được phân chia thành giai đoạn cho hơn 10 năm. Tuy nhiên, mặc dù Việt Nam tiếp tục nói rằng họ muốn dự án đầu tư của Tata nhưng không ai biết những gì đang xảy ra với số phận của dự án này.
Việc sáp nhập và giải phóng mặt bằng các địa điểm là một trong những vấn đề lớn nhất làm chậm lại tốc độ FDI tại Việt Nam trong thời gian gần đây. Bên cạnh đó, có những câu hỏi lớn về tính minh bạch pháp lý và quyền sở hữu trí tuệ. Các nhà đầu tư muốn làm ăn trong một môi trường kinh doanh minh bạch, luật lệ rõ ràng về cách đối phó với các tình trạng phá sản, và các chính sách quyết định nhanh gọn. Họ còn hoài nghi về khuynh hướng ngày càng tăng của chính phủ đối với đầu tư vào mảng công nghệ cao ngay cả khi những yêu cầu cơ bản vẫn chưa được hoàn toàn đáp ứng. Các phương tiện truyền thông tại Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng về tốc độ lập pháp chậm như sên rùa. Chính phủ không thể lúc nào cũng điều hành bằng các nghị định, và Quốc hội thì thường rất hiếm khi hiểu về ý nghĩa cấp bách của những vấn đề này.
Điều này thật là không may, khi Châu Á vẫn là điểm đến yêu thích của các nhà đầu tư nước ngoài mặc dù kinh tế toàn cầu vẫn còn trong tình trạng suy thoái. Các con số từ UNCTAD cho thấy có tổng cộng 1,311 nghìn tỷ USD vốn FDI toàn cầu (18,3% thấp hơn so với năm trước), trong đó các nền kinh tế đang phát triển đã thu hút 680 tỷ USD, và châu Á chiếm 399 tỷ USD trong tổng số nước đang phát triển. Quan trọng hơn, phần lớn tổng số vốn ở châu Á được đầu tư tại các nước Đông Á (213.1 tỷ USD, bao gồm 120 tỷ USD riêng tại Trung Quốc) và Đông Nam Á (106.5 tỷ USD). Trong trường hợp này, việc Việt Nam bị kéo chân lại là một điều lạ. Ai đó có thể nghĩ rằng Việt Nam sẽ lo lắng để bảo tồn những thành tích khởi đầu mà họ đạt được và cải thiện chúng trong khi đối mặt với các đối thủ cạnh tranh khác.
Barun Roy, Business Standard
Bảo Anh chuyển ngữ, CTV Phía Trước
© Bản tiếng Việt Tạ chí Phía trước

Tòa tuyên án nhóm cựu lãnh đạo huyện Tiên Lãng

HĐXX tuyên phạt nguyên Phó chủ tịch huyện Tiên Lãng Nguyễn Văn Khanh 30 tháng tù giam. Còn bị cáo Lê Văn Hiền – nguyên Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng - bị phạt 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

Bị cáo Lê Văn Hiền đứng trước vành móng ngựa. Ảnh: TTXVN
Sau khi nghị án, vào 9 giờ sáng nay (10.4), HĐXX đã tuyên phạt các bị cáo về tội hủy hoại tài sản gồm:
Nguyễn Văn Khanh (SN 1961), nguyên Phó chủ tịch huyện Tiên Lãng, 30 tháng tù giam; Phạm Xuân Hoa (SN 1955), nguyên trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện Tiên Lãng ; Lê Thanh Liêm (SN 1963), nguyên Chủ tịch UBND xã Vinh Quang cùng bị tuyên phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo; Phạm Đăng Hoan (SN 1960), nguyên Bí thư Đảng ủy xã Vĩnh Quang bị xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo.
Còn bị cáo Lê Văn Hiền (SN 1958), nguyên Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng bị xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Về trách nhiệm dân sự, HĐXX buộc các bị cáo: Khanh; Hoa; Liêm; Hoan phải bồi thường số tiền 295 triệu đồng cho gia đình bị hại Đoàn Văn Vươn; Đoàn Văn Quý.
HĐXX nhận định: Các bị cáo đều là người được Nhà nước giao nhiệm vụ nhưng các bị cáo không thực hiện đúng luật, xâm phạm tài sản của nhân dân, làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà nước.
Hành vi của các bị cáo không những gây thiệt hại tài sản mà còn gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần phải có hình phạt tương xứng, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, lời khai của các bị cáo, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định của pháp luật, HĐXX đã tuyên phạt các bị cáo mức án như trên là đúng với tội danh và mức độ vi phạm.
Nhóm P.V pháp luật
(Đất Việt)

Có bằng chứng cho thấy Trung Quốc 'mượn' tên lửa Triều Tiên tấn công Mỹ?

Bằng việc cung cấp bệ phóng tên lửa di động cho Bình Nhưỡng, Trung Quốc bị nghi ngờ đang sử dụng Triều Triên để nhắm vào Mỹ.
Tân giám đốc Cơ quan an ninh quốc Hàn Quốc, ông Kim Jang-soo cho rằng Triều Tiên có thể phóng tên lửa vào hôm nay (10/4). Vụ phóng này có thể là một vụ thử tên lửa tầm trung chứ không phải là một cuộc tấn công nhằm vào Seoul hay Mỹ.
Tuần trước, Triều Tiên được cho là đã di chuyển hai tên lửa có khả năng bắn tới Hàn Quốc và Nhật Bản đến bờ biển phía đông của nước này. Nhiều chuyên gia quân sự phỏng đoán tên lửa đang được giấu tại những địa điểm bí mật.
Lầu Năm Góc chưa thực sự lo ngại về các tên lửa có tầm bắn xa nhất của Bình Nhưỡng, bao gồm tên lửa đạn đạo Taepodong-2 và tên lửa đẩy Unha-3 đã được thử nghiệm thành công. Do các tên lửa này phải mất nhiều tuần để vận chuyển, lắp ráp, tiếp nhiên liệu và chuẩn bị, nên các lực lượng của Mỹ có nhiều cơ hội để phá hủy tên lửa của Triều Tiên trước khi chúng được phóng đi.

Tên lửa đạn đạo liên lục địa KN-08 của Triều Tiên khiến Mỹ lo ngại nhất.
Tên lửa đạn đạo liên lục địa KN-08 của Triều Tiên khiến Mỹ lo ngại nhất.
Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng Mỹ lại lo ngại về các tên lửa di động KN-08 của Triều Triên cho dù chúng có tầm bắn ngắn hơn. Đây là lý do khiến Mỹ quyết định triển khai thêm 14 tên lửa đánh chặn tại vùng Alaska của nước này.
Tên lửa KN-08 được đặt trên bệ phóng di động với 8 trục bánh. Phương tiện này di chuyển rất cơ động giúp tên lửa KN-08 có thể tránh được các cuộc tấn công bất ngờ từ phía đối phương.
KN-08 xuất hiện lần đầu trong cuộc duyệt binh tháng 4/2012, được đặt trên bệ phóng di động thiết kế dựa trên khung gầm cơ sở xe bánh lốp.
Giới phân tích quốc tế xác định loại xe chở tên lửa Triều Tiên có nguồn gốc từ các công ty Trung Quốc. Một số nguồn tin cho biết Trung Quốc đã cung cấp cho Triều Tiên 8 xe mang phóng tên lửa tự hành loại 16 bánh từ Trung Quốc vào tháng 5/2011. Loại xe này do một công ty thuộc Quân đội Trung Quốc chế tạo dùng động cơ ngoại nhập.
Một số phương tiện thông tin ở Hàn Quốc và Nhật Bản cho rằng 2 tên lửa được Triều Tiên di chuyển tới bờ biển phía đông tuần trước là KN-08. Nhưng các quan chức của Hàn Quốc cho rằng đó là loại tên lửa Musudan, có tầm bắn khoảng 4.000km.
Trong khi đó, một số quan chức của Washington nghi ngờ rằng Trung Quốc đang mượn Triều Triên để nhắm vào Mỹ. Bằng cách cung cấp các bệ phóng di động cho Triều Triên, Bắc Kinh thực chất đang giúp Bình Nhưỡng tăng khả năng tấn công nước Mỹ. Vì thế, một hay hai vụ thử phóng tên lửa di động sẽ làm tình hình trong khu vực trở nên rối loạn.
Với mối quan hệ đồng minh truyền thống, quân đội Trung Quốc luôn thể hiện quan điểm ủng hộ Bình Nhưỡng, trong khi, các cơ quan khác của Trung Quốc như Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản, Ủy ban quân sự Trung ương và Bộ Ngoại giao vẫn ủng hộ mạnh mẽ gia đình họ Kim. Vì thế, Bắc Kinh vẫn âm thầm hỗ trợ kỹ thuật cho chương trình tên lửa của Triều Tiên bất chấp điều này vi phạm các quy định quốc tế.
(Đất Việt)

Chuyện bà Huệ "lừa" ở Văn phòng Chính phủ

Phamvietdao.net: Chủ blog nhận được một bài của một bạn xưng danh đang công tác tại Ban Tổ Chức Nhân sự EVN; Bài viết đề cập tới một nhân vật quan trọng của Văn phòng Chính phủ; với những thông tin được viết trong bài thì nếu tác giả này không công tác tại Văn Phòng chính phủ hoặc gần gũi các quan chức của Văn phòng Chính phủ khó lòng viết ra được…

Cảm ơn các vị đã tin cậy gửi bài cho chủ blog những thông tin thuộc diện “ thâm chung bí sử”…; chủ blog xin nhận trách nhiệm sẽ kiểm chứng thông tin này kỹ càng; nếu thông tin này chính xác sẽ chuyển cho Ban Nội chính TW- Ban chỉ đạo TW về Phòng và Chống tham nhũng để xử lý theo thẩm quyền, chức trách !

Về phía chủ blog cũng mong nhận được thông tin phản hồi từ Văn phòng Chính phủ…để bạch hóa thông tin này…

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong một hội nghị bàn về công chức ở Hà Nội có nói “ 30% số công chức ở ta sáng cắp ô đi,chiều cắp ô về”; cho thấy tình trạng vô dụng lãng phí Công chức ở nước ta trong hoàn cảnh kinh tế đất nước khó khăn ngày càng khó khăn. Thế nhưng tại nơi làm việc Chính phủ nơi làm việc của Phó thủ thủ tướng lại có chuyện Lạ về công chức Lạ; Chúng tôi biết với vị công chức lạ đó từ thuở hàn vi.Bà Nguyễn thị Minh Huệ còn gọi là Huệ Lừa (tên cúng cơm từ Điện lực Hà Nội) 62 tuổi chuyên gia Văn phòng Chính Phủ thuộc Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
Bà Nguyễn Thị Minh Huệ sinh năm 1951 xuất thân học trường sơ cấp sư phạm Vinh Nghệ An niên khóa 1967-1968.Ra trường dạy học tại trường phổ thông cấp 1 Hoàng Mai Quỳnh Lưu Nghệ An,sau một thời gian thì theo chồng là ông Hoán là kỹ sư điện đi học ở cộng hòa dân chủ Đức về làm ở ngành điện lực (EVN) ra Hà nội là văn thư phòng hành chính điện lực Hà nội.Thế gian đổi thay, bà Huệ từ một người lo việc tiếp khách cho Điện Lực Hà Nội, do đó bà đã giao du quen biết nhiều vị chức sắc tai to mặt lớn trung ương.
Với khuôn mặt xinh đẹp cộng với sự giảo hoạt bà Huệ đã phất lên nhanh như diều: bà sở hữu 5 ngôi nhà ở Hà Nội, 2 ngôi nhà ở thành phố Hồ Chí Minh. Điện lực Hà Nội nhắc đến bà Huệ mọi người ngán ngẩm lảng tránh.Bà ta kết thân với phó thủ tướng Hoàng Trung Hải,theo như bà ta nói ông Hoàng Trung Hải bà ấy sai bảo gì làm theo răm rắp.Bà ấy nghe ngóng xem ai không làm vừa ý bà ấy là có sự thuyên chuyển ngay.Đích thân ông Hoàng Trung Hải chỉ đạo điện lực Hà Nội bổ nhiệm bà Huệ làm quyền trưởng phòng Thi đua tuyên truyền Điện Lực Hà Nội.Tới năm 2007 bà Huệ đến tuổi nghỉ hưu thì lại chuyển về Văn phòng Chính phủ làm chuyên gia tại Cổng thông tin điện tử chính phủ.Mấy năm vừa qua bà Huệ đi lại như con thoi hết khắp nơi kể cả nước ngoài để giàn xếp các dự án,tiền hoa hồng thu về như nước.Bà ấy tới các tỉnh dọa nạt nhiều giám đốc sở nghành,chủ tịch tỉnh..v..v..v bằng công lệnh của chính phủ.Các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Thọ ,Thái Nguyên,Cần Thơ…v.v rõ việc này.
Các tỉnh thấy bà ấy có công lệnh văn phòng chính phủ ghi là  chuyên gia thì tổ chức xe đưa xe đón tiếp đãi nồng hậu, phong bì đầy đủ.Bà ấy hứa với nhiều quan chức là lo cho cất nhắc đề bạt….vì bà ấy rất thân với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các phó thủ tướng. Bà ấy đi máy bay tiêu chuẩn thương gia, đi đến đâu cũng hách dịch quát nạt các nhân viên mọi người đều biết bà ấy  là “xếp” lớn quyền lực của chính phủ, ngồi ở bàn nhậu nào bà Huệ cũng kể các câu chuyện thâm cung bí sử của lãnh đạo, chủ trương của các cuộc họp,hội nghị lớn.
Các tỉnh, các Bộ Ngành, cán bộ nhiều nơi bàn tán xôn sao về quyền lực Ngầm của bà Huệ.Có một điều chắc chắn rằng bà Huệ thường xuyên vào nhà nghỉ “làm việc ‘’ với ông Phạm Việt Dũng Tổng biên tập Cổng thông tin điện tử Chính phủ. Việc hù dọa địa phương,doanh nghiệp là việc thường xuyên thường ngày với danh nghĩa chuyên gia văn phòng Chính phủ của bà Huệ để thu tiền biếu xén vi phạm luật hình sự với tội danh “ Lừa đảo” thu nhập nhiều tỷ đồng,các cơ quan chức năng cần làm rõ Thiết nghĩ bà Huệ có tài năng để Chính phủ trọng dụng như vậy không? Hay là bà ấy là sân sau….của lãnh đạo Chính phủ đúng như bà ta vẫn thường khoe khoang. Đúng là chuyện Lạ của một nhân vật Lạ
Ngày 15 Tháng 03 Năm 2013
Trần Kim Loan
Ban Tổ Chức Nhân sự EVN
(Blog Phạm Viết Đào)

