Tổng số lượt xem trang

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

HOT - CÁC BÀI VIẾT NÊN ĐỌC

1552. Tự thú

Đồng Phụng Việt

Tự thú

13-01-2013
Hôm 9 tháng 12 năm 2012, tại Hội nghị Tuyên giáo toàn quốc, ông Hồ Quang Lợi – Trưởng Ban Tuyên giáo của Thành ủy Hà Nội, đề nghị: “Báo chí, truyền thông cần đưa tin chính xác, kịp thời để ngăn chặn kẻ xấu kích động nhân dân. Chủ động đối thoại trong các vụ việc liên quan đến tư tưởng, đường lối, không để họ đối đầu với chính quyền”.
Đúng một thàng sau, ngày 9 tháng 1 năm 2013, trong một Hội nghị Tuyên giáo tòan quốc khác, ông Đỗ Qúy Doãn – Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, tiếp tục đề nghị: “Cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho báo chí, dù đó là thông tin nhạy cảm”.
Như vậy là chỉ trong một tháng, Đảng tổ chức tới hai Hội nghị Tuyên giáo toàn quốc. Ở hội nghị nào, chuyện cung cấp thông tin chính xác, đưa tin kịp thời, chủ động đối thoại cũng được đặt lên hàng đầu và được xem là trọng tâm.
1.
Nói láo (cung cấp thông tin sai sự thật), lừa gạt (giấu diếm thông tin) và khinh miệt dân chúng (không thèm, ngăn cấm đối thoại), vốn là “chủ trương lớn” của Đảng. Chủ trương này đã và đang bị những người Việt dùng Internet vô hiệu hóa.
Hồi đầu, khi phải đối diện với những người mạnh dạn nói những điều họ biết, chia sẻ những điều họ nghĩ, vì lợi ích chung của cả quốc gia lẫn dân tộc, đề nghị đừng làm như thế này và nên làm như thế kia, Đảng gọi họ là “kẻ xấu” là “thế lực thù địch, phản động, do hận thù mà trở thành mù quáng, chống lại lợi ích của Đảng, của nhân dân”.
Lúc “kẻ xấu” càng ngày càng nhiều và không ít “kẻ xấu” là lão thành cách mạng, cán bộ có nhiều công lao, từng hoặc đang được tin cậy, trọng dụng, Đảng gọi họ là “những phần tử bất mãn, cơ hội bị các thế lực thù địch, phản động lôi kéo, kích động”.
Bất kể Đảng gọi thế nào, hăm dọa và trừng phạt nhằm “răn đe” ra sao thì số lượng “kẻ xấu” vẫn tăng vùn vụt. Những thông tin, suy nghĩ mà “kẻ xấu” chia sẻ với mọi người không chỉ ảnh hưởng trên dân chúng mà còn tác động đến cả cán bộ, đảng viên các ngành, các cấp. Mức độ tác động càng ngày càng lớn nên bây giờ, ngoài chuyện chống “kẻ xấu”, Đảng phải chống cả nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
18 tháng trước, các diễn đàn điện tử, các trang web, blog cá nhân còn bị miệt thị là “luồng gió độc”, “rác rưởi” trên Internet nhưng lúc này, qua tường thuật và trả lời phỏng vấn của tờ Lao Động (số ra các ngày 9 và 10 tháng 1 năm 2013), ông Đỗ Qúy Doãn – Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông – đã thừa nhận, “truyền thông xã hội” (một cách khác để gọi các diễn đàn điện tử, các trang web, blog cá nhân), không chỉ phủ nhận, mà còn đang loại bỏ vai trò của hệ thống truyền thông chính thống, tạo ra hiện trạng “thông tin lưu truyền trong xã hội là thông tin từ blog cá nhân”.
Ưu tư của ông Doãn về hiện tượng “lên tiếng đồng loạt, im lặng đồng loạt”, đề nghị của ông Doãn: “Cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho báo chí, dù đó là thông tin nhạy cảm”, ước vọng của ông Doãn: “Cho báo chí có quyền bình luận để định hướng dư luận xã hội”… gián tiếp chỉ ra rằng, đã đến lúc, Đảng không nên và không thể lấy chuyện nói láo (cung cấp thông tin sai sự thật), lừa gạt (giấu diếm thông tin) và khinh miệt dân chúng (không thèm, ngăn cấm đối thoại) làm “chủ trương lớn” được nữa.
2.
Một người được Đảng tin cậy, lựa chọn, sắp đặt để đảm nhiệm vai trò Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông như ông Đỗ Qúy Doãn, hẳn phải rất “vững vàng về tư tưởng” và rất “kiên định về lập trường”. Tuy nhiên, thử đối chiếu những ý kiến mà ông Đỗ Qúy Doãn phát biểu hồi đầu tháng giêng năm nay, với những tuyên bố cũng của chính ông cách nay vài năm thì hóa ra, ông Doãn cũng đang… “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Hôm 21 tháng 6 năm 2009, khi tham gia đối thoại trực tiếp với khán giả Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC, độc giả VTC News, VietNamNet, ICT News, mic.gov.vn… về chủ đề “Quản lý báo chí”, nhân ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, ông Doãn đã bảo như thế này: “Báo chí bao giờ cũng là một lực lượng làm công tác tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể”. Bây giờ, dưới tác động của “truyền thông xã hội”, đối tượng từng bị miệt thị là “luồng gió độc”, “rác rưởi” trên Internet, ông Dõan nhận định, hiện tượng “lên tiếng đồng loạt, im lặng đồng loạt” của hệ thống truyền thông do Đảng lãnh đạo đang “đánh mất niềm tin của bạn đọc”.
Tương tự, năm 2009, trong buổi đối thoại vừa dẫn, ông Doãn rất tự tin khi khẳng định: “Ưu điểm lớn nhất của báo chí chúng ta hiện nay là nội dung phong phú, đa dạng và toàn diện. Tính chuyên nghiệp của báo chí ngày càng được nâng lên, nắm bắt được những vấn đề mới mà công chúng quan tâm. Báo chí chúng ta hiện nay cũng đã làm tốt những đợt tập trung tuyên truyền trọng điểm về những chủ trương, chính sách của Nhà nước và đạt được những hiệu quả lớn”. Bây giờ, cũng dưới tác động của “truyền thông xã hội”, ông Doãn nêu thắc mắc: “Tại sao chúng ta có một hệ thống hơn 700 tờ báo, 67 đài phát thanh truyền hình, hàng trăm trang tin, báo điện tử, hàng ngàn trang tin của các bộ ngành. Có tới 17.000 nhà báo, trong đó có nhiều cây bút có đủ khả năng làm lay động bạn đọc mà thông tin lưu truyền trong xã hội lại là thông tin từ blog cá nhân?”.
Nếu năm 2009, trả lời thắc mắc về “quy hoạch báo chí”, ông Doãn còn thản nhiên tuyên bố, nguyên văn như vầy: “Quy hoạch của chúng ta là tốt, có nghĩa là xác định rõ được chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan báo chí và cũng hạn chế được những tờ báo không có chức năng cung cấp thông tin, điều đó sẽ góp phần hạn chế được những vi phạm trong quản lý báo chí”, thì bây giờ, sau khi quan sát, đối chiếu thực tế, ông Doãn nhận ra: “Nếu thông tin báo chí đầy đủ thì vấn đề định hướng dư luận, về những vấn đề mà xã hội quan tâm chắc chắn sẽ rất thuận lợi”.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vốn dĩ là quy luật, hiện hữu trong quá trình tiến hóa của nhân loại và thúc đẩy xã hội loại người văn minh, tiến bộ hơn trước đó. Đã là quy luật thì không thể chống nhưng chẳng hiểu tại sao, lãnh đạo Đảng vẫn nhất định phải chống cho bằng được, kể cả sau khi đã học và bắt nhiều người cùng học “duy vật biện chứng”, “duy vật lịch sử”.
Tội nghiệp Karl Marx, đáng thương cho Friedrich Engels, sau khi đã bị mang ra bán sỉ trên toàn cầu, nay tiếp tục được mời chào, bán lẻ rộng rãi tại Việt Nam!
3.
Trở lại với Hội nghị Tuyên giáo toàn quốc được tổ chức hồi cuối năm ngoái và chuyện ông Hồ Quang Lợi – Trưởng Ban Tuyên giáo của Thành ủy Hà Nội, loan báo: Hà Nội đã thành lập một đội “Tuyên truyền miệng” với 900 thành viên. Tổ chức một “nhóm chuyên gia” đấu tranh trực diện trên mạng Internet, tham gia bút chiến trên Internet, mở hơn 400 tài khoản trên mạng. Các tờ báo của Hà Nội cũng đã thành lập tổ “Phóng viên bấm nút” phản ứng nhanh…
Tuyên bố của ông Hồ Quang Lợi khiến mình nảy ra vài thắc mắc:
900 thành viên của đội “Tuyên truyền miệng”, nhóm “chuyên gia đấu tranh trực diện – tham gia bút chiến trên mạng Internet”, rồi các tổ “Phóng viên bấm nút” của Hà Nội sẽ nói những gì và nói với ai?
Họ có thể nói khác những điều mà các ông Nguyễn Thế Kỷ (Phó Ban Tuyên giáo Trung ương), Trần Đăng Thanh (Phó Gíáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú, Giảng viên Học viện Chính trị – Bộ Quốc phòng), Nguyễn Thế Bình (Trung tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ) đã nói hay không? Chắc là không! Còn nếu họ chỉ nói những điều mà các ông này – những chuyên gia cao cấp về “tuyên truyền miệng”, “đấu tranh trực diện, tham gia bút chiến trên mạng Internet” – đã nói, đã viết thì tốt nhất là đừng nói, đừng viết gì thì hơn. Nói hoặc viết như thế chẳng khác gì “bấm nút”, kích động công chúng phẫn nộ hơn. Lợi bất cập hại.
Mình cũng mong ông Lợi lưu ý thêm là ông Kỷ, ông Thanh chỉ nói chuyện với cán bộ, đảng viên đã được lựa chọn kỹ càng, chứ không phải nói với dân, mà “thân vẫn bại, danh vẫn liệt” đấy! Tuy ông Kỷ chỉ “tuyên truyền miệng” với lãnh đạo các cơ quan truyền thông, ông Thanh chỉ “tuyên truyền miệng” với lãnh đạo đảng, lãnh đạo các đoàn thể của khối các trường Đại học – Cao đẳng ở Hà Nội nhưng người nghe, dù “đồng đảng” vẫn không “đồng tình”. Không đồng tình nên người ta mới ghi âm, nhờ công bố để cho bàn dân thiên hạ tỏ tường các ông ấy ngu như thế nào và láo ra sao.
Không nói thật, làm đúng, chỉ lăm le dối gạt, vẫn nuôi ý định dùng bạo lực để cưỡng buộc mọi người nghĩ theo, nói theo, làm theo thì không còn và chẳng bao giờ có “đồng chí” thật sự đâu.
 Nguồn: Đồng Phụng Việt

1553. Hai tử huyệt của chế độ

Blog Hoàng Xuân Phú

1Hai tử huyệt của chế độ

Hoàng Xuân Phú
Có lẽ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) quan niệm rằng
-       quy định về quyền lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội, và
-       quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý
tại Điều 4 và Điều 17–18 của Hiến pháp 1992 là hai tử huyệt của chế độ. Vì vậy, dư luận càng muốn hủy bỏ hoặc sửa đổi hai quy định đó, thì họ càng kiên quyết bảo lưu. Chúng nằm trong định hướng bất di, bất dịch của lãnh đạo đảng, và được tái thể hiện tại Điều 4 và Điều 57 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.

Tử huyệt độc quyền lãnh đạo
Trong thế giới văn minh, quyền lãnh đạo đất nước của một đảng chính trị chỉ có thể giành được thông qua tranh đấu và bầu cử dân chủ. Kể cả khi đang cầm quyền, đảng vẫn phải phấn đấu liên tục, để thuyết phục Nhân dân tin tưởng và tiếp tục trao cho quyền lãnh đạo.
Không thể lấy công lao trong một giai đoạn quá khứ để bù lại cho hiện tại yếu kém, với bao sai lầm, tội lỗi, và áp đặt cho cả tương lai vô định. Nếu cứ từng có công là được cầm quyền vĩnh viễn, thì ĐCSVN phải trả lại chính quyền cho triều đình nhà Nguyễn, và triều đình nhà Nguyễn lại phải trả lại chính quyền cho các triều đình trước đó. Thế là khởi động cho một quá trình truy hồi dằng dặc, mà không thể tìm được điểm kết thúc. Hơn nữa, thời gian qua đi, giờ đây nắm quyền lực bao trùm đất nước lại là những người vốn chỉ đi theo hoặc ăn theo cách mạng, hay từng được cách mạng o bế và cưu mang mà thôi. Nếu họ từng có công, thì chưa chắc bù nổi những lỗi lầm đã gây ra. Phần lớn những người có công đáng kể, những công thần của chế độ, đã qua đời, hoặc nếu còn sống thì đã về hưu, và có lẽ đang đau lòng vì phải chứng kiến sự nghiệp cách mạng của thế hệ mình bị phản  bội.

Không thể coi quyền lãnh đạo đất nước của bất kỳ đảng phái nào là đương nhiên, và vì vậy không thể ghi điều đó vào Hiến pháp. Vả lại, nếu quyền đó đã là đương nhiên, được mọi người mặc nhiên thừa nhận, thì cũng chẳng cần ghi vào Hiến pháp làm gì, để khỏi gây phản cảm một cách không cần thiết. Nếu một điều không phải là đương nhiên và không được tất cả mọi người thừa nhận, mà vẫn bất chấp, áp đặt bằng được trong Hiến pháp, thì chỉ riêng việc làm đó đã khắc họa xong tính dân chủ và tính hợp pháp của đảng và chế độ.
Nếu ĐCSVN được đa số Nhân dân tin cậy và ủng hộ, thì bất cứ cuộc tổng tuyển cử dân chủ nào cũng đưa lại một kết quả tất yếu, đó là trao cho đảng quyền lãnh đạo đất nước. Cho nên, khi khẳng định rằng “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”, thì có nghĩa đã mặc nhiên thừa nhận thực trạng tệ hại của đảng, khiến đa số Nhân dân không thể đồng tình ủng hộ và chắc chắn sẽ không bầu cho đảng. Nếu nghĩ là mình không còn xứng đáng, không còn được đa số Nhân dân tín nhiệm, mà vẫn dùng Hiến pháp để áp đặt bằng được vai trò lãnh đạo, thì có còn tử tế và vì Dân nữa hay không?
Con người muốn tồn tại và phát triển thì không thể khước từ thử thách, không thể lẩn tránh đối đầu. Ngược lại, phải chấp nhận thử thách, vượt qua thử thách mà vươn lên. Nếu một đứa trẻ luôn được o bế trong căn nhà vừa được vô trùng, vừa được điều hòa nhiệt độ một cách tuyệt đối, thì sẽ dễ bị đổ bệnh khi ra khỏi cửa. Nếu con cái được bố mẹ quá bao cấp, kèm cặp từng li từng tí, thì sẽ dễ ngã gục khi bước vào cuộc sống tự lập trong xã hội. Để tránh bệnh tật, hàng tỷ người trên thế giới chấp nhận tiêm vắc-xin, nhằm phát triển khả năng miễn dịch, tức là chủ động đưa cơ thể mình vào trạng thái thử thách. Muốn khỏe, con người không thể ỳ ra, mà phải thường xuyên khổ luyện dưới hình thức thể dục. Không có cạnh tranh, không có thi đua (thực chất), thì con người không thể khá lên được.
Không chỉ từng cá thể, mà cả quần thể, với tư cách tổ chức, đảng phái, hay cả xã hội, cũng phải biết đương đầu với thử thách. Vì biết tận dụng cuộc cạnh tranh giữa hai hệ thống chính trị trên thế giới để tự hoàn thiện, để giành phần thắng trong cuộc chiến tranh lạnh, nên các nước tư bản hàng đầu đã phát triển vượt bậc, không chỉ về kinh tế, khoa học và công nghệ, mà cả về dân chủ và phúc lợi xã hội, cũng như về quyền con người.
Ngược lại, các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đã xử lý sai tình huống và quan hệ địch ta. Nhìn đâu cũng thấy địch, kể cả trong Dân, nên nhiều khi đối xử với Dân cũng giống như với địch, khiến dần dần mất Dân. Ỷ thế vào cường quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đầu têu trong việc cấm đảng phái khác hoạt động, để rồi sau này ĐCSVN cũng nối gót sai lầm. Các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa đảng, nhưng cũng chỉ là hình thức. Dân chủ xã hội và quyền con người bị bóp nghẹt, khiến tinh thần và trí tuệ cũng bị lụi tàn. Tưởng rằng như vậy thì các đảng cộng sản sẽ rảnh tay, có thể tập trung lực lượng chiến đấu với kẻ thù chính ở hệ thống bên kia, nhưng kết quả thì ngược lại. Kinh tế suy sụp, lòng Dân ly tán, khiến hệ thống chính trị được dày công xây dựng suốt hơn nửa thế kỷ bị phá từ trong phá ra, đổ rụp trong chốc lát, làm cho đối thủ cũng bị bất ngờ đến ngỡ ngàng.
Họa đôi khi cũng là phúc, nếu biết rút ra bài học hợp lý từ thảm họa. Nếu quay ra chấp nhận cạnh tranh một cách dân chủ trong xã hội đa đảng, đa nguyên, ĐCSVN sẽ buộc phải lựa chọn những người lãnh đạo thuộc loại ưu tú nhất, và chắc chắn sẽ chọn được hàng ngũ lãnh đạo tốt hơn gấp bội lần so với đội hình đương nhiệm, kể cả tài lẫn đức. Mọi phần tử thoái hóa, tham nhũng sẽ bị vạch trần và bị đào thải. Trong ba triệu đảng viên không thiếu người tài, người tốt. Vấn đề là phải dùng dân chủ để giải phóng tiềm năng bị độc quyền giam hãm bấy lâu. Không chỉ dựa vào nội lực, dân chủ xã hội còn cho đảng thêm cả sức mạnh từ ngoài đảng. Nếu đảng cầm quyền không tự nhận ra tồn tại yếu kém của mình, thì các đảng đối lập cũng sẽ vạch ra cho. Chẳng cần đến những nghị quyết vô dụng, những màn kịch phê bình – tự phê bình giả dối và lố bịch, thì ĐCSVN vẫn có thể vươn lên, tốt hơn hẳn hiện tại, để được Nhân dân tin tưởng mà trao quyền lãnh đạo.
Tiếc rằng, lãnh đạo của ĐCSVN lại phản ứng như gã tài xế ù lì, chỉ biết nghiến răng tăng ga, khi cỗ xe đang lao xuống đầm lầy. Một mặt, đảng càng suy sụp thì họ càng bóp nghẹt dân chủ trong đảng, dân chủ trong xã hội, và càng hạn chế quyền con người, nhằm duy trì quyền lực bằng bạo lực. Mặt khác, giới cầm quyền tranh thủ tham nhũng, đua nhau vơ vét, tước đoạt cả tài sản của Dân. Chính họ, chứ không phải thế lực thù địch nào khác, đã và đang phá nát ĐCSVN. Trạng thái độc đảng đã triệt tiêu sức chiến đấu và bản năng sống lành mạnh của đảng. Buông thả trong thế độc quyền, ĐCSVN đang tự tha hóa, tự hủy diệt, như cỗ xe không phanh, lao xuống dốc, hướng thẳng tới vực thẳm.
Có ý kiến đề xuất tăng cường dân chủ trong nội bộ đảng để bù lại, để tự gột rửa và điều trị căn bệnh ung thư đã bước sang giai đoạn di căn. Nhưng không thể tồn tại dân chủ trong một đảng độc quyền. Chỉ có dân chủ ngoài xã hội mới thúc đẩy dân chủ trong đảng, chứ không phải ngược lại.
Khước từ dân chủ xã hội, trong đó có thể chế đa đảng, ĐCSVN không chỉ gây thêm thù oán với Dân, mà còn tự tước bỏ khả năng đề kháng và hy vọng chữa trị căn bệnh nan y của chính mình. Sự bảo thủ kiêu ngạo đã bịt mắt giới lãnh đạo, khiến họ cố tình làm ngơ trước thực tế là: Đảng Nhân dân Camphuchia, một đảng từng được ĐCSVN nâng đỡ và phải đương đầu với hoàn cảnh khó khăn gấp bội, vẫn có thể giữ được quyền lãnh đạo đất nước thông qua bầu cử, mà không cần phải bức hại đa nguyên, không cần phải cưỡng bức Hiến pháp.
Cần phải nói thêm rằng: Quy định ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không có nghĩa nó là lực lượng lãnh đạo duy nhất, càng không phải là đảng duy nhất được phép tồn tại. Do đó, kể cả khi duy trì Điều 4 củaHiến pháp 1992, thì việc ngăn cấm các đảng phái chính trị khác thành lập và hoạt động là vi phạm quyền tự do hội họp, lập hội, được quy định tại Điều 69, Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tử huyệt sở hữu toàn dân về đất đai
Hiến pháp 1946 không đề cập đến đất đai. Hiến pháp 1960 chỉ quy định đất hoang thuộc sở hữu của toàn dân. NhưngHiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 thì quy định (toàn bộ) đất đai thuộc sở hữu toàn dân.
“Sở hữu toàn dân” lại có nghĩa là chẳng người dân nào có quyền sở hữu. Trớ trêu thay, nhân danh “sở hữu toàn dân” để tước đi quyền sở hữu của toàn dân. Những mảnh đất vốn dĩ có chủ, được khai hoang, được trao đổi, mua bán, hay được thừa kế hợp pháp từ bao đời, nay bỗng nhiên trở thành vô chủ. Bộ máy cầm quyền, vốn dĩ chẳng có gì, mà nay lại chiếm được tất cả, trong đó có quyền quyết định về đất đai trong cả nước.
Để vận động hàng chục triệu nông dân giúp đỡ cướp chính quyền, ĐCSVN đã giương khẩu hiệu “dân cày có ruộng”. Chữ“có ruộng” ở đây đương nhiên là “sở hữu ruộng đất”, chứ không phải chỉ là “có quyền sử dụng đất”. Sau khi giành được chính quyền ở miền Bắc, đảng đã lấy ruộng của người giàu chia cho người nghèo, rồi tiếp đó lại vận động nông dân góp ruộng để làm ăn tập thể, trong mô hình hợp tác xã nông nghiệp. Khi đã giành được chính quyền trong cả nước, lãnh đạo ĐCSVN quyết định quốc hữu hóa đất đai, dưới hình thức “sở hữu toàn dân”Nếu biết trước kết cục sẽ mất đất như vậy, liệu hàng triệu người có còn theo đảng, giúp đảng giành chính quyền nữa hay không?
Khi chính quyền tử tế, có khả năng sử dụng đất đai một cách vô tư, hợp lý và công bằng, thì sở hữu toàn dân về đất đai có thể tạo ra một sức mạnh cộng hưởng để xây dựng đất nước. Và người dân có thể tự an ủi rằng mình hy sinh bớt lợi ích cá nhân để phục vụ lợi ích cộng đồng, trong đó có cả bản thân và gia đình mình. Nhưng khi chính quyền tham nhũng thì sở hữu toàn dân về đất đai gây ra đại họa, không chỉ làm khổ muôn dân, mà phá nát cả chính quyền.Chỉ mất mấy giây hạ bút, kẻ mang danh “công bộc” đã có thể vơ về cả đống tiền của, mà một người lao động chân chính lăn lộn cả đời cũng không kiếm nổi. Chỉ với mấy chữ ký loằng ngoằng của mấy kẻ có chức quyền, hàng trăm, hàng ngàn người dân đã bị tước mất đất đai, nơi họ đang làm ăn, sinh sống, trở thành dân oan, lang thang khiếu kiện khắp nơi. Càng duy trì sở hữu toàn dân về đất đai, thì càng gia tăng oán hận của Dân, càng sinh sôi tham nhũng trong tầng lớp lãnh đạo, và càng đẩy nhanh quá trình tự hủy diệt của chế độ.
Bộ máy cầm quyền đầy ắp những kẻ tha hóa, cấu kết với bao kẻ vốn đã lưu manh từ trước khi chen chân vào chốn quan trường. Cái thứ “sở hữu toàn dân” ngon lành và dễ ăn như thế, làm sao kìm nổi lòng tham? Có thể những người đã no nê cũng tán thành tư nhân hóa đất đai, vừa giũ bỏ được cái nguồn kiếm chác béo bở đã trở thành “của nợ”, vừa có được quyền sở hữu vĩnh viễn cho số đất đai đã thu gom bấy lâu. Nhưng những vị còn chưa thấy đủ no và những kẻ kế cận đang mong chờ đến lượt mình được vơ vét thì lại không dễ buông tha.
Muốn nuốt thì hóc, mà muốn nhả ra cũng không hề dễ. Tư nhân hóa đất đai thế nào? Trao quyền sở hữu cho ai và trao bao nhiêu? Khi còn là sở hữu toàn dân thì chủ đất cũ đành chịu lặng thinh. Nhưng khi mảnh đất vốn của mình lại được giao cho một người lạ hoắc sở hữu, thì chủ cũ đâu dễ chịu ngồi im. Đất đai vốn dĩ nằm trong trạng thái phân bổ tương đối ổn định và hợp lý về mặt lịch sử, mấy chục năm qua bị đẩy vào tình trạng hỗn loạn. Nếu bây giờ muốn sửa chữa sai lầm, lập lại trật tự, thì lại quá khó. Hoàn cảnh thực tại giống như gã phàm ăn nuốt phải lưỡi câu: Nuốt tiếp thì vướng cước và có thể bị chọc thủng dạ dày, mà lôi ra thì móc vào cổ họng.
Thách thức vượt quá năng lực tư duy và hành động của những đầu óc u mê, trí tuệ giáo điều. Biết làm gì ngoài việc câu giờ, dồn hậu họa lên đầu những người kế nhiệm?
Quả là rất khó để thoát ra khỏi tình trạng sa lầy về sở hữu đất đai. Sai lầm càng lớn thì khắc phục càng khó. Songlãnh đạo ĐCSVN cần xác định rằng họ có trách nhiệm giải thoát Dân tộc ra khỏi bãi lầy, mà chính đảng đã đẩy Dân tộc xuống. Nếu biết huy động trí tuệ của Dân tộc và tạo được sự đồng thuận của Nhân dân, thì khó mấy cũng làm được. Cách làm như thế nào không phải là chủ đề trao đổi của bài này. 
*
*      *
Quy định trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo đương nhiên của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội tưởng để đảng trường tồn, nhưng lại là điều khoản khai tử của ĐCSVN, khai tử khỏi lòng Dân và khai tử khỏi cuộc sống chính trị.
Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý như cỗ máy khổng lồ, từng phút từng giờ đùn ra hàng đống thuốc nổ, nén chặt vào lòng Dân. Nó giống loại ma túy cực độc, có thể thỏa mãn cơn nghiện tham lam vô biên của giới cầm quyền, nhưng cũng tăng tốc quá trình tự hủy diệt của ĐCSVN và chế độ do đảng dựng nên.
Vì vậy, nếu muốn bảo vệ ĐCSVN và chế độ này, thì cần phải nhanh chóng loại bỏ hai quy định đó ra khỏi Hiến pháp.
Ngược lại, nếu muốn gạt bỏ sự lãnh đạo của ĐCSVN, thì có thể sẽ sớm được toại nguyện, nếu tiếp tục duy trì hai quy định ấy trong Hiến pháp, bởi lẽ không có cách phá nào nhanh hơn là tự phá.
H.X.P.
Hà Nội, 11/01/2013
Nguồn: Blog Hoàng Xuân Phú
Cùng tác giả:
-       Viễn tưởng từ chức
-       Bài học tồn vong từ thảm họa
-       Nhận thức mới: Lấy là bỏ, bỏ là lấy
-       Lực cản Nhà nước pháp quyền
-       Trải bốn nghìn năm còn chậm lớn
-       Chiến binh cầm bút
-       Hãy để lương tâm lên tiếng một lần!
-       Một số khía cạnh hình sự của vụ án Tiên Lãng – Hải Phòng
-       Nhân vụ Tiên Lãng bàn về công vụ
-       Quyền biểu tình của công dân

1554. Phản phản biện

Phản phản biện

Ba Sàm
Nếu gọi những ý kiến của người dân đóng góp cho chính sách, luật pháp mà nhà nước đặt ra là “phản biện” thì trong bài này xin được tạm gọi “phản phản biện” là những ý kiến từ phía nhà nước hoặc những ai thử đặt mình vào địa vị của nhà nước để trao đổi lại với những phản biện của người dân.
1- Yếu kém. Từ lâu, nhiều lần, chúng tôi đã nêu lên một thực trạng không có lợi chút nào cho nhà nước Việt Nam, đương nhiên cũng tác động dội lại làm cho dân khổ, đó là họ rất yếu trong đối thoại với người dân. Mà một lý do quan trọng là họ hầu như không có những cây viết có trình độ, thực tâm, và có phương pháp khoa học, văn minh để trao đổi, tranh luận với người dân trên báo chí của nhà nước và mạng xã hội nhằm cho dân hiểu hơn về mình, rằng có những điều khó nói, có những khó khăn chưa thể vượt qua, có những hiểu lầm do chính bộ máy yếu kém, không thống nhất đã không hoàn thành trách nhiệm của mình, v.v..

Một phần vì vậy mà không thể không thấy có những cái nhìn quá nghi kỵ, đánh giá quá xấu với toàn bộ bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị, kể cả toàn báo giới được gọi là “lề phải”. Cái “quá” ở chỗ người dân khó thấy trong lòng cỗ máy khổng lồ đó, có rất nhiều con người giỏi giang, có nhiệt tâm, âm thầm cố làm được những gì ích nước lợi dân, hoặc chí ít thì cũng bớt càng ít càng tốt những gì có hại cho dân trong công việc làm, quyết định của mình hàng ngày. Họ cần được khích lệ bằng cách nào đó!
2- Cụ thể. Vậy cái đang được gọi là “phản phản biện” của nhà nước hiện nay trước “phản biện” của dân có hình hài ra sao? Xin tạm chia nó ra làm 3 loại.
Loại thứ nhất, là những bài viết chụp mũ, nói xấu vu vơ, bới móc đời tư đối tượng cần tấn công, mà thiếu lý lẽ thuyết phục và không bao giờ có tranh luận trực diện; ví như với một chủ đề nào đó, bài của “người nhà nước” và người dân phải được đăng tải công khai như nhau, được tiếp nhận đầy đủ ý kiến độc giả. Trong hàng ngũ này gần như không có một cây viết nào trong số nhà báo, nhà nghiên cứu, hàng ngũ trí thức được độc giả tin cậy, hoặc có thì lại không “dám” công khai danh tính. Thứ sản phẩm này hầu như mới chỉ có trên báo Quân đội Nhân dân, gần đây có thêm báo Nhân dân.   
Loại thứ hai, mới đây xuất hiện kha khá, trên các blog, trang mạng tự do, là những “độc giả” lên tiếng bảo vệ cho cá nhân lãnh đạo nào đó, cho chế độ, mà mấy hôm trước đã được ông Trưởng ban Tuyên giáo Hà Nội công khai cho biết. Cách “làm việc” và chất lượng thông tin mà những nhân vật này thực hiện là rất tệ, phản tác dụng.
Loại thứ ba, đáng chú ý, đáng bàn nhất. Họ có thể nằm trong số những blogger, những cây viết tiếng tăm trên mạng, các nhà báo, nhà văn ít nhiều có được cảm tình của người đọc. Họ có thể là người có những quan điểm không giống với đại chúng, có những cảm thông chân thành với phía nhà nước trong một số vấn đề, nhưng không dễ trình bày thẳng thắn mà không sợ bị độc giả chỉ trích, quay lưng. Họ có thể là những người hôm qua còn chỉ trích nhà nước rất nhiều, nhưng hôm nay đã thay đổi, vì một lẽ nào đó. Hoặc, không như nhiều người, cũng có thể có những điều họ không tán thành với nhà nước, nhưng phần lớn là ngược lại, họ ủng hộ nhiệt thành. Trong con người họ, những thói quen, nhận thức khuôn sáo, phản tiến bộ của một thời, khó gột rửa hết ngay được. Những nhân vật trên có thể nhận được “đơn đặt hàng” chính thức từ người của nhà nước, nhưng cũng có thể họ chỉ nhận được một lời nhờ vả có tính “bạn bè”, mà đằng sau là ý muốn của cơ quan chức năng nào đó. Thậm chí, có khi chỉ vì muốn thể hiện mình “không giống ai”, không theo “tâm lý bầy đàn”, … họ liền trình diễn màn xảo ngôn, theo đúng ý đồ của kẻ khác, mà quên rằng thiên hạ giờ đây đâu có còn khờ nữa. Họ đã thiếu trách nhiệm với cộng đồng, đặt cái “tôi” của mình quá cao, quên mất một điều quan trọng mà sơ đẳng là càng có ảnh hưởng trong dân chúng, thì càng phải cẩn trọng và có trách nhiệm hơn với lời lẽ của mình. Như vậy, nghiễm nhiên họ trở thành “đội quân thứ ba” một cách vô tình mà không hay biết. Dạng cuối cùng, họ có thể là người của nhà nước, được giao trọng trách trong thời gian đầu hãy bằng mọi cách giành được sự tin yêu nơi độc giả, trở thành “người của công chúng”, để rồi dần dần lái dư luận theo hướng có lợi cho nhà nước theo cách mà đông đảo người dân không muốn, hoặc đôi lúc cần thì “xuất chiêu” trong một “phi vụ” cụ thể để tránh cho nhà nước, cho các vị lãnh đạo phải chịu một áp lực tức thời không lợi cho họ từ phía người dân, sau đó lại “thu quân”.
Điểm yếu nhất của các cây viết thuộc “đội quân thứ ba” là bị thiếu đi lối viết ngay thẳng, thường phải chuyển tải ý tứ của mình bằng cách nói vòng vo, ám chỉ, “ngồi lê đôi mách”, bới móc đời tư, tung tin vu vơ, hèn hạ, tinh vi, hiểm độc, khai thác sở thích tò mò, thói thóc mách, nganh ghét, đố kỵ, nghi ngờ, cố dùng lời lẽ dung tục – tầm thường hóa đối tượng cần chỉ trích, từ đó đánh lạc hướng dư luận lao vào tranh cãi hoặc tìm hiểu, không còn quan tâm mấy tới chủ đề chính nữa, … Người đọc đôi khi khó thấy ngay “chiến thuật” này, nhưng nó chỉ dễ “sống” được ở thời báo giấy, còn thời đại Internet ngày nay thì lại nguy hiểm cho chính người viết, dễ bị lộ mặt, mất “giá” hoàn toàn.  
Ngay từ những ngày đầu ra đời blog này, cách đây 5 năm 4 tháng, chúng tôi luôn xác định việc đăng bài vở, điểm báo, blog và bình luận, đều hướng tới thông tin đa chiều, công bằng, cố tránh cảm tính, định kiến, ác cảm. Nhiều báo, đài, blogger, nhiều cây viết nhận được những góp ý thẳng của chúng tôi, có khi tỏ ra khó chịu và hiểu lầm, thậm chí có cả lời lẽ miệt thị đáp trả. Nhưng rồi chính họ cũng lại vẫn nhận được ở chúng tôi những lời nhận xét trân trọng khi có những bài viết hay, những ứng xử mà người khác đáng phải noi theo.
Bằng cách làm đó, chúng tôi không cố công phát hiện “đội quân thứ ba” nói trên để phân biệt họ với những người khác. Tự những bài viết của họ, cùng với bình luận của độc giả và của chúng tôi, sẽ cho thấy dần họ là ai, hoặc hôm qua, có lúc họ như vậy, nhưng hôm nay đã khác rồi, theo chiều hướng tốt, hay ngược lại. Những ai có điều kiện theo dõi kỹ sẽ nhận ra điều này. Vài lo ngại, khó chịu của độc giả, hoặc chính đối tượng mà chúng tôi bình luận, sẽ được “hóa giải” bằng thực tế qua cách làm việc, xử sự của chúng tôi.
3- Thử nghiệm. Từ những đánh giá nói trên, chúng tôi từng nghĩ tới ý định lập nên một blog nữa, chỉ chuyên về “phản phản biện”, thử đặt mình vào địa vị người nhà nước, để tranh luận với những “phản biện” của người dân về nhiều vấn đề liên quan tới chính sách của nhà nước. Làm “thị phạm” một thời gian, để khích lệ những người khác cùng tham gia.
Rất muốn thực hiện điều đó, trước hết vì từng lăn lộn trong cơ quan nhà nước, thấy không ít điều trong gan ruột của nó, những cái dở người dân nhìn thấy, nhưng cũng có những cái tốt, người tốt thì người dân lại khó thấy được. Những người kém cỏi, vụ lợi, thiếu công minh trong nhà nước thì cứ chiếm thế thượng phong, còn người tốt, tài giỏi, có thực tâm, thì thiếu chỗ để cất lên tiếng nói của mình. Kể cả không ít người lãnh đạo thực sự muốn thay đổi tốt lên, nhưng họ bị phong tỏa, đầu độc thông tin, họ bị dân nghi ngờ, đánh giá xấu hết thảy. Tình trạng này càng kéo dài thì “người nhà nước” và người dân càng xa cách nhau.
Lực lượng “phản phản biện” mà chúng tôi muốn có này có thể coi là “đội quân thứ tư” thuộc về nhà nước, để đối thoại một cách sòng phẳng, bình đẳng, công khai với người dân, không như ba “đội quân” kia.
Một “lối thoát” khác cũng đã được chúng tôi đưa ra trong cuộc Hội thảo Tác động của truyền thông xã hội lên tác nghiệp báo chí mới đây, với tham luận “Đặc khu Thông tin”; đã có một số độc giả thắc mắc, nghi ngờ mục đích, mà chúng tôi chưa có dịp trình bày kỹ hơn.
4- Vài ví dụ, để thử nghiệm một lối tranh luận, đối thoại ngay thẳng giữa nhà nước với người dân:  
- Mới đây nhất là chuyện Nghệ sĩ Kim Chi. Dễ hiểu là phía nhà nước lo ngại, với ít nhất 2 lý do. Họ sợ thái độ “bất kính” với giới lãnh đạo lây lan trong nhân dân và cán bộ, niềm tin vào đảng, nhà nước giảm sút. Họ sợ “mất giá” những loại giải thưởng, danh hiệu này nọ, “công tác tư tưởng”, tuyên truyền theo kiểu truyền thống bị thách thức.
Tiếc là họ hầu như chỉ có một cách đối phó duy nhất, khi mà bà Kim Chi không phải thuộc diện “thế lực thù địch” để có thể có những bài viết công kích trên mặt báo. Thế là báo chí tự biết phải lờ đi và trên mạng tự do thì  họ tìm cách giảm nhẹ hiệu ứng lan truyền, bằng cách làm cho hình ảnh bà có đôi chút lem luốc, tầm thường. “Đội quân thứ hai” đã được huy động. Còn “đội quân thứ ba” … có lẽ đã được tận dụng?
Và đây là cách lập luận giả định cho “đội quân thứ tư” mà chúng tôi muốn nhà nước cần thử nghiệm:
Việc bà Kim Chi coi ông thủ tướng như là người phải chịu trách nhiệm duy nhất, cao nhất cho việc “làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân” là không chuẩn xác. Ông chẳng qua chỉ là gã tài xế bị buộc phải chọn cỗ xe kỳ dị “kinh tế thị trường định hướng XHCN”, mà trên đó là một đám lơ xe lười nhác, dối trá nhưng ông không thể đuổi việc được, mỗi ý định của ông đều phải xin ý kiến cả một đám chủ xe. Dẫu có ông Trời cầm lái cỗ xe đó cũng không thể cho nó đi tới nơi tới chốn. Chưa bao giờ chuyện này được đem ra mổ xẻ công khai. Rất có thể khi được “phân xử” một cách công minh, thì người chịu trách nhiệm lớn nhất cho việc “làm nghèo đất nước” này lại chính là người nắm quyền cao nhất nhưng cứ ôm khư khư cái “định hướng XHCN”, liệu có phải là ông thủ tướng nữa không?Nên bà Kim Chi đã có nhận định cảm tính, thiếu hiểu biết về cơ chế vận hành của cỗ xe này.
- Một ví dụ về cuốn “Bên thắng cuộc” của Nhà báo Huy Đức đang được dư luận rất quan tâm. Thay cho lý sự nóng vội và chụp mũ của Nhà báo Đức Hiển, ta thử giả định một lập luận khác xem sao, đó là:
Ông Huy Đức là một nhà báo, nhưng có được nhiều tư liệu sử, một lĩnh vực dù sao cũng xa lạ với ông, vậy tại sao ông không đem những tư liệu này trao đổi với giới sử học, cùng tìm tới một cách sử dụng hữu ích, khả dĩ chấp nhận được cho nhà nước này, từng bước làm biến chuyển những đầu óc bảo thủ, cứ muốn bưng bít sự thực lịch sử mãi? Vì chắc chắn giới lãnh đạo hiện nay cũng không được biết nhiều thông tin, những khúc mắc của lớp đàn anh mà ông Huy Đức có được và đưa ra trong cuốn sách. Nếu họ được tiếp cận theo một phương pháp khéo léo, rất có thể sẽ tốt cho họ, hơn là phải tiếp cận “thụ động” và rất sốc như hiện nay khi cuốn sách được xuất bản ở Mỹ, từ một NXB người Việt hải ngoại.
Sẽ là chưa muộn để phía chính quyền và ông Huy Đức, cùng nhiều người khác đã, đang viết những cuốn hối ký, sách lịch sử gặp nhau ở một điểm chung, hơn là sự đối đầu. Còn đem nghị định nào đó ra áp dụng để xử lý hình sự, như ông thứ trưởng Đỗ Quý Doãn nói, thì chỉ bế tắc thêm.
- Về quan hệ với Trung Quốc. Có những khó khăn mà không dễ nói ra với mọi tầng lớp nhân dân. Thử một cách lập luận sau:
Giới lãnh đạo trong nhiều nhiệm kỳ vừa qua đều phải chịu một gánh nặng hậu quả ghê gớm từ những gì mà lớp đàn anh đã làm trong hàng chục năm, thậm chí có nhiều điều họ còn chưa biết, liên quan tới quan hệ Việt – Trung. Họ buộc phải thực hiện cuộc lội suối dò đường trong mối quan hệ này. Không khéo, có thể phía “bạn” chơi khăm, tung ra một loạt tư liệu động trời làm sửng sốt người dân, từ đó gây bất ổn xã hội, chỉ có lợi cho Trung Quốc. Một phần vì vậy mà người dân cứ thấy có vẻ như họ lúng túng, che đậy nhiều quyết định, thông tin quan trọng mà lẽ ra người dân phải được biết. Có lẽ họ đang âm thầm xử lý khéo léo chăng?   
- Về đường lối xây dựng, phát triển đất nước trong nhiều năm qua, luôn bị đông đảo người dân cho là có nhiều sai lầm. Xin gợi ý một cách nhìn nhận vấn đề theo hướng khác:
Đó là thực ra chúng ta đang phải chịu cả một sai lầm “vĩ đại” của cả nhân loại từ khi khoa học công nghệ, chủ nghĩa tư bản, thậm chí cả văn minh phương Tây với đề cao tự do, phát triển năng lực cá nhân, ngày càng được coi là thứ ưu việt tuyệt đối. Chính những thứ này đã lôi cuốn cả thế giới vào một cuộc chạy đua mù quáng, tàn phá ngôi nhà chung của nhân loại, thỏa mãn nhu cầu tiện nghi vô độ của hiện tại, gây hậu quả khôn lường lên các thế hệ mai sau, đẩy toàn nhân loại ngày càng nhanh tới thời điểm diệt vong. Một cuộc tự sát từ từ, hầu như chưa có cách nào thoát khỏi. Vô tình Marx đã đúng một phần: CNTB không những “giãy chết” mà nó sẽ còn kéo theo cả nhân loại chết theo.  
 5- KếtMấy ví dụ trên để nói lên một điều rằng nếu như có những bài viết với những lập luận tương tự, được đăng trên các trang “không chính thống” thì sẽ giúp tạo nên không khí đối thoại công khai, bình đẳng, tạo sự cảm thông nhất định giữa người dân và chính quyền, mà chính quyền thì có thể tránh bị ràng buộc vào những nguyên tắc cứng nhắc nhất định của thể chế chính trị chưa thể sớm gỡ bỏ ngay được.
Với phương pháp này, qua “đội quân thứ tư”, cũng là để giảm bớt dần 3 đội quân kia, là thứ “hắc ám” không phù hợp với một xã hội văn minh, dễ làm lòng dân thêm căm ghét và xa cách, cần sớm được dẹp bỏ.
BS

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét