Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

Việt Nam: một người Pháp trong dòng xoáy Biển Đông

Libération
Ngày 27-12-2011 Người dịch: N.T.N. *
Năm 2003, ông đã ngồi trên nóc nhà thờ chính tòa Beziers ở miền Nam nước Pháp, để phản đối việc thời gian ông bị giam cầm đã không được tính vào lương hưu. Và chỉ rời khỏi đó sau 44 ngày, khi yêu cầu được chấp thuận. (© AFP Dominique Faget)
Hà nội (AFP) – Trong chiến tranh Việt Nam, André Menras đă từng bị cầm tù tại Sài Gòn vì ủng hộ những người cộng sản miền Bắc. Giờ đây, người Pháp này lại một lần nữa trở thành tâm điểm của hồ sơ nóng bỏng tại Việt Nam (tổ quốc thứ hai của ông): tham vọng bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc.

Không nghi ngờ gì, người chiến binh 66 tuổi khác thường này là người nước ngoài duy nhất âm thầm khuấy động một hồ sơ cấm kỵ và nguy hiểm: những tranh cãi giữa Hà Nội và Bắc Kinh về quần đảo tại Biển Đông.
Là giáo viên nghỉ hưu, sống với gia đình ở miền Nam nước Pháp nhưng ông đi về Việt Nam rất thường xuyên từ 10 năm nay, những câu chuyện của những người dân chài ở Quảng Ngãi, những người thường xuyên ra khơi trong vùng quần Hoàng Sa theo cách gọi của người Việt làm ông vô cùng xúc động.
Ông giải thích với phóng viên AFP: « Họ là những người hiện hữu duy nhất, hàng ngày xác nhận chủ quyền lãnh hải của Việt Nam »
Ông đã quyết định vinh danh họ bắng cuốn phim tài liệu « Hoàng Sa, nỗi đau này » với sự chấp thuận của bộ ngoại giao.
Vậy mà lần trình chiếu đầu tiên bộ phim tại thành phố Hồ Chí Minh đã bị hủy bỏ một cách thô bạo, ông nói tiếp.
Thực tế André Menras không hề chống lại chính quyền cộng sản.
Năm 1968, lần đầu tiên đến Việt Nam như một công tác viên với ý nghĩ “quân đội Mỹ đang bảo vệ các giá trị tự do, chống lại những người Việt Cộng hung dữ”, ông đã nhanh chóng thay đổi ý nghĩ khi được tận mắt chứng kiến cuộc chiến.
Tự nhận mình là kẻ phản kháng, năm 1970, ông đã trương một băng khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tại Sài Gòn. Vì hành động này ông đã bị tù 2 năm.
Năm 2009, ông là một trong những người nước ngoài hiếm hoi nhận được quốc tịch Việt Nam, do chính chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao tận tay với lời phát biểu « ông đã đứng về phía chúng ta trong những thời điểm khó khăn nhất».
Từ đó ông mang tên Hồ Cương Quyết. Hồ chính là họ của Hồ Chí Minh, người sáng lập đảng cộng sản Việt nam, còn Cương Quyết có nghĩa là kiên định và quyết tâm.
Thậm chí bộ văn hóa Việt Nam đang làm một bộ phim về tôi, ông nói tiếp.
Bộ phim « Hoàng sa – nỗi đau này » cực kỳ « dân tộc chủ nghĩa », bình luận bởi Benoit Tréglodé – giám đốc Viện đương đại Đông Nam Á (Irasec) đóng tại Băng Kốc. Đặc điểm của những người bạn của Việt Nam muốn Việt Nam hơn cả người Việt.
Bộ phim này đến vào thời điểm mà đảng cộng sản Việt Nam không cho phép người dân của mình tham gia vào các vấn đề liên quan đến quan hệ với Trung Quốc, một nhà nghiên cứu cho biết.
Quan hệ giữa hai chính phủ cộng sản đã trở nên căng thẳng kể từ mùa xuân sau khi xảy ra các sự cố quanh các đảo tranh chấp ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Những căng thẳng đã chỉ giảm bớt kể từ khi chính phủ Việt Nam nới lỏng các biện pháp an ninh. Họ đã cho phép một loạt các cuộc biểu tình chống Trung Quốc vào đầu mùa hè, một việc chưa từng có, trước khi đột ngột chấm dứt.
Phim « Hoàng Sa – nỗi đau này » trích dẫn lời kể của ngư dân, các góa phụ về các cuộc tấn công tàu đánh cá Việt Nam của hải quân Trung Quốc, bắt giam ngư dân, đòi tiền chuộc …
“Đó thực sự là sự khủng bố”, con người đã ngoài lục tuần này mạnh mẽ khẳng định, ông quyết định chia sẻ cuộc sống với những người mà ông mô tả là “anh hùng hàng ngày”.
Một quyết định mà ông cũng đã thể hiện trong quá khứ.
Năm 2003, ông đã ngồi trên nóc nhà thờ chính tòa Beziers ở miền Nam nước Pháp, để phản đối việc thời gian ông bị giam cầm đã không được tính vào lương hưu. Và chỉ rời khỏi đó sau 44 ngày, khi yêu cầu được chấp thuận.
Trong khi chờ đợi cho giấy phép phát sóng ở Hà Nội hoặc TP Hồ Chí Minh, mà ông đang đề nghị, bộ phim sẽ được trình chiếu tại Paris vào tháng Giêng. Ông cũng dựa vào Internet để giới thiệu nó, trên Youtube bộ phim này đã được xem hơn 35.000 lần.
Ngay cả những vụ bắt giữ các blogger gần đây bởi chế độ cũng không làm ông sợ hãi. “Năm 20 tuổi tôi đã không sợ, lẽ nào đến nay 66 tuổi tôi lại sợ”.
© 2011 AFP

XUNG QUANH CHUYẾN THĂM VIỆT NAM VÀ THÁI LAN CỦA PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC TRUNG QUỐC TẬP CẬN BÌNH

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt – Thứ năm, ngày 29/12/2011 – TTXVN (Hồng Công 25/12)
 Theo trang tin của hãng thông tấn Bình luận Trung Quốc (Hồng Công) ngày 25/12, nhận lời mời của Việt Nam và Thái Lan, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có chuyến thăm chính thức tới hai nước này từ 20/12 tới 24/12. Kết thúc chuyến thăm, Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân, một trong số những quan chức tháp tùng chuyến thăm, đã có cuộc trao đổi với báo giới về tình hình liên quan cũng như thành quả của chuyến thăm. Dưới đây là nội dung cuộc trao đổi giữa Thứ trưởng Trương Chí Quân với báo giới được đăng trên trang tin của hãng thông tấn Bình luận Trung Quốc:
 Ông Trương Chí Quân cho biết chuyến thăm lần này của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế phát sinh biển đối sâu sắc phức tạp, cục diện châu Á bước vào vòng điều chỉnh mới, ban lãnh đạo mới, chính phủ mới của Việt Nam và Thái Lan thành lập chưa được lâu, là hành động ngoại giao quan trọng trong thời điểm cuối năm của Trung Quốc đối với khu vực xung quanh. Chuyến thăm này có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy và thắt chặt quan hệ đối tác chiến lược giữa Trung Quốc và ASEAN, củng cố và phát triển ngoại giao láng giềng thân thiện với các nước xung quanh.
Chuyến thăm của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình thực hiện theo phương châm “củng cố tình hữu nghị láng giềng thân thiện, tăng cường sự tin tưởng chiến lược với nhau, thúc đẩy hợp tác thiết thực”. Trong chuyến thăm, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình lần lượt tổ chức hội kiến hội đàm với lãnh đạo chính phủ, Quốc hội và chính đảng hai nước, đi sâu trao đối ý kiến thẳng thắn, hữu hảo về các vấn đề trong quan hệ song phương cũng như những vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm, đạt được hàng loạt nhận thức chung quan trọng; lần lượt cùng lãnh đạo hai nước chứng kiến hơn 10 lễ ký văn kiện hợp tác song phương trên các lĩnh vực như kinh tế thương mại, tài chính, thông tin, văn hóa, y tế… giữa hai chính phủ và cơ quan tài chính hai bên, nhằm làm sâu sắc hơn nữa sự hợp tác thiết thực trên các lĩnh vực; tiếp xúc rộng rãi với các học giả thuộc các giới ở địa phương, hoạt động trên các lĩnh vực như kinh tế thương mại, thanh niên, văn hóa, giáo dục… Phó Chủ tịch Tập Cận Bình cũng tham dự nhiều hoạt động giao lưu nhân văn, củng cố nền tảng xã hội của tình hữu nghị láng giềng thân thiện giữa Trung Quốc và hai nước trên Trong thời gian chuyến thăm, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình còn lần lượt tiếp kiến thân mật với nhân viên công tác thuộc Đại sứ quán, cơ quan đầu tư, lưu học sinh Trung Quốc và đại diện Hoa kiều tại hai nước, tham dự và phát biểu tại buổi tiệc chào mừng do các giới Hoa kiều Trung Quốc ở Thái Lan tổ chức, giới thiệu tình hình cải cách phát triển của Trung Quốc, khuyến khích họ đóng góp nhiều hơn cho tình hữu nghị và sự hợp tác giữa hai nước.
Ồng Trương Chí Quân cho biết hai nước đều đánh giá cao chuyến thăm của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, tiếp đãi nhiệt tình hữu hảo với quy cách lễ tân cấp cao. Các thành viên chủ yếu của ban lãnh đạo khóa mới của Việt Nam đều xuất hiện và nhiệt tình hội kiến hội đàm; lãnh đạo hai nước mở tiệc chào mừng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Công chúa Thái Lan Maha Chakri Sirindhorn và Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra đã lần lượt mở tiệc chiêu đãi phạm vi nhỏ; Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra đã đích thân cùng Phó Chủ tịch Tập Cận Bình tham quan triển lãm sản phẩm đặc sắc các nơi mang tên “Mỗi nơi một sản phẩm” và thăm trường học trong khu vực thiên tai ở Thái Lan Những hoạt động được sắp xếp kĩ càng, những cảnh tượng cảm động lòng người đã thể hiện đầy đủ sự đón tiếp nhiệt tình của hai nước đối với lãnh đạo Trung Quốc tới thăm và tình hữu nghị truyền thống của nhân dân hai bên.
1. Củng cố tình hữu nghị láng giềng thân thiện, thúc đẩy sự tin tưởng chính trị lẫn nhau   
Việt Nam và Thái Lan đều là những nước láng giềng quan trọng của Trung Quốc. Sáu mươi mốt năm qua, kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam về tổng thể là phát triển tốt đẹp. Trung Quốc và Thái Lan là hai nước lân bang hữu hảo thân mật, có nền tảng quan hệ sâu sắc. Trong chuyến thăm này, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình cùng lãnh đạo hai nước đã đi sâu trao đổi ý kiến về việc tăng cường sự hiểu biết chiến lược, thúc đẩy hơn nữa quan hệ song phương và đạt được nhận thức chung quan trọng.
Trong thời gian thăm Việt Nam, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình và Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Hồng Anh và Phó Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Thị Doan đã tiến hành hội đàm và tham dự tiệc chiêu đãi tối do Việt Nam tổ chức, hội kiến với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và dự tiệc chiêu đãi phạm vi nhỏ do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tổ chức, lần lượt hội kiến với Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng và Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.
Phó Chủ tịch Tập Cận Bình cho biết việc phát triển tình hữu hảo Trung-Việt là phương châm chiến lược mà Đảng và Chính phủ Trung Quốc kiên định, Trung Quốc nguyện cùng phía Việt Nam thực hiện những nhận thức chung quan trọng mà Tổng Bí thư hai đảng đạt được vào tháng 10/2011, củng cố tình hữu hảo truyền thống, thúc đẩy sự tin tưởng chính trị lẫn nhau, giải quyết thỏa đáng bất đồng trên biển, truyền cây gậy tiếp sức tình hữu nghị láng giềng thân thiện Trung-Việt từ đời này sang đời khác, bảo đảm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước phát triển ổn định lành mạnh lâu dài. Phía Việt Nam cũng cho biết việc phát triển hợp tác hữu hảo với Trung Quốc luôn nằm ở vị trí quan trọng hàng đầu trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam, phía Việt Nam nguyện cùng phía Trung Quốc nghiêm túc thực hiện nhận thức chung quan trọng của Tổng Bí thư hai đảng, tăng cường tiếp xúc cấp cao, thúc đẩy sự tin tưởng chính trị lẫn nhau, đẩy mạnh hợp tác thiết thực, mở rộng giao lưu hữu hảo, xử lý ổn thỏa bất đồng, thúc đẩy quan hệ hữu hảo giữa hai nước phát triển lành mạnh ổn định bền vững và hướng về phía trước. Hai bên đánh giá tích cực nhận thức chung quan trọng và hiệp nghị nguyên tắc cơ bản về xử lý thỏa đáng tranh chấp Biển Đông, đạt-được trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, nhất trí sẽ cùng nỗ lực, quán triệt thực hiện nghiêm túc, thiết thực giữ gìn ổn định Biển Đông.
Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình được tiến hành với hai tư cách: lãnh đạo đảng và lãnh đạo nhà nước. Chuyến thăm đã tăng cường hơn nữa sự qua lại giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã giới thiệu với các nhà lãnh đạo Việt Nam tình hình trong nước và kinh nghiệm xây dựng đảng của Trung Quốc, chỉ rõ phía Trung Quốc nhất quán coi trọng phát triển quan hệ giữa hai đảng, hai bên cần chú trọng thực hiện chương trình hợp tác 5 năm giữa hai đảng, thúc đẩy giao lưu kinh tế trị đảng trị quốc, tăng cường hợp tác giữa các cơ quan cùng chuyên ngành của hai đảng. Phía Việt Nam đánh giá cao những thành tựu phát triển của Trung Quốc, chân thành chúc Đại hội 18 sẽ tổ chức thành công, bày tỏ mong muốn tăng cường hơn nữa giao lưu trao đổi kinh nghiệm trị đảng trị quốc và hợp tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và xây dựng đảng ở hai nước.
Trong thời gian thăm Thái Lan, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã hội kiến với đại diện Quốc vương, Công chúa Maha Chakri Sirindhorn và tiến hành hội đàm với Thủ tướng Yingluck Shinawatra, tham dự tiệc chiêu đãi chào mừng và ăn sáng bàn tròn phạm vi nhỏ do phía Thái Lan tổ chức. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình còn hội kiến với Chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ tịch Hạ viện Somsak Kiatsuranont, Chủ tịch Hội đồng Cơ mật Prem Tinsulamonda và Chủ tịch Đảng Dân chủ, cựu Thủ tướng Abhisit Vejjajiva.    
Phó Chủ tịch Tập Cận Bình cho biết phía Trung Quốc coi trọng phát triển quan hệ hữu hảo với Thái  Lan, nguyện cùng Thái Lan mở rộng giao lưu cấp cao, thúc đẩy sự tin tưởng chiến lược lẫn nhau, cùng nỗ lực nâng quan hệ hợp tác mang tính chiến lược giữa hai nước lên tâm cao mới. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình còn nhiều lần thăm hỏi về thảm họa lũ lụt ở Thái Lan. Các nhà lãnh đạo Thái Lan đánh giá cao quan hệ giữa Thái Lan và Trung Quốc, cảm ơn phía Trung Quốc đã viện trợ và thăm hỏi tình hình thiên tai đối với Thái Lan ngay trong thời gian đầu, bày tỏ mong muôn tăng cường hơn nữa sự hiểu biết lẫn nhau và phổi hợp với phía Trung Quốc, thúc đẩy quan hệ và hợp tác trên các lĩnh vực giữa hai nước tiến triển mạnh hơn.
2. Duy trì truyền thống hữu nghị, thúc đẩy giao lưu nhân văn “Mối tình thắm thiết Việt-Trung, vừa là đồng chí vừa là anh em”, tình hữu nghị Trung-Việt mà các nhà lãnh đạo lão thành hai nước đích thân xây dựng và dầy công vun đắp có được không dễ dàng, vô cùng quý báu, Quan hệ hữu hảo giữa Trung Quốc và Thái Lan có lịch sử lâu đời, “Trung Quốc, Thái Lan tình thân một nhà” là miêu tả sinh động về quan hệ hữu hảo giữa hai nước và tình hữu nghị sâu đậm giữa nhân dân hai nước. Chuyến thăm lần này của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình coi trọng việc duy trì tình hữu nghị truyền thống giữa Trung Quốc và hai nước, thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và giao lưu giữa các tầng lớp nhân dân, đặc biệt trong chuyên thăm đã diễn ra một loạt hoạt động quan trọng, nhận được những phản ứng tích cực từ các giới chính trị và xã hội hai nước cũng như đạt được hiệu quả Trong thời gian thăm Việt Nam, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã kính cẩn viếng thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và thăm quan nơi ở của Người, nghe kể về những câu chuyện qua lại hữu hảo thân thiết giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời với các bậc lão thành cách mạng Trung Quốc và đã viết lời tựa tại nơi ở cũ của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng: “Tinh thần vĩ nhân nghìn thu ca tụng, mối tình hữu nghị Trung-Việt đời đời lưu truyền” (Vĩ nhân tinh thần thiên thu tụng, Trung-Việt hữu nghị thế đại truyền). Khi cùng lãnh đạo Việt Nam gặp gỡ hơn 500 thanh niên hai nước, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã khích lệ các bạn trẻ hai nước cố gắng là những người truyền dẫn tình hữu nghị truyền thống Trung-Việt, đảm đương vai trò của đội quân đầy sức sống của sự nghiệp hợp tác hữu hảo Trung-Việt, trở thành sứ giả của tình hữu hảo truyền đời Trung-Việt. Trong hội kiến, hội đàm, các nhà lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh tình hữu nghị truyền thống Việt- Trung là tài sản quý báu, là tài sản vô giá của nhân dân hai nước, thanh niên hai nước nên nghiêm túc thực hiện sứ mệnh lịch sử, đóng góp cho tương lai tốt đẹp xán lạn của quan hệ hai nước, để quan hệ hữu nghị Việt- Trung lưu truyền đời đời.
Trong thời gian thăm Thái Lan, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã sắp xếp tọa đàm với các nhân vật chính yếu trước đây của Thái Lan như Chuan Leekphai (cựu Thủ tướng), Banharn Silpa-archa (cựu Thủ tướng), Chavalit Yongchaiyudh (cựu Thủ tướng)… cùng các nhân sĩ hữu hảo và đại diện các giới, cùng Thủ tương Yingluck Shinawatra tới thăm và tặng máy tính bảng cho học sinh trường trung học Rattanakosin Sompoj ở vùng lũ, thăm quan Đại học Chualalongkorn nổi tiếng nhất Thái Lan, thăm Học viện Khổng Tử… Phó Chủ tịch Tập Cận Bình chỉ rõ hai bên cần phải tiếp tục đi sâu hợp tác về văn hóa, giáo dục ngôn ngữ, du lịch và giao lưu thanh thiếu niên, mở rộng tiếp xúc giữa nhân viên, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng giao lưu nhân văn, để tình hữu nghị giữa Trung Quốc và Thái Lan lưu truyền mãi mãi. Các giới ở Thái Lan đều nhiệt liệt hoan nghênh chuyến thăm của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, bày tỏ mong muốn không ngừng làm sâu sắc hơn sự hiểu biết đối với văn hóa Trung Hoa, làm sâu sắc hơn tình hữu nghị đời đời “Trung Quốc, Thái Lan tình thân một nhà”.
3. Thúc đẩy hợp tác thiết thực, đẩy mạnh cùng phát triển Thúc đẩy hợp tác thiết thực giữa Trung Quốc và Việt Nam, Thái Lan là một trọng điểm trong chuyến thăm của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình tới hai nước này. Trung Quốc và Việt Nam, Thái Lan là đối tác thương mại quan trọng của nhau, mấy năm lại đây, quy mô hợp tác kinh tế thương mại cùng có lợi giữa hai bên không ngừng tăng lên, lĩnh vực hợp tác không ngừng được mở rộng, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai bên. Trong bối cảnh những ảnh hưởng ở tầng sâu cửa cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế được thể hiện rõ hơn, sự phục hồi kinh tế của thế giới thiếu động lực, việc Trung Quốc nâng cao hơn nữa hợp tác thiết thực với Việt Nam, Thái Lan và ASEAN có ý nghĩa hiện thực và lâu dài quan trọng.
Trong thời gian thăm viếng, Phó Chủ tịch Tập Cận Bỉnh nhiều lần tỏ rõ thái độ tích cực của phía Trung Quốc trong việc thúc đẩy hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực với Việt Nam và Thái Lan và đã nhận được phản ứng tích cực từ hai nước này. Dưới sự chứng kiến của lãnh đạo hai nước, Trung Quốc và Việt Nam, Thái Lan đã ký hơn 10 hiệp định hợp tác giữa chính phủ và cơ quan tài chính hai bên về các lĩnh vực như kinh tê thương mại, tài chính, tư pháp, y tế, thông tin, phòng chống thiên tai.., đóng vai trò thúc đẩy tích cực đối với việc mở rộng lĩnh vực hợp tác, nâng tầm hợp tác, bổ sung nội hàm hợp tác và đẩy mạnh cùng phát triển giữa Trung Quốc và hai nước trên.
Trong thời gian thăm Việt Nam, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình chỉ rõ hai bên cần tiếp tục sử dụng tốt các cơ chế như ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Trung-Việt, thúc đẩy hợp tác thiết thực một cách toàn diện, thực hiện cùng có lợi cùng thắng và đưa ra một loạt kiến nghị cụ thể. Phía Việt Nam hoàn toàn tán đồng, biểu thị nguyện cùng phía Trung Quốc thúc đẩy hợp tác thiết thực, cùng có lợi trên các lĩnh vực, thực hiện phát triển mạnh mẽ hơn trong quan hệ hai nước. Trung Quốc và Việt Nam nhất trí rằng cần thực hiện tốt “Quy hoạch Phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Trung-Việt”, nỗ lực thực hiện mục tiêu mới là đạt kim ngạch thương mại hai chiều 60 tỉ USD vào năm 2015, tiếp tục ra sức đẩy mạnh hợp tác “hai hành lang, một vành đai kinh tế” và xây dựng Khu Hợp tác kinh tế xuyên biên giới.
Trong thời gian thăm Thái Lan, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình nhấn mạnh hai nước cần phát huy đầy đủ vai trò của các cơ chế như ủy ban Liên hợp kinh tế thương mại cấp phó Thủ tướng, tìm kiếm con đường và phương thức mới để thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực như kinh tế thương mại giữa hai nước, rót động lực mới vào sự phát triển của quan hệ hai nước. Phía
Thái Lan biểu thị nguyện nỗ lực cùng phía Trung Quốc thúc đẩy tăng trưởng hàng năm với tôc độ cao về thương mại, đầu tư và du lịch giữa hai nước. Trung Quôc và Thái Lan đồng ý nhanh chóng thương thảo ký kết “Quy hoạch Phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Trung-Thái” nỗ lực thực hiện mục tiêu mới là đạt kim ngạch thương mại hai chiều 100 tỉ USD vào năm 2015 và đạt được một loạt nhận thức chung quan trọng trên phương diện hợp tác thiết thực trong các lĩnh vực như thủy lợi, năng lượng nông nghiệp, hải dương hay tăng cường xây dựng hạ tầng cơ sở, trong đó có đường sắt cao tốc.
4. Tăng cường tính công khai của chính sách, thúc đẩy phát triển quan hệ chỉnh thể giữa Trung Quốc và ASEAN
Thế giới hiện nay trong thời kỳ phát triển nhanh, thay đổi lớn, điều chỉnh mạnh, vai trò ..của Đông Á và ASEAN ngày càng quan trọng, vị trí tiêp tục được nâng lên. Việt Nam và Thái Lan đều là hai hành viên quan trọng của ASEAN, lần lượt là nước điều phối hiện thời và tương lai quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc, là một mắt xích quan trọng trong việc phát triển hơn nữa quan hệ giữa Trung Quốc với ASEAN và thúc đẩy chính sách hữu nghị láng giềng thân thiện của Trung Quốc với các nước xung quanh.
Trong thời gian của chuyến thăm, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã trao đổi ý kiến rộng rãi với lãnh đạo hai nước về sự phát triển quan hệ chỉnh thể giữa Trung Quốc và ASEAN, hợp tác Đông Á và các vấn đề quốc tế, khu vực cùng quan tâm. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình bày tỏ phía Trung Quôc ủng hộ Việt Nam và Thái Lan đóng vai trò tích cực lớn hơn nữa trong các sự vụ quốc tế và khu vực, nguyện cùng hai nước tăng cường sự hiểu biết và phối hợp trong khung Hợp tác Đông Á, Hợp tác tiểu vùng sông Mê Công, cùng bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển, thực hiện ổn định khu vực và phát triển bền vững.
Trong thời gian thăm Thái Lan, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã có bài phát biểu quan trọng, thể hiện một cách toàn diện mong muốn tích cực của Trung Quốc trong việc phát triển hơn nữa quan hệ với ASEAN. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình chỉ rõ cần kiên trì vai trò quan trọng của ASEAN trong hợp tác khu vực, thúc đẩy hợp tác thiết thực trong các lĩnh vực như kinh tế thương mại, xây dựng cơ sở hạ tầng, cùng bảo vệ an ninh ổn định của khu vực, tích cực học hỏi kinh nghiệm có ích về hợp tác của các khu vực khác, nắm chắc cơ hội, phát huy ưư thế, tiếp tục thúc đẩy quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN, thúc đẩy hợp tác Đông Á, thực hiện cùng có lợi cùng thắng. Bài phát biểu của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt và đánh giá cao của Thái Lan cũng như chính phủ, nhân sĩ các giới và dư luận ASEAN.
Ông Trương Chí Quân cho biết truyền thông hai nước Việt Nam và Thái Lan cũng như truyền thông khu vực và quốc tế rất quan tâm tới chuyến thăm Việt Nam và Thái Lan của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đưa tin bình luận tích cực. Truyền thông Việt Nam bình luận rằng quan hệ hữu nghị truyền thống Việt-Trung quý báu bao đời là lời nói từ tâm can mà lãnh đạo cấp cao hai nước cùng thổ lộ trong chuyến thăm này. Truyền thông Hồng Công cho rằng chuyến thăm Việt Nam của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình là nhằm tăng cường quan hệ song phương, hai bên Trung Quốc và Việt Nam đều khẳng định sẽ xử lý thỏa đáng tranh chấp Biển Đông thông qua đàm phán. Truyền thông Thái Lan bình luận rằng Phó Chủ tịch Tập Cận Bình là lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đầu tiên tới thăm Thái Lan kể từ khi chính phủ mới được thành lập, chuyến thăm thể hiện đầy đủ sự coi trọng của phía Trung Quốc đối với việc hợp tác và phát triển quan hệ giữa Trung Quốc và Thái Lan. Truyền thông Nhật Bản nói rằng chuyến thăm là nhằm tăng cường quan hệ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Đông Nam Á, củng cố môi trường hữu hảo xung quanh. Khu vực và cộng đồng quốc tế có phản ứng tích cực đối với chuyến thăm, cho rằng chuyến thăm có vai trò tích cực và có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng cường tình hữu nghị láng giềng thân thiện, phát triển hợp tác thiết thực, thúc đẩy hợp tác và phát triển ổn định của khu vực.
Cuối cùng, Trương Chí Quân cho biết trong chuyến thăm 5 ngày tới Việt Nam và Thái Lan, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã tham dự gần 30 hoạt động chính thức, tiến hành hội kiến và hội đàm với hơn 10 vị lãnh đạo, lịch trình bố trí dầy đặc, nội dung hoạt động phong phú, không khí hữu nghị nồng hậu, thành quả đạt được to lớn, là một chuyến thăm thành công của việc củng cố tình hữu nghị láng giềng thân thiện, duy trì tình hữu nghị truyền thống, tăng cường sự tin tưởng chính trị lẫn nhau, thúc đấy hợp tác cùng có lợi, đẩy mạnh phát triển khu vực, mở ra chương mới trong tình hữu nghị truyền thống Trung-Việt và Trung-Thái, thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác hữu nghị cùng có lợi cùng thắng, hướng tới tương lai giữa Trung Quốc và Việt Nam, Thái Lan, giữa Trung Quốc và khu vực. Chúng tôi sẽ nghiêm túc thực hiện tốt những thành quả quan trọng đạt được trong chuyến thăm của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, thúc đẩy quan hệ song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam, quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN cũng như sự hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực không ngừng phát triển trong tương lai.
                                              ***
TTXVN (Băng Cốc 26/12)
Theo báo “Bưu điện Băng Cốc” ngày 25/12, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình – người được dự báo nhiều khả năng sẽ thay thế Chủ tịch Hồ Cẩm Đào vào năm tới, đã đi thăm chính thức Thái Lan từ 22-24/12 nhằm tăng cường quan hệ chiến lược và hợp tác giữa hai nước.
Trong các cuộc tiếp xúc với các nhà lãnh đạo Thái Lan, ông Tập Cận Bình đã khẳng định Trung Quốc coi Thái Lan là thành viên quan trọng trong ASEAN và quan hệ ngoại giao hai nước trong 36 năm qua không ngừng phát triển mạnh mẽ. Lãnh đạo hai nước thường xuyên gặp nhau và hợp tác song phương luôn thuận lợi trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt về chính trị kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ, giáo dục và văn hóa. Hai nước cũng duy trì hợp tác tốt trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Sự phát triển quan hệ và hợp tác giữa hai nước đã và đang mang lại lợi ích lớn lao cho nhân dân hai nước và góp phần quan trọng vào hòa bình và hợp tác trong khu vực. Trung Quốc hy vọng chuyến thăm sẽ tăng cường hơn nữa sự tin cậy lẫn nhau về chính trị, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ truyền thông và hợp tác song phương trên các lĩnh vực thương mại, tài chính và văn hóa; thúc đẩy giao lưu nhân dân và nâng cao sự hợp tác song phương trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Ông Tập Cận Bình tin tưởng quan hệ truyền thống tốt đẹp không ngừng phát triển giữa hai nước sẽ tiếp tục được củng cố vì lợi ích hai nước, hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Thủ tướng Yingluck khẳng định Thái Lan luôn coi Trung Quốc là láng giềng gần có vai trò quan trọng trong sự phát triển của Thái Lan cũng như hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Bà Yingluck đánh giá cao và cảm ơn sự hỗ trợ thiết thực mà Trung Quốc dành cho Thái Lan trong cuộc chiến chống lũ lụt vừa qua. Công chúa Sirindhorn và Chủ tịch Hội đồng cơ mật Prem khẳng định Trung Quốc là người bạn tốt, luôn sẵn sàng chia sẻ khi Thái Lan gặp khó khăn. Lãnh đạo phe đối lập Abhisit cho rằng việc hai nước ký kết thỏa thuận phát triển đường sắt đã chứng tỏ mối quan hệ được ông quan tâm thúc đẩy trong thời gian nắm quyền tiếp tục phát triển dù chính phủ ở Thái Lan đã thay đổi. Giới kinh tế đánh giá cao kết quả chuyến thăm coi các thỏa thuận đã ký kết là bước tiến thiết thực thúc đẩy thương mại và đầu tư song phương. Trong hội đàm, hai nước đã nhất trí đặt mục tiêu thúc đẩy thương mại mỗi năm thêm 20%, đầu tư của Trung Quốc vào phát triển năng lượng tái tạo mỗi năm thêm 10% và lượng du khách Trung Quốc tới Thái Lan mỗi năm tăng thêm 15% trong 5 năm tới.
Các văn kiện đã ký kết
Ngày 22/12, Thủ tướng Yingluck và Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã chứng kiến lễ ký kết 6 thỏa thuận và 7 bản ghi nhớ hợp tác, đáng chú ý là thỏa thuận hoán đổi tiền tệ trị giá 70 tỷ nhân dân tệ (khoảng 11 tỷ USD) với thời hạn 3 năm; Thỏa thuận phát triển tuyến tàu cao tốc nối Băng Cốc với Chiang Mai; Thỏa thuận phát triển hệ thống đường sắt nối Đông Bấc Thái Lan qua Lào với Trung Quốc; Thỏa thuận trao đổi tội phạm đang thi hành án; Bản ghi nhớ hợp tác cải thiện hệ thống quản lý nguồn nước, phòng ngừa, giải quyết lũ lụt và hạn hán; Bản ghi nhớ về hợp tác nghiên cứu phát triển năng lượng tái tạo và năng lượng sạch; Bản ghi nhớ về tăng cường trao đổi văn hóa và giao lưu nhân dân. Thỏa thuận Trung Quốc cấp tín dụng lãi suất đặc biệt 400 triệu USD cho Thái Lan; Thỏa thuận Trung Quốc hô trợ thiết bị giáo dục gồm 600 bộ máy tính cho Thái Lan; Bản ghi nhớ về hợp tác nghiên cứu và phát triển nông nghiệp; Hai bên cũng nhất trí nguyên tắc cơ bản hợp tác đảm bảo an ninh tuyến vận tải trên sông Mê Công thuộc khu vực tam giác vàng; cam kết tạo thuận lợi cho xuất khẩu nông sản, gạo cao su và hoa quả Thái Lan. ông Tập Cận Bình cũng đề nghị Thái Lan ủng hộ các nỗ lực của Trung Quốc hợp tác với ASEAN trong khuôn khổ Tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN, các diễn đàn và cơ chế khu vực vì sự phát triển, an ninh và hòa bình ở khu vực.
Trong các thỏa thuận đã ký, thỏa thuận hoán đổi tiền tệ được đánh giá là quan trọng nhât. Theo thỏa thuận này, Ngân hàng trung ương Trung Quốc sẽ cho ngân hàng Trung ương Thái Lan vay 70 tỷ nhân dân tệ (tương đương 11 tỷ USD). Ngân hàng trung ương Thái Lan sẽ dùng nguồn vốn này cung cấp cho các ngân hàng thương mại để phục vụ các tổ chức và cá nhân của hai nước tiến hành các giao dịch tài chinh bằng đồng nhân dân tệ hoặc bằng đồng bạt. Thái Lan cũng sẽ mở tài khoản bằng đồng nhân dân tệ tai Trung Quốc, nhưng bổn phận góp vốn của Thái Lan và các điều khoản sửa đổi sẽ được hai nước thảo luận khi thỏa thuận này hết hiệu lực sau 3 năm. Trước khi ký kết thỏa thuận này, trong hơn một năm qua, Ngân hàng Băng Cốc đã thí điểm và trở thành ngân hàng thương mại đầu tiên của Thái Lan cung cấp đồng nhân dân tệ để thanh toán cho các giao dịch với Trung Quốc cho 350 công ty. Giới kinh tế nhìn nhận thỏa thuận này rất thiết thực vào thời điểm kinh tế Mỹ bất ổn, Liên minh châu Âu (EU) có nguy cơ sụp đổ do khủng hoảng nợ công, Thái Lan đứng trước áp lực tìm kiếm nguồn tài chính tái thiết sau lũ lụt và triển khai các chính sách dân túy. Hiện 90% xuất khẩu của Thái Lan giao dịch bằng USD nên với thỏa thuận này, các thanh toán trực tiếp song phương sẽ không phải chuyển đổi qua USD, tránh được rủi ro tỷ giá, đơn giản hơn về thủ tục, nhờ đó giảm chi phí xuất khẩu, tạo cho Thái Lan lợi thế cạnh tranh tại thị trường Trung Quốc trước các đối thủ khác trong ASEAN. Đối với Trung Quốc, đây là bước tiến giúp tăng cường gắn kết và ảnh hưởng kinh tế với Thái Lan, đồng thời đẩy thêm một bước nỗ lực đưa đồng nhân dân tệ trở thành đồng tiền quốc tế và làm suy yếu dần địa vị của đồng đôla Mỹ. Trung Quốc trước đó cũng đã ký các thỏa thuận tương tự trị giá 90 tỷ và 150 tỷ nhân dân tệ với Malaixia và Xinhgapo. Đối với khách hàng cá nhân, thỏa thuận sẽ tạo thuận lợi chuyển thu nhập về nước, chuyển tiền cho người thân học tập, làm việc đu lịch tại nước kia, nhờ đó thúc đẩy du lịch, giao lưu nhân dân và các lĩnh vực hợp tác khác. Đối với doanh nghiệp, thỏa thuận sẽ giúp giảm chi phí chuyển vốn đầu tư khi không phải quy từ đồng bản tệ của nước này vào tài khoản đồng USD rồi lại rút ra bằng đồng nội tệ của nước kia, vì thế các doanh nghiệp Trung Quốc tại Thái Lan cũng có thể sử dụng tiện ích của thỏa thuận này để đầu tư vào các dự án lớn tại Thái Lan.
Một thỏa thuận quan trọng khác là xây dựng hệ thống đường sắt cao tốc nối Băng Cốc với Chiang Mai, xuyên qua Đông Bắc Thái Lan, Lào và liên kết với hệ thống đường sắt miền Nam Trung Quốc. Theo thỏa thuận, Trung Quốc sẽ dành cho Thái Lan 10 tỷ USD tín dụng lãi suất thấp để triển khai dự án trong năm 2012 và dự kiến sẽ hoàn thành trong vòng 3-5 năm. Trước đó, tháng 9/2010, Chính phủ của cựu Thủ tướng Abhisit đã nhất trí về nguyên tắc phát triển tuyến đường sắt này như một phần của hệ thống đường sắt xuyên Á nhằm phát triển vùng Đông Bắc nghèo nàn thông qua liên kết thương mại, du lịch và giao lưu với phía Nam Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Tuy nhiên, sau đó Thái Lan đã hoãn ký thỏa thuận này với lý do nghiên cứu thêm tính đồng bộ kỹ thuật giữa khổ đường sắt của dự án với khổ đường sắt của hệ thống đường sắt quốc gia hiện hành. Thực chất, các nghị sỹ Thái Lan lo ngại sự phát triển hệ thống đường sắt cộng với triển khai thỏa thuận tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN sẽ khiến hàng hóa Trung Quốc tràn ngập thị trường Thái Lan. Các nghị sỹ cũng lo ngại các điều kiện Trung Quốc đặt ra để đổi lấy tín dụng, trong đó có điều kiện , người lao động Trung Quốc sang tham gia dự ,án, có thể khiến Thái Lan chịu tình trạng tương tự như ở Lào khi có tới 64.000 lao động Trung Quốc sang xây dựng đường sắt. Các nghị sỹ đối lập lúc bấy giờ cũng hoài nghi tính minh bạch và tính an toàn của công nghệ sau hàng loạt vụ tai nạn tàu cao tốc xảy ra tại Trung Quốc.
Dư luận về chuyến thăm
Xã luận báo “Dân tộc” ngày 25/12 nhận xét chuyến thăm của ông Tập Cận Bình đã mang đến một loạt thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực mà Chính phủ Thái Lan rất quan tâm và vào thời điểm kinh tế Mỹ bất ổn và Liên minh châu Âu đang hết sức khó khăn. Báo trên cũng cho rằng việc ông Tập Cận Bình thăm Việt Nam và Thái Lan trong khi ông Đới Bỉnh Quốc thăm Mianma đã phản ánh Trung Quốc đang điều chỉnh sách lược đối ngoại, với trọng tâm tái lôi kéo các nước láng giềng hòng ngăn chặn Mỹ can dự sâu vào khu vực. Quan hệ giữa Trung Quốc với nhiều nước láng giềng đã xấu đi từ năm 2009 sau khi Bắc Kinh tỏ ra quyết đoán hơn trong các vấn đề khu vực và gây hấn hơn trong các tranh cãi chủ quyền ở Biến Đông. Kết quả Việt Nam và Philíppin liên minh với nhau và cùng tìm cách gần gũi hơn với Mỹ. Mianma cũng có những thay đổi theo hướng giảm quan hệ với Trung Quốc để gần Mỹ. Sau hội nghị Đông Á vừa qua, có lẽ Trung Quốc đã nhận ra “thất thố đối ngoại” của họ đang tạo điều kiện để Mỹ can dự vào khu vực, và nếu tiếp tục duy trì đường lối đối ngoại cũ, ám ảnh về nguy cơ hình thành một liên minh bao vây Trung Quốc trải dài từ Nhật Bản, Philíppin, Ôxtrâylia tới Ấn Độ dưới sự điều phối của Mỹ có thể trở thành hiện thực. Để ngăn chặn các thách thức từ việc Mỹ điều chỉnh chiến lược quay trở lại châu Á, Trung Quốc cũng phải điều chỉnh sách lược đối ngoại theo hướng tái lôi kéo các nước láng giềng.
Báo trên nhận định thông qua chuyến thăm khu vực phạm vi hẹp tới Việt Nam và Thái Lan, ông Tập Cận Bình muốn kéo hai nước trở lại cùng chiến tuyến với Trung Quốc để ngăn chặn Mỹ can dự sâu rộng hơn vào khu vực. Với chuyến thăm đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Trung Quốc tới Thái Lan trong vòng 11 năm qua, ông Tập Cận Bình cũng biểu lộ mong muốn sử dụng Thái Lan làm mắt xích để gắn kết Trung Quốc với các nước ASEAN khác. Tuy nhiên, Bắc Kinh có đạt được mục tiêu chiến lược này hay không sẽ phụ thuộc vào lập trường của Thái Lan, Việt Nam và các nước ASEAN khác trước cuộc đấu giành quyền thống trị châu Á – Thái Bình Dương giữa Trung Quốc và Mỹ. Thái Lan và các nước ASEAN có thể hưởng lợi ích nhiều từ việc duy trì lập trường cân bằng và không thiên vị, nhưng việc dung hòa được hai cường quốc với các lợi ích mâu thuẫn nhau, chưa kể đến vai trò của Nga và Ấn Độ, sẽ là một thách thức lớn đối với Thái Lan và ASEAN./.

Mưu đồ can thiệp Đại Việt của nhà Thanh cuối thế kỷ XVIII

TẠP CHÍ XƯA & NAY

SỐ 393 THÁNG 12 – 2011
Nguyễn Duy Chính
Đường lối bành trướng của Trung Quốc
Trước tình hình rối ren của Đại Việt cuốỉ thế kỷ XVIII, việc đem binh xuống phương nam không phải chỉ vì cái cơ hội nhất thời, mà đã nằm trong kế hoạch mở rộng biên cương của nhà Thanh từ lâu. Vua Càn Long muốn tỏ ra mình là một vị vua dũng liệt nên tìm đủ mọi cách để bành trướng thế lực và lãnh thổ ra mọi phía.
Nhà Thanh trong nửa cuối thế kỷ XVIII đã có ảnh hưởng quan trọng đối với Xiêm La khi một người Tàu gốc Quảng  Đông tên là Trịnh Chiêu vì có công đánh đuổi quân Miến Điện nên lên làm vua (tức vua Taksin). Ồng ta sai sứ sang Bắc Kinh cầu phong nhưng sứ giả chưa kịp về đến nhà thì Trịnh Chiêu đã bị một tướng lãnh của ông ta là Maha Kasatsuk lật đổ lên làm vua tức Chakri(1) hay Rama I. Chakri cũng sợ nhà Thanh truy cứu việc giết vua Taksin nên đổi tên Hán là Trịnh Hoa, mạo xưng là con của Trịnh Chiêu để nối ngôi và được phong làm Xiêm La quốc vương. Nhà Thanh cũng nhân cơ hội tìm cách vươn dài ảnh hưởng tới thành phần Hoa kiều ngày càng trở nên có thế lực cả kinh tế lẫn chính trị ở vùng Đông Nam Á(2).
Ngoài Xiêm La, nhà Thanh cũng tìm cách mở rộng ảnh hưởng xuống Miến Điện Cũng như Việt Nam, Miến Điện luôn luôn bị áp lực trực tiếp vì có một khoảng biên giới tiếp giáp với nước Tàu. Người Miến cũng là một dân tộc quật cường, luôn luôn chống lại và có những thắng lợi rất tương cận với thắng lợi của Đại Việt(3).
Tới nửa cuối thế kỷ XVIII, nhà Thanh lấn chiếm một số khu vực phía tây và tây nam tỉnh Vân Nam nhưng người Miến cương quyết đòi lại. Năm Ất Dậu, Càn Long 30 (1765), vua Miến Hsin- byushin bắt một số tiểu quốc người Shan triều cống nên gây chiến với một số bộ lạc mà người Trung Hoa bảo trợ. Quân Thanh thua, tổng đốc Vân Nam Lưu Tảo tự sát. Năm Đinh Hợi, Càn Long 32 (1767), tổng đốc kế nhiệm là Dương Ứng Cư cũng bị đánh bại khiến vua Càn Long nổi giận đem họ Dương ra xử tử rồi sai Minh Thụy đem quân sang đánh Miến Điện. Năm Mậu Tý, Càn Long 33 (1768), Minh Thụy bị vây và tử trận. A Quế, vị tướng lừng danh của Thanh triều trong các trận đánh Tân Cương, Mông cổ đem quân sang lần thứ ba năm Kỷ Sửu, Càn Long 34 (1769) nhưng cũng bị đại bại.
Sau ba lần thua Miến Điện, nội bộ Thanh triều đã có những rạn nứt và bất đồng, nhiều tướng tài bị hi sinh, nhất là vua Miến Hsinbyushin lại cứng đầu không chịu thần phục. Một số tướng lãnh và quân sĩ bị bắt làm tù binh không được thả và vua Càn Long đành phải chấp nhận rằng Miến Điện là xứ nóng không thích hợp cho kỵ binh nhà Thanh như khi chinh phục vùng Tân Cương(4). May sao, quân Miến lúc này phải đối phó với quân Xiêm La và Lào tấn công ở phía nam nên nhà Thanh có cơ hội đàm phán cầu hòa cho đỡ mất mặt. Để trừng phạt, vua Càn Long hạ lệnh cấm thông thương với Miến Điện và hai bên chỉ trở lại bình thường năm Mậu Thân, Càn Long 53 (1788), mấy tháng trước khi họ đem quân sang nước ta.
Riêng với Đại Việt, Thanh đình vẫn e ngại bị thất bại như những triều trước nên không muốn chủ động gây chuyện can qua. Việc nước ta chia thành hai miền Đàng Trong và Đàng Ngoài vô hình trung phù hợp với chủ trương không muốn có một quốc gia cường thịnh ở phương nam. Đã nhiều lần xứ Đàng Trong toan tách ra đi thẳng với Thanh triều thay vì phải thần phục vua Lê ở miền Bắc nhưng vì không muốn tạo ra những khó khăn mới nên nhà Thanh chưa bằng lòng. Đến khi nhà Tây Sơn nổi lên, thế phân liệt Nam Bắc cũ đã mất, Thanh triều nhìn thấy đây là một cơ hội để can thiệp vào phương nam, rồi sẽ tùy theo tình hình mà khai thác. Việc thân quyến và bầy tôi nhà Lê chạy trốn sang Long Châu phù hợp với tham vọng đó.
Thoạt tiên, nhà Thanh vẫn chủ trương làm sao cho những phiên thuộc không quá mạnh, nên muốn Việt Nam chia ra thành ít nhất là hai tiểu quốc. Tôn Sĩ Nghị vì thế đã đưa ra kế hoạch chia cắt Đại Việt thành hai phần(5), miền Nam sẽ giao lại cho Xiêm La (khi đó đang khống chế cả Chân Lạp), và miền Bắc dành cho nhà Lê (dưới quyền bảo hộ của nhà Thanh). Tuy nhiên vua Càn Long đã bỏ kế hoạch đó vì không muốn cho Xiêm La nhúng tay vào, ngại rằng sẽ làm mất thể diện thiên triều phải liên minh với một thuộc quốc(6).
Dựa theo tin tức thu lượm được, vua Càn Long đưa ra một kế hoạch kẻ cả hơn. Đó là giao miền Trung lại cho Chiêm Thành lấy cớ nước này đã từng triều cống xưng thần với Trung Hoa trong mấy thế kỷ mà không biết rằng vương quốc Chiêm nay không còn và những vùng đất cũ của họ nay chỉ toàn người Việt(7). Vua Càn Long cũng chủ trương dùng người Việt đánh người Việt, quân Thanh càng ít tổn thất càng tốt. Trong một lá thư gửi Tôn Sĩ Nghị, vua Càn Long đã viết:
… Bọn chúng (tức bầy tôi nhà Lê ở Bắc Hà) khi nghe quân Thiên triều đến chinh phạt, ắt sẽ nổi lên hưởng ứng rất đông, tính chuyện diệt Nguyễn phù Lê, nếu như ta án binh bất động, bọn họ không khỏi có dạ trông chờ. Đây là một cơ hội rất tốt, xem ra khi đó quan quân nội địa (tức quân Thanh) ở vào cái thế không thể không hành động…(8).
Chiến lược đó không phải mới mẻ gì vì cũng là đại kế hoạch mà người Mãn Châu trước đây đưa ra để làm chủ Trung Nguyên. Khi thôn tính nhà Minh, người Mãn Châu cũng nêu cao danh nghĩa giúp người Hán tái lập một vương triều trong sạch hơn triều đình thối nát hiện đang trị vì. Công lao lấy được trung nguyên cũng phần lớn nhờ vào nội phản, điển hình là các tướng lãnh nhà Minh có nhiệm vụ ngăn chặn những giống dân du mục nay trở giáo chạy theo quân Thanh.
Sau khi làm chủ Giang Bắc, họ cũng sử dụng những tướng lãnh nhà Minh đã đầu hàng để chiếm nốt miền Nam Trung Hoa, kể cả việc truy sát những ông vua cuốỉ cùng của Minh triều đang trốn lánh trong rừng sâu núi thẳm. Họ đã được phong vương, cai trị một cách khá độc lập nhiều khu vực lớn mà sử gọi là Tam Phiên, mấy chục năm sau mới bị tước đoạt quyền bính(9). Với kinh nghiệm đó, người Mãn Châu muốn trước hết nhờ tay đám thần tử nhà Lê tiễu trừ Tây Sơn, sau đó sẽ phong vương cho họ theo nghĩa phiên trấn nội thuộc như bọn Ngô Tam Quế, Cảnh Trọng Minh, Thượng Khả Hỉ, rồi dần dần biến thành quận huyện của Tàu như chính sách thời đầu nhà Thanh. Kế hoạch đồng hoá từng bước đó đã thành công tại những quốc gia Tây Vực và họ cũng toan áp dụng ở phương nam.
Kế hoạch của nhà Thanh
Để đem quân sang nước ta, ngoài việc tính toán cho chu đáo, sao cho lợi nhiều hơn hại, giảm thiểu về nhân mạng cũng như về tài chánh, nhà Thanh cần một danh nghĩa để che đậy những dã tâm của họ(10). Do đó Tôn Sĩ Nghị cần những bằng chứng cụ thể để thuyết phục vua Càn Long cho phép động binh.
Cho đến nay, các sử gia Trung Hoa vẫn khăng khăng cho rằng việc nhà Thanh đem quân sang giúp Lê Chiêu Thống là một hành vi “nhân chí nghĩa tận” (hết sức nhân nghĩa) hoàn toàn chỉ vì mục tiêu muốn dựng lại dòng chính thống cho nhà Lê chứ không có âm mưu chiếm đóng hay tham vọng đất đai nào.
Theo lời tâu của Tôn Sĩ Nghị (tổng đốc Lưỡng Quảng) và Tôn Vĩnh Thanh (tuần phủ Quảng Tây) thì khi vua Hiển Tông thăng hà, “hoàng tôn Lê Duy Kỳ không có quốc ấn vì khi họ Trịnh còn nắm quyền đã ăn trộm mất ấn tín để mưu việc soán đoạt. Lê Duy Kỳ có viết biểu tâu lên để xin một quả ấn khác (tức ấn An Nam quốc vương của nhà Thanh phong cho) nhưng Tôn Sĩ Nghị chưa tiếp được bản cáo ai, lại chưa được chiếu chỉ cho phép nên đã từ chốỉ”(11). Căn cứ vào đó, hoàng tôn Lê Duy Kỳ được coi như dòng chính thống và việc Nguyễn Huệ chiếm Thăng Long là một hành vi tiếm nghịch nên nhà Thanh phải can thiệp để lấy lại nước cho vua Lê.
Để thực hiện âm mưu lũng đoạn, chiến dịch đem quân can thiệp của nhà Thanh bao gồm hai giai đoạn chính:
Tái chiếm Bắc Hà để giao lại cho nhà Lê
Để đem quân sang nước ta nhà Thanh nêu cao chủ trương “Hưng diệt kế tuyệt, phất lợi kỳ thổ địa thần dân” [Hưng lên kẻ bị diệt, nối lại dòng bị đứt, không mưu lợi đất đai hay dân chúng]:
- Lê triều đã thần phục và triều cống Trung Hoa trong hơn một trăm năm qua [chỉ tính riêng nhà Thanh vì mỗi khi mệnh trời đổi coi như một nước mới]. Việc nối lại triều Lê là một hành vi thích đáng vì thiên triều có bổn phận với thuộc quốc, không thể để cho loạn thẩn ngang nhiên cướp ngôi một dòng họ đã được họ công nhận chính thức.
- Vua Càn Long cũng khẳng định là việc đem quân sang nước ta không phải vì có tham vọng Muốn chiếm đất đai hay dân chúng. Trong nhiều văn thư, ông cũng ra lệnh đem gạo thóc từ “nội địa” sang để nuôi quân, không tơ hào tài sản của nước Nam và ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị ước thúc quân lính không cho quấy nhiễu.
Tiến quân đánh Thuận Hóa
Dự tính nguyên thủy của Thanh triều không chỉ lấy kinh đô Thăng Long rồi giao lại cho nhà Lê mà coi việc tái chiếm Bắc Hà mới là bước đầu. Một khi thành công, quân Thanh sẽ tiếp tục đánh xuống Thuận Hóa để “đảo huyệt cầm cừ” [đánh vào sào huyệt bắt kẻ cầm đầu] rồi tùy theo tình hình mà chia nước ta thành nhiều khu vực tự trị. Từ vị trí một ngoại phiên (tương tự như Triều Tiên, Lưu Cầu, Xiêm La…), An Nam sẽ trở thành một nội phiên như Tây Tạng, Mông cổ, Tân Cương… tuy vẫn do những lãnh tụ bản xứ cai trị nhưng thực chất chỉ là những quan lại do triều đình bổ nhiệm.
Âm mưu đó trước khi xuất chinh còn mơ hồ – chỉ mới nằm trong những mật tấu của Tôn Sĩ Nghị – thì sau khi chiếm được Thăng Long lại trở nên khá rõ rệt. Có lẽ việc tiến quân quá dễ dàng khiến vua Càn Long và Tôn Sĩ Nghị đều tin rằng quân Thanh có thể làm hơn thế nữa. Ngay sau khi chiếm được Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị liền tính toán kế hoạch đóng thuyền và lập đài trạm từ Thăng Long vào Thuận Hóa để đến ra giêng tiến quân xuống phương Nam. Tuy nhiên kế hoạch đó không thực hiện được vì những khó khăn về quân đội, lương thực, nhân sự, tài chánh… nhất là e ngại một cuộc sa lầy tại phương nam giống như tại Miến Điện trước đây nên vua Cao Tông đã ra lệnh rút quân về.
Ngày 19 tháng 6 năm Càn Long 53 [22-7-1788], vua Cao Tông gửi một đạo dụ cho Tôn Sĩ Nghị dịch ra như sau(12):
Lưỡng Quảng, tổng đốc Tôn Sĩ Nghị tâu lên, tiếp theo căn cứ vào lời bẩm của Tả Giang Trấn thì thân quyến tự tôn nước An Nam chạy qua nội địa nên ta đã ra lệnh cho tùy nghi lo liệu, lại sai người đến ngay Long Châu, xem xét tình hình để tâu lên cho rõ ràng. Việc này trước đây khi Tôn Vĩnh Thanh tâu lên, trâm sợ rằng viên tri  phủ đó không có chủ kiến nên lập tức giáng chỉ ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị lập tức tra xét lo liệu.
 Hiện nay viên tổng đốc kia chưa đợi dụ chỉ đã khởi trình đến trước rồi, như thế thực là biết việc nặng nhẹ, không thẹn là kẻ đại thần ở biên cương, thật đáng khen ngợi. Trong tấu triệp của Tôn Vĩnh Thanh trước đây, chưa biết tung tích của tự tôn Lê Duy Kỳ đang ở đâu, mà chạy sang đến hơn sáu chục người thì có liên hệ thế nào? Trẫm đã từng ra lệnh tra xét cho thấu đáo, rồi tâu ngay lên cho ta.
Nay cứ theo như lời tâu của Tôn Sĩ Nghị, lúc đầu cứ tưởng có cả Lê Duy Kỳ đi theo. Thế nhưng nếu ví thử Lê Duy Kỳ đích thân dẫn quyến thuộc sang nội địa thì cớ gì lại phải ra lệnh cho di quan Nguyễn Huy Túc đứng tên, còn bọn thổ tù Nguyễn Nhạc kia sau khi công phá Lê thành, thấy Lê Duy Kỳ bôn đào nên dẫn binh truy sát. Nếu cả nước đã bị họ Nguyễn chiếm mất rồi, ắt Lê Duy Kỳ mang quyến thuộc theo, tuy không quá 60 người, nhưng lẽ  nào đi đường không lo liệu tính toán gì mà đến được nội địa?
Lê Duy Kỳ nếu đã đến Long Châu nên truyền dụ cho Tôn Sĩ Nghị đến đó tận mặt hỏi Lê Duy Kỳ xem việc họ Nguyễn nổi loạn ra sao, hai bên vì cớ gì gây hấn, gặp nạn chạy sang nội địa cốt  lo bảo toàn tính mạng mẹ  con mà phải bỏ đất cho họ Nguyễn. Y bỏ nước chạy sang đây rồi, trong nước thần tử có ai lo chuyện diệt giặc khôi phục để nghinh đón mẹ con y vê hay không, xem chủ kiến y thế nào?
 Nếu như Lê Duy Kỳ  cũngng không biết rõ ràng thì nên hỏi bọn Nguyễn Huy Túc để cho rõ tình hình nước đó ngõ hầu theo tình hình mà trù biện. Theo ý trẫm thì vì quẫn bách mà tự tôn nước đó chạy sang nội địa, tuy trình lên không có giọng muốn xin quân cứu viện, nhưng nếu trấn mục nước đó có thể tụ tập dân binh, tảo trừ hung nghịch đón tự tôn về thì thế là tốt nhất. Còn như nhà Nguyễn đã chiếm được cả địa phương ở Lê thành nhưng các nơi khác vẫn thuộc họ Lê, các trấn mục không diệt được họ Nguyễn nhưng việc đã định vẫn có thể sắp xếp cho ổn thỏa để nghinh đoán tự tôn thì đất nước của nhà Lê cũng chưa đoạn tuyệt, cũng không cần phải hưng sư cho lớn chuyện làm gì.
Còn như họ Nguyễn công phá Lê thành xong chiếm hết nước An Nam, con cháu nhà Lê bị giết hại thì tự tôn nước đó không còn nước mà trở về. An Nam thần phục bản triều, rất là cung thuận, nay bị cường thần soán đoạt phải chạy sang đây nếu như ta bỏ qua không lý đến thật không phải là cái đạo tồn vong nên phải tập trung binh lực kể tội sang chinh thảo.
Trẫm nay đã định đoạt rồi, lại truyền dụ cho Tôn Sĩ Nghị, tuân theo dụ chỉ trước đây, xem két kỹ lưỡng thêm nữa, trù biện cho chín chắn, cứ theo tình thực mà nhanh chóng tâu lên ta sẽ đợi tới khi đó sẽ hạ chỉ để cho biện lý. Còn về phần thân thuộc của Lê Duy Kỳ thì nên sắp xếp cho ổn thỏa, cung cấp thêm chớ nên hẹp hòi, còn như các nơi cửa quan thì điều động một nghìn binh sĩ phân bố ra trấn đóng.
Ngặt vì binh lính không có nhiều,  e rằng bọn phỉ thấy quan ít ỏi đâm ra coi thường thì hãy điều động thêm các nơi chung quanh hai ba nghìn lính nữa, phân  bố‘ quan ải để làm thanh viện, đề đốc Tam Đức là người từng chinh chiến lâu năm, nên sai y đến đây thông lãnh, họp với việc đàn áp tra xét, không cần phải lo gì nữa. Còn Tôn Sĩ Nghị sau khi nghe bẩm báo, lập tức lên đường đến ngay thật đúng như ý trẫm, hịch văn cũng thật là đắc thể, ngoài những điều trẫm đã nói cũng không có gì khác, nay thưởng thêm cho một đôi hà bao lớn, một đôi hà bao nhỏ để tưởng lệ. 
Cùng ngày hôm đó, Tôn Sĩ Nghị tâu lên rằng một khi hư trương thanh thế, truyền hịch đem quân sang đánh nước Nam, ắt nhứng người đã theo Tây Sơn sẽ nổi lên chống lại, và nhà Thanh không phải hao quân tổn tướng mà vẫn đạt được thắng lợi’13‘. Vả lại, An Nam vốn chẳng phải là đất của Tây Sơn nên khi nghe tin quân Thanh sang đánh, họ sẽ rút về Quảng Nam không luyến tiếc. Mục tiêu gần của anh em Nguyễn Nhạc là thu vét tài vật thì họ đã làm xong, chiếm lĩnh đất đai chỉ là thứ yếu nên chắc chắn ra quân sẽ thành công.
Nói tóm lại, chủ trương của Thanh triều là làm sao tìm được vua Lê để tiền hô hậu ủng đưa ông về Lê thành [kinh đô Thăng Long], phong vương rồi can thiệp càng lúc càng sâu vào nội tình nước ta như một vùng nội phiên. Điều lợi trước mắt là vua Lê sẽ đích thân tham dự lễ Bát Tuần Khánh Thọ, vừa chúc mừng, vừa tạ ơn đúng như ước nguyện của vua Càn Long để ông có dịp phô trương với mọi người về chính sách “nhân chí nghĩa tận” đối với thuộc quốc. Cơ hội nghìn năm một thuở này sẽ bắc cầu cho tiền trình thăng quan tiến chức của Tôn Sĩ Nghị.
Chiêu bài “Hưng diệt kế tuyệt”
Sau khi nhận được chỉ dụ của vua Càn Long, Tôn Sĩ Nghị xem xét tình hình mọi việc, ngày mồng 8 tháng 7 năm Mậu Thân, Càn Long 53 [9-8-1788] tâu lên chính yếu dịch ra như sau:
Tra xét việc hai họ Lê Nguyễn thù hằn giết chóc lẫn nhau nguyên do đã từ lâu. Theo lời bọn Nguyễn Huy Túc thì Nguyễn Nhạc là một họ nhỏ đất Tây Sơn, không phải họ lớn phụ chính (tức chúa Nguyễn ở Đàng Trong) nhưng hai bên đánh lẫn nhau cũng đã nhiều năm. Nay đất An Nam (nói về Bắc Hà) một nửa thuộc về Nguyễn Nhạc còn tự tôn vẩn làm chủ một giải Sơn Nam, đất đó có thể giữ được, quân binh có thể chiến đấu, xem ra dòng nhà Lê chưa đến nỗi tuyệt, tước mà bản triều phong cho vẫn còn.
Còn như đất đai khi rộng khi hẹp, quốc thế lúc thịnh lúc suy, ngoại phiên của thiên triều thật nhiều, thế không thể lấy thước tấc mà đo, không phải lúc nào cũng lấy binh mã lương tiền của nội địa mà bao biện cho được. Nếu Nguyễn Nhạc có bụng chiếm cả nước An Nam, không để cho tự tôn một tấc đất, một nước triều cống trong một trăm mấy chục năm qua, nay bỗng dưng bị diệt, thực có liên quan đến thể thống thiên triều, không thể không điều động quan binh phạt bạo thảo tội.
(Ớ đây có lời châu phê của vua Càn Long: Trẫm phân vân chính là ở chỗ đó)
Dụ chỉ của hoàng thượng thật công bằng ngay chính, thần chỉ biết tùy thời tùy việc mà tuân theo biện lý.
Xin để cho thần tìm hiểu dư luận cho kỹ lưỡng, hỏi cặn kẽ tình hình nước man di kia, nếu như Nguyễn Nhạc có bụng gây họa, muốn chiếm cả nước An Nam thì nội địa không thể chỉ vì họ Lê trợ thế dương uy, e rằng tự tôn khó có thể giữ được nước, càng lúc càng tan rã, lúc đó Nguyễn Nhạc có cả nước An Nam, khí cục đã thành, không thể không hao phí binh lực nội địa, đến lúc đó cũng đã muộn rồi, thành thử thần xin được điều bát binh lực các nơi chung quanh, huấn luyện thao phòng, nói rõ định ngày ra quân, chia đường tiến đánh(14).
Nguyễn Huệ cũng hay biết tin này nên sai quân trấn thủ Văn Uyên là Hoàng Đình cầu và Nguyễn Đình Liễn đem lễ vật lên tiến cống, trên từ biểu ký tên là Nguyễn Quang Bình(15). Tuy chưa biết rõ tình hình ra sao nhưng Tôn Sĩ Nghị cũng hư trương thanh thế để dò xem phản ứng của quân Tây Sơn thế nào. Ngày mồng 1 tháng 7 năm Càn Long 53 [2-8-1788], Tôn Sĩ Nghị đích thân đến Nam Quan ra lệnh cho phó tướng Vương Đàn hiện đang chỉ huy hiệp Tân Thái đứng trên cửa quan, lớn tiếng đọc bản hịch kết tội rồi ném hịch văn qua bên ngoài tường để cho quân Tây Sơn nhặt được(16).
Trong tình hình đó, vua Càn Long ra lệnh cho Quân Cơ Xứ nghiên cứu tình hình, đến ngày mồng 5 tháng 7 năm Càn Long 53 [6-8-1788], A Quế trình lên dịch ra như sau(17):
… Nước An Nam kia ở nơi phương nam xa xôi nóng nực, từ khi kiến quốc tự đời Tống đến nay, họ Nguyễn, họ Lý, họ Trần, họ Lê qua mây đời soán đoạt tranh chấp lẫn nhau. Đời Vĩnh Lạc nhà tiền Minh, nhân vì Lê Quí Ly cướp ngôi nhà Trần nên đã ba lần sang dẹp loạn, mất đến hơn chục năm, ngặt vì dân nước đó tính tình phản phúc, nên cũng phải bỏ về nhân vì họ Trần vô hậu, khi Lê Lợi cầu phong liền sách lập trở lại.
Về sau hai họ Lê Mạc tranh giành nhiều năm, triều ta uy đức tràn đầy nên nước đó khuynh tâm thần phục, triều cống không dứt. Nhưng họ Lê không tự phấn chấn lên được, bị cường thần chế ngự, hiệu lệnh lại không ban bố xuống được toàn cõi, nguy cơ từ đó mà ra. Nay Lê Duy Kỳ bị Nguyễn Nhạc bức bách phải bôn đào, theo lời bọn di mục Nguyễn Huy Túc thì tự tôn nay chạy về một giải Sơn Nam mưu tính chuyện khôi phục.
Nếu như lòng người còn nhớ đến triều đại cũ, Lê Duy Kỳ có thể tụ tập binh dân tiễu trừ được Nguyễn Nhạc, thu phục Lê thành, nghinh đón quyến thuộc trở về. Hoặc giả tuy Lê Duy Kỳ hiện đang trốn tránh, các di mục cũng có thể đón tự tôn mưu tính việc khôi phục, theo như thánh dụ đợi cho đến lúc mọi sự đã định, lúc đó sẽ đón quyến thuộc về nước, không cần phải hưng sư làm cho lớn chuyện. Còn như tất cả nước An Nam đã bị Nguyễn Nhạc chiếm đóng rồi, đợi cho Tôn Sĩ Nghị tra xét rõ rằng tin tức cùa Lê Duy Kỳ, tâu lên, nặng hay nhẹ, gấp rút hay thư thả, khi đó phải làm gì ắt thánh minh sẽ có biện pháp.
Quân Cơ Xứ là cơ quan quyền lực tối cao của nhà Thanh, chỉ sau hoàng đế, mọi việc đều do tập thể nhỏ bé này quyết định, A Quế là người đứng đầu nhưng chỉ trình lên rất chung chung, đủ biết họ không muốn can thiệp vào việc này. Trước đây, sử thường cho rằng những việc liên quan đến nước ta có thể lo lót một cá nhân mà xong việc. Thiển kiến đó xét ra không phù hợp với thực trạng đưa đến những nhận định sai lạc.
Chúng ta có thể khẳng định rằng các đại thần nhà Thanh đã không hưởng ứng việc đưa quân sang nước ta, việc động binh là do ý riêng của vua Càn Long và Tôn Sĩ Nghị, không thông qua quyết định của Quân Cơ Xứ.
CHÚ THÍCH:
1. Chakri nguyên nghĩa là nguyên soái hay tướng quân vì trước đây ông ta chỉ huy quân đội của Phraya Tak- sin và dùng tên này làm tên triều đại.
2. Đông Nam Á người Trung Hoa gọi là Nam Dương (biển phía nam) bao gồm khu vực mà ngày nay chúng ta đặt tên là Southeast Asia, Mã Lai A, Indonesia, Philippines.
3. Năm 1273, khi Nguyên Thế Tổ (Kubilai) nhà Nguyên đòi vua Miến triều cống và thân hành sang chầu, vua Miến Điện đã xử tử sứ giả. Năm 1277, nhà Nguyên đem quân từ Vân Nam xuống đánh, thắng được tại vùng lòng chảo Nam Ti nhưng người Miến vẫn không chịu khuất phục. Năm sau, 1278, nhà Nguyên lại đem quân sang đánh lần nữa, nhưng vẫn không tiến được đến kinh đô Bhamo. Khí hậu viêm nhiệt nhất là bệnh dịch đã khiến cho quân Mông cổ tổn thất nặng nề.
Năm năm sau, 1283, một đạo quân do tướng Mông cổ Singtur (thay vì do người Hồi chỉ huy như trước đây) tiến đánh thung lũng Ir­-rawaddy và ép vào kinh thành khiến, vua Miến phải lui về vùng đầm lầy để chống trả. Đến năm 1287, quân Nguyên chiếm được Miến Điện (khi đó có tên là Pagan) và sáp nhập vào đế quốc Mông cổ. Miến Điện chỉ thu hồi được lãnh thổ khi nhà Nguyên bị diệt vong. c.p. Fitzgerald, The Southern Expansion of the Chinese People, New York-Washington, Prae- ger Publishers, 1972, tr.81.
4. Alexander Woodside, “The Ch’ien-LungReign”, trong Willard J. Peterson (ed.), The Cambridge His­tory of China, Vol. 9, Part One: The Ch’ing Dynasty to 1800. Cambridge University Press, 2002, tr.264-68.
5. Để phá vỡ quyền lực của Nguyễn Huệ, Tôn Sĩ Nghị đề nghị với Càn Long rằng Việt Nam cần phải được chia cắt ra. Miền trung Việt Nam sẽ được thưởng cho Xiêm, để trả công cho sự giúp đỡ của Thái chống anh em Tây Sơn. Rõ ràng là đối với Tôn Sĩ Nghị và Càn Long, vua Lê mà họ đang ủng hộ hoàn toàn không có khả năng, ngay cả trong việc làm một lãnh tụ tượng trưng. Ban đầu, Càn Long nghĩ rằng một liên minh quân sự với triều đình Thái “dường như là một thứ có thể thực hiện được”. Sau đó ông bác bỏ ý tưởng này, không phải vì nó vô đạo đức về mặt chính trị, mà bởi nó sẽ cho thấy sự nhỏ mọn trước vua Thái, thậm chí tệ hơn là phá hoại danh tiếng ông có được trong chiến thắng Sinkiang với việc chỉ sử dụng quân đội của mình và không chấp nhận sự giúp đỡ của “thế lực quân sự bên ngoài”. Alexander Woodside, Sđd, tr.277.
6. Tuy nhiên theo một lá thư của giáo sĩ Le Labousse gửi từ Sài Gòn ngày 15 tháng 6 năm 1789 thì Nguyễn Ánh đã bắt được một bức thư của vua Càn Long gửi vua Xiêm yêu cầu đánh vào mặt nam Đại Việt (Le Roy d’ici (tức Nguyễn Ánh) a intercepté une lettre écrire au nom de L’empereur de Chinois au Roy de Siam pour lui dire de venir attaquer les T.s. de coté-ci par la Cochinchine). Nguyễn Nhã, “Một Thiên Tài Quân Sự”, trong Một vài sử liệu về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Cali, Đại Nam, 1992, tr. 107-8, cước chú 38.
7. Alexander Woodside, Sđd, tr.277.
8. Trang Cát Phát, Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Nghiên Cứu, Đài Loan, Cố Cung Tùng San, Giáp Chủng số 26, 6-1982, tr.362.
9. Đời Thuận Trị, nhà Thanh phong cho Ngô Tam Quế làm Bình Tây Vương trấn đóng ở Vân Nam, Cảnh Trọng Minh làm Tĩnh Nam Vương, trấn đóng Phúc Kiến, Thượng Khả Hỉ làm Bình Nam Vương, trấn đóng Quảng Đông. Tam Phiên khi đó được giữ trọng binh, thế lực càng lúc càng lớn. Tháng 3 năm Khang Hy thứ 12 (1673), Thượng Khả Hỉ dâng sớ xin cáo lão về Liêu Đông để cho con là Thượng Chi Tín kế vị, nhân cơ hội đó triều đình xuống chiếu triệt phiên. Tới tháng 7, Ngô Tam Quế và Cảnh Tinh Trung (con của Cảnh Trọng Minh) cũng dâng sớ xin triệt binh, vua Khang Hy liền ra lệnh cho cả 3 phiên di chuyển ra ngoài Sơn Hải Quan. Ngày 21 tháng 1, Ngô Tam Quế khởi binh chống lại nhà Thanh, tuyên bố ủng lập Chu Tam Thái Tử (tức Chu Từ Quýnh, con của Sùng Trinh hoàng đế, khi đó thất tung nhưng người Hán dùng danh vị để phát động phong trào phản Thanh phục Minh), viết thư cho Cảnh Tinh Trung, Thượng Khả Hỉ cùng khởi sự, gây ra cái loạn Tam Phiên. Năm Khang Hy thứ 17, Ngô Tam Quế xưng đế ở Hành Châu, quốc hiệu Đại Chu nhưng chẳng bao lâu thì từ trần, cháu là Ngô Thế Phan kế vị. Ngày 19 tháng 10 năm Khang Hy thứ 20, quân Thanh đánh tới Côn Minh, Ngô Thế Phan tự tử, loạn Tam Phiên chấm dứt, tổng cộng 8 năm.
10. Mỗi lần nhà Thanh động binh đều phải tìm một cớ “chính đáng”, không bình định nội loạn thì cũng chinh phạt ngoại hoạn… Tuỳ trường hợp mà họ dùng một động từ thật kêu chẳng hạn như bình định Kim Xuyên, đãng bình Chuẩn Cát Nhĩ, chinh phục Hồi bộ, thảo phạt Miến Điện, tĩnh tuy Đài Loan, thảo hàng An Nam…
11. Lai Phúc Thuận, Càn Long trọng yếu chiến tranh chi quân nhu nghiên cứu, Đài Bắc, Quốc Lập Cố Cung Bác Vật Viện, 1984, tr. 30, trích từ Cung Trung Đáng, Cố Cung Bác Vật Viện, tấu chương của hai họ Tôn ngày mồng 8 tháng 5 năm Càn Long thứ 52 [22-6-1787]: “Nhiên dĩ vong thất quốc chi ấn tín, nhân Trịnh thị thiện quyền thời, tằng thiết đoạt quốc ấn, mưu thủ soán vị. Lê Duy Kỳ nãi tư thỉnh bằng tín, Lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị dĩ kỳ vị kinh cụ bản cáo ai, thượng vị phụng chỉ thừa tập, bất tiện tiên cấp ấn tín, cự chi”.
12. Thanh Cao Tông thuần hoàng đế thực lục [Thanh Thực Lục], q 1307, tr 9, ỷ tín thượng dụ ngày Canh Tuất, tháng Sáu, Càn Long năm thứ 53. Trang Cát Phát, Sđd, tr.348-9.
 13. Nguyên văn theo tấu thư là “điếu phạt chi sư vị động, hưng kế chi nghiệp khả thành” quân điếu phạt chưa cần ra tay thì công việc làm cho kẻ mất nghiệp kia được trở lại đã thành rồi.
14. Trang Cát Phát, Sđd, tr.349. Cung Trung Đáng, CCBVV, tấu triệp của Tôn Sĩ Nghị đề ngày mồng 8 tháng 7, Càn Long thứ 53 (1788); Quân Cơ Xứ, CCBW, bản sao tấu triệp của Tôn Sĩ Nghị ngày mồng 8 tháng 7 năm Càn Long 53.
15. Trang Cát Phát, Sđd, tr.353
16. Ngươi Nguyễn Nhạc đuổi chủ làm loạn cương thường, vọng tưởng việc soán nghịch. Tổng đốc nghe tin đã đích thân đến đây, đã tâu lên đại hoàng đế điều động quan binh các tỉnh Vân Quí, Xuyên Quảng, Phúc Kiến vài mươi vạn, chia đường ra tiến đánh. Nguyễn Nhạc ngươi nếu không hối tội tự mình đổi mới, nghinh đón chủ củ trở về, bảo toàn gia quyến, lại dám quấy nhiễu thiên triều, đem nạp công vật.
Di mục các ngươi đã từng nhận quan chức của họ Lê, bỗng dưng trở mặt thờ kẻ thù, thay chúng gõ cửa quan cầu xin, thực đúng là kẻ vô liêm sỉ. Đúng ra ta phải bắt các ngươi ngay để xin hoàng thượng hạ chỉ đem ra chính pháp. Nhưng nghĩ rằng các ngươi chỉ là những di quan thấp kém, không đáng để trừng trị, vậy hãy mau mau trở về nói cho Nguyễn Nhạc biết rằng, hoạ phúc chỉ trong nháy mắt, các ngươi tự thu lấy.
Trang Cát Phát, Sđd, tr.353-4. Cung Trung Đáng, CCBW, bản sao tấu thư của Tôn Sĩ Nghị đề ngày mồng 8 tháng 7 năm Càn Long 53 [9- 8-1788]. Bản văn này cũng xuất hiện trong Khâm định An Nam kỷ lược [quyển II], Cố Cung Bác Vật viện, Hải Nam, Hải Nam xuất bản xã, 2000 (bản dịch Nguyễn Duy Chính, chưa xuất bản).
17. Quân Cơ Xứ, CCBVV. Trang Cát Phát, Sđd, tr.350.

Bộ Ngoại giao Việt Nam thừa nhận sai sót vụ cờ TQ sáu sao

Các em bé Việt Nam cầm cờ hai nước đón ông Tập (hình của Reuters chụp trước Phủ Chủ tịch tại Hà Nội 21/12).
-Vụ cờ TQ sáu sao, CQ VN đã phải lo lắng trước dư luận, khi hết Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: “Chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc là thiêng liêng”(TTXVN). đến nguyên PTT - Quan hệ Việt – Trung 2011 qua góc nhìn ông Vũ Khoan (TVN).- -Dứt khoát phải làm bằng được (30/12) . Còn TQ thì lại muốn VN xử lý quan chức 'cờ 6 sao'.

Cụ thể là ai, chắc họ muốn nói tới ô Phạm Bình Minh, cái gai trong mắt họ. Vụ này TQ đã chơi VN 1 vố đau, nếu phải xử lý thì nên xử lý những ai đã tiếp tay cho TQ làm nên vụ này. TQ đã cố tình để BBC đăng tin 'lỗi kỹ thuật', buộc lòng VN phải nhận lỗi theo kiểu trần tình với TQ về chuyện này. Như vậy rõ là mấy cái cờ không phải do ĐSQ TQ cung cấp nên TQ mới tra vấn VN như vậy. Miệng thì TQ ra vẻ khoan dung lượng thứ, nhưng vẫn dùng áp lực báo chí với VN, họ muốn kịch bản với ô Nguyễn Cơ Thạch xảy ra ư !-
---Báo chí Trung Quốc nói về sự kiện Việt Nam đón Tập Cận Bình bằng cờ 6 sao basam- BBS.TIEXUE.NET Việt Nam xử lý các quan chức “cờ đỏ 6 sao”. Dân chúng trách cứ: Biến thành thuộc quốc của Trung Quốc 29-12-2011 Quốc Thanh dịch Vào thời gian Phó chủ tịch nước Tập Cận Bình đến thăm Việt Nam ngày 20 tháng 12, trong nghi thức đón tiến Tập Cận Bình của quan- Cờ sao và màu cà vạt Việt – Trung  —  (BBC).
 - Phát ngôn Tuần Việt Nam: Ấn tượng 2011 (TVN). – NHÌN ĐẾN 2013  —  (BS Hồ Hải).--Tư liệu nên giữ: Chuyện chưa bao giờ kể của trưởng đoàn đàm phán BTA (TVN 27, 28, 29-12-11) -- Gộp lại bài p/v ông Nguyễn Đình Lương đã đăng ba kỳ trên TuanVietnam◄◄