Việt Nam: Đối thoại nhân quyền cần tạo ra chuyển biến cụ thể

Đã đến lúc chính phủ bắt tay vào việc thực thi quyền con người

Cảnh sát bắt giữ Nguyễn Trí Dũng và mẹ anh nhằm ngăn họ tham dự phiên toà xét xử ba blogger nổi tiếng, trong đó có bố anh là Nguyễn Văn Hải, ngày 24/12/2012. Sau khi toà tuyên án, cảnh sát đã lột chiếc áo phông trên đó có in dòng biểu ngữ “Tự Do Cho Người Yêu Nước” của Dũng.
(Washington, DC) APRIL 10, 2013 – Tổ chức giám sát nhân quyền Human Rights Watch (HRW) phát biểu ngày hôm nay là Chính phủ Việt Nam cần nhân cơ hội cuộc Đối thoại Nhân quyền Mỹ – Việt sắp tới để phóng thích các tù nhân chính trị và cam kết chấm dứt việc truy bức các blogger, các nhà hoạt động về chủ quyền đất đai cũng như những người chỉ trích ôn hoà khác. Cuộc Đối thoại Nhân quyền Việt – Mỹ sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 12/4/2013.
Brad Adams, giám đốc phụ trách Châu Á của HRW, phát biểu: “Chính phủ Việt Nam đã dựng lên một loạt phiên toà mang tính trình diễn khi tìm cách ngăn chặn làn sóng bất mãn đang ngày một dâng cao. Hoa Kỳ cần tận dụng cơ hội này để nêu rõ rằng Việt Nam cần tiến hành cải cách nghiêm chỉnh nhằm cải thiện tình hình nhân quyền, nếu không họ sẽ phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng, kể cả việc tổn hại đến mối quan hệ với Hoa Kỳ.” 
Theo phía Hoa Kỳ, mục đích của các cuộc đối thoại nhân quyền là tạo ra những kết quả cụ thể nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các chuẩn mực nhân quyền quốc tế và chính sách cũng như sự thực hành nhân quyền ở Vietnam. HRW nói, Hoa Kỳ cần nêu rõ rằng nếu muốn được coi là một đối tác có trách nhiệm trên trường quốc tế, Việt Nam cần ngay lập tức thúc đẩy mạnh mẽ việc thực thi nghĩa vụ quốc tế về nhân quyền của mình.
Việt Nam đang ứng cử một ghế trong Hội đồng Nhân quyền LHQ và không khỏi phải đối mặt với sự thẩm tra thành tích kỹ lưỡng hơn trong quy trình Kiểm điểm Định kỳ Phổ cập (Universal Periodic Review) của Hội đồng Nhân quyền.
HRW chỉ ra con số những người phản đối ôn hoà bị chính quyền Việt Nam kết tội hình sự là lớn và đang không ngừng gia tăng. Năm 2012, ít nhất 40 người được biết là đã bị kết tội và tuyên án tù trong các phiên toà không đáp ứng quy trình chuẩn mực quốc tế (international due process) và các tiêu chuẩn xét xử công bằng (fair trials standards). Đáng báo động là ít nhất 40 người đã bị kết tội trong các phiên toà chính trị chỉ trong vòng 6 tuần đầu tiên của năm 2013.
Adams nói: “Năm vừa qua là một năm tồi tệ với những người bất đồng chính kiến, khi hàng loạt người bị bỏ tù. Nhưng số nhà hoạt động bị kết án tù sau các phiên toà chính trị trong hai tháng đầu năm 2013 thậm chí còn nhiều hơn cả năm 2012. Chính phủ Việt Nam cần hiểu rằng họ không thể giải quyết những vấn đề chính trị – xã hội lớn của đất nước bằng cách tống giam tất cả những người chỉ trích.”
Mấy tháng gần đây, nhà cầm quyền Việt Nam đã tiến hành một chiến dịch nhằm trấn áp những bình luận mang tính phê phán về tiến trình sửa đổi hiến pháp. Chiến dịch này dường như là một nhân tố trong vụ bắt giữ luật sư bảo vệ nhân quyền Lê Quốc Quân ngày 27/12/2012, cũng như trong việc sách nhiễu và đe doạ suốt tháng 2 & tháng 3/2013 đối với những người chỉ trích như nhà báo Nguyễn Đắc Kiên và nhà hoạt động Phật giáo Lê Công Cầu. Những tên côn đồ giấu mặt đã đổ nước mắm thối và ruột cá vào tư gia của nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn, người được trao giải thưởng nhân quyền Hellman/Hammett năm 2012. Ngày 8 & 9/4, hai blogger Bùi Thị Minh HằngNguyễn Chí Đức bị tấn công mà cảnh sát không can thiệp.
Việt Nam vẫn giam giữ một số tù nhân chính trị suốt hàng chục năm. Trong một số trường hợp, những tù nhân này đã bị từ chối chăm sóc y tế chu đáo khi mà điều kiện sức khoẻ của họ ngày càng xấu đi. Một trong số đó là tù nhân 66 tuổi Nguyễn Hữu Cầu, bị bắt giữ lần đầu tiên năm 1975, sau đấy bị bắt lại năm 1982 và bị giam từ đó đến nay. Sức khoẻ của ông được thông báo là đã xấu đi thời gian gần đây.
Như một bước đi khẩn cấp và nhân đạo, HRW đã hối thúc chính phủ Việt Nam cho phép tất cả các tù nhân chính trị và những người bị giam giữ có vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng, như trường hợp tù nhân Nguyễn Hữu Cầu, được tại ngoại để chăm sóc y tế, tiếp theo là nhanh chóng xem xét lại vụ việc của họ một cách độc lập và công bằng để xác định những ai cần được phóng thích vĩnh viễn và vô điều kiện do họ bị giam giữ chỉ vì đã thực hành các quyền con người cơ bản của mình một cách ôn hoà.
Những người xem ra nằm trong danh sách trên bao gồm: Nguyễn Hữu Cầu, Trần Huỳnh Duy Thức, Hồ Đức Hoà, Đặng Xuân Diệu, Lê Văn Sơn, Nguyễn Văn Hải, Mai Thị Dung, Nguyễn Công Chính, Phạm Thị Phương, Tạ Phong Tần, Nguyễn Hoàng Quốc Hưng, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Trần Thị Thuỷ, Phùng Lãm, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Văn Thông, Nguyễn Ngọc Cường, Đinh Đăng Định, Nguyễn Xuân Nghĩa, Trần Vũ Anh Bình, Nguyễn Kim Nhàn, Hồ Thị Bích Khương, Lê Thanh Tùng, Phan Ngọc Tuấn, Vi Đức Hồi, Nguyễn Văn Lia, Võ Minh Trí, Lê Quốc Quân – và nhiều người khác nữa.
HRW kêu gọi chính phủ Việt Nam, nhân tiến trình sửa đổi hiến pháp hiện nay, phát động một chương trình cải cách pháp luật khẩn cấp nhằm:
  • Sửa đổi hoặc bãi bỏ những quy định pháp lý nào mà trên thực tế đã hình sự hoá sự bất đồng chính kiến ôn hoà, quyền tự do ngôn luận, và tổ chức của người lao động (labour organising);
  • Xoá bỏ những rào cản pháp lý đối với các tổ chức tôn giáo độc lập trong việc tiến hành các hoạt động tôn giáo ôn hoà;
  • Bãi bỏ tất cả cơ sở pháp lý cho biện pháp lao động cưỡng bức và giam giữ mà không thông qua xét xử cho cái gọi là “liệu pháp lao động” trong trường hợp sử dụng ma tuý hay cho những mục đích khác; và
  • Xoá bỏ tất cả những quy định cho phép tịch thu đất đai mà không xét tới quy trình chuẩn mực (due procees), sự đền bù thoả đáng, cũng như việc xem xét độc lập và công bằng.
Adams nói: “Chính phủ Việt Nam đã được hành xử thoải mái về vấn đề nhân quyền trong một thời gian quá lâu, kết quả là người dân Việt Nam phải chịu sự lạm dụng ngày càng tăng. Lộ trình cải cách là rõ ràng, song điều đó đòi hỏi Đảng CSVN phải chấp nhận bất đồng chính kiến và thừa nhận quyền của người dân trong việc cổ suý những quan điểm khác nhau.”

Lê Thiên Hà chuyển ngữ
(HRW

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh - Thấy gì khi đọc kỹ bản Dự thảo Hiến Pháp?

nguyen-trong-vinh
Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
Có những điểm mâu thuẫn. Điều 2 Chương I ghi “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”. Nhưng nhân dân không được làm và phúc quyết Hiến pháp là văn bản luật cơ bản và cao nhất liên quan đến quyền lợi của dân và chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của chính quyền. Điều 74, 75 chương V ghi “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến… làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp…” là phủ định quyền được làm và phúc quyết của dân.
Việc làm này trái với tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện trong Điều 21 của Hiến pháp 1946 ghi “Nhân dân có quyền phúc quyết Hiến pháp…” và Điều 70 trong Hiến pháp đó ghi: “Những điều thay đổi khi đã được nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Mấy năm trước Đảng đã phát động học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nay sao lại làm trái tư tưởng của Người?
 Điều 15 trên thực tế vô hiệu hóa gần hết Điều 26. Điều 26 ghi: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, được hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Khoản 2 Điều 15 ghi: “quyền con người, quyền công dân “chỉ có thể” bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe cộng đồng”. Nói “chỉ có thể bị giới hạn”… là nói “khéo”, thực ra trong thâm ý là “có thể bị giới hạn”… Trước đây đã thế, sau này thiếu gì cách người ta viện cớ “ảnh hưởng an ninh quốc gia, ảnh hưởng trật tự an toàn xã hội và đủ thứ v.v…” để hạn chế quyền của dân, để cấm.
Có những điều trong “dự thảo” mới đọc tưởng là rất dân chủ, nhưng rất khó khả thí, ví dụ:
Khoản 2 Điều 4 ghi “… Đảng… chịu sự giám sát của nhân dân…”; Khoản 2 Điều 8 ghi: “… cán bộ, công chức, viên chức… chịu sự giám sát của nhân dân…”. Bằng cách nào, những việc cần biết lại không được biết thì làm sao giám sát được? Cơ chế gì để dân thực hiện quyền giám sát?
Có những điều ghi chung chung trong “dự thảo” chẳng có ý nghĩa gì, ghi cũng bằng không, ví dụ:
Điều 35 ghi: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội.
Điều 41 ghi: Công dân có quyền được bảo vệ sức khỏe.
Điều 46 ghi: Mọi người được sống trong môi trường trong lành.
Ai đảm bảo cho? Nhà nước? Bộ Y tế? Bộ Tài nguyên môi trường? Nếu người dân tự đảm bảo lấy thì ghi vào Hiến pháp làm gì?
Điều 32 Khoản 4 ghi không rõ: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần…”. Cá nhân hay tổ chức nào bồi thường? Nếu không rõ thì lại chỉ là “đánh bùn sang ao” mà thôi.
Điều 59 trong Hiến pháp năm 1992 ghi 2 ý:
Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.
Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hóa và học nghề phù hợp.
là rất đúng và rất cần thiết, tại sao Điều 42 “dự thảo mới” lại bớt đi. Chả lẻ mang danh là Nhà nước XHCN lại cắt xén phúc lợi của dân và bớt trách nhiệm của Nhà nước; Điều 42 cần ghi lại 2 ý nói trên.
Điều 71 Hiến pháp năm 1992 ghi câu: “Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.” là rất đúng pháp luật và rất cần thiết để bảo vệ quyền công dân. Tại sao Điều 22 “dự thảo mới” lại bỏ đi? Thế là buông lỏng cho các nhà chức trách tùy tiện muốn bắt ai thì bắt như từ trước đến nay sao? Nếu thật sự tôn trọng, đảm bảo quyền của công dân thì Điều 22 khoản 1 phải ghi lại câu:
“Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.”
Nói về nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang, Điều 45 Hiến pháp 1992 ghi: “Các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân… chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc…” là rất đầy đủ và cụ thể. Tại sao ỦY BAN sửa đổi Hiến pháp lại bỏ đi những ý kiến mà chỉ ghi “… bảo vệ vững chắc Tổ quốc”. Không thể lập luận là “bảo vệ Tổ quốc” là đủ cả, nhất là trong tình hình Trung Quốc đã và đang dùng mọi thủ đoạn tranh cướp chủ quyền biển đảo của chúng ta. Chẳng lẽ ý của Ủy ban dự thảo là “đành bỏ chủ quyền” hoặc ghi như Điều 45 Hiến pháp 1992 là “phật lòng Trung Quốc”, “không giữ được tình hữu nghị”?
Yêu cầu nhất thiết phải ghi: “Các lực lượng vũ trang có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc…” vào Điều 69 mới.
Điều 57 vẫn ghi “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” là không hợp lý, bất công và sinh nhiều tiêu cực tệ hại. “Sở hữu toàn dân” thành ra “không ngươi dân nào có quyền sở hữu cả”. Người có ruộng đất từ mấy đời ông cha để lại, người trước đây tích cóp được tiền mua được mảnh đất, thửa ruộng nay cũng bị tước mất quyền, không còn là của mình nữa. Nhà nước quản lý thực chất là các cấp chính quyền tha hồ có quyền thu hồi, cấp, bán đất.
Từ trước đến nay biết bao nhiêu vụ thu hồi đất ruộng của nông dân gây nên bức xúc, khiếu kiện, giao cho người có tiền kinh doanh lấy lãi kếch xù, thu hồi đất quá mức giao cho nhà kinh doanh địa ốc khiến nông dân thất nghiệp sống vật vờ và hàng vạn căn hộ trên nhà cao tầng thừa ế, thúc ngân hàng rót tiền cho vay để “cứu”, sẽ tăng thêm “nợ xấu khó đòi”. Về nông thôn sẽ thấy không ít chủ tịch xã cấp đất, bán đất làm giầu. Ngay ở cấp cao, nhiều vị đã có nhà cửa đàng hoàng, vẫn được cấp đất xây nhà, ví dụ nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh công lao, thành tích gì, đã có nhà, vườn khá phong quang ở Narì, vẫn được cấp 800m2 đất ở Hồ Tây giá trị biết bao nhiêu tỷ.
Công bằng nhất nên sửa: “Đất đai thuộc đa sở hữu, có sở hữu cá nhân (chủ yếu là nông dân), có sở hữu tập thể, có sở hữu nhà nước.”
Trung với nước, hiếu với dân là tư tưởng xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ra từ cái ca sắt tráng men phát cho bộ đội, lá cờ nhỏ tặng Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, đến lá thư gửi cho thanh niên… Trong nhiều cuộc thăm và nói chuyện với bộ đội, Người thường nhắc lại câu: “Quân đội ta trung với nước, hiếu với dân, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Nay Ủy ban dự thảo tự cho mình là sáng suốt hơn, đúng hơn nên sửa sai của lãnh tụ ư? Đảng đã từng phát động phong trào học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sao bây giờ lại làm trái với tư tưởng của Người?
Thêm nữa Điều 51 Hiến pháp 1980 và Điều 45 Hiến pháp 1992 đều ghi: “Các lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân…” là rất đúng và không hề lỗi thời. Tại sao người viết lại sửa đi, chả lẽ ông không trung thành với Tổ quốc ư? Điều 70 sửa lại là “Lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân…” đưa Đảng đứng trên Tổ quốc. Từ xưa đến nay, đối với mọi người dân, “Tổ quốc là trên hết”. Dù là Đảng lãnh đạo, cũng từ trong lòng Tổ quốc mà sinh ra, không thể đứng trên Tổ quốc được. Đảng sinh ra là để phục vụ Tổ quốc chứ không phải đứng trên Tổ quốc. Đạo lý là như vậy.
 VỀ VIỆC LẤY Ý KIẾN NHÂN DÂN GÓP VÀO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
Đã gọi là ý kiến nhân dân thì muôn hình muôn vẻ, rất nhiều ý kiến khác nhau. Với những ý kiến khác nhau tiêu biểu đều cần được đưa lên các phương tiên truyền thông đại chúng của nhà nước mới công bằng. Đằng này chỉ đưa ý kiến một chiều là không quang minh chính đại.
Đối với những điều “quan trọng, nhậy cảm”, có ý kiến không tán thành, muốn thay đổi cho hợp quyền dân, lợi nước, có ý kiến đồng ý với dự thảo, có người cố bệnh vực ý kiến của Ủy ban dự thảo bằng lập luận nguy biện, không mấy đáng giá. Những ý kiến trái ngược nhau như thế, nếu thật dân chủ, thì phải đưa cả 2 loại ý kiến với lập luận của mỗi bên lên báo, đài để bàn dân thiên hạ lập luận xem bên nào có lý. Đằng này chỉ đưa toàn người phát biểu đông ý, còn những ý kiến khác với dự thảo dù đúng, dù hợp với thời đại thì bị quy chụp cho là suy thoái, theo nước ngoài, chống Đảng, chống Nhà nước v.v…
Nói là lấy ý kiến nhân dân, “không có vùng cấm” cho có vẻ dân chủ, nhưng chỉ những ý kiến đồng ý với dự thảo mới được cấp nhận, cuối cùng Hiến pháp được thông qua đại để như bản dự thảo. Như vậy, phát động lấy ý kiến nhân dân làm gi cho phí thời gian, công sức, giấy mực, tốn hàng mấy chục tỷ tiền của Nhà nước.
Cách lấy được nhiều chữ ký hoặc điểm chỉ “đồng ý dự thảo” thì dễ thôi. Bà bán rau, chị hàng cá, anh bán đậu phụ có thì giờ đâu mà đọc dự thảo, họp tổ khu phố thấy bà tổ trưởng bảo ký “đồng ý” thì ký thôi; công nhân, viên chức không ký “đồng ý” thì sợ mất việc, sợ bị “trù”; ở nông thôn chị nông dân, bác nuôi cá, trưởng thôn bảo ký thì ký, không ký sau này xin giấy tờ khó; họp chi bộ, đồng chí nào không ký “đồng ý” thì sợ thiếu ý thức tổ chức; kiểu như thế thì lấy bao nhiêu chữ ký đồng ý mà chả được.
Còn việc công bố là có 20 triệu, 30, 40 triệu người đồng ý với dự thảo Hiến pháp thì đó là độc quyền thông tin của T.V., báo chí nhà nước, nói sao chả được, ai biết đâu mà cãi.
Nguyễn Trọng Vĩnh
(Blog Bùi Văn Bồng)

Kami - Cái vòng luẩn quẩn

Câu chuyện Kiến nghị Sửa đổi Hiến pháp của nhóm 72 vị nhân sĩ trí thức (Kiến nghị 72) bỗng trở thành một vấn đề đau đầu cho các nhà lãnh đạo đảng CSVN. Vì ít khi người ta mới thấy sự phản kháng mang tính tập thể của các vị vốn là nguyên, cựu cán bộ lãnh đạo mang tính trở cờ, đi ngược lại chủ trương đường lối của đảng. Đây là việc làm vi phạm điều lệ của đảng CSVN, một trong 19 điều cấm đối với đảng viên, mà trang Businessweek gọi là "Tập thể những người cộng sản" ở Việt Nam chống lại sửa đổi Hiến Pháp". Nhưng lẽ ra hiệu quả của bản Kiến nghị 72 sẽ cao hơn nữa, nếu như nó mang theo được phẩm chất dũng khí của những người có mong muốn sự thay đổi mạnh mẽ.
Sở dĩ nói bản Kiến nghị 72 thiếu dũng khí (cách mạng), vì cách làm của nhóm 72 vị nhân sĩ trí thức còn mang tính lừng chừng, thỏa hiệp chứ nó không đòi hỏi sự chuyển biến một cách mãnh liệt. Đơn cử như trước đây đã từng có các ông Hoàng Minh Chính , trung tướng Trần Độ hay Trần Xuân Bách.... Thêm nữa khi căn cứ vào thái độ của ông Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Tư Pháp phát biểu trên VTV về Kiến nghị 72 rằng "Còn cái dự thảo mà gọi là Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 2013 thì tôi hoàn toàn không tham gia. Cũng không phải là người thành lập cái nhóm đó. Kí là kí vào cái đoạn 7 điểm thôi, chứ còn cái Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 2013 tôi không hề biết cái đó". Đây là một bài học cay đắng đối với nhiều người tham gia ký hay đồng tình với bản Kiến nghị 72 này. Nếu so sánh dũng khí của nhóm 72 vị nhân sĩ trí thức với các ông Hoàng Minh Chính, Trần Độ hay như ông Trần Xuân Bách... trước kia thì thấy khác hẳn. Những người này họ vốn là những nhà cách mạng thực thụ, có lập trường kiên định. Đặc biệt là dám trút bỏ mọi quyền lợi đang được thụ hưởng bởi chế độ dành cho, để dám thẳng thắn tuyên bố quan điểm của mình. Kể cả khi đấu tranh mang tính đối đầu hay không tán thành với đường lối của đảng. Ngược lại, trường hợp của nhóm Kiến nghị 72 cũng không là ngoại lệ, mà nó có cùng màu sắc với sự chuyển biến tư tưởng một cách tự hạn chế của những thế hệ sau, đó là thế hệ ông Nguyễn Văn An, Vũ Mão ... thế hệ của những người đạt đến đỉnh cao quyền lực được xắp đặt một cách dễ dàng êm ả. Do đó nó là sự thay đổi nhận thức có tính toán hơn thiệt về quyền lợi cá nhân, gia đình con cái. Vì thế kể cả khi tuổi đã cao nhưng người ta vẫn thấy  tính cải lương, nước đôi trong các hành động hay lời phát biểu của họ.

Businessweek gọi là "Tập thể những người cộng sản" ở Việt Nam chống lại sửa đổi Hiến Pháp"
Sự thay đổi tư tưởng không hết mình như vậy là do vẫn còn nhiều điều khác khiến họ còn phải lo lắng, bận tâm. Như tương lai của gia đình, vợ, chồng con cái họ sẽ ra sao trong công việc, trong cuộc sống và vô vàn những nỗi băn khoăn khác v.v.... Tuy nhiên, nếu so sánh họ với những người khác có điều kiện như họ mà không dám lên tiếng, để thấy các vị này cũng hết sức đáng ca ngợi. Nhưng giá như những người ở vị trí như họ mà dám dứt khoát, dám đoạn tuyệt với tất cả để hành động như những người làm cách mạng thì có lẽ đất nước này, dân tộc này không không đến nỗi bi đát như bây giờ. Trước hiện tượng đó, một số người nóng vội, cực đoan cho rằng "Sao lúc đương chức đương quyền các ông không lên tiếng? Nếu không dám sao các ông không từ quan để bầy tỏ thái độ mà đến giờ mới dám làm?". Phải chăng là nguyên nhân của sự lừng chừng không dám dấn thân một cách hết mình là vì gánh nặng quyền lợi của mỗi cá nhân?. Và có lẽ vì lý do này mà ý thức phản kháng của người dân nói chung và các cựu quan chức nói riêng bị hạn chế rất nhiều.
Trên thực tế ở Việt nam, bây giờ từ Tổng Bí thư đến các ủy viên Bộ Chính trị, các ủy viên Ban chấp hành Trung ương đảng CSVN, đại biểu quốc hội hay các vị bộ trưởng, thứ trưởng v.v... của chính quyền hiện tại hơn ai hết họ đều biết cái thể chế chính trị hiện tại là lạc hậu, phản động và mang tính kìm hãm sự phát triển của dân tộc, đất nước và cần thiết phải có sự thay đổi. Xin hỏi ai mà không biết? Họ biết nhưng ai cũng như ai cứ phải đóng kịch với nhau vờ như không biết để được cái đặc quyền ăn trên ngồi trốc. Để rồi dẫn tới tình trạng nói trước quên sau, nói lung tung, nói linh tinh để rồi vô tình gián tiếp báng bổ cả Hồ Chủ tịch là kẻ suy thoái tư tưởng. Như ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại tỉnh Vĩnh phú là một ví dụ. Hay như chuyện đưa đất nước tiến lên Chủ nghĩa Xã hội trên cơ sở nền tảng tư tưởng là Chủ nghĩa Marx - Lenin cũng thế. Trong khi trên thế giới cái gọi là Chủ nghĩa Xã hội mà đảng CSVN đang theo đuổi đã hoàn toàn phá sản, không còn tồn tại ở bất kỳ quốc gia nào, kể cả Cuba. Hơn nữa mô hình này đã thí điểm ở Việt nam từ năm 1954 đến nay đã cho thấy hoàn toàn thất bại, kể cả việc đổi mới kinh tế theo định hướng XHCN. Không phải trông đâu cho xa, cứ nhìn hai miền Nam - Bắc Triều tiên là cách so sánh dễ dàng nhất. Người dân bình thường họ mong muốn sống trong một xã hội thịnh vượng, nhân bản. Ở nơi đó có cuộc sống ấm no, với một nền an sinh xã hội tốt, công bằng và quyền con người được tôn trọng. Chứ đâu có ai cần cái Chủ nghĩa Xã hội, Chủ nghĩa Cộng sản không tưởng nhảm nhí, những thứ làm bình phong cho chế độ chuyên quyền, độc đoán vô luật pháp và gia đình trị cha truyền con nối của những người cộng sản "giả cầy".
Nhưng cũng vì ở trong cái guồng quay dối trá này thì ai cũng sợ nói ra sự thật, vì họ biết cỗ máy của đảng sẽ sẵn sàng nghiền họ nát vụn một cách không thương tiếc, như đã từng làm với ông Trần Xuân Bách là một bài học điển hình. Vì thế không ai bảo ai, tất cả bọn họ dàn hàng ngang đi theo nghị quyết của đảng, biết nhưng ông nọ nhìn và chờ các ông còn lại xem sao. Cộng với chế độ lãnh đạo kiểu "vua tập thể", cá mè một lứa hiện nay, không có một cá nhân lãnh đạo xuất chúng có tiếng nói đủ tầm quyết định. Hơn nữa, không ai dám làm vai trò xung kích, xông lên trước vì họ biết trong một trận đánh những kẻ xông lên đầu tiên nguy cơ trúng đạn và tử vong sẽ rất cao. Qua đó mới thấy lòng dũng cảm cần phải có ở những người nắm vận mạng của quốc gia, dân tộc thật cần thiết biết bao. Vậy thử hỏi sẽ có làm sao một Elsin hay một Gorbachev xuất hiện để làm vị cứ tinh cho đất nước.
Một điều được cho là chắc chắn về kịch bản sự thay đổi của chính trị Việt nam trong tương lai, một phần lớn sẽ phụ thuộc vào sự tự chuyển biến của các nhà lãnh đạo Việt nam hiện nay, thông qua một cuộc chuyển đổi chính trị theo cung cách nới lỏng từ từ và nếu có xong thì chắc cũng cần một vài thế hệ. Sở dĩ nói một vài thế hệ vì các nhà lãnh đạo Việt nam khi đương chức thì họ không vội, vì thay đổi theo xu thế dân chủ tự do thì họ sẽ có nhiều thiệt thòi hơn hiện tại. Vấn đề là họ có dám hy sinh quyền lợi của cá nhân để phục vụ cho quyền lợi của quốc gia, dân tộc hay không? Nếu không thì phải chờ khi họ về hưu, khi hết chức, hết quyền khi ấy mới phản tỉnh như một cái quy luật bất thành văn. Nhưng xem ra họ còn hơn cái loại nguyên Tổng Bí thư, giờ về hưu hàng ngày đi chơi thể thao ở câu lạc bộ mà mục đích chính để hy vọng kiếm tiền phong bao của các đệ tử cũ. Còn yếu tố từ bên ngoài cho sự thay đổi mang lại là phần rất nhỏ và không đáng kể nếu nhìn vào khả năng và sự lớn mạnh thực tế của các tổ chức chính trị ở hải ngoại như hiện nay. Trông chờ vào một cách mạng hoa X, hoa Y thì càng khó trong bối cảnh con người hiện nay thì khó có khả năng khởi động được. Cho dù các điều kiện khách quan  cần thiết hết sức thuận lợi cho một cuộc cách mạng.
Sự thay đổi của đất nước sẽ phụ thuộc vào hành động của giới trí thức tinh hoa, nhưng người lãnh đạo đương chức, chứ không phải gánh nặng này được dồn cho các thế hệ nguyên hay cựu cán bộ lãnh đạo. Chưa nói đến vấn đề trên diện rộng mà trước mắt chỉ đòi hỏi cần tập trung vào các điểm nổi bật, những trí thức lãnh đạo là tinh hoa ưu tú. Nhưng xem ra việc này là rất khó, vì các tinh hoa ấy chỉ xuát hiện khi đã hết chức, hết quyền. Nói cho đúng, đây chính là cái vấn nạn, là cái vòng luẩn quẩn mà con người và đất nước Việt nam đang phải hứng chịu và khó có thể thoát khỏi. Điều này đúng không chỉ đối với bất kỳ những ai hiện còn đang phụng sự hay còn có các thứ quyền lợi gắn với thể chế chính trị hiện tại ở Việt nam, mà là tất cả mọi người, mọi giới. Khi mà tất cả đều lừng chừng, người nọ trông chờ người kia, và không mấy ai dám dấn thân hy sinh một cách hết mình.
Cũng bởi mỗi người chúng ta, mỗi người chưa vượt qua chính mình, chưa thoát khỏi sự ràng buộc của quyền lợi của mỗi cá nhân. Nghĩa là tiếp tục rơi vào cái vòng luẩn quẩn thì điều này sẽ rất khó.
Ngày 09 tháng 4 năm 2013
  Kami - (RFA Blog's)  

Các bạn nghề của Đoàn Văn Vươn kháng cáo




Thành hội nghề cá Hải Phòng
LCHNTTSNL huyện Tiên Lãng
Số: 11/ ĐKNLCH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
                                                                                Tiên Lãng, ngày  09  tháng 4 năm 2013
 
ĐƠN KIẾN NGHỊ
“Về bản án hình sự ngày 05/4/2013 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng”.
Kính gửi : -  Ông Chánh  án Toà án nhân dân Tối cao.
           - Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao.
Vừa qua LCHNTTSNL huyện Tiên Lãng được biết, ngày 05/4/2013 Toà án nhân dân thành phố Hải phòng trong phiên sơ thẩm hình sự đã ra phán quyết quy kết ông Đoàn Văn Vươn là Chủ tịch LCHNTTSNL huyện Tiên Lãng và 05 người trong gia đình ông Đoàn Văn Vươn về tội “ Giết người không đạt và chống người thi hành công vụ”. Đồng thời định khung hình phạt như bản án đã tuyên mà quý ông đã được biết. Trước phán quyết đó BCHLCHNTTSNL huyện Tiên Lãng lấy làm tiếc và hoàn toàn phản đối phán quyết đó.
Đồng thời đề nghị ông xem xét phúc thẩm theo hướng huỷ bản án của Toà án nhân dân Hải Phòng áp dụng với anh em ông Đoàn Văn Vươn, trả tự do cho họ, bồi thường tổn thất về tinh thần sức khoẻ cho họ theo quy định của pháp luật. Vì lí do dưới đây.
Lí do thứ nhất
Hành vi của anh em ông Đoàn Văn Vươn là hành vi phòng vệ chính đáng trong tình thế cấp thiết để chống lại đoàn cưỡng chế lạm dụng công vụ chứ không phải là hành vi giết người không đạt và chống người thi hành công vụ chính đáng.
Tại khoản 1 Điều 15 Luật Hình sự có ghi “ Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm lợi ích nói trên”. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
Khoản 1 Điều 16 Luật hình sự có ghi “ Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.
Đối chiếu với Kết luận của Công an Hải Phòng, bản Cáo trạng VKS thành phố Hải Phòng đã thừa nhận và trên thực tế động cơ mục đích của anh em ông Đoàn Văn Vươn bàn bạc để quyết tâm ngăn cản, chống đối để giữ lại đầm. Như vậy, phù hợp với tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật hình sự. Việc anh em ông Đoàn Văn Vươn buộc phải phòng vệ chính đáng trong tình thế cấp thiết để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, tài sản hợp pháp của gia đình ông Đoàn Văn Vươn được Nhà nước thừa nhận, trên thực tế chỉ gây ra một thiệt hại nhỏ là hoàn toàn hợp pháp mà Nhà nước cho phép, được quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Hình sự, như chúng tôi viện dẫn ở trên là hoàn toàn chính đáng không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội , điều đó được thể hiện tại sao hành vi của anh em ông Đoàn Văn Vươn bị các cơ quan tư pháp ở Hải phòng cho là phạm tội thì lại được dư luận trong và ngoài Nước lên tiếng ủng hộ họ.
Tại công văn này chúng tôi lưu ý một tình tiết được cho là rất quan trọng đó là   Tại phiên toà đại diện những người được cho là bị hại đã rút hết yêu cầu đòi anh em ông Vươn bồi thường, chúng tôi cho rằng có lẽ vì họ nghĩ thiệt hại đó là rất nhỏ không đáng  yêu cầu anh em ông Vươn bồi thường, do đó họ đã rút lại yêu cầu bồi thường là hoàn toàn chính đáng. Như vậy phù hợp với tiêu chí được quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật hình sự như chúng tôi đã trích dẫn ở trên. Phù hợp với  tất cả những gì anh em ông Vươn  buộc phải lựa chọn là phòng vệ chính đáng trong tình thế cấp thiết , bắt buộc phải gây ra một thiệt hại nhỏ mới ngăn ngừa được đoàn cưỡng chề bất hợp pháp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,tài sản của gia đình ông  được Nhà nước thừa nhận .Chứ anh em ông Vươn không hề có ý đồ giết người hay chống người thi hành công vụ nếu việc làm của chính quyền huyện Tiên Lãng là chính đáng, hợp pháp.
Trong việc xung đột này chúng tôi nhận thấy:
Một bên là Chính quyền có hiểu biết kiến thức pháp luật, có lực lượng đông đảo được trang bị vũ khí, quân trang, quân dụng rất tinh nhuệ, việc làm đó của Chính quyền là trái pháp luật. Bản chất của hành vi đó là lạm dụng công vụ để  xâm phạm chỗ ở của công dân có tổ chức, vi phạm Điều 124 Luật Hình sự, huỷ hoại tài sản công dân có tổ chức, vi phạm Điều 143 Luật Hình sự, lạm dụng công vụ để xâm phạm chỗ ở, huỷ hoại tài sản, công dân có tổ chức, vi phạm điều 282 Luật hình sự, chứ  không phải thi hành công vụ một cách chính đáng. Đặc biệt vi phạm Điều 133 tội cướp tài sản công dân có tổ chức.
Điều 133: Tội cướp  tài sản: Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể kháng cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt tù…
Còn một bên gia đình anh em ông Vươn chỉ có ít người với trang thiết bị thô sơ , nhằm bảo vệ tài sản hợp pháp của mình. Do vậy, hành vi chống lại lực lượng cưỡng chế hùng hậu đó của anh em ông Vươn là hành vi phòng vệ chính đáng trong tình thế cấp thiết được quy định tại khoản 1 Điều 15, 16 Luật Hình sự, không phải là hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết được quy định tại khoản 2 Điều 15, khoản 2 Điều 16. Không phải là hành vi giết người chưa đạt hay chống người thi hành công vụ.
Do đó, hành vi phòng vệ chính đáng  trong tình thế cấp thiết của anh em Vươn  không phải là  tội phạm
Từ các lí lẽ trên, chúng tôi cho rằng bản án hình sự sơ thẩm ngày 05/04/2013 của Toà án nhân dân Hải Phòng tuyên án với anh em ông Đoàn Văn Vươn là không thoả đáng, vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội một cách nghiêm trọng.
Chính vì lí do đó, chúng tôi kính đề nghị ông Chánh án Toà án nhân dân Tối cao, ông Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao:
1 - Xem xét, đưa ra giải quyết theo hướng tuyên huỷ bản án hình sự sơ thẩm ngày 05/04/2013 của Toà án nhân dân Hải Phòng.
2 - Trả lại tự do cho tất cả mọi người trong gia đình ông Đoàn Văn Vươn bị Toà án thành phố Hải Phòng tuyên án.
3- Bồi thường toàn bộ thiệt hại về tinh thần và sức khoẻ cho gia đìng ông Vươn theo quy định của pháp luật.
4- Kính đề nghị Bộ công an sớm vào cuộc để điều tra lại toàn bộ vụ án mà chúng tôi nghi ngờ có quá nhiều điều khuất tất và oan trái.
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nơi nhận:
- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước,
- Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội.
- Thủ tướng Chính phủ, Các Phó Thủ tướng Chính phủ.
- Trưởng khối nội chính Trung ương.
- Bộ trưởng Bộ Công an.
- Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp Quốc hội.
- Chủ tịch Trung ương MTTQVN.
- Uỷ ban Đoàn kết công giáo Trung ương.Chủ tịch UBĐK công giáo HP.
- Linh mục nhà thờ Thuý Nẻo- Bắc Hưng – TL – HP.
- Các cơ quan thông tấn báo chí.
-Gia đình ông Vươn
- Như kính gửi.
- Lưu.
(Blog Tễu)

Đơn kháng cáo của anh Đoàn Văn Vươn


                                                         CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM                                                                    Độc lâp – Tự do – Hạnh phúc

                                                ĐƠN KHÁNG CÁO

         “Về bản án hình sự sơ thẩm ngày 10/4/2013 của Toà án thành phố Hải Phòng ”.



  • Kính gửi: Toà án hình sự phúc thẩm Toà án Nhân dân tối cao.
Tên tôi là: Đoàn Văn Vươn.
Địa chỉ: Thúy Nẻo – Bắc Hưng – Tiên Lãng – Hải Phòng .
Trong vai trò người bị hại tại vụ án hình sự liên quan đến việc huỷ hoại tài sản gia đình tôi xảy ra ngày 05 - 06/01/2012 tại Vinh Quang - Tiên Lãng - Hải Phòng.
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 51 Luật tố tụng Hình sự, chúng tôi làm đơn này gửi tới Quý toà.
Kính đề nghị Quý toà xem xét, đưa ra giải quyết phúc thẩm về Bản án hình sự sơ thẩm diễn ra từ ngày 08-10/04/2013 tại toà án thành phố Hải Phòng theo hướng tuyên huỷ bản án, giao toàn bộ hồ sơ cho bộ Công an để điều tra lại vụ án vì lý do sau đây.
Lý do thứ nhất
Định khung hình phạt với các bị cáo là quá nhẹ so với những gì họ đã gây ra cho nhà tôi mà pháp luật đã quy định đồng thời - Cố tình bỏ lọt tội phạm.
Về khung hình phạt với các bị cáo như toà đã tuyên. Chúng tôi không đồng ý, vì đó là trò chơi, trò hề, thách thức công luận, thách thức công lý của những người cầm cán công lý tại toà án Hải Phòng, tiếp tục làm nóng lên dư luận, không có tính răn đe với các đối tượng phạm tội mang tính chất nguy hiểm, gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản của nhân dân, nhằm kích động các phần tử thoái hoá, biến chất tại chính quyền sở tại và rộng hơn trên khắp lãnh thổ Việt Nam, tiếp tục bùng lên bất chấp pháp luật, bất chấp đạo đức xã hội, coi thường tính mạng và tài sản của công dân, để tự tung, tự tác thích làm gì thì làm, tuỳ thích mà không ai làm gì được họ.
Đặc biệt, tại phiên toà chúng tôi đã yêu cầu toà trả lại hồ sơ để điều tra lại vì các cơ quan tố tụng trước đó cố tình bỏ lọt tội phạm, không truy tố 19 đối tượng đốt, phá nhà chúng tôi, 2 người lái máy xúc phá nhà tôi gây thiệt hại đến tài sản nghiêm trọng nhưng không bị điều tra truy tố. Trong khi đó Cơ quan điều tra – Công an Hải Phòng đã xác định được danh tính của ban chỉ đạo cưỡng chế. Đây là những đối tượng quan trọng và nguy hiểm nhất cùng với ông Bùi Thế Nghĩa và ông Lê Văn Hiền quyết định gây ra vụ phá nhà và cướp của của gia đình tôi nhưng không bị truy tố về vai trò là chủ mưu. Đồng thời tôi cho rằng việc các đối tượng đó và các đối tượng khác trong vụ “Huỷ hoại tài sản” nhà tôi không phải chỉ phạm tội huỷ hoại mà còn phạm nhiều tội khác, như: Tội xâm phạm chỗ ở của công dân theo Điều 124 Luật Hình sự. Tội Tổ chức cướp tài sản của công dân theo Điều 133 Luật hình sự. Tội lạm quyền khi thi hành công vụ theo Điều 282 Luật Hình sự. Đối với ông Hiền người đứng đầu cần phải được truy tố thêm theo Điều 174 Luật Hình sự “ Tội vi phạm các quy định về quản lí đất đai.” Song, các cơ quan tố tụng trước đó và tại phiên Toà hôm nay đã bỏ qua. Theo tôi là không thể chấp nhận được.
Lý do thứ hai
Giá trị tài sản bị huỷ hoại, bị cướp không nói lên giá trị thật và còn nhiều thiếu sót trong quá trình điều tra về thiệt hại tài sản
Trước hết, gia đình tôi không đồng ý về giá trị công trình bị huỷ hoại đã được hội đồng định giá Hải Phòng xác định vì nó không phản ánh lên sự thật, đồng thời chúng tôi đề nghị Toà án yêu cầu Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát điều tra, thẩm định lại toàn bộ tài sản bị huỷ hoại chưa được điều tra như chăn màn, nồi, niêu, xoong, chảo, bát đĩa, quần áo, sách vở, đồ dùng học sinh, phương tiện đăng, đó, vó, chài, máy bơm, thuỷ sán, hoa màu, chuối chăn bị đánh cắp, bị công nhiên chiếm đoạt đều không được điều tra làm rõ. Song Toà án đã phớt lờ không hề đếm xỉa làm cho gia đình tôi vô cùng nhức nhối.
Vì các lí do đó, căn cứ Luật Tố tụng hình sự, nay gia đình tôi kính đề nghị:
1- Kính đề nghị Toà hình sự phúc thẩm, tòa án Nhân dân tối cao đưa ra xét xử theo hướng tuyên huỷ bản án sơ thấm hình sự ngày 10/04/2013 của Toà án Nhân dân thành phố Hái Phòng.
2- Giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Bộ công an để điều tra lại vụ án. Đề nghị truy tố tất cả danh sách ban chỉ đạo cưỡng chế, những đối tượng đập, đốt, phá, cướp tài sản của gia đình tôi cùng 2 đối tượng lái máy xúc đã gây ra hậu quả nghiêm trọng này. Khép các đối tượng bị truy tố về tội danh cướp tài sản, xâm phạm chỗ ở của công dân, lạm dụng công vụ để cướp, huỷ hoại tài sản công dân có tổ chức được quy định tại Luật Hình sự và điều tra thẩm định lại tài sản của gia đình tôi bị huỷ hoại, bị chiếm đoạt.
3- Xác minh làm rõ động cơ của các điều tra viên, KS viên, thẩm phán được giao nhiệm vụ điều tra, kiểm sát, xét xử vụ án này đã đưa ra bản kết luận, cáo trạng, bản án đó để xử lí theo Điều 294 Luật hình sự về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Vinh Quang, ngày 10/4/2013
Người làm đơn
Đoàn Văn Vươn

Nơi nhận:

- Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ,
- Chủ nhiệm kiểm tra TƯ Đảng,
- TANDTC, VKSNDTC,
- Bộ trưởng Bộ công an,
- Chánh thanh tra Bộ công an,
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
- Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN,,
- Chủ tịch UBND thành phố HP,
- VKS, Tòa án, Thanh tra, Giám đốc công an HP, Giám đốc sở Tư pháp Hải Phòng,
- Các cơ quan thông tấn, báo chí,
- Lưu.
(Blog Tễu) 

Đại tướng Phùng Quang Thanh: Cảnh sát biển: Lực lượng nòng cốt trong thực thi Pháp luật trên biển

Sáng ngày 10-4, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã đến thăm và kiểm tra tại Cục Cảnh sát biển Việt Nam. Tháp tùng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có Trung tướng Nguyễn Châu Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Thủ trưởng các cục: Cán bộ, Tài chính, Quân lực và Cục Kế hoạch và Đầu tư…
Báo cáo khái quát về chức năng nhiệm vụ, tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ của Lực lượng Cảnh sát biển, Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm, Cục trưởng Cục Cảnh sát biển khẳng định: Trong những năm qua Cục Cảnh sát biển luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng; sự phối hợp, tạo điều kiện của các cơ quan đơn vị trong và ngoài quân đội…Đảng ủy, chỉ huy Cục Cảnh sát biển đã lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ, có mặt hoàn thành xuất sắc, nhất là xử lý các tình huống trên biển, đấu tranh phòng chống buôn lậu, chống tội phạm và giữ gìn an ninh trên biển
Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng, kiểm tra máy bay tuần thám của Cục Cảnh sát biển tại Trung đoàn 918 ( Quân chủng Phòng không - Không quân)


Nổi bật là việc quán triệt và chấp hành nghiêm các chỉ thị mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng về công tác sẵn sàng chiến đấu, thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, binh chủng, ngành trong thực hiện các nhiệm vụ SSCĐ. Năm 2012, Cục Cảnh sát biển đã tổ chức các biên đội tàu tuần tra khu vực quần đảo Trường Sa; bảo đảm tốt  việc phối thuộc với Quân chủng Hải quân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, ngăn chặn tàu nước ngoài xâm phạm vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Từ đầu năm đến nay, các tàu của Cục Cảnh sát biển đã phối thuộc với Quân chủng Hải quân bảo vệ việc thăm dò dầu khí, tham gia kiểm tra liên hiệp nghề cá, giám sát hoạt động nghề cá và 94 lần/ chiếc hoạt động huấn luyện, diễn tập, tìm kiếm cứu nạn, đưa đón tránh bão và thực hiện các nhiệm vụ khác.
Trong năm 2012 và 4 tháng đầu năm 2013 Lực lượng Cảnh sát biển đã thực hiện 529 đợt trinh sát, phát hiện 3.751 lần/chiếc tàu cá nước ngoài vi phạm vùng biển Việt Nam, xác minh, làm rõ 59 vụ với 221 tàu cá Việt Nam bị nước ngoài bắt giữ.  Bên cạnh đó đã tổ chức 5 tàu trấn áp, bắt giữ thành công 11 tên cướp biển mang quốc tịch nước ngoài, giải cứu thành công tàu ZAIFIRAH quốc tịch Malaysia và 300 tấn dầu bị cướp, bàn giao cho Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu điều tra, xác minh theo qui định của pháp luật… 
Công tác chống buôn lậu cũng được đặc biệt chú trọng. Theo đó đã phối hợp với các lực lượng bắt giữ 67 vụ, 168 đối tượng buôn lậu, gian lận thương mại. Số tiền xử phạt, phát mại tài sản công quỹ trên 77 tỷ đồng. Lực lượng phòng chống ma túy phối hợp với công an tiến hành điều tra, khám phá 155 chuyên án về ma túy, bắt giữ 280 đối tượng…

Đại tướng Phùng Quang Thanh, phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với Cục Cảnh sát biển
Phát biểu tại buổi làm việc, Đại tướng Phùng Quang Thanh biểu dương những kết quả lực lượng Cảnh sát biển đã đạt được trong thời gian qua. Đảng ủy, chỉ huy Cục đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của Đảng, Nhà nước, Quân đội, có nhiều biện pháp khắc phục khâu yếu, mặt yếu. Các đầu mối cơ quan đơn vị có nhiều chuyển biến tích cực, toàn diện, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và thực thi pháp luật trên biển ngày càng được nâng lên.
Đại tướng lưu ý, trong thời gian tới, trong công tác thực thi pháp luật trên biển, Cảnh sát biển vẫn luôn phải là lực lực nòng cốt, nhất là nhiệm vụ bảo vệ an toàn đối với công tác thăm dò, khai thác dầu khí; giữ môi trường hòa bình ổn định trên biển, tạo mối quan hệ đoàn kết với các nước ASEAN, đồng thời tiên phong trong công tác cứu hộ cứu nạn, chống buôn lậu, chống tội phạm ma túy. Trong lĩnh vực xây dựng lực lượng, quan tâm hơn nữa vấn đề xây dựng con người, công tác giáo dục chính trị tư tưởng,  xây dựng lực lượng Cảnh sát biển có bản lĩnh chính trị vững vàng, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao 
Định hướng về những nhiệm vụ chính trong năm 2013, Đại tướng Phùng Quang Thanh yêu cầu lực lượng Cảnh sát biển tập trung vào 7 nội dung chính. Trong đó cùng với nâng cao khả năng SSCĐ, xử lý có hiệu quả các tình huống trên biển Đông; tăng cường đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm và tội phạm bảo đảm an ninh trật tự, an toàn trên biển; chủ động thực hiện nhiệm vụ tham gia tìm kiếm cứu nạn… cần chú trọng thực hiện tốt nhiệm vụ hợp tác quốc tế; ưu tiên bảo đảm kỹ thuật cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên biển…

Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm, báo cáo tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ của Lực lượng Cảnh sát biển

Tại buổi làm việc, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cũng đã kết luận một số vấn đề mà Đảng ủy, chỉ huy Cục Cảnh sát biển kiến nghị. Theo đó Bộ trưởng nhất trí về mặt chủ trương, từng bước đầu tư, đóng mới các gam tàu có lượng giãn nước lớn từ 2000 đến 5000 tấn; bổ sung nguồn vốn để tiếp tục thực hiện Dự án tổng thể xây dựng Cảnh sát biển; có cơ chế ngân sách bảo đảm kỹ thuật cho các tàu Cảnh sát biển tham gia hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo; bố trí vốn đền bù giải phóng mặt bằng; lập dự án xây dựng nhà công vụ tại (Khu B- Hà Đông – Hà Nội) cho cán bộ, nhân viên Lực lượng Cảnh sát biển …
Trước đó, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và đoàn công tác đã đến Trung đoàn Không quân 918 (Quân chủng Phòng không – Không quân) kiểm tra thực tế 2 máy bay tuần thám biển CASA – 212 của Cục Cảnh sát biển. Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ  và đội ngũ phi công của trung đoàn, Đại tướng bày tỏ sự hài lòng trong công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Trong đó, nhiều phi công có hệ số giờ bay đạt trên 300%. Đặc biệt trung đoàn đã tiếp nhận, bàn giao kỹ thuật và sử dụng thành thạo máy bay tuần thám của Cục Cảnh sát biển. Đại tướng lưu ý Trung đoàn 918 và Quân Chủng Phòng không – Không quân cần tiếp tục nghiên cứu, tham mưu với Bộ Quốc phòng, có chế độ đãi ngộ phù hợp với đội ngũ phi công có kinh nghiệm, đạt hệ số giờ bay cao, nhất là việc bảo đảm phụ cấp cho cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ mang tính chất đặc thù…

Duy Đông - Phú Sơn
(QĐND) 

Vụ dán cờ Trung Quốc lên nho Việt Nam: Giở trò 'câu giờ' để hợp thức hóa!

Người tiêu dùng thì đi từ bất ngờ đến thất vọng, báo chí thì cố sục sạo tìm sự thật, trong khi "nhân vật chính" Big C chọn giải pháp "im lặng là vàng". Và chắc cũng chẳng ai bất ngờ nếu trong "khoảng lặng đáng ngờ" đó, Big C sẽ đủ thời gian để hợp thức hóa giấy tờ cho nho có gắn cờ Trung Quốc.
Gần một tháng trôi qua, kể từ ngày (15/3) khi một khách hàng đến siêu thị Big C The Garden mua nho và phát hiện loại nho xanh có gắn cờ Trung Quốc nhưng trên bao bì lại ghi là nho Việt Nam. Trước sự “lệch sóng” về thông tin nguồn gốc này, không chỉ khách hàng trên mà người tiêu dùng tin tưởng Big C phải "giật mình" với một siêu thị lớn nhưng uy tín vốn đã nhỏ này.
Để đi tìm câu trả lời về loại nho xanh gắn cờ Trung Quốc được bày bán ở Big C có nguồn gốc xuất xứ chính xác ở đâu, phóng viên Petrotimes đã liên hệ với rất nhiều cơ quan chức năng và chính những người liên quan nhưng chỉ nhận được những lời từ chối khéo...

Sản phẩm nho xanh gắn cờ Trung Quốc được Big C gọi là nho Việt Nam.
Đã rất nhiều lần, Petrotimes liên hệ qua điện thoại, email với bà Nguyễn Thanh Huyền – Phụ trách truyền thông của Big C miền Bắc thì người này chỉ nói câu duy nhất, Big C đã có thông cáo báo chí về vụ việc, những gì muốn nói đã nói hết trong thông cáo này rồi.
Thế nhưng, cái thông cáo báo chí mà Big C khẳng định đã nói hết vụ việc này chỉ dài độ nửa trang giấy và chối bay chối biến trách nhiệm.
Trong khi đó, trong một lần lên tiếng nói về việc gắn cờ Trung Quốc lên nho, bà Dương Thị Quỳnh Trang - Giám đốc Quan hệ Công chúng & Đối Ngoại Big C Việt Nam khẳng định, đây là nho xanh được trồng ở vùng Ninh Thuận, do một doanh nghiệp có trụ sở ở Đan Phượng cung cấp và có đầy đủ giấy tờ theo quy định. Việc xuất hiện cờ Trung Quốc trên nho chỉ là nhầm lẫn trong khâu đóng gói sản phẩm.
Tuy nhiên, bà Trang cũng như cả siêu thị Big và nhà cung cấp Minh Quang không xuất trình nổi một tờ giấy chứng nhận nào.
Trái lại, sau khi phát ra cái thông cáo báo chí thì Big C bắt đầu "bặt âm vô tín". Big C từ chối tất cả các cơ quan báo chí liên hệ làm việc, mặc báo chí mày mò tìm tư liệu và người tiêu dùng hoang mang... Chính sự im lặng của Big C càng khiến dư luận hoài nghi về nguồn gốc nho.
Để tránh bị báo chí "bới" nguồn gốc của nho, Big C chọn cách im lặng, sau đó lại đến lượt nhà cung cấp nho cho Big C cũng chơi bài "ngậm hột thị". Trong một lần trả lời PV Petrotimes, bà Bùi Thị Dung - Giám đốc Công ty TNHH Xuất nhập khẩu và Thương mại tổng hợp Minh Quang hồn nhiên "thổ lộ": Không nhớ số điện thoại, tên, địa chỉ nhà vườn đã cung cấp nho...
Sau lần trót "thổ lộ thật lòng", bà Dung cũng quay sang "im lặng", không tiếp xúc với báo chí.
Sự im lặng này càng khiến người tiêu dùng hoài nghi. Nếu đúng đây là nho Ninh Thuận thật thì chỉ cần trình các giấy tờ chứng minh xuất xứ thì câu chuyện có lẽ đã dừng lại. Dư luận đã dịu đi không còn chút hoài nghi nào.
Và chỉ đến khi dư luận gần như bất lực trong hành trình đi tìm sự thật về nguồn gốc của loại nho này thì cơ quan quản lý thị trường Hà Nội đã vào cuộc.
Bà Nguyễn Thị Như Mai – Phó giám đốc Sở Công Thương, kiêm Chi cục Trưởng Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội khẳng định: Đây là vụ việc không bình thường. Để truy tìm nguồn gốc của nho, cần sự phối hợp và kiến thức chuyên môn. Hiện lực lượng quản lý thị trường đang phối hợp với Công an Hà Nội để điều tra làm rõ việc gắn nhầm cờ Trung Quốc nhầm lẫn hay cố ý. Việc gắn nhầm cờ này chúng ta không chỉ quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa, mà nó còn cả liên quan cả mặt chính trị.
Lời bà Mai, dù rất mạnh mẽ nhưng chưa thể giúp giải đáp được mối nghi ngờ về nguồn gốc xuất xứ sản phẩm. Sự im lặng kỳ lạ của Big C cùng với động thái nhanh chóng xử lý nhân viên dán cờ càng làm mối lo ngại lớn dần lên.
Sau khi cơ quan quản lý thị trường khẳng định sẽ làm rõ vụ việc, dư luận một phần nào nguôi ngoai đi sự tức giận. Thế nhưng, một tuần trôi qua, quản lý thị trường Hà Nội vẫn ì ạch điều tra và chưa công bố được kết quả. Dù rằng ai cũng biết, nếu đúng là nho Ninh Thuận hay không thì chỉ cần kiểm tra giấy tờ. Và công việc này chắc chỉ một buổi sáng cũng có thể làm xong. Vậy, tại sao vẫn chưa có kết quả, phải chăng trong vụ việc này có gì mờ ám... Hay Big C "quá lớn" đối với tầm vóc của một Chi Cục quản lý thị trường?
Bên cạnh đó, theo nguồn tin riêng của Petrotimes cho biết, mấy ngày nay bà chủ của công ty Minh Quang đang chạy như con thoi vào Tháp Chàm (Ninh Thuận).
"Đợt này nho Ninh Thuận đang vào mùa, sản lượng lớn nên nếu các đơn vị ngoài Hà Nội vào đặt vấn đề mua nho. Đồng thời họ có thể xin thêm giấy tờ hợp thức hóa việc mua bán từ trước tới nay. Nếu họ dở trò này thì mọi hoài nghi coi như đi vào ngõ cụt" - ông Trần Mạnh Chiến, chuyên gia tư vấn thị trường của Hiệp hội nho Ninh Thuận nói.
Nhiều chuyên gia về kinh doanh và thương mại bày tỏ: Nếu lời Big C nói là đúng thì việc chứng minh nho Ninh Thuận hay không quá đơn giản. Thế nhưng, việc Big C và nhà cung cấp im lặng là biểu hiện cho sự "có vấn đề". Rất nhiều gian thương dùng biện pháp kéo dài thời gian để "tranh thủ" hóa phép giấy tờ.
Và sắp tới, dù kết quả kiểm tra có là như thế nào đi chăng nữa, giá trị của một câu trả lời cũng đã bị bào mòn đi rất nhiều. Bị bào mòn như chính niềm tin của người tiêu dùng với Big C, với cả cơ quan quản lý thị trường Hà Nội.
Nhóm phóng viên Petrotimes
(Ptrotimes)

Các quan chức Tiên Lãng bị kết tội gì?

Hôm nay, tòa án nhân dân thành phố Hải phòng tuyên án đối với những quan chức huyện Tiên lãng về những tội danh “hủy hoại tài sản” và “thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng” trong vụ án được nhiều người trong nước quan tâm là vụ ông Đoàn Văn Vươn phải sử dụng súng hoa cải và bình gas tự chế để ngăn đoàn cưỡng chế.
Ngay sau khi những bản án được tuyên, Gia Minh hỏi chuyện ông Võ Văn Luân, Tổng thư ký Liên chi hội nuôi trồng thủy sản nước lợ huyện Tiên  lãng về những mức án đó.
"Trò hề của TP Hải Phòng"
Trước hết ông Võ Văn Luân đưa ra nhận định:
“Cái kịch bản đó chúng tôi đã dự kiến rồi và chúng tôi cho rằng đó đúng thật sự là trò hề mà thành phố Hải phòng này đã diễn. Chẳng giấu gì anh, sau khi nhận được kết quả phiên tòa đó tôi có gọi cho ông Nghiêm-Chủ tịch xã Vinh quang- trước kia cùng đi bộ đội, cùng học với tôi. Anh Nghiêm cười to và bảo trong này dân Tiên lãng chúng tôi biết tất cả các vấn đề đó rồi. Ông Hiền, ông Liêm cũng đã nói ra với dân chúng tôi là ông đã chạy án được rồi. Báo cáo anh chuyện là như thế đấy. Phiên tòa ở Hải phòng thì chắc chắn là không có công lý rồi và tất nhiên sẽ có phiên tòa phúc thẩm. Chúng tôi muốn chờ tới đây thì Bộ công an, Viện Kiểm sát và Tòa án tối cao sẽ giải quyết vụ này như thế nào để mà có câu kết nhằm trả lời cho vấn đề này”.

000_Hkg8442478-305.jpg
Ông Đoàn Văn Vươn (thứ 2 từ bên trái) trong phiên sơ thẩm tại Tòa Án Hải Phòng hôm 02/4/2013
Gia Minh: Như vậy là mọi người vẫn chờ đến phiên xử phúc thẩm nhưng ông có nghĩ là phiên xử phúc thẩm sẽ có được sớm tổ chức không ạ?
Ô. Võ Văn Luân: Theo luật tố tụng hình sự thì phải từ bốn tháng trở ra. Như vậy bây giờ tháng 4 thì có thể nhanh nhất là đầu tháng 8.
Gia Minh: Trong khi phải chờ đợi với khoảng hơn 1 năm trời đã qua và bây giờ thì phải thêm mấy tháng nữa thì ông thấy tình hình sản xuất, cuộc sống của bà con trong Liên chi hội hiện nay như thế nào?
Ô. Võ Văn Luân: Thứ nhất, chúng tôi vẫn tin tưởng vào cách xử lý của chính phủ. Thứ hai, về luật đất đai,Liên chi hội chúng tôi vẫn sinh hoạt bình thường. Những gì đã xảy ra rồi thì  cố gắng khắc phục chứ chúng tôi đã có rất nhiều ý kiến với thành phố Hải phòng nhưng cho đến nay thành phố cũng chưa có ý kiến gì về việc này, giải quyết vấn đề bồi thường sau khi đã có những quyết định của pháp luật. Sắp tới đây chúng tôi vẫn còn phải xem xét, lắng nghe và đang theo dõi. Còn kết quả vụ án  thì án hình sự đã có nhưng án hành chính thì sắp tới đây tôi đã được anh Vươn ủy quyền để thay mặt anh giải quyết. Tôi chắc chắn vụ án hành chính này là tiếng nói lớn nhất vì sau khi có quyết định thu hồi đất của huyện Tiên lãng đối với anh Vươn thì  gây ra hậu quả như thế nào, và rồi hàng trăm hộ dân Tiên lãng sẽ phải giải quyết như thế nào và thành phố Hải phòng sẽ trả lời như thế nào...Tôi chắc chắn các anh sẽ theo dõi chặt chẽ vấn đề này.
Gia Minh: Phía cơ quan chức năng họ đã thông báo khi nào thì vụ án hành chính đó sẽ được tổ chức, thưa ông?
Ô. Võ Văn Luân: Hôm vừa rồi tôi có lên yêu cầu Tòa án huyện Tiên lãng và họ có trả lời là họ sẽ thành lập hội đồng định giá tài sản. Bắt đầu từ ngày mai họ sẽ có giấy triệu tập những người cho anh Vươn vay tiền để người ta chất vấn xem cái lỗi thu hồi đất đai liên quan đến các nhà đầu tư cho anh Vươn như thế nào. Tôi sẽ đại diện cho anh Vươn ở phiên tòa đấy để giải trình với tòa án rằng các nhà đầu tư cho anh Vươn vay mà Ủy ban huyện Tiên lãng đã gây ra thiệt hại thì họ có bồi thường cho các nhà đầu tư hay không thì sau đó tôi sẽ trả lời thêm.
Đòi quyền lợi cho gia đình ông Vươn
Gia Minh: Trong vụ án hành chính thì phía Liên chi hội có mời luật sư nào tham gia để bảo vệ cái quyền lợi cho người dân ở đó không ạ?
Ô. Võ Văn Luân: Hiện nay tôi chưa có mời các luật sư. Vụ án hành chính này thì tôi nghĩ chỉ là vấn đề dân sự thôi, trong trường hợp phải lựa chọn luật sư thì tôi sẽ phải nghiên cứu. Vụ án này thật sự phức tạp nhưng tôi tin vào trình độ và khả năng của mình, tuy tôi không phải là luật sư nhưng tôi có thể đảm đương được trách nhiệm này để tham gia giải quyết một cách thỏa đáng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của anh Vươn mà  nhà nước đã thừa nhận.
Gia Minh: Qua hai vụ án hình sự vừa rồi: một vụ xử những người trong gia đình ông Vươn và một vụ xử các quan chức huyện Tiên lãng đã gây ra vụ việc vừa rồi mà bản án mọi người vẫn cho rằng không công bằng, không thỏa đáng thì sắp đến đây ông vẫn tin tưởng như thế hay sao ạ? Ông có nghĩ là sẽ đòi hỏi được quyền lợi cho gia đình ông Vươn cũng như là những người dân ở đó trong Liên chi hội?
Ô. Võ Văn Luân: Hôm qua chúng đã có công văn số 11 về vụ án hình sự, đề nghị với tòa án và Viện kiểm sát tối cao cùng các cơ quan chức năng đề nghị phóng thích gia đình ông Vươn. Đó là điều thứ nhất.  Điều thứ hai là hủy bản án sơ thẩm hình sự. Và điều thứ ba là trả lại và bồi thường thiệt hại cho gia đình ông Vươn. Lý do là các bản án đó không thuyết phục và không có cơ sở pháp lý. Hành vi của gia đình ông Vươn trong vụ án hình sự đó là phòng vệ chính đáng trong tình huống cấp thiết theo điều 15, 16 khoản I luật hình sự. Dựa trên những cơ sở đó mà  chúng tôi đã gởi công văn. Tôi tin rằng nếu như tất cả các luật sư tham gia vụ án  theo đúng định hướng này thì Tóa án tối cao sẽ phóng thích gia đình ông Vươn theo đúng luật hình sự Việt Nam đã đề ra. Còn về vụ án hành chính thì chúng tôi cũng đang chờ để xem như thế nào. Còn vụ án thứ hai về việc hủy hoại tài sản như tôi đã nêu thì chỉ là một trò hề của thành phố Hải phòng nhưng tôi tin tưởng Tòa án tối cao sẽ có nhiều biến chuyển với các khung hình phạt đối với các bị cáo trong vụ đó.
Gia Minh: Cảm ơn ông Tổng thư ký của Liên chi hội nuôi trồng thủy hải sản nước lợ huyện Tiên lãng về những ý kiến của các vụ án vừa rồi có liên quan đến địa phương.
Gia Minh, biên tập viên RFA
2013-04-10

Trung Quốc ngang nhiên lên kế hoạch điều tra hải đảo tại Biển Đông

Ngày 9/4, tờ Nhân dân nhật báo cho biết, Cục Hải dương Quốc gia Trung Quốc vừa thông qua kế hoạch tổng điều tra các đảo mà Trung Quốc tự nhận chủ quyền. Trong đó đặc biệt chú trọng điều tra khu vực các đảo trên Biển Đông và các đảo thuộc cái gọi là “thành phố Tam Sa”.
Kể từ khi thành lập trái phép cái gọi là "thành phố Tam Sa" hồi tháng 7/2012 đến nay, Trung Quốc liên tục có những hành động quấy rối, làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông
Trong khi đó, thực tế, cái gọi là “thành phố Tam Sa” là đơn vị hành chính phi pháp do Trung Quốc tự lập ra để quản lý trái phép 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Theo đó, phạm vi công tác điều tra này sẽ tiến hành đối với 2.810 đảo có người ở, các đảo không người thuộc tỉnh Hà Bắc, Thiên Tân, Giang Tô, Thượng Hải, các đảo ven bờ, các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.
Việc Trung Quốc tiến hành tổng điều tra đối với các đảo trên phạm vi toàn quốc và các đảo đang chiếm đóng tại Biển Đông nhằm tăng cường công tác quản lý trong việc khai thác, sử dụng vùng biển và hải đảo. Bên cạnh đó còn phục vụ công tác thu thập dữ liệu nhằm khẳng định cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc trên Biển Đông. Theo kế hoạch, toàn bộ công tác điều tra sẽ được cơ quan chức năng Trung Quốc hoàn thành và báo cáo Quốc vụ viện trước cuối tháng 8/2013.
Bên cạnh các hoạt động điều tra tình hình hải đảo, Cục bản đồ Trung Quốc cũng đang tiến hành hoàn thiện vị trí địa lý cụ thể đối với cái gọi là “đường lưỡi bò”, các đảo Trung Quốc đang chiếm đóng….nhằm từng bước hợp pháp hóa các điểm mà Trung Quốc nhận vơ chủ quyền.
Việc Trung Quốc ngang nhiên tiến hành điều tra địa lý đối với các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là hành vi vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh hải của Việt Nam, làm phức tạp thêm tình hình vốn đang căng thẳng tại Biển Đông.
Lam Ngọc
(Petrotimes)

Doanh nghiệp “ăn” hết lợi nhuận của người trồng lúa

Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu gạo tăng rất cao trong khi thu nhập của người trồng lúa ngày càng giảm đến mức báo động. Đây là số liệu vừa được Oxfam, Tổ chức phi chính phủ quốc tế về chống đói nghèo và bất công ở nông thôn và Viện Chính sách Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Việt Nam phổ biến.  Nam Nguyên trình bày vấn đề này.

người nông dân Việt Nam cần cù chăm chỉ, làm việc từ tờ mờ sáng
Người nông dân Việt Nam cần cù chăm chỉ, làm việc từ tờ mờ sáng để rồi lúc nào cũng là thành phần chịu thiệt thòi nhiêu nhật
Thu nhập nông dân trồng lúa giảm đến báo động
Theo tài liệu vừa được công bố vào tuần lễ đầu tháng 4, lợi tức của nông dân trồng lúa đồng bằng sông Cửu Long giảm xuống 7 lần trong giai đoạn 2006-2010. Dân Việt Online đưa tin, điều tra ghi nhận tại vựa lúa xuất khẩu chính của Việt Nam, vào năm 2006 người trồng lúa có thể thu được 70% tổng lợi nhuận từ sản xuất và kinh doanh lúa gạo, nhưng đến năm 2010 mức này chỉ còn 10%.
Trong khi đó, điều tra nghiên cứu sâu tại 2 doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở An Giang cho thấy, tỷ trọng từ xuất khẩu gạo trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp chỉ có 7% vào năm 2007 đã tăng lên 99% năm 2008 và năm 2010 là 97%.
Trả lời chúng tôi vào tối 9/4, từ Hà Nội TS Đặng Kim Sơn. Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn nhìn nhận Việt Nam có quá nhiều người trồng lúa và diện tích nông hộ rất nhỏ bé. Ông nói:
“Có thể nói cho đến bây giờ các chính sách hỗ trợ cho người trồng lúa mà bảo đảm được thu nhập ổn định, thì vẫn là một thách thức chưa có lời giải rõ ràng.”
Trong một tiến trình dài từ lúc ngăn sông cấm chợ thiếu lương thực phải nhập khẩu trong thập niên 1980, ngày nay Việt Nam xuất khẩu từ 6 tới hơn 7 triệu tấn gạo mỗi năm, nhưng đa số nông dân làm lúa là để có cơm ăn chứ không hy vọng nhờ vào cây lúa để nâng cao cuộc sống. Một người trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long phát biểu:
“Số nhiều mỗi hộ khoảng 1 héc-ta, những hộ làm 1 héc-ta trở xuống con cái họ phải đi làm thuê làm mướn cho những người đất nhiều, một số thì đi xứ khác kiếm việc. Nhưng mà cũng phải bám ruộng, nông dân nếu bỏ ruộng họ đâu biết làm gì để sống, phải bám hoài, bám ruộng để sống.”
Trong tài liệu mang tên “ Ai được lợi từ việc tăng giá gạo”, các chuyên gia của Oxfam và Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn vạch ra một sự mâu thuẫn trong sản xuất và kinh doanh lúa gạo. Theo đó, “sản xuất lúa gạo ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực, nhưng lại chưa góp phần tạo ra nguồn thu nhập chính cho các hộ trồng lúa.”
Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi, TS Đặng Kim Sơn nhận định, vấn đề nâng cao thu nhập cho người dân trồng lúa, nhất là vùng chủ yếu sản xuất lúa không có ngành nghề gì khác là một yêu cầu rất quan trọng. Hiện nay đang có một số chính sách thay đổi tương đối mạnh hơn để nhằm cải thiện tình trạng này. Thứ nhất là chủ trương xây dựng các kho chứa tại đồng bằng sông Cửu Long để giảm bớt thất thoát sau thu hoạch, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nông dân thu hoạch lúa trong mùa mưa.
Thứ hai là các chính sách hỗ trợ cho mô hình ‘cánh đồng mẫu lớn’ để các doanh nghiệp kết hợp với nông dân, vừa cung cấp ứng trước vật tư đầu vào, cung cấp dịch vụ khuyến nông và có thể giải quyết tốt hơn khâu sản phẩm đầu ra như sấy lúa và nhà kho tạm trữ cho dân. Các chính sách này đang được tiến hành song song với việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt chuyển phần cho vay để dân và chính quyền địa phương đưa một phần diện tích lúa hiện nay được tưới bằng các máy động lực sang tưới bằng điện nhờ đó làm giảm chi phí sản xuất lúa. TS Đặng Kim Sơn tiếp lời:
“Đấy là những chính sách lớn thay đổi về sản xuất. Ngoài ra chủ trương lâu nay vẫn làm là thu mua tạm trữ lúa của dân thông qua ngân hàng và thông qua doanh nghiệp thì có quá nhiều ý kiến cho rằng nó không trực tiếp đến tay người dân và họ được hưởng lới rất thấp. Vì thế sắp tới sẽ chuyển sang tìm cách cho vay hoặc hỗ trợ trực tiếp cho người nông dân. Những định hướng như thế đang được làm. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng, một trong những việc quan trọng phải làm là phải đa dạng hóa sản xuất cho người nông dân sản xuất lúa, đào tạo nghề, tạo ra việc làm cho lao động dư ra từ nông thôn. Nếu chỉ trồng trọt một cây lúa và với chính sách đầu tư như hiện nay thì chưa tạo được sự chuyển biến quan trọng cải thiện thu nhập của người trồng lúa được.”
Thu mua tạm trữ chỉ có lợi cho doanh nghiệp
Vấn đề thu mua tạm trữ gạo đầy tranh cãi như TS Đặng Kim Sơn vừa nêu ra, cũng là một phần trong nội dung nghiên cứu phối hợp giữa Oxfam và Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn. Các chuyên gia kết luận là nông dân không được hưởng lợi từ chính sách thu mua tạm trữ gạo qua 3 lý do chính. Đó là việc xác định giá mua tạm trữ không phù hợp, doanh nghiệp mua gạo qua thương lái, không mua trực tiếp của nông dân. Thời gian cho vay tạm trữ thường kéo dài 3 tháng, nhưng doanh nghiệp không mua tại thời điểm giá cao, mà chỉ tiến hành khi giá ở mức thấp; trong khi thu hoạch lúa ở các tỉnh nhiều nơi sớm trễ khác nhau nhưng thời gian mua tạm trữ là cố định.
Trong dịp trả lời chúng tôi, ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên Chủ tịch An Giang nhận định:
“Một nhược điểm của ngành lúa gạo của Việt Nam, tôi thấy tới bây giờ mà còn duy trì cơ chế này thì đúng là bị động, là điều chưa tiến bộ. Chính phủ vì nôn nóng, chính phủ cũng chưa có cách nào để giúp cho các doanh nghiệp tự lực vươn lên đâu, phấn đấu lời ăn lỗ chịu, thủ chắc phần mình thì đẩy cái phần khó cho người nông dân. Chính phủ ở giữa để xử cái này thì nó chỉ mang tính giải pháp tình thế. Mà tình thế thì những năm đầu nó phù hợp, còn cứ kéo dài thế này thì nông dân chịu thiệt tiếp và chánh phủ cũng thiệt luôn vì mất một số tiền. Cho nên kiểu kinh doanh thế này là không tốt.”
Theo TS Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Cần Thơ, cơ chế mua tạm trữ gạo hiện nay không những lỗi thời mà còn làm biến dạng thị trường. Ông nói:
“Tôi không ủng hộ lắm hình thức tạm trữ hiện nay và chưa có cách thức nào khác hơn hình thức hiện nay là nhờ qua các công ty thu mua. Nhưng nếu nhờ các công ty thu mua lúa gạo thì lợi ích nếu có là ở họ, cũng có thể họ tận dụng được để hưởng lãi suất cấp bù chứ cũng không chắc chắn lắm là họ tạm trữ trong kho theo kỳ vọng đâu.”
Tài liệu nghiên cứu điều tra phối hợp giữa Oxfam và Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn nêu lên một vấn nạn Đó là doanh nghiệp hưởng lợi lớn trong chuỗi giá trị sản xuất-kinh doanh lúa gạo, nhưng họ không màng đầu tư trở lại vào đồng ruộng hoặc giúp đỡ nông dân.
Theo chúng tôi tìm hiểu, hầu như các đại gia hưởng lợi nhiều nhất từ xuất khẩu gạo như các Tổng Công ty Lương thực Nhà nước lại chính là các đơn vị không tham gia chủ trương ‘cánh đồng mẫu lớn’. Châm ngôn kinh doanh được cho là mua gạo với giá rẻ nhất và mong hưởng lợi cao nhất qua chênh lệch giá.
Có lẽ đó là lý do tại sao lợi nhuận của nông dân trồng lúa càng ngày càng giảm, trong khi Việt Nam tăng tốc xuất khẩu gạo duy trì vị trí thứ nhì trên thế giới.
Nam Nguyên, phóng viên RFA
2013-04-10   

Gần 80.000 lượng vàng đi đâu và vì sao giá vàng đấu thầu lại cao hơn thị trường?

Chênh lệch giá vàng trong nước hạ nhiệt không đáng kể, dù các ngân hàng và DN mua tới gần 80.000 lượng vàng chỉ trong ít ngày qua đã đặt ra câu hỏi về sự ''biến mất bí ẩn'' của số vàng mua tại các phiên đấu thầu.
Phiên đấu thầu bán vàng miếng thứ tư được NHNN tổ chức sáng qua (9.4) kết thúc với phần lớn số vàng mang ra chào bán được các DN tham gia đấu thầu mua vào. Cụ thể, theo công bố của Vụ Quản lý ngoại hối (NHNN), trong tổng số 26.000 lượng vàng mang ra chào bán, có 15 thành viên tham gia phiên là các TCTD và DN trúng thầu với khối lượng 25.600 lượng. Giá trúng thầu cao nhất là 43,35 triệu đồng/lượng và giá trúng thầu thấp nhất là 43,3 triệu đồng/lượng.

Gần 80.000 lượng vàng đi đâu?
Gần 80.000 lượng vàng đi đâu? 
Một điểm đáng lưu ý, đây cũng là phiên đấu thầu thứ ba liên tiếp (trong tổng số bốn phiên), NHNN bán gần hết số vàng mang ra chào bán; nhờ đó cung cấp cho thị trường và các TCTD một lượng vàng miếng lên tới 79.000 lượng. Sau phiên đấu thầu buổi sáng, giá vàng miếng SJC có dấu hiệu giảm giá rõ rệt- còn 43,25-43,33 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, dù giá vàng trên thị trường thế giới cũng đang có xu hướng giảm, chênh lệch giá vàng giữa hai thị trường vẫn chưa có dấu hiệu giảm sút. Đến chiều tối 9.4, mỗi lượng vàng thế giới vẫn rẻ hơn giá vàng trong nước 3,58 triệu đồng.
Vì vậy, số vàng gần 80.000 lượng nói trên có được đưa ra thị trường thông qua kênh mua bán của các DN hay không là câu hỏi đáng được lưu tâm. Chênh lệch cao của giá vàng trong nước với giá vàng thế giới hạ nhiệt không đáng kể sau 4 phiên đấu thầu gợi lại một số hoài nghi về trạng thái thanh khoản vàng của một số NH hiện nay. Cần nhắc lại rằng, trạng thái thanh khoản vàng của các NH chính là nguyên do khiến NHNN phải liên tục gia hạn yêu việc ngừng huy động và cho vay vàng. Theo hạn định hiện nay là các TCTD đang huy động và còn số dư cho vay vốn bằng vàng được tiếp tục phát hành chứng chỉ huy động ngắn hạn mới đáo hạn trước 30.6.2013.
Nhu cầu của một số TCTD phải mua vàng để tất toán số dư vàng huy động đúng hạn nói trên có thể giải thích đường đi của một phần số vàng gần 80.000 lượng vừa được NHNN bán ra. Động thái này cũng không nằm ngoài dự tính của NHNN và theo nhận định của Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối - ông Nguyễn Quang Huy - tất nhiên các TCTD này sẽ ưu tiên mua vàng để tất toán số dư đó. Câu chuyện là, các NH nói trên sẽ cần bao nhiêu lượng vàng để hoàn tất việc tất toán và đóng trạng thái. Bởi phải đến lúc đó, toàn bộ số vàng bán ra sau các phiên đấu thầu mới có thể tới được thị trường thông qua các kênh mua bán của DN, tới tay người dân và may ra mới có tác động giảm mạnh chênh lệch giá trên thị trường.
Chỉ biết rằng, nhu cầu vàng của các TCTD không tính bằng lượng mà phải dùng tới đơn vị tấn. Con số thống kê của NHNN cho thấy, chỉ trong vòng 6 tháng (tính đến cuối tháng 10.2012), các TCTD phải mua tới hơn 60 tấn vàng để tất toán hợp đồng. Số vàng còn thiếu để hoàn tất việc tất toán vào thời điểm đó lên tới khoảng 20 tấn và việc các NH mua vàng- theo xác nhận của lãnh đạo NHNN, chính là nguyên nhân khiến giá trong nước (vào thời điểm cuối năm 2012) đắt hơn thế giới hàng triệu đồng một lượng. Có thể hình dung, chỉ khi nào cơn khát vàng của các NH chấm dứt, chênh lệch giá vàng mới có cơ may quay về khoảng chênh “mơ ước” 400 nghìn đồng mỗi lượng- như lời một lãnh đạo NHNN. 80.000 lượng vàng mà NHNN bán ra mấy ngày gần đây, quy ra chỉ tương đương có 3 tấn.
Hôm nay, cùng lúc bán 40.000 lượng vàng. Vụ Quản lý ngoại hối (NHNN) chiều ngày 9.4 thông báo sẽ tổ chức phiên đấu thầu vàng miếng thứ năm trong sáng nay (10.4). Thông báo này được NHNN gửi đến các TCTD và DN đã thiết lập quan hệ giao dịch mua, bán vàng miếng với NHNN ngay trong chiều cùng ngày. Khác với 4 phiên trước, trong phiên đấu thầu này, NHNN quyết định nâng tổng khối lượng vàng miếng dự kiến đấu thầu lên mức 40.000 lượng. Phiên đấu thầu thứ năm sẽ được tổ chức vào 9h sáng 10.4 với giá tham chiếu để tính giá trị đặt cọc là 43,29 triệu đồng/lượng. Dự kiến vào 12.4 tới, NHNN sẽ tổ chức phiên đấu thầu thứ sáu.
(Lao động)

Điều chuyển Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ Thủ Đô bằng... miệng!

Vụ ni chắc là "khẩn cấp" lắm đây nên mới điều một Tổng biên tập chỉ mằng miệng thế này. hehe

Ông Nguyễn Quang Hòa, Tổng biên tập báo Tuổi trẻ Thủ đô trao quà cho trẻ em làng SOS Hà Tĩnh.
(Tân Châu) - Dù ông Nguyễn Quang Hòa - Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ Thủ Đô - xác nhận là Thành đoàn Hà Nội (chủ quản tờ báo này) có họp và quyết định điều chuyển ông Hòa về Ban Tổ chức Thành đoàn, giao lại toàn bộ công việc cho phó Tổng biên tập bà Trần Thị Khiêm, thời hạn chót là 15/4/2013, tuy nhiên qua tìm hiểu của phóng viên, hiện chưa có văn bản nào chính thức về việc điều chuyển này.
Trả lời một tờ báo, ông Hòa cho rằng trước khi Thành đoàn điều chuyển công tác ông, ông có nghe dư luận về việc điều chuyển này. Liên quan tới nhân sự tờ báo này phía Nam. Thời gian gần đây, ông Nguyễn Văn Cương - phụ trách văn phòng Đại diện của báo Tuổi Trẻ Thủ Đô tại TP.HCM (đường Phan Văn Hớn, quận 12, TP.HCM), có những động thái liên hệ một số tờ báo để làm việc, cũng như công bố công khai với nội bộ về việc “nhận làm ấn phẩm về pháp luật”… điều này khiến dư luận đồn đoán ông Cương ra đi.
Trước đó, dư luận cũng đồn đoán ông Cương rời cương vị sau khi để vợ ông - bà Nguyễn Thị Thu Thủy - xưng là phóng viên báo Tuổi Trẻ Thủ Đô - đến huyện Tân Châu - Tây Ninh thực hiện những việc làm sai trái về mặt báo chí, bị dư luận lên tiếng tố cáo thu lợi hàng trăm triệu đồng, sự việc khiến Phòng An ninh Báo chí - Cục An ninh Thông tin truyền thông (Bộ Công an) vào cuộc. Ông Cương cũng tự in và cấp thẻ báo chí - một việc làm sai với luật báo chí - cho những người mà ông Cương nhận vào văn phòng đại diện báo Tuổi Trẻ Thủ Đô…
Tân Châu
(Blog Tân Châu)

Khủng hoảng Triều Tiên : Trung Quốc là kẻ thua thiệt nhất

(Le Point 10/04/2013) Mối đe dọa chiến tranh nguyên tử từ Kim Jong Un đi ngược lại với lợi ích của Trung Quốc : đó là làm giảm thiểu sự hiện diện của Hoa Kỳ tại châu Á-Thái Bình Dương.
Câu nói tỏ rõ sự tức giận của Trung Quốc. « Không ai được phép vì ích kỷ mà đẩy một khu vực và cả toàn thế giới vào tình trạng hỗn loạn ». Ông Tập Cận Bình, tân Chủ tịch Trung Quốc đã tuyên bố như thế hôm Chủ nhật. Một bất ngờ hiếm hoi từ cửa miệng một lãnh đạo Bắc Kinh, vốn có truyền thống dùng những ngôn từ kín kẽ, đặc biệt là khi nói về một đồng minh lâu đời.
Đó là vì tuyên bố đầu tiên của nhân vật số một Trung Quốc trước hết nhắm đến anh thanh niên Kim Jong Un, cho dù không nói thẳng tên. Điều này chứng tỏ sự bực tức ngày càng cao, đồng thời là sự bất lực của người khổng lồ Trung Quốc trước các hành động leo thang của người anh em cộng sản thích quậy phá. Hiện giờ Bắc Kinh đang là người bị thiệt thòi nhiều nhất, trong cuộc khủng hoảng đang làm rung chuyển các khuynh hướng địa chính trị ở Đông Bắc Á.
Bởi vì một loạt các đe dọa do người con trai của Kim Jong Il gây ra từ cuối tháng Giêng, được tăng cường với vụ thử hạt nhân hôm 12/2, đã đi ngược lại lợi ích chiến lược căn bản mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc theo đuổi : đó là làm yếu đi sự hiện diện của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương. Ngược lại, Hoa Kỳ đã nhân tình trạng căng thẳng tại bán đảo Triều Tiên để tổ chức sự trở lại của lực lượng quân sự một cách ngoạn mục trong khu vực. « Cuộc khủng hoảng này mang lại tính chính đáng cho sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, đẩy Trung Quốc vào chân tường » - Antoine Bondaz, nhà nghiên cứu của trường đại học Chính trị Pháp (Sciences Po) và DGA (Tổng cục Vũ khí), phân tích.

Lính Mỹ đến tham gia huấn luyện tại vùng phi quân sự Triều Tiên, ngày 08/04/2013.
Một tín hiệu mạnh mẽ từ Washington
Lần đầu tiên, Lầu Năm Góc chính thức triển khai máy bay ném bom tàng hình B2 trên bầu trời Hàn Quốc, được tăng cường rầm rộ với các pháo đài bay B52. Những chiếc phi cơ có khả năng chuyên chở vũ khí nguyên tử, biểu trưng cho năng lực chiến đấu vô địch của nước Mỹ trên toàn thế giới. Một sự biểu dương lực lượng thực tế của chính sách “xoay trục sang châu Á” - chiến lược quân sự mới của chính quyền Obama, đánh dấu sự quay lại quy mô của Chú Sam tại khu vực, để ngầm chống lại sự leo thang của nền kinh tế thứ nhì thế giới.
Sự biểu dương quân sự của Mỹ có hai ngòi nổ. Về ngắn hạn, nhằm buộc Bắc Kinh phải nỗ lực nhiều hơn để đặt lại người đồng minh Bắc Triều Tiên vào con đường đúng đắn, nếu không thì lực lượng Mỹ sẽ còn hiện diện đông đảo hơn trong khu vực. Thứ đến, điều này còn chỉ ra sự bất lực hay sự thiếu ý chí của ông anh Trung Quốc trong việc gây ảnh hưởng lên ông em họ Kim, và cố phá tan một góc trong liên minh Bình Nhưỡng – Bắc Kinh được gắn kết bằng máu của cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953).
Trong trung hạn, Washington muốn gởi một tín hiệu mạnh mẽ đến toàn bộ các nước châu Á – Thái Bình Dương đang lo ngại trước sức mạnh đang lên của Trung Quốc: Mỹ có mặt là để ở lại lâu dài trong khu vực! Một dấu hiệu tái cam kết mạnh mẽ hướng đến các đồng minh Nhật Bản, Hàn Quốc hay các quốc gia ASEAN, có lúc đã tỏ ra quan ngại trước ảnh hưởng giảm sút của Hoa Kỳ tại châu Á.
Và trên lãnh vực quân sự, đây là một sự dự phòng trước mối đe dọa Bắc Kinh trong tương lai. Chẳng hạn như quyết định của Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel, cho thiết trí bổ sung thêm 14 hệ thống chống hỏa tiễn mới tại Alaska từ nay đến năm 2017, để ngăn cản các tên lửa đến từ…Đông Bắc Á. Về mặt chính thức là để đối phó với sự đe dọa của Bắc Triều Tiên, nhưng trong hậu trường, các chiến lược gia của Nhà Trắng thiên về sự nguy hiểm của các hỏa tiễn liên lục địa Trung Quốc.
Sự khiêu khích của người yếu trước kẻ mạnh
Trên thực tế, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã cứng rắn hẳn trước Bình Nhưỡng ngay từ đầu cuộc khủng hoảng, mà nguyên nhân là do Liên Hiệp Quốc thông qua các biện pháp trừng phạt mới, được ủng hộ bởi…Bắc Kinh. Nếu Trung Quốc còn do dự trước việc áp dụng triệt để các biện pháp mới này, thì trong những tuần lễ gần đây đã tăng cường áp lực lên họ Kim, củng cố việc kiểm soát chặt chẽ ở biên giới để gây trở ngại cho các hoạt động buôn bán với Bắc Triều Tiên.
Trên mặt trận ngoại giao, quan hệ Bình Nhưỡng – Bắc Kinh nay đã trở nên lạnh giá. Do bực tức, Trung Quốc luôn từ chối đón tiếp nhà lãnh đạo trẻ Kim Jong Un đến viếng thăm chính thức, từ khi chàng thanh niên lên cầm quyền hồi tháng 12/2011. Và mới đây khi Bình Nhưỡng yêu cầu gởi đặc sứ đến tại chỗ, thì Bắc Kinh cũng đã bác bỏ.
Nhưng các biện pháp này cho đến nay vẫn chưa gây áp lực được lên chế độ Bắc Triều Tiên, và Bắc Kinh đành cam chịu. “Vấn đề nguyên tử nay đã vượt khỏi tầm kiểm soát. Không thể nào thuyết phục nổi Bắc Triều Tiên từ bỏ vũ khí của họ”. Một bài xã luận của tờ Global Times, nhật báo bảo thủ do chính quyền kiểm soát đã nhận định như trên.
Đối với một số chuyên gia, thì quan hệ xấu đi là một mục tiêu có cân nhắc của Bình Nhưỡng, để giữ khoảng cách trước một Nhà nước bảo hộ tham lam, hiện chiếm đến 80% trao đổi thương mại. “Cuộc khủng hoảng này là một cách để khước từ sự thống trị của đàn anh Trung Quốc” – một nhà ngoại giao châu Âu tại Bắc Kinh nhận xét. Đó là vì từ nhiều thế kỷ qua, Triều Tiên vẫn phải đấu tranh để không bị người láng giềng khổng lồ nuốt chửng.
Một sự khiêu khích của người yếu trước kẻ mạnh, sở dĩ tiến hành được là nhờ vào một ưu thế vượt trội trong trò chơi của Bắc Triều Tiên nghèo khó: nguy cơ hỗn loạn. Bởi vì các lãnh đạo Bình Nhưỡng biết rõ hạn chế của cơn thịnh nộ từ phía Trung Hoa vĩ đại: Bắc Kinh bằng mọi giá không muốn chế độ họ Kim sụp đổ, tạo ra một khoảng trống chính trị và một nhân tố bất ổn tại biên giới đông bắc của mình.
Vì lý do đó, đảng Cộng sản Trung Quốc không sẵn sàng cúp chiếc vòi viện trợ kinh tế cho Bình Nhưỡng. Giữa việc chịu đựng những khoác lác của kẻ quấy rối Bắc Triều Tiên và việc mở ra chiếc hộp Pandore của thời kỳ hậu nhà Kim, Bắc Kinh luôn chọn lựa giải pháp đầu tiên, mặc cho những hành động leo thang mới đây. Trừ phi cuối cùng Tập Cận Bình nổi cơn, dẫn đến một sự thay đổi mục tiêu chiến lược.
(Blog Thụy My) 

Trần Hồng Phong - Án treo và khả năng “dại gì mà kháng cáo”


Thế là một vụ án có thể nói là đặc biệt nghiêm trọng (xét về bản chất, tầm vóc, đối tượng phạm tội), có tầm ảnh hưởng và quan tâm của tòan xã hội cuối cùng đã kết thúc với kết quả cực kỳ nhẹ nhàng. Bị cáo được dư luận quan tâm nhất, đứng đầu cơ quan hành chính địa phương, là khởi nguồn của vụ án tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn, ông Lê Văn Hiền, nguyên chủ tịch UBND huyện Tiên Lãnh chỉ phải nhận hình phạt nhẹ nhàng nhất (trong số 5 bị cáo): 15 tháng tù treo. Nói tóm gọn là chẳng phải ở tù ngày nào.
Vấn đề tội danh của ông Hiền, nhiều người đã phân tích, nên tôi chỉ muốn nói “thêm” về băn khoăn của mình liên quan đến cái gọi là “án treo” trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Trước hết, tôi là người phản đối án treo. Cách nay vài năm, tôi đã có lần đề nghị (được đăng trên báo Pháp luật TP.HCM) cần bỏ hẳn “án treo”. Vì theo tôi, án treo thực chất đã tạo ra sự bất công chứ không hề có ý nghĩa “nhân đạo” như lý thuyết của nó.
Trong Bộ luật hình sự qui định thế này: “Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo”.
Chính qui định về áp dụng án treo quá rộng và mơ hồ như vậy, đã vô tình tạo ra “điểm tựa vững chắc” để Tòa án tiêu cực ( hối lộ, chạy án) hoặc “bao che” cho đối tượng cán bộ, đảng viên khi họ phạm tội. Gây phản ứng rất nhiều trong xã hội.
Tới nay không có văn bản nào định nghĩa hay giải thích án treo là gì, kể cả trong Bộ luật hình sự. Mọi người thường chỉ hiểu nôm na án treo là “bị tù nhưng… không ở tù”. Điều này là không thể chấp nhận được về mặt lý luận pháp lý hình sự.
Mặt khác, án treo không phải là “hình phạt” – vốn được qui định trong Bộ luật hình sự, nhưng lại đem áp dụng cho kẻ phạm tội – tức là người đáng phải chịu hình phạt tù, là không hợp lý.
Theo qui định, căn cứ để tòa áp dụng cho hưởng án treo đối với người phạm tội là là “nhân thân” và “tình tiết giảm nhẹ”. Vậy thử hỏi “nhân thân” là sao? Chẳng lẽ một người từng là cán bộ, đảng viên thì hiển nhiên được xem là có nhân thân tốt? Vậy thì qui định “mọi người điều bình đẳng trước pháp luật” phải được hiểu như thế nào?
Hơn nữa, trong bất kỳ vụ án hình sự nào, các yếu tố “nhân thân” và “tình tiết giảm nhẹ” trên thực tế đã được cơ quan công tố và cả tòa án xem xét khi quyết định truy tố và tuyên hình phạt rồi. Sau đó, lại cho người phạm tội dược hưởng án treo, tức các yếu tố này được xem xét tới hai lần. Điều này có hợp lý không?
Chưa kể, án treo còn dẫn đến tình trạng người bị kết những tội nhẹ có thể lại bị xử nặng hơn người tội nặng. Chẳng hạn một người bị phạt 6 tháng tù, phải ở tù thật, trong khi một người khác bị tuyên tới 3 năm tù, nhưng lại được ở ngoài nhờ án treo. Trong khi ai cũng biết rõ “một ngày trong ngục bằng ngàn thu ở ngoài”. Sự tự do về thân thể là vô giá.
Một điểm nữa, là trong khi luật qui định hình phạt nhẹ nhất là “cải tạo không giam giữ” chỉ áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng. Thì án treo được áp dụng đối với tất cả các loại tội, kể cả tội nghiêm trọng, tham nhũng… là không hợp lý. Thực tế cho thấy tòa rất “khoái” tuyên án treo đối với bọn quan tham!
Theo tôi, trong bối cảnh hiện nay chí ít cũng cần qui định rõ là án treo không được áp dụng cho những kẻ phạm tội từng là đảng viên, cán bộ cấp trung cao – vì những người này mặc dù đã được rèn luyện về phẩm chất đạo đức, chính trị, có nghĩa vụ gương mẫu, đi đầu – mà vẫn cố tình phạm tội thì còn làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của đảng, của Nhà nước, cần phải nghiêm trị.
Trong thâm tâm, tôi hy vọng và tin rằng tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét và không cho các bị cáo trong vụ án này được hưởng án treo như sự ưu ái của tòa án Hải Phòng. Nhưng điều mà tôi “lo” nhất là có lẽ sẽ chẳng có bị cáo nào kháng cáo, vì án đã quá nhẹ rồi thì dại gì mà kháng cáo?
Trần Hồng Phong
(Quê Choa)

Quyền lực đang bị thương mại hóa

Đó là nhận định của TS Lê Đăng Doanh. Ông cho rằng: Các DN Việt Nam hiện nay phải dành rất nhiều tiền bạc và thời gian để chăm sóc các mối quan hệ với quan chức.

Trước một số vấn đề nổi cộm từ nghiên cứu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng (UBKTTƯ) về mối quan hệ không bình thường giữa một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, quyền với doanh nghiệp (DN) (Pháp Luật TP.HCM ngày 6 và 9-4), chuyên gia kinh tế, TS Lê Đăng Doanh nhận định: Đây là hiện tượng quyền lực đang bị thương mại hóa hòng mang lại lợi ích cho một nhóm nào đó, hệ quả là xã hội phải chịu thiệt thòi.
DN giàu nhưng không mạnh
. Phóng viên: Là một chuyên gia kinh tế từng tham gia nhiều nghiên cứu khảo sát về môi trường kinh doanh (chỉ số PCI, PAPI), ông nhìn nhận như thế nào về nghiên cứu nói trên của UBKTTƯ?
+ TS Lê Đăng Doanh: Tôi hoan nghênh nghiên cứu này và xem đó là một bước đi đúng hướng để nhằm làm rõ bức tranh của tham nhũng cũng như các biểu hiện và phương pháp của tham nhũng. Như vậy UBKTTƯ đã có nỗ lực đáng trân trọng. Vấn đề là từ những nghiên cứu này cần rút ra cái gì?

Có thể nói rằng các DN Việt Nam hiện nay phải dành rất nhiều tiền bạc và thời gian để chăm sóc các mối quan hệ. Bằng cách đó, một số DN giàu lên một cách dễ dàng, không cần cạnh tranh theo cơ chế thị trường, không cần nâng cao trình độ khoa học công nghệ, không cần lao động, không cần đầu tư đào tạo hay hoàn thiện bộ máy, quản trị của mình. Chỉ cần có mối quan hệ rồi thì đút lót để được dự án này, công trình kia. 
Tôi thấy các biểu hiện cụ thể của việc đút lót này rất kỳ quặc. Tôi từng gặp trường hợp một ông giám đốc vội vội vàng vàng cáo biệt sau khi có một cuộc điện thoại gọi báo rằng mẹ của một vị quan chức nào đó bị ốm, ông giám đốc phải đi nhanh xem bà cần gì không… Những ông DN này không những chỉ lo cho bản thân các quan chức thân hữu mà còn nghe ngóng chăm lo từ bà đến mẹ, vợ, con… của vị quan chức đó. Cho nên thời gian và công sức họ đổ vào đấy rất nhiều. Với cách này, các đại gia của ta giàu lên nhanh đấy nhưng không mạnh, không có khả năng để cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đấy là một nguy cơ khi VN gia nhập WTO.
Các DN Việt Nam hiện nay phải dành rất nhiều tiền bạc và thời gian để chăm sóc các mối quan hệ. Ảnh minh họa: HTD

Hệ thống quản lý và giám sát quá lỏng lẻo
. Tình trạng tham nhũng qua nhóm thân hữu như vậy nói lên điều gì trong bộ máy của chúng ta hiện nay?
+ Điều này cho thấy hệ thống quản lý và giám sát của chúng ta hết sức lỏng lẻo, kém hiệu quả. Ở nhiều nước, một ông thứ trưởng đi công tác về mà các khoản thanh toán không hợp lệ, báo chí đưa lên là phải từ chức ngay. Một ông bộ trưởng Pháp vừa rồi có một tài khoản ở Thụy Sĩ bị phát hiện đưa ra ông ấy cũng phải từ chức ngay...
Ngoài ra, hiện tượng này cũng cho thấy quyền lực đang bị thương mại hóa, đã trở thành một đối tượng để mua bán, có giá hẳn hoi. Từng vị trí, chỗ nào, ở cấp nào đều có giá cả. Như vậy là đi ngược với tôn chỉ mục đích, với những gì tốt đẹp mà người dân vẫn hay nghe hằng ngày. 
. Theo ông sở dĩ có thực trạng này là nguyên do từ đâu, phải chăng xuất phát từ DN hay từ các quan chức, hay từ các kẽ hở của pháp luật?
+ Tùy trường hợp, chúng ta chưa biết trong trường hợp nào là bên DN chủ động cám dỗ nhiều hơn hay là bên các quan chức gợi ý ra, thậm chí gọi DN đến. Có nhiều DN đại gia luôn miệng khoe khoang rằng “lúc nào tôi gọi điện thoại cho quan chức này, quan chức kia mà chả được, tôi muốn gặp lúc nào cũng xong hay sắp tới đây tôi sẽ đề nghị làm cái này, cái kia”… Tức là mức độ ảnh hưởng của các mối quan hệ này trong việc bổ nhiệm cán bộ, thu xếp chương trình này, chương trình kia và cả định hướng chính sách… là rất lớn, trong đó dĩ nhiên là có lợi ích nhóm chi phối. 
Làm méo mó chính sách
. Khi quyền lực bị thương mại hóa và với sự xuất hiện của các “nhóm thân hữu” như vậy thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến môi trường kinh doanh? 
+ Rõ ràng như vậy là tạo ra một môi trường kinh doanh không lành mạnh. Người ta không định hướng kinh doanh vào việc nâng cao hiệu quả năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Bởi vì những việc này mất rất nhiều công sức. Trong khi đó, có khi chỉ cần dựa vào các mối quan hệ thân hữu thì nhiều khi chỉ cần một cuộc điện thoại, qua một đêm họ đã trở thành tỉ phú rồi. Còn những DN khác không có mối quan hệ thì đành phải lần mò từ từ. 
. Còn xã hội sẽ bị ảnh hưởng ra sao? 
+ Một khi hai bên bắt tay quan hệ với nhau và cùng chia sẻ lợi ích với nhau thì xã hội sẽ bị thiệt. Điển hình là nhiều công trình dự án sinh ra từ các mối quan hệ này dù có kém chất lượng thì tiền đầu tư vẫn cứ được đổ vào, dự án vẫn được đẻ ra. Hệ quả của việc này là đẻ ra nhiều chính sách méo mó theo hướng có lợi cho nhóm thân hữu. Một khi chính sách méo mó thì hiệu quả quả đầu tư kém cỏi, cán bộ thì thiếu năng lực (vì không có sự cạnh tranh mà nhờ quen biết) không giải quyết được việc của dân… Tất cả những việc này người dân sẽ phải hứng chịu. 
. Để ngăn chặn tình trạng này, theo ông cần có giải pháp gì?
+ Để ngăn chặn việc này đòi hỏi phải thực hiện đầy đủ các quyền tự do dân chủ của người dân, phải thực sự có sự giám sát phản biện. Trong đó phải phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, của báo chí và phải có những quan tòa thực sự độc lập thì những người có quyền lực họ mới sợ mà không bắt tay tạo thành những “nhóm thân hữu” tham nhũng như vậy. Tôi nghĩ từ điều tra này cần có kết luận đẩy mạnh cải cách thể chế thì mới mong giải quyết được. 
. Xin cảm ơn ông.
14 hành vi cụ thể trong mối quan hệ không bình thường

Theo nghiên cứu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương (UBKTTƯ), chuyển sang kinh tế thị trường, hội nhập, tình trạng quan chức thông đồng với DN để vụ lợi xuất hiện ngày càng nhiều, có dấu hiệu ngày càng trầm trọng hơn trong tất cả lĩnh vực. Cũng theo UBKTTƯ, các quan hệ không bình thường giữa những người có chức, quyền với DN ở nước ta hiện nay được biểu hiện thành các hành vi cụ thể của cán bộ (cả công chức), đảng viên có chức, quyền với DN như sau:
Một là, cán bộ, đảng viên có chức, quyền giải quyết công việc không đúng nguyên tắc, quy định, thẩm quyền có lợi cho DN để trục lợi.
Hai là, cán bộ, đảng viên có chức, quyền cùng DN đi nghiên cứu, học tập, tham quan ở nước ngoài theo lời mời của DN để tạo điều kiện riêng cho DN.
Ba là, cán bộ, đảng viên có chức, quyền tham dự các buổi tiệc, tặng biếu quà, du lịch, tham gia các hoạt động thể thao, vui chơi giải trí của DN cho bản thân hoặc người thân trong gia đình, qua đó ban hành những chủ trương, chính sách có lợi cho DN.
Bốn là, yêu cầu hoặc đề nghị DN cho vay, mượn tiền, tài sản dưới mọi hình thức để trục lợi.
Năm là, tác động, yêu cầu DN tiếp nhận vợ (chồng), con, người thân trong gia đình vào làm việc ở các DN; được nâng lương, đề bạt, bầu, bổ nhiệm trái quy định hoặc không đúng tiêu chuẩn, điều kiện hoặc được đi tham quan, học tập không đúng chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Sáu là, nhận các giá trị vật chất (tiền, cổ phần, cổ phiếu) từ các DN.
Bảy là, nhận đất, nhà, căn hộ chung cư do DN biếu, tặng hoặc bán ưu đãi, thanh toán tiền, nhà đất cho bản thân (con), người thân trong gia đình dưới mọi hình thức.
Tám là, yêu cầu các DN phải tổ chức và thanh toán tiền trong các cuộc tiếp khách của bản thân với các tổ chức, cá nhân trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Chín là, chỉ đạo cấp dưới thực hiện hoặc không thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, có lợi cho DN và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Mười là, nhận hoặc gợi ý DN tài trợ tiền, tài sản để chạy chức, chạy quyền, sau đó giải quyết hoặc tạo điều kiện cho DN hoạt động không minh bạch, lành mạnh.
Mười một là, cung cấp hoặc bán các thông tin, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước sẽ, sắp ban hành để DN có cơ hội, điều kiện sản xuất, kinh doanh nhằm trục lợi.
Mười hai là, làm ngơ hoặc bao che cho cấp dưới làm trái để bảo kê, tạo điều kiện cho DN sản xuất, kinh doanh, đầu tư trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của địa phương, đơn vị.
Mười ba là, làm trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quan hệ giữa tổ chức đảng với tổ chức nhà nước trong việc giải quyết các công việc đối với DN.
Mười bốn là, làm môi giới chạy dự án, chạy vốn, chạy giấy phép cho DN để hưởng thù lao, hoa hồng trái quy định.

(PLTP)
 

Nguyễn Quang Lập - Nhớ chị Bội Trâm, thời rượu chịu cá trộm văn chui

boitram1

Mình kể chuyện chị Bội Trâm làm vợ cho nhiều cô, bà nghe. Ai cũng cảm  phục tấm lòng của chị nhưng khi hỏi họ:  nếu rơi vào hoàn cảnh như chị Bội Trâm thì cô bà có làm được như chị không, đa số đều trả lời không, không dám và không muốn. Mình cho chị Trâm biết, chị cười, nói chị cũng không dám và không muốn, chẳng qua trời khiến thì chị phải sống thôi. Mình hỏi nhỏ chị, nói em hỏi thật chị nhé, sống với anh Quán chị có thấy hạnh phúc không. Chị im lặng hồi lâu rồi thì thầm, nói nhiều lần anh Quán hỏi chị vậy, lần nào chị cũng chỉ một câu trả lời: nếu không hạnh phúc em đã bỏ anh lâu rồi.

Mình cũng đã nghe nhiều cô, bà nói với mình như vậy, bà xã nhà mình cũng nói với mình như vậy, hi hi… Nhưng làm được như chị Bội Trâm khó có ai dám. Suốt cả cuộc đời ngụp lặn trong túng thiếu ( cả tình cảm lẫn vật chất) để tìm kiếm hạnh phúc, trong số phụ nữ mình quen biết chắc chỉ có chị Bội Trâm, không còn ai.

Cưới xong anh Quán phải đi lao động cải tạo ở Thái Bình, Thanh Hoá, Việt Trì. Chẳng ai buộc anh phải đi cải tạo cả, Hội nhà văn, Bộ văn hóa muốn Phùng Quán trở thành nhà văn tốt nên động viên anh đi thôi, hi hi. Thời đó nó hồn nhiên như thế, nhà văn tài không quan trọng bằng nhà văn tốt,  nhà văn tốt là nhà văn biết ba cùng với nông dân. Bác Tô Hoài kể Phùng Quán trở thành “vua phân bò” từ đó, những ngày ba cùng ở Thái Bình anh nhặt phân bò tài đến nỗi hố  ủ phân vừa đào xong đã đầy, dân không kịp đào hố ủ cho Phùng Quán.

Mọi người phong Phùng Quán là “vua phân bò”, anh phấn khởi lắm, nói nhờ rứa mà văn Phùng Quán khỏi bị thối như phân. Anh còn xung phong lên rừng núi Thái Nguyên suốt  ba năm liến, một mình canh mấy hecta ngô khoai sắn của cơ quan. Mình hỏi anh Quán, nói anh xung phong thiệt à? Anh cười cái hậc, nói người ta gợi ý mình xung phong thì mình xung phong chớ răng. Chẳng ai ép mình, chỉ nói tùy đồng chí thôi, nhưng thời đó cái chữ tùy dễ sợ lắm.

Trong suốt mười năm sau ngày cưới, chị Trâm ở nhà mẹ phố Hàng Cân, anh Quán đi cải tạo lao động thỉnh thoảng về nhà mẹ nuôi là bà Tưởng Dơi, vợ chồng lại gặp nhau ở đấy,  bí mật lén lút như đang yêu vậy. Ngay cả khi có hai mặt con, cái Quyên và thằng Quân, anh chị cũng chỉ dám hẹn hò gặp nhau ở nhà bà Tưởng Dơi, chưa dám công khai cho mọi người biết, “phần tử chống đảng” dễ sợ vậy đó.

Anh Quán đi cải tạo chị Trâm một mình nuôi hai đứa con, đến khi anh Quán trở về, chị còn phải nuôi thêm anh Quán. Nuôi thêm anh Quán tức là nuôi thêm bạn bè của anh Quán nữa. Từ khi trường Chu Văn An  thương tình  cho  vợ chồng anh Quán ở tạm nơi chứa đồ mộc thí nghiệm của nhà trường, có chỗ chui vào chui ra, nhà chị không khi nào ngớt khách, luôn luôn có ít nhất một bạn anh Quán ăn ở trong nhà anh chị. Lương giáo viên cấp 3 chỉ dùng được một tuần là hết, thỉnh thoảng anh Tuân Nguyễn, anh Xuân Đài lấy một phần lương của họ đưa cho chị Trâm nhưng cũng chỉ như muối bỏ bể, không ăn thua.

imagesNhiều lần tan lớp chị Trâm đứng ở cổng trường, ngẩn ngơ không biết phải đi đâu, làm gì có được một, hai đồng đi chợ. Tất cả những gì bán được đều đã bán, tất cả những ai vay được đều đã vay, phòng tài vụ đã cho ứng trước mấy tháng lương rồi, không thể ứng thêm được nữa. Khi đó chỉ có khóc, trông chờ ông Bụt hiện ra hỏi vì sao con khóc, chẳng có cách nào khác. Chị Trâm không khóc, ông Bụt cũng không hiện ra, nhưng lần nào cũng vậy, cái số “có quí nhân phù trợ” đã giúp chị qua được cơn bĩ cực. Thế nào rồi cũng có người đi qua, khi thì bạn chị khi thì bạn anh Quán, nói đứng làm gì đó hả con kia, sao trông cái mặt như mặt mất sổ gạo thế hả? Rồi người đó dúi cho một hai đồng, rất nhiều lần như thế.

Cũng rất nhiều lần cầm một hai đồng về nhà chị thấy trong nhà vài ba người khách, bữa cơm rượu hèn lắm cũng phải mất năm sáu đồng. Chị cứ xách giỏ đi liều ra chợ, hy vọng cái số “ có quí nhân phù trợ” sẽ giúp chị. Nếu hỏi nếu chẳng ai giúp thì sao, chị cũng chỉ biết cười trừ, chị hoàn toàn không có câu trả lời. Trời đã trả lời giúp chị, đúng vậy, trời đã giúp chị, chưa khi nào chị phải xách giỏ không trở về.

Một lần  bà hàng cá thấy chị đứng tần ngần trước mớ cá chép, lật đi lật lại cái đầu cá mà không dám hỏi giá, hỏi làm sao khi túi chị chỉ còn có hơn một đồng. Mãi rồi chị cũng phải đứng dậy bỏ đi. Bà hàng cá liền gọi giật hỏi nhỏ, nói vợ Phùng Quán phải không? Và rồi con cá chép hai cân  có người mua bốn đồng rưỡi không chịu bán đã lọt vào cái giỏ nhựa rách của chị. Chị xách con cá ra khỏi chợ không biết mơ hay thực nữa, lâu lâu lại nhìn vào giỏ, chỉ sợ con cá tự dưng biến mất.

Anh Quán nghe chị Trâm kể cảm động lắm, quyết ra Hồ Tây câu trộm một con cá chép hai cân trả ơn bà hàng cá. Không câu được cá chép hai cân, bù lại anh câu được sáu con cá mè và hai con cá chuối, con nào con ấy cỡ một cân. Chị mang hết ra tặng lại bà hàng cá. Bà hàng cá mừng lắm, trả chị mười hai đồng, nói ơn nghĩa là đây, em giúp chị có cá bán buôn là may cho chị lắm rồi. Từ nay chị em mình dựa vào nhau mà sống. Nghề cá trộm của Phùng Quán bắt đầu từ đó.

Còn văn chui thì thế nào? Chị Bội Trâm mỉm cười, nói cũng nhờ bác Thanh Tịnh cả đấy. Trước đó anh Quán chẳng dám nghĩ đến cái nghề văn chui đâu, nhờ bác Thanh Tịnh bày cho đấy.

Chuyện là thế này.

Xưa làm ở Văn nghệ Quân đội, Phùng Quán vẫn hay hầu rượu hầu trà Thanh Tịnh, họ là đồng hương Thừa Thiên- Huế. Sau vụ Nhân văn giai phẩm, Thanh Tịnh là người duy nhất trong Văn nghệ quân đội vẫn quan hệ với Phùng Quán (là nói thời kì đầu, về sau còn có Tào Mạt), ông vẫn hay đến nhà Phùng Quán chơi, thân thiết cả hai vợ chồng.

Một hôm chi Bội Trâm đạp xe về phố Hàng Cân, dọc đường gặp Thanh Tịnh đang đi bộ trên vỉa hè, bác vẫy chị dừng xe, nói tao nghe nói thằng Quán rượu chè ghê lắm, tiền rượu chịu lên bạc nghìn có phải không? Chị giật mình ngạc nhiên, nói đâu có anh, anh Quán có rượu chịu nhưng chỉ năm bảy chục một trăm đồng là anh í trả thôi mà. Thanh Tịnh lắc đầu nhăn mặt, nói cô còn bao che cho chồng nữa. Chúng nó bảo tiền rượu lên tới ngàn hai rồi đó, có bán nhà cô chú cũng không đủ trả.

Chị Trâm thất sắc chạy về nhà bà chủ hàng rượu, cái cột nhà vạch vôi chi chít, cứ một lít là một vạch, có đến hàng trăm vạch như thế, tính ra chừng bốn trăm đồng. Chị thở phào nhẹ nhõm, bốn trăm còn hy vọng trả được chứ nghìn hai thì chắc chết. Bà chủ chỉ cho chị Trâm ba cột khác đầy vạch, nói còn ba cột năm ngoái đây nữa cô Trâm ơi. Chị hoa mắt, suýt té xỉu. Chị về nhà ngồi khóc một mình không biết ngỏ cùng ai. Anh Quán hiếu khách. Hễ  có khách là có rượu, ngày nào cũng vài ba khách, tích tiểu thành đại giờ lên đến ngàn hai trăm đồng. Thất kinh. Cái nhà mặt tiền phố Huế  lúc đó cũng giá nghìn hai trăm đồng chứ bao nhiêu đâu.

Vừa lúc Thanh Tịnh đến chơi, thấy chị khóc ông mắng át đi, nói khóc có ra tiền ra bạc được không? Lôi đống bản thảo thằng Quán cho tao xem may ra có thể in được cái gì. Chị Trâm càng khóc to hơn, nói anh ơi anh Quán bị treo bút, ai cho in mà in. Thời buổi nhất thân nhì quen này lấy tên người lạ người ta không in cho đâu. Anh Tịnh cốc đầu chị Trâm, nói vợ chồng chúng mày ngu lắm, không cho lấy tên thằng Quán thì lấy tên bạn bè thằng Quán, ít nhất cũng có tên tao. Tao cho nó mượn tên cả đời.

Anh Quán về nhà, chị Trâm kể cho anh nghe, anh nhảy lên hú mấy tiếng, nói sáng kiến sáng kiến, Thanh Tịnh muôn năm! Hôm sau anh Quán ôm chồng kí sự Vĩnh Linh đất lửa đến nhà Thanh Tịnh, nói chọ ni được mấy trăm đồng? Thanh Tịnh ngắm nghía gật gù, nói chọ ni được chừng tám trăm. Mày về viết thêm cuốn Nghệ thuật viết tấu và đọc tấu nữa, ráng bôi ra hơn trăm trang cũng được bốn trăm đồng, vừa đủ trả nợ tiền rượu. Anh Quán nói cuốn ấy có đặt người ta mới in, mình tự viết không ai in cho đâu. Anh Tịnh cú đầu anh Quán, nói ngu lắm. Mày không nhớ tao là cây tấu nổi tiếng à. Nhà xuất bản văn hóa đặt tao viết cả năm rồi nhưng tao nhác chưa viết được, mày viết đi.

Mấy tháng sau hai cuốn sách lấy tên Thanh Tịnh ra đời, Thanh Tịnh tự đến Nhà xuất bản lấy nhuận bút đưa cho chị Trâm. Anh Quán biện mâm rượu nhỏ đội đến nhà Thanh Tịnh, anh quì sụp xuống vái Thạnh Tịnh ba vái, nói sư huynh đã chỉ cho em con đường sống, đội ơn sư huynh suốt đời.

Cái nghề văn chui của Phùng Quán cũng bắt đầu từ đó, cũng từ đó anh Quán chị Trâm sống trong nơm nớp lo sợ. Lo bà chủ hàng rượu đòi nợ bất ngờ, chưa bao giờ bà đòi nợ anh Quán cả nhưng phàm đã mắc nợ không thoát được sự lo. Lo nhất vẫn là lo trộm cá bị bắt, văn chui bị phát hiện. Ba chục năm sống trong nơm nớp, nghe tiếng chó sủa lạ cũng giật mình thon thót, khổ thân anh Quán chị Trâm.

Sau ngày anh Quán mất, mình nghĩ chị Bội Trâm sẽ khó khăn về kinh tế nên cố tìm mọi cách tái bản sách anh Quán để chị có thêm đồng vào đồng ra. Bộ Tuổi thơ dữ dội được Nhà xuất bản Kim Đồng in thành 6 tập rất đẹp, nhuận bút tính kịt tường, mình mừng lắm vội vàng đem lên cho chị. Chị Trâm ôm bộ sách đặt lên bàn thờ, nói anh ơi, nhà Kim Đồng vừa in Tuổi thơ dữ dội đẹp chưa này. Mình đưa nhuận bút cho chị, chị đặt lên bàn thờ, nói Lập nó đưa nhuận bút đây anh, nhiều thế này em tiêu làm sao hết. Vừa nói xong chị bật khóc, ngồi run rẩy bên bàn thờ không nói được câu nào nữa.

Sau rồi chị tâm sự, nói ngày anh Quán mất, anh em bạn bè cúng rất nhiều tiền, đến mấy chục triệu chứ không ít. Một mình chị Trâm chỉ tiêu hết 5 ngàn một ngày, lương hưu tiêu hảy còn thừa, chị không biết làm gì với mấy chục triệu tiền cúng. Mình cười, nói chị lo bò trắng răng, lo gì lại lo thừa tiền. Chị xua tay, nói không không, ý chị không phải vậy. Mình hỏi sao. Chị ngồi thừ hồi lâu rồi khẽ thở dài, nói mấy chục năm sống với anh Quán không một ngày nào chị không mơ có được nhiều tiền nhưng không bao giờ có. Bây giờ có nhiều tiền rồi anh Quán lại bỏ chị mà đi.

Chị ngồi run rẫy bên bàn thờ, ngước nhìn anh Quán, nước mắt dàn dụa.

Nguyễn Quang Lập
(Quê Choa)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét